Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Phép Thần Internet
Trần Khải
Bất kể những rào cản và tường lửa, bất kể những cạm bẫy và cò mồi, mạng lưới Internet đang giúp cho các nhà họat động dân chủ trên toàn thế giới nhiều hơn những gì mà khoa học đã cống hiến cho các thế hệ họat động dân chủ và nhân quyền trứơc kia.
Bạn hãy nhớ tới thời của vài trăm năm trứơc, khi tin khẩn cấp phải có các chiến binh kỵ mã chuyền thư từng chặng, hay là buộc chân chim bồ câu, hay là đốt lửa trường thành báo tin, hay mới vài thập niên gần đây là phất cờ báo tin, hay gõ tín hiệu Morse, và rồi máy truyền tin, điện thọai, fax... và rồi Internet.
Nhìn lại như thế, chúng ta bây giờ mới thấy như dường chúng ta đang sống trên các cõi trời. Một phần nào là như thế. Vì những gì ngày xưa chúng ta gọi là thần nhãn với mắt nhìn xa ngàn dặm, thì bây giờ đã thấy ngay trên màn hình TV, gọi là thiên nhĩ với tai nghe muôn dặm xa thì đã có điện thọai. Và thông tin thì không gì hơn Internet, khi thế giới đã biến thành một ngôi làng - không hoàn toàn đúng là tí hon, nhưng hẳn không còn là biền biệt bốn biển bảy núi nữa. Nhưng bạn có biết rằng tại Trung Quốc, khi viết nhật ký mạng và dùng email, thì sử dụng dịch vụ Google an toàn hơn là dùng Yahoo không?
Dù vậy, bất kể mọi tường lửa, mọi rào cản. Thế giới thực sự đã gần nhau hơn. Cuộc chiến cho dân chủ, tự do và nhân quyền cũng đã biến thái, với đôi khi thông tin gần như cấp kỳ. Bạn hãy nghĩ về các tờ báo giấy: cần tới 24 giờ, các thông tin mới cập nhật. Nhưng với Internet và các diễn đàn ăn theo, thí dụ Yahoogroups.com và PalTalk.com thì thông tin gần như là chớp nhóang.
Chính như thế, các nước độc tài tòan trị vẫn luôn luôn nhìn Internet như "vừa là cơ hội, vừa là thách thức," một cụm từ phổ biến mà người cộng sản ưa nói cho những gì mà họ không muốn nói thẳng. Thế nên, với "thách thức" thì các nhà nứơc CS Trung Quốc và CS Việt Nam dựng lên từơng lửa; với "cơ hội" thì ầm ĩ mời gọi nhau vào làm ăn.
Nhưng thực tế vẫn là vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn. Ngoài các kỹ thuật vượt tường lửa, vẫn còn có những mảng trên Internet mà công an chưa rào cản hết nổi.
Thí dụ, theo báo Vancouver Sun, số ấn hành 16-10-2006, lực lượng 40,000 công an mạng đang điều hành The Great Firewall of China (Hỏa Bích Trường Thành) đang cảm thấy nhức nhối vì không xiết nổi hoàn toàn các thông tin cấm đối với 131 triệu công dân mạng Hoa Lục: Các tiến bộ kỹ thuật của những người họat động dân chủ đã vượt khả năng tường lửa của công an.
Trường hợp điển hình mới nhất là Han Dongfang, người phụ trách tổ chức công nhân tới biểu tình hỗ trợ cho sinh viên tại Thiên An Môn năm 1989, và rồi sau đó bị bắt vào tù, và rồi bị trục xuất ra khỏi Trung Quốc. Hiện họ Han đang ở Hồng Kông, điều hành một tổ chức thu thập và phát tán thông tin về các vụ lạm dụng công nhân và nông dân Trung Quốc.
Công an mạng đã bít hết mọi lối tới các trang web nhắc tới tên họ Han và các bản tin của ông, và cản được cả làn sóng phát thanh hàng tuần của Han chĩa vào Hoa Lục. Nhưng nhức nhối chính là: công an chưa tìm ra cách ngăn cản các hồ sơ phim và âm thanh phát tán từ tổ chức của Han.
Lọat hồ sơ lịch sử nói (oral histories, sử đọc thành lời) về các cuộc biểu tình ở Thiên An Môn lưu trữ trên mạng Nhân Quyền Trung Quốc (www.hrichina.org) đã được hạ tải tới 17,000 lần để các hồ sơ phim và âm thanh này nghe qua các máy iPod và máy nhạc MP3.
Như thế, tuy chúng ta không có được các thống kê quy mô về trừơng hợp Việt Nam, nhưng chắc chắn các hồ sơ nhân quyền, hay các file phim và âm thanh về cuộc chiến dân chủ Việt Nam cũng đang được lưu hành tại nhiều thành phố lớn ở quê nhà - có thể chưa phổ biến, nhưng hẳn là đang tiếp cận với nhiều người quan tâm.
Hãy chú ý tới con số 17,000 lần hạ tải các hồ sơ ở trang Nhân Quyền Trung Quốc, thấy rõ như thế là quá ít so với con số 131 triệu công dân mạng Hoa Lục, và tất nhiên quá ít so với tòan dân 1.3 tỉ người. Nhưng con số thực được nghe phải nhiều lần hơn, vì mỗi file hạ tải có thể được gửi qua email nhiều lần cho bạn hữu, vì người vượt tường lửa để vào được trang web này tất nhiên là mong muốn phát tán các hồ sơ nhân quyền.
Một thực tế nữa, nền kinh tế mở cửa của Trung Quốc và Việt Nam đang giúp dễ dàng hơn cho cuộc chiến dân chủ. Chỉ cần nhìn về Bắc Hàn là thấy thiên đường xã hội chủ nghĩa kinh hòang tới mức nào. Nhưng ngay tới một mực nhẹ nhàng hơn, thí dụ ở Cuba, nơi của Lãnh Tụ XHCN Vĩ Đại Fidel Castro, cũng cho thấy "thách thức" của Internet tới mức nào.
Phóng viên Stephen Gibbs của đài BBC ghi nhận rằng tại Cuba, công dân cần phải có giấy phép trước khi mua máy điện toán. Và "giấy phép này gần như bất khả xin được. Giấy chấp thuận này cũng cần có để đăng ký với sở cung cấp dịch vụ Internet của Cuba."
Trong tình hình nhiều nơi trong thế giới bị rào trong cái chuồng khổng lồ Tường Lửa XHCN Vĩ Đại, tất nhiên là các công ty đã giúp dựng rào phải rất là nặng tội - vì cũng tương tự như hành vi bán súng liên thanh cho Stalin xử bắn hàng triệu người dân Liên Xô để biến khối công dân XHCN còn lại phải hồng hơn, phải đỏ hơn, phải vâng lời hơn.
Đó là lý do nhiều đại biểu tham dự thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc về Internet tại Hy Lạp hôm Thứ Ba 31-10-2006 đã lên án các công ty Google, Cisco Systems, Microsoft và Yahoo vì đã hợp tác sát cánh với công an Trung Quốc, "gợi ý rằng các luật mới cho toàn cầu về quyền tự do ngôn luận có thể cần thiết," theo bản tin của Cnet News.
Nhưng trong các công ty, thì mặc cảm tội lỗi lớn nhất vẫn là hãng Hoa Kỳ Cisco, nơi chuyên sản xuất các máy routers để điều hợp lưu lượng giao thông mạng, theo dõi trên mạng và ngăn cản các trang web trong sổ đen.
Đó cũng là lý do mà Art Reilly, giám đốc hãng Cisco về chính sách kỹ thuật, phải phân trần trong hội nghị Internet Governance Forum của LHQ này, rằng Cisco không hề sửa đổi gì các máy routers khi bán cho chính phủ Trung Quốc, "Cũng là cùng thiết bị mà chúng tôi bán cho các nước khác trên thế giới. Không gì khác cả."
Có một thông tin quan trọng đối với những người quan tâm về dân chủ tại Trung Quốc: rằng nếu bạn sử dụng email, và nếu bạn viết nhật ký mạng (blog) thì sử dụng Google sẽ an tòan hơn là dùng Yahoo.
Bản tin của phóng viên Declan McCullagh trên mạng CNET kể về một giám đốc hãng Google trình bày trong hội nghị LHQ trên như sau, trích dịch:
"Vint Cerf, một Phó Chủ Tịch hãng Google người nói từ phía cử tọa, ghi nhận rằng công ty của ông đã quyết định không đặt các máy chủ dùng cho các dịch vụ nhật ký mạng và email tại Trung Quốc. Như thế đã cho Google, ít nhất là tới giờ, tránh được nan đề mà hãng Yahoo trải qua - khi công an tịch thu các dữ kiện thông tin nhằm nhận diện lai lịch và bắt giam các phóng viên hay các nhà họat động dân chủ.
Cerf nói, "Lý do chúng tôi không làm thế là vì chúng tôi không muốn có các dữ kiện nằm trong các máy chủ mà công an Trung Quốc có thể yêu cầu chúng tôi, hay đòi hỏi rằng chúng tôi, phải tiết lộ nhằm nhận diện lai lịch các cá nhân. Do vậy, chúng tôi cố ý không cung cấp một số dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của ngừơi dân Trung Quốc.'" (hết trích dịch).
Chỉ một câu nói như thế thôi, chỉ một quyết định như thế thôi của hãng Google, cũng chắc chắn đã giúp được một số nhà họat động dân chủ thoát lưới công an Trung Quốc. Chỗ này, bản tin không ghi nhận lời các viên chức công ty về trường hợp Việt Nam, có thể vì thị trừơng quá nhỏ so với Hoa Lục nên bản tin về hội nghị Internet này không nhắc tới.
Tuy nhiên, có một chuyện giễu hết sức là dở trong hội nghị Internet này: một cán bộ Trung Quốc không kể tên đứng lên nói với Nick Gowing của Đài BBC rằng Trung Quốc không hề kiểm duyệt Internet tí nào, "Tại Trung Quốc, chúng tôi không có phần mềm ngăn cản các trang web. Đôi khi chúng tôi gặp trở ngại khi truy cập các trang đó, nhưng đó lại là vấn đề khác. Chúng toi không có hạn chế tí nào cả... Vài người nói là các nhà báo tại Trung Quốc đã bị bắt. Chúng tôi có hàng trăm nhà báo tại Trung Quốc, và chỉ có vài người bị bắt thôi. Điều đó không liên hệ tí nào tới quyền tự do ngôn luận cả. Chúng tôi có bọn phạm tội hình sự trong xã hội. Có tội phạm hình sự ở tất cả các xã hội chứ..."
Thiệt là giễu quá dở. Các bản nghiên cứu khác nhau của các hội nhân quyền đưa ra trong hội nghị này cho thấy có ít nhất từ 15,000 tới 20,000 trang web bị ngăn cản truy cập tại Trung Quốc.
Sau cùng, bản tin khác của phóng viên Darren Waters của BBC từ Athens lại cho thấy khía cạnh khác: cũng có người, có công ty biết mắc cỡ khi tiếp tay cho công an.
Fred Tipson, cố vấn về chính sách của hãng Microsoft, nói là Microsoft có thể sẽ bỏ chạy ra khỏi các nước phi dân chủ như Trung Quốc. Bản tin này cũng không nhắc gì tới Việt Nam, cứ làm như đàn em phía Nam này đã có dân chủ tự do rồi.
Tipson nói, "Mọi chuyện đang xấu đi... và có lẽ chúng tôi phải xét lại về sự hiện diện của chúng tôi ở đó. Chúng tôi phải quyết định xem việc [công an] truy bức người viết nhật ký mạng đã tới điểm nào không thể chấp nhận để có thể còn kinh doanh tại đây..."
Internet, Internet... Hãy gọi tên ông thần Internet. Bao giờ thì phép thần Internet mang tới được cho dân Việt thực sự dân chủ, thực sự tự do... Khi thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ bé, khi tất cả các dân tộc đã trở thành hàng xóm kề cận nhau, và tại sao vẫn còn vài góc sân nhà bên là các kềm kẹp, gông xiềng, với những vuông khăn đỏ đang che mắt và bịt tai...
Trần Khải
Bất kể những rào cản và tường lửa, bất kể những cạm bẫy và cò mồi, mạng lưới Internet đang giúp cho các nhà họat động dân chủ trên toàn thế giới nhiều hơn những gì mà khoa học đã cống hiến cho các thế hệ họat động dân chủ và nhân quyền trứơc kia.
Bạn hãy nhớ tới thời của vài trăm năm trứơc, khi tin khẩn cấp phải có các chiến binh kỵ mã chuyền thư từng chặng, hay là buộc chân chim bồ câu, hay là đốt lửa trường thành báo tin, hay mới vài thập niên gần đây là phất cờ báo tin, hay gõ tín hiệu Morse, và rồi máy truyền tin, điện thọai, fax... và rồi Internet.
Nhìn lại như thế, chúng ta bây giờ mới thấy như dường chúng ta đang sống trên các cõi trời. Một phần nào là như thế. Vì những gì ngày xưa chúng ta gọi là thần nhãn với mắt nhìn xa ngàn dặm, thì bây giờ đã thấy ngay trên màn hình TV, gọi là thiên nhĩ với tai nghe muôn dặm xa thì đã có điện thọai. Và thông tin thì không gì hơn Internet, khi thế giới đã biến thành một ngôi làng - không hoàn toàn đúng là tí hon, nhưng hẳn không còn là biền biệt bốn biển bảy núi nữa. Nhưng bạn có biết rằng tại Trung Quốc, khi viết nhật ký mạng và dùng email, thì sử dụng dịch vụ Google an toàn hơn là dùng Yahoo không?
Dù vậy, bất kể mọi tường lửa, mọi rào cản. Thế giới thực sự đã gần nhau hơn. Cuộc chiến cho dân chủ, tự do và nhân quyền cũng đã biến thái, với đôi khi thông tin gần như cấp kỳ. Bạn hãy nghĩ về các tờ báo giấy: cần tới 24 giờ, các thông tin mới cập nhật. Nhưng với Internet và các diễn đàn ăn theo, thí dụ Yahoogroups.com và PalTalk.com thì thông tin gần như là chớp nhóang.
Chính như thế, các nước độc tài tòan trị vẫn luôn luôn nhìn Internet như "vừa là cơ hội, vừa là thách thức," một cụm từ phổ biến mà người cộng sản ưa nói cho những gì mà họ không muốn nói thẳng. Thế nên, với "thách thức" thì các nhà nứơc CS Trung Quốc và CS Việt Nam dựng lên từơng lửa; với "cơ hội" thì ầm ĩ mời gọi nhau vào làm ăn.
Nhưng thực tế vẫn là vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn. Ngoài các kỹ thuật vượt tường lửa, vẫn còn có những mảng trên Internet mà công an chưa rào cản hết nổi.
Thí dụ, theo báo Vancouver Sun, số ấn hành 16-10-2006, lực lượng 40,000 công an mạng đang điều hành The Great Firewall of China (Hỏa Bích Trường Thành) đang cảm thấy nhức nhối vì không xiết nổi hoàn toàn các thông tin cấm đối với 131 triệu công dân mạng Hoa Lục: Các tiến bộ kỹ thuật của những người họat động dân chủ đã vượt khả năng tường lửa của công an.
Trường hợp điển hình mới nhất là Han Dongfang, người phụ trách tổ chức công nhân tới biểu tình hỗ trợ cho sinh viên tại Thiên An Môn năm 1989, và rồi sau đó bị bắt vào tù, và rồi bị trục xuất ra khỏi Trung Quốc. Hiện họ Han đang ở Hồng Kông, điều hành một tổ chức thu thập và phát tán thông tin về các vụ lạm dụng công nhân và nông dân Trung Quốc.
Công an mạng đã bít hết mọi lối tới các trang web nhắc tới tên họ Han và các bản tin của ông, và cản được cả làn sóng phát thanh hàng tuần của Han chĩa vào Hoa Lục. Nhưng nhức nhối chính là: công an chưa tìm ra cách ngăn cản các hồ sơ phim và âm thanh phát tán từ tổ chức của Han.
Lọat hồ sơ lịch sử nói (oral histories, sử đọc thành lời) về các cuộc biểu tình ở Thiên An Môn lưu trữ trên mạng Nhân Quyền Trung Quốc (www.hrichina.org) đã được hạ tải tới 17,000 lần để các hồ sơ phim và âm thanh này nghe qua các máy iPod và máy nhạc MP3.
Như thế, tuy chúng ta không có được các thống kê quy mô về trừơng hợp Việt Nam, nhưng chắc chắn các hồ sơ nhân quyền, hay các file phim và âm thanh về cuộc chiến dân chủ Việt Nam cũng đang được lưu hành tại nhiều thành phố lớn ở quê nhà - có thể chưa phổ biến, nhưng hẳn là đang tiếp cận với nhiều người quan tâm.
Hãy chú ý tới con số 17,000 lần hạ tải các hồ sơ ở trang Nhân Quyền Trung Quốc, thấy rõ như thế là quá ít so với con số 131 triệu công dân mạng Hoa Lục, và tất nhiên quá ít so với tòan dân 1.3 tỉ người. Nhưng con số thực được nghe phải nhiều lần hơn, vì mỗi file hạ tải có thể được gửi qua email nhiều lần cho bạn hữu, vì người vượt tường lửa để vào được trang web này tất nhiên là mong muốn phát tán các hồ sơ nhân quyền.
Một thực tế nữa, nền kinh tế mở cửa của Trung Quốc và Việt Nam đang giúp dễ dàng hơn cho cuộc chiến dân chủ. Chỉ cần nhìn về Bắc Hàn là thấy thiên đường xã hội chủ nghĩa kinh hòang tới mức nào. Nhưng ngay tới một mực nhẹ nhàng hơn, thí dụ ở Cuba, nơi của Lãnh Tụ XHCN Vĩ Đại Fidel Castro, cũng cho thấy "thách thức" của Internet tới mức nào.
Phóng viên Stephen Gibbs của đài BBC ghi nhận rằng tại Cuba, công dân cần phải có giấy phép trước khi mua máy điện toán. Và "giấy phép này gần như bất khả xin được. Giấy chấp thuận này cũng cần có để đăng ký với sở cung cấp dịch vụ Internet của Cuba."
Trong tình hình nhiều nơi trong thế giới bị rào trong cái chuồng khổng lồ Tường Lửa XHCN Vĩ Đại, tất nhiên là các công ty đã giúp dựng rào phải rất là nặng tội - vì cũng tương tự như hành vi bán súng liên thanh cho Stalin xử bắn hàng triệu người dân Liên Xô để biến khối công dân XHCN còn lại phải hồng hơn, phải đỏ hơn, phải vâng lời hơn.
Đó là lý do nhiều đại biểu tham dự thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc về Internet tại Hy Lạp hôm Thứ Ba 31-10-2006 đã lên án các công ty Google, Cisco Systems, Microsoft và Yahoo vì đã hợp tác sát cánh với công an Trung Quốc, "gợi ý rằng các luật mới cho toàn cầu về quyền tự do ngôn luận có thể cần thiết," theo bản tin của Cnet News.
