Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Mời quí vị nghe nhạc để nhớ về Camau


[video width=500 height=400]http://www.trinhnu.net/VHNT/Nhac/video/ ... eCaMau.wmv[/video]

Giang gia

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Kêu gọi bỏ Đảng Cộng Sản trong cuộc vận động 18 tháng 6 tại DC



Ngày 18/6/2005 sắp đến, cuộc biểu dương tinh thần chống chủ nghĩa cộng sản liên sắc tộc được diễn ra tại Washington DC nhân dịp thủ tướng CSVN Phan Văn Khải thăm Mỹ. Các dân tộc nạn nhân cộng sản sẽ cực lực tố cáo trước thế giới về sự dã man của chủ nghĩa này. Cộng sản chủ nghĩa sẽ hiện nguyên hình với bản chất của tà mị, dối trá, kích động, dã man, lưu manh, ly gián, phá hoại, khủng bố, diệt chủng và đang bị nhân loại xua đuổi. Nước Nga đã ném cộng sản vào sọt rác, dân tộc Trung Hoa đang phản tỉnh để xóa bỏ nó và chắc chắn một ngày không xa sẽ ảnh hưởng dây chuyền tới hành động và vận mệnh Việt Nam. Cộng sản sẽ không còn đất để tồn tại và không lý do gì mà dải đất chữ S thiêng liêng của chúng ta lại dung dưỡng nó.

Cách đây chỉ hai tuần, Trần Dụng Lâm (Chen Yonglin), bí thư thứ nhất của tòa tổng lãnh sự Trung Cộng tại Sydney đã tuyên bố bỏ đảng cộng sản trong sự ngưỡng mộ hàng trăm triệu người và đã gây sóng to gió lớn trong các quan hệ quốc tế. Tinh thần dũng cảm Trần Dụng Lâm đã làm dân tộc Trung Hoa tự hào - và hy vọng vào một ngày mai tươi sáng vì tráng chí của dân tộc họ vẫn còn. Trần chính là một anh hùng hảo hán đương thời. Các sứ quán của Trung Cộng khắp nơi đang bị tinh thần Trần Dụng Lâm công phá khiến họ phải báo động học tập cấp tốc để đối phó với làn sóng công khai thoát ly đảng cộng sản.

Tuyết sơn đã vỡ tảng đầu tiên, trời không cứu được cảnh phá băng sập núi. Tiếp sau Trần Dụng Lâm sẽ còn nhiều người tiếp tục thoát ly cộng sản ở vào những địa vị cao hơn.

Những người trong đại sứ quán và lãnh sự quán Việt Nam tại Mỹ hãy có hành động tương tự như người đồng nhiệm Trung Quốc để chứng tỏ tráng chí Việt Nam sẽ không hề thua sút dân tộc Trung Quốc.

Vì những lý do và những sự kiện như đã nêu trên trên, chúng tôi xin có lời kêu gọi những đảng viên ÐCSVN đang trú ngụ tại Washington DC và các nơi khác tại Bắc Mỹ hãy lấy ngày 18 tháng 6 này để làm ngưỡng cửa hành động. Đó sẽ là một ngày đặc biệt! Hãy đến với ngày 18 tháng 6 này bằng một lời tuyên bố giữa trời xanh mây trắng, giữa báo chí truyền thông, giữa bạn bè quốc tế bằng lời đoạn tuyệt khỏi hàng ngũ đảng cộng sản tà ác.

Đó sẽ là sự khởi đầu giúp những đảng viên ÐCSVN khác bước qua tâm lý sợ hãi. Đó sẽ là cuộc cách mạng chính trị cho Việt Nam không cần tiếng súng. Đó sẽ là sự giải phóng nhân cách cá nhân và sẽ là một ngày vinh quang nhất đối với quyết định can đảm của đời người…. Đó sẽ là một hành động sứ mệnh và sẽ mãi mãi lưu danh vào sử sách.

Hành động dũng cảm này không những sẽ được muôn người Việt Nam tự hào và hãnh diện mà còn kích thích lòng tự tôn của dân tộc chúng ta đối với thế giới bên ngoài. Người Trung Quốc đã phản tỉnh cho nên người Việt Nam không thể không phản tỉnh.

Chúng tôi đặc biệt đặt đường giây nóng và cổ vũ sự kiện này trước thế giới. Nếu có người là đảng viên ÐCSVN phản tỉnh thuộc tầng lớp du học sinh hoặc viên chức tại các sứ quán muốn công khai bỏ đảng vào ngày 18 tháng 6, xin hãy liên lạc ngay tại số (856) 596-7281 hoặc viếng thăm www.nam360.com.

Hãy nói với ông Phan Văn Khải rằng: Bỏ đảng cộng sản mới chính là cứu nước.

Uỷ Ban 18-6 Kêu Gọi Bỏ ÐCS

Thoái Ðoàn và Thoái Ðội

Ngoài phong trào thoái đảng, trong tất cả chúng ta nếu ai từng là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh hoặc là đội viên thiếu niên tiền phong tại Việt Nam thì hãy vào website này tuyên bố thoái đoàn và thoái đội.

Đoàn viên và đội viên là thứ văn hóa cộng sản gây ô nhiễm tinh thần khi tuổi mới vào đời. Khi con người ta chưa thể tự chủ về hành vi và tư tưởng thì cộng sản đã chủ trương dùng những gông cùm ý thức hệ độc ác này để áp chế toàn bộ tinh thần. Đoàn viên và Đội viên bị biến thành thủ tục trường học và đã tạo ra một thứ văn hóa “thi đua phấn đấu” rất phi nhân cách. Đội phí là những lao động kế hoạch nhỏ. Ðoàn phí là bằng tiền hoặc công sức lao động thanh niên xung phong. Cho dù đoàn đội được quy định bằng hạn kỳ tuổi tác nhưng nguy cơ về tinh thần vẫn đeo đẳng suốt đời vì chỉ có nghi thức vào đội vào đoàn mà không có nghi thức từ bỏ. Trang web www.nam360.com sẽ dẫn tới trang thống kê để tuyên bố thoái đoàn thoái đội của Việt Nam. Mục đích các trang web để tạo thành một cao trào quyết liệt về mặt tinh thần nhằm rửa bỏ tất cả những ám ảnh và mặc cảm của văn hóa cộng sản trong con người chúng ta.

Cộng sản = Lưu Manh và Tà Mị

Cộng sản Trung Quốc đã biến hình ảnh Mao Trạch Đông trở thành một loại thần phù để uy hiếp tinh thần người yếu bóng vía. Hình Mao Trạch Đông ngầm được tuyên truyền treo trong xe hơi, tàu thuyền để tránh tai nạn vì đương thời ma quỷ hà bá còn sợ Mao. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh được đảng cộng sản thánh hóa thờ cúng trong nhà vì ngang hàng “tôi bác” với các vị anh hùng dân tộc được phong thần trong các vương triều phong kiến. Cộng sản vừa dùng uy quyền giết chết tinh thần độc lập, vừa dùng mê tính để uy hiếp về tâm linh.

Bí Mật về Ðền Thờ Nội Tạng Hồ Chí Minh tại Ba Vì

Hồ Chí Minh chết xuống đã được xây lăng mộ to lớn tại Ba Đình, nhưng nội tạng thì chôn riêng trên đỉnh núi cao nhất tại Ba Vì và lập đền thờ theo kiến trúc đình chùa để tự thiêng liêng hóa. Trong di chúc họ Hồ muốn xây lăng mộ tại ba miền. Mỗi phần tro cốt tại mỗi miền là một quần thể lăng mộ. Cộng sản từ lâu đã dụng chước để dân gian hóa nhằm đưa hình ảnh giả cổ này vào di sản văn hóa nước nhà. Chúng ta nhất định phản tỉnh vì sự tà mị này.

Câu nói khét tiếng: “Các cô, các chú cứ diệt cho nhiều giặc Mỹ, bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ là Bác khỏe, Bác vui”. Hôm nay, Phan Văn Khải muốn hàn gắn quan hệ với Mỹ!!!

Tôn thờ Hồ Chí Minh và lý tưởng của ông ta là đi ngược lại lợi ích của dân tộc lúc này, tự ác hóa tâm tính, và tự phỉ báng nhân cách.

