tranminhvuong wrote:Thân tặng các bạn nào từng ở Lackland AFB Texas khoảng 70's
TranminhVuong
Vui buồn Lackland AFB
Chuyện ngắn dưới đây được trích từ quyển hồi ký "Dòng đời trôi nổi" của cùng tác giả ...
***
Chúng tôi bước chân xuống Lackland AFB vào cuối mùa hè năm 1972. Tháng 9 là tháng nóng nhất của Texas. Cái nóng Texas cũng gần giống như cái nóng Việt Nam, nóng và ẩm. Mồ hôi lúc nào cũng rịn ra, khó chịu vô cùng. Cũng may, chúng tôi vừ ở Việt Nam qua nên cũng phần nào quen vớI cái khí hậu nóng bức này.
Theo chương trình, chúng tôi sẽ ở lại Lacland AFB ba tháng để học thêm những danh từ kỹ thuật tại Defense Language Institute. Sau đó, chúng tôi sẽ được đưa qua Keesler AFB, Biloxi, Mississippi để học về kỹ thuật.
Ở Lackland, chúng tôi sướng như ông hoàng. Hai ngườI một phòng với máy lạnh chạy 24/24. Trong phòng có một cái tủ lạnh, hai cái giường và hai cái bàn giấy nhỏ. Mọi ngày phòng được những cô Mễ dọn dẹp, lau chùi, hút bụi, làm giường, y như ở khách sạn. Sáng ngủ bảnh mắt, đánh răng rửa mặt, xuống Messhall làm một bụng rồi cắp sách đi học. Chiều về, phòng đã được dọn dẹp ngăn nắp, chẳng phải động tớI ngón tay.
Trần Quốc Sỹ
Bác Vượng ơi
Ở đó cứ mỗi cuối tuần là tụi tui chờ để ra phố free,
Ở đó có một số gia đình , họ rất tốt, cứ sáng thứ bảy là họ chờ sẳn trước cổng để rước tụi tui đi ra phố, chở lại nhà bạn bè họ để giới thiệu, ăn uống, sinh hoạt, ngày lễ Thanksgiving, họ mời lại nhà ăn lễ, tặng quà rất cảm động, thậm chí có người còn thoải mái chở đi vượt biên giới qua Laredo nữa, vui lắm
Nhắc tới chuyện mấy cô làm phòng Mễ tới dọn dep, trong bọn có đứa làm bộ bệnh nghỉ buổi sáng, nằm trong phòng đắp drap làm bộ ngủ quên để cô Mễ sớn sác tới tốc drap lên thấy tô hô, ai dè gặp bà Mễ bành ky cả trăm ký mamasan, vô đuổi ra chạy không kịp còn báo cáo lên trưởng trại nữa, hehehe
Không biết lúc bác qua cái siêu thị Wynn's ở đàng sau trường (muốn qua phải leo rào băng ngỏ tắt qua ) còn đó hay không?
Nới mà Mít ta ưa mua gà , bò về nấu phở....
hị bạn tuyết lanh.
cái hình trên đúng là nguyễn thế Tòng chính hiệu con nai vàng 100%, khi tôi gặp Tòng năM 2002 thì trông giống như hồi ở quân trường nha trang, không thay đổi mậy , như tôi thì mập ra, bác thì gầy.tôi sẽ gọi điên thoại nói chuyệ với bác sạu thân mện vương.
Không bao giờ quên người Chiến Sĩ
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Phan Đức Minh
(Mến tặng các chiến hữu và những người bạn trẻ của tôi)
Mọi sự qua rồi nên cho qua luôn, nhưng những Bài Học Lịch Sử quý giá thì không được phép quên, nhất là đối với những quốc gia hùng cường muốn " làm chủ " thế giới hay lãnh đạo một Châu Lục ( Continent ), cũng như đối với những quốc gia nhược tiểu khi kết bạn đồng minh, sống chết với nhau trong những cuộc đấu tranh sinh tồn.
Ở đây, sau những thành công của Cộng Đồng người Việt: Chiến dịch Cờ Vàng, Vùng " Cấm cộng sản Hà Nội lai vãng " Garden Grove, Wesminster tại Nam California, Hoa Kỳ, mọi nơi Cộng Đồng người Việt đang tổ chức kỷ niệm ngày 19 tháng 6, vinh danh các chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một cách vô cùng trọng thể, tôi chỉ nói lên một vài nét nhỏ để chứng minh rằng: nhiều kẻ lầm lẫn, hay cố tình với ác tâm, ác ý bôi nhọ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ của những vụ xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam của giới sinh viên Đại Học, mà cái tổ phát xuất của nó từ Trường Đại Học Kent State Unuversity , do 1 Giáo Sư, cán bộ của Đảng Cộng Sản Mỹ, lãnh đạo, chỉ huy theo kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, với sự tham gia đắc lực của Cô đào chiếu bóng hám nổi danh bằng con đường tắt là Jane Fonda, và cả đương kim Nghị Sĩ Liên Bang kiêm Ứng Cử Viên Tổng Thống John Kerry đã được cộng sản Hà Nội tuyên truyền, nhồi sọ.
Cộng Sản Quốc Tế biết rằng đánh thắng Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam thì khó, nhưng đánh thắng Hoa Kỳ tại Quốc Hội, trên đường phố, ở các trường Đại Học , trên mặt trận truyền thông bằng thứ " Chiến tranh tâm lý " thì không khó lắm. Bởi thế cho nên công cuộc lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, góp phần đập tan tinh thần chiến đấu, quyết thắng của Quân Đội Mỹ - vốn có từ xưa - trong cuộc chiến Việt Nam phải được giao cho 1 Giáo Sư Đại Học có uy tín và là cán bộ cao cấp của Đảng Cộng Sản Mỹ. Sự việc này chỉ được người ta biết đến khi vị Giáo Sư lãnh đạo phong trào sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam này từ trần, có Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Mỹ dự tang lễ, đọc điếu văn, nêu cao thành tích của người quá cố, đã góp công sức vào việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam theo đường lối, kế hoạch của " Phong trào Cách Mạng Vô Sản thế giới ".
Nhiều người đã đánh giá toàn thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa qua hành động xấu xa của một số Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam ( sai lầm chiến lược ) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách.
Họ đánh giá Quân Đội VNCH qua hình ảnh tan rã của nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mà kẻ gây ra tình trạng thê thảm này đích danh thủ phạm là Ông Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lãnh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội VNCH, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I - một Tướng Lãnh từng được kể vào hàng Danh Tướng của Thế Giới - phải bỏ Quân Khu I lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội của 2 Tướng này đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đã từng đánh bại quân cộng sản trên lãnh thổ 2 Quân Khu này.
Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi chưa chạm địch để làm áp lực,lôi kéo người bạn Đồng Minh khổng lồ ( đang tháo chạy bằng mọi giá, càng mau càng đỡ khổ vì tình hình bất đồng nội bộ trong Quốc Hội, phá phách rối loạn trên đường phố, chống lại cảnh sát, rối loạn tại các trường Đại Học, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh quân dịch, làm chán nản tinh thần quân đội Mỹ đang chiến đấu tại Việt Nam ) quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, " Tiền đồn chống cộng sản của Mỹ tại Đông Nam Á Châu sẽ sụp đổ ".Tổng Thống Mỹ Richard Nixon phải hứa với nhân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh dự, trả người thân về với gia đình của họ. Qua trung gian của Tổng Thống Hồi Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Đông, lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc. Họ Mao với sức mạnh của Sư Phụ, với uy thế của Ông Thầy bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực... đã ra lệnh cho cộng sản Hà Nội không được chơi trội, bắt bí phái Đoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris , dọa đánh cho Mỹ phải chạy mà không có " Hiệp Định ngưng bắn - Agreement of cease- fire " chi cả. Họ Mao đã cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng đáng :
I.- Vận động để cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế Hội Viên Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với quyền Phủ quyết cuối năm 1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu Họ Mao đã chiếm hết lục địa Trung Quốc, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949. Còn Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa thì vẫn là bạn của Mỹ nhưng phải rời khỏi cái ghế đó, ra đảo Đài Loan cho được việc.
2.- Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho Họ Mao những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Quốc đủ sức " đánh nhau tay đôi " với Liên Sô khi cần, vì Liên Sô đã kết án,và đe dọa trừng trị Họ Mao về nhiều tội :
* Bất phục tùng Trung Tâm Lãnh Đạo phong trào cộng sản thế giới là Điện Kremlin ở Moscow.
* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Đông, trái nghịch với Học Thuyết Marx - Lenin là : Thiết lậl;p nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Quốc : lấy Nông Dân ( đại đa số dân Trung Quốc ) làm giai cấp lãnh đạo, thay vì giai cấp Công Nhân lãnh đạo, như Học Thuyết Marx-Lenin, đã được dùng làm Phương Châm Đấu Tranh cho Phong Trào Cộng Sản Toàn Cầu.
* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh của Trung Quốc và Tư Tưởng Mao Trạch Đông, tách ra khỏi sự lãnh đạo của điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận " Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản ", theo luận điểm của Lenin về khả năng tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghĩa ( Lenin's thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing the stage of capitalist development ) vì Liên Sô đã có cơ sở công nghiệp trong khi Trung Quốc chỉ có " Con trâu đi trước cái cầy ". Như thế mới gọi là Tư Tưởng Mao Trạch Đông, chớ Hồ Chí Minh , lãnh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết trò " Đu dây " theo voi ăn bã mía cả 2 phía Liên Sô và Trung Quốc thì làm gì có cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiều Sĩ Quan cao cấp của VNCH trông cảnh quân sĩ dưới quyền bị tan rã một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lãnh đạn trọng pháo, hỏa tiễn của Liên Sô và Trung Quốc tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dã man mà thấy xót xa trong tim, trong lòng, phát điên phát khùng lên vì sự khờ dại, ngu xuẩn của Nguyễn Văn Thiệu. Là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội mà Nguyễn Văn Thiệu không hiểu rằng : Những phòng tuyến đầu tiên bị tan rã, quân đội chưa đánh mà bỏ chạy tán loạn cùng hàng triệu dân chúng thì hậu quả quân sự, chính trị, tâm lý của Nam Việt Nam sẽ ra làm sao !
Họ đã cố tình quên đi tinh thần chiến đấu của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong dịp Tết Mậu Thân (1968 ). Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả bằng súng tiểu liên xung kích AK-47 của Liên Sô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng võ trang của " Mặt Trận Giải phóng miền Nam ", lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản bội thỏa hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền của dân tộc Việt Nam, thình lình mở cuộc " Tổng tấn công " vào hầu hết các thành phố, thị trấn của Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Đội VNCH hầu hết chỉ được trang bị bằng súng trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 của quân đội Mỹ sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Vì bất ngờ cho nên chúng đã kiểm soát được một số lãnh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Đô Sài Gòn. Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đã chiếm bằng mọi giá để đưa dân chúng Nam Việt Nam vào 1 cuộc " Tổng nổi dậy ", cướp chính quyền. Do đó, khi chiến trường đã được quân đội VNCH giải tỏa, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đi theo quân đội mới thấy những xác chết của lính cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ được rằng Quân Đội VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau 1 thời gian cộng sản chiếm đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương to lớn của chúng ở bên kia sông Thạch Hãn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà cộng sản đã phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu Thân (1968), chỉ kịp lùa theo chúng hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chính quyền, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, để dẫn đi tàn sát, chôn sống tập thể theo kiểu Hitler giết người Do Thái, Staline giết người Ba Lan, nhưng ghê tởm hơn, vì chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mã tấu, còn sống cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người một lúc.
Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần " Bỏ cuộc, chạy làng " của tay " Sen đầm quốc tế " khổng lồ, nhưng đã quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân vì nó chẳng có mặt trận, chiến tuyến nào rõ ràng để mình chủ động sử dụng " ưu thế hỏa lực- Superiority of firepower " được cả, mà hậu phương thì rối loạn, nát bấy vì biểu tình, phản đối chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội cãi nhau như mổ bò về chuyện có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái " Tiền đồn chống công ở Á Châu " . Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18 năm về trước, đã dùng chiến thắng Điện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hòa Hội Geneva.
Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất đã từng đánh tan 2 Binh Đoàn Lưu Động ( Groupements mobililes ) của Pháp tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, bắt sống 2 Binh Đoàn Trưởng ( Commandants de Groupements mobiles ) : Đại Tá Le Page và Trung Tá Charton , đưa những Sư Đoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ bão theo lối " Chiến tranh quy ước - Conventional War" hẳn hoi. Ha&osslash; Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lãnh thổ địa đầu của Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân của Sư Đoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17, dưới sự yểm trợ của pháo binh và hỏa lực phòng không trang bị hỏa tiễn địa -không SAM-2 của Liên Sô, sau 3 ngày đêm đội những trận bão lửa Pháo Binh và Hỏa Tiễn . Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH là Sư Đoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Đoàn 2 Bộ Binh nòng cốt là tương đối thiện chiến, còn hầu hết là tân binh, lính mới, và vị Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung Đoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng thì làm sao mà chịu cho nổi sức tiến quân của cộng sản ? Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị, mở đường xuống Huế rồi sẽ phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh,cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực của Tỉnh và Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản còn nhắm vào những mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: Cuộc Hòa Đàm tại Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Định ngưng bắn chi cả.
Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Sô dẫn đầu, Bộ Binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hỏa tiễn 122 ly của Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi " Đại Lộ Kinh Hoàng " tràn xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy vì dân ở đây làm sao quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân - 1968 ! Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I- Quân Khu I ( người được nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá: chỉ là 1 Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn loại trung bình, chớ không đủ khả năng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn trong giai đoạn địch quân tiến như vũ bão này ) hoảng hốt, không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Độc Lập ở Sài Gòn với tinh thần chủ bại. Tuyến đầu bị phá vỡ thì địch quân sẽ thừa thắng xông lên dễ dàng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Còn phía ta đã rút lui, tan vỡ bỏ chạy thì tinh thần quân đội và dân chúng rối loạn ra sao, ai cũng biết ! Giới truyền thông ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đã đánh giá Quân Đội và các cấp chỉ huy của Quân Lực VNCH qua những Tướng Lãnh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Tướng Lãm, dân chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế cũng đồng thanh la lên "Tướng Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị thì bà con không có chạy đi đâu nữa cả !" Lòng dân tin tưởng mãnh liệt là thế !
Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, gốc binh chủng " Thiên Thần Mũ Đỏ Nhẩy Dù ", nhưng lúc này đã mang lon 3 sao vì những chiến công ngoài mặt trận, và luôn luôn hòa đồng với các Sư Đoàn Bộ Binh dưới quyền nên Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến của Bộ Binh, thay vì quân phục Nhẩy Dù. Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng : Bộ áo không làm thành Thầy Tu , Tướng giỏi không cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được lòng kính phục của quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ Bị : Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến từ Sài Gòn bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đã thề trước ba quân " Sẽ chiếm lại thành phố Quảng Trị trước ngày Lễ Quân Lực 19 tháng 6 (1972) " như thời Nhà Trần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đã cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Đằng mà thề trước Tướng Sĩ : " Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ thì ta sẽ không còn trông thấy con sông này nữa ! " Ôi, Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế này! Dưới quyền Tư Lệnh của Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng những Sư Đoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất của cộng sản Hà Nội, trước sự ngỡ ngàng của dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đã được chiếm lại. Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm 1953, Danh Tướng MacActhur của Hoa Kỳ đã phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc Hàn ra khỏi những vùng chiếm dóng trên lãnh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán chết trở ngược về phía Bắc vĩ tuyến 38.
Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ của Ông đã bảo vệ được Huế, chiếm lại thành phố Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bữa nào.
Đó ! Tinh thần chiến đấu của Quân Đội VNCH là như thế đấy! Tướng Lãnh của Quân Đội VNCH có những người như thế đó ! Tờ báo Time Tạp Chí cỡ lớn của Hoa Kỳ, có lần đã đăng những dòng cảm nghĩ của Đại Tướng 4 sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch " Bão Sa mạc - Desert storms" chinh phạt hung thần Sadam Hussein của xứ Iraq đầu thập niên 1990, đại để như sau " Hồi còn chiến đấu ở Khe Sanh thuộc lãnh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hòa, với tư cách là 1 Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nhẩy Dù của Hoa Kỳ, tôi đã học được ở Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I VNCH rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chỉ huy cũng như tác chiến. Những kinh nghiệm đó đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả mấy chục năm sau, trong " Chiến thắng Bão Sa Mạc - Desert Storms' Victory ". Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói về Quân Đội VNCH ? Họ ngu dốt hay mang đầy ác ý trong đầu!
Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh Bình Long. Ở Hòa Hội Paris, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh của quân cộng sản tại Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi " Vũng lầy kinh khủng " này. Đại Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ, Bộ Trưởng Quốc Phòng của cộng sản đã tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội " Nhân dân Việt Nam đã đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc chiến thắng hoàn toàn - Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory over President Nixon..." Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 của cộng sản đã tràn ngập , làm chủ tình hình thị xã An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh thiện chiến, danh tiếng nhất , sau khi những trận bão lửa pháo binh đã quét dọn sạch sẽ, không để lại những gì có thể sống sót. Các chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH cùng 1 số đơn vị bạn còn lại của địa phương Bình Long đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngõ hẻm để có chỗ đứng hay nằm mà chiến đấu vì ngưng chiến đấu tức là chết.
Mặt trận An Lộc làm rung động thế giới, làm rối loạn không khí hòa đàm tại Paris vốn đã nghiêng hẳn thế thuận lợi về phía cộng sản. Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải thất thủ kinh hoàng như Điện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đã dám đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài Gòn, đập tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao ( Général de Division ) Vanuxem của Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi , người đã từng giữ chức vụ " Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam - Tư lệnh Quân Khu tả Ngạn Sông Hồng Hà" thời kỳ Điện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam- 1954 - khi trả lời phỏng vấn của báo chí, truyền thanh, truyền hình, đã nói : Quân Đội VNCH không thể nào giữ nổi An-Lộc. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ ( do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa bão suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu của Pháp cho đến nỗi Đại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh của Pháp tại chiến trường này quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát.
Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư Đoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến cỏ, theo chiến thuật " Biển Người " của Thống Chế Lâm Bưu Nguyên Soái Hồng Quân Trung Quốc, tràn qua các bãi mìn, đạp nát các công sự phòng thủ, các hàng rào kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết của lính Pháp, Bắc Phi và cả cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ các đường hầm đã được máy móc, cơ giới của Trung Quốc đào bới ngày đêm trong lúc pháo binh hỏa tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời .
Chắc Tướng Vanuxem liên tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến trường Điện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu của Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phía người Pháp. Tướng Vanuxem tin chắc là Quân Đội Việt nam Cộng Hòa không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội đã quyết định biến An Lộc thành một thứ Điện Biên Phủ để giành thế chủ động trên bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Sô và Trung Quốc đứng sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải " nhắm mắt lại mà ký vào Hiệp Định Paris " như cộng sản đã bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954.
Thế mà, khi Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Động Quân và 1 số đơn vị Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời thì xe tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù lệnh của Hà Nội : phải giữ An Lộc đã chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn còn đó, không thất thủ như Điện Biên Phủ năm 1954.
Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao của Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đã thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng bỗng dưng có được giờ phút vinh quang và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị của ông : đáp trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giữa tiếng hoan hô vang dậy không ngớt của của các chiến sĩ VN Cộng Hòa vừa tái chiếm An Lộc, trong khi tiếng đại bác của 2 bên, tiếng hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng vẫn còn nổ vang quanh vùng, và An Lộc vẫn còn mù mịt, khét lẹt mùi lửa đạn. Đó ! Tinh thần chiến đấu của Quân Đội VN Cộng Hòa là như thế đấy ! Và còn biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật . Một bài báo có hạn làm sao kể hết !
Năm 1975,Cộng sản đánh chiếm Ban Mê Thuột, cũng chẳng khác gì cộng sản đánh chiếm Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy thì khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Đoàn Bộ Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ chiến đấu, đó là chưa kể đến hỏa lực yểm trợ của Hải Quân, Không Quân, lực lượng Tổng trừ Bị của Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến đấu vì chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi.
Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cửa ngõ, địa đầu của nam Việt Nam như vậy để làm gì ?- Để tạo nên một sự tan rã, hỗn loạn của cả một lực lượng Quân Đội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống còn. Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập của hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Đô Sài Gòn. Trong tình thế đó thì Quân Khu 3 còn đánh đấm gì được nữa ? Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi gặp sự quyết chiến của Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường của một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Đoàn thiện chiến để hòng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Đoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy của vị Tướng Trẻ Lê Minh Đảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Đoàn nữa vào mặt trận này, là 4 Sư Đoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ đang lên.Vậy mà Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu thua khi không còn nguồn tiếp tế nào nưa,ờ chỉ còn lại súng mà không có đạn. Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại sài Gòn, ngày 13 đã gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đã nói : " Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam. kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều.."
Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam , một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Đoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, các đơn vị yểm trợ chiến đấu rất hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân Khu 4 của 2 Tướng này. Khi Tổng Thống... cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy bởi Sư Phụ Thích Trí Quang và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian của người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt ( đã liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi 1956 ) hạ lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện ( để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền "Cách Mạng giải phóng" , thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tùy nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp (sẵn sàng chiến đấu ) đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế của mình, nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nhìn lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng , tượng trưng cho uy quyền của một Tướng Lãnh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc , với đồng bào, với chiến hữu của ông. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về nhà riêng , mặc quân phục Đại Lễ, với đầy đủ: cấp hiệu 1 sao, huy chương gắn tại mặt trận, đội mũ kết, vành và lưỡi trai mang hình lá liễu mầu vàng của Tướng. Vị Tướng anh hùng An Lộc này nói với người vợ thân yêu " Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này..." Người vợ thân yêu chỉ kịp kêu lên " Anh Hưng, Anh Hưng ! Cho em chết theo với ! " thì Tướng Hưng đã vào phòng riêng, đóng cửa lại, và 1 phát súng nổà Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất của Cha Ông ngày trước, của những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ vvà Hai Ông Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văm Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp của Quân Đội, của Quốc Gia, làm giầu bất chính trên xương máu của chiến sĩ như một số Tướng Lãnh hèn hạ khác. Quân đội nào có những Tướng Lãnh anh hùng và can đảm như thế hay không ?
Một số Sĩ Quan cao cấp của Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư luận cũng coi mình như những kẻ khác không biết gì về cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến kỳ lạ này, về sau đã phải lên tiếng nói ra sự thật : Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam :
* Quân Đội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu khi nắm chắc được yếu tố " Vượt trội về hỏa lực - Superiority of Firepower " . Quân đội VNCH phải chiến đấu trong mọi trường hợp cần thiết.
* Quân đội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu tại Việt nam trong thời gian ngắn hạn rồi thay nhau về xứ. Như thế không bị dồn vào thế mệt mỏi căng thẳng quá độ, thường trực về thể chất cũng như tinh thần. Còn Quân dội VNCH thì ngược lại, phải chiến đấu liên tục, không ngưng nghỉ. Sức chịu đựng của người chiến binh VNCH nó khủng khiếp đến thế nào ?
* Trong khi chiến đấu cũng như lúc đóng quân trong đồn lũy, người chiến binh Hoa Kỳ luôn luôn được bảo vệ bằng những phương tiện chiến tranh dồi dào, tối tân, hiện đại nhất, cả về tấn công, phòng thủ cũng như yểm trợ. Người chiến binh VNCH làm sao có được như vậy. Cái mạng sống của người chiến binh Việt Nam nó cũng mỏng manh, khó thọ hơn quá nhiều.
* Điểm nữa, ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần, thể chất, tâm lý của người chiến binh Việt Nam là : trong khi mình xả thân chiến đấu bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống của chính mình thì lúc đó gia đình, những người thân yêu phải sống ra sao ? Liệu có đang kẹt trong vùng lửa đạn, chết chóc hay không ? Về điểm này, người chiến binh Hoa Kỳ khỏe hơn là cái chắc, tinh thần ổn định, thoải mái hơn rõ ràng.
Bây giờ, nếu đặt người chiến binh Hoa Kỳ vào vị trí, hoàn cảnh chiến đấu của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, thử hỏi liệu người chiến binh Hoa Kỳ có thể chiến đấu được như người chiến binh Việt Nam CH hay không ? Chịu được bao lâu ? Chính Phủ, Quốc Hội và Nhân Dân Hoa Kỳ chịu được mấy tháng, mấy năm ?