Nhưng trong các công ty, thì mặc cảm tội lỗi lớn nhất vẫn là hãng Hoa Kỳ Cisco, nơi chuyên sản xuất các máy routers để điều hợp lưu lượng giao thông mạng, theo dõi trên mạng và ngăn cản các trang web trong sổ đen.
Đó cũng là lý do mà Art Reilly, giám đốc hãng Cisco về chính sách kỹ thuật, phải phân trần trong hội nghị Internet Governance Forum của LHQ này, rằng Cisco không hề sửa đổi gì các máy routers khi bán cho chính phủ Trung Quốc, "Cũng là cùng thiết bị mà chúng tôi bán cho các nước khác trên thế giới. Không gì khác cả."
Có một thông tin quan trọng đối với những người quan tâm về dân chủ tại Trung Quốc: rằng nếu bạn sử dụng email, và nếu bạn viết nhật ký mạng (blog) thì sử dụng Google sẽ an tòan hơn là dùng Yahoo.
Bản tin của phóng viên Declan McCullagh trên mạng CNET kể về một giám đốc hãng Google trình bày trong hội nghị LHQ trên như sau, trích dịch:
"Vint Cerf, một Phó Chủ Tịch hãng Google người nói từ phía cử tọa, ghi nhận rằng công ty của ông đã quyết định không đặt các máy chủ dùng cho các dịch vụ nhật ký mạng và email tại Trung Quốc. Như thế đã cho Google, ít nhất là tới giờ, tránh được nan đề mà hãng Yahoo trải qua - khi công an tịch thu các dữ kiện thông tin nhằm nhận diện lai lịch và bắt giam các phóng viên hay các nhà họat động dân chủ.
Cerf nói, "Lý do chúng tôi không làm thế là vì chúng tôi không muốn có các dữ kiện nằm trong các máy chủ mà công an Trung Quốc có thể yêu cầu chúng tôi, hay đòi hỏi rằng chúng tôi, phải tiết lộ nhằm nhận diện lai lịch các cá nhân. Do vậy, chúng tôi cố ý không cung cấp một số dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của ngừơi dân Trung Quốc.'" (hết trích dịch).
Chỉ một câu nói như thế thôi, chỉ một quyết định như thế thôi của hãng Google, cũng chắc chắn đã giúp được một số nhà họat động dân chủ thoát lưới công an Trung Quốc. Chỗ này, bản tin không ghi nhận lời các viên chức công ty về trường hợp Việt Nam, có thể vì thị trừơng quá nhỏ so với Hoa Lục nên bản tin về hội nghị Internet này không nhắc tới.
Tuy nhiên, có một chuyện giễu hết sức là dở trong hội nghị Internet này: một cán bộ Trung Quốc không kể tên đứng lên nói với Nick Gowing của Đài BBC rằng Trung Quốc không hề kiểm duyệt Internet tí nào, "Tại Trung Quốc, chúng tôi không có phần mềm ngăn cản các trang web. Đôi khi chúng tôi gặp trở ngại khi truy cập các trang đó, nhưng đó lại là vấn đề khác. Chúng toi không có hạn chế tí nào cả... Vài người nói là các nhà báo tại Trung Quốc đã bị bắt. Chúng tôi có hàng trăm nhà báo tại Trung Quốc, và chỉ có vài người bị bắt thôi. Điều đó không liên hệ tí nào tới quyền tự do ngôn luận cả. Chúng tôi có bọn phạm tội hình sự trong xã hội. Có tội phạm hình sự ở tất cả các xã hội chứ..."
Thiệt là giễu quá dở. Các bản nghiên cứu khác nhau của các hội nhân quyền đưa ra trong hội nghị này cho thấy có ít nhất từ 15,000 tới 20,000 trang web bị ngăn cản truy cập tại Trung Quốc.
Sau cùng, bản tin khác của phóng viên Darren Waters của BBC từ Athens lại cho thấy khía cạnh khác: cũng có người, có công ty biết mắc cỡ khi tiếp tay cho công an.
Fred Tipson, cố vấn về chính sách của hãng Microsoft, nói là Microsoft có thể sẽ bỏ chạy ra khỏi các nước phi dân chủ như Trung Quốc. Bản tin này cũng không nhắc gì tới Việt Nam, cứ làm như đàn em phía Nam này đã có dân chủ tự do rồi.
Tipson nói, "Mọi chuyện đang xấu đi... và có lẽ chúng tôi phải xét lại về sự hiện diện của chúng tôi ở đó. Chúng tôi phải quyết định xem việc [công an] truy bức người viết nhật ký mạng đã tới điểm nào không thể chấp nhận để có thể còn kinh doanh tại đây..."
Internet, Internet... Hãy gọi tên ông thần Internet. Bao giờ thì phép thần Internet mang tới được cho dân Việt thực sự dân chủ, thực sự tự do... Khi thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ bé, khi tất cả các dân tộc đã trở thành hàng xóm kề cận nhau, và tại sao vẫn còn vài góc sân nhà bên là các kềm kẹp, gông xiềng, với những vuông khăn đỏ đang che mắt và bịt tai...
Phúc, Lộc, Thọ - các cụ là ai?
Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi
Dương Duy Ngữ
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi
Dương Duy Ngữ
CON DỐC CẦU NHỊ THIÊN ĐƯỜNG
lêanhdũng
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... nduong.jpg[/left]Dân vẫn mang trong tâm tư tính gàn bướng của một người thất chí lỡ thời. Những anh chàng lỡ thời lỡ vận thường hay gàn dở và hay làm thơ yếm thế! Nhiều khi Dân tưởng mình là một ông đồ Trần Tế Xương tái sinh. Chàng cũng bày đặt ngâm thơ yếm thế và thỉnh thoảng khoa chân múa tay lúc chỉ có một mình để vơi đi nỗi bực bội vẫn chất chứa từ ngày ra tù đến bấy giờ. Bấy giờ có nghĩa là năm một nghìn chín trăm tám mươi tám. Đã ra khỏi nhà tù ba năm có lẻ mà chẳng thể nào tìm cho mình được một việc làm nuôi thân. Vợ chàng xoay qua trở lại với cái nghề buôn gánh bán bưng ngoài chợ, nhưng thường hay bị quản lý thị trường rượt đuổi và có lần bị tịch thu mất trắng. Với cái bằng cải tạo, chàng đi hết công ty quốc doanh này đến cơ sở sản xuất khác để xin việc. Thỉnh thoảng cũng có nơi gọi chàng vào "phỏng vấn", nhưng sau khi chàng trình bày hoàn cảnh, người ta bèn phán: "Anh phải có hộ khẩu ở địa phương thì chúng tôi mới duyệt xét được...!" Dân về lại phường khóm xin vào hộ khẩu thì ông Công an phường nói: "Muốn vào hộ khẩu, ít ra anh phải có công ăn việc làm đàng hoàng chứ cứ ngày nào cũng khơi khơi ngồi ngâm thơ thì ai mà cho vào hộ khẩu!" Rốt cuộc, chàng cứ phải lang thang chẳng nơi nào cho vào làm việc và cũng chẳng hy vọng được an cư!
Lúc mới từ trại tù về lại thành phố, thấy mấy đứa em chạy xích lô đạp về đêm, cũng được tí tiền còm. Anh bèn đề nghị cho tham gia.
Thằng út nói:
- Anh Hai mà đạp xích lô thì có lẽ là thời vận đã hết rồi, lùn như anh làm sao cỡi chiếc xe cao ngồng và nhớ là khó điều khiển chứ chẳng phải đồ chơi đâu!
- Thì cũng để cho tao thử xem đã chứ!
Chàng vừa nói vừa cười vừa ngắm chiếc xe đang đậu trước cửa nhà. Quả thật nó không phải dễ xử dụng, chàng nghĩ thế. Nhưng mình cứ thử xem, chẳng lẽ vô tài đến độ đạp xích lô cũng không được!
Thế là đêm hôm sau Dân nhảy lên xe chạy một vòng từ ngã Bảy Chợ Lớn đến đường Hùng Vương. Trong lúc đang cố gắng làm quen với các thao tác và cái thắng tay thì chàng nghe một giọng "Xẩm" rất là Xẩm:
- Ê ! Xích lô !
Chàng quay đầu lại phía góc đường, thấy một bà Xẩm mập và một đống đồ gì đó rất to tướng. Nghĩ trong bụng là mới ra quân mà đã trúng mánh. Quành xe lại và khó khăn lắm chàng mới tránh được một tốp người đi xe đạp. Khi dừng xe, anh cẩn thận nhảy xuống hỏi bà Xẩm, giọng thăm dò:
- Bà gọi xích lô hả?
- Không gọi cái nị thì gọi ai! Bỏ cái bao này lên cảng xe, chở ngộ qua bên kia cầu Nhị Thiên Đường. Mà cái nị lấy bao nhiêu tiền?
Chàng gãi đầu, chợt nhớ ra là mình quên hỏi mấy đứa em về giá cả của những xuất xe trên các đoạn đường tiêu biểu để có khái niệm khi mặc cả với khách hàng. Lúng ta lúng túng, chàng nói với bà ta:
- Chứ mấy lần trước nị trả bao nhiêu tiền thì trả cho ngộ chừng đó cũng được.
Bà Xẩm cười tươi nói:
- Ừa! để ngộ tính cho, không trả rẻ cho nị đâu mà!
Thế là chàng loay hoay đến bê bao bố to tổ chảng lên xe. Chiếc càng xe chổng về phía trước vì bao đồ nặng quá, sau khi chàng cong lưng muốn đứt hơi mới đem nổi nó lên. Cuối cùng thì bà Xẩm cũng ung dung ngồi vắt chân chữ ngũ trên cái bao. Trông bà giống như một lực sĩ đô vật xứ Phù Tang, còn chàng thì giống như con nhái đeo phía sau, cố đạp cho chiếc xe lết được trên đường đầy ổ gà. Lần đầu tiên ra quân mà quơ được món bở nặng ký, không biết bà Xẩm trả công bao nhiêu, chứ mồ hôi con, mồ hôi mẹ đang thi nhau tuôn ra uớt cả áo quần, hơi thở càng lúc càng to, càng đứt quãng như trâu muốn bứt cày... Từ đó mà đến chân cầu Nhị Thiên Đường gần một giờ đồng hồ. Bà Xẩm ngồi lâu quá, thấy xe chạy chậm quá bà cằn nhằn:
- Cái lị hết xí quách rồi sao hả, xe chạy giống như con rùa hả cái nị?
Chẳng còn sức đâu mà trả lời, chàng đang cố gắng vật lộn với chiếc xe. Nó chẳng muốn leo lên dốc mà chàng thì gần đứt cả hơi. Nhảy xuống xe, chàng gắng sức đẩy mà chiếc xe vẫn ì ra, nó còn muốn thụt lùi, bánh xe tí nữa là cán trên bàn chân. Dân năn nỉ bà Xẩm:
- Cái nị làm ơn xuống xe để ngộ đẩy nó qua khúc dốc cầu, nị nặng quá, ngộ không có sức cho xe bò lên dốc được...
Bà Xẩm vừa bước xuống xe vừa cằn nhằn:
- Hôm nay ngộ xui mới gặp phải của nợ, cái nị không còn xí quách mà đòi đạp xích lô thì chết nị cũng chết cả ngộ nữa, trễ giờ hết của ngộ rồi, biết không hả! Ngộ đâu có nặng bao nhiêu, mới có một trăm lẻ hai ký mà... Cái nị không biết điều, hứ!
Tuy mắng nhiếc như thế, bà Xẩm cũng cho tay vào đẩy giúp chàng cho đến khi nó lên được hết con dốc. Bà Xẩm lại cằn nhằn:
- Xe của nị không cho dầu mỡ gì hết trơn nên đẩy nặng thấy mồ. Ngộ đẩy cũng muốn ói máu...
- Cái bao của nị nặng chứ xe gì nặng, chút nữa phải trả tiền ngộ gấp hai đó! Chàng mau miệng trả lời bà Xẩm.
- Hứ! Cái nị đã làm trễ việc của ngộ rồi còn đòi thêm tiền gì, thôi đi mau lên ông nội!
Vừa nói bà vừa leo lên xe trong lúc Dân cố giữ cho chiếc xe khỏi tụt dốc, chàng có cảm giác như mấy cột xương sống của mình đang vỡ ra từng khúc với sức nặng của bà Xẩm... Sau cùng chàng lấy trớn để nhảy lên xe, chàng cảm thấy nhẹ lâng lâng khi chiếc xe từ từ xuống dốc. Gió dưới sông thổi lên mát rượi làm cho chiếc áo đầy mồ hôi thấm mát từng cơ bắp. Chàng đang thưởng thức cảm giác đó, như có một sức mạnh vô hình nào làm cho chàng hồi sức. Chiếc xe càng lúc càng tăng tốc, chạy mau xuống dốc thì bà Xẩm hét:
- Thắng lại! Thắng lại! Chết ngộ rồi...
Dân choàng tỉnh quơ vội thắng tay, nhưng quá trễ, chiếc xích lô theo đà con dốc chạy mau như con bò điên không ai có thể kềm hãm được. Dân cố sức ghì tay thắng, cố kèm cho hai bàn đạp không tụt khỏi chân... Nhưng theo trớn chạy mau của chiếc xe, bàn chân trật khỏi bàn đạp, quất mạnh vào ống quyển của Dân như có ai lấy búa nện vào ống quyển. Chiếc xe nghiêng qua một bên và chạy thẳng lên lề đường. Cuối cùng nó lăn quay ba vòng từ dốc cầu xuống phía dưới mấy thước.
Khi Dân choàng tỉnh lồm cồm bò dậy, hai ống quyển đau đớn kinh khủng, đi muốn không nổi. Có chất gì ươn ướt trên gò má. Chàng lấy tay quệt và soi lên ánh đèn đường vàng yếu ớt. Máu không biết từ đâu đỏ thấm bàn tay. Chưa kịp nghĩ ra mình phải làm gì lúc này thì bà xẩm cũng từ gầm chiếc xích lô vừa rên hừ hừ vừa bò ra. Bao bố hàng hóa tung tóe khắp nơi. Những gói nho nhỏ nằm trên bờ cỏ và cả trên nền xi măng vệ đường. Bà Xẩm hét về phía Dân:
- Cái nị còn ngồi đó hả, mau lượm hết bỏ vô bao cho ngộ. Chết cha ngộ rồi, mau lên không thì công an tóm cả nị nữa đó...!
Nghe công an, chàng không cần biết là gì nữa, quên đau, vội chạy lại thu gom "tang vật". Nhưng đôi chân như níu trì chàng lại, vết thương khá nặng làm chàng muốn xỉu. Nhưng vì sợ quá chàng phải bò đứng dậy gom góp các gói trăng trắng rải rác khắp nơi. Thì ra chàng đã chở một bao bố toàn bột ngọt. Thất kinh chàng muốn chuồn cho lẹ để mặc bà Xẩm với những thứ quỉ sứ đó... Nhưng có lẽ bà Xẩm đã đoán được ý chàng nên lên tiếng năn nỉ:
- Cái nị giúp ngộ, ngộ sẽ cho cái nị mấy bao đem về làm quà cho bà xã mà. Ngộ đang bị cái gì nó cắt cái đầu gối không ngồi dậy được.
Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, lần đầu tiên chàng có cảm giác mình đang toa rập buôn đồ lậu. Nhưng nghĩ lại, cả một miền Nam đang đắm chìm trong đói khát và tang thương, ai ai cũng cố sức tìm miếng ăn manh áo trong bất cứ trạng huống nguy hiểm nào... Thì hành động vô tình của chàng có thấm tháp gì. Nghĩ như thế nên Dân gượng nhếch mép cười, thu gom toàn bộ những bao rơi vãi, dồn lại vào bao bố, cột chặt lại cho bà Xẩm trong lúc bà ta vừa rên vừa bò tìm đôi dép.
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... xichlo.jpg[/left]Đang loay hoay với bao bố nặng và chiếc xe xích lô, Dân nhìn từ xa có hai công an đang đạp xe đạp lên dốc cầu. Chàng lẳng lặng leo lên xe... Nhưng chiếc bánh xe bên phải đã cong, nó cứ cọ sát vào sườn xe không chịu nhúc nhích. Hoảng quá, chàng đành làm bộ nhảy xuống xăng xăng trong tư thế đang sửa xe và làm như mình không dính dấp gì đến bà Xẩm đang xanh mặt ngồi im trong xó tối dưới dốc cầu. Cũng may hai tên áo vàng không để ý vì đang bận vừa đạp xe vừa tranh luận điều gì đó cũng gay gắt không kém những giọt mồ hôi hai gã đang đổ ra vì con dốc cầu Nhị Thiên Đường...
Khi hai công an đi xa chỗ con dốc, bà Xẩm lên tiếng:
- Tụ cái lụ mụ hậy! Cái nị không chuồn đi còn đứng làm gì đó. Xui lắm mới gặp nị. Thôi để ngộ kêu xe khác, cái nị cút đi!
Chàng cố dắt chiếc xe lên con dốc và quên rằng chiếc xe đã hư, tiền thì bà xẩm chưa trả, mấy gói bột ngọt cũng chưa lịp lấy để trừ tiền công. Chàng nghĩ, có lẽ mình phải đem xe đi mới đem xe về nhà được. Nghĩ đến đó chàng mới nhớ ra mình chẳng có xu teng nào trong túi và chưa đòi tiền công với bà xẩm. Dân quay lại gặp bà xẩm, lúc ấy bà đang lay hoay lôi xềnh xệch cái bao bố dưới đất.
Vừa lôi bà vừa rên. Đến bên cạnh bà Xẩm, chàng lên tiếng:
- Cái nị chưa cho tiền công ngộ. Ngộ cũng chưa lấy bột ngọt của nị. Bây giờ nị tính cho ngộ chớ!
Bà Xẩm quay lại sa sầm nét mặt. Lúc nầy hai con mắt bà trông dữ dằn không thể nào tả được. Bà hét:
- Cút đi! Cái nị làm ngộ bị thương gần chết còn đòi gì nữa?
Dân cũng không kém, chàng liều mạng hăm dọa:
- Nị không trả tiền cho ngộ, ngộ la làng cho công an đến bắt nị cho coi!
Nói rồi chàng làm bộ lấy hai tay làm loa để la to:
- Bớ...
- Thôi thôi đừng có la! Ngộ chịu thua cái nị. Tiền đây, trời ơi xui xẻo mới gặp cái nị. Trời ơi là trời!
Bà móc túi dúi cho Dân một đống giấy bạc mà không đếm. Chàng được thể cao giọng:
- Còn nị hứa cho mấy gói bột ngọt thì bây giờ ngộ lấy chứ!
- Trời ơi, còn đòi gì nữa đây. Thôi nị lấy hai gói rồi cút đi... Hừ hừ...!
