Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Thơ già
Lâu nay cứ tưởng mình già
Bây giờ mới biết quả là y chang
Suốt ngày nói chuyện thuốc thang
Gặp nhau lại kể cả tràng chuyện xưa
Tivi dỗ giấc ngủ trưa
Sức khoẻ lại giảm, mắt mờ, da nhăn
Đọc chữ phóng đại mấy trăm
Lại còn đãng trí, tần ngần, hay quên
Cả ngày mỏi mắt đi tìm
Hết tìm khoá cửa lại tìm khoá xe
Nhiều hôm thăm viếng bạn bè
Được dăm ba phút nằm phè ngủ ngon
Tóc bạc chen chúc tóc non
Không dám nhổ nữa sợ còn bình vôi
Kiến thức mới nuốt chẳng trôi
Bước ra khỏi cửa trùm người áo len
Ra đường chẳng ai gọi tên
Cứ gọi chú, bác có phiền hay không ?
Khi lên xe buýt dẫu đông
Dăm người nhường chỗ 'Mời ông cứ ngồi'
Lại hay nhạy cảm, tủi đời
Thích được săn sóc hơn thời ngày xưa
Thấy tình nhân trẻ vui đùa
Mà lòng chua xót phận vừa cuối thu
Xuốt ngày trung tiện lu bù
Cơm thì phải nhão, phở cho thật mềm
Thích nghe tiếng hỏi, lời khen
'Lúc này thon thả, trẻ hơn dạo nào'
Thức ăn cứ lấy ào ào
Ăn thì chẳng nổi mà sao cứ thèm
Ngủ trưa giấc cứ dài thêm
Đứng, ngồi, 'chuyện ấy' ngày thêm chậm rì
Đánh răng, tìm thuốc loại gì
Để răng được trắng không thì khó coi
Cà phê chỉ hớp một hơi
Đêm về trắng mắt nhìn trời đếm sao
Gặp người cùng tuổi như nhau
Thường hay hỏi 'Bác thế nào? Khoẻ không?'
Cell Phone thì khổ vô ngần
Lúng ta lúng túng thường không trả lời
Để chuông reo mãi một hồi
Mở ra thì đã chậm rồi còn đâu ?
Bệnh tật nó đến từ đâu
Cao mỡ, cao máu lâu lâu ... tiểu đường
Tránh né việc nặng là thường
Việc nhẹ thì cũng đau xương, mệt nhoài
Đi chơi càng khổ gấp hai
Đi đâu cũng ngại đường dài lái xe
Giữ thân cho khỏi tròn xoe
Vòng hai sao cứ bè bè phình to
Thang lầu càng nghĩ càng lo
Chỉ sợ trượt ngã khổ cho thân này
Ngủ thì chẳng ngủ được say
Bốn năm giờ sáng dậy ngay tức thì
Sinh nhật, sinh nhiếc làm gì
Cái chuyện lẻ tẻ ấy thì nên quên
Vẫn hay nhìn kiếng thường xuyên
Xem chân dung đã trở nên thế nào
Buồn tình đếm thử xem sao
Bao nhiêu triệu chứng ấy bao nhiêu già!
Bùi Phạm Thành
Lâu nay cứ tưởng mình già
Bây giờ mới biết quả là y chang
Suốt ngày nói chuyện thuốc thang
Gặp nhau lại kể cả tràng chuyện xưa
Tivi dỗ giấc ngủ trưa
Sức khoẻ lại giảm, mắt mờ, da nhăn
Đọc chữ phóng đại mấy trăm
Lại còn đãng trí, tần ngần, hay quên
Cả ngày mỏi mắt đi tìm
Hết tìm khoá cửa lại tìm khoá xe
Nhiều hôm thăm viếng bạn bè
Được dăm ba phút nằm phè ngủ ngon
Tóc bạc chen chúc tóc non
Không dám nhổ nữa sợ còn bình vôi
Kiến thức mới nuốt chẳng trôi
Bước ra khỏi cửa trùm người áo len
Ra đường chẳng ai gọi tên
Cứ gọi chú, bác có phiền hay không ?
Khi lên xe buýt dẫu đông
Dăm người nhường chỗ 'Mời ông cứ ngồi'
Lại hay nhạy cảm, tủi đời
Thích được săn sóc hơn thời ngày xưa
Thấy tình nhân trẻ vui đùa
Mà lòng chua xót phận vừa cuối thu
Xuốt ngày trung tiện lu bù
Cơm thì phải nhão, phở cho thật mềm
Thích nghe tiếng hỏi, lời khen
'Lúc này thon thả, trẻ hơn dạo nào'
Thức ăn cứ lấy ào ào
Ăn thì chẳng nổi mà sao cứ thèm
Ngủ trưa giấc cứ dài thêm
Đứng, ngồi, 'chuyện ấy' ngày thêm chậm rì
Đánh răng, tìm thuốc loại gì
Để răng được trắng không thì khó coi
Cà phê chỉ hớp một hơi
Đêm về trắng mắt nhìn trời đếm sao
Gặp người cùng tuổi như nhau
Thường hay hỏi 'Bác thế nào? Khoẻ không?'
Cell Phone thì khổ vô ngần
Lúng ta lúng túng thường không trả lời
Để chuông reo mãi một hồi
Mở ra thì đã chậm rồi còn đâu ?
Bệnh tật nó đến từ đâu
Cao mỡ, cao máu lâu lâu ... tiểu đường
Tránh né việc nặng là thường
Việc nhẹ thì cũng đau xương, mệt nhoài
Đi chơi càng khổ gấp hai
Đi đâu cũng ngại đường dài lái xe
Giữ thân cho khỏi tròn xoe
Vòng hai sao cứ bè bè phình to
Thang lầu càng nghĩ càng lo
Chỉ sợ trượt ngã khổ cho thân này
Ngủ thì chẳng ngủ được say
Bốn năm giờ sáng dậy ngay tức thì
Sinh nhật, sinh nhiếc làm gì
Cái chuyện lẻ tẻ ấy thì nên quên
Vẫn hay nhìn kiếng thường xuyên
Xem chân dung đã trở nên thế nào
Buồn tình đếm thử xem sao
Bao nhiêu triệu chứng ấy bao nhiêu già!
Bùi Phạm Thành
NHỎ KHÔNG HỌC LỚN LÀM TRIỆU PHÚ
Trịnh Du Ngày xưa bên quê nhà chúng tôi thường nghe các em nhỏ nói đùa là “ Nhỏ không học lớn làm Đại Uý”. Chúng có ý là không cần đi đến trường nhưng lớn lên cũng có thể giúp đở quê hương tổ quốc trong thời chinh chiến. Không đi đến trường học mà lớn lên leo được tới lon đại úy thì còn chua cay và giang khổ hơn là đi học để trở thành bác sĩ, kỹ sư...
