Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, Pháp danh Nguyên Giác, sinh quán tại Giao Thanh, Bến Tre, Việt Nam đã vĩnh viễn từ giả gia đình, đồng bào và chiến hữu vào lúc 3:20 Am ngày 22 tháng 1, 2007 tại Falls Church,VA. Hưởng thọ 78 tuổi.
Tang lễ được cử hành vô cùng trọng thể tại Nhà quàn Fairfax Memorial Funeral , Fairfax, VA dưới sự chủ lễ của Hòa Thượng Thích Trí Tuệ, Trung Tâm Phật Giáo Vạn Hạnh Virginia và Hoà Thượng Thích Tâm Thọ, Chủ trì Chùa Pháp Hoa , Lancaster, PA, cùng ban hộ niệm Pháp Hoa và Pháp Vương, VA.
Trong ngày 24 Tháng 1 có rất đông đồng hương đến thăm viếng, chia buồn cùng tang quyến từ 10 giờ sáng đến 9 giờ tối. Ngày 25 tháng 1 năm 2007, từ 10 giờ sáng có rất nhiều cựu quân nhân và đại diện các quân binh chủng trong QLVNCH đến thăm và dự lễ phũ cờ.
Theo lời người trong gia đình, Cố Trung Tướng Trưởng có ước muốn tang lễ cử hành đơn giản, nhưng đồng hương đã mến thương đến thăm viếng quá đông, căn phòng ở nhà quàn tràn ngập hoa tươi, cờ Trung Tướng và quốc quân kỳ, ở hai đầu quan tài luôn có hai quân nhân mặc quân phục đứng nghiêm chào .
Cựu Trung Tá TQLC Nguyễn Văn Phán điều hợp chương trình. Niên Trưởng Đào Mộng Xuân đã đọc tiểu sử của Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng như sau:
... Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng sinh ngày 13 Tháng Mười Hai, 1929; mất ngày 22 Tháng Giêng, 2007. Ông phục vụ trong QLVNCH từ 1954-1975, được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật Cộng Quân, tái chiếm Cổ Thành Quảng Tri, năm 1972.
Trung Tướng Trưởng tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Võ Khoa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Năm 1954, ông ra trường được bổ nhiệm Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Năm 1955 ông tham gia cuộc tiễu trừ Lực Lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận. Năm 1965 sau trận Hắc Dịch ông được bổ nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Năm 1966 sau biến cố bạo động Miền Trung ông được bổ nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Năm 1970 Ông được thăng cấp Trung Tướng. Năm 1972 Cộng quân mở chiến dịch Trị Thiên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm.
Năm 1975 Cộng Quân mở chiến dịch Huế- Đà nẳng, với chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng ít lâu sau lại nhận đựơc lệnh bỏ Huế về Đà Nẳng. Hai thành phố này rơi vào tay CS dẫn theo sự sụp đổ hoàn toàn của những tỉnh và thành phố suốt dọc miền Trung. Trung Tướng Trưởng vào Saigon và sau đó di tản cùng gia đình sang Hoa Kỳ, định cư tại VA.
Bắt đầu từ năm 1979 theo lời mời của Trung Tâm Quân Sử Quân Lực HK ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua ba quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm trên . Đó là “The Easter Offensive of 1972 (1983) , “The Territorial Forces (1984) và “RVNAF and US Operation Cooperational Coordinatin (1984).
Trong thời gian định cư tại HK ông ít khi xuất hiện trước công chúng. Ông là một trong số ít tướng lãnh được đánh giá là thanh liêm trong sạch và tài ba trong QLVNCH.
Sau đó Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh được mời lên đọc điếu văn. Cựu Tướng Hinh nói, một vì sao vừa lặn mất trên nền trời sao của VNCH, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã qua đời. Với riêng tôi ông là một kỷ niệm khá đậm nét, tôi biết ông từ ngày là Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh ở Huế và tôi đã thật gần ông từ 1970 khi ông nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Cựu Tướng Hinh nhắc lại ông và Trung Tướng Trưởng làm việc với nhau thật nhiều, đi bay thăm viếng mỗi ngày các quân khu vùng IV.
Trong năm 1970-1971, Quân Khu bốn coi như bình định hoàn toàn, các đơn vị lớn của địch nhảy sang Cao Miên, các khu du kích nhỏ đã bị triệt phá, san bằng. Quân khu IV có bộ mặt hiền hòa, tốt đẹp, kinh tế phát triển tột độ thời ấy. Người ta nghĩ chiến tranh sẽ tan biến mất. Đó là trạng thái suy sụp của chiến tranh du kích CS sau khi Tổng công kích 1968.
Thiếu Tướng Hinh ca ngợi Trung Tướng Trưởng là một quân nhân thuần túy, một tướng lãnh gương mẫu. Ông tuân phục kỹ luật, làm việc cặm cụi, tận tụy, lãnh đạo bằng khuôn mẫu hành xử của mình. Có một đặc sắc trong đường nét lãnh đạo của ông là nói thật ít và cặm cụi với công việc.
Ông thường hay vắng mặt về đêm. Khi trời tối Ông cùng Cố Vấn trưởng đáp máy bay xuống một đồn Địa Phương Quân hay Nghĩa quân xa xôi nào đó để hỏi han các chiến sĩ, xem xét tình hình chung. Trung Tướng ít nói có thể nói là lầm lì nhưng ông để ý vào chi tiết.
Rồi đến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, Quảng Trị mất, dân Huế di tản, chợ Đông Ba cháy. Sau khi gặp Tổng Thống Thiệu, Trung Tướng Trưởng mời Thiếu Tướng Hinh ra Huế, tới Huế thì thấy đó là một thành phố vắng lạnh, người qua lại hốt hoảng, vội vàng. Trung Tướng Trưởng đặt chân đến Mang Cá, nhận bàn giao quyền Tư lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I ngay chiều đó. Trung tướng Trưởng bắt đầu bay đi thăm các đơn vị tiền tuyến. Sáng hôm sau dân Huế đồn nhau “Tướng Trưởng đã trở lại”, Tướng Trưởng, người tử thủ Huế năm 1968 nay đã trở lại, mọi sự sẽ ổn định. Huyền thoại Ngô Quang Trưởng như một chiếc đũa thần mang đến phép lạ. Với sự tận tình yểm trợ của Đồng Minh, Quân Đoàn I tăng cường hai Sư Đoàn Dù và TQLC đã tái chiếm lại hầu hết tỉnh Quảng Trị.
Tướng Norman Schwarzkopf trong cuốn “Tt Doesn’t Take A Hero” đã nức nở ca ngợi tài điều binh và kinh nghiệm chiến trường của Trung Tướng Trưởng, khi ông hành quân cấp sư đoàn, tiểu đoàn và lữ đoàn.
Năm 1975 trong không khí hỗn loạn của Vùng I cùng với tin địch tấn công vào đêm 29/3/75 Tướng Trưởng triệu tập một cuộc họp các Tư Lệnh đại đơn vị tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I rồi quyết định rút khỏi Đà Nẳng ngay đêm đó. Quân Khu giới tuyến thất thủ.
Thiếu Tướng Hinh kết luận, Trung Tướng Trưởng, một tướng lãnh được người đời đánh giá là tài ba sau cùng đã theo nạn nước mà di tản để gậm nhấm nỗi buồn nơi xứ người.
Ngày nay Trung Tướng Trưởng Ngô Quang Trưởng đã ra đi, dẫu sao sinh ly tử biệt là đau, là buồn! Xin tạm biệt và cầu chúc Trung Tướng sẽ an bình nơi Tiên cảnh . Chúng tôi xin bái biệt Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.
Trong dịp này Đại Tướng Cao Văn Viên có gởi thư đến chia buồn cùng Bà quả phụ Ngô Quang Trưởng. Đại Tướng Viên nói vì sức khỏe không thể đến để chia buồn. Nay thì Trung Tưóng đã ra đi vĩnh viễn rồi. Nhưng Trung Tướng để lại trong lòng mọi người một sự kính trọng và quý mến sâu xa.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp Trung Tướng Trưởng đã tỏ ra là một sĩ quan, một Tướng tài ba và giàu mưu lược. Trung Tướng Trưởng là sự hãnh diện của QLVNCH.
Đại Tướng Creighton Abrams, Nguyên Tư Lệnh Lục Quân HK và cũng là Tư Lệnh BTL/Viện Trợ Quân Sự HK tại VN đã nói rằng Trung Tướng Trưởng là một trong những Tư Lệnh Chiến Trường ưu tú nhất của VN.
Riêng Đại Tướng Norman Schowarzkopf, một vị tướng lừng danh của HK đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh cũng đã viết trong hồi ký của ông, coi Trung Tướng Trưởng là một bậc Thầy và nói rằng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một thiên tài quân sự.
Cuối cùng Đại Tướng Cao Văn Viên viết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, tôi rất hãnh diện là cấp chỉ huy của Trung Tướng.
Trong dịp này Giáo Sư Toàn Phong, Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại có gởi thư phân ưu. Ông Đoàn Hữu Định đã đọc thư “Trung Tướng Trưởng, người hùng Quảng Trị, một tướng lãnh tài ba đã mệnh chung.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra đi là một cái tang lớn cho hàng ngũ cựu quân nhân QLVNCH, với lòng thành kính và ngưỡng phục của chúng tôi, thay mặt toàn thể chiến sĩ VNCH, thành thật phân ưu và cầu nguyên hương linh Trung Tuớng sớm về cõi vĩnh hằng.
Tới đây thì tám quân nhân trong quân phục (hai Dù, hai Thủy Quân Lục Chiến, hai Bộ Binh, một Không Quân, Một Hải Quân) đã trang trọng làm lễ phũ cờ lên quan tài của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.
Niên Trưởng Lâm Duy Tiên thay mặt cho chiến hữu Chủ tịch Liên Hội CCSQG/VNCH và các hội đoàn liên hệ vùng HTĐ và các chiến hữu trong vùng đọc lời phân ưu, kính cẩn nghiêng mình truớc linh cữu của Cố Trung Tướng Trưởng và xin chân thành phân ưu cùng Bà quả phụ Cố Trung Tướng Trưởng, tang quyến và nguyện cầu cho hương linh Trung Tướng sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng
Đến 2:30 Hòa Thượng Thích Trí Tuệ và ban hộ niệm Pháp Hoa, Pháp Vương cầu nguyện theo nghi lễ Phật giáo.
Theo sau là lễ di quan, đi đầu là toán quốc quân kỳ, quan tài được dời đi, hai bên có tám quân nhân đi theo. Khi quan tài được dời ra khỏi phòng để có chỗ rộng rãi hơn thì nghi lễ xếp cờ bắt đầu. Tám cựu quân nhân cùng nâng lá cờ lên rối xếp lại làm ba, rồi xếp lại hình tam giác nhỏ theo lễ nghi quân cách xếp cờ.
Lá cờ được Cựu Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp trang trọng trao lại cho Bà Quả Phụ Ngô Quang Trưởng.
Sau đó quan tài được tiễn đưa tới phòng hỏa táng, dọc theo đường, hai bên có nhiều quân nhân các quân binh chủng trong quân phục đứng dàn chào. Trong niềm thương tiếc sâu xa, trong một không khí cảm động vô cùng, mọi người cùng đọc kinh cầu nguyện Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn linh hồn cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng về cõi Phật.
Chương trình tang lễ của Cố TrungTướng Ngô Quang Trưởng được chấm dứt vào lúc 3 giờ chiều.
Chớp lóe xuyên Trời quân sĩ ơi!
Hùm thiêng vĩnh biệt thế gian rồi
TRỊ THIÊN, BÌNH GIÃ lừng danh tướng
Công trận còn lưu, tiếng để đời.
(Thơ Bảo Túc)
Tuyết Mai
Tưởng tiếc
Giã biệt nhau rồi Trung Tướng ơi !
Không gian tỉnh lặng tiển đưa người
QUÂN , DÂN , CÁN , CHÍNH chung hoài niệm
Hổ tướng oai hùng quê hương tôi
Phúng Viếng
Chớp loé xuyên trời Tướng sĩ ơi !
Hùm thiêng vỉnh biệt thế gian rồi
TRỊ THIÊN , BÌNH GĨA lừng danh tướng
Công trận còn lưu tiếng để đời
Người đã đi rồi , mãn cuộc chơi
Tiếc thương để lại cả khung trời
Dặm ngàn rong ruổi khôn nhìn lại
SAI , ĐÚNG cũng rồi . . . Ta im thôi . . .
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
Theo tục lệ của dân tộc ta thì hàng năm có ngày lễ Thanh Minh vào đầu tháng Ba âm lịch. Đây là ngày đặc biệt để các gia đình đi tảo mộ ông bà, cha mẹ và người thân trong gia đình. Dịp này, người ta tới mộ phần người thân để khai quang, nhổ cỏ, đắp đất, quét dọn, thắp hương, cúng vái. Nhưng, thực ra, không phải chỉ vào dịp Thanh Minh trong tiết tháng Ba, người Việt Nam mới đi tảo mộ. Trước Tết Nguyên Đán hàng năm, cũng có tập tục đi viếng và quét dọn mồ mả tiền nhân trước khi trang hoàng nhà cửa đón Tết. Gia đình Việt Nam không chỉ bao gồm những thế hệ còn sống, mà còn bao gồm cả những thế hệ đã khuất. Nếu hiểu chữ "NGHĨA" là sợi giây gắn liền con người với nhau thì sợi dây vô hình này nó cột chặt hai cõi âm dương.