Dân nhét vội hai gói bột ngọt phía sau xích lô rồi quay xe đẩy xuôi xuống dốc cầu để tìm nơi sửa chữa. Mặc cho bà Xẩm bù lu bù loa lầm bầm trong miệng mắng nhiếc và cao giọng gọi một chiếc xích lô khác vừa trong ngõ hẻm chạy ra. Chàng cũng thấy toàn thân rã rời, muốn kiếm một nơi nào đó nằm xuống. Hai chân lê không muốn nổi vì hai ống quyển bầm ứ máu. Trên đầu, một vết cắt dài máu ri rỉ chưa muốn thôi... Nhưng thấy đã khuya, chàng cố tìm nơi nào đó có người chuyên sửa bánh cho chiếc xe xui xẻo cũng là ngày đầu tiên ra quân nhớ đời của mình...
Dân đạp xe về đến nhà thì đã gần mười hai giờ đêm. Cả nhà đang ngồi nóng ruột chờ chàng. Mọi người đều lo lắng vì cho rằng có điều gì đó bất thường nên đã khuya mà Dân chưa về! Hơn nữa, đây là ngày đầu tiên Dân vừa làm quen với chiếc xích lô vừa ra đường kiếm cơm với cái xe chưa từng xử dụng... Khi vừa thắng xe trước cửa, mọi người chạy ra há hốc miệng không thốt lên lời. Trước mắt mọi người là một anh chàng quấn băng trắng trên đầu, hai ống chân là hai băng khác cột bằng hai mảnh áo rách, giống như một thương binh từ chiến trường chưa được về nằm quân y viện. Mọi người dìu Dân vào trong. Chàng vừa uống ly nước chanh đường do vợ chàng đem đến, vừa thuật chuyện cho mọi người nghe. Những tấm áo rách băng cầm máu ở ống chân và trên đầu là do anh chàng sửa xe gần cầu Nhị Thiên Đường, cũng là một người tù vừa được tha về mấy tháng trước đã băng bó cho Dân... Nghe xong câu chuyện, ai cũng bò lăn ra cười thay vì khóc. Họ cố tình làm như là trò vui không có gì nhưng trong ánh mắt nói lên sự cảm thông, chia xẻ nỗi đắng cay với mấy vết thương trên người chàng... Cả nhà cười ra nước mắt khi thấy Dân lần đầu tiên ra quân kiếm cơm. Má Dân vừa cười vừa lấy khăn lau mắt vừa nói:
- Thằng Dân đúng là Khương Tử Nha đang lỡ vận!
Từ đó không còn ai khuyến khích chàng chạy xích lô đạp, cũng từ đó Dân sợ nghe nói đến chiếc xích lô và câu chuyện bà Xẩm mập với bao bột ngọt. Cũng từ đó, cầu Nhị Thiên Đường là một địa danh nhớ đời trong đầu người đạp xích lô lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng mang tên Dân! Cũng từ đó, chàng cứ dài lưng ra báo vợ báo con, ngâm thơ... cho đến một ngày mấy thằng Hoa Kỳ mát giây rước cả gia đình chàng cùng với một tập thể cựu tù nhân chính trị qua định cư trên xứ Cờ Hoa. Cuộc đổi đời bất ngờ nầy là một dấu móc ngoặc lịch sử của những con người tưởng như chỉ còn chờ chết trong thân tàn ma dại và con cái cũng chỉ là những cu li cạo mủ cao su hay ngon lắm cũng làm được chức công nhân tiên tiến...
Thế là mấy đứa con Dân, sau khi định cư, chúng đã cố gắng vươn lên theo lời khuyến khích từ cha mẹ. Chúng đã vượt qua đoạn đường dài trong học đường để không phải mặc chiếc áo cổ xanh và cũng chẳng bao giờ phải nghĩ đến chiếc xích lô mà cha chúng có lần vật lộn trên con dốc cầu Nhị Thiên Đường...!
lêanhdũng
lêanhdũng
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... nduong.jpg[/left]Dân vẫn mang trong tâm tư tính gàn bướng của một người thất chí lỡ thời. Những anh chàng lỡ thời lỡ vận thường hay gàn dở và hay làm thơ yếm thế! Nhiều khi Dân tưởng mình là một ông đồ Trần Tế Xương tái sinh. Chàng cũng bày đặt ngâm thơ yếm thế và thỉnh thoảng khoa chân múa tay lúc chỉ có một mình để vơi đi nỗi bực bội vẫn chất chứa từ ngày ra tù đến bấy giờ. Bấy giờ có nghĩa là năm một nghìn chín trăm tám mươi tám. Đã ra khỏi nhà tù ba năm có lẻ mà chẳng thể nào tìm cho mình được một việc làm nuôi thân. Vợ chàng xoay qua trở lại với cái nghề buôn gánh bán bưng ngoài chợ, nhưng thường hay bị quản lý thị trường rượt đuổi và có lần bị tịch thu mất trắng. Với cái bằng cải tạo, chàng đi hết công ty quốc doanh này đến cơ sở sản xuất khác để xin việc. Thỉnh thoảng cũng có nơi gọi chàng vào "phỏng vấn", nhưng sau khi chàng trình bày hoàn cảnh, người ta bèn phán: "Anh phải có hộ khẩu ở địa phương thì chúng tôi mới duyệt xét được...!" Dân về lại phường khóm xin vào hộ khẩu thì ông Công an phường nói: "Muốn vào hộ khẩu, ít ra anh phải có công ăn việc làm đàng hoàng chứ cứ ngày nào cũng khơi khơi ngồi ngâm thơ thì ai mà cho vào hộ khẩu!" Rốt cuộc, chàng cứ phải lang thang chẳng nơi nào cho vào làm việc và cũng chẳng hy vọng được an cư!
Lúc mới từ trại tù về lại thành phố, thấy mấy đứa em chạy xích lô đạp về đêm, cũng được tí tiền còm. Anh bèn đề nghị cho tham gia.
Thằng út nói:
- Anh Hai mà đạp xích lô thì có lẽ là thời vận đã hết rồi, lùn như anh làm sao cỡi chiếc xe cao ngồng và nhớ là khó điều khiển chứ chẳng phải đồ chơi đâu!
- Thì cũng để cho tao thử xem đã chứ!
Chàng vừa nói vừa cười vừa ngắm chiếc xe đang đậu trước cửa nhà. Quả thật nó không phải dễ xử dụng, chàng nghĩ thế. Nhưng mình cứ thử xem, chẳng lẽ vô tài đến độ đạp xích lô cũng không được!
Thế là đêm hôm sau Dân nhảy lên xe chạy một vòng từ ngã Bảy Chợ Lớn đến đường Hùng Vương. Trong lúc đang cố gắng làm quen với các thao tác và cái thắng tay thì chàng nghe một giọng "Xẩm" rất là Xẩm:
- Ê ! Xích lô !
Chàng quay đầu lại phía góc đường, thấy một bà Xẩm mập và một đống đồ gì đó rất to tướng. Nghĩ trong bụng là mới ra quân mà đã trúng mánh. Quành xe lại và khó khăn lắm chàng mới tránh được một tốp người đi xe đạp. Khi dừng xe, anh cẩn thận nhảy xuống hỏi bà Xẩm, giọng thăm dò:
- Bà gọi xích lô hả?
- Không gọi cái nị thì gọi ai! Bỏ cái bao này lên cảng xe, chở ngộ qua bên kia cầu Nhị Thiên Đường. Mà cái nị lấy bao nhiêu tiền?
Chàng gãi đầu, chợt nhớ ra là mình quên hỏi mấy đứa em về giá cả của những xuất xe trên các đoạn đường tiêu biểu để có khái niệm khi mặc cả với khách hàng. Lúng ta lúng túng, chàng nói với bà ta:
- Chứ mấy lần trước nị trả bao nhiêu tiền thì trả cho ngộ chừng đó cũng được.
Bà Xẩm cười tươi nói:
- Ừa! để ngộ tính cho, không trả rẻ cho nị đâu mà!
Thế là chàng loay hoay đến bê bao bố to tổ chảng lên xe. Chiếc càng xe chổng về phía trước vì bao đồ nặng quá, sau khi chàng cong lưng muốn đứt hơi mới đem nổi nó lên. Cuối cùng thì bà Xẩm cũng ung dung ngồi vắt chân chữ ngũ trên cái bao. Trông bà giống như một lực sĩ đô vật xứ Phù Tang, còn chàng thì giống như con nhái đeo phía sau, cố đạp cho chiếc xe lết được trên đường đầy ổ gà. Lần đầu tiên ra quân mà quơ được món bở nặng ký, không biết bà Xẩm trả công bao nhiêu, chứ mồ hôi con, mồ hôi mẹ đang thi nhau tuôn ra uớt cả áo quần, hơi thở càng lúc càng to, càng đứt quãng như trâu muốn bứt cày... Từ đó mà đến chân cầu Nhị Thiên Đường gần một giờ đồng hồ. Bà Xẩm ngồi lâu quá, thấy xe chạy chậm quá bà cằn nhằn:
- Cái lị hết xí quách rồi sao hả, xe chạy giống như con rùa hả cái nị?
Chẳng còn sức đâu mà trả lời, chàng đang cố gắng vật lộn với chiếc xe. Nó chẳng muốn leo lên dốc mà chàng thì gần đứt cả hơi. Nhảy xuống xe, chàng gắng sức đẩy mà chiếc xe vẫn ì ra, nó còn muốn thụt lùi, bánh xe tí nữa là cán trên bàn chân. Dân năn nỉ bà Xẩm:
- Cái nị làm ơn xuống xe để ngộ đẩy nó qua khúc dốc cầu, nị nặng quá, ngộ không có sức cho xe bò lên dốc được...
Bà Xẩm vừa bước xuống xe vừa cằn nhằn:
- Hôm nay ngộ xui mới gặp phải của nợ, cái nị không còn xí quách mà đòi đạp xích lô thì chết nị cũng chết cả ngộ nữa, trễ giờ hết của ngộ rồi, biết không hả! Ngộ đâu có nặng bao nhiêu, mới có một trăm lẻ hai ký mà... Cái nị không biết điều, hứ!
Tuy mắng nhiếc như thế, bà Xẩm cũng cho tay vào đẩy giúp chàng cho đến khi nó lên được hết con dốc. Bà Xẩm lại cằn nhằn:
- Xe của nị không cho dầu mỡ gì hết trơn nên đẩy nặng thấy mồ. Ngộ đẩy cũng muốn ói máu...
- Cái bao của nị nặng chứ xe gì nặng, chút nữa phải trả tiền ngộ gấp hai đó! Chàng mau miệng trả lời bà Xẩm.
- Hứ! Cái nị đã làm trễ việc của ngộ rồi còn đòi thêm tiền gì, thôi đi mau lên ông nội!
Vừa nói bà vừa leo lên xe trong lúc Dân cố giữ cho chiếc xe khỏi tụt dốc, chàng có cảm giác như mấy cột xương sống của mình đang vỡ ra từng khúc với sức nặng của bà Xẩm... Sau cùng chàng lấy trớn để nhảy lên xe, chàng cảm thấy nhẹ lâng lâng khi chiếc xe từ từ xuống dốc. Gió dưới sông thổi lên mát rượi làm cho chiếc áo đầy mồ hôi thấm mát từng cơ bắp. Chàng đang thưởng thức cảm giác đó, như có một sức mạnh vô hình nào làm cho chàng hồi sức. Chiếc xe càng lúc càng tăng tốc, chạy mau xuống dốc thì bà Xẩm hét:
- Thắng lại! Thắng lại! Chết ngộ rồi...
Dân choàng tỉnh quơ vội thắng tay, nhưng quá trễ, chiếc xích lô theo đà con dốc chạy mau như con bò điên không ai có thể kềm hãm được. Dân cố sức ghì tay thắng, cố kèm cho hai bàn đạp không tụt khỏi chân... Nhưng theo trớn chạy mau của chiếc xe, bàn chân trật khỏi bàn đạp, quất mạnh vào ống quyển của Dân như có ai lấy búa nện vào ống quyển. Chiếc xe nghiêng qua một bên và chạy thẳng lên lề đường. Cuối cùng nó lăn quay ba vòng từ dốc cầu xuống phía dưới mấy thước.
Khi Dân choàng tỉnh lồm cồm bò dậy, hai ống quyển đau đớn kinh khủng, đi muốn không nổi. Có chất gì ươn ướt trên gò má. Chàng lấy tay quệt và soi lên ánh đèn đường vàng yếu ớt. Máu không biết từ đâu đỏ thấm bàn tay. Chưa kịp nghĩ ra mình phải làm gì lúc này thì bà xẩm cũng từ gầm chiếc xích lô vừa rên hừ hừ vừa bò ra. Bao bố hàng hóa tung tóe khắp nơi. Những gói nho nhỏ nằm trên bờ cỏ và cả trên nền xi măng vệ đường. Bà Xẩm hét về phía Dân:
- Cái nị còn ngồi đó hả, mau lượm hết bỏ vô bao cho ngộ. Chết cha ngộ rồi, mau lên không thì công an tóm cả nị nữa đó...!
Nghe công an, chàng không cần biết là gì nữa, quên đau, vội chạy lại thu gom "tang vật". Nhưng đôi chân như níu trì chàng lại, vết thương khá nặng làm chàng muốn xỉu. Nhưng vì sợ quá chàng phải bò đứng dậy gom góp các gói trăng trắng rải rác khắp nơi. Thì ra chàng đã chở một bao bố toàn bột ngọt. Thất kinh chàng muốn chuồn cho lẹ để mặc bà Xẩm với những thứ quỉ sứ đó... Nhưng có lẽ bà Xẩm đã đoán được ý chàng nên lên tiếng năn nỉ:
- Cái nị giúp ngộ, ngộ sẽ cho cái nị mấy bao đem về làm quà cho bà xã mà. Ngộ đang bị cái gì nó cắt cái đầu gối không ngồi dậy được.
Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, lần đầu tiên chàng có cảm giác mình đang toa rập buôn đồ lậu. Nhưng nghĩ lại, cả một miền Nam đang đắm chìm trong đói khát và tang thương, ai ai cũng cố sức tìm miếng ăn manh áo trong bất cứ trạng huống nguy hiểm nào... Thì hành động vô tình của chàng có thấm tháp gì. Nghĩ như thế nên Dân gượng nhếch mép cười, thu gom toàn bộ những bao rơi vãi, dồn lại vào bao bố, cột chặt lại cho bà Xẩm trong lúc bà ta vừa rên vừa bò tìm đôi dép.
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... xichlo.jpg[/left]Đang loay hoay với bao bố nặng và chiếc xe xích lô, Dân nhìn từ xa có hai công an đang đạp xe đạp lên dốc cầu. Chàng lẳng lặng leo lên xe... Nhưng chiếc bánh xe bên phải đã cong, nó cứ cọ sát vào sườn xe không chịu nhúc nhích. Hoảng quá, chàng đành làm bộ nhảy xuống xăng xăng trong tư thế đang sửa xe và làm như mình không dính dấp gì đến bà Xẩm đang xanh mặt ngồi im trong xó tối dưới dốc cầu. Cũng may hai tên áo vàng không để ý vì đang bận vừa đạp xe vừa tranh luận điều gì đó cũng gay gắt không kém những giọt mồ hôi hai gã đang đổ ra vì con dốc cầu Nhị Thiên Đường...
Khi hai công an đi xa chỗ con dốc, bà Xẩm lên tiếng:
- Tụ cái lụ mụ hậy! Cái nị không chuồn đi còn đứng làm gì đó. Xui lắm mới gặp nị. Thôi để ngộ kêu xe khác, cái nị cút đi!
Chàng cố dắt chiếc xe lên con dốc và quên rằng chiếc xe đã hư, tiền thì bà xẩm chưa trả, mấy gói bột ngọt cũng chưa lịp lấy để trừ tiền công. Chàng nghĩ, có lẽ mình phải đem xe đi mới đem xe về nhà được. Nghĩ đến đó chàng mới nhớ ra mình chẳng có xu teng nào trong túi và chưa đòi tiền công với bà xẩm. Dân quay lại gặp bà xẩm, lúc ấy bà đang lay hoay lôi xềnh xệch cái bao bố dưới đất.
Vừa lôi bà vừa rên. Đến bên cạnh bà Xẩm, chàng lên tiếng:
- Cái nị chưa cho tiền công ngộ. Ngộ cũng chưa lấy bột ngọt của nị. Bây giờ nị tính cho ngộ chớ!
Bà Xẩm quay lại sa sầm nét mặt. Lúc nầy hai con mắt bà trông dữ dằn không thể nào tả được. Bà hét:
- Cút đi! Cái nị làm ngộ bị thương gần chết còn đòi gì nữa?
Dân cũng không kém, chàng liều mạng hăm dọa:
- Nị không trả tiền cho ngộ, ngộ la làng cho công an đến bắt nị cho coi!
Nói rồi chàng làm bộ lấy hai tay làm loa để la to:
- Bớ...
- Thôi thôi đừng có la! Ngộ chịu thua cái nị. Tiền đây, trời ơi xui xẻo mới gặp cái nị. Trời ơi là trời!
Bà móc túi dúi cho Dân một đống giấy bạc mà không đếm. Chàng được thể cao giọng:
- Còn nị hứa cho mấy gói bột ngọt thì bây giờ ngộ lấy chứ!
- Trời ơi, còn đòi gì nữa đây. Thôi nị lấy hai gói rồi cút đi... Hừ hừ...!
Dân nhét vội hai gói bột ngọt phía sau xích lô rồi quay xe đẩy xuôi xuống dốc cầu để tìm nơi sửa chữa. Mặc cho bà Xẩm bù lu bù loa lầm bầm trong miệng mắng nhiếc và cao giọng gọi một chiếc xích lô khác vừa trong ngõ hẻm chạy ra. Chàng cũng thấy toàn thân rã rời, muốn kiếm một nơi nào đó nằm xuống. Hai chân lê không muốn nổi vì hai ống quyển bầm ứ máu. Trên đầu, một vết cắt dài máu ri rỉ chưa muốn thôi... Nhưng thấy đã khuya, chàng cố tìm nơi nào đó có người chuyên sửa bánh cho chiếc xe xui xẻo cũng là ngày đầu tiên ra quân nhớ đời của mình...
Dân đạp xe về đến nhà thì đã gần mười hai giờ đêm. Cả nhà đang ngồi nóng ruột chờ chàng. Mọi người đều lo lắng vì cho rằng có điều gì đó bất thường nên đã khuya mà Dân chưa về! Hơn nữa, đây là ngày đầu tiên Dân vừa làm quen với chiếc xích lô vừa ra đường kiếm cơm với cái xe chưa từng xử dụng... Khi vừa thắng xe trước cửa, mọi người chạy ra há hốc miệng không thốt lên lời. Trước mắt mọi người là một anh chàng quấn băng trắng trên đầu, hai ống chân là hai băng khác cột bằng hai mảnh áo rách, giống như một thương binh từ chiến trường chưa được về nằm quân y viện. Mọi người dìu Dân vào trong. Chàng vừa uống ly nước chanh đường do vợ chàng đem đến, vừa thuật chuyện cho mọi người nghe. Những tấm áo rách băng cầm máu ở ống chân và trên đầu là do anh chàng sửa xe gần cầu Nhị Thiên Đường, cũng là một người tù vừa được tha về mấy tháng trước đã băng bó cho Dân... Nghe xong câu chuyện, ai cũng bò lăn ra cười thay vì khóc. Họ cố tình làm như là trò vui không có gì nhưng trong ánh mắt nói lên sự cảm thông, chia xẻ nỗi đắng cay với mấy vết thương trên người chàng... Cả nhà cười ra nước mắt khi thấy Dân lần đầu tiên ra quân kiếm cơm. Má Dân vừa cười vừa lấy khăn lau mắt vừa nói:
- Thằng Dân đúng là Khương Tử Nha đang lỡ vận!
