QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

TRÁNG SĨ HÀNH CA


Vung kiếm ta ca , hề ,Sát Thát
Vỗ gươm ta hát, hề,Nam chinh
Vẫy súng ta thề, hề, Bắc phạt
Om đàn ta mơ, hề, thái bình

Chỉ trời ta chiếm, hề, một cõi
Chỉ đất ta trấn, hề, một phương
Gặp biển chung lưng nhau tát cạn
Gặp núi nắm tay cùng xẻ đường


Ta bạo lực, hề,không khuất phục
Ta giàu sang, hề, không đổi lòng
Coi công danh, hề, con nước đục
Coi tử sinh, hề, nhẹ như không

Đêm mơ kiếm reo đền Kiếp Bạc
Ngày đợi rùa thiêng dâng kiếm thần
Aó vải anh hùng người Nguyễn Huệ
Cỡi voi về vui XUÂN THĂNG LONG

Giữa khuya nghe Đại Cáo Bình Ngô
Hùng khí lung lay bóng nguyệt mờ
Bỗng thấy rừng Lam Sơn trống giục
Chiến bào Lê Lợi gió phất phơ

Ta ôm chí lớn trong thiên hạ
Ta sống ngang tàng như đại dương
Thân đứng thẳng không bao giờ chịu cúi
Sáng hoang vu như một mảnh trăng rừng

Ta tráng sĩ, hề, chừ lên đường
Ta hảo hán , hề, chỉ thèm say
Ai tri kỷ, hề, cùng ta nâng chén
Bạch mã dong cương, hề, ta đi đây !


Trần Hoan Trinh

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

CÓ NHỮNG NGƯỜI TRAI

--Hồi ký ra trường về những bạn bè cùng khóa



Một ông già đứng tựa cửa ra vào, đăm đăm nhìn tôi đang vội-vã bước vào hội trường của nhật báo Viễn Đông tại thành phố santa Ana để kịp tham-dự buổi họp mặt cựu tù Ái Tử Bình Điền.Tôi nhận ra ông ngay dù đã gần ba mươi năm kể từ ngày ra trại cải tạo.Với vóc dáng cao và gương mặt dài, bạn tù ngày trước đặt cho cái tên khó nghe: Tư ngựa.Có rất nhiều anh mang những cái tên nghe rất ngộ-nghĩnh do có những chứng tật trên người:Bân bần, Châu lác, Tư ghẻ, Long re, Sơn ướt, Cẩm lai, Long phè, Châu Kê, Xuân thợ rèn, Y đai ca, Thục râu, Long trĩ…, Những cái tên rất dễ gợi nhớ cho dù thời gian có phôi pha đi nữa.Nghe anh em kể rằng, vợ anh Long re , nguyên là một phi-công trực thăng chiến-đấu, đã nhiều lần mỗi khi gặp anh em đều vui-vẻ nói:”Tôi quý cái tên gọi nầy lắm, mỗi lần có ai nhắc đến, tôi thấm hiểu được những săn-sóc của bạn bè trong tù trong lúc ốm đau như sốt rừng, tiêu chảy, ngộ độc…không có người thân bên cạnh, chỉ có các anh với những việc làm cao quý giúp nhau một cách kiên-nhẫn .Nay dù anh Long đã qua đời nhưng tôi luôn biết ơn vô cùng!”

Ông già Tư biết rõ sự liên-hệ giữa tôi và một số bạn bè nên hỏi liền một câu, tỉnh bơ không màng chi trước sự mừng rỡ của tôi khi gặp lại:

--Nầy, Phan Duyệt có còn sống không?lần cuối khi gặp mặt, cậu bị vệ binh trại hành hạ tàn-bạo quá, tôi nghĩ e không sống nỗi.Bao nhiêu năm rồi, không sao quên được phong cách hiên-ngang, anh hùng của cậu ta trước bạo-lực.

Ông nói với cái giọng khàn đục của tuổi già.Thoáng nhìn lên đôi mắt đã quá nhăn nheo thấy rưng rưng ướt.Niềm cảm-xúc vượt thời gian nầy, dù cho đã quá chai sạn với cuộc sống, là những gì trân-quý nhất Duyệt đã để lại trong anh em khi rời xa quân trường.Qua bao năm tháng, chốn thao trường nầy là nơi hun đúc cho mình những ý-chí kiên-cường với một hành trang đầy những hoài bão phải đóng góp gì cho đất nước.Có ai từ đó ra đi không khỏi vấn-vương những nghĩa-tình huynh-đệ vốn khắn-khít như một sợi dây vô hình đầy thương-yêu và san-sẽ đùm bọc lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh..

--Duyệt còn sống!đang ở một mình tại New York.Anh có một đứa con trai đang phục-vụ trong quân-đội Hoa-Kỳ.

Ở nơi xa đó, bạn có thấu chăng dư-vị hạnh-phúc nầy.Giọt nước mắt ngưỡng-mộ và thương-mến của một nguời ở tuổi hoàng-hôn quý-hiếm lắm.Còn biết bao người khác nữa và ngay anh em gốc trại tù biên-giới Cổng Trời , bạn đồng khóa Nguyễn Tiến Đạt, mười một năm tù và nhiều người khác cũng mát lòng khi nghe một anh tù lâu năm là Thiếu úy Phạm Văn Quế, PB SĐ3bị chuyển từ Ái Tử đến cùng trại với anh tại Gia Lai vì tội chống lại chế độ trong thời gian cải tạo:

--Quân trường của các anh có anh Phan Duyệt bất-khuất anh-hùng lắm, tôi nể-phục vô cùng!Anh ta thẳn-thắn vạch trần sự tàn-bạo của Cộng Sản trước mặt toàn trại.Đó là một người không sợ chết!



Sẳn có phôn di động, tôi gọi liên-lạc và trao lại cho ông già, để mặc cho hai người tâm-tình, tôi chen vào hội trường của nhật báo Viễn Đông và tìm chổ ngồi.Hòa mình trong không khí vui nhộn của đông đảo bạn bè từ lâu mới gặp nhau, tôi có cảm tưởng như thời gian đang ngừng lại:những tay bắt mặt mừng, những kỷ-niệm xa-xưa tìm về, ai cũng tranh nhau kể những vui buồn của nững ngày tháng toe-tua từ lúc vào trại và cảm tạ trời đất đã phù-hộ để có được ngày nay…

Sau 5/75 Ngô Chi và Phan Duyệt vào trại Cồn Tiên trước tôi.Trại nằm gần căn cứ A1, A2 .Đứng trên đỉnh đồi, ta có thể thấy rõ cầu Hiền Lương Quảng Trị nơi ngăn cách hai miền Nam Bắc và giòng sông Bến Hải uốn khúc lửng-lờ làm gợi nhớ trong lòng người bao cảnh trái ngang phân-ly kẻ tìm tự-do .Hai thằng bạn đồng khóa đón tôi thật vui mừng đầy ngỡ ngàng xúc-động:

--Rứa là mi cũng vào đây! Định-mệnh cuộc đời đã dung-dũi gom tụi mình lại.Thêm một chặng đường đời có nhau, thật là ứa nước mắt mà cám ơn trời cao.Ngày trước gắn bó ở Đà Lạt suốt mấy năm trời, đi đâu cũng có nhau, ra trường cùng chung đơn-vị với những kinh-hoàng của một trận chiến ác-liệt nhất mà vẫn còn sống sót với nhau…..

Không dấu được xúc-động, tôi siết chặt tay hai người bạn.Từng tế bào da thịt như tê cứng bởi một thứ hạnh-phúc vô hình:Ở hoàn-cảnh nầy mà vẫn còn có nhau! tù đày mà an-ủi thật!

***

Mới chỉ vài tháng trước đây, tại ngã ba Thái Lan, Long Thành.Vào tối ngày 28 tháng tư năm 1975, quân Cọng Sản quyết chọc thủng phòng tuyến Đông Bắc hướng về Sài Gòn thì găp sức kháng cự mãnh-liệt của quân ta.Các sĩ quan khóa 28, 29 Võ Bị và khóa 4 CTCT/HD vừa mãn khóa tham chiến rất đông trong đơn-vị Thủy Quân Lục Chiến tại chiến-trường nầy.Khi chiếc xe tải thương từ tuyến đầu lủi vào bộ chỉ huy tiêu đoàn1/TQLC giữa tiếng pháo đạn tơi bời, Ngô Chi đương là trung đội trưởng vũ khí nặng nhìn thấy tôi trên chiếc bang ca bê-bết máu, mếu máo nói:

--Huế ơi, tao nhìn thấy mầy rồi.Mầy về tới đây là tao mừng quá!Mới mấy ngày từ lúc mầy ra đại đội, tao trông tin mầy lắm.Qua máy truyền tin, tao biết đơn-vị mầy đang đụng nặng và biết được mầy là sĩ quan cuối cùng ở đại đội.

Vết thương ở ngực, cạnh trái tim làm tôi khó thở, y tá chiến trường đã băng bó, nhưng máu vẫn còn ra nhiều quá, lại thêm khi tải thương, pháo và đạn AT7 chống tăng nổ dồn-dập trên đường đi khiến hai người lính dìu vai hãi quá, hất té ngã nhào nhiều lần.Đau đớn, tôi chỉ biết nhìn lờ mờ, nhưng cảm nhận được những gì Ngô Chi kể lể:

--Mầy vậy là sống, nếu như mai nầy được chuyễn về bệnh-viện Lê Hữu Sanh, hãy cố tìm liên-lạc em tao là Ngô Từ, đơn-vị Quân Tiếp Vụ SĐ7 và cho nó biết đã gặp tao ở giờ nầy như thế nầy và mạ tao sẽ biết tin con.Sắp tới đây chưa biết sống chết như thế nào.

Ngô Chi đặt băng ca tôi vào một góc hầm và trở về nhiệm vụ.Tôi hướng mắt phía trên, vòm trời lóe sáng từng chặp, đạn lân-tinh nổ dòn và rực sáng như những vòng hoa lộng-lẫy song song với những tiếng nổ kinh-hoàng của đủ loại đạn pháo, cối, đại bác của hai phe đang kịch chiến.Tôi cố sức để nhắm mắt, cố ru ngủ quên bớt đau nhưng không được vì vết thương hành dữ quá.

.Đằng sau ánh lửa pháo bập-bùng , một bóng dáng cao lớn lui tới điều-động, đó là Thiếu tá tiểu đoàn trưởng Dương văn Hưng, tôi nghe giọng nói rất rắn-rỏi:

--Tung tất cả hỏa lực, M72, lựu đạn, đánh tới cùng!Giữ tuyến bằng bất cứ giá nào! Tôi đang ở sát anh em.

Ông ta dũng-cảm, can-cường, thách đố hiểm- nguy, cùng chiến đấu như bao nhiêu người lính cọp biển khác.Cũng với một cây súng trường và áo giáp nón sắt, ông ta nhanh nhẹn chỉnh-đốn hướng tác-xạ súng cối 81, miệng luôn nhắc nhở anh em bám sát mục-tiêu trước mặt.Người hiệu thính viên rất vất-vả bám chân ông khi vừa điều-động các đại-đội qua máy truyền-tin vừa đi quanh tuyến yểm-trợ tinh-thần chiến sĩ. Lính nể ông như một thần tượng chiến trường.Mọi cử chỉ, điều-động của ông đều gắn liền sinh mạng của từng chiến-sĩ.Từng toán lính cởi bỏ nón sắt để đựng lựu đạn và lao vào phòng tuyến.

Thấp-thoáng trong hơi mờ thuốc súng, tôi thấy một người con gái đẹp khác thường.Với sắc áo rằn-ri, mới thoạt nhìn trông rất vũ dũng, nhưng nét thùy mị thanh-tao trên gương mặt có mái tóc dài buông xõa vẫn hiện rõ dáng-dấp anh thư đầy quyến-rũ.Ngô Chi cho biết đây là người yêu của thiếu úy Võ Phúc, đại đội trưởng chỉ huy và cô đang là sinh-viên văn khoa Sài Gòn.Thấy cảnh chiến trường cao độ, muốn san-sẻ hiểm-nguy và dâng-hiến hạnh-phúc tình-yêu cho người thương ở những lúc sống chết cận kề, cô xâm mình ra đơn vị, mặc chung một màu áo trận, nằm giao thông hào và cũng cầm một cây súng M16 hướng về phía địch như bao chiến sĩ khác.Võ Phúc là con trai cả vị tiểu đoàn trưởng TĐ 7/TQLC, thiếu tá Võ Kỉnh với biệt danh là Kình Ngư .Rời trường Thủ Đức, anh theo gót chân cha gia-nhập gia-đình cọp biển.Là lính chiến, nhưng phong cách lịch-lãm đa tình nên anh có cuộc tình tuyệt-vời đến lạ lùng.Anh em binh sĩ ở phòng tuyến, mỗi lần thấy cô đi ngang qua, nét hấp dẫn và sự tươi cười đã cho anh em niềm vui lâng lâng thú-vị khó tả.Khi cô đi xa họ quay trở lại vùng chiến-tuyến trước mặt, lòng tươi-vui cho dù mệnh hệ nào đến đi nửa.Đêm đến, bên ngoài căn hấm”hạnh phúc” của họ, lính tráng tay cầm sung, miệng hát vang những câu ca tình-yêu như lời chúc tụng yêu thương giữa những tiếng nổ đang rền vang giữa đêm đen.Đôi uyên ương không chết trong trận đánh cuối cùng nầy, nhưng sau đó khi vào tù, anh bị mất một con mắt vì bị thương ở giờ phút cuối trước khi miền Nam sụp đổ , không được chửa trị và người yêu anh đả đi xa từ khi anh vào trại cải tạo của quân thù.Họ để lại cho nhau kỷ-niệm một tình yêu tuyệt vời như cuộc đời có một thời để yêu và một thời để chết.

Phan Duyệt và Ngô Chi ở cùng một lán trại thuộc đội 8 Cồn Tiên.Mỗi ngày hai bửa ăn thiếu-thốn nhưng phải đi rừng suốt ngày và tối về học tập nên sức khỏe sa-sút rõ-rệt.Anh em tù dùng mọi kế mưu sinh để chống chọi lại với cơn đói.Ngoài những cây , củ, lá rừng, những sinh-vật như rắn, cóc, nhái, chuột, sùng đều được tận dụng mới tạo được thêm chất nhờn cho các cơ bắp.Những lúc bước lên đồi để khai hoang, hai tay phải phụ đẩy đầu gối mới đi được.Một chiếc áo thun màu mè có thể đổi được một con gà mái của người dân tộc.Lắm khi trao đổi xong, làm thịt không kịp, xin gởi lại rồi có khi năm bảy tháng sau trở lại, người Thượng đem cả năm bảy con gà ra đưa và nói:

--Của người anh em đó! Con gà đẻ trứng, ấp con và bây giờ thành một bầy.

