Chiến Sĩ QLVNCH
Truyền Tin QLVNCH
.
Truyền Tin QLVNCH
Ba Mươi năm Nhìn Lại Cuộc Chiến:
Truyền tin, chuyện sinh tử trong chiến đấu nhưng lại ít được nhắc đến
Tuesday, April 05, 2005
Bài viết sau là của một cựu chiến binh trong binh chủng Truyền Tin của QLVNCH được ký là Phó Bảng Lê Ðình Châu, cựu Hạ Sĩ Phó, hiện ở tại Houston Texas. Bài viết khá dài được đăng trong Ðặc San Trần Nguyên Hãn số Xuân năm Ất Dậu của hội Ái Hữu Truyền Tin QLVNCH.
Nhận thấy tinh thần bài viết nhằm nhắc lại sự hy sinh đóng góp xương máu của một thế hệ thanh niên VN trong cuộc chiến vừa qua nên Trang Cựu Chiến Binh VNCH xin phép được lược trích một số đoạn để giới thiệu một binh chủng rất quan trọng trong chiến đấu, nhưng lại ít được nhắc tới ở hải ngoại.
Theo tác giả cho biết ở đầu bài viết thì bài có tới 5 phần là Khái Niệm về Binh Chủng Truyền Tin, Ðôi Dòng Lịch Sử, Các Vị Chỉ Huy Trưởng, Các kế hoạch lớn của Binh chủng Truyền Tin, Các bậc thầy của binh chủng Truyền Tin. Bài viết trong số Xuân Trần Nguyên Hãn, tác giả chỉ mới cho in có hai phần là Khái Niệm về binh chủng truyền tin và phần Ðôi dòng lịch sử.
Trang Cựu Chiến Binh chỉ xin trích phần Khái Niệm về binh chủng Truyền Tin và một đoạn trong phần Ðôi dòng lịch sử.
Binh Chủng Truyền Tin Trong Ký Ức Của Một Truyền Tin Viên Già
Phàm bất cứ người Việt Nam nào đã từng mặc ba thước ka ki trên người, đã từng chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ giống nòi trong hàng ngũ QLVNCH trước đây, đều không xa lạ gì với binh chủng Truyền Tin cả. Bởi vì không có ai, dù làm việc ở các bộ Tham Mưu hay phục vụ ở các đơn vị tác chiến nơi tuyến đầu khói lửa, mà không hơn một lần sử dụng tới phương tiện và dịch vụ do binh chủng Truyền Tin cung cấp cho quí vị.
Thật vậy, từ Bộ TTM/ QLVNCH đến các tiền đồn hẻo lánh, không nơi nào có thể thiếu sự tham dự của binh chủng Truyền tin này được đâu. Nơi nào mà thiếu binh chủng TT thì không khác nào ăn phở mà lại thiếu chanh ớt, hành ngò và quên chan nước lèo! Không quân lướt gió tung mây bay lượn trên trời cao, hải quân vượt sóng dữ trên mặt đại dương đi tìm Hoa Biển về tặng người yêu, Lục quân lội suối băng rừng để bảo vệ xóm làng v.v... nhất định đều phải dùng đến Truyền Tin, bằng không thì việc chỉ huy và phối hợp chiến trường không thể nào mà thực hiện cho hoàn hảo, tốt đẹp được. Thiết giáp dù có vỏ thép dầy, hỏa lực mạnh, cơ động cao mà muốn tấn công thần tốc hay yểm trợ bộ binh cho hữu hiệu cũng như pháo binh dù có súng to, nòng dài, đạn bự mà muốn bắn cho trúng mục tiêu, diệt địch cho nhanh, thì nhất định phải được binh chủng truyền tin tận tình phục vụ thật tốt mới có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt hảo được.
Các đơn vị tác chiến rất anh hùng của chúng ta như Mũ Ðỏ Nhẩy Dù, Mũ Nâu Biệt Ðộng Quân, Mũ Xanh Thủy Quân Lục Chiến, Mũ Ðen Biệt Kích và Biệt Cách Dù cho đến bộ binh Mũ Sắt, áo xanh lá cây rừng hay các đơn vị Cảnh Sát Quốc Gia, Ðịa Phương Quân-Nghĩa Quân ở những vùng xôi đậu đầy Việt Cộng cũng luôn luôn cần có binh chủng Truyền Tin bên cạnh để phục vụ. Không thể nào thiếu được cái binh chủng lắm chuyện này được đâu!
Người ta thường ví Bộ Tham Mưu như bộ óc, các đơn vị chiến đấu nơi trận tiền là tay chân thì binh chủng truyền tin được coi như là thần kinh hệ vậy. Hệ thống thần kinh hệ này phải làm sao đừng có bị nhiễm độc bởi vi trùng giang mai, hoa liễu hay liệt kháng, nếu không thì còn nói làm gì nữa! Cũng đành nói Amen thôi!
Cái binh chủng truyền tin của QLVNCH mới thấy thì có vẻ an bình và chữ thọ đấy, nhưng thấy vậy mà không phải vậy đâu. Ðôi khi nó cũng được chiến đấu như bộ binh khi cần thiết, thì đó là lúc quá ác liệt rồi!
Chuyện chiến đấu như bộ binh nó cũng đã xẩy ra rồi. Ðó là vụ Tết Mậu Thân và những ngày cuối cùng của cuộc chiến vừa qua.
Trong Tết Mậu Thân biết bao nhiêu xác Việt Cộng chung quanh các Ðài Truyền Tin, Trung Tâm Truyền Tin và các đơn vị truyền tin bởi vì quân Việt cộng quyết làm tịt ngòi truyền tin của ta. Trong kế hoạch phòng thủ thị xã Vũng Tầu, trận ác chiến tại Núi Lớn Vũng Tầu vào phút chót ngày 30.4.75, một tiểu đoàn khóa sinh của Trường Truyền Tin (Tiểu Ðoàn trưởng là Thiếu tá Trần Khoa Tràng và các chiến sĩ truyền tin) đã có cái vinh dự “Hy Sinh Vì Tổ Quốc” thay vì đầu hàng giặc.
Ấy đấy, cái binh chủng truyền tin của QLVNCH nó như thế đấy, nó ở khắp nơi, ai trong QLVNCH cũng được nó phục vụ, nhưng chẳng mấy ai biết đến nó đâu. Nó luôn luôn phục vụ trong thầm lặng thôi.
Từ trước đến nay chưa có ai nói gì đến nó cả. Cố Ðại tá sử gia Phạm Văn Sơn không biết có bao nhiều dòng về nó trong cuốn Quân Sử của QLVNCH hay không nữa!
Binh chủng Truyền Tin của QLVNCH thờ Tả Tướng Quân Trần Nguyên Hãn làm Thánh Tổ và dựng tượng ngài ở ngay giữa bùng binh chợ Bến Thành đến nay Việt Cộng cũng không dám đụng tới. Tượng nào của ngài cũng có con chim bồ câu trên tay bởi vì ngài đã nuôi dậy và dùng chim bồ câu để đưa thư. Phương tiện truyền tin là chim bồ câu, Thánh Tổ Trần Nguyên Hãn đã dùng cách đây vài thế kỷ. Một điều vui vui là cho đến năm 1954, khi Pháp chuyển giao binh chủng truyền tin cho Việt Nam thì phương tiện chim bồ câu vẫn còn tuy không còn được trọng dụng như xưa nữa.
Từ khi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm thu được trọn vẹn chủ quyền cả dân sự lẫn quân sự từ tay người Pháp thì binh chủng truyền tin đã hoàn toàn do các sĩ quan Việt nam phụ trách. Chỉ huy trưởng đầu tiên của Truyền Tin QLVNCH là Trung tá Lương Thế Soái, và Ðại Úy Nguyễn Hữu Chi là Tham Mưu Trưởng.
Quân sử của binh chủng Truyền Tin khởi hành những trang sử đầu tiên kể từ đây. Bằng biết bao nhiêu tâm trí, học thức, kinh nghiệm của những bậc thầy trong binh chủng Truyền tin với biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, sức lực và cả xương máu của các chuyên viên truyền tin ở cấp thừa hành để rồi phải đóng lại đau đớn vào ngày 30.4.1975.
Phó Bảng Lê Ðình Châu,
Cựu Hạ Sĩ Phó trong Binh chủng TT/QLVNCH
Truyền Tin QLVNCH
Ba Mươi năm Nhìn Lại Cuộc Chiến:
Truyền tin, chuyện sinh tử trong chiến đấu nhưng lại ít được nhắc đến
Tuesday, April 05, 2005
Bài viết sau là của một cựu chiến binh trong binh chủng Truyền Tin của QLVNCH được ký là Phó Bảng Lê Ðình Châu, cựu Hạ Sĩ Phó, hiện ở tại Houston Texas. Bài viết khá dài được đăng trong Ðặc San Trần Nguyên Hãn số Xuân năm Ất Dậu của hội Ái Hữu Truyền Tin QLVNCH.
Nhận thấy tinh thần bài viết nhằm nhắc lại sự hy sinh đóng góp xương máu của một thế hệ thanh niên VN trong cuộc chiến vừa qua nên Trang Cựu Chiến Binh VNCH xin phép được lược trích một số đoạn để giới thiệu một binh chủng rất quan trọng trong chiến đấu, nhưng lại ít được nhắc tới ở hải ngoại.
Theo tác giả cho biết ở đầu bài viết thì bài có tới 5 phần là Khái Niệm về Binh Chủng Truyền Tin, Ðôi Dòng Lịch Sử, Các Vị Chỉ Huy Trưởng, Các kế hoạch lớn của Binh chủng Truyền Tin, Các bậc thầy của binh chủng Truyền Tin. Bài viết trong số Xuân Trần Nguyên Hãn, tác giả chỉ mới cho in có hai phần là Khái Niệm về binh chủng truyền tin và phần Ðôi dòng lịch sử.
Trang Cựu Chiến Binh chỉ xin trích phần Khái Niệm về binh chủng Truyền Tin và một đoạn trong phần Ðôi dòng lịch sử.
Binh Chủng Truyền Tin Trong Ký Ức Của Một Truyền Tin Viên Già
Phàm bất cứ người Việt Nam nào đã từng mặc ba thước ka ki trên người, đã từng chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ giống nòi trong hàng ngũ QLVNCH trước đây, đều không xa lạ gì với binh chủng Truyền Tin cả. Bởi vì không có ai, dù làm việc ở các bộ Tham Mưu hay phục vụ ở các đơn vị tác chiến nơi tuyến đầu khói lửa, mà không hơn một lần sử dụng tới phương tiện và dịch vụ do binh chủng Truyền Tin cung cấp cho quí vị.
Thật vậy, từ Bộ TTM/ QLVNCH đến các tiền đồn hẻo lánh, không nơi nào có thể thiếu sự tham dự của binh chủng Truyền tin này được đâu. Nơi nào mà thiếu binh chủng TT thì không khác nào ăn phở mà lại thiếu chanh ớt, hành ngò và quên chan nước lèo! Không quân lướt gió tung mây bay lượn trên trời cao, hải quân vượt sóng dữ trên mặt đại dương đi tìm Hoa Biển về tặng người yêu, Lục quân lội suối băng rừng để bảo vệ xóm làng v.v... nhất định đều phải dùng đến Truyền Tin, bằng không thì việc chỉ huy và phối hợp chiến trường không thể nào mà thực hiện cho hoàn hảo, tốt đẹp được. Thiết giáp dù có vỏ thép dầy, hỏa lực mạnh, cơ động cao mà muốn tấn công thần tốc hay yểm trợ bộ binh cho hữu hiệu cũng như pháo binh dù có súng to, nòng dài, đạn bự mà muốn bắn cho trúng mục tiêu, diệt địch cho nhanh, thì nhất định phải được binh chủng truyền tin tận tình phục vụ thật tốt mới có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt hảo được.
Các đơn vị tác chiến rất anh hùng của chúng ta như Mũ Ðỏ Nhẩy Dù, Mũ Nâu Biệt Ðộng Quân, Mũ Xanh Thủy Quân Lục Chiến, Mũ Ðen Biệt Kích và Biệt Cách Dù cho đến bộ binh Mũ Sắt, áo xanh lá cây rừng hay các đơn vị Cảnh Sát Quốc Gia, Ðịa Phương Quân-Nghĩa Quân ở những vùng xôi đậu đầy Việt Cộng cũng luôn luôn cần có binh chủng Truyền Tin bên cạnh để phục vụ. Không thể nào thiếu được cái binh chủng lắm chuyện này được đâu!
Người ta thường ví Bộ Tham Mưu như bộ óc, các đơn vị chiến đấu nơi trận tiền là tay chân thì binh chủng truyền tin được coi như là thần kinh hệ vậy. Hệ thống thần kinh hệ này phải làm sao đừng có bị nhiễm độc bởi vi trùng giang mai, hoa liễu hay liệt kháng, nếu không thì còn nói làm gì nữa! Cũng đành nói Amen thôi!
Cái binh chủng truyền tin của QLVNCH mới thấy thì có vẻ an bình và chữ thọ đấy, nhưng thấy vậy mà không phải vậy đâu. Ðôi khi nó cũng được chiến đấu như bộ binh khi cần thiết, thì đó là lúc quá ác liệt rồi!
Chuyện chiến đấu như bộ binh nó cũng đã xẩy ra rồi. Ðó là vụ Tết Mậu Thân và những ngày cuối cùng của cuộc chiến vừa qua.
Trong Tết Mậu Thân biết bao nhiêu xác Việt Cộng chung quanh các Ðài Truyền Tin, Trung Tâm Truyền Tin và các đơn vị truyền tin bởi vì quân Việt cộng quyết làm tịt ngòi truyền tin của ta. Trong kế hoạch phòng thủ thị xã Vũng Tầu, trận ác chiến tại Núi Lớn Vũng Tầu vào phút chót ngày 30.4.75, một tiểu đoàn khóa sinh của Trường Truyền Tin (Tiểu Ðoàn trưởng là Thiếu tá Trần Khoa Tràng và các chiến sĩ truyền tin) đã có cái vinh dự “Hy Sinh Vì Tổ Quốc” thay vì đầu hàng giặc.
Ấy đấy, cái binh chủng truyền tin của QLVNCH nó như thế đấy, nó ở khắp nơi, ai trong QLVNCH cũng được nó phục vụ, nhưng chẳng mấy ai biết đến nó đâu. Nó luôn luôn phục vụ trong thầm lặng thôi.
Từ trước đến nay chưa có ai nói gì đến nó cả. Cố Ðại tá sử gia Phạm Văn Sơn không biết có bao nhiều dòng về nó trong cuốn Quân Sử của QLVNCH hay không nữa!
Binh chủng Truyền Tin của QLVNCH thờ Tả Tướng Quân Trần Nguyên Hãn làm Thánh Tổ và dựng tượng ngài ở ngay giữa bùng binh chợ Bến Thành đến nay Việt Cộng cũng không dám đụng tới. Tượng nào của ngài cũng có con chim bồ câu trên tay bởi vì ngài đã nuôi dậy và dùng chim bồ câu để đưa thư. Phương tiện truyền tin là chim bồ câu, Thánh Tổ Trần Nguyên Hãn đã dùng cách đây vài thế kỷ. Một điều vui vui là cho đến năm 1954, khi Pháp chuyển giao binh chủng truyền tin cho Việt Nam thì phương tiện chim bồ câu vẫn còn tuy không còn được trọng dụng như xưa nữa.
Từ khi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm thu được trọn vẹn chủ quyền cả dân sự lẫn quân sự từ tay người Pháp thì binh chủng truyền tin đã hoàn toàn do các sĩ quan Việt nam phụ trách. Chỉ huy trưởng đầu tiên của Truyền Tin QLVNCH là Trung tá Lương Thế Soái, và Ðại Úy Nguyễn Hữu Chi là Tham Mưu Trưởng.
Quân sử của binh chủng Truyền Tin khởi hành những trang sử đầu tiên kể từ đây. Bằng biết bao nhiêu tâm trí, học thức, kinh nghiệm của những bậc thầy trong binh chủng Truyền tin với biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, sức lực và cả xương máu của các chuyên viên truyền tin ở cấp thừa hành để rồi phải đóng lại đau đớn vào ngày 30.4.1975.
Phó Bảng Lê Ðình Châu,
Cựu Hạ Sĩ Phó trong Binh chủng TT/QLVNCH
.
KỂ CHUYỆN LÍNH BIỆT KÍCH
Sói Thần 253
Hồi mặt trận An Lộc, báo chí có nói tới hai câu thơ của cô giáo Pha viết trên bức tường của một ngôi trường bị bom đạn đã làm đổ xụp:
-An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân
Cô giáo Pha sau này đã sang Mỹ định cư, con gái của cô là ca sĩ Kim Phượng.
Tôi tuy cũng là quân nhân đối diện với cái chết thường xuyên, nhưng với những Binh chủng oai hùng như BĐQ, Nhảy Dù hoặc TQLC thì lòng rất ngưỡng mộ; còn về Biệt Cách Dù thì cũng từng nghe thấy báo chí đề cập tới Liên Đoàn 81, nhưng cũng không biết đơn vị này thuộc lực lượng nào và do ai chỉ huy, đóng quân ở đâu v v...
Hồi qua núi Sơn Chà, Đà Nẵng đi đổ toán thì chỉ biết tại đây có trại Lôi Hổ, họ ăn mặc quần áo kaki Nam Định của lính chính quy BV, trang bị AK báng xếp, những toán viên mặt lạnh như tiền, ngồi im lìm không hề gợi chuyện với ai, kể cả với phi hành đoàn.
Rồi cách đây gần 10 năm, khi tôi đang đổ lại miếng cement đằng trước nhà, thì thấy có ba người trạc bằng tuổi tôi, mà lại đi với mấy bà vợ, nhòm nhòm ngó ngó như muốn tìm nhà để mướn, nên tôi chào hỏi. Họ cũng đứng lại nói dăm ba câu chuyện và tỏ thực là dân HO mới qua, giờ sống chung trong căn Apartment chật chội quá, muốn đi thuê căn nhà cho thoải mái hơn.
Tôi hỏi các anh bị tù bao lâu. Họ đáp có người 20 năm, có người 30 năm. Tôi ngạc nhiên hỏi vặn, vậy chớ các anh cấp cao lắm hay sao mà ở lâu vậy? Họ nói là bị ở lâu là vì bị bắt ngoài Bắc hồi năm sáu mấy mà đến gần cuối thập niên 90 mới ra.
Sau cùng tôi mới vỡ lẽ là họ thuộc toán Biệt Kích nhảy ra Bắc.
Vì công việc cũng đang cần người, nên tôi có nhận một anh đi làm chung. Nghe nói về quá khứ của anh, người bạn tôi cũng kể là hồi xưa anh ta là HSQ đi học lớp Truyền Tin, trong đó có một Nữ Quân Nhân, sau này cô ấy nhảy toán ra Bắc và bị bắt ở ngoài đó.
