Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Kissinger Đẵ Bán Đứng VNCH cho CSBV Qua Hiệp Định Hòa Bình Giả Mạo Ký Ngày 27-1-1973 Tại Ba Lê


Mường Giang


Mấy tháng trước, tiến sỹ Henry Kissinger, nguyên phụ tá an ninh quốc gia tòa Bạch Cung thời Tổng Thống Nixon, đã từ chối chức Chủ Tịch Uỷ Ban Điều Tra vụ khủng bố đã làm sụp đổ hai tòa cao ốc thương mại tại Nữu Ước ngày 9-11-2001. Nguyên nhân có sự cố trên là ông đã bị nhiều người tại nước Mỹ cũng như khắp thế giới, từng là nạn nhân do Hoa Kỳ phản bội, chống đối kịch liệt. Thậm chí nhiều tổ chức nhân quyền còn đòi lôi cổ tên đại bịp lừa đảo chính trị ra trước Tòa Án Quốc Tế để đền tội đã làm cho nhiều chục triệu người Trung Đông và Đông Dương tan nhà mất nước. Theo các sử gia cận đại thì cái hệ lụy bi thảm mà Hoa Kỳ hứng chịu hôm nay khi phải đối đầu với Hồi giáo cực đoan, Iraq, Iran, Trung Cộng, Bắc Hàn.. cũng như sự phản bội trắng trợn của các đồng minh trung thành lâu đời như Pháp, Đức, Arab Saudi, Thổ nhĩ Kỳ, Nam Hàn, Phi luật Tân, Nam Dương.. phần lớn đều do chính sách sai lầm có chủ ý của Kissinger khi nắm quyền, hoàn toàn chỉ nghĩ tới Do Thái và bọn siêu quyền lực tư bản thời nào cũng nắm quyền sinh sát nhân loại. Tóm lại người miền nam VN sau ngày 30-4-1975 vẫn luôn quy trách nhiệm một cách trung thực về tội đã làm cho đất nước lâm cảnh cùng khốn và nhục hận như hôm nay cho một số lãnh đạo VNCH gây ra, vì hèn kém, tham nhũng và ham sống sợ chết. Ngoài ra cũng không bao giờ quên được hai biến cố lớn đã góp phần tạo nên chiến thắng cho CSBV trong chiến tranh Đông Dương lần thứ ba 1955-1975, đó là hiệp định Genève 1954 và Ba Lê 1973. Cả hai đều giả mạo do ngoại bang dàn dựng trước cái gọi là tổ chức Liên Hiệp Quốc bất xứng vô thực. Đây mới chính là một trong những yếu tố then chốt đã dẫn tới thảm kịch VN mà theo các sử gia đều quy cho Kissinger tội bán đứng VNCH cho cộng sản Bắc Việt, khi bằng đủ mọi cách dàn dựng lên một hiệp định hòa bình giả mạo được ký ngày 27-1-1973 tại Ba Lê. Tất cả vở hài kịch trên từ đầu tới cuối chỉ do Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội tự soạn tự diễn mà không hề đếm xỉa tới dân tộc VN. Sau năm 1975, tất cả âm mưu đen tối trên lần lượt bị lột trần ra ánh sáng qua các tác phẩm do chính những nhân vật có liên hệ kể lại trong: "Bí mật Dinh Độc Lập của tiến sĩ Nguyễn tiến Hưng", "Những lá thư của Tổng Thống Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu", "Tài liệu của Giáo Sư Stephen Young, chuyên gia tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ", "Hồ sơ mật của Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi kiêm Bí Thư của TT.Thiệu" và mới nhất là tác phẩm "No peace no honor của Sử gia Larry Berman". Tất cả đều đồng thanh gay gắt lên án và luận tội Nixon-Kissinger đã lường gạt cũng như phản bội dân chúng Hoa Kỳ và VNCH. Tuy nhiên xác thực hơn hết cũng vẫn là những lời tuyên bố huênh hoang sau năm 1975 của Lê Đức Thọ, Nguyễn thị Bình, Lưu văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ.. và chính miệng Kissinger qua những hồi ký đã xuất bản như Năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) thế nhưng mai mỉa nhất vẫn là Bí Lục Kissinger (The Kissinger Transcripts), trong đó ngoài Đông Dương bị bán đứng, cả Liên Xô cũng là nạn nhân bi thảm trong canh bạc thời chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Trung-Nga. Ngày nay qua sự sụp đổ của chủ nghĩa cọng sản, mặt thật của Bắc Việt đang đô hộ VN và cái liêm sỉ của đống núi sách vở trong và ngoài nước viết về cuộc chiến VN, phần lớn nhắm mắt theo tài liệu tuyên truyền của Việt Cộng có sẵn khắp các thư viện quốc tế. Bao nhiêu đó cũng đủ cho ta thẩm định về tính chất phiến diện thiếu công bằng của một số trí thức có bằng cấp cao nhưng cạn kiệt hồn nước và tình người. Cũng từ đó để chúng ta, những người dân đen đến lúc phải tỉnh mộng, chấm dứt việc giao phó trách nhiệm đối với non nước và sinh mệnh mình cho bất cứ ai không xứng đáng và tín nhiệm, dù họ đang nhân danh bất cứ một thứ gì. Càng nhớ càng thêm thê thảm tủi nhục cho chính bản thân mình, một dân tộc nhược tiểu luôn bị bán đứng và dầy vò trong suốt thế kỷ, qua hai cái vỏ quốc gia rồi cọng sản. Hăm tám năm rồi nhưng không bao giờ quên được lời tuyên bố chát chua máu lệ của ông Trần Kim Phượng, đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn ngay lúc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Độc Lập, khi Dương văn Minh hèn nhát đầu hàng giặc: "Làm đồng minh với Mỹ chỉ có chết, tốt hơn nên làm bạn với cọng sản, ít ra còn được che chở và giúp đỡ". Đây là lời cảnh tỉnh tha thiết nhất cho những ai còn muốn nhờ ngoại bang để quang phục đất nước.

NGƯỜI MỸ LÀM GÌ TẠI VNCH?

Tuy chiến tranh đã kết thúc từ lâu và cọng sản Bắc Việt ngay từ ngày 1-5-1975 qua Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng... đã công khai xác nhận XÂM LƯợC MI"N NAM, còn Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một phần Đảng Bộ Trung Ương nối dài, một thứ công cụ bịp để che mặt và đánh lừa bọn trí thức ngây thơ da vàng da trắng mà thôi. Thế nhưng đến nay vẩn còn nhiều người chưa chịu trả lại công lý cho người VN mỗi khi đề cập hay nhắc tới cuộc chiến đó. Thật ra đây cũng chỉ là một cách chạy tội của những người trước kia tay lỡ nhúng vào tội ác, hoặc cố ý hay vô tình khi đứng về phía cọng sản, thân thiện, giúp đỡ chúng một cách mù quáng, không cần biết tới lẽ phải và lương tâm. Do trên họ cứ tự mình tuỳ tiện áp đặt cho cuộc chiến đó, nhiều cái tên nghe qua thật khôi hài, cũng may đến nay không còn được mấy ai chấp nhận. Tóm lại, dù có gọi là cuộc chiến ủy nhiệm, nội chiến hay là chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc gì gì chăng nữa, thì đó cũng là một cuộc chiến xâm lược do cọng sản quốc tế chủ động nhằm nhuộm đỏ Đông Dường và Đông Nam Á. Cọng sản Hà Nội hay VC miền nam chỉ là kẻ thừa hành sứ mạng quốc tế trên đã khiến dân chúng VNCH trở thành nạn nhân phải đem máu xương ra chống lại để sống còn.

Từ đầu thế kỷ XX tới nay, Hoa Kỳ vẫn là một quốc gia vô địch. Chính họ đã giúp đồng minh thắng phe trục qua hai cuộc thế chiến. Trong chiến tranh lạnh giữa khối tự do và cọng sản, Hoa Kỳ đã chiến thắng Liên Xô vẻ vang, giựt sập bức tường Bá Linh, giải thể Xô Viết, giải phóng Đông Âu và nhiều quốc gia cọng sản khác trong đó có Đông Đức, Nga La Tư vĩnh viễn thoát khỏi gông cùm đỏ trong mấy thập niên qua. Mới đây quân Mỹ như sấm sét, trong vòng không đầy một tháng bình định xong A Phú Hãn và Iraq là hai cõi được coi như bất khả xâm phạm. Nhờ những chiến công trời biển này, ít ra hiện tại cũng đã làm Trung Cộng vỡ mật khi muốn làm trùm thế giới, làm bá chủ Á Châu và vua biển Thái Bình Dương. Nhưng tại VNCH thuở đó, Hoa Kỳ lại bị sa lầy dù thực tế tự chạy khi đã đạt được ba mục đích chiến lược quốc sách: Tạo được sự mâu thuân chia rẽ giữa Liên Xô-Trung Cộng, thành công trên chiến trường VN về sự thử thách vũ khí và quân đội với khối cọng sản quốc tế qua bộ đội bắc Việt và trên hết là ngăn chặn được Trung Cộng không cho tràn xuống Đông Nam Á ít nhất là lúc đó. Tóm lại người Mỹ tới VN lúc đó không phải để chiến đấu thật sự như họ đã làm tại hai cuộc thế chiến hay mới đây ở A Phú Hãn và Iraq, mà đến để nướng quân dụ địch. Tất cả những cái được gọi là Rules of Engagement hay là luật chiến đấu dành cho quân đội Hoa Kỳ tại VN và Nam Hàn. Tài liệu này được giải mật một phần từ năm 1985 bởi Congressional record, nhờ đó ta mới biết được lý do tại sao quân đội Hoa Kỳ, Đồng Minh và QLVNCH bị Hoa Thịnh Đốn trói chặt tay khi đang chiến đấu. Bởi vậy cứ không tập, đổ bom liên tục xuống núi, xuống biển nên Hà Nội, Hải Phòng đâu có hề hấn gì cũng như không thấy có bất cứ một cán bộ nào kể cả cán thấp tại xã huyện bị thương vong. Rõ ràng đây là một trò chơi mèo bắt chuột mà rõ ràng nhất là đợt Mỹ oanh tạc Bắc Việt lần cuối cùng bằng B52 liên tiếp, khủng khiếp suốt 12 ngày đêm và chỉ cần thêm MộT NG?Y là toàn bộ chóp bu Hà Nội trốn dưới hầm thép ra đầu hàng, giúp dân chúng VN ngày nay thoát được ách nô lệ cọng sản. Thế nhưng Hoa Kỳ đã ngưng và Bắc Việt đã ngoan ngoãn hối hả ngồi vào bàn nghị sự. Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975 miền nam sắp mất, trong lúc Hoa Kỳ với một lực lượng hải quân hùng hậu có đầy máy bay và bom đạn, kể luôn bom nguyên tử, nếu muốn dù có Trung Cộng và Liên Sô can thiệp, vẫn thừa sức đánh tan bộ đội Bắc Việt trong chớp nhoáng để cứu QLVNCH. Mặt trận Xuân Lộc tháng 4-1975 là một thí dụ điển hình, chỉ cần thêm vài chục trái bom tiểu nguyên tử, tình hình chiến sự đã thay đổi nhưng Mỹ cho bom mà không viện trợ ngòi nổ, ba trái bỏ tại ngã ba Dầu Giây chỉ để mua thêm thời gian giúp người Mỹ chạy được an toàn thế thôi. Tóm lại, họ không bao giờ làm vậy và còn được lệnh di chuyển hết các mẫu hạm khỏi bờ đông hải. Đó là chiến thuật để thua vừa nuôi dưỡng chiến tranh sắp tới nên không thể bắt Hà Nội tan rã. Thế giới ghét cái trò lừa bịp của Hoa Kỳ, nên mặc dù đã nhìn rõ sự láo dóc tàn khốc của Việt cộng nhưng cứ giả vờ nhắm mắt hoan hô cổ võ trò hề trên, làm hại cho một số người VN nhẹ dạ tưởng thiệt, lại cứ theo giặc, tiếp tay hãm hại đồng bào mình trong lúc khốn cùng.