Hãy nói với ông Phan Văn Khải rằng: Bỏ đảng cộng sản mới chính là cứu nước.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Phan Văn Khải


Không có bột thì không thể quấy thành hồ


Lý Liễu


Mấy tuần nay báo chí nhà nước CSVN đã đề cao chuyến viếng thăm Hoa Kỳ sắp tới của thủ tướng CSVN Phan Văn Khải là chuyến đi lịch sử. Lộng ngôn quá chăng? Việc ông thủ tướng Willy Brandt của Đức quỳ gối trước đài tưởng niệm cuộc nổi dậy của Ghetto Do Thái ở Warschau vào năm 1970 để xin lỗi cho những tội ác của Đức Quốc Xã trong thời Đệ nhị Thế chiến ở Ba Lan là một sự kiện lịch sử. Một sự kiện lịch sử lớn. Ngay trong lúc đó và cho nhiều thế hệ sau. Đối với Ba Lan, Đức, Âu Châu và toàn thế giới. Mở đầu việc chấm dứt phân cách Đông-Tây và chiến tranh lạnh. Chính Brandt không bao giờ tự đề cao hành động này của mình. Để cho dư luận tại những nước liên hệ đánh giá hành động của mình sẽ hay hơn, khiêm nhường hơn. Khi đạt lời mời của Bush đến Khải, thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Zoellig chỉ xem chuyện một ông thủ tướng CSVN viếng thăm Hoa Kỳ - sau 30 năm chấm dứt chiến tranh và 10 năm bình thường hoá bang giao - là có ý nghĩa. Có ý nghĩa thế thôi. Cũng có một ý nghĩa thâm trầm là việc tổng thống Bush mời thủ tướng mà không mời tổng bí thư Đảng CSVN sang thăm Hoa Kỳ trước tiên – khác lề thói o bế một cơ chế độc tài đảng trị của tổng thống Pháp Chirac hoặc thủ tướng Đức Schröder. Trong một nước dân chủ, chủ tịch của một đảng không thể có quyền hành hơn một thủ tướng. Bush có thể trao đổi về những ước mơ nhưng không muốn bàn công việc điều hành quốc gia với một chủ tịch đảng. Nhưng ông Phan Văn Khải sang Mĩ để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để “tiếp xúc thường xuyên” với tổng thống Mĩ để tạo niềm tin, theo như lời thứ trưởng CSVN Lê Văn Bàng sau chuyến đi dọn đường cho ông Khải hồi tháng Tư năm nay? Nếu chỉ để thường xuyên tạo niềm tin thì không có ý nghĩa lịch sử đột phá. Người ta không khỏi có cảm tưởng rằng bộ máy tuyên truyền CSVN đang tìm một ý nghĩa cho chuyến đi của ông Khải.



Chính quyền CSVN đã rất lúng túng trong việc tìm một vấn đề có tầm vóc để cho ông Khải giải quyết ở Mĩ. Một vấn đề lịch sử, kinh tế, quốc phòng, an ninh hay nhân quyền? Theo lời của Thứ trưởng ngoại giao CSVN Lê Văn Bàng hồi giữa tháng Tư thì ban đầu họ dự định để cho ông Khải tuyên bố kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ về việc gia nhập Tổ chức Thương Mãi Thế giới WTO. Việc gia nhập WTO là dự án lớn nhất của chính quyền CSVN về kinh tế đối ngoại. Một dự án lấy le. Do đó các nhà lãnh đạo CSVN đã lớn tiếng tuyên bố rằng Việt nam sẽ gia nhập WTO vào đầu năm 2005 - bất kể thực tế VN, mặc kệ kinh nghiệm của các nước khác. Sau khi gặp nhiều khó khăn đàm phán, họ lại dời thời điểm vào cuối năm 2005. Hiện nay người ta chưa biết liệu Việt Nam có gia nhập được vào WTO trong năm 2006 hay không. Theo thứ trưởng ngoại giao Mĩ Zoellig tuyên bố hồi đầu tháng Năm tại Hà Nội thì Việt nam sẽ không kịp kí kết hiệp định song phương về WTO với Hoa Kỳ nhân dịp ông Khải sang Mĩ. Muốn đặt được một hiệp định đa phương với tất cả các quốc gia thành viên của WTO, CSVN sẽ còn phải thay đổi đến 89 văn bản luật! Sự chậm trễ gia nhập WTO đã gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế VN, một nền kinh tế èo uột luôn chịu thua thiệt vì những quyết định chính trị sai lầm của đảng CSVN. Một lí do gây ra chậm trễ gia nhập WTO là quyết định trì hoãn kí kết Hiệp định Thương mãi Song phương với Hoa Kỳ vào năm 2001 để nhường bước cho đàn anh Trung Quốc đi trước. Vì nhường cho Trung Quốc đi trước nên Việt Nam hiện rất vất vả đàm phán song phương với Trung Quốc để gia nhập WTO. Ngoài ra những hàng xuất cảng của Việt Nam khó cạnh tranh với hàng Trung Quốc vì phải chịu hạn ngạch của những thị trường lớn như Hoa Kỳ hoặc EU.



Một vấn đề được chính phủ Bush đặc biệt lưu ý trở lại trong nhiệm kì hai là vấn đề nhân quyền và tôn giáo. Trước đây vấn đề này không mấy được quan tâm trong quan hệ hai nước nhưng từ khi quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật tự do tôn giáo quốc tế và từ khi Việt nam bị xếp vào danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tự do tôn giáo (CPC) vào tháng Chín năm ngoái thì vấn đề trở thành nóng trong dư luận tại Hoa Kỳ và trên thế giới. Trước đây chính quyền CSVN đã chủ quan xem thường vấn đề này, cho rằng chỉ cần thoả mãn các nước tư bản bằng con đường giao thương thì có thể bịt miệng họ về vấn đề nhân quyền. Việc hối hả đưa ra Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo, Nghị định 22 để thi hành pháp lệnh này cũng như Chỉ thị cấm bắt buộc bỏ đạo Tin lành của thủ tướng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi kỉ lục cho thấy sự lúng túng đối phó với một tình thế bất ngờ. Hồi tháng Năm, Việt Nam đã phải kí kết với Hoa Kỳ một thoả hiệp về tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã nhượng bộ bằng cách đưa ra nhiều văn bản pháp luật để cải thiện quyền tự do tôn giáo. Nhưng Hoa Kỳ hiện chưa rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC và đang chờ xem sự thi hành của chính quyền CSVN. Trên thực tế, việc tiến hành cho các tổ chức tôn giáo đăng kí tư cách pháp nhân hoặc đăng kí hoạt động ở Việt Nam theo những qui định mới đã diễn ra rất chậm chạp, nếu không nói là không khác thời kì trước. Ngoài ra những hành vi đàn áp tôn giáo và bắt bỏ đạo vẫn tiếp tục diễn ra. Thậm chí một số UBND và công an địa phương còn công khai phủ nhận quyền hạn của thủ tướng và không chịu thi hành chỉ thị của thủ tướng. Có nơi nói là họ thi hành theo chỉ thị của một cấp cao hơn thủ tướng. Có nơi còn thách thức sẽ bắt giam cả thủ tướng nếu ông không làm theo đúng thủ tục đăng kí với địa phương. Những đàn áp này đã diễn ra khắp 3 miền, từ thôn quê đến thành thị, từ đồng bằng đến vùng núi của người thiểu số. Vấn đề nan giải cho ông Khải là ông biết rõ những vụ đàn áp này. Xã hội dân sự ở Hoa Kỳ sẽ có đủ bằng chứng xác thực để chất vấn ông Khải về vấn đề này. Dù ông Khải có bao che, dù ông có bất lực thì ông cũng sẽ khó trả lời cho xuôi vấn đề. Nếu nhìn nhận sự bất lực nghĩa là không đủ sức thực hiện điều đã hứa thì ông Khải sẽ không có đủ uy tín của một nguyên thủ để đàm phán với tổng thống Hoa Kỳ. Nếu chấp nhận sự bao che cho thuộc hạ làm bậy thì ai còn dám tin những điều mà ông đã kí kết.



Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều người tị nạn Việt Nam nhất sau biến cố 30 tháng Tư 1975. Cộng đồng tị nạn Việt Nam ở Hoa Kỳ - nay là cộng đồng người Mĩ gốc Việt – thành công trên nhiều mặt và ngày càng có nhiều ảnh hưởng trên chính sách của Hoa Kỳ. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam hồi tháng 11 năm 2000, tổng thống Clinton khuyến cáo chính quyền CSVN nên hoà giải với cộng đồng người Mĩ gốc Việt. Thứ trưởng ngoại giao CSVN Lê Văn Bàng hồi tháng Tư 2005 cũng xem việc xây dựng một mối quan hệ tốt với cộng đồng người Việt tại Mĩ là một vấn đề đặc biệt quan trọng vì “chúng ta (CSVN) cần sự hỗ trợ của cộng đồng này trong quan hệ hai nước theo chiều hướng tích cực hơn”. Vì trước đây ông Bàng từng là đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ nên ông biết rõ điều ông muốn nói. CSVN không thể chỉ hoà giải với Mĩ mà không hoà giải với những đồng bào của họ. Nhưng theo những tin tức mới, lần này ông Khải sẽ không đến thăm tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất tại Hoa Kỳ. Có lẽ ông Khải e ngại những cuộc biểu tình phản đối. Thế nhưng dù ở Washington hay New York nơi nào cũng có người Việt tị nạn và do đó có biểu tình. Ông Khải sẽ không tránh khỏi việc phải đối diện với tâm tư và nguyện vọng của người Mỹ gốc Việt. Nếu tránh họ trên đường phố thì ông vẫn phải đối diện với họ trong quan hệ ngoại giao giữa 2 nước, chẳng hạn qua những đạo luật nhân quyền Việt Nam và danh sách CPC. Ông sẽ giải quyết vấn đề này ra sao? Cho đến nay đảng CS của ông không thực tâm muốn hoá giải hận thù. Tiếng nói của cựu thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt cho đến nay vẫn quá lẻ loi, lẻ loi đến nỗi cuối cùng phải bị cắt xén thành vô nghĩa trên báo Tuổi Trẻ. Nhân dịp 30 tháng Tư năm nay, ông Kiệt đã kêu gọi các người lãnh đạo CS đừng quá say sưa thành tích mà làm cho vết thương chiến tranh không lành được. Kiệt phê bình rằng “nhắc lại (các chiến tích) quá mức thì có thể gây ra sự phản cảm”. Vào năm 2004, Bô chính trị đã đưa ra Nghị quyết 36 (NQ36) về Việt kiều. NQ36 đang làm gia tăng sự phản cảm. Trong đánh giá một năm thực hiện NQ36 vào hồi đầu tháng Năm, ông Nguyễn Phú Bình, thứ trưởng ngoại giao và hiện là chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt ở nước ngoài, vẫn kêu gọi “đấu tranh ngăn chặn những hoạt động chống phá của các nhóm người Việt cực đoan”. Cực đoan theo định nghĩa của ông là làm trái với lợi ích chung của dân tộc. Việc định nghĩa vẫn là một độc quyền của đảng CSVN. Chống phá là có những suy nghĩ và việc làm khác với chính sách của đảng. Với một quan điểm căn bản như thế, cuối cùng đảng chỉ muốn lợi dụng kiến thức và tiềm năng kinh tế và chính trị của người Việt ở Mĩ chứ không thực tâm tôn trọng họ. Do đó sẽ không thể có đối thoại và hoà giải thực tâm.



Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của thủ tướng CSVN Phan Văn Khải vào cuối tháng Sáu này có lẽ sẽ không tạo ra những đỉnh cao về nội dung cũng như hình thức cho quan hệ hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ. Một vài buổi tiếp tân mờ nhạt và vài thoả thuận thứ yếu được đem ra kí kết làm trò sẽ không tạo ra được quan tâm cho giới truyền thông quá no tin ở Hoa Kỳ. Những gì được dự định thì đã không thành trong khi những gì cần làm thì có lẽ ông Khải không có đủ can đảm làm. Người ta không thể phủ nhận rằng ông Khải là người có nhiều thiện chí hơn các đầu óc bê tông trong bộ chính trị. Nhưng đến nay ông chỉ làm được một vài việc vụn vặt để giảm sự tác quái của hệ thống công an đàn áp mà không có đảm lược để bứt phóng khỏi cái khuông băng bột của đảng. Nếu quả thật ông Khải muốn đi vào lịch sử thì ông nên có một hành động thành thực và bộc trực tương tự như việc quỳ gối của thủ tướng Brandt năm xưa. Việc làm của Brandt đã thoát ra ngoài mọi dự định chính trị và thủ tục nghi lễ.

Có người có đề nghị rất hay là ông Khải nên nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần này để ngỏ lời xin lỗi những nạn nhân của các chính sách sai lầm của CSVN trong quá khứ và cám ơn nước chủ nhà đã cưu mang họ. Làm được thì chuyến đi của ông Khải sẽ có một ý nghĩa lịch sử nho nhỏ nào đó. Điều ông không nên làm là nhai lại điệp khúc “khép lại quá khứ để hướng tới tương lai”, dễ gây phản cảm trong dư luận người Việt tại Hoa Kỳ.

Lý Liễu

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »

Tự Thán

Thi đàn cóc nhái rất nỗi sôi
Nhớ đừng để con cái mồ côi
Vì đọc xong cười có nước chết
Thôi !

Tuổi thanh niên ngựa non háo đá
Mày mò kinh nghiệm thiệt không khá
Tính tình dây thung và hay láu
Cá !

Mấy ông thích kể thưở học trò
Lúc các cô còn nhảy cò cò
Ðầu óc gian manh nghĩ chuyện tối
Mò !

Ðấy thời ham hố thích bon chen
Bây giờ sức yếu lẫn ho hen
Ngay cả bà xã cũng đã hết
Ghen !!

Nói đến phái đẹp mắt cười tít
Nhưng chỉ còn là pla-to-nic
Bởi vì hơi sức gần chạm tới
Ðích !

Ăn hoài cơm nếp riết cũng ngán
Ở sở xếp đì cho sói trán
Trong lòng buồn bực nhân sinh quan
Chán !

Có bửa về nhà dáng lom khom
Vợ hỏi sao không chịu ăn cơm
Giao tế bạn bè đã nhậu bia
Ôm !

Nỗi hứng làm thơ lim dim khoái
Không còn một chút gì áy náy
Mỗi khi sờ tới đề tài trống
Mái !

Chính chị chính em cãi thành tật
Người theo Thiên Chúa người theo Phật
Tìm kiếm thăng bằng quả là khó
Thật !

Cuộc đời như gió thoảng mây bay
Khi thì mật ngọt khi đắng cay
Vui đi kẻo tiếc lúc phải bái
Bye !


10-2002

Copied trên net nhưng xót tên tác giã rồi :oops: :oops: .
Khi bài thơ này Đ Đ chợt nhớ đến các anh trường hàng xóm :P :P :P
Triệu người quen có mấy người thương

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

“Qui mã và ma quỷ”

của đảng Việt gian Cộng Sản

Lý Tuấn

Thủ tướng ngụy quyền cộng sản Ba-đình, Phan văn Khải, đã du hành qua các nước úc và Tân Tây Lan; sau cùng là “qui mã” để chầu đại đế Bush vừa mới đây, trong tháng 6 này.

Khi nói đến đảng Việt gian cộng sản, người ta nhớ đến chuyện đu dây giữa Tàu và Nga đỏ của họ Hồ, đẻ ra cái gọi: giáo điều và xét lại, tượng trưng cho hai nhóm: một theo Nga đỏ, một theo Tàu cộng.

Nay là thế kỷ 21, chủ nghĩa cộng sản đã nằm rữa xác ngoài nghĩa trang, nhưng những tư duy đóng khung của bọn Việt gian cộng sản hoàn toàn không thay đổi. Chiến lược đu dây vẫn được tập đoàn đệ tử của Hồ thực thi và khai triển tối đa.

Nếu cho rằng chúng đã có thay đổi, xin thưa:ï thay đổi cái áo đại cán bằng cái áo veston và ca-vát vì những nhu cầu cần thiết phải phù hợp với thời đại. Có nghĩa, đó là hình thức mang tính chất thời trang của kịch sĩ trong vở kịch đối phó với mọi nguy cơ đưa đến sự tan rã của tổ chức Việt gian này bất cứ lúc nào trong tương lai. Công tác cứu đảng là ưu tiên hàng đầu.

Chuyện những tên Việt gian Khải, Lương, Mạnh xuất ngoại… có điểm đặc biệt làm mọi người chú ý là, thủ tướng ngụy quyền Ba-đình Phan văn Khải, qua chầu kẻ thù số một của đảng Việt gian cộng sản: “Đế quốc sừng sỏ tức tên sen đầm quốc tế Hoa-kỳ”ø.

Thực ra, đây là công tác được phân trách nhiệm của từng tên trong bộ tam xên này mà nhiệm vụ của chúng không ngoài hai vấn đề thấy được: trước là bảo vệ đảng Việt gian; sau là bảo vệ quyền lực phe nhóm cầm quyền, trước khi đại hội đấu đá của chúng, lần 10, sẽ tổ chức vào mùa hè năm tới.

Lần đu dây này của các chóp bu đảng Việt gian cộng sản cho thấy một số dữ kiện mới…, thêm tay chơi thứ ba được kéo vào cuộc, đó là: Pháp. Nhưng xin đừng quên tay chơi quan thầy của chúng, tạm đứng bên lề: Nga-xô của Putin vẫn còn đó.

Trước hết là câu hỏi tại sao Nông đức Mạnh không đi chầu quan thầy Tàu đỏ?

Câu trả lời: “lại một đòn lừa”, vì Mạnh là hiện thân quyền lực của đảng Việt gian cộng sản, nhưng không đi Tàu là có ý ngầm cho mọi người biết, nhất là tập thể tị nạn cộng sản ở hải ngoại, ”đảng” của chúng độc lập với đảng cộng sản Tàu và thân Tây phương.

Đòn phép này là cách tuyên truyền chạy tội dâng đất, biển cho Tàu cộng, là do bọn nào đó trong… đảng (Việt gian), không phải bọn đương quyền, mà mục đích là làm người tị nạn mơ hồ để, nếu không trực tiếp thì cũng gián tiếp ủng hộ bọn đương quyền để chống lại bọn… “thân Tàu cộng”. Và từ đó, người tị nạn vướng vào cái bẫy ủng hộ một phe nhóm của đảng Việt gian cộng sản.

Nếu chúng thành công với chiến thuật này, người tị nạn cộng sản, tự nhiên thành công dân của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở hải ngoại, cho dù bất cứ phe cánh nào trong đảng Việt gian nắm quyền.