Anh Bạn Biệt Kích trầm ngâm rồi nói rằng:
-Không có đâu anh. Nhiều người thuộc lực lượng khác, có khi họ chỉ nhảy trong nội địa hoặc qua bên kia biên giới Miên, Lào. Những toán nhảy Bắc tôi biết tên hết vì bị nhốt chung với nhau khá lâu, mà khi huấn luyện ở căn cứ Long Thành thì cũng biết nhau nữa. Nữ toán viên không có người nào đâu, và nếu có cũng không có ai bị bắt.
Sau này tôi đọc bài viết của ông Phan Lạc Phúc, có đề cập tới Người tù Kiệt Xuất Đ/uy Nguyễn Hữu Luyện cũng nhảy toán ra Bắc rồi bị bắt.
Tôi tìm hiểu qua anh bạn tôi, nhưng anh chỉ là một toán viên thường nên kiến thức tổng thể về đơn vị không có nhiều, vì thế tôi vẫn còn mù mờ về lính Biệt Kích.
Cho đến hôm nay, nghe anh Lôi Hổ Nguyễn Hữu Thọ và anh Trương tử Đoá kể lại, tôi mới biết nhiều về lực lượng này.
Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập thời cố TT Ngô Đình Diệm, mang một cái tên rất hiền lành là Sở Khai Thác Địa Hình do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, nhưng đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tổng Thống hoặc ông Ngô Đình Nhu. Trong cơ cấu tổ chức của sở thì có phòng E hay phòng 45 đặc trách nhiệm vụ tình báo bên kia vĩ tuyến 17 thường được gọi là Sở Bắc. Toán ra Bắc bằng máy bay C 47 thường là ba, bốn người sẽ nhảy dù xuống đất đối phương, nhưng cũng có những toán một người về qua ngả chính thức từ Lào, Miên hay Pháp... dưới vỏ bọc là Việt Kiều.
Đầu năm 63, Sở Khai Thác đổi thành Bộ Tư Lệnh LLĐB với hai Liên Đoàn 77 và 31. Sở Bắc vẫn duy trì và phối hợp với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.
Chính biến 1-11-63 xẩy ra và Đại Tá Tung bị giết chết vì không chịu phản bội TT Diệm. Sau đó Bộ Tư Lệnh LLĐB bị chuyển ra đóng ở Nha Trang.
Sở Bắc được tách ra khỏi LLĐB lấy tên là Sở Khai Thác đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Hổ và các Cố Vấn Mỹ của MACV.
Cùng thời gian này Sở Liên Lạc được thành lập với nhiệm vụ hoạt động xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Campuchia. Các toán Thám Sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger). Chỉ Huy Trưởng của SLL là Đại Tá Hồ Tiêu và đơn vị đóng gần sân banh Quân Đội cạnh bộ Tổng Tham Mưu.
Tóm lại, Sở Bắc (Sở Khai Thác) là toán Biệt Kích nhảy ra ngoài Bắc; Sở Liên Lạc là toán Lôi Hổ nhảy qua Lào và Miên. Cả hai Sở này thuộc Nha Kỹ Thuật, phòng 7 Bộ TTM.
Còn Biệt Kích Delta cũng là những toán thám sát của LLĐB, nhưng nhảy trong nội địa. Họ đóng quân thành từng trại gọi là trại Lực Lượng Đặc Biệt.
Lôi Hổ (Sở Liên Lạc) có 3 chiến đoàn:
-CĐ1 Xung Kích CCN đóng tại núi Sơn Chà ngay cửa biển Đà Nẵng gần đài Kiểm Báo Panama.
-CĐ2 CCC (còn gọi là B15) đóng tại Kontum, bên kia sông Dakbla.
-CĐ3 CCS (gọi là B50) đóng tại Ban Mê Thuột.
Mỗi Chiến Đoàn chỉ có 1 Đại đội Thám Sát với 10 hay 12 toán, 1 ĐĐ An Ninh, 3 ĐĐ Trừ Bị.
Toán Thám Sát có 10 hay 12 người gồm 1 SQ Toán Trưởng, 1 HSQ Toán Phó và 10 Biệt Kích Quân. Ngoại trừ SQ và HSQ cán bộ là quân nhân QLVNCH, có số quân đàng hoàng, với Chứng Chỉ Tại ngũ, còn Biệt Kích quân là dân địa phương hay cựu đào binh, có khi là hồi chánh viên đầu quân vào mà người ta thường hay gọi là Biệt Kích Mỹ, vì họ không thuộc QLVNCH và do Mỹ trả lương.
SQ và HSQ lãnh theo bảng lương tương đương với lính Nhảy Dù vì có thêm phụ cấp Bằng Dù, và mỗi lần nhảy toán thì có lãnh Công Tác Phí, tôi nhớ là gộp chung lại thì khoảng gấp hai lương người cùng cấp bực bên Bộ Binh.
Ngay cả Phi Hành Đoàn KQ như máy bay quan sát O1, O2, L17 hay Trực Thăng H34 của PĐ 219 cũng đều lãnh công tác phí 3000$/1 lần vượt biên giới. Như vậy PHĐ Trực thăng vừa thả và bốc toán thì được 6000$. Chính vì vậy mà họ sống rất đế vương, binh xập xám không cần đếm tiền mà đo bằng lóng tay, và nói "Thời giờ là cờ bạc".
Đến năm 1970 thì sự yểm trợ của Mỹ giảm bớt rất nhiều nên LLĐB giải tán.
TT Thiệu ra lệnh cho Nha Kỹ Thuật gom lại thành những sở sau đây:
-Sở Liên Lạc
-Sở Không Yểm (liên quan đến KQ)
-Sở Phòng Vệ Duyên Hải (HQ và Người Nhái)
-Sở Tâm Lý Chiến (Đài Phát Thanh Mẹ VN và Đài Gươm Thiêng Ái Quốc)
-Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành)
-Sở Công Tác gồm Đoàn 11 và 68 đã có từ trước và khi LLĐB giải tán thì lập thêm Đoàn 71, 72 và 75.
Bây giờ tôi xin nói về Biệt Cách Dù:
-Trước Mậu Thân 1968 LLĐB có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. TĐ này hoàn toàn là lính QĐVNCH chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của VC thì thường gọi KQ đem bom đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa.
Hồi Mậu Thân, vị TĐ Trưởng Biệt Cách 81 đầu tiên là Th/t Quế đã tử trận.
Sau 1970, LLĐB giải tán, các căn cứ LLĐB dọc biên giới đổi thành Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại.
Các SQ và HSQ kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Phòng 7 TTM, hoặc BĐQ còn thì về BCD hết.
Lúc này TĐ 81 BCD đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của LLĐB từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu LLĐB còn bên kia là BCD.
Như vậy LLĐB chính là tiền thân của BCD.
Bây giờ trở lại với các Chiến Đoàn Xung Kích của Lôi Hổ:
-Chiến Đoàn 1 thường nhảy qua vùng thượng Lào, từ Đông Hà theo đường số 9, bay ngang Khe Sanh mà vượt biên giới. Nơi đây đồi núi chập chùng nên khi đã nhảy xuống đất rồi thì di chuyển rất khó khăn. Các máy bay H34 cổ lỗ sĩ của Phi Đoàn 219 lại tỏ ra rất hữu hiệu, nhất là khi bốc hay đổ toán. Nó có động cơ nổ 10 máy nên chịu đạn "chì" hơn loại UH bán phản lực sau này.
Thường thì sau khi đã có SQ Tiền Không Sát đi chụp hình bãi đáp ngày hôm trước bằng phi cơ quan sát, cả toán Lôi Hổ, CHT và Trưởng Phi cơ đã vào phòng thuyết trình Hành Quân, và khi đầy đủ TT Võ Trang hay Khu trục hộ tống, thì 3 chiếc H34 sẽ vào vùng, họ bay rất cao và chiếc chở toán sẽ cúp ga, làm một cú lá vàng rơi xoắn ốc cho đến gần mặt đất mới tăng ga để đáp.
Làm Auto Rotation như thế thì mới tránh khỏi bị bắn rơi, nhưng tay Pilot phải rất giỏi và kinh nghiệm đầy mình.
Đổ quân vùng này thì ngoài sự đối đầu với cán binh BV, còn đôi khi phải chơi luôn cả phe Pathet Lào nữa.
-Chiến đoàn 2 và 3 phụ trách vùng Hạ Lào và vùng Ba Biên Giới, họ nhảy vào những đường mòn của hệ thống đường HCM mà lấy tin tức, bắt tù binh, đặt mìn hoặc đốt cháy những kho vũ khí đạn dược, hay thực phẩm đặt rải rác bên kia biên giới.
Hoạt động của Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Bắc và 3 chiến đoàn Lôi Hổ càng gần đến mốc 1975 thì càng co cụm lại, Lực Lượng Đặc Biệt còn lại đứa con duy nhất làm nổi đình đám từ trận Tử Chiến ở An Lộc, và mùa hè Đỏ Lửa ngoài Quảng Trị là Liên Đoàn 81 Biệt Cách.
Đã có thời gian tưởng đâu Bộ Tổng Tham Mưu cho dẹp luôn đơn vị BCD này mà cho nhập chung vào Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng sau cùng Đại Tá Phan Văn Huấn lại được chỉ thị thành lập Liên Đoàn 81.
Đơn vị oai hùng này đã đánh 2 trận để đời: An Lộc và Quảng Trị.
Họ không phải là lính đánh theo kiểu Bộ Binh, nhưng là một loại du kích để "dĩ độc trị độc".
Từ hồi tết Mậu Thân, khi VC chiếm vùng Cây Thị, Cây Quéo và đào hầm hố công sự trong nhà dân, TQLC và Nhảy Dù không thể bẩy chúng ra được, là vì Tổng Thống ra lệnh không được đánh bom hay nã trọng pháo vào khu vực gần SG, sợ tai mắt của các toà Đại Sứ, họ sẽ cho rằng bên ta bị đánh sát vô Thủ Đô rồi.
Hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị có cách đánh khác, đó là tấn công ào ạt sau khi trận địa đã có phi pháo bắn tàn sát, bây giờ lệnh trên ra như thế thì rất hao quân.
Biệt Cách Dù đã nhận được lệnh "Vào Vùng". Chỉ trong vòng có ba ngày, họ đã lấy lại hai "khúc xương khó nuốt" trên, đêm đến là họ bò vào từng hầm, sờ đầu hay sờ chân có dép râu mà diệt gọn địch quân, còn bao nhiêu thì lùa cho chúng chạy ngờ ngờ vào tầm ngắm của Nhảy Dù và TQLC đang đón chờ.
Đầu năm 1975, Biệt Cách có 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi BCH có chừng 1000 quân đang đóng tại phía Bắc Biên Hoà.
-Tháng 4-1975, Th/t Phạm Châu Tài nhận lệnh đưa BCH/CT1 về phòng thủ BTTM . Ngày 30-4-75, quân của ông đã chặn đánh xe tăng dài dài từ Ngã Tư Bảy Hiền về đến Lăng Cha Cả và Phi Trường TSN. Ông là người đã gọi điện thoại trực tiếp cho TT Dương Văn Minh và Tổng Tham Mưu Trưởng lúc này là tướng Hạnh, đe doạ kéo quân đến xử tội hai ông này
Đây là đơn vị cuối cùng của QĐVNCH còn cầm súng chiến đấu sau khi lệnh đầu hàng của TT/ DVM đã đọc trên Đài Phát Thanh. Toán quân BCD này rút lui ra hướng bến Bạch Đằng và tan vỡ từ đây.
-Hai Chiến Đoàn còn lại là CĐ1 do Tr/t Vũ Xuân Thông **, và CĐ2 do Th/t Nguyễn Sơn chỉ huy vẫn còn đóng tại Biên Hoà. (Tr/t Vũ Xuân Thông là người đóng với Tài tử Kiều Chinh trong phim Người Tình Không Chân Dung.)
Đ/t Huấn đã ra lệnh cho các toán đang nằm trong Chiến khu Đ và Chiến Khu Dương Minh Châu phải rút về hết để chờ lệnh. Khi tướng Toàn, TL QKII ra lệnh về SG thì BCD rút sau cùng và phải phá xập cầu ngăn không cho chiến xa VC vào SG bằng hướng xa lộ Đại Hàn.
Trưa ngày 30-4, khi nhận được lệnh đầu hàng, máy truyền tin im bặt, không còn được tiếp tế hay yểm trợ của đơn vị bạn, không còn người chỉ huy trực tiếp, Đại Tá Huấn đã tập họp 2000 quân mà nói lời cuối cùng trong nước mắt và uất nghẹn.
Trong khi các đơn vị khác rã ngũ một cách thê thảm, hàng quân của BCD vẫn quần áo chỉnh tề, Chỉ Huy Trưởng đi đầu, súng đeo vai chúc nòng xuống đất, băng đạn đã tháo ra, nhưng trong nòng súng vẫn còn một viên cuối, để nếu có bị đối phương làm nhục, thì từ quan đến lính sẽ tuẫn tiết.
Đối phương dù chiến thắng, vẫn nể đoàn quân dũng mãnh, nên đưa xe ra chở các SQ về nhà, còn binh sĩ xếp súng thành một đống rồi tan hàng!
Sử xanh của BCD chưa chấm dứt ngày 30 tháng tư ấy, vì cả tuần sau, còn 3 toán mất liên lạc trong rừng, đói khát tìm về đến xã kia và ra trình diện, họ đã bị bắn bỏ xác trôi sông.
Hơn 10 chiến sĩ vô danh của VNCH đã chết khi trận chiến đã vào giờ thứ 25.
Sói Thần 253
.
KỂ CHUYỆN LÍNH BIỆT KÍCH
Sói Thần 253
Hồi mặt trận An Lộc, báo chí có nói tới hai câu thơ của cô giáo Pha viết trên bức tường của một ngôi trường bị bom đạn đã làm đổ xụp:
-An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân
Cô giáo Pha sau này đã sang Mỹ định cư, con gái của cô là ca sĩ Kim Phượng.
Tôi tuy cũng là quân nhân đối diện với cái chết thường xuyên, nhưng với những Binh chủng oai hùng như BĐQ, Nhảy Dù hoặc TQLC thì lòng rất ngưỡng mộ; còn về Biệt Cách Dù thì cũng từng nghe thấy báo chí đề cập tới Liên Đoàn 81, nhưng cũng không biết đơn vị này thuộc lực lượng nào và do ai chỉ huy, đóng quân ở đâu v v...
Hồi qua núi Sơn Chà, Đà Nẵng đi đổ toán thì chỉ biết tại đây có trại Lôi Hổ, họ ăn mặc quần áo kaki Nam Định của lính chính quy BV, trang bị AK báng xếp, những toán viên mặt lạnh như tiền, ngồi im lìm không hề gợi chuyện với ai, kể cả với phi hành đoàn.
Rồi cách đây gần 10 năm, khi tôi đang đổ lại miếng cement đằng trước nhà, thì thấy có ba người trạc bằng tuổi tôi, mà lại đi với mấy bà vợ, nhòm nhòm ngó ngó như muốn tìm nhà để mướn, nên tôi chào hỏi. Họ cũng đứng lại nói dăm ba câu chuyện và tỏ thực là dân HO mới qua, giờ sống chung trong căn Apartment chật chội quá, muốn đi thuê căn nhà cho thoải mái hơn.
Tôi hỏi các anh bị tù bao lâu. Họ đáp có người 20 năm, có người 30 năm. Tôi ngạc nhiên hỏi vặn, vậy chớ các anh cấp cao lắm hay sao mà ở lâu vậy? Họ nói là bị ở lâu là vì bị bắt ngoài Bắc hồi năm sáu mấy mà đến gần cuối thập niên 90 mới ra.
Sau cùng tôi mới vỡ lẽ là họ thuộc toán Biệt Kích nhảy ra Bắc.
Vì công việc cũng đang cần người, nên tôi có nhận một anh đi làm chung. Nghe nói về quá khứ của anh, người bạn tôi cũng kể là hồi xưa anh ta là HSQ đi học lớp Truyền Tin, trong đó có một Nữ Quân Nhân, sau này cô ấy nhảy toán ra Bắc và bị bắt ở ngoài đó.
Anh Bạn Biệt Kích trầm ngâm rồi nói rằng:
-Không có đâu anh. Nhiều người thuộc lực lượng khác, có khi họ chỉ nhảy trong nội địa hoặc qua bên kia biên giới Miên, Lào. Những toán nhảy Bắc tôi biết tên hết vì bị nhốt chung với nhau khá lâu, mà khi huấn luyện ở căn cứ Long Thành thì cũng biết nhau nữa. Nữ toán viên không có người nào đâu, và nếu có cũng không có ai bị bắt.
Sau này tôi đọc bài viết của ông Phan Lạc Phúc, có đề cập tới Người tù Kiệt Xuất Đ/uy Nguyễn Hữu Luyện cũng nhảy toán ra Bắc rồi bị bắt.
Tôi tìm hiểu qua anh bạn tôi, nhưng anh chỉ là một toán viên thường nên kiến thức tổng thể về đơn vị không có nhiều, vì thế tôi vẫn còn mù mờ về lính Biệt Kích.
Cho đến hôm nay, nghe anh Lôi Hổ Nguyễn Hữu Thọ và anh Trương tử Đoá kể lại, tôi mới biết nhiều về lực lượng này.
Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập thời cố TT Ngô Đình Diệm, mang một cái tên rất hiền lành là Sở Khai Thác Địa Hình do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, nhưng đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tổng Thống hoặc ông Ngô Đình Nhu. Trong cơ cấu tổ chức của sở thì có phòng E hay phòng 45 đặc trách nhiệm vụ tình báo bên kia vĩ tuyến 17 thường được gọi là Sở Bắc. Toán ra Bắc bằng máy bay C 47 thường là ba, bốn người sẽ nhảy dù xuống đất đối phương, nhưng cũng có những toán một người về qua ngả chính thức từ Lào, Miên hay Pháp... dưới vỏ bọc là Việt Kiều.
Đầu năm 63, Sở Khai Thác đổi thành Bộ Tư Lệnh LLĐB với hai Liên Đoàn 77 và 31. Sở Bắc vẫn duy trì và phối hợp với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.
Chính biến 1-11-63 xẩy ra và Đại Tá Tung bị giết chết vì không chịu phản bội TT Diệm. Sau đó Bộ Tư Lệnh LLĐB bị chuyển ra đóng ở Nha Trang.
Sở Bắc được tách ra khỏi LLĐB lấy tên là Sở Khai Thác đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Hổ và các Cố Vấn Mỹ của MACV.
Cùng thời gian này Sở Liên Lạc được thành lập với nhiệm vụ hoạt động xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Campuchia. Các toán Thám Sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger). Chỉ Huy Trưởng của SLL là Đại Tá Hồ Tiêu và đơn vị đóng gần sân banh Quân Đội cạnh bộ Tổng Tham Mưu.
