Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Văn Hoá Chửi
HÀ SĨ PHU

--------------------------------------------------------------------------------

(Kính tặng hương hồn cô ruột tôi)



Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hoá nào nghiên cứu về cái sự “Chửi” nhỉ? Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở “Từ điển Lạc việt năm 2002”, tra hú hoạ chữ Chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính, tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm thì có một chữ Chửi đơn giản là cùng.


Tôi nhầm! Các từ về Chửi xếp đầy một trang màn hình!


Này là Chửi mắng, Chửi bới, Chửi đổng, Chửi nhau, Chửi rủa, Chửi thầm, Chửi thề, Chửi tục! Lại còn Chửi bâng quơ, Chửi vu vơ, chửi thậm tệ! Chưa hết, có cả Chửi bóng Chửi gió, Chửi chó mắng mèo, Chửi như tát nước, Chửi như vặt thịt, Chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ Chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng Anh tương ứng. Hoá ra người Anh người Mỹ họ cũng chua ngoa, cũng điên tiết gớm chứ đâu có vừa (nhưng các “đế quốc to” ấy nhất định thua xa mình về cái khoa Chửi, kể cả Chửi đáng khen và Chửi đáng chê).


Cuốn từ điển còn thiếu một khái niệm Chửi tối quan trọng: Chửi như mất gà ! Rất may, tìm mãi mới thấy cụm từ Chửi này có trong từ điển Việt Hoa của Khổng Đức.


Nhưng rốt cuộc thì từ điển gì, chữ nghĩa gì cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi.

Khoan hãy tìm hiểu vì sao Gà lại giữ vị trí quan trọng trong khoa Chửi của dân An Nam mình đến thế. Tôi hãy phác qua vài nét nhân thân bà cô ruột, tức cuốn từ điển sống của tôi về Văn hoá Chửi. Dòng họ nhà tôi, từ bố tôi trở về trước nghèo lắm. Mấy đời chỉ là ông đồ dạy chữ nho, ông chú ruột tôi mới sáu tuổi đã bị đem cho một nhà thờ Đạo vì ông bà tôi không sao nuôi nổi. Cô tôi đương nhiên không được học hành gì, sớm được gả cho một anh thợ cày cũng nghèo kiết xác, là ông cậu tôi. Cậu tôi chẳng may mất sớm, để lại cô tôi goá bụa khi chưa đầy hai mươi với một đứa con gái chưa đầy ba tuổi. Chỉ một đôi quang thúng cũ nát, lèo tèo mấy quả na quả bưởi, mấy chiếc bánh đa, bánh gai…, hoặc mấy mớ rau, con cá, bà đèo đẽo đi khắp chợ Hồ, chợ Gôi, chợ Ngo, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Cẩm Giàng, chợ Núi (tức núi Thiên Thai) … trên dưới mười cây số. Áo xống nhuộm bùn (hồi trước các cụ gọi chiếc váy là xống), vá chằng vá đụp, làm chỗ cư trú lý tưởng cho lũ chấy rận. Lúc nào nghỉ chợ là bà lại đem áo xống ra bắt rận, tuốt trứng lép bép và cắn rận đôm đốp. Nhưng người cô nghèo khổ ấy thương lũ cháu, thương chúng tôi lắm. Cô cho chúng tôi cái bánh, quả na mà chậm ăn là cô chửi cho mất mặt, à ra đều mày khinh cô nghèo mày không ăn hử? Đến năm tôi đã là giảng viên Đại học (chả gì cũng gọi là Trí thức Xã hội chủ nghĩa) mà mỗi lần về thăm cô vẫn cho tiền, này thằng Tụ, cô cho mấy đồng cầm đi mà tiêu. Thương cô lắm mà vẫn phải cầm, chứ đợi cô chửi cho rồi mới cầm ư?


Nhưng Chửi cũng ba bảy đường Chửi. Bà chửi thương, chửi yêu thì chỉ chửi “nôm” thế thôi, chứ không có bài. Khác hẳn những khi định hướng vào “kẻ thù”, là những kẻ ăn không ăn nảy của bà, vu oan giáng họa cho bà, cạy quyền cạy thế chèn ép lấn át bà (kiểu như bây giờ ta gọi là vi phạm quyền dân chủ ở cơ sở ấy mà) thì vũ khí Chửi của bà tung ra đầy tính kỹ thuật, bài bản hẳn hoi và đầy sức lôi cuốn. Một ngón võ thật sự.


Hôm ấy bà đi chợ về muộn. Chuẩn bị nấu cơm chiều, vét niêu cơm cháy, vừa ngô, vừa khoai được một bát đầy hú hụ, bà cất tiếng “chích chích chích chích”, “pập pập pập pập” gọi mấy con gà mà bà đã chăm chút cả năm để chuẩn bị ăn Tết. Lũ gà quen tín hiệu đã tề tựu ngay tắp lự. Chờ mãi vẫn không thấy con gà mái nâu, đang ghẹ, béo nhất đàn. Bà bổ đi tìm quanh, “điều tra” khắp vườn, khắp xóm. Không thấy. Vẻ mặt bà hằm hằm, mắt bà chợp chợp, tôi biết cơn giận trong bà đã chất chứa đến nhường nào. Nhưng bà lẳng lặng đi nấu cơm. Hai mẹ con bà ăn cơm xong đâu đấy. Mọi nhà đã lên đèn. Tôi nằm chơi trên cái trõng tre giữa sân.


Đúng lúc làng xóm đang yên tĩnh, ổn định, thì bài trường ca bắt đầu.


Hình như trời phú cho những người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội một cơ quan phát âm, đúng ra là cơ quan phát thanh, có độ vang đủ phủ sóng khắp “địa bàn “ cư trú. Phần giao đãi của trường ca mất khoảng mười phút, nhưng cũng đủ cho việc đặt vấn đề. Người nghe đã kịp nhận ra cuộc chửi liên quan đến vụ việc gì, bà nghi ngờ cho ai. Sau khi đã khu trú được vấn đề và đối tượng (tất nhiên bà chẳng cần gọi tên chúng ra), bà vào phần chính của việc chửi bới. Bà mạt sát đối thủ bằng những tư liệu rút ra từ gia phả, án tích, dư luận ; bà chứng minh tội phạm bằng những chứng cứ và suy luận mà bà đã quan sát và thu thập được ; và cuối cùng là phần hình phạt. Bà phạt kẻ bị tình nghi phạm tội bằng phương pháp rất nhân đạo là cho ăn và cho uống, thực đơn gồm toàn những thứ sống sít từ cơ thể thiên nhiên của bà. Thì bà còn có gì khác ngoài cái vốn tự có ấy?


Toàn bộ “cáo trạng” từ việc điều tra, luận tội và xử phạt bà làm độ nửa giờ là xong. “Phiên toà” kiểu này có cái “hay” là không cần mời ai đến dự mà vẫn xử được công khai.Thế mới biết kẻ ở thế yếu thì cứ phải “phát xít“ thôi. Vô chính phủ cũng là một cực của phát xít, nhưng cái phát xít của bà cô tôi vừa đáng yêu, vừa đáng thương, lại vừa đáng tủi làm sao!


Bà “viết” văn xuôi theo lối biền ngẫu, rất nhiều đoạn rập theo một công thức như lối viết báo cáo hoặc xã luận của những anh không chịu đổi mới ngày nay.Văn xuôi nhưng lại có vần như thơ (có thể đây là tiền thân của loại thơ văn xuôi bây giờ đấy nhá !), lại có lên bổng xuống trầm như nhạc.


Đặc biệt, vô cùng đặc biệt là đoạn cao trào. Tôi nghe một lần là nhớ suốt đời.

Đoạn ấy thế này: “ … Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, thì bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l…, rớt l… của bà đây này.(lúc này bà khẽ rướn người lên, hai đầu ngón tay khẽ nhúm chiếc váy đụp nâng lên phía trước, tuy đứng một mình mà bà làm như đang diễn thuyết trước đám đông người). Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à ? Cứ ra mặt với bà xem ! Bà thì cứ …dứt cái lông l…thứ tám, bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn còn thừa cái nút hậu !...”. (Cái sinh lực nữ tính mới đầy uy lực làm sao!)

Lạ chưa? Cái lông thứ tám? Vậy là trong cái đám lôm xôm ít được thấy ánh sáng văn minh ấy cũng phải có trật tự, ngôi thứ hẳn hoi (cứ như trong trại lính hay trong triều đình xôi thịt vậy)! Không biết cái ngôi thứ này là do chúng cọ xát với nhau mà phân định hay do bà phải đánh số để tiện việc quản lý?


Để ra quân, bà chưa cần cử các ngôi vị thứ nhất, thứ hai, thứ ba trang trọng làm gì, mà mới dùng cái “thằng” thứ tám, thậm chí chả cần cả “thằng” thứ tám nữa, nên bà mới tạm chẻ nó làm tư (khiếp thật, xưa nay người chi ly lắm cũng chỉ chẻ sợi tóc làm đôi là cùng). Còn ở trận tuyến bên kia thì bà không thèm chấp cái bọn ăn cắp gà, không thèm trói chúng cho bẩn…cái dây trói của bà, mà lôi cổ hẳn cái ông tổ năm đời mười đời nhà nó ra (bọn này về chầu ông …vải từ lâu rồi mà bà vẫn không tha, vì chính chúng đã khai sinh ra cái lũ ăn cắp gà vô liêm sỉ này). Binh lực của bà đã tự giảm đi bấy nhiêu lần, binh lực của địch cho phép tăng lên bấy nhiêu lần, vậy mà vẫn chưa cân sức: cái dây trói vẫn quá dài so với cái cổ bự của những ông tổ năm đời mười đời kia, trói cẩn thận đâu vào đấy rồi mà dây vẫn còn thừa nhiều quá, lại phải buộc thêm một “múi” nữa cho dây đỡ luề thuề, tức là phải buộc thêm cái nút hậu. Tương quan địch ta chênh lệch như thế thì chúng còn làm sao dám ra mặt với bà được nữa, chứ nói gì đến lên mặt, giở thói kiêu ngạo cổ truyền của chúng trước bàn dân thiên hạ?


Như thế, bản Trường ca đã dùng một “thi pháp” so sánh, tương phản đầy ấn tượng !.Thiết kế một bài Chửi khoa học và tinh tế như thế thì các bậc thâm nho, hay các viện sĩ khoa học mọi thời đều xin bái lạy.


Thiên nhiên sinh ra muôn loài vốn đã tài tình, xã hội loài người tự nhiên cũng tài tình như thế. Cứ phải tự cân bằng, cứ phải tạo lấy cái hợp lý để cân bằng lại cái vô lý. Đấu tranh sinh tồn mà sinh ra cả.


Một lần, đọc bài thơ của một nhà thơ trẻ miền Trung, tôi gặp một tứ thơ độc đáo: “Trong tấn tuồng đời bọn bất lương đã giành đóng hết các vai đạo đức mất rồi”! Bảng phân vai chỉ còn các vai phản diện, xấu xa, mà những người bị trị, những người lương thiện, bao giờ cũng chậm chân, đành phải nhận đóng. Không nhận những vai ấy cũng không được. Đã là tuồng đời thì anh không đóng cũng không được, “lẩn tránh” cũng là một vai của tuồng đời chứ đâu có thoát.


Khi những kẻ ăn cắp gà lại chi phối luật pháp, lại độc chiếm hết diễn đàn để giảng đạo đức (tất nhiên là đạo đức giả), thì người mất gà đành phải chửi thôi. Những phụ nữ chịu nhiều tầng ràng buộc nhất chỉ còn cách tự vệ ấy để quyết thực hiện quyền ngôn luận,” tự do báo chí” của mình.