Từ đó không còn ai khuyến khích chàng chạy xích lô đạp, cũng từ đó Dân sợ nghe nói đến chiếc xích lô và câu chuyện bà Xẩm mập với bao bột ngọt. Cũng từ đó, cầu Nhị Thiên Đường là một địa danh nhớ đời trong đầu người đạp xích lô lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng mang tên Dân! Cũng từ đó, chàng cứ dài lưng ra báo vợ báo con, ngâm thơ... cho đến một ngày mấy thằng Hoa Kỳ mát giây rước cả gia đình chàng cùng với một tập thể cựu tù nhân chính trị qua định cư trên xứ Cờ Hoa. Cuộc đổi đời bất ngờ nầy là một dấu móc ngoặc lịch sử của những con người tưởng như chỉ còn chờ chết trong thân tàn ma dại và con cái cũng chỉ là những cu li cạo mủ cao su hay ngon lắm cũng làm được chức công nhân tiên tiến...
Thế là mấy đứa con Dân, sau khi định cư, chúng đã cố gắng vươn lên theo lời khuyến khích từ cha mẹ. Chúng đã vượt qua đoạn đường dài trong học đường để không phải mặc chiếc áo cổ xanh và cũng chẳng bao giờ phải nghĩ đến chiếc xích lô mà cha chúng có lần vật lộn trên con dốc cầu Nhị Thiên Đường...!
lêanhdũng
Bệnh anh hùng
Bệnh anh hùng
Ðinh Từ Thức
Mười năm qua, tôi đã lui tới Singapore bốn lần, nhưng các lần trước ít chú ý về tình hình tại đây. Một tháng ở đó trong lần chót vừa rồi, gặp đúng dịp đảo quốc này kỷ niệm bốn mươi năm ngày độc lập. Cũng trùng với dịp Việt Nam kỷ niệm sáu mươi năm cuộc Cách mạng tháng Tám, khiến tôi có ý định nêu ra mấy nhận xét đáng chú ý giữa Singapore và Việt Nam.
Không phải chỉ riêng tôi muốn so sánh Singapore với nước mình. Trong thời gian bão Katrina tàn phá, nhà bình luận thời sự nổi tiếng của báo New York Times là Thomas Friedman cũng có mặt ở Singapore. Ông đã viết hai bài trên trang bình luận của New York Times, và có những nhận xét về Singapore. Trong bài báo ngày 14-9, ông viết: “Nếu phải chọn bất cứ nơi nào ở Á châu để trải qua một trận bão, thì nơi đó nên là Singapore”. Friedman nói như vậy, vì so sánh với nỗ lực của Mỹ cấp cứu nạn nhân bão Katrina, Singapore mau mắn và hữu hiệu hơn nhiều khi cứu nạn nhân sóng thần ở Nam Dương vào cuối năm ngoái. Được như vậy, vì trong việc chọn người vào các chức vụ then chốt ở Singapore, người ta không chọn theo tiêu chuẩn bồ bịch, như ông Bush chọn cựu giám đốc cơ quan cấp cứu liên bang (FEMA) Michael Brown, hay “hồng hơn chuyên” theo kiểu Việt Nam. Singapore chọn người theo tiêu chuẩn có khả năng nhất, và ít tham nhũng nhất. Để xứng đáng với khả năng và tránh tham nhũng, họ trả lương rất cao. Thủ tướng lãnh lương gần gấp ba lần tổng thống Mỹ, mỗi năm 1,1 triệu Mỹ kim; nhân viên chính phủ và thẩm phán Tối cao Pháp viện gần một triệu.
Friedman nhận xét rằng, vào buổi đầu, việc cai trị tốt rất quan trọng tại Singapore, “vì đảng cầm quyền phải giành giựt tâm trí người dân với cộng sản, những người được tiếng là không tham nhũng và ân cần – khiến nhà nước phải cũng như vậy, hay khá hơn”. Thật may mắn cho Singapore, cả phía cộng sản và không cộng sản. Nhờ những người không cộng sản nắm chính quyền mà Singapore được như ngày nay, và phe cộng sản nhờ không cướp được chính quyền nên ngày nay vẫn còn được tiếng là thân dân và không tham nhũng.
Trong bài thứ nhì vào ngày 16-9, Friedman viết về tình hình giáo dục tại Singapore. Theo ông, “chính quyền tại đây hiểu rằng, trong một thế giới phẳng (cả thế giới có thể thu gọn trong chiếc màn ảnh phẳng của máy computer), công việc có thể chạy đi bất cứ đâu thì khá hơn láng giềng chưa đủ. Cần phải đứng trên mọi người – kể cả chúng ta (Mỹ)”. Một hiệu trưởng cho biết “...Chúng tôi đã nới lỏng đôi chút để cho phép học sinh nuôi dưỡng ý tưởng riêng của mình”, và “kiến thức có thể được tạo ra tại lớp học, chứ không phải chỉ đến từ thầy giáo”. Vẫn theo Friedman, các học sinh lớp bốn và lớp tám tại Singapore đã đạt được điểm cao nhất trong các kỳ thi quốc tế về toán và khoa học do Timss tổ chức. Và sách toán của Singapore đã được trường Mỹ, nơi con gái ông theo học, sử dụng tại Maryland. Trong khi Singapore cố gắng vượt Mỹ về giáo dục, Việt Nam vẫn bắt buộc học sinh từ nhỏ đến lớn, muốn ra trường, phải học những môn “thầy không muốn dạy và trò không muốn học”, là môn “tư tưởng Hồ Chí Minh” và “lý thuyết Mác-Lê”. Ngoài ra, Việt Nam còn phí phạm nhân tài như kiểu tuyển những sinh viên ưu tú, gửi đi nước xã hội anh em Cuba, chịu cảnh đói rách, học những môn không phải sở trường của họ, như kinh tế và computer (theo phóng sự của báo Tiền phong, Hà Nội).
Bây giờ, xin trở lại âm vang hai lễ lớn của Singapore và Việt Nam. Cùng vào tháng Tám, một bên kỷ niệm 40 năm ngày độc lập (9-8 ), một bên kỷ niệm 60 năm ngày cướp được chính quyền (19-8 ). Việt Nam đi trước Singapore đúng 20 năm. Ngoài khác nhau về thời gian, còn khác nhau về người cầm quyền: Việt Nam có Đảng Cộng sản, với lãnh tụ Hồ Chí Minh; Singapore có Đảng Nhân dân Hành động (PAP – People’s Action Party), với lãnh tụ Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu).
Dân số Việt Nam hiện có 83 triệu rưỡi người. Dân số Singapore chỉ bằng số lẻ của Việt Nam, công dân thực thụ có ba triệu rưỡi, cộng với 700 ngàn người ngoại quốc tới làm việc, là 4,2 triệu. Nhưng Singapore đang sử dụng ba triệu rưỡi máy điện thoại di động, hơn Việt Nam một triệu đơn vị. Số ngoại tệ và vàng dự trữ của Singapore vào năm ngoái là 112,8 tỷ Mỹ kim, trừ đi số nợ phải trả cho ngoại quốc là 19,4 tỷ, nếu chia đều cho dân, mỗi đầu người được khoảng 26 ngàn Mỹ kim. Trong khi ấy, số dự trữ của Việt Nam là 6,51 tỷ MK, nếu trừ đi số nợ ngoại quốc là 16,55 tỷ, tính đổ đồng mỗi người dân phải mang nợ chừng hơn 100 MK. Bao giờ dân Việt Nam đông bằng dân Trung Quốc, số nợ mỗi đầu người phải gánh sẽ giảm xuống còn khoảng 10 MK.
Singapore chỉ cách Việt Nam hơn một giờ bay, tương đương khoảng cách Sài Gòn đi Hà Nội. Người dân Singapore cùng thuộc giống da vàng, chắc không thể thông minh và chịu khó hơn dân Việt. Singapore lại bị những điều kiện kém Việt Nam, như đất hẹp, không có tài nguyên thiên nhiên, và phải dùng tới bốn ngôn ngữ chính. Nhưng tại sao, độc lập sau Việt Nam 20 năm, ngày nay Singapore nằm trong số những quốc gia đứng đầu danh sách các nước trên thế giới, trong khi Việt Nam nằm chung với các nước dưới cuối? Hình như câu trả lời là chỉ vì hai tiếng “anh hùng” mà thôi.
Theo dõi Việt Nam kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả. Trước hết là diễn văn của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Quảng trường Ba Đình vào sáng 2-9: “Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng... truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam trong thời đại mới”. Rồi Chủ tịch “vô cùng biết ơn và cảm tạ các bậc lão thành cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng”, trước khi kết luận: “Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...”
Báo Nhân Dân ngày 2-9, qua bài “Hà Nội, 60 năm nhìn lại” viết: “Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng”. Và viết tiếp: “Ghi nhận những thành tựu của Hà Nội trong hơn nửa thế kỷ qua, Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Thủ đô Anh hùng”. Bài báo kết luận: “...với truyền thống lịch sử nghìn năm văn hiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô phấn đấu hơn nữa, đưa thành phố Hà Nội trở thành thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng.”
Sài Gòn, đã mất địa vị thủ đô từ hơn ba mươi năm, cũng được tặng danh hiệu anh hùng. Báo Tiền phong Online ngày 2-9 tường thuật: “Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt Đảng, Chính phủ trao danh hiệu ‘Thành phố Anh hùng’ cho lãnh đạo TP.HCM. Tổng Bí thư nhắc đến truyền thống anh hùng của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu...”
Tự ca tụng mình là anh hùng chưa đủ, mạng lưới chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 30-9 đã phổ biến lại bài bình luận của đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 29-8, mượn lời báo Mỹ để tự ca anh hùng: “Ngay ở Mỹ, Báo Bưu điện Washington, một trong những tờ báo có đông độc giả cũng vừa có bài khẳng định, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng này đã khích lệ và tạo nguồn cho hàng triệu người trên khắp địa cầu, kể cả tại Mỹ, đấu tranh chống lại chiến tranh và cường quyền” (“Báo Bưu Điện Washington”, có lẽ là Washington Post, nhưng không nói rõ bài báo xuất hiện ngày nào, nên người viết không thể kiểm chứng).
Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới hai tiếng anh hùng. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long, con Lý Quang Diệu), trong cuộc nói chuyện lâu hai tiếng rưỡi, [1] không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc tới công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa tới Đảng Nhân dân Hành động, là đảng cầm quyền từ năm 1959. Trong khi ấy, Chủ tịch Trần Đức Lương của Việt Nam, trong bài diễn văn quốc khánh, đã hãnh diện: “Tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam...”
Chính Hồ Chí Minh khi còn sống, cũng tự nhận mình là anh hùng. Trong dịp viếng đền Kiếp Bạc, nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, họ Hồ đã xuất khẩu thành thơ: “Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng”.
Trong hai cuối tuần lễ lạt ăn mừng độc lập, Singapore không nói tới thắng lợi, không nhắc tới kẻ thù. Thủ tướng Loong nhấn mạnh: Được như ngày hôm nay là nhờ “nhân dân chúng ta, tư tưởng chúng ta, và hành động của chúng ta. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta đã tạo được một tinh thần Singapore. Chúng ta can đảm nhưng nhân đạo, chúng ta tự tin nhưng không bao giờ tự kiêu”.
Trong khi đọc diễn văn, có lúc thủ tướng Singapore đã rưng rưng nước mắt, khi nhắc lại kỷ niệm khó quên, xảy ra trong dịp lễ độc lập năm 1968. Thời gian này, Việt Nam đã nổi tiếng thế giới với trận Tổng công kích Mậu Thân, với quyết tâm “giải phóng Miền Nam”, dù phải san phẳng dãy Trường Sơn và hy sinh hàng triệu người. Trong khi ấy Singapore đang bơ vơ, không biết sẽ làm gì để sống. Nước Anh, tuy đã trả độc lập cho Singapore, vẫn còn giữ lại căn cứ quân sự ở Seletar Air Base, hẹn đến năm 1971 mới ra đi. Nhưng đầu năm 1968, Anh quyết định rút sớm, khiến khoảng 150 ngàn dân trực tiếp hay gián tiếp làm cho quân đội Anh bị mất việc. Thu nhập của những người này bằng 20% tổng số lợi tức quốc gia. Singapore họp nhau kỷ niệm lần thứ ba ngày độc lập trong tình huống lo lắng như vậy. Sáng ngày 9-8, trời quang mây tạnh, nhưng trước khi cuộc lễ bắt đầu, mưa đổ tầm tã. Tất cả mọi người cố giữ nguyên hàng ngũ. Đó là niềm hãnh diện về sự quyết tâm, cũng là nỗi xót xa của Singapore trong lịch sử lập quốc của mình. Báo chí Singapore năm nay đã dành nhiều trang lớn, đăng bài vở, hình ảnh và phỏng vấn về lễ kỷ niệm mưa gió này. So với những trận mưa bom đạn mà dân Việt Nam phải chịu từ Bắc tới Nam, trải qua một trận mưa rào nhiệt đới, không bằng chuyện muỗi cắn. Nhưng với những người không muốn làm anh hùng, muỗi cắn cũng đau.
Trong khi Việt Nam sợ “diễn biến hòa bình”, Singapore chủ trương phải thay đổi, hay là chết. Thủ tướng Loong khẳng định: “Vì thế giới sẽ thay đổi, nếu Singapore vẫn như hiện nay, chúng ta chết”.
Trong khi Việt Nam cảnh giác về “bọn phản động trong nước”, và những “thế lực thù địch bên ngoài”, Singapore chủ trương xây dựng một “xã hội hợp quần” (inclusive society), thúc đẩy sự tham gia của mọi người trong nước, và sẵn sàng học hỏi từ các nước, kể cả Việt Nam. Thủ tướng Loong kể chuyện: Tôi gặp một nhà vô địch Võ Nam Dương (silat), hỏi ông ta ai là đối thủ đáng sợ nhất tại cuộc tranh tài Á Châu SEA Games? Ông ấy nói Việt Nam. Tôi sốc. Tôi nói Việt Nam biết gì về Võ Nam Dương. Thái cực đạo, Kong fu, hay mấy môn võ cổ truyền Đông phương thì họa may, nhưng silat? Ông ấy nói đúng đấy. Từ con số không, họ bắt đầu học vào năm 1993, với hai huấn luyện viên Nam Dương. Mới đầu, không cơ sở, không vận động trường, không dụng cụ tối tân. Họ lấy mấy ống kim khí, buộc vào nhau thành khung, bọc lại, làm đệm, đấm đá, luyện tập vất vả. Sau vài năm, họ biết khá rồi, cho huấn luyện viên về, tự lo lấy. Bây giờ, họ là vô địch Đông Nam Á, đang nhắm chức vô địch thế giới. Và thứ võ này là môn thể thao hàng đầu ở Việt Nam. Ông Loong kết luận: “Chúng ta cần có một tinh thần như thế”. Học võ mà bắt chước Việt Nam, đúng quá!
Singapore không có tài nguyên, một chút đất trồng rau cũng không có, ngay nước dùng hàng ngày còn lo thiếu. Tất cả mọi thứ đều phải nhập cảng. Chỉ còn vốn liếng đáng quý hơn cả là con người. Thay vì hy sinh con người để làm anh hùng, hay làm “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang” như lời ông Trần Đức Lương, Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để tạo một thành phố tiến bộ kiểu đệ nhất thế giới, nằm trong thế giới thứ ba. Singapore hiện nay là thành phố sạch sẽ vào hàng nhất thế giới. Người ta có thể đi bộ vẹt gót giày khắp phố lớn phố nhỏ, mà không sợ đạp cứt chó như ở Paris. Singapore cũng an ninh vào hạng nhất thế giới. Thẩm phán Tối cao Pháp viện David Souter bị tấn công khi đang chạy bộ gần nhà ở Washington DC, mới 9 giờ tối, vào cuối tháng Tư năm ngoái. Tôi từng bị móc túi ở New York, Paris, và bị người lái taxi lừa khi vừa ra khỏi phi trường Roma, nhưng hoàn toàn yên tâm khi di chuyển ngày hay đêm, đi bộ hay taxi tại Singapore.
Tuy tinh thần phục vụ của người Singapore hiện nay rất cao, ví dụ người tính tiền tại các chợ hay cửa hàng, mỗi khi trao đổi với khách, đều dùng cả hai tay và kính cẩn cúi đầu, miệng nói cám ơn, nhưng Thủ tướng Loong vẫn chưa hài lòng. Ông than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông so sánh với người Thái, người Ấn, người Nhật, người Úc, mỗi khi gặp khách đều có lời chào trước khi vào việc, trong khi người Singapore hỏi ngay là mình có thể giúp gì, hay tệ hơn, là ông hay bà muốn gì. Ông đã coi việc phục vụ như một danh dự, và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách, trao cho một tổng trưởng chịu trách nhiệm. Trong khi Việt Nam nêu cao khẩu hiệu: “Noi gương Bác Hồ đời đời kính yêu”, khẩu hiệu mới của Singapore là “GST”, chữ đầu của “Greet, Smile and Thank” (CCC – Chào, Cười và Cảm ơn).
Giống như ông Reagan làm trong mỗi dịp đọc Thông điệp Liên bang, ông Lý Hiển Long đã giới thiệu, và kể những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi. Bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, nhận việc lau chùi cầu tiêu, kiếm thêm tiền để dành cho con đi hoc. Con bà không muốn, hỏi bà: Sao má hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm. Làm để sống, đâu có trộm cắp ai. Kết thúc câu chuyện, ông muốn mọi người “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự. Không phải là những việc thấp hèn”.
Qua việc Thủ tướng Singapore đề cao người chùi cầu tiêu, khiến tôi liên tưởng tới chuyện mới xảy ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Trong phiên họp thượng đỉnh cấp quốc trưởng tại Hội đồng Bảo an của khóa họp thứ 60, Đại Hội đồng LHQ ở New York vào ngày 14-9-05, ký giả của hãng Reuters, dùng ống kính nhìn xa, đã chụp được tay tổng thống Bush đang viết một cái note cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice ngồi cạnh. Phóng ảnh to lên, đọc được mấy chữ của ông Bush, không phải chuyện sống còn của thế giới, mà là: “Tôi nghĩ rằng tôi cần đi cầu. Liệu có được không?” (I thinhk I may need a bathroom break. Is this possible?). Điều này nhắc nhở mọi người một thực tế là, dù có quyền lực lớn chưa từng ai có được trong lịch sử loài người như ông Bush ngày nay, cũng không thể cưỡng nổi tiếng gọi của thiên nhiên. Vậy thì, hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, không nên đo bằng tiền bạc hay quyền cao chức trọng, hãy đo bằng chỉ số cầu tiêu.