Sự ủng hộ của tập thể tị nạn cộng sản ở hải ngoại là sức nặng ngàn cân, đặc biệt là chính trị, mà bất cứ phe cánh nào trong đảng Việt gian, cũng cố giành cho bằng được. Thế nên, đại diện của một phe trong đảng mafia cộng sản (như một tờ báo ở Canađa đã xác định mới đây trên web) ở hải ngoại, đã lững lờ với bài bình luận (kêu gọi thì đúng hơn) ngắn, gián tiếp cổ động người tị nạn ủng hộ bọn Phan văn Khải.

Đòn phép này cũng là cách mở đường cho những tay sai, cò mồi dùng làm lý luận để bôi son, tô hồng ngụy quyền Ba-đình; thực thi nghị quyết 36 về hòa giải hòa hợp ở hải ngoại trên con đường dài. Thế nên, báo chí đảng trong nước đã làm màn trình diễn cò mồi… bắn lời ỡm ờ của Khải trên tờ Tuổi trẻ rằng: “Khải không phân biệt đối xử (với người tị nạn) vì những quan điểm chính trị trong qua khứ”. (Nhưng sợ, nên không dám đề cập đến những quan điểm chính trị hiện nay).

Nhưng, Việt gian Phan văn Khải, đã tự ị vào mồm trong cuộc họp báo quốc tế đầu tiên khi đến Seattle, có báo chí “ngụy” phỏng vấn. Vì ngủ mơ tưởng rằng Seattle là Hà-nội, Khải, với thái độ trịch thượng mất tính chất ngoại giao; quên cả những lời lẽ tuyên truyền ngọt như mía lùi trong nghị quyết 36… nên đã hách dịch ra lệnh cho công an cận vệ đuổi cổ các nhà truyền thông “ngụy” ra khỏi cuộc họp báo. Đây là hành động, không muốn nói là ngu đần nhất của bọn chóp bu cộng sản, mà nó mang dấu hiệu: nghĩa trang lịch sử bắt đầu mở cửa để chờ đón “tên phu đòn cộng sản Việt Nam” đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Nga đỏ đã lùi vào bóng tối, đảng Việt gian công sản đang bối rối vì đứng giữa mẹ ghẻ Tàu cộng và “đế quốc sừng sỏ Mỹ” (nhưng có núi đô-la)… thì khó thể trụ được, nên cần thêm một chân thứ ba để thay thế cái mất là Nga đỏ (tạm thời mất), giúp chúng đứng vững để tiếp tục thống trị Việt Nam. Ai đảm nhận vai trò thứ ba này?

Nông đức Mạnh, tổng bí thư đảng Việt gian cộng sản, đến Pháp, là vấn đề đu giây với nhiều tính toán. Bởi vì, ai cũng biết Pháp là nước trong khối thế giới tự do nhưng chống Mỹ quyết liệt; và cũng là một trung tâm quyền lực về chính trị, khoa học, kỹ thuật v.v… Pháp là cái kiềng thứ ba có giá trị trong vai trò thầy tuồng và sẽ là đối tượng cản trở Mỹ có hiệu quả hơn Tàu cộng(?), tức là thêm một cường quốc đóng vai thần hộ mạng cho chúng, nói chung; nói riêng là phe nhóm đang cầm quyền. Đây là thế lực thứ ba mà nó có sức mạnh tác động khiến cả ba ông thầy phải canh me nhau, tức là ông nào muốn bảo vệ quyền lợi của mình, là phải bảo vệ quyền thống trị Việt Nam của đảng Việt gian cộng sản. Nông đức Manh được J. Chirac mời qua Paris.

Là người Việt Nam, hầu hết ai cũng biết thực dân Pháp luôn coi cựu thuộc địa Việt Nam là phần quyền lợi của Pháp, thì đây là cơ hội bằng vàng mở đường cho Pháp trở lại Đông-dương; hoặc, ít ra, đặt được nền móng ảnh hưởng ở Việt Nam. Đảng Việt gian cộng sản đã thực hiện điều này cho Pháp, nên xin đừng quên “cái lợi” này là cho Pháp và sự thống trị Việt Nam của bè lũ Việt gian Ba-đình.

Khoảng sáu mươi năm trước đây, bố của Nông đức Mạnh là Hồ chí Minh đã mời Pháp trở lại Việt Nam qua hiệp ước Đà-lạt ngày 6/3/1946. Để rồi từ đó, chiến tranh máu lửa, tang tóc phủ khắp non sông cho mưu đồ của tên Việt gian này.

Ngày nay, đứa con hoang của Hồ chí Minh, Nông đức Mạnh, tổng bí thư đảng Việt gian cộng sản, qua Pháp… phải nằm trong lịch trình thực hiện lại đường lối của Hồ ngày trước. Chắc chắn, một yêu cầu về sự hiện diện của Pháp trên đất nước Việt Nam để yểm trợ ngụy quyền Ba-đình cho việc đu dây là công việc tất nhiên.

Phan văn Khải, thủ tướng ngụy quyền Ba-đình, “qui mã” là đề tài đã được bình luận sôi nổi ở hải ngoại, cũng như xuống đường để “đón” tên Việt gian này ở Hoa-thịnh-đốn và những nơi khác trên nước Mỹ.

Dù phải ôm hôn kẻ thù miễn là có lợi (cho đảng) cũng ôm hôn.

Phương châm này là đường lối ngoại giao núp bóng ngoại bang để tồn tại từ khi cái đảng Việt gian này ra đời.

Phan văn Khải “qui mã” là để tìm cách dựa vào sức mạnh của kẻ “cựu thù”, thì cũng như Hồ đã từng thực hiện trước đây giữa Tàu và Nga đỏ, để lãnh súng đạn tàn phá đất nước, môi sinh và con người Việt Nam. Nhưng, đu dây ngày nay là bảo vệ những gì mà chúng đã cướp được của nhân dân Việt Nam.

Cuộc đu dây của Hồ chỉ xảy ra giữa hai quan thầy Nga và Tàu cộng. Nhưng, nếu lưu ý và so với cuộc đu dây hiện nay thì sẽ thấy có nhiều khác biệt. Vì, cuộc đu dây ngày trước là do Hồ dàn cảnh và chỉ đạo nên, khi thì Hồ cho bọn theo Tàu bóp cổ bọn theo Nga, và đối lại… để đạt được những nhu cầu cần thiết về viện trợ cho việc xâm lược miền Nam Việt Nam, mở rộng thuộc địa cho đế quốc đỏ Liên-xô.

Cuộc đu dây ngày nay của ngụy quyền Ba-đình không còn giống như môi trường của Hồ cả thời gian lẫn không gian với mục đích tìm viện trợ vũ khí mà, ngoài những ý kiến đã trình bày ở phần trên, nó còn nằm trong kế hoạch phản công để dập tắt cuộc đấu tranh của người tị nạn cộng sản.

Việc du hành hải ngoại của Khải hay những tên chóp bu Việt gian khác, đều nhằm vào mục đích: tìm cách mở rộng vòng đai cho vùng đất nhất định của chúng là cái gọi “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, mà cộng đồng người tị nạn cộng sản là vùng đất màu mỡ để trồng cây “xã hội chủ nghĩa”, là nơi mở rộng cho vùng đất eo hẹp của chúng.

Tuy nhiên, xem ra, trồng cây “xã hội chủ nghĩa” trên phần đất tự do của người tị nạn ở hải ngoại thật khó khăn – thành công đâu chưa thấy, mà còn bị phản hồi nguy hiểm.

Đảng Việt gian cộng sản dùng chiến thuật dương đông kích tây che mắt mọi người ở hải ngoại, làm mọi người và mọi cơ quan truyền thông đặt trọng tâm vào tên Việt gian Phan văn Khải, nên đã quên Trần đức Lương(?).

Là chủ tịch Nhà nước ngụy quyền Ba-đình, kiêm Bí thư đảng ủy Công an trung ương của đảng Việt gian cộng sản, Trần đức Lương, qua chầu Tàu… trong không khí thật im lìm nên không có ai đả động và tìm hiểu nguyên nhân.

Là người cầm đầu bộ máy trực tiếp đàn áp, bỏ tù và cướp tất cả tài sản của nhân dân Việt Nam; đàn áp, bỏ tù những tiếng nói khác chính kiến; đàn áp, tù đày để biến tôn giáo chính thống của dân tộc Việt Nam thành tôn giáo quốc doanh… Thưa quí bạn đọc, Trần đức Lương qua chầu Tàu… người viết bài tin rằng quí vị cũng thừa hiểu là Tàu cộng đang cầm cái chịch nào ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đây là chuyến đi làm mọi người phải đặt câu hỏi: Lương đã nhượng bộ và ký kết những gì với Tàu cộng?

Điều này đáng quan tâm… vì, kinh nghiệm quá khứ đã chứng minh những cái âm thầm xảy ra giữa đảng Việt gian cộng sản và Tàu cộng, đã mang lại những hậu quả tai hại cho đất nước, khó thể đo lường được, và chỉ khi nào nó phải tự bật mí thì lúc đó quá trễ. Thí dụ: việc nhượng đất, dâng biển cho Tàu cộng mới đây không lâu.