Ngày nay chúng tôi thấy chuyện ấy không còn hợp trên đất nước này mà trước mắt chúng tôi đang thấy một chuyện vui vui là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”.
Đêm hôm qua đã bắt đầu những ngày tự do cho một số cầu thủ free agent của môn bóng chày trong làng bóng ngoại hạng MLB. Những cầu thủ này đã từng đấu trong làng lâu năm nên sau một thời gian nào đó họ đã được tự do đầu quân cho đội nào mà họ muốn. Những tên tuổi như Manny Ramirez, CC Sabathia, Francisco Rodriguez, Adam Dunn, Mark Teixeira và hàng chục tên tuổi khác đang đánh một ván cờ lớn nhất trong đời banh nghiệp của họ. Hầu hết tất cả những cầu thủ free agent này đều đã được ông chủ cũ của họ offer một giá rất cao nhưng cầu thủ free agent nào cũng muốn có một cái hợp đồng bảo đảm dài hạn với một số tiền nào đó. Số tiền các cầu thủ free agent đòi hỏi làm cho những ông chủ cũ không thể nào trả nổi nên các cầu thủ free agent này mới ghi danh vào trong danh sách free agent để cho các ông chủ của những đội khác mướn về.
Theo như chúng tôi biết thì mùa những mùa bóng tới sẽ có trên 20 cầu thủ free agent được lãnh lương trên 10 triệu Mỹ kim mỗi năm. Rất nhiều cầu thủ free agent khác có tài cán yếu hơn thì ít nhất cũng lãnh được trên 5 triệu Mỹ kim mỗi năm. Ngoài ra sẽ có một số cầu thủ hơi yếu sức tàn cũng được các ông chủ rước về làm dự bị nhưng tiền lương không ít hơn 1 triệu mỹ kim mỗi năm. Phần đông các cầu thủ free agent này chưa xong bậc đại học trước khi họ đầu quân trong làng MLB. Có những cầu thủ chưa thông thạo Anh ngữ mặc dù đã nhiều năm sống trên đất Mỹ. Trình độ văn hóa của các cầu thủ trong làng MLB thấp hơn các cầu thủ trong làng NFL. Chúng tôi nói vậy là vì làng bóng MLB tuyển chọn các cầu thủ đủ mọi lứa tuổi khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Nếu là các cầu thủ quốc nội thì chỉ cần học xong bậc trung học, còn nếu là các cầu thủ ngoại quốc (phần đông họ đến từ Nam Mỹ) thì chỉ cần có tài chơi bóng là đủ. Có những cầu thủ từ Nam Mỹ được các ông chủ lớn tuyển chọn khi vừa16 tuổi trăng tròn nhưng chẳng có một chữ Anh nào trong óc. Do đó chúng tôi mới dám nói “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú” là vậy!
Nói đến đây chúng tôi nhớ là cách nay vài ba ngày có một anh chàng bỏ học nửa chừng nhưng đã trở thành triệu phú. Con đường của anh đã đi qua là con đường đất có màu đen đỏ trong làng chơi cờ bạc. Đó là anh Peter Eastgate của Đan Mạch. Từ châu Âu bay qua châu Mỹ, anh ta ghé vào Las Vegas thử thời vận đỏ đen nơi xứ lạ quê người. Ai ngờ tại vùng đất xa xôi vạn lý này, nơi vừa có một người da màu đen đầu tiên được chọn làm tổng thống Hoa Kỳ thì cùng ngày hôm đó có một anh chàng mang tên Peter Eastgate trở thành ông Vua Cờ Bạc Trẻ Nhất của Las Vegas. Nước da màu trắng của anh ta từ từ trở thành màu đỏ vì quá hạnh phúc, rượu bia và hương sắc của các cô vũ nữ thấm vào máu cả ngày nên da của anh đỏ hơn dân thổ địa! Cuộc đời của ông vua cờ bạc trẻ này chẳng khác gì với cuộc đời của những cao thủ bóng chày vừa nói trên.
Có lẽ bà con ta nghĩ rằng chúng tôi lãng trí hay sao mà đưa cái chuyện cờ bạc vào tin thể thao.
Không, chúng tôi chưa lãng trí đâu, mặc dù vừa nghe tin nhà thơ lão thành Phương Triều vừa mới qua đời. Trong khi chờ thêm tin tức từ thi văn sĩ Túy Hà, tôi vội viết mấy dòng gởi đến bà con đọc chơi. Các cơ quan truyền thông thể thao Hoa Kỳ đều loan tin đánh xì tẩy này lên hàng đầu đó quí vị ạ! Cho chúng tôi tiếp tục viết về ông vua cờ bạc trẻ này đi nhé!
Khi xưa còn bé, anh Peter Eastgate (có thể dịch nôm na ra tiếng Việt là: Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng) chẳng thích học bài. Thường thì bạn bè học chung lớp với anh ta tay cầm sách vở nhưng đôi bàn tay của anh ta thì cầm bộ bài Cơ Rô Chuồn Bích. Nhưng rồi anh ta cũng học xong lớp 12 trường làng (khá hơn Thánh Phê-rô của hai ngàn năm trước). Sau khi tốt nghiệp trung học, anh Peter Eastgate mang tên Việt “Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng” ghi danh vào một trường đại học. Nhưng anh ta học đại có một tuần thì bỏ học. Nào ai có ngờ chỉ sau đó 4 năm thì anh chàng ấy lại trở thành một nhà triệu phú. Chính anh ta lúc ấy cũng không dám mơ là có một ngày anh ta sẽ trở thành triệu phú nhanh như vậy.
Dân ta có câu:
“Cờ bạc là bác thằng bần, bỏ nhà bỏ cửa ra thân ăn mày”.
Chúng tôi có câu:
Cờ bạc là gì nhân thế ơi
Đánh thua tơi tả biết kêu trời
Ngày đêm hai job thân tàn tạ
Vợ bỏ, con xa, vẫn cứ chơi!
Vì quá ham mê cờ bạc nên anh chàng Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng này ngày đêm sưu tầm cách đánh xì tẩy của dân Texas (No-limit Texas Hold’em) để hy vọng có một lần bay qua Las Vegas tham dự giải Vô Địch Xì Tẩy Thế Giới (World Series of Poker). Giải này được tổ chức hằng năm với hàng ngàn người ghi danh. Mỗi người phải đóng 10 ngàn Mỹ kim. Ban tổ chức chia tất cả các tay cờ bạc ra từng bàn một. Vô địch mỗi bàn hợp lại thành nhiều bàn khác để cuối cùng còn lại một bàn duy nhất, rồi từ đó các ông mang giấc mộng triệu phú cùng nhau sát phạt cho đến khi còn lại một người cuối cùng. Tiền thưởng cho người toàn thắng tùy vào số người tham dự của giải đó. Năm nay anh Peter Eastgate lãnh được 9.15 triệu Mỹ kim.
