Chiến Sĩ QLVNCH

Post Reply
Toan_Paris
Posts: 198
Joined: Tue Dec 14, 2004 1:31 am

Post by Toan_Paris »

Hi các anh Phú De, Khiêu Long, Tuyết lạnh, Linh Già :
Các Anh post các bài nhân dịp 30/4 về Người Lính Quân Dội Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm làm tôi xúc dộng thật nhiều.
Cám ơn các anh.
Toàn Paris.

ps: tôi không dánh dược chữ "dê"
làm ơn anh nào biết chỉ dùm

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Nhật Ký viết cho anh Lê Hằng Minh .
Tiểu Đoàn Trưởng - Tiểu Đoàn 2 – Trâu Điên .

Anh Năm ,

1- Thế là xong - chấm dứt cuộc chiến kéo dài hơn hai mươi năm , ta thua- lính tan hàng – dân chạy như đàn kiến vỡ tổ . CS đã chiếm đóng thành phố hơn tháng nay rồi anh Năm .
Anh có biết không anh? Rất nhiều Sỉ Quan tự sát , chết theo thành , những cái chết làm em nhói con tim , anh ơi nếu đời người chỉ một lần chết , thì thà chết như anh em còn thấy đó là Hạnh phúc , những cái chết bây giờ thật bất ngờ và lảng nhách , tụi Ba mươi , vì tư thù cá nhân nó cũng có thể đem anh đi bắn bất cứ lúc nào , nó muốn – đêm tối 2 hay 3 giờ sáng gõ cưả đem đi , và mãi mãi không thấy trở về …. sống thật hồi hộp còn hơn thời trùm bao bố ngày xưa ? Bây giờ em còn ngồi đây , bên phần mộ anh - thắp nén nhang thơm , và viết thư cho anh đọc …Nhưng ngày mai sẽ ra sao , liệu em còn có thể tự do đi đến thăm anh ? Em không biết - đời sống bây giờ chỉ tính bằng ngày …

Ngoài bờ tường kia , là đời sống cuả dân chúng , cuả mẹ con em - sống bằng cách gì ngoài cách bán dần những đồ đạc trong nhà đi ăn , từ bàn ghế giường tủ cho đến cái quạt để bàn , cái xe gắn máy . Rồi sau này không còn gì để bán , thì em cũng không hiểu làm sao để chạy gạo từng bưã hả anh ?? Chợ trời mọc lên khắp nơi , anh nhớ Bẩy Hiền không Trại Nhẩy Dù Hoàng Hoa Thám đó , suốt một đường dài buôn bán tấp nập , từ Lăng Cha Cả kéo dài xuống , trên kia thì đường Trương Minh Giảng có Khu đất trống cuả Giáo Xứ Bùi Phát cũng thành chợ , Saigon thì khỏi nói Khắp nơi , bán đứng bán ngồi – vưà đi vưà trả giá …Khu Dân Sinh - Chợ Cũ thì dĩ nhiên , Bầy luôn cả ra mặt đường kéo dài đến bến Bạch Đằng …. Đâu đâu cũng người là người đổ hết ra đường , bán tất cả những gì mình có …..Độc Lập có chắc không ? hay vẫn phụ thuộc vào Nga với Tầu , còn Tự Do đâu em không thấy , em chỉ thấy toàn bắt bớ và bắn bỏ …..

Anh tin không , ngày hôm qua tận mắt em thấy tại chợ Vườn Chuối , thằng bé cỡ chừng 9 , hay10 tuổi đầu , nhưng vóc dáng nhỏ thó hà cỡ chừng 6 , 7 tuổi thôi – có lẽ thiếu sinh dưỡng - thiếu ăn , nó bị chú Bộ Đội đâm chết ngay tại chợ , vì móc túi một bà đi chợ , bà ta la ầm lên : Bắt thằng nhỏ , bắt lấy thằng nhỏ , nó móc túi ….
Nằm chết sóng sượt trên mặt đất chợ bẩn thỉu , trên tay còn cầm tờ giấy 5 đồng - chỉ có 5 đồng thôi anh tin không ?? 5 đồng cho một mạng người – Đã thế chú Bộ Đội còn tuyên bố một câu xanh rờn , nó không đáng để tốn một viên đạn , chú ta đâm thằng nhỏ bằng con dao găm , đâm xong rút ra chùi ngay vào chính người thằng nhỏ , rồi đút dao vào bao đeo bên hông lặng lẳng bước đi tỉnh bơ . Dân chúng bu quanh đứng nhìn , hết nhìn chú Bộ Đội , lại nhìn cái xác thằng bé dưới dất . Chả biết con cái nhà ai … nhìn mãi cũng chán , từ từ giải tán , mạnh ai nấy đi mua đồ ăn , mặc cho cái xác thằng nhỏ nằm giưã chợ Rồi sau này ai đem đi đâu em cũng không biết .
Anh Năm ơi ! Thảm thương không ? Đau lòng không ? Thằng nhỏ móc túi đó có đáng bị giết và vứt bỏ nằm co quắp giuã chợ không anh ? Còn người Bộ Đội kia là ai - Tiểu đoàn nào ? đơn vị ở đâu ? chả ai biết – nhưng chắc chắn một điều rằng ai cũng hiểu : Họ là kẻ chiến thắng và là kẻ chiếm đóng ….

Thành phố Saigon bây giờ chỉ còn lại toàn đàn bà con nít , một số ít thanh niên , binh sĩ thì đạp xe xích lô , vá xe kiếm ăn trên các viả hè . Hầu hết họ có mặt ở các chợ trời mua qua bán lại kiếm cơm , nhà cưả thì trống huếch trống hoách , ông già bà lão thì lo phơi bã miá , gom mùn cưa để nấu bếp đỡ hao dầu , tốn củi . Thành phố im vắng ,vì tất cả các ông chồng , ông anh đều được gom lại đưa đi cải tạo tư tưởng trong những trại tù , khắp các miền đất nước , do chính mình chặt cây , phá rừng làm trại nhốt mình? Anh thấy họ hay không ? Lúc nào họ cũng bảo họ nhân đạo – không giết ta và Saigon không có tắm máu , nhưng họ dã man , xảo trá và thâm độc vô cùng .
Điều đầu tiên họ bước chân vô miền Nam là , gom tất cả những nhà những nhà doanh thương mà họ gán cho chức ĐạiTư Sản Mại bản , để có lý do , và trắng trợn tịch thu toàn bộ gia sản cuả người dân , từ tiền bạc đến nhà đất , dinh thự…. Em chả có mẹ gì ngoài căn nhà để che mưa che nắng , nhưng chúng cũng luà tất cả người dân ra ngoài , chiếm đoạt những tư gia được coi như khang trang sạch sẽ , chúng bảo khu nhà cư xá dân sự hàng không là đất cuả chính phủ , gần khu phi quân sự , phải bảo đảm an ninh – nên dân không được quyền ở , nhà mình cất bằng mồ hôi nước mắt mà nó còn lấy trắng , huống hồ chi căn nhà trong cư xá Sĩ Quan cuả phi trường TSN , mọi người phải đi khuất là cái chắc rồi , chúng em chạy ra ở nhà ông cậu , ở xứ An Lạc ( chợ Ông Tạ ) ông này đi Mỹ - trước khi đi đã làm giấy bán nhà cho Mẹ em , chúng em túm tụm về đây ở , nhưng tụi công an phường ở đây , nó bảo chủ đi Mỹ , nó không chiụ công nhận giấy tờ mua bán này nó cho chúng em 1 tháng đi kiếm nhà khác mua mà dọn đi . Nó tưởng mình lắm tiền cuả lắm , giấy nhựt trình xé ra không bằng , Mẹ em đành đi ở nhờ người em ở trên Cholon , phần em thì dắt hai con về ở với bà nội chồng trong Cư Xá Đô Thành - gần chợ Vườn Chuối . Cả nhà chồng đã đi hết rồi , chỉ còn bà nội chồng ở lại coi nhà ,khi nghe tin Mẹ con em kẹt lại chưa đi , bà nhắn chú lính kêu mẹ con em về ở với bà . Mà em không về thì còn đi đâu nưã hả anh ?
Anh Năm - Điều đau đớn sâu xa nhất cho em là chồng em đã “Đào nhiệm “, em nghe chú lính tài xế báo cáo thế , chú ấy bảo : “Ổng không có mặt tại Phi Đoàn mấy bưã trước khi mất nước , ổng dông mất từ lâu rồi ! Anh Năm – Em thật xấu hổ và nhục nhã . … Em ước phải chi anh ấy chết đi , anh ấy để lại cho mẹ con em một nấm mồ , em hưá sẽ suốt đời ở vậy nuôi dậy hai con , và sẽ nói cho chúng nghe về người cha hào hùng đã chết cho Quê Hương . Một thứ Đại Bàng gẫy cánh . Cho em một nấm mồ để em sống mà dõi tìm trong hy vọng . Anh Năm , Em đau khổ nhiều lắm anh có biết không ??