Câu trả lời xin dành cho những nhà viết sử chân chính, cho những Sĩ Quan và Quân Nhân Hoa Kỳ từng chiến đấu anh dũng, can trường bên cạnh những người bạn chiến binh Việt Nam CH của họ từ các chiến trường Khe Sanh, Đác-Tô, Pleiku, Kontum, Đồng Xoài, Bình Giả, Củ Chi, cho đến các chiến trường vùng đồng bằng sông Cửu Long, điểm tận cùng của Tổ Quốc Việt Nam...
Như bao địa danh khác , Tống Lê Chân đi vào huyền sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Trước đó, Tống Lê Chân là một trại biên phòng của Lực Lượng Đặc Biệt VN (và HoaKỳ) ở tỉnh Bình Long , nằm trong tầm đại bác 155 ly từ An Lộc . Sau khi LLDB giải thể, Tống Lê Chân được chuyển giao cho Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân trấn giử . Vì vị thế chiến lược , Tống Lê Chân là căn cứ ngăn chận sự xâm nhập của Cộng Quân từ Cam Bốt vào Việt Nam , vào tận Bình Dương Lái Thiêu , cửa ngỏ vào Saigon . Với địa thế chiến lược quan trọng đó , Cộng Sản Bắc Việt tìm mọi cách tiêu diệt Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân .
Mùa Hè Đỏ Lửa 72 , Cộng quân tấn công An Lộc và đánh phá Tống Lê Chân bằng đủ mọi loại pháo . Ngoài ra , Cộng quân còn tăng cường những loại phòng không SA7 , súng cối 122ly ... ngày đêm pháo vào Tống Lê Chân với ý định triệt hạ tiền đồn này . Nhưng Cộng quân gặp sự chống trả kiên cường dũng mãnh dưới sự chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Ngôn (được thăng cấp tại mặt trận) , Cộng quân đã không đè bẹp được Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân , dù vũ khí phương tiện và biển người của chúng trội hơn quân trú phòng rất nhiều . Sức chịu đựng có hạn , dần dần các cuộc hành quân của Tiểu Đoàn phải thu hẹp , và con số thương vong và binh lính càng tăng . Nhưng Tiểu Đoàn 92 BDQ vẫn đứng vững trước áp lực nặng nề của CSBV .
Từng đợt tiếp viện bằng Không Quân đến Tống Lê Chân hiệu qủa chỉ trên dưới 50% , vì Cộng quân tỏa các nút chận bít kín đường bộ và đan kín bầu trời bằng SA7 cùng đại pháo 122ly . Những phi vụ tiếp tế của anh em Không Quân cho Tống Lê Chân là những phi vụ hiểm nghèo , ra đi không hẹn ngày về . Sau này , Không Quân chỉ còn những chuyến bay đêm từ An Lộc , bổ xung quân số và bốc thương binh ra khỏi vùng giao tranh . Đã có hai chiếc UH-1 và Chinook CH-47 bị bắn rơi ngoài vòng đai căn cứ , cả phi hành đoàn và anh em bổ xung kẻ sống người chết . Nhắc thế để biết áp lực Cộng quân đè nặng như thế nào trên TD92BDQ . Cái chết trong bàn tay và sự sống vô cùng mong manh , thế nhưng tinh thần anh em binh sĩ rất cao .
Suốt mùa hè 72 , sang năm 73 Tống Lê Chân sống dưới sự bao vây liên tục của Cộng quân , bằng mọi giá chúng dứt điểm quân trú phòng nơi đây . Và ngược lại với mọi gía "cọp ba đầu" 92 chiến đấu ngoan cường đến viên đạn cuối cùng . Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân đã đánh những trận đễ đời , và năm 74 Tiểu đoàn đã minh chứng tinh thần chiến đấu oanh liệt đó của binh chủng và tập thể Quân Đội nói chung . Sang năm 74 , sau gần 2 năm trời bao vây nã vào Tống Lê Chân hàng ngàn trái đạn đủ loại , CSBV xua quân tấn công vào Tống Lê Chân . Tiểu đoàn chống trả mãnh liệt dù quân số hao hụt hơn phân nữa . Tất cả mãnh hổ 92 đứng thẳng bắn vào kẻ thù từng đợt xung phong . Hàng hàng lớp lớp quân Bắc Việt phơi thây trên vòng đài căn cứ . Trung tá Ngôn gọi pháo 155 ly yểm trợ tối đa cho căn cứ . Từng chiến sĩ Tiểu đoàn 92 lần lượt ngã gục , dưới cơn mưa pháo và biển người CS . Người lính Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân ngã gục , Cộng quân tràn ngập từng vòng đai căn cứ . Vùng kiểm soát thu nhỏ lại . Trung tá Ngôn và toàn quân số còn lại bình tỉnh liên lạc về An Lộc gọi hỏa lực tác xạ tối đa .
Đến nửa đêm trong một ngày tháng 5 năm 74 , An Lộc mất liên lạc với Tống Lê Chân . Pháo binh ngưng tác xạ để chờ đón những người lính sống sót trở về An Lộc . Nhưng , mãnh hổ 92 Biệt Động Quân đã gục ngã trên chiến trường sau khi bắn hết viên đạn cuối cùng . Tin dữ bay về hậu cứ .
Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân bị xoá tên .
Việt Nam Hồn Nước
KHÓC TỐNG LÊ CHÂN
Tống Lê Chân , anh trọn nghĩa tiết
Ngàn đạn pháo đâu ngại hiểm nguy
Cọp ba đầu oai linh rừng núi
Giặc thù khiếp đảm chùn bước chân
Tống Lê Chân , tên vào huyền sử
Với ngàn ngày vây hãm mưa bom
Rừng trùng điệp quân thù chắn lối
Bầu trời cao lửa pháo từng cơn
Hè đỏ lửa xương tan máu đổ
Tống Lê Chân cùng phận thương đau
Kia mãnh hổ gầm vang rừng núi
Giặc rụng rời bạt vía tên anh
Cọp rừng núi tung hoành biên trấn
Biệt Động Quân nung chí diệt thù
Mỗi móng vuốt quân thù ngã gục
Từng tiếng gầm giặc chạy thoát thân
Nhưng than ôi ! hùm thiêng sa cơ
Vẫn hiên ngang chống trả lạnh lùng
Trong lửa pháo tử thần vờn bóng
An Lộc buồn khóc Tống Lê Chân
Từng mãnh hổ về cùng cát bụi
Biệt Động Quân trọn nợ núi sông
Chín Hai Tiểu đoàn vào muôn thưở
Giặc tràn ... thôi hết ! Vĩnh biệt Anh
Biệt Động Quân máu tô trang sử
Tống Lê Chân thương tiếc ngậm ngùi .
Việt Nam Hồn Nước
4/2003
Last edited by phu_de on Tue Apr 12, 2005 9:15 pm, edited 1 time in total.
kính chào anh K. LONG.
Anh có cái hình nhóm SVSQKQ70A ở đâu mà hay quá vậy? Cám ơn lời chào mừng của anh trong tinh thần huynh đệ chi binh và tình đồng môn hy vọng một ngày nào đó trong tương lai hân hạnh được diện kiến anh và các anh em khác trong d/đ.
Thân chào Tranminhvuong.
HS Hồ Ngọc Cẩn :HO. Nguyễn Thế Thăng Tuesday, April 12, 2005 Huy Phương
Nguyễn Thế Thăng
30 tháng 4-1975, Saigon thất thủ, vào rừng tiếp tục chiến đấu, bị bắn què chân, cùm 9 tháng, ra Bắc ở tù 8 năm.
Hiện là Ðại Úy Vệ Binh Quốc Gia của tiểu bang Oregon.
Nhân kỷ niệm đánh dấu thời gian ba mươi năm (1975-2005) của người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi và hình thành Cộng Ðồng Việt Nam trên đất Hoa Kỳ, cũng như kỷ niệm 15 năm những người cựu tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ theo diện H.O., trang Cựu Chiến Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ có một loạt bài về đời sống hiện nay của những anh em H.O. ở quê người. Chúng tôi hy vọng, trong khả năng hạn hẹp, sẽ tìm hiểu và vẽ lại chân dung đa dạng của những người anh em mà chúng ta tạm gọi là những người H.O. Chúng tôi rất mong đón nhận sự đóng góp bài vở, ý kiến của anh em cựu tù nhân chính trị cho mục này. Xin liên lạc qua trang Cựu Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa, ấn hành vào mỗi Thứ Tư trong tuần hoặc huyphuong37@sbcglobal.net.