Khi được hỏi rằng anh ta có trở lại trường đại học để tiếp tục con đường học vấn hay không… thì anh Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng trả lời ngọt xớt là: Không, không, tôi không cần đi học nữa…
Đúng là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”! (TD).
Trịnh Du Ngày xưa bên quê nhà chúng tôi thường nghe các em nhỏ nói đùa là “ Nhỏ không học lớn làm Đại Uý”. Chúng có ý là không cần đi đến trường nhưng lớn lên cũng có thể giúp đở quê hương tổ quốc trong thời chinh chiến. Không đi đến trường học mà lớn lên leo được tới lon đại úy thì còn chua cay và giang khổ hơn là đi học để trở thành bác sĩ, kỹ sư...
Ngày nay chúng tôi thấy chuyện ấy không còn hợp trên đất nước này mà trước mắt chúng tôi đang thấy một chuyện vui vui là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”.
Đêm hôm qua đã bắt đầu những ngày tự do cho một số cầu thủ free agent của môn bóng chày trong làng bóng ngoại hạng MLB. Những cầu thủ này đã từng đấu trong làng lâu năm nên sau một thời gian nào đó họ đã được tự do đầu quân cho đội nào mà họ muốn. Những tên tuổi như Manny Ramirez, CC Sabathia, Francisco Rodriguez, Adam Dunn, Mark Teixeira và hàng chục tên tuổi khác đang đánh một ván cờ lớn nhất trong đời banh nghiệp của họ. Hầu hết tất cả những cầu thủ free agent này đều đã được ông chủ cũ của họ offer một giá rất cao nhưng cầu thủ free agent nào cũng muốn có một cái hợp đồng bảo đảm dài hạn với một số tiền nào đó. Số tiền các cầu thủ free agent đòi hỏi làm cho những ông chủ cũ không thể nào trả nổi nên các cầu thủ free agent này mới ghi danh vào trong danh sách free agent để cho các ông chủ của những đội khác mướn về.
Theo như chúng tôi biết thì mùa những mùa bóng tới sẽ có trên 20 cầu thủ free agent được lãnh lương trên 10 triệu Mỹ kim mỗi năm. Rất nhiều cầu thủ free agent khác có tài cán yếu hơn thì ít nhất cũng lãnh được trên 5 triệu Mỹ kim mỗi năm. Ngoài ra sẽ có một số cầu thủ hơi yếu sức tàn cũng được các ông chủ rước về làm dự bị nhưng tiền lương không ít hơn 1 triệu mỹ kim mỗi năm. Phần đông các cầu thủ free agent này chưa xong bậc đại học trước khi họ đầu quân trong làng MLB. Có những cầu thủ chưa thông thạo Anh ngữ mặc dù đã nhiều năm sống trên đất Mỹ. Trình độ văn hóa của các cầu thủ trong làng MLB thấp hơn các cầu thủ trong làng NFL. Chúng tôi nói vậy là vì làng bóng MLB tuyển chọn các cầu thủ đủ mọi lứa tuổi khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Nếu là các cầu thủ quốc nội thì chỉ cần học xong bậc trung học, còn nếu là các cầu thủ ngoại quốc (phần đông họ đến từ Nam Mỹ) thì chỉ cần có tài chơi bóng là đủ. Có những cầu thủ từ Nam Mỹ được các ông chủ lớn tuyển chọn khi vừa16 tuổi trăng tròn nhưng chẳng có một chữ Anh nào trong óc. Do đó chúng tôi mới dám nói “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú” là vậy!
Nói đến đây chúng tôi nhớ là cách nay vài ba ngày có một anh chàng bỏ học nửa chừng nhưng đã trở thành triệu phú. Con đường của anh đã đi qua là con đường đất có màu đen đỏ trong làng chơi cờ bạc. Đó là anh Peter Eastgate của Đan Mạch. Từ châu Âu bay qua châu Mỹ, anh ta ghé vào Las Vegas thử thời vận đỏ đen nơi xứ lạ quê người. Ai ngờ tại vùng đất xa xôi vạn lý này, nơi vừa có một người da màu đen đầu tiên được chọn làm tổng thống Hoa Kỳ thì cùng ngày hôm đó có một anh chàng mang tên Peter Eastgate trở thành ông Vua Cờ Bạc Trẻ Nhất của Las Vegas. Nước da màu trắng của anh ta từ từ trở thành màu đỏ vì quá hạnh phúc, rượu bia và hương sắc của các cô vũ nữ thấm vào máu cả ngày nên da của anh đỏ hơn dân thổ địa! Cuộc đời của ông vua cờ bạc trẻ này chẳng khác gì với cuộc đời của những cao thủ bóng chày vừa nói trên.
Có lẽ bà con ta nghĩ rằng chúng tôi lãng trí hay sao mà đưa cái chuyện cờ bạc vào tin thể thao.
Không, chúng tôi chưa lãng trí đâu, mặc dù vừa nghe tin nhà thơ lão thành Phương Triều vừa mới qua đời. Trong khi chờ thêm tin tức từ thi văn sĩ Túy Hà, tôi vội viết mấy dòng gởi đến bà con đọc chơi. Các cơ quan truyền thông thể thao Hoa Kỳ đều loan tin đánh xì tẩy này lên hàng đầu đó quí vị ạ! Cho chúng tôi tiếp tục viết về ông vua cờ bạc trẻ này đi nhé!
Khi xưa còn bé, anh Peter Eastgate (có thể dịch nôm na ra tiếng Việt là: Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng) chẳng thích học bài. Thường thì bạn bè học chung lớp với anh ta tay cầm sách vở nhưng đôi bàn tay của anh ta thì cầm bộ bài Cơ Rô Chuồn Bích. Nhưng rồi anh ta cũng học xong lớp 12 trường làng (khá hơn Thánh Phê-rô của hai ngàn năm trước). Sau khi tốt nghiệp trung học, anh Peter Eastgate mang tên Việt “Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng” ghi danh vào một trường đại học. Nhưng anh ta học đại có một tuần thì bỏ học. Nào ai có ngờ chỉ sau đó 4 năm thì anh chàng ấy lại trở thành một nhà triệu phú. Chính anh ta lúc ấy cũng không dám mơ là có một ngày anh ta sẽ trở thành triệu phú nhanh như vậy.