Bài Chửi độc đáo kia, nghe tưởng cay độc quá, nhưng xem kỹ lại thấy vẫn nhân đạo. Bà vẫn mở đường:nếu mày không sửa chữa thì bà mới làm như thế,như thế !


Đấu tranh sinh tồn là cuộc” nội chiến” muôn đời. Đã là cuộc chiến phải có vũ khí, phải có binh pháp. Bọn thống trị khôn ngoan bao giờ cũng lo xa, tước hết vũ khí vật chất và tinh thần của đám bị trị. Nhưng trời sinh voi thì trời sinh cỏ. Bị lột trần trụi thì chính cái trần trụi biến thành vũ khí.


Những giá trị thật mà bị dè bỉu (hoặc giả vờ dè bỉu), đẩy xuống dưới cùng, chính là tiền đề để nó bật lên thành vũ khí, xấn vào tận mặt kẻ làm bộ khinh rẻ nó, cái “Yoni ” của các bà chính là một phẩm vật như thế. Trong võ cổ truyền hay Judo, chính kẻ ở dưới mới chuyển được sang thế thượng phong để chơi ngón “bốc”, ngón “quật”, ngón “ném”. Cho nên, trong văn hoá, kẻ nào đẩy những giá trị cao quý xuống tận đáy chính là tự chuốc lấy diệt vong.


Chửi là vũ khí của người nghèo bất khuất, người yếu bất khuất. Kẻ mạnh (về lực) hoặc kẻ phi nghĩa mà chửi thì nhạt thếch, sẽ thành tàn bạo, thô tục, thành lố bịch ngay. Trái lại,dân tộc nào, tầng lớp nào sức sống dai dẳng nhưng bị “yếu kinh niên” sẽ có khả năng mài rũa vũ khí Chửi của mình trở nên hoàn thiện.


Trong môn Chửi, tên tục của hai “sinh thực khí ” có một vị trí độc đáo.


Cái Linga và cái Yoni đã sinh ra loài người thì khi con người bị đẩy vào tư thế trần trụi, nguy nan không lối thoát, hai thứ ấy lập tức phải đứng ra đương đầu cứu viện, chiến đấu, với tên thật của nó.Cửa sinh, cửa tử, cũng là cửa thoát. Vậy thì: Yoni-Linga muôn năm! (khẩu hiệu này đáng ra phải hô bằng tên thật).


Khi dùng cái phương tiện bề ngoài có vẻ rất giống nhau ấy người lương thiện và thằng khùng chỉ khác nhau ở cái mục đích, vì lẽ phải hay không vì lẽ phải.


Đành rằng có chửi cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái “Chửi” đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lý. Lương tâm và công lý sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những CON GÀ VÀNG nặng hàng chục tấn, và trả lại cho đời, cho dân những công bằng lớn lao hơn. Ý nghĩa Văn hoá của sự Chửi chính là ở đó.


Cụ bà Nguyễn thị K., một công dân vô danh trong xã hội, người cô ruột xấu số đáng thương và đáng quý ấy là cuốn từ điển sống của tôi, là một khối văn hoá vừa “vật thể” vừa “phi vật thể”. Trong cuốn từ điển Chửi ấy, nếu thấy cần bổ sung thì có lẽ chỉ cần ghi thêm khái niệm “Chửi Chữ ” nữa thôi.

Thưa cô, cháu học hành cả đời, hôm nay mới nhận ra cô thì cô không còn nữa.

Cháu thèm được cô cho một chiếc bánh gai và lại chửi cho một câu như những ngày nào tấm bé.

HSP 19 - 4 - 2005


HÀ SĨ PHU

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chống Cộng làm sao về Việt Nam
Huy Phương




Sau khi miền Nam thất thủ, quân đội tan hàng, chúng ta di dân tỵ nạn sang đây đã hơn 32 năm mà vẫn còn giữ được lá quốc kỳ và một cộng đồng tiến bộ không cộng sản. Ðiều ấy có được là nhờ sự tranh đấu bền bỉ của toàn thể đồng hương một lòng không chấp nhận cộng sản bất cứ ở đâu và dưới hình thái nào. Vì quan niệm đó, cộng sản rõ ràng không thể tuyên truyền, hoạt động trong bất cứ lãnh vực chính trị nào, ngoài những công ty hay chợ búa làm ăn mang tên những công dân Hoa Kỳ vô danh và toàn thể viên chức đại diện cho chế độ cộng sản đã không có thể công khai xuất hiện bất cứ ở nơi nào có đồng hương tỵ nạn cộng sản.



Tôi còn nhớ câu nói của cháu Lữ Anh Thư, một người thuộc thế hệ trẻ đang là một nhà hoạt động dân chủ tại vùng Hoa Thịnh Ðốn đã nói rằng: “Ðối với cộng sản họ không cần mình theo họ, mình không chống họ là họ đã thắng”. Tôi nghĩ đó là một nhận xét đầy kinh nghiệm và đúng đắn. Ðiều này cũng khiến chúng ta nghĩ đến câu nói của Ðức Khổng Tử khi nói về học vấn: “Học vấn như chèo thuyền đi nước ngược...” để liên tưởng đến cuộc tranh đấu chống sự xâm nhập của cộng sản: “Chống cộng sản như chèo thuyền nước ngược, nếu ngưng tay là thuyền sẽ bị xô xuống vực”.



Chúng ta là những nạn nhân của cộng sản, đã bị tan cửa nát nhà, đấu tố, tù đày, mất mát, đã bỏ quê hương mồ mả cha ông để lưu lạc dến đây, chúng ta có muốn cộng sản cũng đến đây, hoạt động ngay giữa cộng đồng tỵ nạn, treo cờ đỏ sao vàng trên nóc Phước Lộc Thọ và trên những con đường chúng ta đi, trong những khu phố chúng ta đang ở hay không? Mà chế độ đó đã đem lại gì cho dân tộc chúng ta trong suốt nửa thế kỷ qua, với tự do bị tước đoạt, và nhân phẩm con người bị coi rẻ. Vậy thì chúng ta đừng đứng ngoài lề cuộc sống để lên án rằng người ta sao cứ đi biểu tình, cứ hô hào chống Cộng. Bạn có trải qua đau khổ, trải qua mất mát, chia cách, tù đày chưa? Bạn đã bao giờ là nạn nhân cộng sản chưa? Bạn có bao giờ nhớ lại lý do nào, trong một này nào đó không xa lắm đâu, đã đưa bạn đến đây. Ðó không phải là một giấc mộng bạn đã trải qua đâu, đó là sự thật còn để lại những vết sẹo trên da thịt và nhất là trong tâm hồn của bạn. Nếu chúng ta không tranh đấu, các thế hệ sau sẽ bị nhận chìm trong cơn hồng thủy mà chúng ta đã hứng chịu vì lỗi của chúng ta đã không quan tâm đúng mức đến cái gọi là thảm họa cộng sản.



Tôi có nghe nhiều người mỉa mai, nói rằng vì sao những người biểu tình không kéo nhau về Việt Nam mà chống cộng? Tôi cũng xin hỏi lại, nếu chế độ cộng sản thực sự tốt đẹp, vì sao những người này không đem tất cả gia quyến về Việt Nam mà sống? Tôi nói “toàn thể gia quyến” là vì tôi không muốn những người này sống ở Việt Nam mà được bú sữa Mỹ và phè phỡn nhờ đồng đô la Mỹ. Lý do vì sao không về Việt Nam mà chống cộng thì chắc những người này dù đầu óc có tối tăm bao nhiêu cũng phải hiểu. Chúng ta không muốn đồng bào đang tranh đấu ở quê nhà đơn độc mà không được hỗ trợ bởi quốc ngoại, mặt khác chúng ta cũng phải cho những vị dân cử mà chúng ta đã bầu họ lên, phải hiểu nguyện vọng của cử tri. Nhất là những người Việt Nam ở hải ngoại phải lên tiếng cho thế giới thấy rõ những sự thật về chế độ cộng sản ở Việt Nam. Trong khi chế độ cộng sản trên toàn thế giới đã tan rã, đất nước Việt Nam, những người cộng sản vẫn còn ôm lấy sự độc tài, đảng trị để làm khổ dân. Ngày này nếu họ không còn đảng thì họ cũng dựng nên băng đảng cho quyền lợi cho một thiểu số, còn lầm than của đất nước họ chẳng quan tâm.



Tôi cũng có nghe nhiều người lo ngại cho những người biểu tình hay hiện đang có những hoạt động liên quan đến việc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước tại hải ngoại, là như vậy, họ không sợ “không về được Việt Nam hay sao?” Phải thành thật mà nói rằng, câu hỏi này khiến cho chúng ta phải xấu hổ. Họ đã sống trên sự hy sinh của những người đã tranh đấu từ hằng chục năm qua, những người đã chết trong tù ngục, đã bỏ mình trên biển Ðông. Tiếc rằng chúng ta không có những thước phim nào đó, mà cách đây ba mươi năm, hai mươi năm để chiếu lại ngay những hình ảnh và nhất là khuôn mặt của chính họ khi tàu thuyền được vớt từ biển Ðông, khi cả gia đình hớn hở được cầm chiếc vé máy bay trong tay. Nếu chúng ta sống chỉ mong được “hồng ân” về du lịch Việt Nam, kể cả ở luôn bên ấy, điều đó không khó. Việc đó, Phạm Duy và Nguyễn Cao Kỳ đã có cơ hội thực hiện rồi.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nội gián và âm mưu xâm nhập văn hóa của cộng sản

Ðỗ Văn Phúc


Cả hội trường im phăng phắc, gần hai trăm cặp mắt hướng về tấm bục gỗ trên sân khấu. Sau tấm bục đó là một cụ già, khoảng 70 tuổi, mái tóc bạc phất phơ. Cụ mặc bộ bà ba trắng đơn giản, đôi mắt linh lợi ẩn hiện sau cặp kính lão. Dáng dấp cụ có vẻ hiền hòa, như một người ông, chân chất và khoan thai. Dù gặp ở bất cứ trong hoàn cảnh nào, chúng ta chắc chắn sẽ có cảm tình với cụ ngay.

Nhưng chúng ta lầm. Lầm to. Ðàng sau khuôn mặt và dáng dấp hiền hòa đó, là cả một trí óc đầy mưu lược chết người. Cụ già đó không đứng trước mặt hai trăm cử tọa gồm 170 sinh viên sĩ quan và 30 cán bộ các cấp của trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt để nói chuyện tâm tình của người ông từng trải và đám cháu trẻ tuổi đang háo hức việc đời mà là những mưu mô thủ đoạn trong nghề binh vận, tình báo.

Cụ già đó là Nguyễn Văn Ðông, bí danh Năm Cang; trưởng ban Binh Vận của Trung Ương Cục Miền Nam (tức cục R). Nói rõ ra, đó là nhân vật số một trong ngành tình báo chiến lược của quân đội Việt Cộng, tác giả của những biến cố có tầm cỡ như vụ đột nhập, xâm chiếm hậu cứ của Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh ở Gò Ðậu, Bình Dương mà đã gây cho quân lực VNCH những tổn thất to lớn vừa về nhân mạng, vũ khí và cả uy tín.

Cụ bị quân ta bắt trong một cuộc hành quân càn quét ở miền Ðông Nam phần và đang bị giam giữ điều tra tại Cục An Ninh Quân Ðội. Ðể giúp cho các sĩ quan tương lai có thêm hiểu biết về âm mưu thủ đoạn của cộng sản, trường Ðại học CTCT đã dàn xếp với cục ANQÐ, mời cụ Năm Cang đến trường để nói chuyện trong phạm vi của môn học về Binh Vận.

