Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lời của dế Từ ngày độ che phủ rừng bị chính con người phá đi thì con người bắt đầu sợ những cơn mưa rừng sầm sập, kèm theo là lũ quét, lũ ống. Nhất thuỷ, nhì hoả, dòng nước đáng sợ như thời cổ sợ khủng long.
Nhưng những cơn mưa rả rích kiểu mưa thu cũng đáng sợ lắm. Chưa có ai thống kê, nhưng tôi tin rằng vào những ngày mưa dầm mưa dề, ngành bưu điện có tăng doanh thu.

Đột nhiên chiếc máy bàn kêu toáng lên: "Có gì không đấy?". - "Không, mưa mãi, chán quá...!". Cả hai đầu dây đều đồng loạt để máy xuống. Cạch! Ngoài kia vẫn mưa.

Tệ hơn là chiếc di động. Có lẽ vào thời buổi hiện nay, mỗi cá nhân có người bạn thân thiết nhất, một vật dụng bất ly thân duy nhất là cái cục cưng be bé, nhẵn nhụi và tinh xảo này. Gọi máy bàn còn ngại, nháy di động thì vô tư, ngồi bệt trong WC cũng tranh thủ được một cuộc trò chuyện.

Có những hôm mưa toàn quốc, con dế run run trong túi áo, lại có tin: "Nẫu cả ruột vì mưa. Nghĩ đời toàn gặp chuyện buồn. Cưới xin đã thế. Con cái thì nheo nhóc. Công việc chẳng ra đâu vào đâu. Không biết kỳ này có bỏ... không đây?".

Chết thật, tại mưa hay tại con dế mà cứ gở miệng như thế! Người ta nhắn vào con dế tất cả mọi suy nghĩ, tâm tư thuộc loại bán thành phẩm, sơ chế. Những điều này lúc gặp nhau thật, có khi chẳng dám nói ra, hoặc không cần nói ra làm gì.

Lại tự hỏi: Nếu tất cả những lời của dế mà thành hiện thực thì sao nhỉ? Lúc đó, chắc thế giới sẽ sụp đổ với người này và bình minh sẽ mọc với người kia, sau những đêm dài mưa rả rích. Xét cho cùng, bình minh bao giờ cũng tinh khôi, dù là một "bình minh mưa".

Hà Văn

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chuyện trò cùng đồng đội:
Những chữ nghĩa còn sót lại

Huy Phương


Trong suốt ba 31 năm qua, dân chúng miền Nam đã chịu đựng khốn khổ với loại chữ nghĩa của kẻ thống trị được đem từ miền Bắc vào, áp đặt lên đời sống hằng ngày của quần chúng. Những chỉ những “nghĩa” không đi liền theo “chữ ”, mà hầu hết đều có nghĩa ngược lại. Mở đầu là 3 hàng chữ được in dậm nét dưới quốc huy và quốc hiệu “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” là “Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc”, cho đến những chữ đi sâu vào thôn xóm như “xóa đói giảm nghèo”, “nếp sống văn hóa mới”, “công bằng xã hội” đều có nghĩa phản lại. Các nhà báo, nhà văn... không ở trong hệ thống thông tin, tuyên truyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam, đều phải thận trọng đưa vào ngoặc kép “...”những danh từ trên để tránh những ngộ nhận.


Trong phạm vi của trang Cựu Chiến Binh, chúng tôi xin điểm qua một vài danh từ trong trại tù Cộng Sản, và suốt thời gian này, cũng như sau khi ra tù đã bắt buộc phải nghe, phải nói, phải viết những danh từ rất “phản nghĩa” hoặc “vô nghĩa” này.

------------------------------------
I: Cải tạo và giáo dục


Trong năm đầu tiên đưa tù ra Bắc, chúng tôi một số lớn sĩ quan thuộc các ngành tâm lý chiến, tuyên úy các tôn giáo, tình báo... được đưa đến trại Cẩm Nhân, Hoàng Liên Sơn thuộc trại 6. Ở trại này bọn cai tù rất “tâm lý chiến”, nghĩa là suốt trong các buổi “tẩy não, nhồi sọ” bọn cai tù luôn luôn uốn lưỡi nói cho được ba chữ “cải tạo viên” để nói đến thành phần “tù biệt xứ” chúng tôi. “Các anh là “cải tạo viên” chứ không phải là “tù”. “Cải tạo” có nghĩa là bị giam giữ, đi đâu cũng có lính gác, ban đêm đi nhà cầu cũng phải xin phép, phải “lao động” kịch liệt, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, không thăm nuôi, thuốc men bị tịch thu, nhân phẩm không được tôn trọng (một “cải tạo viên” “cải thiện” một rổ rau muống, bị cai tù bắt phải ăn hết rổ rau muống khoảng 6 ký lô tại chỗ mới được về trại...) v.v.. nhưng tuyệt đối không được gọi là tù.

Rủi thay, một hôm có hai “cải tạo viên” trốn trại (hay trốn khỏi trại giam - nói theo kiểu thông thường), người ta nghe hai ba tiếng súng nổ, tiếng chân “vệ binh” chạy rầm rập, rồi những tiếng hô hoán tiếp theo: “có tù trốn... có tù trốn”. Nhiều anh bạn vốn ngây thơ, ngẩn người ra: “té ra mình là tù, bằng chứng là cái thằng “quản giáo” thường nhắc nhở mình là “cải tạo viên” chẳng vừa la toáng lên “tù trốn...” là gì?

Thật tình, khi Cộng Sản lấy được miền Nam, chúng không hy vọng gì “cải tạo” được ai. Việc tập trung dựa trên nguyên tắc an ninh, bỏ tù số cán bộ cao cấp của quân đội và chính quyền, các thành phần đảng phái, thậm chí cả các viên chức xã ấp miền Nam, để không vướng tay đàn áp dân chúng còn lại. Mặt khác việc tập trung bỏ tù còn là một đòn trả thù hả hê cho kẻ chiến thắng, kết hợp với việc lùa dân đi vùng “kinh tế mới” để thẳng tay và trắng trợn chiếm đoạt tài sản của dân miền Nam, dọn chỗ để đưa cán bộ, đảng viên đói rách từ rừng rú và miền Bắc vào chiếm chỗ.

Ðối với tù hình sự, ăn cắp, giết người còn chưa “cải tạo” được, làm sao “cải tạo” được những người đã chiến đấu có lý tưởng. Và trong chúng ta có ai nghĩ rằng mình “đã được cải tạo tốt, lao động tốt” khi cầm tờ giấy ra tù không?

Danh từ “cải tạo” thường phải đi theo danh từ “giáo dục” như “cán bộ giáo dục” (phụ trách bài vở, tổ chức lên lớp cho tù, hay “làm việc”, dằn mặt những anh tù cứng đầu, “phản động” của trại). Nhưng kết quả sau những năm tù, chúng ta được giáo dục những gì:

- Phải biết nói láo và nói như vẹt, mặc dù không hiểu hay không tin.

- Phải biết ăn cắp “phá hoại tài sản chung” như các cai tù có nhà lô, sai tù nhổ sắn vào nấu nướng “cải thiện” riêng, nhưng nếu tù vi phạm sẽ bị nện báng súng và đánh đập.

- Phải học những bài học văn minh như tập tánh nấu cơm không cần vo gạo (mất chất bổ), nấu sắn không cần lột vỏ (ăn say, chết thì đem lên đồi sắn để nuôi sắn trở lại), phải biết ăn đọt sắn (3kg đọt sắn bổ bằng 1kg thịt bò - vì vậy các ủy viên trung ương đảng chỉ ăn đọt sắn mà thôi).

- Phải biết ngu, khôn là chết. Có anh vác súng đi theo tù hỏi rằng Ðại Tá Sơn (nhân vật hư cấu trong một cuốn phim tuyên truyền của miền Bắc) hiện nay học tập ở trại nào, các anh có biết không?

Chúng ta quả thật được, bị “giáo dục” để thấy dân chúng, đồng bào ta, nhất là đồng bào từ vĩ tuyến 17 trở ra, lầm than, đói khổ bị áp bức hơn là chúng ta tưởng trước kia. Chúng ta cũng được “giáo dục” để thấy trẻ con miền Bắc rất là hỗn láo, thô tục và “vô giáo dục”. Chúng ta đã được “giáo dục” để thấy xã hội miền Bắc bất công (công an áp bức ngay cả gia đình “bộ đội”, ở các hợp tác xã nông, thủ công nghiệp thành phần quản lý (thủ kho, chủ tịch, thư ký, kế toán...) chiếm hơn 50% thành phần lao động nên làm ăn mửa mật ra mà không đủ lúa đóng nghĩa vụ và bỏ vào mồm. Chúng ta được “giáo dục” để thấy bọn cai tù cấp nhỏ, hầu hết là dân trung kiên Nghệ Tĩnh, cũng đói và thèm khát, thiếu thốn như... tù. Dân chúng miền Bắc được giáo dục để thấy tù Việt Nam Cộng Hòa không ác ôn, ăn gan uống máu, mà còn tử tế nhân hậu hơn là qua các phim ảnh và lời tuyên truyền của chế độ miền Bắc.

Trên đây chúng tôi chỉ điểm qua vài danh từ vui vui để hầu các bạn chứ không có ý viết một bài biên khảo hay tham luận về chế độ xã hội miền Bắc, nên chắc chắn là sẽ có rất nhiều chuyện thiếu sót. Mong các bạn thông cảm và chờ sự đóng góp của các bạn.




II:Cải thiện, thu hoạch, bồi dưỡng

[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... _thanh.jpg[/left]Nguyên nghĩa của cải thiện là: thay đổi làm cho tốt hơn. Vậy thêm món ăn vào bữa cơm cho bữa ăn khá hơn là cải thiện bữa cơm, sống sao cho đời sống tốt đẹp hơn là cải thiện đời sống. Nếu người tù nhặt nhạnh thêm tí rau, con nhái thêm vào bữa cơm cho đỡ xót lòng xót dạ thì đúng nghĩa là “cải thiện” nhưng khổ nỗi nhà tù lại không cho phép, nên chữ cải thiện thành ra có nghĩa xấu, nhất là nhà tù lại thêm hai chữ linh tinh vào sau, thành ra “cải thiện linh tinh” là một trọng tội, có khi là thuộc tội hình phải tống giam. Tù nhân quá đói phải quơ quào bất cứ thứ gì có thể ăn được, không ngần ngại “ăn cắp” những thứ mà do chính tay mình trồng ra như rau cải, trái cà, trái bí, củ khoai, hột đậu phọng... khi bọn “quản giáo” và “bảo vệ” lơ là.

Vì cải thiện linh tinh là “học tập chưa tốt”, chưa “chấp hành nội quy trại tốt”. Ðể ngăn ngừa việc cải thiện linh tinh, tù đi “lao động” về, trước khi vào trại phải có một màn khám xét “gô, cóng”, khám áo quần, giày dép y như bây giờ ở các phi trường Mỹ người ta khám hành lý xách tay, vuốt người từ trên xuống dưới trước khi kên máy bay để chống không tặc. Những việc làm trên đều bị quy vào tội “cải thiện linh tinh”. Hình phạt nhẹ nhất là tịch thu. Nặng nhất là bị “cùm” từ ba cho tới năm ngày hay một tuần lễ. Tội danh là “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Cũng tùy theo sáng kiến của cai tù, đã có những hình phạt, có khi mất hết nhân tính. Ðánh đập hay cùm chân là chuyện thường. Tôi đã mục kích cảnh một bạn tù phải ngồi trên vệ cỏ, gần trạm gác ra vào, phải ăn mấy kg rau muống sống (may là qua suối, bạn tôi đã rửa sạch rồi). Ở một trại khác, một người tù vi phạm cải thiện phải ăn hết một rổ sắn sống, sau đó về đến trại là ói mửa rồi nằm liệt giường luôn.

Nhân nói tới “cải thiện”, tôi xin kể một chuyện vui về “cải thiện”, cam đoan là không lạt tí nào. Bạn nào là người trong cuộc, có ghé mắt đọc tới, cũng xin hoan hỉ xá tội. Hôm ấy, cai tù nhờ đội trưởng phân công bốn anh lên dọn nhà bếp của ban chỉ huy trại. Sau khi đã khuân vác, chuyển mọi thứ ra, bốn anh tù phát giác ra một chai nước mắm, hình như để quên dưới chân chạn đã lâu, đã bị bụi bặm và mạng nhện bao quanh, nghĩa là không ai biết, không nằm trong sổ kiểm kê. Ðây là thứ hàng quý cả năm tù không được một thìa nhỏ, có đầy đủ chất bồi dưỡng, lại gặp thứ hàng lâu năm, đầy đủ protein. Thế là anh em “nhất trí” chia nhau “cải thiện” cho có chất. Buổi chiều hôm ấy về trại, bạn tôi anh nào cũng kêu khát, uống cả năm sáu lít nước, bụng cứ căng ra. Mặt khác anh nào mặt cũng đỏ gay vì lên máu (những người thợ lặn, khi xuống dưới độ sâu, để chống lạnh, họ thường uống thứ nước mắm, càng để lâu năm càng tốt), nhưng không ai hối hận đã “cải thiện” món này, ví nó quá quý.