Chơn-chất thật-thà, sòng phẳng của người dân tộc cũng là nơi tiêu-thụ một số áo quần mà sau nầy sinh ra nhiều giai-thoại đẹp về một tâm-hồn cao-thượng:

Vào một hôm nọ, trong lán có anh tù mất một chiếc áo len.Giữa lúc trời lạnh vùng núi buốt giá thế nầy, chiếc áo ấm giá trị lắm.Anh bạn báo cáo cán bộ quản giáo, thế là mỗi ngày di khai rừng phá rẩy về, sau giờ cơm, phải ngồi lại, đấu tranh nhau tìm cho ra thủ phạm.Cứ đêm nầy chưa ra thì đêm khác tiếp.Rất lâu rồi mà chưa có kết quả, anh em trong lán ngao-ngán sự đời, lục đục với nhau.Quá sức mệt mỏi của một ngày đi rừng, anh em rất thèm giấc ngủ.Một buổi tối nọ, trong đội tuyên bố nhờ đấu tranh mà tìm ra thù phạm:Phan Duyệt nhận tội và anh em được thoải mái nghỉ ngơi, không còn phải ngồi lại nữa.Anh bị mời lên ban chỉ huy trại và chịu mọi hình thức kỷ-luật, tra khảo, những nhục hình đau-đớn..

Sau đợt kỷ-luật nầy, trở về lán đội, Duyệt vì sức yếu, được làm việc nhẹ. Mùa đông nắm 76, cơn lạnh vùng núi ghê rợn:cá chết dưới nước, chim rừng ủ-rũ không buồn bay, người tù như một khúc gổ di động, vấn quanh thân tất cả cái gì có để chống lạnh như giấy, bì ni lông, vải cũ.Trong lán, các anh em có tiếp-tế thăm nuôi mất đồ ăn càng nhiều thêm.Các buổi ngồi họp đấu tranh tìm tiêu-cực tiếp-tục xảy ra.Phan Duyệt vờ đánh rơi một mảnh giấy có ghi từng mục ngày nào ăn cắp cái gì, của ai và cả một danh sách dài.Một ông tù lão nhặt được, ngây-ngô trình lên cán bộ quản-giáo và đưa anh đi kỷ-luật.Một mặt anh thi hành những lệnh phạt trong conex, một mặt các tệ-trạng giảm dần , thủ-phạm biết xấu-hổ vì lương-tâm làm việc.



Cồn Tiên phục-hồi đất đai canh tác nhờ công tù.Qua bao năm chiến tranh, bom đạn đã biến thành một rừng hoang xô-xảm với hàng ngàn hố bom hình tròn đều đặn.Lẫn trong các lùm cây mọc trùng điệp quanh núi đồi là các cây nhiệt đới bằng nhựa có gắn chip điện tử bên trong.Cây giống hệt cây rừng, thu được chấn động do bước chân người hoặc súc vật đi ngang qua, được phóng từ máy bay dọc theo đường mòn McNamara để tạo dữ kiện ghi tọa-độ bỏ bom.Dân cư di tản hết, sâu hơn về phía núi là nơi sinh sống của những người dân tộc, họ chung thủy với rừng, chung thân với núi và chung tình với cây cỏ.Họ luôn ở lại trường sơn, sống du canh một cách trì chí trên những vùng đất núi loang lỗ dấu bom đạn .Họ quen thuộc sống trên những vùng sơn lam chướng khí nầy để rồi mãi mãi yêu mến , kết chặt chốn Hoành-Sơn hoang-dã nầy như một nguyên-lý của tình-yêu dân tộc.Xóa bỏ trại Cồn Tiên, anh em cỏng ba lô“hành quân” hướng về Ái Tử, dọc theo quốc lộ 9 nối liền Khe Sanh nổi tiếng pháo đạn với thị trấn vùng giới tuyến Đông Hà, bỏ lại đằng sau Tà Cơn, Lao Bảo, Ba Lòng, chốn rừng thiêng nước độc.Thỉnh thoảng tù nhân gặp vài người thượng tránh đường, họ đứng yên lặng bên bìa rừng, miệng ngậm tẩu, ngực ẳm con, vai vác củi, đưa ánh mắt vô tình nhìn đoàn người đi.

Mẹ thương con qua cầu Ái Tử…..

Ái Tử, địa- danh nghe nhẹ nhàng, tình cảm, nhưng là một nơi tung-hoành của gió Lào hực lữa khi mùa hè, khí chướng lạnh khi mùa đông.Vùng đất cằn-cỗi nơi mà sinh-vật cũng hiếm-hoi, củ khoai củ sắn cũng tóp teo, mọc không nỗi vì rể tranh dày đặc.Những phế-liệu gở ra từ phi-trường dã-chiến bên quốc-lộ 1 đã được gom nhặt lại để xây dựng nên một trại tù kiên-cố.

Ái Tử có những người dân thương anh em, những người lính Cộng Hòa.Người dân quá quen thuộc với màu áo hoa biển Thủy Quân Lục Chiến.Qua bao năm binh lửa, những người trai đã hiến-dâng tuổi trẻ để chiến-đấu bảo-vệ quê hương bằng những trang sử anh hùng ngay trên Quảng Trị thân-yêu nầy.Cổ Thành Đinh Công Tráng, La Vang, Ngã ba Long Hưng, Chợ Sãi, Cầu Thạch Hãn, chợ Sãi…là nơi người dân chứng kiến biết bao máu xương chiến sĩ đã hy sinh cho đất nước.

Những khi chiều về , cơn mệt-mỏi rã-rời qua một ngày rừng dài lê thê vì đói, anh em tù thường găp những đội canh tác trung du xã Triệu Tài, Triệu Hải, Triệu Ái.Họ đọc thấy những ý nghĩ và thấu rõ hoàn-cảnh tù đày, từ đó thường có những đồng thanh tương ứng..Họ dám nhịn tiêu-chuẩn để chuồi cho anh em tù vài lon gạo, bánh đường, gói thuốc lào mà so với giá trị bây giờ, cao lương mỹ vị nào sánh kịp.Thành rom, PB/TQLC cứ mỗi lần đi rừng về, lén ghé qua vờ mượn nồi nấu ăn, thực chất có chi mà nấu, nhưng bà con biết ý nên trong nồi luôn có sẳn một vành cơm quanh hông và họ đã âm thầm tiếp sức rất lâu như thế.Nam nữ thanh niên thường vây quanh nghe tôi thổi kèn những bản nhạc quen thuộc, chiếc kèn harmonica đã giúp tôi những bửa sắn khoai tuyệt-vời..thêm vào đó, Châu Kê với tài kể chuyện hấp-dẫn đã cuốn hút nam nữ thanh-niên ngồi lại một cách mê-mệt, quên cả dao, rựa, cuốc, xẻng vất vung-vãi khắp nơi cùng với chỉ-tiêu khai-hoang phải hoàn-thành theo dự định.

Năm 1977, toàn quốc rơi vào một cơn đói như một thảm-nạn lịch-sử.Riêng tại miền Trung, nông dân lao-nhọc cày sâu cuốc bẩm mà vẫn không đủ sống.Các chỉ tiêu đề ra cố móc sức người dân đến tận cùng: Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, muốn có ăn thêm làm luôn giờ nghỉ, muốn có bền bỉ, làm cả thông tằm.Tuy thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu ngủ nhưng luôn chỉ một mục tiêu được tập trung cao nhất là sản xuất. Trên mọi giấy tờ khi nào cũng khởi bằng những mỹ từ: Độc lập-Tự do-Hạnh phúc.Phan Duyệt bất-mãn tột-độ, quá căm-phẫn một chế-độ chỉ biết nói một đường làm một nẻo.Một bửa trưa trước giờ kẻng báo đi làm, anh đứng ra sân cờ trại, hai tay ôm chiếc cột đòi nhổ, hạ lá cờ, miệng chửi rủa:

--Hồ chí Minh mầy ơi!Tại vì mầy và bè lũ mà đất nước ra nông-nỗi thế nầy:dân làm ruộng mà không có gạo mà ăn, bọn mi đem lúa gạo đi đâu để dân ta đói? Tụi bây nói tự do mà sao đi đâu cũng phải xin phép?Tại sao ở đâu cũng toàn là nhà tù?Tụi bây nói hạnh-phúc, tại sao phải dồn dân đi kinh tế mới? Tại sao vợ phải xa chồng, cha xa con vì bị cải tạo không ngày về?Tại sao?

Anh la hét kêu trời, van đất, xin hiểu cho những xót-xa cho người dân Việt sau cái ngày gọi là giải-phóng..

Vệ binh ra tay ngay, hai tên vạm-vỡ là Mịch và Mịnh lộng lên như những con thú vồ mồi.Tôi quay lưng lại, run lên theo từng tiếng hự, uỵt, trời ơi, ôi chao...chúng nó đánh, đá, đạp, chọi như đang dợt một trái banh.Cả trại nín thở nhìn ra, hình dung chắc Phan Duyệt không qua nỗi..

Đánh đập dã-man xong, vệ binh cho người khiêng vào khối.Duyệt như một cái xác không hồn, tấm thân nhỏ bé đầy kín những vết bầm tím quanh người.Bạn bè e ngại dạt ra, sợ liên-lụy chính-trị, chỉ liếc nhìn và chỉ chỏ lao xao...Ngô Chi và tôi dang vòng tay ra đỡ, Duyệt ngã mình trong cánh tay tôi.Anh nhắm mắt tìm giây phút bình-yên, tận hưởng dư vị hạnh-phúc nồng-ấm của những đứa con cùng Trường Mẹ.Cả ba chúng tôi như cùng được tìm về nguồn yêu-thương có đủ trọn-vẹn những ân-cần, lo lắng, ưu-tư cho nhau bất chấp sự ngược ngạo thù hằn của quân thù.Trong nỗi thương đau từ đáy sâu nầy, niềm kiêu-hảnh được làm người con Trường Mẹ như một niềm tin bừng sáng, một sức mạnh vô hình giúp sức đứng lên.

Nhìn tấm thân người bạn, tôi quá nóng ruột, trong đầu miên-man nghĩ làm sao cứu sống cho bằng được.Tình cờ lên rừng đốn củi, găp niên trưởng Lê phước Ánh, tôi kể lể chuyện bạn mình.Suy-nghĩ giây lát, anh Ánh bày mưu là cứ về trại tình bày cho cán bộ rằng, tôi ở cùng khóa sĩ quan trên Đà Lạt, chứng kiến anh bạn mình thường có những cơn đau, khi lên cơn, không được tỉnh-táo.Về lại trại, tôi liền làm theo như vậy.

Từ sau đó, tiếp tục phiêu bạt theo vận nước điêu-linh, Ngô Chi và tôi phải xa Phan Duyệt để lên đường ra Bắc .Duyệt ở lại , biệt giam suốt hai năm, cơ-cực nhất là bọn Cộng Sản cho nhốt vào một chiếc conex nhỏ mà chỉ được ở vị trí ngồi mà thôi chứ không nằm được.Lâu ngày, Duyệt kiên-trì dùng chiếc muỗng ăn cơm đào đất để có thể nằm chuồi được.Từ chiếc lỗ nầy, anh mưu-trí thóat ra ngoài được và lẫn trốn về nhà.Khổ thay, gia-đình quá nghèo.sắn khoai không đủ huống chi tiền bạc…đang rối-ren tìm đường thoát thì vệ-binh tìm đến bắt.Anh bị dẫn độ về trại Ái Tử, tại đây, màn tra khảo đánh đập còn tàn-nhẫn hơn nhiều lần trước và bị giam dài hạn trong một nhà giam kiên-cố, vừa cùm vừa xiềng liên tục.Nhờ thiền định và ôn kinh Phật, anh vượt qua gian-nan nguy-khốn của chốn hỏa ngục trần gian nầy.

Ngày 22 tháng Tư năm 1975, khi chọn đơn-vị trong ngày mãn khóa, Ngô Chi tình-nguyện vào sư đoàn Nhảy Dù, quyết chí làm trang sử riêng cho đời mình, anh thừa biết những thử-thách nghiêm-trọng đang chờ đón vì chiến tranh đang ở mức độ tàn-khốc nhất.Tôi cố níu kéo, tìm mọi cách đi tiếp chung một con đường.Anh xúc-động nghe tôi nhắc lại biến cố Mậu Thân ở Huế nơi các dũng sĩ cọp biển từ căn-cứ Sóng Thần ra giải-tỏa và chiếm lại cố-đô thân-yêu. Qua hai mươi mốt ngày đêm chiến-đấu , giành lại từng tấc đất, nhiều anh linh chiến-sĩ đã nằm xuống cho đất mẹ quê mình.Anh vui-vẻ hoán chuyển cho Nguyễn văn Mai để cùng về đơn-vị Thủy Quân Lục Chiến với nhau.Khi trình-diện bộ tư lệnh, cả hai đứa đều dong tay đầu tiên tình-nguyện ra tiểu-đoàn 1 Quái Điểu cùng với Đặng Việt Luân, Nguyễn Văn Lý, Nguyển ngọc Vịnh, Dương Thu Sơn để rồi có những giây phút sống chết cận-kề bên nhau, dễ đâu tìm được trong đời.Hơn hai năm trời sống với nhau trên đồi 4648, năm năm cùng một trại tù và trên mười năm cùng định cư vùng Bay Area-Cali, cả một đoạn đường dài của đời người.Mỗi khi gặp nhau, Chi đôi khi vui quá, làm bể mánh:

--Hồi ở lính trong người mi luôn có một ông cha đạo và một ông thầy chùa, bao nhiêu năm ở Mỹ, có còn dược con người mầy của ngày xưa?

