QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân
– Tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh


Image
Trương Quang Ân (1932-1968) Dương Thị Kim Thanh (1931-1968)

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.
Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.
Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ)

Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC – Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa. Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh…

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.
Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy.

Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị.

Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự. Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba.

Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn. Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y. Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích. Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn… cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai.
Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù. Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.


Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam. Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng.



Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo. Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7.


Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới. Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ.


Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam. Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp:

- Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính.


Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn.


Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra. Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:
- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!
- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!
- Đại úy Hợp vội vã trả lời.
- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?
- Thiếu tá Ân hỏi gấp.
- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!
- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.


- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi! – Người tài xế ái ngại nhắc nhở.
- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:
- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?
Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:
- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình. Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc.


Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu. Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ. Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:
- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!
Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:
- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!
Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:
- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!
Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại.

Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực. Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:
- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được!

Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ. Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:
- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai.

Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng. Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):
- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)… để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.
***
Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.
- Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!


Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán.
Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ “Ân” đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến. Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:
- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:
- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận! Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:
- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định.


Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù.

Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm. Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã.

Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết. Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng.

Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống.

Nhưng mỉa mai thay, có một “lạnh nhạt cố ý” rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột “hình như” được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết “Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968″, danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ – Tướng Quân.

Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.


Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ.

Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm. Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:
- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. “Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!”
Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.


Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:
- Chết rồi! Chết rồi trời ơi! – Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!
Image
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ
đến chia buồn cùng tang quyến tại tư gia cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân, số 58 cư
xá Lê Đại Hành, Phú Thọ, Sài gòn vào thứ tư ngày 11 tháng 9 năm 1968.



Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời.


Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân – Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.

31-07-2010
Phan Nhật Nam
Last edited by VuPhong on Thu Oct 14, 2010 6:23 pm, edited 1 time in total.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Những nấm mồ vô danh

Những bài thơ viết từ đồng hoang

Ba mươi lăm năm qua rồi, cuộc chiến bi thương
Huynh, đệ tương tàn
Những nấm mồ vô danh
Vẫn nhói đau lòng đất Mẹ


Ba mươi lăm năm qua rồi, hàng cau sau hè đã không còn cho quả
Vẫn đứng đó lặng im màu máu đỏ
Ðợi người đi biền biệt mãi không về
Và nắng...
Và mưa...
Và gió...
Gió lạnh từng cơn
Thổi vào miền đau...

Ba mươi lăm năm qua rồi, cuộc xáo thịt, nồi da
Những bắn giết rợn người thấu chín tầng mây bạc
Mẹ ngơ ngác
Cả đất, trời ngơ ngác...
Khói lửa tắt lâu rồi còn bỏng rát nỗi đau

Bởi:

Tuổi xuân các anh, đối mặt khác chiến hào
Khi phiêu diêu tụ về lại gọi chung tiếng: Mẹ!

Bởi:

Thua bàng hoàng
Thắng cũng là ác mộng
Xám ngắt thiên đường
Ðắng ngắt trái bồ hòn
Vàng úa những Mùa Xuân
Thương đất nước gian lao
Mấy thế hệ nối nhau dại khờ cơn binh lửa


Chiến tranh!
Mẹ không cần đâu chiến tranh
Những nấm mồ vô danh
Nơi các anh nằm
Mãi ấm lời Mẹ ru
Ôi! Tình Mẹ bao dung

Tiếng Mẹ ngọt ngào như muôn thủa
Xin xóa sạch từ đây tất cả những hận thù.

Nguyễn Chính
(Nha Trang)
(Nguồn: Thông Luận 2010)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thập Bát La Hán

Bao Bất Đồng

Đêm qua, Bao Bất Đồng sờ lên đầu bỗng thấy đầu rối beng, sờ vào tim bỗng thấy tim đau nhói, sờ xuống bụng chợt thấy bụng ngậm ngùi. Sợ bị tẩu hỏa nhập ma, nên một mình một đao, nên một thân một ngựa đến gõ cửa nhà một hán tử đầu bạc. Gọi là đầu bạc, bởi xuân xanh chưa xấp xỉ lục tuần mà tóc đã trắng phau như sợi tuyết, mà râu đã lê thê tới quá cằm. Lại cao nhòng như cây tre, lại gầy guộc như cây mía. Nhưng đôi mắt thì thần quang lấp lánh, nhưng thanh âm thời sang sảng như chuông đồng.

Xưa, là tay bút tài tử của phóng sự chiến trường. Trước, là tay viết sử trong Bộ Tổng Tham Mưụ Sau mười mấy năm tù ngục, người vừa mới đến Úc theo diện đoàn tụ gia đình. Sau ba tuần rượu, Hán tử luận :

- Trong cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua, anh hùng không chỉ có ngũ đại tướng quân Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vĩ, Phạm Văn Phú và Lê Văn Hưng. Mà còn hàng vạn những chiến binh vô danh đứng rợp trời dọc theo suốt chiều dài của Quân Lực.
Tỷ như cái chết cực kỳ anh dũng của...18 ông La Hán.

- Thập bát La Hán ?

- Phải. Đó là 18 dũng sĩ của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Khi tướng Dương Văn Minh đọc bản văn đầu hàng thì họ đang múa súng tại rừng Tân Uyên. Khi xe tăng VC húc đổ cánh cửa dinh Độc Lập thì họ đang đánh vỡ mặt bọn du kích ở mật khu Biên Hòa.

- Hách thật !

- Sáng ngày mùng 2 tháng 5, họ rút tới bờ sông Đồng Nai, định bơi qua phía bên kia để chơi một cú chót thì bị bao vây, bị bắt. Trước khí phách ngất trời của những người lính Biệt Cách, trước thần oai lẫm liệt của những ông La Hán thời đại, kẻ địch vừa sợ toát mồ hôi, vừa phát hoảng dựng tóc gáy. Nên chúng đem xử bắn hết rồi ném xác xuống sông !
- Thảm lắm thay ! Thảm lắm thay !

- Đồng bào quanh vùng, phần vì cảm thương cho các chiến sĩ đã vị quốc vong thân, phần vì ngưỡng phục phong thái bất khuất của những đại anh hùng, nên đã vớt xác anh em và chôn dọc theo bờ sông.

Hỡi ơi, khi sống thì đứng trên đầu sóng ngọn gió, lúc chết thì chẳng có được một mảnh gỗ đề tên.

Tựa như những câu thơ...

"Lính Biệt Cách Dù không trích nghĩa trang
Yêu cô đơn nên mến lá thu vàng
Ghét nghi lễ nên âm thầm nằm xuống...

hoặc :

"Một mai anh chết trong rừng thẳm
Muôn lá vàng rơi niệm xác thân".

Bao mỗ thở dài :

- Họ thuộc Biệt đội nào ?

Hán tử trợn mắt :

- Mày cũng biết Biệt-Cách Dù à ?

- Bẩm, xưa tại hạ với Liên Đoàn 81 cũng có một chút duyên.

Hán tử nghẹn ngào :

- Theo bản tin Biệt Cách Dù từ Hoa Kỳ, họ thuộc về ba toán thám sát. Thứ nhất là Biệt đội 1 của Trung-úy Trần Bá Long, thứ nhì là Biệt đội 2 của Trung-úy La Cao, thứ ba là Biệt đội 4 của Trung-úy Nguyễn Văn Quý.

Hán tử chép miệng :

- Cựu Đại-tá Phan Văn Huấn, đương kim gia đình trưởng Biệt-Cách Dù đã liên lạc với các chiến hữu ở Việt Nam để bằng đủ mọi cách phải tìm cho ra các nấm mồ của 18 đại dũng sĩ này. Tin giờ chót cho biết rằng đã tìm được một hố chôn tập thể tám người, rằng đã truy cứu được tên tuổi, rằng đã thông báo với thân nhân và đang chuẩn bị tìm nơi an táng.

- Cảm động quá ! Cảm động quá !

- Than ôi, vật đổi sao dời, thấm thoát mà cũng đã hơn hai mươi năm. Trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh đã có hàng vạn chiến sĩ ta đã hy sinh cho tổ quốc, trong đó có hàng ngàn tử sĩ mà xác thân còn gửi đâu đó ở hốc núi, xó rừng, bên lau sậy, ven suối. Không có được một tấm bia đá, không có được một nén hương thơm. Hỏi sao mà hồn phách được siêu thoát, hỏi sao mà nấm xương khô được nguyên vẹn.

Tựa như lời ai điếu :

"Anh hùng hữu hận diệp diệp tiêu"

Nghĩa là

"Người anh hùng mang nỗi uất hận, trong khi bao lá cây xào xạc rụng xuống".

Thôi thì, xin được chắp tay cúi đầu trước Anh Linh của Thập Bát La Hán.

Bao Bất Đồng

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Truyện hai người phi công ... mất vợ