Cũng vì vậy nên dù chiến tranh đã chấm dứt từ xa lắc nhưng VC chứng nào tật ấy, một mình một chợ, độc quyền thao túng lịch sử, dành quyền làm chủ đất nước, bịa đặt những huyền thoại vu vơ để làm dao động các thế hệ mới lớn, mục đích chạy trốn tội ác thiên cổ đã gây ra trong mấy chục năm máu lệ hận trường. Riêng Hoa Kỳ trong màn kịch giả bộ thua đau, đã không ngớt biện minh để tìm cách thoát ra cái hội chứng Vietnam syndrom, trong đó chính họ là kẻ phản bội và thủ phạm tấn tuồng trên là Nixon-Kissinger. Một điều tàn nhẫn khác của người Mỹ, đó là sự vu cáo trắng trợn, đổ tội cho đồng minh hèn nhát không chịu chiến đấu nên phải mất nước. Thật sự trong giờ 25 nếu không có sự chiến đấu can trường của QLVNCH trên khắp các chiến địa, liệu một số người Mỹ, kể luôn ông Đại sứ có còn mạng thoát được Sài Gòn như vụ Ba Tư bắt con tin Mỹ năm 1983.

Ngày nay nhờ tài liệu mật từ văn khố của LX cũ cũng như tại thư viện chiến tranh Hoa Kỳ ở Texas gọi tắt là ISAW, đã chấm dứt các huyền thoại dỏm của VC trong mấy chục năm qua, tốn công dàn dựng bóp méo và đưa ra ánh sáng rằng những xáo trộn chính trị tại VNCH, dù do ai cũng chỉ là cớ để Bắc Việt cưỡng chiếm miền nam. Ý đồ trên, theo J.Race trong The lost revolution, đã manh nha từ năm 1958 khi Hà Nội ra lệnh khui lại các hầm vũ khí được chôn giấu tại miền nam trước khi tập kết, để trang bị cho cán binh cơ sở nằm vùng. Cũng trong năm này, Lê Duẩn theo lệnh Hồ đã lén lút vào Nam lượng giá tình hình và trở về bắc họp Trung ương đảng lần thứ 15, nghị quyết lập đảng bộ miền nam, tức là VC hay mặt trận giải phóng, tấn công VNCH bằng vũ trang. Chiến tranh được phát động chính thức bằng hai cuộc nổi loạn gọi là đồng khởi nhưng đã bị dập tắt ngay tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) ngày 28-8-1959 và Bến Tre ngày 17-1-1960. Chính Thủ Tướng Nga Nikita Khrushchev đã phất ngọn cờ tiến quân ngày 6-1-1961 để mở màn cuộc chiến VN sau khi vở tuồng mặt trận trình diễn ra mắt tại một khu rừng già kế biên giới Việt Miên trong liên ranh hai tỉnh Hậu Nghĩa-Tây Ninh cuối tháng 12-1960 với nhân sự nòng cốt gồm hơn 25.000 cán binh từ bắc hồi kết. Tháng 5-1962, Bộ Trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Tông thống J.Kennedy là McNamara thăm viếng VNCH, cũng để mở màn cái thảm kịch chiến tranh phải thua, khiến hơn 60.000 quân nhân các cấp Hoa Kỳ, Úc,Tân Tây Lan, Nam Hàn, Phi, Thái và mấy triệu người VN cả hai miền nam bắc phải chết oan khiên trong bom đạn tàn bạo của một cuộc chiến bẩn thỉu có một không hai trong dòng sử nhân loại. Ngày 1-11-1963 Hoa Kỳ đạo diễn biến cố lật đổ nhà Ngô, một mặt tạo sự vô chính phủ tại miền nam trong ba năm xáo trộn 1963-1967, vừa có cớ đem quân vào giúp đánh VC ổn định chính trị nhưng trên hết là thực hiện cái chiến lược hy sinh con chốt VNCH để bắt nhốt con cọp ngủ Trung Cộng, rảnh tay tiêu diệt Liên Xô nhưng thả Hà Nội để lại tiếp tục làm con chốt thí mạng vời Tàu đỏ khi cần. Chiến tranh cứ thế leo thang, tại miền nam Mỹ thêm quân, giội bom oanh tạc, thì miền bắc càng nhận được thêm nhiều quân viện gạo vải từ khối cọng sản quốc tế, cũng như sự hiện diện của mấy trăm ngàn đồng chí Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba, Đông Đức.. do Hồ lãnh tụ mời tới tham chiến, đóng đầy từ vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa cho tới biên giới Việt Hoa. Ngày 4-9-1967 mở đầu nền đệ nhị cọng hòa cho tới ngày tàn cuộc 30-4-1975. Cũng từ đó QLVNCH trên khắp chiến trường trong nước cũng như tại Kampuchia và Hạ Lào, đã chứng tỏ cho thế giới là một đạo quân thiện chiến và có kỷ cương nhất vùng Đông Nam Á, qua các chiến thắng lừng lẫy trong Tết Mậu Thân 1968, vượt biên đánh thẳng vào căn cứ địa của R tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào năm 1971, mùa hè đỏ lửa 1972.. tạo nên một niềm tin tất thắng trong lòng quân nhân các cấp nhất là những sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi trung cấp và tuyệt đại quân sĩ thanh niên dưới quyền. Thế nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề thì cũng là lúc Kissinger công khai thái độ bán đứng đồng minh qua cái hiệp định quái đản ngày 27-1-1973. Thì ra tất cả đều là xảo thuật, đóng kịch từ cuộc họp thượng đỉnh Midway ngày 8-6-1969 giữa Nixon-Nguyễn văn Thiệu với cam kết bảo vệ và quân viện cho VNCH.. chỉ là lời hứa cuội trên văn bản. Thật sự Kissinger đã đi đêm với cọng sản Hà Nội từ khuya để rút quân, lấy tù binh về nước. Để đạt được trò bịp trên, Hoa Kỳ dùng thủ đoạn chèn ép chính phủ VNCH bằng cái thòng lọng viện trợ, chụp mũ làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền nam, qua truyền thông truyền hình và hăm dọa ám sát thủ tiêu lãnh đạo nếu không chịu ký nhận cái hiệp định phi lý vô nhân đạo mà VC đã đem liệng ngay vào thùng rác sau đó. Cái hài hước của lịch sử là ai cũng biết được mặt thật nhưng vẫn phải cắn răng nuốt lệ thi hành. Và cũng kể từ đó, người Mỹ hân hoan rút hết về nước trước sự thắng cử vinh quang thêm một nhiệm kỳ của tổng thống Nixon. Bộ đội Bắc Việt thế chân Hoa Kỳ, công khai ở lại lãnh thổ độc lập tự do của người miền nam theo tinh thần hiệp định hai nước, hai chính thể ký năm 1954. Cũng qua sự toa rập ký kết từ trước, quốc hội Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, đưa đến sự sụp đổ toàn diện của một quốc gia chỉ vì tin cậy vào sự giúp đỡ của đồng minh.. vào lúc 12 giờ trưa ngày 30-4-1975.

Trong suốt bao chục năm qua, cọng sản đã ký bao nhiêu hiệp định ngày 6-3 và 14-9-1946, 20-7-1954 rồi 27-1-1973 nhưng chẳng bao giờ thực hiện. Bởi vậy đừng tin những gì cọng sản nói mà hãy nhìn những gì chúng làm. Chí lý thay lời nhận định của cố tổng thống Nguyễn văn Thiệu, vậy mà tới nay còn không ít người không chịu tin vào sự thật.

KISSINGER VÀ HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH GIẢ MẠO:

Cái khôi hài cười ra nước mắt của người Mỹ là ngay trong lúc một mặt đổ quân ào ạt vào nam VN năm 1965, cũng đồng thời bí mật đi đêm với Bắc Việt gọi là mưu tìm một giải pháp hòa bình, chính Pháp và Tòa Thánh La Mã khởi động đầu tiên dàn xếp để hai phiá ngồi vào bàn hội nghị bàn chuyện ngưng bắn theo kế hoạch Mayflower nhưng bất thành. Ngày 17-6-1965, Anh và Liên Xô nhập cuộc, mở hội nghị 4 nước Anh-Ghana-Nigeria-Tobago với sự ủng hộ công khai của hai nghị sĩ dân chủ là Mike Mansfield và Fullbright, muốn Mỹ ngưng oanh tạc Hà Nội và ngược lại Bắc Việt ngừng chuyển bộ đội vào nam nhưng bị cọng sản bác bỏ vì lập trường đối nghịch của hai đàn anh Nga-Tàu. Tháng 7/1965 tổng thư ký LHQ là U Thant muốn mở lại hội nghị Geneve 1954. Tháng 10/1965 ngoại trưởng Ý là Amintore Fanfani và Giáo Hoàng Paul VI cũng nhập cuộc, bằng cách liên lạc thẳng với Hà Nội, Mặt Trận GPMN và Tổng Thống Johnson nhưng cũng bất thành vì Hồ đòi công nhận Ma mặt trận là một chánh phủ giống như VNCH. Tóm lại những kế hoạch kể trên đều khởi động nhịp nhàng theo các phong trào phản chiến tại nội địa Mỹ do Luther King, Hoffman, Larson xách động, biến các trường đại học Mỹ thành căn cứ du kích Bắc Việt ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Chiến tranh dữ dội khắp VNCH nhịp nhàng với các biến động chính trị tại Huế-Sài Gòn. Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc miền bắc nhưng Hồ vẫn không nhượng bộ vì đang leo dây giữa Nga-Tàu, nên chỉ biết ậm ờ trước các đề nghị hòa bình. Tại Mỹ, ngày 20-2-1966, Robert F.Kennedy công khai đòi cho MT/GPMN tham gia chính phủ nhưng bị chống đối kịch liệt. U Thant và De Gaulle là hai nhân vật hung hăng nhất trong việc kêu gào phải hòa bình tức khắc tại VN bằng cách ngưng oanh tạc miền bắc, Mỹ rút quân và để MT/GPMN tham chính. Sở dĩ cả hai làm như vậy vì U Thant tuy là tổng thư ký LHQ nhưng lại thân cộng ra mặt, còn De Gaulle với dụng tâm đạo đức giả, thù Mỹ đã phỗng tay trên Đông Dương, nên nhỏ mọn trả thù vặt. Rốt cục cả thế giới lẫn Vatican đều trúng kế Hồ Chí Minh, càng lúc càng chia rẽ và phân hóa trầm trọng. Năm 1967 phong trào phản chiến lên cao tại Hoa Kỳ làm phân hoá đảng dân chủ vì là mùa bầu cử, nên tổng thống Johnson tuyên bố trong cuộc hội nghị với TT Nguyễn văn Thiệu tại Guam là sẽ thương thuyết thẳng với Bắc Việt. Tất cả chỉ là màn hỏa mù ngoại giao vì Mỹ và Hà Nội đã đi đêm từ cuối năm 1966, do sự dàn xếp của Thụy Điển nhưng phải đợi tới ngày 31/3/1968 khi Johnson tuyên bố không tái tranh cử và bộ đội của Bắc Việt cũng như VC bị tan nát tại miền nam trong trận tết mậu thân, cọng sản mới chính thức ngồi lại với Mỹ. Rồi Nixon thắng cử tống thống, Kissinger được giao trách nhiệm đi đêm với Lê Đức Thọ, tự quyết định số phận của VNCH mà không cần đếm xỉa gì tới chủ quyền của miền nam lúc đó.