Dân ta có câu:
“Cờ bạc là bác thằng bần, bỏ nhà bỏ cửa ra thân ăn mày”.
Chúng tôi có câu:
Cờ bạc là gì nhân thế ơi
Đánh thua tơi tả biết kêu trời
Ngày đêm hai job thân tàn tạ
Vợ bỏ, con xa, vẫn cứ chơi!
Vì quá ham mê cờ bạc nên anh chàng Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng này ngày đêm sưu tầm cách đánh xì tẩy của dân Texas (No-limit Texas Hold’em) để hy vọng có một lần bay qua Las Vegas tham dự giải Vô Địch Xì Tẩy Thế Giới (World Series of Poker). Giải này được tổ chức hằng năm với hàng ngàn người ghi danh. Mỗi người phải đóng 10 ngàn Mỹ kim. Ban tổ chức chia tất cả các tay cờ bạc ra từng bàn một. Vô địch mỗi bàn hợp lại thành nhiều bàn khác để cuối cùng còn lại một bàn duy nhất, rồi từ đó các ông mang giấc mộng triệu phú cùng nhau sát phạt cho đến khi còn lại một người cuối cùng. Tiền thưởng cho người toàn thắng tùy vào số người tham dự của giải đó. Năm nay anh Peter Eastgate lãnh được 9.15 triệu Mỹ kim.
Khi được hỏi rằng anh ta có trở lại trường đại học để tiếp tục con đường học vấn hay không… thì anh Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng trả lời ngọt xớt là: Không, không, tôi không cần đi học nữa…
Đúng là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”! (TD).

Ba điều bốn chuyện về thịt chó
Nguyễn Thượng Chánh
Không biết tại sao mỗi khi người bản xứ da trắng gặp mình là họ thường hay hỏi, có lẽ họ hỏi xỏ mình về hai vấn đề: bộ người Việt Nam các you thích ăn thịt chó lắm hả? Trong casino sao thấy toàn là người Á Châu tóc đen như các you không hà? Thế là mình phải dài dòng cắt nghĩa cho họ hiểu, thanh minh thanh nga, là tại, bị, vì, bỡi thế nầy, bỡi thế nọ, nhưng cũng hổng chắc gì họ hiểu và tin mình đâu. Bực mình bực mẫy lắm.
Đối với người Tây phương, chó là con vật rất được quý trọng và đồng thời cũng được xem như là một thành viên trong gia đình nên không thể nào bắt nó phải xuống cấp ngang hàng bằng con heo, con bò, con gà con vịt để làm thịt được. Vì lẽ nầy nên họ rất dị ứng và đại kỵ ba cái vụ ăn thịt chó. Họ xem đây là một hành động dã man, chậm tiến, kém văn minh.
Ngày nay chó chiếm một vị trí khá quan trọng trong đời sống của chúng ta cho nên có người xấu miệng dám nói rằng tại các xứ Âu Mỹ con chó được xếp vào hàng thứ ba sau trẻ con và phụ nữ. Nình ông thì phải chịu lép vế đứng hàng thứ tư sau cả con kiki.
Tại một số quốc gia Á Châu trong đó có Việt Nam, người ta xem việc ăn thịt chó là chuyện bình thường mà thôi.Vật dưỡng nhân mà. Đại Hàn,Trung Quốc, còn có cả ‘kỹ nghệ’ nuôi chó để sản xuất thịt. Đặc biệt Trung Quốc cho nhập cảng giống chó to con Saint Bernard từ Âu Châu về để phối với những chó điạ phương hầu tạo ra những giống chó có năng suất thịt cao.
http://www.dogstory.net/manger_du_chien_!!.htm
http://www.onevoice-ear.org/campagnes/c ... hiens.html
Tuy là nói vậy chớ hình như đa số dân miền Nam không có thói quen ăn thịt chó, ngoại trừ dân nhậu thì có thịt gì mà họ tha cho đâu. Ngược lại, đối với dân miền Bắc thì thịt mộc tồn được xem là một loại thịt quý nhất và hầu như ngoài đó không ai mà không xơi thịt cầy hết. Có người còn dám phán ra một câu xanh dờn như nếu sớ thịt chó lở kẹt lại trong kẻ răng sau ba ngày vẫn còn thơm phức. Hết ý.
Qua báo chí bên nhà, mấy năm gần đây phong trào hạ cờ tây có mòi lan tràn khắp vùng Saigon và phụ cận đến độ cung không đủ cầu, cho nên tình trạng chôm chỉa chó đem bán rất phổ biến ở bên nhà. Có lái chó lương thiện hơn thì len lỏi vào các xóm bình dân đem theo đủ mặt hàng tiêu dùng để đỗi lấy chó. Phần đông người Việt Nam mình hay tin dị đoan nên không muốn mang tiếng là mình bán chó vì sợ bị xui xẻo chết đi. Đỗi chó thì ok không sao. Bỏ chó trong bao bố đem trấn nước dưới ao để làm thịt thì cũng ok tuốt luốt. Đi xe đò mà đem chó theo thì được cho lên nhưng ngược lại lỡ có mang con theo mèo bốn chân theo thì bị từ chối ngay lập tức vì tài xế sợ bị xúi quẩy lắm. Còn mèo hai chân thì dẫn theo mấy con cũng được hết.
Cũng theo tin tức bên nhà cho biết thì bên cạnh thịt chó còn có món thịt mèo mà có người còn gọi là hổ nhà cũng đang trên đà phát triển mạnh. Chung quy cũng do lời quảng cáo quá lố của mấy quán nhậu gán cho loại thịt nầy vô số tính bổ dưỡng mà trong đó đặc biệt nhứt là tính trợ dương của nó.
Các giới ăn nhậu đều nức lòng khen đáo khen để món hổ nhà vì theo họ, nó vừa ngon, vừa bổ trên bổ dưới nhờ vậy các cụ khỏi cần phải xài Viagra làm chi cho thêm tốn tiền vô ích (giá trên10$/viên100mg, thứ thiệt mua không sợ lầm trong các pharmacy tại Bắc Mỹ).
Bên Canada, thỉnh thoảng trên Internet có tung ra những tin có tính cách kỳ thị nói rằng ở một vài nhà hàng khu PhốTàu có bán thịt mèo. Tụi bạn da trắng đôi khi có hỏi người viết về vụ nầy nhưng bị mình hỏi vặn ngược lại là đã thấy ở đâu, có ăn chưa và ăn tại nhà hàng nào thì họ đều cứng họng hết. Cũng có tin đồn có người sau chuyến du lịch Việt Nam, lúc trở qua Mỹ hay Canada đôi khi bạo gan đánh liều dấu vài ba ký thịt chó trong va li để đánh chén với bạn bè..Trời ơi! người Việt mình như vậy đó sao? Mong rằng đây chỉ là một tin vịt mà thôi.