2 – Anh Năm , em đã từ chối không đi đoàn tụ từ năm 76 – bây giờ là năm 80 – sau 4 năm trời sống với CS , em thấy em không thể tiếp tục sống được nưã . Em thì đã đành , nhưng còn các con em , chúng đã được và bị thành cháu ngoan cuả Bác Hồ , được đeo khăn quàng đỏ , sáng thứ 7 được danh dự theo mấy trẻ khác đi quét đường ở vườn Tao Đàn , nó mới có 9 tuồi thôi anh , thằng em 7 tuổi thì chả ai dậy cũng dám xâm mình nói với công an phường : “ Bố con về sẽ dội bom chú “ , thằng này chơi lưả , diêm quẹt , đốt cháy cái màn cưả bằng vải lâu ngày , nên bị chú Công an tổ dân phố lôi về phường doạ ….
Tình hình càng ngày càng bi đát , mới đầu nói mấy ông sĩ quan đi trình diện đôi mươi bưã rồi về , nay đã 5 năm nhiều ông anh bà con cuả em đã về đâu ? bố đi tù cải tạo , ở nhà chúng bắt các thanh niên con Nguỵ Quân Nguỵ Quyền đi Nghiã vụ - xong tống hết qua campuchia đỡ đạn – các thanh niên , lính tráng không công ăn việc làm thì đi Thanh Niên Xung Phong , Bố chết – con chết - thật giản tiện đôi bề , chúng chơi cái trò “ thắt bao tử “để kiểm soát người dân trong vấn đề đi đứng , và kiểm tra người lạ ra vào khu xóm . Anh Năm - Nếu sống ở đây , chắc chắn các con em không bao giờ dám mơ tưởng vào đại học – vì thi theo lý lịch – mà thằng con trai kia trăm phần sẽ bỏ xác nơi xứ người Còn vế phiá chồng em , anh ta đã hiểu - Những lý tưởng năm xưa đã chết , anh ấy không hoàn thành được như đã hưá , anh ấy đã đào nhiệm – anh ấy biết em đã khinh bỉ anh ấy , em đã từ chối ra đi , thành ra bây giờ sau 4 năm . anh ấy vận động đủ mọi điều bên Canada - họ đã đến tận nhà mời em đi khám sức khoẻ , và yêu cầu em trong vòng 48 tiếng phải rời khỏi VN ? Anh ấy viết biết bao thư từ về bà con họ hàng nhờ các bác , các anh chị khuyên giải em , cho anh ta được một phần đóng góp trong nghiã vụ nuôi 2 con .
Anh Năm ơi ! Bây giờ thì chính em xin được chết đi – em tự coi như mình đã chết , để hai con được sống – em phải dẹp tự ái cá nhân , danh dự và liêm sỉ cuả em để cho hai con được sống trong Tự Do , và khôn lớn trong một Thế Giới công bằng và Nhân Đạo .
Anh Năm ơi ! hôm nay là lần cuối cùng em ghé thăm anh , em sẽ không đến nưã , và sẽ không bao giờ đến đây được nưã , để nói chuyện với anh , Khi em bước ra khỏi nghiã trang này , thì coi như em đang tập “ chết “ , và “ chết từ từ “ chết trong khi em đang thở và đang sống . Miả mai quá phải không anh ??vĩnh biệt anh .



3. Anh Năm – Sau 30 mươi năm sau , em mới có dịp vô tình , nói đến tên Anh , nhắc đến anh . Lần đầu trên D/Đ LVD – khi anh Sáu Long cho post hình mấy anh TQLC – và ông Xã cuả út Dạ Hương cũng là TQLC . Lại có dịp nói về mầu Mũ xanh - những bộ đồ trận rằn ri - nhắc đến TĐ2 “ Trâu Điên “ , rồi TĐ5 …. Nào Anh ( Lê Hằng Minh ) rồi đến Cổ Tấn Minh Châu , rồi Anh Chuà , Mẫn , Tuấn , Lê Tiến , Sô ….còn nhiều nhiều nưã các tên . Hết TQLC đến Nhẩy Dù , Biệt Kích , Thám Báo ……
Anh – bây giờ em đã sống xứ người được 25 năm - từ cái ngày ấy - đến thăm anh lần cuối trước khi rời VN . Bây giờ em đã bước vào tuổi Lục tuần , tóc đã bạc trắng , em đã là bà cụ già dâu rể có , cháu chắt đầy đàn . Cuộc đời là dòng sông , sáng nước lên chiều rút xuống như thuỷ triều , thời gian như ngọn gió … gió thổi cho nước trôi , trong chúng ta ai biết cuộc đời mình sẽ ra sao ngày sau ??? 25 năm không gặp lại Khánh linh , Dì Xuân chắc đã ra người Thiên cổ ? em liên tục dọn nhà - từ Tỉnh này sang tỉnh khác , thành phố này sang thành phố khác , mất liên lạc với gia đình dì Xuân đâu cũng hơn 10năm . Cơ Duyên được gặp lại anh Hai , trong nhà cuả Đăng Mỹ ( một LVD 73 ) , em mới được biết rằng chị Khánh Liên cũng không sống cùng anh Hai nưã . …
Anh Năm – Nào có ai ngờ rằng ,cuộc đời sẽ có những khúc quanh khác , mà chúng ta không thể nào chống đỡ và đi ngược lại cơn gió định mệnh , đời mình ….
Anh Năm – Sau 30 năm sau chế độ CS VN bắt đầu mở cưả - họ gọi cái tên là “ kinh tế thị trường “ , họ đã mở cưả cho chút ít thở , nhưng không vì thế mà được tự do tôn giáo , tự do dân chủ đâu nha . Ngày xưa chửi mấy ông tham nhũng , ăn cuả dân , vài ba triệu bạc – bây giờ con cháu cuả già Hồ , tài sản thu góp cuả dân tính bằng trăm triệu đô la là ít , hầu như họ có vài tỷ đô la là thường ? Vậy mình phải gọi họ là gì bây giờ hở anh ??
Ba mươi năm làm chủ đất nước , họ đã đưa dân tộc xuống tận bùn đen , đàn bà con gái không ai còn biết câu “ gìn vàng giữ ngọc nưã “ , đi làm vợ khắp thế gian , từ thằng đui mù , sứt mẻ …đàn ông thì không còn chút đạo đức làm người , thanh thiếu niên thì xa đoạ , động cỡn như lũ chó điên , nghiện ngập , hút sách bài bạc khắp chốn , làm sao để rưả sạch giống nòi ? làm sao để thấy lại một VN Đức Dục và Trí Dục hả anh ??
Làm cách nào bây giờ để có lại một VN sáng ngời trời Đông á ??
Làm cách nào để quay lại thời gian ? Để ta bắt đầu lại từ đầu ?? Bài học tình thương và hy sinh ? Anh Năm – Em muốn có một trận động đất kinh thiên động điạ - để cuốn trôi tất cả , dập vùi tất cả những gì nhơ nhớp bẩn thiủ cuả thế gian - cuả con người ….

Anh Năm – em ước ao được chết - chết hào hùng như anh và các bạn anh – các anh chết nhưng linh hồn các anh sống bất tử trong lòng mọi người ….
Còn mọi người đang sống đây , nhưng hình như họ đã chết – trong đó có em . Em gái cuả anh . Nhân ngày kỷ niệm 30 – tháng 4 – ngày mất nước - mất tự do – em viết về anh , một người em hằng kính mến , hâm mộ . Một phút tưởng niệm đến anh và tất cả những chiến sĩ VN hào hùng anh dũng hy sinh , đã đổ máu , đã nằm xuống với quê hương , đã chết cho em và moi người được sống . Hình ảnh anh và tất cả những chiến sĩ can trường khác luôn bất diệt trong lòng Tổ Quốc .
Last edited by KhanhVan on Mon Mar 20, 2006 11:29 pm, edited 3 times in total.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Toan_Paris wrote:Hi các anh Phú De, Khiêu Long, Tuyết lạnh, Linh Già :
Các Anh post các bài nhân dịp 30/4 về Người Lính Quân Dội Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm làm tôi xúc dộng thật nhiều.
Cám ơn các anh.
Toàn Paris.

ps: tôi không dánh dược chữ "dê"
làm ơn anh nào biết chỉ dùm
Anh Toàn Paris ơi
Khi anh ở trong phần viết bài, anh bấm function key F9 và nhìn xuống dưới chổ taskbar sẽ cho anh lựa kiểu chủ đánh theo VNI hay VIQR...,

Image

Thân chào anh
PD

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

KhanhVan wrote:Nhật Ký viết cho anh Lê Hằng Minh .
Tiểu Đoàn Trưởng - Tiểu Đoàn 2 – Trâu Điên .