Theo giáo sư tiến sĩ Stephen Young, từng phục vụ nhiều năm trong bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì Kissinger, trưởng phái đoàn thương thuyết Mỹ đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt khi chấp thuận cho Hà Nội được lưu giữ đạo quân xâm lăng ở miền nam VN. Hậu quả tạo ưu thế quân sự cho địch cưỡng chiếm VNCH khi Hoa Kỳ rút toàn bộ quân lực về nước và cắt giảm quân viện năm 1973 rồi cắt đứt năm 1975. Tổng thống Nixon ngay khi làm TT năm 1969 đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh, đem hết quân Mỹ về bằng một kế hoạch bí mật. Vấn đề chính là NVN chẳng hề biết tới kế hoạch đó là gì và nói là VN hóa chiến tranh nhưng QLVNCH tới đầu năm 1972 mới được cải tiến trang bị, trong lúc bộ đội miền bắc đã sử dụng những vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân của khối cộng từ khi Mỹ còn hiện diện. Năm 1972 Nixon đã đạt được những thỏa uớc lịch sử với Nga lẫn Trung Cộng. Chính điểm này để Nixon thắng Mc.Govern làm TT nhiệm kỳ 2. Tuy nhiên việc oanh kích Hà Nội trong 12 ngày liên tiếp và thả mìn phong tỏa Hải Phòng suýt làm Bắc Việt đầu hàng vô điều kiện, nếu không bị đảng dân chủ và phe phản chiến chống đối dữ dội. Giữa lúc TT Nixon trong tình thế khó xử thì Kissinger đưa sáng kiến phản bội VNCH để đổi lấy sự ủng hộ của quốc Mỹ trong việc làm thăng bằng cán cân chiến tranh lạnh, nói thẳng là giúp Do Thái đương đầu với khối Ả Rập. Do nhận thức sai lầm trên đã khiến Kissinger thành kẻ chủ bại, hèn nhát, bất nhân đẩy VN vào định mệnh oan nghiệt. Thực tế còn gian ác hơn ta nghĩ, vì Kissinger chẳng những muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN mà còn làm cho dân chúng Mỹ không còn nhớ tới cuộc chiến đó trong tiềm thức. Hậu quả cay nguyệt này khiến cho các quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN trở về bị đối xử tàn tệ, tẻ nhạt cho tới mấy năm sau này mới được hồi phục lại danh dự. Trong thâm tâm của Kissinger, đưa quân đội Mỹ về chưa đủ, mà phải làm sao thọc quốc hội cắt đứt mọi nguồn viện trợ cần thiết thì mới chấm dứt được chế độ miền nam. Do trên ông ta tự đẻ ra sáng kiến riêng, chủ đích làm hỏng chương trình VN hoá của Nixon. Theo tài liệu của đại sứ Bunker thì bí mật lớn nhất của Kissiger là sự xuống thang chiến tranh. Đây là sáng kiến tàn nhẫn nhất vì để đổi một thắng lợi ngoại giao cho Mỹ và VNCH, Kissinger cho lại Bắc Việt MỘT CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ, tức là y đã tiết lộ bí mật quốc phòng cho địch. Nhưng sự kiện này không bao giờ Kissinger dám nhận và chính trong hồi ký của TT. Nixon đã viết là chẳng bao giờ ông cho phép làm chuyện đó khi thương thuyết với Hà Nội. Tóm lại để kết thúc chến tranh VN theo ý mình, Kissinger không bao giờ trình bày sự thật khi thương thuyết với Hà Nội, cho TT.Nixon biết. Từ ngày 13-4-1971, Kissinger đã manh nha trò phản bội và lộng quyền khi tự sử dụng đường dây nóng đặc biệt không qua Bộ Ngoại Giao và Tổng Thống Mỹ để ra lệnh cho Đại Sứ Bunker và Bắc Việt. Theo các tài liệu lịch sử đã giải mật, những lộ đồ đề nghị hòa bình VN của các giới chức Mỹ từ tổng thống Nixon tới đại sứ Baunker hoàn toàn trái ngược với ý riêng của Kissinger. Theo bản dự thảo chiến lược chính thống, thì sự ký kết hòa bình chỉ xảy ra sau khi QLVNCH đạt được chiến thắng tại Hạ Lào qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, phá vỡ toàn bộ các căn cứ hậu cần của Bắc Việt tại đây nhằm cắt đứt đường tiếp vận cho bộ đội miền bắc qua đường mòn Hồ chí Minh. Về rút quân thì bắt đầu năm 1971-1972, bộ binh về trước khi đã chứng thật rằng QLVNCH được VN hoá chiến tranh đủ mạnh để thay thế quân lực Hoa Kỳ đương đầu với Bắc Việt. Riêng Không quân-Hải quân vẫn duy trì cho tới khi thấy Hà Nội thật sự tôn trọng hòa bình của Nam VN. Một điều quan trọng nhất mà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker, mong muốn Hoa Thịnh Đốn phải chứng tỏ vai trò hợp hiến của CHÍNH PHỦ VNCH tại bàn hội nghị và cái sự Hoa Kỳ ngồi nói chuyện với Hà Nội đã là một nhượng bộ, vì rõ ràng lúc đó Bắc Việt đang thảm bại quân sự trên khắp các chiến trường, chiến dịch ở miền nam. Một sự kiện khác cũng không kém phần quan trọng tại Hoa Kỳ, là mặc dù bị đảng dân chủ đánh phá kịch liệt, đòi rút quân về tức khắc để đổi tù binh nhưng TT Nixon lúc đó vẫn cương quyết không tiết lộ lộ trình triệt thoái và giữ nguyên ý định không giải kết với VNCH vì quyền lợi Mỹ. Theo các sử gia, nếu Kissinger thật sự là một nhà thương thuyết giỏi và có lương tâm, ông ta đã vượt qua được những sóng gío trùng trùng lúc đó, mang lại vinh dự cho nước Mỹ và công lý cho VNCH. Lịch sử đã chúng nhận điều này chỉ mới đây trong việc TT G.W.Bush trước khi tiến quân đánh Iraq. Nhưng Kissiger chỉ là một học giả chứ không phải là một nhà ngoại giao, một người Do Thái thuần tuý nên không hề biết tới quyền lợi và danh dự của Hoa Kỳ. Trước tiên, về việc cho phép Bộ Đội BẮC VIỆT ở lại miền nam, Kampuchia, Lào. Đây là điều kiện tiên quyết để quân Mỹ rút quân thế nhưng Kissinger nơi trang 1488 đã tự sửa lại là: "người VN và các dân tộc khác ở Đông Dương sẽ tự thảo luận để tất cả quân đội ngoại nhập rút ra khỏi Đông Dương". Như vậy muốn Hoa Kỳ ngưng oanh kích rút quân mà không có một đòi hỏi gì cho đối phương, thậm chí còn cho chúng ở lại để tiếp tục làm giặc thì thương thuyết để làm gì, cho nên sau này Hà Nội và thế giới khinh khi, cười chê Hoa Kỳ là vậy. Ngoài ra chẳng bao giờ Kissinger coi VNCH là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nên ông ta đã có cái nhìn là chỉ có Hà Nội mới đại diện để thương thuyết với Mỹ. Đây là một sự phản bội trắng trợn của lời cam kết từ các chính quyền Hoa Kỳ như TT Kennedy, Johnson, Nixon.. luôn tuyên bố tôn trọng nền độc lập của quốc gia đồng minh. Tóm lại với luận điệu lừng khừng, chủ bại, đầu óc lắt léo.. Kissinger đi phó hội trong một tư thế hèn yếu, rẻ mạt, nên chỉ còn bán đứng VNCH mới mong lấy lại tù binh về. Ngày 25-5-1971, để tránh bị thưa gởi vào phút chót, Kissinger đã điện thoại gạt Bunker là chương trình nghị sự sẽ theo đúng bản dự thảo của TT.Nixon và tòa đại sứ Mỹ-Sài Gòn.

Cũng do lòng tin tưởng trên, nên ngày 3-6-1971, Đại sứ Bunker đã tường trình với TT Nguyễn văn Thiệu có Kissiger hiện diện, kết quả thương thuyết theo bản dự thảo của TT Nixon và Toà đại sứ. Trong khi trình bày, Bunker xác quyết là Bộ Đội BẮC VIỆT cùng rút về Bắc khi Quân Mỹ triệt thoái. Việc tréo cẳng ngỗng này cho thấy, TT Thiệu và Chính phủ VNCH hoàn toàn không được Hoa Kỳ cũng như Kissiger hỏi han hay cho biết một chút gì về vận mệnh tương lai của xứ sở mình. Trước sự kiện trên, Kissimger chẵng những không đính chính mà còn lợi dụng sự không biết gì, để ép TT Thiệu không được tiếp tục đòi hỏi ông ta khi việc Bộ Đội MI"N BẮC đã được giải quyết. Tháng 10/1972 giai đoạn cuối cùng trong bàn hội nghị, Kissinger thay vì cố gắng đạt được những ưu thế cho Hoa Kỳ và đồng minh Nam VN, Kissinger lại tấn công tới tấp TT Nguyễn văn Thiệu và gọi đó là lý do chính trở ngại cho cuộc hoà đàm. Ngày nay dựa vào những tài liệu mật và ngay chính hồi ký của Kissinger, chúng ta mới thấu hiệu sự dối trá và bất lương của ông ta đối với VNCH. Đó là sự hiểu biết quá kém cỏi về lịch sử VN dù ông ta luôn tự hào về cái trường đại học luật khoa danh tiếng Harvard nay chỉ còn là cái mốt thời thượng. Hèn nhát trước phong trào phản chiến do cọng sản quốc tế dàn dựng, Kissinger đã đánh mất sự thông minh của một nhà ngoại giao, qua mặt dân chúng và chính quyền Hoa Kỳ, phản bội đồng minh đang chiến đấu dũng liệt trước làn sóng đỏ. Ngày 1-8-1972, trong cuộc họp mật, Hà Nội bảo với Kissinger là ngoài việc Bộ Đội ở lại, TT Thiệu phải từ chức để thay thế bằng chính phủ liên hiệp. Từ tháng 8-1972, sự chống đối từ chính phủ VNCH đã lên tới cao điểm như không cần đếm xỉa tới thời hạn mà Kissinger ấn định, TT Thiệu không tiếp chuyện với TT Nixon gọi từ Honolulu cũng như tuyên bố là sẽ không bao giờ từ chức, Chính phủ liên hiệp không bao giờ có.. 20-9-1972 sau chuyến thanh sát tại Quảng Trị điêu tàn đổ nát vừa được QLVNCH chiếm lại, TT Thiệu về Sài Gòn tuyên bố "vận mệnh của DÂN TỘC VN phải do đồng bào VN quyết định" và ông đã tố cáo Kissinger chỉ biết tự mình quyết định tất cả mà không coi VNCH ra gì. Ngày 19-10-1972, Kissinger, Bunker họp với TT Thiệu, PTT Hương và HD/ANQG. Theo các tài liệu ghi nhận, cuộc họp đầy căng thẳng và thái độ cuả TT Thiệu khinh bỉ Kissinger ai cũng thấy rõ khi tuyên bố ông ta chỉ là một người trung gian không hơn không kém, quyết định hòa hay chiến là của Sài Gòn-Hà Nội, chứ không phải Hoa Kỳ. Phiên họp chấm dứt nhưng phút chót TT.Thiệu không biết vì một lý do nào đó, lại tin lời Kissinger là Bộ Đội MI"N BẮC phải rút nên ông ký nhận hiệp định. Một bí mật khác vô cùng quan trọng cũng vừa được ra ánh sáng, là khi biết được TT.Thiệu thà mất quyền chứ không để cho Hoa Kỳ qua Kissinger thao túng, uy tín chính phủ VNCH lại lên cao. Dân chúng miền nam hài lòng, Hạ Viện ủng hộ, các vị lãnh đạo Phật Giáo trong phong trào tranh đấu tuyên bố chấm dứt đem chính trị vào chùa chiền nhưng quan trọng nhất là tuyệt đại phật tử tuyên bố dù không đồng ý cá nhân TT.Thiệu, họ vẫn hợp tác với chính phủ để đạt được nền hòa bình thật sự cho miền nam độc lập, tự do. Tại Thượng Viện, ngoài 4 phiếu chống, số nghị sĩ còn lại ủng hộ kế hoạch hòa bình của chính phủ VNCH. Từ đó khắp nơi, kể cả Đà Nẵng biểu tình ủng hộ, chống lại sự thống trị của cọng sản. Nhưng ngày 26-11-1972, Bunker chuyển một lá thơ của Nixon cho biết nếu VNCH cưỡng lại Hoa Kỳ thì viện trợ sẽ bị cúp ngay và tánh mạng tổng thống Thiệu nếu muốn giữ, phải ký kết. Để tấn tuồng kết thúc trọn vẹn, bất ngờ ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh oanh tạc THẬT Hà Nội-Hải Phòng và các căn cứ quân sự tại Bắc Việt một cách sấm sét dã man, bất chấp Dân Chủ và phản chiến kêu gào la ó. Đến lúc này, thì TT Thiệu không tin cũng phải tin là Hoa Kỳ qua lời hứa của Nixon trong mấy chục bức thơ riêng, sẽ dội B52 và can thiệp ngay bằng quân sự nếu Hà Nội phản thùng, tấn công VNCH. Ngày 30-4-1975, Miền nam bị bức tử vì Kissinger, một tên trí thức xuẩn động ngây thơ, có đầu óc thực dân kiêu căng thời Trung cổ. Ông ta vì muốn thoả mãn nhu cầu cho bọn siêu quyền lực mà phần lớn gốc Do Thái đang thao túng nước Mỹ và thế giới, cho lũ phản chiến đa số bị bệnh tâm thần vì đồng tình luyến ái, hút sách, ảo vọng, nên đã hại không biết bao nhiêu người đã chết, tan nhà, mất nước trong suốt hăm tám năm qua.