Tóm lại, Sở Bắc (Sở Khai Thác) là toán Biệt Kích nhảy ra ngoài Bắc; Sở Liên Lạc là toán Lôi Hổ nhảy qua Lào và Miên. Cả hai Sở này thuộc Nha Kỹ Thuật, phòng 7 Bộ TTM.
Còn Biệt Kích Delta cũng là những toán thám sát của LLĐB, nhưng nhảy trong nội địa. Họ đóng quân thành từng trại gọi là trại Lực Lượng Đặc Biệt.
Lôi Hổ (Sở Liên Lạc) có 3 chiến đoàn:
-CĐ1 Xung Kích CCN đóng tại núi Sơn Chà ngay cửa biển Đà Nẵng gần đài Kiểm Báo Panama.
-CĐ2 CCC (còn gọi là B15) đóng tại Kontum, bên kia sông Dakbla.
-CĐ3 CCS (gọi là B50) đóng tại Ban Mê Thuột.
Mỗi Chiến Đoàn chỉ có 1 Đại đội Thám Sát với 10 hay 12 toán, 1 ĐĐ An Ninh, 3 ĐĐ Trừ Bị.
Toán Thám Sát có 10 hay 12 người gồm 1 SQ Toán Trưởng, 1 HSQ Toán Phó và 10 Biệt Kích Quân. Ngoại trừ SQ và HSQ cán bộ là quân nhân QLVNCH, có số quân đàng hoàng, với Chứng Chỉ Tại ngũ, còn Biệt Kích quân là dân địa phương hay cựu đào binh, có khi là hồi chánh viên đầu quân vào mà người ta thường hay gọi là Biệt Kích Mỹ, vì họ không thuộc QLVNCH và do Mỹ trả lương.
SQ và HSQ lãnh theo bảng lương tương đương với lính Nhảy Dù vì có thêm phụ cấp Bằng Dù, và mỗi lần nhảy toán thì có lãnh Công Tác Phí, tôi nhớ là gộp chung lại thì khoảng gấp hai lương người cùng cấp bực bên Bộ Binh.
Ngay cả Phi Hành Đoàn KQ như máy bay quan sát O1, O2, L17 hay Trực Thăng H34 của PĐ 219 cũng đều lãnh công tác phí 3000$/1 lần vượt biên giới. Như vậy PHĐ Trực thăng vừa thả và bốc toán thì được 6000$. Chính vì vậy mà họ sống rất đế vương, binh xập xám không cần đếm tiền mà đo bằng lóng tay, và nói "Thời giờ là cờ bạc".
Đến năm 1970 thì sự yểm trợ của Mỹ giảm bớt rất nhiều nên LLĐB giải tán.
TT Thiệu ra lệnh cho Nha Kỹ Thuật gom lại thành những sở sau đây:
-Sở Liên Lạc
-Sở Không Yểm (liên quan đến KQ)
-Sở Phòng Vệ Duyên Hải (HQ và Người Nhái)
-Sở Tâm Lý Chiến (Đài Phát Thanh Mẹ VN và Đài Gươm Thiêng Ái Quốc)
-Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành)
-Sở Công Tác gồm Đoàn 11 và 68 đã có từ trước và khi LLĐB giải tán thì lập thêm Đoàn 71, 72 và 75.
Bây giờ tôi xin nói về Biệt Cách Dù:
-Trước Mậu Thân 1968 LLĐB có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. TĐ này hoàn toàn là lính QĐVNCH chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của VC thì thường gọi KQ đem bom đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa.
Hồi Mậu Thân, vị TĐ Trưởng Biệt Cách 81 đầu tiên là Th/t Quế đã tử trận.
Sau 1970, LLĐB giải tán, các căn cứ LLĐB dọc biên giới đổi thành Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại.
Các SQ và HSQ kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Phòng 7 TTM, hoặc BĐQ còn thì về BCD hết.
Lúc này TĐ 81 BCD đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của LLĐB từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu LLĐB còn bên kia là BCD.
Như vậy LLĐB chính là tiền thân của BCD.
Bây giờ trở lại với các Chiến Đoàn Xung Kích của Lôi Hổ:
-Chiến Đoàn 1 thường nhảy qua vùng thượng Lào, từ Đông Hà theo đường số 9, bay ngang Khe Sanh mà vượt biên giới. Nơi đây đồi núi chập chùng nên khi đã nhảy xuống đất rồi thì di chuyển rất khó khăn. Các máy bay H34 cổ lỗ sĩ của Phi Đoàn 219 lại tỏ ra rất hữu hiệu, nhất là khi bốc hay đổ toán. Nó có động cơ nổ 10 máy nên chịu đạn "chì" hơn loại UH bán phản lực sau này.
Thường thì sau khi đã có SQ Tiền Không Sát đi chụp hình bãi đáp ngày hôm trước bằng phi cơ quan sát, cả toán Lôi Hổ, CHT và Trưởng Phi cơ đã vào phòng thuyết trình Hành Quân, và khi đầy đủ TT Võ Trang hay Khu trục hộ tống, thì 3 chiếc H34 sẽ vào vùng, họ bay rất cao và chiếc chở toán sẽ cúp ga, làm một cú lá vàng rơi xoắn ốc cho đến gần mặt đất mới tăng ga để đáp.
Làm Auto Rotation như thế thì mới tránh khỏi bị bắn rơi, nhưng tay Pilot phải rất giỏi và kinh nghiệm đầy mình.
Đổ quân vùng này thì ngoài sự đối đầu với cán binh BV, còn đôi khi phải chơi luôn cả phe Pathet Lào nữa.
-Chiến đoàn 2 và 3 phụ trách vùng Hạ Lào và vùng Ba Biên Giới, họ nhảy vào những đường mòn của hệ thống đường HCM mà lấy tin tức, bắt tù binh, đặt mìn hoặc đốt cháy những kho vũ khí đạn dược, hay thực phẩm đặt rải rác bên kia biên giới.
Hoạt động của Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Bắc và 3 chiến đoàn Lôi Hổ càng gần đến mốc 1975 thì càng co cụm lại, Lực Lượng Đặc Biệt còn lại đứa con duy nhất làm nổi đình đám từ trận Tử Chiến ở An Lộc, và mùa hè Đỏ Lửa ngoài Quảng Trị là Liên Đoàn 81 Biệt Cách.
Đã có thời gian tưởng đâu Bộ Tổng Tham Mưu cho dẹp luôn đơn vị BCD này mà cho nhập chung vào Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng sau cùng Đại Tá Phan Văn Huấn lại được chỉ thị thành lập Liên Đoàn 81.
Đơn vị oai hùng này đã đánh 2 trận để đời: An Lộc và Quảng Trị.
Họ không phải là lính đánh theo kiểu Bộ Binh, nhưng là một loại du kích để "dĩ độc trị độc".
Từ hồi tết Mậu Thân, khi VC chiếm vùng Cây Thị, Cây Quéo và đào hầm hố công sự trong nhà dân, TQLC và Nhảy Dù không thể bẩy chúng ra được, là vì Tổng Thống ra lệnh không được đánh bom hay nã trọng pháo vào khu vực gần SG, sợ tai mắt của các toà Đại Sứ, họ sẽ cho rằng bên ta bị đánh sát vô Thủ Đô rồi.
Hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị có cách đánh khác, đó là tấn công ào ạt sau khi trận địa đã có phi pháo bắn tàn sát, bây giờ lệnh trên ra như thế thì rất hao quân.
Biệt Cách Dù đã nhận được lệnh "Vào Vùng". Chỉ trong vòng có ba ngày, họ đã lấy lại hai "khúc xương khó nuốt" trên, đêm đến là họ bò vào từng hầm, sờ đầu hay sờ chân có dép râu mà diệt gọn địch quân, còn bao nhiêu thì lùa cho chúng chạy ngờ ngờ vào tầm ngắm của Nhảy Dù và TQLC đang đón chờ.
Đầu năm 1975, Biệt Cách có 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi BCH có chừng 1000 quân đang đóng tại phía Bắc Biên Hoà.
-Tháng 4-1975, Th/t Phạm Châu Tài nhận lệnh đưa BCH/CT1 về phòng thủ BTTM . Ngày 30-4-75, quân của ông đã chặn đánh xe tăng dài dài từ Ngã Tư Bảy Hiền về đến Lăng Cha Cả và Phi Trường TSN. Ông là người đã gọi điện thoại trực tiếp cho TT Dương Văn Minh và Tổng Tham Mưu Trưởng lúc này là tướng Hạnh, đe doạ kéo quân đến xử tội hai ông này
Đây là đơn vị cuối cùng của QĐVNCH còn cầm súng chiến đấu sau khi lệnh đầu hàng của TT/ DVM đã đọc trên Đài Phát Thanh. Toán quân BCD này rút lui ra hướng bến Bạch Đằng và tan vỡ từ đây.
-Hai Chiến Đoàn còn lại là CĐ1 do Tr/t Vũ Xuân Thông **, và CĐ2 do Th/t Nguyễn Sơn chỉ huy vẫn còn đóng tại Biên Hoà. (Tr/t Vũ Xuân Thông là người đóng với Tài tử Kiều Chinh trong phim Người Tình Không Chân Dung.)
Đ/t Huấn đã ra lệnh cho các toán đang nằm trong Chiến khu Đ và Chiến Khu Dương Minh Châu phải rút về hết để chờ lệnh. Khi tướng Toàn, TL QKII ra lệnh về SG thì BCD rút sau cùng và phải phá xập cầu ngăn không cho chiến xa VC vào SG bằng hướng xa lộ Đại Hàn.
Trưa ngày 30-4, khi nhận được lệnh đầu hàng, máy truyền tin im bặt, không còn được tiếp tế hay yểm trợ của đơn vị bạn, không còn người chỉ huy trực tiếp, Đại Tá Huấn đã tập họp 2000 quân mà nói lời cuối cùng trong nước mắt và uất nghẹn.
Trong khi các đơn vị khác rã ngũ một cách thê thảm, hàng quân của BCD vẫn quần áo chỉnh tề, Chỉ Huy Trưởng đi đầu, súng đeo vai chúc nòng xuống đất, băng đạn đã tháo ra, nhưng trong nòng súng vẫn còn một viên cuối, để nếu có bị đối phương làm nhục, thì từ quan đến lính sẽ tuẫn tiết.
Đối phương dù chiến thắng, vẫn nể đoàn quân dũng mãnh, nên đưa xe ra chở các SQ về nhà, còn binh sĩ xếp súng thành một đống rồi tan hàng!
Sử xanh của BCD chưa chấm dứt ngày 30 tháng tư ấy, vì cả tuần sau, còn 3 toán mất liên lạc trong rừng, đói khát tìm về đến xã kia và ra trình diện, họ đã bị bắn bỏ xác trôi sông.
Hơn 10 chiến sĩ vô danh của VNCH đã chết khi trận chiến đã vào giờ thứ 25.
Sói Thần 253
.
-
tranminhvuong
TẠP-GHI VỀ KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM
ANH KA TÊ
Nói về Không-Quân, một quân-chủng bị thiệt-thòi khổ-sở chỉ vì mấy cái dấu khi có khi không, ép vào danh-từ Không-Quân: quân-chủng gì mà chỉ có lính mà không có Quan, quan đi bay suốt ngày làm thao mà thấy được quan ỏ đâu: Không-QUAN. Ngược lại có người lại cho là Quân-chủng gì mà không có binh-lính mà chỉ thấy quan là quan thôi, vì thấy rặt toàn là các quan lái tàu bay hiên ngang giữa phố chợ, nhà hàng khiêu-vũ, các rạp hát, oai-hùng biết mấy và lấy le(l’air) nữa : Không-QUÂN. Lính gì mà là lính Không QUẦN, nghèo quá không có tiền để mua nổi một cái quần (cố nhiên là tiền cho đào ăn hết rồi!!!), chỉ có dân bay tiết kiệm được tiền nhiều nên cố vá-víu may được chiếc áo liền QUẦN như Quan Ngự-Sử nhà mình!! Trong khi các binh-chủng bạn dư thừa mứa QUẦN, thấy bạn-bè tồng-ngông ra đấy mà không vì “tình huynh-đệ chi binh” để giúp cho mỗi 1 chiếc QUẦN mà thôi: các ông đi sông đi biển thì cần phải có đến hai cái QUẦN để thay vì lội nước nhiều : Hải-Quân, vì nghĩ là Không-Quân bay trên không, không bị ướt nên không cần QUẦN chăng? Còn các ông Bộ-Binh thì thật tệ quá, có đến 6 cái QUẦN lận mà cũng không thèm chia lại cho anh em mình gì hết: Lục-Quân, chắc vì lết đất nhiều nên cần nhiều QUẦN?
Sở dĩ chúng tôi muốn vào Không Quân vì khi nói đến Không-Quân thì mọi người đều đồng một ý nghĩ như nhau: đấy là một quân-chủng “hào-huê phong-nhĩ”!! Các “giặc lái” đều là những chàng trai rất chi là “bô trai”(beau:hồi còn trẻ chứ bây giờ thì thành bô-lão mất rồi các bạn ơi. . ơi. . ơ. . ơ!!), các em mà gặp các đấng Không-Quân hồi xưa rồi thì chỉ có mà mơ với tưởng và xem các anh như là những thần tượng của mình muôn đời!! Chúng tôi muốn lấy cái hương thơm của KQ mà vào quân-chủng này cho nó phải đạo. Vào KQ rồi mới biết là mình thật to gan lớn mật!! Các chàng phi-công anh nào anh ấy to cao(họa hoằn lắm mới có danh-từ “Anh. . .ngắn!!)… mặt mày rạng-rỡ, nhìn ngang liếc dọc hiên ngang!! Còn mình thì lùn tịt vì thuộc loại KQ “bò sát” không đủ kích tấc ấn-định cho KQ vùng-vẫy “ Không Gì Ăn” và “Danh Tiếng Muôn Đời”. Do đó sau khi nhập vào trường học tận chân trời Pháp, tiền tiêu phơi trong túi (argent de poche) rủng rỉnh, thế mà không có em đầm Pháp nào chịu hy sinh cuộc đời phóng lại xin làm “người tình có chân dung” để mà nâng khăn sửa túi cho đúng lễ nghĩa!! Có lẽ các em đầm chê cái bộ gió không mấy hấp-dẫn của chàng nên không thèm liếc nhìn chàng, do đó không thấy túi tiền dày cộm của cái thằng cả quỷnh nằm ở đâu? Chứ nếu mà các em biết được thì giờ đây có lẽ anh đã thân bại danh liệt rồi có đâu mà phải gần như ngày nào anh cũng âm a bài “ôi ta buồn ta đi lang-thang bởi vì đâu?” Gần đến ngày về mới “làm quen” được với một “Chị Đầm” mà vì quen thói lịch-sự và sống trong vòng lễ giáo nên câu “nam nữ thụ thụ bất thân” phải được chàng trai cù-lần có một không hai đó nhớ hoài và áp-dụng triệt-để !!! Và ngày chàng phải ca bài”biệt-ly, nhớ nhung từ đây, chiếc lá. . .” với nàng, chàng cả quỷnh cũng chỉ biết bắt tay nàng và nói được có một câu hết sức khách sáo và ngắn gọn:”au revoir, ma chérie!!!” mà thôi làm cho bà cô cuả nàng đứng cạnh nóng mặt sốt ruột dùm mà nhắc khéo chàng trai nước Việt cù lần một câu :” Vous n’allez pas donner un vrai baiser à ma nièce?” (“anh không ban cho con cháu của tôi một nụ hôn thật sự sao?), được lời như cởi tấm lòng, chàng cả quỷnh run bần bật ôm hôn cô cháu lần đầu tiên trên.. ….. . . . . . .má!!!!! Và cái số “phòng không chiếc bóng” của chàng trai hào hùng nước Việt cứ đeo đuổi chàng từ năm này qua năm nọ hoài, đi đến đâu cũng không được cái số “đào hoa” chiếu vào cung Thân và Mệnh gì cả, trong khi ấy thì hết bạn này đến bạn khác của chàng lên “xe hoa” tới-tấp!! Chàng cứ gặp vận trắc trở trong cái lá số tìm kiếm người tình muôn thuở của mình hoài!! Có một lần chàng phải ra mắt bên “nhà gái tương-lai!!!!” để họ hàng biết chàng là ai? Chàng đã làm một chuyện mà chỉ có chàng mới dám làm mà thôi. Số là bên nhà gái muốn mời bên nhà trai kể cả chàng dùng cơm trưa với họ. Trong khi ăn uống thì chàng bèn làm một hành-động hết sức “hào huê” và “lịch-sự” là liếc thấy người anh của người “em gái” (mà mình có thể có cơ may được làm chồng tương-lai: “sic”!!!!) muốn lấy vài giọt nước mắm quá tầm tay với múc của anh ta, chàng ta muốn gíúp “ông anh” bèn nhanh nhẩu đoản múc đầy một muỗng canh nước mắm và chan ngay vào chén “ông anh vợ tương-lai hụt”. Vì rằng thì là sau bữa “ăn mặn” đó thì bên nhà gái không còn nhắc đến chuyện cưới hỏi chi với chàng nữa!!! Chàng cứ “ở goá” như vậy cho đến năm 29 tuổi lận thì ông trời có lẽ cũng sốt ruột động lòng trắc ẩn mà tạo cho chàng cái cơ may gặp được người tình mong đợi ở một chân trời xa-xăm chỉ có Không-Quân mới đem chàng đi xa như vậy của thuở ban đầu lưu-luyến ấy!!
Đấy là nói đến đường tình duyên, chàng đã lận-đận như thế !! Sau khi đã có một mái gia-đình ấm cúng rồi thì đường công-danh quan-lộ của chàng như diều gặp gío lên cao: chàng lên cấp bậc cùng nắm những chức-vụ quan-trọng một cách thoải-mái một thời-gian !! Nhưng vì lên cao quá lẹ nên lúc xuống cũng nhanh lắm!! Công-danh sự-nghiệp của chàng khi bắt đầu xuống dốc thì chàng giậm chân tại chỗ để đợi cho đàn em mà chàng đã “bỏ xa” từ mấy năm về trước thản nhiên qua mặt!! Lá số tử-vi của chàng có lẽ vì cung Quan-Lộc gặp Hạn và Triệt nên đường công-danh đành phải ngắt quãng ngừng lại!! Tuy nhiên trong quảng đời binh-nghiệp của chàng trong cái rủi cũng có cái may và đại-phưóc: cái rủi là chàng không ở những Căn-Cứ mà chàng ưa thích vì ở đấy tình huynh-đệ chi binh thật là dạt-dào, khổ vui có nhau với anh em trong đơn-vị; nhờ những cái rủi đó mà chàng đã thoát đuợc những cái hiểm họa của cái Tết Mậu-Thân đau thương; chàng cũng đã thành-công trong đường tơ kẻ tóc chuyến di-tản đầy nước mắt bỏ đất nước, bỏ một số bạn bè, bà con thân-thuộc để đến miền đất hứa!!