Cụ Nguyễn Văn Ðông đã xác nhận rằng cụ không là một người hồi chánh, mà là một tù binh. Câu nói đầu tiên là cụ chê bai ngành an ninh tình báo của QLVNCH rất kém cỏi, và công tác giáo dục binh sĩ về binh vận, địch vận của ngành CTCT chưa có hiệu quả tích cực. Do đó, phía Việt Cộng đã rất dễ dàng xâm nhập, mua chuộc, đe dọa để gài người và lập ra mạng lưới tình báo, nội tuyến.



Cụ đã kể lại hai câu chuyện có thật về công tác binh vận và đã đưa ra những nhận xét rất chính xác về QLVNCH. Chuyện rất dài, nhiều chi tiết thú vị. Tôi chỉ xin kể sơ lược một chuyện mà tôi còn nhớ nhiều. Nhưng sau 40 năm thăng trầm, có nhiều chi tiết về thời gian, không gian, tên tuổi tôi không thể nhớ hoàn toàn chính xác (xin các niên trưởng thuộc Thiết Ðoàn 1 KB và Sư Ðoàn 5 BB bổ túc, đính chính nếu có sai sót):



Thượng Sĩ X quê quán ngay ở quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tham gia quân đội từ trước năm 1954 và đang phục vụ tại hậu cứ Thiết Ðoàn 1 KB ở Gò Ðậu, tỉnh Bình Dương. Quận Bến Cát cũng như hầu hết các quận khác của Bình Dương nằm trong lãnh thổ Chiến Khu D nổi tiếng của Việt Cộng. Ða số các gia đình dân chúng đều có con cái theo phe Việt Cộng và bản thân họ cũng là thành phần rất tích cực. Dù chỉ cách thủ đô Sài Gòn khoảng trên 30 cây số, vùng đất phía Bắc tỉnh lỵ Bình Dương được coi là vùng bất khả xâm phạm của VC từ nhiều năm cho đến khi Sư Ðoàn 1 BB Hoa Kỳ nhận lãnh trách nhiệm hành quân. Những năm đó, Sư Ðoàn 5 BB của VN rất yếu kém, không có khả năng tác chiến và bình định trong một vùng lãnh thổ rộng rãi đầy dẫy mật khu của địch.


Thượng Sĩ X có nhiều bạn bè cùng quê, bạn học cũ, bạn nhậu, dĩ nhiên! Trong số bạn thân, có một ông tên Y. Y chỉ là một nông dân thuần túy, có vợ và các con còn đi học. Hai ông X và Y quen nhau từ nhỏ, biết hết tính tình, sở thích của nhau. Và chẳng có gì để nghi ngờ tình bạn trong sáng này.

Một hôm, trong buổi nhậu đã gần tàn, ông Y hỏi mượn ông X một cái bi đông nhựa cho con trai sắp dự hai ngày cắm trại của trường Trung Học Trịnh Hoài Ðức tổ chức. Ông X. sốt sắng: ‘Tưởng gì. Chuyện nhỏ. Ngày mai đi uống cà phê tôi sẽ mang ra cho. Cả bi đông, cả bao vải, cả cái ca nhôm nữa. Có cần gà mên không? Cắm trại xong, bảo thằng nhỏ giữ lấy mà xài về sau, khỏi trả. Trong này thiếu giống gì.’


Ðúng, chuyện nhỏ! Thiếu giống gì! Bởi vì quân đội VNCH ngày đó trang bị, tiếp liệu dồi dào kiểu con nhà giàu như bạn đồng minh Hoa Kỳ. Ngoại trừ việc mất mát vũ khí là phải khai trình, lập biên bản, điều tra... Còn những vật dụng linh tinh thì cứ vào kho mà lấy, ngay cả chẳng cần thiết áp dụng nguyên tắc một đổi một. Các quân dụng loại này có thể tìm thấy bất cứ xó xỉnh nào: trong một góc nhà, gầm giường, xó bếp hay tại các cửa hàng bán chợ trời...


Vì thế, Thượng Sĩ X không mấy thắc mắc việc ông bạn Y lâu lâu xin cái này, cái nọ. Khi thì tấm poncho, khi thì đôi giày cũ... Ðến độ còn xin cả cọc sắt kẽm gai về rào lại cái vườn. Có khi còn xin cả chất nổ dẻo C-4 nói là để mồi lửa, đun bếp cho mau bắt. Loại C-4 này có sức công phá rất dữ dội, anh em binh sĩ chúng ta khi hành quân vẫn sử dụng để đun nước pha cà phê cho nhanh.


Một hôm đẹp trời Mùa Hạ, ông Y rũ ông X đi bắt cá ở khúc sông vắng phía Tây Bình Dương. “Phải chi có vài ba trái nổ đem theo tha hồ mà bắt về nhậu.” Ông X. liền dúi cho bạn hai trái lựu đạn MK-2 và nói: “Ông ra trước đi, tui còn lo vài việc trong trại rồi theo sau cũng không muộn.”


Quan hệ giữa hai ông bạn vẫn thắm thiết. Ông X vẫn luôn hào phóng giúp đỡ bạn mỗi khi bạn cần xin xỏ các vật liệu quân đội mà không một chút nghi ngờ.


Một hôm, Thượng Sĩ X nhận được một lá thư trên phong bì không có tên người gửi. Ông lấy làm ngạc nhiên, chẳng biết cơ quan, phòng ban nào gửi văn thư cho mình. Ông lật đật xé phong bì lấy thư ra đọc. Lá thư được đánh máy không rõ nét trên một tờ giấy cũng chẳng trắng trẻo gì. Khuôn mặt ông đang bình thường bổng đỏ lên và tái dần lại. Ðôi môi ông run run, hai tay lẩy bẩy. Mắt ông nhòa lên trước những hàng chữ trên đầu trang thư:

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

Ban Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Phước Bình Thành

Thư cám ơn,

Thay mặt tỉnh ủy Phước Bình Thành, chúng tôi cám ơn ông Nguyễn Van X... đã đóng góp giúp đỡ mặt trận trong thời gian qua một số quân trang quân dụng như sau:

Chúng tôi ghi nhận tinh thần yêu nước chống Mỹ Ngụy của ông NVX... Và mong rằng trong tương lai, ông X sẽ góp nhiều phần tích cực hơn cho phòng trào giải phóng dân tộc...

Ký tên.



Thượng Sĩ X ngồi phệt xuống, tay vò lấy lá thư. Tâm trí mê muội đi một lúc lâu. Sao lại có chuyện này? Thằng Y có liên quan gì với VC? Mà sao nó gài ta vào chuyện động trời thế này hở trời?


Thay vì làm một việc khôn ngoan là trình báo ngay với phòng An Ninh đơn vị để xin ý kiến. Ông X cứ băn khoăn suy nghĩ tìm cách tự gỡ rối cho bản thân. Vả lại, cái việc mà chúng ta gọi là khôn ngoan đó cũng chẳng dễ dàng gì. Ai ở trong quân đội cũng biết về ngành An Ninh. Nó cũng giống như hoàn cảnh người tù cải tạo mà phải lên làm việc với cán bộ trực trại, an ninh hay giáo dục vậy. Chỉ mua thêm lo âu, rắc rối và nguy hiểm đến sự nghiệp và an toàn bản thân. Vì thế, chúng ta không lạ khi rất nhiều anh em quân nhận dính vào các hoàn cảnh như Thượng Sĩ X đành phải câm nín, tự lo liệu hơn là lên gặp mấy khuôn mặt lạnh lùng, đầy đe dọa của mấy ông An Ninh Quân Ðội.


Thăm dò, theo dõi một thời gian, bọn Việt Cộng biết ông X đã không trình báo gì với cơ quan an ninh. Biết đúng tẩy con bài, chúng bắt đầu áp dụng phương pháp vừa ve vuốt, vừa doạ dẫm để buộc Thượng Sĩ X phải dần dà sa chân vào bãi lầy không lối thoát. Người ta thấy ông X có nhiều em cháu bà con từ quê lên thăm, vào tận khu gia binh trú qua đêm. Họ lân la làm quen với anh em binh sĩ, mời mọc cà phê thuốc lá, nhậu nhẹt tưng bừng. Họ dần dần biết hết các ngõ ngách, các trạm gác, ụ súng, hầm hố, giờ giấc sinh hoạt, canh gác, thói quen của anh em binh sĩ trong đơn vị, sở thích của các sĩ quan chỉ huy... Trong lúc nhậu nhẹt nghiêng ngả, họ tìm cách hỏi cách sử dụng các loại xe tăng. Tưởng ai chứ con cháu ông thượng sĩ thường vụ thì ai mà e dè làm chi.


Xin cho phép bỏ qua giai đoạn này vì nó kéo dài lâu lắm, và thêm nhiều tình tiết gay cấn, để kể đến đoạn kết thúc bi thương.


Thời này chiến tranh chưa leo thang ác liệt, nên chưa có lệnh cắm trại ứng trực 100%. Hôm đó, hình như là cuối tuần. Anh em binh sĩ đi phép 50%, chỉ còn lại 50% trong đơn vị mà một số đã nhảy dù ra chợ Bình Dương nhậu nhẹt, thăm các em gái vườn chôm chôm, măng cụt. Trong trại, ông thượng sĩ và một đám “con cháu” cũng bày tiệc nhậu nhẹt. Ðến gần nửa đêm, toàn trại bỗng nghe nhiều tiếng nổ kinh hồn. Lửa cũng lan nhanh gây nhiều đám cháy lớn. Tiếng người chạy rầm rập. Ðàn bà trẻ con trong trại gia binh khóc la um sùm. Người ta thấy những chiến xa nổ máy, vừa chạy ra phía cổng vừa bắn xối xả vào các khu doanh trại. Quân sĩ choàng tỉnh sau cơn ngủ chưa bén nhưng không biết hướng nào mà chống đỡ. Một phần đã ngã gục trong đợt tấn công bằng chất nổ C-4, một phần bị kìm lại vì hỏa lực từ những chiến xa của “quân mình”.


Ðoàn xe tăng cứ như chạy vào chỗ không người. Chúng bò ra cổng và chạy qua thành phố định tấn công vào tòa tỉnh, tiểu khu và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 ở Phú Lợi, cách đó chừng mấy cây số.


May mắn thay, sau những giây phút hoang mang, hỗn loạn, binh sĩ ta lấy lại tinh thần. Họ nhảy lên những xe tăng còn lại chạy đuổi theo những xe đã bị địch cướp đoạt. Cuộc rượt đuổi và bắn phá như trong cinema. Bọn VC chạy mãi rồi bị vướng vào đường cụt, hay sa vào các hóc hẻm mà không biết cách cài số de. Thì ra, chúng đã chịu khó học nổ máy, lái xe... nhưng lại không biết cách lùi. Vì thế những con cua sắt đã làm mục tiêu lý tưởng cho các xạ thủ của Thiết Ðoàn 1 KB.


Bình Dương được cứu thoát sau trận tập kích có đặc công, nội tuyến thần sầu đó. Quân lực ta lẽ ra đã học một bài học đắt giá. Những rồi vẫn có những đơn vị, những cá nhân tiếp tục rơi vào cặm bẫy binh vận của địch. Rải rác đó đây vẫn xảy ra những vụ nội tuyến mà đa số các quân nhân phản bội là do yếu đuối, bị ràng buộc tình cảm, tài chánh, bị đe dọa... hay vì quá ngây thơ về kẻ địch nên không nhìn thấy những diễn biến rất nhẹ nhàng, khôn khéo trong diễn trình binh vận của VC.