Nguyên chữ nghĩa thu hoạch trong tự điển Hán Việt Ðào Duy Anh là “gặt hái được”, nghĩa là chữ này chỉ dùng cho mùa màng, cây trái. Ở trong trại tù, thu hoạch gặt hái kết quả của sự tẩy não. Mỗi khi có phái đoàn của Bộ Công An, Ty Công An đến “tham quan”, tổ chức nói chuyện chính sách, đường lối “nhân đạo” của Ðảng cho tù nghe, hoặc chiếu phim tuyên truyền như “Mùa gió chướng”, “Ðến hẹn lại lên” thì ngày hôm sau, tù phải làm bài “thu hoạch” về cuốn phim hay buổi nói chuyện đó. Thứ thu hoạch này rất đói, vì tù không có cơ hội để “cải thiện linh tinh” chút gì như định nghĩa ở phần trên.

Bồi dưỡng nguyên chỉ có nghĩa vun trồng, nuôi nấng. Lâu dần người ta dùng như một thứ vật chất có thể giúp cho sức khỏe, như sau khi đau ốm dậy, phải ăn uống để bồi dưỡng lại. Nghĩa thông thường như vào các dịp lễ Tết, đám tù được “bồi dưỡng” thêm “chất tươi” (chữ “chất tươi” này cũng phải xét lại, vì nó chẳng tươi tí nào).

Ở trong trại tù và ngoài đời, bồi dưỡng còn có nghĩa là được nhồi nhét thêm những bài học chính trị có tính cách tẩy não, gọi là “bồi dưỡng chính trị” rất ngán ngẩm.

Trong trại tù “cải tạo”, chữ “bồi dưỡng” còn là tiếng lóng để gọi mỗi khi người tù bị bọn cán binh Cộng Sản đánh đập như là “bị bồi dưỡng mấy báng súng” sau khi bị bắt vì tội “cải thiện linh tinh”.




III: Linh tinh và cỏ Cộng Sản


Linh tinh nguyên nghĩa là vặt vãnh, như chuyện linh tinh, đồ vật linh tinh. Linh tinh trong trại tù “cải tạo” bỗng dưng thành một nghĩa xấu, như mấy chữ “cải thiện linh tinh” mà chúng tôi đã đề cập trong kỳ báo trước.

Vậy “phát ngôn linh tinh” có nghĩa là nói năng ẩu tả, kiểu nói xấu chế độ, không an tâm “học tập”. “Quan hệ linh tinh” có nghĩa là giao thiệp lung tung, ngoài quy định, không được phép, như “quan hệ linh tinh” với tù hình sự hay dân chúng trong làng để đổi chác, mua bán...

Cải tiến: là thụt lùi. Xe do bò kéo là xe bò. Xe ngựa kéo là xe ngựa. Xe do người kéo là xe cải tiến.

Tham gia: là ăn chực. Khi người tù nào được thân nhân thăm nuôi có thức ăn bày ra ăn thì lính canh, hay là cai tù có thể tự động “tham gia” mà không cần chủ mời. “Tham gia tích cực” có nghĩa là ăn uống thoải mái, không cần kiêng dè.

Giải phóng: Tính tới bây giờ đã 31 năm, nhiều đồng hương chúng ta qua đến Mỹ rồi mà vẫn còn quen miệng, một tiếng “giải phóng”, hai tiếng “phỏng gi...” để gọi cái ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thật sự nếu chúng ta được “giải phóng” thì cũng nên ở lại với đoàn quân đã “giải phóng” chúng ta cho có tự do, no ấm, không còn áp bức, không còn làm tôi mọi cho ai. Chúng ta biết nhiều người đã quen miệng, nhiều người nói rằng vì đã sống với Cộng Sản quá lâu nên chữ nghĩa tiêm nhiễm sâu vào trí nhớ lúc nào mà không hay. Như vậy là chúng ta đã phát ra những lời nói “vô ý thức”, tức là không có sự tham dự của bộ não.


Chuyện vui: cỏ Cộng Sản? (do Nguyễn Thanh Ty gởi cho trang Chữ Nghĩa)

[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... c/Pic0.jpg[/left]Năm 76 chúng tôi bị đưa lên trại Ðá Bàn. Quanh trại là núi rừng trùng điệp. Ngoài việc phải cấp tốc đốn cây, cắt tranh, san đồi làm nền cất nhà để ở, chúng tôi còn phải “tranh thủ” trồng bắp, khoai lang để có cái ăn ngắn hạn trong ba tháng. Cán bộ quản giáo “dạy” rằng:

Các anh đã quen “chây nười nao động, bây giờ thì phải học tập nao động để tự túc tự cường”. Các anh tự nàm nấy mà ăn. Nhà lước không có nương thực đâu mà luôi các anh.

Chúng bắt chúng tôi làm thêm ngày chủ nhật mà chúng gọi là ngày Xã hội chủ nghĩa. Chủ nhật nào cũng đều là ngày XHCN cả.

Chúng tôi trồng khoai lang. Trồng theo lối miền Bắc(!)Ðất bỏ hoang ba mươi năm, cứng như đá tảng, cứ cuốc lật. Tảng nào cũng to như lưỡi cuốc.

Mấy hôm sau, hom lang được đặt nằm ở giữa. Hai bên, hai anh tù cứ lấy cuốc kéo mấy cái tảng đất hôm trước lấp lên. Thiệt là lạ đời. Không nói, ai ai cũng biết kết quả nó ra sao rồi. Hôm đang cuốc đất, tên phó trại xăng xái chỉ vẻ cách thức “nằm thao” để “cải tạo viên” tiếp thu tốt, trồng cho có năng suất.

Lúc nghỉ mười phút giải lao, tên phó Giám thị chỉ đám cỏ hôi mọc đầy đồi, đố chúng tôi:

Các anh có biết cỏ này tên là gì không?

Cỏ đuôi chồn!

Cỏ bông bay!

Cỏ hôi!

Chúng tôi mỗi người trả lời một cách. Nhưng tên Giám thị lắc đầu lia lịa. Cuối cùng hắn nói:

Sai hết! Các anh chẳng biết gì cả. Nó tên nà cỏ Cộng Sản!

- Làm gì có cái thứ cỏ Cộng Sản. Chắc ở ngoài Bắc mới có cái tên đó?

Không những ở ngoài Bắc mà ở khắp thế giới người ta đều kêu tên ló nà Cỏ Cộng Sản!

???

Sở dĩ ló có tên nà Cộng Sản nà vì ló có thể mọc bất cứ lơi lào, giống như Chủ nghĩa Cộng Sản phát triển khắp lơi trên thế giới.

Giải nghĩa xong, hắn cười hềnh hệch ra vẻ khoái chí lắm. Thình lình, có một anh trong tổ chúng tôi trả lời:

Ông Giám thị nói thế cũng chưa chắc đúng. Vì cái thứ cỏ dại này chỉ mọc được nơi hoang dã hoặc nơi đất đai khô cằn mà thôi. Nếu nó mọc trong vườn nhà hay mọc xen với hoa màu thì người ta cuốc phăng nó ngay. Làm gì nó có thể mọc tràn lan được.

Tên Giám thị cứng họng không phản bác được, giận tím mặt trước lý luận vững chắc của một “cải tạo viên”. Trước khi bỏ đi, hắn trừng mắt nhìn anh tù và hằn học ném lại một câu:

Ðồ Ngụy quân, Ngụy quyền đáng bắn bỏ! Chỉ được giỏi cái nắm mồm!

Hôm ấy chúng tôi được một trận cười sảng khoái.

(Trích trong “Trại Ðá Bàn và A.30”)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


Chưa "cởi mở", mà đã sướng!
Ngoạ Đàm

Bạn hiền,

Tôi muốn trò chuyện với bạn hiền về mấy điều bạn và tôi vẫn thắc mắc, mà bất ngờ tôi lại hiểu ra.

Này nhé, có một đêm nọ bạn hiền than phiền với tôi rằng "người Việt mình sao khó hiểu quá". Tôi hỏi chứ điều gì mà khó hiểu. Bạn nói có hai điều.



Điều thứ nhất là: tại sao người Việt trong nước có vẻ dễ dàng hồ hởi trước những cú "cởi mở" lặt vặt của nhà nước? Nhà nước thỉnh thoảng "cởi mở" he hé một chút nhỏ xíu như cái lỗ kim, mà thiên hạ trong nước cũng lấy làm sung sướng, như thể được tự do ngập ngụa rồi vậy! Thậm chí, nhiều khi nhà nước chưa "cởi mở" gì cả, mà người dân đã thấy sướng rồi!



Điều thứ hai là: tại sao người Việt ở ngoài này, liều mạng ra đi để tìm tự do, mà khi được tự do rồi, thì lại không chịu sử dụng nó, mà vẫn ăn nói, suy nghĩ như lúc chưa có tự do? Nghĩa là vẫn thậm thò thậm thụt, e dè trong lời nói, trong suy nghĩ, và trong hành động, như thể ở trên đầu mình còn có cái vòng kim cô của một ông nhà nước quyền lực vô hạn nào đó vậy!



Tôi cứ nghĩ mãi về hai điều này. Thế rồi một hôm bất ngờ tôi lại hiểu ra. Xin thú thật với bạn hiền rằng tôi hiểu hai điều này vì tôi nhớ lại hai câu chuyện, một chuyện do một người Nga kể, chuyện kia lại do một người Ý kể. Nghe họ kể xong, tôi chợt hiểu ngay về người Việt mình, mà chẳng cần phải tư duy trừu tượng dài dòng thêm nữa. Vậy bây giờ bạn hiền hãy thư thả nằm đấy, mồi một điếu thuốc, mà nghe tôi kể lại hai câu chuyện ấy nhé.


Chuyện thứ nhất do một anh bạn người Nga tên là Grigory Ivanich, kể cho tôi nghe tại quán cà-phê Forest Lodge vào năm 1985, lúc anh ấy mới đến Úc. Lúc ấy quán Forest Lodge còn ở Glebe, chứ bây giờ thì không còn nữa, vì đã đóng cửa năm 1989. Grigory kể như thế này:


Có một gia đình nghèo khó và đông con. Hai vợ chồng và sáu đứa con cùng sống trong một cái nhà chỉ vỏn vẹn có một phòng ngủ nhỏ bé. Những đứa trẻ ngày mỗi lớn, và căn phòng càng chật hẹp hơn. Bởi thế, người cha mới tìm đến ông pháp sư nhiều quyền năng nhất xứ để kể lể sự tình và cầu xin được cứu giúp.


Ông pháp sư nói: "Với quyền năng của ta, không có gì là bất khả. Có điều là để nhận được một phép lạ không phải dễ dàng như nhận một món quà rẻ tiền. Tuy nhiên, ta không đòi hỏi nhiều ở những kẻ nghèo nàn như các ngươi. Ta chỉ muốn các ngươi biết cái giá phải trả để được nhận phép lạ chính là sự kiên nhẫn của các ngươi."


Người cha khốn khó trả lời: "Thưa ngài, nhà ở, thức ăn và tiền bạc thì chúng tôi không có, nhưng kiên nhẫn thì chúng tôi có thừa, bởi chúng tôi đã được rèn luyện trong khổ đau."


Ông pháp sư nói: "Vậy thì tốt lắm. Để làm căn nhà của các ngươi rộng thêm, có ba bước cần phải được kiên trì thực hiện. Trước hết, ngươi ra chợ mua gấp hai chục con gà đem về nuôi ngay trong phòng ngủ. Nhớ rằng phải cho chúng ăn uống đầy đủ, và đừng nhốt chúng trong lồng hay cột chúng lại, mà phải để chúng tùy ý đi đứng ăn ngủ bất cứ chỗ nào chúng muốn. Các ngươi phải ngủ chung với chúng, và tuyệt đối đừng bao giờ dọn phân của chúng. Cứ để nguyên như thế thì phép mới linh ứng. Hãy kiên nhẫn chịu đựng trong ba tháng, rồi trở lại đây, ta sẽ hướng dẫn để thực hiện bước thứ hai."


Người cha về nhà và làm đúng như lời ông pháp sư căn dặn, dù số tiền mua hai chục con gà và thực phẩm cho chúng lớn bằng chính sinh mạng của ông. Ba tháng sau, người cha trở lại yết kiến ông pháp sư, và nói: "Thưa ngài quyền năng vô biên, chúng tôi đã thực hiện y như lời ngài dạy và chúng tôi sắp chết. Xin ngài hướng dẫn ngay bước thứ hai cho."


Ông pháp sư nói: "Tốt lắm, thật xứng đáng. Vậy ngươi hãy ra chợ mua gấp bốn con dê nữa rồi đem về nuôi ngay trong phòng ngủ của các ngươi, cùng với hai chục con gà trước kia. Đừng trói cột chúng. Đừng dọn phân chúng. Nhớ cho chúng ăn uống thật đầy đủ, và các ngươi phải ngủ chung với chúng cùng hai chục con gà. Hãy biết rằng nếu một con vật chết đi, hoặc một người ra ngoài ngủ riêng một lần nào đó, thì cũng đủ làm phép lạ thành vô hiệu. Hãy kiên trì chịu đựng thêm ba tháng nữa, rồi trở lại đây, ta sẽ hướng dẫn cho bước cuối cùng."


Người cha về nhà, làm đúng như lời ông pháp sư căn dặn, dù số tiền mua bốn con dê cùng ba tháng thực phẩm cho chúng lớn bằng chính sinh mạng của toàn thể gia đình. Ba tháng nữa trôi qua, người cha dắt người mẹ cùng cả bầy con đến yết kiến ông pháp sư, và nói: Thưa ngài quyền năng vô lượng, chúng tôi đã thực hiện y lời ngài dạy và chúng tôi không thể sống thêm một giờ nào nữa trong căn phòng thối tha, chật chội, nóng bức như địa ngục đó. Lòng kiên nhẫn của chúng tôi đã thực sự kiệt quệ vì đói ăn và mất ngủ suốt sáu tháng qua. Xin ngài đoái thương những bộ xương tàn tạ này và ban ngay phép lạ cho."