Anh Năm ,

1- Thế là xong - chấm dứt cuộc chiến kéo dài hơn hai mươi năm , ta thua- lính tan hàng – dân chạy như đàn kiến vỡ tổ . CS đã chiếm đóng thành phố hơn tháng nay rồi anh Năm .
Anh có biết không anh? Rất nhiều Sỉ Quan tự sát , chết theo thành , những cái chết làm em nhói con tim , anh ơi nếu đời người chỉ một lần chết , thì thà chết như anh em còn thấy đó là Hạnh phúc , những cái chết bây giờ thật bất ngờ và lảng nhách , tụi Ba mươi , vì tư thù cá nhân nó cũng có thể đem anh đi bắn bất cứ lúc nào , nó muốn – đêm tối 2 hay 3 giờ sáng gõ cưả đem đi , và mãi mãi không thấy trở về …. sống thật hồi hộp còn hơn thời trùm bao bố ngày xưa ? Bây giờ em còn ngồi đây , bên phần mộ anh - thắp nén nhang thơm , và viết thư cho anh đọc …Nhưng ngày mai sẽ ra sao , liệu em còn có thể tự do đi đến thăm anh ? Em không biết - đời sống bây giờ chỉ tính bằng ngày …


........
.......


Còn mọi người đang sống đây , nhưng hình như họ đã chết – trong đó có em . Em gái cuả anh . Nhân ngày kỷ niệm 30 – tháng 4 – ngày mất nước - mất tự do – em viết về anh , một người em hằng kính mến , hâm mộ . Một phút tưởng niệm đến anh và tất cả những chiến sĩ VN hào hùng anh dũng hy sinh , đã đổ máu , đã nằm xuống với quê hương , đã chết cho em và moi người được sống . Hình ảnh anh và tất cả những chiến sĩ can trường khác luôn bất diệt trong lòng Tổ Quốc .
Cám ơn chị Khánh Vân
Đọc mà thấy bùi ngùi và căm hận

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Vị quốc vong thân

Post by phu_de »

.

Vị quốc vong thân
Wednesday, April 28, 2004 2:43:14 PM



(Trong giây phút hàn huyên với nhau, Dược Sĩ Mã Gia Minh đề cập đến hình ảnh người thân trong gia đình đã anh dũng vĩnh viễn ra đi. KBC Hải Ngoại xin anh viết lại nhân ngày 30 Tháng Tư, nhưng anh cho biết mỗi lần ngồi vào bàn viết, nước mắt anh tuôn chảy, không thể nào viết được; anh Nguyễn Ngọc Chấn ghi lại hình ảnh quá thương tâm qua lời kể của Dược Sĩ Mã Gia Minh - KBC Hải Ngoại).


Mỗi lần đồng bào hải ngoại kỷ niệm ngày quốc hận, 30 Tháng Tư, ngoài chuyện chia sẻ niềm đau chung với mọi người, gia đình tôi còn mang riêng cái tang đau thương cho cái chết của dì út, dượng và em tôi. Dì út tôi, bà Lâm Ngọc Dung rất gần gũi với mẹ. Bà thương chúng tôi như mẹ ruột, dì Dung vẫn muốn nhận tôi làm con nuôi, ở mãi với dì. Khi lập gia đình với dượng Lê Vĩnh Xuân, chúng tôi ít gặp dì nhưng không vì thế mà chúng tôi bớt thương dì, trái lại, chúng tôi còn hãnh diện vì, dượng Xuân là sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp khóa 13 trường Võ Bị Ðà Lạt.

Hình ảnh kiêu hùng của dượng Xuân ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của tôi sau này. Tôi rất thích được mẹ dẫn đến thăm dì, tôi thích nhìn thấy tài chỉ huy của dượng và tỏ lòng ngưỡng mộ. Khi em Lê Vĩnh Quốc Khanh, sanh năm 1969, tôi rất mừng cho em, may mắn được sinh trưởng trong một gia đình quân đội đúng nghĩa.

Dượng Xuân thuyên chuyển từ đơn vị này tới khu chiến thuật khác, khi với Sư Ðoàn 7 ở Ðịnh Tường, lúc lên Pleiku, ra Qui Nhơn, Bồng Sơn, Tuy Hòa, Kontum v.v.. Những địa danh ấy tôi nhớ lâu chỉ vì ở đó đã có những giọt mổ hôi và bao nhiêu giọt máu chiến hữu của dượng. Dượng Xuân về nhận đơn vị Biệt Ðộng Quân, dượng đóng ở Vùng 2, Pleiku là thời gian tôi lo lắng nhất. Tôi nghe nói lính Biệt Ðộng Quân rất tinh nhuệ nên luôn luôn bị di chuyển tới những chiến trường sôi động nhất. Tôi chuyển sự chú ý qua chiến sĩ mũ nâu, tôi có nhiều thiện cảm với những chiến sĩ Biệt Ðộng Quân. Tôi hãnh diện khoe với mọi người dượng Xuân tôi là lính mũ nâu.

Thỉnh thoảng có người từ đơn vị về phép, ghé thăm nhà, mang quà dượng cho mẹ, tôi hỏi chuyện đơn vị rất nhiều, hỏi về những trận đánh mà đơn vị dượng tham dự. Tôi rất hãnh diện khi chiến hữu khoe dượng được nhiều huy chương cao cấp như Bảo Quốc Huân Chương, Ðệ Ngũ Ðẳng, và rất nhiều Anh Dũng Bội Tinh. Khi dượng tôi bị thương về nằm Quân Y Viện, tôi khóc nhiều và lo lắng cho dượng hơn cả em Khanh nữa.

Tóm lại, dượng Lê Vĩnh Xuân mang cho gia đình tôi niềm kiêu hãnh, có người thân hào hùng như thế đó. Dượng được thăng cấp tá và về làm việc văn phòng. Tôi nghe nói dượng Xuân làm Quân Báo ở Sài Gòn. Lính tác chiến về thành, dượng Xuân không thích lắm, nhưng kinh nghiệm chiến trường bao năm, dượng Xuân trở thành loại chuyên viên rất hiếm trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 1975 dượng Lê Vĩnh Xuân làm Chỉ Huy Phó Trung Tâm Thẩm Vấn Trung Ương. Tại đây, dượng Xuân đã có dịp tiếp xúc với rất nhiều tù binh phía bên kia chiến tuyến. Dượng rất kinh nghiệm trong việc khai thác tù binh, họ hợp tác, giúp dượng ngăn chặn nhiều hoạt động phá hoại cho thường dân vô tội.

Trong công việc, dượng Xuân rất nghiêm khắc nhưng dượng là con người tình cảm. Năm 1970, một thiếu sinh bị bắt vì tội giao liên cho Việt Cộng. Thay vì khai thác tới bến để tìm ra manh mối, dượng Xuân lắng nghe, biết chú bé mới bị dụ vào mặt trận, dượng Xuân bảo lãnh để chú bé ấy được tha và trở thành người hữu dụng. Tôi còn nhớ tên chú ấy là Thắng mà về sau đã trở thành em kết nghĩa thân tín mà cũng là người giúp việc mai táng dượng sau này.

Khoảng giữa Tháng Tư, tình hình chiến sự rất dao động, tôi đã xong dược sĩ, phục vụ trong quân ngũ một thời. Ngày 27 Tháng Tư, tôi và mẹ tới gặp dì Dung và dượng. Mẹ cố thuyết phục để dì dượng cho em Quốc Khanh đi với gia đình tôi. Chúng tôi đã có danh sách đi bằng máy bay ngày 28 Tháng Tư. Mẹ con tôi nói mãi nhưng dì biết chắc chắn dượng Xuân không chịu. Dượng vẫn khăng khăng tuyên bố “sống thì sống chung, chết phải chết chùm” nhất là em Khanh lại là con duy nhất của dì dượng.

Trung Tá Lê Vĩnh Xuân thuộc thành phần nguy hiểm nên DAO lập danh sách ra đi, đã có điểm hẹn, sẽ có trực thăng đến đón riêng. Chúng tôi chào từ giã dì dượng và em Quốc Khanh và chia tay lên đường. Không ngờ lầm tạm chia tay ấy đã thành vĩnh biệt.

Ðến trại Orote Point, liên tiếp hàng tháng trời, tôi loan báo trên hệ thống phóng thanh, nhắn tin 5, 10 lần mỗi ngày. Ði kiếm dì dượng, hỏi thăm tin tức những người tới sau. Mọi nỗ lực đều không có kết quả. Ðến khi gia đình chúng tôi vào Hoa Kỳ, nguồn tin đầu tiên nhận được về dượng Xuân, dì Dung và em Quốc Khanh làm cho tôi bàng hoàng. Ông bà Lê Quang Cảnh, thân phụ mẫu báo tin chung, trưởng nam của ông bà là Trung Tá Lễ Vĩnh Xuân đã tuẫn tiết cùng với vợ và đứa con trai lên 6 tuổi tại nhà riêng của họ.