Nhưng vì hoàn cảnh đất nước ta sau nhiều năm nội chiến, nhiều người Việt Nam đã không thể lám cái việc thể hiện tấm lòng mình đối với người đã khuất là đến tảo mộ người thân trong những ngày giáp Tết. Còn nhớ, ngay sau khi thôn tính Miền Nam, cộng sản đã bắt di dời mồ mả của thường dân và của quân đội VNCH. Mộ phần của những gia đình không có mặt đã bị họ đào sới, san bằng. Cứ tưởng "nghĩa tử là nghĩa tận", mồ mả là nơi an nghỉ cuối cùng và vĩnh viễn sẽ không bị ai xúc phạm. Hành động này của bạo quyền cộng sản là một hành động tồi bại, mất tính người, phản luân thường đạo lý, phản truyền thống dân tộc. Theo báo điện tử VietNamNet thì vào thời điểm năm 1980 là năm CSVN quyết định di dời các nghĩa trang trong vùng Sài Gòn, có đến hàng trăm ngàn ngôi mộ chôn ở các nghĩa trang chính như nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, rộng 7,5 hecta ngay trung tâm Sài Gòn; nghĩa trang Đô Thành, còn gọi là nghĩa trang Chí Hòa, trên đường Lê Văn Duyệt, rộng 25 hecta; nghĩa trang quân đội Gò Vấp; nghĩa trang Bình Thới, rộng 30 hecta; nghĩa trang Phú Thọ khoảng 40 hecta; và nghĩa trang quân đội Pháp ở gần ngã tư Bẩy Hiền. Tất cả những nghĩa trang này với hàng trăm ngàn ngôi mộ đã bị đào sới, di dời và san bằng, không còn vết tích gì là nghĩa trang nữa. Nhưng khu nghĩa trang mà không ai là không nhớ tới là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Trước năm 1975, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoa là nơi an táng hơn 16.000 tử sĩ VNCH
Trong chiến tranh, quân cộng sản thường lợi dụng các nghĩa trang là nơi thiêng liêng mà người quốc gia tôn trọng như cấm địa, để làm nơi chôn dấu vũ khí và ẩn náu của cán bộ. Khi chiếm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, quân đội cộng sản lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử và nghĩ rằng quân lực VNCH cũng có những kho tàng bí mật tại đây để đánh lại họ. Vì thế họ đã phòng thủ cẩn mật không cho ai ra vào. Họ làm như hơn 10 ngàn tử sĩ an táng nơi đây có thể sống dậy phản công lại họ. Vì thế, những nơi nào đáng nghi ngờ, họ đã đào sới, cày ủi. Các phần còn lại họ bỏ mặc cho hoang tàn đổ nát. Những hình ảnh và bài viết về cảnh hoang phế này đã được nhiều người ghi lại từ 32 năm qua, trong đó có cả ký giả ngoại quốc như ông Brennon Jones của báo International Herald Tribune.
Gần đây, ngày 27/11/2006, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ CSVN đã âm thầm ra quyết định số 1568/QĐ-TTg giao khu nghĩa trang này cho tỉnh Bình Dương. Điều 1 của quyết định này viết: "Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lý sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương". Tuy rằng ở mục 2, điều 2 có nói là tỉnh Bình Dương chỉ đạo quản lý khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác, nhưng điều 1 nói rõ là chuyển giao 58 hecta đất của khu nghĩa trang để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương. Cũng nên biết là trước năm 1975 tại đây an táng hơn 16.000 tử sĩ VNCH. Sau 1975, một số gia đình lo sợ CSVN sẽ tàn phá nghĩa trang nên có khoảng 8.000 ngôi một đã được thân nhân cải táng đi chỗ khác. Với điều khoản này, không ai cấm tỉnh Bình Dương sẽ gom trên dưới 8000 ngôi mộ này lại một góc hoặc di dời đi một chỗ khác để lấy đất làm sân golf hay xây cất hãng xưởng, xóa đi vĩnh viễn vết tích của Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Đối với người sống mà chính quyền cộng sản còn cướp nhà, cướp đất của họ một cách trắng trợn thì đối với những người đã nằm xuống, họ nể gì mà không cướp ? Cần phải báo động dư luận trong nước và quốc tế về nguy cơ này.
Nhân ngày đầu năm mới, những nhà đấu tranh dân chủ trong nước đã cùng hẹn nhau tại Sài gòn, làm chuyến hành hương thăm mộ cho những người đã ngã xuống trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, và cùng thắp nén hương cho những con người bất hạnh cả hai bờ chiến tuyến.
Sau khi có quyết định 1568/QĐ-TTg, một số người cho rằng đây là một bước "đổi mới", có người cho là "quyết định khôn khéo", Có người còn cho là thái độ "hòa giải"… Chẳng có gì là đổi mới, chẳng có gì là khôn khéo, cũng chẳng có gì là hòa giải cả. CSVN vẫn là CSVN. Tên cộng sản này trao Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cho tên cộng sản khác. Quân sự hóa hay dân sự hóa thì cũng là trong tay CSVN. Những người nằm dưới các nấm mồ ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vẫn không yên giấc ngàn thu. Tết Đinh Hợi sắp đến, xin hãy cùng nhau thắp lên một nén nhang thơm cho những anh hùng tử sĩ đã bỏ mình nơi chiến địa và hứa với họ quyết tâm bảo vệ nơi an nghỉ ngàn thu của họ.
Tưởng Niệm Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Một Danh Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
A/- Đoi dòng suy nghĩ:
Viết xong những loạt bài cho Báo Xuân phát hành ở nhiều nơi, báo in cũng như báo “online” nhiều nơi xa gần, trong và ngoài Hoa Kỳ, tôi đã định nghỉ xả hơi 1 thời gian vì tuổi đã cao (76, cộng thêm trên 12 năm đi tù cải tạo tại nhiều vùng rừng núi âm u, kinh hoàng, bây giờ mới thấy hậu quả của nó ghê gớm, mà mấy tay Bác Sĩ Mỹ cũng như Việt quen thuộc thường nói đùa là Ông hay Bác coi như ... 76 + 12 là 88 tuổi, sức khỏe như thế này là tốt quá rồi ). Vậy mà vừa đọc tin trên “ Net “, check e-mail thấy bạn bè, báo “ online “ loan báo cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vừa mới qua đời. Tôi thật bất ngờ và xúc động vì tôi từng sống rất gần, hiểu khá nhiều về vị Tướng này, đã 2 lần được tiếp chuyện với ông trong tình “ huynh đệ chi binh “, và tôi rất kính trọng, khâm phục ông về nhiều điểm. Lần gặp và nói chuyện đầu tiên với vị Tướng này là chuyện : Trung Tá Nguyễn Minh Đ., 1 Sĩ Quan rất giỏi, can trường, xuất thân trường Võ Bị Đà Lạt, từng làm Trung Đoàn Trưởng (Regiment commander) đánh giặc gan lì, lên lon từ Thiếu Úy tới Trung Tá hầu hết tại mặt trận, được ân thưởng 2 Bảo Quốc Huân Chương (Đệ Ngũ và Đệ Tứ đẳng) với nhành Dương Liễu, rồi làm Quận Trưởng Quận Thăng Bình , tỉnh Quảng Ngãi là nơi Việt Cộng đánh phá ghê gớm thì ông ra sức bình định lãnh thổ chịu trách nhiệm . Có khi ông đi hành quân không giống ai : xin pháo binh sẵn sàng yểm trợ, rồi ông và lính mang súng đạn, dùng xe gắn máy tiến vào những làng hẻo lánh, xa xôi mà tin tình báo cho hay có những đơn vị không lớn của địch về đây lấy lương thực, tuyển quân vv... quân xa của ta không vào được, ông Trung Tá Đ. vẫn đem lính vào để đánh địch và bắt sống hay tiêu diệt địch nhiều phen, nhờ ông đã có công xây dựng cơ sở, dân chúng tin tưởng và hợp tác với ông, với quân đội Cộng Hòa. Ấy vậy mà ông Trung Tá này lại giống ngài Tổng Thống họ Nguyễn hồi đó, y như Trung Tướng Hoàng Xuân L. và vài Tướng Lãnh, Sĩ Quan cao cấp khác rất cả tin vào cái vụ... tướng số, tử vi để đến nỗi bị truy tố ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I – Vùng I Chiến Thuật, về tội “ Đào ngũ – Desertion “ mới chết chớ. Vì tin vào ông Thầy tướng số mà ông Trung Tá lại né 1 cuộc hành quân cỡ lớn, trong đó có Trung Đoàn của ông tham dự,ï để vào Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng nằm nghỉ chữa bệnh ít ngày, nhưng không làm đúng thủ tục hành chánh khi nhập viện . Ông Thầy Tướng số nói : “ ông đi hành quân chuyến này không chết cũng ...bị thương nặng... “. Đánh giặc hoài hoài, anh dũng, can trường hàng chục năm liên tục, không biết sợ cái chết mà bữa nay lại tin lời ông Thầy Tướng Số để né trận này, thật đáng ... đánh đòn. Trung Tướng Trưởng cần Trung Tá Đ. để đưa vào phái đoàn 4 bên Quốc Tế kiểm soát đình chiến tại khu vực trách nhiệm của ông. Tướng Trưởng gọi điện thoại về Sư Đoàn thì được báo cáo là ông Trung Tá đi nằm bệnh viện Duy Tân. Còn đang phân vân chọn người khác thì chiếc xe Beaulieu, gắn bảng đỏ có 3 sao trắng, của Tướng Trưởng chạy dọc 1 đường phố Đà Nẵng. Ông Tướng và Sĩ Quan tùy viên trông thấy rõ ràng Trung Tá Đ. nhà ta đang đi thong dong trên đường phố, chẳng có chi là “ bệnh nhân “ cả. Thế là ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật ra lệnh cho Đại Tá Tham Mưu Trưởng liên lạc hỏi Trung Tá Bác Sĩ Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Duy Tân về vụ “ bệnh nhân cao cấp “ dạo chơi ngoài phố, rồi gọi điện thoại sang Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Vùng I Chiến Thuật ( Field Court Martial of the Ist military zone & Ist Tactical Area ) yêu cầu Trung Tá Ủy Viên Chính Phủ tới văn phòng Tư Lệnh Vùng có việc cần. Bữa đó Trung Tá Ủy Viên Chính Phủ đi công tác, tôi là Phó “ Xử lý thường vụ – Interim “ nên vội lái xe Jeep sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, tới Văn Phòng Trung Tá Đức, chánh văn phòng. Trung Tá Đức mời tôi ngồi và nói : Trung Tướng vừa lái trực thăng đi kiểm soát bất thần 1 đơn vị ở xa, Thiếu Tá chờ cho ít phút. Vài phút sau Trung Tá Đức sang gặp Tướng Trưởng rồi trở lại : Trung Tướng mời Thiếu Tá sang. Tôi bước vào và chào Tướng Trưởng theo quân cách. Ông bắt tay rồi mời tôi ngồi ngay chiếc ghế bên cạnh bàn làm việc của ông. Ông nói nhỏ nhẹ và vắn tắt : Chắc Thiếu Tá đã rõ việc tôi cho gọi điện thoại mời Thiếu Tá sang đây ? – Tôi đáp : Thưa Trung Tướng tôi đã rõ. Tướng Trưởng nói tiếp : Tôi không bao giờ can thiệp vào công việc chuyên môn của Tòa Án, của Thiếu Tá, nhưng với tư cách là Tư Lệnh 1 đại đơn vị, tôi chỉ mong muốn Thiếu Tá cũng như các anh em khác bên Tòa Án luôn luôn tích cực giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ đối với Quân Đội, giữ vững kỷ luật Quân Đội vì đó là sức mạnh của chúng ta nếu chúng ta muốn thắng cộng sản. Một Ông Tướng đánh giặc giỏi, lừng danh mà ăn nói thật nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, từ tốn đến mức dễ thương. Tôi đáp : Trung Tướng an tâm, chúng tôi sẽ hết sức làm việc để góp sức xây dựng quân đội như Trung Tướng mong muốn. Sau vài câu chuyện hỏi thăm về công việc, ông đứng dậy bắt tay tôi, tiễn vài bước ra phía cửa rồi mới quay trở lại. Hôm xử vụ án Trung Tá Đ., bị can đào ngũ cao cấp nhất từ ngày tôi làm việc ở đây, tôi ngồi ghế Công Tố Viên ( prosecutor ), Chánh Thẩm ( Chánh Án – Presiding judge ) là Ông Võ Nhất Minh, Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Quảng Nam – Đà Nẵng ( được mời và bổ nhiệm bởi Liên Bộ Quốc Phòng & Tư Pháp từng kỳ hạn 1 năm, còn Chánh Thẩm dự khuyết là 1 Đại Tá thuộc ngành Quân pháp chúng tôi ), Phụ Thẩm Đoàn là 4 Thẩm Phán quân sự (military judges ) hầu hết là Luật Sư dân sự trước khi động viên vào quân đội, hoặc là Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa rồi thêm trung bình 3 năm tập sự để trở thành Thẩm Phán. Thành phần xét xử của các Tòa Án Quân Sự Mặt Trận thuộc 4 Vùng chiến thuật là hùng hậu nhất, 5 Thẩm Phán thực thụ, sau vụ xét xử Dân Biểu Quốc Hội Trần Ngọc Châu có liên lạc với anh em ruột thịt là cán bộ cộng sản Trần Ngọc Hiền. Luật Sư của bị can nêu vấn đề tổ chức Tòa Án xét xử bị can phạm tội chính trị Trần Ngọc Châu là vi hiến vì Hiến Pháp hồi đó quy định là trường hợp như trên, bị can phải được xét xử bởi các Thẩm Phán chuyên nghiệp ( chớ không có mời phụ thẩm nhân dân hay các Sĩ Quan đang tại ngũ như Tòa Án Quân Sự Thường trực ( Permanent military court ). Bốn Tòa Án loại này của Nam Việt Nam phải tạm thời ngưng họat động 6 tháng để sắp xếp lại cơ cấu tổ chức. Theo bản cáo trạng, tôi lên tiếng buộc tội nghiêm khắc bị can Trung Tá Đ., một Sĩ Quan thuộc hàng cao cấp, từng giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng, hiểu biết rõ ràng về quân kỷ, thủ tục hành chánh khi nhập bệnh viện, đã cố tình trốn tránh trách nhiệm trong vụ này nên bị coi là can tội đào ngũ trong thời chiến. Tôi yêu cầu Tòa phạt thật nặng để làm gương cho các Sĩ Quan khác. Tuy nhiên, tôi nói tiếp : Công tố viên là người bảo vệ Luật Pháp, truy tố tội phạm, nhưng không có nghĩa là chỉ biết buộc tội bằng cách nhìn về một phía, mà không biết nhìn sang phía khác với những công trạng, thành tích của 1 quân nhân đã hàng chục năm chiến đấu anh dũng, chỉ huy tài giỏi, thành công to lớn trong binh nghiệp , xin lưu ý Thẩm Phán Đoàn về những điều đó để quý vị tùy nghi quyết định. Với 1 quân nhân, nhất là Sĩ Quan, có tội cần phải trừng phạt nặng để làm gương cho cấp dưới, cho bạn đồng ngũ, nhưng Luật Pháp, Quân Đội không bao giờ bỏ quên những quân nhân anh hùng, dám hi sinh thân mình cho đại cuộc . Không khí phiên Tòa, xét xử duy nhất 1 bị can đào ngũ mang cấp bậc Trung Tá , thật là căng thẳng. Luật Sư Vương Thị Thúy tiếp lời bào chữa cho bị can một cách rất khôn khéo, hợp lý, hợp tình... Tòa tuyên bố tạm nghỉ để vào phòng nghị án. Phòng xử án hôm đó rấtù đông, có nhiều Sĩ Quan, thân nhân, bạn bè của bị can, tất nhiên có cả quan sát viên của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đến theo dõi để về báo cáo lên Trung Tướng Trưởng. Anh em Quân Cảnh đi lại bên ngoài phòng xử. Không khí đợi chờ bản án thật là yên lặng, tưởng như con ruồi bay