Năm 1954, Nguyễn Thế Thăng là một cậu bé con 6 tuổi, lẽo đẽo, mang một ba lô có hơn hai chục trứng gà và mấy gói muối tiêu, ban đêm theo cha chèo thuyền trốn từ Ðồng Chua lên Phát Diệm, từ đó lên Hà Nội rồi di cư vào Nam. Ở Saigon, Nguyễn Thế Thăng là một cậu học trò nhà quê nhưng xuất sắc, đứng đầu lớp trong bốn năm từ 1955-1959 tại trường tiểu học Võ Tánh Phú Nhuận. Vì nhà nghèo, trong suốt thời gian theo học trung học Hồ ngọc Cẩn, Thăng phải lấm lem đi làm phụ thợ hàn, thợ sơn, thợ hồ, thợ mộc với Bố. Tuy vậy, Thăng vẫn giữ những thứ hạng xuất sắc ở lớp và vượt trội vì môn Sinh Ngữ. Thuở nhỏ đã được ông Ngoại dạy chữ Nho, từ chữ Nho Thăng học nói viết tiếng Quan Thoại. Theo Thăng thì chính nhờ giỏi chữ Tàu, việc học Pháp và Anh Ngữ trở nên dễ dàng. Khi tốt nghiệp trung học năm 1966, Nguyễn Thế Thăng đã có bằng Lower Certificate của Cambridge và thi đậu vào làm thông dịch viên và phiên dịch viên cho tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ và là nhân viên của cơ quan USAID tại Saigon cho tới năm 1968.
Sau trận chiến Mậu Thân, Thăng được hoãn dịch khi đang học Luật II nhưng lại tình nguyện nhập ngũ theo học khóa 2 trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt. Tại đây Nguyễn Thế Thăng là SVSQ Liên Ðoàn Trưởng suốt hai nhiệm kỳ. Tốt nghiệp năm 1971, đơn vị đầu tiên của Nguyễn Thế Thăng là Tiểu Khu Quảng Ðức rồi Chi Khu Ðức Lập. Năm 73, Nguyễn Thế Thăng được cử làm Căn Cứ Trường căn cứ núi Lửa & Doris do một Ðại Ðội ÐPQ trấn đóng. Trong một trận tấn công của CS, Thăng bị thương và được đưa về QYV Banmethuot rồi TYV Cộng Hòa. Ðầu năm 1974, Nguyễn Thế Thăng đành dở dang con đường binh nghiệp mà anh đã chọn, giã từ vũ khí về Saigon. Ðang cắp sách trở lại trường Luật và Ðại Học Vạn Hạnh, thì biến cố Tháng Tư Ðen đổ xuống miền Nam.
Tháng 6-1975, Nguyễn Thế Thăng đang lang thang ngoài chợ trời Nguyễn Văn Thoại bán các dụng cụ y khoa do một người thân là bác sĩ di tản bỏ lại thì gặp cấp chỉ huy cũ đến xin mua với giá rẻ dùng cho “tổ chức”. Nguyễn Thế Thăng bằng lòng cho không các món hàng này với điều kiện là cho anh được theo các chiến hữu. Thăng được đưa lên Trà Cổ (Hố Nai), rồi vào rừng cùng một nhóm anh em gồm có Biệt kích Dù, Biệt Ðộng, Cảnh Sát, Ðịa Phương Quân... thành lập Liên Ðoàn 5. Nhóm này lập căn cứ trong mật khu cũ của CS vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu chiến khu D), đánh CS lấy lương thực, vũ khí. Trong lúc nhóm lên tới 80 người, đang chuẩn bị để sát nhập với một nhóm Biệt Kích 81 và một đơn vị khác trong vùng, định rút qua Thái Lan bằng dường Kampuchea thì bị CS đưa một lực lượng cấp Trung Ðoàn có chiến xa yểm trợ tấn công. Toán quân chiến đấu chia ra làm những tổ tam tam chiến đấu cho tới lúc hết đạn. Sau khi cấp chỉ huy tử trận, bốn mươi chiến hữu chết tại chỗ, anh em xé lẻ tan hàng, một số trốn thoát. Nguyễn Thế Thăng lọt ổ phục kích bị bắn nát đầu gối, bị kéo lê về vứt trong nhà kho không mái giữa đêm mưa, đầu gối lên cục gạch thẻ và mình đắp bằng tấm tôn lỗ chỗ vết đạn. Ðể dằn mặt dân chúng, CS đặt các người bị thương cùng xác chết trên xe đem “triển lãm” cho dân chúng huyện Thống Nhất tập họp tới xem. Tất cả anh em còn sống sót trong nhóm đều bị đưa về trại A9 Long Thành, gần ngã ba Thái Lan. Bốn tháng sau, Nguyễn Thế Thăng bị giải về trại Ngãi Giao, Ðức Thạnh. Tổng cọng ở cả hai nơi, Thăng bị cùm suốt ngày đêm như thế suốt 9 tháng, cuối cùng mới được lệnh khỏi thụ hình, cho đi cải tạo. Thăng được chuyển về Long Giao rồi sau đó lên tàu Sông Hương ra Bắc. Nguyễn Thế Thăng đã qua các trại tập trung tại Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, Vĩnh Phú, Thanh Hóa rồi lại miền Nam, ở trại Xuân Lộc.
Tháng 6 năm 1983, Nguyễn Thế Thăng khập khễnh ra tù, qua những năm dài đi lính, chiến đấu, tù tội, cha mẹ già lúc đó mới nghĩ đến việc lấy vợ cho con. Bốn tháng sau khi về lại với gia đình, đám cưới Thăng được cử hành. Chuyện vui là cũng ngày này năm sau lại là ngày sinh nhật con gái đầu lòng của hai vợ chồng.
Trong thời gian ở Saigon, Thăng mở một nhà in qua sự đứng tên chịu trách nhiệm của một viên chức của thành phố. Tình cờ Nguyễn Thế Thăng gặp hai linh mục người Canada đi thăm các xứ đạo, làm người thông dịch cho Ông. Linh Mục trả ơn Thăng bằng cách giới thiệu Thăng cho người đại diện cơ quan Quốc Tế về Di Dân (IOM) và cho Thăng nhận độc quyền ấn hành tất cả giấy tờ, văn bản của cơ quan này, từ thẻ IOM cho tới giấy tờ khám sức khỏe của các bệnh viện trong suốt bốn năm từ 1988 cho đến 1992.
Nguyễn Thế Thăng và gia đình đến Quận Cam theo danh sách HO 13 ngày 31 tháng 10-1992 và được hưởng trợ cấp AFDC vì con còn nhỏ. Thăng có viết một số bài đăng trên báo Người Việt, trong đó có bài về vấn đề “Tù Binh Mỹ Còn Sống ở Việt Nam”. Năm sau, Thăng bỏ trợ cấp, quyết chí rời Little Saigon đi lập nghiệp. Thoạt đầu, Nguyễn Thế Thăng lên tiểu bang Washington, làm thông dịch viên cho Sở Di Trú tại thành phố Olympia. Lương không đủ sống, tháng 11-1994 lại dời về Oregon làm hãng điện tử Metrix. Tháng 1-1996, nhờ sự đóng góp giúp đỡ của thân quyến, Nguyễn Thế Thăng quyết tâm ra làm thương mãi bằng cách mua lại shop “Tigard Transmissions Center” tại trung tâm thành pho Tigard, Oregon, mặc dầu lúc ấy Thăng “bù trất” về hộp số, thử thời vận bằng câu “đánh giặc dở may ra làm business hay”. Việc đầu tiên khi “đáo nhậm nhiệm sở mới” là Thăng cho sơn 5 lá đại kỳ VNCH lên năm cửa “bays”, nhìn xa ai cũng thấy và được và giảm giá cho các khách hàng nguyên là cựu quân nhân Mỹ ở địa phương đã từng tham chiến ở Việt Nam. Nhân viên và manager của cơ sở này đều là người Mỹ. Tiệm sửa hộp số của Thăng tồn tại phát triển hơn mười năm nay, tương đối thành công và Nguyễn Thế Thăng trở thành một chuyên viên về hộp số rành nghề. Từ sự tình cờ vào nghề sửa xe, vợ chồng cựu Trung Úy Nguyễn Thế Thăng hiện nay đã làm chủ hơn 20 mẫu đất bên bờ sông Columbia, sở hữu một đồi thông, nông trại khác với hơn 9 mẫu với chuồng bò, dê, gà, vịt, ngỗng, công...
