Quán Hẹn Hò

Thơ non, thơ già, thơ ghẹo, thơ thẩn, thơ thơ. Xin đọc và ôm bụng cười, hay bứt tóc gãi tai tìm nàng ... thơ...

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Vũ Hoàng Chương, ngôi bắc đẩu của thi ca Việt Nam


Image


Có một bài thơ, được truyền khầu như là chứng tích của một thời thế đảo điên. Có một thi sĩ , cả đời chỉ muốn làm thơ ca tụng tình yêu nhưng lại có những bài thơ ghi lại được những thời điểm khốc liệt của lịch sử.

Tôi nghĩ tới bài thơ “ Vịnh tranh gà lợn “ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sự. Lúc ấy , ngày tết Bính Thìn , khi Cộng Sản vừa chiếm được cả đất nước và một chính sách trả thù phân biệt được áp đặt lên toàn dân tộc. Lúc ấy, viên chức , sĩ quan của chế độ VNCH bị tù đày đến gần cả triệu người. Lúc ấy , văn nghệ sĩ bị truy bức , bắt bớ, sách vở bị tịch thu đốt bỏ. Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái :

“Sáng chưa sáng hẳn , tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Ràng vách có tai , thơ có họa
Biết lòng ai đỏ , mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi đừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh “


Những thành ngữ , tục ngữ của dân gian dưới tay nghệ sĩ đã thành đắc địa. Chữ không còn là một nghĩa nữa mà thành nhiều nghĩa , và, sự thâm trầm sâu lắng trong ngữ nghĩa làm bài thơ lột tả được một tâm sự chung mang của cả một thế cuộc tao loạn đầy bất trắc.

Bài thơ được truyền tụng trong thời buổi ấy và cũng là nguyên nhân để những người cầm quyền Cộng Sản bắt giam tác giả. Thi sĩ bị giam tại khám Chí Hòa, sau vì đau yếu nên được thả về nhà và mấy ngày hôm sau thì từ trần , đúng vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.

Trong tù, ông viết bài thơ cuối cùng của đời mình, gửi cho người thân, như linh cảm thấy một chuyến đi đã kề sẵn. Thơ như tiếng khóc nén thầm của những dòng thơ , từ dòng cổ thi từ thuở Nguyễn Du xưa xa, của nỗi niềm “ bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” đến nỗi đau mất nước quặn thắt bây giờ:

“Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non
Một manh chiếu lỉa hồn ngây ngất
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ
Đêm về giấc ngủ lại thương con
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa
Chẳng dễ gì phai một tấm son “


Con chim trước khi chết , tiếng hót bi thương. Người thi sĩ , trước khi lìa bỏ trần gian, lời kêu ai oán. Bài thơ thất ngôn bát cú gói ghém cả một tâm tình. Quốc phá , gia vong , thân trong ngục tù, nhưng , tất cả rồi sẽ trôi qua như nước chảy dưới cầu và không bao giơ øphai nhạt tấm lòng son sắt với đời , với người, với dân tộc , với đất nước.

Nhà văn Võ Văn Ái, đã viết về trường hợp nhà thơ bị Việt cộng bắt giam như sau:

“… Và ai ngờ rằng ,một nhà thơ sẽ chết vì Thơ. Đúng ngay Phât Đản ngày 25 tháng 5 năm 1976 , khi đất nước của Nắng Vàng chuyển sang Máu Đỏ. Giữa khuôn viên trường đại học Vạn Hạnh, lần đầu tiên có sự đưa tượng Phật xuống giữa sân làm lễ. Lần ấy, lần độc nhất ấy, giữa Sài Gòn im lặng, Vũ Hoàng Chương ốm nhom trong chiếc áo the tàng, cất tiếng ngâm bài thơ Lửa Từ Bi trước đám người chung tình dự lễ. Liền sau đó Vũ Hoàng Chương bị bắt, viện đại học Vạn Hạnh bị chiếm đóng. Bài thơ bừng lửa này, Hoàng sáng tác giữa thời khốn đốn năm 1963 mà chỉ có giọng ngâm vi diệu của Hoàng Oanh mới lột tả hết. Nay từ miệng nhà thơ, bài thơ ngân lên giữa một thời cùng cực khốn đốn mới…”

Bài thơ Lửa Từ Bi, là lời của lương tâm nhân loại. Ngôn ngữ , không phải là lời kêu gọi sắt máu, đòi hỏi hy sinh. Mà , chính là cái Dũng của kẻ sĩ , của người hiểu được sự cao cả của quên mình hy sinh. Lửa , không phải là ngọn lửa thiêu đốt, của chiến tranh chết chóc. Mà , ngọn lửa ấy , là ánh sáng để soi rọi hồn người vượt thoát đêm tối . Lửa , kêu gọi yêu thương .