***



Ông già Tư ngựa khóc thương Phan Duyệt còn sống, không phải ông thọ ơn từng nhận điếu thuốc bánh đường, chút muối tiêu mà chỉ do một động-lực là đã sống, hiểu và biết thực-chất của một con người đã được đào-tạo và trưởng thành như thế nào trước anh em và với quân thù:Thời gian dài đã để lộ ra bản chất phi thường và ý chí sắt-son cũng như tư chất đạo-đức với cuộc đời.Cũng từ Charlotte N.Carolina, người bạn cựu tù Ái Tử Bình Điền Lê Sĩ, nay là nhân viên Pháp ngữ phi-trường quốc-tế, khi gọi phone hỏi thăm bạn tù cũ Ngô Chi, đã khóc òa như một trẻ thơ:

--Anh Huế à, sao qua Mỹ lâu rồi mà thằng Chi còn khổ thế, gọi khi nào cũng nghe đang bận cắt cỏ, bỏ báo, làm vườn , viết báo.Những bài viết của anh trên các báo cộng-đồng rất chân tình , đượm đầy tình quê đã thu hút biết bao tâm-hồn người tha hương để gói ghém những ân tình về quê-hương mỗi khi tai –ương, mệnh trời tìm đến … và sau mười lăm năm định-cư nơi xứ người, tay trắng lại hoàn tay trắng!Tôi có được xem hình nó trên internet do anh chuyển, trông gương mặt sao hốc hác tiều tụy quá.Chi nhỏ hơn tôi ba tuổi, nhưng trong trại cải-tạo nó là anh tôi, là đứa tiếp sức hà hơi cho tôi đó.Cực khổ với ngày tháng mênh mông, tôi từng thất chí và toan làm bậy rồi, nhờ nó ngăn cản và hổ-trợ tinh-thần tôi mới bền vững ý-chí .Tôi còn nhớ những lời Ngô Chi nói:

--Hãy cố gắng lên, anh bạn à!Theo thời gian, mọi sự rồi sẽ quen, rồi sẽ qua hết.Cái gì mới bắt đầu cũng khó như vậy, dần dần trở thành thường.Mình còn trẻ, đường đời còn dài, còn biết bao nhiêu người thân đang chờ.Phải sống, theo tôi, mọi sự sẽ đơn-giản, nhẹ nhàng.Mỗi lần nhắc đến, Lê Sĩ thường tâm sự:------Gần sáu năm tù đày qua đi, nhờ nghị-lực của Ngô Chi và bạn bè được ví như thiên-thần Gabriel che chở để vượt sống, tôi thật biết ơn vô cùng.

Nhân đọc được bài hồi ký Tháng Tư Ra Trường-Hoa Biển do một cựu thiếu sinh quân ở Cali đọc được và chuyển lại, từ Chicago, ILL. cựu Đại úy Bùi Bồn, tiểu đoàn phó TĐ1/TQLC đã tìm về Stockton-California để thăm lại những sĩ quan của một góc chiến trường xưa.Võ Phúc, Ngô Chi, Hữu Huế, những chàng sỉ quan trẻ trung của đơn-vị ngày nào đều có mặt.Khi được nhìn lại vị chỉ huy dơn-vị tài ba lẫm-liệt của mình ngày trước, mọi người đều không khỏi xúc-động khi nhìn thấy mái tóc bạc phơ và dáng-dấp chậm-chạp của anh với những lời nhắn-nhủ:

--Ở thời điểm tổ-quốc nguy biến mà các em vẫn hiên-ngang ra chiến trường trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, cho dù chỉ vỏn-vẻn một tuần lể, nhưng tinh thần của các em rực sáng như những ánh sao.Đây là những vết son trong quân sử và là niềm tự-hào của quân trường nơi các em xuất thân .Hãy nuôi-dưỡng tinh-thần và ý chí nầy..và lúc nào cũng phải biết nhớ tới những người thương phế binh Việt Nam Cọng Hòa, họ đã chiến đấu và hy-sinh cho đất nước nhưng đang hứng chịu những bất-hạnh và thiệt-thòi..



Hoa Biển

Sacramento 5/2009

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn
Tác giả: Ái Ưu Du

1. Phần Thứ Nhất – Đời Thăng Hoa Thú Vị Bất Ngờ

Đám bụi dày bị cơn gió đông cuốn hút cuồng quay, khiến khách bộ hành phải quay lưng lại, đi thụt lùi, hai tay che mặt, đầu rụt sâu vào cổ áo lạnh kéo cao. Hoài đi giữa lòng phố thị, nghe đì đùng tiếng pháo nổ râm ran liên tục từ mọi ngỏ nhà. Ồ! Chẳng lẽ... những ngày háo hức đón chờ mùa Thanksgiving, Merry Christmas, Tết Tây lại tưng bừng trở về trên thế trần rồi đó ư? Người ta hân hoan, ríu rít, xôn xao hớn hở hân hoan ân tình gửi cho nhau quà giáng sinh, mừng năm mới dương lịch với cánh thiệp nồng ấm thắm thiết tình người. Thú vị quá!

Đối với Hoài thì ngày Thanksgiving, Christmas, Noel… no iết, hay Tết Nguyên Đán nguyên điết gì gì đó... không còn nữa, như Nhất Tuấn đã ghi bài thơ: "Mimosa Thôi Nở" có những câu thơ nàng rất thích:

. . . Mới bốn mùa thu qua
Mimosa, Mimosa, vẫn nở...
Sao mối tình đôi ta,
Ai làm cho dang dỡ?
Đêm nay Noel đây,
Nhưng em không về nữa.
Ðường khuya mưa bay bay.
Mimosa, Mimosa, thôi nở…
Trong hồn anh đêm nầy…

Tháng ngày thấm thoát trôi qua nhanh, như bóng chiều câu qua song cửa, cho mình nếm trọn đủ nỗi cay đắng, niềm đớn đau thầm lặng, cùng cực buồn nhớ, khiến Hoài chẳng hết ngẩn ngơ lòng! Nỗi buồn xưa quanh quẩn đâu đây... Hồi nhỏ bé, trước thềm năm mới xa xưa ở thành phố khá lạnh xứ Đà Lạt, Hoài ưa theo ba má đi khắp nơi chúc tết cô bác họ hàng. Cô nhỏ thích được có nhiều tiền lì xì thơm mùi giấy mới, dù không biết xài tiền em cũng cất tiền lẽ trong bóp đầm màu trắng, có dây quai quàng qua ngực, lòng vui mừng khấp khởi để khoe với trẻ nhỏ ai có nhiều tiền hơn ai thôi. Hoài vui vẻ tụm năm tụm ba với bạn bè, niềm hạnh phúc ấu thơ là xum xoe bộ cánh mới, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ hoa mỹ, hai tai con bé lủng lẳng bông vàng lắc lư theo từng cử động vui mắt, đêm đêm có giấc mơ bắt bướm hái hoa lảng vảng bay trên đầu cây ngọn cỏ. Rồi tháng năm qua cô em lớn dần với tà áo hoa màu rực rỡ, cùng bạn thời trung học lượn quanh phố chợ, ánh mắt chan hòa tình mến, lòng bạn với ta phơi phới nét xuân thì. Ôi! Tuổi hoa ngày đó vụt xa bay qua tầm tay, nhanh quá đỗi là nhanh.

Điệu buồn êm nhẹ hẫng trên hàng mai vàng lốm đốm khoe sắc. Nắng mùa đông sót lại nét hoen sầu, rả rích từng giọt mưa phùn bay bay trên phố Đà Nẵng. Hoài thấy nhớ những cánh thiệp tươi mầu còn cất ở dưới đáy va ly, nàng muốn mở ra xem một lần, một lần rồi thôi. Ở tình bạn, cũng như ở tình yêu, có điều gì mong manh, chơi vơi, xa xăm, lẻ loi khôn tả. Cuộc đời nàng như một hoang đảo ngoài khơi chói nắng, quanh năm toàn thấy đại dương mênh mông, bao la bát ngát. Còn con tàu, lục địa, bờ biển, thì ở xa -rất xa- Tất cả bạn và người thân của Hoài từ từ xa (như con tàu dừng chân lại trước thềm lục địa nghỉ ngơi, thân ái nồng nhiệt, đôi khi có phần ích kỷ và ganh tị, nhưng họ tươi cười thản nhiên về sự phản bội đó. Rồi con tàu lặng lẽ nhổ neo đi). Hoài không giận, vì cho đó là sự kiện không quan trọng. Tình bạn non đời sống có chiều rộng, nhưng chưa có chiều sâu mà buồn làm chi. Do vậy tình bạn có phần dễ chịu, tình cờ, đơn sơ, như một túp lều muốn cất lên bên sườn đồi, dưới giàn hoa thiên lý kế rặng tre xanh, bên nương sắn, cạnh ao bèo, nếu muốn đặt nơi nào cũng được. Nó không phân biệt giai cấp sang hèn, học thức thấp cao. Chính vì thế, nó mong manh, dễ tan vỡ, chẳng mang vết buồn đau thầm nhớ làm chi! Chả cần thiết! Chao ôi! Nào có ích gì.

Buổi tối Hoài về nhà anh chị Thương, (vì nhà ba má của nàng ở quê Mỹ Chánh đang lộn xộn, không yên, nàng sống ở đó không tiện). Hoài kinh ngạc khi nhận được thiệp xuân của Phú, Đông, chị Hạnh. (Phú giới thiệu Đông gửi thư cho nàng theo kiễu bạn bốn phương, vì Hoài không quen biết Đông). Thật quá lạ. Phú nghĩ gì về Tôi? Tự thâm tâm, có nhiều điều quá đắng cay, đau buồn, đến nỗi Hoài không nhớ mấy về ai, và quên mất là mình đã quen thân Phú. Mừng rỡ cầm mấy phong thư vào phòng, nàng ngồi lên giường, mở thư Phú ra đọc trước tiên. Phú cho biết khi đậu tú tài toàn, anh đã nhập ngũ, nay làm việc tại ven biên tỉnh Khánh Hòa. Đi nghỉ phép ở Đà Lạt, Phú đến thăm chị Khánh, và xin điạ chỉ Hoài. Thoáng thời gian ngắn ngủi qua nhanh, Phú có biết bao thay đổi, đầy hứa hẹn ở tương lai. Còn ta? Mình không có gì, ngoài mớ đau thương chất chồng, bao khốn khó quằn xiết lấy tấm thân mảnh dẽ, trên hai bàn tay trắng, và tấm bằng không làm cho đời sống riêng mình tươi hơn. Hoài thấy có cái gì sắt cạnh đâm sâu trong lồng ngực vỡ vụn ra, đau nhói. Một cái gì tê buốt, bàng hoàng. Mà, trước kia nàng tưởng là không có ai có thể bóp nát trái tim đầy tin yêu nầy.

Thuở xa xưa ấy, Hoài gặp Phú, quen Phú, trái tim nàng như cuộn giấy trắng tinh, chưa thâu nhận bóng hình ai. Hoài thấy Phú đẹp trai, phong nhã đa tình, và sao mà chàng lãng mạn, lả lướt quá đi! Hoài sợ. Vã chăng, nói cho cùng thì lúc đó nàng đã có “cố nhân”. Không! Hoài chẳng muốn nhớ đến “tên ai”, dù kỷ niệm nhỏ nhặt gợi lên hình ảnh đẹp trên đại lộ khuya, làm bừng sống giấc mộng bạc bẽo nơi người con gái trước ngưỡng đời mệt nhoài, hụt hơi đến đắng cổ.

Mùa đông trôi tuột về dĩ vãng mất rồi, chẳng bao giờ tìm thấy nữa! Thời gian và không gian chìm sâu từng ngày, từng ngày vào ý niệm. Hoài đã đi từ Đà Lạt xuôi qua mọi miền, đi thênh thang giữa lòng đô thị Đà Nẵng về vùng trời Hội An, Huế, Mỹ Chánh, Quảng Trị, La Vang, ra tới Bến Hải… Có thể suốt đời Hoài vẫn nhớ nhung, nâng niu, trân trọng giữ gìn kỷ niệm dịu êm một thuở. Kỷ niệm đó, thoáng mắt nhớ nhung đó, nụ cười đó, không gian và thời gian ngày cũ vẫn theo nàng đến chân trời góc bể, nơi nàng đã sống, vui buồn, mòn mỏi, khát khao nỗi nhớ niềm mong, hay đã quên hết rồi? Hoài âm thầm, nhỏ bé như loài hoa cỏ may tầm thường mọc bên lề viả hè trong thành phố xa hoa. Bao lo âu, buồn bã, nhớ nhung, làm úa vàng ngăn kéo kỷ niệm vàng son một thuở... Nàng rất yêu bài thơ dài của Triều Hoa Đại, trong đó có câu:

Nửa bước em về chiều nay tư lự.
Nửa bước em về ngày xưa tháng cũ.
Bước đi bây giờ làm sao lam lũ!
Bước đi bây giờ buồn thế sao em

Cô Ba Thuận năm nay ngoài bốn mươi lăm tuổi, vóc dáng cô Thuận mập ơi là mập nhưng lùn xủn; cô siêng năng chăm chỉ lo làm ăn buôn bán nên hái ra tiền, cô ăn nói hoạt bát, nếu không muốn nói là hơi quá lanh miệng lanh mồm. Bạn thân thiết của cô Thuận là cô Nga thì lại ốm nhom, cao lêu khêu, ít khi có ai trong xóm nghe cô Nga nói cười, cô Nga cũng siêng năng, kín đáo và lặng lẽ hơn. Hai cô bạn già suýt soát tuổi nhau, thân thiết dịu dàng rất mực, mà thuở ấy Hoài chưa từng nghe có từ thông dụng gọi họ là “lesbian” hay “gay ghiết, bóng biết” chi cả! Sáng sớm mỗi người đi bán một ngả, tối họ về ở chung một phòng chật chội, cùng nhau ngủ một giường. Họ bán những thứ hàng tạp hóa giống nhau. Chẳng bao giờ nghe họ ồn ào, bực bội, băn khoăn, to tiếng cãi cọ. Họ là hàng xóm của chị Thương.

Hôm nay bỗng nhiên cô Thuận qua chơi nhà, cô nói xa nói gần nhiều chuyện vui thật là vui, rồi cô vào đề: xin phép chị Huyền cho Hoài đi phụ cô trông coi cửa tiệm dùm cô. Cô cười:
- Tiền! Tiền! Có tiền mua tiên cũng được. Hết sẫy! Chị đồng ý cho em Hoài, ra ngoài xã hội vui vẻ, thi thố "tài lăng" bé nhỏ mí đời, chị nhé!
Thế là chị Thương nói em chưa có việc gì làm, nếu đi giúp cô Thuận, thì cũng hay. Hoài đã đồng ý.