Trước khi vào Sài Gòn, Hà Nội đã soạn thảo một kế hoạch tắm máu VNCH như Polpot đã làm tại xưa Chùa Tháp, do Đỗ Mười cùng các cán bộ trung kiên miền bắc (không có thân nhân tại miền nam) phụ trách như sau: TQLC, BDQ (ám số VCA) tử hình không bịt mắt. Cán bộ xã ấp, XDNT, chiêu hồi (ám số VDA) tử hình ngay. Không quân, An ninh QD (ám số VAA) tử hình. Cảnh sát, tình báo, Nhảy Dù, cán bộ Phượng Hoàng (ám số VBA) tử hình, tước đoạt quyền sống của luôn vợ con. SD trưởng, Trung Đoàn, Tiểu Đoàn (ám số VEA) tử hình. Tỉnh, quận, xã trưởng (ám số VFA) tử hình. Trưởng Ty sở (ám số VGA) lao động khổ sai chung thân. Tóm lại Quân, công, cán, cảnh VNCH các cấp nếu không tử hình thì chung thân, kể luôn vợ con, gia đình liên hệ. Tuy nhiên sau đó vì không dám trước khí thế miền nam, nên cọng sản thay đổi chính sách, thay vì tắm máu bằng học tập cải tạo để giết dần mòn quân dân miền nam. Cũng từ đó, cọng sản mở nhà tù khắp nước, 36 tỉnh và thành phố có 193 khám đường và trại lao động khổ sai, 17 khám mang bí số AOI-HT 150-166, 35 trại cải tạo nằm trong rừng sâu núi cao mang bì số B-15 HT 6321-6389. Tại miền bắc có 17 trại tù lao động khổ sai mang bí số A20HTZC7340-7372 tại Lai Châu, Sơn La, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh và Bình trị Thiên.

Cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba 1955-1975 kết thúc là thế đó, hơn 60.000 quân nhân Mỹ và Đồng Minh bỏ mạng, nhiều người khác bị thương, một trăm năm mươi tỷ mỹ kim tiền thuế của dân chúng Mỹ, đổi lấy sự sụp đổ của VNCH bằng một hiệp định chẳng danh dự, do chính Kissinger đạt được.


Mường Giang


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

văn kiện của UB Liên lạc phục hồi thể chế VNCH
Bí mật Dinh Độc Lập của TS.Nguyễn Tấn Hưng
Kissinger đã bán đứng VNCH cho Hà Nội của TS Stephen Young
Không hòa bình, chẳng danh dự của Larry Berman, Nguyễn Mạnh Hùng dịch

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Xin mời đọc thơ vui

Nếu em đi lấy chồng

He he he

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

TẠI SAO CẦN GIỮ NGÀY “QUỐC HẬN”?


Lê Tấn Trạng

4-2006



30-04-2006, đúng 31 năm kể từ ngày Việt Nam “thay da đổi thịt”. Tùy theo điểm đứng, mỗi người có cái nhìn khác nhau về biến cố lịch sử nầy.



Đối với đảng và nhà nước CSVN, 30-4 là ngày “đại thắng”. Cho nên, hằng năm, đến ngày nầy họ thường tổ chức lễ ăn mừng “chiến thắng”.



Đối với hầu hết quân-cán-chính thua trận thuộc chế độ VNCH, 30-4 là ngày “Quốc Hận”, “Quốc Nhục”. Cho nên, hằng năm, đến ngày nầy họ thường tổ chức lễ tưởng niệm “Ngày Tang” cho Tổ Quốc, cho Dân Tộc Việt Nam.



Trong những năm gần đây, nhất là từ khi người Việt từ hải ngoại trở về trong nước hoặc từ trong nước ra hải ngoại lên đến cao điểm, hằng mấy trăm ngàn chuyến bay mỗi năm, mẫu người hay đúng hơn thành phần thứ ba xuất hiện. Họ “Bảo Hoàng hơn Vua” bằng cách đề nghị bỏ ngày “Quốc Hận”.Bên cạnh đó, có một số người trẻ trước 1975 chỉ mớI 15 tuổi, bây giờ họ đã 46 tuổi. dĩ nhiên họ không có đầy đủ những “cơ may” để ghi nhận những niềm đau của dân tộc hay của chính bản thân mình do những nghiệt ngã của chiến tranh mang lại. Hơn 30 năm chinh chiến hận thù đối với họ thật là vô nghĩa và cũng thật là vô ích. Họ hàm ý muốn khuyên mọi người hãy quên đi quá khứ để cùng hướng về tương lai. Họ có lý của họ. Nếu những lời lẽ đó phát xuất từ những suy tư và động lực cá nhân, không có gì đáng nói. Chúng ta cần ngồi lại với nhau để thông đạt, để đối thoại, không phải để đối đầu. Dĩ nhiên trong đấu tranh,chúng ta cũng không vội vã và dễ dàng tin tưởng 100% những người thuộc thành phần nầy là không bị giật giây bởi những thế lực ở phía sau.Thế lực núp phía sau nguy hiểm nhất là CS.



Chính vì thế, phân biệt bạn và địch không phải là công tác dễ thực hiện.Thực hiện được công tác nầy, chúng ta đã đi quá nửa của sự thành công. Nhận định nầy nằm trong binh pháp của Tôn Tử: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.Biết ta mà không biết người hoặc biết người mà không biết ta, năm thắng năm thua. Không biết người mà cũng chẳng biết ta, trăm trận trăm bại”.



Riêng phần cá nhân, mỗi năm ngày 30-4 đến, tôi không lấy làm lạ khi thấy đảng và nhà nước CSVN tổ chức lễ mừng “chiến thắng”một cách kiêu hãnh.Bởi lẽ, đối với họ “chủ nghĩa Mác-Lê là vô địch”. Bởi lẽ, đối với họ, “vô sản một nhà” và “Cộng Sản quốc tế”, hơn một thời, đồng nghĩa với “bách chiến bách thắng”. Khẩu hiệu căn bản trên lộ trình đấu tranh giai cấp đầy máu và nước mắt mà cả một dân tộc, qua nhiều thế hệ, đã tưới trên từng tấc đất của quê hương là “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.Cho nên, đứng ở vị trí của chế độ và con người CS, cứu cánh là chiếm và giữ lấy chính quyền bằng bạo lực, bất kể mọi phương tiện để hoàn thành chỉ thị của các quan Thầy đứng trên.Cho nên,tuyệt đối, cứu cánh đối với họ không phải là quyền lợi của dân tộc.Vì chủ trương và lộ đồ của CS luôn luôn ngược chiều với hướng đi của dân tộc và lúc nào cũng có quan Thầy đứng sau lưng hoặc ngồi trên đầu để giật giây, để sai khiến.Bằng chứng hiển nhiên nhất là sau hơn 30 năm thống trị,tiền của bên ngoài từ nhiều ngõ ngách khác nhau đỗ vào như núi, đại khốI dân tộc vẫn cơ hàn.Trong khi, không có 30-4 năm nào đảng và nhà nước CSVN lại không tổ chức mừng “chiến thắng”.Chiến thắng bởi vì chính quyền vẫn chưa rời khỏi tay họ, đảng vẫn còn thống trị, đảng viên vẫn còn đảng để dựa lưng bốc lột dân lành.Bùi Tiến Dũng,Tổng Giám Đốc Ban Quản Lý Các Dự Án PMU-18 một chức vụ thường thôi mà đã có trong tay hằng chục triệu mỹ kim tiền nổi cọng thêm vô số kể bất động sản chìm do thân thuộc đứng tên.Ngân hàng thế giới vừa lên tiếng đã có rất nhiều trong số 80 triệu mỹ kim mà ngân hàng nầy đã cho Bộ Giao Thông Vận Tải vay.Nói theo Thủ Tướng Phan Văn Khải,trong phiên họp Quốc Hội cuối năm 2003,hầu hết các công trình đầu tư ngoại quốc đều bị ăn chận từ 45% đến 55% thì số tiền cho vay của ngân hàng thế giới đã bị “nuốt” mất từ 36 triệu đến 44 triệu mỹ kim.Dĩ nhiên,nhà xây trên bãi cát,sớm bị tiêu tan.Dân chúng,nhất là thế hệ nối tiếp không được hưởng,nhưng nợ họ phải trả.Hỏi sao dân không hận,quốc không thù cho được?Thời gian kéo càng dài,nợ càng chồng chất,các bạn trẻ nghĩ sao ?



Đó chính là lý do khiến cho đảng chủ trương độc quyền yêu nước, đảng viên mừng hớn hở mỗi khi ngày 30-4 u-buồn đến với dân tộc.



Tóm lại,ngày 30-4, đối với những đảng viên CS còn nắm được vị thế hái ra tiền, đây chính là mốc thời gian đánh dấu cho một khởi điểm từ bần cùng trở thành vương giả,từ lý tưởng trở thành lý sự,từ giả dối tiến lên lừa đảo,từ bốc lột tiến vững chắc lên bốc hốt.Từ hòn ngọc Viễn Đông biến thành thành phố đầy tội lỗi.Xã hội đầy tiêu cực, đảng viên đầy cơ may…thì trách sao đảng không mừng mỗi khi ngày 30-4 đến?



Về phía quân-cán-chính thuộc chế độ VNCH,nhất là đối với những người lính chiến,dù rằng suốt tuổi thanh xuân đắm chìm trong binh đao lửa khói.Một cuộc đời mà “Sáng mai thức dậy thấy mình còn sống.Cảm tạ đất trời rồi đợi đến hôm sau.” [không nhớ tên tác giả].Thế rồI 30-4-75, biến cố đau thương không mời mà lại đến với dân tộc Việt Nam.Tù ngục nối tiếp chiến tranh.Có kẻ cam tâm chịu cảnh “chim lồng” 5 năm,10 năm;có người sống trong cảnh “cá chậu” 10 năm,20 chục năm hoặc nhiều hơn nữa.Họ bị đẩy đi lao động thật cực lực,trong khi bị cho ăn thật ít để chết đi mà không thấy tì vết.Bên ngoài nhà tù nhỏ,vợ con của họ bị đối xử đầy bất công,kỵ thị,ruồng bỏ trong một nhà tù lớn hơn.



Đã là một chiến sĩ chân chính,nếu sau hơn 30 năm cầm quyền,đảng và nhà nước CSVN đưa đất nước và dân tộc đi lên tôi thiết nghĩ những quân-cán-chính chế độ cũ đã hết “hận”, đừng nói chi “thù”.Nhưng,ước mong chỉ là ước mộng thôi.Thật vậy,ngày 15-3-06,trong khi tiếp xúc với báo chí trong nước, Ông IL Houng Lee Đại Diện Trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tại VN nhận định: VN có thể mất 18 năm để đuổi kịp Indonesia,34 năm để đuổi kịpThái Lan và cần 197 năm mới theo kịp Singapore,nếu các nước nầy và VN vẫn giữ mức độ tăng trưởng như hiện nay.Vã lại,nếu những người tỵ nạn CSVN tại nước ngoài,một bộ phận của cơ thể mẹ Việt Nam cho dù còn “thù”,còn “hận” đảng và nhà nước CSVN thì cũng không thể sử dụng chữ “Quốc Hận”.Bởi vì, “Quốc Hận” là toàn dân cùng hận; “Quốc Nhục” là toàn dân cùng nhục,chứ mối “hận”,mối “nhục” nầy không phải chỉ dành riêng hay chỉ phát xuất từ người tỵ nạn CSVN tại hải ngoại.