Ngày nay, hơn 40 năm sau biến cố Bình Dương vừa kể, chúng ta lại có dịp ôn lại để đánh giá đúng mức việc Cộng Sản đang tìm cách xâm nhập cộng đồng một cách tiệm tiến để áp dụng nghị quyết 36 qua việc tổ chức các buổi văn nghệ mà mới nhìn qua, có vẻ hiền lành, vô hại.

Cái khổ tâm của những tổ chức đoàn thể cộng đồng người Việt là e ngại bị gán cho những tĩnh từ “Cực Ðoan, Ðộc Ðoán”, “nhìn đâu cũng thấy địch”. Không phải chỉ những phụ nữ hiền lành, các thanh thiếu niên vô tư; mà ngay nhiều anh em cựu chiến sĩ từng bị lừa bịp, tù đày trong chế độ cộng sản cũng đã thiếu cân nhắc khi nói: “Người ta tổ chức văn nghệ, có bài hát lời ca nào tuyên truyền đâu mà chống lại họ.” Chúng ta hoàn toàn thông cảm những nghệ sĩ trong nước tìm cách ra ngoại quốc du lịch, ca hát để đem giọng ca phô trương với đồng bào hải ngoại, hay để kiếm tiền, kiếm danh... Chúng ta không đem danh nghĩa cộng đồng, đoàn thể để chống lại những cá nhân nhỏ bé đó.

Nhưng chúng ta cần nhận định một nguyên tắc đầu tiên: Khi còn trong cuộc chiến (dù chiến tranh vũ lực trước 1975 hay đấu tranh chính trị hiện nay), thì vẫn còn giới tuyến giữa hai bên. Chúng ta phải luôn cảnh giác về những âm mưu xâm nhập nhập của địch mà thường là khởi đi từ những việc nhỏ nhặt, nhẹ nhàng, vô hại để dần dà tiến đến những sự việc hệ trọng chính vào lúc mà chúng ta đã bị ru ngủ, vướng vào một cách êm thấm.


Những năm trước đây, chỉ có những nghệ sĩ đi qua một cách lẻ tẻ. Rồi đến những tổ chức rầm rộ hơn với những chương trình văn nghệ có chủ đề rất thách đố (Người Ấy và Tôi, Em Chọn Ai, Duyên Dáng Việt Nam, Thảm Ðỏ). Từ những nghệ sĩ VN chưa có vấn đề, dần đến những nghệ sĩ từng bị cộng đồng lên án về những hành vi chính trị tiếp tay cho địch (Nguyễn Ngọc Ngạn trong vụ Paris 40, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Trịnh Hội trong vụ Úc Châu mới đây. Chuyện bố con Nguyễn Cao Kỳ thì đã quá rõ). Chúng ta có thể nhìn thấy những vụ tổ chức này không nằm ngoài kế hoạch tấn công văn hóa của cộng sản. Có những bàn tay từ bên VN tiếp sức cho bọn đầu nậu ở hải ngoại. Cứ cho rằng những người tổ chức thì vì ham tiền ham danh mà vô tình làm công cụ cho cộng sản đã đành. Chúng ta lại thấy có những cơ quan truyền thông trong cộng đồng, vì thiếu thông tin về những thành phần bất hảo trên, mà loan tin, quảng cáo cho chúng, vô tình đi ngược lại tinh thần chung, gây ngộ nhận trong quần chúng, gây trở ngại cho kế hoạch chống cộng của chúng ta.



Ðôi lúc nhìn sinh hoạt cộng đồng, chúng tôi vẫn liên tưởng đến thời gian trước 1975. Vẫn những thách thức từ phía đối phương; vẫn những chiến sĩ ngày đêm lăn mình trong lửa đạn chiến đấu; mà luôn luôn tồn tại nơi hậu phương những con buôn thủ lợi, những tên phản bội đê hèn làm nội gián cho địch, và luôn có một tầng lớp quần chúng rất “vô tư” hành sử hoàn toàn theo bản năng, thị hiếu, suy luận dựa trên những cảm tính đơn sơ trước một kẻ địch đầy mưu ma chước quỷ. Chúng ta không phải ngây thơ mà không biết rằng cộng sản đã cài người của chúng trong những chuyến vượt biển một cách an toàn. Chúng ta không phải không biết trong thành phần cựu tù nhân trong chương trình HO có nhiều anh em có những vướng mắc mà phải cam kết hoạt động cho cộng sản để được đi định cư. Có những anh lỡ lầm làm ăng ten trong tù, còn lưu bút tích; cộng sản chắc không ngu gì không lợi dụng họ để sử dụng ở hải ngoại. Vì thế, thời gian gần đây, nhiều tên đã bắt đầu lộ diện công khai, nhất là sau chuyến Mỹ du của Nguyễn Minh Triết. Bọn đón gió trở cờ từng ngo nghoe nay cũng lên tiếng hòa điệu với loài ếch nhái kia.



Trong lãnh vực báo chí, cũng có nhiều hiện tượng nổi lên. Vừa qua là các tờ báo Việt Weekly ở California, Vietnam Weekly News ở Dallas. Một tờ tạp chí phát hành rộng rãi trên nhiều thành phố, mang một cái tên từa tựa tạp chí Tuổi Trẻ của đoàn Thanh Niên Cộng Sản bên Việt Nam. Cùng một cách trình bày tên báo, mẫu chữ. Họ là ai? Toàn là những người chưa hề có kinh nghiệm, khả năng viết lách, làm báo. Nhưng họ dám đứng ra làm những tờ báo rất đẹp, in bằng Digital, nhiều trang màu giấy láng mà lại biếu không. Thậm chí quảng cáo cũng rất rẻ. Chúng tôi là những người làm báo nhiều năm trên đất Mỹ, từng biết rằng nghề làm báo là vì mục đích thông tin nghị luận chứ không thể trông cậy vào phần tài chánh thu nhập. Vậy thì người khổng lồ nào đứng đằng sau để chi tiền cho những tờ báo trên? Hỏi tức là trả lời. Nhất là những bài vở lấy từ các trang mạng bên Việt Nam với cách hành văn và ngôn ngữ mà cộng sản thường xài. Có phải trước hết, họ muốn cho người Việt hải ngoại từ từ quen thuộc với ngôn ngữ để rồi dần dà họ sẽ khôn khéo chuyển qua các thể tài chính trị xã hội tuyên truyền cho cộng sản?


Dĩ nhiên, là những người đấu tranh cho tự do dân chủ, sống trên xứ sở dân chủ tự do, chúng ta không có quyền ngăn chặn những hoạt động như thế.


Nhưng với những ai từng thực sự lo âu khi bước chân lên chiếc thuyền mỏng manh để vượt Thái Bình Dương trong sóng gió và đe dọa của công an tuần duyên, của hải tặc Thái Lan; những ai từng đứng ngồi thấp thỏm chờ đợi trên lề đường Thống Nhất để nhận tấm “hộ chiếu” HO; xin hãy biểu lộ một thái độ chính trị đúng của người quốc gia chống cộng bằng cách tẩy chay, lên án những hoạt động văn hóa nội gián do cộng sản tiến hành. Xin hãy tuyên truyền, giải thích cho thân nhân, bạn bè về những âm mưu ly gián của bọn nằm vùng, tay sai cộng sản.

Cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn cho đến khi nào dân chủ tự do toàn thắng chế độ cộng sản độc tài.


Ðỗ Văn Phúc

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện "Trời Ơi" Trong Mùa Bão Lũ

Thiện Tiến
Những ngày cuối Tháng Bảy đầu Tháng Tám, trời Sài Gòn gần như không có nắng, mưa sáng mưa chiều cứ thay nhau làm mát, làm đẹp cho gương mặt đô thị có mức sống cao nhất nước. Giới trung thượng lưu của Sài Gòn lại kháo với nhau trong những quán nhậu, quán cà phê sang trọng rằng. Hãy tận hưởng cho hết những ngày mưa Sài Gòn đẹp như Mùa Thu Hà Nội.

Nhưng cũng có một cách nhìn khác về mùa mưa Sài Gòn là thời tiết Sài Gòn càng dễ chịu, có nghĩa là ở nơi khác có thiên tai bão lũ.

Tổng kết cập nhật, cơn bão số 2 gây ra lũ lụt ở các tỉnh Bắc Trung phần đã làm chết hơn 60 người và gây cảnh khốn cùng cho hàng ngàn gia đình.

Bảo số 2, phát triển từ một vùng áp thấp nhiệt đới gần bờ, chuyển dọc theo bờ biển và theo đánh giá của các chuyên gia khí tượng đó chỉ là cơn bão nhỏ đầu mùa không đáng ngại. Nhưng vì sao bão số 2 lại gây ra những hậu quả nặng về tính mạng và tài sản đến vậy. Xin thưa: Vì chế độ đang vào mùa hội họp.

Quốc Hội khóa mới đang ngồi ở hội trường lớn để họp “nhất trí “về mọi việc.

Thủ tướng, chính phủ mới vừa được thông qua đang mắc đi công du các nước láng giềng.

Các tân bộ trưởng mắc ngồi với phe cánh mới huyên thuyên những tuyên bố hù dọa.

Riêng các quan đứng đầu tỉnh thành, đơn cử như tỉnh nằm trong vùng trung tâm của cơn bão số 2 là Quảng Bình và Hà Tỉnh thì mắc họp quy hoạch tổ chức nhân sự sao cho dễ ăn.

Thế nên trong mùa các quan cộng sản mắc họp, chuyện phòng chống và khắc khục hậu quả thiên tai, vấn nạn giao thông, dịch bệnh... chủ trương chung của chế độ là: Dân tự lo, tự thoát chính.

Mùa bão- mùa góp tiền cứu trợ

Từ sáng sớm ngày 11 Tháng Tám nhiều người dân lao động, không cần có khả năng siêu phàm, không cần nắm vững qui luật “Chủ nghĩa duy vật biện chứng” vẫn đoán đúng như đinh đóng cột rằng. Ðã vào mùa nhà nước vận động góp tiền cứu trợ!

Hàng năm cứ vào mùa bão là các ông, bà tổ trưởng dân phố tay cầm quyển sổ học trò, không phải đi đến trường để mừng tựu trường, mà là đi đến từng nhà để góp tiền cho phường-xã chuyển lên cấp trên cứu trợ thiên tai, lũ lụt. Năm nào ông tổ trưởng dân phố của chúng tôi cũng đều lặp đi lặp lại câu nói: “Khổ thân tôi lắm chú thím ơi, may mà góp tiền cứu trợ bão lụt bà con không nói nặng, chứ góp tiền cho các chuyện khác họ cứ nhè tôi mà chưởi muốn bể đầu. Còn nhà nước này cái gì cũng nhè dân mà móc túi.”

Không ai sống ở trong nước mà không biết chuyện, ngoài nghĩa vụ đóng thuế, hàng năm mỗi hộ gia đình, mỗi người Việt Nam “được” chính quyền địa phương ra sức vận động. Rồi chẳng ai biết những khoản tiền gọi là: Lao động xã hội chủ nghĩa, anh ninh quốc phòng, đóng góp giúp đỡ mẹ Việt Nam anh hùng, xây nhà tình thương và nhiều khoản thu trời ơi khác đi đâu về đâu.

Biết rằng góp tiền cứu trợ đồng bào trên tinh thần lá lành đùm lá rách là một nét đẹp văn hóa của dân tộc. Những khoản tiền tùy hỷ dựa trên tinh thần thiện nguyện dành cho những số phận không may ấy luôn luôn có ý nghĩa cao thượng và không một người tốt bụng nào lại đi so bì, nạnh hẹ. Dù không có những con số chính xác bởi nhiều lý do cần phải giấu nhẹm. Nhưng rõ ràng ở Việt nam hiện nay tầng lớp lao động vẫn là tầng lớp gánh vác các khoản thu chính của quốc gia từ tiền thuế cho đến các khoản thu cứu trợ.