“ Lửa ! Lửa cháy ngất Tòa Sen
Tám chín phương nhục thể trần tâm
Hiện thành Thơ, quỳ cả xuống
Hai vầng sáng rưng rưng
Đông Tây nhòa lệ ngọc .
Chắp tay đón một Mặt trời Mới Mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên , dâng lên ..
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dày
Bước ra, ngồi nhập định , hướng về tây
Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay
Không khí vặn mình theo
Khóc òa lên nổi gió
NGƯỜI siêu thăng
Giông bão lắng từ đây
Bóng NGƯỜI vượt chín từng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỗ NGƯỜI ngồi một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi
Rồi đây, rồi mai sau , còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ! Còn Trái Tim Bồ Tát
Gội hào quang xuống tận ngục A
tỳ…”

Lửa thiêu đốt thịt da. Nhưng vẫn còn lại trái tim Bồ tát. Thơ , là tiếng nói của lương tâm tỉnh thức con người. Lửa , không phải đỏ máu hung tàn mà là Lửa của tâm linh soi sáng kiếp người .Lửa làm bừng tình cơn mê. Lửa thắp chờ bình minh sắp tới.

Nhà văn Mai Thảo trong bài viết tưởng niệm thi sĩ đã thố lộ :

“Rồi Vũ Hoàng Chương ra thoát được cái ngục mình. Cuộc phục sinh thành , đã trao cho thi sĩ một chìa khóa ngọc mở vào những ngày tháng cuối cùng, những ngày tháng sung sướng.Và Vũ Hoàng Chương đã mang con người sung sướng ấy của mình đi qua đổi đời, đi qua Cộng sản , đi vào vĩnh viễn.Thời gian ấy sống gần ông ( mấy tuần chót ở Gác Mây, mười tháng ở Gác Bút trước lúc bị bắt giữ) cho tới buổi trưa ngày 30 tháng 11 năm 1976, từ chỗ ẩn một vùng ngoại ô Chợ Lớn âm thầm trở lại phường Cây Bàng lần cuối để thắp một nén hương vĩnh biệt trước di ảnh bạn, cho tới những buổi trưa đảo nằm một mình trong một đáy rừng Mã Lai Á khuất tịch, tôi thường suy nghĩ, tìm kiếm lý giải về một cuộc vận động từ bi thảm đưa tới thăng hoa sung sướng phóng thoát của một đời người. Vũ Hoàng Chương đã có được thăng hoa ấy. Qau thái độ ông buổi sáng bị bắt. Trong bốn tháng nằm trong hầm tối. Trong năm ngày trở về Gác Bút. Bằng vào những chi tiết chị Vũ kể lại, sẽ được nói tới ở phần sau này.tâm thức tôi , thiếu hụt tầm vóc, không sao đạt tới được thăng hoa như bạn. Bởi vậy mà giải thích hiện tượng rất buồn thảm . và cũng rất cực nhọc.

Đó là ngọn lửa và trái tim Thích Quảng Đức, ngọn lửa và trái tim tươi thắm phóng thoát trần the từ một ngã tư đường Lê văn Duyệt? Những cuộc đàm đạo trong tao nhã tịch lặng với Thượng Tọa Thích Trí Thủ, một tâm thái phóng thoát khác, ở cái hiên sau xa đời của ngôi chùa Gia Định? (thời gian sau này, Già Lam tuần nào cũng cho đón thi sĩ tới chùa giữ ông cả buổi) Hay đơn giản đó chỉ là sự bắt gặp trên một mức đo tràn đầy của bản thể viên mãn với đời sống, với nghệ thuật, với thi ca, qua những biến thiên cùng ý nghĩa và chân tướng biến thiên được soi tỏ qua cái hình ảnh một người đi mãi , đã vượt khỏi đỉnh núi bấy lâu chắn lấp, thấy được từ cái hết chăn 1lấp cả biển , cả trời và cả chính mình? Hay là sự mầu nhiệm của tuổi? Sự màu nhiệm mà Nguyễn Khuyến đã thấy trong bài thơ Khóc Bạn bất hủ:” Tuổi già giọt lệ như sương
”. “

Mấy chục năm trước , thi sĩ đã làm người tiên tri. Đã thấy được những thương hải biến thiên . Đã mô tả những cuộc đời của Việt Nam trôi dạt sau cơn hồng thủy tháng tư năm 1975 . Trong tập thơ in thời tiền chiến , có bài thơ Phương Xa có những câu mà mấy chục năm sau thấy rõ rệt là tình cảnh của những người Việt liều chết vượt Biển Đông đi tìm tự do :

“Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
xô về Đông hay giạt tới phương Đoài
xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh
…. Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.. “


Tâm linh nào đã khiến thi sĩ viết lên những vần thơ như thế. Có phải , cái phút linh cầu ấy chỉ đến với những người mà tâm hồn sống lạc lõng như lạc vào một thế giới khác, của cảnh giới hoang sơ , của những nỗi bí nhiệm khó ai hiểu biết được. Cái thảm trạng mà cả triệu người vùi mình trên biển đã được mô tả một cách khá chính xác cả về tâm tư lẫn hiện trạng, có lẽ cũng khá kỳ lạ ! Cả triệu thuyền nhân sống lưu lạc khắp mặt địa cầu chắc cũng chia sẻ chung với nhà thơ nỗi niềm ấy .