Và, nếu ai thực sự lo lắng cùng muốn biết nguyên nhân chuyến du hành qua Tàu cộng của Trần đức Lương, xin đề nghị: hỏi tiến sĩ Nguyễn thanh Giang (nhà “đấu tranh dân chủ” nổi tiếng, do truyền thông hải ngoại phong tặng), người than phiền là tốn tiền mua sách, báo để… đọc; thường hay khoe khoang: “Anh Trần đức Lương rất biết tôi” (dĩ nhiên là Giang cũng rất biết “anh” Trần đức Lương của Giang), thì sẽ biết tại vì sao mà Trần đức Lương đã đi chầu Tàu của “bác mao xếnh xáng” thay cho Nông đức Mạnh!

Và, đất nước Việt Nam đang bị bọn Việt gian cộng sản xé ra từng mảnh để làm món hàng trao đổi với ngoại bang. Việt Nam trở thành bãi chiến trường của ngoại bang.

Ba tên chóp bu Việt gian cộng sản xuất ngoại, xét cho cùng thì sẽ thấy đó chỉ là sự chuẩn bị sức mạnh cho phe nhóm, trước khi cuộc đấu đá xảy ra vào cái gọi là đại hội “đảng” sắp tới, mà quyền lợi của dân tộc và đất nước Việt Nam bị chúng dùng như những đồng tiền trong các sòng bạc casino để chung qua, chung lại trong canh bạc tranh giành quyền lực.

Thực tế hơn, đối với đảng Việt gian cộng sản thì việc nào có lợi cho dân, cho nước… chúng không bao giờ làm; chúng chỉ làm những gì có lợi cho việc duy trì quyền hành, quyền lợi cho đảng, cho phe nhóm của chúng mà thôi. Bản chất Việt gian là như vậy!

Tóm lại, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã khiến đảng Việt gian cộng sản thành bầy cá co rút vào cái ao nhỏ, mà nước sẽ bị cạn vào một ngày nào đó vì sức nóng của mặt trời… Sự bung ra hải ngoại của những chóp bu Việt gian Ba-đình, chỉ là những con cá đi tìm giòng sông lớn hơn cho chính chúng…

Không biết có ai trong tập thể người tị nạn cộng sản, nhất là giới trí thức hàng hai, đã chuẩn bị tiếp tay tìm giòng sông lớn cho những con cá Việt gian cộng sản sắp bị mắc cạn trong cái ao nhỏ Việt Nam này hay chưa?



Ngày 23/06/2005

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Khi tui chết


lhtc
(*) Kinh Tình Yêu




Khi tui chết, đừng mang tui ra biển
đời lưu vong sao còn để cá mập cười
mở ngoặc thêm, tui cũng chẳng biết bơi
chìm đáy biển, sao lội về khung trời cũ !

Khi tui chết cũng đừng chôn tui dưới đất
kẻo bọ sâu sẽ bắt chước làm người
đời tả tơi còn để chúng rúc ròi
sẽ tơi tả cả phần hồn lẫn xác
(và như thế, khó lòng mà ... siêu thoát)

Khi tui chết cũng đừng ai than khóc
bởi nhân gian đang hiếm những nụ cười
hãy tiễn đưa tui với nét mặt rất tươi
mừng kẻ gian ác hết còn châm hay chọc

Khi tui chết cũng đừng vòng hoa phúng điếu
bởi trong hoa xinh đã hò hẹn những phai tàn
đời của tui, hoa héo đã nhận khan
thì một chút hoa tươi cuối mùa, càng thêm tủi

Khi tui chết cũng đừng đọc lời ai điếu
đừng ê a kinh kệ độ người
cả đời tui chuyên niệm một kinh thôi (*)
phút nhắm mắt vẫn chưa thấy thiên đàng tình ái

Khi tui chết cũng đừng áo đen khăn trắng
đời vẫn vui khi mất có một con người
và đánh cá, sau lúc hạ màn, tuồng vãn hát
người vẫn vui hớn hở mộng yêu đời !

Khi tui chết cũng đừng trầm hương nhang khói
hương đời sau i hệt của đời xưa
tỉnh thức giấc là kê vàng mộng ảo
là với tay chạm vỡ bóng bọt bèo !

Khi tui chết, túm lại cứ đàn ca hát sướng,
hát cho tui những bản nhạc rất tình
để tui yên tâm mình cũng có nghe kinh
hồn lia xác, tin dương gian là cõi tạm
(và bên kia, ta gặp lại rất nhiều bè bạn,
sẽ rung đùi tán nhảm mấy chai say
lại làm thơ gởi gió với ngàn mây,
biết đâu sẽ chiêu hồn người lãng mạn)

Khi tui chết tui sẽ hổng lên trời vội
nấn ná loanh quanh xem thế thái nhân tình
ngó thằng tui, mặt bình thản thong dong
mà tim đã ngập ngừng, muốn một lần đập lại

Khi tui chết, nếu có điều chi ao ước
thì một điều: xin được mang theo
những tình thư xưa giấy cũ đã ngả màu
sợ để lại, e chốn nhân gian hổng ai gìn giữ

Nếu có cho tui xin thêm điều chi nữa
tui chỉ xin còn tri kỷ chốn hồng trần
bước dịu dàng, bước khẽ đến thiệt gần
nắm tay xiết, mừng tui đi mạnh giỏi !


lhtc
(*) Kinh Tình Yêu

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

linhgia wrote:Khi tui chết

lhtc
(*) Kinh Tình Yêu


Khi tui chết, đừng mang tui ra biển
đời lưu vong sao còn để cá mập cười
mở ngoặc thêm, tui cũng chẳng biết bơi
chìm đáy biển, sao lội về khung trời cũ !

lhtc
(*) Kinh Tình Yêu
Xin kính chào sư phụ (hì hì hì)
CNN

DaHuong
Posts: 124
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:04 am

Post by DaHuong »

linhgia wrote:Khi tui chết


lhtc
(*) Kinh Tình Yêu






Khi tui chết, nếu có điều chi ao ước
thì một điều: xin được mang theo
những tình thư xưa giấy cũ đã ngả màu
sợ để lại, e chốn nhân gian hổng ai gìn giữ

Nếu có cho tui xin thêm điều chi nữa
tui chỉ xin còn tri kỷ chốn hồng trần
bước dịu dàng, bước khẽ đến thiệt gần
nắm tay xiết, mừng tui đi mạnh giỏi !


lhtc
(*) Kinh Tình Yêu



Cám ơn Lệnh Hồ Đại Huynh !!!! Sẽ viết thêm điều này trong di chúc của riêng mình !!! :) :) :) :)





:)

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

30 Năm, Nỗi Đau Chưa Thấm



Trần Trung Đạo





Danh từ Bức Tường Khóc (Wailing Wall), di tích lịch sử của đền thờ đạo Do Thái ở phía Tây của thành phố Jerusalem, không phải ra đời sau thảm họa Holocaust hay từ ngày tái lập quốc gia Do Thái năm 1948 mà đã có từ hơn ngàn năm trước. Trong thời gian bị đế quốc Roma chiếm đóng, người Do Thái phải hối lộ cho binh lính Roma để được đến cầu nguyện dưới chân bức tường. Trong hai ngàn năm lưu dân, người Do Thái phải vượt qua bao nhiêu gian khổ để được đặt chân và cầu nguyện trên thánh địa của dân tộc họ. Nước mắt của người dân Do Thái nhỏ xuống bờ tường suốt bao nhiêu thế kỷ, đã thấm sâu, không chỉ vào bức tường mà cả trong thịt trong xương và trở thành một sắc thái văn hóa riêng của dân tộc Do Thái. Họ ôm nỗi đau đi khắp góc bể chân trời. Người Do Thái đối diện với nỗi đau như đối diện với chính mình và sống với nỗi đau như một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của họ. Nỗi đau lớn dần và trưởng thành theo thời gian, cuối cùng đã giúp họ trở về với vùng Đất Hứa.


Hẳn nhiên không thể so sánh nỗi đau và sự chiu đựng giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam; đúng ra, chẳng thể so sánh nỗi đau nào với nỗi đau nào. Nhưng trong quan điểm chủ quan của tôi, nỗi đau của dân tộc Việt Nam cũng sâu sắc, trầm trọng và vô cùng đau nhức. Trên mỗi bước chân chúng ta đi trên những nẻo đường Việt Nam, từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau, như vẫn còn nghe vọng lại tiếng kêu thương của bao nhiêu người đã ngã xuống. Màu đất đỏ miền Đông không những chỉ là màu đất mà còn được nhuộm bằng mồ hôi và máu của những người phu đồn điền đã tưới lên mỗi gốc cao su ở Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Sông Bé.