“Giá trị” của tầng lớp tư sản đỏ trong mùa bão

Trong một quán nhậu sang trọng ở sau Nhà Văn Hóa Thanh Niên, có một vị cán bộ hưu trí vừa khoe vừa kết án đồng chí cũ của mình rằng: “Vì hắn là bạn tôi, tôi biết hắn là người giàu trong hàng top bây giờ. Báo Thanh Niên đưa ra những gương mặt giàu nhất Việt Nam, tài sản của bọn đó ăn thua gì hắn. Hắn không có xí nghiệp, công ty, hắn chỉ có đất ở Sài Gòn, đất ở Hà Nội, đất trên rừng, đất ngoài đảo. Muốn biết vì sao hắn nhiều đất, hỏi người dân đen biểu tình thì biết. Nhưng tiền hắn đóng thuế chỉ đáng bằng một tiệm tạp hóa nhỏ. Kỳ diệu phải không! Nhưng nào sánh bằng chuyện rất quái là mỗi lần phải móc tiền làm từ thiện hắn chỉ chi khoảng mươi ngàn, miệng lại luôn nói: Khổ thân tôi lắm, có làm gì ra tiền đâu!”

Chuyện một ít người keo kiệt đến bẩn thỉu xã hội nào cũng có. Nhưng ở Việt Nam lúc này thành phần tư sản đỏ và ngầm kiểu đó lại số đông. Có nhiều lý do để họ biện minh, trong đó lý do cơ bản nhất dù không nói ra ai cũng biết là của cải của họ vơ vét từ những nguồn tiền bất chính. Thuế nào đánh được thu nhập bất chính và tội gì đóng góp cứu trợ nhiều hơn một anh chạy xe ôm khi thu nhập hằng triệu đô-la của mình đố thằng nào biết được.

Không ít công chúng vẫn biết rằng có những tư nhân đến những buổi đấu giá các sim điện thoại di động vì mục đích từ thiện với số tiền trong sạch. Và những ông chủ kiếm tiền bằng công sức và mồ hôi ấy chỉ là những ông chủ rất nhỏ.

Các tư sản đỏ ở Việt Nam mới chính là những ông chủ lớn. Ðể giải thích thêm cho giá trị của tầng lớp tư sản đỏ ở Viện Nam ngày nay, một “triết gia” vỉa hè Sài Gòn đã tổng kết một cách hình tượng rằng: “Bọn đó thằng nào cũng có hàng triệu đô la lận trong lưng quần. Có việc thiện, đè ngửa lột chúng ra cũng chỉ thấy trên răng dưới... Tài thế!”

Trong thời đổi mới ở Việt Nam, các phương tiện thông tin độc quyền ở Việt Nam chưa hề đưa ra được một gương mặt tư sản đỏ nào điển hình trong việc gầy dựng lợi ích cộng đồng hay hết lòng cứu trợ đồng bào trong cảnh thiên tai khốn khó.

Với bọn họ đất nước này không hề có thiên tai-dịch họa, không có lợi ích cộng đồng. quốc gia-dân tộc chỉ là nơi rửa tiền và vơ vét.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhìn lại chân dung Thị Nở

Trông xa thì tưởng Thúy Kiều
Lại gần mới rõ người yêu Chí Phèo
Ai đó quả thật rất thông minh khi đặt ra câu lục bát ấy, nhưng cũng khá tàn nhẫn nếu nói thẳng nó, như một nhận xét, trước một cô gái nào đó. Thị Nở xấu đến mức kỳ lạ, hiếm hoi.

Ngay trong cuộc sống, chúng ta cũng khó có "cơ may"để gặp được một người như thế:
Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công; nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thế mà hai má hóp vào mới thật là tai hại, nếu má phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn... Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi; có lẽ vì cố qua quá cho nên chúng nứt nở như rạn rạĐã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bôi cho dày thêm một lần, cũng may chất trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách.

Nam Cao là thế đấy, ông luôn chọn cho mình thế đứng chênh vênh đến chóng mặt nhưng cuối cùng thiện căn tâm hồn ông đã giúp ông đứng vững và trở thành một trong những nhà nhân văn nhất trong thế kỷ này ở nước ta. Đọc Nam Cao chúng ta hiểu con người trong những tình huống quẫn bách, cùng cực của sự tha hóa nhân cách trên ranh giới của người và thú. Trong trường hợp này, nhân vật Thị Nở, Nam Cao muốn gửi gắm điều gì mà ngay từ đầu ông đã đặt nhân vật vào thế như là không phải con người nữa? Tâm hồn Nam Cao không cho phép ông tung phá ngòi bút trên khuôn mặt một người phụ nữ như thế nếu ông không đặt vào đó tất cả tình yêu của trái tim ông.

Khoan kết luận vội, chúng ta hãy đọc tiếp. Các nhà văn vẫn thường thế, tìm các xóa mờ các tư tưởng, các vấn đề trung tâm bằng cách tô thật đậm các chi tiết phụ. Sau lần mô tả chân dung ấy chúng ta như gặp một Thị Nở hoàn toàn khác: đằm thắm, dịu dàng và thẹn thùng. Nói chung là một Thị Nở đầy ắp nữ tính.

Đây là phản ứng của Thị khi đang ngủ mà bị một thằng đàn ông vồ lấy: Thị vùng vẫy để ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí Phèo. Thị vừa thở vừa vật nhau với hắn vừa hổn hển: "Ơ hay... Buông ra... Tôi kêu... Tôi kêu làng... Buông ra. Tôi kêu làng lên bây giờ". Không, Thị Nở không ngớ ngẩn dở hơi một chút nào cả. Phản ứng của thị, của một người đàn bà trong những tình huống như thế ngẫm kỹ, thật đẹp. Chẳng ít người tỉnh táo, xinh đẹp, có học hẳn hoi lại kêu toáng lên ngay phút đầu. Trước hết phải đe đã. Và thị đã cư xử như một người có học, nếu không thì cũng rất văn hóa.

Thị Nở bỗng nhiên bật cười. Thị vừa rủa vừa đập tay lên lưng hắn. Nhưng đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giúi lưng hắn xuống. Chao ôi! chúng ta thử hình dung nụ cười của người đàn bà ba mươi tuổi, không chồng, trong những tình huống như thế. Nó chất chứa bao nhiêu dồn nén của một thời như lửa cháy, mãn khai!

Và bây giờ, sau cái đêm yêu dưới ánh trăng trong vười chuối ấy chúng ta hãy xem Thị Nở nghĩ gì. Thị lăn ra lăn vào, Thị trằn trọc một lát thị bỗng nhiên nghĩ rằng: Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm cong queo một mình. Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết. Thị kiêu ngạo vì đã cứu sống cho một người. Vâng, Thị hoàn toàn có quyền kiêu ngạo như thế, còn hơn thế nữa, thị không những cứu sống một con người, thị còn trả lại nhân tình cho một tâm hồn đã bị tha hóa đên cùng cực. Cải tạo hắn, cái thằng Chí Phèo ấy, huy động toàn bộ sức mạnh của cường quốc La Mã cổ đại chưa chắc đã làm được gì. ấy thế mà Thị Nở làm nổi. Dường như Nam Cao đã đặt vào cho Thị Nở tất cả những gì mà ông đã biết về đàn bà. Nghe nói rằng có một thời gian Nam Cao vào Sài Gòn và bị ốm nặng. Phải chăng xuất phát từ những ngày cô đơn, ốm đau ấy, thèm một bàn tay chăm sóc nên Nam Cao đã có những dòng thật cảm động về Thị Nở, về bát cháo hành: Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mặt hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho...

Chí Phèo đã khóc! Thượng Đế chí công trên cao chắc cũng phải nhìn Thị Nở mỉm cười hài lòng. Còn Chí Phèỏ thì: Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ hơi khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Còn hơn thế nữa, sau khi mong muốn làm một người bình thường nhưng không được, người đời không chấp nhận hắn vào cộng đồng của họ nữa, hắn lại thoang thoảng nhớ hơi cháo hành. Đó là đã sáu ngày sau khi được ăn bát cháo cứu độ của Thị Nở. Tức quá hắn lại uống rượu: nhưng càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn! Hơi rượu không sặc sụa. Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức.

Thị Nở đã bước vào cuộc đời hắn và đã thay đổi tất cả. Từ một thằng người chỉ biết đập đầu, rạch mặt, chửi đời, hắn đã trở thành một triết gia khi ngẫm nghĩ về cộng đồng, về thiện và ác, về về sự hoàn lương. Và khi lắng nghe tiếng chim sớm mai, tiếng gõ vào be thuyền chài, tiếng của những người đàn bà đi chợ Nam Định về hỏi nhau giá vải, thì hắn đã thành một thi sĩ. Công trình như có phép màu ấy hoàn toàn thuộc về Thị Nở. Nhưng muốn hỏi Nam Cao vô cùng rằng tại sao ông lại cho Thị Nở xấu làm vậy? Ngẫm nghĩ mãi, đọc Nam Cao mãi rồi đến một lúc nào đó ta sẽ thấy Nam Cao cúi mặt, lắc đầu nói giọng buồn bã:

- Biết làm sao được. Chẳng ai yêu hắn cả!

Chao ôi! Thì ra không có ai yêu hắn cả. Ông phải tưởng tượng ra một nhân vật như thể để chiều lòng người đời. Thì phải xấu ma chê quỉ hờn và ngớ ngẩn dở hơi mới đi yêu một thằng Chí Phèo. Nhưng rồi sau khi chiều lòng người đời như thế, nhân vật của ông lại sống và hành động như bao nhiêu người đàn bà khác. Rõ ràng ở một góc độ nào đó, Thị Nở đã trở thành nhân vật chính, tư tưởng chính, vấn đề trung tâm của Nam Cao trong truyện này.

Goeth, nhà thơ vĩ đại Đức, trong Phaoxtơ có câu: "Cái nữ tính vĩnh cửu dẫn dắt chúng ta đi". Trong trường hợp này chúng ta có thể nói đó là tất cả quan niệm của Nam Cao khi viết truyện "Chí Phèo".

Quan niệm về sự bền vững của cái thiên tính nữ, chúng ta còn thấy trong cách hội ý của từ An, trong chữ Hán. An, trong an ổn, bình an, gồm hai chữ miên và nữ ghép lại. Điều đó có nghĩa rằng dưới một mái nhà có người đàn bà thì mới An được. Thảo nào hơn bốn mươi tuổi rồi Chí Phèo vẫn cứ lông bông mãi thế, cho dẫu hắn có một mái nhà, vườn tược đàng hoàng như ai.

Nam Cao cũng đã dành cho Thị Nở những dòng thật trữ tình và hiện thực đến mức Thị Nở xứng đáng là đại diện của một cái gì đó rất tốt đẹp, trong tâm hồn người phụ nữ Việt Nam.

Lời cuối cùng của người viết bài này là lòng ao ước: Giá có một nơi nào đó dựng tượng đài Thị Nở. Sao lại không nhỉ nhỉ? Đông Kisôt đánh nhau với cối xay gió còn được nhiều nơi trên thế giới dụng tượng đài kia mà! Huống hồ đây là chiến công trong tất cả những chiến công vĩ đại mà con người làm được. Có khi trên thiên đình Thị Nở đã được phong thánh rồi cũng nên! Hãy để thị đứng đó nhìn mọi người qua lại, nhìn cái thắng Chí Phèo trong mỗi người. Ngày xưa Chí Phèo bán lương tâm từ năm xu, năm hào đến năm đồng, bây giờ người ta bán lương tâm còn rẻ hơn nhiều, có khi chỉ cầm một điếu thuốc thơm thôi - và Thị lắc đầu thương hại.