Theo Đông Y thì cẩu nhục hay thịt chó có vị mặn chua, tính nóng, không độc, bổ tỳ, bổ thận, trợ dương… nghe mê chưa.
Theo dân sành điệu, thịt chó cũng có nhiều thứ hạng : ngon nhất là chó trắng, nhì là vàng, lông ngắn mịn cho một loại thịt nom bờ one . Nhứt bạch, nhì hoàng, tam khoang, tứ đốm. Họ còn đặt nhiều câu thơ để ca tụng món cờ tây như :
Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó,
Chết xuống âm phủ biết có hay không ?
Làm trai biết đánh tổ tôm,
Uống rượu thịt chó, ngâm nôm Thúy Kiều.
Sống trên dời ăn miếng thịt chó,
Con chó khóc đứng khốc ngồi.
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng,
Nam mô một bồ dao găm.
Một trăm con chó
Một lọ mắm tôm
Một ôm rau húng
Một thúng rau răm .
Tại Bắc Mỹ, tuy không có thịt chó nhưng lại có món Chó nóng hot dog. Đây là một món rất ư là bình dân và phổ biến khắp mọi nơi.
Tên hot dog làm nhiều người lầm tưởng rằng món nầy ám chỉ cây súng của con chó đực lúc khai hỏa. Thật ra không phải thế. Danh từ hot dog cũng chỉ mới xuất hiện từ 100 năm nay mà thôi.
Hot dog là một món ăn rất quen thuộc và rất bình dân tại Bắc Mỹ. Đây là một loại saucisse nhỏ mềm dài như lạp xưởng và được làm từ thịt heo, bò, gà vv...Tuyệt nhiên không có thịt chó trong đó vì loại thịt nầy bị nghiêm cấm tại Bắc Mỹ và Âu Châu. Chiên, nướng, hoặc hấp cho chín, nhét vào giửa một ổ bánh mì mềm dài cở một gang tay, trét lên một chút moutarde, ketchup, thêm một hai muỗng relish gồm có dưa leo và củ hành xắt nhỏ chua ngọt, thế là xong.
Danh từ hot dog thật sự đã được Harry M Stevens chế ra để chỉ loại saucisse bán cho khán giã đến dự những trận banh bầu dục Football do đội New York Giants đấu tại New York Stadium vào đầu thế kỹ 20. Thuở đó loại saucisse nóng của Đức có tên là Francfort xịt thêm tí moutarde là món ăn rất được ưa thích trong những buổi đấu Football. Nhưng cũng có một điều bất tiện là món này cũng không được mấy gọn ghẽ cho lắm lúc ăn. Sau đó, người ta mới nghĩ ra cách nhét saucisse vào trong một loại bánh mì đặc biệt, vừa dài và vừa mềm. Tên món này được gọi là Red hots.Đến năm 1903, một nhà hí hoạ thể thao tên Jad (T.A. Dorgan) đã cao hứng vẽ lên một bức tranh hài hước cho thấy một ổ bánh mì trong đó có hình con chó Dachshund (loại chó Đức, màu nâu đỏ thân dài, chân ngắn, tai dài lòng thòng hai bên). Qua bức tranh này, dân chúng liên tưởng ngay đến ổ bánh mì mà họ đang ăn lúc coi Football. Danh từ Hot dog đã bắt đầu từ đấy.
Cùng dạo đó, một số người ngộ nhận rằng hot dog được làm từ thịt chó nên số bán bị sụt giảm thấy rõ. Sau đó, nhờ quảng cáo mạnh cho nên hot dog đã lấy lại được sự tín nhiệm và sự chiếu cố của dân chúng cho đến hôm nay.
Trong các chợ và siêu thị đều có khu bán Dog Food thường có kèm theo hình con chó trên lon. Đây là những loại thức ăn dành cho chó chớ không phải là thịt chó đâu mà ham. Nguyên liệu là những phế phẩm thu lượm từ các lò sát sanh bò, heo, gà vịt vv...Nếu lỡ có ăn vì tưởng đó là đồ conserve thịt chó thì cũng hổng sao, nhưng đừng có đi kể lể tùm lum quê lắm.
Kết luận
Ăn uống dính liền với phong tục, tập quán ẫm thực của từng quốc gia và từng xã hội một. Mỗi nơi mỗi khác.
Không ai có quyền khen chê hay bắt buộc người khác phải giống theo gu và sở thích của mình được hết. Ai thích xơi thì cứ xơi còn ai không thích ăn thì đừng có bắt họ ăn.
Nhưng nhập gia thì phải tùy tục. Nếu sống ở Bắc Mỹ mà bô bô cái miệng đề cao thịt chó trước mặt dân bản xứ da trắng thì đây là một việc thiếu chánh trị khiến họ rất khó chịu và cần phải tránh.
Chuyện ăn uống cũng lắm nhiêu khê./.
Montreal, Nov 14, 2008

Một Câu Chuyện Cảm Động
Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.
Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên: “Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!”.
Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: “Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!”.
Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.
Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.
Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyên, hét lên: “Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay!”. Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời “Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!” và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?
Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.
Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:
“Con yêu quý,
Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.
Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ..
Mẹ yêu con lắm,
Mẹ...".

THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐỔI TÊN
Tuyết-Lan
“Hà Nội buồn gió lọt cửa Ô,
Đường Cổ Ngư run rẩy sóng Tây Hồ.
Em không biết ngày mai ra sao nữa?” Bạn thân mến,
Mấy câu thơ cũ bỗng dưng trở về trong trí nhớ của tôi khi Bạn gửi cho tôi những bức ảnh Hà Nội đang ngâm mình trong màn nước lụt. Nhưng hãy để chuyện lụt của Hà Nội đấy. Xin nói về chuyện ngực lép và nhẹ kilô không được…... lái xe của thành Hồ đã.
Trong mấy tuần qua, báo chí, các Bộ Y tế, Bộ Tư Pháp và Bộ Giao Thông thuộc nước Cộng Hòa Xui Hết Chỗ Nói của cộng sản Việt Nam đã tranh cãi và đả kích nhau một cách gay gắt về vụ Bộ Y tế tự ý đưa ra “tiêu chí người dưới 40 kg, thấp hơn 1, 45 mét, không được lái xe trên 50 cm3.”