Tháng Chạp năm 1944, trong lúc bầy ngựa chiến của phát-xít Nhật vẫn đầy đủ lúa thóc để ăn, những nhà hàng sang trọng dành cho những kẻ đặc quyền trong xã hội vẫn mở cửa, gần hai triệu người Việt, đa số từ miền Bắc, đã chết đói trong nạn đói năm Ất Dậu. Dân số Việt Nam trong năm 1945 chưa đến 20 triệu người nhưng chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng Chạp năm 1944 đến tháng Năm 1945, 10 phần trăm dân Việt đã chết đói. Nếu tính theo tỉ lệ của số tử vong trên tổng số dân, nạn đói Ất Dậu phải là một trong những nạn đói lớn nhất trong lịch sử loài người, không thua gì nạn đói Bengal 1943. Nhiều làng chết nhanh đến nỗi không kịp chôn, nhiều người chết không có một tấm ván làm hòm, chết không có một manh chiếu quấn quanh người. Tôi nghe bà con kể lại, một người cha phải đào một chiếc hố sâu và ném xuống đáy hố một đoạn mía thối để cho hai đứa con nhỏ nhảy xuống giành nhau, ông lấp hố, rồi treo cổ chết trên miệng hố. Dù có thật hay không, câu chuyện đã phản ảnh một khía cạnh đau thương của cuộc sống và nói lên ý nghĩa của sự chịu đựng của người Việt Nam.


Hãy tạm gác qua một bên những chính nghĩa, phi nghĩa, bản chất, thực chất, ủy nhiệm, ý thức hệ, xâm lăng, tự vệ, hay lý do nào khác của 21 năm chiến tranh từ 1954 đến 1975, số lượng súng, bom, đạn, xe tăng, hóa chất mà ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ đã ném, đã rải, đã cày xéo lên trên một mảnh đất có diện tích 332 ngàn cây số vuông, chỉ bằng với diện tích tiểu bang New Mexico của Mỹ, đã quá lớn so với bất cứ một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử nhân loại. Theo tài liệu của Viện Lịch sử Quân sự Hà Nội, đáp ứng lời yêu cầu của ông Hồ Chí Minh trong cuộc thăm viếng Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ từ ngày 22 tháng 6 đến 22 tháng 7 năm 1955, các quốc gia đó đã bắt đầu gởi súng đạn ồ ạt đến miền Bắc Việt Nam. Tổng số viện trợ quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp cho Hà Nội là 2 triệu 362 ngàn 581 tấn, trong đó bao gồm một danh sách dài của các loại vũ khí, từ 3 triệu 600 ngàn khẩu súng cá nhân cho đến 458 máy bay chiến đấu và hàng vạn đại pháo, tên lửa nhiều loại. Về phía Mỹ, trong cao điểm năm 1969, tại miền Nam đã có hơn nửa triệu quân với tất cả quân trang, quân dụng và vũ khí cần thiết. Trong suốt thời gian tham chiến, người Mỹ đã chi dụng 623 tỉ Mỹ Kim theo thời giá hiện nay cho cuộc chiến Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là chiến tranh dài nhất mà Mỹ đã tham dự trong lịch sử của họ và Mỹ đã ném xuống Việt Nam hơn 7 triệu tấn bom, gấp 3 lần rưỡi tổng số bom Mỹ đã ném xuống khắp thế giới suốt thế chiến thứ hai.


Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam, nơi đã từng diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt. Phần lớn các ông anh họ của tôi, ra đi theo bên này hay bên kia, đều không trở lại. Những ngày còn bé, tôi thường đứng xem những chuyến trực thăng tải thương hạ cánh trong sân trường cấp một của tôi. Trong số những người chết trên đường đến bệnh xá, có người bên này và cũng có cả người ở phía bên kia. Họ có thể khác nhau khi còn sống vì khẩu súng họ mang, chiếc áo họ mặc, chiếc mũ họ đội, nhưng lại rất giống nhau khi đã chết, vẫn mái tóc đen, vẫn màu da vàng sạm nắng, và ở một nơi nào đó trên đất nước mình, những người mẹ Việt Nam vẫn ngày đêm mong ngày họ trở về trong căn nhà tranh, bên ngọn đèn dầu hiu hắt. Cánh cửa nhà mẹ cũng như cánh cửa tâm hồn mẹ vẫn mở, vẫn đợi chờ và đợi chờ.



Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ
Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ
Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống.
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to nhỏ khác nhau.
Nắng mưa lọt vào sau
Xuyên
Xói
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nói, cũng chỉ dài bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, những hạt mưa nếu đem xếp lại, có thể cao hơn một trái núi.
Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,
Vì tuổi mẹ sáu bảy lần hơn,
Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn...

(“Ngày hòa bình đầu tiên”, Phùng Khắc Bắc)



Cách quê tôi không xa, có một bà mẹ, cụ Nguyễn Thị Thứ, được phong danh hiệu "Bà Mẹ anh hùng" vì có đến 9 người con trai là liệt sĩ. Ngôn ngữ Việt Nam dù phong phú bao nhiêu cũng chẳng thể nào tả được nỗi đau trong lòng cụ khi nửa đêm thức dậy nhìn lên bàn thờ dựng 9 tấm ảnh của những đứa con trai mà cụ đã từng mang nặng đẻ đau. Tại ai? Tây? Mỹ? Quân đội miền Nam? Đảng Cộng sản? Hay tại những đứa con (chắc chắn trong đó có một số người bất hiếu) của cụ? Nhưng dù tại ai thì họ cũng đã ra đi và chỉ có nỗi đau là ở lại. Mỗi khi đọc tin về cụ tôi lại nghĩ đến nỗi đau, không phải chỉ vì cụ có 9 người con chết, mà đau hơn khi mỗi ngày, mỗi tháng trong phần đời còn lại, như một "bà mẹ anh hùng" cụ phải hãnh diện, phải tiếp tục cười tươi trên sự bất hạnh và bạc phước của chính mình.


Ngày 4 tháng 4 năm 1995, theo hãng tin AP, chính phủ Việt Nam công bố con số tử vong và thương tích do hậu quả của cuộc chiến 21 năm là 5 triệu người, gồm hai triệu dân miền Bắc, hai triệu dân miền Nam và một triệu một trăm ngàn binh sĩ. Bản tin cũng giải thích lý do con số được công bố cao hơn những lần công bố khác trong thời chiến bởi vì nhà nước Việt Nam không muốn làm nao núng tinh thần dân chúng. Con số 5 triệu chỉ là con số ước lượng chủ quan và có thể hơi quá cao. Nhưng dù chỉ đúng một nửa thôi, cũng đã quá lớn so với một nước nhỏ về dân số và hẹp về diện tích như Việt Nam. Nếu so sánh với mức độ dân số Việt Nam trung bình khoảng 40 triệu người trong thời kỳ 1954 - 1975 và chấp nhận lời công bố ngày 4 tháng 4 năm 1995, 13 phần trăm dân số đã chết trong cuộc chiến. Tỉ lệ đó tương đương với 28 triệu dân Mỹ, 27 triệu dân Liên Xô và 107 triệu dân Trung Quốc vào thời điểm 1975.


Sau 1975, số lượng người Việt đã bỏ xác trên biển Đông, trong tay hải tặc suốt 22 năm từ 1975 đến 1997 khi các trại tỵ nạn chính thức đóng cửa, lần nữa, cũng chẳng thể nào thống kê được. Những trại tỵ nạn Camp Pendleton, Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang,… sau những chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão trong đói khát, lo âu. Bà mẹ quỳ lạy những tên hải tặc để xin tha cho đứa con gái chỉ mười lăm tuổi ốm o bịnh hoạn của bà. Nước mắt và những lời van xin của mẹ không lay động tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Tiếng niệm Phật, lời cầu kinh không ai nghe. Không có Chúa và không có Phật, ở đó, trên bãi san hô của đảo Koh Kra, phía nam vịnh Thái Lan, chỉ có những thân thể trần truồng, máu me nhầy nhụa, chỉ có tiếng rên của những con chim nhỏ Việt Nam bất hạnh và giọng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Chúng ta có thể từng nghe kể lại những chuyến vượt biển hãi hùng, những cái chết thương tâm, tuy nhiên những cảnh hãi hùng và thương tâm nhiều lần hơn như thế sẽ không bao giờ nghe được, đơn giản vì chẳng còn ai để kể.


Nỗi đau Việt Nam quả thật vô cùng to lớn.


Vài năm sau ngày định cư ở Mỹ, tôi quen một người Việt. Anh lớn hơn tôi khoảng mười tuổi, rất nhiệt tình và hăng say tranh đấu. Thỉnh thoảng trên đường đi học về tôi ghé thăm anh. Qua Mỹ từ 1975, anh có đời sống ổn định và luôn muốn làm một điều gì đó cho quê hương. Một lần, khi tôi ghé thăm, anh trao tôi một tập tài liệu của một tổ chức đấu tranh chủ trương lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam bằng con đường võ lực và dặn tôi về đọc kỹ trước khi trả lời anh. Tuần sau, không nghe trả lời, anh điện thoại mời tham gia tổ chức. Tôi từ chối. Sau nhiều lần bị vặn hỏi lý do, tôi đành phải nói thật với anh, tuy ngắn gọn, phũ phàng nhưng diễn tả đầy đủ nhất suy nghĩ của tôi: “Thưa thiệt anh, với tôi, chiến tranh Việt Nam bằng súng đạn đã chấm dứt rồi.” Tôi nghe phía bên kia đầu dây tiếng gác máy nặng nề. Tôi biết anh cảm thấy bị xúc phạm khi nghe câu trả lời tắt ngang như thế, nhưng biết nói sao hơn, và dù muốn giải thích, tôi cũng chẳng biết nên bắt đầu từ đâu cho phải.