Đại lộ Hùng Vương ồn ào, nhộn nhịp, tấp nập, đông đúc người người chen lấn đi mua sắm tết. Cô và Hoài bận rộn suốt từ sáng đến tối chưa kịp ăn cơm trưa, bán buôn không ngơi tay. Nhưng nàng cảm thấy vui, khi hoà mình theo lòng phố thị huyên náo, không gợn chút ưu phiền. Trong tiệm chỗ tụm năm tụm ba, người mua cái nầy, người mua cái nọ. Hai người lăng xăng rối rít bán hàng không ngừng tay. Bận rộn quá chừng. Bốn giờ chiều thì hai chị em mới ngơi tay xí, họ chia phiên nhau vào góc tiệm ăn cơm, chứ đói chịu không nỗi. Nhà hàng mang cơm phần đến từ lúc mười một giờ, thức ăn bây chừ đã nguội, mỡ đóng váng trên mặt. Nàng ăn chẳng thấy ngon lành, và mệt quá.
Ngày thứ ba trước khi đi làm, Hoài ghé tiệm ảnh Phụng Ký ở đường Đồng Khánh lấy mấy tấm ảnh. Ngày thứ tư, hai chị em rảo bước trên phố thật sớm. Hoài mặc áo lạnh lông xù màu cánh sen, cổ quàng khăn voan màu tím hoa sim, quần tây đen, mang giày bít. Má đã mua cho Hoài đủ mọi thứ cần thiết từ đồng tiền lao nhọc của mẹ cha. Vui lạ! Có ai từ nhỏ đến lớn không có năm bảy lần mặc áo mới đẹp nhất, khi họ đã đi qua hầu hết quãng đời mình, mà không vui thích mỉm cười, không nhỉ? Tiệm của cô Thuận đông nghẹt khách mua hàng. Hoài đứng sau quầy, niềm nở cười cười, vui vui, bán bán, trao trao.

Bất ngờ và quả thật rất tình cờ, nàng chợt nhìn thấy và… nhìn theo mãi người con trai ngồi sau chiếc solex do bạn chở. Họ đã chạy vòng lui vòng tới bốn năm lần trước cửa tiệm. Nhìn vào tiệm, họ cười hoài. Hai anh chàng cứ... “liếc mắt đưa tình” với nàng, và húc cùi chỏ cười đùa với nhau. Họ chưa dám dựng xe vào trêu ghẹo con bé áo tím, mặc cô Thuận đon đả mời chào, và, cô sẽ nói huỵch toẹt ra nếu ai có ý lã lơi với nàng, khiến khách đỏ mặt mà xéo bước nhanh. Tính cô thẳng như ruột ngựa là gì!

Chàng thanh niên ngồi sau lưng bạn có dáng dấp thư sinh, mày rậm mũi cao, da trắng trẻo, đôi mắt chàng sáng ngời đẹp như mắt chim phượng, khuôn mặt càng xinh trai hơn với đôi má lúm đồng tiền sâu hoắm, chiếc răng khểnh khép nép bên khóe môi phớt hồng, chàng có nụ cười tươi mát đến ngã lòng người. Ah! Chàng có dáng dấp khá giống Phú ở nụ cười có hai lúm đồng tiền! Chàng nhìn Hoài đăm đăm và quay lại tươi cười, vẫy tay với mình nữa kìa! Ôi Lạy Chúa! Quả thật họ đã để ý đến con người tội nghiệp nầy rồi!

Dựng xe trước cửa tiệm, họ vào mua mười hộp mứt, năm lố thuốc lá 555 International, hạt dưa, một chai rượu Martin. Hộp quẹt. Dao cạo râu. Dây nịt đủ kiểu. Dép đàn ông mang trong nhà. Mười áo thun trắng, mỗi cặp có nhãn hiệu khác nhau, quần sọt cũng vậy. Trong khi Hoài gói hàng, cô Thuận loay hoay soạn mấy cái giỏ xách nhựa mới, để hào phóng tặng họ mang mớ quà cồng kềnh về.

Chờ Hoài ngẩng lên, chàng thư sinh Bắc Kỳ đẹp trai ấy, lại khoe má lúm đồng tiền, chiếc răng khểnh, rồi chàng đá lông nheo "kịch kịch" với nàng vài cái, mới chịu bưng hàng hóa ra về. Ơ hay! Chàng lại gật đầu vẫy vẫy tay chào thân thiết, gật gật gù gù nheo nheo mắt ướt. Hai anh chàng to nhỏ điều gì, lại khúc khích cười cười mãi nữa kìa! Hoài mắc cỡ, vội vàng cúi xuống tủ kính, vờ xếp lại đồ đạc bên trong. Nàng "không có đồng tiền bát gạo nào" làm sao dám khoe với ai! Nàng thấy vui, khi cô Thuận qua nhà đưa tí tiền. Nửa đùa nửa thật, cô nói:
- Em Hoài giúp tôi mấy hôm nay, thú thật là em đỡ đần tôi rất nhiều. Chị và em đừng ngại gì sớt. Mỗi ngày, tôi sẽ trả em năm chục đồng, còn nửa tháng cuối, mỗi ngày một trăm, vì em sẽ thức khuya bán chợ Tết mỗi đêm. Ăn uống tôi lo hết. Vất vã đấy nhá. Ra Giêng, nếu em còn ở nhà, thì giúp tôi bán hàng, tôi đưa em mỗi ngày vài ba chục thôi, tùy ngày bán được hay không, vì sẽ ế ẩm mà. Chỗ chị em tôi hay nói thẳng, chị Thương và em Hoài không giận tôi nhá.
- Em vừa ở quê vào đây... lưng chừng ngày tháng chưa tính đi học lại ở trường nào, em ở nhà nghỉ Tết, nên giúp cô cho vui, tiền nong gì. Cô.
- Ấy chết. Ai lại thế bao giờ. Chị biết không? Em Hoài có duyên bán hàng ra phết nhé. Tiệm tôi đắt hẳn lên. Hôm nay có mấy cậu vào mua, hỏi đến đâu họ mua đến đó, chả mặc cả kỳ kèo gì sớt. Buôn bán, tôi chỉ trông chờ khách xộp điệu nghệ thế chứ. Tôi có nhờ hai cậu ấy ra Giêng đến mở hàng khai xuân đầu năm hộ tôi. À, chị nhớ cho em Hoài làm đỡ tôi một tay nhá.

- Việc đó tùy em tôi thôi. Đôi khi nó không thích, làm sao tôi dám hứa.
- Ối dào! Em cứ đi làm, chờ bao giờ đầu mùa khai giảng, em đi học là tốt.
- Chị nói có lý. Tôi sẽ bảo em Hoài suy nghĩ, rồi trả lời chị sau nhé.

Liên tiếp mấy hôm sau, hai chàng trai vẫn thả bộ trên phố, rồi họ vào tiệm cô Thuận mua cái nầy, mua cái nọ. Có lần,“anh chàng đẹp giai” nhờ nàng chọn hộ cà vạt. Hoài biết chàng ăn mặc lịch sự, tươm tất, lẽ dĩ nhiên sẽ chọn đúng thời trang, chứ mình nào có tài cán gì, mà chọn! Chẳng qua chàng muốn gợi chuyện làm quen. Thế thôi. Hoài thấy sợ! Mặc dù quen họ, với tính cách là người khách mua bán hàng quen thuộc. Có thể chỉ là bạn, hay là anh trai hơn hẳn mình về tuổi đời, kinh nghiệm sống, không thể đi xa hơn. Nàng như con chim non lìa đàn, sớm bị thương, nay đậu cành mềm sợ gãy cánh, sợ cơn đau buồn điếng lặng khác sẽ ập đến.
Nửa tháng cuối năm, chiều nào cũng thế, chỉ còn một mình chàng thơ thẫn solo trên phố, dường như chàng chờ đợi ai. Sau đó, chàng tạt vào tiệm, phụ cô Thuận treo đồ đạc khách chê, đã vứt bừa bãi trong góc phòng. Một hai giờ khuya, chờ cô dọn dẹp xong, chàng mời hai chị em đi ăn. Gì chứ về cái món ăn uống "chùa", khỏi chi địa, là cô Thuận khoái khẩu, vui vẻ nồng nhiệt hẳn lên. Chuyện gì cô cũng tốt, nhưng việc tiền nong, thì "tôi là Bắc Kỳ dón, vắt cỗ chày ra nước, mà lị". Cô Thuận vẫn nói thế với ông chủ cho cô thuê nhà đó.

Có người khách không mời, bỗng dưng đêm đêm đến giúp một tay, cô Thuận khoái tỷ vì chả mất tiền công, lại được việc. “Ảnh” còn hào phóng mời “hai chị em” nhiều bữa ăn tối, ăn khuya, hậu hĩ quá chừng. Họa có điên hay sao mà cổ không nhận lời chứ. Chuyện trò vui vẻ hồn nhiên "thoả mái" thế nào ấy. Vui vẻ tử tế quá đi. Đôi khi, cô Thuận cũng mời lại "con người tốt bụng ấy" tô bún bò giò heo, tô hoành thánh mì, chén chè, đĩa xôi. Vã chăng, cô Thuận thấy nếu cứ phớt lờ ăn hoài của người ta, như ngầm ngầm lợi dụng anh chàng “dại gái”, thì nó cũng hơi kỳ kỳ, ngượng ngùng bẽn lẽn sao sao ấy!
Hoài đi theo họ vào tiệm ăn như chiếc bóng âm thầm, chẳng mấy khi thân mật chuyện trò, khiến cô Thuận nhăn mặt, nói nhỏ bên tai:
- Người đâu mà kém xã giao đến thế. Sao em ngu tệ. Chả biết.
Vì phép lịch sự, Hoài vờ lắng nghe chàng ấy giới thiệu tên, nhưng không rõ tên gì. Hoài nhút nhát rụt rè không dám hỏi lại e bất lịch sự, sợ chàng nghĩ mình điếc, thì buồn năm phút. Trời đất ơi! Cô chê em là con nhà quê vừa thập thò ra ngưỡng cửa thành phố đó. Thế, cô tưởng em còn "ngây thơ vô tội" chưa biết trộm yêu, thầm nhớ và đau khổ ấy chắc? Hoài ngập ngừng gượng gạo cười nói, như gã hề đeo mặt nạ méo mó, trông thật kỳ. Lúc còn lại hai người trước cổng nhà, cô Thuận ân cần nói:
- Cậu Thắng là người khá lịch sự, dễ thương, đứng đắn. Em nên vui tươi một tí nha. Suốt buổi ăn, em cứ xụ mặt xuống, trông thật khó coi, bất lịch sự đấy. Nhớ nhá!
Hôm sau quên lời cô dặn, Hoài vẫn buồn xo lặng thinh, nên cô Thuận khẽ húc một cái vào hông nàng. Giật mình, Hoài vội nhăn răng ra, cười rõ tươi. Trong khi chàng bình luận chuyện thời sự, chuyện chính trị đứng đắn, không có gì vui để cho nàng cười như reo thế. Ngạc nhiên, chàng im bặt nhìn Hoài đăm đăm. Có lẽ chàng nghĩ con nhỏ nầy có dòng máu khùng khùng, lãng lãng, điên điên, chi chi đó nhỉ!? Cô Thuận liền quay sang Hoài, cô lén thò tay xuống gầm bàn, dùng mấy ngón tay mập ú cô bấm vào đùi nàng, thì thầm:
- Đừng có dỡ hơi thế chứ. Im nào!


Người ta vội vã, hấp tấp quét dọn sạch sẽ, những ụ rác to tướng, đổ trên xe chở rác, ở ngả tư, ngả năm đường phố. Họ lau chùi nhà cửa, bàn ghế tươm tất. Chuẩn bị tiễn đưa năm cũ, và hân hoan nồng nhiệt, vui vẻ đón chào năm mới cổ truyền tưng bừng, háo hức trên những cành mai vàng tứ qúy nở hết cánh, đẹp ơi là đẹp. Giao thừa và Tết Nguyên Đán lại đến. Bây giờ là ngày mồng hai tết, Hoài ghi tên dự thi hoa hậu, do Sư Đoàn 2 tổ chức tại Hội chợ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ, bên Sơn Trà.

Đúng tám giờ tối, cuộc thi bắt đầu. Giàn nhạc trỗi dậy âm giai, lên bổng xuống trầm tuyệt diệu, khi hùng dũng như vũ bão, khi lả lướt êm đềm, nhẹ nhàng, êm êm lâng lâng, như mây khói mong manh. Đó là thứ từ trường mãnh liệt, tiết tấu hài hòa, đầy rung cảm, tạo thành âm điệu tuyệt vời do ban văn nghệ Sư Đoàn 2 điều khiển, phủ chụp lên tâm hồn nàng đa cảm, những dòng âm thanh rì rào, lâng lâng, ngất ngây, táo bạo và run rẩy. Sự tưng bừng huyên náo nầy khuấy đảo tâm hồn chưa yên tĩnh, khiến Hoài càng bối rối, băn khoăn âu lo. Tuy vậy, nhờ sự hổ trợ mật thiết, tương đắt của chị Sáu Huyền, các cháu Châu, Trân, Vân, Sơn, và có năm mười người bạn mới, cũ, cùng khán giả đông nghẹt nồng nhiệt cổ võ, thì Hoài vững tin, cố gắng hết mình.

Khuôn mặt Hoài để tự nhiên không hề biết dùng chút phấn son trang điểm. Xiêm y kín đáo hài hoà, thấm đượm tình cảm thiên nhiên, mang nặng tính cách dân tộc miền núi thượng nguồn Việt Nam, qua vũ khúc Dămbalada. Vũ điệu sôi động, đầy tính chất buông làng, rừng núi thâm u hiểm bí, đã khích động khán thính giả nhiệt liệt hoan ca rất nhiều. Sau vũ điệu, nàng phải hát một bài tự chọn "Nắng chiều" của Lê Trọng Nguyễn. Vì khá mệt trong điệu nhảy sôi động, nên Hoài vừa ca vừa thở, nghe dỡ ẹc. Đồng thời nàng phải trả lời mười câu trắc nghiệm, vấn đáp hóc búa, cùng thi các thích ứng thông minh mau lẹ khác. Hoài lo mình kém tài, gây nên cảnh lố bịch, đến các bậc đàn anh, đàn chị cười chê, châm chọc, thì thật ngượng ngùng hết chỗ nói; sẽ hổ thẹn với bạn trẻ biết mấy! Đứng trên sân khấu có 118 vị xinh như mộng, tươi như hoa đang dự thi. Tất cả chờ đợi ban giám khảo phê duyệt rất lâu. Họ và Hoài đã vượt qua vòng sơ kết. Rồi đợt hai còn năm mươi cô lọt vào vòng bán kết. Đợt ba có mười lăm người may mắn vào vòng chung kết. Những cô bị loại thì buồn xo, cúi mặt lủi thủi bẽn lẽn đi xuống. Những cô còn nuôi hy vọng được đứng lại trên sân khấu, thì reo hoan tươi cười ôm nhau nhảy tưng tưng. Giống trẻ con ghê, mặc dù cô nào cô nấy đều ít nhất từ mười sáu đến “hâm” đi hâm lại tới bâm mấy tuổi rồi. Những cô còn đứng trên khán đài, đã được ban điều hành mời họ qua đứng hai bên cánh tả và hữu của khán đài.