Thi ca của Vũ Hoàng Chương có nhiều thời kỳ mà lúc nào ông cũng có vị trí của một vì sao Bắc Đẩu, một văn tinh sáng rực cõi trời. Từ thời tiền chiến , với Say , với Mây, đã chễm chệ trên chiếu văn chương, đã được Hoài Thanh & Hoài Chân ghi tên trong “ Thi nhân Việt nam”. Đến hai mươi năm văn học miền Nam , cũng Hoa Đăng , Rừng Phong, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau,.., là những châu ngọc của một thời viết về những tâm sự của muôn đời. Và , đến khi chết , những bài thơ tuyệt mệnh cũng là những áng gương thi ca vằng vặc.

Trong Thi Nhân Việt Nam , có những dòng về Vũ Hoàng Chương , những dòng chữ cảm nhận khá chính xác về vóc dáng thi sĩ lừng lẫy một thời:

“ Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say.người say đủ thứ : say rượu , say đàn, say ca , say tìnhđong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân xưa những thứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện , say nhẩy đầm.Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ. Vũ Hoàng Chương có cái dụng ý muốn say để làm thơ.cái dụng ý ấy không khỏi có hại. Nhưng một lần kia, bước chân vào tiệm nhảy, người bỏ quên dụng ý làm thơ ngoài cửa, và lần ấy người đã làm một bài thơ tuyệt hay.

Tôi yêu những vần thơ chếnh choáng , lảo đảo mà nhịp nhàng theo điệu kèn khiêu vũ:

……..Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay , ngả đôi chân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió…
Quả là những vần thơ say.


Cái dụng ý làm thơ Vũ Hoàng Chương cũng còn bỏ quên ít lần nữa.

Kể , cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực , say sưa mà không hẳn là trụy lạc , mặc dù từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi.nhưng trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán . Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa . Duy ở đây nó có cái vị chua chát , hằn học và bi đát riêng…”

Sau đó mấy chục năm , khi đã sang sống lưu lạc ở Hoa Kỳ, nhà văn Mai Thảo trong “Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam” đã viết:

“… Một đêm tôi ở lại với ông thât khuya, tới sát giờ giới nghiêm cộng sản. Xã hội thê lương nằm phục bốn chung quanh tường Gác Bút. Ông đưa tôi xem một lá thư Trần Dần.Bị trừng phạt nặng nề, bị treo bút vĩnh viễn, nhà thơ Trần Dần, tài thơ trác tuyệt nhất của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm , không được vào Nam, đã gửi cho ông một lá thư đầy những lời lẽ kính trọng như ông vẫn nguyên vẹn là thi bá của cả một thế hệ thi sĩ đã hai miền chia cách suốt 30 năm chiến tranh. Lá thư , tôi chỉ còn nhớ được câu này :”Thơ anh, thơ Đinh Hùng sống muôn đời với thi ca Việt Nam”. Đêm đó, cầm lá thư với nỗi kính phục của Trần Dần đối với ngôi sao Bắc đẩu miền Nam trên tay, tôi nhìn bạn ngồi thư thái êm đềm trước mặt, đã chia sẻ với thi ca một niềm sung sướng thống khoái vô tả.kính phục của Trần Dần chắc còn lớn lao hơn gấp bội. Nếu nhà thơ miền Bắc còn nhìn thấy được cõi thơ cuối đời và cái hiện tượng thăng hoa của tâm thức phóng thoát ,ở thi sĩ…”

Nhà văn Võ Phiến , với lối viết nhận định văn học khá đặc biệt cũng có những diễn tảbiểu hiện chân ndung thi sĩ:

“ Năm 1982 trên một số báo Đất Mới ở Seatle (tiểu bang Washington) tưởng niệm Vũ Hoàng Chương, bà Quỳ Hương có nhắc lại câu chuyện hồi năm 1960 tại trung tâm Bút Việt ở Sài Gòn, khi giới thiệu diễn giả laVũ Hoàng Chương nói về thi cà , Nhất Linh đã gọi Vũ thi sĩ là “ ông vua thơ”.Thi sĩ tiền chiến đã bao người xuất hiện và thành danh trên báo Ngày Nay hay từ nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh : Thế Lữ , xUÂN Diệu, huy Cận…Giữa bấy nhiêu tài danh, được Nhất Linh chọn phong vương! Vũ Hoàng Chương tiền chiến có cái thành tích đáng sợ chứ…”

Ở một đoạn khác , Võ Phiến nhận định về những bài thơ hào hùng nhập cuộc , của Hoa Đăng , Rừng Phong, của những ngày bắt đầu của chế độ quốc gia ở miền Nam , ở những kêu gọi nức lòng của lịch sử:

“Nói một bên dấn thân một bên phiêu du , như vậy không có nghĩa cho rằng Vũ Hoàng Chương thoát ra ngoài thế sự, lòng không bận đến cuộc hưng vong của quốc gia.