Singapore là nơi nhiều cầu tiêu và sạch sẽ nhất thế giới. Washington, DC. nhờ có nhiều bảo tàng viện và đài kỷ niệm, nơi nào cũng đầy đủ cầu tiêu, nên cũng đỡ. Paris tệ nhất, vừa ít, thiếu vệ sinh, lại phải trả tiền. London khá hơn, nhưng vẫn không có nhiều. Tại New York, năm 1990, Trung tâm Công lý Đô thị (Urban Justice Center) đã kiện thành phố vì không cung cấp đủ nhà vệ sinh công cộng. Dù vậy, trải qua ba đời thị trưởng, kể cả thị trưởng nổi tiếng thế giới Giuliani cũng không thỏa mãn được nhu cầu này. Mới đây, ông thị trưởng Bloomberg đã chọn công ty Cemusa của Tây Ban Nha để thiết lập 20 nhà cầu trên đường phố.
Trong khi ấy, tại Singapore, nhìn chỗ nào cũng thấy dấu hiệu nhà vệ sinh. Tại các tiệm bán hàng lớn, nhà vệ sinh nhiều gấp hai gấp ba lần so với bên Mỹ. Ví dụ tại Tyson Corner, khu thương mại lớn nhất ở ngoại ô Washington, DC., khách của nhà bán hàng vào loại sang Nordstrom, nhiều khi từ tầng này phải qua tầng khác, kiếm mãi mới thấy W.C. Tại Singapore, tiệm Takashimaya ở đường Orchard, trong cả 7 tầng, mỗi tầng đều có bốn nhà vệ sinh, hai nam, hai nữ. Ngoài số lượng, nhà vệ sinh Singapore còn có phẩm chất cao, chỗ nào và lúc nào cũng sạch sẽ. Lần đầu tiên tới Singapore, thấy ở đây đôi chỗ vẫn còn dùng loại bàn cầu kiểu cổ như ở Việt Nam, tuy cũng tráng men sạch sẽ, tôi bèn tìm hiểu, mới biết rằng, vì công chúng có nhiều người vẫn còn thích xài kiểu cổ. Vệ sinh hơn kiểu mới và đỡ phải lót giấy khi ngồi. Ngoài ra, còn cái thú hồi hộp khi sử dụng, phải tính toán, cân nhắc như một cao thủ thể thao, hay một nhà thiện xạ, rót sao cho trúng mục tiêu. Lần chót vừa rồi ở Singapore, tôi vào chỗ đi tiểu tại một tiệm bán hàng trên đường Orchard. Vừa đứng trước bồn, đang còn sửa soạn, chưa kịp trình diễn, đã thấy nước trong bồn tự động xịt cái ào. Nghĩ bụng chắc có trục trặc kỹ thuật. Trình diễn xong, nước tự động xịt lần nữa. Bán tín bán nghi, bèn đứng thử trước mấy bồn khác, thấy cái nào cũng xịt hai lần trước sau như vậy. Tuy đã ở Mỹ ba mươi năm, lúc ấy tôi có cảm tưởng mình như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh.
Bây giờ, xin ghé qua “nước Việt Nam Anh hùng”. Rất tiếc, tôi đã không có mặt tại Việt Nam, để có thể nhận xét tại chỗ, như đối với Singapore. Tuy nhiên, những gì nêu ra sau đây, đều là những tài liệu chính thức đã công bố từ Việt Nam. Theo báo DanTri.com.vn, du khách ngoại quốc đã phiền hà rất nhiều, vì Việt Nam thiếu nhà vệ sinh công cộng. Những nơi có nhà vệ sinh thì bị đòi tiền quá giá chính thức. Những nơi không nên có nhà vệ sinh, thì lại có, như cạnh chỗ nấu ăn, khiến thực khách từ chối không ăn. Vẫn theo báo này, một doanh nhân đã khuyên: “Khoan hãy nói tới những chuyện to tát khác, khoan hãy tốn tiền cho những chuyến đi quảng bá hình ảnh du lịch ở nước ngoài, nếu chưa lo được... cái W.C cho du khách!”
Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, ngày 18-8, Bộ Ngoại giao Việt Nam long trọng công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển con người ở Việt Nam”, dư luận quen gọi là Sách trắng về Nhân quyền. Cuối mục “Bảo đảm quyền về y tế”, sách ghi nguyên văn: “Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 1995 là 27,33% (thành thị 54,9%, nông thôn 17,3%), năm 2000 là 44,07% (thành thị 81,77%, nông thôn 32,49%).” Những con số này nói gì? Con số đầu cho biết trong nửa thế kỷ dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chỉ có hơn một phần tư trong số gần 80 triệu nhân dân Việt Nam anh hùng được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, còn hơn 50 triệu dân vẫn phải bài tiết một cách thiếu vệ sinh. Con số thứ nhì cho thấy, 55 năm sau khi cách mạng thành công, hơn một nửa nhân dân anh hùng vẫn chưa có được cái hạnh phúc nhỏ nhoi là sử dụng hố xí hợp vệ sinh.
Năm ngày sau lễ Độc lập 2-9, từ “thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng” (chữ của báo Nhân Dân), trong khi trả lời một bài phê bình, nhà văn Dương Thu Hương, mới đi ngoại quốc về, nói rằng: “Tôi trở lại Việt Nam là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”. Thú thật, lúc đầu tôi hơi bị sốc khi đọc câu này. Nhưng nghĩ lại, tôi thấy chẳng qua cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của nhà văn. Đảng đã cầm quyền 60 năm, hy sinh xương máu của vài ba triệu người, hy sinh hạnh phúc của vài ba thế hệ. Kết quả: hơn nửa số nhân dân vẫn không có nổi một hố xí hợp vệ sinh. Vậy, chỉ còn cách dùng ngay mặt kẻ cầm quyền làm hố xí. Chỉ e rằng cách giải quyết này cũng không hợp vệ sinh.
Sự khác nhau giữa Singapore và Việt nam đã phản ảnh rõ qua lời tuyên bố tiêu biểu của nhà lãnh đạo hai quốc gia trong lễ độc lập của mình. Tuy được xếp ngang với các nước hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn tuyên bố: “Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên... chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới...” (In Singapore, we don’t have a natural service culture... we have a long way to go to reach world class...). Trong khi Việt Nam xếp hàng với những nước cuối danh sách về nhiều phương diện, Chủ tịch Trần Đức Lương tuyên bố: “Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...”
Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ, giữ gìn cơ thể sạch sẽ để phòng bệnh, là thói quen tốt. Nhưng sợ vi trùng đến nỗi bị ám ảnh như nhà kỹ nghệ nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam đã mắc “bệnh Anh hùng”. Tiếng chuyên môn viết tắt là HOC, do ở tiếng Anh Heroic Obsessive-Compulsive disorder. Bệnh HOC hay bệnh anh hùng đáng sợ hơn tất cả các chứng bệnh khác. Người bị các bệnh khác, bao giờ cũng mong được chữa khỏi, và chịu khó chữa trị. Trái lại, người mắc bệnh anh hùng luôn tự hào về căn bệnh của mình, nên không thể chữa.
Nhiều người thắc mắc, tại sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù và hy sinh nhường ấy, vẫn không thể tiến bộ? Nhưng thử hỏi lại, mang trọng bệnh 60 năm, chưa chết đã là may, còn mong chi tiến bộ? Trong dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, báo chí Singapore phỏng vấn nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu về tương lai đất nước, ông trả lời: “Chúng ta đã không phung phí 40 năm qua và không lý nào chúng ta không thể phát lên được.” (We’ve not wasted the last 40 years and there’s no reason we can not make this breakthrough).
Việt Nam đã phí phạm 60 năm qua, làm sao để phát lên được?
© 2005 talawas
[1] Ông nói bằng ba thứ tiếng: Quan thoại, Mã lai và tiếng Anh. Những nhận định trong bài viết này chỉ dựa vào bài diễn văn dài 28 trang bằng tiếng Anh.
Ðinh Từ Thức
Mười năm qua, tôi đã lui tới Singapore bốn lần, nhưng các lần trước ít chú ý về tình hình tại đây. Một tháng ở đó trong lần chót vừa rồi, gặp đúng dịp đảo quốc này kỷ niệm bốn mươi năm ngày độc lập. Cũng trùng với dịp Việt Nam kỷ niệm sáu mươi năm cuộc Cách mạng tháng Tám, khiến tôi có ý định nêu ra mấy nhận xét đáng chú ý giữa Singapore và Việt Nam.
Không phải chỉ riêng tôi muốn so sánh Singapore với nước mình. Trong thời gian bão Katrina tàn phá, nhà bình luận thời sự nổi tiếng của báo New York Times là Thomas Friedman cũng có mặt ở Singapore. Ông đã viết hai bài trên trang bình luận của New York Times, và có những nhận xét về Singapore. Trong bài báo ngày 14-9, ông viết: “Nếu phải chọn bất cứ nơi nào ở Á châu để trải qua một trận bão, thì nơi đó nên là Singapore”. Friedman nói như vậy, vì so sánh với nỗ lực của Mỹ cấp cứu nạn nhân bão Katrina, Singapore mau mắn và hữu hiệu hơn nhiều khi cứu nạn nhân sóng thần ở Nam Dương vào cuối năm ngoái. Được như vậy, vì trong việc chọn người vào các chức vụ then chốt ở Singapore, người ta không chọn theo tiêu chuẩn bồ bịch, như ông Bush chọn cựu giám đốc cơ quan cấp cứu liên bang (FEMA) Michael Brown, hay “hồng hơn chuyên” theo kiểu Việt Nam. Singapore chọn người theo tiêu chuẩn có khả năng nhất, và ít tham nhũng nhất. Để xứng đáng với khả năng và tránh tham nhũng, họ trả lương rất cao. Thủ tướng lãnh lương gần gấp ba lần tổng thống Mỹ, mỗi năm 1,1 triệu Mỹ kim; nhân viên chính phủ và thẩm phán Tối cao Pháp viện gần một triệu.
Friedman nhận xét rằng, vào buổi đầu, việc cai trị tốt rất quan trọng tại Singapore, “vì đảng cầm quyền phải giành giựt tâm trí người dân với cộng sản, những người được tiếng là không tham nhũng và ân cần – khiến nhà nước phải cũng như vậy, hay khá hơn”. Thật may mắn cho Singapore, cả phía cộng sản và không cộng sản. Nhờ những người không cộng sản nắm chính quyền mà Singapore được như ngày nay, và phe cộng sản nhờ không cướp được chính quyền nên ngày nay vẫn còn được tiếng là thân dân và không tham nhũng.
Trong bài thứ nhì vào ngày 16-9, Friedman viết về tình hình giáo dục tại Singapore. Theo ông, “chính quyền tại đây hiểu rằng, trong một thế giới phẳng (cả thế giới có thể thu gọn trong chiếc màn ảnh phẳng của máy computer), công việc có thể chạy đi bất cứ đâu thì khá hơn láng giềng chưa đủ. Cần phải đứng trên mọi người – kể cả chúng ta (Mỹ)”. Một hiệu trưởng cho biết “...Chúng tôi đã nới lỏng đôi chút để cho phép học sinh nuôi dưỡng ý tưởng riêng của mình”, và “kiến thức có thể được tạo ra tại lớp học, chứ không phải chỉ đến từ thầy giáo”. Vẫn theo Friedman, các học sinh lớp bốn và lớp tám tại Singapore đã đạt được điểm cao nhất trong các kỳ thi quốc tế về toán và khoa học do Timss tổ chức. Và sách toán của Singapore đã được trường Mỹ, nơi con gái ông theo học, sử dụng tại Maryland. Trong khi Singapore cố gắng vượt Mỹ về giáo dục, Việt Nam vẫn bắt buộc học sinh từ nhỏ đến lớn, muốn ra trường, phải học những môn “thầy không muốn dạy và trò không muốn học”, là môn “tư tưởng Hồ Chí Minh” và “lý thuyết Mác-Lê”. Ngoài ra, Việt Nam còn phí phạm nhân tài như kiểu tuyển những sinh viên ưu tú, gửi đi nước xã hội anh em Cuba, chịu cảnh đói rách, học những môn không phải sở trường của họ, như kinh tế và computer (theo phóng sự của báo Tiền phong, Hà Nội).
Bây giờ, xin trở lại âm vang hai lễ lớn của Singapore và Việt Nam. Cùng vào tháng Tám, một bên kỷ niệm 40 năm ngày độc lập (9-8 ), một bên kỷ niệm 60 năm ngày cướp được chính quyền (19-8 ). Việt Nam đi trước Singapore đúng 20 năm. Ngoài khác nhau về thời gian, còn khác nhau về người cầm quyền: Việt Nam có Đảng Cộng sản, với lãnh tụ Hồ Chí Minh; Singapore có Đảng Nhân dân Hành động (PAP – People’s Action Party), với lãnh tụ Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu).
Dân số Việt Nam hiện có 83 triệu rưỡi người. Dân số Singapore chỉ bằng số lẻ của Việt Nam, công dân thực thụ có ba triệu rưỡi, cộng với 700 ngàn người ngoại quốc tới làm việc, là 4,2 triệu. Nhưng Singapore đang sử dụng ba triệu rưỡi máy điện thoại di động, hơn Việt Nam một triệu đơn vị. Số ngoại tệ và vàng dự trữ của Singapore vào năm ngoái là 112,8 tỷ Mỹ kim, trừ đi số nợ phải trả cho ngoại quốc là 19,4 tỷ, nếu chia đều cho dân, mỗi đầu người được khoảng 26 ngàn Mỹ kim. Trong khi ấy, số dự trữ của Việt Nam là 6,51 tỷ MK, nếu trừ đi số nợ ngoại quốc là 16,55 tỷ, tính đổ đồng mỗi người dân phải mang nợ chừng hơn 100 MK. Bao giờ dân Việt Nam đông bằng dân Trung Quốc, số nợ mỗi đầu người phải gánh sẽ giảm xuống còn khoảng 10 MK.
Singapore chỉ cách Việt Nam hơn một giờ bay, tương đương khoảng cách Sài Gòn đi Hà Nội. Người dân Singapore cùng thuộc giống da vàng, chắc không thể thông minh và chịu khó hơn dân Việt. Singapore lại bị những điều kiện kém Việt Nam, như đất hẹp, không có tài nguyên thiên nhiên, và phải dùng tới bốn ngôn ngữ chính. Nhưng tại sao, độc lập sau Việt Nam 20 năm, ngày nay Singapore nằm trong số những quốc gia đứng đầu danh sách các nước trên thế giới, trong khi Việt Nam nằm chung với các nước dưới cuối? Hình như câu trả lời là chỉ vì hai tiếng “anh hùng” mà thôi.
Theo dõi Việt Nam kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả. Trước hết là diễn văn của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Quảng trường Ba Đình vào sáng 2-9: “Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng... truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam trong thời đại mới”. Rồi Chủ tịch “vô cùng biết ơn và cảm tạ các bậc lão thành cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng”, trước khi kết luận: “Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...”
Báo Nhân Dân ngày 2-9, qua bài “Hà Nội, 60 năm nhìn lại” viết: “Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng”. Và viết tiếp: “Ghi nhận những thành tựu của Hà Nội trong hơn nửa thế kỷ qua, Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Thủ đô Anh hùng”. Bài báo kết luận: “...với truyền thống lịch sử nghìn năm văn hiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô phấn đấu hơn nữa, đưa thành phố Hà Nội trở thành thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng.”
Sài Gòn, đã mất địa vị thủ đô từ hơn ba mươi năm, cũng được tặng danh hiệu anh hùng. Báo Tiền phong Online ngày 2-9 tường thuật: “Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt Đảng, Chính phủ trao danh hiệu ‘Thành phố Anh hùng’ cho lãnh đạo TP.HCM. Tổng Bí thư nhắc đến truyền thống anh hùng của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu...”
Tự ca tụng mình là anh hùng chưa đủ, mạng lưới chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 30-9 đã phổ biến lại bài bình luận của đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 29-8, mượn lời báo Mỹ để tự ca anh hùng: “Ngay ở Mỹ, Báo Bưu điện Washington, một trong những tờ báo có đông độc giả cũng vừa có bài khẳng định, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng này đã khích lệ và tạo nguồn cho hàng triệu người trên khắp địa cầu, kể cả tại Mỹ, đấu tranh chống lại chiến tranh và cường quyền” (“Báo Bưu Điện Washington”, có lẽ là Washington Post, nhưng không nói rõ bài báo xuất hiện ngày nào, nên người viết không thể kiểm chứng).
Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới hai tiếng anh hùng. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long, con Lý Quang Diệu), trong cuộc nói chuyện lâu hai tiếng rưỡi, [1] không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc tới công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa tới Đảng Nhân dân Hành động, là đảng cầm quyền từ năm 1959. Trong khi ấy, Chủ tịch Trần Đức Lương của Việt Nam, trong bài diễn văn quốc khánh, đã hãnh diện: “Tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam...”
Chính Hồ Chí Minh khi còn sống, cũng tự nhận mình là anh hùng. Trong dịp viếng đền Kiếp Bạc, nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, họ Hồ đã xuất khẩu thành thơ: “Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng”.
Trong hai cuối tuần lễ lạt ăn mừng độc lập, Singapore không nói tới thắng lợi, không nhắc tới kẻ thù. Thủ tướng Loong nhấn mạnh: Được như ngày hôm nay là nhờ “nhân dân chúng ta, tư tưởng chúng ta, và hành động của chúng ta. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta đã tạo được một tinh thần Singapore. Chúng ta can đảm nhưng nhân đạo, chúng ta tự tin nhưng không bao giờ tự kiêu”.
Trong khi đọc diễn văn, có lúc thủ tướng Singapore đã rưng rưng nước mắt, khi nhắc lại kỷ niệm khó quên, xảy ra trong dịp lễ độc lập năm 1968. Thời gian này, Việt Nam đã nổi tiếng thế giới với trận Tổng công kích Mậu Thân, với quyết tâm “giải phóng Miền Nam”, dù phải san phẳng dãy Trường Sơn và hy sinh hàng triệu người. Trong khi ấy Singapore đang bơ vơ, không biết sẽ làm gì để sống. Nước Anh, tuy đã trả độc lập cho Singapore, vẫn còn giữ lại căn cứ quân sự ở Seletar Air Base, hẹn đến năm 1971 mới ra đi. Nhưng đầu năm 1968, Anh quyết định rút sớm, khiến khoảng 150 ngàn dân trực tiếp hay gián tiếp làm cho quân đội Anh bị mất việc. Thu nhập của những người này bằng 20% tổng số lợi tức quốc gia. Singapore họp nhau kỷ niệm lần thứ ba ngày độc lập trong tình huống lo lắng như vậy. Sáng ngày 9-8, trời quang mây tạnh, nhưng trước khi cuộc lễ bắt đầu, mưa đổ tầm tã. Tất cả mọi người cố giữ nguyên hàng ngũ. Đó là niềm hãnh diện về sự quyết tâm, cũng là nỗi xót xa của Singapore trong lịch sử lập quốc của mình. Báo chí Singapore năm nay đã dành nhiều trang lớn, đăng bài vở, hình ảnh và phỏng vấn về lễ kỷ niệm mưa gió này. So với những trận mưa bom đạn mà dân Việt Nam phải chịu từ Bắc tới Nam, trải qua một trận mưa rào nhiệt đới, không bằng chuyện muỗi cắn. Nhưng với những người không muốn làm anh hùng, muỗi cắn cũng đau.