Qua miền đất TỰ-DO này chàng đã buộc lòng xin nhận nơi đây làm QUÊ-HƯƠNG thứ hai, nghĩ lại thì chàng thấy quảng đời binh-nghiệp trong KHÔNG-QUÂN là cả một cuộc thử thách đưa chàng đi những bước thăng trầm suốt một nửa đời người. Trong quãng đường đời đó chàng công nhận là chàng đã làm một quyết định rất chính chắn từ năm 1954 khi chọn KHÔNG-QUÂN để mà gửi trọn đời thanh-niên của mình phục-vụ đất nước. Nhờ KHÔNG-QUÂN mà chàng đã đạt được những sở-nguyện mà chàng nghĩ không có một binh-chủng nào khác có thể thực-hiện được ý-nguyện đó được, chỉ có KHÔNG-QUÂN mà thôi: KHÔNG-QUÂN đã đưa chàng đi đến gặp người tình muôn thuở để mà kết tóc xe tơ sống bên nhau trọn đời, KHÔNG-QUÂN đã giúp chàng có được những người BẠN thật sự là BẠN trong quân-ngũ cũng như qua đến miền đất hứa vẫn còn tiếp-tục làm sống lại tình bằng hữu chân thật đó, KHÔNG-QUÂN đã giúp cho chàng và gia-đình chàng tìm được bến bờ TỰ-DO nơi miền đất hứa, KHÔNG-QUÂN đã đem đến cho chàng cái hương thơm lây của những anh hùng đã hy sanh tánh mạng mình cho chính-nghĩa, những LƯU-VĂN-ĐỨC, PHẠM-PHÚ-QUỐC, TRẦN-THẾ-VINH, NGUYỄN-DU, NGUYỄN-VĂN-THÀNH, NGUYỄN-VĂN-LONG, NGUYỄN-TẤN-TRÀO và còn nhiều nữa. . ., Giờ đây tuổi hạc của chàng cũng đã khá cao, đã bước qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hy” rồi, cảm thấy mình rất hãnh-diện mà bảo với đám con cháu mình là ngày trước “ ba là một thành-viên của Đại-Gia-Đình KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM”.
Qua đất xứ Cờ Huê này mà tinh-thần KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM vẫn còn rộn ràng nhờ những người bạn KHÔNG-QUÂN ăn cơm nhà vác ngà voi lo tổ chức các vụ họp mặt để cho anh em chúng ta có dịp gặp mặt nhau trong tình bạn thắm thiết làm ấm lòng người tha phương. Các “cụ“ trai xứ Việt của binh-chủng hào-hùng xa xưa vẫn còn có dịp để thưởng-thức được những giọng ca đầm ấm và ngọt ngào của VŨ-VĂN-ƯỚC, PHÙNG-VĂN-CHIÊU, SĨ-PHÚ . . .và còn nhiều nữa của ngày nào.
Dẫu cho danh-từ KHÔNG-QUÂN có dấu hay không có dấu: KHÔNG-QUAN, KHÔNG-QUÂN, KHÔNG-QUẦN, KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM vẫn muôn đời sáng danh vì tinh-thần hy-sanh cao-cả NGUYỄN-BỘI-NGỌC(1).
Chú-thích (1): Nguyễn-Bội-Ngọc là chuyên-viên Kỹ-Thuật thuộc PD211 Trực-Thăng. Năm 1962, Anh đã hy-sanh tánh mạng Anh bằng cách nhảy vào ôm lâý quả lựu-đạn do bọn Việt-Cọng thảy vào khu triển-lãm Trực-thăng để cứu dân chúng Đô-Thành Sài-Gòn khỏi bị chết oan!
ANH KA TÊ
Nói về Không-Quân, một quân-chủng bị thiệt-thòi khổ-sở chỉ vì mấy cái dấu khi có khi không, ép vào danh-từ Không-Quân: quân-chủng gì mà chỉ có lính mà không có Quan, quan đi bay suốt ngày làm thao mà thấy được quan ỏ đâu: Không-QUAN. Ngược lại có người lại cho là Quân-chủng gì mà không có binh-lính mà chỉ thấy quan là quan thôi, vì thấy rặt toàn là các quan lái tàu bay hiên ngang giữa phố chợ, nhà hàng khiêu-vũ, các rạp hát, oai-hùng biết mấy và lấy le(l’air) nữa : Không-QUÂN. Lính gì mà là lính Không QUẦN, nghèo quá không có tiền để mua nổi một cái quần (cố nhiên là tiền cho đào ăn hết rồi!!!), chỉ có dân bay tiết kiệm được tiền nhiều nên cố vá-víu may được chiếc áo liền QUẦN như Quan Ngự-Sử nhà mình!! Trong khi các binh-chủng bạn dư thừa mứa QUẦN, thấy bạn-bè tồng-ngông ra đấy mà không vì “tình huynh-đệ chi binh” để giúp cho mỗi 1 chiếc QUẦN mà thôi: các ông đi sông đi biển thì cần phải có đến hai cái QUẦN để thay vì lội nước nhiều : Hải-Quân, vì nghĩ là Không-Quân bay trên không, không bị ướt nên không cần QUẦN chăng? Còn các ông Bộ-Binh thì thật tệ quá, có đến 6 cái QUẦN lận mà cũng không thèm chia lại cho anh em mình gì hết: Lục-Quân, chắc vì lết đất nhiều nên cần nhiều QUẦN?
Sở dĩ chúng tôi muốn vào Không Quân vì khi nói đến Không-Quân thì mọi người đều đồng một ý nghĩ như nhau: đấy là một quân-chủng “hào-huê phong-nhĩ”!! Các “giặc lái” đều là những chàng trai rất chi là “bô trai”(beau:hồi còn trẻ chứ bây giờ thì thành bô-lão mất rồi các bạn ơi. . ơi. . ơ. . ơ!!), các em mà gặp các đấng Không-Quân hồi xưa rồi thì chỉ có mà mơ với tưởng và xem các anh như là những thần tượng của mình muôn đời!! Chúng tôi muốn lấy cái hương thơm của KQ mà vào quân-chủng này cho nó phải đạo. Vào KQ rồi mới biết là mình thật to gan lớn mật!! Các chàng phi-công anh nào anh ấy to cao(họa hoằn lắm mới có danh-từ “Anh. . .ngắn!!)… mặt mày rạng-rỡ, nhìn ngang liếc dọc hiên ngang!! Còn mình thì lùn tịt vì thuộc loại KQ “bò sát” không đủ kích tấc ấn-định cho KQ vùng-vẫy “ Không Gì Ăn” và “Danh Tiếng Muôn Đời”. Do đó sau khi nhập vào trường học tận chân trời Pháp, tiền tiêu phơi trong túi (argent de poche) rủng rỉnh, thế mà không có em đầm Pháp nào chịu hy sinh cuộc đời phóng lại xin làm “người tình có chân dung” để mà nâng khăn sửa túi cho đúng lễ nghĩa!! Có lẽ các em đầm chê cái bộ gió không mấy hấp-dẫn của chàng nên không thèm liếc nhìn chàng, do đó không thấy túi tiền dày cộm của cái thằng cả quỷnh nằm ở đâu? Chứ nếu mà các em biết được thì giờ đây có lẽ anh đã thân bại danh liệt rồi có đâu mà phải gần như ngày nào anh cũng âm a bài “ôi ta buồn ta đi lang-thang bởi vì đâu?” Gần đến ngày về mới “làm quen” được với một “Chị Đầm” mà vì quen thói lịch-sự và sống trong vòng lễ giáo nên câu “nam nữ thụ thụ bất thân” phải được chàng trai cù-lần có một không hai đó nhớ hoài và áp-dụng triệt-để !!! Và ngày chàng phải ca bài”biệt-ly, nhớ nhung từ đây, chiếc lá. . .” với nàng, chàng cả quỷnh cũng chỉ biết bắt tay nàng và nói được có một câu hết sức khách sáo và ngắn gọn:”au revoir, ma chérie!!!” mà thôi làm cho bà cô cuả nàng đứng cạnh nóng mặt sốt ruột dùm mà nhắc khéo chàng trai nước Việt cù lần một câu :” Vous n’allez pas donner un vrai baiser à ma nièce?” (“anh không ban cho con cháu của tôi một nụ hôn thật sự sao?), được lời như cởi tấm lòng, chàng cả quỷnh run bần bật ôm hôn cô cháu lần đầu tiên trên.. ….. . . . . . .má!!!!! Và cái số “phòng không chiếc bóng” của chàng trai hào hùng nước Việt cứ đeo đuổi chàng từ năm này qua năm nọ hoài, đi đến đâu cũng không được cái số “đào hoa” chiếu vào cung Thân và Mệnh gì cả, trong khi ấy thì hết bạn này đến bạn khác của chàng lên “xe hoa” tới-tấp!! Chàng cứ gặp vận trắc trở trong cái lá số tìm kiếm người tình muôn thuở của mình hoài!! Có một lần chàng phải ra mắt bên “nhà gái tương-lai!!!!” để họ hàng biết chàng là ai? Chàng đã làm một chuyện mà chỉ có chàng mới dám làm mà thôi. Số là bên nhà gái muốn mời bên nhà trai kể cả chàng dùng cơm trưa với họ. Trong khi ăn uống thì chàng bèn làm một hành-động hết sức “hào huê” và “lịch-sự” là liếc thấy người anh của người “em gái” (mà mình có thể có cơ may được làm chồng tương-lai: “sic”!!!!) muốn lấy vài giọt nước mắm quá tầm tay với múc của anh ta, chàng ta muốn gíúp “ông anh” bèn nhanh nhẩu đoản múc đầy một muỗng canh nước mắm và chan ngay vào chén “ông anh vợ tương-lai hụt”. Vì rằng thì là sau bữa “ăn mặn” đó thì bên nhà gái không còn nhắc đến chuyện cưới hỏi chi với chàng nữa!!! Chàng cứ “ở goá” như vậy cho đến năm 29 tuổi lận thì ông trời có lẽ cũng sốt ruột động lòng trắc ẩn mà tạo cho chàng cái cơ may gặp được người tình mong đợi ở một chân trời xa-xăm chỉ có Không-Quân mới đem chàng đi xa như vậy của thuở ban đầu lưu-luyến ấy!!
Đấy là nói đến đường tình duyên, chàng đã lận-đận như thế !! Sau khi đã có một mái gia-đình ấm cúng rồi thì đường công-danh quan-lộ của chàng như diều gặp gío lên cao: chàng lên cấp bậc cùng nắm những chức-vụ quan-trọng một cách thoải-mái một thời-gian !! Nhưng vì lên cao quá lẹ nên lúc xuống cũng nhanh lắm!! Công-danh sự-nghiệp của chàng khi bắt đầu xuống dốc thì chàng giậm chân tại chỗ để đợi cho đàn em mà chàng đã “bỏ xa” từ mấy năm về trước thản nhiên qua mặt!! Lá số tử-vi của chàng có lẽ vì cung Quan-Lộc gặp Hạn và Triệt nên đường công-danh đành phải ngắt quãng ngừng lại!! Tuy nhiên trong quảng đời binh-nghiệp của chàng trong cái rủi cũng có cái may và đại-phưóc: cái rủi là chàng không ở những Căn-Cứ mà chàng ưa thích vì ở đấy tình huynh-đệ chi binh thật là dạt-dào, khổ vui có nhau với anh em trong đơn-vị; nhờ những cái rủi đó mà chàng đã thoát đuợc những cái hiểm họa của cái Tết Mậu-Thân đau thương; chàng cũng đã thành-công trong đường tơ kẻ tóc chuyến di-tản đầy nước mắt bỏ đất nước, bỏ một số bạn bè, bà con thân-thuộc để đến miền đất hứa!!
Qua miền đất TỰ-DO này chàng đã buộc lòng xin nhận nơi đây làm QUÊ-HƯƠNG thứ hai, nghĩ lại thì chàng thấy quảng đời binh-nghiệp trong KHÔNG-QUÂN là cả một cuộc thử thách đưa chàng đi những bước thăng trầm suốt một nửa đời người. Trong quãng đường đời đó chàng công nhận là chàng đã làm một quyết định rất chính chắn từ năm 1954 khi chọn KHÔNG-QUÂN để mà gửi trọn đời thanh-niên của mình phục-vụ đất nước. Nhờ KHÔNG-QUÂN mà chàng đã đạt được những sở-nguyện mà chàng nghĩ không có một binh-chủng nào khác có thể thực-hiện được ý-nguyện đó được, chỉ có KHÔNG-QUÂN mà thôi: KHÔNG-QUÂN đã đưa chàng đi đến gặp người tình muôn thuở để mà kết tóc xe tơ sống bên nhau trọn đời, KHÔNG-QUÂN đã giúp chàng có được những người BẠN thật sự là BẠN trong quân-ngũ cũng như qua đến miền đất hứa vẫn còn tiếp-tục làm sống lại tình bằng hữu chân thật đó, KHÔNG-QUÂN đã giúp cho chàng và gia-đình chàng tìm được bến bờ TỰ-DO nơi miền đất hứa, KHÔNG-QUÂN đã đem đến cho chàng cái hương thơm lây của những anh hùng đã hy sanh tánh mạng mình cho chính-nghĩa, những LƯU-VĂN-ĐỨC, PHẠM-PHÚ-QUỐC, TRẦN-THẾ-VINH, NGUYỄN-DU, NGUYỄN-VĂN-THÀNH, NGUYỄN-VĂN-LONG, NGUYỄN-TẤN-TRÀO và còn nhiều nữa. . ., Giờ đây tuổi hạc của chàng cũng đã khá cao, đã bước qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hy” rồi, cảm thấy mình rất hãnh-diện mà bảo với đám con cháu mình là ngày trước “ ba là một thành-viên của Đại-Gia-Đình KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM”.
Qua đất xứ Cờ Huê này mà tinh-thần KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM vẫn còn rộn ràng nhờ những người bạn KHÔNG-QUÂN ăn cơm nhà vác ngà voi lo tổ chức các vụ họp mặt để cho anh em chúng ta có dịp gặp mặt nhau trong tình bạn thắm thiết làm ấm lòng người tha phương. Các “cụ“ trai xứ Việt của binh-chủng hào-hùng xa xưa vẫn còn có dịp để thưởng-thức được những giọng ca đầm ấm và ngọt ngào của VŨ-VĂN-ƯỚC, PHÙNG-VĂN-CHIÊU, SĨ-PHÚ . . .và còn nhiều nữa của ngày nào.
Dẫu cho danh-từ KHÔNG-QUÂN có dấu hay không có dấu: KHÔNG-QUAN, KHÔNG-QUÂN, KHÔNG-QUẦN, KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM vẫn muôn đời sáng danh vì tinh-thần hy-sanh cao-cả NGUYỄN-BỘI-NGỌC(1).
Chú-thích (1): Nguyễn-Bội-Ngọc là chuyên-viên Kỹ-Thuật thuộc PD211 Trực-Thăng. Năm 1962, Anh đã hy-sanh tánh mạng Anh bằng cách nhảy vào ôm lâý quả lựu-đạn do bọn Việt-Cọng thảy vào khu triển-lãm Trực-thăng để cứu dân chúng Đô-Thành Sài-Gòn khỏi bị chết oan!
-
tranminhvuong
Thân tặng các bạn nào từng ở Lackland AFB Texas khoảng 70's
TranminhVuong
Vui buồn Lackland AFB
Chuyện ngắn dưới đây được trích từ quyển hồi ký "Dòng đời trôi nổi" của cùng tác giả ...
***
Chúng tôi bước chân xuống Lackland AFB vào cuối mùa hè năm 1972. Tháng 9 là tháng nóng nhất của Texas. Cái nóng Texas cũng gần giống như cái nóng Việt Nam, nóng và ẩm. Mồ hôi lúc nào cũng rịn ra, khó chịu vô cùng. Cũng may, chúng tôi vừ ở Việt Nam qua nên cũng phần nào quen vớI cái khí hậu nóng bức này.
Theo chương trình, chúng tôi sẽ ở lại Lacland AFB ba tháng để học thêm những danh từ kỹ thuật tại Defense Language Institute. Sau đó, chúng tôi sẽ được đưa qua Keesler AFB, Biloxi, Mississippi để học về kỹ thuật.
Ở Lackland, chúng tôi sướng như ông hoàng. Hai ngườI một phòng với máy lạnh chạy 24/24. Trong phòng có một cái tủ lạnh, hai cái giường và hai cái bàn giấy nhỏ. Mọi ngày phòng được những cô Mễ dọn dẹp, lau chùi, hút bụi, làm giường, y như ở khách sạn. Sáng ngủ bảnh mắt, đánh răng rửa mặt, xuống Messhall làm một bụng rồi cắp sách đi học. Chiều về, phòng đã được dọn dẹp ngăn nắp, chẳng phải động tớI ngón tay.
Ngoài việc ăn ở miễn phí, chúng tôi lại được chính phủ Mỹ phát lương. MỗI ngày chúng tôi được phát cho 2 đô la, gọI là tí tiền còm tiêu vặt. Cứ đầu tháng, mở hộp thơ ra là thấy cái check dễ thương, 60 đô cho tháng 30 ngày, 62 đô cho tháng 31 ngày. TớI ngày về, tên nào khéo ăn khéo tiêu, cũng được vài trăm đô, một món tiền không phải là nhỏ ở vào thờI điểm 1972. Trong khi đó, lương lính ở Việt Nam chúng tôi vẫn được lãnh. Tuy không nhiều, nhưng sau một năm, cũng được kha khá.
Một điều mà những anh em chúng tôi đều mong chờ sau giờ học là nhận thư từ Việt Nam. Sống ờ một nơi không có thức ăn Việt Nam, không có báo Việt ngữ, không có những chương trình radio hoặc TV tiếng Việt, chúng tôi thèm được đọc chữ Việt Nam như thèm nước mắm. Nhất là thư từ Việt Nam. Những lá thư thật dễ thương, với cái phong bì xanh đặc biệt và những dòng chữ thân quen. Những lá thư là những an ủi, những xoa dịu cho những nỗi nhớ nhung quê hương, gia đình, bè bạn và nhất là người yêu, mặc dù chúng tôi chỉ xa nhà tạm thời trong một thời gian ngắn. Dù thế, những lá thư đối với chúng tôi quý giá vô cùng.
Nhưng mà muốn nhận thư thì lại phải viết thư. Nhưng viết thư lại là một cực hình. Nhưng lưới viết thư thì làm sao có thư. Biết vậy, nhưng chúng tôi vẫn lười. Ðúng là cái vòng lẩn quẩn.
Mà dường như không riêng gì chúng tôi, bọn đàn ông con trai, ngoại trừ những tên có vợ mới cưới hoặc người yêu, có lẽ đều lười viết thư cả.
Trong nhóm 12 của chúng tôi, ai cũng lười viết thư, ngoài trừ Khanh và Tài. Khác với phần đông chúng tôi, hai tên này không đi đâu chơi sau giờ học hoặc cuối tuần. Ít khi thấy họ ra khỏi phòng, chứ đừng nói chi ra khỏi building. Lúc nào rảnh là lại thấy bọn hắn ngồi nơi bàn học viết thư hoặc học bài. Vì thế, bọn hắn luôn luôn nhận được thư từ Việt Nam, không như phần đông anh em chúng tôi, đi không rồi lại về không.