qua, người ta cũng nghe thấy tiếng ... Một hồi chuông rung. Ông Chánh Thẩm và Thẩm Phán Đoàn trở lại vị trí. Mọi người hồi hộp. Ông Chánh Thẩm long trọng đọc những điều có tính cách thủ tục rồi tuyên án... Tòa quyết định: phạt bị can Nguyễn Minh Đ. 5 năm tù ở về tội đào ngũ trong thời chiến... Có tiếng thở dài đâu đó và có người trong phòng xử xỉu ngã, chắc chắn là thân nhân của bị can, nhưng tiếp theo liền đó, Ông Chánh Thẩm tuyên bố : căn cứ theo hồ sơ, bị can là 1 Sĩ Quan có nhiều công trạng, thành tích , tinh thần chiến đấu cũng như chỉ huy trong quá khứ, cùng với những bằng chứng khen thưởng quý giá như thăng cấp liên tục tại mặt trận, được ban thưởng nhiều huy chương cao quý, nhất là Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương với nhành dương liễu gắn tại chiến trường... lần đầu tiên phạm Quân Luật, cho nên Tòa khoan hồng cho bị can được hưởng ... án treo ! Không khí trong phòng xử như sống lại trong khi phiên Tòa bế mạc... Trung Tá Nguyễn Minh Đ., viên Sĩ Quan rất tài giỏi, nhưng chỉ phải cái tội quá tin vào vụ Tử Vi, tướng số tào lao mà suýt nữa khổ cả một đời. Trung Tá Đ. tạm thoát được án tù 5 năm, nhưng sau đó bị mất quyền chỉ huy đơn vị tác chiến như xưa, chỉ được làm những công việc có tính cách chuyên môn buồn tẻ. Thỉnh thoảng gặp lại tôi tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, khi các Sĩ Quan đi ăn cơm trưa tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn, ông tuy là Trung Tá, nhưng thường giơ tay chào tôi trước, và có lần không quên nhắc lại : May mà gặp được Thiếu Tá ngồi ghế Công Tố Ủy Viên bữa đó, biếtù rõ hoàn cảnh anh em, tội thì phạt, công thì thưởng nên tôi mới thoát, chớ nếu gặp tay khác... cực đoan, chỉ nhìn 1 phía con người thì cuộc đời tôi chắc đã ... tàn rồi. Anh em bắt tay nhau vui vẻ, tôi hỏi : Ông Tướng Tư Lệnh có gọi lên trình diện quở trách chi không ? Trung Tá Đ. nói : thì phải có chớ ! Nhưng Ổng chỉ khuyên bảo đôi điều nhẹ nhàng rồi ra lệnh từ nay trở đi không được tái phạm . Tòa khoan hồng chỉ 1 lần, không thể lần thứ 2. Thì ra Ông Tướng Ngô Quang Trưởng đã biết hết sự việc của phiên Tòa, kết quả ra sao, và luôn tỏ ra rộng lượng, tha thứ cho thuộc cấp có nhiều công trạng, thành tích mà lần đâu tiên vi phạm Quân Luật .
Với chức vụ Phó Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I, Cố Vấn Pháp Luật cho Nghiệp Đoàn ký giả miền Trung Việt Nam cho nên tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ chuyện trò trong khung cảnh thân mật với 1 số Tướng Lãnh như Trung Tướng Hoàng Xuân L., Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh vv... cùng nhiều Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Khu tôi làm việc, nhưng hình ảnh Trung Tướng Ngô Quang Trưởng kể trên làm tôi khó bao giờ quên được.
Lần thứ 2 tôi gặp và tiếp chuyện với Trung Tướng Trưởng là lần Ông sang thăm Tòa Án của chúng tôi, mà Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn chỉ điện thoại báo trước có 10 phút. Lần này, Trung Tá Ủy Viên của tôi cũng đi vắng, tôi lại “ xử lý thường vụ “ nghĩa là tạm thời thay mặt ông giải quyết mọi việc, trừ việc thật đặc biệt quan trọng. Khi xe Quân Cảnh dẫn trước chiếc xe gắn bảng đỏ với 3 ngôi sao trắng của Tướng Trưởng đậu trước cửa, tôi ra đón chào và mời Ông vào. Tướng Trưởng mặc quân phục bộ binh, đội mũ sắt 2 lớp ( Ông luôn làm gương cho các Sĩ Quan là lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng tác chiến ), đeo súng ngắn bên thắt lưng dã chiến ) đứng nói chuyện với tôi vài ba phút ngay trước cửa, rồi ông bảo tôi dẫn đi thăm anh em nhân viên làm việc của Tòa Án. Sau khi đi thăm lòng vòng 1 lúc, ông trở lại văn phòng của tôi và nói : Thiếu Tá nhớ luôn luôn nhắc nhỡ anh em về tinh thần làm việc và tôn trọng kỷ luật quân đội. Chợt ông hỏi tôi : trước khi làm việc ở đây, Thiếu Tá có phục vụ ở 1 đơn vị nào khác không ? Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu ra và trả lời : thưa Trung Tướng , trước kia tôi phục vụ tại Tiểu Đoàn Truyền Tin Quân Đoàn 1, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Viên, và trưa nào chúng tôi cũng sang Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn ăn cơm, thường có sự hiện của Trung Tướng. Ông à ! một tiếng, không nói gì thêm rồi bắt tay tôi từ giã ra xe, rời Toà Án. Khi Ông đi rồi, tôi có hỏi một vài nhân viên đứng phía sau gần đó : anh em có hiểu tại sao ông Trung Tướng hỏi tôi câu đó không ? Có anh em đoán đúng ý tôi : Tại Trung Tướng thấy coi bộ cả Tòa chỉ có một mình Thiếu Tá mặc quân phục, đầu tóc giống Trung Tướng nhiều hơn, còn lại không mấy ai giống Trung Tướng cả. Ông Tướng Trưởng thông cảm cho 1 cơ quan chuyên môn là Tòa Án cho nên nhiều anh em đầu tóc không cắt cao kiểu “ lính “, quân phục là đồ tác chiến nhưng thường không bỏ ống vào trong giầy cao cổ, Sĩ Quan thì hầu hết là Luật Sư dân sự động viên đi học Trường Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức hay Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa, tập sự mấy năm thành phán rồi về thẳng đây phục vụ cho nên đầu tóc, quân phục làm sao mà giống ông Trung Tướng gốc nhẩy dù này được !
B/- Trích Báo Ngày 22 -1 - 2007 đã loan tin : Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã mệnh chung vào lúc 3 giờ 30 sáng hôm nay tại Virginia, vùng Hoa Thịnh Đốn, hưởng thọ 76 tuổi. Vị Trung Tướng lừng danh trong Quân Lực Việt nam Cộng Hòa từng phục vụ trong những năm 1954 đến năm 1975. Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân cộng sản Hà Nội và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị năm 1972. Ông tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Võ Khoa Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức năm 1954. Ra trường, được bổ nhiệm làm Đại Đội Trưởng đại đội 1, Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù. Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận. Năm 1963, ông được thăng cấp Đại Úy. Năm 1964 ông được thăng cấp Thiếu Tá và được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù. Cùng năm 1964, Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù do ông chỉ huy được trực thăng vận nhẩy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc Quận minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn của ông được trực thăng vận nhẩy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi Ông Trinh, tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa, căn cứ của Công Trường 7 cộng sản Bắc Việt. Sau 2 ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho 2 Trung Đoàn địch thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp Trung Tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965, sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn nhẩy dù.
Đến cuối năm 1965, Trung Tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu Trưởng Sư Đoàn nhẩy dù. Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của của Tư Lệnh Quân Đoàn là Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 thiệt vận xa M-113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 nhẩy dù do thiếu Tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc Mặt Trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc Quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông được thăng cấp Chuẩn Tướng. Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn 1 nhẩy dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9, do Trung Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đã phòng thủ, bảo vệ thành công trước trận tấn công đại quy mô quyết tâm dứt điểm Huế của cộng sản vào Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, thành Mang Cá và những điểm quan trọng của thành phố Huế , trong suốt thời gian 26 ngày, từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2 – 1968. Quân cộng sản bị đẩy lui, gồm các đơn vị xung kích của Mặt Trận Giải Phóng miến Nam, gồm Đoàn 5 : các Tiểu Đoàn K4A, K4B, Tiểu Đoàn 12 đặc công nội thành Huế, Đoàn 6 : gồm các Tiểu Đoàn K41, K6, Tiểu Đoàn 13 đacë công nội thành Huế, các Đại Đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường 1 đại đội súng phòng không 37 ly, 2 đại đội du kích Quận Hương Trà, Phong Điền, 2 đại đội đặc biệt nội thành Huế và 2 Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan, tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công của địch. Sau trận Mậu Thân ( 1968 ), ông được đặc cách thăng cấp Thiếu Tướng và bổ nhiệm lên giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV ở trong Nam. Năm 1970, ông được thăng cấp Trung Tướng.... Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đình tại tiểu Bang Virginia, ngay bên cạnh Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Ông từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng, và không xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các cựu chiến sĩ kính trọng vì ngoài những thành tích lớn lao kể trên, ông còn được mệnh danh là 1 trong 4 vị Tướng thanh liêm trong sạch của Quân Lực Việt Nam cộng Hòa, qua câu nói của quân dân miền Nam “ nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” (ngưng trích).
Đến đây, người ta thấy Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bi Thủ Đức năm 1954, phục vụ trong lực lượng nhẩy dù, chỉ huy tác chiến từ cấp đầu tiên là Thiếu Úy rồi thăng cấp tại mặt trận liên tục sau những chiến thắng do ông chỉ huy từ nhỏ tới lớn, được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy đơn vị nhỏ đến đại dơn vị , cấp cao nhất là Tư Lệnh Quân Đoàn (Army Corps Commander), mang cấp bậc Trung Tướng (3 sao) một cách thật nhanh chóng và xuất sắc mà các bạn đồng khóa với ông không một ai sánh kịp.
C/- Tướng Ngô Quang Trưởng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:
Nhiều người đã đánh giá toàn thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa qua hành động xấu xa của một vài Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam ( sai lầm chiến lược ) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách. Họ đánh giá Quân Đội VNCH qua hình ảnh tan rã cuả nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng cuả cuộc chiến, mà kẻ gây ra tình trạng thê thảm này đích danh thủ phạm là Ông Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lãnh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội VNCH, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I - một Tướng Lãnh từng được kể vào hàng Danh Tướng - phải bỏ Quân Khu I lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội cuả 2 Tướng này đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đã từng đánh bại quân cộng sản trên lãnh thổ 2 Quân Khu này. Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi chưa chạm địch để làm áp lực, lôi kéo người bạn Đồng Minh khổng lồ ( đang bỏ đi bằng mọi giá ) quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, " Tiền đồn chống cộng sản cuả Mỹ tại Đông Nam Á Châu sẽ xụp đổ ". Tổng Thống Mỹ Richard Nixon phải hứa với nhân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh dự, trả người thân về với gia đình cuả họ. Qua trung gian cuả Tổng Thống Hồi Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger (một nhân vật chính trị, ngoại giao quỷ quyệt, độc ác và tàn nhẫn ) dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Đông, lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc. Họ Mao với sức mạnh cuả Sư Phụ, với uy thế cuả Ông Thầy bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực…đã ra lệnh cho cộng sản Hà Nội không được chợi trội, bắt bí phái Đoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris , doạ đánh cho Mỹ phải chạy mà không có " Hiệp Định ngưng bắn - Agreement of cease- fire " chi cả. Họ Mao đã cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng đáng :
I.- Vận động để cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế Hội Viên Thường Trực cuả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với quyền Phủ quyết cuối năm 1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu Họ Mao đã chiếm hết lục địa Trung Quốc, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949. Còn Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa thì vẫn là bạn cuả Mỹ nhưng phải rời khỏi cái ghế đó, chạy ra đảo Đài Loan.
2.- Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho Họ Mao những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Quốc đủ sức “đánh nhau tay đôi " với Liên Sô khi cần, vì Liên Sô đã kết án,và đe doạ trừng trị Họ Mao về nhiều tội :
* Bất phục tùng Trung Tâm Lãnh Đạo phong trào cộng sản thế giới là Điện Kremlin ở Moscow.
* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Đông, trái nghịch với Học Thuyết Marx - Lenin là : Thiết lập nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Quốc : lấy Nông Dân (đại đa số dân Trung Quốc) làm giai cấp lãnh đạo, thay vì giai cấp Công Nhân lãnh đạo, như Học Thuyết Marx-Lenin, đã được dùng làm Phương Châm Đấu Tranh cho Phong Trào Cộng Sản Toàn Cầu.
* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh cuả Trung Quốc và Tư Tưởng Mao Trạch Đông, tách ra khỏi sự lãnh đạo cuả điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận " Kết hợp chủ nghiã yêu nước với chủ nghiã Quốc Tế Vô Sản ", theo luận điểm cuả Lenin về khả năng tiến lên Chủ Nghiã Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghiã (Lenin's thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing the stage of capitalist development ) vì Liên Sô đã có cơ sở công nghiệp trong khi Trung Quốc chỉ có " Con trâu đi trước cái cầy ". Như thế mới gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông, chớ Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết trò " Đu dây " theo voi ăn bã miá cả 2 phiá Liên Sô và Trung Quốc thì làm gì có cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiều Sĩ Quan cao cấp cuả VNCH trông cảnh quân sĩ dưới quyền bị tan rã một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lãnh đạn trọng pháo, hoả tiễn cuả Liên Sô và Trung Quốc tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dã man mà thấy sót sa trong tim, trong lòng, phát điên phát khùng lên vì sự khờ dại, cuả Nguyễn Văn Thiệu. Là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội mà Nguyễn Văn Thiệu không hiểu rằng : Những phòng tuyến đầu tiên bị tan rã, quân đội chưa đánh mà bỏ chạy tán loạn cùng hàng triệu dân chúng thì hậu quả quân sự, chính trị, tâm lý cuả Nam Việt Nam sẽ ra làm sao!
Họ đã cố tình quên đi tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà trong dịp Tết Mậu Thân (1968 ). Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả bằng súng tiểu liên xung kích AK-47 cuả Liên Sô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng võ trang cuả " Mặt Trận Giải phóng miền Nam ", lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản bội thoả hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền cuả dân tộc Việt Nam, thình lình mở cuộc " Tổng tấn công " vào hầu hết các thành phố, thị trấn cuả Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Đội VNCH hầu hết chỉ được trang bị bằng súng trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 cuả quân đội Mỹ sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Vì bất ngờ cho nên chúng đã kiểm soát được một số lãnh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Đô Sài Gòn. Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đã chiếm bằng mọi giá để đưa dân chúng Nam Việt Nam vào 1 cuộc " Tổng nổi dậy ", cướp chính quyền. Do đó, khi chiến trường đã được quân đội VNCH giải toả, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đi theo quân đội mới thấy những xác chết cuả lính cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ đượïc rằng Quân Đội VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau 1 thời gian cộng sản chiếm đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương to lớn cuả chúng ở bên kia sông Thạch Hãn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà cộng sản đã phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu Thân ( 1968 ), chỉ kịp luà theo chúng hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chính quyền, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, đễ dẫn đi tàn sát, chôn sống tập thể theo kiểu Hitler giêât người Do Thái, Staline giết người Ba Lan, nhưng ghê tởm hơn, vì chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mã tấu, còn sống cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người 1 lúc.
Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần " Bỏ cuộc, chạy làng " cuả tay " Sen đầm quốc tế " khổng lồ, nhưng đã quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân vì nó chẳng có mặt trận, chiến tuyến nào rõ ràng để mình chủ động sử dụng " ưu thế hoả lực- Superiority of firepower " được cả, mà hậu phương thì rối loạn, nát bấy vì biểu tình, phản đối chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội cãi nhau như mổ bò về chuyện có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái " Tiền đồn chống công ở Á Châu " . Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18 năm về trước, đã dùng chiến thắng Điện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hoà Hội Geneva.
Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất đã từng đánh tan 2 Binh Đoàn Lưu Động ( Groupements mobililes ) cuả Pháp tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, bắt sống 2 Binh Đoàn Trưởng ( Commandants de Groupements mobiles ) : Đại Tá Le Page và Trung Tá Charton , đưa những Sư Đoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ bão theo lối " Chiến tranh quy ước – Conventional War" hẳn hoi. Hà Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lãnh thổ địa đầu cuả Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân cuả Sư Đoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17, dưới sự yểm trợ cuả pháo binh và hoả lực phòng không trang bị hoả tiễn điạ -không SAM-2 cuả Liên Sô, sau 3 ngày đêm đội những trận bão lưả Pháo Binh và Hoả Tiễn . Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH là Sư Đoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Đoàn 2 Bộ Binh nòng cốt là tương đối thiện chiến, còn hầu hết là tân binh, lính mới, và vị Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung Đoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng thì làm sao mà chịu cho nổi sức tiến quân cuả cộng sản ? Không hiểu sao Ông Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội dưới quyền của Ông lại giao nhiệm vụ trấn giữ cái tuyến đầu chống cộng sản Hà Nội theo kiểu kỳ lạ như thế này ! Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị quá dễ dàng, mở đường xuống Huế rồi sẽ phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực cuả Tỉnh và Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản còn nhắm vào những mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: Cuộc Hoà Đàm tại Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Định ngưng bắn chi cả.
Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 cuả Liên Sô dẫn đầu, Bộ Binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hoả tiễn 122 ly cuả Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi " Đại Lộ Kinh Hoàng " tràn xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy vì dân ở đây làm sao quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân - 1968 ! Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lãm,Tư Lệnh Quân Đoàn I- Quân Khu I (người được nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá: chỉ là 1 Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn loại trung bình, chớ không đủ khả năng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn trong giai đoạn địch quân tiến như vũ bão như thế này) hoảng hốt, không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Độc Lập ở Sài Gòn. Tuyến đầu bị phá vỡ thì địch quân sẽ thưà thắng xông lên dễ dàng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Còn phiá ta đã rút lui, tan vỡ bỏ chạy thì tinh thần quân đội và dân chúng rối loạn ra sao, ai cũng biết! Giới truyền thông ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đã đánh giá Quân Đội và các cấp chỉ huy cuả Quân Lực VNCH qua những Tướng Lãnh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, dân chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế cũng đồng thanh la lên " Tướng Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị thì bà con không có chạy đi đâu nưã cả! " Lòng dân tin tưởng mãnh liệt là thế !
Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khoá 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, gốc binh chủng " Thiên Thần Mũ Đỏ Nhẩy Dù ", nhưng lúc này đã mang lon 3 sao vì những chiến công ngoài mặt trận, và luôn luôn hoà đồng với các Sư Đoàn Bộ Binh dưới quyền nên Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến cuả Bộ Binh, thay vì quân phục Nhẩy Dù. Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng : Bộ áo không làm thành Thầy Tu , Tướng giỏi không cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được lòng kính phục cuả quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ Bị : Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến từ Sài Gòn bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đã thề trước ba quân " Sẽ chiếm lại thành phố Quảng Trị trước ngày Lễ Quân Lực 19 tháng 6 ( 1972 ) “ như thời Nhà Trần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đã cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Đằng mà thề trước Tướng Sĩ : " Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ thì ta sẽ không còn trông thấy con sông này nưã ! " Ôi, Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế này! Dưới quyền Tư Lệnh cuả Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng những Sư Đoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất cuả cộng sản Hà Nội, trước sự ngỡ ngàng cuả dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đã được chiếm lại. Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm 1953, Danh Tướng MacActhur cuả Hoa Kỳ đã phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc Hàn ra khỏi những vùng chiếm dóng trên lãnh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán chết trở ngược về phiá Bắc vĩ tuyến 38.
Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ cuả Ông đã bảo vệ được Huế, chiếm lại thành phố Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bưã nào.
Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội VNCH là như thế đấy! Tướng Lãnh cuả Quân Đội VNCH có những người như thế đó ! Tờ báo Time Tạp Chí cỡ lớn cuả Hoa Kỳ (tôi vẫn có trong tay hàng tuần ) có lần đã đăng những dòng cảm nghĩ cuả Đại Tướng 4 sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch" Bão Sa mạc – Desert storms" chinh phạt hung thần Saddam Hussein cuả xứ Iraq hồi đầu thập niên 1990, khi Saddam Hussein xâm lăng xứ dầu hỏa Kuweit, đại để như sau " Hồi còn chiến đấu ở Khe Sanh thuộc lãnh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà, với tư cách là 1 Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nhẩy Dù cuả Hoa Kỳ, tôi đã học được ở Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I VNCH rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chỉ huy cũng như tác chiến. Những kinh nghiệm đó đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả mấy chục năm sau, trong " Chiến thắng Bão Sa Mạc - Desert Storms' Victory ". Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói về Quân Đội VNCH ? Họ ngu dốt hay mang đầy ác ý trong đầu!
Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh Bình Long. Ở Hoà Hội Paris, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, UyÛ Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh cuả quân cộng sản tại Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi " Vũng lầy kinh khủng " này. Đại Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ, Bộ Trưởng Quốc Phòng cuả cộng sản đã tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội " Nhân dân Việt Nam đã đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc chiến thắng hoàn toàn - Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory over President Nixon…" Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 cuả cộng sản đã tràn ngập , làm chủ tình hình thị xả An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh thiện chiến, danh tiếng nhất , sau khi những trận bão lưả pháo binh đã quét dọn sạch sẽ, không để lại những gì có thể sống sót. Các chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH cùng 1 số đơn vị bạn còn lại cuả địa phương Bình Long đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngõ hẻm để có chỗ đứng hay nằm mà chiến đấu vì ngưng chiến đấu tức là chết. Mặt trận An Lộc làm rung động thế giới, làm rối loạn không khí hoà đàm tại Paris vốn đã nghiêng hẳn thế thuận lợi về phiá cộng sản. Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải thầt thủ kinh hoàng như Điện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đã dám đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài Gòn, đập tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao (Général de Division) Vanuxem cuả Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi , người đã từng giữ chức vụ " Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam - Tư lệnh Quân Khu tả Ngạn Sông Hồng Hà" thời kỳ Điện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam- 1954 - khi trả lời phỏng vấn cuả báo chí, truyền thanh, truyền hình, đã nói : Quân Đội VNCH không thể nào giữ nổi An-Lộc. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ (do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa bão suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu cuả Pháp cho đến nỗi Đại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh cuả Pháp tại chiến trường này quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư Đoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến cỏ, theo chiến thuật " Biển Người " cuả Thống Chế Lâm Bưu Nguyên Soái Hồng Quân Trung Quốc, tràn qua các bãi mìn, đạp nát các công sự phòng thủ, các hàng rào kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết cuả lính Pháp, Bắc Phi và cả cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ các đường hầm đã được máy móc, cơ giới cuả Trung Quốc đào bới ngày đêm trong lúc pháo binh hoả tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời . Chắc Tướng Vanuxem liên tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến ttrường Điện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu cuả Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phiá người Pháp. Tướng Vanuxem tin chắc là Quân Đội Việt nam Cộng Hoà không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội đã quyết dịnh biến An Lộc thành một thứ Điện Biên Phủ để giành thế chủ động trên bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Sô và Trung Quốc đứng sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải " nhắm mắt lại mà ký vào Hiệp Định Paris " như cộng sản đã bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954.
Thế mà, khi Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Động Quân và 1 số đơn vị Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời thì xe tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù lệnh cuả Hà Nội : phải giữ An Lộc đã chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn còn đó, không thất thủ như Điện Biên Phủ năm 1954. Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao cuả Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đã thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng bỗng dưng có được giờ phút vinh quang và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị cuả ông : đáp trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giưã tiếng hoan hô vang dậy không ngớt cuả cuả các chiến sĩ VN Cộng Hoà vưà tái chiếm An Lộc, trong khi tiếng đại bác cuả 2 bên, tiếng hoả tiễn 122 ly cuả Trung Cộng vẫn còn nổ vang quanh vùng, và An Lộc vẫn còn mù mịt, khét lẹt mùi lưả đạn. Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội VN Cộng Hoà là như thế đấy ! Và còn biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật . Một bài báo có hạn làm sao kể hết!
Năm 1975,Cộng sản đánh chiếm Ban MêThuột, cũng chẳng khác gì cộng sản đánh chiếm Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy thì khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Đoàn Bộ Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ chiến đấu, đó là chưa kể đến hoả lực yểm trợ cuả Hải Quân, Không Quân, lực lượng Tổng trừ Bị cuả Nhẩy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến đấu vì chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi.
Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cưả ngõ, địa đầu cuả nam Việt Nam như vậy để làm gì ?- Có nhận lệnh từ đâu không ? - Để tạo nên một sự tan rã, hỗn loạn cuả cả một lực lượng Quân Đội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống còn. Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập cuả hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Đô Sài Gòn. Trong tình thế đó thì Quân Khu 3 còn đánh đấm gì được nưã ? Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi gặp sự quyết chiến cuả Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường cuả một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân cuả Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Đoàn thiện chiến để hòng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Đoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy cuả vị Tướng Trẻ Lê Minh Đảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Đoàn nưã vào mặt trận này, là 4 Sư Đoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ đang lên.Vậy mà Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu thua khi không còn nguồn tiếp tế nào nưa,õ chỉ còn lại súng mà không có đạn. Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại sài Gòn, ngày 13 đã gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đã nói : “ Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam. kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính Việt Nam cộng Hòa này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều..”
Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam , một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Đoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, các đơn vị yểm trợ chiến đấu rất hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân Khu 4 cuả 2 Tướng này. Khi Tổng Thống… cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy bởi Sư Phụ Thích Trí Quang, cán bộ cộng sản từ hồi kháng chiến chống Pháp , và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt ( đã liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi 1956 ) hạ lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện ( để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng” , thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tuỳ nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu mình và bảo vệ vùng lãnh thổ trách nhiệm của chúng ta đã không thi hành được như anh em đã có thể biết...Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp (sẵn sàng chiến đấu ) đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế cuả mình, nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nhìn lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng , tượng trưng cho uy quyền cuả một Tướng Lãnh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc , với đồng bào, với chiến hữu cuả ông. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu “Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này… “ Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng ! Cho em chết theo với! Tất cả chúng ta và các con cùng chết với nhau! “ thì Tướng Hưng đã thuyết phục người vợ : Không được ! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi dậy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Đất Nước này ! Em phải sống dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ. Người vợ thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt : Em nghe lời mình với hai điều kiện : Nếu cộng sản bắt em phải xa lìa các con hay chúng làm nhục em thì em có quyền tự sát! Tướng Hưng bằng lòng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ Quan, Binh Sĩ đã có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch chiến đấu cứu mình, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào phòng riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của chồng. Tướng Hưng đóng cưả lại, và 1 phát súng nổ… Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất cuả Cha Ông ngày trước, cuả những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ vv… Hai Ông Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văm Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp cuả Quân Đội, cuả Quốc Gia, làm giầu bất chính trên xương máu cuả chiến sĩ như một số Tướng Lãnh hèn hạ khác. Quân đội của quốc gia nào có những Tướng Lãnh anh hùng và can đảm như thế hay không?