Nhân chứng cho hay, Trung Tá Xuân rất bình tĩnh lấy một khẩu súng rouleau, nạp 6 viên đạn. Ba người ngồi trước bàn thờ gia tiên, cáo lỗi cùng tiên tổ, sau đó, rất mau chóng, dượng bắn em Khanh 2 viên đạn. Máu me văng vãi, em gục lên tay dì Dung. Dì ra dấu cho dượng, dượng đưa súng lên và đoàng đoàng hai tiếng. Dì gục vào lòng dượng, và cuối cùng dượng Lê Vĩnh Xuân kê súng lên đầu mình bóp cò hai lần rồi ôm chặt và cùng chết với vợ con.

Trước cái chết kinh hoàng ấy, người thân phải bỏ trốn vì sợ liên lụy, về sau, trong tang lễ, khi nghe truyện, cả nhà khóc ngất trước quyết định thảm khốc của dì dượng. Dưỡng tử Thắng (người giao liên Việt Cộng, được dượng kết nghĩa anh em) đứng ra xin phép phường khóm cho nhận xác 3 người đưa đi hỏa táng. Tro cốt gia đình dượng Lê Vĩnh Xuân hiện vẫn còn để tại chùa ở Sài Gòn.

Từ đó, cứ mỗi lần kỷ niệm 30 Tháng Tư đen, gia đình tôi luôn ghi nhớ làm lễ giỗ dì dượng và em Quốc Khanh.

Hôm nay, một lần nữa, con xin rót cho dượng một ly martel, và thắp cho gia đình Lê Vĩnh Xuân ba nén nhang để nhớ người vị quốc vong thân.

.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Đồi Charlie

Post by phu_de »

Vài tấm hình đồi Charlie hình trích từ trang nhà Thiếu Sinh Quân nơi lừng danh trong chiến sử
Image
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Ý Kiến

Post by phu_de »

.

Xin Có Ý Kiến: Cần xét lại cuốn sách của Alan Dawson về “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ”


(Ký giả Alan Dawson, trưởng phòng Thông Tấn UPI ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông đã viết quyển “55 Days: The Fall of South Vietnam”, Prentice Hall xuất bản năm 1977, dày 366 trang, giá 12.50 Mỹ kim. Quyển sách đó có những điểm sai lầm nhưng hình như chưa có bài viết nào phân tích trên báo chí Việt ngữ tại hải ngoại nên nó đã chìm vào quên lãng.

Nhân bài dịch của ông Hoàng Long Hải, đăng tải trên nhật báo Người Việt số 6698 (Thứ Sáu 9 tháng 4-2004) trong một đoạn trích dẫn cuốn sách “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson, hình ảnh của Chiến Hữu Vương Văn Trổ được nhắc lại. Trung tá Vương Văn Trổ nổi danh người hùng của Quân Lực VNCH trong Ngũ Hổ Miền Tây. Sau ngày 30-4-1975, ông trải qua 13 năm trong lao tù Cộng Sản, hiện định cư tại Houston, Texas; trong khi đó, ký giả Alan Dawson cho khai tử.

Ký giả Ngọc Hoài Phương, Chủ Nhiệm tờ Hồn Việt, liên lạc với nhân chứng - cựu Trung tá Vương Văn Trổ, người đã bị Alan Dawson khai tử - dẫn chứng sự kiện cụ thể mà nhà báo kỳ cựu của UPI đã viết sai lệch. KBC Hải Ngoại)

Sau 13 năm tù cải tạo, và khi đặt chân tới Hoa Kỳ (HO-16 năm 1993) mới chợt khám phá ra là mình đã bị ông nhà báo Alan Dawson khai tử một cách nhục nhã từ cuối tháng 4 - 1975 trong cuốn sách mang tựa đề “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ”. Người bị nhà báo Alan Dawson “giết chết” một cách lãng nhách trên đây là Trung Tá Vương Văn Trổ, nguyên Tỉnh trưởng Kiên Giang kiêm Thị trưởng Rạch Giá.

Mặc dù đã gần ba mươi năm trôi qua, nhưng đối với ngày Quốc Hận 30 tháng 4-1975 vẫn còn là một vết thương nhức nhối không thể xóa mờ được trong tâm trí của người Việt tỵ nạn. Do đó hàng năm, cứ vào dịp này, cộng đồng người Việt ở khắp nơi thường tổ chức những buổi họp mặt để tưởng niệm ngày đau thương của dân tộc, ngày mà Miền Nam Việt Nam đã bị đồng minh bỏ rơi, bán đứng cho Cộng Sản.

Các cơ quan truyền thông, nhất là các báo Việt ngữ trong dịp này cũng thường có những bài đặc biệt liên quan đến biến cố lịch sử đó. Không phải chỉ riêng sách báo của Cộng Sản nặng phần trình diễn tuyên truyền, thiếu trung thực, còn cố tình xuyên tạc mà ngay cả một số nhà báo ngoại quốc khi viết về biến cố 30-4-75 cũng đã đưa ra nhiều chi tiết sai lạc, và tệ hại hơn nữa là có nhiều chi tiết cho người đọc có cảm tưởng là tác giả đã cố tình dựng đứng câu chuyện để bôi nhọ nhân vật được nhắc tới nói riêng và cả tập thể người lính Việt Nam Cộng Hòa nói chung như trương hợp ông Tỉnh trưởng Kiên Giang là một thí dụ điển hình.

Ðọc báo Người Việt số 6698 (Thứ Sáu 9 tháng 4-2004) trong một trích đoạn cuốn sách “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson do Hoàng Long Hải dịch có đoạn ghi như sau:

“Tướng Nam ra lệnh cấm binh sĩ dưới quyền ông rời bỏ vị trí. Ông đến từng nơi lúc bấy giờ được coi như là “tuyến đầu” ra lệnh cho sĩ quan ở ngay vị trí. Ông ta bắn chết viên đầu tỉnh ở Sadec, phía Tây Cần Thơ vì ông nầy bỏ tỉnh di tản theo người Mỹ. Viên tỉnh trưởng tỉnh Kiên Giang ở trong vịnh Xiêm La không tuân lệnh cố thủ của ông, đã bỏ đơn vị lên thuyền chạy về phía Nam. Tướng Nam ra lệnh cho trực thăng đuổi theo và bắn chìm những tàu nầy”.

Sự thật thì đoạn văn trên đây hoàn toàn được viết theo óc tưởng tượng của ông nhà báo Alan Dawson vì ông Tỉnh trưởng Kiên Giang không bỏ đi và nhất là Tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị tướng tài ba, một anh hùng của QLVNCH không bao giờ và không thể có những quyết định nông nổi thiếu suy nghĩ như điều Alan Dawson đã gán ghép. Ngay cả đối với địch quân, Tướng Nam cũng mang lòng nhân đạo ra đối xử thì không thể có chuyện ông ra lệnh cho trực thăng đuổi theo bắn chìm những tàu bỏ chạy. Người ta còn nhớ (theo lời kể của Trung Tá Vương Văn Trổ) ngày 25 tháng 2 năm 1975, lực lượng Tiểu khu Kiên Giang đã đánh tan một đơn vị Cộng sản, bắt sống 2 chiến binh CS bị thương nặng hấp hối. Biết chuyện này, Tướng Nam đã ra lệnh cho tiểu khu phải tải thương nhanh để cứu sống địch quân.

Ðể phản bác lại những điều Alan Dawson đã viết liên quan đến thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ngày cuối tháng 4-1975, qua một cuộc điện đàm, Trung Tá Vương Văn Trổ cho biết: “Khoảng 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4-75, qua điện thoại, Tướng Lê Văn Hưng nhắc tôi rằng Tướng Nam chỉ thị phải cố gắng ngăn chận địch quân ngoài thành phố để tránh gây thiệt hại cho dân chúng. Ðến 6 giờ chiều cùng ngày, Tướng Nam còn chỉ thị tôi phải cố gắng lo cho dân chúng và binh sĩ”.