( Không rõ tác giả )

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Dê nuốt 10 ngàn Tiền Euro

Image

Hình trên là con Dê ở Rosenhein (Đức ) đã nuốt trọn 100 tờ 100 tiền Euro của một người chủ nhà tên Martin Radlberger . Anh này để Tiền trên bàn , rồi chạy sang phòng khách nghe điện thoại .Khi trở lại ,anh ta nhìn thấy , con Dê đang nuốt tờ 100 Euro cuối cùng . Và anh ta phải Dê ra cho Bác sĩ Thú y , mổ bụng lấy lại sô`1 tiền 10,000 Euro

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image



Tô Cháo Huyết



Xe cháo huyết của bà xẩm đó nằm trên vỉa hè phía đối diện với rạp hát Casino Đakao, gần trụ đèn xanh đèn đỏ. Thành ra khi đi về hướng Gia Định, gặp đèn đỏ, ngừng xe lại là thấy nó ngay ở bên tay mặt.

Hồi mới “giải phóng”, còn chút đỉnh tiền, chiều đi làm về tôi hay tấp vô đó “làm” một tô cháo huyết có kèm theo một dĩa giò-cháo-quẩy cắt khoanh. Không biết có phải tại vì buổi trưa ăn không đủ no thành ra chiều nghe đói sớm hay sao, mà lúc nào tôi cũng thấy cháo huyết của bà xẩm đó thật là ngon ! Cháo nấu nhừ, huyết cắt vuông thàng từng miếng vừa vặn nhỏ để được nằm gọn trong lòng cái muỗng sành. Múc một muỗng vừa có cháo vừa có huyết đưa lên môi thổi cho bớt nóng trước khi cho vào miệng, mà nghe thơm phức làm chảy nước miếng. Còn giò-cháo-quẩy cho vào cháo, dù đã được cắt khoanh, nhưng vẫn giử nguyên cái giòn của nó. Cái “béo” của giò-cháo-quẩy làm cho cái “bùi” của cháo càng thêm đậm đà, và cái “giòn” của giò-cháo-quẩy thì thật “ăn rơ” với cái mềm mềm cứng cứng của huyết. Ngon không chê được !

Bà xẩm gọi tôi bằng “thầy Hai”. Sau “giải phóng”, từ ngữ cũng đã được đổi thay – cho nó hạp với... tác phong cách mạng – không còn gọi “ông A, bà B” gì nữa. Không còn xưng hô “thầy X, cô Y” gì nữa. Mọi giai tầng xã hội đều được xóa bỏ, mọi chênh lệch tuổi tác hầu như được sang bằng. Trong... “xã giao thường thức”, để gọi nhau, người ta chỉ còn dùng có hai từ “anh” và “chị”, vừa ngắn gọn lại vừa... bình đẳng nữa ! Thành ra thấy được xử dụng rất thoải mái và... xả láng ! (Một hôm, một thằng bé cỡ tuổi cháu tôi đã gọi tôi bằng “anh”... ngon lành ! Có lẽ trong lòng nó cũng khoái được trịch thượng như vậy. Bởi vì nó biết “thằng chả không làm gì mình được” ! Đổi đời... sướng ở chỗ đó !).

Vậy mà bà xẩm vẫn gọi tôi bằng “thầy Hai”, thản nhiên không ngượng nghịu gì hết ! Có lẽ tại thói quen. Cũng như tôi vẫn gọi bả bằng “thím xẩm” chớ không là... “chị xẩm” với tiếng “chị” rất... thời trang từ ngữ !

Mặc dù bây giờ người ta hay nghi ngờ, dè dặt, bà xẩm, đối với tôi, vẫn nói chuyện một cách thật tình cởi mở:

- Tôi nhớ hồi trước thím đâu có cái xe cháo huyết này.

- Thầy Hai nói đúng đó. Hồi trước là cái tiệm. Nó nằm sau lưng tôi nè. Hồi đó buôn bán khá lắm, thầy Hai à. Tiệm có bốn năm cái bàn lận.

- Tôi biết mà. Hồi đó, lâu lâu tôi có chở vợ con lại đây ăn. Tôi ở bên Gia Định, gần xịt hè.

- Ủa ! Mà hồi đó thầy làm việc ở đâu vậy ?

- Tôi làm trong ngân hàng ở Chợ Cũ. Lái xe đi về trên đường này nên mới biết tiệm của thím đó chớ.

- Giải phóng rồi thầy cũng còn làm việc ở sở cũ hả ?

- Đâu có ! Mấy ổng đổi tôi xuống làm việc ở nhà máy ve chai Khánh Hội.

- Cha... Xa quá há ! Đạp xe chắc mệt hả thầy Hai ? Bây giờ ai cũng đi xe đạp hết trọi.

- Rồi cũng quen hà. Ủa ? Mà tại sao thím dẹp tiệm đi ?

- Thời buổi khó khăn mà thầy Hai. Giữ chi cái tiệm cho họ để ý. Làm ăn nhỏ nhỏ thôi. Như thiên hạ vậy mà.

- Rồi mấy đứa con thím đâu ? Tôi nhớ hồi đó trong tiệm có mấy đứa...

- Đi hết rồi. Đi trước giải phóng.

- Sao thím không đi ?

- Thầy Hai nghĩ coi. Tôi già rồi. Không biết tiếng, không biết chữ.Đi đâu ? Còn mồ mả chồng tôi, mồ mả ông già bà già ở đây mà đi đâu ? Còn thầy ? Sao thầy không đi ?

- Tôi kẹt !

Lâu lâu ăn cháo huyết của bà xẩm được một thời gian thì Nhà Nước đổi tiền. Tôi... trở tay không kịp. Vậy là kẹt cứng. Có khi cả tháng không dư được một đồng. Lấy gì ăn cháo huyết ?


Để tránh... thấy hàng cháo huyết, mới đầu tôi thay đổi lộ trình. Tôi đi ngã cầu sắt, vòng qua chợ Bà Chiểu, xa hơn, hôi hơn (vì đi ngang chợ) và mệt hơn. Được mấy tuần, tôi bỗng nảy ra một sáng kiến (Nhà Nước đã chẳng dạy: “Ta phải luôn luôn phát huy sáng kiến” à ?). Đó là vẫn đạp xe theo lộ trình cũ. Nhưng khi đến cách đèn xanh đèn đỏ độ vài chục thước, tôi rà thắng, mắt nhìn đèn ở đằng xa. Nếu là đèn đỏ, tôi bóp thắng ngừng ngay, đợi. Nếu là đèn xanh, tôi cắm đầu phóng nhanh đi tuốt. Thật là... thích thú. Tôi phục... tôi quá chừng !

Chiều hôm đó, đi làm về, mặc dù bụng đói meo, tôi vẫn áp dụng sáng kiến “canh đèn để vọt” kể trên. Nhưng không hiểu sao đèn đang xanh bỗng bật đỏ ngang không qua đèn vàng, khi tôi chỉ còn cách nó có vài thước. Nếu tôi... nhắm mắt chạy luôn, chắc cũng không sao. Đằng này, “bản năng” của một người công dân tốt trong tôi... bóp thắng. Xe đạp lết bánh một khúc rồi ngừng ngay trước xe cháo huyết !

Tôi chống chân chờ, mắt nhìn đèn đâm đâm. Bỗng tôi nghe tiếng bà xẩm, giọng niềm nỡ :

- Thầy Hai ! Thầy Hai à ! Trời ơi sao đâu mất vậy ? Vô ăn cháo đi !

Tôi làm bộ giật mình rồi nhìn về phía bả, mỉm cười cho... lấy có:

- Thím mạnh hả ?

Giọng của bà xẩm trở nên ân cần:

- Vô ăn cháo đi thầy Hai. Lâu quá mà...

- Tôi không có tiền ! (Tôi đã nói như vậy – dám nói như vậy – một cách thẳng thừng và không chút ngượng nghịu !).

- Không có sao ! Vô ăn đi ! Chừng nào trả cũng được. Mình quen mà... Thầy Hai !

Tôi lại nhìn đèn đỏ. Sao nó không xanh cho rồi, để tôi có cớ mà hối hả đạp đi, tránh được cái mùi thơm hấp dẫn của cháo huyết và tránh được lời mời rất thân tình của bà xẩm. Đèn vẫn đỏ ! Như... cố tình đỏ lâu để tôi có thời gian “đấu tranh tư tưởng”: một bên là “cái đói”, kéo thêm “cái thèm”, còn một bên là “cái xấu hổ” của một người chưa quen ăn chịu.

Tiếng bà xẩm vang lên:

- Thầy Hai đừng ngại mà... Vô ăn đi rồi mai mốt trả. Không có sao !

Lần này, “cái đói” cộng thêm “cái thèm” đã thắng. Tôi nuốt nước miếng bước xuống xe đạp thì đèn bật xanh. Nhưng trễ rồi. Thằng người hạ cấp trong tôi không còn đếm xỉa gì đến đèn xanh đèn đỏ. Nó chỉ còn thấy có tô cháo huyết ! Nó dẫn xe đạp lên lề khóa xe cẩn thận rồi nó bước lại ngồi lên ghế đẩu trước mặt bà xẩm. Nó còn mỉm cười chào bả một cách rất tự nhiên, không có vẻ gì của một người sắp sửa ăn chịu. Bà xẩm hỏi:

- Sao lâu quá không thấy thầy Hai vậy ?

Nó trả lời... gọn ơ:

- Tôi mắc về dưới tỉnh.

- Bà con ở dưới cũng mạnh hết hả ?

- Dạ, mạnh.

Bà xẩm múc cháo, rắc tiêu, rồi đẩy tô cháo đến trước mặt nó:

- Thầy Hai cứ ăn đi. Chừng nào có tiền trả cũng được, đừng lo !

Nó nuốt nước miếng, cầm muỗng múc cháo lên đổ cháo xuống cho mau nguội mà mắt sáng rỡ, mũi hít từng hơi mùi thơm mời mọc.

Giọng bà xẩm ôn tồn:

- Thời buổi bây giờ, đâu phải ai cũng còn tiền đâu thầy Hai. Hồi trước, làm ăn dễ, có đồng ra đồng vô. Bây giờ, càng ngày càng khó khăn, ai cũng chăm bẵm hết.

Ngừng một chút rồi tiếp:

- Chỗ quen biết, tôi nói thiệt. Thầy Hai cứ tới ăn tự nhiên, đừng ngại. Chừng nào thầy Hai trả cũng được hết. Mình với nhau mà... Phải thông cảm với nhau chớ ! Thầy Hai hiểu tôi không ?

Đến đây, bỗng thằng người hạ cấp trong tôi biến đâu mất ! Để lại tôi ngượng nghịu cúi đầu nhìn tô cháo, chỉ nói lí-nhí được có mấy tiếng “Cám ơn thím. Dạ...”, rồi nín thinh. Tô cháo trước mắt tôi bỗng như to hơn, đầy hơn, đậm đà hơn... Bởi vì tôi thấy nó phải như vậy mới tương xứng với lòng tốt của bà xẩm. Và lần này, tôi có cảm tưởng như tôi ăn tô cháo đó chẳng bao giờ cho hết !

Tôi cúi đầu húp được vài muỗng thì bà xẩm đẩy tới một dĩa giò-cháo-quẩy. Tôi vội xua tay:

- Không ! Không ! Tôi không ăn giò-cháo-quẩy đâu thím !

- Không phải đâu. Đây là tôi cho thầy Hai mà ! Không tính tiền !