Một số Sĩ Quan cao cấp cuả Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư luận cũng coi mình như những kẻ khác không biết gì về cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến kỳ lạ này, về sau đã phải lên tiếng nói ra sự thật là : Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Đúng như thế!
Viết đến đây đã quá dài, quá dư thừa, nhưng tôi vẫn chưa thấy đủ khi nghĩ đến Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và những người chiến sĩ của ông trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho ông, Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người mà tôi luôn kính phục, đã từng gặp , đã từng biết ông khá nhiều, rồi chỉ thấy xa ông thực sự trong đêm 28 – 3 – 1975, ông buộc phải ôm hận trong lòng của 1 vị Danh Tướng, rời bỏ doanh trại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng, tới sân bay trực thăng Non Nước để cùng 1 số Sĩ Quan trong Bộ Tư Lệnh, trong đó có 1 Đại Tá, bạn thân của tôi từ hồi còn nhỏ, bay ra Hạm Đội 7 của Mỹ tại Thái Bình Dương. Nỗi hận phải ra đi với niềm uất ức không thể nói với ai, đã làm cho Ông buồn bã rồi ngất xỉu, khi đã đã tới an toàn trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm của người bạn Đồng Minh chỉ cứu được ông , nhưng đã bỏ lại đằng sau tất cả chiến sĩ, đồng đội và đồng bào của ông tại Nam Việt Nam cho quân bạo tàn cộng sản Hà Nội hành hạ bằng cảnh sống lẫn lộn với những cái chết kinh hoàng trong bao nhiêu trại tù cải tạo trên núi trên rừng, những cái chết thê thảm ngoài Biển Đông và biết bao nhiêu cách chết khổ nhục mà mai sau, may ra người ta mới có thể thấy hết được...
Chiến Dịch Thung Lũng Ia Drang là một biến cố đặc biệt đối với tôi vì nó đã giới thiệu cho tôi một vị chỉ huy trưỏng tác chiến sáng chói nhất mà tôi biết được.
Trung Tá Ngô Quang Trưởng là tham mưu trưởng của Tướng Dư Quốc Đống. Trông ông không giống như mẫu một nhà quân sự xuất chúng mà tôi thường hình dung: ông chỉ cao 5 feet 7, khoảng bốn chục tuổi, gầy nhom, lưng còng và một cái đầu quá to so với thân hình. Gương mặt ông co rúm và đăm chiêu, không đẹp trai tí nào, và miệng luôn ngậm một điếu thuốc lá. Tuy vậy ông rất được các sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp nể trọng - và các chỉ huy trưởng Bắc Việt nghe biết tiếng ông phải rất nể sợ. Mỗi khi có một cuộc hành quân cam go xảy đến, Tướng Đống đều giao quyền chỉ huy cho Trung Tá Trưởng.
Sư Đoàn Dù được lệnh ngăn chận các trung đoàn Bắc Việt bị đánh bại ở Thung Lũng Ia Drang đang lẩn trốn trở qua Cam Bốt. Tôi đang chập chờn ngủ sau một bữa ăn no nê đánh chén cà ri gà và rượu bia thì bị đánh thức phải đi ra phi trường. Trưởng đã tụ tập một lực lượng to tát khác thường với khoảng chừng 2000 binh sĩ Dù để đi tới Ia Drang sáng hôm sau, và đã chọn tôi làm cố vấn cho ông.
Chúng tôi được máy bay vận tải đưa tới sân bay vùng đất đỏ Đức Cơ, nơi tôi đã từng đồn trú trước đây, và từ đó trực thăng chở chúng tôi xuôi Nam xuống vùng thung lũng. Ngay khi chúng tôi nhảy xuống khỏi trực thăng, chúng tôi liền đụng độ giao tranh với địch. Thung lũng rộng khoảng 12 mile tại địa điểm Thung Lũng Ia Drang chảy theo hướng Tây về phiá Cam Bốt - và đâu đó trong vùng rừng già đó đại đơn vị địch quân đang di động lẩn trốn. Chúng tôi đã đáp xuống phiá Bắc, và Trưởng ra lệnh cho các tiểu đoàn băng qua sông Ia Drang và đóng chốt dọc theo rặng núi Chu Prong với những sườn núi cao chạy hướng về phiá Nam. Thật là hấp dẫn quan sát cách Trung Tá Trưởng hành quân. Đang khi chúng tôi lần bước, ông bỗng ngừng lại nghiên cứu bản đồ, và thỉnh thoảng ông lại chỉ ngón tay trên bản đồ và nói, "tôi muốn anh cho nã pháo vào đâỵ" Thoạt tiên tôi ngờ vực, nhưng vẫn cứ kêu gọi pháo binh bắn theo lời yêu cầu; khi chúng tôi tới vùng đó, chúng tôi thấy xác địch nằm ngổn ngang. Chỉ bằng cách hình dung địa thế và dựa vào 15 năm kinh nghiệm đánh giặc, ông chứng tỏ khả năng đặc biệt tiên đoán ý đồ địch.
Khi bộ chỉ huy lập trại đóng quân đêm đó, Trưởng mở bản đồ ra, châm một điếu thuốc, và phác họa kế hoạch chiến trận của mình. Khoản rừng giữa vị trí chúng tôi đang đóng quân tại các sườn núi và con sông, Trưởng giải thích, tạo nên một hành lang thiên nhiên - con đường Bắc Quân thể nào cũng chui đầu vào. Trưởng nói, "Tảng sáng, chúng ta sẽ phái một tiểu đoàn tới địa điểm này, về phiá trái, làm lực lượng nút chận giữa sườn núi và con sông. Vào khoảng 8 giờ sáng ngày mai, tiểu đoàn này sẽ đụng độ mạnh với địch quân. Tiếp đó tôi sẽ gửi một tiểu đoàn khác tới địa điểm này, về phiá phải. Tiểu đoàn này sẽ chạm địch vào khoảng 11 giờ. Tôi muốn anh ra lệnh pháo binh sẵn sàng nã vào vùng này, về phiá trước mặt chúng ta," Trưởng nói, "và rồi chúng ta sẽ tấn công với tiểu đoàn thứ ba và thứ tư của chúng ta đánh xuống mạn sông. Như vậy địch quân sẽ bị sa vào bẫy với lưng đối vào khúc sông."
Tôi chưa từng nghe thấy điều lạ lùng như vậy tại West Point. Tôi nghĩ bụng, "Cái gì mà 8 giờ rồi 11 giờ? Làm sao mà có thể hoạch định thời khóa biểu cho trận đánh như vậy được?" Nhưng tôi cũng nhận ra kế hoạch của Trưởng: Trưởng đã tái tạo chiến thuật Hannibal đã dùng vào năm 217 trước tây lịch, khi Hannibal bao vây và tiêu diệt các đơn vị viễn chinh La Mã tại bờ sông Trasimene.
Nhưng, Trưởng nói thêm, chúng ta có một điều khó xử: quân Dù Việt Nam được đưa vào chiến dịch này vì cấp trên lo ngại các lực lượng Mỹ khi đuổi theo địch quân có thể mạo hiểm tiến tới quá sát ranh giới Cam Bốt. Trưởng nói, "Theo bản đồ của anh, biên giới Căm Bốt nằm tại đây, 10 cây số về phiá Đông nếu so với bản đồ của tôị Để có thể thực hiện kế hoạch của tôi, phải dùng bản đồ của tôi thay vì của anh, nếu không chúng ta không tài nào đánh vòng sâu đủ để đặt lực lượng nút chận đầu tiên của chúng ta. Như vậy, Thiếu Tá Schwarzkopf, anh cố vấn sao đâỷ"
Viễn ảnh để địch quân chạy thoát trở lại khu an toàn, để rồi khi hồi phục lại sức, chúng lại tấn công trở lại khiến tôi sôi gan lên cũng giống mọi quân sĩ khác. Một số địch quân này đã đụng độ với tôi bốn tháng trước đây tại Đức Cơ; tôi không muốn phải giao tranh lại với chúng bốn tháng tới đây. Như vậy tội gì tôi phải cho là bản đồ của tôi chính xác hơn bản đồ của Trưởng cơ chứ?
"Tôi cố vấn chúng ta dùng lằn biên giới vạch theo bản đồ của Trung Tá."
Sau khi ban bố các lệnh tấn công, Trưởng ngồi nghiên cứu bản đồ với điếu thuốc lá trên môi. Chúng tôi duyệt đi duyệt lại kế hoạch thâu đêm, hình dung mọi diễn tiến của trận đánh. Khi trời hừng sáng, chúng tôi phái Tiểu Đoàn 3 tiến quân. Họ tới vị trí và, y như là, đúng 8 giờ sáng, họ gọi điện về báo cáo đụng địch mạnh. Trưởng phái Tiểu Đoàn 5 tiến về hướng phải. Vào 11 giờ, họ báo cáo chạm địch mạnh. Đúng như Trưởng tiên đoán, trong khu rừng phiá dưới chúng tôi, địch đụng đầu với Tiểu Đoàn 3 tại ven bờ và quyết định, "Tụi mình không thể thoát ngã này. Tụi mình sẽ lộn trở luị" Quyết định này trái nguyên tắc căn bản của thế tháo lui và lẩn tránh, tức là chọn con đường bất tiện nhất để giảm thiểu nguy cơ chạm trán với địch quân đang nằm chờ. Nếu chúng chọn leo rặng núi Chu Prong ra khỏi thung lũng thì có lẽ chúng thoát được nạn. Trái lại, chúng đã lần theo thung lũng, đúng như Trưởng tiên đoán, và do đó bị chúng tôi đóng vào hộp. Trưởng nhìn tôi và nói, "Hãy cho nã pháo của anh." Chúng tôi pháo nửa tiếng. Tiếp đó Trưởng ra lệnh hai tiểu đoàn còn lại đánh xuống sườn đồi; súng ống khai hỏa rất nhiều trong khi chúng tôi theo đoàn quân tiến xuống.
Vào khoảng 1 giờ trưa, Trưởng tuyên bố, "Ô-kê, chúng ta dừng chân tại đâỵ" Trưởng chọn một bãi quang xinh xắn, và chúng tôi ngồi xuống ăn trưa cùng với ban tham mưu! Đang ăn nửa chừng , Trưởng bỗng đặt bát đũa xuống và ra lệnh vào máy phát thanh. "Trung Tá làm gì vậỷ" tôi hỏi. Trưởng ra lệnh cho binh sĩ lục lạo chiến trường để thu lượm súng ống: "Chúng ta triệt hạ nhiều địch quân, những đứa thoát chết vứt bỏ lại súng ống khi tháo chạỵ"
Lạ nhỉ, Trưởng có nhìn thấy cái quái gì đâu! Mọi điều đều bị rừng cây che đậy. Nhưng chúng tôi ở nán lại bãi quang trọn ngày còn lại, và quân lính ôm về từng bó súng ống chất thành đống trước mặt chúng tôi. Tôi khoái quá - chúng ta đã gặt hái một chiến công hiển hách! Nhưng Trưởng thì lại ngồi yên, thản nhiên hút thuốc.
General H. Norman Schwarzkopf
It Doesn't Take A Hero (1992)
Thanh Vân
Tôi với chàng quen nhau thật tình cờ. Không ai nghĩ rằng chúng tôi có thể yêu nhau. Nếu mặt trăng mặt trời khác nhau làm sao thì tôi với chàng khác nhau như vậy. Tôi ham tranh đua, tôi thèm châm biếm ..., chàng thì hiền như cục đất. Trước khi chàng nói yêu tôi, tôi đã biết gần hết cuộc đời ái tình và sự nghiệp của chàng qua những bài viết xuất hiện đó đây trên các tạp chí Văn học tỵ nạn. Chàng tuy là dân trường Tây, người Bắc nhưng suốt đời chưa tán gái, vợ chàng dân tỉnh lẻ miền Trung, chàng gặp nàng, yêu nàng và thành vợ chồng. Sau đêm tân hôn để trở thành đàn ông thứ thiệt, chàng lấy bổn phận làm kim chỉ nam cho cuộc đời. Mà bổn phận của người đàn ông, theo chàng, là "sợ vợ", và đi làm đem hết tiền về cho vợ, mọi chuyện khác vợ lo. Rồi chàng có con, vậy là hướng đi của chàng còn rõ ràng hơn, không được nhìn người đàn bà nào khác ngoài vợ, vợ là "tình đầu", vợ là "tình cuối", vợ cười là lòng chàng vui, vợ nhăn mày là lòng chàng héo hắt... Mấy chục năm trôi qua, từ trong nước ra đến hải ngoại, cuộc đời chàng lặng lẽ an bình...