Cho nên, “Quốc Nhục”, “Quốc Hận” không thể thay thế bằng môt danh từ nào khác, ít ra trong lúc nầy, như một số người đã đề nghị. Đề nghị nầy,vô tình làm nhẹ đi ý nghĩa,phạm trù và mục tiêu hướng tới đầy thực tiễn của ngày “Quốc Hận”.Từ “Quốc Hận” đi dần đến “Quốc Thù” và tích cực hơn sẽ là “Cách Mạng” lật đổ chế độ độc tài toàn trị hiện nay.



Danh từ “Quốc Hận” vừa thực tiễn, có giá trị như một đòn bẩy và vừa đầy ý nghĩa vì những lý do sau đây:



“Hận” là hận của toàn dân, hận của trên 83 triệu đồng bào ở trong nước. Bởi lẽ,hằng năm,tiền từ trên trời rớt xuống trên dưới 15 tỉ mỹ kim như tiền Việt Kiều gởi về nước qua hệ thống chính thức và không chính thức,tiền xuất cảng dầu thô,hải sản,may mặc,giầy dép,nông phẩm,tiền đầu tư từ các tư bản nước ngoài,tiền cho vay,tiền viện trợ…Với số tiền khổng lồ đó,nếu không có tham nhũng,chỉ trong vòng một năm,tất cả những hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế tối cần thiết để khởi đầu cho mọi chương trình phát triển đã được hoàn tất như: đường xá,cầu cống,bến cảng, phi trường, điện, nước, gas, điện thoại, hệ thống ngân hàng, luật lệ về hành chánh,tư pháp,đầu tư,nghiệp đoàn…….Trong khi,trước 1975,VNCH chỉ nhận viện trợ của Hoa Kỳ từ 1.2 tỉ đến 2.4 tỉ mỹ kim để vừa chiến đấu,vừa xây dựng,vừa phải đương đầu với phá hoại……mà đời sống dân chúng không có khoảng cách xa đối với các quốc gia Đông Nam Á.


“Hận” là vì tiền của từ ngoài, bằng nhiều ngõ ngách khác nhau, đổ vào trong nước như thác lũ.Cuối cùng, chỉ tổ chạy hết vào túi tham của cán bộ. Để rồi hằng năm,hàng chục ngàn phụ nữ đã bị xã hội dưới triều đại thống trị của CSVN cho “xuất khẩu”sang các nước lân bang để làm nô lệ tình dục lẫn nô lệ lao động suốt đời.Nước mắt của họ chan hoà miếng ăn hằng ngày bên cạnh sự hờ hững của các tòa Đại Sứ CSVN tại hải ngoại.Trong khi,yêu mến từng ngọn rau tấc đất,hình ảnh cây đa đầu làng sống thì khắc ghi,chết thì mang theo là bản chất của người Việt Nam. Đối với người phụ nữ Việt Nam,nhất là đối với những cô gái miền quê thì việc bỏ nước ra đi ,trước đây, còn khó hơn gấp vạn lần.Thật vậy,năm 1945,khi Nhật đảo chánh Pháp,trên dưới 3 triệu đồng bào Miền Bắc thà ôm lấy mồ mã Tổ Tiên mà chết đói,dù rằng Miền Nam,lúc đó,dư thừa lúa gạo.Thế nhưng,chỉ sau 9 năm cai trị hà khắc của chế độ CS dưới cờ Mác-Lê,qua Hiệp Định Genève 1954,nếu không có vũ lực ngăn chận,chắc hẳn, đồng bào Miền Bắc không phải hằng triệu mà nhiều lần hơn thế nữa,đã từ bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để vào Nam.Sau biến cố 30-4-1975 lại thêm một bằng chứng hùng hồn nữa,qua cuộc bỏ phiếu vĩ đại bằng chân,hai triệu đứa con khác của Mẹ Việt Nam lại một phen “thập tử nhất sinh”bỏ nước ra đi để tìm cái sống trong cái chết.


Thảm thương hơn, nhục nhã hơn cho cả một dân tôc là thảm cảnh trẻ con trên dưới 10 tuổi bị ép buộc bán dâm nơi xứ người hay tại chính miền đất quê hương đau khổ của chúng ta. Tuổi thơ ngây.Tuổi cấp sách đến trường.Nếu chúng nó là con, là cháu của các bạn, chắc là niềm đau ấy sẽ đến tận cùng con tim của bạn, phải không? Sự nhức nhối đó sẽ xé nát từng tế bào, từng đường gân, từng thớ thịt của bạn, phải không? Nếu bảo rằng đảng không biết,các Toà Đại Sứ CSVN ở nước ngoài không thấy thì vô cùng phi lý.Phi lý cũng giống như bảo rằng đảng và nhà nước CSVN thương dân hơn tham quyền và tham nhũng.Thật vậy,Hoà Thượng Quảng Độ mới chuẩn bị đi thăm Hoà Thương Huyền Quang là công an chìm nổi đã sẵn sang;Cụ Lê Quang Liêm chưa tới bến xe đò về Miền Tây để cùng bổn đạo dự Đại Lễ Phật Giáo Hòa Hảo thì đã được công an “thân ái” đưa về vị trí cũ.Buồn cười hơn nữa,công an ăn lương bằng tiền thuế của dân cứ tìm mấy mụ “Tú Bà” không biết cách lo tiền mà đập.Trong khi,nhiều mụ “Đại Tú Bà” thì vẫn nhởn nhơ.Cho nên,phụ nữ và trẻ con cứ thế mà bị bán đứng nơi xứ người. Đập hiện tượng, trong khi lờ đi nguyên nhân chính.Nguyên nhân chính là sự nghèo đói tận cùng phát xuất từ độc tài, độc đảng, độc tôn và hiển nhiên đã đưa đến độc quyền cấu kết tham nhũng.Đó là một sự thật hiển nhiên.Vì giàu có như vợ con các tham quan có ai muốn hành nghề bán trôn nuôi miệng đâu? phải không?Hỡi các bạn thanh niên trong và ngoài nước, “Quốc Nhục” đưa đến “Quốc Hận” nằm ở đó,chính là nó.Nó nhục,nó hận hơn nằm gai,nếm mật trong tù nhiều lắm!


Quốc nạn, quốc nhục,quốc thù phát xuất từ tham nhũng: Tham đến mức độ ngân sách nhà nước CSVN năm 2003 được149 ngàn tỉ 200 triệu trong khi,sau hơn 10 năm đổi mới ,5200 xí nghiệp quốc doanh lỗ 350 ngàn tỉ tiền VN,nghĩa là ngân sách nhà nước chỉ bằng ½ số tiền lỗ lã của xí nghiệp quốc doanh và đất nước chúng ta hôm nay có hằng vạn chuyện tham nhũng động Trời xanh như vậy.


Còn kinh hoàng hơn thế nữa,theo tài liệu của báo “Quốc Gia”, Montreal, Canada,tháng 2-1996, trích tin Nữu Ước,một thành viên cao cấp của Hội Đồng Mậu Dịch Việt-Mỹ cho biết,vào thời điểm nầy, Việt Nam có từ 80 đến 100 cán bộ CS có tài sản từ 300 triệu trở lên. Chưa hết, theo Ông John Shapiron, thu thập tài liệu từ một viên chức cao cấp của Ngân Hàng Trung Ương mới đây,cho biết có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đế 300 triệu mỹ kim;khoảng 2000 đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu mỹ kim.Theo tài liệu FYI [Poliburos network] ngày 19-12-2000,cán bộ và đảng viên CSVN đã biến máu,mồ hôi,nước mắt của trên 80 triệu lương dân thành những khối tiền to lớn gởi trong các ngân hàng ngoại quốc và thành những bất động sản đắc giá ở rải rác khắp đất nước.Tài liệu nầy chỉ đưa ra một số cán bộ cao cấp điển hình như:



1. Lê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí Thư ĐCSVN, tài sản và tiền mặt trị gía 1 tỉ 170 triệu mỹ kim;

2. Trần Đức Lương, Chủ Tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 137 triệu mỹ kim;

3. Phan Văn Khải, Thủ Tướng nước CHXHCNVN, tiền mặt và tài sản trị giá 1 tỉ 200 triệu mỹ kim;

4. Nguyễn Tấn Dũng, đệ nhất Phó Thủ Tướng, tiền mặt và tài sản trị giá 1 tỉ 480 triệu mỹ kim;

5. Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ Tướng đặc trách ngoại giao,tiền mặt và tài sản trị giá 1 tỉ 150 triệu mỹ kim;

6. Phạm Thế Ruyệt, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc,tiền mặt và tài sản trị giá 1 tỉ 173 triệu mỹ kim;

7. Phạm văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng, 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu mỹ kim;

8. Trương Tấn Sang, Chủ tịch UBKTTƯ, tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 124 triệu mỹ kim;



Và, vô số cán bộ đủ mọi tầng lớp, làm sao kể cho siết……!!!



Nhục nào bằng cái nhục đất nước bị xâm lăng, mà bị xâm lăng bằng kinh tế còn kinh hoàng, dai dẳng, khó thoát hơn cả bị xâm lăng về quân sự và chính trị. Nhục mà biết mình bị nhục thì dân tôc còn có cơ may tìm đường thoát chết.Nhục mà tưởng là vinh, điều đó mới chính là con đường đưa đất nước và dân tộc mình xuống hố sâu của phá sản.Thật vậy,hàng hoá của Trung Công tốt,giá rẻ,qua “tình nghĩa anh em” đã tha hồ vượt biên giết chết không gớm tay các xí nghiệp còn èo uột ở trong nước. Đô la và vàng bị “chảy máu” qua Trung Cộng.Còn hàng hoá Việt Nam bán hoặc trao đổi với Trung Cộng, đến một ngày đẹp Trời nào đó,muốn bứt tử,Trung Cộng chỉ cần viện dẫn lý do thiếu tiêu chuẩn tức thì các xí nghiệp hoặc nông trại liên hệ sẽ tức khắc đi vào nghĩa trang.


Cùng với hình ảnh nô lệ kinh tế đó,càng ngày Trung Cộng càng đấp thêm nhiều đập ở thượng nguồn sông Cửu Long.Mở đập,hạ nguồn sẽ bị lụt lội;ngăn đập,cá,nước và 200 triệu tấn phù sa hằng năm bị cấm tải xuống hạ nguồn.Hậu quả, đồng bằng sông Cửu Long ngày một khô cằn hơn. Đời sống nông dân ngày một tả tơi hơn.



Cũng trong tình trạng nô lệ đó,ngoài Hiệp Định bán đất ký tại Hà Nội ngày 30-12-1999,Hiệp Định phân định vịnh Bắc Bộ tức bán biển ký tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000,Hiệp Định hợp tác nghề đánh cá giữa Việt-Trung ký cùng ngày,cùng nơi với Hiệp Định sau quả là một đại hoạ đối với ngư dân nói riêng, đối với dân tộc VN nói chung.Các tàu đánh cá nghèo nàn về mức độ tối tân,lẫn số lượng của VN thua xa của Trung Cộng thì thời gian hợp tác càng lâu,VN càng tạo cơ may cho tàu đánh cá của Trung Cộng vét sạch hải sản,tìm mỏ dầu hoả và càng sớm đưa ngư dân VN đi vào tử lộ.



Xét cho cùng,trước sau cũng chỉ vì nhu cầu thống trị, cố bám quyền hành để trục lợi mà nông dân,ngư dân,công nhân[làm thật nhiều giờ với đồng lương chết đói] và kéo theo cả một dân tộc phải quỳ gối cam tâm làm nô lệ ngoại bang một cách nhục nhã,không lối thoát !!! Chẳng khác nào tình trạng con cá nằm trong giõ đựng cua, càng giải càng bị cua kẹp.



Thật vậy,trước ngưỡng cửa Đại Hội đảng CSVN lần thứ 10,Trương Quang Được Phó Chủ Tịch Quốc Hội CSVN sang Bắc Kinh [3-4-06] hứa hẹn với quan Thầy rằng CSVN “sẽ học hỏi kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc”.Ngược lại,từ 20 đến 24 –3-06 Giả Khánh Lâm, Ủy Viên Thường Trực Bộ Chính Trị và là Chủ Tịch Ủy Ban Toàn Quốc Hội Nghị Hiệp Thương Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc sang thăm VN .Nhưng thật ra công tác của Giả Khánh Lâm là vừa phủ dụ,ve vuốt,vừa áp lực đảng CSVN trong việc đề cử những nhân sự thân Trung Cộng trong kỳ Đại Hội 18-4-06 .Cung cách của một đế quốc đối với một chư hầu.