Trường Sơn Lê xuân Nhị

Khoảng đầu thập niên 80, vào một buổi tối mùa thu, trong một nhà hàng Việt Nam ở phía tây ngạn thành phố New Orleans, khoảng gần 2 trăm cựu quân nhân mà đa số là cựu quân nhân KQ, thân hữu và gia đình của họ ngồi gần nghẹt kín mấy chục cái bàn. Mùa bão tố đã qua, mọi người thở phào ra nhẹ nhỏm và bắt đầu nghĩ đến những ngày lễ lớn sắp tới như Lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh, Tết Tây, Tết ta. Thêm vào đó, mùa chơi banh bầu dục cũng vừa bắt đầu, làm nhiều người, nhất là những người có máu đỏ đen trở nên bận rộn.
Chiều hôm ấy, tất cả đang chờ đợi một nhân vật vô cùng quan trọng ...
Trong khi chờ đợi, lòng xuân phơi phới, họ uống bia, uống rượu, nói chuyện tầm phào với nhau và đặc biệt, đốt thuốc lá thở khói dầy đặc nhà hàng làm cho mấy bà mấy cô muốn nghẹt thở nhưng không ai thắc mắc, không ai than phiền. Lý do là các bà đã chịu đựng chuyện này từ bao nhiêu năm nay, từ những ngày còn ở Việt Nam cơ cực nên đã quen rồi. Các ông có quyền hút và chúng tôi có quyền... ngửi khói, than phiền hay phản đối là ... không tốt, là ăn hiếp chồng, là sẽ có chuyện.
Ở gần cuối phòng, chỗ quan trọng nhất sát ngay sân khấu, dĩ nhiên, là một cái bàn dành cho những nhân vật quan trọng mà người Việt mình thường gọi là bàn VIP. Bàn VIP được trải khăn bàn trắng để tăng phần trịnh thượng, muốn nhấn mạnh cho mọi người thấy rằng bàn này khác với những bàn khác, đều có khăn bàn đỏ.
Trên bàn VIP là một sô nước đá, 6 chai sô đa Perrier, 4 gói thuốc lá 555, 4 cái gạc tàn, 2 chai Martin XO tức là loại rượu mắc tiền nhất và một bình hoa thật lớn ngay phía giữa. Ở trước bình hoa là một cái huy hiệu Không Quân Việt Nam bằng đồng với mấy chữ “Tổ quốc Không Gian” ôm một con rồng, coi rất là oai phong lẫm liệt. Ngoài ra, còn có muỗng nỉa các loại được sắp xếp một cách rất là mỹ thuật và khéo léo.
Ai nhìn vào bàn VIP thế nào cũng phải đoán rằng bàn này có lẽ được dành cho một nhân vật quan trọng của Không Quân Việt Nam.
Ai đoán như thế thì quả thật là ... đúng, bởi cái nhân vật sẽ ngồi vào bàn đó, và cũng cái nhân vật mà mọi người đang chờ đợi ấy chính là cựu thiếu tướng Nguyễn Kít, cựu tư lệnh Không Quân Việt Nam, cựu thủ tướng Việt Nam Cộng Hoà...
Cách đây 1 tháng, khoảng 500 cái thiệp mời đã được gởi đi đến khắp mọi người trong thành phố, từ lính cho đến dân đều nhận được. Thiệp mời một số được gởi bằng bưu điện nhưng đa số là được chuyền tay bởi anh em cựu quân nhân Không Quân.
Thiệp mời được ký tên bởi cựu thiếu tướng Nguyễn Kít, nội dung muốn mời anh em cựu quân nhân và gia đình đến dùng một bữa cơm tối thân mật để bàn về một chương trình làm ăn vĩ đại, với số vốn lên tới khoảng 100 triệu đô la, do nhà băng lớn nhất địa phương là nhà băng First Jefferson National Bank bảo trợ và cho mượn vốn. Thiệp còn cho biết là sẽ có đại diện của nhà băng tới dùng cơm và nói chuyện.
Thiệp mời không nói rõ chương trình làm ăn là chương trình gì, nhưng hai cái tên, một là cựu thiếu tướng Nguyễn Kít và hai là First Jefferson National Bank cũng đủ làm cho người được mời cảm thấy mình bỗng trở thành một nhân vật quan trọng và ... có tiền. Mẹ bố, ngày xưa ở Việt Nam được tới gần ông cựu thiếu tướng đã là một vinh hạnh, làm đếch gì mà được ông tướng mời đến “dùng cơm tối thân mật” để bàn chuyện làm ăn như thế này. Thêm vào đó, con số 100 triệu đô la và cái tên nhà băng First Jefferson National Bank làm cho ai cũng thấy mình là một tay có tiền, có chút máu... tài phiệt trong người.
Nhưng dân New Orleans không phải ai cũng ngu cả...
Có một tay kia, ngày xưa làm công chức lớn ở bộ tài chánh, sang đây làm nghề kế toán, sau khi xem thiệp, nhăn mặt lại và nói với anh Không Quân vừa mời mình:
-Bố láo. Hai vợ chồng cha Kít nổi tiếng là tổ sư lường gạt ở Cali, mụ vợ chuyên môn mượn tiền không trả, ông chồng đi ăn không bao giờ trả tiền, dân Cali chán quá không ai cho lừa nữa nên mới vác mặt sang đây ăn lừa tiếp, làm đếch gì có tiền mà tính tới chuyện làm ăn tới 100 triệu đô la?
Ông Không Quân nghe thế thì đỏ mặt lên chống chế:
-Ông nói thế là ông không biết gì. Ông tướng quen lớn, oai danh khắp bốn phương trời, ông tướng muốn mượn bao nhiêu tiền chả được.
Ông công chức vốn là hạng phổi bò, nói liền:
-Ông là quân nhân, ngày xưa chỉ biết lái tàu bay, ông không biết gì mới là đúng. Để tôi giảng cho ông nghe về cách làm việc của nhà băng bên Mỹ...
Thế là ông bỏ ra nửa tiếng đồng hồ để giảng cho ông phi công nghe về cách nhà băng ở Hoa Kỳ làm việc rồi kết luận:
-Nhà băng cho vay thì phải chắc ăn, ông tướng nhà anh có gì để bảo đãm cho số tiền họ cho mượn? Vốn liếng thì không có một xu, tài thì tôi không biết làm được cái gì, và người Mỹ họ không có tình cảm, họ không cần biết tiếng tăm, họ chỉ biết lợi nhuận, làm sao họ dám cho ông tướng mượn tiền? Nói tới đây tôi mới nhớ, thiệp mời hoàn toàn không nói gì về cái chương trình làm ăn của ông tướng là gì. Ông nghĩ ông ấy sẽ làm gì ở cái thành phố ăn chơi này với số vốn 100 triệu đô la? Chỉ có bố láo mà thôi.
Ông phi công không trả lời được, lắc đầu. Ông công chức vỗ vai ông phi công nói:
-Chỗ quen biết, tôi khuyên ông, chớ có bỏ tiền ra mà đầu tư gì cả. Vợ chồng cha Kít này nổi tiếng là dân chuyên môn đi lừa thiên hạ, đừng để bị lừa.
Ông phi công không còn phản đối nữa mà bắt tay cám ơn từ giã ông công chức. Lên xe, ông phi công vừa mở máy vừa suy nghĩ. Cách đó chừng một năm, khi vợ chồng cựu thiếu tướng Nguyễn Kít từ giã Cali về định cư ở New Orleans, đủ thứ tiếng đồn đi theo vợ chồng ông. Toàn là những tiếng đồn xấu, tuyệt không có gì tốt. Là một cựu phi công, giống như bao nhiêu cựu phi công khác, anh là một người rất ngưỡng mộ ông cựu tư lệnh, cho nên anh coi những tiếng đồn đó không ra gì. Nhưng sau một năm tiếp xúc và sinh hoạt với ông tướng, anh lần lần thấy những tiếng đồn đó không phải vô căn cứ hoàn toàn. Cộng thêm hôm nay, sau khi những lời nói chân thật thẳng thắn đến từ một người mà anh rất quý mến, anh bắt đầu suy nghĩ lại...
Cha này không chừng nói đúng, nhưng anh đã trót nhận lời làm trưởng ban tổ chức cho buỗi cơm thân mật vì một lý do thầm kín mà chỉ có mình anh biết nên đành phải làm tròn bổn phận mình. Từ văn phòng kế toán, anh lái xe thẳng tới nhà hàng “Saigon Mây Bay”.
Nếu ai để ý một chút thì phải nhận ra rằng, bất cứ cái bảng hiệu nào ở hải ngoại này mà có mang những cái tên có dính dáng tới gió, mây, trời, chim chóc, không gian hay... không khí và núi non thì chủ nhân của nó nhất định phải là một ông cựu quân nhân Không Quân. Nhà hàng này cũng thế, chủ nhân của nó là một cựu phi công Việt Nam. Hai người là bạn thân nhau từ những ngày còn ở Việt Nam, cần gặp nhau để bàn nốt chương trình tổ chức sắp tới.
Chủ nhân nhà hàng “Saigon Mây Bay” đang ngồi hút thuốc uống bia với mấy người bạn thì nhìn thấy người bạn trưởng ban tổ chức bước vào, mặt mày không có vẻ gì vui lắm. Anh nói ngay:
-Nam ơi, chuyện gì mà mặt mày coi hãm tài thế? Vợ không cho ... chơi tối qua à?
Nam, tên người phi công vừa rời văn phòng kế toán, lắc đầu cười nhẹ, trả lời nửa dối nửa thật:
-Mẹ, vợ không cho làm tình thì tao còn cám ơn. Nhưng hôm nay tao thấy hơi mệt một chút thôi. Sao, còn mày thế nào, Thanh?
Thanh kéo cái ghế:
-Mày nói đúng. Tụi mình ngày càng già mà mấy mụ thì chẳng già chút nào, cứ ăn uống cho phỡn ra rồi đòi hỏi đủ thứ, làm sao trả bài cho đầy đủ như hồi còn trẻ được. Thôi, ngôi xuống đây uống một chai cho nó đỡ mệt đã rồi mình bàn chuyện. Tao có chuyện quan trọng cần hỏi mày.
Một màn bắt tay diễn ra, Nam ngồi xuống giữa mấy người, đa số cũng là cựu quân nhân Không Quân.
Sau vài hớp bia, ông chủ quán vào ngay vấn đề:
-Theo như lời yêu cầu của mày, tao đã chuẩn bị 250 phần ăn, giá 25 đô la một phần, tổng cộng là 6250 đô la.
Nam hơi giật mình:
-25 đồng một phần, sao mắc thế?
Thanh đưa tay ra phản đối:
-Tao chưa nói hết. Nhà hàng sẽ có một bàn VIP đặc biệt dành riêng cho ông tướng và quan khách không lấy tiền. Nội cái tiền rượu và tiền thuốc lá và tiền hoa của cái bàn VIP này cũng mất toi của tao hết ngàn đô la rồi. Không Quân mình không tổ chức thì thôi, còn tổ chức thì phải ra tổ chức, nếu không bằng Huỳnh Hữu Bạc ngày xưa thì cũng phải... gần gần.
Nam thành thực nói:
-Mày làm ăn thì phải có lời, tao không dám thắc mắc, tao chỉ sợ anh em than phiền thôi.
-Lại cứ lo xa. Hôm nọ uống rượu với ông tướng, ông tướng bảo tao là nhà băng First Jefferson National Bank sẽ đài thọ cho bữa tiệc này mà.
Nghe như thế thì mặt mày Nam bỗng rạng rỡ lên:
-Như thế thì tốt quá, nhưng sao tao không nghe ông tướng nói gì cả.
Thanh chưa kịp trả lời thì Nam lại tiếp:
-Nói thật với mày, mấy hôm nay tao đang lo về vụ này. Mình mời người ta tới ăn nói là để bàn chuyện làm ăn mà “chạt” tiền thì coi kỳ quá. Nếu nhà băng First Jefferson National Bank chịu đài thọ cho bữa tiệc thì còn gì tốt bằng.
Thanh vỗ vai bạn:
-Mày cứ lo xa, hôm tao nhậu với ông tướng, ông tướng mấy lần bảo tao là nhà hàng phải cho ăn uống như thế nào đừng để mất mặt ông tướng, tiền bạc không thành vấn đề. Ông tướng còn yêu thương Không Quân lắm, ông tướng không muốn Không Quân Việt Nam bị thiên hạ coi thường.
Nam nói:
-Nếu ông tướng muốn thế thì mình khỏi cần phải đặt cái bàn ngay cửa để thâu tiền của bá tánh.
-Mày là trưởng ban tổ chức, mày muốn làm sao thì tuỳ mày, phần tao, tao chỉ cần thâu đủ số vốn 6250 đồng là tao vui rồi...
-Mày khỏi phải lo chuyện đó, nhưng để tao check lại với ông tướng xem đã. Chừng nào tao nghe tận miệng ông tướng nói thì tao mới yên tâm.
Ông chủ lại nói:
-Khi mày nói chuyện với ông tướng, mày nói luôn là nhà hàng cần một nửa số tiền đặc cọc tức là 3000 đô la. Tao cần số tiền đó càng sớm càng tốt.
-Mày để tao cố gắng.
-Cố gắng cái con khỉ. Tao nói trước, không có tiền đặc cọc là không có bữa tiệc cơm thân mật đâu nhé.
Nam lườm bạn:
-Từ từ, làm gì mà ép nhau thế?
-Tao có ép là ép nhà băng First Jefferson National Bank vì chúng nó là người trả tiền chứ có ép mày đâu. Bố khỉ, Không Quân Việt Nam sao mà yếu thế. Thôi uống đi mày...
Nói thì dễ nhưng muốn gặp ông tướng không phải là chuyện dễ. Lý do là vợ chồng ông tướng không có... nhà riêng, không có chỗ ở cố định. Hôm thì vợ chồng ông tá túc ở nhà ông tá này, hôm khác lại ghé qua chỗ khác sang hơn, gần hơn. Vì thế, Nam tìm ông mấy lần mà không gặp. Thêm vào đó, Nam vẫn còn phải đi làm suốt ngày, chỉ rảnh được buổi chiều, nhưng buổi chiều thì ông tướng luôn luôn đi nhậu, không ai biết ở đâu. Nam bực mình vô cùng, nhưng đã lỡ nhận trọng trách, không thể bỏ ngang được.
Nam đã bực mình như thế nhưng có người còn bực mình hơn cả Nam. Đó là Thanh, chủ quán “Saigon Mây Bay.” Vì Nam không có nhà để nghe điện thoại cho nên mỗi ngày, Thanh để khoảng 30 cái lời nhắn trong máy của Nam. Mới đầu thì còn nhẹ nhàng nhưng càng lúc thì càng găng, và cuối cùng thì biến thành hăm doạ sẽ huỷ bỏ bữa tiệc.
Phần Nam, sau một ngày lao động mệt nhọc, về nhà bấm máy thì lại bị nghe những lời than phiền, mới đầu anh cũng thấy áy náy, nhưng sau đó thì chán nản quá, anh lờ luôn. Và chính Nam, anh cũng đã nghĩ đến chuyện huỷ bỏ bữa tiệc...
Nhưng may cho cả hai người, cỡ chừng tuần lễ trước khi tổ chức, không hiểu nhờ ngọn gió nào thổi, ông tướng nhà ta dẫn một bọn đàn em chừng 7 người kéo vào quán Saigon Mây Bay ăn nhậu.
Thanh đang ngồi ngáp vặt nhìn thấy thì liền đứng lên dơ tay chào ông tướng theo kiểu nhà binh, xun xoe:
-Kính mời thiếu tướng và anh em ngồi.
Ông tướng cũng chào đáp lễ theo kiểu nhà binh, chia nhau ra ngồi và hỏi tới tấp:
-Quán cậu có gì ăn ngon nhất?
Chủ quán chưa kịp trả lời thì ông tướng lại hỏi:
-Quán cậu có cổ nhắc XO, đem ra vài chai coi. Sô đa Perrier nhé, thứ khác không uống được.
Cứ thế và cứ thế, chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, trên bàn đã toàn la liệt đồ ăn cùng thức uống. Toàn là thứ mắc tiền. Rượu thì XO, thức ăn toàn là tôm hùm, bí tết. Mọi người ăn uống tận tình, cười nói oang oang, văng tục bừa bãi, ai nhìn vào đố đoán được một người ngồi trong bàn ngày xưa cũng đã làm đến tư lệnh Không Quân Việt Nam.
Chờ cho đến khi ông tướng ăn xong, Thanh mới bạo gan hỏi:
-Thưa thiếu tướng, em muốn hỏi thiếu tướng một việc nhỏ ạ.
-Thức ăn nhà hàng này cậu làm ăn được đấy, tôi gởi lời khen... hỏi thì hỏi đi.
-Thưa thiếu tướng, thiếu tướng còn tính tổ chức đêm nói chuyện về cái công ty lớn của thiếu tướng không ạ?
Ông tướng đưa cặp mắt ngầu đỏ sau gần nửa chai XO nhìn Thanh hỏi:
-Tổ chức chứ sao không? Sao cậu hỏi thế?
-Trình thiếu tướng, em có nói chuyện với ông Nam. Không biết ông ấy có nói với thiếu tướng chưa.
Ông tướng bỗng đâm cáu:
-Chuyện gì thì nói mẹ nó ra, ỡm ờ mãi.
-Thưa thiếu tướng, em muốn xin thiếu tướng cho một ít tiền đặc cọc trước ạ. Thiếu tướng thông cảm cho em, sở hụi cho mấy trăm người lớn lắm ạ, em lo không xuể.
Ông tướng xem như ngố ra một lúc nhưng rồi ông hỏi ngay:
-Thế thì thằng Nam nó tổ chức ở đây à?
-Vâng, thưa thiếu tướng, em tưởng thiếu tướng biết ạ?
Ông tướng không trả lời mà lại đưa mắt nhìn một vòng khắp nhà hàng. Ông hơi nhăn mặt lại một chút rồi hỏi:
-Chỗ này chứa được bao nhiêu người?
-Thưa khoảng 250 thì dễ dàng. 300 thì hơi chật một tí ạ.
-Thế thì thằng Nam nó không tìm được chỗ nào lớn hơn và sang hơn một chút sao?
Nam cúi mặt nhìn xuống đất, ráng che dấu một nỗi buồn vừa dấy lên trong lòng:
-Trình thiếu tướng, đối với Việt Nam mình thì chỗ này là sang nhất và ngon nhất vùng West Bank đấy ạ.
Ông tướng lắc đầu mấy cái:
-Đúng là chốn nhà quê nhà mùa có khác. Cái quán tí tẹo bằng lỗ mũi như thế này mà cũng dám đặt tên là Saigon Mây Bay thì to gan thật. Phải gọi Hố Nai ruồi đậu thì nghe nó đúng hơn... hì hì...hà hà...
Bọn đàm em ông tướng ngồi trên bàn, nghe như thế thì bật cười lên rầm rộ. Lại có thằng còn đập cả bàn, làm như đắc ý lắm. Lạ một điều là Thanh cũng cất tiếng cười theo.
Vợ Thanh đứng trong quầy nhìn ra, chỉ muốn chạy tới tát cho lão già ... thiếu tướng ăn nói mất dạy một bợp tai rồi muốn ra sao thì ra nhưng chẳng dám. Chị đang suy nghĩ xem thử ai sẽ trả tiền bữa ăn tối hôm nay. Đây không phải là lần đầu tiên ông tướng đến ăn ở đây rồi lờ đi, người nọ dục người kia rồi cuối cùng chẳng có ai trả tiền cả. Chị quyết tối nay sẽ gọi cảnh sát nếu họ không trả tiền ăn nhậu.
Ông tướng bỗng ngưng cười. Ông hỏi:
-Thằng Nam chịu trách nhiệm buổi tổ chức này. Nó đâu rồi?
-Trình thiếu tướng em không biết ạ.
-Cậu gọi nó ra tôi hỏi chuyện coi.
-Vâng ạ.
Thanh quay lui đi vào trong quầy, nhấc ống điện thoại, quay số. May quá, Nam là người bốc máy lên nghe.
-Nam đấy hả, Thanh đây mày. Ông tướng đang ăn nhậu ở tiệm tao, ổng cho gọi mày ra gấp.
-Mày chờ đấy, 25 phút nữa tao có mặt.
Gác điện thoại, Thanh thở phào ra một cái. Có thằng Nam đây thì thế nào ông tướng cũng phải xì tiền ra...
Thanh trở ra. Ông tướng lại bảo:
-Này, cho thêm chai XO, mấy chai Perrier, thêm nước đá, thuốc lá.
Thanh trả lời:
-Thưa thiếu tướng, có ngay ạ.
Cứ như sự thường thì khách càng gọi nhiều thì chủ nhân càng mừng, nhưng không hiểu sao, Thanh lại thấy lo lo trong bụng.
Nửa tiếng đồng hồ sau, Nam đã đứng trước mặt ông tướng Kít, dơ tay lên chào kiểu nhà binh, giống y hệt như ngày xưa anh còn ở trong quân đội.
Ông tướng cười, chỉ vào cái ghế sát đó:
-Ngồi xuống đây. Uống cổ nhắc nhé.
-Vâng, xin cám ơn thiếu tướng.
Khỏi cần ai mời, Thanh cũng tự động kéo ghế ngồi xuống cạnh Nam...
Sau vài ly rượu, ông tướng hỏi:
-Cậu nhận trách nhiệm tổ chức buổi tiệc, công việc đến đâu rồi?
Thanh trình bày mọi chuyện rồi kết luận:
-Tôi có hai vấn đề trước mặt xin phép muốn hỏi thiếu tướng.
-Hỏi đi.
-Thưa thiếu tướng, thứ nhất, tôi nghe nói nhà băng First Jefferson National Bank sẽ tài trợ bữa tiệc này, và nếu thế, mình có cần phải thâu tiền của người dự tiệc hay không.
-Dĩ nhiên là nhà băng họ đài thọ, nhưng cậu vẫn phải thâu tiền trước để nếu cần thì mình có tiền để xài vào việc khác.
Nghe như thế thì cả Nam lẫn Thanh đều nẩy lên những thắc mắc trong đầu nhưng không tiện hỏi đành lờ luôn. Nam hỏi sang câu hỏi thứ hai, rắc rối hơn:
-Thưa thiếu tướng, ông chủ nhà hàng đây cần 3000 đô la tiền đặc cọc cho bữa tiệc ạ.
Một câu hỏi ai cũng tưởng là khó khăn lắm nhưng ông tướng trả lời liền một cách dễ dàng, không cần phải suy nghĩ:
-Đã nói nhà băng đài thọ thì họ phải trả tiền. Cậu cứ ứng trước cho tôi đi, nhà băng sẽ trả lại cho cậu.
Nam ú ớ, mặt mày tái xanh lại với số tiền khổng lồ mà mình không có:
-Thưa thiếu tướng, em ... em ... không có... không có...
Ông tướng cười dễ dải:
-Cậu có bao nhiêu cứ đưa trước cho ông chủ, trước sau gì thì nhà băng họ cũng trả mà.
Nam nhìn Thanh. Thanh nhìn Nam. Hai người nhìn nhau, máu họng muốn trào ra nhưng không nói được gì. Ông tướng lại buôn một câu xanh dờn khác:
-Nói cho các cậu biết, tiền tôi đầu tư bạc triệu vào cái chương trình này, nhưng tôi làm gì giữ tiền mặt trong người. Các cậu làm việc với nhau. Mai mốt đại công ty thành công lớn, tiền vào như nước thì công của các cậu không nhỏ đâu đấy nhé...
Nam muốn phản đối nhưng lưỡi như cứng lại. 3000 đô la là một số tiền tuy không lớn lắm nhưng đối với những người làm việc lãnh lương tháng như Nam là cả một năm trời dành dụm.
Anh chưa kịp nói gì thì ông tướng đã quay sang nói với Thanh:
-Cậu cho tôi cái bill.
Nghe như thế thì Thanh ... mừng quýnh lên, đứng dậy liền như một cái lò xo, quên tuốt luôn chuyện tiền đặc cọc đang thương lượng dở dang. Anh chạy vào, hớn hở bảo với vợ, mặt mày tươi rói lên:
-Cho ông tướng cái bill gấp, ông tướng trả tiền.
Mụ vợ lườm chồng một phát, nguýt nhỏ:
-Người ta ăn uống người ta trả tiền là chuyện thường tình, việc chó gì mà phải mừng phải sướng lên như thế?
Thanh cũng không vừa, gắt lại:
-Đàn bà chẳng biết gì cả. Xưa nay ông ấy ăn uống ông ấy có bao giờ trả tiền đâu.
-Tại anh quá nhu nhược, lần này mà không trả tiền thì tôi gọi cảnh sát đấy. Thiếu tướng thiếu tá gì mà ăn không giả tiền là tôi cho vào tù hết.
Thanh trừng mắt nhìn vợ, nạt nhỏ:
-Hôm nay em ăn nói hay quá nhỉ. Cứ đưa bill đây cho tôi, khỏi có nói gì lôi thôi cả.
Thanh cầm cái bill đựng trên một cái đĩa ra, lễ phép cúi đầu để trước mặt ông tướng rồi đứng chờ.
Nhưng ông tướng chừng như không nhìn thấy, cứ tiếp tục nâng ly rượu lên uống. Rồi ông thò tay đẩy cái đĩa vào sâu phía bên trong, gần đám đàn em đang ngồi...
Thanh kiên nhẫn đứng chờ, hy vọng một người nào đó sẽ ra tay nghĩa hiệp.
Nhưng hành động nghĩa hiệp thường chỉ có trong phim Tàu, ít khi nào xảy ra trong một nhà hàng Việt Nam trên đất Mỹ. Bọn đàn em của ông tướng nhìn nhau rồi tảng lờ, làm như chẳng thấy gì, y hệt đàn anh.
Ông tướng quét cặp mắt ... lồi nhìn lướt qua bọn đàn em. Ông biết tỏng đàn em mình, cũng như mình, chẳng có thằng nào có tiền để trả. Chuyện này dễ hiểu bởi vì ở đất Mỹ này, muốn có tiền thì phải làm lụng, còn bọn đàn em của ông, giống như ông, chẳng thằng nào có công ăn việc làm cả, tối ngày chỉ chơi bời đàn đúm, nếu không đi ăn cướp hoặc ăn xin thì làm gì có tiền.
Nhưng ông tướng vốn là một người mưu mẹo, luôn luôn có những sáng kiến khi cần thiết. Ông liền cầm tờ giấy tính tiền lên, liếc nhìn qua rồi hỏi Thanh:
-Cậu muốn tôi cho cậu bao nhiêu tiền tip?
Một câu hỏi thật là bất ngờ. Thanh trả lời:
-Thưa, thiếu tướng đến tiệm em ăn uống là em vui rồi, thiếu tướng muốn cho bao nhiêu cũng được.
-Thế thì tôi cho cậu 300 được không.
Thanh nói ngay:
-Trình thiếu tướng, cái bill chỉ có 500 đô la, thiếu tướng cho như thế là nhiều quá, em chẳng dám.
Ông tướng đưa cái dĩa có cái giấy tính tiền lại cho Thanh, nhăn mặt nói:
-Cậu buôn bán mà ăn nói sao yếu như thế thì chừng nào mới giàu được? Cậu phải đòi cho nhiều thêm chứ. Đây, tôi cho cậu 300 đô la tiền tip, cậu cứ ghi vào chi phí cho tôi, hôm nào nhà băng thanh toán tiền, cậu cứ giữ lấy...
Thanh tái mặt lại, không nói được một lời. Không nói được nhưng bỗng nghe được tiếng quát của mụ vợ từ phía bên trong:
-Đồ khốn nạn...
Thanh giật mình, cùng mọi người quay mặt nhìn vào.
Ở phía sau quầy, vợ Thanh cầm cái gì đó đập xuống quầy nghe đến rầm một tiếng rồi chửi đổng:
-Đồ khốn nạn, quân ăn cướp... Bộ mấy người tưởng tôi lấy gió làm ra rượu ra thịt cho mấy người ăn uống sao...
Thanh hoảng hồn chạy vào trong, vừa chạy vừa nói với vợ:
-Em sao thế...
-Sao cái gì? Bị ăn quịt thì chửi chứ còn sao gì nữa. Đây không phải là lần đầu bọn này đến đây ăn quịt...
Thanh nắm tay vợ kéo tuột vào nhà bếp, anh nói:
-Chuyện đâu còn đó, em bình tĩnh cho anh một chút được không nào?
Vợ Thanh hất tay anh ra, trả lời:
-Bình tĩnh làm sao được. Bọn khốn nạn này ăn quịt vợ chồng mình bao nhiêu lần rồi, làm sao bình tĩnh được.
Thanh nhỏ nhẹ:
-Em phải nhìn xa một chút. Anh đang chuẩn bị cái bữa tiệc gần 7 ngàn đô la cho ông tướng. Khi tiệc xong, mình đòi cũng chưa muộn cơ mà. Hơn nữa, nhà băng họ sẽ đài thọ, mình có thể tăng giá tiền bữa tiệc lên để lấy lại vốn...
Vợ Thanh ứa nước mắt ra:
-7 ngàn đâu chưa thấy, đã thấy mất toi 500 bạc. Anh nghĩ lại xem, kể từ khi thằng thiếu tướng khốn nạn nhà anh về đất New Orleans này, vợ chồng mình bị nó và đàn em nó ăn quịt bao nhiêu lần rồi.
-Anh rất thông cảm với em, anh cũng đứt ruột ra từng khúc đây... Nhưng em phải nhớ, dù sao thì ống cũng là ... là ... cựu phó tổng thống, tiền bạc thiếu gì, nhưng ông ấy tạm thời đang kẹt, mình không nên ép ổng quá...