Tôi muốn nói với anh, cũng như anh, tôi mong đất nước mình được thật sự dân chủ, tự do, no ấm, và cũng như anh, tôi mơ một ngày trở về không phải rụt rè bước qua cổng hải quan, không phải đối diện với những cặp mắt soi mói, không phải nghe lương tâm mình cắn rứt khi nghĩ đến những người còn đang ở trong tù, những người đang chờ thanh lọc ở trại tỵ nạn, những đứa em đang bán mình ở Thái, ở Miên. Tuy nhiên, thành thật để nói, cuộc chiến như các chú bác, anh chị đã tham dự trước 1975, cuộc chiến bằng súng đạn và đồng Đô-la của Mỹ, đã chấm dứt rồi.


Chiến tranh Việt Nam là mối ám ảnh hãi hùng trong ý thức của những nhà lãnh đạo cũng như người dân nước Mỹ, không phải chỉ trong vài thập niên vừa qua mà cả trong nhiều năm tới. Việt Nam có thể vẫn là điểm quan trọng trong chính sách đối ngoại và là mối quan tâm cho quyền lợi của Mỹ trong vùng Thái Bình Dương, nhưng sẽ không bao giờ quan trọng đến mức họ phải mang Hạm đội Thứ Bảy đến để bảo vệ hải phận Việt Nam hay chuẩn chi nhiều tỉ Mỹ kim để thay đổi chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam hiện nay. Đừng quên Hạm đội Bảy cũng có mặt dày đặc trong vùng biển Đông trong lúc hải quân Trung Quốc an nhiên tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa. Lý tưởng tự do dân chủ không phải là món quà nhân đạo mà bao giờ cũng gắn liền với quyền lợi của đất nước họ. Lịch sử bang giao quốc tế đã nhiều lần chứng minh, các chính quyền Mỹ có khuynh hướng thích bảo trợ, bao che, nuôi dưỡng những kẻ cầm quyền độc tài nhưng biết nghe lời hơn là các nhà lãnh đạo yêu nước nhưng khó bảo. Trường hợp Pinochet của Chile, Noriega của Panama, Somoza của Nicaragua, Marcos của Phi Luật Tân là những thí dụ điển hình. Tiếng kêu trầm thống của nhân dân Tây Tạng từ nửa thế kỷ qua, lời kêu gọi từ trong tù của bà Aung San Suu Kyi vẫn vang vọng mỗi ngày trên đài truyền hình, nhưng ngoại trừ đôi lời an ủi và dăm ba lần tiếp xúc không chính thức, không một áp lực quốc tế nào cứng rắn đủ để buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán hay buộc tập đoàn quân phiệt Miến Điện phải trả quyền quyết định đất nước lại cho nhân dân Miến. Tại sao? Đơn giản bởi vì hai quốc gia vừa nêu đều nghèo khó, không giữ vị trí quân sự có tính cách chiến lược và cũng không có một giọt dầu để thu hút các đại công ty tư bản.


Tôi muốn nói với anh, nhân dân Việt Nam đang đối diện với một cuộc chiến tranh mới, một thách thức mới, khó khăn và tế nhị hơn nhiều so với cuộc chiến bằng súng đạn trước đây. Cuộc chiến ngày nay không giới hạn bởi lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định; kẻ thù của nhân dân Việt Nam không phải ở bên này hay bên kia sông Bến Hải, mà ở bất cứ nơi nào và nhiều khi còn ở ngay trong chính bản thân mình. Cuộc chiến mới là chiến tranh giữa trí tuệ và tăm tối, giữa lòng bao dung dân tộc và tính bảo thủ hẹp hòi, giữa tình thương và thù hận, giữa khai phóng và lạc hậu, giữa nghèo nàn và thịnh vượng, giữa dân chủ và độc tài, giữa các giá trị truyền thống dân tộc nhân bản và ý thức hệ ngoại lai vong bản nô dịch.


Tôi hình dung một con người Việt Nam trong thời đại mới, ngoài đầu mình, tay chân và các bộ phận cần thiết khác, còn có thêm hai cái cánh. Nói rõ hơn, Con Người Việt Nam Mới là những người biết bay. Để làm gì? Xin thưa, để bay qua các vực thẳm của hoài nghi, thù hận, chia rẽ trong lòng dân tộc, cũng như bay qua những ao tù nước đọng của tính ganh tị, tự ái và mặc cảm cá nhân.


Mỗi chúng ta tuy có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và có thể mang trên thân thể những thương tích khác nhau nhưng đất nước chỉ có một tương lai. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau giống cái đau của cá nhân mình hay bắt cả dân tộc phải chịu đựng, phải hy sinh từ đời này sang đời khác cho quyền lợi của đảng phái mình. Sinh mệnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số người, dù họ là ai, mà phải do chính nhân dân Việt Nam quyết định.


Không giống như trường hợp Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Bulgaria, Albania, v.v.., nơi đó các đảng cộng sản thực chất chỉ là những dây chùm gởi sống nhờ vào sức mạnh của đồng Rup, xe tăng và hỏa tiễn Liên Xô, khi cây đại thụ Liên Xô thối ruột thì cả chùm cũng khô héo theo. Đảng Cộng sản Việt Nam thì khác, họ bám sâu vào cây đại thụ Việt Nam, sinh sôi nẩy nở bằng nhựa nguyên và nhựa luyện Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình đầy ngộ nhận lịch sử và họ tồn tại đến ngày nay, một phần cũng nhờ vào những ngộ nhận đó. Với không ít tuổi trẻ lớn lên trong nền giáo dục một chiều và phản khoa học hiện nay, sự có mặt của Đảng Cộng sản trong đời sống chính trị và sinh họat xã hội Việt Nam tự nhiên chẳng khác gì bốn mùa xuân hạ thu đông. Nói như Mác, tự do là sự thừa nhận các quy luật tất yếu, và sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được giải thích như là tất yếu. Tư duy lạc hậu đó cũng tồn tại trong một số không ít những người được gọi là trí thức. Muốn tháo gỡ ra, muốn tách hệ ý thức lạc hậu đó ra mà không phải làm ung thối đi nguồn nhựa sống hay làm ngã cây cổ thụ dân tộc không phải là một chuyện dễ dàng.


Chúng ta thường hỏi nhau, tại sao sau 30 năm Việt Nam vẫn chưa có một Aung San Suu Kyi, chưa tạo được một phong trào đối kháng có tổ chức, có hệ thống, có cơ sở hoạt động vững vàng? Việt Nam chưa có một Aung San Suu Kyi không phải vì Việt Nam thiếu những nhà dân chủ can đảm, thiếu những phụ nữ đảm lược, sẵn sàng ở tù, sẵn sàng hy sinh, mà bởi vì các nhà dân chủ Việt Nam chưa bao giờ có được cơ hội hoạt động công khai hay bán công khai như bà Aung San Suu Kyi. Đảng đối lập Liên minh Dân tộc Dân chủ (National League for Democracy) của bà Aung San Suukyi có cơ sở hạ tầng vững chắc và đã thắng 396 trong tổng số 485 ghế Quốc hội trong cuộc bầu cử dân chủ công khai được quốc tế công nhận năm 1990 trước khi bị đám quân phiệt đàn áp. Tuy nhiên, một lý do khác quan trọng hơn, tập đoàn lãnh đạo Miến Điện hiện nay dù sao cũng chỉ là một tập đoàn quân phiệt tay ngang, võ biền, chứ không phải là một chế độ độc tài toàn trị được tổ chức tinh vi, nắm trong tay không những quân đội, công an, nhà tù, sân bắn mà còn có khả năng kiểm soát từng ngôi chùa, nhà thờ, thánh thất, từng hộ khẩu, từng cân đường, cân gạo của mỗi người dân như Đảng Cộng sản Việt Nam. Đừng quên, giới lãnh đạo Việt Nam là những người "khôn nhà dại chợ", đối với Trung Quốc thì rụt rè, khép nép, thể hiện qua cách giải quyết vụ ngư dân Thanh Hóa vừa qua, nhưng trấn áp dân mình thì rất giỏi.


Khó khăn hẳn nhiên là khó khăn đó nhưng không có nghĩa chúng ta sẽ phó thác sinh mạng dân tộc cho thiểu số ăn trên ngồi trước và nắm giữ quyền lực theo kiểu cha truyền con nối. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng thời đại nào cũng có người yêu nước và người yêu nước bao giờ cũng đông hơn kẻ bán nước.