Thêm một chuyện vào cuối đời “người tù cải tạo” này là vào đầu năm 2001 Nguyễn Thế Thăng được giấy gọi gia nhập Bộ Chỉ Huy Vệ Binh Quốc gia tiểu bang Oregon (Oregon Army National Guard). Qua một cuộc phỏng vấn dài hai giờ do năm vị Ðại Tá trong Lực Lượng này phụ trách, Nguyễn Thế thăng đã thẳng thắn trình bày quan điểm của người lính thất trận vì đường lối viện trợ nhỏ giọt và thiếu dứt khoát với Cộng Sản Bắc Việt khiến cho miền Nam thất thủ và hơn 100 nghìn sĩ quan và viên chức VNCH phải vào tù và cũng cám ơn chính phủ Mỹ về chương trình ODP và HO dành cho người Việt Nam sau đó. Trưởng Ðoàn phỏng vấn tuyên bố hân hạnh nhận Nguyễn Thế Thăng vào Vệ Binh Quốc Gia với cấp bậc Trung Úy trừ bị, nhưng Nguyễn Thế Thanh đã nhã nhặn từ chối. Sau khi giải thích cho Thăng biết về nghĩa vụ và quyền lợi của một sĩ quan Vệ Binh Quốc Gia, và vì sự từ chối của ông, Ðại Tá trưởng phái đoàn phỏng vấn đã đề nghị cho Thăng cấp bậc Ðại Úy Vệ Binh. Hiện nay, Nguyễn Thế thăng là Sĩ Quan Ðiều Hành một tổ Thông Dịch Viên gồm 14 người thông dịch cho vùng Châu Á và Ðông Âu. Hơn 1,200 vệ binh Oregon hiện phục vụ tại Iraq và trong tổ thông dịch này, một người nói tiếng Arab đã đi theo họ.
Hiện nay, ông bà Nguyễn Thế Thăng có hai con gái đều tốt nghiệp Thủ khoa Trung Học tại Oregon và cùng đang học ngành Dược tại Oregon State University, và cháu lớn, Anh Thư luôn luôn ở trong “List of Top Ten” của toàn trường. Cả hai sang Mỹ hồi còn 6 và 8 tuổi, vẫn còn nói và viết được tiếng Việt như những sinh viên mới từ Việt Nam sang du học. Về cuộc sống tương đối thư thả gần đây, Nguyễn Thế Thăng khiêm nhường cho rằng mình chỉ là một thứ gặp may mắn, nhưng thật sự chàng cựu sĩ quan VNCH, tốt nghiệp Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị này đã chiến đấu gan lỳ, xốc vác trong mọi hoàn cảnh để phấn đấu vươn lên, và ở địa hạt nào cũng chứng tỏ là một người có khả năng vượt bực.
Các nhà quân sử kim cổ Đông Tây đều ghi nhận đặc tính của binh pháp là quỷ trá kỳ xảo, tức là chiến pháp bao hàm ý nghĩa quyền mưu, chủ trương dùng tất cả mọi thủ đoạn để đi tới chiến thắng. Theo trên, người ta không thấy làm lạ nếu đôi bên giao tranh có những lối "công kỳ vô bị xuất kỳ bất ý" để bên này khai thác những sơ hở về một phương diện nào của bên kia. Liên hệ ít nhiều đến nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh này mà đã được nhắc đến trong thiên Quân tranh của Tôn Tử, Lý Tế Xuyên trong sách "Việt điện u linh tập" cũng đưa ra nguyên tắc: Tọa đãi địch chí bất như tiên phát dĩ ách kỳ phong (ngồi chờ giặc đến không bằng đem quân đánh trước để chận mũi nhọn của địch).
Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và công cụ của họ là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) đã xuất toàn lực đánh lén Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào những ngày đầu Tết Mậu Thân trong năm 1968 trên khắp lãnh thổ Miền Nam khi họ đột ngột không giữ lời đề nghị ngưng chiến do chính họ đưa ra. Cộng Sản Bắc Việt cũng đã không nghĩ gì đến 3 ngày Tết Nguyên Đán, ngày truyền thống của dân tộc, những ngày đầm ấm nhất của xứ sở mỗi năm, hay sự yên vui của đồng bào để xum họp và cúng bái tổ tiên, một tập tục thiêng liêng từ ngàn xưa. Tuy mưu mô đã khéo, thuật xảo sắp đã hay, tiếng súng của Cộng Sản chỉ tạo được lợi thế bất ngờ trong vỏn vẹn ít tiếng đồng hồ ở thủ đô Saigon và một số thị trấn của Việt Nam Cộng Hòa. Tính chung, Cộng Sản đã thảm bại vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã phản ứng rất mau lẹ. Và ngược lại điều tai hại cho họ là đã đụng đầu với sự lạnh nhạt của đồng bào Miền Nam khắp nơi.
Kết quả của hai đợt tấn công đại quy mô với những cố gắng to lớn, từ đầu tháng Giêng đến cuối tháng 5 năm 1968 trên khắp chiến trường từ Quảng Trị tới Cà Mau là Việt Cộng (VC) đã bị đẩy vào chỗ chết ngót 60,000 cán binh, bị cầm tù 10,000, ra đầu hàng ngót 6,000 và mất trên 17,000 vũ khí. Trong khi đó, số tổn thất của VNCH về mọi thứ không tới 1 phần 10 những con số của Việt Cộng.
Trong cuộc "tổng nổi dậy" năm 1968 này, Cộng Sản đã phá hủy 50,000 căn nhà của dân, đem chết chóc đến cho 14,000 đồng bào đủ cả già trẻ gái trai và "vô sản hóa" 70,000 người đa số là dân lao động. Ngoài ra điều dã man chưa từng thấy trong lịch sử loài người là họ đã xua những lực lượng gồm 7 phần 10 con nít vào lò lửa chiến tranh và mở những cuộc pháo kích bừa bãi vào những khu gia cư nghèo khó, đông đúc không có lấy một cơ quan quân sự, để trả thù sự bất cộng tác của dân chúng. Cộng Sản dám làm tất cả, dùng bất cứ phương tiện gì dù có tàn ác nhất nếu để đạt đến mục tiêu, tức chiến thắng cho họ.
Trận Tổng Công Kích Đợt 1 của Việt Cộng đã xảy ra trong những ngày đầu năm Mậu Thân 1968. Để che dấu âm mưu này và để đánh lạc hướng, chiều ngày 20 tháng 1 năm 1968 nghĩa là trước cuộc tổng tấn công 10 ngày, sau những loạt trọng pháo mở màn, bộ đội Bắc Việt đã tấn công mạnh mẽ vào Khe Sanh.
Khe Sanh là một căn cứ chiến lược chặn ngang đường xâm nhập của quân Cộng Sản Bắc Việt vào Vùng I Chiến Thuật của VNCH. Căn cứ này nằm ở ngã ba biên giới Bắc Việt, Lào, và Nam Việt Nam, cách thượng lưu sông Bến Hải không xa và cách Cồn Tiên, nơi xảy ra trận đánh lớn vào giữa năm 1967 vào khoảng 30 km. Căn cứ Khe Sanh nằm trong một lòng chảo chung quanh núi cao vây bọc dài 2 km ngang 1 km. Nơi này có khoảng 6,000 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ trú đóng. Trong căn cứ có một phi trường làm đường liên lạc tiếp tế và vài tiền đồn quanh vùng là các ngọn đồi 881, 861, 558, và 950. Ở xa hơn về phía đông có căn cứ Carrol. Và cách đó không xa có tiền đồn là Làng Vei do một tiểu đoàn Dân Sự Chiến Đấu với sự giúp đỡ của cố vấn Hoa Kỳ trấn giữ.
Cuộc tấn công mở màn vào Khe Sanh đã khiến ngay từ lúc đầu khiến 20 binh sĩ TQLC Hoa Kỳ tử thương và 109 bị thương. Thoạt đầu quân Bắc Việt oanh kích dữ dội bằng trọng pháo và hỏa tiễn vào trại TQLC Hoa Kỳ tại căn cứ Carrol. Sau đó bộ đội Cộng Sản tấn công hai ngọn đồi 881 và 861. Các đơn vị của Trung Đoàn 26/3 (đọc là "Trung Đoàn 26 thuộc Sư Đoàn 3") TQLC Hoa Kỳ đã chiến đấu dữ dội với các đơn vị thuộc sư đoàn 325 CSBV xuất hiện bao vây vùng thung lũng Khe Sanh. Dường như quân chính quy Bắc Việt đã dồn chừng 3 sư đoàn ở vùng phi quân sự và biên giới Lào để gián tiếp yểm trợ cho chiến trường Khe Sanh. Trước tình hình này, lệnh hưu chiến trong dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân trước định 48 giờ được lịnh rút xuống còn 36 tiếng, nghĩa là lệnh hưu chiến chỉ còn giá trị từ 18 giờ ngày 29 tháng 1/1968 đến 06 giờ ngày 31 tháng 1/1968.