Vợ Thanh khóc lên rưng rức, không còn kềm chế được:
-Em nói cho anh biết, nếu lần này mà anh không thâu được tiền bữa tiệc là vợ chồng mình chia tay nhau. Em nói thật...
Thanh không nói gì, chỉ cúi gầm mặt và xoay người bước ra ngoài. Anh không ngờ vợ anh có thế nói được với anh một câu tàn nhẫn như thế.
Ở bên ngoài, mọi người đã rút đi hết, chỉ còn mình Nam ngồi cúi đầu ủ rũ bên bãi chiến trường ngổn ngang bát đĩa...
Thanh kéo ghế ngồi xuống gần bạn. Hai ông phi công ngồi im bên nhau như thế một lúc rồi Nam chợt mở miệng hỏi:
-Mày thấy thế nào?
-Tao cũng không biết phải suy nghĩ như thế nào nữa. Vợ tao vừa mới đòi bỏ tao đấy. Tao không ngờ chuyện lại vỡ lớn ra như thế.
-Mẹ, tao là vợ mày thì tao đã bỏ mày từ lâu rồi.
-Tao lạy mày, tao đang muốn tự tử chết đây.
Nam làm một ngụm rượu, hỏi:
-Mày có muốn huỷ bỏ bữa tiệc không?
Thanh suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Không, vì 3 lý do. Thứ nhất, chỗ này là chỗ làm ăn, thiệp mời đã gởi đi rồi, tao mà bỏ thì mất hết uy tín. Thứ hai, nếu tao mà bỏ thì sẽ mất hết cả chì lẫn chài, chẳng bao giờ lấy lại được số tiền bị ăn quịt. Hơn nữa, dù sao thì mình cũng nên trọng ông tướng một chút. Thứ ba, ông tướng có bảo tụi mình có quyền thâu tiền. Tao nghĩ, trong khi chờ nhà băng hoàn tiền, tao có thế sử dụng số tiền mình thâu quan khách ngày hôm đó.
Nam gật gù cái đầu, vỗ vai bạn:
-On second thought, nếu tao là vợ mày, chưa chắc tao đã bỏ mày đâu.
-Tiên sư bố nhà mày. Chưa biết vợ mày bỏ mày trước hay vợ tao bỏ tao trước...
Tối hôm bữa tiệc, trong quán Saigon Mây Bay, Nam bận đồ vét, đi qua đi lại trên sân khấu, tay cầm mi-crô, bộ điệu rất là trang trọng. Nam có đủ lý do để trở thành... trang trọng. Anh là người MC cho buổi tối hôm đó...
Đúng hơn, cũng chính vì cái “giấc mộng MC” mà anh nhận lời đứng ra tổ chức chương trình cơm thân mật tối hôm nay cho ông tướng.
Nam là một con người tốt nhưng phải cái tật ham nói và mê làm MC. Khi đứng trên sân khấu với cái mi-crô trong tay, anh luôn luôn có cảm tưởng là mình đang đứng trên... thiên đàng. May là tướng tá anh cao ráo, mặt mũi dễ nhìn và ăn nói cũng tạm được nên thường được thiên hạ mời làm MC vào các dịp lễ lạc. Cách đó mấy tháng, trong một buổi nhậu, ông tướng hỏi ai muốn đứng ra tổ chức chương trình cơm thâm mật, anh tình nguyện đứng ra tổ chức. Mình đứng ra tổ chức thì cái chức MC chắc chắn phải lọt vào tay mình, Nam chắc chắn như thế.
Mà nó ... như thế thật. Sau bao nhiêu khó khăn thì cuối cùng cái giấc mộng MC của Nam cũng đạt được. Quan trọng hơn cả, bữa tiệc tối hôm nay không phải là bữa tiệc thường. Bữa tiệc tối hôm nay là bữa tiệc đông nhất thành phố, với sự hiện diện của cựu thiếu tướng Nguyễn Kít và 100 triệu đô la bay lờ lững đâu đây trong gió. Suốt một tháng qua, anh đã chuẩn bị những câu nói, những lời giới thiệu, những câu hài hước mà anh góp nhặt được trên báo, trong các chương trình ca nhạc. Thỉnh thoảng, anh đứng trước gương trong phòng tắm, cầm cái lược của vợ đưa lên miệng tập nói như nói vào micrô. Anh tự pha trò rồi tự cười lấy. Có lúc lại vung tay múa chân như một... thằng khùng. Một lần, vợ anh bất ngờ bước vào nhà tắm, nhìn thấy anh như thế thì lắc đầu ngán ngẩm nhưng không nói gì.
Trong lúc Nam đi lại trên sân khấu mặt mày trang trọng thì Thanh đứng khoanh tay tại cửa, nơi có kê một cái bàn dài để cho quan khách ký tên lưu niệm. Nói là lưu niệm nhưng thật ra, đó là nơi vòi tiền quan khách. Ba nàng “Người đẹp không quân” ngồi thành một hàng, tha thước trong chiếc áo dài xanh da trời. Trên bàn là một cuốn sổ và bên cạnh cuốn sổ là một cái hộp đựng tiền. Một trong ba nàng là vợ Thanh, ngồi ngay chính giữa, cười nói luôn miệng. Ai cho bao nhiêu, Thanh đều ghi nhớ trong lòng.
Thiệp mời 7 giờ tối nhưng mãi đến hơn 8 giờ, phái đoàn của ông tướng mới đến. Bước vào đầu tiên là 3, 4 ông mặt mày nghiêm trang và trang trọng như đi duyệt binh ngày lễ. Ông tướng đi sau, chung với phu nhân mình là bà Trâm. Kế bên bà Trâm là một người mập tròn, nước da đen, trán hói, cặp môi dày và thâm sì như da trâu.
Người ấy là cựu thiếu tá Đặng Tây, đến từ Houston. Tây có viết được mấy bài báo và thơ đăng trên tờ Lý Tưởng ở Houston và nhờ đó, đi đâu Tây cũng luôn luôn tự giới thiệu mình là “Nhà văn Không Quân,” dù không ai có thế hiểu được “nhà văn không quân” nó khác với nhà văn thường ở chỗ nào.
Vợ Thanh nhìn thấy phái đoàn ông tướng thì nhăn mặt lại một chút rồi mới gượng được một nụ cười giả dối và nói:
-Kính mời các anh ký sổ lưu niệm cho chúng em.
Chẳng ai trả lời vì chẳng ai có tiền, cứ tiếp tục đi thẳng. Ông tướng và bà tướng cũng lờ luôn, chẳng dám nhìn mấy người đẹp. Nhà văn không quân liếc nhìn mấy em, khen “Mậy o ăn chi mà đẹp rứa hỉ” rồi đi luôn.
Nam nhìn thấy phái đoàn thì liền lớn tiếng nói như hét vào micrô:
-Kính thưa quý vị, chúng tôi vừa nhìn thấy thiếu tướng Nguyễn Kít và phái đoàn vừa bước vào, xin quý vị cho thiếu tướng và phái đoàn một tràng pháo tay thật lớn, thật to để chào mừng quan khách...
Tiếng vỗ tay vang lên như sấm động. Nam thích quá, nói luôn:
-Kính thưa quý vị, ngoài thiếu tướng và phu nhân, chúng tôi còn nhận thấy sự hiện diện của nhà văn không quân tài hoa nổi tiếng Đặng Tây biệt hiệu Phong Tình, cây viết cột trụ số một của báo Lý Tưởng, nhà thơ vĩ đại nhất thành phố Houston. Xin quý vị cho nhà văn không quân Phong Tình tài hoa bay bướm một tràng pháo tay...
Lại vỗ tay. Chờ một lúc, Nam tiếp:
-Được biết, nhà văn không quân Phong Tình trước kia là một phi công lái tàu bay vận tải tài hoa số một...
Nam vừa nói đến đó thì có một bàn tay níu áo mình. Anh nhìn lại thì nhận ra đó chính là nhà văn không quân Phong Tình đang đứng trước mặt mình. Anh giật mình đánh thót, chưa kịp nói gì thì nhà văn đã khoác tay nói giọng Nghệ An nghe đặc sệt:
-Anh giợi thiệu con khị chi mà loạ rựa hỉ? Anh đưa tôi cại micrô hỉ.
Nam ngạc nhiên quá đổi, không biết phải phản ứng như thế nào. Nhà văn lại nói:
-Anh đưa Micrô đi hỉ, ông tướng nọi tôi làm MC tội nay. Đựng buộn hỉ.
Mẹ, như thế thì còn gì là giấc mộng MC của mình nữa. Nam cảm thấy trời đất quay cuồng, muốn té xỉu ngay trên sân khấu. Lại có một người nữa trong phái đoàn ông tướng tiến tới gần, dục:
-Đưa micrô cho ông Tây đi. Lệnh của thiếu tướng.
Nam muốn ứa nước mắt, đưa cái micrô cho nhà văn không quân rồi líu ríu bước xuống, tai còn nghe được người MC mới tự giới thiệu mình:
-Kịnh thưa quỵ vị, tôi vâng lệnh thiệu tượng lạm MC cho bựa tiệc tội nay...
Tây nói lung tung một hồi, toàn là những câu pha trò rẻ tiền và đôi khi lại còn tục tỉu nữa, nhưng mọi người lại cười vang...
Nam líu ríu đi về phía cuối phòng, mắc cỡ quá, chỉ muốn độn thổ cho xong. Lúc nãy mặt anh trang trọng bao nhiêu thì bây giờ xìu lại và đau khổ bấy nhiêu. Ra tới cửa, anh toan mở cửa bước ra bỏ về thì Thanh kéo anh lại, hỏi:
-Tao tưởng mày làm MC mà, sao lại để cho thằng khùng đó lên?
Nam nghiến răng, chửi thề:
-Đeo mẹ thằng nhà văn chó đẻ. Nó dành chức... MC của tao. Nó mà nhà văn cái đếch gì, ăn nói nham nhở nghe không chịu được.
Thanh phẫn nộ dùm cho bạn:
-Cũng tại mày tâng tốc nó quá đáng... Tao biết thằng này, văn chương mẹ gì nó. Nhưng tại sao mày đưa micrô cho nó?
Nam lắc đầu, thở dài:
-Nó bảo ông tướng ra lệnh cho nó. Biết thế thì tao đếch thèm giới thiệu thằng chó đẻ.
-Thôi ngồi xuống đây uống với tao một ly cho hạ hỏa đi.
Nam ngồi xuống, nhận ly rượu từ tay Thanh. Đang chán đời, anh làm luôn một lúc 4 ly đầy rồi ợ lên một phát thật lớn, cảm thấy nhẹ nhỏm trong lòng đôi chút. Nhìn thấy vợ Thanh đang đếm tiền, Nam liền hỏi:
-Tối nay thâu được bao nhiêu hả chị?
-Gần 6 ngàn đấy anh. Cũng đỡ. Mấy hôm nay vợ chồng chúng tôi lo quá.
Thanh ngồi gần đó cũng nói thêm vào:
-Thật là phải cám ơn trời phật... Nói ra thì xấu hổ nhưng mình mở nhà hàng bán thức ăn mà cứ như là đi ăn xin ăn mày...
Nam nói:
-Nói thật với hai ông bà là tôi cũng lo giùm cho hai người... Bọn nhà băng Mỹ chúng nó làm việc lâu lắm, mà chưa chắc là đã có tiền.
Vợ Thanh nói:
-Đồng tiền nắm trước là đồng tiền khôn. Cứ giữ nó đây cái đã, hôm nào nhà băng họ trả tiền thì mình trả lại cho ông tướng. Mình chẳng muốn giật ai nhưng cũng chẳng muốn ai giật mình.
Bên trong, có tiếng giới thiệu ông tướng lên nói chuyện bằng một giọng Nghệ An đặc sệt và những lời tâng bốc nịnh bợ lố lăng quá đáng. Lại vỗ tay như sấm động rồi tiếng nói của ông tướng bay ra:
-Anh em cựu quân nhân và công chức nghe tôi nói, cổ nhân ta có câu: “Nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá”, tôi lập lại là đâm hà bá chứ không phải đâm... đàn bà đâu nhá. Đâm hà bá thì ra tiền còn đâm ... đàn bà thì ... sưóng nhưng hao tiền tốn của lắm, hì hì...
Mọi người nhao nhao lên cười sặc sụa, cười đến muốn té xuống đất. Thanh cũng cười nhưng mụ vợ nhăn mặt lại, thò tay véo vào đùi chồng một phát:
-Ăn nói nham nhở như thế mà anh cũng cười được à?
Ông tướng tiếp:
-Tại sao lại phải đâm hà bá? Đúng thế, chúng ta phải đâm ... chết mẹ hà bá bởi vì...
Tướng Kít nói một thôi dài, vừa nói vừa pha trò. Đại khái, ông cho biết, ông sẽ mở một vựa cá ngay tại thành phố này. Vựa cá của ông sẽ là vựa mua bán tôm cá lớn nhất tiểu bang Lousiana, chưa hề có trong lịch sử, với những máy móc tối tân nhất thế giới và sẽ tạo công ăn việc làm cho khoảng 500 người địa phương. Dĩ nhiên, ông sẽ mướn toàn người Việt Nam, cựu phi công càng tốt. Vựa cá của ông sẽ mua tôm cá của “bọn ngư phủ” địa phương và Việt Nam giá 1 đô la một pound, bán ra 5 đô la một pound, lời sơ sơ 4 đô la một pound, sau khi trừ chi phí, còn lời 3 đô la một pound. Ông dự trù, vựa cá của ông mỗi ngày sẽ bán khoảng vài trăm ngàn pound, tiền vô cứ gọi là đếm không hết, chắc phải mướn security của Mỹ để canh tủ tiền... Nhà băng First Jefferson National Bank sẽ cho ông mượn khoảng 80 triệu đô la, và ông cần thêm 20 triệu đô la để lo mấy việc lặt vặt. Ông kêu gọi anh em cựu quân nhân mua cổ phần vựa cá.
Ông kết luận:
-Ai muốn ... chơi hà bà thì bỏ tiền ra mua cổ phần vựa cá của tôi. Tiền anh em bỏ vào càng nhiều thì sẽ lấy về càng nhiều, sau này con cháu sẽ nhà cao cửa rộng, mặc sức tung hoành...
Ông tướng vừa nói tới đó thì bà Trâm, phu nhân ông tướng xuất hiện, tiến ngay tới chỗ vợ chồng Thanh và Nam đang ngồi.
Phải thành thực mà nói, bà Trâm là một người đàn bà đẹp hơn mức trung bình. Chẳng những đẹp, trời còn cho bà cái tướng quý phái, lịch sự. Thêm vào đó, bà lại biết cách diện đồ, ăn bận khéo léo, luôn luôn theo đúng thời trang. Vì những lý do đó, mọi người, từ đàn bà đến đàn ông, ai cũng thích gần gũi bà. Đàn bà thích gần gũi để học những cái hay, cách trang điểm, cách diện quẩn áo, còn đàn ông thì để ... dê bà. Thiên hạ đồn, bà là một người rất đa tình. Và đối với đàn ông, hễ đàn bà càng đa tình thì ... càng tốt, miễn là người đó không phải là vợ mình.
Thanh và Nam cũng không tránh khỏi định lệ... đàn ông quái quỷ này cho nên khi nhìn thấy bà phu nhân bước tới, hai ông cựu phi công liền đứng lên, cười tươi như hoa, đon đã mời bà ngồi. Bà Trâm cũng cười tươi như hoa, ngồi xuống, ghép chân vào nhau, để lộ một phần đùi hở hang và đẩy đà và trắng phau, thơm như múi mít.
Cả Thanh và Nam cùng nuốt nước bọt một phát khi nhìn thấy cặp đùi...
Ngay cả vợ Thanh, khó tánh như thế mà khi thấy bà ngồi xuống nơi bàn mình cũng cảm thấy hãnh diện vô cùng. Trong tiệm này có bao nhiêu bàn sao bà không ngồi, lại chọn bàn mình để ngồi.
Thanh nhanh nhẩu nói, cặp mắt dán chặt vào cái phần vú hở của bà phu nhân:
-Thưa cô, ý quên thưa phu nhân bà tướng, ý quên... xin lỗi, phu nhân ông tướng, dùng gì để tôi đi lấy ạ.
Vợ Thanh muốn tát cho chồng một phát nhưng phải nhịn.
Bà Trâm liếc mắt đưa tình với Thanh, làm như ngầm nói rằng “tôi biết anh đang nhìn vú tôi đấy nhá, đồ khỉ” rồi ỏn ẻn nói:
-Gì cũng được nhưng xin anh cho ly nước cam ạ.
Thanh cười thật tươi, quay sang bảo cô bồi đứng gần đó:
-Em cho bà tướng ly nước cam vắt nhé, làm cho kỹ, cho đẹp, cho khéo nhé.
Bà Trâm quay sang vợ Thanh, thân mật nói:
-Nhà hàng của em đẹp quá, chẳng thua gì mấy nhà hàng bên Cali.
Vợ Thanh cười:
-Chị quá khen, bọn em cũng chỉ cố gắng để sống qua ngày thôi chị ạ...
Bà Trâm vỗ vào ... đùi vợ Thanh, duyên dáng và thân mật nói:
-Sống qua ngày mà được như em thì chị cũng muốn sống lắm...
Vợ Thanh cười, cặp mắt híp lại:
-Chị lại quá khen em rồi...
Đột nhiên, bà Trâm quay sang nói với Nam:
-Anh, anh làm MC hay quá, ai cũng phục lăn...
Nam lúc ấy đã uống khoảng 6, 7 ly cổ nhắc rồi nên tâm hồn đang lâng lâng sung sướng... Cũng gìống như Thanh, anh đang nhìn vào cặp vú của bà Trâm mà tưởng tượng mông lông, bỗng nghe mình được chiếu cố thì giật nẩy minh lên, ly rượu trong tay xém tí nữa thì đổ cả ra ngoài. Anh ấp úng nói:
-Thưa... thưa em... không, thưa bà, bà quá khen ạ. Tí tài vặt ấy mà...
Bà Trâm lại liếc mắt cười tình:
-Tôi cũng chỉ mong có tí tài vặt như anh mà không có được. Này, hôm nào đám cưới con gái tôi, tôi phải mua vé máy bay cho anh qua Ca-li làm MC cho cháu nhé? Tôi đặc cọc anh trước đấy, không được từ chối nhé...
Nam sung sướng đến độ muốn ... quỳ ngay xuống đất mà cám ơn người đẹp. Giấc mộng vàng MC tưởng đã tiêu tùng, nào ngờ lại có mòi phát triển. Làm MC cho con gái bà tướng, chuyện khó tin nhưng có thật. Anh nói, giọng run run vì cảm động:
-Cám ơn phu nhân đã tin cậy. Nếu phu nhân cần thì bất cứ lúc nào, tôi sẽ bay qua Cali một chuyến để làm MC cho cháu.
Nam chưa nói hết câu thì bà Trâm đã quay sang nhìn vợ Thanh:
-Cái vòng cổ em đeo coi lịch sự và đẹp quá, lại trang nhả nữa. Vợ ông chủ nhà hàng có khác. Em mua ở đâu thế em?
Bây giờ thì tới phiên vợ Thanh sung sướng đến rêm người. Thế là 2 người đàn bà châu đầu vào nhau nói về chuyện trang sức...
Ly nước cam vắt được mang lên, để trước mặt bà Trâm. Thanh ngồi xuống ngay trước mặt bà, ngắm vợ mình và bà Trâm nói chuyện một cách thích thú. Anh cảm thấy hãnh diện vô cùng. Coi 2 người thật là xứng đôi, giống như 2 chị em. Ai cũng xinh cả, đúng là “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.” Một lúc nào đó, anh chen vào, tay đẩy cái đĩă thức ăn, ngọt ngào nói:
-Bà phu nhân dùng cơm nhé. Ngon lắm đấy, đầu bếp Chợ Lớn chính hiệu nấu đấy.
Lại một cú liếc mắt chết người rồi bà Trâm lắc đầu:
-Thôi, cám ơn anh, lát nữa tôi còn phải ghé qua đặc cọc tiền để mua mấy chiếc xe vận tải.
Tối thứ bảy mà ai lại nhận tiền đặc cọc mua xe thì Thanh không nghĩ ra, nhưng anh có cần gì để nghĩ nữa. Cái đáng nghĩ là nghĩ đến cặp vú cặp đùi bà Trâm kia kìa. Người đâu mà có cú liếc mắt đẹp thế, bà ấy cứ liếc mình như thế này thì chắc mình đứng tim mà chết. Rượu đã ngà ngà say, Thanh thấy lòng mình bỗng trở nên thổn thức. Thổn thức như một ngày xưa, lâu lắm rồi, khi anh mới gặp vợ anh lần đầu...
Nói chuyện một lúc, bà Trâm đột ngột hỏi vợ Thanh:
-Tối nay thâu tiền có khá không em.
Bình thường mà nghe hỏi một câu như thế thì vợ Thanh sẽ bắt đầu suy nghĩ liền, nhưng tối hôm đó, không hiểu sao, chị lại đâm ra thân mật và dễ dãi, vui vẻ trả lời:
-Được hơn 6 ngàn đấy chị ơi. Vợ chồng em lo sốt cả vó suốt mấy tuần nay..
Sau câu hỏi, bà Trâm lại đột ngột chuyển sang đề tài thời trang. Càng nói thì tình chị em càng trở nên thắm thiết, hợp tình hợp ý. Một lúc nào đó, bà Trâm lại nói:
-Chị cứ tiếc sao mãi đến bây giờ mới được gặp em, phải chị em mình quen nhau sớm hơn thì tốt quá. Em xinh quá, chị quý em quá...
Vợ Thanh híp mắt lại, sung sướng không nói nên lời. Nụ cười chưa tắt thì bà Trâm đã cho nổ ngay một quả bom CBU:
-Này em, chị đang cần 10 ngàn đô la để đặc cọc tiền mua xe vận tải cho anh Kít, em cho chị “giật nóng” của em 6 ngàn nhé. Chị có check 75 ngàn đô la đây nhưng khuya quá rồi không đi đổi kịp, ngày mai chị dậy sớm đi nhà băng cash tiền chị đưa ngay cho em...
Vợ Thanh giật thót mình, không biết phải trả lời và phản ứng như thế nào. Không phải chỉ có mình vợ Thanh, mà hai người đàn ông ngồi chung bàn cũng giật mình đến thót. Nam đang lim dìm mơ màng tưởng tượng đến cảnh đang làm MC cho con gái bà Trâm, liền mở bừng mắt. Dù đã ngà ngà say nhưng câu nói ngày nào của ông kế toán bạn Nam vẫn còn văng vẳng bên tai anh... Phần Thanh, tửu lượng của anh yếu hơn Nam nên anh chỉ mơ hồ biết có một chuyện nguy hiểm sắp sữa xảy ra nhưng không biết là chuyện gì.
Vợ Thanh ú ớ:
-Thưa chị, em... em...
Bà Trâm tiếp liền:
-Xe vận tải dùng để chở tôm ấy mà em. Bọn chị mua một lần 3 chiếc, nhà băng ứng trước tiền cơ mà. Đây này, để chị cho em xem cái ngân phiếu của nhà băng First Jefferson National Bank trong bóp chị đây.
Bà cúi người xuống rồi bỗng nhớ ra là mình không đem bóp theo, bà lắc đầu, đau khổ, tặng cho Thanh một cú liếc mắt chết người nữa.
-Rõ là hư thân, chị lại bỏ quên bóp ở bàn bên kia...
Vợ Thanh ngồi chết trân như một pho tượng gỗ, không nói được mà cũng không có được một phản ứng gì.
Bà Trâm lại quay sang hỏi Thanh, giộng thêm một cú liếc mắt chết người nhưng bây giờ lại có thêm phần đau khổ nữa:
-Anh Thanh... anh có biết sáng mai mấy giờ nhà băng mở cửa không? Tôi có cái check 75 ngàn đô la.
Bà Trâm kéo dài tiếng “Thanh” nghe như “Th a a a a nh” thật là ngọt ngào, quyến rũ.
Thanh ... của bà trả lời ngay, giọng cũng tình tự không kém:
-10 giờ... 10 giờ... thưa..
Thanh ngừng ở chữ “thưa” vì không biết nói thưa em hay thưa bà. Bà Trâm lại tung chưởng, cặp mắt bà tha thiết, giọng bà vừa đau khổ vừa mời mọc:
-Thế thì anh có cho tôi giật nóng 6 ngàn đến ngày mai không? Đừng có ăn hiếp tôi đấy nhá, tôi không chịu đâu, tôi bắt thường anh đấy...
Miệng bà nói, mắt bà lại liếc, cặp môi bà cong lên một cách mời mọc, ngực hạ thấp xuống để biểu diễn bộ vú nhiều hơn nữa, coi dâm không chịu được.
Dĩ nhiên là một người như Thanh thì đời nào lại đi ăn hiếp đàn bà, nhất lại là một người đàn bà ... có cặp vú vừa đẹp vừa to như thế kia và lại là phu nhân của ông tướng, Anh nói ngay không cần phải suy nghĩ, đắn đo:
-Được chứ sao không? Em, em đưa tiền cho chị Trâm đi. Mai mình lấy lại cũng còn kịp, có đem về cũng không kịp bỏ vào nhà băng tối nay.
Nghe như thế nhưng vợ Thanh cũng không có phản ứng, hai tay tự dưng lại đưa lên để trên hộp tiền trước mặt.
Thanh liền hất tay vợ ra, thò tay nắm mớ tiền lẫn check nằm trong hộp rồi đưa cho bà Trâm:
-Đây, bà phu nhân cầm lấy, mai đưa lại cho tôi...
Bà Trâm cầm gọn gói bạc, tặng cho anh một cú liếc mắt nữa. Thanh cảm thấy lâng lâng sung sướng, miệng cười cười, dở trò tán tỉnh:
-Như thế là bà phu nhân không được nói tôi ăn hiếp bà đấy nhé.. Đẹp như bà, thương không hết, ai lại đi ăn hiếp...hì hì...
Vợ Thanh liền đứng lên, bỏ vào cầu tiêu, nước mắt chảy chan hoà xuống mặt...
Nam dù say rượu nhưng cũng ngạc nhiên nhìn sững bạn, không nói được gì.
Sáng hôm sau, mãi đến 12 giờ trưa Thanh mới tỉnh rượu, thức giấc. Anh ngạc nhiên khi thấy nhà cửa vắng hoe. Gọi mãi không thấy ai trả lời, Thanh bước xuống giường và nhìn thấy một tờ giấy để trên bàn. Anh hốt hoảng cầm lên, tờ giấy do vợ Thanh để lại:
“Anh Thanh,
Vợ chồng ta đến đây là chấm dứt. Tôi lái xe chở hai con về Cali sống với bố mẹ.
Đừng gọi tôi vì tôi sẽ không trả lời. Luật sư của tôi sẽ liên lạc với anh sau.
Chúc anh may mắn.”Thanh ôm mặt khóc lên rưng rức. Rồi anh lại nhớ đến số tiền 6 ngàn tối hôm qua, mặt mày tái mét lại. Vấn đề bây giờ là không biết bà phu nhân ông tướng ở đâu để đòi tiền.
Thanh liền nghĩ tới cái phao cuối cùng của mình là Nam. Anh gọi cho Nam, vừa khóc vừa kể lại chuyện xảy ra.
Nửa tiếng đồng hồ sau, Nam gọi lại, cho biết là hai vợ chồng ông tướng đã bay đi sáng nay rồi. Không ai biết đi đâu và khi nào thì trở về...
Nam thấy bạn như vậy thì động lòng, cảm thấy mình phần nào có trách nhiệm trong việc này. Vốn là một cựu quân nhân có tinh thần trách nhiệm cao, anh liền lấy hết số tiền dành dụm bấy lâu trong trương mục tiết kiệm, khoảng gần 2 ngàn, đưa cho Thanh. Vợ Nam phản đối dữ dội, la hét ầm lên nhưng anh chẳng nghe.
Thế là từ đó, gia đình Nam lại có chuyện lục đục. Mới đầu thì nhỏ nhưng cứ lớn lên dần và lớn mãi. Vài tuần sau đó, khi chuyện không còn có thế hàn gắn được, vợ Nam cũng bắt chước vợ Thanh, lái xe chở ba con lên DC, ở với bố mẹ.
Thế là thành phố New Orleans bỗng dưng bị mất tiêu hai người đẹp Không Quân và một nhớ nhóc tì... Không Quân kháu khỉnh...
Giòng đời tiếp tục trôi và vài tháng sau đó, tại thành phố New Orleans, vào những ngày cuối tuần, có hai ông phi công thường hay rủ nhau đi... câu cá ở bờ sông Mississipi. Họ ngồi lặng bên nhau hàng giờ, nhìn mông lung xuống nước, lên trời, nhiều khi cá cắn câu cũng không buồn kéo lên. Đàn cò trắng bên bờ sông, xưa nay vẫn háu ăn và linh động, chỉ chờ có mồi ngon là sà xuống tranh nhau mà đớp hít, có lẽ nhìn thấy hai ông đồng nghiệp chuyên cỡi chim sắt buồn rầu đau khổ như thế nên cũng đâm ra biếng nhác... việc đời, cứ đi qua đi lại, gục gặt cái đầu. Thỉnh thoảng, chúng ngửa cổ lên trời, rú lên vài tiếng kêu nhỏ, khục khặc trong cổ họng. Không biết chúng nó muốn cười hay muốn chia buồn với hai ông...
Hai ông cũng chẳng thèm để ý...
Hình như, họ đi câu với nhau là để giải buồn, để an ủi nhau và kể lại chuyện đời xưa chứ không phải để câu cá hay ngắm chim và nhìn cò...