Mỗi chiều, trước khi đi ăn, chúng tôi đều tạt ngang qua bưu điện, mở hộp thư cá nhân để xem mình có thư hay không. Những tên có thư mặt mày hớn hở, chẳng bù cho những tên có hộp thư trống rỗng, tuy không buồn rầu ra mặt nhưng cũng cảm thấy một chút xót xa nhìn những tên bạn mình vui cười rồi tự an ủi mình bằng câu ngày mai hy vọng ta sẽ có thư.
Riêng tôi, tuy là cũng là dân lười viết thư hạng nặng, tôi cũng cố gắng dành ra chút thời giờ viết thư về gia đình, cho mấy thằng bạn thân và nhất là cho Ngọc Anh, nàng con gái tôi yêu.
Ban điều hành ở Lackland AFB vì muốn chúng tôi trau giồi anh ngữ nên đã sắp đặt chúng tôi, hai ngườI một phòng, chỉ có điều là, chúng tôi không được chung phòng vớI nhau mà phải chung phòng vớI một ngườI ngoại quốc, phần đông là ngườI Iran, (còn được gọI là Ba-tư, xứ 1001 đêm), Iraq, hay Saudi Arabi (còn được gọI là Ả Rập),
NgườI chung phòng vớI tôi là một chàng Iran tên Amir. Amir , ngườI nhỏ nhắn so vớI những anh chàng Iran khác. Tính tình Amir rất vui vẻ, có điều hắn nói tiếng anh thì chỉ có trờI hiểu, Nói chuyện vớI Amir đôi khi mỏi cả tay, khó khăn lắm tôi mớI hiểu được ý của hắn.
Ngày xưa, tôi tưởng dân Iran, Iraq hay Arab phải đen đúa như Ấn Ðộ, nhưng bây giờ mớI biết họ trắng, vào cao lớn như giống dân Âu Châu. Chỉ khác một điều là họ tóc đen, quăn, mắt nâu, lông lá rậm rạp. Họ rất chải chuốt và có những tập tục quái lạ. Họ xức một loại nước hoa đặc biệt, mùi rất hăng và nặng. Chỉ cần đứng gần họ trong vòng 3 ft là bạn có thể ngửI được mùi nước hoa có một không hai này. Dân Việt Nam tại những căn cứ Hoa Kỳ gọi dân Iran, Iraq là ''dầu hôi'' vì nước họ có nhiều dầu hoả và gọi dân Ả Rập là ''rệp'' có lẽ từ chữ Rập mà ra.
Ngoài dân Iran, Iraq hay Saudi Arabi còn có những sinh viên từ các nước nam Mỹ như Guatamala, Vezuenualla hay Brazil. Mặc dù thuộc nam Mỹ, những anh chàng này cao lớn, đẹp trai, trắng trẻo như dân Tây phương, trái hẳn vớI những chàng Mễ đen đúa, tóc quăn, như dân miền biển.
Phần đông những dân Iran , Iraq và Arab được đi học tại Hoa Kỳ đều thuộc con nhà giàu. Họ đi học tự túc bằng chính tiền của bố mẹ chứ không được tài trợ như lính VN. Vì thế, họ rất giàu và ăn tiêu rộng rãi, ăn chơi thả giàn, cuối tuần nào cũng xuống phố du hí, chi tiền cho bọn gái nhảy khoả thân, hoặc trong những bar rượu. Thậm chí, họ còn mua cả xe hơi.
Trong khi đó, dân Mít chỉ được phát 60 đô mỗI tháng, nên chỉ lang thang 'window shopping', hay cùng lắm là vào PX mua vài cái áo thun, quần jean. Tên nào sang lắm mớI dám đụng tớI mấy cái máy ảnh hay mấy cái radio/cassette.
Sự xung đột giữa Việt Nam và những anh chàng 'dầu hôi' hoặc 'rệp' xảy ra thường xuyên tại các căn cứ Mỹ. Lý do cũng chỉ vì dân Việt Nam vốn lì lợm, không chịu khuất phục mà những tên ''dầu hôi'' hoặc ''rệp'' luôn luôn ỷ mình to con và có nhiều tiền nên huênh hoang, phách lối. Vì thế, nhiều tên 'dầu hôi' hoặc 'rệp' đã lãnh nhiều bài học đích đáng, nhưng cũng nhiều anh chàng Việt nam cũng bị cảnh cáo, khiển trách hoặc bị phạt cấm phòng, thậm chí có ngườI còn bị sa thải khỏi khoá học và bị đuổI về nước vì tộI hành hung (?). Thật buồn cườI, một chàng Việt Nam, cao lắm cũng chỉ thước sáu ba, nặng lắm cũng chỉ 130 lbs, lại mang tộI hành hung một anh chàng Iran hoặc Ả Rập cao thước tám nặng trên dướI 200 lbs.
Nghe như chuyện giễu, nhưng đó là những chuyện có thật. Gần một năm sống trong hai căn cứ Lackland và Keesler, tôi đã được chứng kiến, hoặc nghe kể lại nhiều giai thoại về mối thâm thù của dân ''Mít'' và ''dầu hôi'' hoặc ''rệp'', đến cườI ra nước mắt.
Tên roomate của tôi, Amir, không có gì đáng nói ngoài tộI xức dầu thơm quá độ. MỗI khi hắn ở trong phòng là tôi lại phải chuồn ra ngoài hoặc phải mở tung cửa sổ, mặc dầu đôi khi trờI nóng và máy lạnh đang chạy hết ga. Tuy vậy, Amir và tôi chẳng có gì xích mích.
Nhưng tên roomate của Bình, Abur, thì không vậy. Nó chẳng ưa gì Bình và Bình cũng chẳng ưa gì hắn. Tên này là dân dầu hôi, tuy có tiền nhiều nhưng rất kẹo. Bình luôn luôn than phiền là đồ ăn hoặc thức uống hắn mua để trong tủ lạnh cứ từ từ biến mất.
-Ðm cái thằng dầu hôi trong phòng tao, nó giàu thế mà cứ 'lương' đồ của tao. Nho, táo, sữa siếc tao mua để trong tủ lạnh, nó thản nhiên đớp hết. Thiệt là dễ giận.
Tôi hỏi:
-Mày có chắc là nó ăn vụng của mày không?
-Còn ai trồng khoai đất này, trong phòng chỉ có tao vớI nó, nó không ăn thì ma ăn à.
Rồi Bình mỉm cườI bí hiểm:
-Ðược rồi, ông sẽ cho con một bài học
Mãy ngày sau, Bình kể cho chúng tôi nghe về bài học nó dạy cho tên 'dầu hôi':
-Tụi bay biết không, tao lên bệnh xá khai táo bón và xin mấy chục viên laxative (thuốc xổ). Ðem về tao đập nhuyễn ra và cho vào trong bình sữa. Ðêm hôm qua, tao thấy thằng Abur nửa đêm cứ mươi lăm phút lại ôm bụng vô restroom. Sáng nay, mặt mũi thằng con bơ phờ như gà mắc nước, trông thật thảm hại.
Tao làm bộ tỏ vẻ thương haị hỏi nó:
- Abur, bộ mày bị bệnh hả ?
Thằng con ôm bụng nhăn nhó:
-Ừ, không biết tao ăn phải thứ gì mà suốt ngày hôm qua tao bị tiêu chảy
-Thôi chết rồi, mày uống sữa trong tủ lạnh phải không?
-Ừ
-Abur, tại sao mày uống sữa mà không hỏi tao? Tao đương bị táo bón nên tao bỏ thuốc xổ vô trong sữa để uống dần. Lần sau mày có uống sữa của tao, nhớ phải hỏi tao, chứ đừng tự động, có ngày lãnh cán búa.
Từ đó về sau, thằng ''dầu hôi'' cạch luôn, không dám đụng vô một thứ gì của Bình để trong tủ lạnh.
Hắn học được bài học nhớ đời.
Trong trường, cùng học chung vớI chúng tôi là những sinh viên Không Quân. Họ cũng tớI Lackland để học danh từ chuyên môn, sau đó họ sẽ đi những căn cứ Không Quân khác để học bay. Vì là sĩ quan, họ lãnh lương cao hơn chúng tôi, 7 đô một ngày. Tuy nhiên, họ lại phải trả tiền ăn nếu họ muốn ăn tại Messhall. Vì vậy, phần đông, họ đi chợ và tự nấu ăn lấy. Trong mỗI buiding chúng tôi ở, tầng basement là nhà bếp và nhà giặt. Vì chỉ có một bếp, nên nấu nướng phải chờ tơí phiên. Ai tớI trước, nấu trước, ai tớI sau phải chờ.
Trận chiến trong nhà bếp giữa những sinh viên sĩ quan Việt Nam và những dân 'dầu hôi', 'dầu lửa' hoặc 'rệp' không thể nào tránh khỏi . Như chuyện những chàng sinh viên sĩ quan Việt Nam bắc nôì cơm hoặc nồi thịt lên bếp, bỏ lên phòng và khi trở xuống thì mớI biết nồi cơm hay nồi thịt của mình bị ai nhấc ra khỏi bếp tự hồi nào. Thay vào đó, trên bếp là một cái nồi khác vớI những món ăn lạ hoắc đang bốc khói nghi ngút, còn nồi cơm của mình thì sống nhăn, nồi thịt kho thì nguộI ngắt. Những chàng sinh viên sĩ quan Việt Nam cũng không vừa, trả đũa bằng những màn rất ngoạn mục. Như chuyện mấy anh chàng ''dầu' hoặc ''rệp'' khi mở nắp nồi ra thì mớI biết món ăn khoái khẩu của mình đã được ''ai'' nêm nếm cẩn thận bằng nửa hộp muối hoặc tìm thấy những viên đá xanh to bằng quả trứng đang được hầm chung vớI vớI những cục thịt heo của mình. Những màn ''chơi'' nhau như thế xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Vì thế, chẳng anh nào, Việt Nam hay ''dầu'' cũng vậy, dám bỏ lên phòng khi cái nồi cơm hay thức ăn của mình ở trên bếp.
Trong đám sinh viên sĩ quan có một anh chàng sinh viên tên Sơn (Không chừng anh Hạnh biết anh chàng này ). Nguời tầm thước, không cao mà cũng không lùn, Sơn lầm lì, ít nói nhưng lại rất tốt bụng. Một buổI chiều, Sơn đặt nồi cơm mình trên một bếp, nồi thịt kho trứng trên một bếp, bật lửa rồi đi lên phòng. Ðộ hơn 15 phút, Sơn trở xuống thì thấy nồi cơm và nồi thịt của mình đã bị ai nhắc ra khỏi bếp. Nhìn quanh, ngoài hai sinh viên Việt Nam, còn có ba bốn anh 'dầu hôi' đang xí xa, xí xô vớI nhau bằng tiếng Ả rập.
Sơn lên tiếng hỏi:
-Who moved my food ?
Những anh sinh viên Việt Nam đưa mắt ra dấu cho Sơn về phía mấy anh ''dầu''. Sơn tiến lại phía họ lên tiếng hỏi:
-Sir, did you move my food?
Một tên trong bọn lên tiếng:
-We don't know mister. May be it moved by itself.
Nói xong họ phá lên cườI và nhìn anh như thách thức.
Không nói thêm tiếng nào, Sơn lẳng lặng bỏ đi giữa những tiếng cườI hô hố sau lưng, Khoảng hơn năm phút sau, Sơn trở lại nhà bếp, trên tay cầm một con gà đông lạnh còn nguyên đầu, tay kia xách một cây mã tấu. Sơn đặt con gà trên cái thớt rồi nói lớn, cốt ý để cho mấy anh chàng dầu hôi nghe thấy ;
-God damn, see if your head's harder than the chicken head
Nói xong, Sơn vung cây mã tấu chặt mạnh. ''Phập'', cái đầu gà đứt lià, văng long lóc trên sàn nhà.
Rồi Sơn lại giơ cao cây mã tấu, chặt mạnh con gà, vừa nói:
-Ð.M, tao chặt tụi bay như tao chặt gà. Xương tụi bay cứng bằng xương gà không?
Phập, cái đùi gà đứt lià văng vào tường kêu đánh bốp.
Ðến nhát thứ ba, mấy anh chàng ''dầu hôi'' mặt tái xanh, hấp tấp bưng mấy nồi thức ăn cùng nhau chuồn một mách. Cả bọn Việt Nam vỗ tay cườI hỉ hả. Sơn thủng thỉnh cúi lượm cái đầu gà và cái đùi gà, rồi đặt nồi cơm và nồi thịt của mình trở lên bếp.
-Mấy cái thằng coi to con vậy mà nhát gan. MớI hù có một chút mà đã són đái ra quần.
Chuyện Sơn dằn mặt mấy chàng dầu hôi được truyền nhanh trong trường. Từ đó, nhà bếp tạm yên, không còn xảy ra cảnh 'chơi' nhau trên bếp nữa.
Dân 'dầu hôi, dầu lửa' rất khoái gọI điện thoại. Trong những phòng tiếp tân của building, ngay ngoài cửa, hay tại những ngã tư đều có những trạm điện thoại công cộng. 95% thơì gian, những trạm điện thoại này được trấn đóng bởI những anh chàng 'dâù' hoặc 'rệp'. Dân Việt nam ít khi xử dụng những trạm điện thoại công cộng này. Lý do cũng rất dễ hiểu. Thứ nhất, dân Mít làm gì có tiền gọI long distance về Việt Nam, dẫu có tiền, mấy ai có điện thoại ở tư gia. Thứ hai, cũng vì không tiền nên chẳng tên nào có đào Mỹ hay Mễ, nên cũng chẳng cần đến điện thoại. Vì thế, chuyện tranh giành điện thoại giữa ''mít'' và ''dầu'' ít khi nào xảy ra.
Nhưng ít không có nghĩa là nó không xảy ra.
Vào một buổI tôí đầy trăng sao, một sinh viên sĩ quan Việt Nam tên là Thắng cần gọI điện thoại cho cô nàng tóc vàng mà anh chàng mớI vừa làm quen. Vì những trạm điện thoại trong building và những trạm điện thoại gần nhà đều bị chiếm giữ bởI dân 'dầu' và cũng vì không muốn phải chờ đợI, Thắng cuốc bộ tớI trạm điện thoại công cộng gần trường. May quá, trạm điện thoại còn trống.
Thắng vào trong, khép cửa, bỏ tiền, rồi quay số. Ðang lan man, say sưa thủ thỉ vớI ngườI đẹp, bỗng Thắng nghe tiếng gõ mạnh trên mặt kiếng. Thắng quay ngườI lại. Qua lần kiếng trong, anh thấy bốn chàng 'dầu hôi', mặt mày trông rất khó chịu. Một tên trong bọn chỉ tay vào cái đồng hồ đeo tay, ra hiệu cho Thắng phải ngưng cuộc điện đàm. Thắng tảng lờ, quay trở lại tiếp tục tâm tình vớI em.
Tiếng gõ một lần nữa vang lên. Thắng vẫn tảng lờ như không nghe thấy, vẫn tiếp tục trò chuyện.
Bỗng, một tiếng ''rạt', cánh cửa phòng điện thoại mở rộng, rồi một bàn tay hộ pháp nắm lấy vai Thắng kéo mạnh. Thắng mất thăng bằng, ngã sóng soài trên mặt đất. Cái điện thoại vuột khỏi tay Thắng, lủng lẳng đong đưa trong không khí. Mặc cho Thắng đang lồm cồm bò dậy, hai tên 'dầu' thản nhiên bước vào trong trạm, đóng cửa, bỏ tiền và quay số. Hai tên còn lại, đứng bên ngoài trạm nhìn Thắng, ngạo nghễ cười khoái trá. Thắng đứng dậy, phủi bụi bặm trên áo quần, quét ánh mắt căm giận nhìn mấy anh chàng 'dầu hôi' rồi lầm lũi bước đi giữa những tiếng cườI khả ố của hai tên dầu hôi ngang tàng.
Không đầy 15 phút sau, Thắng trở lại cùng một sinh viên sĩ quan khác.
Hai ngườI tiến đến gần trạm điện thoại. Bốn tên dầu hôi vẫn còn đó. Hai tên bên trong trạm vẫn đang say sưa nói chuyện.
Thắng nói vớI một tên đứng bên ngoài:
-Sir, you must appologize to me. I was here first and you were impolite disturbing my conversation.
Tên dầu hôi cườI ha hả, quay sang tên bạn của hắn xổ một tràng tiếng ả rập rồi nói vớI Thắng:
-Appologize to you? Haha, what do you think you can do? Haha...
Thắng vẫn từ tốn chỉ vào anh bạn đứng cạnh:
-Sir, my friend here knows KungFu. You don't want to make him mad.
Tên dầu hôi lại cườI lớn, vung tay làm điệu bộ:
-Haha...Kung Fu...I know Kung Fu too...Ay, ay...ya...ya..haha..
Vừa cườI hắn vừa múa may riễu cợt.
Hắn chưa dứt tiếng cườI thì anh bạn của Thắng đã tung mình lên, một cú đá 360 độ đúng giữa một bên hàm của hắn. Bộp, hắn kêu lên một tiếng ''ối'', ôm mặt phun ra một búng máu. Tên thứ hai chưa kịp phản ứng thì lãnh ngay một cú đá vô giữa ngực. Bịch, hắn té ngược về phía sau vô trạm điện thoại đánh rầm. Tiếng kiếng bể loảng xoảng, tên dầu hôi vẫn chưa hết đà, hắn té ngồi vào lòng hai tên bên trong trạm điện thoại. Tên bên ngoài đang ôm mặt nhăn nhó thì, bịch, một cú đá vào hạ bộ và tiếp theo một cú móc vào bụng. Hắn khuỵu ngườI xuống thì đã lãnh ngay một cú đá nữa ngay giữa mặt. Hắn ngã sóng xoài trên mặt đất nằm yên bất động.
Bên trong trạm điện thoại, ba tên dầu hôi đang cố gắng lồm cồm thoát ra khỏi cái trạm điện thoại nhỏ xíu, chật ních. Một tên vừa lạng quạng bước ra đã lãnh một cú đấm ngay mặt cộng thêm cú đá vào bụng dưới. Hắn cũng khuỵu xuống, ôm bụng rên hừ hự. Hai tên còn lại, vừa ra khỏi trạm điện thoại, chưa kịp định hướng thì bịch, bịch, mỗI tên lãnh một gót chân và một cườm tay đúng vào những nơi bí hiễm. Họ mất thăng bằng, lải đảo rồi té bịch trên mặt đất. Cả ba tên 'dầu hôi' lồm cồm ngồi dậy, co giò chạy một mặt không dám quay lại, bỏ tên thứ tư vẫn còn nằm trên mặt đất rên hừ hừ.