Ông pháp sư vui vẻ nói: "Tốt lắm, thật xứng đáng. Và đây là bước cuối cùng để phép lạ xảy ra. Hãy đem ngay đến đây cho ta hai chục con gà và bốn con dê ghê tởm đó, rồi về nhà dọn dẹp từ trong chí ngoài cho thật sạch sẽ. Sau đó, hãy ăn một bữa đơn sơ những thức dễ tiêu hoá, rồi đi ngủ ngay đừng chần chờ gì cả. Sáng ngày mai, hãy đến đây cho ta biết kết quả."


Những kẻ khốn khổ vội vã dắt nhau về nhà và làm đúng như lời ông pháp sư căn dặn. Sáng hôm sau, người cha hớn hở chạy đến báo cho ông pháp sư: "Thưa ngài công đức bất khả sánh, phép lạ đã xảy ra và quả là tuyệt diệu. Vợ con tôi giờ này vẫn còn ngủ say. Chưa bao giờ họ ngủ ngon như vậy. Tôi cũng thế, đêm qua tôi ngủ say một giấc không mộng mị. Căn nhà rộng rãi, mát mẻ, thơm tho, dễ chịu làm sao! Xin đội ơn ngài..."


Và như thế, ai cũng được vui vẻ. Gia đình đông con nghèo khó kia đã có được căn nhà rộng rãi thơm tho, và ông pháp sư có được hai chục con gà và bốn con dê mập mạp.



Đấy, bạn hiền thấy chưa? Chuyện "cởi mở" ở Liên-Xô thời ấy có khác gì chuyện "cởi mở" ở Việt Nam thời bây giờ. Người Việt mình cũng giống như người Nga, chứ đâu có gì lạ mà bạn cho là khó hiểu.


À, còn cái chuyện người Việt ngoài này đã được tự do mà vẫn sống như lúc chưa có tự do! Thật thú vị. Người Việt mình cũng giống người Ý lắm đấy. Nhưng chuyện đó hãy để lần tới nhé. Bây giờ đã quá khuya rồi. Hút cho hết điếu thuốc, rồi ngủ ngon nhé, bạn hiền.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Đơn xin ngu !!!!


Kính gửi: Thượng đế
Kính gửi: Chúa trời
Kính gửi: Ngọc Hoàng
Và các chức sắc tương đương
.


Con tên là Nguyễn Văn Tèo, hai mươi lăm tuổi, địa chỉ thành phố, xin gửi tới Thượng đế lời khẩn cầu tha thiết như sau:


- Đầu tiên, con chân thành cám ơn ngài đã sinh ra con trên cõi đời này, để con được biết thế nào là đêm trăng, là vầng thái dương chói lọi. Con được nghe tiếng líu lo của chim hót, tắm mình trong vẻ xanh biếc của biển khơi, để con hiểu thế nào là nét dịu dàng của mùa thu, nét tươi tắn của mùa hè và nét lộng lẫy của mùa thi hoa hậu.


Ngay từ nhỏ, con đã được ngài chỉ ra phải cố gắng học hành. Ngay từ buổi đầu học hành, con đã được giáo dục rằng trí khôn là điều quan trọng nhất của loài người. Nhờ trí khôn ta phân biệt được cái đẹp với cái gần như đẹp, cái vĩ đại với cái giả vĩ đại và ta cũng sẽ không nhầm lẫn giữa cái trong sáng và cái ngớ ngẩn. Tóm lại, có trí khôn sẽ có tất cả, ai khôn nhiều sẽ được nhiều, ai khôn ít sẽ được ít và không khôn tí gì thì cũng chả được tí gì.


Chính do hiểu như thế, con ra sức học hành, rèn luyện đầu óc để có được một lượng trí khôn khá phong phú. Con đinh ninh mình sẽ đứng vững, và nếu gặp may, sẽ tiến lên.



Ngài ơi, con nhầm.

Khi tốt nghiệp ra trường, con mới phát hiện rằng, ở một số nơi, đặc biệt là những nơi "ngon", càng khôn, hay nói cách khác, càng tỏ ra biết nhiều càng chết !

Vì sao thế?

Vì người khôn là người phát hiện ra cái hay, cái đúng. Nhưng nếu sếp mình không phát hiện mà mình lại nhanh nhẩu tìm ra trước, vội vàng công bố nó lên thì nhiều khả năng mình sẽ suốt đời bị ghét bỏ, muôn kiếp không lên lương, lên chức gì được.

Đấy là mới nói ở công ty.

Khi đi ra đến ngoài đường, người khôn là người chấp hành răm rắp luật lệ giao thông, không bao giờ vượt đèn đỏ hoặc chạy ngược chiều. Hậu quả là sẽ luôn đến trễ, luôn bị chúng nó ép bẹp dí hoặc ngửi hít khói tơi bời.


Trong lĩnh vực đơn từ, giấy phép, cũng tại khôn quá nên con hiểu là hãy làm đúng thủ tục, chấp hành nghiêm luật lệ, xếp hàng theo thứ tự. Thế nên toi ! Thế nên mọi thứ đều chờ nửa thế kỷ mới được duyệt. Trong khi những đứa kém khôn nhưng biết nhờ tới "cò" tung tăng ra về, vừa đi vừa ca hát thì con ngồi mốc meo trong xó và thổn thức ngóng chờ ngày nọ tháng kia.


Ở lĩnh vực ăn uống, trí khôn ngoan, hiểu biết còn gây ra nhiều sai lầm vô cùng tai hại. Do khôn nên tin tưởng vào những điều ghi trong giấy xác nhận an toàn thực phẩm, tin vào nhãn hiệu hoặc bằng khen vệ sinh. Hậu quả là bụng đầy hàn the, dạ dày đầy đường hóa học và phẩm màu quá đát, thân thể nhiễm độc, đi cấp cứu liên miên.


Trong tình yêu, do quá khôn nên con ỷ nhiều vào tình cảm, coi thường quà bánh, quần áo, dây chuyền. Con thường tặng nàng sách vở thay vì tặng nước hoa, dẫn nàng vào thư viện, bảo tàng, nhà hát chứ không dẫn nàng vô siêu thị. Dẫn tới sở thú để nàng trau dồi kiến thức về hổ, báo hay đười ươi chứ không dẫn đi ăn. Cuối cùng con bị nàng cho leo cây liên tiếp, đến phút này vẫn lơ lửng trên cành.



Về tâm linh, càng nhiều trí khôn con càng tin vào khoa học trong khi anh em nhanh nhẹn tin thầy bói, tin số má hoặc tin quỷ thần. Con cũng thú thực rằng đã nhiều lúc con chả tin ngài cho lắm, nên sao nhãng việc cúng tế, ít khi đốt vàng mã hoặc hiến heo quay. Rốt cục, con thấy mình đơn độc, chả có bạn, chả ai rủ đi chùa, đi lễ hội và cũng chả bao giờ trúng số hay trúng đề gì ráo.


Tai hại nhất, trí khôn giúp con phát hiện ra người không khôn, và con cứ hồn nhiên phát biểu về điều này, trong khi kém khôn hơn thì im miệng. Thế là xong. Con trở nên một kẻ thiếu lòng thông cảm, thiếu cái nhìn toàn diện.


Ngài ơi.

Con sợ khôn lắm rồi. Con cảm thấy rõ ràng kém khôn nhiều lúc dễ sống hơn. Ngài hãy chỉ cho con phải đọc sách gì, phải theo học những chương trình nào mà nhờ đó trí khôn mai một. Nếu việc đấy là quá khó khăn, hoặc do con quá không xứng đáng thì ngài chỉ cho con cách uống thuốc hay luyện tập ra sao nhằm giảm bớt thông minh. Con biết ngài là đấng sáng suốt, nhân từ, che chở cho đứa có trí tuệ cũng như đứa chưa có với một lòng bao dung sâu sắc. Nếu ngài giúp được con ngu đi, con hứa sẽ biết ơn vô vàn và không bao giờ tái phạm. Con mong nhanh chóng nhận được sự chấp thuận của ngài.

Con Tèo

Tái bút: Con chả biết đơn này có cần xác nhận không? Nếu có thì xác nhận thế nào? Con đã quá khôn hay đã quá không khôn?

(nguồn : Báo thanh niên)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


Người thợ xây



Người thợ xây nọ đã làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu trong nhiều năm cho một hãng thầu xây dựng. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình.

Hãng thầu rất tiếc khi thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị ông cố gắng ở lại giúp hãng xây một căn nhà trước khi thôi việc. Ông ta nhận lời.

Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây dựng căn nhà với những vật liệu tầm thường, kém chọn lọc, miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, căn nhà đã hoàn thành. Người chủ hãng mời ông đến, trao cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: "Ông đã gắn bó và làm việc rất tận tụy với hãng trong nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, chúng tôi xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!"

Thật là bàng hoàng. Nếu người thợ biết mình sẽ xây cất căn nhà cho chính mình thì hẳn ông ta đã làm việc cẩn thận hơn và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà ông biết rõ là kém phẩm chất như thế nào.

Câu chuyện người thợ xây cũng tương tự như chuyện đời của chúng ta. Cũng như người thợ già kia, chúng ta thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ, chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó.

Cuộc đời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Đời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn bạn nhé!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Láng giềng một thuở… Sớm mai cầm chổi ra quét sân, thấy cửa nhà hàng xóm mở toang, đằng trước sạch bong, chị lấy làm lạ. Bên ấy thường chỉ hé cửa lúc sắp trưa, và cái cửa chỉ mở đủ cho một người lách qua là dấu hiệu duy nhất cho biết cả nhà họ đã thức dậy. Đấy là hình ảnh duy nhất, còn âm thanh duy nhất là tiếng nhạc lúc chói lói, lúc rền rền. Ít nghe người nói cười. Họ sống im lìm, mờ nhạt và khép kín.

Nên có gì đó thật khác thường, bỗng dưng bên căn nhà chung vách giòn tan, rầm rập tiếng trẻ con chạy giỡn. Cầm chổi ngó ngiêng, gặp một người phụ nữ lạ hoắc, chị ta nhoẻn cười, xởi lởi, “dì Sáu em đi Mỹ chơi rồi, vợ chồng em ở trong quê ra giữ nhà dùm. Chế thứ mấy ? Em kêu cho tiện…”. Vậy là quen nhau, chị bồi hồi khi nghe người phụ nữ gọi “chế Ba à, chế Ba ơi…”, bồi hồi vì mình có thể nhanh chóng thân thiện với người mới gặp. Như thể nghi kỵ, dè dặt chưa từng là thói quen. Chị hớn hở vào bảo với chồng, nhà kế bên tạm đổi chủ, mắc cười lắm, dân nhà quê.

Nhà quê chính hiệu. Điều đó mà chị thấy yêu họ, thấy thú vị, vui vui. Dù đôi lúc cũng bực mình. Chị ghét cảnh những buổi chiều gặp chị vợ cùng hai đứa trẻ ra đằng trước ngóng trông, hỏi chờ gì, chị ta ngỏn ngoẻn cười, “em đợi ảnh về ăn cơm”. Chị cau mày, bỏ vô nhà, lòng nghĩ, đói thì cứ ăn, chờ đợi chi phiền phức, cầu kỳ. Rồi cho thằng con ăn xong, nó cặm mặt vô ti vi, một mình ngồi trước bữa cơm, nghe bên vách chén đũa khua trong tiếng nói cười rôm rả, cả tiếng cạo cơm cháy cũng vui, chị thẩn thờ nhớ chồng giờ nầy chắc đang lu bù với khách.

Có láng giềng mới, chị phát hiện ra bức vách ngăn giữa hai nhà quá mỏng. Nên họ nói cười, cãi cọ… cứ sôi lên như đang ở nhà chị. Họ mở cải lương suốt ngày, toàn những vở hương xa trước và hồi đầu giải phóng, ca từ trong vắt, mùi mẫn. Chị nghe cả tiếng anh chồng vỗ đùi khi Minh Cảnh xuống mùi, còn chị vợ thì ấm ức đòi vặn cổ một nhân vật nào đó ngăn trở mối tình lâm ly của Minh Vương - Lệ Thủy. Cao hứng, chồng còn ca vống lên, làn hơi ấm và mộc mạc như đất. Những trưa, vợ cũng hay dỗ con ngủ bằng những khúc vọng cổ không đầu cuối, nhớ tới đâu hát tới đó, giọng hơi khàn, thỉnh thoảng đứt quãng, nhưng rất ngọt ngào.

Có láng giềng mới, chị phát hiện ra mình hay bị… ngạc nhiên. Toàn vì những chuyện đâu đâu. Hàng xóm làm chị thẩn thờ, cười trừ khi hỏi nhà ở cuối đường ai vừa chết ?! Vợ hàng xóm trố mắt, “Chung xóm mà không biết, ngộ vậy?”. Sáng sau, khi vẹt cửa chào nhau ngoài sân, chị đã có đầy đủ thông tin về người quá cố. Vợ hàng xóm còn thắc thỏm, “lát nữa, cơm nước cho mấy đứa nhỏ xong, em đi giùm đám. Tội nghiệp, nhà họ ít con cháu nên bếp núc không ai lo…”.