Ông không nuôi trong lòng cái oán thù sùng sục của kẻ nghèo đói với người giàu, ông không đứng vào hàng ngũ giai cấp này chống giai cấp nọ. Oâng không ca ngơi ánh sáng của chủ nghĩa này , không tố cáo chủ nghĩa kia.. Nhưng ông đâu có bao giờ thờ ơ đối với chuyện đất nước. Sao vàng xòe năm cánh trên năm cửa ô, ông mừng vui ngây ngất. Giặc tây tràn đến, ông khẳng khái đòi trả ta sông núi.nhà cầm quyền cộng sản thiết lập chế độ độc tài khát máu, ông phừng phừng kêu gọi Bắc Tiến. Một tôn giáo gặp khó khăn, ông ca ngợi lửa từ bi, đốt “ thơ cháy lên theo với kinh” Cuối cùng khi miền Nam mất vào tay cộng sản thì ông đi tù, chịu chết, không thay đổi thái độ.

Vũ Hoàng Chương cũng như Nhất Linh, những người quan niệm làm thơ cốt cho đẹp, viết truyện trước hết cốt cho được chuyện hay, những người chơi lan ở suối Đa-Mê, hút htuốc ở gác Mây… những người ấy không ngại cái chết vì nước non. Từ một quan niệm nghệ thuật mà suy diễn đến nhân cách, đến thái độ ở đời, thái độ chính trị của người ta, e là chuyện phiêu lưu…”

Đã có những câu thơ:

“ Mặc cho những kẻ mài gươm sắc
Ta chỉ mài riêng ngọn bút này “


Hay:

” Giờ điểm rồi đây, hởi Tuổi xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe giòng mực sôi trên giấy
Nhịp bốn ngàn thu Sử Đấu Tranh..”


Nhưng , nổi bật nhất vẫn là những bài thơ tình. Tình yêu đã lên ngôi, với đam mê như ma túy cho đời. Những cõi tình thiết tha, của thời gian không tuổi tác, của không gian vời vợi qua những biến thiên của cuộc nhân sinh. Thơ là những ám ảnh đeo đuổi suốt quãng đời, qua những mốc thời gian đánh dấu bằng kỷ niệm.

Tập thơ “ Ta đợi em từ ba mươi năm “ mà các môn sinh của ông đã in lại ở hải ngoại có lẽ là một tập thơ mà ông cho rằng có nhiều bài đắc ý nhất của mình. Trong bài mở đầu thi tập , tác giả viết:

Đã từ lâu tôi có ước nguyện gom góp lại những bài thơ “tình yêu” viết trong tuổ hoa , để in thnah tập riêng, điều đó sẽ giúp tôi sống trọn vẹn cùng muôn ngàn ảo ảnh xa xưa.

Đành rằng tình yêu không chịu ràng buộc nào, giới hạn nào- vâng , Tình Yêu vốn không tuổi!_ nhưng tôi nhiều khi cảm thấy mình đặc biệt ưa thích những bài thơ”tình yêu” viết từ trước tuổi Bốn Mươi; nghĩa là trước buổi Qua Phân đau đớn, trước cái giờ phút tôi giã biệt hồ Gươm, cửa Bắc để gắng gượng làm thân “con chim đại bàng vỗ cánh dời sang Nam minh”..”

Bài thơ “ Chờ đợi hoài công”như một lời tụng ca của trái tim cho một tình yêu muôn tuổi. Ba mươi năm , quá dài cho một đời người , nhưng lại thật ngắn , với cuộc thi ca chép bằng ngôn ngữ bất diệt :

” Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy hoài đêm rằm
Heo may chớm đã lên mùa gió
Ngăn ngắt chiêm bao lạnh chỗ nằm
Cúc tả tơi vàng mộng xác xơ
Hiên sương ngõ lá vẫn trông chờ
Đêm dài quạnh quẽ đôi song lớn
Nguyệt đọng vòng tayùa giấc mơ
Ngai trống vàng son lợt sắc rồi
Lòng ta Hoàng Hâu chẳng về ngôi
Hồ ly không hiện người không đến
Chỉ ánh trăng vào khuôn cửa thôi
…”