Với giọng buồn bã, Trung Tá cựu Tỉnh trưởng Kiên Giang nói tiếp: “Nhưng đến 9 giờ tối thì được tin Tướng Lê Văn Hưng đã tự sát và lệnh Quân Ðoàn cho Tiểu Khu buông súng. Tôi cho họp các cấp chỉ huy để thông báo tình hình, và đồng thời cũng loan báo chiến hạm Hải Quân đang chờ thân nhân ngoài khơi. Nhờ thông báo này mà một số cán bộ hành chánh, quân đội, dân chúng tại thị xã đã đem được gia đình ra đi an toàn. Riêng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ vì không có hệ thống truyền tin nên đích thân tôi phải dùng xe chạy đi liên lạc. Trong lúc làm nhiệm vụ cuối cùng, tôi bị Cộng sản bắt lúc 12 giờ đêm ngày 30 tháng 4-1975 tại cầu số 2 trong thị xã Rạch Giá...”.

Ðược biết Trung Tá Tỉnh trưởng Kiên Giang vốn xuất thân từ khóa 10 trường Võ Khoa Thủ Ðức. Các chức vụ sau cùng của ông được ghi nhận: Tỉnh trưởng Sa Ðéc (1973-1974), Tỉnh trưởng Kiên Giang kiêm thị trưởng Rạch Giá (1974-1975). Ðầu thập niên 70, năm sĩ quan cấp tá được mệnh danh “Ngũ Hổ Miền Tây” của Quân Lực VNCH: nhất Kiệt, nhì Huy, tam Nam, tứ Trổ, ngũ Cẩn.

Trải qua 13 năm tù từ Nam ra Bắc và cuối cùng chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh) rồi được phóng thích năm 1988. Ông rời Việt Nam qua Hoa Kỳ theo diện HO 16 và định cư tại Houston, Texas từ 1993 đến nay...

Tháng Tư năm 1999, sau khi đọc bài “Chân Dung Người Lính VNCH” của nhà báo Sơn Tùng trên tờ Diễn Ðàn Hiệp Lực ở Houston, trong đó có nhắc đến Tướng Nguyễn Khoa Nam và ông Tỉnh trưởng Kiên Giang (nhưng lại căn cứ theo sự kiện ghi trong sách của Alan Dawson nên sai lạc), Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường đã cho phổ biến một thư ngỏ gọi là “đóng góp bổ sung với các bài báo đã đăng một vài chi tiết để tinh thần vinh danh anh hùng qua mẩu chuyện trên được giá trị chính xác”. Theo như lời kể của Tướng Trường (nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang trược thuộc Quân Ðoàn 4) thì đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975 tại miền Tây, Việt Cộng dốc toàn lực tấn công vào các tỉnh lỵ thuộc lãnh thổ QK.4. Riêng tại khu Chiến Thuật Hậu Giang tại An Xuyên, tỉnh lỵ Cà Mau bị hai tiểu đoàn U Minh tấn công; Ðại Tá Nhan Nhựt Chương, Tiểu khu trưởng, cùng lực lượng tiểu khu An Xuyên đã đẩy lui địch và làm chủ tình hình trước trời sáng.

Theo lời kể của Tướng Trường thì tại Tiểu khu Ba Xuyên, tỉnh lỵ Sóc Trăng đã bị hai tiểu đoàn Cợ Ðộng tấn công, nhưng đã bị lực lượng của Tiểu khu dưới quyền Ðại Tá Liêu Quang Nghĩa diệt trọn một tiểu đoàn, và tiểu đoàn còn lại tháo chạy. Trong khi đó đơn vị bạn ở Bạc Liêu dưới quyền Ðại Tá Huỳnh Ngọc Diệp đã đẩy lui cuộc tấn công của một Trung đoàn địch, ta tịch thu nhiều vũ khí. Một Trung đoàn chính quy Bắc Việt cũng mở cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Vỵ Thanh (Chương Thiện). Quân đội VNCH dưới quyền Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu quyết liệt giữ vững vị trí để chờ trời sáng phản công...

Riêng tại Tiểu khu Kiên Giang, tỉnh lỵ Rạch Giá, bị một Trung đoàn Việt Cộng tấn công nhưng đã bị lực lượng bạn dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Vương Văn Trổ đầy lui gây cho địch tổn thất nặng nề. Tại tiều khu Phong Dinh (Bản doanh của Quân Ðoàn 4) vòng đai tỉnh lỵ Cần Thơ do Sư Ðoàn 21 Bộ Binh trách nhiệm phòng thủ, đã bị Sư đoàn 4 Hậu Giang Việt Cộng tấn công nhiều đợt rất ác liệt nhưng đều bị quân ta đẩy lui... Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường cho tập trung báo cáo của các tiểu khu và đúc kết tình hình trình lên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư Lệnh Quân Ðoàn 4. Theo lời Tướng Trường thì Tướng Nam rất hài lòng và vững tin nơi khả năng chỉ huy và tinh thần chiến đấu của thuộc cấp. Tướng Nam cũng chỉ thị phải ưu tiên hỏa lực yểm trợ cho Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn phản công tại Chương Thiện. Riêng Tiểu khu Kiên Giang theo tin tức phòng 2 thì còn một tiểu đoàn Việt Cộng nằm ngoài vòng chưa tham chiến, và địch có thể tăng cường tiểu đoàn này để tấn công trong đêm sau. Thiếu Tướng Nam không muốn có giao tranh trong thành phố gây thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào, nên đã chỉ thị cho Tướng Trường phải tăng cường cho tiểu khu Kiên Giang một tiểu đoàn thuộc SÐ/21 để chận đánh địch ở ngoài vòng đai tỉnh lỵ.

Về chi tiết này, Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường ghi lại trong thư ngỏ đã được phổ biến, nguyên văn như sau: “Tôi liên lạc với Trung Tá Vương Văn Trổ TKT/KG để duyệt tình hình sau cùng và chọn bãi đổ quân. Chúng tôi đồng ý bãi đáp thả quân dọc bờ biển phía Tây tỉnh lỵ là an toàn nhất. Nhưng cuộc thả quân chưa kịp thực hiện thì có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Quốc gia bị bức tử!!! Cuộc chiến chấm dứt!!! Tại Quân Khu 4, các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng và Trần Văn Hai (Tư Lệnh Sư Ðoàn 7-BB) tự sát. Trung Tá Vương Văn Trổ TKT/KG bị Việt Cộng bắt đêm 30-4-75 tại Rạch Giá. Tôi bị VC bắt ngày 5-5-1975 tại Cần Thơ. Chúng tôi gặp lại nhau trong trại giam VC tại khám Cần Thơ và sau đó bị lưu đày ra miền Bắc. Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ được VC phóng thích năm 1988. Tôi được phóng thích năm 1992 (17 năm). Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ đi Mỹ diện HO và hiện cư ngụ tại Houston, Texas...”

Trong một buổi tâm tình với ký giả Dương Phục qua làn sóng điện đài phát thanh ở Houston nhân dịp kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH tháng 6 năm 1999, khi nhắc đến Tướng Nam, Trung Tá Trổ đã nhấn mạnh rằng “Cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một vị chỉ huy tài đức vẹn toàn, gương mẫu về mọi mặt. Ông chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, và đồng thời còn có lòng nhân đạo đối với cả địch quân...”. Nhân dịp này, cựu tỉnh trưởng Kiên Giang Vương Văn Trổ cũng không khỏi chua chát than rằng “Thương thay người chỉ huy đáng kính trọng đó lại bị giáng thêm một tội để mang theo về thế giới mới...” qua một đoạn văn trong cuốn “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson khi gán ghép Tướng Nam ra lệnh cho trực thăng đuổi theo và bắn chìm đoàn tàu chở tỉnh trưởng Kiên Giang đang bỏ chạy...

Ông cho đây là một sự nhục mạ danh dự Tướng Nguyễn Khoa Nam và cả tập thể Quân Ðội VNCH. Và ông mong rằng sau này các sử gia sẽ có sự công bằng khi ghi lại các sự kiện liên quan đến lịch sử.

Ngọc Hoài Phương

.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Re: Ý Kiến

Post by linhgia »

phu_de wrote:.

Xin Có Ý Kiến: Cần xét lại cuốn sách của Alan Dawson về “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ”

Ông cho đây là một sự nhục mạ danh dự Tướng Nguyễn Khoa Nam và cả tập thể Quân Ðội VNCH. Và ông mong rằng sau này các sử gia sẽ có sự công bằng khi ghi lại các sự kiện liên quan đến lịch sử.

Ngọc Hoài Phương

.
Anh Phu De,

Cám ơn anh đã cho đọc bài viết của anh Ngọc Hoài Phương, xin báo cáo vói anh là Anh Ngọc Hoài Phương là anh ruột của Tuấn Cop bạn thân của chúng ta đấy

TLGiang

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Anh Hùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

Post by linhgia »

Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn.


Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) thì chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học không lấy gì làm giỏi cho lắm, thường thì chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu-sinh-quân.

Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ VN có 7 trường TSQ, phân phối như sau :
_ Trường TSQ đệ nhất quân khu, ở Gia-định.
_ Trường TSQ đệ nhị quân khu ở Huế.
_ Trường TSQ đệ tam quân khu ở Hà-nội.
_ Trường TSQ Móng- cáy dành cho sắc dân Nùng.
_ Trường TSQ đệ tứ quân khu ở Ban-mê-thuột.
_ Trường TSQ Đà-lạt của quân đội Pháp.
_ Trường TSQ Đông-Dương của quân đội Pháp, ở Vũng-tầu.

Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp nhì trường TSQ đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia-định về Mỹ-tho.

Khi hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, thì ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu di chuyển từ Hà-nội vào, sát nhập với trường TSQ đệ nhất quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lãng mạn.

Ghi chú.

Ông Hùng bấy giờ mới đỗ tú tài. Trong thời gian dạy tại trường TSQ, ông tự học, đỗ cử nhân luật. Sau khi đỗ cử nhân luật, ông được bổ làm thẩm phán ở Tuy-hòa, rồi làm bộ trưởng Lao-động, rồi thẩm phán ở Phước-tuy, rồi lại làm bộ trưởng Lao-động. Sau 1975 ông sống tiềm ẩn ở Huston, bang Texas, Hoa-kỳ và từ trần năm 2000.

Hết năm học, Cẩn đã 17 tuổi. Theo học quy của trường TSQ, thì khi một học sinh mười bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Còn như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ ngũ, lại tỏ ra xuất sắc thì được giữ lại học đệ tứ, rồi... cho học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường võ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ký đăng vào quân đội với cấp bậc binh nhì.

Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời bình. Một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ Quốc-phòng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường TSQ, không cần phải hội đủ trình độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được nhập học.

Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đã cung cấp cho đất nước VN không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.

Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng-thống Ngô Đình-Diệm hay đại tướng Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ trường TSQ, đều được đưa về phục vụ tại các binh chủng : Dù, Thủy-quân lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo, An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc biệt (LLĐB).

Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng. Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên), Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, vì tình hình chiến tranh thay đổi, quân Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.

Tôi đã gặp Hồ Ngọc-Cẩn bao giờ ? Tại đâu ? Câu truyện như thế này :

Năm 1966, khi đọc trong Đại-Nam chính biên liệt truyện, Đại-Nam nhất thống chí viết về " Ngụy Tây-sơn ", có rất nhiều nghi vấn trong những trận đánh giữa vua Quang-Trung, với vua Gia-long tại rừng U-minh. Tôi nảy ra ý xuống vùng tận cùng của đất nước này tìm hiểu thêm. Bấy giờ đang xẩy ra vụ biến động miền Trung, " các thầy mang bàn thờ xuống đường " , chiến cuộc tại miền Tây cực kỳ sôi động, mẹ tôi, bà má má (vú nuôi) cực lực phản đối, vì đi như vậy dễ tiêu dao miền Cực-lạc lắm. Nhưng bố tôi, sau khi tính số Tử-vi của tôi, cụ lại khuyên tôi nên đi. Cụ nói " Con đi lần này sẽ có thêm nhiều bạn tốt, hơn nữa có dịp biết về vùng đồng lầy Cà-mau ". Tôi nhất quyết đi, bà má má tôi khóc khốn khổ, nhưng cũng không cản được cái tính phiêu lưu và mê sưu tầm của tôi.

Nhưng làm thế nào để có thể được vào tất cả những làng, những xã, mà không gặp trở ngại ? Làm sao có phương tiện di chuyển ? Chỉ một cú điện thoại, ông bố tôi đã kiếm cho tôi cái giấy giới thiệu của tờ tuần báo trung lập lớn nhất ở Paris. Bà má má kiếm cho tôi giấy giới thiệu của tờ nhật báo Hoa-văn tại Hương-cảng. Thế là tôi bỗng trở thành ký giả bất đắc dĩ . Tôi đến bộ tư lệnh MACV xin giúp phương tiện làm phóng sự chiến trường ở vùng 4 chiến thuật. Tôi chỉ mong tìm hiểu lịch sử, chứ nào có chủ tâm làm ký giả !

Nhưng sau chuyến đi ấy, quá súc động về cuộc chiến tranh thê thảm, tôi đã viết rất nhiều bài ký sự chiến trường, đăng trên một số báo ngoại quốc. Khởi đầu, uất hận trước cái chết của một cô bạn gái tên Đặng-thị Tuyết, mới hai mươi tuổi, làm nữ cán bộ Xây-dựng nông thôn tại kinh Tắc-vân, Cà-mau. Tôi là thầy thuốc, mà cô bị trúng đạn, chết trên tay tôi. Tôi viết bài " Giang biên hoa lạc " gây xúc động mạnh cho độc giả Hương-cảng và giới Hoa-kiều tại VN. Sau tôi có dịch bài này sang tiếng Việt với tên là " Hoa rơi bên bờ kinh Tắc-vân " . Tôi gửi bài này dự thi giải ký sự chiến trường của Cục Tâm-lý chiến năm 1967. Bài của tôi được giải nhì. Giải nhất về Trang-Châu cũng là một bài ký sự của y sĩ tiền tuyến. Một trong các giám khảo nói với tôi " Về nội dung, bài của cháu với Trang-Châu cùng nói lên niềm mơ ước của tuổi trẻ quên mình cho quê hương. Nhưng bài của Trang-Châu trung thực, còn bài của cháu thì ướt át quá, thê thảm quá, dù răèng đó là sự thực ".

Sau đây, tôi xin trích nguyên văn một đoạn tôi viết về Hồ Ngọc-Cẩn, trong bài " Ngũ hổ U-minh thượng ", kể chuyện năm tiểu đoàn trưởng nổi danh can đảm, có máu văn nghệ, nhất là phong lưu tiêu sái, tại chiến trường cực Nam năm 1966. Ngũ hổ là :

Đai-úy Hồ Ngọc-Cẩn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/33,
Thiếu-tá Lưu Trọng-Kiệt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 42 BĐQ.
Thiếu-tá Nguyễn Văn-Huy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 44 BĐQ,
Thiếu-tá Lê Văn-Hưng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/31.
Đại-úy Vương Văn-Trổ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3/33.

Ghi chú
Tôi xếp theo thứ tự abc. Trong năm người thì Kiệt tuẫn quốc năm 1967. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hưng tự tử, Cẩn bị xử bắn. Còn Trổ , sau lên đại tá lĩnh tỉnh trưởng Kiên-giang, hiện định cư tại Huston, bang Texas, Hoa-kỳ. Còn Huy tôi không biết sau ra sao ?

Ngày19 tháng 4 năm 1966, tôi tới phi trường Vĩnh-lợi bằng phi cơ Caribou của quân đội Hoa-kỳ. Người đón tôi là thiếu tá Raider, của cố vấn đoàn 42. Tại bản doanh của cố vấn đoàn 42, đại tá cố vấn trưởng Hathaway không biết gì về chủ đích chuyến đi của tôi. Ông chỉ căn cứ vào giấy giới thiệu do hai chủ báo cấp, mà đoán rằng tôi là tên thầy thuốc trẻ, thích phiêu lưu, nên đi làm ký giả. Ông cho tôi biết tình hình địch rất chi tiết. Về tình hình quân đội VN tại năm tỉnh tận cùng của đất nước, ông nói :

_ " Khu 42 chiến thuật, do sư đoàn 21, thuộc quân đoàn 4 trấn nhậm. Sư đoàn có ba trung đoàn mang số 31, 32, 33. Trung đoàn 31 đóng tại Chương-thiện. Trung-đoàn 32 đóng tại Cà-mau. Trung-đoàn 33 đóng tại Ba-xuyên. Ngoài ra còn có hai tiểu đoàn Biệt-động quân mang số 42 và 44. Tiểu đoàn 42 đóng tại Bặc-liêu, tiểu đoàn 44 đóng tại Ba-xuyên ".

Ông ca tụng quân đội VN như sau :

" Lương bổng cho người lính VN, chỉ gọi là tạm đủ ăn. Doanh trại không có, trang bị thiếu thốn. Nhưng họ chiến đấu như đoàn sư tử. Tuy vậy vẫn có những điều đáng phàn nàn. Ông là thầy thuốc cầm bút, xin ông lướt qua những cái đó ".