Còn nữa,nhiều cán bộ Trung Cộng,từ thấp đến cao và một số sinh viên tại các trường Đại HọcTrung Cộng học và nói tiếng Việt không thua gì một người VN.Kế hoạch vừa lâu vừa dài của đảng CS Trung Quốc là trèo cao và lặn sâu trong guồng máy chính quyền và đảng CSVN qua sự đề cử và tiến cử của bọn bán nước và tham quan.Quả là một “quốc nạn” đồng thời cũng là một “quốc nhục” cho dân tộc.Thấy nhục mà chưa hoặc không làm gì được thì sanh ra “hận”trong lòng,phải không?



Tất cả trước sau cũng chỉ vì tham quyền và tham nhũng. Nếu đảng CSVN thực lòng muốn vì dân diệt bạo thì đã sẵn lòng để cho Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang.lập Ủy Ban giúp Đảng diệt trừ tham nhũng từ khuya rồi,phải không?



Nói tóm lại,biết bao nhiêu nỗi khổ đau và nỗi nhục đã và đang đè nặng lên 83 triệu đồng bào VN trong và ngoài nước.Nghèo đói bên cạnh vựa lúa đã là một điều uất hận. Đa phần tuổi trẻ VN dốt nát hoặc bỏ lỡ việc học nửa chừng vì bệnh nghèo đói bên cạnh một độ cá 320 ngàn mỹ kim của tham quan đã là nỗi trầm thống của dân tộc rồi,phải không? Phá sản về kinh tế còn dễ và mau chóng phục hồi.Phá sản về đời sống tinh thần , đạo đức và giá trị xã hội mới thật là đắng cay và dai dẳng.Bán thân làm nô lệ nơi xứ người với đầy chông gai bất định mà lại mừng rỡ.Mừng rỡ do những ước mong cứu được gia đình,mà cũng có thể phát xuất từ nội tâm.Do hậu quả của một chế độ cai trị tồi tệ để xấu biến thành tốt.Người hiền từ thì bị khinh khi,vô dụng;kẻ ma lanh thì được kính trọng.Biết làm sao kể cho siết trên mấy trang giấy nầy!



Chính vì những niềm đau miên trường của dân tộc có thực,trước mắt,chưa tìm được lối ra mà chúng ta nghẹn ngào.Trong khi bạo cường , độc tài và nhũng lạm vẫn tiếp tục đạp lên thân xác của dân tộc mà hãnh tiến,vẫn mãi quốc cầu vinh,vẫn nhân danh chống xâm lăng giành độc lập,vẫn hét to khẩu hiệu “không có gì quý hơn độc lập tự do”.Trong khi,các khẩu hiệu mỹ miều đó,không che lấp được bóng dáng của một đàn voi mà họ đang lùa về đạp mồ mã Tổ Tiên.Bảo sao dân chúng không nhục,con cháu sau nầy không hận cho được? Phải không những chiến sĩ yêu nước? Phải không các bạn trẻ, các cháu con Phù Đổng, mà thời đại nào cũng là nòng cốt của đất nước, của đổi mới,của tiến lên,của cách mạng ?



Cựu Thủ Tướng CSVN, Võ Văn Kiệt, nhân dịp 30-4-2005 có can đảm khi tuyên bố: hằng năm khi ngày 30-4 đến “có triệu người vui, nhưng cũng có triệu người buồn”. Đúng ra phải nói : Có triệu người vui, nhưng có trên 80 triệu người buồn. Ai vui, ai buồn; ai tức, ai hận; ai cười ngã nghiêng bên rượu thịt,ai khóc đầm đìa bên chén cơm chan hoà nước mắt,người biết nhiều nhất là “ Bác Hồ vĩ đại kính yêu”.Bác càng hiểu nhiều hơn qua thành phố đầy bê tha, đĩ điếm,tham nhũng,bất công,bẩn thiểu mang tên Bác. Hậu duệ của Bác thực tế đã nhục mạ Bác, dù rằng họ vẫn luôn miệng vinh danh Bác.Thật vậy,khẩu hiệu “cán bộ là đầy tớ của nhân dân” càng ngày càng trở nên trơ trẻn,khôi hài và đi đến chỗ nhục mạ người đề xướng ra nó.



Đã bị nỗi nhục và niềm đau từ những thành phần bán nước để vinh thân phì gia thì chẳng có gì lấy làm lạ. Đau đớn sẽ tăng thêm gấp bội lần khi thấy những người cùng một chiến tuyến vô tình làm một điều gì đó tiếp tay cho kẻ ác. Chẳng hạn như căn bệnh trầm kha chia rẽ, trong khi sức mạnh chính của chúng ta là chính nghĩa và đoàn kết. Chẳng hạn như đề nghị thay đổi ngày “Quốc Hận”bằng một mỹ từ khác. Lý do nêu ra xem chừng như rất đơn giản, có tính cách kỷ thuật hơn là quan điểm. Kỳ thực ra, đây là một hình thức khôn khéo để khai tử ngày “Quốc Hận”. Kẻ thù sung sướng lắm thay!!!



Tại sao CSVN lại sung sướng? Chính vì theo quy luật đấu tranh của người CS thì khởi điểm hành trình chiếm chính quyền, đảng phải thúc đẩy dân chúng từ chỗ không ưa đến chỗ uất hận chế độ đang cầm quyền [đấu tranh giai cấp].Từ chỗ uất hận tột độ đó, một bước đường không xa, không khó lắm, đảng sẽ hướng dẫn và thúc đẩy dân chúng đứng lên lật đổ chế độ đó. Hơn ai hết, đảng CSVN rất sợ “gậy Ông sẽ đập lưng Ông”. Vì danh từ “Quốc Nhục”, “Quốc Hận”, “Quốc Thù” đến “Cách Mạng” nhằm lật đổ chế độ nhũng lạm đương thời quả thật là một bước đường gần, trong một toàn cầu mở cửa như thế giới hôm nay, nếu đội ngũ cuả chúng ta biết cách làm việc và làm việc một cách nghiêm túc, chỉnh tề, trầm tĩnh mà cương quyết.



Có như vậy, Saigon chắc chắn sẽ mặc lại chiếc áo mỹ miều năm xưa để xứng đáng là “Hòn Ngọc Viễn Đông”./.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Hoa Thịnh Đốn: Quốc Hận 30 Tháng 4, 2006


Ngày tháng: 01/05/2006


Tuyết Mai
Virginia, 30.04.2006

Hình (Tuyết Mai): Trên: Cựu quân nhân VNCH và đồng hương tham dự lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 2006 tại Trung Tâm Eden, Virginia. Dưới: Quan khàch cắt băng khánh thành tên đường Việt-Nam tại Trung Tâm Eden.

30 tháng Tư, 1975 là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, Cộng Sản xâm chiềm hoàn toàn Miền Nam. Hằng triệu người dân miền Nam bị rơi vào cảnh kinh hoàng, hằng vạn người đổ ra biển tìm tự do, nhiều tướng lãnh và quân cán chính đã khẳng khái tuẫn tiết để bảo toàn danh dự. Sau đó hằng vạn người bị chết trên đường vượt biển, băng rừng, hằng trăm ngàn người bị vào tù, bị thảm sát.. để tưởng nhớ những anh hùng tử sĩ, quân cán chính vị quốc vong thân, để tưởng niệm một ngày đen tối, đau buồn nhất lịch sử VN, Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn, MD và VA đã trang trọng tổ chức lễ tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư và đặt tên bốn anh hùng dân tộc cho bốn con đường nhỏ trong Trung Tâm Thương Mãi Eden, Falls Church, VA.

Tối hôm trước, 29 tháng Tư, 2006 vào lúc 8 giờ tối có lễ truy điệu và vinh danh anh hùng quân cán chính hy sinh vì Tổ Quốc, cũng tại Trung Tâm Thương Mãi Eden.

Trong lễ truy điệu có khoảng hai trăm đồng hương tham dự. Tại lễ đài có bàn thờ Tổ Quốc với nhiều hoa quả, hương, đèn nghi ngút . Hai bên lễ đài có ba mươi mốt ngọn đuốt được thắp sáng, tượng trưng cho ba mươi mốt năm Miền Nam bị Cộng Sản xâm chiếm, ba mươi mốt năm người Việt hải ngoại xa xứ, tìm tự do. Quý vị đại diện các đoàn thể trong cộng đồng như Ông Khưu văn Phát, Tổng Hội Không Lực; Ông NguyễnVăn Tánh , Cựu CT Cộng Đồng New York; Ông Hà Văn Sơn, CĐ Georgia, Ông Trần Thiện Hiệu Chủ Tịch Liên Hội Cựu CSQG/HTĐ..thành kính dâng vòng hoa tươi kết hình quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, nền vàng ba sọc đỏ lên lễ đài.

Ba hồi chiêng trống ngân vang , mọi người lặng yên, Ông Nguyễn Văn Thìn , Hội Phó CĐ/HTĐ cất tiếng ngân nga đọc tế văn, tưởng nhớ những anh hùng tử sĩ, quân cán chính đã hy sinh cho Tổ Quồc, những đồng bào đã bỏ mình trên biển cả, trong rừng sâu, trên đường tìm tự do.. làm cho không khí buổi lễ truy điệu vô cùng cảm động.

Sau đó Ông Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch CĐVN/HTĐ phát biểu, Ông nhắc lại biến cố 30 tháng Tư là ngày đau thương, ngày tang tóc nhất của lịch sử dân tộc. Theo sau là chương trình văn nghệ đấu tranh do Bà Trịnh Linh và Ban nhạc Sóng Biển phụ trách. Mở đầu là bản họp ca “Mùa Xuân Nào Ta Về”, Như Hương hát “Chàng Là Ai?”, Bác Sĩ Bùi Cao Đẳng trình bày nhạc phẩm “Đêm Nguyện Cầu”, Ban Đông Phương trình diễn hoạt cảnh “Ba Mươi Năm” …

Lễ tưởng niệm 30 tháng Tư được bắt đầu lúc 10:30 ngày 30 tháng Tư, 2006 tại Trung Tâm Thương Mãi Eden. Dù đã hơn ba mươi năm xa xứ, nhưng người dân VN vẫn không quên niềm đau quốc hận, trong nắng ấm có vài trăm đồng hương tụ họp về đây tham dự lễ tưởng niệm, trong đó có sự hiện của nhiều vị dân cử Hoa Kỳ như Dân Biểu Quốc Hội HK Tom Davis; Ông Dan Gardner, Thị Trưởng Falls Church; Ông G. Cornnely, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Quận Fairfax .. quý vị thân hào nhân sĩ VN và rất đông Cựu quân nhân QLVNCH, thuộc các quân binh chủng Hải , Lục, Không Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, trong quân phục và quý vị trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia..

Tại kỳ đài có bàn thờ Tổ Quốc, chưng hình chín vị anh hùng đã tuẫn tiết và bị CS xử tử sau 30 tháng Tư 1975. Đối diện với bàn thờ Tổ Quốc là hàng quân gồm đại diện các quân binh chủng Không Quân , Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Quân Chủng Hải Quân trong quân phục rất trang nghiêm.

Mở đầu Ông Trần Thiện Hiệu, Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ QG/HTĐ điều khiển toán Quốc Quân Kỳ gồm đại diện nhiều quân binh chủng tiến vào vị trí hành lễ . Theo sau là lễ chào Quốc kỳ Hoa Kỳ, Quốc Kỳ VNCH và một phút mặc niệm, tưởng nhớ những anh hùng vị quốc vong thân và các quân cán chính đã hy sinh cho Tổ Quốc.

Kế đó quý vị đại diện các cộng đồng như Bác Sĩ Trương Ngọc Tích, trưởng phái đoàn Texas, Cụ Phan Vỹ, Cựu Chủ Tịch CĐHTĐ, Cụ Giáp Ngọc Phúc, Cựu Chủ Tịch CĐ/HTĐ.. làm lễ niệm hương trước bàn thờ Tổ Quốc.