Trường Sơn Lê xuân Nhị

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Trần Thiện Khiêm - Cơn lốc rối loạn Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam
Kể từ biến cố lịch sử năm 1975 đến nay đã có nhiều sách báo, đoàn thể, tôn giáo cũng như hầu hết đồng bào Việt Nam đều quy trách những nhà lãnh tụ miền Nam như Tổng thống Diệm, tuớng Minh, Đôn, Thiệu, Kỳ v.v...đều là những người đã một phần chịu trách nhiệm để Cộng sản thôn tính miền Nam. Sự quy trách này trên bình diện chính trị, truyền thông đương nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên phương diện lịch sử thì thật là phiến diện. Do đó tiện giả sau nhiều lần suy nghĩ, trăn trở vẫn phải cầm cây viết hầu phơi bày một sự thật để phần nào giúp các sử gia sau này có những sự kiện quan trọng đưa vào dòng định mệnh của Lịch sử Việt Nam.

Ngược dốc thời gian năm 1958, Đại tá Trần Thiện Khiêm là một trong những sĩ quan được Tổng thống Diệm ưa thích vì vậy Đại tá Khiêm đã được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 4BB. Thời gian này Đại tá Khiêm có hai người bạn thân nhất là Đại tá Nguyễn Khánh và Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, bất cứ cuối tuần nào , Đại tá Khiêm đều lái xe đến thăm Đại tá Khánh tại đồn điền trà J'Ring, sau đó 2 người kéo lên Đà Lạt thăm Trung tá Thiệu đương là Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Năm 1960 trong vụ đảo chánh do Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu bị thất bại, bởi Đại tá Khiêm Tư lệnh SĐ 21BB từ miền Tây kéo về giải cứu Tổng thống Diệm, và kể từ đó Đại tá Khiêm được Tổng thống Diệm tín cẩn tuyệt đối, thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Liên quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi nắm chức vụ trên và nhất là được sự tin tưởng của Tổng thống, Thiếu tướng Khiêm đã đề cử Trung tá Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn 5BB và Thiếu tướng Khánh làm Tư lệnh vùng 2 Chiến thuật. Tóm lại tất cả các chức vụ quan trọng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào thới điểm này nếu có sự đề bạt của Thiếu tướng Khiêm chắc chắn sẽ được Tổng thống Diệm chấp thuận, ngoài ra TT Khiêm hơn hẳn các tướng lãnh khác là được cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu mến phục. Bởi vậy tiếng nói của Thiếu tướng Khiêm với hai nhân vật then chốt của nền Đệ Nhất Cộng Hòa có một tác dụng gần như tuyệt đối, các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng trong QLVNCH biết như vậy nên mọi lệnh của TT Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân đưa ra đều được thi hành đầy đủ, chính xác.

Từ trước tới nay đã có nhiều sử gia và nhân vật chính trị đề cập đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 nhưng nhiều sự kiện vẫn còn thiếu sót và không chính xác vì chưa ai nêu đúng nhân vật chủ chốt, hầu hết đều cho rằng các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính là những nhân tố chính. Nhưng mặt trái bên trong hậu trường thì không phải vậy, Trung tướng Đôn mặc dù là Quyền Tổng Tham mưu trưởng nhưng không được các Tư lệnh quân binh chủng tin tưởng, Tướng Minh không có thực lực trong tay còn lại Tướng Đính chỉ trong phạm vi Tổng trấn Sài Gòn mà thôi.

Đến đây tiện giả xin trình bày diễn tiến cuộc đảo chánh 1-11-63 để quý vị độc giả có thể thấu hiểu ai là người đã soạn thảo, móc nối và thi hành kế hoạch đảo chánh.

Khoảng đầu tháng 10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng cho biết sẽ có đảo chánh để lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa vì Thiếu tướng Khiêm được biết ông Ngô Đình Nhu đã có liên lạc với phía Việt Cộng. Đến đây tiện giả xin mở dấu ngoặc. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm tiết lộ cuộc đảo chánh cho Thiếu tá Giang vì Thiếu tá Giang đã từng là Chánh Văn phòng của Thiếu tướng Khiêm, và ngay sau nhậm chức Tham mưu trưởng Liên quân Thiếu tướng Khiêm đã yêu cầu Nha An ninh quân đội đưa Thiếu tá Giang sang giữ chức vụ Trưởng phòng An ninh Quân đội Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 20-10-1963 Thiếu tướng Khiêm chỉ thị Thiếu tá Giang qua gặp Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội để cho Đại tá Mậu biết là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu vừa ra lệnh cho Thiếu tướng Khiêm tạm giữ Đại tá Mậu vì ông này đang vận động đảo chánh; và Thiếu tướng Khiêm dặn Thiếu tá Giang nói với Đại tá Mậu tạm thời lánh mặt để Thiếu tướng Khiêm dễ dàng trình lên ông Cố vấn. Cũng trong thời gian này Thiếu tướng Khiêm tiết lộ với Thiếu tá Giang về phía tướng lãnh Thiếu tướng Khiêm đã tranh thủ được hầu hết, chỉ còn có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh vùng 4 là chưa hội ý, riêng Tướng Khánh và Đại tá Thiệu hoàn toàn đồng ý với Thiếu tướng Khiêm, ngoài ra các Tư lệnh quân binh chủng đã có hứa là sẽ sát cánh với Thiếu tướng Khiêm. Nói tóm lại việc vận động, tổ chức cũng như hoàn tất kế hoạch đảo chánh hầu như do Thiếu tướng Khiêm chủ động vì chỉ có tướng Khiêm hội đủ mọi yếu tố để cho các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng tin tưởng.

Sáng sớm ngày 31-10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng; khi Thiếu tá Giang bước vào thì thấy Đại tá Nguyễn Hữu Có ở đó, Thiếu tướng Khiêm chỉ thị cho Thiếu tá Giang cầm công điện hỏa tốc đi cùng với Đại tá Có xuống Mỹ Tho để bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn hiện do Đại tá Đạm là tư lệnh. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm ra lệnh cho Thiếu tá Giang đi với Đại tá Có là để Đại tá Đạm tin tưởng là lệnh thật do chính Thiếu tướng Tham mưu trưởng ký vì Đại tá Đạm từng biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và Thiếu tá Giang.

Đến 11 giờ sáng cùng ngày Thiếu tá Giang trở về Bộ Tổng Tham mưu và được Thiếu tướng Khiêm cho biết đúng 12 giờ trưa Thiếu tướng Khiêm sẽ chủ tọa buổi họp các tư lệnh quân binh chủng, và sau buổi họp nếu ai chống lại đảo chánh thì thiếu tá Giang phải giữ lại trong phòng họp Bộ Tổng Tham mưu chờ lệnh của Thiếu tướng Khiêm. Buổi họp vừa chấm dứt; trong lúc lộn xộn thì Đại úy Nhung sĩ quan cận vệ của Trung tướng Minh tự ý bắt Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt dẫn đi đâu không rõ, sau đó Đại úy Nhung trở lại định bắt Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Sư đoàn nhảy dù và ông Lê Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô Thành, nhưng Thiếu tá Giang đã ngăn chặn kịp thời. Đại úy Nhung báo lên Trung tướng Minh và Trung tướng đến hỏi lý do cản trở Đại úy Nhung thì Thiếu tá Giang trả lời là thi hành lệnh Tướng Khiêm.

Khoảng 2 giờ trưa ngày 31-10-63 Đại úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại tá Tung dẫn 1 đại đội lực lượng đặc biệt cùng với 4 chiến xa đến cổng Bộ Tổng Tham mưu để hỏi tình trạng Đại tá Tung, ngay khi đó Đại úy Nhung chạy ra gặp Đại uý Triệu và yêu cầu Đại úy vào trình diện Thiếu tướng Khiêm, Đại úy Triệu nghe lệnh trình diện Thiếu tướng Khiêm nên Đại úy không nghi ngờ gì do đó mới bị chết thảm.

Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm đã chủ động qua các diễn trình như:
- Ra lệnh cho Đại tá Có điều động Sư đoàn 7 ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ vùng 4 chiến thuật.
- Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 điều quân về Sài Gòn để làm chủ lực tấn công Lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống và Dinh Gia Long.
- Cô lập tất cả Tư lệnh Quân binh chủng nào xét ra chống lại cuộc đảo chánh.
- Ra lệnh cho Tướng Khánh, Tư lệnh vùng 2 và Tướng Trí vùng 1 chiến thuật thi hành những biện pháp cần thiết. Riêng các Tướng Minh, Đôn, Kim, Nghiêm, Xuân v.v...có mặt tại Tòa nhà chánh bộ Tổng Tham mưu chỉ có tính cách phụ giúp hơn là thực quyền vì tất cả mọi lệnh và điều hành đảo chánh đều diễn ra trong phòng làm việc của tướng Khiêm.
Tiếng chuông của chiếc điện thoại được reo đúng 3 giờ 17 phút, Thiếu tướng Khiêm nghe, đầu giây bên kia người đối thoại không ai khác là Tổng thống Diệm. Sau cuộc điện đàm Thiếu tướng Khiêm quay qua tướng Minh, Đôn nói "Tổng thống nói với các tướng lãnh đến dinh Gia Long nói chuyện. Moi trả lời để hội ý rồi sẽ trình lại Tổng thống sau" nhưng sau đó tướng Minh, Đôn, Kim và cả Khiêm không đồng ý đến gặp Tổng thống Diệm. Tuy nhiên khoảng 4:30 chiều 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm tự ý điện thoại cho Tổng thống Diệm với đề nghị đưa Tổng thống cùng toàn thể gia đình ông Nhu ra ngoại quốc với sự bảo đảm an ninh do chính Thiếu tướng Khiêm hứa. Khoảng 6 giờ chiều Tổng thống Diệm gọi cho tướng Khiêm để cho biết là T.T. đồng ý đề nghị nói trên nhưng khi tướng Khiêm hội ý với tướng Minh, Đôn, Kim thì tướng Minh nói ngay "Giờ này quá trễ rồi, chúng ta cứ tiếp tục". Qua các cuộc điện đàm kể từ lúc tiếng súng bắt đầu nổ cho đến khi Tổng thống Diệm chạy đến nhà thờ Cha Tam, Tổng thống Diệm chỉ có gọi điện thoại cho Thiếu tướng Khiêm mà thôi.

Đọc hết đoạn trên chắc độc giả đã nhận ra vai trò của tướng Khiêm từ tiền đảo chánh đến khi cuộc cách mạng 1-11-63 thành công, nếu tướng Khiêm không được Tổng thống Diệm tin dùng, nếu không có sự hợp tác với tướng Minh, Đôn v.v...chắc chắn là cuộc đảo chánh không thể xảy ra được vì trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân lại được sự tín cẩn của Tổng thống vì vậy các Tư lệnh Quân Binh Chủng đã không có phản ứng nên cách mạng 1-11-63 mới thành công một cách dễ dàng. Ngược lại nếu tướng Minh, Đôn, Đính ra lệnh cho các đơn vị chắc chắn sẽ bị chống đối hoặc không thi hành, nhất là 2 lực lượng nồng cốt do chính Thiếu tướng Khiêm điều động với SĐ7 có nhiệm vụ ngăn chặn tiếp cứu của vùng 4, và Sư đoàn 5 chủ yếu tấn công Lữ đoàn Liên Binh phòng thủ phủ Tổng thống với dinh Gia Long.

Sau cuộc cách mạng 1-11-63 thành công vai trò nổi bật là những tướng Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân. Riêng tướng Khiêm với chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng hữu danh vô thực, ngoài ra tiếng nói của tướng Khiêm trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng hầu như bị lãng quên do đó cuộc chỉnh lý mới bùng nổ mà nguyên nhân chính là do sự bất mãn của tướng Khiêm.

Người tổ chức, thảo kế hoạch do tướng Khiêm chủ động với sự trợ giúp của tướng Khánh và tướng Thiệu cùng 1 số đông các Tư lệnh quân binh chủng. Tuy nhiên vì sở trường của tướng Khiêm là không bao giờ muốn lộ mặt nên tướng Khánh được tướng Khiêm chỉ định coi như lãnh đạo cuộc chỉnh lý. Trên thực tế tướng Khánh không có thực lực, không được ai tin tưởng cho nên nếu không có tướng Khiêm đẩy ra sân khấu chắc chắn không bao giờ tướng Khánh mơ tưởng được làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, Thủ tướng v.v...

Mục tiêu của cuộc chỉnh lý không ngoài mục đích của tướng Khiêm là vô hiệu hóa hết quyền hành các tướng Minh, Đôn, Kim v.v...để trả thù lại sự vô ơn của các tướng đối với tướng Khiêm sau cách mạng 1-11-63 và luôn thể đưa những người bạn thân nhất nắm chính quyền là tướng Khánh, tướng Thiệu v.v... Do đó ngay khi cuộc chỉnh lý thành công tướng Khiêm không muốn ở vị thế lãnh đạo nên đẩy tướng Khánh ra thay thế tướng Minh, đưa tướng Thiệu nắm chức Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH.

Nhưng khi tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm thành hình thì tướng Khánh ham quyền lực, quên đi người đã gây dựng sự nghiệp cho mình là tướng Khiêm, nên tướng Khánh một mặt củng cố uy quyền mặt khác loại bỏ những người thân cận của tướng Khiêm. Tiện giả còn nhớ câu của tướng Khánh nói với tướng Khiêm khi tướng Khánh tống tướng Khiêm đi làm Đại sứ tại Đài Loan như sau: "Anh phải dời VN trong vòng 48 tiếng, nếu không tôi sẽ không bảo đảm tính mạng của anh".

Mặc dù sau khi tướng Khánh loại được tướng Khiêm, nhưng từ Đài Loan tướng Khiêm vẫn âm thầm tổ chức để lật đổ tướng Khánh, do đó mới có những cuộc binh biến xảy ra liên miên cầm đầu bởi tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đại tá Tồn, Trang v.v... Tuy nhiên, tướng Khiêm ít nhất vẫn được người bạn trả ơn đàng hoàng là tướng Thiệu, vì ngay khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống thì tướng Khiêm, đương kim Đại sứ Hoa Kỳ được gọi về giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và sau đó là Thủ tướng cho đến sát biến cố 4-1975.

Xuyên qua những sụ kiện trình bày trên tiện giả chỉ với mục đích duy nhất là đóng góp nhỏ nhoi vào kho tàng lịch sử biến động nhất của 2 nền Cộng hoà mà tiện giả nghĩ rằng nhân vật Trần Thiện Khiêm dù muốn dù không đã nắm giữ một vai trò tích cực có tính cách xoay chuyển cục diện của miền Nam v.v...

Tiện giả cũng nghĩ rằng nếu không có Trần Thiện Khiêm sẽ không có đảo chánh 1-11-63, không có chỗ cho vai trò của tướng Khánh trên sân khấu chính trị "cải lương" nhất trong giòng lịch sử Việt và chắc chắn sẽ không có một Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa, người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm làm tan rã QĐVNCH trong một thời gian kỷ lục cũng như đau khổ, tủi nhục cho hàng triệu gia đình Việt Nam.

Trần Ngọc Giang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Pleiku - Phố Núi
Trần Ngọc Nguyên Vũ

(Để gởi về Thiếu Tá Phong, Thiếu Tá Long, Đại Úy Bình, Đại Uý Chánh, Trung Uý Hậu, Thủy, Cầu, Trung Uý Quán
và những người của một thời ly-loạn, đã từng gắn bó đời mình với vùng trời Tây-Nguyên mịt mù khói lửa.)

***

PleiKu bây giờ trời nắng hay mưa
Cho tôi gởi lời thăm hỏi
Phố xá quanh co
Thương nhớ mấy cho vừa
Nhớ những tháng ngày cơn mưa phùn con đường lầy đất đỏ
Quán nhỏ thưa người
Dăm lon bia đắng giọt sầu dăng
Đêm Phượng-Hoàng ánh đèn khuya hiu-hắt
Điệu nhạc nào đưa nhau lạc bước tới cung Hằng.
***

Mai này ai lại ra biên-giới
Đạp sóng PoKor vượt núi rừng
Đường lên Lệ-Khánh xa thăm-thẳm
Có thấy thương thầm thị-trấn sau lưng


Có nghe gió thoảng lời em gởi
Khi nào về ghé lại PleiKu
Xin ngắt giùm em chùm phượng-vỹ
Hong khô môi má đẫm sương mù.
Chợt buổi chiều nao tung cát bụi
Gặp gỡ nhau đây lũ bạn giang-hồ
Lôi-Hổ Kontum
Biệt-Động-Quân biên-trấn
Mấy thằng lính Không-Quân
An-Ninh Khu-Trục Vận-Tải Trực-Thăng Quan-Sát
Cùng mấy thằng Biệt-Kích B50
Thêm toán Nhẩy-Dù vừa đổ tới
Nắm tay nhau cười nghiêng-ngả đất trời
Phố núi bừng lên đêm Cao-Nguyên mở hội
Tia nhìn bốc lửa dáng em chơi vơi…
Trượng-phu lòng cũng mềm tâm-sự
Dốc cạn men cay ngất-ngưởng quên đời
Ngày mai vào trận ai nào biết
Tráng sỹ quay cuồng bom đạn rơi
Xưa kia chỉ một lần sông Dịch
Mà cả triều Yên đưa tiếc thương
Ta sẽ qua sông bao lần nữa
Chỉ mắt em thôi khuất nẻo đường.
Ở đây gió núi mưa rừng đổ
Người đến rồi đi như bóng mây
Bỏ lại những chiều nơi phố thị
Thung lũng buồn thung lũng ngóng mưa bay.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Ðại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ VNCH bế mạc

Bài và hình: Lưu Sơn/Việt Herald
WESTMINSTER, California: Ngày Chủ Nhật 3 tháng 10, Ðại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bế mạc sau phần bầu Hội Ðồng Ðiều Hành. Ðại Hội kỳ này đã giao trách nhiệm điều hành Hội Ðồng Ðiều Hành cho Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Trong ngày Thứ Bảy 2 tháng 10, Ðại Hội đã long trọng khai mạc tại hội trường thành phố Westminster với sự hiện diện của Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và một số các tướng lãnh cao cấp của VNCH như Ðô Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại cùng các hội đoàn.
Trong ngày khai mạc Ðại Hội đã bầu xong vị Chủ Tịch Hội Ðồng Ðại Diện Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại được tín nhiệm với đại đa số phiếu.
Image Sáng ngày Chủ Nhật một buổi lễ chào Quốc Kỳ được long trọng cử hành ngay Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào lúc 10 giờ sáng, ông bà Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cùng với một số quan khách danh dự đã có mặt dưới chân Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, trên hàng ghế danh dự có Ðô Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, ông bà Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh.
Image Các vị dân cử cũng góp mặt thật đầy đủ trong buổi sáng này như Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa, bà Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez, Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn, Nghị Viên Tạ Ðức Trí, Chủ Tịch Cộng Ðồng Việt Nam Tự Do Nam Cali Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove, các ứng cử viên Bruce Trần, Phú Nguyễn, Tony Lâm, Al Mahadi và hàng trăm quan khách, cựu chiến sĩ QLVNCH.
Image Sau nghi thức chào quốc kỳ Việt Mỹ và phút mặc niệm, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã cùng một số quan khách danh dự tiến lên khán đài để đặt vòng hoa trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ.



Ðại Tướng đã phát biểu một bài diễn văn ngắn gọn: “Thưa các chiến hữu, trong các thập niên 50, 60 và 70 các anh đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam Tự Do, biết bao nhiêu xương máu đã hy sinh dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ này biểu hiệu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Tháng 4 năm 75 lợi dụng tình thế chính trị rối ren của Ðồng Minh với các phong trào phản chiến trong thập niên 60, 70 Cộng Sản Bắc Việt với sự giúp đỡ triệt để của khối Cộng Sản Quốc Tế đã dốc toàn lực xâm chiếm miền Nam Tự Do, xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa nhưng cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu đều sụp đổ, Liên Xô cộng sản đã không còn ở trên bản đồ thế giới nửa và Tự Do Dân Chủ đã trở lại. Ðài Tưởng Niệm này ghi lại sự hy sinh cao cả cảu các anh và các chiến sĩ Ðồng Minh Hoa Kỳ cùng với các nước bạn như Nam Hàn, Úc Châu, Tân Tây Lan và Thái Lan, những sự hy sinh này không phải là vô ích các anh đã để lại một di sản mà các thế hệ mai sau sẽ không bao giờ quên. Di sản đó là lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Hôm nay một lần nữa tôi vinh danh các anh những người còn sống cũng như những người đã ra đi là chiến sĩ anh hùng của lý tưởng Tự Do và Dân Chủ, nhân dịp này tôi xin gởi lời chào và thăm hỏi của tôi đến từng gia đình của các chiến hữu trong tập thể các chiến sĩ VNCH hải ngoại. Xin cám ơn tất cả.”
Image Phu nhân Ðại Tướng đã lên đọc lại bài diễn văn bằng Anh ngữ cho các quan khách ngoại quốc, lễ chào cờ và đặt vòng hoa kết thúc vào lúc 11 giờ.
Trả lời phỏng vấn của nhật báo Việt Herald, Ông Phan Tấn Ngưu Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ cho biết; “Thật sự tôi cũng rất ngạc nhiên khi mà tôi biết được Ðại Tướng quyết định đến với Ðại Hội này, thật sự ra đại hội đây chỉ là một điều kiện để Ðại Tướng đến với anh em, chứ trong vấn đề của tập thể Ðại Tướng hoàn toàn không có tham dự gì, những vai trò hay chức vụ gì mà trước đây tôi đã trả lời rồi, tuy nhiên Ðại Tướng muốn sẵn dịp này để đến nói chuyện với anh em chiến sĩ của chúng tôi với những lời Ðại Tướng vừa phát biểu đã cám ơn các anh em chiến sĩ và gia đình các anh hùng đó, cảm nghĩ của tôi là thật sự hơi bất ngờ với tư cách trưởng ban tổ chức khi tôi biết Ðại Tướng đến.”
Từ thành phố Seattle tiểu bang Washington, cựu Ðại Úy phi công trực thăng Trần Phước Bền là người phi công lái chiếc trực thăng số 2 của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đến tham dự buổi chào cờ lịch sử này, anh cho biết: “Nhân dịp về Cali tôi rất hân hạnh tham dự ngày chào cờ này, có dịp gặp lại các niên trưởng và bạn bè, thấy anh em trong tập thể chiến sĩ tổ chức lễ này tại Tượng Ðài tôi rất xúc động và nghĩ đến cuộc chiến vừa qua mình bị bức tử và những anh em đồng đội đã hy sinh một cách tức tưởi, hy vọng ngày nào đó sẽ mang lại hòa bình tự do dân chủ cho đất nước.”