Bốn hôm sau, có cuộc hành quân cấp sư đoàn. Tôi được gửi theo tiểu đoàn 42 Biệt-động quân. Tiểu đoàn trưởng là thiếu-tá Lưu Trọng-Kiệt, tiểu đoàn phó là trung-úy Hồ Ngọc-Cẩn. Cái tréo cẳng ngỗng là đối với cố vấn đoàn thì tôi là ký giả. Còn Kiệt với Cẩn lại tưởng tôi là bác sĩ tình nguyện ra mặt trận. Tiểu đoàn được đặt làm trừ bị tại phi trường Vĩnh-lợi, từ bẩy giờ sáng, chuẩn bị nhảy trực thăng vận. Nếu khi nhảy, thì tiểu đoàn sẽ nhảy làm hai cánh. Cánh thứ nhất gồm đại đội 1, 2 do Hồ Ngọc-Cẩn chỉ huy. Cánh thứ nhì gồm đại đội 3 và đại đội chỉ huy, do thiếu tá Lưu Trọng-Kiệt chỉ huy. Tôi với Kiệt, Cẩn ngang ngang tuổi nhau. Tôi có máu giang hồ của người tập võ, coi trời bằng vung, lại cũng có học qua quân sự, nên chúng tôi thân cận nhau dễ dàng. Đại-úy cố vấn tiểu đoàn muốn tôi nhảy theo bộ chỉ huy. Anh hỏi tôi :

_ Lần đầu tiên ra trận, " sơ " có sợ không ?
Tôi trả lời như những nhân vật trong lịch sử Việt-Nam:
_ Tráng sĩ khi ra trận, không chết thì cũng bị thương. Nếu sợ chết thì đừng ra trận.
Cẩn hỏi tôi đã học quân sự chưa ? Tôi đáp:
_ Kiến thức về quân sự của tôi chỉ bằng phó binh nhì thôi. Nhưng cũng biết bò, biết núp, biết nhảy, biết bắn. Đánh nhau bằng súng thì tôi dở ẹc, nhưng đánh cận chiến thì tôi có hạng, vì tôi là ông thầy dạy võ.
Thông dịch viên dịch lại cho binh sĩ nghe. Họ khen tôi:
_ Ông bác sĩ này ngon thực !
Tôi hỏi Kiệt :
_ Trong hai cánh, thì cánh nào có hy vọng được đánh nhau nhiều hơn ?
Kiệt chỉ Cẩn :
_ Anh cứ nhảy theo thằng này, thì sẽ toại nguyện. Tha hồ mà hành nghề.

Tiểu đoàn cũng có sĩ quan trợ y. Anh biệt phái cho tôi một y tá cấp trung sĩ, với đầy đủ thuốc cấp cứu. Trên lưng tôi chỉ có bộ đồ giải phẫu dã chiến. Khoảng mười giờ thì có lệnh : Một đơn vị địa phương quân chạm địch tại Vĩnh-châu. Địch là tiểu đoàn Cơ-động Sóc-trăng. Tiểu đoàn phải nhảy trực thăng vận đánh vào hông địch. Địa điểm nhảy là một khu đồng lầy.

Sau khi Kiệt họp các sĩ quan, tóm lược vắn tắt nhiệm vụ, tình hình trong mười phút. Cẩn dẫn tôi ra phi đạo. Hai đại đội đã lên trực thăng từ bao giờ. Chúng tôi cùng leo lên một trực thăng. Hai mươi lăm chiếc trực thăng cùng cất cánh. Trực thăng bay khoảng bẩy phút, thì Cẩn chỉ vào khu làng mạc trước mặt :

_ Kìa, chỗ chúng mình đáp kìa.

Trực thăng hạ cánh. Thoáng một cái hơn hai trăm người từ trực thăng lao ra. Một cảnh tượng, mà không bao giờ tôi quên : Những người lính dàn ra thành một hàng ngang. Họ núp vào cái những cái bờ ruộng, mô đất, tay thủ súng, mắt đăm đăm nhìn về trước. Đó là một làng, lưa thưa mấy ngôi nhà tranh, ẩn hiện dưới những cây dừa xanh tươi. Mặc dù súng trong làng bắn ra, nhưng những người lính ấy, vẫn chưa bắn trả. Tôi đưa mắt nhìn một lượt, các sĩ quan, người thì nằm, người thì quỳ, cũng có người đứng.

Từ lúc nhảy xuống, Cẩn không hề nằm, quỳ, mà đứng quan sát trận mình, quan sát trận địch. Một là điếc không sợ sấm, hai là tự tin vào số Tử-vi của mình thọ, tôi cũng đứng.

Hơn mười phút sau, cánh quân thứ nhì đã nhảy xuống trận địa. Trận vừa dàn xong, thì sĩ quan đề lô xin pháo binh nã vào những chỗ có ổ moọc-chiê, trung liên, đại liên trong làng. Một lệnh ban ra, hơn bốn trăm con cọp dàn hàng ngang, vừa bắn, vừa xung phong vào trong làng. Trong khi súng trong làng bắn ra, đạn cầy các ụ đất, trúng vào ruộng nước, bụi, nước bắn tung.

Hàng quân tới bờ ruộng cuối cùng, cách bìa làng không đầy năm mươi thước, thì súng nhỏ từ trong mới nổ. Cả hàng quân đều nằm dài ra sau cái bờ ruộng. Giữa lúc đó, sĩ quan pháo binh trúng đạn lật ngươc. Tôi chạy lại cấp cứu, thì không kịp, viên đạn xuyên qua sọ anh. Thế là pháo binh vô hiệu. Trực thăng võ trang được gọi đến. Cố vấn Mỹ báo về trung tâm hành quân. Cố vấn tại trung tâm hành quân ra lệnh cho phi công trực thăng nã xuống địa điểm có địch quân.

Tôi đứng cạnh Cẩn tại một mô đất. Cẩn không thực tiếp cầm máy chỉ huy, mà ra lệnh cho các đại đội, trung đội qua hiệu thính viên.

Sau khi trực thăng võ trang nã ba loạt rocket, đại liên, thì lệnh xung phong truyền ra. Cả tiểu đoàn reo lên như sóng biển, rồi người người rời chỗ nằm lao vào làng. Không đầy mười phút sau, tiếng súng im hẳn.

Bây giờ là lúc tôi hành nghề. Những binh sĩ, tù binh bị thương nặng được băng bó, cầm máu, rồi trực thăng tải về quân y viện. Còn như bị thương nhẹ thì được điều trị tại chỗ. Tôi ngạc nhiên vô cùng, khi thấy những binh sĩ bị thương khá nặng, nghe tôi nói rằng : Nếu họ muốn, tôi có thể gắp đạn, may các vết thương đó cho họ, mà không phải về quân y viện. Họ từ chối đi quân y viện, xin ở lại để tôi giúp họ. Tôi cùng sĩ quan trợ y, bốn y tá làm việc trong hơn giờ mới xong. Tôi hỏi Cẩn :

_ Tôi tưởng, thương binh được về quân y viện chữa trị, nghỉ ngơi, thì là điều họ mong muốn mới phải. Tại sao họ muốn ở lại ?

_ Bọn cọp nhà này vẫn vậy. Chúng tôi sống với nhau, kề cận cái chết với nhau, thì xa nhau là điều buồn khổ vô cùng. Đấy chúng nó bị thương như vậy đấy, lát nữa anh sẽ thấy chúng chống gậy đi chơi nhông nhông ngoài phố, coi như bị kiến cắn.

Tôi đi một vòng thăm trận địa. Hơn hai trăm xác chết, mặc áo bà ba đen, quần đùi . Những xác chết đó, gương mặt còn non choẹt, đa số tuổi khoảng 15 đến 20, cái thì nằm vắt vẻo trên bờ kinh, cái thì bị cháy đen, cái thì mất đầu. Cũng có cái nằm chết trong hầm. Không biết, trong khi họ phơi xác ở đây, thì cha mẹ, anh em, vợ con họ có biết không ?

Sau trận đó thì Cẩn được thăng cấp đại úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt tiểu đoàn 42 BĐQ đi làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 (Sư đoàn 21). Việc đầu tiên của Cẩn khi làm tiểu đoàn trưởng là xin sư đoàn cho tất cả các sĩ quan, hạ sĩ quan xuất thân trường TSQ về chiến đấu cùng với mình. Cẩn đã được thỏa mãn một phần yêu cầu. Tôi hỏi Cẩn :

_ Anh đem các cựu TSQ về, với mục đích gì ?

_ Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu TSQ này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng nó, mà chúng no lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà tại quân trường không dạy. Hai là, truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi, vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu TSQ đều như tôi cả.

Suốt năm 1967, Cẩn với tiểu đoàn 1/33 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm tỉnh Hậu-giang, khi Đại-ngãi, khi Tắc-vân, khi Kiên-hưng, khi Thác-lác, khi Cờ-đỏ. Sau trận tổng công kích Mậu-Thân, Cẩn được thăng thiếu tá. Năm 1968, Cẩn là người có nhiều huy chương nhất quân đội. Thời gian này tôi bắt đầu viết lịch sử tiểu thuyết, nên tôi đọc rất kỹ Lục-thao, Tam-lược, Tôn-Ngô binh pháp, cùng binh pháp của các danh tướng Đức, Pháp, nhất là của các tướng Hồng-quân. Tôi dùng kiến thức quân sự trong sách vở để đánh giá những trận đánh của Cẩn từ 1966. Tôi bật ngửa ra rằng, Cẩn không hề đọc, cũng không hề được học tại trường sĩ quan, những binh pháp đó. Mà sao từ cung cách chỉ huy, cung cách hành xử với cấp dưới, cấp trên, nhất là những trận đánh của Cẩn bàng bạc xuất hiện như những lý thuyết trong thư tịch cổ ?