Hoài hồi hộp lo lắng, bẽn lẽn, sợ bị ném cà chua, trứng thối, hay bị đuổi xuống khán đài, thì thật quê một cục, mất mặt, xúi quẫy cả năm chứ chẳng chơi. Còn lại hai cô kia và Hoài là người cuối cùng đứng giữa khán đài rộng mênh mông. Giờ phút quyết định quan trọng đã đến. Cuộc đời Hoài như thăng hoa, từ khi đại diện ban giám khảo đội vương miện lên đầu, cổ quàng hoa tươi, đeo hàng chữ Hoa Hậu - Cây Muà Xuân Chiến Sĩ năm 1962. Giải thưởng là chiếc xe đạp đầm Pháp, model mới nhất, màu xanh. Bó hoa liz cầm tay và mười ngàn đồng. Số tiền khá lớn, (trong khi lương lính một tháng chỉ có 1.500$)!

Ôi! Tuyệt vời xiết bao! Lòng hân hoan vui vẻ kinh khủng, Hoài mừng rỡ không thể tả nỗi. Mọi người ùa đến chúc mừng, bất kể lạ hay quen. Họ chen lấn nhau đứng bên nàng chụp ảnh. Chị Huyền, các cháu và mấy bạn phải nhảy lên sân khấu đứng gần đưa hai tay che chắn bớt số người ngưỡng mộ, chen lấn quá đông. Trái tim Hoài bừng sống, bay lên tận mây xanh, nàng cười liên miên, vui mừng, luôn miệng nói cảm ơn mọi người ưu ái đã gửi đến Hoài lời chúc tụng nồng nhiệt. Ồ! Định mệnh đã đưa đến tay nàng những gì cao qúy, tươi đẹp nhất trong đời. Nàng tưởng không bao giờ với tới, chạm tới đáy hạnh phúc. Không có ngôn ngữ nào có thể diễn đạt hết tâm tư Hoài mừng vui cuống quít kinh khủng trong lúc nầy. Thì ra ông Trời rất nhân hậu, từ ái, có chừa cho nàng một kẽ hở, vô cùng niềm nở, tuyệt vời, trân qúy, thân yêu nhất đó mà. Hoài không biết để tri ân và tạ ơn Ngài.

Hoài háo hức nhón gót nhìn quanh, tìm kiếm xem trong số khán giả đông đúc còn ngồi dưới khán đài, có "ai quen" lẫn lộn ở đó thì... vui vẻ, hãnh diện, tự hào biết bao. Quả thật, “chàng trai sơ giao” ấy đã đến chúc mừng vinh quang bè bạn. Lần đầu tiên, bây giờ nàng có dịp nhìn kỹ anh trong bộ quân phục đại lễ mùa đông oai hùng. Ah! Thì ra chàng là lính chiến ở văn phòng, chứ không phải thư sinh bạch diện như Hoài đã nghĩ lầm về anh! Bảng mica màu xanh gắn trên túi áo, mang tên Toàn Thắng. Hai bên cầu vai đỏ có một bông mai vàng lấp lánh dưới ánh đèn, tay cầm chiếc nón casket. Bây giờ nhìn anh quân nhân trẻ, mũ mão cân đai chỉnh tề, oai vệ, Thắng đứng nói chuyện bên mấy người quen mặc cevil, Hoài thấy họ khác lạ như hai thái cực tách rời, chênh lệch nhau quá.

Anh ấy gật đầu chào Hoài, cười thân ái:
- Thân chào Hương Hoài. Ngồi làm khán giả, anh nghĩ thể nào em cũng đạt được ngôi vị cao nhất. Rất hân hạnh đến chúc mừng, Hoài nhé.
- Cảm ơn anh. Không ngờ anh có mặt ở đây, và là... một sĩ quan.
- Như anh, có ngờ đâu anh hân hạnh quen biết với một hoa hậu kìa.
- Ban giám khảo thấy em tội nghiệp, sắp mít ướt tới nơi. Họ cho lầm.
- Ấy. Ở đời muôn sự đều giả dối, và nhầm lẫn. Chỉ có sự thực, mới đáng qúy trọng. Dù ở cảnh ngộ nào, anh cũng thích tôn trọng sự thực hơn.
- Điều đó quý lắm chớ.
- Là thế. Mong em giữ mãi niềm vui, hạnh phúc ngọt ngào như hôm nay.
- Hoài cảm ơn anh nhiều.
Thắng nhìn nàng cười thân ái. Thoáng giờ phút rực rỡ huy hoàng nhất đời mình, đã để lại trong lòng nàng tuyệt phẩm cao đẹp với cuộc đời. Hoài lâng lâng xúc động, ngất ngây niềm vui thành công chói sáng, hiển đạt không dám ngờ. Tim nàng rung lên từng hồi, theo nhịp đập trong lồng ngực cuồng quay, muốn hụt hơi, khiến nàng hoa mắt, môi luôn nở nụ cười toại nguyện.
Tạ ơn Chúa! Ngài đã ban cho mình đặc ân tốt lành. Có điều thực tế nhất là từ nay, Hoài có thể ngẩng mặt với đời chút xí, và phụ cho chị ít tiền, cho gia đình chị bớt khó khăn sau ngày cháu bé mất. Xin cám ơn Đời đãi ngộ. Cám ơn sự ưu ái, nồng nhiệt vô vàn của khán giả. Cám ơn Ban Tổ Chức cho mở cuộc thi. Cám ơn Ban Giám-khảo. Cám ơn gia đình chị Sáu Huyền, các cháu Châu, Trân, Vân, Sơn, và bạn hữu thân quen rất nhiều.
Trên đường về, ngoài số khán giả ngưỡng mộ đông đúc, đông rất đông, còn có anh em Trịnh Trần, Mai Nương, Thu Tuyền, Lan, Ngọc đã đưa chị em Hương Hoài từ bến Sơn Trà lên phà qua sông, về đến tận ngỏ nhà. Đêm bây giờ tuyệt đẹp. Đêm không u sầu. Đêm không hoang liêu. Đêm không ủ dột. Đêm không lo âu. Đêm không còn hãi hùng đau thương, đói khát, nhường cơm chia áo cho nhau. Đêm không đơn điệu. Mà là đêm đầy tuyệt vời. Đại lộ Phan Chu Trinh nở ra dưới đêm đầy sao lấp lánh huyền diệu trên bến Ngân Hà. Dù không có Thắng tiễn đưa Hoài về nhà như mọi ngày. Anh phải ở lại trực trong Sư Đoàn 2. Không có "anh". Nhưng, đêm càng về khuya, càng thơ mộng và tuyệt diệu dường bao! Đúng lúc đời lên hương, Thắng đã lên sân khấu tặng Hoài bài thơ: Xinh Đoá Hồng Gai


“Dạ thưa!” người con gái khá ngoan hiền.
Tóc thề dáng nhỏ nón lá chao nghiêng.
Gió sớm khuya chiều vờn quanh môi thắm.
E ấp ngập ngừng xuân tình bẽn lẽn.

* Khao khát trao em tình như thầm hẹn.
Ngày tôi đi mây xám ngủ bên thềm!
Cung đàn nhè nhẹ sáo diều êm êm.
Phượng hoàng tím soãi mình vờn quanh núi.

* Tình bỗng tha phương trống vắng ngậm ngùi…
Bãng lãng gót son em về tư lự.
Xinh đoá hồng gai trao chút an thư.
Dẫu trăm năm xin nồng nhiệt tương tư.

* Mắt em nhìn là rung lên vạn ý,
Môi chưa hé nhưng đã nói muôn lời.
Gói tâm tư theo từng áng mây trôi.
Tha thiết lắm. Ôi! Tình em gái nhỏ...


Ố... ồ! Thì ra em hân hạnh quen biết với một quân nhân thi sĩ! Vui lắm thay.

Ái Ưu Du

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH

Vũ Ánh.


Thương phế binh bao giờ cũng là đề tài đáng nói và cần nói tới cho đến mãi sau này.Một người lính trên chiến trường khi chân tay, thân mình còn nguyên vẹn, chiến đấu dũng mãnh nhưng chưa chắc đã có thể trở thành đề tài của một bài báo hay một nhạc phẩm được nhiều người đọc, được nhiều người nghe.

Nhưng khi người lính ấy đã mất một phần thân thể trong một trận chiến và mang mãi thương tật ấy cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, chắc chắn anh sẽ là đề tài hấp dẫn cho một tác giả.

Dường như trong lòng người thương binh nào cũng có một nỗi u uẩn, một nỗi phẫn uất không duyên cớ, một tâm lý thay đổi dễ nóng giận những chuyện bất bình.

Trước 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã bỏ ra một khoảng thời gian nhất định để lui tới trong Tổng Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn, Tổng Y Viện Duy Tân Ðà Nẵng, Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế và Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ để tìm hiểu tâm trạng những người lính mất chân, mất tay, có khi mất cả hai chân hoặc hai tay hay cả đôi mắt.

Tôi hiểu rằng biến động mạnh mẽ nhất về tâm lý thường rơi vào trường hợp những thương binh không bao giờ còn nhìn thấy được thấy ánh sáng. Nhiều thương binh kể cả cấp sĩ quan, hạ sĩ quan lẫn binh lính không bao giờ màng tới trợ cấp tàn phế của chính phủ vì gia đình họ khá giả, nhưng cái tâm lý u uẩn vì ngã ngựa, vì nghĩ rằng mình bị loại bỏ, không bao giờ còn được cùng đồng đội sống những ngày căng thẳng khó quên được khi đánh đông dẹp bắc. Tâm lý ấy dần dần đẩy họ vào một khoảng trống rỗng đáng sợ nhất trong cuộc đời còn lại.

Tôi không thảo luận vấn đề này sâu hơn nữa vì đây không phải mục đích của bài này. Ðiều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là những sự thay đổi về tình trạng xã hội sau ngày 30 tháng 4, 1975 ở miền Nam Việt Nam đã đẩy người thương binh VNCH vào thảm cảnh ghê gớm hơn: họ không còn phương tiện tối thiểu để sinh sống.

Khi miền Nam Việt Nam chưa mất, các thương binh VNCH còn được trợ cấp, còn được hưởng những phúc lợi y tế, giúp đỡ xe lăn, giúp các điều kiện chỉnh hình, gia đình thương binh còn phương tiện để giúp đỡ thêm cho người thân lâm vào hoàn cảnh không may này.

Nhưng sau biến cố 30 tháng 4, người thương binh VNCH bị đẩy vào hoàn cảnh thật khốn cùng vì trong cái xã hội của những người chiến thắng, tất cả mọi sự giúp đỡ trước đó đều bị cắt. Không những thế họ còn nhận lãnh sự sỉ nhục đau đớn tột cùng: thương binh “ngụy,” thương binh của “đạo quân đánh thuê,” “nhúng tay vào máu nhân dân,” trong khi họ biết chắc rằng họ không phải là loại người như thế, chính nghĩa vẫn ở về phía họ, nhưng chỉ vì ở phía thua trận nên bị kẻ thắng gán cho đủ điều.

Năm 1989, khi từ trại tù Cộng sản trở về, sống bằng sức lao động của nghề chân tay, tôi lại có nhiều dịp sinh hoạt với thương binh VNCH ở đầu đường cuối chợ.

Phần đông thương phế binh VNCH lúc đó sống bằng nghề bán dạo nhang, đèn, những đồ chơi vớ vẩn cho con nít, bán vé số, bán đồ phế thải bên lề đường, có khi bị công an đuổi, tịch thu hàng hay đồ nghề, những người lính này chỉ cười và chửi đổng: “Mẹ kiếp thắng rồi thì chúng bay muốn làm đếch gì mà chả được.”

Nói là thương binh VNCH sống bằng những “nghề” như vừa kể, nhưng thực ra họ không thể sống với số tiền nhỏ nhoi kiếm được không phải do “nghề” ấy mà do lòng trắc ẩn của người đời. Một số thương binh còn may mắn vì được sự giúp đỡ của những người còn lành lặn trong gia đình họ. Nhưng có nhiều gia đình không còn lực để giúp cho người thân ruột thịt của mình đành phải để thương binh ấy dứt áo ra đi sống lang thang trên hè phố.

Tôi phác họa ra hình ảnh ấy của thương binh VNCH ở miền Nam Việt Nam không phải là để thảm kịch hóa vấn đề và dùng nó vào một chiến dịch quyên góp hàng năm để giúp đỡ các thương binh VNCH.

Vào giai đoạn tôi còn đang phải sống trong cái xã hội tan nát của miền Nam Việt Nam từ 1989 đến 1992 thì ở Mỹ chưa có phong trào giúp đỡ thương phế binh VNCH quy mô như ngày nay. Sự giúp đỡ vào lúc đó chỉ là những giúp đỡ riêng lẻ của một số các thành viên trong các hội đoàn cựu quân nhân ở hải ngoại đối với những đồng đội cùng đơn vị còn kẹt lại Việt Nam.

Biến cố 30 tháng 4, 1975 ảnh hưởng đến tất cả những người lính, bất kể cấp bậc, bất kể quân binh chủng. Thương phế binh cũng vậy, từ quan đến lính đều mang cùng một số phận như nhau.

Những cựu binh VNCH nào được định cư ở Hoa Kỳ hay ở những quốc gia khác đều là những người may mắn hơn những người còn ở lại. Và tất cả mọi người chúng ta, nếu xuất thân là những người tỵ nạn, nên tự khoác cho mình nghĩa vụ trợ giúp những người trước đây từng xả thân chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Riêng tại Nam California, chúng ta phải cảm ơn tất cả những người nào đã có sáng kiến, đã thực hiện sáng kiến ấy, đã điều hành công cuộc trợ giúp các thương phế binh VNCH bằng cách tổ chức quyên góp qua đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH” hàng năm.

Chúng ta cũng cần phải cám ơn tất cả những nghệ sĩ đã cộng tác với đại nhạc hội này cũng như những người từ thiết kế sân khấu, âm thanh, ánh sáng, giữ trật tự, bán vé, những tình nguyện viên vận động và làm việc ngày đêm để sao cho số tiền thu được qua đại nhạc có thể giúp được càng nhiều thương phế binh VNCH càng tốt.

Nhờ những tấm lòng bao la này mà Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH có một được một số tiền để thực hiện công tác thiện nguyện của hội đối với thương phế binh VNCH ở Việt Nam.