Chị ngẩn ngơ. Và ngẩn ngơ là cách duy nhất chị có thể làm khi hàng xóm bưng cho tô bí hầm dừa “ăn lấy thảo”, khi mùi tóp mỡ kho quẹt dậy động sang, khi chị qua nhà họ chơi, ngó mớ rau luộc chấm tương kho trên mâm cơm ban chiều. Khi nhìn con châu châu thắt bằng lá dừa đã khô quắt mà đám trẻ nhà họ cho thằng con chị, khi thấy chúng chơi trò trốn tìm cùng nhau, chị vui muốn khóc, ngó con mình xa được cái ti vi, nhễ nhãi mồ hôi, hăm hở, “Năm, mười, mười lăm, hai mươi…”. Lẫn trong giọng trẻ con là tiếng chim cu gáy gù gù, chị vợ bảo, “Ảnh đem con cu cườm này ra cho đỡ nhớ nhà…”.

Gặp nhau trên vuông sân những buổi mai, mỗi ngày hỏi vài câu, chị biết vợ chồng nọ cũng nghèo. Nhà lá, nền đất, ruộng ít, vườn hẹp. Ở chợ nhưng nhìn mưa rơi hay thắc thỏm, “kiểu này chắc chìm đìa…”. Anh chồng thường phải đi đi về về để trông nom nhà cửa. Và khi bọn trẻ đem cho trái dừa khô đã gọt láng o, mớ mồng tơi non mởn, hay mấy củ khoai mì, khoai lang, củ chuối đã luộc sẵn, chị biết bên ấy có người vừa từ quê ra. Biết nhau chỉ đôi ba tháng mà như đã một thuở là láng giềng gần.

Hàng xóm cũ vẫn chưa về. Căn nhà ấy vẫn mở rộng lòng, nhưng mỗi lần nhìn sang, chị thấy thót ruột vì nghĩ tới cái ngày người chủ cũ quay lại.

Khi ấy, nắng đã vắt qua nửa mùa. Chị cầm chổi ra sân quét lá, nhìn nhà bên cửa đóng then gài im ỉm, nghe thương nhớ ngùi ngùi…

Nguyễn Ngọc Tư ( viet-studies)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mỗi ngày cũng phải nói dối hơn một lần...

"Chỉ có kẻ giả dối mới cao đạo rằng: “Tôi không bao giờ nói dối”. Tôi chỉ tâm niệm là sống thật được ít nào tốt ít đấy. Như vậy sẽ bớt mệt mỏi hơn" -

Khi chúng tôi còn nhỏ, chẳng bao giờ thấy bóng dáng ba đâu. Gia đình tôi chỉ có ông bà ngoại, má và hai chị em gái tôi còn ba tôi sống ở Úc. Tuổi thơ của hai chị em tôi thật ngọt ngào vì có má, nhưng nơi sâu thẳm tâm hồn, chúng tôi vẫn khát một người cha. Chẳng bao giờ chúng tôi dám hỏi má về ba, dường như, chị em chúng tôi quy ước rằng: “Đấy là câu chuyện rất dài của người lớn”, chúng tôi tôn trọng những quyết định của họ.

Má tôi rất đẹp và chiều chuộng chúng tôi. Thế nhưng, trái tim trẻ thơ của tôi vẫn không tránh khỏi tổn thương vì chờ đợi những lời hứa của người lớn. Hồi học cấp I, má hứa khi nào tốt nghiệp hết cấp sẽ mua cho tôi một chiếc xe đạp, vậy là lên lớp 6, tôi cứ đinh ninh rằng mình sắp có một chiếc xe đạp mới tinh để đi, nhưng tôi chờ hoài, chờ mãi… Lời hứa của má đi đâu rồi? Má đã không biết tôi cố gắng thế nào để mong được chiếc xe đạp cho riêng mình. Má vẫn đưa tôi đi học đều đều vì lo lắng tôi bị tai nạn xe cộ. Mãi cho đến lớp 9, khi tôi không thể chờ đợi được nữa, lại năn nỉ má một chiếc xe đạp, má đã mua. Thật ra, một đứa trẻ chờ đợi món quà riêng cho mình lâu như vậy cũng mất đi nhiều cảm giác thèm muốn rồi.

Tôi là con bé rất nghịch ngợm và khá “con trai tính”. Tôi cũng hay nói dối má để đi chơi với bạn bè. Đôi khi, nói dối là điều cần thiết. Nói dối cũng là cả một nghệ thuật để cho mọi người tin điều mình nói.

Tôi đã lớn lên trong nhiều lời hứa suông và tôi biết cảm giác thất vọng của một đứa trẻ như thế nào. Sau này có con, tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ hứa suông với bé, nhưng nói dối thì tôi không chắc. Ngay bản thân tôi bây giờ, mỗi ngày cũng phải dối hơn một lần. Cuộc sống là vậy, đầy sức ép, nhất là với một cô ca sĩ như tôi.

Đôi khi tôi nghĩ, một đứa trẻ sơ sinh chào đời, thân thể nó chẳng có gì, bỗng nhiên, bố mẹ khoác lên thân thể nó cái tã lót, lớn lên khoác lên quần áo, váy vóc, những lời nói làm hài lòng người lớn. Rồi khi lớn, đứa trẻ còn khoác lên mình bao nhiêu thứ “phục trang” giả dối nữa? Cuộc sống cần những câu nói dối, nhưng nói dối không có nghĩa là giả dối. Chỉ có kẻ giả dối mới cao đạo rằng: “Tôi không bao giờ nói dối”. Tôi chỉ có một điều tâm niệm rất nhỏ bé là sống thật được ít nào tốt ít đấy. Như vậy sẽ bớt mệt mỏi hơn...

***

Trong tình yêu, tôi rất coi trọng lòng tin. Người đàn ông hiện tại của tôi khiến tôi hoàn toàn tin tưởng, mặc dù chúng tôi có những quan điểm và suy nghĩ khác nhau. Tôi luôn yên tâm khi có anh ấy ở bên cạnh. Anh ấy không là đại gia như những lời đồn đại mà chỉ làm công việc kinh doanh bình thường. Có nhiều người cho rằng ca sĩ phải “cặp kè” với đại gia để họ giúp đỡ. Tôi cũng có rất nhiều đại gia đi bên cạnh tôi, giúp đỡ tôi, nhưng không phải là “cặp kè”. Họ là những người bạn tốt, ở họ, tôi được học hỏi rất nhiều.

Đối với một ca sĩ, cái sự thật giả ở đời thể hiện rất rõ qua những lời đồn đại. Người ta bịa đặt, đồn thổi nhiều khi chỉ cho vui miệng, nhưng đó là những kiểu vui miệng độc ác và vô tâm. Tôi là người dễ giận hờn, dễ vui vẻ. Nói chung, tôi là loại có biên độ cảm xúc rất rộng. Có lẽ vì thế, những tin đồn gây sốc xung quanh tôi chỉ khiến tôi tức giận trong khoảng thời gian ngắn, rồi tôi quên ngay chúng bằng một nụ cười.

Những lúc mệt mỏi, mất niềm tin vào cuộc sống, sách đã nâng tôi dậy. Tôi không khóc lóc than thở, lao vào các cuộc nhậu thâu đêm hay khoá chặt mình trong phòng tối. Tôi cũng không về nhà gục đầu vào lòng má để khóc như hồi còn con nít vì sợ má lo lắng. Tôi mua sách về đọc, mua đến mức bạn trai tôi phát hoảng. Và rồi, khi chưa đọc xong cuốn sách, nỗi buồn của tôi đã bay hết đi đâu rồi.

Tôi vẫn nghĩ đến một ngày khán giả không còn còn cần mình nữa. Ngày đó, tôi sẽ thôi hát. Tất nhiên, đó sẽ là một ngày rất buồn, nhưng biết làm sao được. Trên một bầu trời, phải có những ngôi sao sáng và mờ chứ. Tôi cũng đang chuẩn bị một bước lui cho mình, nhưng bây giờ thì tôi vẫn tập trung vào ca hát. Hy vọng khán giả vẫn chờ đợi một Nghi Văn mới.

Tôi đang ngồi viết trong một căn phòng ấm cúng ở California. Tôi chỉ đi hát cho người Việt vào các tối cuối tuần. Những ngày thường, tôi lang thang và đi mua sắm với bạn trai. Nhưng tôi vẫn nhớ Sài Gòn làm sao. Tôi thường lên mạng và chat với cô em gái vào những đêm lạnh, thấy thấm nỗi truân chuyên của nghề “xướng ca vô loài”.

Nữ Ca sĩ Nghi Văn (Từ California)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


Một Chút Hương Yêu
Việt Hải



Hương Mùi qua khía cạnh Văn Học:


Tôi đi lang thang trong net, tình cờ bắt gặp bài thơ "Fragrant is our Love" của thi sĩ AJJ, ông ca ngợi những kỷ niệm của ông và người bạn đời Melissa. Mời bạn đọc thơ ông nhé:

"Fragrant is our love;
More fragrant than a flower.
It's aroma permeates the air about me;
Getting stronger by the hour.
Never fading, it's smell grows and grows,
Every sense of my being comes alive,
Like the unfolding pedals of a ripened rose..."



Hương mùi tóc em quyện lấy cơn nắng sớm trong tình yêu, khi nhà thơ rời nhà đi làm nhớ mãi môi em thơm khi hôn giã từ, ánh mắt em trao tình tứ, và trong tâm hồn người thi sĩ nhớ mãi mùi thơm da thịt của em từ kỷ niệm đêm qua, nó như hương hoa của hạnh phúc yêu đương...


"She brushes by me; the smell of her freshly washed hair;
Entreats my nostrils, leading me where
I find peace and happiness, content in her arms;
The odor of her body encompasses me; soft and warm.

If her lips had a fragrance, it would be that of a rose;
Soft, and cushiony the pedals, full of flavor to behold.
She kisses me, and I escape the bonds of time;
...
And I smile, as she glances, and blows a kiss my way.

She brushes by me; the smell of her freshly washed hair;
Entreats my nostrils, leading me where
I find peace and happiness, content in her arms;
The odor of her body encompasses me; soft and warm.

If her lips had a fragrance, it would be that of a rose;
Soft, and cushiony the pedals, full of flavor to behold.
She kisses me, and I escape the bonds of time;
Intoxicating and smooth, like Agape's Wine.
Ah, I stop, I savor, the taste, the aroma;
I breathe in her skin; soft and warm;
Like incense, she permeates my very being.
It is as if it is her fragrance that I am seeing.

I depart for my day of work and toil;
Her fragrance stays with me in memory and thought.
More sensuous than fine perfume; she has my love caught.
A simple smell brings her into my mind;
I need not search far nor long, her love to find..."



Để rồi chiều nay đi làm về nàng lại tiếp tục thì thầm bên tai chàng, để tình yêu thăng hoa trong rực lửa đam mê, họ quấn quít bên nhau bằng những va chạm của làn da thớ thịt mang hương vị mới của tình yêu cho nhau, và cho nhau tất cả... vì đó là tình yêu chân thật nhất của hạnh phúc yêu đương. Vâng, thưa đúng vậy, của hạnh phúc yêu đương.


"Upon my return, at the end of the day;
She whispers words that only lover's know and say.
We embrace, in fires of passion;
Making love in slow, and deliberate fashion.
The aroma of our love fills the marital room;
My seed is watered; fertile; planted in her womb.
And just as a flower must have water to grow;
Our love is saturated; it overflows.
The fragrance is captivating; as we give of ourselves;
One to each other, totally we delve;
A rose in bloom, never wilting, never dying.
Ever fresh; ever trying
To bring forth the newness of Agape from Heaven above;
Keeping fresh, the Fragrance of our Love!"


~AJJ 06/09/00~



Từ bài thơ trên của thi sĩ AJJ, người ta thấy rằng trong tình yêu giữa bồ bịch hay giữa vợ chồng con người nhớ nhau, vì hương men tình yêu họ nhớ mùi da thịt, mùi môi son, mùi thơm hương tóc. Trong phạm vi bài này người viết xin loại bỏ ra ngoài những khía cạnh tiêu cực chỉ để ca ngợi hương thơm của tình yêu theo đúng nghĩa.

Người Polynesians ở các hải đảo vùng Nam Cực hay người Eskimo có thói quen của thuở xa xưa rất dễ thương họ chúi đầu vào nhau hôn hít bằng mũi, cái khứu giác của họ như loài thú khi gần nhau, đánh hơi nhau và tận hưởng mùi thơm nơi da thịt hay trên hương làn tóc của người yêu. Tôi xem những cặp sư tử trong rừng hoang dã của phim Ti Vi về thiên nhiên loài thú vờn nhau, tỏ tình bằng lối đánh hơi, xong dùng vị giác để liếm trên thân thể đối phương, điều này cho thấy loài thú có tình yêu tinh tế có thể đã đi trước loài người ít ra là khứu giác và vị giác và con người lại phê phán loài thú động cỡn như chó tháng 7, khi mà nhịp cầu Ô thước bắc ngang cho tình yêu của Ngưu Lang và Chức Nữ.

Một người bạn tôi kể chuyện tình yêu cũ khi chở cô bồ trên xa lộ Biên Hòa, nàng có thói quen ngồi phía sau dùng răng cà và cắn nhẹ trên lưng anh ta. Dù chưa tháng 7 mà bạn tôi nhớ lại mùa Xuân năm nào cô bạn có thú yêu đương thật dễ thương để sau này họ định cư ở 2 lục địa khác nhau mà hương da tình cũ vẫn hiện về quyện vào dĩ vãng của họ như hoài niệm dấu yêu.