Trong khi Việt Nam sợ “diễn biến hòa bình”, Singapore chủ trương phải thay đổi, hay là chết. Thủ tướng Loong khẳng định: “Vì thế giới sẽ thay đổi, nếu Singapore vẫn như hiện nay, chúng ta chết”.
Trong khi Việt Nam cảnh giác về “bọn phản động trong nước”, và những “thế lực thù địch bên ngoài”, Singapore chủ trương xây dựng một “xã hội hợp quần” (inclusive society), thúc đẩy sự tham gia của mọi người trong nước, và sẵn sàng học hỏi từ các nước, kể cả Việt Nam. Thủ tướng Loong kể chuyện: Tôi gặp một nhà vô địch Võ Nam Dương (silat), hỏi ông ta ai là đối thủ đáng sợ nhất tại cuộc tranh tài Á Châu SEA Games? Ông ấy nói Việt Nam. Tôi sốc. Tôi nói Việt Nam biết gì về Võ Nam Dương. Thái cực đạo, Kong fu, hay mấy môn võ cổ truyền Đông phương thì họa may, nhưng silat? Ông ấy nói đúng đấy. Từ con số không, họ bắt đầu học vào năm 1993, với hai huấn luyện viên Nam Dương. Mới đầu, không cơ sở, không vận động trường, không dụng cụ tối tân. Họ lấy mấy ống kim khí, buộc vào nhau thành khung, bọc lại, làm đệm, đấm đá, luyện tập vất vả. Sau vài năm, họ biết khá rồi, cho huấn luyện viên về, tự lo lấy. Bây giờ, họ là vô địch Đông Nam Á, đang nhắm chức vô địch thế giới. Và thứ võ này là môn thể thao hàng đầu ở Việt Nam. Ông Loong kết luận: “Chúng ta cần có một tinh thần như thế”. Học võ mà bắt chước Việt Nam, đúng quá!
Singapore không có tài nguyên, một chút đất trồng rau cũng không có, ngay nước dùng hàng ngày còn lo thiếu. Tất cả mọi thứ đều phải nhập cảng. Chỉ còn vốn liếng đáng quý hơn cả là con người. Thay vì hy sinh con người để làm anh hùng, hay làm “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang” như lời ông Trần Đức Lương, Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để tạo một thành phố tiến bộ kiểu đệ nhất thế giới, nằm trong thế giới thứ ba. Singapore hiện nay là thành phố sạch sẽ vào hàng nhất thế giới. Người ta có thể đi bộ vẹt gót giày khắp phố lớn phố nhỏ, mà không sợ đạp cứt chó như ở Paris. Singapore cũng an ninh vào hạng nhất thế giới. Thẩm phán Tối cao Pháp viện David Souter bị tấn công khi đang chạy bộ gần nhà ở Washington DC, mới 9 giờ tối, vào cuối tháng Tư năm ngoái. Tôi từng bị móc túi ở New York, Paris, và bị người lái taxi lừa khi vừa ra khỏi phi trường Roma, nhưng hoàn toàn yên tâm khi di chuyển ngày hay đêm, đi bộ hay taxi tại Singapore.
Tuy tinh thần phục vụ của người Singapore hiện nay rất cao, ví dụ người tính tiền tại các chợ hay cửa hàng, mỗi khi trao đổi với khách, đều dùng cả hai tay và kính cẩn cúi đầu, miệng nói cám ơn, nhưng Thủ tướng Loong vẫn chưa hài lòng. Ông than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông so sánh với người Thái, người Ấn, người Nhật, người Úc, mỗi khi gặp khách đều có lời chào trước khi vào việc, trong khi người Singapore hỏi ngay là mình có thể giúp gì, hay tệ hơn, là ông hay bà muốn gì. Ông đã coi việc phục vụ như một danh dự, và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách, trao cho một tổng trưởng chịu trách nhiệm. Trong khi Việt Nam nêu cao khẩu hiệu: “Noi gương Bác Hồ đời đời kính yêu”, khẩu hiệu mới của Singapore là “GST”, chữ đầu của “Greet, Smile and Thank” (CCC – Chào, Cười và Cảm ơn).
Giống như ông Reagan làm trong mỗi dịp đọc Thông điệp Liên bang, ông Lý Hiển Long đã giới thiệu, và kể những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi. Bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, nhận việc lau chùi cầu tiêu, kiếm thêm tiền để dành cho con đi hoc. Con bà không muốn, hỏi bà: Sao má hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm. Làm để sống, đâu có trộm cắp ai. Kết thúc câu chuyện, ông muốn mọi người “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự. Không phải là những việc thấp hèn”.
Qua việc Thủ tướng Singapore đề cao người chùi cầu tiêu, khiến tôi liên tưởng tới chuyện mới xảy ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Trong phiên họp thượng đỉnh cấp quốc trưởng tại Hội đồng Bảo an của khóa họp thứ 60, Đại Hội đồng LHQ ở New York vào ngày 14-9-05, ký giả của hãng Reuters, dùng ống kính nhìn xa, đã chụp được tay tổng thống Bush đang viết một cái note cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice ngồi cạnh. Phóng ảnh to lên, đọc được mấy chữ của ông Bush, không phải chuyện sống còn của thế giới, mà là: “Tôi nghĩ rằng tôi cần đi cầu. Liệu có được không?” (I thinhk I may need a bathroom break. Is this possible?). Điều này nhắc nhở mọi người một thực tế là, dù có quyền lực lớn chưa từng ai có được trong lịch sử loài người như ông Bush ngày nay, cũng không thể cưỡng nổi tiếng gọi của thiên nhiên. Vậy thì, hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, không nên đo bằng tiền bạc hay quyền cao chức trọng, hãy đo bằng chỉ số cầu tiêu.
Singapore là nơi nhiều cầu tiêu và sạch sẽ nhất thế giới. Washington, DC. nhờ có nhiều bảo tàng viện và đài kỷ niệm, nơi nào cũng đầy đủ cầu tiêu, nên cũng đỡ. Paris tệ nhất, vừa ít, thiếu vệ sinh, lại phải trả tiền. London khá hơn, nhưng vẫn không có nhiều. Tại New York, năm 1990, Trung tâm Công lý Đô thị (Urban Justice Center) đã kiện thành phố vì không cung cấp đủ nhà vệ sinh công cộng. Dù vậy, trải qua ba đời thị trưởng, kể cả thị trưởng nổi tiếng thế giới Giuliani cũng không thỏa mãn được nhu cầu này. Mới đây, ông thị trưởng Bloomberg đã chọn công ty Cemusa của Tây Ban Nha để thiết lập 20 nhà cầu trên đường phố.
Trong khi ấy, tại Singapore, nhìn chỗ nào cũng thấy dấu hiệu nhà vệ sinh. Tại các tiệm bán hàng lớn, nhà vệ sinh nhiều gấp hai gấp ba lần so với bên Mỹ. Ví dụ tại Tyson Corner, khu thương mại lớn nhất ở ngoại ô Washington, DC., khách của nhà bán hàng vào loại sang Nordstrom, nhiều khi từ tầng này phải qua tầng khác, kiếm mãi mới thấy W.C. Tại Singapore, tiệm Takashimaya ở đường Orchard, trong cả 7 tầng, mỗi tầng đều có bốn nhà vệ sinh, hai nam, hai nữ. Ngoài số lượng, nhà vệ sinh Singapore còn có phẩm chất cao, chỗ nào và lúc nào cũng sạch sẽ. Lần đầu tiên tới Singapore, thấy ở đây đôi chỗ vẫn còn dùng loại bàn cầu kiểu cổ như ở Việt Nam, tuy cũng tráng men sạch sẽ, tôi bèn tìm hiểu, mới biết rằng, vì công chúng có nhiều người vẫn còn thích xài kiểu cổ. Vệ sinh hơn kiểu mới và đỡ phải lót giấy khi ngồi. Ngoài ra, còn cái thú hồi hộp khi sử dụng, phải tính toán, cân nhắc như một cao thủ thể thao, hay một nhà thiện xạ, rót sao cho trúng mục tiêu. Lần chót vừa rồi ở Singapore, tôi vào chỗ đi tiểu tại một tiệm bán hàng trên đường Orchard. Vừa đứng trước bồn, đang còn sửa soạn, chưa kịp trình diễn, đã thấy nước trong bồn tự động xịt cái ào. Nghĩ bụng chắc có trục trặc kỹ thuật. Trình diễn xong, nước tự động xịt lần nữa. Bán tín bán nghi, bèn đứng thử trước mấy bồn khác, thấy cái nào cũng xịt hai lần trước sau như vậy. Tuy đã ở Mỹ ba mươi năm, lúc ấy tôi có cảm tưởng mình như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh.
Bây giờ, xin ghé qua “nước Việt Nam Anh hùng”. Rất tiếc, tôi đã không có mặt tại Việt Nam, để có thể nhận xét tại chỗ, như đối với Singapore. Tuy nhiên, những gì nêu ra sau đây, đều là những tài liệu chính thức đã công bố từ Việt Nam. Theo báo DanTri.com.vn, du khách ngoại quốc đã phiền hà rất nhiều, vì Việt Nam thiếu nhà vệ sinh công cộng. Những nơi có nhà vệ sinh thì bị đòi tiền quá giá chính thức. Những nơi không nên có nhà vệ sinh, thì lại có, như cạnh chỗ nấu ăn, khiến thực khách từ chối không ăn. Vẫn theo báo này, một doanh nhân đã khuyên: “Khoan hãy nói tới những chuyện to tát khác, khoan hãy tốn tiền cho những chuyến đi quảng bá hình ảnh du lịch ở nước ngoài, nếu chưa lo được... cái W.C cho du khách!”
Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, ngày 18-8, Bộ Ngoại giao Việt Nam long trọng công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển con người ở Việt Nam”, dư luận quen gọi là Sách trắng về Nhân quyền. Cuối mục “Bảo đảm quyền về y tế”, sách ghi nguyên văn: “Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 1995 là 27,33% (thành thị 54,9%, nông thôn 17,3%), năm 2000 là 44,07% (thành thị 81,77%, nông thôn 32,49%).” Những con số này nói gì? Con số đầu cho biết trong nửa thế kỷ dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chỉ có hơn một phần tư trong số gần 80 triệu nhân dân Việt Nam anh hùng được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, còn hơn 50 triệu dân vẫn phải bài tiết một cách thiếu vệ sinh. Con số thứ nhì cho thấy, 55 năm sau khi cách mạng thành công, hơn một nửa nhân dân anh hùng vẫn chưa có được cái hạnh phúc nhỏ nhoi là sử dụng hố xí hợp vệ sinh.
Năm ngày sau lễ Độc lập 2-9, từ “thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng” (chữ của báo Nhân Dân), trong khi trả lời một bài phê bình, nhà văn Dương Thu Hương, mới đi ngoại quốc về, nói rằng: “Tôi trở lại Việt Nam là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”. Thú thật, lúc đầu tôi hơi bị sốc khi đọc câu này. Nhưng nghĩ lại, tôi thấy chẳng qua cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của nhà văn. Đảng đã cầm quyền 60 năm, hy sinh xương máu của vài ba triệu người, hy sinh hạnh phúc của vài ba thế hệ. Kết quả: hơn nửa số nhân dân vẫn không có nổi một hố xí hợp vệ sinh. Vậy, chỉ còn cách dùng ngay mặt kẻ cầm quyền làm hố xí. Chỉ e rằng cách giải quyết này cũng không hợp vệ sinh.
Sự khác nhau giữa Singapore và Việt nam đã phản ảnh rõ qua lời tuyên bố tiêu biểu của nhà lãnh đạo hai quốc gia trong lễ độc lập của mình. Tuy được xếp ngang với các nước hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn tuyên bố: “Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên... chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới...” (In Singapore, we don’t have a natural service culture... we have a long way to go to reach world class...). Trong khi Việt Nam xếp hàng với những nước cuối danh sách về nhiều phương diện, Chủ tịch Trần Đức Lương tuyên bố: “Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới...”
Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ, giữ gìn cơ thể sạch sẽ để phòng bệnh, là thói quen tốt. Nhưng sợ vi trùng đến nỗi bị ám ảnh như nhà kỹ nghệ nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam đã mắc “bệnh Anh hùng”. Tiếng chuyên môn viết tắt là HOC, do ở tiếng Anh Heroic Obsessive-Compulsive disorder. Bệnh HOC hay bệnh anh hùng đáng sợ hơn tất cả các chứng bệnh khác. Người bị các bệnh khác, bao giờ cũng mong được chữa khỏi, và chịu khó chữa trị. Trái lại, người mắc bệnh anh hùng luôn tự hào về căn bệnh của mình, nên không thể chữa.
Nhiều người thắc mắc, tại sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù và hy sinh nhường ấy, vẫn không thể tiến bộ? Nhưng thử hỏi lại, mang trọng bệnh 60 năm, chưa chết đã là may, còn mong chi tiến bộ? Trong dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, báo chí Singapore phỏng vấn nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu về tương lai đất nước, ông trả lời: “Chúng ta đã không phung phí 40 năm qua và không lý nào chúng ta không thể phát lên được.” (We’ve not wasted the last 40 years and there’s no reason we can not make this breakthrough).
Việt Nam đã phí phạm 60 năm qua, làm sao để phát lên được?
© 2005 talawas
[1] Ông nói bằng ba thứ tiếng: Quan thoại, Mã lai và tiếng Anh. Những nhận định trong bài viết này chỉ dựa vào bài diễn văn dài 28 trang bằng tiếng Anh.
Mẹ giàu, mẹ nghèo
Ban đầu, cô bạn dõi theo các cuộc thi viết về thầy, về mẹ, về gia đình, trường học… vì thích đọc những câu chuyện có thật, chân phương, cảm động. Cô thích những câu chữ còn vụng về nhưng tấm lòng người viết dịu dàng. Cô thích cái cách người ta thể hiện tình cảm, lời tri ân, sự tiếc nuối… bằng văn học, mềm mại và tinh tế biết bao. Cô bỗng phát hiện ra, mình cũng có những kỷ niệm như thế, những cảm xúc như thế như thế. Nên về sau, cô tìm đọc vì muốn coi người ta viết làm sao để… rút kinh nghiệm sáng tác bài dự thi.
Kinh nghiệm cô có được là câu chuyện nào cũng liên quan tới thời nghèo khó. Nhân vật để lại tình cảm, dấu ấn trong lòng người viết cũng… nghèo. Cô bạn hay gặp thầy giáo làng, hơi già, khó tính, nhưng thương học trò hết lòng, thấy những ngôi trường làng, vách lá bàn xiêu, gặp cảnh cả nhà nhường nhau củ khoai lùi, giề cơm cháy, con cá sặc kho. Và những bà mẹ thường gầy gò, tần tảo sớm trưa, mặc áo rách để nhường con tấm áo lành, nhịn ăn để dành cho con bữa sáng.
Cô bạn có một thắc mắc, “vậy những bà mẹ giàu không thương con sao?”.
Có chứ, mẹ nào mà không thương con, hết lòng vì con, hy sinh vì con. Nhưng sự thật là người đọc hiếm khi gặp nhân vật bà mẹ giàu có, no đủ. Cũng như hội văn bút xưa rày hay liếc xéo anh doanh nhân, dòm nghiêng ông quan chức, chỉ người nghèo, nông dân là được nhìn thẳng thắn, âu yếm.
Hôm đó quán cà phê vắng khách, tôi không trả lời, chỉ cười, biểu, “vậy thì bồ viết về bà mẹ giàu đi”.
Mắt cô bạn sáng rỡ, ờ hén, bài của tui sẽ lạ lắm đây, Ban giám khảo đọc chắc hết hồn. Để rồi vài bữa sau, gặp nhau, cô bạn tiu nghỉu, khó lắm, nhỏ ơi”.
Chúng tôi (tức tôi và cô bạn) biết bà mẹ giàu cũng thương con, như những bà mẹ nghèo. Nhưng viết rằng “sáng nào mẹ cũng dẫn tôi đi ăn ở quán bà Ba Bánh Tầm, mẹ gắp xíu mại cho tôi”, hay “biết tôi học khuya, mẹ khuấy cho tôi ly sửa hột gà béo ngậy”, hoặc “mẹ bấm bụng cho tôi đi học ở trường Quốc tế ở sài Gòn, để đêm đêm mẹ xót xa, thương con mình thui thủi”… không làm trái tim người đọc run rẩy. Dù có làm theo mách bảo trên tờ báo nào đó, cách “cho con ký ức đẹp”, nhưng bà mẹ giàu cũng chỉ đơn điệu là trò chuyện, lắng nghe, để lại lời nhắn trên giấy, ôm ghì, tham khảo ý kiến của con… Những bà mẹ nghèo thể hiện tình thương nhọc nhằn hơn, người viết dễ sáng tạo, người đọc dễ mũi lòng hơn, thí dụ như bà chui vào bếp để luộc cho con mấy trứng chim vừa lượm được ở bờ sậy, bà lọ mọ móc sình nắn trâu, nắn máy cày, bà cõng con qua những đoạn đường bùn lầy để đến ông bác sỹ già, với cái ống chích lụt nhách.
Và cô bạn tôi cũng tham gia cũng thi “tự kể chuyện mình” bằng bà mẹ nhà… kế bên. Rất dễ dàng, như đám học trò bây giờ buộc phải tả về mẹ y trong… văn mẫu. Cô chỉ bồn chồn một lẽ, lỡ bài được đăng, cô cũng không dám khoe với mẹ mình. Bà sẽ buồn cho coi. Ở vậy sống vì con cả đời, quan tâm con từng chút một, vậy mà con gái lại đi vay mượn mẹ của người để nói tiếng thương yêu, chỉ vì mẹ ruột có… tiệm vàng. Cô chữa thẹn với tôi, cũng là trấn an mình, người ta cũng không hoàn toàn viết từ chuyện thật. Biết đâu, họ cũng vay mượn kỷ niệm nghèo khó của người đời.
Bà mẹ giàu có quyền buồn. Nhưng tôi bảo với cô bạn không sao đâu, tấm lòng hiếu kính của con đối với mẹ, không nhất thiết bày lên trang viết, không nhất thiết phải nói bằng lời. Là mẹ, ắt hiểu.