Độc giả sẽ hỏi người yêu nước như thế tìm đâu ra? Trước đây tôi đã có viết và xin nhắc lại, theo quan điểm chủ quan của riêng tôi, họ có thể ở trong nước hay tại hải ngoại; có thể đang đấu tranh trực diện với chế độ hay vận động trong âm thầm, kín đáo; có thể đã từng chịu đựng hàng chục năm trong nhà tù cộng sản và cũng có thể là những đảng viên cộng sản đã nhận ra con đường sai trái mà họ vừa đi qua; có thể là những giáo sư đại học đang giảng dạy tại các đại học quốc gia, đại học bách khoa, đại học tổng hợp Hà Nội, Huế, Sài gòn và cũng có thể là những trí thức Việt Nam mang quốc tịch Anh, Mỹ, Pháp đang sẵn lòng cứu giúp quê cha đất tổ; có thể là những nông dân lam lũ trên cánh đồng khô cháy ở Nghệ An, Hà Tĩnh và cũng có thể là những công nhân đang đổ mồ hôi trong nhà máy dệt ở khu công nghiệp Biên Hòa; có thể những thanh niên, sinh viên mang thao thức đi vào xã hội Việt Nam đầy bất công sai trái và cũng có thể là những sinh viên gốc Việt sinh ra ở hải ngoại đang mơ ước làm một điều gì tốt đẹp cho quê hương. Tâm thức Việt Nam của họ được kết tinh được bằng lòng yêu nước chân thành, đức tính kiên nhẫn, không sống ngoài mà sống trên những hiện tượng tiêu cực đang tồn tại và biết đau nỗi đau chung của dân tộc mình.


Phục hưng Việt Nam là một cuộc vận động cách mạng tư duy chứ không đơn giản là một cuộc đấu tranh chính trị đoản kỳ. Mặc dù khi các nhân tố cách mạng chín muồi và cần thiết, những người yêu nước có thể phải kết hợp thành một đảng chính trị tranh đấu trực diện và công khai thách thức quyền lãnh đạo đất nước, nhưng nếu chưa chín muồi họ sẽ hoạt động một cách thích hợp với hoàn cảnh cá nhân của họ.


Cuộc tranh đấu ngày nay không bắt đầu từ những trận đánh lớn ngoài mặt trận như trong thời chiến mà bắt đầu từ công việc mỗi chúng ta đang làm; không bắt đầu từ cấp cao xuống cấp thấp, từ trung ương đến địa phương mà bắt đầu từ những việc làm nhỏ, trong phạm vi nhỏ của mỗi người, mỗi gia đình, thôn xóm, trường học, quận huyện, thành phố và tiến dần đến phạm vi toàn xã hội. Mỗi người Việt Nam yêu nước, trong hay ngoài nước, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi của mình, chủ động tạo nên một mặt trận riêng nhưng nhằm theo đuổi mục tiêu chung là cô lập, bào mòn, tẩy chay và cuối cùng loại bỏ cơ chế chính trị độc tài, độc đảng, mở đường cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam. Con đường đó có thể dài hơn con đường từ thủ đô Washington đến Kabul hay Baghdad, nhưng sẽ là con đường của niềm tin và hy vọng, của giấc mơ Việt Nam đang trở thành hiện thực, và của mùa xuân dân tộc đang đơm hoa trong mỗi trái tim người.


Vũ khí của cuộc chiến mới này không phải là B52 hay SAM 2, không phải bằng AK47 hay M16, mà đứng dậy từ nỗi đau chung của dân tộc Việt Nam. Và nếu chúng ta chưa thắng được độc tài, áp bức, không phải vì độc tài áp bức quá mạnh mà cũng có thể trong mỗi chúng ta, nỗi đau Việt Nam vẫn chưa đủ thấm.




Trần Trung Đạo

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Sơ Kết Chuyến Đi Của Phan Văn Khải



Lê Vĩnh

Cho đến hôm thứ Tư tuần qua thì tin tức về chuyến đi của ông Phan Văn Khải mờ dần trên các hệ thống truyền thông Hoa Kỳ và quốc tế, và những gì quan trọng của chuyến công du cũng đã diễn ra. Lược lại một số diễn tiến chính trong mấy ngày vừa qua, người ta có thể có được bản sơ kết về chuyến công du này.

Trước hết, có lẽ do thói quen, một số cơ quan truyền thông đã lầm lẫn khi dùng cụm từ "trải thảm đỏ" để mô tả việc toà Bạch Ốc đón tiếp ông Phan Văn Khải. Thực ra, dù là quốc khách, nhưng đã không có 21 phát súng đại bác dàn chào, không treo cờ đỏ sao vàng, không duyệt hàng quân danh dự và cũng chẳng có thảm đỏ để đón tiếp ông Khải. Ngược lại phái đoàn của Khải đã phải ngượng ngùng, lầm lũi đi vào bằng cổng sau của toà Bạch Ốc trong sự phản đối mãnh liệt của cộng đồng người Việt. Nếu vào trang web của Toà Bạch Ốc để tìm hiểu về những nghi lễ đón tiếp quốc khách, người ta thấy chưa có vị quốc khách nào bị toà Bạch Ốc đón tiếp một cách tẻ nhạt, nếu không nói là làm bỉ mặt như vậy.

Ngay trong cuộc gặp gỡ chẳng biết ông Bush có ý định chơi khăm ông Phan Văn Khải hay không, mà phái đoàn Phan Văn Khải lại được chính Tổng Thống Bush dẫn ra ngoài để nhìn thấy tận mắt đoàn biểu tình trong vài phút. Trong tấm hình chụp cận ảnh cảnh này, người ta thấy ông Bush tươi cuời giơ tay vẫy chào những người biểu tình, trong lúc cả ngàn người đang đả đảo ông Khải. Còn ông Khải thì không còn cách nào để thoát được nghịch cảnh đó, đành phải đứng chịu trận một cách ngượng ngùng. Hẳn là lúc đó ông Khải phải khổ sở lắm. Người ta có thể hiểu được nỗi khổ này nếu nhớ lại cuộc họp báo ở Seattle hai ngày trước. Khi bị giáo sĩ Huỳnh Quốc Bình gọi ông là "người nói láo," ông đã nộ khí xung thiên, gọi đám tay chân để "tống cổ nó ra ngoài." Đến nỗi, theo bài tường thuật của báo Seattle Post, cuộc họp báo đó đã bị chị Diệu Chân, một nữ đảng viên Việt Tân biến thành cuộc họp báo tố cáo cộng sản Việt Nam. Tin tức này và khí thế của đoàn biểu tình đã trở thành tít lớn cho các bản tin của các hãng thông tấn quốc tế.

Tuy vậy, trong vài trường hợp Khải đã may mắn để không bị mất mặt nhiều hơn. Chuyện thứ nhất là nhờ ông Bush can ngăn ý định kiếm điểm rồ dại của Khải, tính ra đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam để đặt vòng hoa, vì ông Bush biết rằng Khải chắc chắn sẽ bị hàng ngàn người bao vây xỉ nhục. Chưa kể đến dư luận của người Việt nam, họ sẽ nghĩ gì khi hàng trăm ngàn người Việt Nam cùng sát cánh với quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến đã nằm xuống như 58 ngàn tử sĩ Mỹ, trong đó có những người đã hy sinh để bảo vệ hải biên, hải đảo của tổ quốc, nhưng Khải và chính quyền của ông ta lại đã san bằng mồ mả của họ? Chuyện thứ hai ông Bush đỡ cho Khải là đã không có cuộc họp báo tại vườn hồng của toà Bạch Ốc, theo như thông lệ mỗi khi có cuộc gặp gỡ của tổng thống Mỹ và người cầm đầu một chính phủ khác. Thực vậy, nếu có cuộc họp báo thì Khải chỉ còn cách độn thổ trước những chất vấn về tình trạng chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Về vấn đề này, dù ông Bush bị chỉ trích là quá nhẹ nhàng đối với ông Khải, nhưng khi nhắc lại một thỏa ước về tôn giáo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hồi tháng 5 vừa qua, mà ông Bush cho rằng sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho người Việt nam tự do thờ phượng, rõ ràng là ông Bush đã khẳng định tôn giáo ở Việt Nam bị đàn áp.

Trong buổi tiệc sau đó, bên cạnh những tin về việc ông Khải bị xỉ nhục, thì ngay việc tổ chức bữa ăn tối này cũng là sự bỉ mặt cho Khải. Nhớ lại năm 1973, khi tổng thống Việt nam Cộng hoà sang thăm viếng Hoa Kỳ, dù lúc đó Mỹ đã âm thầm bỏ rơi miền Nam, nhưng bữa tiệc khoản đãi ông Thiệu cũng do Phó Tổng Thống Spiro Agnew chủ tọa. Nay, với Khải thì chỉ có 1 thượng nghị sĩ.

Sau toà Bạch Ốc, hôm thứ tư Phan Văn Khải thăm các nhà lãnh đạo quốc hội Hoa Kỳ. Cùng lúc với việc Hạ Viện Hoa Kỳ đưa ra Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam, đòi hỏi VN phải có tự do chính trị và tôn giáo. Dự luật này cũng kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ phải hạn chế viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam trừ khi những điều khoản nhân quyền cụ thể được đáp ứng. Tại New York và Boston sau đó, việc tiếp đón Khải cũng không khá hơn. Trong bữa ăn trưa tại Boaston, các nghị viên thành phố đều tẩy chay lời mời, khiến bữa tiệc của Khải được mô tả là "vắng như chùa bà đanh", trong khi hơn 600 đồng bào biểu tình ở bên ngoài. Nếu dùng những từ ngữ ngắn gọn để diễn tả cho chuyến đi của Phan Văn Khải, người ta chỉ cần nói lên 2 chữ: thê thảm!



Lính già sưu-tầm

Post Reply