Bài nhạc tình ca "You're My Flavor" của nhạc sĩ Lenny Kravitz đã ca tụng hương vị của tình yêu chỉ làm cho con người mãi mơ tưởng đến nó, chỉ vì khi yêu người ta kiên nhẫn chờ đợi nhau. Đó là sự nồng nàn của tình yêu:

"… And I've waited a long time
Just to feel the way I do
Just give me the reason
And I will be all over you
'Cause you're my flavor of love
You're my flavor I'm dreaming of
You're my flavor of love
You're my flavor I'm dreaming of…
"

Khi con người va chạm thể xác, nỗi yêu thương sẽ xoa dịu nỗi đau của tâm hồn, để tình yêu kia sống lại như cho một cảm giác thật mới trong hương yêu:

"The way you touch me
Somehow it takes away the pain
And now I'm a junkie
I'm running around without a brain
I got the jones deep inside me
And you are what I wanna do
You give me this feeling
You always make me feel brand new"


Do dó mùi vị và cảm xúc trong tình yêu đóng vai trò rất quan trọng trong sự cấu tạo ra tâm lý của gây cảm hứng hay gợi tình. Đối với thú vật khi mùa sinh sản đến như tiến trình thiên nhiên để duy trì nòi giống, cơ quan sinh dục của con cái sẽ tiết ra một loại mùi đặc trưng để hấp dẫn con đực tìm đến. Còn ở con người chúng ta hương vị của nhau là linh hồn của những dĩ vãng yêu đương khi ta bên nhau. Trong ba giác quan như khứu giác, vị giác và xúc giác là những yếu tố then chốt của những cảm xúc chuẩn bị cho giai đoạn khi mà con người như anh ong chị bướm trao nhau tình ái. Khi cảm nhận một mùi hương quen thuộc đã lâu mà nay nhận ra nhau, rồi bỗng nhiên con người gợi nhớ lại một hình ảnh nào đó liên quan đến nó và cảm xúc lại hiện ra. Cảm xúc ấy là kết quả của một vòng phản xạ được dẫn truyền từ não bộ những tín hiệu như bộ máy cảm nhậy linh ứng (sensor) để kích thích bộ phận sinh dục tạo ra hứng cảm.
Do đó những phân tử của mùi vị bay theo hơi sóng vi ba khi tiếp giáp vào xoang mũi khiến cho các niêm mạc trong mũi sẽ tạo ra phản ứng kích thích, từ đó nó luồng theo dây thần kinh khứu giác chuyển về não và tạo ra ngay một cảm xúc, đồng thời mọi hành vi hay trực giác của ý nghĩ sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp được điều khiển do cảm xúc này.
Nếu súc vật giống cái có mùi hấp dẫn con đực vào chốn mê hoặc thì hẳn con người cũng có đặc điểm tương tự như đã được mô tả trong nhà thơ Mỹ AJJ, thi sĩ Hà Huyền Chi cho vần thơ thương nhớ hương tóc rối quyện hương thơm da thịt của tình nồng nàn ái ân được mô tả khéo như trong bài "Mộng Du":

"Tóc đêm hoa mộc nồng nàn
Tóc em hoa biển sóng tràn tâm hư
Cuốn ta vào giấc mộng du
Da thơm nắng ướp màu thu, hương rừng."


Theo website của nữ thi nhân Bút Vàng cho biết quả măng cụt, tức tên Anh ngữ là mangosteen đuợc kỹ nghệ y khoa sức khỏe dùng trong các sản phẩm giúp con người tẩy trừ hơi thở hôi hám từ cơ thể. Một phản ứng phụ lạ lùng của các kháng thể diệt vi trùng với tên xanthones trong quả măng cụt là khả năng tẩy trừ hơi thở hôi hám.Nhìn trong thiên nhiên muôn vàn loài hoa quả được kỹ nghệ biến chế mùi thơm và tẩy trừ mùi hôi đã dùng đến từ hoa lài, ngọc lan, chanh, dâu, chuối, đào,...

Trong bài thơ "Dạ Lý Hương", tôi xin trích 2 đoạn như sau:

"Ngày ẩn đêm chường kiếp Lý Hương
Khoe gương bày nhụy giữa đêm trường
Ngọt ngào mùi xả càng tha thiết
Trắng trẻo màu hoa ngắm dễ thương…"


Nhà thơ nữ Ngọc An đã nhân cách hóa khi ví von người nữ như loài hoa Dạ Lý. Một loại hoa cho hương thơm ngào ngạt, có màu trắng tinh như thân người trinh nữ, khi mà con ong cánh bướm mê mẫn ve vãn:

"... Dù em…trong kiếp loài hoa dại
Vẫn thấy e dè ngại bướm ong
Đã quyết một lòng gìn giá ngọc
Sợ gì… nở nhụy giữa đêm đông"


Như trên đã đề cập đặc điểm của con cái, trong thiên nhiên loài vật đến mùa sinh sản, cơ quan sinh dục của con cái sẽ tiết ra một loại mùi vị đặc biệt để chiêu dụ con đực tìm đến. Ở một số loài thú như các loại côn trùng, mùi đặc biệt này có thể theo gió bay xa đến cả trăm dặm để đến đối phương. Một con ong chúa bay ra khỏi tổ trong mùa sinh sản sẽ tiết ra một mùi kỳ lạ trên các cụm hoa, chỉ để quyến rũ các chú ong đực bay theo nàng ong chúa. Tương tự như ruồi, châu chấu, cào cào,... Luật tuần hoàn sinh sản vốn được tạo hóa sắp xếp thế nào, cảm giác ra sao thì chỉ mỗi cặp bạn tình mới cảm nhận đầy đủ ý muốn của nhau được. Sự yêu thích hương vị của nhau chính là những biểu hiện sự hòa hợp, ve vãn trong tình yêu và nó cũng thể hiện bản chất của nghệ thuật "yêu nhau" của đôi lứa.

Nhà thơ AJJ dùng thơ tán dương vẻ thu hút của người vợ mình nỗi nhớ khôn nguôi vì hương vị mà nàng có. Vợ chồng thương nhau thương hương vị của nhau, hoặc giả họ nhớ nhau cái nhớ suốt đời vì mùi vị lưu luyến của nhau như trong câu ca dao Việt Nam:

"Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi"


Nói về "mùi hương tóc em" tôi còn nhớ 2 kỷ niệm khi trong hoàn cảnh thiếu nước hay vì quá lạnh mà con người đâm ra sợ nước. Bạn tôi kể rằng trong chuyến vượt biên trên chuyến tãu định mệnh Skyluck khi người CS cố tình trục xuất Hoa kiều ra khỏi Việt Nam trong 6 tháng ròng rã bạn tôi và cô hôn thê người gốc Hoa Chợ Lớn vẫn âu yếm nồng nàn khi mà nạn chí rận trên làn tóc mây ngày nào đe dọa con người, con tàu đông đúc hành khách, người ta phấn đấu với giá trị của tự do mà hy sinh "mùi hương tóc em" và khi ta yêu nhau 5 tuần chưa có nước cũng không ảnh hưởng chi đến sức mạnh của tình yêu.

Một người bạn Mỹ đi trượt tuyết cùng vợ mới cưới, cơn bão tuyết chợt đến khi hai người bị lạc trong căn nhà hoang chẳng có nước mà chỉ có thức ăn hộp, họ đã nồng nàn bên nhau 3 tuần "trăng mật" đáng giá yêu thương trước khi được trực thăng đên tiếp cứu. Ba tuần không tắm vẫn bằng lòng với "mùi hương tóc em".

Trong bài "Mùi hương tóc em" của thi sĩ Hoàng Thy diễn tả tình yêu qua mùi hương của tóc:

"Anh nhớ mãi mùi hương thơm tóc em
Thoang thoảng bay như mùi lan dạ thảo
Nhẹ len lén đi vào anh một dạo
Rồi trải dần ra khắp cả châu thân"


Người nam thèm nâng niu một lần, một lần hôn em bẽn lẽn cho giấc mơ thành hiện thực:

"Anh thèm lắm được nâng niu một lần
Đôi tay nhỏ với nụ hôn trìu mến
Nhưng mỗi lần anh thấy em bẽn lẽn
Đành quay đi dấu một tiếng thở dài"


Vương vấn mùi hương trong nhung nhớ, đê mê tê dại lòng đắm say chết lịm vì mùi tóc của em:

"Anh nhớ mãi tóc em thơm mùi hương
Vương vương vấn trời sa sương mờ ảo
Ray ray rứt thật gần sao long lanh
Tê tê dại cõi lòng anh chết lịm"


Có lẽ nhà thơ Hoàng Thy là một trong những nhà thơ đã làm một thơ dài chỉ để tri ân cái mùi hương hoa của em khiến người tê dại chết lịm cõi lòng, cho người sống mãi với tình nhung nhớ khôn nguôi:

"Em hãy giữ mùi hương trên mái tóc
Đời mai này nếu lỡ có xa nhau
Anh sẽ bảo gió cuốn mang về đây
Cho anh sống một trời mây nhung nhớ."


Nhà thơ nữ Hương Sa Mạc gởi tôi email về thơ "Hương Tình Yêu" của chị có vị ngọt bờ môi, có hương tình hưng phấn mà người đọc cảm nhận được cái nóng bừng của rực lửa yêu đương:

"Hương tình ngọt lịm trên môi
Mắt tình lóng lánh bồi hồi tim ai
Tóc xanh theo gió ngắn dài
Như cành liễu rũ van nài ... vuốt ve
Ai người trương gấm phòng the"


Cái nóng trong tình yêu đong đầy "chuyện ấy" từ cái nóng của sa mac Sahara trên 100 độ F để hương tình yêu lên ngôi thì thử hỏi bố bảo ai mà nỡ hững hờ hay chỉ lơ tơ mơ với tình nồng nàn chín đỏ như gấc của hương vị thương yêu:

"Nhớ thương thương nhớ...từ Hè sang Thu...
Giòng đời những chuyến mộng du
Hương Tình Yêu ấy...thiên thu... hững hờ
Ngồi đây mà cố làm thơ
Ngoài trời nóng bức... lơ mơ... thế nào."

Hương Sa Mạc

Tôi cũng được thi sĩ Lan Quỳnh gởi biếu dĩa CD có nhạc phẩm "Tóc Hương", được phổ từ thơ chị, trong cơn gió lùa phất phơ hương tóc bay bay để cho ấp ủ tim anh một đời:

"Một làn tóc biếc theo em lên ngàn
Một làn tóc xanh cho tình lênh đênh
Một vùng tóc rối ru em dỗi hờn
Một vùng tóc hương cho đời ấp ủ
Anh xin một đời. Một đời bão tố…
Làm cơn gió lùa tóc mây bay"


Thi sĩ Hà Huyền Chi nhắc tôi một chuyện tình lãng mạn lắm của vua Napoleon và hoàng hậu Marie-Josephine-Rose. Napoleon vốn vang danh thao lược binh pháp, nhất là trận đánh để đời Austerlitz, khi chinh chiến xa nhà Napoleon biên thư thăm hỏi hoàng hậu những dòng thư đầy nhớ nhung tình ái cho Josephine trong ý tưởng như: "Gửi em yêu dấu, Anh nhớ em nhiều, nhớ mùi thân thể của em, anh muốn ngửi nó thật nhiều".
Yêu nhau đến thế là cùng, nhớ nhau đến thế thật chí tình, một sự yêu đương lãng mạn thật dễ thương, thật trọn vẹn.

Image

* *
*


Hương Mùi qua khía cạnh Y Học:


Tiến sĩ Tâm Lý học Rachel Herz làm việc tại Trung tâm Cảm ứng Hóa học Monell (Monell Chemical Senses Center) tại thành phố Philadelphia đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu tương quan giữa mùi vị và xúc cảm. Trong một công trình nghiên cứu về trí nhớ thuộc về cảm xúc.Cuộc nghiên cứu chứng minh có sự liên hệ. Giữa mùi vị, trí nhớ và sự cảm xúc dựa vào ý niệm cơ bản của cơ thể học. Khứu giác nhận những tín hiệu được truyền qua những dây thần kinh về mùi vị được tiết ra trong không khí, khứu giác được nối kết với hạch hạnh nhân (amygdala), là một khối hình hạnh nhân mầu xám tọa lạc trong bán cầu não. Chức năng của hạch này có liên hệ đến các đặc tính, khứu giác, sự nhận diện mùi vị, trí nhớ ghi nhận những sự kiện mới xảy ra. Bản tường trình của tiến sĩ Herz cho biết dù mùi vị không giúp nhiều cho con người những chi tiết thính thị trong trí nhớ, nhưng nó lại mang lại những dữ kiện về xúc cảm của con người.

Theo tập chí Tâm lý Hoa kỳ, phạm vi căn bản của trí nhớ, xúc cảm và mùi vị chưa được khám phá sâu rộng đến nơi đến chốn theo tiến sĩ Eric Eich dạy tại đại học British Columbia. Tuy nhiên công trình nghiên cứu sơ khởi này của tiến sĩ Herz đã thành công tạo ra sự nhận dạng căn bản nhận ra đặc tính về mùi vị, trí nhớ và xúc cảm, nhất là trí nhớ về những biến cố được ghi nhận lại. Bà đang thực hiện công trình lý thuyết hóa tương quan giữa mùi vị và xúc cảm của cơ thể.

Tiếp theo đề tài mùi vị và xúc cảm như thích hoặc không thích, các nhà nghiên cứu tại đại học Brown tại thành phố Providence, tiểu bang Rhode Island cho biết đối với mỗi mùi vị khứu giác thu nhận và lưu trữ dữ kiện như thơm, hôi, cay, nồng, dễ chịu,… vào trong bộ nhớ trong não, sau này chúng ta gặp lại mùi vị tương tự não sẽ thông báo khi mũi gửi tín hiệu mùi vị, ta sẽ nhận ra chất mà ta đang ngửi trước đây ví dụ như tiêu, hành, ớt, tỏi, quế,... Trưởng nhóm nghiên cứu là tiến sĩ Rachel Herz nói là: "Ngoại trừ những mùi vị khó ngửi ra, mùi vị chỉ là sự quen thuộc theo kinh nghiệm cá nhân hay văn hóa gốc của người đó ".