Viết về Vũ Hoàng Chương , chỉ một bài thôi không đủ. Bởi , trong cái thế giới vừa đơn sơ vừa phức tạp, vừa khinh bạc vừa yêu đời, vừa sống của một đời sống nào chỉ có trong cổ tích nhưng lại dấn thân vào cuộc. Cũng như , thơ có lúc gọt dũa kiêu sa nhưng lại có lúc bình dị của ngử ngôn thường nhât, khi thì là thơ tự do phóng túng nhưng lúc là những bài Đường thi vần điệu nghiêm túc ý nghĩa thâm trầm. Dù là thơ” nhị thập bát tú” cô đọng hay thơ “truyền Kiều” châu ngọc , hoặc thơ lục bát , bảy chữ , tám chữ thời “ Thơ mới “ ngày nào, tất cả đều là những tìm kiếm của một đời thi thánh. Và , ở ngôi Bắc Đẩu của thi ca Việt nam, suốt một chặng đường mấy chục năm, để đến lúc mất, thơ vẫn nở hoa trên mộ như bài thơ nào truyền tụng :

“ta ngắm trông vào cái chính ta
hồn xanh trong nếp áo thu già
Tay kia từng níu trời cao mãi
Nay chống ô chờ đất nở hoa
”

Vâng thơ đã nở hoa trên mộ phần thi sĩ , như người đời đã thấy một sự lạ sau ba tháng chôn cất ở nghĩa trang. Nhưng, ở một liên tưởng nào , thơ nở hoa muôn đời trên thi ca không tuổi của cõi người…


Nguyễn Mạnh Trinh
22.05.2006
©Vietnam Review.
Last edited by tieuvuvi on Sat Aug 29, 2020 7:15 am, edited 1 time in total.
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trên Cành Lá Hạ

Mùa hạ lại về rồi đó bé
Anh thôi chẳng đứng trước cổng trường
Chờ ai mỗi buổi chiều tan học
Mắt rõi nhìn theo nỗi nhớ thương.

Bé sẽ xếp lại tà áo trắng
Bạn bè lưu luyến buổi chia tay
Bé sẽ thấy đời như giấc mộng
Ngậm ngùi tiếc nuối vị ô mai

Bé sẽ lạc trong mùa phượng đỏ
Nhẹ tay sách vở tạm rời xa
Để vui cùng biển trời lộng gió
Rừng núi mây thơm tóc học trò

Mùa hạ lại về rồi đó bé
Anh thôi chẳng đứng trước cổng trường
Bài thơ tình ngọt ngào cây trái
Biết gửi về đâu nỗi nhớ thương?


Đặng Tử Đàn
Last edited by khieulong on Fri Aug 16, 2013 3:56 am, edited 1 time in total.

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »


Image


Chút Hương Mùa


Sài Gòn cũng có heo may
Không tin em thử giơ tay hứng thầm
Phố thêm một chút duyên ngầm
Kìa em, cánh lá me nằm rất ngoan

Chiều ơi, chiều quá dịu dàng
Lá nghe tiếng guốc vỡ ngàng tiếng reo
Mặt đượng nhấp nhổm trông theo
Thơ anh nhấp nhổm ngồi gieo xéo vần

Trường tan áo trắng xa dần
Heo may kẽ chạm bàn chân xuống mùa
Anh ngồi đợi thoáng hương đưa
Vạt mây chở nắng cũng vừa hái xong.


Trương Nam Hương


Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 10:49 pm, edited 3 times in total.
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »


Image


Giữa Chốn Đông Người


Giũa chốn đông người chẳng thấy em
Ta nghe hồn nhuốm lạnh buồn thêm
Phải chăng tình vẫn là..... hư ảo
Như trăng đêm hờ hững bên thềm

Gặp gỡ nói cười chừng vui lắm
Tim ta lạnh cóng nỗi hoài mong
Vẫn mơ vẫn mộng ngày tương ngộ
Cho dấu yêu thơm ngát hoa lòng ...

Đêm về ngang qua vùng biển xanh
Hương em trong ký ức thơm lành
Gió vương tình tự từng hơi thở
Em phương nào giờ có nhớ anh

Mai mốt này duyên kiếp gặp nhau
Đừng cho nỗi nhớ úa phai màu
Đêm nay dưới ánh trăng vàng vọt
Sầu chợt dâng tràn nghe nhói đau ....