Nhân dân trong nước cũng rất tức tối và uất ức trước luật lệ phi lý của Bộ Y Tế. Dư luận cho rằng Bộ Y Tế ra luật mới về sức khỏe của người lái xe là để làm khó nhân dân. Bởi vì “Theo ông Trần Quý Tường, Cục Phó Cục khám chữa bệnh (Bộ Y Tế) tiêu chuẩn mới về sức khỏe lái xe không phức tạp như người dân nghĩ. Bộ Y Tế có thiếu sót khi soạn thảo quyết định nhưng không tinh giản danh mục 83 tiêu chí.”
Bạn có hiểu ông Trần Quý Tường nói cái gì không? Theo giải thích của Bộ Y Tế cộng sản Việt Nam, thì một người muốn thi bằng lái xe (phần lớn là xe gắn máy,hai bánh) phải trải qua một cuộc khám sức khỏe gồm 83 tiêu chí (tức là tiêu chuẩn tiếng Mỹ là “Criteria”). Ông Tường khẳng định : “Về kỹ thuật, 83 tiêu chí khám sức khỏe là nêu chung, chứ không áp dụng hết cho 2 hạng giấy phép lái xe A1 và B1. “Thực tế, lấy bằng lái hạng A1 chỉ phải khám hơn 40 tiêu chí. Việc khám cũng chỉ mất 5-10 phút và khoảng 60.000 đồng”.
Qua lời khẳng định của Cục Phó Cục Khám Chữa Bệnh Bộ Y Tế cộng sản Việt Nam, người ta thấy rõ được cung cách khám sức khỏe của các đỉnh cao trí tuệ thật huyền ảo! Trong 83 mục khám nghiệm, ông Tường bớt cho nhân dân 43 tiêu chí, chỉ còn lại 40, và khẳng định “Việc khám cũng chỉ mất 5-10 phút”!
Bạn có thể tin được không? Khám nghiệm 40 thứ bệnh trong thời lượng từ 5 đến 10 phút là một việc không thể nào thực hiện được. Bởi vì, 10 phút tức là 600 giây, chia cho 40 mục khám nghiệm, vị chi mỗi “tiêu chí” được 15 giây.
Đúng là ông Cục Phó đã nói sảng, nói ẩu một cách kỳ cục. Thời lượng 15 giây, chỉ đủ cho việc hỏi tên và ghi vào sổ, không đủ để hỏi về tình hình sức khỏe chung với câu trả lời “Có” –“Không” chứ đừng nói đến việc cân đo nặng nhẹ, cao thấp. Cũng theo lời ông Tường thì trước đây, “người dân cần phải có chữ ký của 13 bác sĩ chuyên khoa trong giấy khám sức khỏe lái xe”, nay ông nói ““Chỉ cần một, hai bác sĩ đủ năng lực khám đủ các yêu cầu là được. Theo ông Tường, so với tiêu chuẩn sức khỏe đã ban hành (năm 2001), tiêu chí lần này không phức tạp hơn hay gây khó dễ thêm cho người dân. Vì thế, Bộ Y Tế không tính đến chuyện tinh giản số tiêu chí trong giấy khám sức khỏe.”
Khám sức khỏe để thi bằng lái xe mà phải có 13 bác sĩ chuyên khoa chứng nhận, ôi quả thật là chính quyền cộng sản Việt Nam đã lo cho sức khỏe của dân hơn bất cứ một nước văn minh nào trên thế giới! Ở Mỹ, chỉ khám mắt mà thôi. Nhưng tại Việt Nam, khám “tuốt tuồn tuột!”.
“Người mắc xơ gan không hồi phục, thoát vị đĩa đệm chèn ép tủy ảnh hưởng vận động cảm giác, người có chiều dài hai chân hoặc tay lệch nhau trên 3 cm không đủ điều kiện lấy giấy phép lái xe hạng B1, độ lệch hai chân hoặc tay trên 5 cm không đủ điều kiện lấy giấy phép lái xe hạng A1... Nếu một người mắc một trong các loại bệnh: rối loạn về màu sắc hoặc thị lực dưới 6/10, loạn nhịp tim hoàn toàn, rối loạn tâm thần cấp - mạn tính chưa khỏi hoàn toàn hoặc đã khỏi nhưng chưa đủ 2 năm có dấu hiệu hoặc triệu chứng liệt... không đủ điều kiện lấy giấy phép lái xe tất cả các hạng.” (VnExpress).
Khám 40 bệnh một lúc mà chỉ tốn năm hoặc mười phút thôi, thật nhanh hơn cả máy khám. Khi trước phải có chữ ký 13 bác sĩ chứng nhận, nay ông Cục Phó nói “Chỉ cần một, hai bác sĩ đủ năng lực khám đủ các yêu cầu là được” Thật, chỉ có Đảng cộng sản Việt Nam mới hiểu ông Cục Phó Cục Khám Chữa Bệnh nói cái quái gì. Trước, sau cách nhau một trời một vực!
Còn “ưu việt”hơn nữa, ông Cục Phó Trần Quý Tường cho biết thêm “vì sợ phức tạp nên lúc soạn thảo, Bộ Y tế không đưa các hướng dẫn cụ thể vào bản tiêu chí. Thời gian tới, Bộ ban hành hướng dẫn khám sức khỏe lái xe dành riêng cho thầy thuốc. Các bác sĩ căn cứ vào đó để linh hoạt khám cho người dân.”
“Bạn ơi, đưa ra “83 tiêu chí”khám sức khỏe, nhưng “không đưa các hướng dẫn cụ thể vào bản tiêu chí” và sẽ “hướng dẫn bác sĩ linh hoạt khám cho người dân” vậy là các bác sĩ muốn làm gì thì làm. Chính cái linh hoạt trong 83 tiêu chuẩn khám nghiệm này sẽ làm gia tăng “dịch hối lộ” trong ngành Y Tế, biến các Lương Y thành Aùc mẫu, dân sẽ khổ thêm biết bao nhiêu nỗi nữa? Cũng may là, sau khi Bộ Y Tế tự động ban hành luật “thấp bé, ngắn dài” liên quan đến giao thông vận tải, dự luận báo chí đã chỉ trích nặng nề, khiến các Bộ Giao Thông và Bô Tư Pháp cộng sản phải nhảy vào vòng chiến, tấn công Bộ Y tế tới tấp, tơi bời. Bộ Y Tế bắn trả yếu ớt, ba phải, kiểu Trần Quý Tường, rồi “rút lui”.
Bản tin trên báo trong nước viết: “Bộ Y Tế xin dừng quyết định ‘thấp bé không được lái xe’
“Ngày 29/10, Bộ Y Tế đã báo cáo Chính phủ, đề nghị dừng thi hành hai quyết định tiêu chuẩn sức khỏe lái xe. Động thái này được đưa ra 5 ngày sau khi Bộ Tư Pháp phản bác quyết định của Bộ Y Tế ban hành không đúng thẩm quyền.”