Hàng năm Hiệp hội ngành sản xuất rượu vang vẫn tổ chức những buổi lễ nếm và ngửi rượu vang, mục đích nhằm thẩm định độ ngon, sự hơn thua giữa các sản phẩm. Từ Chateau ở làng Gordes có địa danh Avignon vùng Provence của Pháp, hay vùng Tuscany gần Địa trung hải và Florence của Ý nổi danh từ thức ăn và rượu vang đến vùng cao nguyên Napa ở California của Mỹ, rượu vang được thế giới biết đến, người ta phân biệt vang đỏ như Cabernet Sauvignon tới Merlot hay vang trắng như Sauvignon Blanc tới Chardonnay.

Các chuyên viên về kỹ nghệ ngửi và nếm rượu vang phải dùng 4 nguyên tắc cơ bản để phân biệt rượu vang (Four Elements of Flavor) như: Mùi vị (Smell), Vị giác (Taste), Cảm giác (Feeling) và Thị giác (Seeing) để nhận định một loại vang. Trên thị trường thế giới có khoảng 14,000 loại vang, đủ vị, đủ mùi.

Theo khoa học Khứu giác ngoài thiên nhiên có 17,000 mùi vị khác nhau mà mũi con người chỉ có khả năng phân biệt nổi chừng 10,000 mùi vị mà thôi. Nữ bác sĩ Ann Noble thuộc đại học UC Davis dùng máy phân định mùi vị và hương thơm (Gas chromatography) và in ra những sơ đồ về đặc tính và nguồn gốc của nó.

Tương tự về thực phẩm, các giám khảo tham dự các kỳ thi nấu ăn giải quốc gia hay quốc tế mà khứu giác được dùng chung với vị giác và thị giác khi chấm giải hơn thua của thực phẩm dự thi.
Về kỹ nghệ nước hoa hay dầu thơm vẫn có những tay phân tích viên cừ khôi trong ngành này, kinh nghiệm hiểu biết rộng về mùi vị nước hoa, thị hiếu thị trường, giá trị kinh tế, … và sự pha chế hương vị mà khứu giác đóng một vai trò tối ư là quan trọng.

Tại Pháp, khi vua Napoleon thua quân Anh tại mặt trân Waterloo, ông qui ẩn về tại thị trấn Elba, nơi đây còn ghi dấu đại lộ Napoleon. Sự ngẫu nhiên là cái thành phố này người ta tìm thấy rất nhiều hãng nước hoa có mặt tại đây. Ví dụ hãng nước hoa Fragonard cho biết để có một lít nước hoa mùi hoa lài, người ta cần đến hơn một tấn hoa lài ép ra lấy tinh chất để pha chế làm nước hoa. Do dó tại sao gia nước hoa lại quá đắt tiền, cũng vì vật liệu tốn kém cộng thêm diễn trình biến chế thật công phu. Fragonard còn cho biết hãng thuê nhiều chuyên viên giám định mùi vị là đàn ông, vì hình như trời ban cho cái mũi người đàn ông nhậy cảm và phân tích hương vị lẹ làng hơn mũi của đàn bà. Một chuyên viên giám định mùi vị phải theo học tại trường lớp hẳn hòi, họ phải biết về hóa học, thực vật, cây cỏ, thảo mộc, mùi vị, cơ thể học như ngũ giác quan. Họ phải phân biệt trong tích tắc các mùi vị, trong số có từ 500 cho đến 2000 mùi vị khác nhau. Kinh nghiệm cho chuyên viên giỏi sẽ đánh hơi mùi vị nhiều hơn, họ được công ty hay kỹ nghệ trọng đãi hơn.

Image

Tiến sĩ Herz tin tưởng khi hai yếu tố mùi vị và cảm giác được nối liền qua một phương pháp hướng dẫn tâm lý có thể giúp cho các nhà hàng bán nhiều hơn khi gia tăng hương vị mới lạ của thực phẩm mà không cần dùng nhiều muối, mỡ hay đường để tránh bệnh tật. Tại nhà thương, bệnh nhân sẽ dễ chấp nhận thực phẩm tại nhà thương mà xưa nay thức ăn tại nhà thương thường không được đánh giá cao. Do đó cũng làm chậm tiến trình phục hồi sức khỏe của bệnh nhân.

Mùi vị có làm bạn ốm thon gọn không?

Bác sĩ Alan R. Hirsch, Giám đốc Cơ quan Nghiên cứu Mùi vị và Tân Trị liệu cho hay là những công trình nghiên cứu mới gia tăng hay giảm cân hay phục hồi hay gia tăng hạnh phúc hôn nhân. Khi nhu cầu cho con người gia tăng về sức khỏe, thẩm mỹ và hạnh phúc thì mùi vị được nhân loại lưu ý nhiều hơn.
Khi khứu giác nhận định được mùi vị ngon của thức ăn theo bác sĩ Hirsch thì người nặng cân sẽ ý thức từ trong não bộ giúp cho sự kiềm hãm ý định ăn thêm khi vừa đủ. Con người mất cảm giác về mùi vị hay bị bệnh hư khứu giác (Anosmia) sẽ ăn hoài vì họ không tự chế ngự được ý muốn muốn ăn từ não bộ.

Mùi vị có làm bạn hưng phấn trăng hoa hạnh phúc thêm chăng?

Theo nghiên cứu của bác sĩ Hirsch khi đôi tình nhân có khứu giác tốt họ phân biệt mùi hương tình ái và mùi hôi tình trường để đôi bạn hãy tự điều chỉnh, cải tiến lại giai đoạn chuẩn bị cho phòng the, cho cái giây phúc dấu yêu ban đầu của sự hưng phấn khi mà cơ thể phải thơm tho sạch sẽ hấp dẫn đối tượng đồng hành trong thú bên nhau. Điều không chối cãi sự vệ sinh thân thể là yếu tố quan trọng trong hạnh phúc hôn nhân. Mùi vị trao nhau trong thú yêu thương có thể làm đối tượng lãnh cảm hay mất hưng phấn của giai đoạn tiền trăng hoa.

Trong phần trên tôi viện dẫn lý lẽ của 2 cặp trai gái trên tàu vượt biên Skyluck hay cặp người Mỹ đi lạc trong cơn bão tuyết, họ chấp nhận tình trạng tạm thời trong hoàn cảnh khó khăn. Bác sĩ Hirsch dùng trường hợp lâu dài cho hạnh phúc hôn nhân cần được cải thiện trước khi đến giai đoạn nhàm chán để rồi tự ý xa nhau, dù trong thực tế hay trong tâm hồn.

Bệnh Anosmia là gì?

Đây là chứng bệnh mất cảm giác của khứu giác do bị nhiễm lạnh lâu ngày hay vì tai nạn động sọ não ảnh hưởng đến các dây thần kinh của khứu giác. Tôi xin đan cử hai ví dụ là anh Randy Williams hành nghề thợ sơn xe tại Detroit, anh bị hóa chất sơn xe tạo ra chứng bệnh allergy và cộng thêm thời tiết khắc nghiệt của mùa đông Michigan, anh được bác sĩ xác nhận căn bệnh Anosmia, anh mất cảm giác bén nhậy khi đánh hơi. Để chữa bệnh này anh cùng gia đình dọn về Orlando và tìm việc làm trong một nhà hàng, anh hiện là một đầu bếp chánh.

Trường hợp thứ hai thê thảm hơn, Robert Weinstock là một họa sĩ và văn sĩ tại thành phố Greenwich Village, thuộc New York, anh bị tai nạn xe đụng, vỡ xương sọ và hư cột tủy sống. Do tai nạn chấn thương trầm trọng này vùng não ảnh hưỏng đến khứu giác và vị giác bị tê liệt, anh không cảm nhận được mùi vị. Ngày xưa anh là người rất thích cà phê, ngày nay anh uống không còn cảm giác, anh ăn thức ăn nào cũng như nhau, không có hương vị chỉ vì căn bệnh Anosmia nghiệt ngã của anh mà thôi. Hai chức năng khứu giác và vị giác dính liền gần trên não, khi bị hư đi cuộc đời người bệnh nhân sẽ tẻ nhạt, vô vị lắm.
Anh Weinstock quyết chinh phục bệnh mất khứu giác của mình, những ngày tháng ăn uống vô vị qua đi, anh ăn thức ăn Thái vốn có ớt tỏi để so sánh với thức ăn Nhật để so sánh mùi hương vị, anh ăn thức ăn Ý có nhiều tỏi so sánh với thức ăn Đức, rồi anh so sánh các loại cà phê, chocolate, kem, anh thực tập phân biệt hay so sánh vị thơm của kem vanilla so với mùi chocolate, giữa mùi chanh và chuối,... Người viết chỉ tiếc không được làm bạn với anh Robert Weinstock để giới thiệu anh sự phân biệt giữa cái cao độ của mùi sầu riêng khi anh so sánh với chuối, hay cái cao độ của mùi cà cuống so với mùi vanilla, hay cái cao độ của cà pháo mắm tôm so với món cá sống sushi hay cái cao độ của mắm kho miệt lục tỉnh so với món beefstew,... Biết đâu chừng bệnh Anosmia của anh được thuyên giảm 90% không chừng, thay vì Weinstock chỉ đạt được 70% theo bản phúc trình của văn phòng bác sĩ theo dõi trình trạng bệnh lý của anh.

Nói tóm lại bài biên khảo "Một Chút Hương Yêu" này đi từ lãnh vực văn học có hương tình yêu có chút dấu yêu của thơ AJJ viết cho Melissa, có nhạc "You're My Flavor" của nhạc sĩ Lenny Kravitz, có thơ Hà Huyền Chi, Ngọc An, Hoàng Thy, Hương Sa Mạc và Lan Quỳnh cũng như có Napoleon nhung nhớ Josephine sang khía cạnh mùi vị trong y khoa ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống, có Dr. Rachel Herz, Dr. Eric Eich, Dr. Ann Noble, Dr. Alan Hirsch, Randy Williams và Robert Weinstock. Tất cả đã góp mặt cho bài mua vui này một chút giải khuây, chút ý kiến cho kiếp nhân sinh này ý nghĩa hơn khi ta còn tri ân chút hương yêu, chút vui lây trong tâm hồn thưởng ngoạn ăn uống. Xin hẹn bài khác, quý bạn nhé.

Việt Hải, Los Angeles



Image

Lenny Kravitz
You're My Flavor

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

BỆNH MÙ LÒA


Trước 30 tháng Tư 1975, tại miền Nam và tại Mỹ, Pháp ..v..v.. đã có khá nhiều người bị mù lòa mà thuốc men và kỹ thuật chữa trị của Thế Giới Tự Do không chữa nổi. Chứng mù của một bộ phận trí thức miền Nam Việt Nam, của nhóm phản chiến Hoa Kỳ, của một vài tài tử, ca sĩ, của một số triết gia Pháp, Đức, của một số tu sĩ đầy vọng tâm ... Bệnh mù của họ kéo dài gần ba thập niên, tưởng đã trở nên kinh niên bất trị, nhưng không ngờ Cộng sản Việt Nam sau khi xâm chiếm Nam Việt Nam khoảng hai năm, đã phát minh được phương thuốc chữa bệnh mù cho hơn 20 triệu người miền Nam, cho hầu hết những người chủ trương phản chiến hăng say nhất như Joan Baez, Jane Fonda … Bệnh mù của Kissinger và một số nhà ngoại giao Tây Phương cũng được chữa lành. Họ được sáng mắt khi Cộng sản Việt Nam thi hành chính sách man rợ đối với "đồng bào ruột thịt miền Nam" như lùa hết quân dân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa vào các trại tù được mở ra dọc theo núi rừng từ Nam ra Bắc, cưỡng bách dân miền Nam đi vùng Kinh Tế Mới, thực chất là một cuộc đày ải để cướp nhà, cướp đất, cướp của cải của họ tại các thành phố ... Hàng triệu người Việt liều chết bỏ nước ra đi, cả triệu người bỏ mạng trên biển Đông, trong rừng sâu, tại các vùng kinh tế mới "Khổ Thấy Mẹ!" và trong các nhà tù mang mỹ danh cải tạo.