Vậy mà ma đưa lối, quỷ dẫn đường sao chàng lại gặp tôi và... đòi yêu tôi. Chắc cuộc đời của chàng sau mấy chục năm làm chồng êm đềm quá nên chàng thèm sóng gió. Nếu muốn yêu, muốn có người tình bé nhỏ để "dối già" thì thiếu gì những em gái hậu phương, hiền lành, ham tiền, ham danh vọng để chàng dấu diếm vợ đem đi xây lâu đài tình ái trong hóc kẹt nào. Rồi sau đó, trong những giờ chàng có quyền đi ra khỏi nhà, nói trắng ra, đi làm đem tiền về cho vợ tiêu, chàng có nơi có chốn cho tình cảm phiêu lưu và có cảm tưởng rằng mình là người hào hoa phong nhã, vợ sợ như thần, vẫn có "người tình nhí" như ai ... mặc dù sau những giờ phút đó lại trở về nhà đóng vai người chồng gương mẫu. Nhưng sao chàng lại chọn tôi, người tình không "nhí" cũng không "hiền" cho cuộc đời của chàng tan tác như lá mùa Thu ? Ui... có trời mới hiểu nổi. Lúc đầu, những lời tỏ tình ngây ngô của chàng làm tôi vui vui, tôi nghĩ chàng này người Bắc mà giả bộ vậy chứ đến tuổi của chàng thì còn yêu ai ... nhưng rồi ngày qua ngày ... cái "ngây ngô" của chàng đã làm cho con tim tôi rung động và tôi cũng trả lời những lá thư tình của chàng một cách đều đặn, bụng cứ nói thầm "A sợ vợ mà dám chơi trèo, ta sẽ cho nhà ngươi khốn khổ"... Mà mới nhìn qua thì cán cân chênh lệch quá nhiều, chàng hiền lành, tôi tai quái, chàng có vợ (mà lại sợ nữa chứ), tôi độc thân ... thấy rõ ràng chàng thua là cái chắc. Vậy mà nói cho chàng nghe, chàng "tỉnh bơ" trả lời "không sao, anh chịu được" ... Rứa là chàng... chết. Cuộc tình chênh lệch của chúng tôi cũng như mặt trận Quốc Cộng, mỗi ngày mỗi lan rộng.
Những tưởng rằng cuộc tình có lớn đến đâu rồi cũng sẽ tan mau như tuyết trắng trên núi Big Bear của miền Cali hai mùa nóng lạnh, vậy mà tình của chúng tôi đã qua hai mùa lá rụng vẫn chưa phai ... Ui, hai mùa Thu rồi chứ ít ỏi gì! Nó lạ lùng vì tôi là con người không yêu ai lâu hơn vài tháng và chàng thì mấy chục năm chỉ có một vợ hiền. Lá thư tình đầu tiên chàng viết cho tôi vào một đêm mùa Thu khi vợ chàng đi vắng, chàng ở nhà buồn buồn nhớ vợ nên viết cho tôi, chàng viết rằng đêm hôm trước chàng nằm mơ thấy tôi và chàng đi lang thang ngoài bãi biển nhưng rồi nhìn lại tôi đã biến mất, chàng bàng hoàng thương nhớ xót xa ... Đọc thơ chàng tôi cười muốn ngạt thở nhưng nghĩ lại chàng hiền lành nên lâu lâu nói dóc không sao. Tôi không nỡ viết thơ lại "móc họng" chàng, lần đầu tiên tôi biết "thương xót" đàn ông tỏ tình lạc điệu. Tôi nổi tiếng đanh đá mà ! Có một chàng cũng nổi tiếng "độc" hay làm thơ tình tặng tôi đã bị tôi "quay" như dế, tôi càng "quay" chàng càng "cay" và nhiều người đã ngạc nhiên không hiểu sao chàng này mồm thuộc loại ăn mắm ăn muối, chưa ai đụng tới đã nhảy đông đổng mà lại quá dịu dàng với tôi, họ đâu biết rằng chàng thuộc loại "ưa tìm thương đau", con tim càng nhỏ lệ, thơ chàng càng nồng nàn .… Mà tôi lại lạc đề rồi ... trở lại chuyện tình của tôi với người đàn ông sợ vợ. Tưởng tôi với chàng suốt đời đi song song, chàng sống mãi bên vợ hiền, lâu lâu thả hồn mơ mộng cho làm loạn phút giây, còn tôi mãi mãi độc hành với con tim bọc sắt không biết yêu. Vậy mà ... chúng tôi yêu nhau đã hai năm ... Hai năm dài như hai mươi năm mà cũng có thể ngắn như hai ngày. Tôi càng tai quái, chàng càng dịu dàng.
Những câu chuyện chúng tôi nói với nhau, người ngoài nghe được … sẽ cho rằng hai đứa tôi loạn trí. Chuyện không đầu không đuôi, tôi ủ ê xin chàng tấm hình hai vợ chồng chàng chụp chung, nói rằng để thấy chàng hạnh phúc tôi sẽ yên bụng và sẽ thương chàng hơn, tôi làm trận, tôi làm giặc và chàng anh dũng trả lời có sá chi ba chuyện lẻ tẻ, cuộc đời của chàng đã đi quá nữa, chàng yêu tôi hơn bản thân của chàng thì còn sợ gì mà không làm cho tôi vui lòng. Vậy là chàng gởi cho tôi hình hai vợ chồng chàng âu yếm bên nhau ... Nhận được hình buổi sáng, buổi trưa chàng hết làm việc ... Tôi rú lên rằng xin vĩnh biệt chàng, chàng hạnh phúc quá mà, vợ chàng không đẹp, không đáng cho tôi ghen ... Rồi máu ghen nổi lên, tôi chê bai, tôi mai mĩa. Chàng mệt nhoài im lặng chịu trận cái điên của tôi, không một lời chê vợ cho tôi vừa lòng, cũng không nịnh tôi chữ nào cho tôi mát ruột! Chàng cứ im và tôi cứ gây ... để rồi sau cùng tôi cười xòa xin lỗi chàng nhìn nhận rằng tôi ghen, vợ chàng đẹp tôi cũng ghen, không đẹp tôi cũng ghen ... vậy thì tốt nhất là chàng nên quên hết những lời tôi đã nói. Chúng tôi lại tiếp tục tâm sự với nhau, chúng tôi kể cho nhau nghe những giấc mơ vô tưởng nhưng chưa một lần chàng nói gì về việc sẽ rời xa vợ hiền, chàng chỉ nói rằng chàng sẽ yêu tôi suốt cuộc đời còn lại của chàng, chàng mơ một ngày nào đó tôi sẽ ngồi bên chàng hát cho chàng nghe, cười cho chàng vui ... Chàng đã quên cơn điên ồn ào mà chàng than rằng đã làm cho ruột gan chàng bào bọt. Dù chàng vẽ ra một cuộc sống chung thật êm đềm thơ mộng, những buổi chiều mùa Đông hai đứa cầm tay nhau đi dọc theo bờ sông Seine nhìn mưa rơi, ăn trái châtaigne rang nóng bỏng của anh chàng Rệp đầu đường Rivoli, hay những buổi tối tôi ngồi đàn cho chàng nghe, không bao giờ chàng cho biết chàng sẽ cất vợ chàng nơi nào để có thể thực hiện những mơ ước đó với tôi.
Những khi tôi làm bộ nhu mì hỏi thăm về đời sống gia đình của chàng thì chàng hớn hở kể cho tôi nghe lại những câu chuyện giữa hai vợ chồng chàng, những dự tính tương lai cho nhà cửa, con cái ... để rồi sau đó chàng lặng ngắt nghe tôi ray rứt kêu chàng là Sở Khanh, nói yêu tôi, đòi chung sống với tôi mà vẫn mê vợ nồng nàn. Tôi bù lu bù loa nói rằng may mà chàng chưa cầm tay tôi, chưa vuốt tóc tôi chứ không thì tôi nhục mà chết ... Ôi, không biết chàng mắc nợ tôi kiếp nào mà kiếp này vài ngày lại trả nợ, tôi cười, chàng hớn hở cười theo, ba hoa kể chuyện tương lai, ngậm ngùi kể lại sự nhớ nhung khi hai đứa xa nhau không liên lạc được hàng ngày, tôi gây, chàng nín lặng, tôi la hét, chàng dịu dàng nói rằng tôi đang điên chàng không chấp. Cuộc tình cứ thế mà trôi qua theo ngày tháng. Một năm chàng đi du lịch với vợ chừng năm lần ... Đi xa hay đi gần chúng tôi vẫn tìm cách liên lạc được với nhau. Những lần điện thoại bị cắt ngang vì vợ chàng thình lình xuất hiện sau lưng, chàng ú ớ thanh minh rồi nhét máy vào túi để cho tôi điên lên vì tự ái rồi sau đó chàng lại kiếm một hóc kẹt nào để tỉ tê năn nỉ cho lòng tôi dịu xuống, cho tim tôi tan thành nước ... Những ngày chàng lênh đênh trên mặt biển không nói chuyện được với nhau, hai đứa tôi đều cùng như bị bệnh ..., như người nghiện ma túy, mỗi ngày chúng tôi cần tâm sự với nhau vài câu, thiếu tiếng nhau như người nghiền thiếu thuốc, cả hai, khi gặp lại, đều tả cho nhau nghe sự nhớ nhung của mình và đều thấy rằng chúng tôi cùng có một triệu chứng và ... cơn đau nổi lên cùng một thời... Chàng hay cười nói với tôi là không bao giờ tôi xa chàng được nữa, sự cảm thông giữa hai chúng tôi quá nặng, cái "Télépathie" quá rõ ràng, chàng buồn tôi sẽ buồn hơn, chàng buồn quá chết đi thì tôi sẽ "ngáp ngáp" theo mà thôi! Tôi thường nỉ non than vắn thở dài với chàng rằng tôi yêu chàng vì chàng trung hậu, có lòng, bao nhiêu người theo tôi mà tôi dửng dưng đùa giỡn vì họ không có lòng như chàng nhưng cũng chính cái "trung hậu" của chàng làm cho chúng tôi xa nhau mãi mãi ... Tôi dịu dàng than thở, chàng khổ sở an ủi tôi, tôi nổi cáu, nổi ghen dọa sẽ có bồ như chàng có vợ, như vậy tôi với chàng đều tội lỗi như nhau chàng sẽ khỏi nghe tôi chì chiết, chàng hét lên chàng chịu được tánh khí bất thường của tôi vì đó là cái giá chàng phải trả ... Chàng ngây thơ nhưng ngoan cố cứ than tôi khó tính chứ vào địa vị một người nào khác mà được chàng thương yêu như vậy sẽ quá hài lòng mà an hưởng mối tình của chàng. Chàng cứ xuýt xoa rằng sao hai chúng tôi hạp nhau thế này (chắc ý chàng muốn nói "Les extrêmes s’attirent, chàng dân học trường Tây mà, suy nghĩ như Tây, hành động như ông đồ nho sợ vợ!) mà ngày chàng còn độc thân không cho chàng gặp, phải được vậy cuộc đời sẽ đẹp biết bao. Rồi chàng nói đến sự bất công của ông Trời và tiếp tục thở vắn than dài. Ui, ui sao chàng không nói rõ ra rằng ngày đó chàng đã quá tuổi lập gia đình và tôi thì còn mặc quần xà lỏn chơi cò cò với mấy con bạn cùng xóm ? Mà cũng không hiểu tôi với chàng hạp nhau cái gì? Tôi ồn ào, chàng lặng lẽ, tôi thèm gây chiến, chàng thích nhịn thua, chàng thật thà, tôi tai quái ... Vậy mà tôi không làm sao quên chàng được.
Biết bao nhiêu lần tôi kể cho chàng nghe tôi đã cố gắng quên chàng, tôi đi tìm quên trong những nơi ồn ào náo nhiệt, tôi uống thuốc an thần cho giấc ngủ đến thật nhanh ... vậy mà tôi có quên chàng được đâu. Chàng cũng nói với tôi rằng chàng đã tìm cách xa tôi nhiều bận, tôi ám ảnh chàng mọi giờ, mọi phút trong ngày ... thôi thì không xa nhau được, cũng chẳng làm hại ai sao chúng tôi không yêu nhau hơn vì tuổi chàng đã lớn không còn sống được bao lâu. Bàn tới bàn lui rồi chàng vẫn khuyên tôi nên yêu chàng nhiều hơn nữa! Tôi hỏi chàng ngày xưa chàng có yêu vợ nhiều bằng ngày hôm nay chàng yêu tôi hay không, chàng hóm hỉnh trả lời, ngày xưa chàng yêu vợ nhưng không gởi hôn cho gió gởi tình cho mây ... Tôi nói chàng giải thích, chàng nói ngay "thông minh nói ít hiểu nhiều"! Chàng vẫn cho tôi là thông minh, tôi vẫn cho chàng là láu cá vì chúng tôi ít khi nói hết câu với nhau, đứa nào cũng chỉ bắt đầu câu nói là đứa kia đã hiểu trọn câu ngọn ngành. Chúng tôi cứ đùa là nếu ở chung với nhau chắc sẽ chẳng cần nói chuyện, nhìn nhau đã biết người kia muốn gì ... Vì vậy, tôi đề nghị ... nên xa nhau mãi mãi, cho tình đẹp, cho nghĩa bền, cho chàng được tiếng là người chồng tốt. Tôi vẫn tự cho mình khôn ngoan và chàng cù lần, chàng tán không ồn ào nhưng dai dẳng, tôi đùng đùng la hét để rồi ỉu xìu chấp nhận mình thua. Chàng thường ngạo tôi "khôn ngoan không qua tình ái" mê nhau rồi ... đầu óc bỏ đi. Tôi trả lời, tui không mê chàng, tui đùa chơi cho chàng tưởng bở, chàng trả lời đùa làm chi cho mất ngủ, cho ủ ê, cho chàng cảm thấy được yêu thứ thiệt ... Ui chao ơi, con cóc đã mở miệng nên tôi đành dùng độc kế, tôi hét lên rằng từ đêm tân hôn với vợ chàng không còn trong sạch để nói chuyện yêu thương, tôi yêu chàng vì tôi yêu tôi, tôi nói chuyện với chàng không cần gìn giữ, không thèm làm dáng, tui nói như nói với chính tôi. Chàng cười lớn "vậy thì hai đứa mình là một rồi em ơi!" ... tôi thở dài than thở, lấy vợ gần bốn mươi năm rồi chàng còn gì cho tôi nữa đâu, chàng trả lời còn nguyên, còn vẹn, sông cạn rồi sông đầy ... Đúng là tôi khôn cho lắm cuối cùng cũng thua, chỉ còn vớt vát chê chàng là Bắc kỳ lẻo mép.