Buổi chiều cùng ngày, Ðại Hội lại tiếp tục và kết quả đã quyết định sửa đổi điều lệ hiện hành và bầu các chức vụ đang khiếm khuyết.
Một thông cáo báo chí được vị Chủ Tịch Hội Ðồng Ðại Diện phân phát đến giới truyền thông và báo chí có mặt, chiều ngày Chủ Nhật trong buổi dạ tiệc tại nhà hàng Mon Cheri sẽ có một tuyên cáo về đại cương và đường lối của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH. (L.S.)
Image

Thông Cáo Báo Chí
Tiếp theo Ðại Hội Toàn Quân năm 2003, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH được thành lập và hoạt động từ đó đến nay.
Từ quan niệm chỉ huy thống nhất để hợp sức mạnh lúc ban đầu. Cho đến hôm nay, sau 7 năm, vẫn còn cần có những thay đổi cần thiết từ tổ chức cho đến nhân sự, hầu thích hợp với từng giai đoạn trưởng thành của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, cũng như tình hình và diễn biến trong công cuộc đấu tranh vì Tự Do, Dân Chủ, của toàn dân quốc nội đã và đang xảy ra trên khắp mọi miền đất nước.

Ðó là một trong những lý do đưa đến đại hội trong 3 ngày, 1, 2 và 3 tháng 10 vừa qua tại thành phố Westminster, California.
Ðại hội này đã quy tụ được sự tham dự của các tổng hội, liên hội, hội đoàn… khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra còn có sự hiện diện của quý niên trưởng, tướng lãnh, quý sĩ quan cao cấp trong các quân binh chủng, các quân trường, lực lượng cảnh sát quốc gia, cũng như bán quân sự, là những thành phần đã đích thực đóng góp xương máu trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975. Ðặc biệt, đại hội này được sự tham dự của đại tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng và cựu tổng trưởng quốc phòng VNCH.

Sau ba ngày thảo luận, đại hội đã quyết định:

1) Sửa đổi điều lệ hiện hành, có thêm Hội Ðồng Ðiều Hành để liên lạc và kết hợp các đơn vị, từ tổng hội, liên hội, và hội đoàn… hầu thể hiện tính đồng nhất từ tổ chức cho đến hành động. Sự kết hợp không đồng nghĩa với sự thống nhất chỉ huy. Các đơn vị có quyền đóng góp ý kiến, thảo luận, và cuối cùng đạt được kết quả chung mà vị chủ tịch điều hành phải thi hành kết quả đó. Các đơn vị vẫn giữ tư cách độc lập của riêng mình mà không bị chi phối khi hoạt động chung trong tập thể chiến sĩ.
2) Bầu các chức vụ mới hoặc đang khiếm khuyết theo tổ chức sửa đổi:
2.1/ Chủ tịch Hội Ðồng Ðại Diện: NT. HỒ VĂN KỲ THOẠI
2.2/ Hội Ðồng Ðiều Hành: Sau khi thảo luận, đại hội đã quyết định giao việc điều hành Hội Ðồng cho một đơn vị như tổng hội, liên hội, hoặc một trung tâm điều hợp địa phương. Kết quả, đại hội đã bầu cho:
TỔNG HỘI CỰU SVSQ TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm điều hành Hội Ðồng Ðiều Hành Tập Thể Chiến Sĩ VNCH
Nhiệm kỳ hoạt động cho các tổ chức của tập thể là 3 năm, và được bắt đầu từ tháng 10 năm 2010, theo tinh thần điều hành của Bản Ðiều Lệ mới sửa đổi.


Làm tại Little Saigon ngày 3 tháng 10 năm 2010
TM. TẬP THỂ CHIẾN SĨ VNCH HẢI NGOẠI
CHỦ TỊCH HỘI ÐỒNG ÐẠI DIỆN


Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

GIỮA HAI BỜ SINH TỬ

Nguyễn Trần Diệu Hương
Lâu lâu nhận được những cái E mail của Ông, nhìn giờ gởi là hai hay ba giờ sáng, không nói ra nhưng chúng tôi đều hiểu Ông vẫn còn giữ thói quen thức dậy mỗi hai tiếng mỗi đêm check up tình hình sức khỏe của Bà. Chỉ cần khoảng ba tháng liên tục làm một hoạt động nào đó, đúng giờ, đồng hồ sinh học trong cơ thể con người quen với một thời khóa biểu cố định, Trong trường hợp này, Ông đã chăm sóc Bà, triền miên trong bệnh Alzheimer từ cả thập niên thì chắc hẳn là giấc ngủ của ông tự động chỉ kéo dài mỗi hai tiếng, ông bật dậy, tỉnh táo đi quanh trong nhà, dù là không còn có Bà để được chăm sóc nhau ở đoạn cuối cuộc đời.

Ông đã dốc hết tâm trí vào việc chăm sóc Bà, từ việc đọc những tài liệu về bệnh Alzheimer (đến bây giờ Y học vẫn thua cuộc trước căn bệnh mất trí nhớ này) đến việc dành hết thì giờ ở cạnh Bà, lo từng muỗng cháo đến từng hớp nước. Mỗi năm vài lần, ghé qua thăm Ông, nhìn cảnh Ông vào ra trong căn nhà tĩnh lặng, không có tiếng nói, không có tiếng cười, dù vẫn thường xuyên có hai vợ chồng, nhìn Bà gầy như chiếc lá trên giường bệnh, rồi nhìn những hình ảnh của Ông trong quân phục thời còn nổi trôi trên các chiến trận từ Cà Mâu đến Bến Hải, tôi vẫn tự hỏi ông đã lo cho hàng ngàn binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến ngày trước và lo cho Bà bây giờ, nỗi lo nào lấy đi nhiều tâm lực của ông hơn?

Chỉ ở cách nhà ông khoảng 30 miles nhưng tôi được tin Bà vào bệnh viện (và mãi mãi không bao giờ về) qua đường dây điện thoại viễn liên từ Đông sang Tây của nước Mỹ từ một đồng đội của Ông ngày xưa (và là một người bạn tù của Ba từ thời gian khổ ở trại tù Nam Hà ngoài Bắc cuối thập niên 70).

Chúng tôi vào bệnh viện thăm Bà và để hỗ trợ tinh thần cho Ông trong những ngày Bà đứng giữa hai bờ sinh tử. Tôi vốn sợ không khí thoang thoảng mùi Ethanol của bệnh viện, sợ nhìn nỗi đau đớn thể xác của giai đoạn thứ ba trong chu kỳ “sinh lão bệnh tử” của loài người, nên bao giờ vào bệnh viện, dù là đi thăm ai, tôi cũng thường nhờ người “escort” để hỗ trợ tinh thần. Lần vào bệnh viện thăm Bà mùa Đông 2007, có hai người bạn đi cùng đều quý Ông như tôi, và đều là “chuyên gia bệnh viện” nên tôi thấy “ấm lòng chiến sĩ’ hơn, mùi Ethanol dường như bớt nồng nặc hơn. Còn hơn thế, tôi không phải đi lòng vòng tìm chỗ đậu xe như những lần đi thăm người bệnh khác vì một trong hai người bạn có thời làm ở bệnh viện nơi Bà đang điều trị, biết rất rõ “sweet spot”, để đậu xe, và đi tắt vào bệnh viện qua cửa phòng cấp cứu để tôi đỡ bị thấy những nơi đau đớn thể xác rất thật của con người.

Vì vậy, nên đến lúc đứng cạnh giường bệnh của Bà, tôi vẫn còn “bình tĩnh”, đầy đủ tinh thần để quan sát và thấy rõ tình nghĩa phu thê của Ông đối với Bà cảm động, và sâu xa hơn tình nghĩa “một duyên hai nợ âu đành phận” nhiều. Ở cái bảng nhỏ cuối giường có tên người bệnh, có tên Bác Sĩ, Y tá trực trong ngày, Ông viết thêm tên của Ông và số điện thoại liên lạc trong trường hợp khẩn cấp. Ở tuổi ngoài 70, Ông vẫn túc trực ở Bệnh viện bên cạnh Bà từ sáng đến tối, thường là chỉ được ngồi nghỉ chân trên cái ghế nhỏ ở cuối phòng. Ông chỉ chạy về nhà để ăn uống qua loa và làm vệ sinh cá nhân, chợp mắt vài tiếng rồi, lại chạy vào bệnh viện, dù là chỉ để được nhìn bà đã chìm vào hôn mê, mắt luôn nhắm nghiền, đang mỏi mòn thoi thóp giửa hai bờ sinh tử Cô Y tá trực người Phi Luật Tân vào check up Bà vài lần trong ca trực, luôn thấy Ông quẩn quanh bên giường bệnh, chốc chốc lại nhìn cái máy chuyển chất dinh dưỡng lỏng vào cơ thể Bà ở đầu giường, cũng cảm kích trước tinh nghĩa vợ chồng của Ông đối với người bệnh nên chăm sóc Bà chu đáo hơn bệnh nhân ở giường bên kia, cùng phòng với Bà. Người y tá cũng để cho Bà mặc quần áo như ở nhà ( bộ đồ lụa mầu hồng) thay vì yêu cầu Ông đổi quần áo bệnh viện cho Bà. Nguyên tắc của Bệnh viện sau chín giờ tối, thân nhân phải ra về, cần gì thì người bệnh bấm chuông gọi y tá, nhưng vì bà là bệnh nhân Alzheimer nên y tá trực cho các cô con gái của Ông Bà thay phiên nhau ở lại bệnh viện với Mẹ. Ban ngày khi các chị đi làm thì Ông và cô điều dưỡng, người vẫn đến giúp Ông chăm lo cho Bà từ nhiều năm nay ở nhà, vẫn túc trực bên Bà.

Chúng tôi đến thăm Ông Bà, lần này ở Bệnh viện thay vì ở nhà như lần trước, vừa quý Ông về những đóng góp của Ông cho cuộc chiến tranh bảo vệ tự do mà cuối cùng “kẻ xấu đã thắng” như ý kiến của Thượng nghị sĩ John McCain, vừa cảm kích tình nghĩa vợ chồng của Ông Bà, nên đã mang vài thứ thức ăn nhẹ cho Ông, nhưng xem chừng trên giường, người bệnh không ăn uống được vì yếu sức, ở góc chân giường, người trông bệnh cũng chẳng nuốt trôi được thức ăn nào vì lo lắng.

Trong lúc chúng tôi nghe ông kể lại thời khóa biểu thường nhật của ông đảo lộn kể từ ngày Bà vào Bệnh viện, người bạn là Bác sĩ lặng lẽ đến đầu giường, cạnh bên những dây nhỏ chằng chịt, và những biểu đồ bệnh lý để đọc những con số chi chít trên đó, thỉnh thoảng lại nâng tấm mền mỏng của Bệnh viện quan sát những mạch máu trên tay Bà. Anh không nói gi, nhưng chúng tôi có linh cảm những ngày cuối đời của Bà đang được đếm từng ngày.

Còn nhớ hôm đó, giữa mùa Đông, trời mưa tầm tã, tôi phải tập trung tinh thần lái xe, không dám nói chuyện, không dám nghe soft-rock music trên băng tần FM96.5 quen thuộc. Lúc rời bệnh viện, trời đã sụp tối, mặc dù chỉ mới gần sáu giờ chiều. Không phải là dân địa phương, vừa không quen đường, trời vừa tối, lại mưa như trút nước, trời xui đất khiến làm sao thay vì quẹo vào freeway, xe của tôi lại chạy vào ……. một cái nghĩa trang ở ven xa lộ 101, mà tôi cũng không biết cho đến lúc thấy cái bệ nổi, nơi người ta vẫn để quan tài làm lễ trước khi đưa người quá cố về với lòng đất. Cả ba chúng tôi đều thấy đó là “điềm gở” nhưng không dám kể lại cho Ông.

Y như rằng sau đó vài ngày, chúng tôi được tin Bà không còn bị dăng co giữa hai bờ sinh tử mà về hẳn với cõi vĩnh hằng. Tối hôm đó, có dịp nói chuyện với một người bạn rất thân của Ba từ Dallas, cũng là một cựu Sĩ Quan QLVNCH cùng thời với ông, tôi kể cho Bác nghe về chuyện chăm sóc Bà rất tình nghĩa, rất thủy chung của Ông từ cả thập niên qua. Mặc dù không quen Ông, Bác cũng xin số điện thoại của Ông để gọi là chia xe nỗi mất mát không cùng với một người cùng thời, cùng mặc áo lính, cùng một bên chiến tuyến ngày xưa. Mới thấy tình “huynh đệ chi binh” vẫn còn mặc dù hàng ngũ oai hùng của QLVNCH ngày xưa đã bị "xẩy đàn tan nghé" từ một ngày cuối tháng Tư rất buồn của đất nước.

Chúng tôi đặt một vòng hoa gởi đến phúng điếu, mong mầu sắc tươi thắm của những bông hoa sẽ giúp Ông và con cháu thấy cuộc đời đỡ ảm đạm trước đại tang trong đời. Lúc đến viếng Bà lần cuối ờ nhà quàn, chúng tôi mới thấy cả một rừng hoa đến từ những đồng đội ngày xưa, nhất là những người cùng sát cánh bên ông giữa bom đạn năm nào. Có cả những người đích thân bay đến thăm ông từ rất nhiều tiểu bang khác nhau của nước Mỹ rộng lớn. Họ là bạn vong niên, là đồng đội, cùng đơn vị với ông. Có những người không biết nhiều về Ông, nhưng biết đến tiếng tăm của Ông qua chiến thắng hào hùng của QLVNCH nói chung và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến nói riêng ở Cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị năm xưa, cũng đến thăm Ông và tiễn Bà lần cuối đúng với câu “nghĩa tử là nghĩa tận”. Dĩ nhiên, cũng như Ông, đa số họ đều đã bước vào hoàng hôn của đời người, nhưng vẫn không quản ngại thời tiết mùa Đông đang làm băng giá hơn một nửa nước Mỹ, không ngần ngại bỏ ra một số tiền không nhỏ, đối với thu nhập của một “senior citizen”, cho một cái vé máy bay round trip chỉ mua trước giờ bay không đến một ngày. Tất cả những điều đó hẳn đã an ủi Ông rất nhiều, đã đền bù cho Ông về những gian khổ, những hiểm nguy ông đã chịu đựng ở chiến trường năm xưa.


Giữa những tràng hoa phúng điếu tươi thắm, Bà nằm an nghỉ trong chiếc áo dài Nhung mầu tím đỏ, mà Bà rất thích thuở còn khỏe mạnh, mặt cũng tươi thắm hồng hào như vẫn nằm thiêm thiếp ở nhà từ bao năm qua.

Ngày đưa Bà về lòng đất, chúng tôi phải đậu xe rất xa, và đi bộ giữa trời lấm tấm mưa phùn mùa đông vì đồng đội Ông, những cựu chiến sĩ TQLC mắt sáng, môi tươi ngày xưa, bây giờ gối đã mỏi, chân đã mòn, tóc đã điểm mầu sương khói, vẫn tụ tập về rất đông đủ, như họ vẫn sát cánh bên Ông giữa bom đạn năm xưa. Tôi tự nghĩ nếu tất cả họ đều mặc quân phục, chắc là rất giống cảnh đám tang ở Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa thời trước tháng 4 năm 1975. Nhưng điều làm chúng tôi cảm động nhất là Ông, người Sĩ quan QLVNCH năm xưa trong mầu áo hoa rừng, bây giờ trong mầu áo đen của tang phục, đã nghẹn ngào nấc lên nhiều lần khi đọc điếu văn tiễn người bạn đời về bên kia thế giới.

Chúng tôi vẫn tự hỏi, phải chăng ngoài nước mắt khóc thương Bà vĩnh viễn ra đi, còn có nước mắt Ông đã nén vào lòng năm xưa khi thấy đồng đội của mình bị dằng co giữa hai bờ sinh tử, giữa súng đạn vô tình ở chiến trường dạo trước? Dù là nước mắt nào đi nữa, bên cạnh mất mát không thể nào bù đắp được của ông, tình đồng đội là một niềm an ủi rất lớn giúp Ông đứng vững được trong quảng đời còn lại một mình, vĩnh viễn không còn có Bà bên cạnh…..
Nguyễn Trần Diệu Hương

Santa Clara, tháng 3/09

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cánh chim Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy

Toàn Như

Nhân Ðại Hội Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, chúng tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc trang CCB một gương mặt phụ nữ trong những người lính QLVNCH. Ðó là cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, nguyên biệt đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga của lực lượng Cảnh Sát Quốc gia (CSQG) VNCH trước năm 1975.

Người viết từng có dịp hân hạnh gặp chị trong một buổi họp mặt mừng Xuân của một hội đoàn ái hữu CSQG tại vùng Little Saigon, Nam California. Trong buổi họp mặt hôm ấy, lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Xuân của hội, khuôn mặt chị trông vẻ ngoài cũng bình thường như bao người phụ nữ khác, nhưng đến khi chị được Ban Tổ Chức giới thiệu và mời lên phát biểu thì mọi người mới biết rằng chị đã một thời từng chỉ huy một Biệt Ðội Tình Báo nổi tiếng của ngành CSQG, từng làm cho kẻ thù phải căm tức và kiêng nể vì những công lao mà chị đã đóng góp cho cuộc chiến vì tự do trước đây.

Qua tiếp xúc với chị, chúng tôi được biết chị là nữ Thiếu Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Thanh Thủy, người từng chỉ huy một Biệt Ðội Tình Báo toàn là nữ của ngành CSQG/VNCH là Biệt Ðội Thiên Nga. Khi được hỏi về lý do đã đưa đẩy chị trở thành một sĩ quan của ngành Cảnh Sát Quốc Gia, chị chỉ mỉm cười nói có lẽ là định mệnh. Ðịnh mệnh đã đưa đẩy cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu/Mỹ Tho trở thành sinh viên Dược Khoa/Saigon rồi Chính Trị Kinh Doanh/Ðà Lạt và sau cùng là một nữ sĩ quan cảnh sát. Năm 1966, chị đã rời bỏ mái trường Ðại Học Ðà Lạt để trở thành một sinh viên sĩ quan của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, một ngôi trường đào tạo sĩ quan cho lực lượng CSQG/VNCH vừa mới được thành lập. Vốn là một con người năng động, ham muốn phục vụ tha nhân và xã hội, chị không muốn phải miệt mài nhiều năm trên ghế nhà trường trước khi được phục vụ tha nhân.

Ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trước khi thành lập Học Viện CSQG hầu như không có nữ sĩ quan ngoại trừ những nữ nhân viên hành chánh biệt phái. Khi Học Viện CSQG được thành lập vào năm 1966, chị đã nộp đơn xin dự thi và đã trúng tuyển vào Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát (còn gọi là Biên Tập Viên CSQG vào thời gian đó). Khóa I Học Viện CSQG, ngoài việc đào tạo các nam sĩ quan, còn có khoảng 50 nữ sĩ quan theo học. Ðây cũng là khóa đầu tiên và duy nhất đào tạo nữ sĩ quan cho ngành cảnh sát. Mặc dù sau này do nhu cầu phát triển, ngành cảnh sát có tuyển dụng thêm một số nữ sĩ quan đồng hóa nhưng họ chỉ phải trải qua một thời gian huấn luyện ngắn hạn chứ không phải chịu một thời gian huấn luyện (và huấn nhục) dài 9 tháng (cho cả nam lẫn nữ) như Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát.

Sau khi được tin trúng tuyển, cô nữ sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, người con gái Mỹ Tho, đã cùng gần 50 bạn nữ khác tình nguyện xếp bút nghiên vào học nội trú trong Học Viện CSQG mà không hề có một khái niệm gì về những hoạt động của ngành này. Sau khi tốt nghiệp vào cuối năm 1966, hầu hết số nữ sĩ quan này được phân công về phục vụ tại Khối Ðặc Biệt, một bộ phận chuyên trách về tình báo và phản tình báo của lực lượng CSQG/VNCH.

Từ trước đến nay, công tác tình báo trong ngành cảnh sát vẫn thường do các bạn nam phụ trách, phái nữ chỉ trợ giúp khi có sự yêu cầu và thường do các bạn nam điều động. Nhưng kể từ sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân năm 1968, vai trò an ninh và tình báo đã được chú trọng hơn và nhu cầu cần có một mạng lưới an ninh tình báo phái nữ đã được đặt ra. Trước nhu cầu đó, vào tháng 8 năm 1968, Bộ Tư Lệnh CSQG đã quyết định thành lập một đơn vị tình báo toàn là nữ nhân viên có tên gọi là “Biệt Ðội Thiên Nga,” tên của một loài chim “quý phái,” trực thuộc Khối Ðặc Biệt, hoạt động độc lập, song song với các cơ cấu đã có từ trước. Biệt Ðội này đã được giao cho chị Nguyễn Thanh Thủy đảm trách, năm đó chị mới chưa đầy ba mươi tuổi.

Nhiệm vụ của Biệt Ðội Thiên Nga là sưu tầm và phân tích các tin tức tình báo, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức ngoại vi của Cộng Sản và các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, chính yếu là của phái nữ, tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh trên toàn quốc.

Vạn sự khởi đầu nan. Chị Thủy cho biết, công việc khởi đầu bao giờ cũng khó khăn. Từ việc tổ chức cho đến nhân sự, tất cả đều mới mẻ, nhưng nhờ những năm phục vụ tại Khối Ðặc Biệt trước đó đã cho chị Nguyễn Thanh Thủy nhiều kinh nghiệm trong việc hình thành một mạng lưới tình báo nữ xuất sắc cho ngành CSQG.

Về tổ chức, Biệt Ðội Thiên Nga có văn phòng trung ương đặt tại Khối Ðặc Biệt/Bộ Tư Lệnh CSQG; ngoài ra, Biệt Ðội còn có văn phòng tại các Bộ Chỉ Huy CSQG Thủ Ðô Sài Gòn và tại các Vùng I, II, III, và IV, cũng như tại các tỉnh, quận,... Về nhân sự, các nữ nhân viên được tuyển mộ cho Biệt Ðội Thiên Nga đều là những người có trình độ văn hóa tối thiểu là văn bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp (tốt nghiệp cấp 2 Trung Học) hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ cảnh sát được ưu tiên nâng đỡ chỉ cần có văn bằng tiểu học. Họ được tuyển lựa từ đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi trong xã hội: từ những cô bán hàng ở chợ, những người bán hàng rong, cho đến các sinh viên, học sinh, cô giáo, thư ký văn phòng, nhân viên nhà hàng, khách sạn, bưu điện, vũ nữ, v.v... Họ sẽ lần lượt được học qua các lớp Tình Báo Căn Bản, Theo Dõi, Cán Bộ Ðiều Khiển, Tác Xạ, v.v... trước khi được chính thức giao công tác.


Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy


Dưới sự chỉ huy của chị Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Ðội Thiên Nga đã tổ chức xâm nhập, len lỏi vào các tổ chức phụ nữ của Cộng Sản, những tổ chức thiên tả thân Cộng như các Hội Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống, Hội Các Bạn Hàng tại các chợ, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các tổ chức tôn giáo khuynh tả, các tổ chức thanh niên sinh viên học sinh để kịp thời ngăn chặn và triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia.

Ngoài ra, Biệt Ðội còn bí mật tổ chức xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập những tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản. Mỗi kế hoạch công tác của biệt đội Thiên Nga vì toàn là nữ nên cũng lãng mạn mang một ám danh bằng tên của một loài chim như Sơn Ca, Họa Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến, v.v... Nhưng nếu công tác có tính phối hợp với các cơ quan bạn thì lại mang ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn, v.v...

Vào năm 1972, cùng với sự cải tổ của ngành CSQG trong đó có Khối Ðặc Biệt, Biệt Ðội Thiên Nga đã được cải danh trở thành Ðội Ðặc Nhiệm G4231g. Tuy nhiên, mặc dù được đổi tên, người ta vẫn quen gọi bằng cái danh xưng cũ là Biệt Ðội Thiên Nga mỗi khi nhắc tới đơn vị đặc biệt này.

Mặc dù chỉ mới được thành lập không bao lâu trước ngày 30 tháng 4, 1975, nhưng Biệt Ðội Thiên Nga đã tạo được nhiều chiến công đáng kể mà ngay chính kẻ thù cũng phải kiêng nể. Vì là một đơn vị hoạt động tình báo nên việc ngụy thức và bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác này các nữ Thiên Nga đã rất thành công, hầu như không một Thiên Nga nào để lộ tung tích khiến cho kẻ địch phải ngờ vực.

Chị Thủy kể lại, thậm chí đã có trường hợp chúng còn tin tưởng đề cử người của Biệt Ðội Thiên Nga vào những chức vụ chủ chốt. Chị nói, có lần một cán bộ của Biệt Ðội đã được tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành (đã về chầu bác Vẹm cách nay mấy năm, năm 2004), một tổ chức ngoại vi nằm vùng của Cộng Sản, đề cử vào chức vụ Phụ Tá Phong Trào - tuy nhiên sau khi cân nhắc lợi hại Biệt Ðội đã chỉ đạo người nữ nhân viên ấy phải từ chối khéo để tránh bị lộ. Một trường hợp khác, chị kể về công tác “Họa Mi” trong đó một nữ Thiên Nga đã xâm nhập len lỏi vào hoạt động trong vai trò thư ký của Ban Xã Hội trong phong trào Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống bên cạnh một nữ cán bộ nằm vùng trong phong trào. Sau năm 1975, cả hai đã gặp lại nhau trong một hoàn cảnh hết sức trớ trêu. Người nữ Thiên Nga nay là một nữ tù nhân “cải tạo,” còn tên nữ cán bộ nằm vùng khi xưa nay là một đại úy công an quản giáo. Tức tối vì bị người nữ Thiên Nga này qua mặt trước đây, tên nữ cán bộ quản giáo này đã có dịp trả thù bằng cách đề nghị gia tăng thời hạn tù thêm 6 tháng cho người nữ Thiên Nga dù chị này đã có giấy ra trại.

Một công tác khác mang ám danh Hoàng Oanh là sự móc nối với một nữ huyện ủy viên của Việt Cộng hợp tác với Biệt Ðội Thiên Nga trong hơn 5 năm. Sau 30 tháng 4, 1975, người nữ huyện ủy này vẫn còn giữ chức huyện ủy một huyện gần Sài Gòn cho đến 6 tháng sau đó, VC mới truy ra được từ hồ sơ còn sót lại ở địa phương. Và cũng thật tình cờ, cả hai - chị Thủy và người nữ huyện ủy này - đã gặp lại nhau trong trại tù Z-30D Hàm Tân.

Một trong những chiến công mà chị Nguyễn Thanh Thủy cho là lý thú nhất là chị đã tổ chức được một đội tình báo nằm ngay trong lòng bộ chỉ huy của phái đoàn quân sự bốn bên. Theo Hiệp Ðịnh Paris về Việt Nam được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, phái đoàn quân sự bốn bên này gồm có: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Ðội tình báo này chính là nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Bắc Việt và MTDTGPMN ở trong trại David tại Tân Sơn Nhất.

Ðầu tiên, những nhà thầu cung cấp thực phẩm chỉ là những cảm tình viên do chúng ta giới thiệu nhưng đã bị Việt Cộng nghi ngờ không chấp nhận. Chúng yêu sách đòi hỏi phải đăng báo đấu thầu để chúng tìm nhà thầu khác ngoài công chúng do chúng tự chọn. Nhưng thật là khôi hài, chị Thủy cho biết, chúng chọn ai không chọn, lại chọn đúng ngay đội tình báo của Biệt Ðội Thiên Nga trá hình làm nhà thầu cung cấp thực phẩm cho chúng. Công tác này được mang ám danh là Trùng Dương, đã hoạt động mãi cho đến ngày cuối cùng là 28 tháng 4, 1975 mới chấm dứt.

Tâm sự về những năm hoạt động trong lãnh vực tình báo, chị Nguyễn Thanh Thủy cho biết, đối với người phụ nữ Việt Nam, công việc hoạt động tình báo quả là một thử thách khó khăn vì người phụ nữ dù làm việc trong lãnh vực nào cũng vẫn không thể quên cái thiên chức làm vợ, làm mẹ đè nặng trên vai. Hơn nữa người tình báo lại là người muôn mặt. Riêng đối với phái nữ thì, có khi là một nữ sinh viên ngây thơ nhí nhảnh, lúc lại là một chị bán hàng rong tất bật lam lũ. Hôm nay là một mệnh phụ đài các, ngày mai có thể là một chị nông dân chất phác quê mùa, v.v... Người cán bộ tình báo nói chung và người nữ Thiên Nga nói riêng hoạt động chẳng khác gì một kịch sĩ. Cái khó khăn là phải biết nhập vai sao cho chính xác mà vẫn không bị lộ. Cho nên để bảo toàn bí mật và để hoàn thành những nhiệm vụ được trao, người nữ cán bộ tình báo nhiều khi đã bị mang tiếng là bỏ bê gia đình bởi do nhu cầu công tác có những lúc họ phải đi sớm về khuya, bỏ mặc con ngóng, chồng trông mà không sao giải thích được. Ðó cũng là nỗi khổ tâm của người nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga.

Ngoài những khó khăn trong tình cảm gia đình, người nữ Thiên Nga nhiều khi còn phải đương đầu với lắm gian nan khi nhập vai. Nhiều nữ Thiên Nga xâm nhập vào các tổ chức đối lập khuynh tả nhiều khi cũng phải tham dự vào những cuộc biểu tình, tuyệt thực, chống đối chính quyền nên lắm khi cũng phải hứng chịu hơi lựu đạn cay, dùi cui của chính các đồng nghiệp cảnh sát. Nhưng vượt qua được những khó khăn trở ngại đó, các nữ chiến sĩ Thiên Nga đã nhiều phen tạo được những chiến công to lớn nhưng trong thầm lặng, mấy ai đã biết được những đóng góp của họ cho những chiến công đó. Họ đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam.

Cộng sản cũng rất lưu ý đến những hoạt động của Biệt Ðội Thiên Nga. Những thành quả hoạt động của các Thiên Nga đã làm cho bọn chúng vô cùng tức tối. Vì vậy, sau ngày 30 tháng 4, 1975, hầu hết những cán bộ điều khiển của biệt đội đều phải trải qua nhiều năm trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản. Mặc dù vậy họ vẫn giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những gian lao của bao năm tháng tù đày. Trong những ngày cuối cùng khi biết miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, với tinh thần trách nhiệm cao độ, chị Nguyễn Thanh Thủy đã kịp thời tiêu hủy tất cả các hồ sơ nhân viên, kể cả danh sách các cảm tình viên và những người phía bên kia hoạt động nhị trùng cho biệt đội. Chị cũng thiêu hủy tất cả các kế hoạch công tác đã hoặc chưa thi hành để kẻ thù không thể khai thác khi chúng tiếp quản miền Nam.

Chị Nguyễn Thanh Thủy đã bị chúng giam cầm đến gần 13 năm, trong đó có 4 tháng bị biệt giam. Khi sức khỏe của chị đã quá suy sụp tưởng chừng không gượng dậy nổi, chúng mới thả cho chị về để chúng khỏi mang tiếng nếu chị chết trong tù. Nhưng như một phép lạ chị đã lần lần phục hồi sau một thời gian được trở về với gia đình. Trong thời gian bị giam, chị đã bị kẻ thù hành xác và khủng bố tinh thần qua các thủ đoạn biệt giam, hăm dọa, bỏ đói,... để moi cung nhưng chúng vẫn không khai thác được gì nơi chị ngoài những điều chúng đã biết.

Ðịnh cư tại quận Cam, Hoa Kỳ, theo diện H.O. từ năm 1992 đến nay, tuy đã lớn tuổi và sức khỏe có phần nào bị hạn chế bởi những năm tháng trong ngục tù cộng sản, chị Nguyễn Thanh Thủy vẫn tỏ ra hăng say và luôn tích cực trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Ngoài việc tham gia trong ban chấp hành Hội CSQG Nam California, khi tổ chức Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại được thành lập, chị đã được cựu Tướng Lê Minh Ðảo, trung tâm trưởng Trung Tâm Ðiều Hợp TTCS/VNCH/HN đề cử vào chức vụ Trưởng Khối Xã Hội của tổ chức này. Chị nói, đã là người Việt thì ai là người không nặng tình với đất Việt, dân Việt, cho nên được dịp phục vụ Tổ Quốc là một điều hãnh diện và danh dự thì làm sao chị có thể chối từ, hơn nữa khi “giặc đến nhà, thì đàn bà cũng phải đánh,” đó là lời tâm sự của chị.

Là cựu biệt đội trưởng Thiên Nga, một cựu cấp chỉ huy về tình báo, chị cảm nhận được rằng đang có những sự xâm nhập của tình báo cộng sản tại hải ngoại và đặc biệt là tại quận Cam, Nam California. Chị Thủy nói, VC đã và đang len lỏi trong cộng đồng bằng những thủ đoạn gây chia rẽ và phá rối dưới nhiều hình thức. Những xáo trộn trong cộng đồng trong thời gian qua không loại trừ khả năng có bàn tay của bọn “đặc tình” (chữ của Việt Cộng để chỉ những tên đặc vụ tình báo) cộng sản nhúng vào.

Kẻ thù đang giấu mặt, chị Thủy nói, chúng ta cần cảnh giác với chúng, bởi vì cộng sản rất tinh vi và quỷ quyệt, chúng lại sẵn có phương tiện tài chánh dồi dào trong tay, nên nếu chúng ta không tỉnh táo sẽ rơi vào bẫy sập của chúng.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Trận giải tỏa ĐềGi và trận đánh phản công tấn chiếm phi trường Phù Cát
qua tài đánh giặc của “Mãnh Sư” Nguyễn Mạnh Tường.
Trích đọan truyện ngắn “Chiến trường Bình Định với Mãnh sư Nguyễn Mạnh tường trong tuyển tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử” – do Lê Khắc Anh Hào biên soạn.…

Chiến trường Bình Định – không phải mãi sau này – mà ngay từ thờ kháng chiến chống Pháp, đã luôn luôn là một chiến trường sôi động. Những địa danh An Khê, Hoài Ân, An Lão . . . mãi mãi là dấu ấn kinh hoàng cho những binh đoàn viễn chinh Pháp, một phần vì địa thế chiến lược của vùng đất này, một phần khác là lòng người. Thời kháng Pháp, quân đội viễn chinh Pháp, dù đã nhiều phen dồn mọi nỗ lực, vẫn không chế ngự và kiểm soát được, và cũng chính vì thế, một số không nhỏ những người yêu nước đã bị cộng sản Hà Nội lừa gạt bởi chiêu bài Dân Tộc trá hình, đã chiến đấu dũng mãnh trong hàng ngũ của họ.
Sau Hiệp định Genève, một số tập kết ra Bắc, một số lớn ở lại âm thầm tạo dựng cơ sở. Dân chúng Bình Định, với truyền thống yêu nước của vùng đất Quang – Trung, đã bị tuyên truyền bịp bợm về ngọn cờ Dân Tộc trá hình, nên một số lớn dân chúng Bình Định hướng về Hà Nội. Thế nhưng, nét đăc thù của người dân Bình Định là phân minh, Quốc, Cộng rạch ròi, chính sự phân định ấy đã đưa đến thảm trạng tương tranh khốc liệt. Biết rõ điều này, Quân khu 5 của Cộng quân luôn coi chiến trường Bình Định là chiến trường chủ yếu mang tính quyết định, nên họ dồn mọi nỗ lực, tuyên truyền, vận động để đẩy rộng thêm sự chém giết tương tàn, gây hận thù chồng chất.
Chiến trường Bình Định luôn có mặt những đơn vị cộng sản thiện chiến nhất của Quân khu 5. Khi Chu Huy Mân nắm quyền Tư Lệnh, y điều động Sư đoàn 3 Sao vàng “anh hùng”, với những Tiểu đoàn quyết tử, Tiểu đoàn 405 trinh sát đặc công được trao tặng cờ đỏ, với Trung đoàn Địa phương và các huyện đội tinh nhuệ được đặt dưới quyền điều động của những cán bộ cuồng tín và tàn bạo bậc nhất, chưa kể đến vào những năm 1965, được tăng cường thêm Trung đoàn Địa phương Phú Yên dưới sự chỉ huy của ‘Tướng độc nhủ Nguyễn thị Lành, được mệnh danh là Nữ hung thần bất tử.”
Chiến trường Bình Định bùng lên mãnh liệt vào những tháng đầu năm 1965, giữa lúc mà cuộc diện chính trị VNCH đang nổi trôi trong sự bất ổn, những trận đánh ác liệt diễn ra khắp nơi trải dài từ Phù Ly đến tận Bồng sơn với các mặt trận Phù Ly, Đại Thuận, Phù Mỹ, Đèo Nhông, Diêm Tiêu, Vạn Bảo, Phù Cũ . . . đã mở màn dường như cùng một lúc. Chẳng phải bỗng dưng mà tháng 9/1965 sư đoàn Anh Cả Đỏ (SĐ1 Không kỵ ), rồi lần lượt sư đoàn 101, lữ đoàn 173rd Dù đều là những đơn vị thiện chiến nhất của Hoa Kỳ đã phải thay nhau có mặt tại Bình Định , chế ngự An Khê và mật khu Kon Hanùng. Chẳng phải khi không mà sư đoàn Mãnh Hổ bậc nhất của quân đội Đại Hàn được giao sứ mạng trải dài bảo vệ quốc lộ 19, nhưng vẫn không chu toàn việc bảo vệ trọn vẹn sinh lộ này….
…Sau những nỗ lực giải tỏa áp lực địch tại các quần phía Nam, tháng 7/1972, cuộc hàng quân tái chiến Bắc Bình Định với Sư Đoàn 22/BB làm nỗ lực chính đã đánh bật Cộng quân ra khỏi 3 quận phía Bắc, cùng lúc Sư Đoàn 2/BB thuộc quân khu với sự tham chiến của Biệt Động quân đã đánh bật Cộng Quân ra khỏi cửa khẩu Sa Huỳnh, tình hình chiến sự đã tương đối lắng dịu. Thế nhưng, với cái nhìn của những nhà quân sự, thì đây là giai đoạn tĩnh lặng trược giông tố, địch đang phối trí và sửa soạn cho một chiến trường khốc liệt khác. Chính vì dự đoán như thế, Trung tướng TL/QĐ 2 Nguyễn Văn Toàn đã đặc biệt triệu tập Đại Tá Hoàng Đình Thọ Tỉnh trưởng kiêm TKT và Trung tá Nguyễn Mạnh Tường tiểu khu phó tại biệt thự Hương Cầm tại Qui Nhơn.
Ghi chú: Tr/tá Tường được bổ nhiệm về làm TMT trường Đại học CCCT, nhưng ông đã xin được ở lại với chiến trường Bình Định đang cực kỳ sôi động. Đại tá Hoàng Đình Thọ đương kim Tỉnh trưởng Quảng Tín, được thuyên chuyển về nhận chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định. Đại tá Thọ là một sĩ quan kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, từ đó, bộ mặt của Tiểu Khu đổi thay hẳn với thành phần dưới ông: – Tiểu Khu Phó : Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường….
Sau những quan ngại về những mưu đồ của địch trong tương lai, ông nói (Theo lời Trung tá Tường thuật lại sau này):
- “Quân Đoàn 2 với một vùng trách nhiệm quá rộng lớn, lại là một vùng với áp lực địch luôn luôn rất nặng, vậy mà dưới tay tôi, chỉ có 2 Sư Đoàn 22 và 23, gần 8 Trung Đoàn BB, riêng Bình Định đã cầm chân thường xuyên 2 Trung Đoàn, với 6 trung đoàn còn lại, phải đảm trách một lãnh thổ quá rộng, với áp lực địch càng lúc càng gia tăng, tôi xin hai anh giúp tôi, bằng mọi cách cố gắng dùng lực lượng ĐPQ và NQ thay thế phần trách nhiệm của hai “thằng” 40 và 41 { Trung đoàn 40 & 41) để tôi có thêm khả năng đối phó với tình hình sắp tới, mà tôi tiên đoán rằng, mỗi lúc một ác liệt. Tôi đề nghị anh Thọ giao trách nhiệm quân sự cho anh Tường, tôi đặt hết niềm tin vào các anh!”

Những tháng ngày kế tiếp sau đó, tôi chưa hề thấy Trung tá Tường có lấy một phút nghỉ ngơi, ngay cả khi phu nhân và các con của Trung tá từ Sài gòn ra Qui Nhơn thăm chồng, bà đã phải chờ đợi suốt cả tuần lễ vẫn chưa được gặp mặt chồng. Người chiến binh tận tụy ấy đã quên cả hạnh phúc cá nhân, quên cả chính thân mình. Ông ăn uống kham khổ cùng với binh sĩ của ông. Ông có mặt khắp nơi, từng đơn vị nhỏ nhất, săn sóc, an ủi, giải quyết những ưu tư của binh sĩ. Ông theo dõi, kiểm tra, lựa chọn, tổ chức, huấn luyện những binh sĩ ĐPQ &NQ, lựa chọn trong số các đơn vị thuộc quyền các chiến binh mà kinh nghiệm cũng như lòng can trường cùng khả năng chiến đấu để thành lập những đơn vị xung kích và trinh sát bằng những khóa huấn luyện đặc biệt. Binh sĩ, qua lớp huấn luyện có thể đảm đương mọi nhiệm vụ đặc biệt được giao phó, kể cả các chiến thuật Diều hâu bằng Trực thăng vận. Liên đội Trinh sát Tiểu khu với hai Đại đội bao gồm các chiến binh can trường và thiện chiến được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung úy Khuynh, một trong những sĩ quan ưu tú của quân lực. Liên đội trinh sát ấy đã làm nên những chiến công hiển hách, không phụ tấm lòng kỳ vọng của ông.
Nhờ thế, sau một thời gian ngắn, khí thế của lực lượng ĐPQ & NQ Bình Định đã vươn lên, không hề thua sút bất cứ đơn vị thiện chiến nào. Họ không những bảo vệ an toàn các trục lộ huyết mạch, ngăn chặn một cách hữu hiệu mọi ý đồ của địch, mà còn mỗi lúc mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối năm 1972, tình hình an ninh mỗi lúc một khả quan và tinh thần binh sĩ đã lên cao trông thấy, địch cùng lúc càng bị dồn vào thế co cụm.

Trận đánh giải tỏa Đề Gi

Cứ điểm Đề Gi là một mõm đất, là một cửa biển giáp ranh giữa hai Quận Phù Mỹ và Phù Cát. Nơi này là căn cứ Hải quân quan trọng đặt dưới quyền chỉ huy của Hải quân Thiếu tá Cát. Về phía bắc, qua một lạch nước rộng, thông từ biển vào Đầm Nước Ngọt là Đài Kiểm báo được xây dựng trên một đỉnh núi lẻ. Phía tây của căn cứ là Quốc lộ 1, nối liền với căn cứ từ cầu Phù Ly là tỉnh lộ dài 21km chạy song song với một dòng sông nhỏ, đổ vào Đầm Nước Ngọt, kẹp giữa sườn phía Bắc dẫy núi Bà (còn gọi là Hòn chung). Đề Gi là một cửa khẩu chiến lược với Đài Kiểm báo được trang bị tối tân, có thể kiểm soát cả một vùng biển Đông bao la. Từ cửa khẩu này tiếp nối với căn cứ địa 226 nằm giữa vùng núi non, tiếp giáp 3 Quận Phù Mỹ, Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, mở xuống một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam thuộc các quận Bình Khê, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước.
Từ khi cửa khẩu Sa Huỳnh bị Sư đoàn 2 tái chiếm, cắt đứt mọi khả năng vận chuyển lương thực và vũ khí của địch từ biển đông tiếp vận cho nội địa, Sư đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng vì lệnh từ Hà Nội và Quân khu 5 CS, bằng mọi cách phải chiếm được ít nhất một cửa khẩu để dùng làm địa bàn sau khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Trong khi mọi nỗ lực của Sư đoàn 3 Sao vàng và lực lượng địa phương của chúng hoàn toàn bất lực trong nhiệm vụ nống lấn mở rộng vùng kiểm soát, không những thế, cón bị các lực lượng ĐPQ&NQ đẩy vào thế bị động, luôn luôn bị săn đuổi. Cuối cùng Chu Huy Mân phải chấp nhận kế hoạch Tổng lực do viên Thiếu tá CS là Võ văn Ứng đệ trình. Chu Huy Mân bổ nhiệm Ứng làm Lữ đoàn trưởng thực hiện kế hoạch (mà Ứng đã đệ trình với sự cam kết chiến thắng), Lữ đoàn bao gồm 7 Tiểu đoàn thiện chiến của Sư đoàn 3 Sao vàng gồm: 5 Tiểu đoàn Bộ chiến,1 Tiểu đoàn Đặc công,1 Tiểu đoàn Pháo và Lực lượng tổng lực của Huyện đội Phù Cát.