Sáng hôm sau, cả sân trường sinh ngữ ồn ào bàn tán về vụ đánh nhau tại trạm điện thoại. Chuyện bốn chàng dầu hôi to lớn bị dần một trận tơi bờI bởI một anh chàng Việt Nam nhỏ thó làm dân 'mít' hả dạ và dân 'dầu hôi' cũng bớt hống hách. Nhưng cũng vì thế, sau một cuộc phán xét vơí đầy đủ nhân chứng của hai bên, và mặc dù vớI sự can thiệp tận lực của vị sĩ quan liên lạc, anh chàng sinh viên VN hào hùng và bốn chàng Iran ngang tàng đều bị ban giám đốc trường sa thải khỏi khoá học và bị đuổI về nước.
Trong suốt thờI gian còn lại của tôi tại Lackland AFB, những xích mích giữa dân 'Mít' và dân 'dầu' hoặc 'rệp' tạm lắng dịu. Không biết sau khi tôi rơì khỏi đây, không hiểu dân 'Mít' dân 'dầu' còn choảng nhau hay không ? Tôi nghĩ là có.
Trần Quốc Sỹ
TranminhVuong
Vui buồn Lackland AFB
Chuyện ngắn dưới đây được trích từ quyển hồi ký "Dòng đời trôi nổi" của cùng tác giả ...
***
Chúng tôi bước chân xuống Lackland AFB vào cuối mùa hè năm 1972. Tháng 9 là tháng nóng nhất của Texas. Cái nóng Texas cũng gần giống như cái nóng Việt Nam, nóng và ẩm. Mồ hôi lúc nào cũng rịn ra, khó chịu vô cùng. Cũng may, chúng tôi vừ ở Việt Nam qua nên cũng phần nào quen vớI cái khí hậu nóng bức này.
Theo chương trình, chúng tôi sẽ ở lại Lacland AFB ba tháng để học thêm những danh từ kỹ thuật tại Defense Language Institute. Sau đó, chúng tôi sẽ được đưa qua Keesler AFB, Biloxi, Mississippi để học về kỹ thuật.
Ở Lackland, chúng tôi sướng như ông hoàng. Hai ngườI một phòng với máy lạnh chạy 24/24. Trong phòng có một cái tủ lạnh, hai cái giường và hai cái bàn giấy nhỏ. Mọi ngày phòng được những cô Mễ dọn dẹp, lau chùi, hút bụi, làm giường, y như ở khách sạn. Sáng ngủ bảnh mắt, đánh răng rửa mặt, xuống Messhall làm một bụng rồi cắp sách đi học. Chiều về, phòng đã được dọn dẹp ngăn nắp, chẳng phải động tớI ngón tay.
Ngoài việc ăn ở miễn phí, chúng tôi lại được chính phủ Mỹ phát lương. MỗI ngày chúng tôi được phát cho 2 đô la, gọI là tí tiền còm tiêu vặt. Cứ đầu tháng, mở hộp thơ ra là thấy cái check dễ thương, 60 đô cho tháng 30 ngày, 62 đô cho tháng 31 ngày. TớI ngày về, tên nào khéo ăn khéo tiêu, cũng được vài trăm đô, một món tiền không phải là nhỏ ở vào thờI điểm 1972. Trong khi đó, lương lính ở Việt Nam chúng tôi vẫn được lãnh. Tuy không nhiều, nhưng sau một năm, cũng được kha khá.
Một điều mà những anh em chúng tôi đều mong chờ sau giờ học là nhận thư từ Việt Nam. Sống ờ một nơi không có thức ăn Việt Nam, không có báo Việt ngữ, không có những chương trình radio hoặc TV tiếng Việt, chúng tôi thèm được đọc chữ Việt Nam như thèm nước mắm. Nhất là thư từ Việt Nam. Những lá thư thật dễ thương, với cái phong bì xanh đặc biệt và những dòng chữ thân quen. Những lá thư là những an ủi, những xoa dịu cho những nỗi nhớ nhung quê hương, gia đình, bè bạn và nhất là người yêu, mặc dù chúng tôi chỉ xa nhà tạm thời trong một thời gian ngắn. Dù thế, những lá thư đối với chúng tôi quý giá vô cùng.
Nhưng mà muốn nhận thư thì lại phải viết thư. Nhưng viết thư lại là một cực hình. Nhưng lưới viết thư thì làm sao có thư. Biết vậy, nhưng chúng tôi vẫn lười. Ðúng là cái vòng lẩn quẩn.
Mà dường như không riêng gì chúng tôi, bọn đàn ông con trai, ngoại trừ những tên có vợ mới cưới hoặc người yêu, có lẽ đều lười viết thư cả.
Trong nhóm 12 của chúng tôi, ai cũng lười viết thư, ngoài trừ Khanh và Tài. Khác với phần đông chúng tôi, hai tên này không đi đâu chơi sau giờ học hoặc cuối tuần. Ít khi thấy họ ra khỏi phòng, chứ đừng nói chi ra khỏi building. Lúc nào rảnh là lại thấy bọn hắn ngồi nơi bàn học viết thư hoặc học bài. Vì thế, bọn hắn luôn luôn nhận được thư từ Việt Nam, không như phần đông anh em chúng tôi, đi không rồi lại về không.
Mỗi chiều, trước khi đi ăn, chúng tôi đều tạt ngang qua bưu điện, mở hộp thư cá nhân để xem mình có thư hay không. Những tên có thư mặt mày hớn hở, chẳng bù cho những tên có hộp thư trống rỗng, tuy không buồn rầu ra mặt nhưng cũng cảm thấy một chút xót xa nhìn những tên bạn mình vui cười rồi tự an ủi mình bằng câu ngày mai hy vọng ta sẽ có thư.
Riêng tôi, tuy là cũng là dân lười viết thư hạng nặng, tôi cũng cố gắng dành ra chút thời giờ viết thư về gia đình, cho mấy thằng bạn thân và nhất là cho Ngọc Anh, nàng con gái tôi yêu.
Ban điều hành ở Lackland AFB vì muốn chúng tôi trau giồi anh ngữ nên đã sắp đặt chúng tôi, hai ngườI một phòng, chỉ có điều là, chúng tôi không được chung phòng vớI nhau mà phải chung phòng vớI một ngườI ngoại quốc, phần đông là ngườI Iran, (còn được gọI là Ba-tư, xứ 1001 đêm), Iraq, hay Saudi Arabi (còn được gọI là Ả Rập),
NgườI chung phòng vớI tôi là một chàng Iran tên Amir. Amir , ngườI nhỏ nhắn so vớI những anh chàng Iran khác. Tính tình Amir rất vui vẻ, có điều hắn nói tiếng anh thì chỉ có trờI hiểu, Nói chuyện vớI Amir đôi khi mỏi cả tay, khó khăn lắm tôi mớI hiểu được ý của hắn.
Ngày xưa, tôi tưởng dân Iran, Iraq hay Arab phải đen đúa như Ấn Ðộ, nhưng bây giờ mớI biết họ trắng, vào cao lớn như giống dân Âu Châu. Chỉ khác một điều là họ tóc đen, quăn, mắt nâu, lông lá rậm rạp. Họ rất chải chuốt và có những tập tục quái lạ. Họ xức một loại nước hoa đặc biệt, mùi rất hăng và nặng. Chỉ cần đứng gần họ trong vòng 3 ft là bạn có thể ngửI được mùi nước hoa có một không hai này. Dân Việt Nam tại những căn cứ Hoa Kỳ gọi dân Iran, Iraq là ''dầu hôi'' vì nước họ có nhiều dầu hoả và gọi dân Ả Rập là ''rệp'' có lẽ từ chữ Rập mà ra.
Ngoài dân Iran, Iraq hay Saudi Arabi còn có những sinh viên từ các nước nam Mỹ như Guatamala, Vezuenualla hay Brazil. Mặc dù thuộc nam Mỹ, những anh chàng này cao lớn, đẹp trai, trắng trẻo như dân Tây phương, trái hẳn vớI những chàng Mễ đen đúa, tóc quăn, như dân miền biển.
Phần đông những dân Iran , Iraq và Arab được đi học tại Hoa Kỳ đều thuộc con nhà giàu. Họ đi học tự túc bằng chính tiền của bố mẹ chứ không được tài trợ như lính VN. Vì thế, họ rất giàu và ăn tiêu rộng rãi, ăn chơi thả giàn, cuối tuần nào cũng xuống phố du hí, chi tiền cho bọn gái nhảy khoả thân, hoặc trong những bar rượu. Thậm chí, họ còn mua cả xe hơi.
Trong khi đó, dân Mít chỉ được phát 60 đô mỗI tháng, nên chỉ lang thang 'window shopping', hay cùng lắm là vào PX mua vài cái áo thun, quần jean. Tên nào sang lắm mớI dám đụng tớI mấy cái máy ảnh hay mấy cái radio/cassette.
Sự xung đột giữa Việt Nam và những anh chàng 'dầu hôi' hoặc 'rệp' xảy ra thường xuyên tại các căn cứ Mỹ. Lý do cũng chỉ vì dân Việt Nam vốn lì lợm, không chịu khuất phục mà những tên ''dầu hôi'' hoặc ''rệp'' luôn luôn ỷ mình to con và có nhiều tiền nên huênh hoang, phách lối. Vì thế, nhiều tên 'dầu hôi' hoặc 'rệp' đã lãnh nhiều bài học đích đáng, nhưng cũng nhiều anh chàng Việt nam cũng bị cảnh cáo, khiển trách hoặc bị phạt cấm phòng, thậm chí có ngườI còn bị sa thải khỏi khoá học và bị đuổI về nước vì tộI hành hung (?). Thật buồn cườI, một chàng Việt Nam, cao lắm cũng chỉ thước sáu ba, nặng lắm cũng chỉ 130 lbs, lại mang tộI hành hung một anh chàng Iran hoặc Ả Rập cao thước tám nặng trên dướI 200 lbs.
Nghe như chuyện giễu, nhưng đó là những chuyện có thật. Gần một năm sống trong hai căn cứ Lackland và Keesler, tôi đã được chứng kiến, hoặc nghe kể lại nhiều giai thoại về mối thâm thù của dân ''Mít'' và ''dầu hôi'' hoặc ''rệp'', đến cườI ra nước mắt.
Tên roomate của tôi, Amir, không có gì đáng nói ngoài tộI xức dầu thơm quá độ. MỗI khi hắn ở trong phòng là tôi lại phải chuồn ra ngoài hoặc phải mở tung cửa sổ, mặc dầu đôi khi trờI nóng và máy lạnh đang chạy hết ga. Tuy vậy, Amir và tôi chẳng có gì xích mích.
Nhưng tên roomate của Bình, Abur, thì không vậy. Nó chẳng ưa gì Bình và Bình cũng chẳng ưa gì hắn. Tên này là dân dầu hôi, tuy có tiền nhiều nhưng rất kẹo. Bình luôn luôn than phiền là đồ ăn hoặc thức uống hắn mua để trong tủ lạnh cứ từ từ biến mất.
-Ðm cái thằng dầu hôi trong phòng tao, nó giàu thế mà cứ 'lương' đồ của tao. Nho, táo, sữa siếc tao mua để trong tủ lạnh, nó thản nhiên đớp hết. Thiệt là dễ giận.
Tôi hỏi:
-Mày có chắc là nó ăn vụng của mày không?
-Còn ai trồng khoai đất này, trong phòng chỉ có tao vớI nó, nó không ăn thì ma ăn à.
Rồi Bình mỉm cườI bí hiểm:
-Ðược rồi, ông sẽ cho con một bài học
Mãy ngày sau, Bình kể cho chúng tôi nghe về bài học nó dạy cho tên 'dầu hôi':
-Tụi bay biết không, tao lên bệnh xá khai táo bón và xin mấy chục viên laxative (thuốc xổ). Ðem về tao đập nhuyễn ra và cho vào trong bình sữa. Ðêm hôm qua, tao thấy thằng Abur nửa đêm cứ mươi lăm phút lại ôm bụng vô restroom. Sáng nay, mặt mũi thằng con bơ phờ như gà mắc nước, trông thật thảm hại.
Tao làm bộ tỏ vẻ thương haị hỏi nó:
- Abur, bộ mày bị bệnh hả ?
Thằng con ôm bụng nhăn nhó:
-Ừ, không biết tao ăn phải thứ gì mà suốt ngày hôm qua tao bị tiêu chảy
-Thôi chết rồi, mày uống sữa trong tủ lạnh phải không?
-Ừ
-Abur, tại sao mày uống sữa mà không hỏi tao? Tao đương bị táo bón nên tao bỏ thuốc xổ vô trong sữa để uống dần. Lần sau mày có uống sữa của tao, nhớ phải hỏi tao, chứ đừng tự động, có ngày lãnh cán búa.
Từ đó về sau, thằng ''dầu hôi'' cạch luôn, không dám đụng vô một thứ gì của Bình để trong tủ lạnh.
Hắn học được bài học nhớ đời.
Trong trường, cùng học chung vớI chúng tôi là những sinh viên Không Quân. Họ cũng tớI Lackland để học danh từ chuyên môn, sau đó họ sẽ đi những căn cứ Không Quân khác để học bay. Vì là sĩ quan, họ lãnh lương cao hơn chúng tôi, 7 đô một ngày. Tuy nhiên, họ lại phải trả tiền ăn nếu họ muốn ăn tại Messhall. Vì vậy, phần đông, họ đi chợ và tự nấu ăn lấy. Trong mỗI buiding chúng tôi ở, tầng basement là nhà bếp và nhà giặt. Vì chỉ có một bếp, nên nấu nướng phải chờ tơí phiên. Ai tớI trước, nấu trước, ai tớI sau phải chờ.
Trận chiến trong nhà bếp giữa những sinh viên sĩ quan Việt Nam và những dân 'dầu hôi', 'dầu lửa' hoặc 'rệp' không thể nào tránh khỏi . Như chuyện những chàng sinh viên sĩ quan Việt Nam bắc nôì cơm hoặc nồi thịt lên bếp, bỏ lên phòng và khi trở xuống thì mớI biết nồi cơm hay nồi thịt của mình bị ai nhấc ra khỏi bếp tự hồi nào. Thay vào đó, trên bếp là một cái nồi khác vớI những món ăn lạ hoắc đang bốc khói nghi ngút, còn nồi cơm của mình thì sống nhăn, nồi thịt kho thì nguộI ngắt. Những chàng sinh viên sĩ quan Việt Nam cũng không vừa, trả đũa bằng những màn rất ngoạn mục. Như chuyện mấy anh chàng ''dầu' hoặc ''rệp'' khi mở nắp nồi ra thì mớI biết món ăn khoái khẩu của mình đã được ''ai'' nêm nếm cẩn thận bằng nửa hộp muối hoặc tìm thấy những viên đá xanh to bằng quả trứng đang được hầm chung vớI vớI những cục thịt heo của mình. Những màn ''chơi'' nhau như thế xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Vì thế, chẳng anh nào, Việt Nam hay ''dầu'' cũng vậy, dám bỏ lên phòng khi cái nồi cơm hay thức ăn của mình ở trên bếp.
Trong đám sinh viên sĩ quan có một anh chàng sinh viên tên Sơn (Không chừng anh Hạnh biết anh chàng này ). Nguời tầm thước, không cao mà cũng không lùn, Sơn lầm lì, ít nói nhưng lại rất tốt bụng. Một buổI chiều, Sơn đặt nồi cơm mình trên một bếp, nồi thịt kho trứng trên một bếp, bật lửa rồi đi lên phòng. Ðộ hơn 15 phút, Sơn trở xuống thì thấy nồi cơm và nồi thịt của mình đã bị ai nhắc ra khỏi bếp. Nhìn quanh, ngoài hai sinh viên Việt Nam, còn có ba bốn anh 'dầu hôi' đang xí xa, xí xô vớI nhau bằng tiếng Ả rập.
Sơn lên tiếng hỏi:
-Who moved my food ?
Những anh sinh viên Việt Nam đưa mắt ra dấu cho Sơn về phía mấy anh ''dầu''. Sơn tiến lại phía họ lên tiếng hỏi:
-Sir, did you move my food?
Một tên trong bọn lên tiếng:
-We don't know mister. May be it moved by itself.
Nói xong họ phá lên cườI và nhìn anh như thách thức.
Không nói thêm tiếng nào, Sơn lẳng lặng bỏ đi giữa những tiếng cườI hô hố sau lưng, Khoảng hơn năm phút sau, Sơn trở lại nhà bếp, trên tay cầm một con gà đông lạnh còn nguyên đầu, tay kia xách một cây mã tấu. Sơn đặt con gà trên cái thớt rồi nói lớn, cốt ý để cho mấy anh chàng dầu hôi nghe thấy ;
-God damn, see if your head's harder than the chicken head
Nói xong, Sơn vung cây mã tấu chặt mạnh. ''Phập'', cái đầu gà đứt lià, văng long lóc trên sàn nhà.
Rồi Sơn lại giơ cao cây mã tấu, chặt mạnh con gà, vừa nói:
-Ð.M, tao chặt tụi bay như tao chặt gà. Xương tụi bay cứng bằng xương gà không?
Phập, cái đùi gà đứt lià văng vào tường kêu đánh bốp.
Ðến nhát thứ ba, mấy anh chàng ''dầu hôi'' mặt tái xanh, hấp tấp bưng mấy nồi thức ăn cùng nhau chuồn một mách. Cả bọn Việt Nam vỗ tay cườI hỉ hả. Sơn thủng thỉnh cúi lượm cái đầu gà và cái đùi gà, rồi đặt nồi cơm và nồi thịt của mình trở lên bếp.
-Mấy cái thằng coi to con vậy mà nhát gan. MớI hù có một chút mà đã són đái ra quần.
Chuyện Sơn dằn mặt mấy chàng dầu hôi được truyền nhanh trong trường. Từ đó, nhà bếp tạm yên, không còn xảy ra cảnh 'chơi' nhau trên bếp nữa.
Dân 'dầu hôi, dầu lửa' rất khoái gọI điện thoại. Trong những phòng tiếp tân của building, ngay ngoài cửa, hay tại những ngã tư đều có những trạm điện thoại công cộng. 95% thơì gian, những trạm điện thoại này được trấn đóng bởI những anh chàng 'dâù' hoặc 'rệp'. Dân Việt nam ít khi xử dụng những trạm điện thoại công cộng này. Lý do cũng rất dễ hiểu. Thứ nhất, dân Mít làm gì có tiền gọI long distance về Việt Nam, dẫu có tiền, mấy ai có điện thoại ở tư gia. Thứ hai, cũng vì không tiền nên chẳng tên nào có đào Mỹ hay Mễ, nên cũng chẳng cần đến điện thoại. Vì thế, chuyện tranh giành điện thoại giữa ''mít'' và ''dầu'' ít khi nào xảy ra.
Nhưng ít không có nghĩa là nó không xảy ra.