Những món tiền gởi về hàng năm tất không thể làm cho đời sống các thương phế binh VNCH ở miền Nam Việt Nam thoát ra khỏi được những khó khăn mà chỉ có tác dụng làm vơi bớt sự đau khổ về tinh thần cho họ. Nó thể hiện được tình huynh đệ chi binh. Nó là ngọn lửa sưởi ấm lại những con tim đã giá lạnh vì những nghiệt ngã của cuộc đời. Nó là lời an ủi vô biên và dù ở cách nhau cả biển Thái Bình mênh mông nhưng người ở hải ngoại không lúc nào không nghĩ đến những hy sinh cao cả của những người đã hiến dâng những phần thân thể của mình cho đất nước.

Tuy nhiên, Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH cũng cần có thêm những phương thức quyên góp khác để phụ vào với phương thức tổ chức đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH.”

Liệu chúng ta có thể áp dụng bài học rút ra từ cách làm rất thành công mà cựu Tổng Thống Bill Clinton và cựu Tổng Thống George W. Bush áp dụng trong việc quyên góp giúp nạn nhân động đất ở Haiti hay không?

Ủy ban quyên góp của họ đã liên lạc với những công ty điện thoại để các công ty này đồng ý trực tiếp ghi vào hóa đơn tính tiền điện thoại đối với những ai đã gởi e-mail qua điện thoại (text) vào một tài khoản nhất định nằm trong “trust fund,” ghi rõ số tiền mà mình muốn giúp.

Những người không muốn “text” thì có thể gởi ngân phiếu vào trust fund. Phương thức này giúp những đồng hương Việt Nam ở tiểu bang khác cũng có thể giúp các thương phế binh VNCH.

Và cuối cùng, Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH cũng nên nghĩ tới việc vận động mỗi gia đình đồng hương tỵ nạn bảo trợ cho một thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.

Về quản trị những số tiền quyên góp này, hội nên vận động và tận dụng những thiện nguyện viên trong cộng đồng góp sức làm việc bằng những nguyên tắc kế toán tối tân hiện đang áp dụng ở Hoa Kỳ.

Tôi tin rằng với những phương thức cộng thêm vào với đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH,” số tiền trợ giúp thương phế binh VNCH sẽ gia tăng lên nhiều hơn.

Dù sao, đây cũng chỉ là một gợi ý của cá nhân tôi. Gợi ý này có thể phù hợp hoặc không phù với với các điều kiện thực tế nào khác trong cộng đồng hiện nay, hoặc chúng cần phải được thảo luận rộng rãi hơn trong cộng đồng để hội có những quyết định cuối cùng tăng cường nỗ lực quyên góp.

Muốn có thêm những phương thức quyền góp thì phải có thêm người giúp việc, đóng góp công sức, thêm vào sự tháo vát, nhiệt tình. Tôi không nghĩ là cộng đồng chúng ta thiếu những tấm lòng đối với những công việc nên làm và cần làm.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tìm thấy hài cốt 8 phi công
Phi Đoàn Tinh Long 821 ở Sài Gòn


Phi vụ cuối cùng, 29 tháng 4, 1975

Hà Giang/Người Việt
Tin tám bộ hài cốt, được cho là của tám vị anh hùng tử sĩ thuộc Phi Ðoàn Tinh Long 821, bị thiệt mạng trong Phi Vụ Tinh Long 07, vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, được tìm thấy và chôn cất tử tế tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua, đã làm nhiều cựu nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 xúc động.

Ðó là hài cốt của những chiến sĩ đã tử nạn khi chiếc phi cơ AC-119K, danh hiệu Tinh Long 07, đã nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường, vì trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, lúc đang bay để bảo vệ thủ đô Sài Gòn và phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4, năm 1975, trước sự chứng kiến đau lòng của đồng đội.

“Tình chiến hữu và lòng tri ân với các vị anh hùng tử sĩ này đã khiến chúng tôi, một nhóm cựu Không Quân trong và ngoài nước tìm hết cách để truy tìm hài cốt cũng như danh tánh của phi hành đoàn.”
Image
Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, tử nạn khi chiếc máy bay AC-119K,
bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, bắn nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường Tân Sơn Nhất
trong phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH sáng ngày 29 tháng Tư, 1975. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp)


Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại và email, Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, một thành viên của nhóm người “không bao giờ quên phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH” chia sẻ.

Trung Úy Trương Nguyên Thuận cho biết sau 3 năm trời kiếm tìm ròng rã, và biết bao nhiêu nỗ lực, ông và đồng đội mới tìm được địa điểm, rồi phải nhờ đến sự giúp đỡ của những nhà ngoại cảm, mới bốc được 8 hài cốt mà họ quyết đoán chính là tám người trong phi vụ Tinh Long 07 đã tử nạn cách đây 35 năm.

Tìm ra những hài cốt đã vùi sâu trong lòng đất cách đây hơn 35 năm đã khó, mà tìm ra danh tánh của toàn thể phi hành đoàn này còn khó hơn. Cho đến nay, hài cốt của 3 trong 8 vị anh hùng tử sĩ này vẫn chưa được xác nhận.

Ðó là lý do tại sao Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, cùng một số bạn bè, đang nhờ sự hỗ trợ của giới truyền thông để truy tìm cho ra tên tuổi và gia đình của những nhân viên phi hành trong phi vụ lịch sử này.

Sự kiện phi cơ AC-119K bị bắn nổ tung trên không trung và rơi xuống đất, làm thiệt mạng nguyên cả phi hành đoàn (trừ một người nhẩy dù ra được), đã được rất nhiều người chứng kiến.

Cựu Trung Tá Không Quân Nguyễn Văn Ức kể:

“Lúc chiếc phi cơ AC-119K nổ tung trên không gian thì chúng tôi đang ở bên ngoài Bộ Tư Lệnh Không Quân đều nhìn thấy.”

“Chúng tôi đứng đó đau đớn khóc cho số phận nghiệt ngã của đồng đội.”
Image
Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07 tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua.
8 hài cốt nhưng chỉ có 6 hũ cốt vì một số xương trộn lẫn với nhau không phân ra được. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp
)


Ký giả Lê Thụy của nhật báo Người Việt nhớ lại là lúc đó ông đang thơ thẩn ngoài cửa Việt Tấn Xã ở đường Hồng Thập Tự, vì “không còn tâm trí nào để làm việc.”

“Tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ hai đuôi bay thấp trước mặt, rồi một xẹt lửa màu đỏ từ hướng Tây Ninh bắn lên, rồi thì chiếc phi cơ nổ tung lên.

Rồi thấp thóang thấy có một chiếc dù.”

“Tôi nhớ rõ dân chúng la lên, ‘thôi chết chúng đã vô tới đây rồi!’”

Nhưng tại sao là một phi vụ hẳn hòi mà danh tánh của phi hành đoàn lại không có?

Câu trả lời, theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận, nằm trong bối cảnh lịch sử của đất nước lúc đó.

Qua những lần tiếp xúc, câu chuyện được ông tóm lược như sau:

Càng gần những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhất càng hoảng hốt, nhốn nháo với những chuyến bay do chính phủ Hoa Kỳ hối hả tìm cách di tản một số người dân Việt Nam và những nhân viên của họ.

Sáng 28 tháng 4, khi SÐ3KQ Biên Hòa được lệnh di tản về Tân Sơn Nhất, thì tình hình càng trở nên hỗn loạn. Thế nhưng đa số các nhân viên trong phi Ðoàn Tinh Long 821, thuộc SÐ3KQ vẫn cố gắng duy trì hoạt động bình thường cho đến giây phút cuối của cuộc chiến.

AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”, với “một hỏa lực hùng hậu gồm: 4 cây miniguns MXU-470/A 7.62 ly với 21,500 dây đạn; 2 cây súng M61-A1 20 ly với 3,000 dây đạn.” Ngoài ra còn có “24 trái sáng loại MK 24 và ống phóng LAU-74/A. Tất cả hệ thống được điện toán hóa và do phi công chính điều động.”
Image
AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”
Cũng theo cựu Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì Phi Ðoàn Tinh Long 821, gồm 300 nhân viên gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ; từ nhân viên phi hành đến nhân viên hành chánh, là một Phi Ðoàn “Gunship” hoạt động khắp 4 vùng Chiến Thuật, từ Cà Mau đến Vĩ Tuyến 17. Phi đoàn chỉ đánh trận vào ban đêm, từ trời sập tối đến lúc mặt trời ló dạng. Mỗi đêm, tại đại bản doanh phi đoàn, có 6 phi vụ chính và 2 hoặc 3 phi vụ túc trực hành quân, tùy theo tình hình và nhu cầu chiến trường. Các phi hành đoàn túc trực có thể bị điều động bất cứ lúc nào.

Lệ thường tất cả nhân viên có tên trong phi vụ lệnh hàng đêm phải có mặt tại phi đoàn trễ nhất là 5 giờ chiều trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo và phải ngủ tại phòng hành quân suốt đêm. Tinh Long có 6 phi hành đoàn chính được đánh số từ Tinh Long 01 đến Tinh Long 06, và 3 phi hành đoàn túc trực là Tinh Long 07 đến Tinh Long 09.

Vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975; Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, được điều động vào sáng sớm, khi mặt trời đã ló dạng, vào lúc đó Cộng quân đã tràn ngập chung quanh vòng đai phi trường.

Mặc dù đã bay phi vụ đầu tiên trong đêm nhưng Trung Úy Trang Văn Thành cùng Trung Úy Tào Thuận gom một số đoàn viên còn ngủ tại phòng túc trực hành quân cất cánh để bảo vệ phi trường và thủ đô Saigon ở giờ phút hấp hối.

Vì tình trạng hỗn tạp trong buổi sáng hôm đó nên không ai biết chắc ai đã có mặt trên phi vụ định mệnh này ngoài hai pilot và người cơ khí phi hành Phan Quốc Tuấn. Người sĩ quan IR có tên trong phi vụ lệnh hiện ở Orange County vì đã ra về lúc trời hừng sáng, trước khi bị điều động.

Khi cánh trái phi cơ bị bắn gẫy, khoảng hơn 7 giờ sáng, phi cơ bị rơi xoắn trôn ốc, ở cao độ 2000 bộ, dù có muốn nhảy dù cũng không có cơ hội; vì thế, toàn thể phi hành đoàn đã tử nạn trừ một nhân viên trái sáng - Trung Sĩ Nguyễn Văn Chín - đã kịp nhảy dù sống sót nhưng đã bị trọng thương vì dù không bung kịp. Nguyễn Văn Chín đã đến báo hung tin cho gia đình Trang Văn Thành tuần lễ sau đó rồi biệt tích cho đến ngày nay vẫn không ai biết tin tức, mặc dù chúng tôi đã truy tìm mấy chục năm qua bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng không có kết quả.

Như vậy cho đến giờ phút này thì danh tánh đã được xác định của phi hành đoàn Tinh Long 07 gồm có:

1. Trưởng phi công: Trung Úy Trang Văn Thành.
2- Phó phi công: Trung Úy Tào Thuận.
3. Cơ khí phi hành: Phan Quốc Tuấn.
4. Ðiều hành viên: Thiếu Úy Phạm Tấn Ðức.
5. Quan sát ban đêm: Thiếu Úy Trương Ngọc Anh.


Theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì danh tánh của những người còn lại, được người ngoại cảm liệt kê dưới đây, cần được thân nhân của đại gia đình Phi Ðoàn Tinh Long 821 xác định.

KQ Nguyễn Văn Chánh
KQ Nguyễn Tiến Cường
KQ Phan Văn Quốc
KQ Phan Văn Duy
KQ Trần Tiến Mạnh


Em của Trung Úy Phạm Tấn Ðức là bà Nguyệt Ðiểu là người duy nhất có mặt trong buổi bốc hài cốt. Gia đình của Trung Úy Trang Văn Thành và Trung Úy Tào Thuận, cũng như Thiếu Úy Trương Ngọc Anh đã được báo tin.

Buổi bốc hài cốt đầy thương cảm. Tám hài cốt được chứa trong 6 chiếc lọ và chôn cùng một nấm mồ. Lý do là vì “có hai chiếc lọ mỗi chiếc chứa hài cốt của hai người, vì xương cốt của họ lẫn lộn không thể phân biệt được.”

Theo kết luận của Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì “còn danh tánh của 3 vị anh hùng tử sĩ khác vẫn chưa được xác định.”

Ông tâm sự là ở đâu đó, thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ này, mà chúng tôi biết chắc chắn là đồng đội của mình trong Phi Hành Ðoàn Tinh Long 821, cũng đang mong tìm được hài cốt của họ.

“Chúng tôi muốn phổ biến tin này rộng rãi với niềm hy vọng là thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ còn lại ở đâu đó được an lòng khi biết thân nhân của mình đã được yên mồ đẹp mả.”