Vậy mà hai năm đã qua từ lá thư tình đầu tiên chàng viết cho tôi một đêm vợ chàng đi vắng. Giờ đây tôi có cả ngàn lá thư tình của chàng, tôi nhìn mà không dám đọc lại sợ tim mình thổn thức, sợ hồn mình bâng khuâng. Thơ đầu tiên của chàng làm tôi cười đến ngạt thở, thơ mới viết của chàng làm tim tôi nhói buốt vì nhớ nhung.
Bây giờ đang mùa Thu, nắng Cali dịu dàng, hoa tường vi đủ màu đủ sắc nở khắp đường phố. Tôi với chàng vẫn hạnh phúc ủ ê trong cuộc tình đến muộn. Sau giờ làm việc chàng lại về nhà đóng vai người chồng yêu vợ thương con, tôi vùi đầu tìm quên cái "khùng" của mình trong sự chờ đợi điện thoại của chàng. Mỗi ngày nghe chàng cười chừng mươi lần, nhớ chàng ray rứt ngày đêm, con người ngổ ngáo của tôi đã bay đi chốn nào không hẹn ngày trở lại. Tôi mơ một chuyến đi xa, biệt tăm biệt tích ... nhưng tiếng cười của chàng làm cho tiếng đập con tim của tôi nhẹ lại, không nghe tiếng chàng tôi sẽ bị bể tim ra mà chết! Cứ lý luận vậy, biết ngày nào tôi xa được chàng ?
Hai năm đã qua mà mối tình vẫn không có lối thoát, tôi với chàng sắp xa nhau hai tháng. Chàng đi Tây với vợ, tôi đi Tàu một mình. Chưa đi Tàu tôi đã khoe chữ nho với chàng, tôi than "Tri giao quái ngã sầu đa mộng", bạn bè ngạc nhiên sao tôi cứ mơ mộng cho nhiều rồi buồn bã, chàng trả lời ngay "Thiên hạ hà nhân bất mộng trung" (thử hỏi trong đời có ai là người không ở trong mơ) ... Vậy mà tôi dại dột dám nghĩ chàng cù lần, chậm lụt nên nhảy vào cùng chàng ca khúc yêu đương! Hai tháng xa nhau ít dịp liên lạc, ra khỏi nước Mỹ mỗi đứa mỗi nơi, trời đất bao la, điện thoại nhiều nơi không có, tôi có quên được chàng hay không ? Chàng có vẻ tự tin nhưng cũng dặn hờ tôi đừng nghe lới Tàu cộng, trong đời không có người nào yêu tôi bằng chàng, cứ yên tâm yêu chàng hết mình rồi một ngày kia chàng sẽ thuộc về tôi, tôi mỉm cười muốn trả lời chàng rằng ngày xưa khi rời xứ Huế bước chân ra đi, mẹ tôi có dặn dò đừng bao giờ tin lời trai già dụ dổ ... Nhưng rồi tôi nhớ đến tiếng cười của chàng mổi ngày cho con tim tôi nhẹ nhàng bay bổng nên chỉ viết cho chàng mấy câu thơ của một tác giả tôi không nhớ tên:
Anh ơi,
Khi chiếc lá xa cành
Lá không còn màu xanh
Mà sao em xa anh
Tình vẫn xanh vời vợi ...
Huân Chương OAM 2007
Nhân dịp Quốc Khánh Australia 2007 ,một Người Úc gốc Việt đã được tưởng thưởng Huân chương OAM của Chính phủ Úc ,đó là Anh Nguyễn văn Thuất Trưởng Hướng Đạo ở Sydney .Cần được biết thêm anh Nguyễn văn Thuất là Người Thường xuyên Tổ chức Ngày Tết Nhi Đồng hàng năm nhân dịp lễ Trung Thu .Ngoài các em thiếu nhi ,nhi đồng VN còn có các thiếu nhi ,nhi đồng của các nước khác định cư ở Sydney.tham dự còn gọi là Moon Festival
anh Nguyễn văn Thuất cũng là Cựu Học sinh Hồ ngọc Cẩn thập niên 50 . Hiện anh đang định cư ở Padstow Sydney
Last edited by Nguyễn_Sydney on Thu Feb 01, 2007 9:47 pm, edited 1 time in total.
Lily, nữ ca sĩ Canada với những ca khúc tiếng Việt
2007.01.28
Thy Nga, phóng viên đài RFA
Quý vị đang nghe âm thanh thâu từ buổi tiệc gây quỹ “Hoa Tình thương” vào đêm 20 tháng Giêng vừa qua tại vùng ngoại vi Washington. Đây là một trong những sinh hoạt của kế hoạch “Hãy cùng lăn bánh bên tôi” do bạn trẻ Đinh thị Kim Phượng tiến hành lâu nay để quyên tiền mua xe lăn cho những người ở Việt Nam cần tới phương tiện di chuyển này trong cuộc sống
Góp giọng trong công tác từ thiện này, có các ca sĩ Lily, Diễm Liên và Mạnh Quỳnh.
Đã một năm rưỡi từ khi Thy Nga tường trình cùng quý thính giả về Lily, cô ca sĩ người Canada 100% nhưng hát tiếng Việt ba miền, còn hò Huế và ca Cải lương nữa.
Lily sang vùng thủ đô Hoa Kỳ trình diễn lần này, có “ông xã” Quang Duy tháp tùng. Anh Duy chính là người đã hỗ trợ Lily vào con đường ca hát tiếng Việt, tập cho cô phát âm đúng giọng. Gặp Lily, Thy Nga hỏi thăm xem dạo này, cô sinh hoạt ca hát thế nào?
Lily: Dạ, Lily đi hát nhiều lắm, hầu như mỗi cuối tuần cho cộng đồng Việt Nam (ở Canada) và những dịp lễ tết, hay là những buổi gây quỹ do các hội đoàn mời rất nhiều.
Thy Nga: Lily nói tiếng Việt khá và dễ thương lắm, như quý vị nghe đấy. Thế Lily phát hành được thêm mấy CD sau 2 cuốn hồi trước?
Lily: Lily phát hành thêm 3 CD. Cái Volume số 3 là “Tóc mây” gồm có các bài nhạc trẻ.
Volume số 4 “Cắt cỏ” có những bài quê hương và một bài 6 câu Vọng cổ. Và số 5 là Volume “Ai ra xứ Huế” gồm có những bài ca miền Trung. “Tóc mây” của Phạm Thế Mỹ …
Quý vị vừa nghe Lily trong ca khúc “Tóc mây”. Tuy chuyên chú trình bày những ca khúc mang âm điệu dân tộc Việt Nam nhưng hát nhạc trữ tình cũng hay quá, quý vị nhỉ.
Ca sĩ Lily, người Canada, hát nhạc Việt.
“Mùa Thu Hà Nội” …
Lily đang gửi đến quý vị bài “Mùa Thu Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Thy ở San Diego, lần đầu tiên được trình bày.
Thy Nga: Trước nay, chỉ nghe Lily hát nhạc dân tộc, bây giờ được nghe Lily hát nhạc trữ tình, nhạc trẻ cũng rất hay. Lily có hiểu ý nghĩa của các bài hát không?
Lily: Dạ, Lily hiểu hết. Lily chọn bài hát nào mà mình ưa thích, rồi anh Duy cũng giúp Lily chép lại lời bài hát. Những chữ nào mà Lily không hiểu thì lấy tự điển để tìm hiểu cái ý nghĩa.
Thy Nga: Mấy cái CD của Lily, ngoài Canada thì đã đưa qua những nước nào?
Lily: Lily đã gửi đi qua Úc, Ý, Pháp, Ba Lan, Mỹ, và dĩ nhiên ở Canada.
Thy Nga: Lily có lên TV của người Việt không?
Lily: Dạ có, Lily lên đài truyền hình của người Việt ở Montréal, hai lần rồi.
Thy Nga: Mối duyên tình giữa chàng trai người Việt với cô gái Canada này đã cho ra đời 1 bé gái và 2 bé trai.
Thy Nga: Được biết là anh Duy đã đưa Lily và các con về thăm quê ở vùng Đà Nẵng. Lily lấy chồng Việt Nam và sinh hoạt nhiều với người Việt nhưng lần đầu tiên đến Việt Nam, cảm tưởng của Lily như thế nào?
Xem video Lily và Quang Duy trình bày bài "Cắt Cỏ". Courtesy Lily Productions
Lily: Lần đầu tiên về Việt Nam là 4 năm về trước. Cảm giác của Lily như là đã thành một mơ ước lớn trong cuộc đời.
Lily còn nhớ cái lúc mà máy bay hạ cánh xuống Saigon, Lily nhìn xuống, thấy cảnh đẹp Việt Nam. Lily không giữ được nước mắt, Lily rất là xúc động. Đến lúc đó, Lily cũng chưa tin được là thành cái mơ ước lớn đó.
Vài ngày sau, mình về thành phố Đà Nẵng để thăm gia đình. Lúc đó, ai cũng vui cũng cười, chỉ có Lily khóc thôi. Rất cảm động được gặp gia đình nhà chồng.
Thy Nga: Thy Nga có coi cuốn DVD “Cắt cỏ” thấy anh Duy với Lily đóng tuồng cũng hay. Cái vở đó là do anh Duy đạo diễn phải không?
Quang Duy và Lily (cười): Dạ
Thy Nga: Còn phong cảnh là phong cảnh vùng quê anh?
Quang Duy: Dạ đúng rồi, tất cả những phong cảnh đó là gần nhà của em, đâu khoảng 20 phút. Chung quanh thành phố Đà Nẵng là vùng thôn quê rất đẹp.
Lily: Lily vui mừng được có cơ hội quay những vidéo clip này ở Việt Nam, và Lily rất hãnh diện được làm dâu của nước Việt Nam.
Thy Nga: Chắc là lần đầu tiên, Lily nhìn thấy con trâu nó như thế nào phải không? Lily: Ô, Lily rất vui nhưng mà anh Duy không để cho Lily tới gần, sợ nó húc.
Thy Nga: chứ không phải là cô bẻ gẫy sừng trâu như trong bài hát? Với lại, chắc là lần đầu, Lily thấy đồng ruộng Việt Nam như thế nào.
Lily: Ô! lúc đó, Lily cũng giống như con nít, thấy cái gì cũng hỏi, và nói đủ thứ.
Quang Duy: Cái ngày đầu tiên mà tụi em về Việt Nam, em dẫn mấy con đi vòng vòng, ăn nhà hàng. Con gái và hai đứa con trai em còn quá nhỏ. Đang khi ăn thì có những trẻ mồ côi đi ăn xin. Nó chờ mình ăn xong thì chạy vô ăn thức ăn thừa của mình. Ba đứa con em thấy như vậy, nó ăn không được mà chỉ biết nhìn mấy đứa trẻ đó rồi khóc thôi.
Từ đó, những hoàn cảnh thương tâm đó nhập tâm tụi em, thì em có tìm ra cái bài hát tựa đề là “Nhớ Mẹ, Lý mồ côi” nên em đã nhờ các anh em trong đài Truyền hình Đà Nẵng giúp em quay vidéo clip này.
Trung tâm Lily Productions bán được bao nhiêu tiền lời thì chúng em sẽ cho hết vào cái quỹ từ thiện cho trẻ mồ côi Việt Nam. Một số thì giúp cho các em gái bị bán làm nô lệ tình dục bên Campuchia.
Thy Nga: Xem cuốn DVD ấy, tôi thấy cả gia đình có máu văn nghệ. Anh tập làm sao mà Lily hát tiếng Việt, các cháu cũng hát được tiếng Việt.
Xin chúc anh thành công trong mọi việc cũng như trong công tác thiện nguyện, và Lily tiến mãi trên con đường đem tiếng hát đặc biệt của mình đến với người Việt các nơi.
Ca khúc “Qua cơn mê” kết thúc chương trình về tiếng hát Lily. Thân ái chào tạm biệt quý thính giả.
“Qua cơn mê” Trịnh Lâm Ngân phổ nhạc ...
Quang Duy có nhã ý tặng thính giả của Đài đoạn vidéo bài “Cắt cỏ” do anh cùng hát với Lily. Cuốn DVD đầu tay này của Lily Productions, dự định phát hành vào mùa Hè, tức là quý vị được xem trước đấy.
Thay mặt thính giả của Đài, xin cám ơn anh Quang Duy
Trần Khải Thanh Thuỷ
Tháng 1/1997, tôi ra khỏi báo Văn hoá - Văn nghệ của ngành công an, buồn như chấu cắn. Đau đáu trước thế thái nhân tình, tôi đã phải dùng thơ để giải toả níu kéo tâm trạng mình.
Chẳng buồn không đâu ta còn đau
Nỗi đau thế thái nỗi xưa sau
Đời ta bao lúc trôi lại trượt
Ngán ngẩm than van chán mớ đời
Bốn năm học đại học sư phạm, bị dẫn dắt đưa đẩy bởi bàn tay bí ẩn và tuỳ hứng của con tạo, ngồi nhầm chỗ, luôn chết dí qua các kỳ thi, dù thức đêm đến gầy mặt tóp thân, vẫn không qua nổi kỳ tốt nghiệp cuối cùng, tôi đành phải nghỉ ở nhà chờ năm sau thi lại.
Khó khăn khốn khổ lắm tôi mới ra được trường nhờ sự trục vớt của cô chú (vốn là giáo viên dạy hai bộ môn di truyền và chăn nuôi của khoa), thế mà lại thất nghiệp, hết chứa chan hy vọng ở cửa này lại ngửa cổ "chán chưa hở giời" ở cửa khác!
Thời gian như người buộc xích lôi đi, loáng một cái lệ phí cho việc chờ đợi hy vọng đã trôi vèo 4 năm, đành đêm khuya thân gái dặm trường, lặng lẽ cúi đầu trong tiếng nấc, trên dặm đường thăm thẳm những buồn thương.