Vào một buổI tôí đầy trăng sao, một sinh viên sĩ quan Việt Nam tên là Thắng cần gọI điện thoại cho cô nàng tóc vàng mà anh chàng mớI vừa làm quen. Vì những trạm điện thoại trong building và những trạm điện thoại gần nhà đều bị chiếm giữ bởI dân 'dầu' và cũng vì không muốn phải chờ đợI, Thắng cuốc bộ tớI trạm điện thoại công cộng gần trường. May quá, trạm điện thoại còn trống.
Thắng vào trong, khép cửa, bỏ tiền, rồi quay số. Ðang lan man, say sưa thủ thỉ vớI ngườI đẹp, bỗng Thắng nghe tiếng gõ mạnh trên mặt kiếng. Thắng quay ngườI lại. Qua lần kiếng trong, anh thấy bốn chàng 'dầu hôi', mặt mày trông rất khó chịu. Một tên trong bọn chỉ tay vào cái đồng hồ đeo tay, ra hiệu cho Thắng phải ngưng cuộc điện đàm. Thắng tảng lờ, quay trở lại tiếp tục tâm tình vớI em.
Tiếng gõ một lần nữa vang lên. Thắng vẫn tảng lờ như không nghe thấy, vẫn tiếp tục trò chuyện.
Bỗng, một tiếng ''rạt', cánh cửa phòng điện thoại mở rộng, rồi một bàn tay hộ pháp nắm lấy vai Thắng kéo mạnh. Thắng mất thăng bằng, ngã sóng soài trên mặt đất. Cái điện thoại vuột khỏi tay Thắng, lủng lẳng đong đưa trong không khí. Mặc cho Thắng đang lồm cồm bò dậy, hai tên 'dầu' thản nhiên bước vào trong trạm, đóng cửa, bỏ tiền và quay số. Hai tên còn lại, đứng bên ngoài trạm nhìn Thắng, ngạo nghễ cười khoái trá. Thắng đứng dậy, phủi bụi bặm trên áo quần, quét ánh mắt căm giận nhìn mấy anh chàng 'dầu hôi' rồi lầm lũi bước đi giữa những tiếng cườI khả ố của hai tên dầu hôi ngang tàng.
Không đầy 15 phút sau, Thắng trở lại cùng một sinh viên sĩ quan khác.
Hai ngườI tiến đến gần trạm điện thoại. Bốn tên dầu hôi vẫn còn đó. Hai tên bên trong trạm vẫn đang say sưa nói chuyện.
Thắng nói vớI một tên đứng bên ngoài:
-Sir, you must appologize to me. I was here first and you were impolite disturbing my conversation.
Tên dầu hôi cườI ha hả, quay sang tên bạn của hắn xổ một tràng tiếng ả rập rồi nói vớI Thắng:
-Appologize to you? Haha, what do you think you can do? Haha...
Thắng vẫn từ tốn chỉ vào anh bạn đứng cạnh:
-Sir, my friend here knows KungFu. You don't want to make him mad.
Tên dầu hôi lại cườI lớn, vung tay làm điệu bộ:
-Haha...Kung Fu...I know Kung Fu too...Ay, ay...ya...ya..haha..
Vừa cườI hắn vừa múa may riễu cợt.
Hắn chưa dứt tiếng cườI thì anh bạn của Thắng đã tung mình lên, một cú đá 360 độ đúng giữa một bên hàm của hắn. Bộp, hắn kêu lên một tiếng ''ối'', ôm mặt phun ra một búng máu. Tên thứ hai chưa kịp phản ứng thì lãnh ngay một cú đá vô giữa ngực. Bịch, hắn té ngược về phía sau vô trạm điện thoại đánh rầm. Tiếng kiếng bể loảng xoảng, tên dầu hôi vẫn chưa hết đà, hắn té ngồi vào lòng hai tên bên trong trạm điện thoại. Tên bên ngoài đang ôm mặt nhăn nhó thì, bịch, một cú đá vào hạ bộ và tiếp theo một cú móc vào bụng. Hắn khuỵu ngườI xuống thì đã lãnh ngay một cú đá nữa ngay giữa mặt. Hắn ngã sóng xoài trên mặt đất nằm yên bất động.
Bên trong trạm điện thoại, ba tên dầu hôi đang cố gắng lồm cồm thoát ra khỏi cái trạm điện thoại nhỏ xíu, chật ních. Một tên vừa lạng quạng bước ra đã lãnh một cú đấm ngay mặt cộng thêm cú đá vào bụng dưới. Hắn cũng khuỵu xuống, ôm bụng rên hừ hự. Hai tên còn lại, vừa ra khỏi trạm điện thoại, chưa kịp định hướng thì bịch, bịch, mỗI tên lãnh một gót chân và một cườm tay đúng vào những nơi bí hiễm. Họ mất thăng bằng, lải đảo rồi té bịch trên mặt đất. Cả ba tên 'dầu hôi' lồm cồm ngồi dậy, co giò chạy một mặt không dám quay lại, bỏ tên thứ tư vẫn còn nằm trên mặt đất rên hừ hừ.
Sáng hôm sau, cả sân trường sinh ngữ ồn ào bàn tán về vụ đánh nhau tại trạm điện thoại. Chuyện bốn chàng dầu hôi to lớn bị dần một trận tơi bờI bởI một anh chàng Việt Nam nhỏ thó làm dân 'mít' hả dạ và dân 'dầu hôi' cũng bớt hống hách. Nhưng cũng vì thế, sau một cuộc phán xét vơí đầy đủ nhân chứng của hai bên, và mặc dù vớI sự can thiệp tận lực của vị sĩ quan liên lạc, anh chàng sinh viên VN hào hùng và bốn chàng Iran ngang tàng đều bị ban giám đốc trường sa thải khỏi khoá học và bị đuổI về nước.
Trong suốt thờI gian còn lại của tôi tại Lackland AFB, những xích mích giữa dân 'Mít' và dân 'dầu' hoặc 'rệp' tạm lắng dịu. Không biết sau khi tôi rơì khỏi đây, không hiểu dân 'Mít' dân 'dầu' còn choảng nhau hay không ? Tôi nghĩ là có.
Trần Quốc Sỹ
Hi bạn tranminhvuong,mời bạn tham dự miễn phí Đại hội KQ ,tháng 5 này cho vui,những người bạn vác ngà voi tổ chức sắp xong rùi... hì.. hì ...thân mến.tranminhvuong wrote: ............
Qua đất xứ Cờ Huê này mà tinh-thần KHÔNG-QUÂN VIỆT-NAM vẫn còn rộn ràng nhờ những người bạn KHÔNG-QUÂN ăn cơm nhà vác ngà voi lo tổ chức các vụ họp mặt để cho anh em chúng ta có dịp gặp mặt nhau trong tình bạn thắm thiết làm ấm lòng người tha phương
tuyetlanh

-
tranminhvuong
Từ Nghĩa Trang Biên Hòa, Trường Sa Tới Dinh Độc
.
Chuyện Đời Quân Ngũ Của Một Người Lính Công Binh VNCH, 30-4:
Từ Nghĩa Trang Biên Hòa, Trường Sa Tới Dinh Độc Lập
Lê Đồng
Sau những cuộc mật đàm, đi đêm giữa các cường quốc Mỹ - Trung Cộng, Nga Sô đưa tới việc ký kết hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Đây cũng là lúc khóa 02/72 làm lễ ra trường Công Binh Quân Lực V.N.C.H. Ngôi trường này nằm trên một ngọn đồi thơ mộng theo đồ án kiến trúc của Pháp để lại mà phía sau trường đồi dốc thoai thoải hướng xuống dọc bờ sông có chiếc cầu bắc ngang dòng sông Phú Cường dẫn đường vào thị xã của tỉnh Bình Dương.
Sau lễ mãn khóa, cá nhân tôi được chuyển về liên đoàn 5 Công Binh kiến tạo ở thành Ông Năm Hóc Môn và điều động về Đại đội 541 Công Binh kiến tạo KBC 6322, trú đóng ở cầu Đồng Nai cạnh xa lộ Biên Hòa. Trách nhiệm chính của đơn vị là xây cất NGHĨA DŨNG ĐÀI ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.
Chuyện Nghĩa Trang Quân Đội và Nghĩa Dũng Đài
Vào thời điểm đó công trường Nghĩa Dũng Đài đang ở vào giai đoạn khởi công, cơ giới đào đất, đóng cừ móng bê tông trụ đài chính và 4 trụ đỡ của vành khăn tang. Ngoài ra đại đội còn có sà lan hàng ngày khai thác cát dưới lòng sông Đồng Nai để cung cấp cát cho các đơn vị quân lực V.N.C.H có nhu cầu sử dụng.
Từ 1973-1974, hàng năm cứ đúng ngày 1 tháng 11 năm 1973 & 1974 Việt Nam Cộng Hòa đều có tổ chức lễ tưởng niệm "chiến sĩ trận vong." Buổi lễ được cử hành tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa với sự tham dự của Tổng Thống Thiệu, thủ tướng Khiêm, Đại tướng Viên, chủ tịch quốc hội Cụ Huyền, Cụ Cố Lắm, Cố Đại Sứ Mỹ ông Bunker -sau đó là ông Martin- và ngoại giao đoàn tham dự.
Lần cuối cùng ngày 1/11/1974 sau khi làm lễ ở "Đền Tử Sĩ" đích thân Tổng Thống Thiệu cầm đuốc đốt dầu thô bừng cháy được lấy lên từ giàn khoan ngoài khơi vùng biển phía Nam. Các giếng dầu lúc đó được mang tên rất đẹp như, Hoa Hồng 9, Bạch Hổ, Mía, Dừa..... do các tổ hợp ngoại quốc đấu thầu, rồi phái đoàn lên xe đi về hướng Nghĩa- Dũng - Đài, và dừng lại đi bộ đến thắp nhang cầu nguyện trước mộ "chiến sĩ vô danh" và cắm nhang các phần mộ kế cận, cuối cùng nghe thuyết trình về công tác xây dựng, hoàn tất Nghĩa- Dũng- Đài trong lúc phu nhân của các vị lãnh đạo cũng đi từng ngôi mộ cắm nhang cho khu đối diện.
Đời binh nghiệp của tôi gắn liền với Đại Đội 541 Công Binh kiến tạo cho tới 12g trưa ngày 30/4/1975 thì tan hàng theo vận nước nổi trôi của miền Nam.
Chưa đầy 48 giờ sau ngày tiến chiếm Saigon, quân đội Cộng Sản đã cho tàn phá Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.
Tôi nhớ ngày 3/5/1975, từ sáng sớm sau khi không qua nổi làn sóng người "phe ta" tràn vào trình diện ở cổng trường Gia Long khép kín, tôi buồn chán lang thang đạp xe đạp lên thăm viếng Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Dọc đường xa lộ vắng vẻ thỉnh thoảng mới có vài chiếc molotova ngược xuôi và chạy chậm ngừng lại quan sát, nhanh chóng đưa những can xăng vào các nhà điểm bán xăng bên đường.
Qua khỏi con dốc của làng Đại Học Thủ Đức, trụ đài cao 43m đứng sừng sững giữa bầu trời và vành khăn tang vòng kính 43m, cao 1m2 bao quanh nằm chảy dài ngạo nghễ cùng với cổng Tam Quan & Đầu Tử Sĩ trong ánh nắng ban mai của thủơ ban đầu mất nước.
Đến nghĩa trang quân đội, tôi thấy tượng "Thương Tiếc" không còn uy nghi lẫm liệt ngồi trên bệ đá nữa mà đã bị cộng sản giật sập nằm bên vệ đường. Đầu tượng úp mặt quay về hướng Sài Gòn, chân ngóng về Biên Hòa và một cánh tay của tượng bị gãy lìa nằm cạnh đó. Hình ảnh ấy làm tôi thấy lòng mình chùng xuống. Chỉ còn biết hướng tầm mắt vào nghĩa trang nguyện cầu rồi lên xe đạp đi tới hậu cứ của đơn vị. Nơi đây đã hoàn toàn bị san bằng trên đường tiến quân của cộng sản vào Sài Gòn.

Sau khi từ trại cải tạo trở về, tôi đã âm thầm nhiều lần lên thăm viếng nghĩa trang Quân Đội. Sau khi đi định cư ở My,õ trong một dịp về Quê Hương, tôi cũng đã trở lại vùng đất nơi an nghỉ của những người con yêu Tổ Quốc và tận mắt chứng kiến nhiều cảnh đổi thay. Nơi bệ đá của tượng Thương Tiếc ngày xưa nay đã có một hộ dân cư dựng lên nhà ở và là điểm vá ép vỏ xe các loại. Ngay ngã ba đầu đường dẫn vào nghĩa trang có bàn bán giải khát và nhang đèn.
Qua khỏi lối rẽ chạy vòng quanh Đền Tử Sĩ, Cộng Sản đã xây dựng nhà máy lọc nước Thuận An án ngữ ngay bên phải cổng Tam Quan của đường lộ chính dẫn tới Nghĩa Dũng Đài, do đó thân nhân tử sĩ vào viếng mộ bắt buộc chỉ còn hướng bên trái đi lại mà thôi. Suốt quãng lộ chính này, mặt đường toàn là đất đỏ của nhà máy gạch phơi dùng để sản xuất gạch, những con đường nhựa phụ chạy theo hình vòng cung của các lô đã bị hư hại 90%. Tất cả ống cống thoát nước giữa các giao điểm đường lộ hoàn toàn chẳng còn nữa, khiến nhiều đoạn sụp lở thành hố sâu. Thương tâm nhất là những phần mộ an táng xa phía sau gần khu Nông Mục Quân Đội cũ là vùng đất thấp chưa được lắp đặt mộ tiền chế cỏ lau sậy mọc cao và nước mưa năm tháng xoáy mòn chỉ còn trơ trọi mộ bia ngả nghiêng.
Tóm lại khung cảnh đổ nát và hoang tàn của nghĩa trang quân đội Biên Hòa mà không bút mực nào diễn tả hết được ý nghĩa.
Hôm nay, thêm một lần Tháng Tư, tôi lại thấy lòng mình chùng xuống như ngày nào, khi hồi tưởng đời quân ngũ từ 30 năm trước.
Công binh VNCH ra Trường Sa
Tháng 1/1974, Trung Cộng chiếm đóng công khai đảo Hoàng Sa. Để ngăn chận sự lấn chiếm những đảo còn lại của biển Đông, các đơn vị của Liên Đoàn 5 Công Binh kiến tạo được lệnh đưa các toán công binh ra quần đảo Trường Sa để xây cất các hạng mục công trình như dựng cột cờ, bia chủ quyền, nhà tiền chế, nhà để máy phát điện, nhà chưá bồn nước dư trữ....
Vào thời gian đó quần đảo Trường Sa gồm những đảo san hô như Thái Bình, Tại Tứ, Song Tử- Đông... rộng lớn trù phú và dân cư sinh sống trên đảo đông đúc thuộc quyền kiểm soát của Đài Loan và Phi Luật Tân, Đảo Nam -Yết do Việt Nam cộng Hòa đóng trên đảo đã thiết lập đài khí tượng thủy văn không có dân chúng cư ngụ. Những đảo san hô còn lại như Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn, Song -Tử -Tây, An Bằng hoàn toàn bỏ hoang chưa thuộc chủ quyền của quốc gia nào.
Trong chiến dịch được mang tên Trần Hưng Đạo 48, ngày 9/3/1974 lúc 1g30ph chiều, chiếc yểm trợ hạm Cần Thơ H.Q 801 do hải quân trung tá Nguyễn Duy Long làm hạm trưởng cùng với sở thủy đạo, người nhái hải quân và toán công binh của đại đội 541 CBKT gồm khoảng 400 binh sĩ, hạ sĩ quan do tôi làm trưởng toán rời bến Tân Cảng Sài Gòn để ra khơi trực chỉ đảo Trường Sa.
Sau 2 ngày hải hành tàu đến địa điểm bỏ neo ngoài khơi đảo và đoàn chúng tôi xuống ca nô vào quan sát vị trí chung quanh đảo. Đảo này diện tích 300 x 400m. Chúng tôi được chuẩn úy Giáo thuộc tiểu khu Bà Rịa& Phước Tuy là "chúa Đảo" thuyết trình cho biết trung đội địa phương quân của anh mới đổ bộ lên đảo cách đây vài ngày. Kế tiếp toán công binh của tôi bắt đầu đổ quân & di chuyển vật liệu lên đảo. qua một tháng nỗ lực xây dựng vì nhu cầu công trường nên tóan của chúng tôi được đơn vị bạn công binh thay thế trở về đất liền tiếp tục xây cất Nghĩa Dũng Đài vàmỗi quân nhân được tưởng thưởng một Hải vụ bội tinh.
Ngày 15/4/1975 như để thăm dò lần cuối cùng thái độ của Hoa Kỳ trong cuộc chến tranh Việt Nam, Bắc Việt đã huy động tàu chiến, bộ binh tấn công đánh chiếm các hòn đảo của Trường Sa mà Mỹ đã không một lời lên tiếng phản ứng. Theo thiểu ý của tôi, nhìn lại dữ kiện lịch sử cận đại của các nước nhược tiểu là đồng minh với Hoa Kỳ đã rút ra được bài học: "Vì quyền lợi và ảnh hưởng chính trị của Mỹ ở trong nước cũng như trên chính trường quốc tế". Các vị Tổng Thống của cả 2 đảng Cộng Hòa & Dân Chủ phải hướng về chủ trương và đường lối quốc gia Hoa Kỳ theo từng giai đoạn diễn biến của thế giới. Trong tình hình lúc ấy, viễn ảnh một cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng tại biển đông ai cũng thấy là sẽ khó tránh khỏi bởi tiềm năng nguồn năng lượng vô tận dầu hỏa còn nằm sâu trong lòng biển Đông, hơn nữa đây còn là trục lộ hàng hải chính giao điểm của các quốc gia qua lại. Vậy mà Bắc Việt chiếm gọn Trường Sa, Mỹ không nói một tiếng. Chiến xa Bắc Việt còn ngần ngại gì mà không kéo nhau vào Saigon.
Những ngày cuối cùng của Dinh Độc Lập
Ngày 8/4/1975 Trung úy Nguyễn Thành Trung lái F5 ném bom làm Dinh Độc Lập bị hư hại Đại Sảnh Đường. Đại đội 541 CBKT lại tạm xa rời nghĩa trang quân đội để vào sửa chữa Dinh cho đến 6g chiều ngày 26/4/1975 là ngày công tác cuối cùng trong Dinh Độc Lập.
Tôi còn nhớ rất rõ, vào lúc 6 giờ chiều ngày 28/4/1975 phi trường Biên Hòa hoàn tất việc di tản. Những tiếng nổ và lửa cháy suốt đêm cả một vùng trời cho đến sáng 29/4/1975 Biên Hòa bỏ ngỏ, cacù đơn vị pháo binh 175ly & 155ly lần lượt kéo về lập phòng tuyến bên cầu Đồng Nai nòng súng trực xạ và dân chúng di tản lũ lượt từng đoàn đủ mọi phương tiện đi về Saigon.