Biện pháp phòng thủ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị của miền Nam Việt Nam được đặt ra và ước lượng rằng quân số Việt-Mỹ lên đến 50,000 người để phòng ngừa một cuộc đánh úp vào hai tỉnh này. Sư Đoàn Nhảy Dù của VNCH được lệnh tăng cường vùng hỏa tuyến với quân số một chiến đoàn. Một số các đơn vị chủ lực Hoa Kỳ như Sư Đoàn 1 Không Vận cũng được đưa ra Vùng 1 Chiến Thuật để giúp VNCH phòng chống lại sự xâm nhập của CSBV.
Nhưng trước Tết, Sư Đoàn Nhảy Dù mới gởi ra vùng hỏa tuyến chỉ được các Tiểu Đoàn 2 và 9. Mãi tới ngày mồng 2 Tết, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 với Tiểu Đoàn 7 mới được không vận ra Huế. Sư Đoàn 1 Không Vận cũng từ An Khê kịp ra đóng ở một khu vực cách xa thành phố Huế. Các lực lượng này chỉ là những lực lượng trừ bị cho chiến trường Khe Sanh nên chỉ nằm đợi tại chỗ, không tham gia vào những hoạt động khác.
Các chiến lược và chiến thuật gia cho rằng Việt Cộng chỉ có khả năng mở những trận quy mô dựa vào những căn cứ xuất phát tại các vùng biên giới nhưng sẽ thất bại. Với những sự phối trí quân lực như trên thì chắc hẳn địch chẳng có thể làm gì nên chuyện theo đà tiến triển của tình hình. Còn tại nội địa các nhà quân sự ước tính rằng địch quân chỉ có khả năng mở những cuộc tấn công ở cấp liên tiểu đoàn nhằm gây tiếng vang. Việt Cộng chỉ có thể đánh trong một thời gian chớp nhoáng nếu họ không muốn bị tiêu diệt. Người ta cảm thấy lạc quan đối với tình hình quân sự chung trên toàn quốc qua các trận đánh đã xảy ra ở Cồn Tiên, Dakto, Lộc Ninh và Phước Quả vào năm 1967 mà chiến thắng cuối cùng đã nghiêng về phía Việt Nam Cộng Hòa cùng các lực lượng đồng minh.
Tuy nhiên, những người am hiểu thời cuộc lại cảm thấy lo ngại. Vấn đề xây dựng nông thôn không tiến triển. Các vùng nông thôn phần lớn nằm trong sự khống chế của Việt Cộng. Các cơ sở hạ tầng của Việt cộng vẫn còn nguyên vẹn và dường như còn phát triển mạnh tới những vùng làng mạc phụ cận và ngoại ô của các thành phố và đô thị, bằng chứng là những vụ ám sát và khủng bố được gia tăng nhằm vào các viên chức xã, ấp, phường, khóm ở các vùng này trong những tháng về cuối năm 1967. Lợi dụng những vụ ám sát đê hèn này thường ít được dư luận chú ý đến, bằng một cách âm thầm và lặng lẽ, Việt Cộng đã len lỏi về đóng quân một cách bí mật ở gần các mục tiêu dân sự và quân sự ở miền Nam Việt Nam.
Một sự an ninh giả tạo đã được diễn ra tạo nên những sự dễ dãi hoạt động và di chuyển cho các phần tử Việt Cộng. Vào những ngày giáp Tết, ngoài một Khe Sanh sôi động, tình hình chung trên toàn quốc hoàn toàn yên tĩnh. Các đơn vị binh sĩ được hưởng phép nghĩ Tết dễ dàng, trực gác theo như thông thường. Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cho dân chúng tùy theo an ninh từng địa phương được phép đốt pháo trong 4 ngày Tết, từ ngày 30 đến hết ngày mồng 3. Nhưng tiếng pháo đã bất chấp luật lệ bắt đầu nổ rải rác trong đô thành Saigon Chợ Lớn từ 20 tháng Chạp nghĩa là trước cả ngày tiễn Ông Táo lên chầu trời. Nghĩa là dân chúng thản nhiên với thời cuộc sửa soạn đón Xuân và vui Xuân.
Ngày Tết đến, người dân thành thị đã đón mừng Xuân Mậu Thân 1968 với tiếng pháo liên hồi. Tết Mậu Thân là Tết nhiều pháo nổ hơn mọi Tết khác rất nhiều. Giới giàu có, giới mại bản đốt những tràng pháo năm bảy thước và đốt rất nhiều. Giới ít tiền cũng tranh hơi cố gắng bỏ tiền đốt một vài tràng pháo đón Xuân lấy hên.
Đột nhiên xen lẫn tiếng pháo mừng Xuân, tiếng súng Việt Cộng bùng nổ. Hậu phương đang thanh bình, trong giây phút biến thành tiền tuyến. Lợi dụng việc bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến do chính họ long trọng ưng thuận, Việt Cộng đã mở cuộc tổng công kích trên toàn thể miền Nam tự do để đánh vào các lực lượng của quân đội VNCH trong giờ phút uy linh đón mừng Xuân mới.
Đêm 30 Tết, tức ngày 29 tháng 1/1968, Việt Cộng đồng loạt tấn công vào 5 thị xã thuộc Vùng 2 Chiến Thuật:
• Thị xã Qui Nhơn lúc 4 giờ 10.
• Thị xã Kontum lúc 2 giờ 00.
• Thị xã Pleiku lúc 4 giờ 40.
• Thị xã Darlac lúc 1 giờ 30.
• Thị xã Nha Trang lúc 0 giờ 30.
Đồng thời, Việt Cộng pháo kích và đột nhập vào Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 lúc 3 giờ 40 sáng.
Cũng trong đêm này, Việt Cộng đột kích vào Chi Khu Hội An, pháo kích vào thị xã Quảng Trị, phi trường Đà Nẵng, phi trường Non Nước về phía Nam Đà Nẵng khoảng 4 km và pháo kích tấn công nhiều đồn bót lẻ tẻ trên toàn quốc. Cả 5 thị xã kể trên và Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 đều bị Việt Cộng lọt vào. Tuy nhiên tại Qui Nhơn, Nha Trang và Pleiku áp lực Việt Cộng đã được giải tán nhanh chóng. Tổng hành dinh Quân Đoàn 1 cũng đẩy lùi địch quân trong vài giờ đồng hồ. Các lực lượng Việt Cộng tại các thị xã Ban Mê Thuột và Kontum cũng bị đẩy lui ngay. Tuy nhiên, tại hai thị xã này, Việt Cộng đã bám sát và tạo áp lực mạnh quanh vùng. Sau nhiều ngày chiến đấu, quân đội VNCH mới hoàn toàn làm chủ tình hình.
Đêm mồng 1 Tết, tức 24 giờ sau các cuộc tấn công vào các tỉnh lỵ miền Cao nguyên và miền Trung, Việt Cộng mở các cuộc tấn công vào đô thành Saigon - Chợ Lớn và các tỉnh lỵ miền Nam. Khi xảy ra vụ trận tấn công đêm giao thừa, chính quyền trung ương VNCH đã thông báo ngay cho các địa phương biết để kịp phòng bị. Vào sáng mồng 1 Tết, Đài phát thanh quốc gia Saigon tố cáo Việt Cộng vi phạm trắng trợn việc hưu chiến trong dịp Tết và ban bố bãi bỏ lệnh này.
Một sự an ninh giả tạo đã được diễn ra tạo nên những sự dễ dãi hoạt động và di chuyển cho các phần tử Việt Cộng. Vào những ngày giáp Tết, ngoài một Khe Sanh sôi động, tình hình chung trên toàn quốc hoàn toàn yên tĩnh. Các đơn vị binh sĩ được hưởng phép nghĩ Tết dễ dàng, trực gác theo như thông thường. Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cho dân chúng tùy theo an ninh từng địa phương được phép đốt pháo trong 4 ngày Tết, từ ngày 30 đến hết ngày mồng 3.