“Sau khi xem xét văn bản của Bộ Tư Pháp, hôm nay, Bộ Y Tế báo cáo và đề nghị Phó thủ tướng cho dừng thực hiện quy định tiêu chuẩn lái xe mới ban hành.
Trước đó, trao đổi với VnExpress.net, Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường khẳng định, quan điểm của Bộ Tư Pháp là quyết định này phải ban hành liên tịch, trong đó Bộ Giao Thông Vận Tải là đơn vị chủ trì. Hai quyết định của Bộ Y Tế chưa đăng công báo nên chưa có hiệu lực
“Quy định chiều cao, cân nặng đi xe máy của Bộ Y Tế có nhiều điểm khiến người dân băn khoăn bởi tính không thực tế và đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn gây tốn kém”, ông Cường nói. (tin Nguyễn Hưng, VnExpress).
Thật hú vía đối với nhân dân, nếu không thì quả là Xui Hết Chỗ Nói.
HÀ NỘI ĐỔI TÊN! Thế nhưng, cái tin “Thấp bé không được lái xe” cũng chưa gây xôn xao bằng sự kiện Thủ Đô nước Cộng Hòa Xui Hết Chỗ Nói “tự động” đổi tên.
Số là, Hà Nội đang chuẩn bị phong trào sáng tác, tối tác, múa rối nước, múa rối khô... vân vân để kỷ niệm cái gọi là “Ngàn Năm Thăng Long”, dịch Nôm là “Ngàn Năm Rồng Bay” thì tên Giặc Trời làm những trận mưa lớn. Không biết các Long Vương lấy nước ở đâu ra mà lượng mưa lên đến 4 và 500 mi-li-mét vượt khả năng chống lũ của hệ thống thoát nước trị giá 200 triệu đô la Mỹ vừa mới hoàn thành.
Các Vua Rồng phun nước liên tục ba ngày liền, khiến Thủ Đô Ngàn Năm Văn Vật bị ngâm kỹ trong nước bạc, nước đen, nước phân và nước mắt của dân nghèo, của sinh viên đói tại các ký túc xá Đại Học vì bị lụt vây hãm, không thoát ra được. Chính quyền Cộng sản thừa nhận: “Chưa bao giờ Hà Nội gặp phải trận lụt lớn và ảnh hưởng trên diện rộng như thế này. Bản thân tôi đi bằng ôtô là chính, nhưng đôi khi cũng phải di chuyển bằng thuyền để tới các khu vực ngập úng”. “Tới giờ số người thiệt mạng là 18. Thiệt hại tài sản rất lớn, chắc phải lên tới hàng nghìn tỷ đồng, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp”. “Ba ngày sau khi mưa lớn gây lụt, chính quyền Hà Nội mới cho công bố hàng chục khu vực còn úng ngập tại sáu quận để người dân tránh đi qua. Về một số ý kiến cho rằng chính quyền phản ứng chưa nhanh chóng, ông Nghị nói: “Tôi nghĩ đấy chỉ là một đánh giá của ai đó thôi”. “Chính quyền đã xử lý tích cực, kịp thời, không có chuyện chậm chạp hay lúng túng”.
“Tờ VietNamNet hôm 3/11 đã dẫn lời một số đại biểu quốc hội cho rằng chính quyền Hà Nội “phải tự nhìn lại mình khi để xảy ra ngập lụt, gây thiệt hại nặng nề mấy ngày qua”. “Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết được trích lời nói: “Cách đây 7-8 năm, thành phố có một dự án cải tạo hệ thống thoát nước được đầu tư rất nhiều tiền. Vậy không hiểu cái dự án hoành tráng kia tiêu tiền vào đâu?”. “Truyền thông trong nước trích lời ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ Tịch UBND Hà Nội, cho hay phải mất bốn đến năm ngày nữa mới bơm hết nước ra sông Hồng. Hiện thủ đô chỉ còn trông vào hoạt động tiêu thoát nước của trạm bơm Yên Sở. “Bí Thư thành ủy Phạm Quang Nghị thừa nhận rằng từ trước tới nay “thành phố mới chỉ nghĩ phòng chống ở mức thông thường”.
Bạn có biết tại sao mà nhà Nước cho hay là phải mất đến bốn năm ngày mới bơm hết nước ra sông Hồng không? Thực tế thì đến ngày thứ 12, nước vẫn chưa chịu ra hết. Nếu Tuyết- Lan nhớ không lầm, thì cách đây khoảng 40 năm, trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nghề chống lũ rất tuyệt diệu, đó là tài “Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” khi hạn hán, và “Nghiêng đồng, đổ nước ra sông” khi bị lụt ngập. Nay vì để thi hành chính sách “Sống Chung Với Lũ” đã đề ra cách đây hai năm, nên Đảng giấu nghề không chịu ra tay mà thôi. Trước thực tiễn cả thành phố Thủ Đô bị ngâm trong biển được, xe và người đều phải lội, cho nên một số nhân dân đã kiến nghị đổi tên Thủ Đô Cộng Hòa Xui Hết Chỗ Nói thành “HÀ LỘI” đúng như người Hải Dương đã từng phát âm chữ N thành ra L. Ngoài ra, một nguồn tin từ Hồ Hoàn Kiếm cho hay, Thần Kim Quy “bức xúc” vì sự lấn chiếm mặt hồ để xây các nhà hàng nổi và phóng uế trên mặt hồ lịch sử thiêng liêng, nên đã họp với các Long Vương của “Thủy Cung Thăng Long” nghiên cứu dự án mở rộng Thủ Đô Hà Nội gấp ba lần rưỡi, dọc theo sông Hồng với chiều dài 45 ki-lô-mét, đứng nhất nhì thế giới. Kết quả cuộc họp tại Thủy Cung, Thần Tháp Rùa và Thần Rồng của cựu Đô Thăng Long đã nhận định rằng “Sớm hay muộn, bọn cộng sản Việt Nam cũng sẽ phá di tích Thăng Long, chèn ép Tháp Rùa, nên đã đi đến quyết định “Tiên hạ thủ vi cường”.
Thần Kim Quy yêu cầu các Long Vương dùng Hồng Thủy để trừng trị lũ vong nô đang phá nước, hà hiếp nhân dân. Các thần Rùa và thần Rồng cũng nhận định rằng chúng nó đặt bầy ra cái gọi là Kỷ Niệm Ngàn Năm Rồng Bay để kiếm chác, xong rồi là chúng hủy diệt hết để xây Thủ Đô Hiện Đại, Rồng và Rùa sẽ giống như số phận của các nông dân bị cướp đất trong đô thị hóa một cách bừa bãi của cộng sản vong bản. Đó là nguyên nhân đưa đến trận lụt chưa từng có trong lịch sử đã biến Hà Nội Ngàn Năm Văn Vật thành Hà Lội.