Năm 1970, Cẩn thăng trung tá, rời tiểu đoan 1/33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9. Năm 1972, Cẩn được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An-lộc. Cuối năm 1973, Cẩn được trở về chiến trường sình lầy với chức vụ tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng Chương-thiện. Lần cuối cùng tôi gặp Cẩn vào mùa hè năm 1974 tại Chương-thiện. Tôi hỏi Cẩn :

_ Anh từng là trung đoàn trưởng, hiện làm tỉnh trưởng. Anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm sư đoàn trưởng không ?
_ Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua, gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi. Mình phải biết liêm sỉ chứ ? Coi sư đoàn sao được.
_ Thế anh nghĩ sau này anh sẽ làm gì ?
_ Làm tỉnh trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi trường TSQ, hoặc coi các lớp huấn luyện đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được trong mười mấy năm qua dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh, mà tôi trải qua, nhờ anh viết lại. Bộ sách đó, anh nghĩ nên đặt tên là gì ?
_ " Cẩm nang của các đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng trong chiến tranh chống du kích taị vùng đồng lầy ". Nhưng liệu bộ Quốc-phòng có cho phép in hay không ?
_ Không cho in thì mình cũng cứ thuật, rồi đem giảng dạy, ai cấm được ?

Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng của tôi với Cẩn.
Sau khi miền Nam mất, tôi không được tin tức của Cẩn. Mãi năm 1976, tôi được tin : Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi tên tướng mặt bánh đúc Dương Văn-Minh ra lệnh đầu hàng. Cẩn chống lại lệnh đó. Các đơn vị Cộng-quân tiến vào tiếp thu tiểu khu Chương-thiện, thì gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cẩn bị bắt, rồi bị đem ra xử tử.

Ghi chú.

Tại Sài-gòn 9 giờ bẩy phút, tiếng súng kháng cự tại các đơn vị dù chấm dứt. Tại bộ chỉ huy tiểu khu Chương-thiện kéo dài tới 15 giờ. Trong khi đó, tiếng súng kháng cự của các Thiếu-sinh-quân còn kéo dài tới 19 giờ bốn mươi lăm phút tại Vũng-tầu. Nếu tôi không lầm thì các TSQVN là những người chiến đấu cuối cùng của miền Nam.

Cuộc xử Cẩn do hai nhân chứng thuật lại :

Một là Trung-tá Bùi Văn Địch (Hiện sống ở Berlin, Đức), xuất thân trường Thiếu-sinh-quân Hà-nội, sau di vào Mỹ-tho. Trung-tá Địch đã sống với Cẩn 2 năm tại trường Thiếu-sinh-quân Mỹ-tho. Thời gian 1972, cả hai từng cùng phục vụ tại sư đoàn 9 bộ binh.

Hai là phu nhân của Trung-tá bác-sĩ Jean Marc Bodoret, nhũ danh Vũ-thị Quỳnh-Chi (Hiện sống ở Marseille), em ruột của cựu Thiếu-sinh-quân Vũ Tiến Quang. Quang là người nạp đạn cho Cẩn xử dụng khẩu đại liên 30, bắn đến viên đạn cuối cùng trong công sự chiến đấu tiểu khu Chương-thiện. (Xin xem bài Cái bóng của Hoài-văn vương Trần Quốc Toản trong sách này). Bà Bodoret chứng kiến tận mắt hai cuộc xử án Cẩn.

Cuộc xử án như sau :

Ngay khi Cẩn bị bắt, người ta để Cẩn lên một chiếc xe mui trần, chở đi khắp thành phố Chương-thiện cho dân chúng xem chiến lợi phẩm. Ngồi trên xe, Cẩn thản nhiên mỉm cười, vẫy tay chào dân chúng. Cái gọi là Tòa án nhân dân được lập ngay trước tòa hành chánh. Sau khi quan tòa kết tội Cẩn bằng những từ ngữ hiếm hoi thấy trong các đạo luật trên thế giới. Người ta kêu gọi dân chúng, ai là nạn nhân của Cẩn thì đứng lên tố cáo, rồi muốn đánh, muốn chửi tùy thích. Nhưng chỉ có vài cán bộ nội thành tố cáo Cẩn là ác ôn có nợ máu. Dân chúng không có ai lên tiếng cả. Người ta hỏi : Những ai đồng ý xử tử Cẩn thì dơ tay lên ! Lại cũng chẳng có ai dơ tay. Thế là cuộc xử án ngừng lại.

Rồi, ba tuần sau, cuộc xử án Cẩn lại diễn ra ở sân vận động thể thao Cần-thơ. Lần này người ta chuẩn bị kỹ hơn, người ta cho tụi bò-vàng xen lẫn với dân chúng. Cũng bản cũ soạn lại, nhưng người ta khôn khéo hơn, người ta không hỏi xem Cẩn đã nợ máu với ai, thì hãy ra mà xỉ vả, đánh đập. Người ta chỉ hỏi : Ai đồng ý xử tử Cẩn thì dơ tay. Bò vàng dơ tay, một số dân chúng dơ tay. Số đông vẫn cứng đầu, không đơ tay.

Người ta hỏi Cẩn có nhận những tội mà tòa án nêu ra không ? Cẩn cười nhạt :

" Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt ".

Rồi Cẩn hô:

" Đả đảo Cộng-sản. Việt-Nam muôn năm "

Sau khi Cẩn bị băn chết, dân chúng hiện diện khóc như mưa như gió. Trời tháng năm, đang nắng chói chang, tự nhiên sấm chớp nổ rung động không gian, rồi một trận mưa như trút xuống.

Nắng mưa là hiện tượng bình thường của trời đất. Nhưng dân chúng Cần-thơ thì cho rằng, trời khóc thương cho người anh hùng, gặp cơn sóng gió của đất nước.

Khi tôi gặp Cẩn, thì tôi chưa khởi công viết lịch sử tiểu thuyết. Thành ra cuộc đời Cẩn, cuộc đời các cựu TSQ quanh Cẩn, in vào tâm não tôi rất sâu, rất đẹp. Vì vậy sang năm 1968, khi bắt đầu viết, thì bao giờ tôi cũng khơỉ đầu bằng thời thơ ấu của những nhân vật chính. Trong bộ nào, cũng có những thiếu niên, khi ra trận chỉ tiến lên hoặc chết, chứ không lùi.

Có rất nhiều người đặt câu hỏi : Giữa tôi và Cẩn như hai thái cực . Cẩn chỉ học đến đệ lục, tôi được học ở nhà, ở trường đến trình độ cao nhất. Cẩn là người Nam, tôi là người Bắc. Cẩn theo đạo Chúa, tôi là cư sĩ Phật-giáo. Tôi thì sống trong sách vở, hay đi trên mây, Cẩn thì lăn lộn với thực tế. Tôi không biết uống rượu, Cẩn thì nổi danh tửu lượng cao nhất sư đoàn 21 bộ binh. Tôi thấy người đẹp là chân tay run lẩy bẩy, Cẩn thì rửng rưng. Thế mà khi gặp nhau, chúng tôi thân với nhau ngay. Thân đến độ giãi bầy cho nhau tất cả những tâm sự thầm kín nhất, không một người thứ nhì biết được. Tại sao ? Cho đến nay, tôi mới trả lời được rằng : Cẩn cũng như những người quanh Cẩn, là những hình bóng thực, rất quen thuộc mà trước kia tôi chỉ thấy trong lịch sử. Nay được gặp trong thực tế.

Hai mươi mốt năm qua, đúng mười hai giờ trưa, ngày 30 tháng tư, dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng mua bó hoa, đèn cầy, vào nhà thờ đốt nến, đặt hoa dưới tượng đức mẹ, và cầu xin cho linh hồn Cẩn được an lành trong vòng tay người.

Tôi lược thuật về cuộc đời Cẩn mà không phê bình, vì Cẩn là bạn thân của tôi. Vả tôi không đủ ngôn từ đẹp đẽ để tặng Cận.

Viết tại Paris
Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

KhanhVan wrote:Image


Anh Sáu rủ mấy anh qua quán càphê Gà nhậu chơi .... hôm nay thứ 7 mà ! Em gái đi bơi về tối gặp lại nhe .....

Đồ nhậu đây, có cả soft drink cho quý vị không biết uống rượu đó

Image

Post Reply