Sau ba năm theo tiếng gọi của Đảng lên rừng "khai sáng" cho đồng bào dân tộc, nhờ vả, đút lót trầy trật mãi tôi mới kê được chỗ đứng ở cửa ngõ thủ đô, cách Hà Nội 22 km. Năm năm trời ăn cơm rau, vật nhau với trẻ, hai lá phổi đầy bụi phấn và dạ dày toàn rau, cháo. Đến năm 1993 mới có mệnh trời, tôi được về làm việc tại báo "Cựu chiến binh". Trưởng ban phụ trách trang văn nghệ tròn mắt: mày học khoa sinh thật à? Giời ơi, tao cứ đinh ninh rằng mày tốt nghiệp khoa văn nên mới đồng ý nhận vào, rõ bỏ mẹ chưa?
Dân đen như cá nằm trên thớt
Thân rùa bao đời phận đá đeo
Mệnh trời suy cho cùng là tổng hoà của mọi mối quan hệ tốt đẹp thuận lợi ở đời cùng một lúc kéo đến để bổ sung tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Lạy giời, chỉ cần 9 điều thuận, một điều chống (ngài trưởng ban biết học về tự nhiên, chẳng dính dáng đến phân viện báo chí hay văn nghệ văn nghẽo gì thì thôi rồi mình ơi, có gào khản cổ, trời chẳng xót thương).
Được ba năm yên ổn gắn bó với nghề lại xảy ra chuyện tôi dẫn ngài luật sư Emol Zumone và phái đoàn của Mỹ đến thăm các gia đình nhiễm chất độc da cam trong lúc quan hệ giữa hai nước chưa được bình thường hoá, thế là tôi bị chụp cho cái mũ to tổ bố như thằng hề giữa vũ đài chính trị. Nào lập trường quan điểm yếu, chạy theo vấn đề POW-MIA, không đồng nhất mình với Đảng v.v và v.v
Bị luận tội đấu tố như dân đen đấu tố địa chủ, tôi đành phải vùng lên bằng kiếp nô lệ ở xứ An Nam, lại đầu quân sang người cao tuổi. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, đã đứt ruột còn đứt ruột hơn, như thể toàn tìm những nẻo đoạn trường mà đi vậy. Sáu tháng làm không công thử thách (?), khi ký hợp đồng lại chỉ là ngắn hạn với giá 120.000 đồng một tháng, giật lùi so với báo cũ 4 lần. Tôi làm việc hệt nhân viên tạp dịch. Thế là đành thoát hiểm bằng cách xoá ván đánh lại từ đầu, sau khi đã đi một nước cờ chiếu tướng, hết cờ, tôi ôm toàn bộ số tiền quảng cáo (4 triệu) bù vào sáu tháng không công. Thôi thì ở đời nhân nào quả vậy, người ta mưu ma, thì mình phải dùng chước quỷ đáp lễ.
Tháng 10/1997 tôi được gọi về Văn hoá - Văn nghệ của công an, nhưng chưa đầy 7 tháng lại ngã ngựa, như thể tít trên cao xanh ông trời giăng bẫy sẵn hại người vậy! Nào có gì to tát bất ổn đâu? Toàn chuyện giời ơi đất hỡi mà tôi bỗng dưng bị nghỉ việc, thật là oan này còn một kêu trời nhưng xa.
Giữa lúc cõi lòng bấn loạn và đầy nghịch cảnh ấy tôi làm "Bài thơ gửi Nguyễn Du", tưởng nhớ bao chứa chất trong tâm trạng ông từ ngày dẫn đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc, gặp miếu thờ Khuất Nguyên. Với sự tích ngày 5/5 - bà con thả hoa trắng khắp mặt sông La Mịch để chiêu hồn Khuất Nguyên, những lời thơ ông viết trong phản chiêu hồn, đã khiến tôi dễ dàng thể hiện lại xúc cảm của mình:
Khuất núi lâu rồi Nguyễn Du ơi
Hôm nay tôi lại đến bên người
Để "phản" hồn ông về chốn cũ
Bên dòng La Mịch với Khuất Nguyên
Đời nay bất hạnh vẫn như xưa
Dẫu ba thế kỷ đã trôi vèo
Ba trăm năm chẵn trong trời đất
Thiên hạ bao người vẫn khóc ông.
Đời như sông nước ngày khô khát
Cá lớn cậy mình nuốt cá con
Dân đen như cá nằm trên thớt
Thân rùa bao đời phận đá đeo
Vẫn kiếp phong trần lắm gieo neo
Vẫn quân ưng khuyển lũ hôi tanh
Cùng loài hổ báo giơ nanh vuốt
Và phường gian ác hại dân lành
Bỏ lại cõi trần lắm bon chen
Hồn ông yên nghỉ mãi muôn đời
Nơi ấy suối vàng lạnh tê tái
Còn hơn chán vạn cõi trần ai...
Bao lần rút ra khỏi máy in, chẳng biên tập viên nào dại dột dùng cả, tôi đành nhét vào tận đáy ký ức. Sau tám năm trời ròng rã, như một định mệnh trớ trêu, bài thơ lù lù xuất hiện trên báo Người Hà Nội, không biết là sự tình cờ ngẫu nhiên, hay sự thật tự tìm được đường đi của mình? Thật tình, khi soạn thảo văn bản tài liệu để rút bài ra gửi các báo, máy đã vô tình in cả bài ấy theo, khi bài được in ra, gây xôn xao dư luận. Tôi vẫn ngỡ ngàng như thể có bàn tay bí mật nào kéo nó ra khỏi vi tính và đặt lên trang báo chứ không phải là mình vì hoàn toàn không có chủ đích, khi mà theo đuổi chủ động hàng năm trời không một chút mảy may hy vọng, bây giờ nguội lạnh lòng nhiệt tình, ai nghĩ sẽ lôi nó ra làm gì. Ai ngờ nó lẳng lặng xuất hiện, chờ đúng thời điểm lính gác gục ngủ say mà lẻn vào trèo lên trang báo.
Khỏi phải nói sự ầm ĩ, ù xoẹ như thế nào, khi tất cả số báo bị tịch thu trắng. Nhà thơ nghiệp dư Đỗ Đức Tân gọi điện thoại nhờ con chạy khắp Hà Nội chỉ tìm được ba tờ. Nhà sử học Bùi Thiết nhanh tay nhặt được 2 tờ. Cả toà soạn chỉ còn một tờ duy nhất do thư ký toà soạn tranh thủ giấu được. Từ thư viện của Hội văn nghệ Hà Nội, thư viện các tỉnh hay thư viện quốc gia đều bị ăn trộm không còn một tờ, thậm chí muốn photocopy cũng không còn. Từ Hà Nội vào Hà Tĩnh quê hương ông, tờ báo qua tay nhiều người, cũ hơn cả đống báo cũ trong quang gánh của bà đồng nát được bán với giá cắt cổ: 15.000 đồng/tờ. Bản thân tôi thì không dưới 5 lần đi photocopy, mỗi lần 10 bản để tặng lại bạn bè theo yêu cầu của họ, chưa kể từ những bản photocopy ấy lại được nhân bản thêm nhiều lần cho bạn bè người quen - vốn nghe nói về bài thơ mà muốn đọc lại, vừa thoả mãn sự tò mò, vừa để khắc cốt ghi xương.
Lên tận cổng công đình thưa kiện
Nhà thơ Nguyễn thị M. bảo, tôi thật là to gan, lớn mật, dám đánh trống lên tận thiên đình chửi lút mặt cả lũ bất tài vô dụng, dù trước đã đọc ở dạng bản thảo nhưng khi đọc lại trên báo vẫn gai cả người. Chủ nhiệm câu lạc bộ thơ "Hương ngoại ô" lên tiếng, một bài thơ đánh đổ cả tập của bao người. Bác Nguyễn Khoa Điềm tức tốc triệu tập cuộc họp ở thành uỷ Hà Nội và Ban tư tưởng văn hoá trung ương khắp 61 tỉnh thành cả nước, lên án bài thơ là một sự phủ nhận trắng trợn cả kinh tế văn hoá lẫn chính trị xã hội, chỉ còn thiếu mức quy tội chống đảng, phản động cho tác giả.
Hai cán bộ công an đến nhà.
- Xin chị, đừng dại dột làm cây nêu, cột cờ, thời này chưa phải tự do dân chủ như chị nghĩ đâu.
Tôi cười, thầm thương cho thân phận con sâu, cái kiến của cánh văn nô, báo nô trong ngôi nhà quái đản bưng bít có tên là xã hội chủ nghĩa.
- Tôi chẳng làm cây nêu, cũng chẳng làm được cột cờ, vì lá cờ bây giờ đã có người cầm rồi, làm cột để làm gì, tôi chỉ có ưu điểm là dám vượt qua hàng rào phẩm cách - hàng rào mà tất cả các nhà văn, nhà báo đương thời không dám vượt, đơn giản vì tôi là nhà báo tự do, là người dám coi mình là thư ký trung thành của thời đại.
Nắm thằng mọc tóc, ai nắm kẻ trọc đầu, biết rõ chẳng làm gì được họ vẫn vặn vẹo:
-Dù sao chị cũng phải chịu trách nhiệm về bài viết của mình.
-Tác phẩm rời tôi như con thuyền rời bến, nó đến được bến xanh trong, trở thành sản phẩm tinh thần của công chúng, hay bị mắc kẹt nơi bùn lầy nước đọng chỗ các anh làm sao tôi biết được, mà phải chịu trách mắng với nhiệm vụ thu hồi về?
- Chị lắm lẽ lắm, chúng tôi chỉ có thể dùng lý để nói với chị thôi, chị không được phép cho ra những tác phẩm nổi loạn, chống đối ám chỉ, thẳng thừng tuyên bố trắng trợn, nói vỗ mặt Đảng và nhà nước như thế, những quân ưng khuyển là ai, lũ hôi tanh, phường bạc ác hại dân lành là những người nào? Làm sao chị dám bảo thời này so với 300 năm trước không thay đổi gì.
- Về vật chất có thể hơn, nhưng phẩm giá người còn tồi tệ hơn nữa, người hìền lành tử tế tự thu hẹp không gian sống của mình lại mà tồn tại, ngoảnh mặt trước cái ác, làm ngơ trước đau khổ của đồng loại, tội ác không bị trừng phạt nên quân ưng khuyển, phường bạc ác lũ hôi tanh ngày càng nhan nhản trong xã hội, không tính đếm được.
-Bài thơ của chị gây phản cảm rất mạnh, vô cùng bất lợi cho chị và cho tất cả mọi người, đề nghị chị nghiêm khắc kiểm điểm lại mình, ngừng ngay ý tưởng rồ dại kiểu này lại.
- Nếu các người để nó yên, tôi tin chỉ là đá ném ao bèo thôi, vài giây sau nước lại khoả lấp như cũ, chỉ vì sự cấm đoán phi lý mà vô tình phong thánh cho tác giả đấy, kinh nghiệm ở Việt Nam đã nhỡn tiền rồi, từ Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh v.v.
Lý cùn, lẽ mỏng, không giáo hoá được phần tử nguy hiểm trọc đầu này, khách quý vội vã ra về. Trên đà cảm xúc tôi viết thêm một bài nữa với nhan đề "Khóc cùng Nguyễn Du" coi như một sự đáp lễ:
Khóc cùng người Nguyễn Du ơi
Ba trăm năm trước thật xa vời
Lệ tuôn xối xả nhiều như suối
Giữa cuộc đời khốc hại, bể dâu
Những quân ưng khuyển, lũ tanh hôi
Ngày càng nhan nhản khắp muôn nơi
Thằng phó cầm xẻng chôn thằng trưởng
Thịt người nhai xé ngọt lừ môi
Ba trăm năm - dẫu là bất tử
Ông vẫn cô độc giữa gió mây
Đời người đảo điên, đầy nghịch tử
Ghi nhận ở ông một tấm lòng.
Chưa đủ, những lời cải huấn của hai người "bạn dân", hét cho dân ngủ, doạ cho dân lo, luôn hiện hữu trong đầu, tôi viết thêm bài "Thư viết Gửi Nguyễn Du" để bày tỏ lòng mình:
Xưa ông viết Kiều, ai cản?
Sao tôi viết vài dòng gửi Nguyễn
Bao nhiêu kẻ làm càn?
Muốn như ông mở đường ra bể lớn
Có hay đâu bùn lấp mất dòng.
Thời của ông chỉ một cô Kiều
Nay Đảng đẻ triệu nàng Kiều điêu đứng
Bao Thuý Vân lâm cảnh khốn cùng
Lên tận cổng công đình thưa kiện
Thời của ông Thúc Sinh khan hiếm
Đảng của ta nhan nhản Sở Khanh
Nếm trái ngọt thơm, còn xúc xiểm
Dìm ái ân trong bể lọc lừa
Nguyễn Du ơi, nước mắt ngập trang Kiều
Sông Tiền Đường giăng bày khắp chốn
Tú bà, Hoạn Thư mượn oai ông lớn
Mở hang động chăn dắt cháu yêu
Đời bao giờ chả đục, Khuất Nguyên ơi
Đau đáu làm chi phận tôi đòi
81 triệu dân Nam thà chịu nhục
Còn hơn vinh, gửi xác đáy sông
Ba trăm năm trước thơ ông viết
Vẫn vẹn nguyên đạo lý nhân tình
"Hồn nếu về thật không chỗ chứa
Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian".
Nên vì thế trang thơ tôi viết
Bị đất bùn, quỷ quái bôi đen
Như sen thơm giữa đầm trong sạch
Chúng giết hương bằng cách quấy bùn
Biến hoa quý thành hoa gián điệp
Ngắt khỏi đầm, nhốt kín trong lao
Nguyễn Du ơi người còn trong gió?
Hãy nổi bão giông quật nát đầu
Cả một lũ mị dân khát máu
Cho thơ tôi róc rách khơi nguồn
Bắt lũ chó cụp đuôi, lủi thủi
Trước dòng đời dân chủ, Nguyễn ơi!
Hy vọng bài viết này - cũng là một sự thật sau sự thật vừa nói sẽ tìm được đường đi của mình, vượt qua bùn lầy nước đọng để tới bến xanh trong.