Chính sách tàn bạo và thâm độc của Cộng sản nói chung và Cộng sản Việt Nam nói riêng là một thần dược chữa chứng mù lòa cho những kẻ bị huyền thoại Giải Phóng mê hoặc, cho những người mù lòa do tham vọng cá nhân, chức quyền bốc hỏa làm mờ lương tri. Đa số những người mù lòa trước năm 1975 đã được sáng mắt để nhìn rõ thực chất của Cộng sản, thấy rõ "tính ưu việt" của tập đoàn "sinh ra trong đói nghèo, lớn lên bằng chiến tranh, giết hại, nuôi sống bằng sự dối trá và đang hấp hối bởi sự bất tài, bất lực và tham nhũng …"




Tự nhận là đỉnh cao trí tuệ, sau 29 năm thống nhất lãnh thổ, xây dựng đất nước trong hòa bình, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thực hiện được CÔNG VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO cho nhân dân, mặc dù tài nguyên đất nước vô cùng phong phú: rừng vàng, biển "đô la," từ dầu mỏ và hải sản, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới cấp cho chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo 54 triệu Mỹ Kim, và tiền Việt Nam Hải Ngoại "chi viện không hoàn trả" cho thân nhân mỗi năm hơn 3 tỉ Đô la Mỹ. Tiền ấy đi về đâu, mà đại đa số nhân dân vẫn đói nghèo đến độ mẹ phải bán con nhỏ, con lớn 9-10 tuổi qua Cam-Bốt làm điếm, nhà Nước thì bán hàng chục ngàn phụ nữ qua làm vợ người Đài Loan, xuất khẩu nhân công, xuất khẩu con nuôi quốc tế. Trước tình cảnh này, nhiều cán bộ cao cấp của Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một số trí thức Cộng sản cũng đã sáng mắt nhìn thấy rõ bản chất ác quỷ của Đảng ta, đã liều thân lên tiếng và đã bi. Đảng tru diệt không nương tay …




Thế mà tại hải ngoại, hiện nay vẫn còn một số người Việt mang danh tỵ nạn chưa được sáng mắt, vẫn mắc chứng mù lòa mà nguyên nhân chính là do lòng tham tiền bạc, hoặc mơ ước chút danh vị nào đó từ phía Cộng sản. Trong số người mắc chứng mù lòa này, ngoài một số cựu tù nhân chính trị đi theo thành phần "HO" không có ý thức quốc gia, không lý tưởng, vừa mới qua Mỹ được vài tháng đã quay trở lại Việt Nam làm việc cho kẻ đã muốn giết mình (Chu Tất Tiến - Sau 25 Năm Nhìn Lại Việt Nam ... trang 77), còn có một số luật sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chủ báo, nhà văn, nhà thơ, thương nhân ... Số người này tìm cách len lỏi vào cộng đồng tỵ nạn để tuyên truyền cho chế độ Cộng sản bằng cách này hay cách khác, thầm lén hoặc lộ liễu. Họ lập ra những tổ chức "nhân đạo" với mục đích bòn rút tiền của Việt Nam Hải Ngoại đem về trong nước nói là "nuôi trẻ mồ côi," "giúp người tàn tật," tổ chức Đại Nhạc Hội gây quỹ cứu trợ "thương phế binh" không phân biệt Bắc Nam, "xây trường học, sắm bàn ghế cho học sinh," "mua thuốc và đưa các đoàn y tế về chữa bệnh, chủng ngừa, chữa bệnh mù tại Việt Nam …" Người mù tại Việt Nam được sáng, nhưng số người hải ngoại tham danh hám lợi này lại không sáng mắt, cho nên họ đã hành động như nhà nước Cộng sản Việt Nam là một con số không to tướng, vì tất cả mọi vấn đề từ ấm no, học hành, y tế, trẻ mồ côi người tàn tật tại quốc nội đều do ngân sách của Việt Nam Hải Ngoại chi ra hết. Các viên chức Đảng và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khỏi phải bận tâm gì đến đời sống nhân dân, để chăm lo bòn rút công quỹ cho đầy túi riêng, đưa Việt Nam đạt vị trí thứ ba trong nấc thang tham nhũng tại các quốc gia Đông Nam Á.




Số người hải ngoại tối mắt vì đeo kính hiệu Hòa Hợp Hòa Giải. HHHG là chiêu bài của cái gọi là Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời sau 30-4-1975 có mục đích dụ dỗ quân dân cán chính miền Nam đi trình diện để nộp mình vào ở tù một cách thoải mái, Cộng sản khỏi đi lùng bắt, tránh sự rối loạn nguy hiểm. Bằng chứng là sau khi đưa hết vào trại tù, thì Cộng sản không còn nhắc lại nữa, chỉ còn một số người mù tại hải ngoại đứng đầu là Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng hô hào HHHG mà thôi. Tháng 7 năm 2000, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa và cảnh giác trước âm mưu "Diễn Tiến Hòa Bình," vẫn bảo vệ chế độ độc đảng bằng mọi giá, kể cả bỏ tù và triệt hạ các Đảng viên Cộng sản phản tỉnh, phê bình sai trái của Đảng trong việc trị quốc. Hầu hết các thành viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng bị uy hiếp, phải tìm cách trốn thoát ra ngoại quốc. Các tay cầm cờ ba màu ra đón quân "Giải Phóng" vào Sài Gòn như Đoàn Văn Toại, chẳng bao lâu sau đó bị Cộng sản bắt giam và đánh đập tàn nhẫn ... Sau khi được thả ra, Toại vượt thoát được sang Pháp, "bệnh mù" khỏi được một thời gian. Sáng mắt, Toại tố cáo tội ác của Cộng sản Việt Nam trong cuốn "Le Goulag Vietnamien" (Nxb. Laffont, Paris 1979.) Trong nhà tù, Đoàn Văn Toại đã gặp một cựu chiến binh Cộng sản 82 tuổi, cũng bị giam, mặc dầu cuối thập niên 1920, ông ta là một trong những lãnh tụ và sáng lập viên của Đảng Cộng sản Đông Dương ... Ở Pháp một thời gian, không hiểu sao, Đoàn Văn Toại bị mù trở lại. "Bệnh mù tái phát" làm cho Toại có luận điệu nịnh bợ Cộng sản và đã bị trừng trị đích đáng.




Từ thập niên 70 đền 80 Đảng và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gọi những người vượt biển ra nước ngoài là bọn người phản quốc, chống phá cách mạng, "là những thành phần rác rưởi, lưu manh, những kẻ phản động, phản quốc, bỏ nước ra đi theo ngụy." Chính Bộ Trưởng Y-Tế Nguyễn Thượng Nhân đã phát biểu là "nên treo cổ hết những kẻ phản động ấy!"




Thế nhưng đến thập niên 1990, thì Đảng và chính phủ Cộng sản Việt Nam đã gọi họ là "Việt Kiều Yêu Nước" và một cách âu yếm hơn là "Khúc ruột ngàn dặm." Lập tức, trong những năm đầu của thập niên 90, ở Pháp, và Nam California, Hoa Kỳ, bỗng nảy sanh một khuynh hướng mong muốn Hòa Hợp Hòa Giải với chính quyền Cộng sản Việt Nam. “Bằng những bài báo dùng ngụ ngôn bóng bẩy kêu gọi kết hợp trong nước và ngoài nước, bằng những tập san xuất bản đều đặn với những bài xã luận nói về hợp sông, hợp suối, hợp lưu, bằng cách cho đăng những bài viết của những người Cộng sản đích thực như Trần Bạch Đằng, một nhà lý luận Cộng sản chuyên nghiệp, hay của những người có nợ máu với dân chúng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhóm chủ trương Hòa Hợp Hòa Giải này mong muốn có quan hệ tốt với Cộng sản, quên thù hận xưa, để cùng tiếp tay xây dựng đất nước. Một vài nhân vật nổi tiếng trong giới Y khoa và báo chí cũng tuyên bố kêu gọi về nước làm chính trị và xã hội.” (Chu Tất Tiến, sđd, tr. 89-90).




Những tổ chức tranh đấu trong Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại gọi nhóm này là cơ hội chủ nghĩa, hoặc tay sai Cộng sản Việt Nam, thậm chí còn buộc tội họ là Việt gian. Vì trên lý thuyết, nếu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thực tâm muốn cho đất nước thoát nghèo nàn và lạc hậu, thực tâm quên hận cũ, thù xưa, chào đón người Việt hải ngoại về cùng chung tay phục hưng đất nước, thì đó là một phước lớn của dân tộc Việt. Nếu được như thế, thì sẽ không còn phân biệt LÝ LỊCH quốc gia hay cộng sản, không còn tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm bị giam giữ, tra tấn, ngược đãi trong các nhà tù; nhà cửa của người vượt biển được chính quyền Cộng sản trả lại nguyên vẹn, vô điều kiện, người bất đồng chính kiến không bị theo dõi, bắt giam hoặc hãm hại một cách bí mật ...




Nhưng trên thực tế, người Cộng sản chỉ mong hải ngoại mang tiền về mà không mang theo chính trị. Cộng sản Việt Nam chỉ dùng những người đem lại lợi ích tiền của về trong nước và tuyên truyền chính trị cho họ ở hải ngoại mà thôi. Những kẻ mơ mộng, thơ ngây hoặc những tay ham mê chút lợi danh, vội vã trở về hợp tác với Cộng sản, chỉ sau một thời gian ngắn, đều phải "trở lại hải ngoại sống âm thầm, xa lánh bạn hữu và cộng đồng." Kinh nghiệm cho thấy khi một người thân Cộng ở hải ngoại, đã lộ mặt, bị cộng đồng lên án, tẩy chay, khi họ không còn chút uy tín nào nữa, thì người Cộng sản lập tức bỏ rơi. (Nhiều trường hợp cụ thể, về nạn nhân của hòa hợp, giao lưu, thiện nguyện, cứu trợ vân vân ... được nêu rõ trong tác phẩm của Chu Tất Tiến, từ trang 92 đến 95).




Chủ trương "hòa hợp hòa giải" với Cộng sản Việt Nam của kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng qua nhóm Thông Luận, nhóm Hợp Lưu Giao Điểm ... đã bị hầu hết Cộng Đồng Người Việt khắp nơi xem là ngây thơ và mù quáng, vì trên thực tế Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận đa nguyên, họ bảo vệ Đảng bằng bất cứ giá nào. Ngay cả với người đã nằm xuống, Cộng sản Việt Nam vẫn nuôi mối hận thù và đã ngược đãi họ. Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa ở Biên Hòa đã bị phá, bức tượng Tiếc Thương, một tác phẩm điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu dựng trước cổng nghĩa trang, đã bị Cộng sản Việt Nam tiêu hủy đi.




Một số người Việt hải ngoại gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” tình nguyện về quê hương giúp đỡ người dân tật nguyền, đau ốm, nghèo khổ ... sau nhiều lần đi về tự do thoải mái, họ đã bị nghi ngờ là nằm trong kế hoạch mà Cộng sản Việt Nam gọi là "diễn tiến hòa bình" của đế quốc chống phá chủ nghĩa xã hội. Cuối cùng, họ gặp khá nhiều phiền hà, như bị rút giấy phép, bị gọi đến trình diện, đến "làm việc" với công an, với Thành ủy, nhận chỉ thị về các hạn chế sinh hoạt của họ vân vân. Kết quả: họ phải tìm cách "bỏ của chạy lấy người." Những công tác thiện nguyện do người Việt hải ngoại hoặc người ngoại quốc thực hiện ở Việt Nam, nếu chỉ trong giai đoạn ngắn, thì ít gặp trở ngại, nhưng nếu có kế hoạch lâu dài mà Cộng sản chưa gài được người vào tổ chức, thì nhất định sẽ gặp khó khăn và nguy hiểm. Giáo sư Chu Tất Tiến trong "Sau 25 năm nhìn lại Việt Nam ..." trưng dẫn trường hợp "ông Giám đốc Hãng Citroen Pháp Quốc, khi sang Việt Nam tìm thị trường, lang thang đi mua những cái "name tag" (tấm thể bài) của lính Mỹ cũ bán đầy ngoài đường, đã bị bắt giữ, vì nghi ngờ là gián điệp đi tìm tù binh! Ông đã chán nản bỏ sang Thái Lan và chỉ bay qua Sài Gòn để làm việc trong ít ngày rồi biệt luôn" (Chu Tất Tiến, sđd, tr. 89-92.)




Những tên mù trong hẻm Hợp Lưu Giao Điểm ở California, khi về Việt Nam, những tưởng được biểu dương, ưu ái, nào ngờ bị xem như chó ghẻ. Lý do đơn giản: Cộng sản nghi ngờ bọn này là cò mồi của kế hoạch "Diễn Tiến Hòa Bình" mà chúng đang hết sức cảnh giác đề phòng. Vì mù lòa cho nên nhóm này không thấy được rằng Cộng sản Việt Nam không tin ai cả, ngay cả đồng chí với nhau ở Trung Ương cũng chơi nhau sát ván, tìm cách hãm hại lẫn nhau, thì biết tin ai?




Đại tướng Cộng sản Võ Nguyên Giáp nổi danh với trận Điện Biên Phủ, có số phiếu cao nhất trong kỳ Đại Hội Đảng toàn quân tháng 9-1986, từng bị các đồng chí ganh tị, phanh phui lý lịch, để tìm cách hạ bệ. Võ Nguyên Giáp bị nghi là tay sai thực dân Pháp và bị mất tín nhiệm chỉ vì "cơ quan tổ chức của Đảng Cộng sản lục trong Thư Khố của Pháp, thấy một lá đơn của cậu học sinh Võ Nguyên Giáp gửi quan Toàn Quyền Đông Dương xin học bổng du học, với những lời lẽ quỵ lụy không thể chấp nhận được đối với người cách mạng..." (Vũ Thư Hiên, "Đêm Giữa Ban Ngày" tr. 350)




Võ Nguyên Giáp, bí danh là "Văn" bị kết tội âm mưu lập "bè phái chống đảng" rồi bị thất sủng... đã âm thầm chịu đựng hàng chục năm, nay 93 tuổi, kề miệng lỗ, mới dám liều mạng viết Cáo trạng kêu oan, đòi "công đạo" " (Thư của Võ Nguyên Giáp ngày 3/1/2004.)