Ông Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch CĐ/HTĐ, MD và VA phát biểu, biến cố 30 tháng Tư năm 1975 là một sự kiện vô cùng nghiệt ngã. Đây là ngày đau thương nhất của lịch sử VN cận đại, chẳng những gây tang tóc cho toàn thể dân tộc , mà còn làm cho đất nước VN thân yêu của chúng ta vô cùng khốn khổ, điêu linh.

Ông Tần nói tiếp, CSVN đã dốc toàn lực mở nhiều trận chiến khốc liệt tấn công VNCH trong lúc VNCH bị đồng minh bỏ rơi, nên CS đã cưởng chiếm Miền Nam . Kể từ ngày đó, toàn miền Nam bị rơi vào tay của giặc xâm lăng Miền Bắc, bị mất tất cả quyền làm người. Người dân trở thành hàng thứ dân, nô lệ cho CS miền Bắc. Vì thế các tổ chức trong cũng như ngoài nước gọi ngày 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận .

Vì muốn xứng đáng với các anh hùng dân tộc, nhiều quân cán chính không muốn bị rơi vào tay giặc Cộng, đã hy sinh tánh mạng, tuẫn tiết.

Biết bao nhiêu anh hùng VNCH đã tuẫn tiết trong ngày Quốc Hận 30 tháng Tư. CĐVN/HTĐ cố gắng đặt những tên đường trong Trung Tâm Thương Mãi Eden là để vinh danh các anh hùng . Trong năm 2005 CĐVN/HTĐ đã vinh danh năm vị là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Vă n Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ và năm nay vinh danh thêm bốn vị nữa là Cựu Đại Tá Thiếu Sinh Quân Hồ Ngọc Cẩn, Cựu Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, Cựu Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, và Ông Trần Văn Bá, Cựu Thủ Lãnh Sinh Viên VN ở Paris, Pháp Quốc.

Ông Tần tố cáo , CS đã chính thức cắt đầt dâng biển cho Trung Cộng, xuất cảnh lao động, lùa dân đi làm lao động nước ngoài . Chúng tán tận lương tâm đem cả phụ nữ và trẻ em bán khắp thế giới , biến tầng lớp này thành nô lệ tình dục. Chúng đã trả thù vô nhân đạo các quân cán chính VNCH. Hiện nay bạo quyền Hà Nội đã tiếp tay với các công ty ngoại quốc trắng trợn bốc lột xương máu của công nhân VN. Ý chí của công nhân VN bùng lên mãnh liệt, bất chấp nguy hiểm, công nhân VN đã đứng lên chống lại CS, một tổ chức tội ác, tham nhũng và bốc lột.

Ông Nguyễn Văn Tần kết luận, chúng ta họp mặt nhau đây hôm nay , ngoài kỷ niệm Quốc Hận 30 tháng Tư, chúng ta có bổn phận tưởng nhớ những
anh hùng đã hy sinh để bảo vệ đất nước. Chúng ta nên giải thích cho con em hiểu rõ quốc nạn 30 tháng Tư , nếu không, thế hệ này sẽ bị bọn tay sai tuyên truyền , xuyên tạc mà lơ là trước biến cố lịch sử này. Ngày Quồc Hận 30 tháng Tư 1975 là niềm đau của cả một dân tộc, là ngày tang của đất nước . Không một lý do gì, không cá nhân nào, không một đoàn thể, tập thể nào có quyền đòi xóa bỏ ngày Quốc hận 30 tháng Tư.

Theo sau là lễ đặt tên đường cho những con đường trong Trung Tâm Thương Mãi Eden. Ông Đặng hữu Lộc đại diện cho Thiếu sinh Quân; Ông Hồ x. Báu , Hội Cảnh Sát QG; Cô Võ Thị Bé Thương , Sinh Viên cao học George Mason.. đặt vòng hoa cho các anh hùng trước bàn thờ.

Ông Thạch Yên đọc tiểu sử của Cựu Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, nhờ những chiến công lẫy lừng ngoài chiến trường, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được thưởng nhiều huy chương nhất, với 123 huy chương gồm Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh; 23 chiến thương bội tinh, cùng bốn huy chương HK. Năm 1973 Đại Tá Cẩn được trao trách nhiệm Tỉnh trưởng Tỉnh Chương Thiện, nơi có nhiều mật khu nổi tiếng. Ông đã đánh địch đến viên đạn và giọt màu cuối cùng. Ngày 1 tháng Năm, 1975 quân ta không gì để đánh nữa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn ra lệnh các cấp buông súng. Vì là một con chiên ngoan đạo, Ông không thể tự tử . Ngày 14 tháng 8 , 1975 anh hùng Hồ Ngọc Cẩn bị hành hình, người dân Cần Thơ vô cùng đau buồn, thương tiếc trong giây phút cao cả của anh hùng Hồ Ngọc Cẩn.

Ông Nguyễn văn Toàn, Hội Cảnh Sát Quốc Gia đọc tiểu sữ Cựu Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long. Chức vụ sau cùng của Trung Tá Long là Chánh Sở Tư Pháp Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát QG Khu I tại Đà Nẳng. Cố Trung Tá Nguyễn Văn Long đã anh dũng tuẫn tiết dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội VNCH sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng Quân Bắc Việt .

Ông Lê anh Vũ, bào đệ của anh hùng Hải Quân Thiếu Tá Lê anh Tuấn, đọc tiểu sử của HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn , (Ông Lê anh Tuấn là bào đệ của Cựu Trung Tướng Lê Nguyên Khang) .

Ông Vũ cho biết, trước 30 tháng Tư Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn là Chỉ huy trưởng Giang đoàn 43 Ngăn Chặn . Tại đơn vị này, ông chỉ huy tử thủ căn cứ Tuyên Nhơn, Mộc Hóa. Ngày 30 tháng Tư , 1975 trên kinh Thủ Thừa hai chiến đĩnh đầu đã bị bắn, lửa cháy sáng như đuốt rồi bị chìm. Đoàn tàu bị bắn như mưa, rồi lời tuyên bố của Dương văn Minh, rồi kêu gọi của Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, ai ở đâu ở đó để bàn giao cho phía bên kia. Giữa lúc nguy nan như thế, trên tàu có rất nhiều đàn bà và trẻ con, liều ra thì chết hết , do đó khoảng giữa trưa Hải Quân Thiếu Tá Tuấn ra lệnh cho tất cả chiến hữu vào bờ và đầu hàng . Khi tàu của Thiếu Tá Tuấn vào bờ thì Thiếu Tá Tuấn đã dùng súng bắn vào đầu mình, tuẫn tiết đêm 30 tháng Tư , 1975. Người ta thấy xác của Thiếu Tá Tuấn gục xuống mặt bàn, máu chảy loan thấm bản đồ hành quân. Thiếu Tá Tuấn thà chết chứ không đầu hàng địch, Ông đã noi gương Đức Tần Hưng Đạo, mở ra một trang sử oai hùng cho hậu thế noi theo.

Nối tiếp, Lý Thiếu Lâm đọc tiểu sử của Cựu Sinh Viên Trần Văn Bá. Anh Trần Văn Bá là Chủ Tịch SinhViên VN tại Paris. Chính anh đã tổ chức chào Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ trước công chúng và hát bài “Hồn Tử Sĩ”, góp phần quan trọng trong việc duy trì tinh thần chống Cộng tại Pháp và Âu Châu. Ngày 6 tháng 6, 1980, anh khởi sự cuộc hành trình trở về quê hương để làm tròn bổn phận đối với đất nước. Anh đã vượt đất Thái, băng Cao Miên rồi xâm nhập vào Saigon. Đêm 11 tháng 9, 1984 anh Trần Văn Bá bị CS bắt tại Minh Hải trong một chuyến công tác cùng với ông Mai văn Hạnh. Ngày 18 tháng 12 CS dàn dựng một phiên tòa để xử anh với hai mươi người khác. CS đã tuyên xử anh tử hình. Anh đã từ chối không ký vào bản xin ân xá. Ngày 8 tháng 1, 1985 CS Hà Nội đã thi hành lệnh xử bắn anh tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Toàn dân ghi nhớ sự hy sinh rất dũng cảm của anh hùng Trần Văn Bá.

Sau đó quý vị dân cử Hoa Kỳ và nhiều đại diện cộng đồng VN cùng cắt băng khánh thành những tên đựờng trong Trung TâmThương Mãi Eden. Chương trình được chấm dứt vào lúc 12 giờ trưa. Sau đó bốn xe bus đậu ở Eden chờ đưa đồng hương ra biểu tình trước Tòa Đại Sứ CSVN ở Washignton, D.C.


Tuyết Mai
Virginia, 30.04.2006

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cười chút chơi Lấy chồng thực dụng

Một cô gái đi thi hoa hậu, tới phần thi vấn đáp, ban giám khảo nhìn vào hồ sơ thì thấy ghi:
"4 đời chồng, nhưng còn gin", liền đặt câu hỏi:
"Tại sao cô có bốn đời chồng mà vẩn còn gin ?"
Cô gái trả lời:
"Lấy ông chồng đầu là một anh chàng công tác tại phòng điều tra xét hỏi nên cứ
GIỬ NGUYÊN VẸN", do vậy không làm ăn chi hết -- Ly dị !

Người chồng thứ hai là một nhà hùng biện,
nên NÓI THÌ HAY CHỨ KHÔNG BIẾT LÀM ! -- Ly dị !

Người chồng thứ ba là cộng tác tại viện bảo tàng ,
nên KHÔNG SỜ VÀO HIỆN VẬT ! -- Ly dị !

Người chồng thứ tư là cộng tác tại phòng kế hoạch ,
nên CHỈ VẠCH RA RỒi ÐỂ ÐÓ, KHÔNG LÀM TIẾP ! -- Ly dị luôn !

Ban Giám Khảo hỏi tiếp:

"Nếu đoạt được vương niệm hoa hậu, cô sẽ lấy chồng làm nghề nào ?"
"Em sẽ lấy anh đạp xích lô"
"Tại sao lại là đạp xích lô ?"
"Tại đạp xích lô rất thực tế, LEO LÊN LÀ ÐẠP LIỀN !"

------------------------------
Tại Sao??

- Cậu có thích những phụ nữ ngốc không?
- Không.
- Thế những người phụ nữ vụng về công việc nội trợ, cậu có mê được không?
- Không .
-Thế loại đàn bà khi ngủ thì ngáy rồ rồ như máy xay lúa, rồi còn gác cái chân cổ thụ lên ngực chồng ?
-Đàn bà gì mà ghê quá vậy ?
- Thế thì không thể hiểu được: Vì cớ gì mà cậu cứ dán mắt vào vợ tớ.

------------------------------
Cứu tôi với....

Một người hớt hải chạy đến đồn cảnh sát:
- Các anh hãy cứu tôi với, tôi vừa dùng cái chảo đập vào đầu vợ tôi.
- Vậy là anh đánh vợ, nhưng chị nhà có bị thương không?
- Không làm sao mới chết chứ. Và cô ấy đang trên đường đến đây với một khẩu súng săn.
3G cốp pi

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Bệnh tương tư trong ca dao Việt Nam


Kathy Trần

Tương tư là một trạng thái tâm hồn... cực kỳ kỳ cục.

Như mọi trạng thái... tâm thần khác, nó là hậu quả hay kết quả của một tình cảm bất thường, hào hứng và nguy hiểm nhất: Tình yêu!

Có yêu người ta mới tương tư!. Không yêu, người ta chẳng thèm dòm mặt, chẳng thèm để ý cho mệt. Thêm một chi tiết nữa là người ta chỉ tương tư khi tình yêu chưa được thoả mãn, bị thiếu thốn rất nhiều hay hơn nữa: Bị từ chối.

Tương tư trở thành căn bệnh. Ðã là bệnh thì không kể già, trẻ, lớn bé, nam nữ hay đen trắng. Trái tim còn đập thình thịch trong ngực là người ta còn có thể mắc bệnh tương tư.

Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Gặp mặt nhau, chưa biết nàng bằng lòng mình chưa, chàng cứ thấy trái tim mình thôi thúc, kêu réo ầm ỹ:

- Ðúng tần số rồi, đúng đối tượng rồi, yêu đi thôi! Yêu đi thôi!