Vào lúc 1g chiều ngày 25/4/1975 vị Trung úy của Dinh độc Lập mà tôi thường tiếp xúc hàng ngày đến bắt tay xã giao thăm hỏi trong ánh mắt không vui, ngỏ ý mượn 6 anh em binh sĩ để lên trên lầu vào phòng khiêng một tủ sắt nhỏ mang đi. Theo tôi đây là tài sản riêng tư quý giá của gia đình cố Tổng Thống Thiệu mang đi vào phút chót.
Từ ngày 26-4 là lúc các đơn vị Quân Lực V.N.C.H đóng chung quanh cầu Đồng Nai bị pháo kích đồng thời nhiều toán đặc công Cộng Sản xâm nhập đánh phá lưu thông. Xa lộ Biên Hòa gián đoạn từng hồi. Công Binh đã có kế hoạch đặt chất nổ phá sập tất cả các cây cầu huyết mạch dẫn vào Sài Gòn, nhưng rồi kế hoạch đã không được thi hành.
Trong mốc thời gian ngắn ngủi công tác ở Dinh Độc Lập, tôi cũng đã có dịp nhìn thấy Tổng thống Thiệu , cụ Phó Trần Văn Hương với gương mặt suy tư lo âu và mệt mỏi lẫn buồn bã cùng các vị chính khách và tướng lãnh hối hả tấp nập ra vào phòng họp Dinh để rồi cuối cùng " kẻ ra đi người ở lại" đưa tới đại họa nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản.
Tạm kết:
mong góp phần hoàn tất Nghĩa Dũng Đài
Trong thời chiến tranh các thế hệ nối tiếp của người lính công binh nói riêng và Quân lực V.N.C.H nói chung đã xây dựng lên biết bao công trình mà cho tới ngày hôm nay vẫn còn tồn tại trong phần đất miền Nam như Dinh Độc Lập, Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, bệnh viện Vì Dân, Đài Bảo Tháp Hoa Sen nằm cạnh nhà hát Hòa Bình Q10 Sài Gòn, cầu bê tông tiền áp Đà Rằng, các trục quốc lộ....
Nhớ lại chặng đường tuổi trẻ trôi nhanh với biết bao kỷ niệm thăng trầm đắng cay trong cuộc đời mà những bạn công binh cùng trang lứa như kiến trúc sư Thiếu úy Vũ Văn Dũng chỉ huy bắc chiếc cầu cho mặt trận An Điền & Rạch Bắp của quân đoàn III đã anh dũng hy sinh bên chiếc cầu nối nhịp dang dở, cán sự công chánh thiếu úy Trần Văn Sơn vĩnh viễn nằm lại vùng đất cao nguyên gió lạnh mưa mùa trên mặt trận Kon Tum.... Và biết bao anh hùng vô danh bất tử của Quân Dân & Cán chính V.N.C.H.
Giờ đây tôi chỉ ước nguyện mong ngày nào đó còn chút sức khỏe để đích thân về lại "NGHĨA TRANG QUỐC GIA BIÊN HÒA" góp một bàn tay hoàn tất công trình dang dở NGHĨA DŨNG ĐÀI và xây dựng "BIA TƯỞNG NIỆM" mồ chôn tập thể tử sĩ từ trần vào giờ thứ 25 của miền Nam nước VIỆT.
LÊ ĐỒNG
Mùa Quốc Nạn 2005
.
Chuyện Đời Quân Ngũ Của Một Người Lính Công Binh VNCH, 30-4:
Từ Nghĩa Trang Biên Hòa, Trường Sa Tới Dinh Độc Lập
Lê Đồng
Sau những cuộc mật đàm, đi đêm giữa các cường quốc Mỹ - Trung Cộng, Nga Sô đưa tới việc ký kết hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Đây cũng là lúc khóa 02/72 làm lễ ra trường Công Binh Quân Lực V.N.C.H. Ngôi trường này nằm trên một ngọn đồi thơ mộng theo đồ án kiến trúc của Pháp để lại mà phía sau trường đồi dốc thoai thoải hướng xuống dọc bờ sông có chiếc cầu bắc ngang dòng sông Phú Cường dẫn đường vào thị xã của tỉnh Bình Dương.
Sau lễ mãn khóa, cá nhân tôi được chuyển về liên đoàn 5 Công Binh kiến tạo ở thành Ông Năm Hóc Môn và điều động về Đại đội 541 Công Binh kiến tạo KBC 6322, trú đóng ở cầu Đồng Nai cạnh xa lộ Biên Hòa. Trách nhiệm chính của đơn vị là xây cất NGHĨA DŨNG ĐÀI ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.
Chuyện Nghĩa Trang Quân Đội và Nghĩa Dũng Đài
Vào thời điểm đó công trường Nghĩa Dũng Đài đang ở vào giai đoạn khởi công, cơ giới đào đất, đóng cừ móng bê tông trụ đài chính và 4 trụ đỡ của vành khăn tang. Ngoài ra đại đội còn có sà lan hàng ngày khai thác cát dưới lòng sông Đồng Nai để cung cấp cát cho các đơn vị quân lực V.N.C.H có nhu cầu sử dụng.
Từ 1973-1974, hàng năm cứ đúng ngày 1 tháng 11 năm 1973 & 1974 Việt Nam Cộng Hòa đều có tổ chức lễ tưởng niệm "chiến sĩ trận vong." Buổi lễ được cử hành tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa với sự tham dự của Tổng Thống Thiệu, thủ tướng Khiêm, Đại tướng Viên, chủ tịch quốc hội Cụ Huyền, Cụ Cố Lắm, Cố Đại Sứ Mỹ ông Bunker -sau đó là ông Martin- và ngoại giao đoàn tham dự.
Lần cuối cùng ngày 1/11/1974 sau khi làm lễ ở "Đền Tử Sĩ" đích thân Tổng Thống Thiệu cầm đuốc đốt dầu thô bừng cháy được lấy lên từ giàn khoan ngoài khơi vùng biển phía Nam. Các giếng dầu lúc đó được mang tên rất đẹp như, Hoa Hồng 9, Bạch Hổ, Mía, Dừa..... do các tổ hợp ngoại quốc đấu thầu, rồi phái đoàn lên xe đi về hướng Nghĩa- Dũng - Đài, và dừng lại đi bộ đến thắp nhang cầu nguyện trước mộ "chiến sĩ vô danh" và cắm nhang các phần mộ kế cận, cuối cùng nghe thuyết trình về công tác xây dựng, hoàn tất Nghĩa- Dũng- Đài trong lúc phu nhân của các vị lãnh đạo cũng đi từng ngôi mộ cắm nhang cho khu đối diện.
Đời binh nghiệp của tôi gắn liền với Đại Đội 541 Công Binh kiến tạo cho tới 12g trưa ngày 30/4/1975 thì tan hàng theo vận nước nổi trôi của miền Nam.
Chưa đầy 48 giờ sau ngày tiến chiếm Saigon, quân đội Cộng Sản đã cho tàn phá Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.
Tôi nhớ ngày 3/5/1975, từ sáng sớm sau khi không qua nổi làn sóng người "phe ta" tràn vào trình diện ở cổng trường Gia Long khép kín, tôi buồn chán lang thang đạp xe đạp lên thăm viếng Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Dọc đường xa lộ vắng vẻ thỉnh thoảng mới có vài chiếc molotova ngược xuôi và chạy chậm ngừng lại quan sát, nhanh chóng đưa những can xăng vào các nhà điểm bán xăng bên đường.
Qua khỏi con dốc của làng Đại Học Thủ Đức, trụ đài cao 43m đứng sừng sững giữa bầu trời và vành khăn tang vòng kính 43m, cao 1m2 bao quanh nằm chảy dài ngạo nghễ cùng với cổng Tam Quan & Đầu Tử Sĩ trong ánh nắng ban mai của thủơ ban đầu mất nước.
Đến nghĩa trang quân đội, tôi thấy tượng "Thương Tiếc" không còn uy nghi lẫm liệt ngồi trên bệ đá nữa mà đã bị cộng sản giật sập nằm bên vệ đường. Đầu tượng úp mặt quay về hướng Sài Gòn, chân ngóng về Biên Hòa và một cánh tay của tượng bị gãy lìa nằm cạnh đó. Hình ảnh ấy làm tôi thấy lòng mình chùng xuống. Chỉ còn biết hướng tầm mắt vào nghĩa trang nguyện cầu rồi lên xe đạp đi tới hậu cứ của đơn vị. Nơi đây đã hoàn toàn bị san bằng trên đường tiến quân của cộng sản vào Sài Gòn.

Sau khi từ trại cải tạo trở về, tôi đã âm thầm nhiều lần lên thăm viếng nghĩa trang Quân Đội. Sau khi đi định cư ở My,õ trong một dịp về Quê Hương, tôi cũng đã trở lại vùng đất nơi an nghỉ của những người con yêu Tổ Quốc và tận mắt chứng kiến nhiều cảnh đổi thay. Nơi bệ đá của tượng Thương Tiếc ngày xưa nay đã có một hộ dân cư dựng lên nhà ở và là điểm vá ép vỏ xe các loại. Ngay ngã ba đầu đường dẫn vào nghĩa trang có bàn bán giải khát và nhang đèn.
Qua khỏi lối rẽ chạy vòng quanh Đền Tử Sĩ, Cộng Sản đã xây dựng nhà máy lọc nước Thuận An án ngữ ngay bên phải cổng Tam Quan của đường lộ chính dẫn tới Nghĩa Dũng Đài, do đó thân nhân tử sĩ vào viếng mộ bắt buộc chỉ còn hướng bên trái đi lại mà thôi. Suốt quãng lộ chính này, mặt đường toàn là đất đỏ của nhà máy gạch phơi dùng để sản xuất gạch, những con đường nhựa phụ chạy theo hình vòng cung của các lô đã bị hư hại 90%. Tất cả ống cống thoát nước giữa các giao điểm đường lộ hoàn toàn chẳng còn nữa, khiến nhiều đoạn sụp lở thành hố sâu. Thương tâm nhất là những phần mộ an táng xa phía sau gần khu Nông Mục Quân Đội cũ là vùng đất thấp chưa được lắp đặt mộ tiền chế cỏ lau sậy mọc cao và nước mưa năm tháng xoáy mòn chỉ còn trơ trọi mộ bia ngả nghiêng.
Tóm lại khung cảnh đổ nát và hoang tàn của nghĩa trang quân đội Biên Hòa mà không bút mực nào diễn tả hết được ý nghĩa.
Hôm nay, thêm một lần Tháng Tư, tôi lại thấy lòng mình chùng xuống như ngày nào, khi hồi tưởng đời quân ngũ từ 30 năm trước.
Công binh VNCH ra Trường Sa
Tháng 1/1974, Trung Cộng chiếm đóng công khai đảo Hoàng Sa. Để ngăn chận sự lấn chiếm những đảo còn lại của biển Đông, các đơn vị của Liên Đoàn 5 Công Binh kiến tạo được lệnh đưa các toán công binh ra quần đảo Trường Sa để xây cất các hạng mục công trình như dựng cột cờ, bia chủ quyền, nhà tiền chế, nhà để máy phát điện, nhà chưá bồn nước dư trữ....
Vào thời gian đó quần đảo Trường Sa gồm những đảo san hô như Thái Bình, Tại Tứ, Song Tử- Đông... rộng lớn trù phú và dân cư sinh sống trên đảo đông đúc thuộc quyền kiểm soát của Đài Loan và Phi Luật Tân, Đảo Nam -Yết do Việt Nam cộng Hòa đóng trên đảo đã thiết lập đài khí tượng thủy văn không có dân chúng cư ngụ. Những đảo san hô còn lại như Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn, Song -Tử -Tây, An Bằng hoàn toàn bỏ hoang chưa thuộc chủ quyền của quốc gia nào.
Trong chiến dịch được mang tên Trần Hưng Đạo 48, ngày 9/3/1974 lúc 1g30ph chiều, chiếc yểm trợ hạm Cần Thơ H.Q 801 do hải quân trung tá Nguyễn Duy Long làm hạm trưởng cùng với sở thủy đạo, người nhái hải quân và toán công binh của đại đội 541 CBKT gồm khoảng 400 binh sĩ, hạ sĩ quan do tôi làm trưởng toán rời bến Tân Cảng Sài Gòn để ra khơi trực chỉ đảo Trường Sa.
Sau 2 ngày hải hành tàu đến địa điểm bỏ neo ngoài khơi đảo và đoàn chúng tôi xuống ca nô vào quan sát vị trí chung quanh đảo. Đảo này diện tích 300 x 400m. Chúng tôi được chuẩn úy Giáo thuộc tiểu khu Bà Rịa& Phước Tuy là "chúa Đảo" thuyết trình cho biết trung đội địa phương quân của anh mới đổ bộ lên đảo cách đây vài ngày. Kế tiếp toán công binh của tôi bắt đầu đổ quân & di chuyển vật liệu lên đảo. qua một tháng nỗ lực xây dựng vì nhu cầu công trường nên tóan của chúng tôi được đơn vị bạn công binh thay thế trở về đất liền tiếp tục xây cất Nghĩa Dũng Đài vàmỗi quân nhân được tưởng thưởng một Hải vụ bội tinh.
Ngày 15/4/1975 như để thăm dò lần cuối cùng thái độ của Hoa Kỳ trong cuộc chến tranh Việt Nam, Bắc Việt đã huy động tàu chiến, bộ binh tấn công đánh chiếm các hòn đảo của Trường Sa mà Mỹ đã không một lời lên tiếng phản ứng. Theo thiểu ý của tôi, nhìn lại dữ kiện lịch sử cận đại của các nước nhược tiểu là đồng minh với Hoa Kỳ đã rút ra được bài học: "Vì quyền lợi và ảnh hưởng chính trị của Mỹ ở trong nước cũng như trên chính trường quốc tế". Các vị Tổng Thống của cả 2 đảng Cộng Hòa & Dân Chủ phải hướng về chủ trương và đường lối quốc gia Hoa Kỳ theo từng giai đoạn diễn biến của thế giới. Trong tình hình lúc ấy, viễn ảnh một cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng tại biển đông ai cũng thấy là sẽ khó tránh khỏi bởi tiềm năng nguồn năng lượng vô tận dầu hỏa còn nằm sâu trong lòng biển Đông, hơn nữa đây còn là trục lộ hàng hải chính giao điểm của các quốc gia qua lại. Vậy mà Bắc Việt chiếm gọn Trường Sa, Mỹ không nói một tiếng. Chiến xa Bắc Việt còn ngần ngại gì mà không kéo nhau vào Saigon.
Những ngày cuối cùng của Dinh Độc Lập
Ngày 8/4/1975 Trung úy Nguyễn Thành Trung lái F5 ném bom làm Dinh Độc Lập bị hư hại Đại Sảnh Đường. Đại đội 541 CBKT lại tạm xa rời nghĩa trang quân đội để vào sửa chữa Dinh cho đến 6g chiều ngày 26/4/1975 là ngày công tác cuối cùng trong Dinh Độc Lập.
Tôi còn nhớ rất rõ, vào lúc 6 giờ chiều ngày 28/4/1975 phi trường Biên Hòa hoàn tất việc di tản. Những tiếng nổ và lửa cháy suốt đêm cả một vùng trời cho đến sáng 29/4/1975 Biên Hòa bỏ ngỏ, cacù đơn vị pháo binh 175ly & 155ly lần lượt kéo về lập phòng tuyến bên cầu Đồng Nai nòng súng trực xạ và dân chúng di tản lũ lượt từng đoàn đủ mọi phương tiện đi về Saigon.
Vào lúc 1g chiều ngày 25/4/1975 vị Trung úy của Dinh độc Lập mà tôi thường tiếp xúc hàng ngày đến bắt tay xã giao thăm hỏi trong ánh mắt không vui, ngỏ ý mượn 6 anh em binh sĩ để lên trên lầu vào phòng khiêng một tủ sắt nhỏ mang đi. Theo tôi đây là tài sản riêng tư quý giá của gia đình cố Tổng Thống Thiệu mang đi vào phút chót.
Từ ngày 26-4 là lúc các đơn vị Quân Lực V.N.C.H đóng chung quanh cầu Đồng Nai bị pháo kích đồng thời nhiều toán đặc công Cộng Sản xâm nhập đánh phá lưu thông. Xa lộ Biên Hòa gián đoạn từng hồi. Công Binh đã có kế hoạch đặt chất nổ phá sập tất cả các cây cầu huyết mạch dẫn vào Sài Gòn, nhưng rồi kế hoạch đã không được thi hành.
Trong mốc thời gian ngắn ngủi công tác ở Dinh Độc Lập, tôi cũng đã có dịp nhìn thấy Tổng thống Thiệu , cụ Phó Trần Văn Hương với gương mặt suy tư lo âu và mệt mỏi lẫn buồn bã cùng các vị chính khách và tướng lãnh hối hả tấp nập ra vào phòng họp Dinh để rồi cuối cùng " kẻ ra đi người ở lại" đưa tới đại họa nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản.
Tạm kết:
mong góp phần hoàn tất Nghĩa Dũng Đài
Trong thời chiến tranh các thế hệ nối tiếp của người lính công binh nói riêng và Quân lực V.N.C.H nói chung đã xây dựng lên biết bao công trình mà cho tới ngày hôm nay vẫn còn tồn tại trong phần đất miền Nam như Dinh Độc Lập, Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, bệnh viện Vì Dân, Đài Bảo Tháp Hoa Sen nằm cạnh nhà hát Hòa Bình Q10 Sài Gòn, cầu bê tông tiền áp Đà Rằng, các trục quốc lộ....
Nhớ lại chặng đường tuổi trẻ trôi nhanh với biết bao kỷ niệm thăng trầm đắng cay trong cuộc đời mà những bạn công binh cùng trang lứa như kiến trúc sư Thiếu úy Vũ Văn Dũng chỉ huy bắc chiếc cầu cho mặt trận An Điền & Rạch Bắp của quân đoàn III đã anh dũng hy sinh bên chiếc cầu nối nhịp dang dở, cán sự công chánh thiếu úy Trần Văn Sơn vĩnh viễn nằm lại vùng đất cao nguyên gió lạnh mưa mùa trên mặt trận Kon Tum.... Và biết bao anh hùng vô danh bất tử của Quân Dân & Cán chính V.N.C.H.
Giờ đây tôi chỉ ước nguyện mong ngày nào đó còn chút sức khỏe để đích thân về lại "NGHĨA TRANG QUỐC GIA BIÊN HÒA" góp một bàn tay hoàn tất công trình dang dở NGHĨA DŨNG ĐÀI và xây dựng "BIA TƯỞNG NIỆM" mồ chôn tập thể tử sĩ từ trần vào giờ thứ 25 của miền Nam nước VIỆT.
LÊ ĐỒNG
Mùa Quốc Nạn 2005
.
Last edited by phu_de on Sat Apr 09, 2005 2:25 am, edited 1 time in total.
-
Guest