Những người mù "bẩm sinh của Đảng Cộng sản Việt Nam" như ông bà Vũ Đình Huỳnh, thân sinh của Vũ Thư Hiên, đến năm 1967, mới được Đảng giải phẫu và sáng mắt ra để nhìn thấy nguyên hình của Cộng sản Việt Nam: "... chúng nó đến, con tưởng tượng được không, còn tệ hơn cả mật thám nữa kia. Tay bố to, còng không vừa, chúng nó cố ních khóa vào đến bật máu ra mà chúng nó vẫn cố khóa cho bằng được." Đây là lời kể của bà Vũ Đình Huỳnh về cảnh công an đến nhà bắt ông Vũ Đình Huỳnh, người đã nuôi dưỡng, cận kề chăm sóc cho Hồ Chí Minh. Vũ Thư Hiên viết: "Trong lòng bà, ông Hồ Chí Minh chết vào đêm cha tôi bị bắt ..." (ĐGBN, tr. 28 ) Bệnh mù của gia đình Vũ Thư Hiên được chữa khỏi sau 9 năm bị Cộng sản tù đày, cả nhà bị khổ đau, tan tác. Vũ Thư Hiên đã thấy và đã nói lên cho những người khác




"Nhờ đảng gỡ hộ cho tôi cái màng ảo tưởng, lần đầu tiên trong đời tôi thấy mắt mình nhìn rõ sự vật đến thế. Tất cả như tuột hết vẻ hào nhoáng bên ngoài, lớp vàng mạ bong ra, phơi hình thù thật của chúng, trần trụi, lõa lồ dưới ánh mặt trời.



Cũng nhờ đảng, tôi trút bỏ được niềm sùng kính đối với ông Hồ Chí Minh. Tại sao tôi lại mê muội đến thế nhỉ? Ông làm sao yêu được đồng chí khi người làm việc sát cánh cùng ông trong những năm gian khổ, bị Lê Đức Thọ bắt giam mà ông vẫn điềm nhiên không hề can thiệp, dù chỉ tìm hiểu ngọn nguồn?...” (ĐGBN, tr. 456)




Một thí dụ cụ thể về "quên quá khứ, xóa bỏ hận thù để hòa hợp hòa giải": đó là trường hợp một bác sĩ có tiếng ở Nam California đã có công đón tiếp một phái đoàn cộng sản qua Hoa Kỳ tính toán làm ăn. Ông ta cũng cả gan thách thức cộng đồng Người Việt bằng những lời cổ động cho việc hòa hợp hòa giải, rồi thách cộng đồng nếu có 500 người biểu tình chống lại việc ông về Việt Nam hợp tác thì ông sẽ bỏ ý định về. Lập tức Cộng Đồng Người Việt phản ứng bằng cách tập hợp hơn một ngàn người trước cửa phòng mạch của ông cựu sĩ quan quân y "ngụy" này và lên án ông quyết liệt. Tuy nhiên, ông bác sĩ "mù lòa" này đã nuốt lời, tiếp tục việc về nước, đinh ninh rằng mình đã lập được công chống cộng ... đồng hải ngoại, sẽ được Đảng đón tiếp long trọng, sẽ mời ông vào phòng họp với cơ quan Nhà Nước cấp cao. Có ngờ đâu, khi ông bác sĩ "mù" này đến phi trường chỉ gặp được vài nhân viên cấp thấp đến chào hỏi mà thôi, không có một sự gọi là đón tiếp nào. Tại Việt Nam, ông bác sĩ "mù" này phải mò mẫm tự mình đi xin xỏ, xin giấy phép... khi muốn gặp một cơ quan nào cần giao dịch. Tại sao "Nhà Nước ta" lại nhạt nhẽo với các "Việt kiều yêu nước này?" Điều này người sáng mắt thấy được ngay. Đó là vì tên tuổi của ông bác sĩ này đã bi. Cộng Đồng Người Việt xóa đi, còn giá trị nào nữa đê? Đảng ta lợi dụng cho việc tuyên vận chiêu dụ hòa hợp hòa giải. Ông bác sĩ này đã bị hải ngoại tẩy chay, thì trong nước dùng làm cái gì? Ngoài ra, có thể Cộng sản Việt Nam còn suy luận rằng: nó là sĩ quan "Ngụy," làm bác sĩ, được Cộng Đồng Người Việt nuôi và giúp cho thành giàu có, thế mà khi mê đắm công danh, nó còn phản lại Cộng Đồng, thì Đảng làm sao tin được một tên đã công khai phản chủ nó là Cộng Đồng Hải Ngoại.




Cho đến nay, Cộng Đồng Hải Ngoại đã có ít nhất là ba bác sĩ mắc bệnh lòa. Ông thì lòa vì lợi lộc, tiền bạc, ông thì lòa vì lời tâng bốc và hư danh ... Ông Họ Bùi ở Cựu Kim Sơn, từng theo Dương Thu Hương về Hà Nội yết kiến, lần thứ hai bị Cộng sản bắt giam nửa năm vì tội giao lưu; ông họ Phạm Phụ Khoa, quận Cam thì chẳng còn ai đếm xỉa; còn ông Nguyễn Lão Khoa xứ Cao Bồi bị thong manh, làm bồi bút, đi yết kiến Nguyễn Đình Bin, về Việt Nam hứa hẹn nhiều giúp đỡ, có lẽ vì lo sợ "không biết bỏ nắm xương tàn nơi đâu" trên đất Hoa Kỳ. Sau khi đi yết kiến thượng cấp tại Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Lão Khoa về Hoa Kỳ, lại tìm cách lân la với Cộng Đồng Hải Ngoại, không hiểu ông đã khỏi bệnh chưa?




Những người mù lòa nghèo khổ tại Việt Nam khi được sáng mắt ra thì có thể tự đi kiếm cái ăn, cái mặc, khỏi phải làm thân khất thực nhục nhằn. Nhưng những người trong Cộng Đồng Hải Ngoại mù vì lòng tham mà quên chính nghĩa dân tộc và hoài bão của Cộng Đồng, khi được sáng mắt ra thì đã muộn màng. Xin anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa hộ phù cho những kẻ mù lòa lương tri sớm được sáng mắt trở về với chính nghĩa.

NGUYỄN CHÂU

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Giàu và nghèo Cách đây chưa lâu, tôi đọc trên một tờ báo thấy giới thiệu một món ăn mới của người dân Sài Gòn, hình như là canh bào ngư. Một gia đình gọi bào ngư để ăn bữa sáng và thanh toán 12 triệu đồng. Bữa sáng 12 triệu được giới thiệu khá bình thản.

Mới hay dân mình quá giàu, giàu đến mức một bữa sáng bằng một năm lương của một công chức bình thường. Nếu theo mức lương Nhà nước trả cho kỹ sư, cử nhân mới ra trường thì có thể lên tới 2 năm. Đúng là có tiền mua cái gì cũng được.

Mới đây trên truyền hình phát chương trình trò chuyện với một giám đốc trẻ bán nước hoa qua mạng, mỗi tuần anh nói mình kiếm được chừng 500 USD. Thế cũng là niềm mơ ước của nhiều người rồi. Tuổi trẻ tài cao.

Nhưng để minh họa cho cái triết lý hàng cao cấp thì dành cho dân sành điệu, những người làm chương trình này đưa ra cho khán giả một hình ảnh rất khó giải thích: Một chị mang lên tivi con chó của mình và nói rất thoải mái, con chó này được chị mua quần áo hàng hiệu để diện và nếu nước hoa mua ở chỗ khác về thì rất hay bị pha và chó không chịu! Chó cũng biết nước hoa xịn và nó biết là chỉ tin dùng nước hoa bán qua mạng của anh này mà thôi! Thì có tiền cứ đắp vàng lên người con cún cưng cũng đâu có sao, đời mà!

Cũng thật gần thôi, chuyện này hơi liên quan đến tôi. Số là một người quen dẫn tôi đi xem mẫu nhà để chuẩn bị xây nhà mới. Anh dẫn đến một căn biệt thự rộng như một... cái phủ. Anh chủ nhà giới thiệu toàn bộ thiết kế là do anh nghĩ ra. Nó là sự kết hợp kiến trúc Đông Tây và đồ dùng thì toàn của nước ngoài hết. Phải hàng nhập nó mới xịn! Cổng còn đúc chuông đồng nữa. Phải thừa nhận là nó quá nhiều tiền.

Tôi thốt lên: Anh giàu quá, làm em thấy... bon chen với anh quá! Nói bon chen cho người đối diện sung sướng và khoái cảm vì sự giàu sang của mình được ghi nhận, đó cũng đang là cái mốt! Và anh chủ nhà thở ra thật là khoan khoái. Anh nói, đầu tư cho cái nhà này hết gần chục tỷ. Anh đắp cả thế giới vào ngôi nhà của mình.

Trong cơn hào hứng, anh nói sẽ tìm bắt mấy con thiên nga. Thiên nga nó mới sang! Anh sẽ oách nhất Hà Nội. Tuy nhiên, theo tin báo lại thì giờ ao nhà anh vẫn vắng bóng chim vì thiên nga quả thực khó tìm! Đến đây thì chắc bạn đập tờ báo xuống bàn mà bảo, vớ vẩn, đừng có đem thói soi mói đố kỵ của thằng có tí chữ mà vài xu lẻ cũng phải tính toán ra mà mỉa mai người giàu nhé. Cái lối đó cũ kỹ mị dân chán lắm rồi. Dân không giàu thì nước mạnh làm sao?

Ừ! Nhưng dân mà giàu thế thì...

Vẫn biết nước mình đang thay đổi từng ngày, tôi tin điều đó lắm. Bởi nếu không thì tôi đã không chắc được ngồi máy lạnh mà viết bài báo này trên máy tính, không chắc đã có xe hơi mà đi vi vu tỉnh nọ thành kia... Đoạn trường khổ ải các thế hệ đi trước đã ôn đi ôn lại cả rồi. Tôi trẻ, lẽ ra nên nghĩ đến tương lai và nên tự hào cho những người giàu. Thì tôi cũng muốn vậy lắm. Nhưng những chuyến đi công tác, tại sao tôi luôn gặp rất nhiều người dân nghèo? Họ làm việc suốt ngày, họ chỉ mong có được một cuộc sống no đủ.

Mới đây, tôi đọc một truyện ngắn, nói về việc người ta đền bù cho người tai nạn xe cộ, 15 triệu đồng là tiền đền cho cả một mạng người. Số tiền đó quả là nhỏ bé, nhưng với những người dân nghèo, họ buộc phải chấp nhận với tư duy "người gây tai nạn có đi tù thì mình cũng chẳng được gì, chi bằng có 15 triệu để làm vốn". Một anh thợ kèn khóc thuê suốt đêm, mỗi chầu khóc chỉ được hai ngàn. Bà bán rau cả buổi chợ chỉ kiếm được hơn chục bạc, đắn đo nên mua đậu hay mua một miếng thịt cho bữa cơm trưa. Bà giúp việc nhà tôi ở quê ra, đem 100 ngàn đi chợ mua rau mà giữ chặt tay trong túi, chỉ sợ tiền rơi vì lần đầu đi chợ mà túi có quá nhiều tiền!

Mẹ tôi kể, vào mùa cưới rồi, nhiều người dân quê tôi dù thiếu đói tháng ba ngày tám, vẫn cứ phải xúc thóc đem đi bán mới có tiền để đi đám cưới người ta... Trên tờ báo của tôi, ngày nào cũng đăng những mảnh đời đáng thương cần được giúp đỡ. Họ không chỉ nghèo khó mà còn bệnh tật, toàn những căn bệnh cần phải chữa bằng rất nhiều tiền; mà sự sống của họ chỉ biết trông chờ vào hảo tâm của người khác...

Những cái "tư duy tiểu nông" này giày vò tôi, đến mức khi ngồi ăn cơm ở quán cà phê máy lạnh tôi lại áy náy nghĩ đến bà giúp việc vuốt ve từng đồng bạc lẻ ở nhà. Thế nên, tôi mới thấy thật khó để cập nhật rằng, những điều tôi kể ở trên là vô cùng xưa cũ và không có gì đáng phàn nàn nữa.

Nếu làm phép cào bằng và chia đều, kiểu lấy tiền bát canh bạc triệu kia để giúp người khó khăn nọ, lấy tiền chăm sóc thú cưng của chị nào đó để giúp những người dân nghèo... thì thật là cải lương và buồn cười. Nhưng làm sao để bớt đi những sự nghèo đói và bất hạnh? Sẽ có nhiều giải pháp đưa ra, tất cả là sự chung tay, là chính sách, là sự hỗ trợ... Nhưng cách nhanh và thiết thực nhất có lẽ là hãy nhìn xuống xung quanh mình nhiều hơn, để sẻ chia được nhiều hơn.

Tôi có ý nghĩ này khi biết chuyện một cậu bạn thế hệ 8X, khi xưa cậu là người khiến người khác phải cưu mang. Đến khi cậu trưởng thành và kiếm mỗi tháng vài chục triệu, điều duy nhất cậu nghĩ tới là làm sao những người xung quanh mình bớt khó khăn. Cậu gửi tiền cho thầy chủ nhiệm cũ, để góp thêm cho 5 bạn nhà nghèo trong lớp mà thầy đang dạy mỗi tháng 100 ngàn. Một trăm ngàn trong suốt ba năm trung học, hết lớp này sẽ đến lớp khác. 100 ngàn chẳng đáng gì, nhưng nó giúp con người ta có trách nhiệm hơn, thấy cuộc sống này không chỉ là tiền bạc mà còn có những tấm lòng. Đó là sự đền đáp tiếp nối.

Nếu cứ chỉ là thế, những việc tốt nho nhỏ, thì làm sao cứu nước Việt khỏi nghèo đói và tụt hậu với những khát vọng lớn lao? Bạn sẽ hỏi thế, phải không? Thì vẫn biết nhân tài nên làm việc lớn. Nhưng cũng có khối kẻ, trong đó có tôi, chẳng phải nhân tài, mà cũng đâu đã làm được những việc tốt nho nhỏ như vậy. Ờ, mà việc tốt thì có việc nào là nhỏ nhỉ?!

Dương Thái Sơn

Post Reply