Chàng làm sao được bây giờ ngoài việc làm cho sự thôi thúc trong lòng được đáp ứng.

Chàng tìm cách gần gũi người mơ, nói cho người ta biết rằng chàng đang yêu và tìm cách cho nàng yêu chàng.

Dịp may, gặp nàng bên đường trong một đêm trăng, chàng thủ thỉ hỏi han:

Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Từ ánh trăng vàng rực rỡ trên dòng sông, long lanh chiếu trong chiếc gầu sồng của nàng rồi hắt ra thành một giải luạ bạc trải dài trên đồng lúa cuả một đêm rằm, chàng về nhà, nhớ trăng, nhớ nước, nhớ người mà ngẩn ngơ tự hỏi:

Nước non một gánh chung tình.
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?

Riêng chàng, chàng nhớ lắm. Nhớ từ ánh trăng vàng mông mênh tới nụ cười e thẹn có đồng tiền trên má bởi vì đâu phải dễ tìm người trong mộng. Chàng đã đi hết lục tỉnh Nam Kỳ mới bắt gặp được người mơ:


Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ!
Trên rừng có cây bông kiểng.
Dưới biển có cá hóa long.
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong.
Anh đi lục tỉnh giáp vòng.
Tới đây trời khiến đem lòng thương em!

Chàng nhớ nhung lắm, chàng “thương” lắm và chàng cũng yêu lắm nhưng chàng chưa dám ngỏ lời:

Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ!

Chàng chỉ dám hỏi bâng quơ để coi người ta có chịu trả lời mình không:

Lá này là lá soan đào
Tương tư gọi nó thế nào hỡi em?

Lỡ nhung nhớ, lỡ tương tư, bây giờ lại phải xa nhau, nỗi đau kể sao cho xiết:

Ðứt tay mấy chút chẳng đau.
Xa em một chút như dao cắt lòng.

Yêu nhau rồi, không thể nào chịu được chia xa, nó như dao cắt lòng chàng.
Chàng nhất định phải được cùng nàng gá nghiã. Dù cha mẹ rầy la, đánh mắng hay cùng lắm chàng đành xin chịu chết để được gần nàng:

Anh thương em trầu hết lá lươn.
Cau hết nửa vườn cha mẹ nào hay.
Dầu mà cha mẹ có hay.
Nhất đánh nhì đầy hai lẽ mà thôi.
Gươm vàng để đó em ơi.
Chết thì chịu chết.
Lìa đôi anh không lìa!

Nhớ nhung, thương nhớ làm chàng thức suốt đêm dài. Chàng tơ tưởng được thở than cùng nàng, được thề thốt một đời chung thủy. Chập chờn hết đêm, chàng giật mình tỉnh dậy, thấy mình vẫn một mình:

Bước sang canh một, anh thắp ngọn đèn vàng.
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời.
Canh hai vật đổi sao dời.
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung.
Canh ba cờ phất trống rung.
Mặc ai, ai thẳng ai dùn mặc ai.
Canh tư hạc đậu cành mai.
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng, tưởng tơ.
Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không.

Ðêm ngủ không yên, ngày tơ tưởng mặt mà lòng càng nặng chĩu mối sầu tương tư:

Chàng nhớ nàng lắm. Nơi nào đó, nàng đang ngồi bên song cửa, chàng muốn hỏi ai kia rằng lòng nàng có như tấm lòng chàng? Có thấy cô đơn, có cần người chia xẻ, có thắt thẻo đợi chờ ai::

Ngồi tựa song đào.
Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương?
Gió lạnh đêm trường.
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường chờ ai?

Chàng nặng lòng đến thế. Còn nàng, từ ngày ăn miếng trầu cay cũng đâm ra thờ thẫn, nhớ nhớ, quên quên.

Từ ngày ăn phải miếng trầu.
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.
Biết là thuốc dấu, bùa yêu.
Làm cho khúc mắc nhiều điều xót xa,
Làm cho quên mẹ quên cha.
Làm cho quên cả đường ra lối vào.
Làm cho quên cá dưới ao.
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

Chàng tương tư ai đó thì cũng có người đang nhớ nhớ, thương thương ai. Ðể che dấu những tình cảm của mình, người ta đã phải dối mẹ, dối cha:

Thương nhau cởi áo cho nhau.
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
Tại mẹ may áo rộng tay.
Con quen gió mát, áo bay mất rồi.

Cảnh vật quen thuộc, yêu dấu chung quanh, đâu đâu cũng là bóng hình ai:

Qua đình ngả nón trông đình.
Ðình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu.

Khi trang điểm, lúc đứng ngồi, lòng càng xót xa thương nhớ:

Cầm lược thì nhớ đến gương.
Ôm chăn nhớ chiếu, nằm giường nhớ …ai?

Nhớ thương làm người ta ngủ không yên, ăn không được, quay quắt nhớ miếng trầu ngày nào:

Một thương hai nhớ ba sầu.
Cơm ăn chẳng được ăn trầu cầm hơi.

Chiếc khăn, ánh đèn, đôi mắt cũng hùa nhau mà... nhớ thương mãi người nào đó:

Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất?
Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai?
Khăn thương nhớ ai, khăn chùi nước mắt?
Khăn thương nhớ ai, khăn giặt để vai?
Ðèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?
Mắt thương nhớ ai mắt ngủ chẳng yên?

Lễ giáo bắt người con gái phải kín đáo, phải thụ động nên tình yêu càng lắng đọng, nỗi tương tư càng chua xót vì không dám cùng ai chia xẻ, tỏ bày:

Anh buồn có chốn thở than.
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya!

Nàng ngắm gió, nhìn mây, thấy mình không được như con chim, con cá. Nàng trông ngóng mãi một bóng hình:

Con chim buồn, con chim bay về cội
Con cá buồn, con cá lội trong sông
Em buồn, em đứng em trông
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!

Trông gần rồi lại ngó xa mà bóng hình ai vẫn biền biệt:

Ngày ngày em đứng em trông.
Trông non, non ngất.
Trông sông, sông dài.
Trông mây, mây kéo ngang trời.
Trông trăng, trăng khuyết.
Trông người, người xa…”

Trời, mây, non nước vẫn chỉ mãi một mầu nhạt nhoà cho trăng cô đơn , cho hoa buồn bã:

Vì mây cho núi lên trời.
Vì cơn gió thổi, hoa cười với trăng
Vì sương cho núi bạc đầu.
Vì cơn gió mạnh cho rầu rĩ hoa
Vì mây cho núi lên cao.
Mây còn mờ mịt, núi nhòa mờ xanh.

Bao lâu nữa nàng sẽ cô dơn, sẽ bạc đầu như ngọn núi dưới sương tuyết, thời gian?

Non xanh bao tuổi non già?
Vì chưng sương tuyết hóa ra bạc đầu?

Tương tư vì xa cách hay không được đáp ứng để mình mãi bâng khuâng nhưng không đau đớn, đắng cay bằng bị phụ tình:

Lá khoai anh ngỡ lá sen
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu!

Người yêu đã một thời thề thốt nay ngoảnh mặt, quay lưng để chàng tiếc công yêu đương, thương nhớ:

Cầm vàng mà lội qua sông.
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!

Người ta phụ mình chỉ vì cái nghèo đeo đuổi Vậy mà ngày xưa đó có người đã hẹn biển, thề non. Chàng tiếc cho một mối tình và cũng tiếc cho một lần lầm lỡ tin yêu:

Ai phụ tôi đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nới sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây!

Biết người ta phụ bạc rồi, sao lòng mình cứ xót xa, tiếc nuối rồi mãi ước ao, năn nỉ:

Ðờn cò lên trục kêu vang
Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
Muốn cho đây đấy đạo đồng
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương.

Không, con người mình đêm ngày nhớ thương, muốn cả đời gắn bó đã nhất định làm con chim hót mãi trong lồng!

Nhưng... ước chi, một ngày nào đó, con chim sẽ xổ lồng bay cao:
Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được đền công lạng vàng
Anh rằng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được thì nàng lấy anh.

Chàng đã yêu, chàng đã đau đớn vì yêu. Nàng có hay cho mối tình chung thủy, gắn bó một đời cuả chàng hay nàng nhất định chia tay, theo chồng xa xứ, để lại mọât người khóc nhớ, khóc đau:

Dế kêu dưới đống phân rơm
Tui xa người nghĩa bưng chén cơm khóc ròng.

Chàng sẽ ngày ngày tương tư người phụ ngãi mà tự hỏi và mãi trách người ra đi:

Chồng gần không lấy
Bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu, mẹ già
Chén cơm, đôi đũa, kỷ trà ai dưng?

Nếu chẳng phải tự nàng phụ bạc mà tại mẹ cha rẽ thúy chia uyên thì niềm cay đắng lại thêm nhiều phần chua xót, tủi nhục:

Tiếc thay bác mẹ nhà nàng
Cầm cân không biết là vàng hay thau
Thật vàng chẳng phải thau đâu
Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng!!!”
Nỗi đau này ai thấu cho chàng?

Có chăng là những người cùng cảnh đã lỡ một chuyến đò tình để mắc bệnh tương tư?

San Jose, 05/ 2006



3G cốp pi

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Bắc Cali chúc mừng con trai TCS tốt nghiệp Civil Engineer tai USC một trường đại học nổi tiếng tại Hoa Kỳ, đồng thời chúc mừng cháu Khang Huy lại được học bổng toàn phần để tiếp tục theo học Master Degree
Image

Image

Image

Image

Image Image
Hình ảnh do Trịnh Long Giang thực hiện và báo cáo

leduc_henri
Posts: 32
Joined: Mon May 22, 2006 1:17 pm
Contact:

Post by leduc_henri »

Lấy chồng thực dụng

Một cô gái đi thi hoa hậu, tới phần thi vấn đáp, ban giám khảo nhìn vào hồ sơ thì thấy ghi:
"4 đời chồng, nhưng còn gin", liền đặt câu hỏi:
"Tại sao cô có bốn đời chồng mà vẩn còn gin ?"
Cô gái trả lời:
"Lấy ông chồng đầu là một anh chàng công tác tại phòng điều tra xét hỏi nên cứ
GIỬ NGUYÊN VẸN", do vậy không làm ăn chi hết -- Ly dị !

Người chồng thứ hai là một nhà hùng biện,
nên NÓI THÌ HAY CHỨ KHÔNG BIẾT LÀM ! -- Ly dị !

Người chồng thứ ba là cộng tác tại viện bảo tàng ,
nên KHÔNG SỜ VÀO HIỆN VẬT ! -- Ly dị !

Người chồng thứ tư là cộng tác tại phòng kế hoạch ,
nên CHỈ VẠCH RA RỒi ÐỂ ÐÓ, KHÔNG LÀM TIẾP ! -- Ly dị luôn !

Ban Giám Khảo hỏi tiếp:

"Nếu đoạt được vương niệm hoa hậu, cô sẽ lấy chồng làm nghề nào ?"
"Em sẽ lấy anh đạp xích lô"
"Tại sao lại là đạp xích lô ?"
"Tại đạp xích lô rất thực tế, LEO LÊN LÀ ÐẠP LIỀN !"

------------------------------
Tại Sao??

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Một cặp vợ chồng mới cưới nhau đi hưởng tuần trăng mật. Trước khi đi, bố mẹ cô gái dặn dò: nếu "lúc đó" mà làm từ từ thì đứa bé sau này sẽ làm kỹ sư, nhanh hơn thì làm bác sĩ, còn nếu thật mạnh thì nó sẽ đạp xích lô. Cả hai vợ chồng đều muốn đứa bé làm kỹ sư nên trước khi lên giường, người chồng còn nhắc nhở: - Em ơi kỹ sư nhé! Nhưng được mười phút, cô vợ rên rỉ: - Thôi kệ, cho nó làm bác sĩ đi anh! Rồi chỉ sau đó năm phút, anh chồng la lên: - Để anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ luôn!

hehehe

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Mời xem phim vui cuối tuần
Yêu cầu volume ON

[flash width=450 height=250]http://vuichoi.info/flash/Funny-stuffs/Fighting.swf[/flash]
3G

Post Reply