Tôi ngước lên nhìn bà xẩm, dò xét. Bả nhìn tôi, hiền hòa, gật đầu nhè nhẹ như để nói “Thiệt mà ! Ăn đi !”. Miếng cháo tôi đang nuốt bỗng nghe như bị nghẹn ngang ở cổ họng, làm tôi ứa nước mắt... Tôi không dám nhìn bà xẩm nữa. Tôi nhìn tôi đang cúi đầu húp từng muỗng cháo, trịnh trọng như trong đời tôi lần đầu tiên tôi được ăn món này, món cháo huyết đậm tình người của bà xẩm Đakao...

Image


Tiểu Tử

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nghe Huế Đâu Đây!

Tô Kiều Ngân


Người Huế xa quê, ít nhiều gì cũng có lúc nằm chiêm bao thấy mình được trở về làng xưa, đi giữa những con đường quê im mát, nghe hai bên xôn xao toàn giọng Huế. Thú vị nhất là được nghe lại những tiếng, những lời mà lâu lắm rồi mình chẳng được nghe, cũng không nói tới nên hầu như quên mất. Những tiếng, những lời đó, lớp con cháu mới sinh sau chắc chắn chưa nghe bao giờ, đương nhiên là không thể nào hiểu được. Thử đố các cháu biết câu sau đây nói gì? “Tời mưa, đường tơn tợt, bỗ một cấy hắn chợc cấy tổ cúi”. Nếu viết đúng thì như thế này: "Trời mưa, đường trơn trợt, bỗ một cái hắn chợt cái trổ cúi”, có nghĩa là ”đi đường trời mưa trơn, té ngã, đầu gối bị trầy”!

Hồi tôi học tiểu học ở trường huyện Hương Trà, bọn bạn ở các làng quê lên học thường bị các thầy bắt chụm năm đầu ngón tay lại, lấy thước ”khẽ” những cú đau điếng vì lỗi phát âm sai lệch. “Con trâu trắng” thì chúng đọc thành “con tâu tắng”, “ăn trộm” thì đọc thành “ăn tộm”. Bị đánh mãi nhưng không sửa được vì mới biết nói chúng đã phát âm như vậy, bởi chung quanh ai cũng nói như vậy, giọng điệu nhà quê đã quá quen thuộc, đâu phải là lỗi của chúng khi đánh mất âm “r”. Nghe thêm câu sau đây hẳn người lớn cũng phải ngơ ngẩn, đừng nói là lớp trẻ mới lớn: ”Tới tuồi cho tụt”. Cái gì đây? Nếu thêm “r” vào, câu này sẽ là: ”Tới Truồi cho trụt”. Truồi là tên một làng quê nằm bên cạnh Nong, hai làng đều thuộc huyện Phú Lộc xưa. Truồi vốn nổi tiếng vì hai đặc sản đó là dâu Truồi và chè Truồi. Cũng nổi tiếng vì câu ca dao:

“Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Nong ai bới, ai đào nên sâu”

Hai làng này nằm ở phía Nam kinh thành Huế, có đường xe lửa chạy qua. “Tới Tuồi cho tụt” đơn giản là “đến ga Truồi cho tôi xuống”! Vậy thôi! Nhân nói đến Nong, tưởng cũng nên nhắc lại một giai thoại. Chuyện kể rằng trên chuyến xe lửa dừng lại ở ga Nong, hai hành khách Nhật Bản nghe một bà già hỏi chuyện một cô gái người địa phương như thế này:

- O ga ni ga mô ri?

Cô gái đáp lại:

- Mê ga ni ga Nong!

Hai vị khách Nhật nhìn nhau ngơ ngác, thầm hỏi không biết hai phụ nữ kia có bà con xa gần gì với người Nhật mình không mà nói năng y như tiếng Nhật. Hỏi ra mới biết, bà già hỏi cô gái:

- O ơi ga này là ga nào vậy?

Cô gái đáp lại:

- Thưa mệ, ga này là ga Nong.

Người Huế có thói quen không phân biệt “nh” và ”d” nên nói nho nhỏ họ phát âm thành nói “do dỏ”, đi nhè nhẹ thành đi “dè dẹ”, nghe nhạc thành nghe “dạc”, ở trong nhà thành ở “trung dà”. Cũng không phân biệt khi phát âm “an” với “ang”, do đó mà hoa “lan” hay khoai “lang” cũng đọc như nhau.

- Nì, cái áo của tau mi để mô?

- Móc ở trung chớ mô!

- Trung mô?

- Thì móc ở trung buồng, trung dà chớ cóm để ngoài đường răng mà hỏi lạ rứa!

Đối thoại trên của hai chị em cho ta biết rằng: cái áo của cô chị, cô em móc ở trong buồng, ở trong nhà, đâu có để ngoài đường, sao hỏi lạ thế! Kể cũng khó hiểu, nếu ta không quen phương ngữ sông Hương thì ắt phải có người thông dịch. Nghe Huế không những phải rành thổ âm, thổ ngữ mà còn phải rành cung bậc, bổng trầm, to nhỏ. Chỉ một tiếng “dạ” mà nếu phát âm nhẹ nhàng thì tỏ sự tuân phục, đồng ý; nếu “dạ” biến thành “dá…ơ” thì tỏ ra người nghe ở xa, chưa hiểu người nói nên yêu cầu nhắc lại. Nếu “dạ” được phát âm bằng giọng xẵng, tiếp sau đó là một dấu lặng đột ngột thì phải hiểu đó là thái độ không bằng lòng, không đồng ý, bực dọc mà phải vâng chịu. Nếu nghe cấp trên thuyết giảng, không trao đổi mà cứ lúc lúc lại dạ…dạ…dạ thì gọi đó là “dạ nhịp” để người nói tin rằng người nghe bị thuyết phục hoàn toàn bởi suốt buổi chỉ nghe toàn một tiếng “dạ…à”!

Huế cũng “phớt lờ” sự phân biệt giữa các âm: ”ươn” với “ương”, “ac” với “at”… Cho nên con “lươn” và lãnh “lương” cũng nói như nhau; “biển hát” thì thành ra “biển hác”. Có điều lạ là khi viết, họ viết rất đúng chính tả nhưng khi nói thì có người nói đúng, có người cứ phát âm theo thói quen – do đó, khi gặp ai “đi dè dẹ”, “nói do dỏ” thì ta biết ngay đó là người Huế một trăm phần trăm, không chối cãi gì được và tự thâm tâm ta bỗng liên tưởng đến cội nguồn, đến quá khứ, đến truyền thống xa xưa…

Sẽ thất vọng bao nhiêu nếu nói chuyện với một cô gái Huế nào đó mà không nghe được những tiếng “dạ…thưa” ngọt lịm, không nghe cô ta “nói dỏ dỏ” mà cứ uốn giọng, tránh xài các thổ ngữ, “hương đồng gió nội” cùng cái duyên dáng trời cho quả đã bay đi mất rồi đó!

Có phải là đã có đôi lúc bạn nằm mơ thấy mình về Huế để nhìn lại thành quách cũ, con sông xưa, để được nghe giọng Huế rặt, những tiếng lời quen thuộc gợi lên một thời thơ ấu. Gần Tết, nếu bạn không về thăm Huế được trên thực tế thì mong bạn hãy…nằm mơ. Trong giấc mơ thế nào bạn cũng nghe lại được những tiếng nói thân thương chan hoà phong vị ngày xuân chẳng hạn như là tiếng rao bài chòi của anh hiệu:

- Hai bên lẳng lặng mà nghe đi chợ con ầm…

Hoặc của bàn Nhứt Lục:

- Cất tay! Nhứt…Tam…Ngũ!

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

VN: Nhạc sĩ đưa nhạc lên Internet, tránh kiểm duyệt


Image
Album Bụi Đường Ca được đưa lên mạng cho người nghe miễn phí


Tại Việt Nam, một nhạc sĩ đã tung lên mạng internet album mới cho người nghe miễn phí vì biết rằng đĩa nhạc của anh không thể qua cổng kiểm duyệt để được phát hành chính thức.
Đĩa nhạc Bụi Đường Ca của nhạc sĩ Tuấn Khanh, với những ca khúc nghiêng về mảng đề tài xã hội, đang gây chú ý cho những công dân mạng.

Tuấn Khanh, sinh năm 1968, bắt đầu chơi nhạc từ năm 15 tuổi và có nhiều ca khúc được ưa thích từ giữa thập niên 1990.

Không chỉ sáng tác và sản xuất âm nhạc, Tuấn Khanh còn viết báo, xuất hiện nhiều trên các chương trình truyền hình và đang làm giám khảo trong cuộc thi Vietnam Idol.

Bên cạnh công việc của một nhạc sĩ được dòng “chính thống” chấp nhận, Tuấn Khanh cũng có những dự án mang tính chất “underground” hơn.

Trong tiểu sử chính thức, anh cho biết mình từng bị báo Tuổi Trẻ đuổi việc bằng văn bản vì “tư tưởng không lành mạnh với văn hoá cách mạng”.

Viết trên blog của mình về đĩa nhạc Bụi Đường Ca, Tuấn Khanh nói đây là cách để “chia sẻ với nhiều bạn bè tôi, các anh chị nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo... cũng chọn lựa cách truyền đạt underground này để bảo vệ sự nguyên vẹn của bản thân mình”.

Trả lời đài BBC, nhạc sĩ Tuấn Khanh nói anh muốn được có tự do trong sáng tác và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Tuấn Khanh: Trước hết tôi xin kể một trường hợp người bạn của tôi. Anh này chứng kiến nhiều hiện thực xã hội, những cảnh nghèo khó và bất công. Bằng tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh viết một ca khúc kể về một bà mẹ ở vùng quê nghèo. Khi đưa album đi duyệt, mất gần một năm trời, gửi đi các phòng ban kiểm duyệt ở các tỉnh, thành phố đều bị bác. Cuối cùng, anh cũng kiếm được một con đường ra – bằng một tờ giấy cam kết rằng hình ảnh bà mẹ nghèo đó chỉ có ở quê của anh ta thôi, đây chỉ là hình ảnh thoáng qua trong bài, chuyện cũng được giải quyết rồi chứ không còn tồn tại nữa. Chỉ như thế, album mới được ra. Nhưng đĩa ra rồi, bạn tôi cũng bị stress, chán ngán không muốn giới thiệu album rộng hơn nữa.

Tôi không muốn rơi vào trường hợp như vậy. Có một điều quý giá tôi học được ở nhiều anh chị em nghệ sĩ Việt Nam là không gì quý hơn bằng việc bảo vệ tự do sáng tạo của mình. Nó phải nguyên vẹn, phản ánh những gì mình nghĩ về hiện thực xã hội.

Album Bụi Đường Ca là sự phản ánh những suy nghĩ của tôi về cuộc đời. Tôi nhớ nghệ sĩ rock Trung Quốc Thôi Kiện, có lần được Time phỏng vấn. Họ hỏi anh có vẻ nghiêng về vấn đề chính trị, thì Thôi Kiện trả lời không, chúng tôi chỉ viết về hiện thực xã hội của thời đại chúng tôi đang sống. Tôi cũng muốn lặp lại lời của Thôi Kiện: tôi cũng chỉ muốn phản ánh hiện thực của cuộc sống chúng tôi đang sống.

BBC:Theo anh, có thể lý giải thế nào về cách kiểm duyệt các tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam hiện nay? Nhiều người khó hiểu là vì sao nhiều ca khúc “nhảm nhí” vẫn có thể ra mắt dễ dàng.

Có lẽ những người ở cấp cao họ cũng không nghĩ đến lối làm việc mà ở Việt Nam vẫn gọi đùa là “cầm đèn chạy trước ô tô” của các phòng văn hóa, sở văn hóa ở các tỉnh thành hiện nay. Người ta muốn bảo vệ cái ghế mình đang ngồi, tránh bất kỳ một scandal nào mà có thể làm họ bị khiển trách.