Đột nhiên xen lẫn tiếng pháo mừng Xuân, tiếng súng Việt Cộng bùng nổ. Hậu phương đang thanh bình, trong giây phút biến thành tiền tuyến. Lợi dụng việc bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến do chính họ long trọng ưng thuận, Việt Cộng đã mở cuộc tổng công kích trên toàn thể miền Nam tự do để đánh vào các lực lượng của quân đội VNCH trong giờ phút uy linh đón mừng Xuân mới.
Last edited by tuyetlanh on Fri Apr 15, 2005 3:09 am, edited 1 time in total.
(tt)
Dân chúng Miền Nam đang say sưa trong cái Tết dân tộc, nên ít người biết đến vụ vi phạm lịnh hưu chiến của Việt Cộng. Tại các tỉnh nhỏ, nhà cầm quyền đã dễ dàng hơn, trong việc kêu gọi quân nhân nghỉ phép trở lại trại để gia tăng việc phòng thủ. Tại thủ đô Saigon, chiều tối ngày mồng 1, các giới chức quân sự theo dõi tình hình và ban lệnh cho các cơ quan và đơn vị đề phòng. Nhưng lệnh này quá cấp bách khiến việc kêu gọi những quân nhân nghỉ phép không thể nào thi hành được.
Nhưng việc gì đến đã đến. Một cuộc tổng công kích của Việt Cộng trên toàn lãnh thổ VNCH đã quả thật sự xảy ra. Việt Cộng đã đánh vào các đơn vị VNCH trong lúc họ không chuẩn bị, hoặc chỉ vừa mới kịp đề phòng do những trận đánh đầu tiên xảy ra. Tính theo kế hoạch tổng công kích, Việt Cộng đã đồng loạt mở các cuộc tấn công và đột kích vào hầu hết các tỉnh lỵ và thị trấn trong thời gian như sau:
Tại Vùng 1 Chiến Thuật :
• Huế bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 02 giờ
• Quảng Trị bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 04 giờ
• Quảng Tín bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 04 giờ
• Quảng Ngãi bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 04 giờ
Tại Vùng 2 Chiến Thuật:
• Bình Thuận bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 3 giờ 25
• Tuyên Đức bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 Tết lúc 02 giờ
Tại Vùng 3 Chiến Thuật:
• Thủ đô Saigon - Chợ Lớn - Gia Định bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 02 giờ.
• Bình Dương bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 04g25
• Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh bị tấn công lúc 08g30 sáng mồng 2 Tết
• Biên Hoà bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 03 giờ
• Long Khánh bị tấn công đêm mồng 4 rạng mồng 5 Tế lúc 01 giờ
Tại Vùng 4 Chiến Thuật:
• Phong Dinh bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 03 giờ
• Vĩnh Long bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 lúc 03g30
• Kiến Hoà bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 03 giờ
• Định Tường bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 04 giờ
• Kiên Giang bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 02g40
• Vĩnh Bình bị tấn công đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 4g15
• Kiến Tường bị tấn công đêm mồng 4 rạng mồng 5 lúc 04g15
• Bộ Tư Lệnh Biệt Khu 44 bị tấn công đêm mồng 6 rạng mồng 7 lúc 1g25
• Gò Công bị tấn công đêm mồng 7 rạng mồng 8 âm lịch lúc 2g35
• Bạc Liêu bị tấn công đêm 12 rạng 13 âm lịch, tức ngày 10/2/68
Như vậy trong 44 tỉnh lỵ, Việt Cộng đã tấn công vào 28 nơi. Cuộc tấn công của Việt cộng kể ra cũng khá linh hoạt, tuy không diễn ra trong một lúc nhưng khoảng cách của các trận đánh ở các tỉnh lỵ không quá rời rạc.
Tính ra như vậy đêm 30 Tết, Việt Cộng mở được 5 cuộc tấn công vào các tỉnh Cao Nguyên và miền Trung. Đêm mồng 1 Tết, Việt Cộng mở được 8 cuộc tấn công vào các tỉnh lỵ và thị xã trong đó có đô thành Saigon - Chợ Lớn - Gia Định.
Với 8 cuộc tấn công này trong đó có 4 thành phố Huế, Quảng Trị, Quảng Tín và Quảng Ngãi thuộc Vùng 1 Chiến Thuật, thành phố Phan Thiết thuộc vùng 2 Chiến thuật và 2 thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Người ta nhận thấy rằng trong 2 ngày liên tiếp tất cả các tỉnh lỵ thộc Vùng 1 Chiến Thuật đều bị đánh. Các tỉnh lỵ thuộc vùng 2 Chiến Thuật cũng bị đánh gần hết. Riêng Vùng 4 Chiến Thuật mới bị chóm đánh vào 2 tỉnh Cần Thơ và Vĩnh Long.
Đêm mồng 3 Tết, Việt Cộng lại đánh vào 8 tỉnh lỵ khác gồm 5 thành phố Kiến Hòa, Định Tường, Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình thuộc vùng 4 Chiến Thuật, 2 thành phố Bình Dương, Biên Hòa thuộc Vùng 3 Chiến Thuật, và thành phố Tuyên Đức thuộc Vùng 2 Chiến Thuật.
Qua ngày mồng 3 Tết, tức ngày 1 tháng 2/1968, hoạt động của Việt Cộng trên toàn quốc có phần suy giảm tuy họ vẫn bám sát được vào một vài thành phố như Saigon, Huế, Ban Mê Thuột, Kontum, Mỹ Tho và Vĩnh Long. Còn tại các nơi, các phần tử Việt Cộng thất tán trong các khu dân cư và đang bị tiêu diệt.
Ngày mồng 4 Tết, Việt Cộng mở một cuộc tấn công yếu ớt vào thị xã Kiến Tường và một cuộc tấn công khác vào các đơn vị trú phòng tại Long Khánh nhưng đều bị đẩy lui ngay.
Ngày mồng 5 Tết, hoạt động của Việt Cộng tại các vùng Chiến thuật suy giảm rõ rệt. Riêng tại Huế địch vẫn còn chiếm đóng và hoạt động mạnh. Tại thủ đô Siagon, các phần tử Việt Cộng trà trộn trong khu dân cư đang bị thanh toán lần lần.
Ngày mồng 5 và 6 Tết, Việt Cộng còn mở những cuộc tấn công muộn vào tỉnh lỵ Gò Công, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu 44, nhưng không gây được sự thiệt hại nào đáng kể.
Ngày mồng 8 âm lịch, tức ngày 6 tháng 2 năm 1968, tỉnh Thừa Thiên vẫn được đáng chú ý hơn cả, tiếp đến là đô thành Saigon - Chợ Lớn và Phong Dinh. Tại Phong Dinh trận chiến đã diễn ra trong 2 đợt: đợt đầu kéo dài trên một tuần lễ và đợt thứ 2 vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2/1968. Tại các nơi khác, Việt Cộng tiếp tục duy trì các cuộc pháo kích và khuấy rối đặc biệt là Vùng 1 và Vùng 4 Chiến Thuật.
Ngày 7 tháng 2/1968, Việt Cộng lần đầu tiên xử dụng chiến xa xuất phát từ biên giới Lào, vượt quốc lộ 9 tấn công căn cứ Làng Vei gần Khe Sanh khiến trại này bị thất thủ vào lúc 18 giờ 40. Quân đồn trú chỉ còn 72 người rút lui về Khe Sanh, số còn lại 316 người coi như chết và mất tích. Trong khi đó, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Huế đã tái chiếm một phần lớn khu vực hữu ngạn sông Hương. Việt Cộng phải rút ra cố thủ tại vùng ngoại ô.
Sáng ngày 10 tháng 2/1968, Việt Cộng đột nhập thị xã Bạc Liêu đốt trên 1,000 căn nhà của dân chúng. Tại Huế, Việt Cộng còn duy trì áp lực tại vùng Cửa Hữu và khu vực Bắc cầu Bạch Hổ. Các thị xã và thị trấn khác đều được giải tỏa. Tại đô thành Saigon - Chợ Lớn, quân đội VNCH tiếp tục mở các cuộc lục soát trong nội thành và hành quân tảo thanh vùng ven độ. Các lực lượng Việt Cộng lần lượt rút ra xa đô thành.
Tình hình Khe Sanh cũng yên tĩnh sau vụ thất thủ Làng Vei.