Ðộc giả cần biết thêm chi tiết có thể liên lạc với Trung Úy Trương Nguyên Thuận ở thanphongkingwood@yahoo.com hay số điện thoại 281-443-1015; hoặc liên lạc với email nguyentoaichi@gmail.com.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Trên Mười Ngàn Người Dự Đại Nhạc Hội ‘Cám Ơn Anh Kỳ 4’, Bày Tỏ Lòng Biết Ơn Các Anh Thương Binh Và Tử Sĩ VNCH

GARDEN GROVE (VB) - Trên mười ngàn người gồm các cựu Quân Dân Cán Chính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đại diện các đoàn thể, tổ chức, hội đoàn, các vị dân cử, các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và đồng hương Việt tị nạn đã tham dự Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," do Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh Và Quả Phụ VNCH cùng Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, với sự yểm trợ của nhiều hội đoàn, và các cơ quan truyền thông hải ngoại, tổ chức tại Sân Vận Động Trường Trung Học Bolsa Grande thuộc Thành Phố Garden Grove, California, Hoa Kỳ, vào chiều Chủ Nhật, ngày 1-8-2010.
Chương trình bắt đầu đúng vào lúc 12 giờ trưa, với phần rước Quốc Quân Kỳ VNCH vào trước lễ đài để cử hành nghi thức chào quốc kỳ và hát quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm tưởng nhớ công ơn tiền nhân dựng nước và giữ nước, tưởng nhớ các anh hùng tử sĩ quân dân cán chính VNCH đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc trước hiểm họa xâm lăng của CS Bắc Việt, do ông Nguyễn Đình Khuôn điều hợp.
Phái đoàn gồm vài chục chiếc xe mô tô của Câu Lạc Bộ Motors của Luật Sư Đỗ Phủ đã diễn hành qua trước khán đài để chào mừng quan khách và khán giả. Trong dịp này, đại diện cho Câu Lạc Bộ, LS Đỗ Phủ cũng đã trao cho Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội ngân phiếu $12,000 đô la hiến tặng vào quỹ cứu trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.
Cựu Nữ Trung Tá QLVNCH Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, 83 tuổi, Chủ Tịch Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH, Trưởng Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ IV," trong phần phát biểu khai mạc, đã nói rằng, "Mỗi lần tổ chức Đại Nhạc Hội là mỗi lần chúng tôi đón nhận biết bao nhiêu ân tình của quý vị đã nồng nhiệt gửi tiền đóng góp cho anh em Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, thể hiện tấm lòng rộng mở trước những mảnh đời oan trái đầy tủi nhục với những thương tật mà an hem đang phải gánh chịu cho đến cuối đời. Hành động đó chứng tỏ rằng chúng ta không quean ơn các an hem Thương Binh và Tử Sĩ đã hy sinh cho chúng ta được sống an lành cho đến ngày hôm nay."
Bà Hạnh Nhơn nhân đó cũng đọc lá thư của một Thương Phế Binh gửi ra từ Sài Gòn ngày 26 tháng 7 năm 2010. Lá thư có đoạn viết rất cảm động rằng, "Nhờ sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại đã kịp thời hồi phục cuộc sống nhiều cay nghiệt khó khăn dành cho an hem Thương Phế Binh." Bức thư cũng bày tỏ niềm biết ơn sâu xa đến sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại.
Cựu Trung Úy VNCH Trần Thi Vân, người đã vận động thành lập Hội Thương Phế Binh VNCH từ những năm đầu thập niên 1980s tại Nam Cali, thay mặt các anh em Thương Phế Binh trong và ngoài nước phát biểu nói lên lòng cám ơn đồng hương đã giúp đỡ từ bấy lâu nay.
Thay mặt cho giới trẻ Việt Nam, ông Ngô Thiện Đức đã phát biểu với lời lẽ chân thành, trong đó có đoạn ông nói rằng, "Vinh dự cho giới trẻ để được nói lên lòng biết ơn sâu xa của giới trẻ đối với những người đã hy sinh cho chúng ta được sống." Ông đề nghị giới trẻ hãy ủng hộ bằng cách dành tất cả số tiền làm được trong ngày Chủ Nhật này cho các Thương Phế Binh VNCH. Và ông không quên bày tỏ tâm nguyện sống xứng đáng và đóng góp cho cộng đồng.
Đại diện cho Nhóm Quân Nhân Mỹ gốc Việt, Thiếu Tá Quân Y Triết Bùi phát biểu rằng ông rất ngưỡng mộ những chiến tích của người lính Quân Lực VNCH khi xem các phim tài liệu về cuộc chiến Việt Nam và những chiến tích đó đã ghi sâu vào ký ức ông. Ông Bùi nói rằng đối với người lính Quân Lực VNCH "Tuy không cùng chiến trường nhưng cảm thông nhau qua đời lính." Ông cho biết vào ngày 8 tháng 8 năm 2010, hội sẽ tổ chức gây quỹ cho Thương Phế Binh chiến trường Iraq và Afghanistan tại thành phố Houston, Texas.
Cựu Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu, Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, trong phần phát biểu, trình bày hoàn cảnh bi thương của các anh em Thương Phế Binh VNCH trong đất nước bị CS cai trị qua hình ảnh của một người mù cõng một người cụt chân. Và ông đặt câu hỏi: Họ là ai? Ông khẳng định rằng họ là những Thương Phế Binh VNCH, sống lây lất qua ngày và đang chờ đón sự giúp đỡ của đồng hương hải ngoại. Ông nhấn mạnh rằng, "Chúng ta không thể không làm điều gì cho họ cũng như gia đình họ."
Tham dự trong Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," gồm có Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Chuẩn Tướng Võ Dinh, Nghị Viên Thành Phố Westminster Tạ Đức Trí, Cựu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Trần Quang An, Ủy Viên Hội Đồng Giáo Dục Thành Phố Westminster Andrew Nguyễn, Thượng Tọa Thích Viên Huy từ Chùa Điều Ngự, đại diện Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang California Lou Correa là cô Julie Nguyễn, Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức Tâm Hòa Lê Quang Dật, Cựu Đại Tá Tạ Thái Bình, phái đoàn Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh" Bắc Cali gồm 30 người, đại diện Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez là cô LIly Hiếu Nguyễn, Ứng Cử Viên Dân Biểu Tiểu Bang Địa Hạt 68 Phú Nguyễn, Ứng Cử Viên Nghị Viên Thành Phố Fountain Valley Võ Đức Minh, Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng Nam Cali Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Dân Biểu Tiểu Bang California Trần Thái Văn, v.v…
Ông Tô Kỳ Nghiã, một cựu quân nhân Quân Lực VNCH trong ngành công binh, đang sinh sống tại Canada, cho phóng viên Việt Báo biết rằng nhân chuyến viếng thăm bà con tại Nam California nên ông cùng gia đình và bà con đến đây tham dự Đại Nhạc Hội. Được hỏi cảm nghĩ lần đầu tham dự Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," ông Tô Kỳ Nghĩa nói rằng, "Đây là chuyện nhân đạo rất vĩ đại, bởi vì những người Thương Phế Binh và Tử Sĩ sau khi miền Nam sụp đổ không còn ai giúp đỡ, nên việc tổ chức gây quỹ giúp đỡ cho họ là việc làm đáng ủng hộ." Ông Nghĩa cho biết ông định cư tại Canada từ năm 1982 sau khi vượt biên đến Indonesia.
Các thành viên của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California đã đồng hát bài "Xuất Quân," để mở đầu cho chương trình văn nghệ đặc biệt trong Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ IV," với phần điều hợp của 8 MC như Nam Lộc, Việt Dzũng, Minh Phượng, Diệu Quyên, Thùy Dương, Giáng Ngọc, Orchid Lâm Quỳnh, và Đỗ Tân Khoa (Ứng Cử Viên Nghị Viên TP Westminster), qua 5 ban nhạc The Asia Band, Y2K, The Soldier, Moon Flowers, Tù Ca Xuân Điềm, và hàng chục ca nhạc sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Trung Chỉnh, Giang Tử, Mai Lệ Huyền, Sơn Ca, Ngọc Minh, Tuấn Vũ, Lâm Thúy Vân, Ngọc Huyền, Tâm Đoan, Ánh Minh, Hồ Hoàng Yến, Lê Anh Quân, Đặng Thế Luân, Thùy Dương, Thiệu Kỳ Anh, Nguyên Khang, Lâm Nhật Tiến, Hồng Nhung

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Hình ảnh Đại nhạc Hội Cám Ơn ANH kỳ 4 ở Nam Cali



http://picasaweb.google.com/cameramanpatlam/HatChoAnh#

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Những Người Lính Bị Bỏ Quên
Viết cho Tháng Tư Đen 2010: Những Người Lính Bị Bỏ Quên

Tác giả: Võ Trang

“Anh ơi anh, đi dùm em một cuốc xe đi anh
Anh ơi anh, đi dùm em một cuốc đi anh!...”

Tôi quay lại để nói lời từ chối. Nhưng ngay khi nhìn thấy khuôn mặt của người kéo xe thì dù chỉ trong khoảnh khắc, tôi cảm nhận ngay cái định mệnh khắt khe cho những con người như thế này.


Thuở ấy, vào khoảng năm 1960-1963 gia đình tôi dọn từ Tuy Hoà về Đà-Nẵng nhưng chỉ ít lâu sau thì đã di chuyển tiếp vào Hội An. Là một công chức liêm khiết sau khi giải ngũ vì thương tích, “thẳng thắn” và “bất trị” ba tôi bị thuyên chuyển đi rất nhiều nơi trên miền Nam Việt-Nam. Tại Hội-An nơi khu chúng tôi ở, chỉ trên 1 con đường Nguyễn Thái-Học mà giờ đây đang được biến thành khu phố cổ cho du khách tham quan, gia đình tôi cũng đã dọn nhà đến 3 lần. Cái thành phố nhỏ này thật ra đã để lại cho chúng tôi nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm học trò, những cơn lụt mỗi năm, nước dâng lên đuổi chúng tôi lên tận căn gác trên cùng…

Vốn hiểu được chúng tôi không có khiếu buôn bán, làm ăn, mẹ tôi thường khuyên anh em chúng tôi nên cố gắng học hành để sau này tự nuôi lấy thân mình. Thuở ấy tôi chỉ mới học lớp Nhì nhưng anh Cả tôi thì đã học đến lớp đệ Ngũ. Anh Cả tôi là người được me tôi thương yêu và nuông chiều nhất. Để khuyến khích anh học hành, me tôi cho phép anh đem bạn bè về học chung, thậm chí ăn ngủ trong nhà rồi thành ra quen thân, gọi me tôi như mẹ nuôi tinh thần…

Thuở ấy chính quyền VNCH rất cần quân nhân để chiến đấu nhưng vẫn mở một cánh cửa cho học sinh tiếp tục học trình. Chúng tôi phải trải qua rất nhiều kỳ thi trước khi vào đại học. Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp là để tuyển chọn học sinh vào lớp đệ Tam (lớp 10 bây giờ) tại các trường Công lập (học không tốn tiền). Kỳ thi Tú Tài Bán Phần (Tú Tài I) là để lọc học sinh lên lớp đệ Nhất (Lớp 12) và kỳ thi Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài ÌI) là để lọc sinh viên vào đại học. Từ lớp đệ Nhị (lớp 11 bây giờ) cho đến khi ra đại học, học sinh chỉ được ở lại lớp 1 lần trong tất cả các kỳ thi. Nếu nhiều hơn thế thì họ phải tạm xếp bút nghiên lên đường thi hành quân dịch

Sau hơn ba năm ở Hội-An, chúng tôi dọn trở lại Huế. Nhưng chỉ ít lâu sau thì các bạn anh tôi lại từ từ rủ nhau tụ tập lại, học hành như xưa. Căn nhà Từ Đường 3 gian 2 chái của dòng họ ngoại là nơi chúng tôi “dùi mài kinh sử”. Năm nào cũng vậy, lớp bạn anh tôi chọn học đêm vào mỗi mùa thi. Thuở ấy tôi còn nhỏ nên chỉ thỉnh thoảng ham chơi mới thức khuya với họ. Nhưng kỷ niệm những đêm hè êm ả, trời trong và đầy trăng sao, dưới những tàng cây vú sữa đã mấy chục tuổi của Ngoại sẽ mãi mãi là những huyền thoại của cả một thời niên thiếu….

“Học tài thi phận”, tôi đã chứng kiến nhiều buổi chia tay của những người con nuôi của me tôi. Những buổi tiệc chia tay dù bùi ngùi nhưng không sướt mướt như “thà như mưa gió đến ôm tượng đá …” hay hoàn toàn tuyệt vọng như là “…đời anh khi ra đi là coi như đã hết, thôi, xin em đừng chờ mong…”

Những người con tinh thần của me tôi kể cũng lạ. Không đỗ đạt được để thành ra “ông này bà nọ” thì đi lính cũng phải chọn thứ lính “chiến” - như Biệt Kích Dù, Biệt Động Quân… Có người chỉ vài năm sau là chúng tôi đã cùng nhau đi đưa đám. Trong đám con nuôi tinh thần của me tôi có người anh tên Nguyễn văn Thông, năm ấy (1968) là Trung Úy tiểu đoàn 37 (39?) Biệt Động Quân. Anh Thông người Quảng Nam, không cao nhưng mập mạp. Tôi nhớ anh có những ngón tay đầy đặn như những trái chuối tiêu nhưng khi rảy đàn nghe cũng có hồn lắm, nhất là trong những ngày cuối trước khi nhập ngũ…

“Hành Trang Giã Từ” tuy không phải là một tuyệt tác của thế giới nhưng đã để lại cho tôi những dấu ấn sâu đậm nhất trong đời…

“… Đây gói hành trang,
xếp lại cho trọn để anh đi nhé!
Xin chớ ưu buồn,
vì trong những ngày dài anh nhớ em luôn…”

Có ưu tư nhưng đầy bi tráng. Trong chết chóc, tình yêu thương vẫn ngập tràn. Phải chăng đây chính là nhân bản? Tôi tin những người con nuôi của me tôi hiểu được ý nghĩa của bi kịch “giết hoặc bị giết” trên chiến trường. Trong những buổi nói chuyện với họ tôi chưa bao giờ thấy được nét hớn hở khi giết được nhiều “quân thù”. Không phải chỉ vì kẻ chết cũng là người Việt da vàng như họ mà còn vì bản chất của chiến tranh vốn là tàn nhẫn nên trong tận cùng vốn không có gì để hãnh diện. Thậm chí có người vì không chịu được những tương tranh trong suy nghĩ, như Trung Sĩ Ngô Hòa Kha, một người con nuôi khác của me tôi đã tự hủy hoại thân thể để khỏi phải thấy thêm cảnh chém giết trên chiến trường.

Mùa xuân năm 1968, sau khi quân đội Quốc Gia đã tái chiếm lại thành phố, hai trong số những người con nuôi của me tôi có theo tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân về đóng tại sân vận động Huế, nhưng đã quá muộn để có thể cứu ba tôi đã bị đặc công nằm vùng bắt đi và chôn sống trước đó…

Sau tháng Tư năm 1975, tôi ở lại và tiếp tục học trình ở trường Y-Khoa SàiGòn nhưng thật tình không có tâm trí nào để xây dựng tương lại hay sự nghiệp gì nữa. Thỉnh thoảng bạn bè ở cả 2 trường Khoa Học và Y khoa của tôi lác đác biến mất hoặc thản nhiên bỏ học vì trong khung cảnh đó có ra trường cũng chưa chắc gì đã kiếm sống được trong khi đời sống hằng ngày là câu hỏi thúc bách trước mắt. Nếu được đi du học sau khi đậu Tú Tài Toàn là một giấc mơ thì có cơ hội đi như “Bác” là giấc mơ vô bờ bến của chúng tôi sau ngày miền Nam thất thủ. Qua bức màn sắt , chúng tôi không biết gì nhiều về thế giới bên ngoài và mãi đến 4 năm sau, nhờ một tổ chức cho ứng trước 1 số tiền nhỏ chúng tôi mới có cơ hội liều mạng.

Theo chương trình, sau khi xuống đến Rạch Giá, chúng tôi sẽ ngủ tạm một đêm tại nhà 1 người quen của ban tổ chức. Sáng hôm sau, chúng tôi phải tự mình ra 1 bến đỗ ở gần đó để lên ghe nhỏ “về quê”. Địa điểm này là một nút chặn trên đường ra cửa biển của ghe lớn mà chúng tôi phải đuổi theo cho kịp khi ghe lớn đi ngang… Người đưa đường chỉ đi xa xa cho chúng tôi biết mà theo vì không muốn bại lộ và còn phải đưa nhiều người khác nữa. Ra khỏi nhà người dân địa phương, chúng tôi lầm lũi đi nhanh mong sớm đến bến đổ.