Với một nghiêm lệnh là bằng mọi giá phải chiếm cho bằng được căn cứ Đề Gi, bất kể Hiệp định đình chiến đã có hiệu lực. Cuộc chiến bùng nổ vào rạng sáng ngày 27/1/1973. Đài Kiểm báo do lực lượng của Duyên đoàn 21 Hải quân trấn giữ, bất thần bị Tiểu đoàn Đặc công địch tràn ngập. Núi Gềnh là một mõm núi thuộc dãy Núi Bà nhìn xuống căn cứ Hải quân, trước đây do một đơn vị của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, đã âm thầm rút đi, không thông báo, bỏ trống, không bàn giao lại cho lực lượng Việt Nam, bị Huyện đội cộng sản Phù Cát chiếm giữ.



Lúc 8 giờ sáng ngày 27/1/73, phút đầu tiên của Hiệp định đình chiến có hiệu lực, căn cứ Đề Gi bị tấn công bằng tất cả sức mạnh của Lữ đoàn cộng sản. Hỏa lực địch từ Núi Gềnh, từ Đài Kiểm báo với hàng ngàn trái đạn rót vào căn cứ. Căn cứ được phòng thủ bởi lực lượng Hải quân đồn trú, quân số chỉ bằng 1/10 lực lượng địch, anh dũng đánh trả và đẩy lui nhiều đợt xung kích, gây nhiều tổn thất về nhân mạng cho địch. Gặp sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng phòng thủ, chúng bắc loa kêu gọi đầu hàng. Qua máy, Thiếu tá Cát lên án hành vi vi phạm Hiệp định đình chiến của chúng, Tên Lữ-đoàn trưởng, Thiếu-tá CS Võ văn Ứng lý luận là theo giờ Hà Nội, lúc này chưa phải đúng giờ đình chiến. Đồng thời y chặt đầu một Nghĩa quân mà chúng bắt được, bỏ cái xác không đầu của người lính tội nghiệp lên xe lam, chở xác người Nghĩa quân đến cổng căn cứ Hải quân, với những lời đe dọa ” Hàng thì sống, chống chặt đầu, quyết không bỏ sót!”

Hành động bạo tàn này đã không làm cho những chiến sỹ trú phòng sợ hãi, ngược lại, càng khiến tăng thêm ý chí quyết chiến đấu trở thành sắt thép hơn, càng quật nát từng đợt tấn công liều chết của địch. Đạn pháo của địch từ hai cao điểm dội xuống như mưa, trực thăng không thể đáp xuống được, cùng lúc, hỏa lực địch từ núi Gềnh và Đài Kiểm báo khống chế toàn vùng biển.

Cuộc tấn công vi phạm Hiệp Định đình chiến của Việt cộng được thông báo cho UB/QT Kiểm soát Đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù-cát, và yêu cầu UB/KS/ĐC ký vào biên bản. Trước hành vi bạo ngược của những người Cộng sản anh em, viên trưởng đoàn Ba Lan không thể chối cãi, đành phải ký tên vào biên bản (sau này viên trưởng đoàn Ba Lan bị cách chức!!).
Giữa lúc cộng sản dồn mọi nỗ lực nống lấn, chiếm đất, giành dân trước và cả sau giờ đình chiến, các đơn vị diện địa, lực lượng trú phòng tỉnh Bình Địng nói riêng và trên toàn quốc nói chung, đã phải dàn trải khắp nơi, ngăn chặn không cho Cộng quân thực hiện mưu đồ của chúng. Chúng đã gặp phải sức chiến đấu quyết liệt của các chiến sỹ ĐPQ &NQ, không những đã không thực hiện được ý định, mà còn bị thiệt hại nặng nề trên khắp các mặt trận. Ngay cả những trục lộ giao thông quan trọng : Quốc-lộ 1, từ đèo Cù Mông đến Bình Đê, Quốc lộ 19 từ Bà Di lên đến đèo Măng Giang, các chiến sỹ ĐPQ&NQ diện địa đã bảo vệ an ninh lưu thông một cách tuyệt đối không ngờ .

Đứng trước tình hình ấy, Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH đã khẩn cấp không vận Liên đoàn 7/BĐQ của Trung tá Bùi văn Huấn từ Quân khu 1 vào tăng cường, với chỉ thị xử dụng như một lực lượng trừ bị, không được xử dụng làm nỗ lực tham chiến tiên phong. Quân đoàn 2 đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp tại Phi trường Phù Cát để đối phó với tình hình, gồm có Tư lệnh Quân đoàn, Trung tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB với Thiếu tướng Phan Đình Niệm, Tiểu khu trưởng TK/BĐ, Đại tá Hoàng Đình Thọ, TK phó Tiểu khu Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, LĐT/BĐQ Trung tá Bùi văn Huấn, Phụ tá Quân trấn trưởng Qui Nhơn, Trung tá Nguyễn văn Thanh, Quận trưởng Phù Cát Trung tá Đoàn văn Bái, Trung tá Khổng Trọng Huy. . . Cuộc họp để hoạch định kế hoạch hành quân giải tỏa và lựa chọn người chỉ huy cho cuộc hành quân. Giữa lúc ấy, công điện hỏa tốc từ Phủ Tổng thống gởi đến. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã chỉ thị trao quyền chỉ huy tuyệt đối cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường và đòi hỏi phải tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng trong vùng hành quân.
(Sau này được biết là Nhân dân Quận Phù Mỹ và Phù Cát qua đại diện dân cử, đã đệ đơn yêu cầu xin Tổng thống Thiệu trao trách nhiệm hành quân cho Tr/tá Tường vì lý do: Cuộc hành quân Đại Bàng 800, dân chúng bị tổn thất nặng nề, và sau này lực lượng Đại Hàn hành quân khu vực này, sự tổn thất của dân chúng còn bị nặng nề hơn nữa. Riêng Tr/tá Tường, từ khi về Bình Định, với rất nhiều cuộc hành quân, với nhiều cuộc đụng độ với Cộng sản, nhân dân chưa hề bị tổn hại về sinh mạng lẫn của cải…)

Chính vì sự tin tưởng của dân chúng Bình Định, các cuộc hành quân trước đây đều lấy danh hiệu Toàn Thắng. Danh hiệu các cuộc hành quân giải tỏa Đề Gi của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là An Dân. Với tư cách Tư lệnh hành quân, Trung tá Tường xin phép Trung tướng Tư lệnh QĐ2 được bảo vệ tuyệt mật mọi kế hoạch. (Mãi sau này, mọi ý niệm điều quân, Tr/tá Tường luôn luôn bảo vệ một cách tuyệt mật, ngay cả Trung tâm HQ cũng phải giữ im lặng vô tuyến đến tận lúc chiến thắng.)
Việc bảo mật ấy đã thành công trong một chiến thắng lớn khác: Hạ sát tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công 405 Anh hùng, bắt toàn bộ cấp chỉ huy của Tiểu đoàn này, tịch thu rất nhiều vũ khí trong trận đột kích vào sào huyệt của chúng tại ranh giới Bình Định và Phú Yên, bẻ gẫy mũi dùi chúng đang tiến hành tấn công kho xăng và kho đạn của quân khu II tại Đèo Son Bình Định.
Cuộc hành quân này, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đặc biệt giữ kín, ngay cả Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) cũng không hề biết, không một ai hay, thậm chí lực lượng tham dự là các Nghĩa Quân viên được lựa chọn cho cuộc đột kích cũng chỉ được biết vào phút chót. Cho đến khi đích thân Trung Tá Tường lên máy vào lúc 3 giờ sáng, lệnh cho TTHQ gọi ANQD và Quân Cảnh ra phi trường tiếp nhận tù binh và các chiến lợi phẩm.
Ngay cả đến trận phản công giải tỏa Phi trường Phù Cát vào tháng 5/1974 với mưu toan của cộng quân tiêu diệt căn cứ 60 Không quân, cũng bị Trung Tá Tường dùng kỳ binh bất ngờ đánh cho “Sấm sét không kịp bưng tai” khiến Trung Đoàn 2 của sư Đoàn 3 Sao Vàng tan tác.)


Lời yêu cầu được hoàn toàn chấp thuận, và lực lượng được đặt dưới quyền của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường gồm: LĐ/7BDQ. QKI làm lực lượng trừ bị : 2 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 4 1/SĐ 22/BB, 1 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 421/SĐ 22/BB, 1 Chi Đoàn thiết quận vận M.113, 1 Tiểu Đoàn pháo binh, 1 Đại Đội Tr/sát, 1 Pháo Đội 115 ly và 1 Tiểu Đoàn/ ĐPQ/ Tuyên Đức.

So sánh Tương quan, giữa ta và địch, ta 3, địch 5, tức 3/5. Một cuộc hành quân tấn công giải tỏa với quân số tham chiến yếu hẳn hơn địch, trong lúc địch đã sẵn sàng chờ đợi một mặt trận đã được họ bố trí và lựa chọn trước, quả là điều không mấy sáng sủa. Mà thời gian lệnh ấn định là trong 7 ngày phải thanh toán xong chiến trường.
Trong lúc mọi người đều cho rằng cuộc hành quân khó lòng đạt được thành quả tốt đẹp thì Tr/tá Tường lại tin tưởng sẽ chiến thắng. Với lối đánh bất ngờ, yếu tố bảo mật phải được áp dụng triệt để. Ông xin với Th/tướng Phan Đình Niệm, Tư lệmh SĐ22BB để xin được xử dụng Đại đội trinh sát thuộc SĐ để tốc chiếm Núi Gềnh, và một đại đội thuộc LĐ/7BĐQ chiếm lại Đài Kiểm báo là hai cao điểm do 1 Huyện đội Phù Cát và 1 đơn vị đặc công của SĐ 3 Sao vàng quyết tử chiếm giữ. Th/tướng Niệm đã thoái thác cho rằng Đại đội Trinh sát đang trong thời gian dưỡng quân, khó lòng có thể đảm nhận tốt được trách nhiệm. Thấy vị T/lệnh Sư Đoàn lo ngại sự tổn thất, Tr/tá Tường vui vẻ, nói rằng ông sẽ dùng 1 Đại-đội ĐPQ thay thế Đại đội trinh sát của sư đoàn để thi hành nhiệm vụ vinh dự này.
Không một ai, hay ít ra, trừ viên Tư lệnh Quân đoàn, Tr/tướng Nguyễn văn Toàn, vốn đã biết rõ khã năng điều quân và tài năng của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường, nguyên là Giám đốc Trung tâm Hành Quân/QĐ 2. Th/tướng Niệm tỏ rõ nghi ngờ về khả năng của ĐPQ. Tr/tá Tường khẳng định rằng, một đoàn quân thiện chiến không nhất thiết phải là danh hiệu, mà do được huấn luyện như thế nào, tinh thần binh sỹ ra sao, và cũng còn tùy thuộc vào chính cấp chỉ huy của đơn vị ấy nữa. Ông chỉ xin riêng với Tr/tướng tư lệnh Quân đoàn cặp lon Đại úy để thăng cấp tại chỗ cho viên Trung úy Đại đội trưởng Đại đội Địa phương quân này, và Trung tướng Toàn chấp nhận yêu cầu ấy, nếu đạt được chiến thắng.

Ngay sau khi rời khỏi phòng họp, Tr/tá Tường đã đến Tiểu đoàn 209/ĐPQ do Đ/úy Nguyễn Bá Gạt làm Tiểu đoàn trưởng. Ông gặp riêng Tr/úy Phước, Đại đội trưởng Đ/đội 1/209 và ngỏ ý muốn xử dụng Đại đội này đánh chiếm Núi Gềnh bằng chiến thuật tốc chiến, chỉ xử dụng lựu đạn trong trận đánh, và ông hứa, nếu chiến thắng, ông sẽ tức khắc gắn lon Đại úy ngay tại mặt trận. Tr/úy Phước cũng hứa rằng ông sẽ chiếm Núi Gềnh một cách dễ dàng, không quá 30 phút.
(Tr/úy Phước kể rằng, từ thuở nhỏ, ông thường chăn trâu trong khu vực này nên mọi địa thế của Núi Gềnh ông biết rõ hơn ai hết, và lối tấn công bằng lựu đạn là hiệu quả nhất) Tr/tá Tường bàn thảo việc tiến công với người Sĩ Quan mà ôâng đã hiểu rõ và đã lựa chọn, duy nhất ông đòi hỏi Tr/úy Phước không được tiết lộ bí mật hành quân với bất cứ ai, ngay cả với những người thân cận nhất.
Ngày N1, trước nửa đêm, 1 Đại đội BĐQ được đổ xuống tấn công sấm sét vào Đài Kiểm báo, chưa đầy nửa tiếng, Đại đội Biệt Động Quân đã làm chủ tình hình, đánh bật lực lượng đặc công của SĐ 3 Sao Vàng ra khỏi mục tiêu, địch để lại nhiều vũ khí cá nhân và xác chết.
Ngày N lúc 5 giờ sáng, ĐĐ1/209 của trung úy Phước đã tiếp cận mặt trận, bất thần tung hàng trăm trái lựu đạn, chỉ 15 phút sau, Huyện đội Phù Cát lớp chết, lớp bị thương, lớp quăng vũ khí tháo chạy, cuộc chiến thắng của ĐĐ 1/209 trọn vẹn và chớp nhoáng đến nỗi không một ai có thể tin được. Về phía bạn, ĐĐ 1/209 chỉ duy nhất 1 binh sĩ bị thương nhẹ vì chính mảnh lựu đạn của mình. Cùng thời gian ấy, Tiểu đoàn của Trung đoàn 42 do đại úy Trí (Năm 1975 là Tr/ Tá) làm tiểu đoàn trưởng, đã từ chân phía Nam Núi Bà, vượt đỉnh núi, tràn xuống đánh như bão táp vào sau lưng địch. Cuộc tấn công bất ngờ đến nỗi trên tư lệnh Lữ Đoàn địch quẳng cả “Xắc-cốt” với toàn bộ tài liệu tháo chạy, 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cũng đồng loạt tràn ngập, địch không kịp phản ứng, bỏ chạy tháo thân.
Cũng ngày N, Chi đoàn M.113 thiết quân vận cũng đổ bộ lên bãi biển cách phía Nam căn cứ vài Km, nhất loạt tấn công hoàn toàn lực lượng địch đang vây hãm căn cứ Đề Gi, gần như toàn bộ pháo binh của địch quẳng lại, chúng đạp lên xác đồng đội mà tháo thân.
Cuộc hành quân truy kích bắt đầu và chỉ đúng 5 ngày sau ngày N, cuộc hành quân đã hoàn toàn chiến thắng, không một tổn thiết về phía bạn. Cuộc hành quân An Dân 1/73 hoàn tất bao gồm cả nhiêm vụ và công tác An Dân, công tác An Dân 1 ĐĐ SVSQ/CTCT Đà Lạt đảm trách trong giai đoạn thực tập công tác Dân Sự Vụ trước khi mãn khóa khóa 3/SQ/CTCT với 5 ngày vừa chiến thắng, vừa ổn định cuộc sống của nhân dân vùng Phù Mỹ và Phù Cát, không một người dân nào bị thiệt hại về sinh mạng và tài sản, bảo đảm 100% toàn vẹn mệnh lệnh do Phủ Tổng Thống trao phó, xứng đáng với tấm lòng tin tưởng và ưu ái của nhân dân Bình Định ủy thác.

Và ngay hôm sau, Tổng Thống Thiệu mời tất cả các Đại Sứ của các nước đến thăm viếng Đề Gi mới được giải tỏa, với tất cả mọi chứng tích về cuộc vi phạm Hiệp Định Đình Chiến của Cộng Sản VN, và Tổng Thống đãi các đại sứ một bữa gỏi cá cơm nổi tiếng ở Đề Gi, miền đất nổi danh của các chiến sĩ âm thầm, các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa quân Bình Định…
(Khoảng tháng 6 năm 1973, viên Thiếu tá Võ văn Ứng bất chợt về hồi chánh. Theo lời khai của y, với trận Đề Gi thất bại, 3/4 lực lượng tham chiến thuộc Lữ đoàn CS bị loại khỏi vòng chiến, một số lớn tử thương, không kể bị thương và bị bắt. Sư đoàn 3 Sao vàng rúng động, Quân khu 5 CS ngẩn ngơ, Hà Nội tím ruột. Ứng bị giáng cách tuột xuống chuẩn úy. Khi về hồi chánh, y tha thiết xin được gặp người đã làm cho y thân bại danh liệt: Trung tá Nguyễn Mạnh Tường.
Võ văn Ứng quê ở Hoài Nhơn, Bình Định, một sỹ quan nổi danh của SĐ3 Sao vàng, xuất thân từ hàng ngũ binh sỹ đi lên, chiến trận dạn dày. Trung tá Tường tiếp y với nụ cười ân cần, hiền hòa và bình dị. Y thật lòng thú nhận là y không thể ngờ được có ngày y bị bại trận một cách nhục nhã đến như thế. Tuy nhiên y rất khâm phục về phương cách điều quân lạ lùng và chớp nhoáng mà y không hề nghĩ tới, duy có một điều y bất phục:
- “Thưa ông, nếu tôi là ông, thì hai Tiểu-đoàn còn lại của tôi sẽ không thể nào chạy thoát, sẽ không còn một người nào sống sót, bằng cách xử dụng phi pháo và chặn đánh.”
Trung tá Tường vẫn nụ cười hiền hậu, đưa phóng đồ hành quân ra và nói:
- “Ông hãy xem đây, tôi đã dự tính hơn những điều ông nói, tuy nhiên, nếu tôi thực hiện điều đó, người dân vô tội sẽ tổn thất không nhỏ về nhân mạng và tài sản. Với tôi, dù nếu để tiêu diệt trọn hai tiểu đoàn tẩu thoát của các ông, đổi lại, chỉ một người dân phải chết oan uổng, tôi nhất quyết không làm!”
Ứng không ngờ là trong đời y, y đã gặp được một danh tài quân sự, mà lại càng không ngờ trong đời chiến trận sinh tử lại có một tấm lòng nhân ái đến như thế…

Trận đánh giải tỏa phi trường Phù Cát…

Sau trận Đề Gi, tiềm năng quân sự của Sư đoàn 3 Sao vàng bị hao hụt trầm trọng, các hoạt động quân sự của địch hầu như suy giảm hẳn. Hai Liên đoàn 4 và 6 Biệt Động tăng cường chế ngự địch tại hai Quận Hoài Nhơn và Tam Quan. Hoài Ân và một phần quận Phù Mỹ do trung đoàn 41 đảm trách. Tình hình an ninh tương đối ổn định. Quốc lộ 1 và 19 thông suốt, do các lực lượng ĐPQ và Nghĩa quân đảm trách. Bọn Cộng sản gửi văn thư tố giác đích danh Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là luôn luôn nống lấn, vi phạm Hiệp định đình chiến. Nực cười là lời tố giác nầy lại đứng trước một thực tế mà viên Trưởng đoàn Kiểm soát đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù Cát đã phải thừa nhận là chính cộng sản đã vi phạm . Thêm vào đó, các vị đại sứ của các quốc gia đã đích thân đến thăm căn cứ Đề Gi ngay sau khi quân lực ta tái chiếm, đã là những nhân chứng đáng tin cậy nhất. Do đó, văn thư tố giác Trung tá Nguyễn Mạnh Tường rơi vào khoảng không.

Trong suốt thời gian từ tháng 1/1973 cho đến tháng 4/1974 các ấp an ninh từ loại “V” được dần dần nâng lên loại A càng lúc càng nhiều, khu vực vùng đai an ninh thị xã Qui Nhơn mỗi lúc một mở rộng thêm, dù rằng địch cố gắng giành giật nhưng hầu như hoàn toàn thất bại.
Cũng thời gian này, tuy rằng tình hình quân sự tương đối lắng dịu, lại chính là giai đoạn vất vả nhất đối với Trung tá Tường. Ông thường xuyên có mặt ở khắp nơi, vừa luyện quân, vừa tổ chức, phối trí lại tất cả lực lượng dưới quyền. Một trong những đơn vị mà ông đã bỏ công sức để thành lập, huấn luyện đó là Liên đội Trinh sát của Tiểu khu. Ông đi đến từng các Trung đội ĐPQ và Nghĩa quân, tìm hiểu và lựa chọn đến từng binh sỹ. Ông tìm hiểu hoàn cảnh, đời sống, tâm tư và tình cảm của tất cả các chiến binh, lựa chọn các cấp chỉ huy dũng lược để bổ nhiệm vào các chức chỉ huy từ Tiểu đội trưởng trở lên. Trung úy Khuynh được bổ nhiệm làm Liên đội trung Liên đội Trinh sát Tiểu khu, với quân số khoảng 2 đại đội. Sự lao tâm khổ trí của ông đã được đền bù trong trận đánh giải vây căn cứ 60 KQ/Chiến thuật của Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, trú đóng tại Phi trường Phù Cát.
Phi trường Phù Cát là một phi trường quân sự lớn, do Không lực Hoa kỳ xây dựng vào những năm 1966-1967. Căn cứ nằm giữa ranh ba quận An Nhơn – Bình Khê và Phù Cát, kéo dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, chạy dài từ núi Vân Sơn, cạnh dòng sông Côn, lên đến tận Núi Một, kế cận cầu Phù Ly thuộc quận Phù Cát. Phi trường Phù Cát rộng lớn, hơn cả phi trường Phú Hiệp (Phú Yên). Tất cả các loại phi cơ phản lực có thể lên xuống một cách dễ dàng. Khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam, Đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyền tiếp nhận phi trường và trở thành chỉ huy trưởng căn cứ 60/KQ/CT. Từ căn cứ này xuất phát tất cả mọi loại phi vụ yểm trợ đắc lực nhu cầu chiến trường trong một vùng hoạt động rộng lớn.

Vào một buổi sáng ngày Chủ nhật, tháng 5 năm 1974, Đại tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh trưởng kiêm TKT/TKBĐ đi họp tại SaiGòn, Tr/Tá Tường xử lý thường vụ chức vụ tiểu khu trưởng trong lúc Đại tá Thọ vắng mặt. Trời còn rất sớm, Thượng Sĩ Nguyễn Đình Đốc, một hạ sỹ quan đầy tài năng và kinh nghiệm (hiện Th/Sĩ Đốc đang cư ngụ tại Canoga Park, Nam California) của phòng 2/Tiểu khu trình cho Tr/tá Tường một bản điện văn của địch đã được giải mã, nội dung vỏn vẹn gồm 10 chữ “Quân Át Chủ Bài đã vào vị trí tập kết”. Nội dung ấy nói lên rằng SĐ 3 Sao Vàng của quân khu 5 sắp khai diễn một cuộc tấn công có tầm mức rất quan trọng, tuy nhiên không rõ được mục tiêu mà chúng đã lựa chọn.
Là người chỉ huy luôn luôn nắm vững mọi tình hình lực lượng bạn, với một hệ thống tình báo riêng, ông còn biết rõ địch tình, lực lượng và những thói quen, cùng tích nết của các cấp chỉ huy của Sư đoàn 3 Sao Vàng. Ông theo dõi những chuyển dịch của lực lượng địch một cách cập nhật, với sự thận trọng và khách quan, đồng thời loại bỏ từng mục tiêu cùng khả năng chuyển quân của chúng.