Tuấn Khanh

Do đó, loại ca khúc hiện nay đang gặp nhiều sự ca thán của khán giả lại rất dễ dàng được ra. Đơn giản là vì chúng “lành”, không thể làm hại những người kiểm duyệt. Còn những ca khúc hiện thực xã hội luôn gặp rào cản, vì người ta sợ. Cái sợ này không phải là sợ cho xã hội, mà là sợ cho cá nhân và cơ quan của những cá nhân đó.

Chắc sẽ có nhiều người bảo Tuấn Khanh nói thế không đúng. Nhưng tôi đoan chắc rằng ở Việt Nam, tác giả nào mà gửi lên bài hát nói về nạn tham nhũng, nói về người dân bị cướp đất…sẽ khó mà được cho ra mắt.

BBC:Sau khi anh đưa Bụi Đường Ca lên mạng và bắt đầu gây được tiếng vang, bản thân anh có bị gây khó dễ gì không?

Trong thế giới phẳng hiện nay đang có hiện tượng rất tốt, ở chỗ nó tạo ra sự tự do cá nhân và được chia sẻ. Với album này, tôi không muốn gây liên lụy đến ai, nên tự tôi đã tự hát các ca khúc để tránh phiền lụy. Tôi để nhạc lên blog của mình, mọi người có quyền tự do nghe, chia sẻ. Hiện nay, dù gì đi nữa, nếu muốn đặt vấn đề với nó, thì chúng ta còn phải thảo luận rất nhiều để xác định sai hay đúng. Cho đến nay, tôi vẫn là người tự do, ổn định với công việc của mình.

BBC:Anh có cảm thấy mình cô đơn không, khi mà ít ai đi theo xu hướng viết nhạc về những hiện thực bên ngoài tình yêu?

Cái gì ngược hướng bao giờ cũng tạo cảm giác đầu tiên là sự sợ hãi, e dè. Có những người bạn của tôi viết văn, làm thơ rồi để lên blog của họ. Rồi chỉ sau một vài comment không thuận lợi, thế là họ lại bỏ xuống. Tôi nghĩ thế giới chúng ta sống còn rất nhiều bất trắc; trở ngại nằm chính trong suy nghĩ của bản thân mình. Anh đặt câu hỏi này, lại làm tôi nghĩ đến những anh em văn nghệ sĩ mà tôi được biết. Tôi xin được gửi lại câu hỏi này cho tất cả các anh chị em trí thức nghệ sĩ yêu chuộng tự do sáng tạo và không muốn chịu bất kỳ sự kiểm duyệt nào.

BBC:Nhưng anh có mong muốn là những khao khát của anh cũng truyền được lửa cho người đi sau hay không?

Một người bạn của tôi làm thơ, anh ấy tặng tôi một tập thơ photocopy. Anh bảo là mình không muốn đem in, vì chắc chắn sẽ không thể in trọn vẹn. Tôi đọc nó, rất là thích. Đến một ngày, tôi lại tặng tập thơ cho một bạn trẻ đang học Văn. Chừng hai tuần sau, bạn ấy gặp tôi, cho hay là tập thơ ấy đã gợi hứng cho bạn viết ra những bài thơ khác.

Tôi nghĩ những sự chuyền tay nhau như vậy là mạch khơi nguồn cho những sáng tạo. Dĩ nhiên trước mặt chúng ta là đám đông, nhưng trong đám đông đó cũng có những cá nhân muốn có những cái gì đó khác biệt hơn. Số cá nhân ấy không ít đâu. Sau khi đưa Bụi Đường Ca lên mạng, tôi nhận được rất nhiều thư của các bạn cũng đang viết nhạc, ca hát. Họ bảo tôi là họ cũng muốn làm theo cách riêng của mình, và hỏi liệu họ có nên làm không. Tôi trả lời những gì bạn lựa chọn cũng có rủi ro, nhưng kèm theo cũng là niềm kiêu hãnh. Và theo tôi, không ít các bạn trẻ đang nghĩ về sự tự do sáng tạo theo đúng nghĩa của từ này.



Blog của Tuấn Khanh Bụi Đường Ca

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

“ĐEM THÂN CHO THIÊN HẠ MUA CƯỜI”...

HUY PHƯƠNG
Cách đây mấy tuần, các bạn đã đọc được nỗi bất bình của tôi khi xem show “Le Rêve” tại sòng bài Wynn ở Las Vegas, khi người ta đem những chiếc đầu sói ra để đùa một cách “mất dạy”, mà tôi đã không thể dùng chữ nào hơn để mô tả. Bài báo được in ra, và có nhiều người quan tâm, như một độc giả chưa quen ở Anaheim đã điện thoại cho tôi, có vẻ thương hại cho sự ngây thơ của người viết. Người này nói cho tôi rõ là sẽ không có ai kiện bọng gì cả, vì những người mang chiếc đầu sói này là những nhân viên ăn lương của bầu show, nói tóm lại đây là những “cò mồi” thứ thiệt. Người bạn này trước đây làm ăn ở “thành phố tội lỗi” này, có nhiều giấy mời xem show nên thỉnh thoảng đi xem lại những show đã một lần xem qua, và nhận ra “đi vô đi ra cũng mấy thằng cha khi nãy”. Đây là những người do bầu show thuê, công việc hằng ngày, mỗi xuất chỉ việc vào ngồi ở rạp (chia ra bốn hướng) để chịu diễn lại tấn tuồng này.

Sau khi xem show “Le Rêve” về, tôi bất bình một, bây giờ nghe ông độc giả này nói rõ, tôi lại bất bình hai. Vì sợ kiện, rạp đã phải thuê “những người đầu sói” làm nạn nhân, đôi khi tỏ ra một chút ngờ nghệch, ngây thơ cho phải phép, để mang lại những tràng cười cho khán giả ngồi đợi giờ diễn. Nếu thực sự bạn có cái đầu sói, và đang lúc túng quẫn, tôi chắc không đời nào bạn đi apply để xin việc này, mặc dầu nghề này trông có vẻ nhàn hạ, mỗi ngày vợ chồng đắt nhau đi coi show như những kẻ phong lưu dư tiền dư của. Nhưng thực sự tôi không chịu nổi về chuyện nghĩ mình phải “đem thân cho thiên hạ mua cười”, nó không kém xót xa tâm sự của nàng Kiều bên Tàu ngày xưa đâu. Nàng Kiều dâng hiến cho khách làng chơi cái gì tôi không rõ, nhưng còn tôi, lấy chỗ trên đầu trên cổ đem làm trò cười cho thiên hạ thì tôi không chịu nổi. Thà tôi đi làm cu li như những ngày mới sang Mỹ, hay là đi chùi restroom, còn hơn ngồi đần ra cho thiên hạ cười hô hố vào mặt mình.

Tôi không thể nào chịu đựng với ngọn đèn pha mấy nghìn watts chiếu thẳng vào mặt, trong khi hằng nghìn khán giả đều quay đầu nhìn đến phía mình, với những tiếng cười bất nhã và những tràng pháo tay cổ võ (không biết cổ võ ai, những anh hề hay cho tôi). Tôi cũng có những ông thầy dạy học, những bạn bè, thân quyến không có tội tình gì, chỉ mỗi điều lúc hết tuổi xuân, tóc bắt đầu rụng, lẽ nào tôi lại để cho mọi người được cười cợt những khuyết điểm phải nói là chẳng có gì quan trọng.

Ngày xưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh có nói “người An Nam ta có tật cái gì cũng cười, hay cũng cười, dở cũng cười…”, ngoài đời không hiểu thế nào chứ trong rạp hát, câu này áp dụng cho người Mỹ có lẽ đúng hơn. Không hiểu vì mình dốt nát không hiểu được cái thâm thúy trong nụ cười của người Mỹ, hay người Mỹ không có cái thâm trầm bí hiểm của người Á Đông. Hồi ở trong quân đội, tôi có được đi học một lớp báo chí bên Mỹ, thực tập các môn học thì cũng OK, nhưng vào những giờ thuyết giảng, nhất là các môn học về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ thì tôi mù đặc. Có lẽ giáo sư nói hấp dẫn lắm, thỉnh thoảng cả lớp lại cười rần rần, trong lúc tôi, một học viên Việt Nam duy nhất trong lớp, lại chỉ thỉnh thoảng mới nhếch mép được một cái. Ông bạn sĩ quan Hoa Kỳ ngồi bên cạnh để ý chuyện ấy bèn quay sang hỏi tôi “sao bạn không cười?”. Tôi vừa định nói thật với nó là tôi có hiểu cái gì đâu mà cười với khóc, thì hình như nhận ra câu hỏi ngớ ngẩn của mình, anh ta nói: “Tôi biết người Á Đông các anh thâm trầm, sâu sắc, đâu có dễ làm các anh cười được!” Lần này thì tôi cười thật, nhưng là cười thầm trong bụng.

Nhưng với những trò đùa vô duyên trong show “Le Rêve” tuần trước, không có gì phải khó hiểu cả. Tôi không cười là vì tôi thấy nó sỗ sàng, thô lổ, không có tính người, nếu có ai bảo tôi khó tôi cũng xin chịu.

Mấy năm sau khi sang Mỹ, tôi bị nhiều tháng ngày thất nghiệp nằm nhà, chiều chiều nghe tiếng chiếc xe van vào xóm bán cà rem cho lũ nhỏ, phát ra một điệu nhạc đơn điệu quen thuộc buồn bã, tôi tưởng chừng phát điên lên được. Nhưng chắc tôi cũng không thể ra đứng ở đầu đường làm cái “human sigh” múa may một cái bảng hiệu bán nhà hay quảng cáo cho tiệm ăn gần đó. Tôi thường nghĩ thà làm một việc gì cực nhọc bao nhiêu cũng được, nhưng phải ở trong một cái xó xỉnh tối tăm nào mà không ai biết đến mình, chứ không dám chường mặt ra ở chỗ đám đông. Thế mà có người chịu đưa cái đầu sói của mình ra để làm cái “cần câu cơm” như chữ nghĩa thế gian vẫn thường dùng. Tôi mừng vì chưa thấy ai là người Việt chịu đi làm những công việc như thế.

Bây giờ tôi mới thấy tội nghiệp cho những người có chiều cao quá khổ, những người lùn, hay anh chàng béo phệ lạ thường đều được các ông chủ gánh xiệc săn đón để mời diễn trò mua vui cho khách vào xem. Các chủ nhân ông này thường đi tìm kiếm các cái khác lạ, dị thường của con người, có khi là dị tật bẩm sinh, để kích thích sự hiếu kỳ của khán giả, nó chẳng khác gì họ đi mua một con vịt có ba chân, con chó lai dê có sừng để tăng thêm thu nhập cho gánh xiếc. Đối với con người hay với con vật, cũng thế thôi, cái gì chủ nhân hái ra tiền là được.

Tôi nghĩ cái anh chàng đạo diễn sân khấu này, chắc là lãnh lương cao lắm, nhưng đầu óc tối tăm, không nghĩ ra được một cái trò gì cho nó có ý nghĩa để phải đem cái đầu sói của người ta ra mà diễu cợt. Nhưng tôi lại càng trách hơn những anh chàng “cò mồi” không biết xấu hổ, mang cái bộ mặt đóng kịch, ngây thơ, ngờ nghệch ra mỗi tối để kiếm ăn, tuy có nhàn hạ thật, nhưng vẫn có điều gì đó không vui.

Trách thì trách nhưng vẫn thấy vướng lại trong lòng một chút xót xa.

Huy Phương

Post Reply