Khiếu Long


Image


Trăng em tình nhớ


Phố vui nhộn nhịp sao mình em
Bước âm thầm hồn giá buốt thêm
Anh hỡi bên kia dòng…sông ảo
Có nhớ chăng ngày tháng êm đềm

Giữa chốn đông người nhớ em không
Em bên này lòng vẫn hoài mong
Sẽ có một ngày mình tao ngộ
Mối tình thơ nở rộ duyên nồng

Nhẹ vuốt trên tay tờ thư xanh
Lời anh ru giấc mộng yên lành
Lắng nghe trong gió từng hơi thở
Thổi buốt tim nồng nỗi nhớ anh

Sẽ có một ngày ta có nhau
Thuyền yêu thương ghé bến giang đầu
Hai nửa vầng trăng cùng sum hợp
Cho trọn cuộc tình thôi xót đau



PTMC

Tiểu Vũ Vi
08/08


Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 11:20 pm, edited 4 times in total.
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »


Image


Hoang Mang


Chiều ngắm hoàng hôn tím rịm lòng
Người về phương ấy nhớ thương trông
Sầu đông nhung nhớ người khôn xiết
Thắm thiết tin yêu trải ngập hồn

Màn đêm buông xuống bóng chập chờn
Hay là tâm trí mãi mơ hoang
Lang thang phố vắng buồn lặng lẽ
Có kẻ ôm tình thoáng ưu tư

Thoáng chút suy tư hồ như lạ
Cứ ngỡ người về nép vai ta
Xa xa trăng nói cùng sao sáng
Gió ráng ừ à hiểu lòng ta

Tim ta yêu quá bóng hình người
Tình hồng trao gửi gió trăng sao
Đến trao người ấy và nói khẽ
Tình yêu ta đó mãi không phai



Hoang Cuong
Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 11:18 pm, edited 2 times in total.
Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vĩnh biệt nữ sĩ Mộng Cầm

Hà Đình Nguyên


Trong khoảng nửa thế kỷ vừa qua, chuyện tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm vẫn luôn là đề tài làm tốn hao nhiều giấy mực của các nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ. Hàn thi sĩ đã từ trần vào ngày 11.11.1940, còn Mộng Cầm từ đó đến nay vẫn sống âm thầm ở TP Phan Thiết (Bình Thuận), và vừa đi vào cõi vĩnh hằng lúc 21 giờ 30 ngày 23.7.2007...



Ở bài viết này, vì tôn trọng chuyện quá khứ, riêng tư của bà nên chúng tôi không ghi tên thật, chỉ lược lại những chi tiết chung quanh "chuyện tình" Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm mà nhiều sách vở, bài báo đã đề cập.

Mộng Cầm sinh ngày 17.7.1917. Theo các tài liệu của Nguyễn Bá Tín (em ruột Hàn Mặc Tử), của nhà văn Quách Tấn thì Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm quen biết nhau qua thơ văn. Đó là khoảng năm 1934, khi Hàn Mặc Tử rời Quy Nhơn vào Sài Gòn phụ trách trang văn chương cho tờ Trong khuê phòng. Thỉnh thoảng, Hàn Mặc Tử có nhận được những bài thơ ký tên là Mộng Cầm từ Phan Thiết gửi vào. Thư đi tin lại, rồi chàng ra Phan Thiết tìm nàng. Hóa ra, Mộng Cầm là cháu gọi thi sĩ Bích Khê bằng cậu, nhân vậy mà sau này mới có tình bạn thắm thiết giữa Bích Khê và Hàn Mặc Tử.

Hàn Mặc Tử mất vào cuối năm 1940 thì đến năm 1942, nhà văn Trần Thanh Mại ra cuốn sách đầu tiên giới thiệu thân thế, sự nghiệp của Hàn Mặc Tử. Trong cuốn sách gây xôn xao dư luận lúc đó, Trần Thanh Mại đã dành hẳn một chương để nói về Mộng Cầm: Đôi trai tài gái sắc yêu nhau. Họ hay gặp nhau ở Quy Nhơn và Phan Thiết, hay đưa nhau đi chơi, thăm thú các danh lam thắng cảnh, nhất là Lầu Ông Hoàng... Đùng một cái, Hàn thi sĩ phát hiện mình mắc bệnh phong, chàng tuyệt giao với bằng hữu, kể cả với Mộng Cầm.

Dù đã tuyệt giao với những người thân thiết nhất nhưng hình ảnh của Mộng Cầm vẫn luôn ám ảnh Hàn thi sĩ. Nỗi đau đớn triền miên trên thể xác cộng với nỗi đau tinh thần luôn giày vò thiên tài bất hạnh, từ đó thi sĩ bật ra những câu thơ thống thiết: "Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang/Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/Ơi! Trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết/Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi/Ta đến nơi, Nàng ấy vắng lâu rồi/Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ/Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ/Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng... Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!/Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu/Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư". (Phan Thiết! Phan Thiết) hoặc "...Nghe gió là ôm ngang với gió/Tưởng chừng như trong đó có hương/Của người mình nhớ mình thương/Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì…" (Muôn năm sầu thảm)...