*

“Anh ơi anh, đi dùm em một cuốc xe đi anh!
Anh ơi anh, đi dùm em một cuốc đi anh!...”

Tôi quay lại để nói lời từ chối vì nếu cứ để cho người phu xe này năn nỉ hoài thì bại lộ hết. Đi chui như thế này không nên gặp ai cả. Từ Sài Gòn về đây chúng tôi đã khổ sở tránh né nhiêu lần rồi… Bàng hoàng tôi nhận ra đó là anh Thông, đen đủi trong chiếc áo rách, quần đùi và đi chân không. Hai “bắp chuối” ở tay, chân rắn lại như là dấu chứng của những năm tháng kéo xe kiếm sống. Ôi! Còn đâu người lính Biệt Động Quân trong bộ quân phục rằn ri oai hùng. Anh Thông cũng nhận ra tôi và hình như muốn nói rất nhiều nên cứ dục tôi lên xe để anh kéo cho. Người đưa đường thì cứ nhìn lại thúc dục… đứng nói chuyện bên đường cái như thế thật là nguy hiểm vì dù đã cải trang thành nông dân, bộ mặt lơ láo non chẹt của chúng tôi ai cũng dễ hoài nghi. Tôi đành nói với anh là tôi phải đi ngay, quên cả đưa cho anh số tiền còn lại vì nếu đi lọt thì số tiền Việt-Nam sẽ không làm gì được nữa.

Chúng tôi đi không lọt và cũng may nhờ chút tiền đó mà trở lại được Sài Gòn. Khoảng 15 phút sau, người anh thứ Hai của tôi lên ghe cho hay anh cũng đã có gặp anh Thông. Can đảm hơn tôi, anh để cho anh Thông kéo anh đi một đoạn đường để có dịp nói chuyện. Giờ nghĩ lại tôi cứ trách mình. Sợ hãi làm tôi đã như vô tình, vì kể từ ngày đó chúng tôi chưa bao giờ gặp lại anh Thông nữa.

Tàn cuộc chiến, người lính bị buộc phải thua trận này không tìm về quê cũ ở Quảng Nam mà cô đơn lưu lạc ra tận biên giới miền Nam để kéo xe. Anh không chịu trình diện, cũng không chịu đầu hàng? Anh Thông có dự tính gì hay không thì tôi không biết. Nhưng nếu tiếp tục ở lại, tuy anh không bị đi học tập cải tạo nhưng vì như thế anh không nằm trong diện “Cựu tù nhân của cộng sản” để được di trú sang Mỹ 10 năm sau đó….

Lần thứ hai, 3 tháng sau, chúng tôi được cho trở lại để vượt biên lần nữa, đỗ bến ngay tại chân cầu Rạch Giá vào lúc xế chiều. Quả như suy nghĩ, chúng tôi không thể gặp lại anh Thông lần nữa. Lần này chúng tôi đi lọt để bước sang 1 trang mới, hoàn toàn khác hẳn của cuộc đời. Các trại tị nạn đóng cửa vào khoảng năm 1995 trong khi CSVN đã nối lại ngoại giao với Hoa Kỳ và đang tiến hành chính sách “đổi mới” để cứu nguy cho nền kinh tế và chính trị đang chìm vào đáy vực thẵm thẳm… Nào ngờ đâu 35 năm sau, khi đất nước đã thống nhất và thanh bình - và ngay cả khi tôi viết những dòng chữ này thì người Việt Nam của quê hương tôi, trong cả 2 miền Nam Bắc vẫn còn tiếp tục trốn chạy xứ sở của mình, chấp nhận làm lao nô, ngay cả bán thân, để sống lây lất trong rừng hoang của xứ lạ, qua chính sách “xóa đói giảm nghèo” của chính nhà cầm quyền tự xưng là chính quyền nhân dân, do dân và vì dân của họ…

Từ những thành phần từng bị xếp loại là cặn bã, đĩ, điếm, phản quốc của xã hội, những người tị nạn như chúng tôi bỗng trở thành “khúc ruột ngàn dặm” của nhà cầm quyền CSVN. Cũng như tình nghĩa đối với “người anh em Trung-Quốc”, cái tình nghĩa “trâng tráo” đến độ vô liêm sỉ này quả là khó nhận. Tự đồng hóa mình với nhân dân, và xa hơn nữa, với cả dân tộc, nhà cầm quyền CSVN và tay sai kêu gọi người Việt tị nạn hãy xoá bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải để cùng nhau xây dựng đất nước, dĩ nhiên là vẫn dưới quyền lãnh đạo độc tài của họ. Người dân Việt-Nam, kể cả ba miền chưa bao giờ chia rẽ nên không cần phải hòa hợp hòa giải gì cả. Nếu cần thì họ cần hiểu nhau hơn, đoàn kết với nhau hơn để cùng đấu tranh chấm dứt chế độ độc tài đảng trị của CSVN. Còn đối với nhà cầm quyền CSVN và tay sai của họ thì người dân dù ở trong nước hay ở hải ngoại cũng không cần hòa hợp hòa giải với sự độc tài và tàn ác của họ - vì bản chất của họ vốn không bao giờ thay đổi.

Tôi tin rằng những người con nuôi của me tôi chưa bao giờ có ý tưởng “cao cả” giải phóng loài người. Trong tâm hồn có lẽ họ chỉ nghĩ đơn giản chiến đấu là để bảo vệ cho tiếng nói của họ và cho quê hương họ. Nếu những người CSVN tin rằng họ có quyền “giải phóng” miền Nam thì tại sao những người miền Nam không có quyền sống với niềm tin của chính mình? Những người con nuôi của me tôi có thể đã chiến đấu, đã chết hay đã bị bỏ rơi trong cô đơn nhưng họ không bao giờ có thể bị bôi nhọ. Dù là kẻ bại trận, những hy sinh của họ muôn đời vẫn trong sáng - vì là con người, họ có quyền chiến đấu để bảo vệ cho niềm tin của chính mình.

Con đường đấu tranh để khôi phục quê hương vẫn còn và đang tiếp diễn. Tôi vẫn tin rằng, trong đấu tranh chính sự hy sinh cao cả chứ không phải chiến thắng mới làm nên ý nghĩa. Lần này người Việt có cả thế giới nhân bản và tiến bộ làm hậu cứ, có đủ lịch sử để hiểu rằng không nên trông cậy vào bất cứ thế lực ngoại bang nào để khỏi bị lệ thuộc hay bị bán đứng, có đủ trí tuệ để hiểu không phải cách mạng nào cũng cần phải ngập máu mới thành công mà chính niềm tin, nhân cách và tình yêu quê hương, dân tộc mới là những nhân tố quyết định sau cùng – vì ngay chính như CSVN, đã từng được cả thế giới cộng sản yểm trợ cho biết bao chiến cụ để toàn chiếm miền Nam Việt-Nam, thế mà sau 35 năm “xây dựng” họ đã làm được gì hay chỉ đưa quốc gia đến chổ lạc hậu, dân tộc đến nguy cơ nô lệ phương Bắc một lần nữa?

Đảng CSVN ngày nay quả có nhiều công an mật vụ để đàn áp, có nhiều tay chân, thủ hạ bưng bợ để xin chia phần, có cả cái “thế giới” tư bản “vì lợi nhuận sẵn sàng bán cả cái dây thòng lọng để treo cổ chính mình” . Nhưng cái “sức mạnh” đó không phải là yếu tố quyết định.

Có đêm lang thang trong một sòng bài ở Las Vegas lúc trời đã gần sáng, tôi chứng kiến nhiều bàn chơi không có khách, người chia bài đứng ngáp dài mệt mỏi… và bỗng dưng tôi chợt nhận ra một điều thú vị mà cay đắng rằng trong một cuộc chơi, không phải người chủ sòng mà chính những tay chơi mới là những người quyết định canh bạc. Không hiểu ông Thánh Ghandi có lần nào vào sòng bài để để phát giác ra chủ thuyết bất bạo động và bất hợp tác đã giải phóng quê hương ông khỏi cả một đế quốc tự hào mặt trời chưa bao giờ lặn trên lãnh thổ của họ?

Thấm thoát thế mà thêm một 30 tháng Tư nữa lại sắp trở về. Trong những vật lộn với cuộc đời mới, nhiều lúc tôi đã quên những đứa con nuôi như anh Thông, anh Kha của me tôi. Nhưng thỉnh thoảng, trong ngấn lệ của kỷ niệm, họ vẫn trở về trong trí nhớ, cười cười nói nói như thuở nào trên xứ Huế liêu trai, vào những đêm hè đầy trăng sao, dưới cây vú sữa… Và còn bao nhiêu người chiến sĩ VNCH nữa đã chiến đấu, đã chết âm thầm để cho những người như chúng tôi được yên thân tiếp tục học hành, để được công thành danh toại, vợ đẹp con ngoan? - Vì tất cả những huy chuơng, danh dự, những bổng lộc chỉ có giá trị thực tế cho những ai còn sống sót - như có người đã nói: “Nhất tướng danh thành vạn cốt khô!”

Võ Trang

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Người phụ nữ của Thương Phế Binh VNCH

Người Lính Cũ
Cứ vào dịp cuối Hè gần sang Thu hàng năm, cộng đồng người Việt hải ngoại lại nhắc nhau nhớ đến mối nợ ân tình mà chủ nợ chẳng bao giờ đòi. Ðó là những Thương Phế Binh VNCH còn ở trong nước.

Năm nay vào ngày Chủ Nhật 1 tháng 8 tới đây, Hội H.O. Cứu Trợ TPB và Quả Phụ VNCH lại một lần nữa tổ chức Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh để có tiền cứu trợ các anh em TPB và các chị quả phụ VNCH còn ở bên nhà phải bị sống ngoài lề xã hội cộng sản trong đủ mọi thiếu thốn khó khăn.

Vào dịp này, những người lính cũ bỗng nhớ đến một phụ nữ mà theo góc nhìn của những người lính cũ thì đáng được vinh danh hơn cả mà lại không thấy trong danh sách vào dịp Thượng Nghị Sĩ Lou Correa vinh danh đặc biệt dịp “Phụ Nữ Xuất sắc trong năm” (Woman of the Year). Ðó là chị Hạnh Nhơn, con chim đầu đàn của Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa có thể không biết tới vì ông không là người lính VNCH cũng không là gốc Việt để được biết tường tận cộng đồng người Việt. Thiếu sót chính là ở chúng ta đã chẳng có ai viết lá phiếu đề nghị lên Văn Phòng của Thượng Nghị Sĩ. Cũng thiếu sót là các em gốc Việt đang làm trong văn phòng của Thượng Nghị Sĩ đã không được ai nhắc nhở tới để “cố vấn” cho Thượng Nghị Sĩ.

Liệu người viết có chủ quan không đây?

Nhưng người viết đã lẩm nhẩm tính rằng hoạt động của chị Hạnh Nhơn từ ngày tới Hoa Kỳ theo diện H.O. gần 15 năm nay, chị đã bỏ biết bao công sức để tìm mọi cách cứu trợ cho anh em Thương Phế Binh và những Quả Phụ VNCH phải ở lại trên miền đất đã gạt anh chị em ra ngoài xã hội.

Nếu tính theo các tiêu chuẩn mà Văn Phòng Thượng Nghị Sĩ cho biết thì về chính trị, chị Hạnh Nhơn và anh chị em trong hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ, đã làm được công việc lột trần bộ mặt tàn ác của nhà cầm quyền VN mà Hoa Kỳ đang có những liên lạc ngoại giao “tốt đẹp” nói theo ông đại sứ Mỹ ở VN. Không một người dân Việt nào là không biết đến hoàn cảnh khổ nhục bị đẩy ra ngoài vòng xã hội của người Thương Phế Binh VNCH mà nhà nước CS đã có chủ trương rõ rệt.

Về xã hội, chị Hạnh Nhơn và Hội H.O. đã phần nào hàn gắn được vết thương chiến tranh cho người VN, nhất là cho những người đã từng tin tưởng vào đồng minh Hoa Kỳ mà chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản thế giới.

Về giáo dục, chị Hạnh Nhơn và hội H.O. đã giúp cho tuổi trẻ VN hiểu biết được sự làm người. Ðó là trí tuệ biết sống có nhân có nghĩa.

Về từ thiện thì những sự vận động gây quĩ lên tới hàng triệu Mỹ kim, chị Hạnh Nhơn và hội H.O. đã mở cửa được lòng từ thiện của khắp mọi người đến đúng chỗ.

Những thành tích ấy của chị Hạnh Nhơn, theo góc nhìn của những người lính cũ đã dư điều kiện để cho thượng nghị sĩ vinh danh rồi.

Nhưng người viết lại chợt giật mình nghĩ lại rằng chị Hạnh Nhơn chỉ là người cho người lính VNCH vinh danh thôi, còn người dân Hoa Kỳ dù là người dân quốc tịch Hoa Kỳ phải vinh danh đến những phụ nữ biết đi vào dòng chính, có khi cũng chẳng cần đến cộng đồng người Việt như chúng ta điểm danh 10 vị nữ lưu được vinh danh vào năm ngoái mà nhiều người trong cộng đồng VN chưa được hân hạnh biết đến.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

CÁNH HOA THỜI LOẠN
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)

Bài và hình : Nam Lộc
Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến Trung Tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, Cố Thiếu Tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Ðịa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng 4 năm 1974.

Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Ðầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của Thiếu Tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả ba thế hệ để tang!
Image Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà Thiếu Tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:

Kontum 14 tháng 3, 1968

Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước ...........

Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...

Image Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho Trung Tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh được trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh và lòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn!”

Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!
Image
Thiếu Úy Thái Kim Vân.
Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo,” Thiếu Úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến Thiếu Úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho Thiếu Úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!

Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, Ðại Úy Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.
Image
Gia đình Thiếu Úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.
Thượng Ðế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ,” nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 tháng được chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sài Gòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Ðan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.
Image
Hình mẹ & con cô Ngọc Di, tháng 8, 1975

Image
Bác Sĩ Nguyễn Lộc Ðan Vi, 2001
Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khóe mắt.
Image
Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài
Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Ðan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời: “Dạ, tại khi còn sống, nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là ' không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!'”
Image
“không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!
Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga (*), cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!
Image Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?” Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hòa bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hòa bình sớm trở lại trên quê hương...” Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam Việt Nam chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hòa bình!

Nhưng đã 35 năm qua, “hòa bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời... bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Ðài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng dòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân... không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng!”

“Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Ðến bao giờ?”

NAM LỘC
Tháng 8, 2010

Post Reply