Nguyễn Ngọc Tư
Kinh nghiệm cô có được là câu chuyện nào cũng liên quan tới thời nghèo khó. Nhân vật để lại tình cảm, dấu ấn trong lòng người viết cũng… nghèo. Cô bạn hay gặp thầy giáo làng, hơi già, khó tính, nhưng thương học trò hết lòng, thấy những ngôi trường làng, vách lá bàn xiêu, gặp cảnh cả nhà nhường nhau củ khoai lùi, giề cơm cháy, con cá sặc kho. Và những bà mẹ thường gầy gò, tần tảo sớm trưa, mặc áo rách để nhường con tấm áo lành, nhịn ăn để dành cho con bữa sáng.
Cô bạn có một thắc mắc, “vậy những bà mẹ giàu không thương con sao?”.
Có chứ, mẹ nào mà không thương con, hết lòng vì con, hy sinh vì con. Nhưng sự thật là người đọc hiếm khi gặp nhân vật bà mẹ giàu có, no đủ. Cũng như hội văn bút xưa rày hay liếc xéo anh doanh nhân, dòm nghiêng ông quan chức, chỉ người nghèo, nông dân là được nhìn thẳng thắn, âu yếm.
Hôm đó quán cà phê vắng khách, tôi không trả lời, chỉ cười, biểu, “vậy thì bồ viết về bà mẹ giàu đi”.
Mắt cô bạn sáng rỡ, ờ hén, bài của tui sẽ lạ lắm đây, Ban giám khảo đọc chắc hết hồn. Để rồi vài bữa sau, gặp nhau, cô bạn tiu nghỉu, khó lắm, nhỏ ơi”.
Chúng tôi (tức tôi và cô bạn) biết bà mẹ giàu cũng thương con, như những bà mẹ nghèo. Nhưng viết rằng “sáng nào mẹ cũng dẫn tôi đi ăn ở quán bà Ba Bánh Tầm, mẹ gắp xíu mại cho tôi”, hay “biết tôi học khuya, mẹ khuấy cho tôi ly sửa hột gà béo ngậy”, hoặc “mẹ bấm bụng cho tôi đi học ở trường Quốc tế ở sài Gòn, để đêm đêm mẹ xót xa, thương con mình thui thủi”… không làm trái tim người đọc run rẩy. Dù có làm theo mách bảo trên tờ báo nào đó, cách “cho con ký ức đẹp”, nhưng bà mẹ giàu cũng chỉ đơn điệu là trò chuyện, lắng nghe, để lại lời nhắn trên giấy, ôm ghì, tham khảo ý kiến của con… Những bà mẹ nghèo thể hiện tình thương nhọc nhằn hơn, người viết dễ sáng tạo, người đọc dễ mũi lòng hơn, thí dụ như bà chui vào bếp để luộc cho con mấy trứng chim vừa lượm được ở bờ sậy, bà lọ mọ móc sình nắn trâu, nắn máy cày, bà cõng con qua những đoạn đường bùn lầy để đến ông bác sỹ già, với cái ống chích lụt nhách.
Và cô bạn tôi cũng tham gia cũng thi “tự kể chuyện mình” bằng bà mẹ nhà… kế bên. Rất dễ dàng, như đám học trò bây giờ buộc phải tả về mẹ y trong… văn mẫu. Cô chỉ bồn chồn một lẽ, lỡ bài được đăng, cô cũng không dám khoe với mẹ mình. Bà sẽ buồn cho coi. Ở vậy sống vì con cả đời, quan tâm con từng chút một, vậy mà con gái lại đi vay mượn mẹ của người để nói tiếng thương yêu, chỉ vì mẹ ruột có… tiệm vàng. Cô chữa thẹn với tôi, cũng là trấn an mình, người ta cũng không hoàn toàn viết từ chuyện thật. Biết đâu, họ cũng vay mượn kỷ niệm nghèo khó của người đời.
Bà mẹ giàu có quyền buồn. Nhưng tôi bảo với cô bạn không sao đâu, tấm lòng hiếu kính của con đối với mẹ, không nhất thiết bày lên trang viết, không nhất thiết phải nói bằng lời. Là mẹ, ắt hiểu.
Nguyễn Ngọc Tư
Ngẫu hứng... Phở !
Hương thơm trinh nữ ? Ồ không phải
Hương phở thơm đầy những sớm mai.
Thi sĩ Tản Đà thuộc những người sành ăn vào bậc nhất. Có lẽ, ông là người đầu tiên đã "phát hiện" ra... chân lý: thức ăn ngon nhưng chỗ ngồi không ngon thì ăn không ngon, thức ăn ngon nhưng không có bạn đồng điệu thì ăn không ngon, thức ăn ngon nhưng bát đũa không sạch sẽ thì ăn cũng không ngon... Biết đại khái như thế thì mới thấy nghệ thuật về ăn quả là không dễ.

Phở là món quà "căn bản" của miền Bắc, nhưng ai là người đầu tiên đưa vào T.P. HCM ? Tôi vẫn nghĩ là Tản Đà. Những năm tháng cùng Ngô Tất Tố lang thang vào Nam Kỳ cộng tác với Diệp Văn Kỳ làm báo Đông Pháp Thời Báo, có lần "ông thần ngông" này đã cao hứng cạy gạch bông trên nền nhà, cuốc đất để trồng các loại rau húng, quế... Rồi một buổi chiều rét mướt hiếm hoi cùa vùng đất phương Nam, ông đã làm món phở để đãi những người đồng hương và các bạn Nam Kỳ. Ai ăn cũng khen ngon. Từ đó, món phở dần dần... phổ biến công khai một cách rộng rãi ! Tất nhiên, đây chỉ là tưởng tượng của tôi vì quá yêu Tản Đà quá đấy thôi.
Thật ra, phở chỉ mới có mặt ở Saigon từ thập niên 40 của thế kỷ XX. Trong những ngày trong lòng buồn vui không rõ rệt, tự nhiên tôi lại thèm một bát phở với lòng dạ nôn nao, với cảm giác như nhớ người yẽu đã hẹn mà nàng không đến, tôi bèn thả bước chân lang thang mọi ngóc ngách của Sài Gòn. Nhờ thế, qua anh Nguyễn Hạnh ở tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử phía Nam, tôi tìm ra một nhân chứng của... phở. Đó là căn nhà trong hẻm Pasteur, số 63/5 - sau rạp hát Vinh Quang. Bà cụ Trần Thị Năm, năm nay 80 xuân, lưng còng, tóc bạc trắng, điềm đạm kể:
- Từ năm 1942, ông bác của tôi là ông Kỉnh từ làng Vân Đình (Hà Đông) vào Sài Gòn lập nghiệp. Ông bán gánh phở Bắc trên đường Lagrandière (nay là Lý Tự Trọng). Mãi đến năm 1949 mới chuyển về đây mở xe phở, tôi còn nhớ lúc đó mỗi tô chì có 2 xu, tô đặc biệt 3 xu. Sau ông Kỉnh truyền nghề cho cụ Minh - là anh ruột tôi. Thuở ấy, phở Bắc không có giá và lỉnh kỉnh các loại rau như bây giờ, nhưng vì khẩu vị của người Sài Gòn nên chúng tôi phải chiều theo.
Ăn một tô phở có mặt xưa nhất ở phương Nam nay còn sót lại, tôi nhận thấy, dù có thêm các loại rau khác nhau, nhưng hương vị Bắc còn nồng nàn, đằm thắm ở chỗ nước lèo thơm mùi bò mà ta vẫn tưởng không phải mùi bò và nhất là nước trong, không gây béo dù loáng thoáng mỡ. Tô kiểu nhỏ. Đũa là loại đũa "sóng lá" màu đen làm bằng cây dừa nước, nên không "bắt" mỡ. Đang trầm ngâm như một triết gia "nghiên cứu" về sức hấp dẫn của phở thì ông An - con của cụ Minh - nay là chủ nhân phở Minh bước ra ân cần đến tiếp chuyện với tôi. Ông cho biết, ngày xưa ở trong hẻm này là một loạt quán phở mọc lên, nhưng nay chỉ có mỗi một gia đình ông "trụ" lại được. Thuở ấy, khoảng thập niên 1950, các văn nghệ sĩ, chính khách... nườm nượp đến đây bất kể ngày đêm. Hỏi thêm những người cao niên ở Sài Gòn thì họ xác nhận là đúng, thuở ấy ai mà không mê phở trong hẻm Pasteur này. Trong số những thực khách ấy, có lẽ ông Trần Rắc - chủ hiệu giầy trên đường Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn) mới thật sự là người có tâm hồn... thi sĩ nhất. Vì khoái phở Minh mà ông đã sáng tác mấy câu thơ tặng chủ quán treo trong quán chơi. Thơ rằng:
Nô nức đồn vang khắp thị thành
Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề: tái, chín, na.m, gầu, sụn
Gia vị: tương, rau, ớt, mắm, chanh.
Những vần thơ chân thành và đáng yêu ấy đã khiến tôi nhớ đến Tản Đà. Bấy giờ, Tản Đà phụ trách trang thơ. Nhưng do say sưa suốt ngày nên nhiều lần bài vở không đưa kịp quy trình nhà in, ông chủ bút sai người đến giục. Tản Đà nổi cáu và nói một câu nổi tiếng: "Làm thơ chứ có phải bổ củi đâu mà lúc nào cũng có thơ !". Từ thơ, bỗng dưng tôi liên tưởng đến... phở. Bởi lẽ, không phải lúc nào ăn phở cũng ngon, mà phải có "thời điểm" cần thiết. Nhưng trước hết, thử hỏi phở là cái gì ? Thôi thì, ta thử nghe những người sành ăn giải thích bằng sự cảm nhận riêng và đầy ngẫu hứng:
"Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hoà hợp tất cả các vị đó lại, nước dùng cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực..." (Vũ Bằng); "Mùa nắng ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt thắm tươi lại..." (Nguyễn Tuân); "Nếu là gánh phở ngon thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh, ớt với hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa" (Thạch Lam). Vậy thì phở đã ngon thì ăn vào "thời điểm" nào mới ngon ? Ăn vào lúc sớm mai thì ngon đã đành rồi. Nhưng ấn tượng khó quên nhất vẫn là lúc khuya khuắt thả bước chân lang thang trên phố, bụng đói, ngật ngà trong men say lẫn đang buồn ngủ và lơ mơ nhớ lại bao phiền muộn trong ngày, làm một tô phở thì ta như thấy tỉnh hẳn. Tỉnh như sáo. Lại yêu đời lạ thường !
Một cao thủ võ lâm trong làng văn Nam Bộ. Là Trang Thế Hy, người quan niệm nhà văn là "người bào chế thuốc giảm đau" cho đồng loại, từng đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn VN, cũng là một người sành ăn. Trong những phút ngẫu hứng, ông nói chơi chơi: "Tao là dân Nam Bộ gốc, nhưng vào quán phở, thấy họ bày phở khá đẹp, hấp dẫn, vậy mà có cha nện vào một cục tương đen, nhìn hết muốn ăn". Ngẫm ra, chí lý thay. Nhưng người thuỷ chung với phở bao giờ cũng muốn nhìn bát phở nước trong, chỉ gợn chút xíu mỡ. Giống như người đàn ông trung thành với vợ, chỉ muốn nhìn ngắm nàng trong nét đẹp chính chuyên, không son phấn. Phở cũng vậy. Chẳng ai nỡ "tàn nhẫn" đến độ vừa cho tương đen lẫn tương đỏ vào trong bát phở của mình cả. Màu sắ ấy không phải là màu sắc "cổ điể" của bát phở đã định hình từ mấy thập niên nay. Có những người mê phở quá, nên có một lúc lẩn thẩn tự hòi lòng mình một cách suy tư và đầy... tính nghiêm túc: "Ấy thế khi dịch ra tiếng nước ngoài thì thiên hạ dịch như thế nào nhỉ ?". Chẳng rõ. Nhưng người Pháp gọi phở là "soupe chinoise" (xúp Trung Quốc). Thế là sai đứt đuôi con nòng nọc rồi chứ gì nữa ! Có người cho rằng, phở bắt đầu từ mấy chữ "Ngưu nhục phấn" nữa chứ. Nghe sao mà khó lọt lỗ tai đến thế.
Cho dù từ phương Bắc vào đây, phở đã nghiêm túc thực hiện nhuần nhuyễn câu tục ngữ "nhập gia tuỳ tục" như thêm giá, rau các loại... Nhưng cho đến nay, vẫn còn một quán phở giữ đúng hương vị Bắc. Ấy là phở bà Dậu, quê ở Nam Định, ở cuối hẻm 288, khu phố 4 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Giới sành ăn gọi là phở Cây Trứng Cá, vì từ năm 1950 ở trước quán có trồng cây này. Thời gian trôi qua, cây không còn, bà Dậu cũng mất, con của bà là ông Bình lên thay thế, cho nên dù quán không có bảng hiệu ta cũng có thể gọi là phở quán phở ông Bình, hoặc phở Lâm cũng không sao, vì anh chàng Lâm là người thu tiền. *- quán phở này, tôi đã gặp khá nhiều người nổi tiếng từ nghệ sĩ, ca sĩ đến nhà báo... đến ăn. Phở ấy có gì lạ ? Này nhé ! bánh phở sợi nhỏ mềm nhưng không nát. Nước lèo đậm đà cái vị ngọt thanh dịu của xương, tuỷ bò hầm rục chứ không phải của bột ngọt. Các thứ na.m, gầu, sụn, gân... đâu ra đó. Không có bất cứ loại rau gì kèm theo, chỉ có hành tây hoặc những cọng hành trần. Ăn xong mồ hôi vã ra như tắm. Sướng nhé !

Điều hấp dẫn của phở Bắc, tôi nghĩ không chỉ là cách pha chế mà còn là cung cách phục vụ "vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi". Ở quán phở Minh và phở bà Dậu, đã cho tôi một nhận xét: Khách đến quán chỉ một hai lần là chủ quán biết ngay "gu". Giữ xe không mất tiền, có người trông coi chu đáo. Khách lững thững bước vào. Ngồi thong thả xuống ghế. Không cần lên tiếng gọi. Lập tức, một tô phở đúng ý được bưng ra ân cần, đặt nhẹ nhàng ngay trước mặt, khói nghi ngút, thơm điếc mũi. Người đến ăn tưởng mình không phải đến quán, mà cảm giác như ăn ở nhà người bạn thân vậy. Ngoài ra, các thứ tiêu, ớt, hành... thì ta cứ "vô tư".
Ngày xưa, từ Bắc chỉ có cái nghề ẩm thực truyền thống đặt trên vai, họ tự tin đi vào Nam lập nghiệp. Một gánh phở dựng lên. Rồi truyền nghề lại cho con. Con biết giữ lấy nghề cũng là một cách trả ơn bố mẹ. Và cũng chính nghề ấy đã tạo cho con cháu họ có cơ ngơi như ngày nay, học lên đại học, đi nước ngoài đến năm châu bốn biển cũng chỉ bắt đầu từ một gánh phở. Ông Minh, ông An đã tự hào tâm sự với tôi như thế. Chắc chắn còn có nhiều người bán phở cũng tự hào như thế.
Đang nghĩ lan man, bỗng tôi sực nhớ có một nhà văn từng viết, đại khái: có những món ăn không đủ ngon để lan rộng ra các nơi và cũng không đủ... dở để mất đi. Ta có thể ưỡn ngực lên mà tự hào rằng, phở đủ ngon để đến các nơi trên thế giới - miễn sao nơi ấy có cộng đồng người Việt. Này nhé ! Những bát phở nổi tiếng như phở "quân khu", phở "tàu bay", phở "xe lửa"... cũng đã có mặt ở Cali (Mỹ), ở Paris (Pháp), ở Mạc Tư Khoa (Nga) v.v... Chắc hẳn những người xa xứ trong một sớm tuyết mờ mịt, ngồi trong quán, nhìn ra ô cửa kính trắng đục mà lòng nhớ quê nhà da diết. Khi ấy vừa nâng tô phở lên, chao ôi đã thấy lục phủ ngũ tạng của mình được chia sẻ, vỗ về với cái hương vị đằm thắm, quyến rũ không nguôi. Phở ! Sao mà thân thiết, thân mật đến thế. Nước nóng bỏng. Khói biếc xanh. Lòng bỗng ấm áp lạ thường như được tận hưởng cái hồn vía của quê nhà đang chầm chậm đến gần... Không chỉ đi xa ngàn dặm như thế mà phở còn được bỏ vào trong gói, chỉ cần một ít nước sôi là có thể... ăn liền. Xem ra một gói phở này có vài món gia vị: bột nêm, dầu sa tê, hành lá, ngò gai sấy khô. Thôi thì, đêm khuya sực nhớ đến phở ta cũng có thể tạm hài lòng với nó vậy. Sức quyến rũ của phở thật giữ dội quá. Nhưng xin hỏi ông anh bà chị, vậy phở là cái gì mới được chứ ? Thì là... phở chứ còn gì nữa !
Lê Minh Quốc
Phụ nữ - Xuân 2001
Hương thơm trinh nữ ? Ồ không phải
Hương phở thơm đầy những sớm mai.
Thi sĩ Tản Đà thuộc những người sành ăn vào bậc nhất. Có lẽ, ông là người đầu tiên đã "phát hiện" ra... chân lý: thức ăn ngon nhưng chỗ ngồi không ngon thì ăn không ngon, thức ăn ngon nhưng không có bạn đồng điệu thì ăn không ngon, thức ăn ngon nhưng bát đũa không sạch sẽ thì ăn cũng không ngon... Biết đại khái như thế thì mới thấy nghệ thuật về ăn quả là không dễ.

Phở là món quà "căn bản" của miền Bắc, nhưng ai là người đầu tiên đưa vào T.P. HCM ? Tôi vẫn nghĩ là Tản Đà. Những năm tháng cùng Ngô Tất Tố lang thang vào Nam Kỳ cộng tác với Diệp Văn Kỳ làm báo Đông Pháp Thời Báo, có lần "ông thần ngông" này đã cao hứng cạy gạch bông trên nền nhà, cuốc đất để trồng các loại rau húng, quế... Rồi một buổi chiều rét mướt hiếm hoi cùa vùng đất phương Nam, ông đã làm món phở để đãi những người đồng hương và các bạn Nam Kỳ. Ai ăn cũng khen ngon. Từ đó, món phở dần dần... phổ biến công khai một cách rộng rãi ! Tất nhiên, đây chỉ là tưởng tượng của tôi vì quá yêu Tản Đà quá đấy thôi.