Hơn 20 năm sau ngày Hàn Mặc Tử mất, vào năm 1961, nhà thơ Nguyễn Vỹ (chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Phổ thông) đã cử nhà báo Châu Mộng Kỳ tìm gặp Mộng Cầm để phỏng vấn về mối tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Thực ra từ khi có gia đình riêng, Mộng Cầm sống ẩn dật và luôn từ chối gặp gỡ các nhà báo. Sở dĩ Châu Mộng Kỳ thực hiện được cuộc phỏng vấn là do ông vốn là thầy dạy học của một người con trong gia đình Mộng Cầm. Trong bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Phổ thông số 63, ra ngày 15.8.1961, bà Mộng Cầm đã cho rằng chuyện tình cảm giữa mình và Hàn Mặc Tử "chỉ là mối tình văn thơ, còn xác thịt thì hoàn toàn không nghĩ tới. Cha mẹ đã cho giao thiệp tự do, chúng tôi phải giữ gìn cho xứng đáng...". Bà xác nhận có đi chơi ở Lầu Ông Hoàng với Hàn Mặc Tử rồi gặp mưa, hai người vào nấp mưa ở một nghĩa địa nhưng không cho rằng do vậy mà Hàn mắc bệnh phong, bởi cả hai người cùng nấp mưa một chỗ tại sao bà chẳng hề hấn gì? Bà kể tiếp: "Về đến Phan Thiết, tôi đưa Hàn Mặc Tử đến trường Hồng Đức, cậu Bích Khê tôi dạy ở đó. Ở đó suốt buổi sáng chủ nhật, chiều anh đáp chuyến tàu suốt về Sài Gòn. Sau ngày ấy, cậu tôi bảo tôi ra dạy ở trường Hồng Đức, do vậy mà Hàn Mặc Tử ra vào thường. Thứ bảy nào anh cũng có mặt ở Phan Thiết, chiều chủ nhật lại vào Sài Gòn. Trong một dịp thứ bảy đi chơi Lầu Ông Hoàng, anh đã thổ lộ mối tình với tôi. Tôi có trả lời anh: "Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng". Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau. Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật một hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều lần Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngãi thăm nhà và trong nhiều bức thư anh có đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời thư, nhưng luôn tìm cách từ chối: "Em thiết nghĩ chúng ta sống thế này thanh cao hơn, tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe lời thân mẫu...". Nhiều người - trong đó có Quách Tấn, Trần Thanh Mại, Ngọc Sương (dì ruột của Mộng Cầm) đều xác nhận chuyện tình cảm giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm là có thật, sở dĩ bà phải "đính chính" trong bài phỏng vấn là muốn bảo vệ hạnh phúc đang có. Âu đó cũng là một việc làm thường tình và đáng thông cảm...

Hôm nay, người thiếu nữ năm xưa - nhân vật đã trở thành huyền thoại trong nhiều bài thơ, khúc nhạc - đã mang vào lòng đất những vui buồn quá khứ. Xin thắp một nén nhang tiễn bà vào vĩnh hằng...

Hay tin Mộng Cầm qua đời, trong suốt ngày hôm qua 24.7, nhiều đoàn khách đã lên đồi Thi Nhân (còn gọi là Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - nơi có mộ phần thi sĩ Hàn Mặc Tử). Ai cũng xúc động khi ngắm nhìn những hình ảnh nữ sĩ được trưng bày trang trọng ở phòng lưu niệm ở trên đồi. Chị Mai Lan trong đoàn khách đến từ Nam Bộ rưng rưng: "Nữ sĩ qua đời đột ngột quá, tôi từng ấp ủ dự định gặp bà để hiểu hơn về mối tình thơ của bà với Hàn Mặc Tử, tiếc là đã muộn rồi".


Cũng trên đồi Thi Nhân, nghệ nhân Dzũ Kha - được gọi là "người giữ lửa thơ Hàn", từng gặp nữ sĩ Mộng Cầm và được bà đề tặng bài thơ Chan chứa đã gửi cho Hàn Mặc Tử trong thời gian hai người quen nhau - bùi ngùi: "Thật buồn khi nàng thơ từng là nguồn cảm hứng sáng tạo cho thơ Hàn không còn nữa. Nhiều lần tôi đến thăm, bà lúc nào cũng gọi anh Trí, anh Trí mỗi khi nhắc đến thi sĩ họ Hàn. Chuyện tình không thành nhưng giữa hai người đã có những kỷ niệm thật đẹp...". (Đình Phú)

Hà Đình Nguyên

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Một Trời Thơ Bay

Nghe em nói tự bao giờ
Bao giờ chừ vẫn ngẩn ngơ lạ kỳ
Em ơi giọng Huế có chi
Mà trong hoa nắng thầm thì cơn mưa