Cuối cùng ông đã khẳng quyết rằng: Mục tiêu của con ” Át chủ bài” này chính là căn cứ 60 Không Quân chiến thuật. Lập tức ông điện thoại cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, chỉ huy trưởng căn cứ, cũng may Đại tá Tuyền còn tại nhà (căn cứ 60), và ông cho biết là có một chuyện cực kỳ quan trọng cần thảo luận với Đại tá Tuyền và yêu cầu Đại tá Tuyền ở nhà chờ ông, mà vì tính chất quan trọng của vấn đề ông không thể nói trên điện thoại được. Đại tá Tuyền đã khẩn cấp đưa trực thăng đón Trung tá Tường ngay tức khắc….

Để giữ bí mật, chỉ có hai người chỉ duy nhất trong cuộc họp mật này. Trung tá Tường cho Đại tá Tuyền biết chỉ trong đêm nay Cộng quân sẽ tấn công căn cứ 60/KQ CT. Lực lượng địch “Con át chủ bài” chắc chắn phải là một lực lượng cực kỳ hùng hậu.
Phòng ngự căn cứ gồm các lực lượng yểm cứ và quân nhân cơ hữu của không quân, ngoài ra từ trước, căn cứ được tăng cường tiểu đoàn 263 ĐPQ do Thiếu tá Phạm Hữu Kỳ làm Tiểu đoàn trưởng với quân số chừng 600 binh sĩ. Tuy nhiên, căn cứ quá rộng, lực lượng phòng thủ phải phân tán quá mỏng. Đường phi đạo nằm dọc theo chiều Bắc Đông Bắc và Nam Tây Nam, do đó căn cứ cũng phải trải dài theo chiều dài phi đạo.
Sườn phía đông của căn cứ là khu dân cư dầy đặc của 3 quận An Nhơn, Phù Cát và Tuy Phước, địch không có khả năng che dấu và di chuyển vũ khí nặng, do đó chắc chắn mũi tiến công của cộng sản từ sườn phía Tây của căn cứ, khu vực thưa thốt dân cư, xa xa ở phía Tây là dẫy Núi Vĩnh Thạnh, trùng điệp tiếp giáp với các mật khu của địch, cánh đồng phía Bắc quận Bình Khê, từ Gò Đề trở lên là khu đất cằn cỗi, do nước lũ từ triền dẫy Vĩnh Thạnh đổ xuống, năm từng năm xoi mòn làm thành những con lươn sỏi đá khô cằn, những con lươn này, là một địa thế lý tưởng cho cuộc chuyển quân, ém kín và tiếp cận mục tiêu của địch từ dẫy núi Vĩnh Thạnh chạy sang phía Đông, tiếp giáng Phi Trường Phù Cát.
Sườn phía Tây có hai ngọn đồi cao, một ở phía Bắc Tây Bắc nằm bên trong vòng đai phòng thủ là ngọn đồi 69, do một trung đội thuộc Tiểu đoàn 263 ĐPQ trấn ngự. Một ngọn đồi khác nằm hướng chính Tây mang tên Đồi 151 nằm cách căn cứ chừng 1 km do 1 Trung đội Nghĩa Quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng.

Muốn tấn công một mục tiêu rộng lớn và quan trọng như căn cứ 60/KQ/CT Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ứớc tính lực lượng địch phải từ cấp trung đoàn trở lên, được tăng cường lực lượng phòng không, pháo binh, hỏa tiễn nhằm khống chế các phi cơ của căn cứ, không cho cất cánh, đồng thời phá hủy tất cả những kho lẫm và những mục tiêu trọng yếu, mà chắc chắn chúng đã có được sơ đồ chi tiết do bọn nội tuyến cung cấp. Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ ra lệnh cắm trại 100% đồng thời mọi kế hoạch phòng thủ được âm thầm tiến hành sẵn sàng chờ địch. Đứng trước tình hình nghiêm trọng ấy, trong tay Trung tá Tường không còn bất cứ một lực lượng trừ bị nào ngoài Liên đội Trinh sát Tiểu khu của Trung úy Khuynh với quân số khoảng 250 binh sĩ. Phòng ngự không để cho địch tràn ngập căn cứ là thiết yếu, nhưng phản công tiêu diệt địch lại là một vấn đề quan trọng hơn.
Giữa lúc ấy, một đoàn xe chở một Tiểu đoàn Biệt động quân về thụ huấn tại TTHL/Lam Sơn, đang di chuyển ngang qua Tỉnh Bình Định,Trung tá Tường, sau rất nhiều khó khăn trong buổi sáng Chủ nhật ấy, mới xin phép được Thiếu tướng Phan Trọng Chinh, để được sử dụng Tiểu đoàn BĐQ này để tăng cường phòng thủ cho phi trường, tuy nhiên không được sử dụng Tiểu đoàn làm lực lượng tấn công, giải tỏa. Biết chắc chắn là với lực lượng còn lại, không đủ khả năng tấn công trực diện địch mà phải sử dụng kỳ binh tốc chiến, tốc thắng, âm thầm đánh vào sườn địch vào giữa lúc bất ngờ nhất, Trung tá Tường đã xin lệnh Quân đoàn được phép xử dụng Chi đoàn Thiết giáp đang trú đóng tại An Khê để bảo vệ trục lộ cho các đoàn xe tiếp tế từ Qui Nhơn lên Pleiku. Tuy nhiên Trung tướng Toàn, Tư lệnh QĐ2 đã đi họp tại Sàigòn, Ch/tướng Cẩm, Tư lệnh phó không có mặt, Sĩ Quan trực TTHQ cho biết không biết Ch/tướng Cẩm ở đâu trong ngày chủ nhật hôm ấy.

Trước tình trạng cấp bách, Trung tá Tường xử dụng trực thăng do Đại tá Tuyền biệt phái, đáp xuống An Khê, gặp Trung úy Mỹ, Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp, giả lệnh của Quân đoàn, đặt chi đoàn dưới quyền điều động của ông, đồng thời ông cũng ra lệnh đình hoãn tạm thời các đoàn công voa tiếp tế lên Cao nguyên cho đến khi có lệnh mới. Chi đoàn thiết giáp được lệnh đổ đèo An Khê xuống Bình Khê chờ lệnh.
Ông trình bày kế hoạch tấn công, nhiệm vụ của Chi đoàn và Liên đội thám sát Tiểu khu, có trách nhiệm tấn công sườn phía Nam của địch, tuyến xuất phát từ phía Bắc bờ sông Côn khi có lệnh. Kế hoạch của ông là, Liên đội Thám sát tùng thiết đánh thốc từ phía Nam lên với sức mạnh hỏa lực tối đa, với vận tốc tối đa, không được dừng lại để thu nhặt chiến lợi phẩm mà phải chia cắt nát mặt trận của địch. Trong khi ấy, ông sẽ dùng Tiểu đoàn BĐQ giả làm lực lượng tấn công trực diện, với tất cả hỏa lực và những vũ khí cộng đồng để thu hút địch.

Trung tá Tường đáp xuống bờ bắc sông Côn, cách Đền thờ Đức Quang Trung khoảng 50m, dẫn Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh cùng ông vào điện thờ làm lễ dâng hương, xin anh linh thần dũng của người Anh hùng năm xưa, đã chớp nhoáng đánh tan 20 vạn quân Thanh vào đầu Xuân năm Kỷ-dậu 1789, phù trợ cho các chiến binh hậu duệ của Ngài. Sau đó ông cùng Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh lên trực thăng đi thám sát địa thế, bởi vì địa hình khu vực Bắc Bình Khê, Tây Phù Cát, An Nhơn có nhiều bất lợi cho cuộc tấn công chớp nhoáng bằng thiết giáp, do đó người chỉ huy phải nắm vững địa hình một cách chặt chẽ.

Sử dụng 1 Chi đoàn Thiết giáp với một Liên đội làm mũi nhọn, làm chủ lực tấn công một địch thủ mà quân số và hỏa lực gấp 10 lần là một điều ít ai dám làm, thậm chí không dám nghĩ tới. Thế nhưng trong chiến sử cổ kim và đông tây đã từng xảy ra với các danh tướng đã từng chiến thắng trong mỗi hoàn cảnh với những yếu tố bất ngờ, thần tốc …
Đêm chủ nhật hôm ấy, các chiến binh căn cứ Không Quân/Chiến Thuật trong tư thế sẵn sàng chờ địch. Và quả nhiên, cộng quân mở đầu cuộc tấn công bằng hàng ngàn trái đạn đủ loại. Tiểu đoàn Trinh sát Sao vàng ồ ạt tấn công cao điểm 151 do Trung đội Nghĩa quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng. Đồi 151 bị địch tràn ngập và chiếm ngự, chúng dùng điểm cao nầy để chế ngự phi trường. Riêng ngọn đồi 69 nằm trong vòng đai phòng thủ Bắc Tây Bắc phi trường do một trung đội của Tiểu đoàn 263 tử thủ, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Trung đoàn 2 Sao Vàng, Trung đoàn được gọi là “con át chủ bài” nghĩ rằng với yếu tố bất ngờ và với hỏa lực ưu thế, chúng sẽ dễ dàng chọc thủng tuyến phòng ngự và tràn ngập căn cứ một cách dễ dàng. Nhưng chúng không thể ngờ, các chiến sĩ của căn cứ đã chờ đợi chúng và bằng tất cả sức chiến đấu mãnh liệt, từng đợt tấn công của cộng quân đã bị đẫy lui.

Trong lúc ấy, tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn BĐQ được trang bị bằng những vũ khí hạng nặng, khai hỏa ào ạt, được ngụy trang như những chiến xa, lôi kéo hỏa lực địch, chúng nghĩ rằng những chiến xa của ta bắt đầu xung kích… Giữa lúc địch tấn công vào căn cứ, cũng là lúc Chi đoàn thiết giáp chuyển các chiến binh của Liên đội Thám sát Tiểu khu bắt đầu vượt tuyến xuất phát, âm thầm xuất kích đánh vào sườn trái của địch. Trong bóng đêm mịt mùng, mãi mê vì bị lôi kéo, hòng ngăn chặn thiết giáp đánh ra từ căn cứ (do BĐQ ngụy trang), cả Trung đoàn 2 Sao Vàng và các đơn vị tăng cường dồn hết mọi hỏa lực về phia trước. Chúng không ngờ bên sườn trái, tử thần đang từng phút kề cận. Cho đến khi toàn bộ hỏa lực của Chi đội thiết giáp và Liên đội Trinh sát tấn công ào ào như sấm dậy, như sét đánh không kịp bưng tai, nổi kinh hoàng tràn ngập trận tuyến địch, địch không kịp quay súng, từng lớp bị đốn ngã…

Giữa đêm đen, khi đã phát hiện ra lực lượng tập kích sườn trái, từng lưới đạn vẫn ào ào đổ xuống, lớp chết , lớp bị thương, địch bỏ súng tháo chạy, lớp này cuốn theo lớp khác bị bắn hạ. Toàn thể Trung đoàn 2 Sao Vàng “anh hùng” thoắt chốc tan tác, cuống cuồng tháo thân… Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn trên đồi 151 không hề hay biết, cho đến lúc một đại đội của liên đội Trinh sát tiểu khu do Tr/úy Khuynh chỉ huy, đánh thốc lên từ sau lưng bằng lựu đạn, tên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sao Vàng bị đốn ngã ngay từ phút đầu tiên, cả tiểu đoàn buông súng lao xuống sườn đồi tháo chạy, bất kể phương hướng, chúng kinh hoàng bởi sự đột kích hết sức bất ngờ, tử thần đã từ phía sau ập đến… Xác địch ngỗn ngang trên đồi cao, cùng một số thi thể của các chiến sĩ nghĩa quân đã hy sinh lúc khởi đầu chiến trận. Cuộc tháo chạy kinh hoàng, bỏ lại đủ loại vũ khí trên đường tiến quân của ta. Ngược lại, như một sự linh thiêng mầu nhiệm, lực lượng tấn công của ta hoàn toàn vô sự.
Trung úy Khuynh gỡ chiếc “xà cột”trên vai xác tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng. Mọi ý đồ của địch được ghi chép trong tài liệu bắt được cho thấy trận đánh này chỉ là bước khởi đầu cho một trận tấn công toàn lãnh thổ tỉnh Bình Định. Ý đồ của chúng bị bẻ gẫy, bị đập tan ngay từ bước khởi đầu. Cùng lúc, những tên còn sống sót của Trung đoàn 2 Sư Đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng tháo chạy, Chi khu Phù Cát tổ chức cuộc hành quân trực thăng vận khẩn cấp với 2 Trung đội Nghĩa Quân đổ xuống mục tiêu đã được dự trù, tịch thu được 1 khẩu súng “bắn hỏa tiển” loại mới với những trái đạn khổng lồ còn lăn lóc (đây là một loại vũ khí mới nhất của Trung Cộng, súng dùng để bắn hỏa tiễn với máy nhắm hiện đại. Máy nhắm này phía Hoa Kỳ đã xin mượn để nghiên cứu, vì đây là loại súng bắn hỏa tiễn tối tân nhất của Trung cộng, bị tịch thu ở chiến trường miền Nam, với mức độ chính xác gấp nhiều lần so với dàn phóng hỏa tiễn có từ trước). Ngoài ra còn tịch thu được: 1 súng cối 120 ly, 4 đại bác 82 ly và 1 đại bác 122 ly

Số lượng vũ khí cộng đồng, cá nhân và xác địch quân bỏ lại trên chiến địa không đếm xuể, hầu như toàn bộ lực lượng địch tham chiến bị tiêu diệt gần hết. Một điều kỳ diệu là thiệt hại của lực lượng bạn không đáng kể, ngoại trừ trung đội Nghĩa quân của chi khu Bình Khê trú đóng trên đồi 151 đã hy sinh lúc khởi đầu trận đánh.
Sau chiến thắng, Chuẩn tướng Cẩm, Tư lệnh phó Quân đoàn 2, đề nghị Tướng Toàn phạt Trung tá Nguyễn Mạnh Tường 30 ngày trọng cấm với lý do đã điều động và xử dụng chi đoàn Thiết giáp khi chưa được “ông-tướng-rong-chơi” này cho phép(!!!), trong khi 2 Trung tá Không quân thuộc căn cứ 60/KQ/CT được vinh thăng Đại tá tại mặt trận, một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ được thăng cấp rất hạn chế… Điều bất công ấy đã khiến cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền và toàn thể Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ tham chiến kinh ngạc và phẫn nộ. Ngay cả đến Trung tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn văn Minh cũng tức giận. Trung tướng Minh ra thăm căn cứ K/Q Chiến thuật, cho tổ chức tiệc ăn mừng chiến thắng. Tướng Minh đã ca ngợi và giới thiệu Trung tá Tường với thuộc cấp như vị “ân nhân” của binh chủng Không quân, lệnh cho binh chủng luôn ghi nhớ công sức của người đã cứu nguy và mang lại chiến thắng cho binh chủng, và sẽ luôn phải ưu tiên thỏa mãn cho Tr/tá Tường những nhu cầu công cũng như tư. Đại tá Tuyền từ đó đã dồn mọi ưu tiên không yểm cho Trung tá Tường trong các yêu cầu tại chiến trường. Cũng vì thế, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB đã kiện về Bộ Tổng tham mưu về sự ưu tiên nầy. Bộ Tổng tham mưu đã phái một Đại tá ra điều tra sự kiện thưa gởi ấy. Đại tá Tuyền đã trả lời một cách minh bạch:
- “Điều ấy dễ hiểu, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đã giúp chúng tôi một cách tận lực trong lúc nguy nan, cấp cứu và giải thoát cho những phi đoàn của chúng tôi lúc bị bắn hạ một cách mau chóng. Trong khi ấy, Sư đoàn đã không làm gì trước những yêu cầu như thế. Do đó, chúng tôi phải tận lực yểm trợ cho Trung tá Tường là điều đương nhiên!”
Người chỉ huy và mang lại chiến thắng trong trận Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, bị đối xử như thế, đã khiến Trung tướng Minh bất bình và không thể im lặng, do đó, trong một cuộc họp các tướng lãnh tại Sài gòn, có mặt Đại tướng Trần thiện Khiêm, đương kim Thủ tướng Chính phủ, Trung tướng Minh đã nêu lên thắc mắc này. Đại tướmg Khiêm đã hỏi Đại tướng Cao văn Viên về sự kiện ấy, ông Viên trình bày là “đã hết cấp số!”. Đại tướng Khiêm lệnh mang hồ sơ của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường cho ông đích thân cứu xét, và ngay tức khắc Thủ tướng Đại tướng Trần Thiện Khiêm đã ký nghị định thăng cấp Đại tá thực thụ cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ngay sau cuộc họp. Đó là vào khoảng tháng 8/1974.
Sau khi được thăng Đại tá, một tưởng thưởng muộn màng, Đại tá Tường được thuyên chuyển về làm Phụ tá Hành quân cho tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5BB. Kể từ ngày ấy, tôi không gặp lại Đại tá Tường, mãi cho đến cuối năm 1977 mới gặp lại ông tại Hoàng Liên Sơn trong một lần đi vác nứa. Tôi đã đứng nghiêm kính cẩn chào ông bằng lễ nghi quân cách với những dòng nước mắt nghẹn ngào. Ông vẫn bình thản như ngày xưa, vẫn đôi mắt và nụ cười thuở trước. Dường như sự đày đọa trong tù ngục không ảnh hưởng gì đến ông. Người chiến binh già ấy đã từng làm cho tôi kính trọng thuở nào, càng làm cho tôi kính yêu hơn nữa trong cung cách thản nhiên chịu đựng sự nhục mạ, sự đọa đày hèn hạ trong chốn lao tù.

Bẳng đi bảy năm sau đó, 1984, tôi được gặp lại ông tại Z30A Xuân Lộc, ông sống âm thầm trong cuộc sống đày ải như một bậc chân tu. Ông dạy tôi về Thiền, về khí công, về cách điều tức “sâu-dài-êm-đềm-chậm”. Thì ra chính Thiền công đã khiến ông vượt qua được tất cả, kể cả mọi bệnh tật cũng không xâm nhập được vào cơ thể người chiến binh năm xưa. Thỉnh thoảng ông mới được thăm nuôi, cuộc sống cực kỳ đạm bạc, thế mà ông vẫn chia xẻ những món quà khiêm tốn, ít ỏi cho những anh em đồng tù bất hạnh, không kể thân sơ, chỉ giữ lại cho mình những hủ tương mặn chát. Trong tù, tôi được nghe nhiều người nhắc đến ông trong thời gian ông về làm Phụ tá hành quân Sư đoàn 5, kể lại cuộc rút quân thần kỳ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, cùng những đức tính cao quý, không chỉ những sỹ quan thuộc Sư đoàn 5 mà còn rất nhiều người đã sống bên ông trong quãng đời tù đày.

Mãi đến năm 1992, tôi mới gặp lại ông tại Sài gòn. Ông sống một mình trong một con hẻm đường Công Lý. Ngày từng ngày, ông đi chữa bệnh cho những ai cần đến ông. Ông không nhận bất cứ thù lao nào từ những bệnh nhân được ông chữa khỏi. Những lúc rảnh rỗi, ông lên gác chuông chùa Vĩnh nghiêm đọc kinh Phật.
Năm 1993, tôi bị CSVN bắt lại với án tù 12 năm về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, may mắn được Quốc tế can thiệp và được ra khỏi tù cuối năm 1998.

Đầu năm 1999, tôi sang Mỹ theo diện H.O được chiếu cố vì quá muộn màng. Và vui mừng xiết bao vì lại được gặp lại ông. Nhân lời yêu cầu của nhóm nhà văn quân đội chủ trương thực hiện tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử”, tôi xin phép ông cho phép tôi được viết lại một cách khiêm tốn quãng thời gian ông đã tham dự và chỉ huy các trận đánh ở chiến trường gian khổ Bình Định, cùng những chiến thắng lẫy lừng của các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa Quân âm thầm mà ông chính là người đã, với tài trí và đức độ của mình, đưa đến những chiến thắng thần kỳ trong sự hạn chế và gìn giữ tối đa sinh mạng và tài sản của dân lành vô tội. Ông đã từ chối rất nhiều lần với ý muốn thành khẩn của tôi, khi tôi muốn đưa một tài năng chỉ huy của quân lực vào Quân sử, với lý do là ông đã quên hết trong thế giới của Thiền đạo. Và cũng bởi vì, với kết cuộc thảm khốc của sinh mạng QLVNCH trong tháng Tư đen tối 1975, thì mọi chiến công đã trở thành tận cùng đau đớn, có nhắc lại chỉ thêm đắng cay, mà mỗi người trong chúng ta chỉ nên âm thầm trong sám hối bỡi những hành vi đã có, đóng góp một phần trong cuộc bại trận này.

Theo ông, có 3 đại họa trong thiện hạ là:
1/ Công ít mà bỗng lộc nhiều
2/ Tài mọn mà địa vị cao
3/ Chí nhỏ mà mưu việc lớn.


Tôi hoàn toàn thẩm thấu được nổi đau lòng ấy, nhưng tôi thưa với ông là “VNCH của chúng ta bị bức tử vì nhiều mặt. Tuy nhiên, các chiến-sỹ QLVNCH đã chiến đấu vô cùng anh dũng, biết bao người đã nằm xuống, đã đổ máu xương cho một Việt Nam Tự do, và giờ nầy các chiến binh vô danh cả triệu người đang sống trong tối tăm, trong đọa đày tủi nhục, trong đau đớn ê chề… Vậy thì hãy cất tiếng nói, HÃY TRẢ LẠI DANH DỰ CHO CÁC CHIẾN BINH ÂM THẦM kia, trả lại cho lịch sử mai hậu về một VNCH và một QLVNCH đã có những đứa con xứng đáng trong bất khuất, anh dũng trong hy sinh, vinh hiển trong máu xương oan khuất. Việc nhắc đến, vinh danh những chiến binh đã chiến đấu, đã nằm xuống như dòng nước mát, như nén hương thơm cho Quê Hương Việt Nam thống khổ. Và sau cùng, vì những điều tôi vừa trình bày. Cuối cùng, ông đã đồng ý cho tôi viết những dòng trả lại vinh quang cho những người lính miền Nam.

Trần Thúc Vũ
(Bài đọc được trích từ Việt Luận, xin theo dõi toàn bài trong link ở cuối)
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Post Reply