Thật ra, phở chỉ mới có mặt ở Saigon từ thập niên 40 của thế kỷ XX. Trong những ngày trong lòng buồn vui không rõ rệt, tự nhiên tôi lại thèm một bát phở với lòng dạ nôn nao, với cảm giác như nhớ người yẽu đã hẹn mà nàng không đến, tôi bèn thả bước chân lang thang mọi ngóc ngách của Sài Gòn. Nhờ thế, qua anh Nguyễn Hạnh ở tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử phía Nam, tôi tìm ra một nhân chứng của... phở. Đó là căn nhà trong hẻm Pasteur, số 63/5 - sau rạp hát Vinh Quang. Bà cụ Trần Thị Năm, năm nay 80 xuân, lưng còng, tóc bạc trắng, điềm đạm kể:
- Từ năm 1942, ông bác của tôi là ông Kỉnh từ làng Vân Đình (Hà Đông) vào Sài Gòn lập nghiệp. Ông bán gánh phở Bắc trên đường Lagrandière (nay là Lý Tự Trọng). Mãi đến năm 1949 mới chuyển về đây mở xe phở, tôi còn nhớ lúc đó mỗi tô chì có 2 xu, tô đặc biệt 3 xu. Sau ông Kỉnh truyền nghề cho cụ Minh - là anh ruột tôi. Thuở ấy, phở Bắc không có giá và lỉnh kỉnh các loại rau như bây giờ, nhưng vì khẩu vị của người Sài Gòn nên chúng tôi phải chiều theo.
Ăn một tô phở có mặt xưa nhất ở phương Nam nay còn sót lại, tôi nhận thấy, dù có thêm các loại rau khác nhau, nhưng hương vị Bắc còn nồng nàn, đằm thắm ở chỗ nước lèo thơm mùi bò mà ta vẫn tưởng không phải mùi bò và nhất là nước trong, không gây béo dù loáng thoáng mỡ. Tô kiểu nhỏ. Đũa là loại đũa "sóng lá" màu đen làm bằng cây dừa nước, nên không "bắt" mỡ. Đang trầm ngâm như một triết gia "nghiên cứu" về sức hấp dẫn của phở thì ông An - con của cụ Minh - nay là chủ nhân phở Minh bước ra ân cần đến tiếp chuyện với tôi. Ông cho biết, ngày xưa ở trong hẻm này là một loạt quán phở mọc lên, nhưng nay chỉ có mỗi một gia đình ông "trụ" lại được. Thuở ấy, khoảng thập niên 1950, các văn nghệ sĩ, chính khách... nườm nượp đến đây bất kể ngày đêm. Hỏi thêm những người cao niên ở Sài Gòn thì họ xác nhận là đúng, thuở ấy ai mà không mê phở trong hẻm Pasteur này. Trong số những thực khách ấy, có lẽ ông Trần Rắc - chủ hiệu giầy trên đường Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn) mới thật sự là người có tâm hồn... thi sĩ nhất. Vì khoái phở Minh mà ông đã sáng tác mấy câu thơ tặng chủ quán treo trong quán chơi. Thơ rằng:
Nô nức đồn vang khắp thị thành
Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề: tái, chín, na.m, gầu, sụn
Gia vị: tương, rau, ớt, mắm, chanh.
Những vần thơ chân thành và đáng yêu ấy đã khiến tôi nhớ đến Tản Đà. Bấy giờ, Tản Đà phụ trách trang thơ. Nhưng do say sưa suốt ngày nên nhiều lần bài vở không đưa kịp quy trình nhà in, ông chủ bút sai người đến giục. Tản Đà nổi cáu và nói một câu nổi tiếng: "Làm thơ chứ có phải bổ củi đâu mà lúc nào cũng có thơ !". Từ thơ, bỗng dưng tôi liên tưởng đến... phở. Bởi lẽ, không phải lúc nào ăn phở cũng ngon, mà phải có "thời điểm" cần thiết. Nhưng trước hết, thử hỏi phở là cái gì ? Thôi thì, ta thử nghe những người sành ăn giải thích bằng sự cảm nhận riêng và đầy ngẫu hứng:
"Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hoà hợp tất cả các vị đó lại, nước dùng cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực..." (Vũ Bằng); "Mùa nắng ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt thắm tươi lại..." (Nguyễn Tuân); "Nếu là gánh phở ngon thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh, ớt với hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa" (Thạch Lam). Vậy thì phở đã ngon thì ăn vào "thời điểm" nào mới ngon ? Ăn vào lúc sớm mai thì ngon đã đành rồi. Nhưng ấn tượng khó quên nhất vẫn là lúc khuya khuắt thả bước chân lang thang trên phố, bụng đói, ngật ngà trong men say lẫn đang buồn ngủ và lơ mơ nhớ lại bao phiền muộn trong ngày, làm một tô phở thì ta như thấy tỉnh hẳn. Tỉnh như sáo. Lại yêu đời lạ thường !
Một cao thủ võ lâm trong làng văn Nam Bộ. Là Trang Thế Hy, người quan niệm nhà văn là "người bào chế thuốc giảm đau" cho đồng loại, từng đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn VN, cũng là một người sành ăn. Trong những phút ngẫu hứng, ông nói chơi chơi: "Tao là dân Nam Bộ gốc, nhưng vào quán phở, thấy họ bày phở khá đẹp, hấp dẫn, vậy mà có cha nện vào một cục tương đen, nhìn hết muốn ăn". Ngẫm ra, chí lý thay. Nhưng người thuỷ chung với phở bao giờ cũng muốn nhìn bát phở nước trong, chỉ gợn chút xíu mỡ. Giống như người đàn ông trung thành với vợ, chỉ muốn nhìn ngắm nàng trong nét đẹp chính chuyên, không son phấn. Phở cũng vậy. Chẳng ai nỡ "tàn nhẫn" đến độ vừa cho tương đen lẫn tương đỏ vào trong bát phở của mình cả. Màu sắ ấy không phải là màu sắc "cổ điể" của bát phở đã định hình từ mấy thập niên nay. Có những người mê phở quá, nên có một lúc lẩn thẩn tự hòi lòng mình một cách suy tư và đầy... tính nghiêm túc: "Ấy thế khi dịch ra tiếng nước ngoài thì thiên hạ dịch như thế nào nhỉ ?". Chẳng rõ. Nhưng người Pháp gọi phở là "soupe chinoise" (xúp Trung Quốc). Thế là sai đứt đuôi con nòng nọc rồi chứ gì nữa ! Có người cho rằng, phở bắt đầu từ mấy chữ "Ngưu nhục phấn" nữa chứ. Nghe sao mà khó lọt lỗ tai đến thế.
Cho dù từ phương Bắc vào đây, phở đã nghiêm túc thực hiện nhuần nhuyễn câu tục ngữ "nhập gia tuỳ tục" như thêm giá, rau các loại... Nhưng cho đến nay, vẫn còn một quán phở giữ đúng hương vị Bắc. Ấy là phở bà Dậu, quê ở Nam Định, ở cuối hẻm 288, khu phố 4 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Giới sành ăn gọi là phở Cây Trứng Cá, vì từ năm 1950 ở trước quán có trồng cây này. Thời gian trôi qua, cây không còn, bà Dậu cũng mất, con của bà là ông Bình lên thay thế, cho nên dù quán không có bảng hiệu ta cũng có thể gọi là phở quán phở ông Bình, hoặc phở Lâm cũng không sao, vì anh chàng Lâm là người thu tiền. *- quán phở này, tôi đã gặp khá nhiều người nổi tiếng từ nghệ sĩ, ca sĩ đến nhà báo... đến ăn. Phở ấy có gì lạ ? Này nhé ! bánh phở sợi nhỏ mềm nhưng không nát. Nước lèo đậm đà cái vị ngọt thanh dịu của xương, tuỷ bò hầm rục chứ không phải của bột ngọt. Các thứ na.m, gầu, sụn, gân... đâu ra đó. Không có bất cứ loại rau gì kèm theo, chỉ có hành tây hoặc những cọng hành trần. Ăn xong mồ hôi vã ra như tắm. Sướng nhé !

Điều hấp dẫn của phở Bắc, tôi nghĩ không chỉ là cách pha chế mà còn là cung cách phục vụ "vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi". Ở quán phở Minh và phở bà Dậu, đã cho tôi một nhận xét: Khách đến quán chỉ một hai lần là chủ quán biết ngay "gu". Giữ xe không mất tiền, có người trông coi chu đáo. Khách lững thững bước vào. Ngồi thong thả xuống ghế. Không cần lên tiếng gọi. Lập tức, một tô phở đúng ý được bưng ra ân cần, đặt nhẹ nhàng ngay trước mặt, khói nghi ngút, thơm điếc mũi. Người đến ăn tưởng mình không phải đến quán, mà cảm giác như ăn ở nhà người bạn thân vậy. Ngoài ra, các thứ tiêu, ớt, hành... thì ta cứ "vô tư".
Ngày xưa, từ Bắc chỉ có cái nghề ẩm thực truyền thống đặt trên vai, họ tự tin đi vào Nam lập nghiệp. Một gánh phở dựng lên. Rồi truyền nghề lại cho con. Con biết giữ lấy nghề cũng là một cách trả ơn bố mẹ. Và cũng chính nghề ấy đã tạo cho con cháu họ có cơ ngơi như ngày nay, học lên đại học, đi nước ngoài đến năm châu bốn biển cũng chỉ bắt đầu từ một gánh phở. Ông Minh, ông An đã tự hào tâm sự với tôi như thế. Chắc chắn còn có nhiều người bán phở cũng tự hào như thế.
Đang nghĩ lan man, bỗng tôi sực nhớ có một nhà văn từng viết, đại khái: có những món ăn không đủ ngon để lan rộng ra các nơi và cũng không đủ... dở để mất đi. Ta có thể ưỡn ngực lên mà tự hào rằng, phở đủ ngon để đến các nơi trên thế giới - miễn sao nơi ấy có cộng đồng người Việt. Này nhé ! Những bát phở nổi tiếng như phở "quân khu", phở "tàu bay", phở "xe lửa"... cũng đã có mặt ở Cali (Mỹ), ở Paris (Pháp), ở Mạc Tư Khoa (Nga) v.v... Chắc hẳn những người xa xứ trong một sớm tuyết mờ mịt, ngồi trong quán, nhìn ra ô cửa kính trắng đục mà lòng nhớ quê nhà da diết. Khi ấy vừa nâng tô phở lên, chao ôi đã thấy lục phủ ngũ tạng của mình được chia sẻ, vỗ về với cái hương vị đằm thắm, quyến rũ không nguôi. Phở ! Sao mà thân thiết, thân mật đến thế. Nước nóng bỏng. Khói biếc xanh. Lòng bỗng ấm áp lạ thường như được tận hưởng cái hồn vía của quê nhà đang chầm chậm đến gần... Không chỉ đi xa ngàn dặm như thế mà phở còn được bỏ vào trong gói, chỉ cần một ít nước sôi là có thể... ăn liền. Xem ra một gói phở này có vài món gia vị: bột nêm, dầu sa tê, hành lá, ngò gai sấy khô. Thôi thì, đêm khuya sực nhớ đến phở ta cũng có thể tạm hài lòng với nó vậy. Sức quyến rũ của phở thật giữ dội quá. Nhưng xin hỏi ông anh bà chị, vậy phở là cái gì mới được chứ ? Thì là... phở chứ còn gì nữa !
Lê Minh Quốc
Phụ nữ - Xuân 2001
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Chuyện Bên lề APEC
Hội nghị APEC đã chấm dứt ngày hôm qua , sau 2 ngày họp chính thức giữa 21 vị Nguyeen thủ của 21 Quốc gia.
Tổng thống Mỹ .G.W bush vào thăm thành phố Sài gòn vào tối hôm qua .Cùng lúc đó Thủ tướng Australia cũng vào Sàigon , hôm nay Thủ tướng Úc sẽ đi Bà Rịa Vũng tàu để thăm Long Tân , nơi 18 Quân nhân Úc đã hy sinh ngày 18 /8 / 1966 .
Sau đây là Chuyện bên lề gom góp từ các báo Điện tử VN
Uống nước Không Kiểm Duyệt ..
Theo tường thuật , Bà Ngoại trưởng Mỹ Rice ..là người luôn luôn rất vui vẻ , luôn tươi cười ....khi gặp gỡ các Sinh viên. Sau khi nói chuyện , bà đòi uông nước Coca Cola , và bà ta đã Uống không "KIỂM DUYỆT." thay vì kiểm tra Chữ Kiểm duyệt của nhà báo VN viết
WC đã không cung cấp đủ ở nơi họp. Khiến cho nhiều người đã phải xếp hàng dài để xả xú bắp.
Cơm đồ hộp , nhiều phóng viên báo chí Việt Nam phải ăm Cơm Đồ hộp vì phải dành nhiều thời giờ để chụp hình.
Ngoại ngữ , có rất nhiều Tình nguyện viên Trẻ để giúp đỡ cho Hội nghị ,Không Giỏi Tiếng Anh và Tiếng Trung Hoa. mặc dù đang học ở Đại học Ngoại ngữ
BÁO ĐỘNG : Chiều tối thứ bẩy 18 /11 là GalaDinner -
Trước cửa để vào Gala Dinner - ban tổ chức đã sắp xếp , một người mặc quần áo đại lễ đứng trước cửa để chuẩn bị mở xe cho các Vị Nguyên thủ .
lần lượt 20 vị Nguyên Thủ của 20 nước -trừ nước chủ nhà đến theo thứ tự ABC - Thủ tướng Australia John Howard đến đầu tiên . Khi xe vừa đến giữa cửa , người mặc đồ dại lể tiến ra mở cửa xe, Thủ tước Australia bước ra. Và lần lượt tiếp các vị nguyên thủ khác. đều được người Tiếp tân mở cửa xe Khi xe của Tổng thống Mỹ G.W.Bush đỗ xịch trước cửa , và Người Tiếp tân cũng hùng dũng bước ra để chuẩn bị mở cửa xe cho TT Mỹ , nhưng vừa đến nơi ,dơ tay sát cửa xe , Đã Có Tiếng Còi Báo Động ,liền đó Cận vệ của TT Mỹ phải nhanh chân chạy lại Đưa tay , tiếng Còi ngưng Và cửa xe được mở để TT Mỹ bước ra . Đúng là Xe Cadillac One . Xe của người Mỹ phải do chính người Mỹ mở cửa xe
2 chiếc Cadillac One - Khi Tổng thống Mỹ và phái đoàn ,di chuyển trên các đường phố Hà nội ,đều có 2 Xe Cadillac màu đen giống nhau ..Người ngoài sẽ không thể biết Tổng thống Mỹ đang ngồi trên xe nào.
Hội nghị APEC đã chấm dứt ngày hôm qua , sau 2 ngày họp chính thức giữa 21 vị Nguyeen thủ của 21 Quốc gia.
Tổng thống Mỹ .G.W bush vào thăm thành phố Sài gòn vào tối hôm qua .Cùng lúc đó Thủ tướng Australia cũng vào Sàigon , hôm nay Thủ tướng Úc sẽ đi Bà Rịa Vũng tàu để thăm Long Tân , nơi 18 Quân nhân Úc đã hy sinh ngày 18 /8 / 1966 .
Sau đây là Chuyện bên lề gom góp từ các báo Điện tử VN
Uống nước Không Kiểm Duyệt ..
Theo tường thuật , Bà Ngoại trưởng Mỹ Rice ..là người luôn luôn rất vui vẻ , luôn tươi cười ....khi gặp gỡ các Sinh viên. Sau khi nói chuyện , bà đòi uông nước Coca Cola , và bà ta đã Uống không "KIỂM DUYỆT." thay vì kiểm tra Chữ Kiểm duyệt của nhà báo VN viết
WC đã không cung cấp đủ ở nơi họp. Khiến cho nhiều người đã phải xếp hàng dài để xả xú bắp.
Cơm đồ hộp , nhiều phóng viên báo chí Việt Nam phải ăm Cơm Đồ hộp vì phải dành nhiều thời giờ để chụp hình.
Ngoại ngữ , có rất nhiều Tình nguyện viên Trẻ để giúp đỡ cho Hội nghị ,Không Giỏi Tiếng Anh và Tiếng Trung Hoa. mặc dù đang học ở Đại học Ngoại ngữ
BÁO ĐỘNG : Chiều tối thứ bẩy 18 /11 là GalaDinner -
Trước cửa để vào Gala Dinner - ban tổ chức đã sắp xếp , một người mặc quần áo đại lễ đứng trước cửa để chuẩn bị mở xe cho các Vị Nguyên thủ .
lần lượt 20 vị Nguyên Thủ của 20 nước -trừ nước chủ nhà đến theo thứ tự ABC - Thủ tướng Australia John Howard đến đầu tiên . Khi xe vừa đến giữa cửa , người mặc đồ dại lể tiến ra mở cửa xe, Thủ tước Australia bước ra. Và lần lượt tiếp các vị nguyên thủ khác. đều được người Tiếp tân mở cửa xe Khi xe của Tổng thống Mỹ G.W.Bush đỗ xịch trước cửa , và Người Tiếp tân cũng hùng dũng bước ra để chuẩn bị mở cửa xe cho TT Mỹ , nhưng vừa đến nơi ,dơ tay sát cửa xe , Đã Có Tiếng Còi Báo Động ,liền đó Cận vệ của TT Mỹ phải nhanh chân chạy lại Đưa tay , tiếng Còi ngưng Và cửa xe được mở để TT Mỹ bước ra . Đúng là Xe Cadillac One . Xe của người Mỹ phải do chính người Mỹ mở cửa xe
2 chiếc Cadillac One - Khi Tổng thống Mỹ và phái đoàn ,di chuyển trên các đường phố Hà nội ,đều có 2 Xe Cadillac màu đen giống nhau ..Người ngoài sẽ không thể biết Tổng thống Mỹ đang ngồi trên xe nào.
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time

Hình trên Một nhân viên Sở ngoại vụ /thành phố Sàigon đang giải thích cho các phóng viên VN về danh sách hạn chế số lượng phóng viên theo yêu cầu từ phía Hoa kỳ.Chỉ có 14 Phóng viên của AP- CNN , Reuters, New york Times ,Time , Bloomberg là được quyền đưa tin về chuyến viếng thăm thành phố sàigon của Tổng thống Bush-cùng phu nhân và phái đoàn.
Nguồn tin BBC .
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Phóng viên VN và Air Force One
Tổng thống Mỹ G.W.Bush khi đến phi trường Tân sơn nhất tối hôm qua 19/11 ,sau khi xuống hết cầu thang máy bay ,Tổng thống Bush và phu nhân cùng Nữ ngoại trưởng Mỹ lên xe ngay về khách sạn New World ,đã làm thất vọng
đội ngũ ký giả VN chờ đợi suốt buổi chiều.
Thất vọng vì Tổng thống Mỹ không tuyên bô một lời gì , đội ngũ phóng viên VN quay ra chụp hình đứng trước chiếc Air Force One

Tin và hình của BBC
Tổng thống Mỹ G.W.Bush khi đến phi trường Tân sơn nhất tối hôm qua 19/11 ,sau khi xuống hết cầu thang máy bay ,Tổng thống Bush và phu nhân cùng Nữ ngoại trưởng Mỹ lên xe ngay về khách sạn New World ,đã làm thất vọng
đội ngũ ký giả VN chờ đợi suốt buổi chiều.
Thất vọng vì Tổng thống Mỹ không tuyên bô một lời gì , đội ngũ phóng viên VN quay ra chụp hình đứng trước chiếc Air Force One

Tin và hình của BBC