Nghe hoài nghe mãi chưa bưa
Anh thương thương quá tiếng xưa vọng về
Gặp em từ độ tóc thề
Mùa trăng thành cổ bốn bề hương sen

Nhiều khi như lạ như quen
Giữa mênh mông đọng giọng em ngọt ngào
Môi hồng trên nụ ca dao
Cuộc đời ơi có nôn nao tin mừng

Thương em lúc nói ngập ngừng
Nghìn trùng mai có rưng rưng nghìn trùng
Góc đời thôi cũng bão bùng
Mà sao anh lại vô cùng bình yên

Dòng Hương như thể lời nguyền
Yêu em tiếng nói hồn nhiên ban đầu
Thuở xưa em có qua cầu
Mang trời xứ Huế tươi màu áo xanh

Mười năm thấp thóang trôi nhanh
Ngàn năm mây trắng vờn quanh Ngự Bình
Mười năm mình lại gặp mình
Từ trong giọng nói mang tình yêu riêng

Xanh trong như tiếng chim chuyền
Nhìn em mái tóc che nghiêng mắt cười
Suốt đời giây phút này thôi
Lắng nghe em nói một trời thơ bay.

Lê Nhược Thủy

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image


Bông Sứ


bông Sứ trắng lòng em cũng trắng
để tôi về xanh lá tương tư
trường lớp cũ chở lòng tôi nặng
em về đâu lồng lộng bốn phương

người em gái một thời sách vở
giữ giùm tôi bông Sứ ngày xưa
trang Lưu bút còn câu Thơ dạo đó
hay đã mờ theo nắng theo mưa

và lòng em có còn giữ lại
chút bâng khuâng đứng đợi nhau về
bông Sứ rụng mưa trời lất phất
sao mắt em buồn dưới nón nghiêng che

sao lòng tôi cũng trở buồn, rất nhẹ
mưa ngoài trời - mưa thấm lạnh đời nhau
gịot vắn giọt dài, giọt mưa đan chéo
giọt sầu tôi thầm lặng tình đầu

rồi từ đó tình vào khuây lãng.
giọt mưa ơi! Bông Sứ trắng ngần ơi!
phải hồi đó, chỉ một lời dẫu ngắn
thì có đâu hai đứa lạc phương trời!

tôi gọi em và bông Sứ và, mưa
những yêu dấu của một thời dĩ vảng
dẫu năm, tháng có mịt mù hai đứa
vẫn nhớ hoài bông Sứ rụng đời nhau...


Trần Huy Sao
Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 10:58 pm, edited 3 times in total.
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »


Image


Gửi Lại Bài Thơ Yêu


Thành phố ào ạt cơn mưa
Người đi vội tìm chỗ trú
Ào ạt rồi bỗng lạnh không
Con đường trở về bến cũ…

Người đi, người đi người đi
Sài Gòn lung linh ánh sáng
Rất nhiều gương mặt không quen
Sau tháng ngày dài xa vắng

Bạn cũ bao năm rời xa
Đời riêng cũng nhiều cay đắng
Cuộc sống ào ạt đi qua
Tóc xanh bây giờ ngả trắng

Tôi cười mắt cũng chân chim
Nhưng Sài Gòn thì vẫn trẻ
Đôi lứa yêu nhau vẫn thế
Nụ hôn thấm giọt mưa chiều

Xin gửi lại bài thơ yêu
Đặt bên góc vườn êm ả
Gửi lại giọt thương giọt nhớ
Của tình dang dở đôi ta...



Nguyễn Thị Hồng Ngát

Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 10:53 pm, edited 2 times in total.
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »


Image


Trộm Nhìn Nhau

Nhạc & Lời : Trầm Tử Thiêng
Tiếng hát : Như Quỳnh



Ðôi khi trộm nhìn em
Xem dung nhan đó bây giờ ra sao
Em có còn đôi má đào như ngày nào
Kể từ khi vắng anh
em như tấm vải lụa nhàu
Thương thâu đêm giấc mộng xanh xao
Anh có bề nào ai đón đưa em

Cuộc đời là mây trắng là rào thưa
Thương em tiếng hát sang mùa
Một mai mưa ướt áo em
áo mỏng đường mòn
Dáng nhỏ thân quen

Hôm nao em trộm nhìn anh
Xem đôi tay trắng phong trần năm xưa
Anh có còn mê sông hồ qua từng ngày
Kể từ khi vắng anh
em như tấm vải lụa nhàu
Ðêm thâu đêm giấc ngủ xanh xao
Anh có bề nào ai đón ai đưa

Cuộc đời là vách núi là tường mây
Quê hương nắng cháy đêm ngày
Mà anh chim vút cánh bay thăm thẳm đường dài
Không về thăm em



Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 10:51 pm, edited 1 time in total.
Image

Post Reply