Có tiếc thương Hà Nội, có bắt chước Bà Huyện Thanh Quan mà “Thăng Long Hoài Cổ” bao nhiêu đi nữa, thì Bạn và tôi cũng đành kêu lên Ô hô! Than ôi!!!
Hẹn Bạn thư sau,
Tuyết-Lan
Bạn bè là Phúc lộc Trời cho.
(Friends are blessings)
Bài của Đoàn Thanh Liêm Sắp đến mùa Lễ Tạ ơn Thanksgiving rồi, tôi xin được viết ít dòng về các người bạn thân quý mà tôi có duyên được gặp gỡ, quen biết từ thời niên thiếu cho tới ngày nay đã ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” rồi.
Như đã có dịp thưa trước đây, đời tôi có hai niềm say mê, đó là sách vở và bạn bè. Các bạn đã cho tôi một nguồn an ủi lớn lao, trong những ngày tháng đen tối khó khăn thờì ly loạn, đặc biệt là những ngày ở trong nhà tù cộng sản ở Việt nam.
Những người bạn hồi còn học bậc Tiểu học trước năm 1945 tại thị xã Thái bình nơi trường Monguillot, mà cho tớí nay tôi vẫn còn hay gặp lại, đó là các bạn Trần ngọc
Vân (tức nhà văn Trần Phong Vũ), Đinh Đăng Kỳ, Nguyễn Phi Hùng. Cả ba người này
đều cùng học với tôi tại lớp sơ học(cours elementaire) do thầy giáo Vinh phụ trách. Sau này vào năm 1951-52, chúng tôi lại học chung với nhau tại trung học Hồ ngọc Cẩn ở Bùi chu. Tính ra tình bạn giữa chúng tôi đến nay đã kéo dài tới trên 60 năm rồi.
Cũng từ thời gian học ở Bùi chu gần quê nhà, tôi còn nhiều người bạn khác, đó là các anh Đỗ Huy Hoàng, Lê Đức Cửu, Ngô Đình Thuấn, Hoàng Sĩ Quý, Nguyễn Hữu Ru, Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn văn Quý, Nguyễn Duy Hy v.v… Các bạn đó sau này lại cùng lên Hanoi tiếp tục học chung với tôi ở trường Chu văn An nữa. Tôi đã có dịp viết về các bạn
cùng lớp Đệ Nhất 1D năm 1953-54 vào hồi đầu năm 2008 rồi. Riêng người bạn cùng học
với tôi trong Lớp Đệ Nhị A năm 52-53 tại Chu văn An, mà nay chúng tôi hay gặp lại, đó
là anh Trịnh Đình Cương, người gốc từ Cự Đà Khúc Thủy gần Hanoi. Người bạn khác rất thân thiết với tôi trong lúc cùng ôn tập bài vở để đi thi bằng Tú tài phần 2 ở Hanoi, đó là anh Võ Thế Hào, một trí tuệ thông minh tuyệt vời, mà cũng là một người bạn rất chung thủy của tôi.Chúng tôi cũng mới gặp nhau ở Washington DC năm 2007 vừa qua.
Vào miền Nam hồi 1954, thì tôi học ở Trường Luật trên “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, rất là thơ mộng cho tuổi đôi mươi thuở ấy. Người bạn thân thiết cùng lớp mà nay hay gặp lại ở Quận Cam, đó là anh Nguyễn Đình Thảng gốc ở Hội An gần Đà nẵng. Về các bạn cùng xuất thân từ Trường Luật Saigon năm 1958, thì mới đây tôi đã viết trong bài “Hồi tưởng của một sinh viên Trường Luật khóa 1958” rồi. Điều đáng ghi nhớ nhất trong thời gian là sinh viên ở Saigon là tôi được ở Đại học xá Minh Mạng chung với các
bạn sinh viên di cư từ Hanoi vào miền Nam năm 1954. Anh Trần Thanh Hiệp được bầu làm Chủ tịch Đoàn sinh viên di cư chúng tôi, lúc đó anh đang học Luật, nhưng đã rất năng nổ họat động cả về chính trị cũng như văn hóa.Tôi ở chung phòng với các anh Vũ Hữu Bao, Từ Ngọc Quang, Trần Cự Uông, Trần văn Thảo, Nguyễn Dương…
Sau này từ năm 1956-58, thì tôi đến ngụ tại cư xá Câu lạc bộ Phục Hưng. Tại đây, tôi lại quen biết thêm rất nhiều bạn gốc từ miền Trung như Bùi Minh Đức, Hòang Ngọc Tuệ,
Nguyễn Tấn Thọ, Nguyễn Mạnh Điềm, Hoàng Quý Kế, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Hữu Bào, Trần Đăng khoa, Trang Kiên, Cao Huy Thuần v.v…Vào cái tuổi đôi mươi lúc đó, chúng tôi được sống trong cảnh thanh bình thịnh vượng ở Saigon vào giữa thập niên 1950, thật là một kỷ niệm tuyệt đẹp của thế hệ sinh viên bọn tôi.
Cũng trong thời gian này, tôi sinh họat với anh chị em trong Nhóm Sinh viên Công giáo do Linh mục Nguyễn Huy Lịch làm Tuyên úy hướng dẫn. Các anh Nguyễn văn Trung, Phùng văn Hạnh, Trương văn Ngọc, Phạm văn Ngôn, Trần Quý Thái, Trương Đình Tư, Nguyễn Đức Quý…và các chị Trần thị Lài, Lê thị Hồng, Nguyễn thị Kim Chi, Lê thị Mỹ Nhan…là những thành viên rất tích cực trong các sinh hoạt tôn giáo của Nhóm.
Sau khi tốt nghiệp trường Luật năm 1958, thì tôi đi làm cho Quốc hội thời Đệ nhất
Cộng hòa. Tại đây, tôi lại quen biết với nhiều đồng nghiệp trẻ tuổi khác nữa như các
Anh Đặng Đức Hiền, Trịnh Xuân Lam, Trần Quang Hiền, Nguyễn văn Ngân, Phạm Gia Lũy v.v…Năm 1962, tôi được lệnh trình diện khóa 13 Liên Trường Võ khoa Thủ Đức, và sau khi tốt nghiệp, thì phục vụ trong ngành Hành chánh Tài chánh thuộc Bộ Quốc Phòng. Tôi làm trong Phòng Pháp chế Tố tụng dưới quyền Đại úy Nguyễn Thanh Tịnh làm Chủ sự và Thiếu tá Phạm Đỗ Thành làm Chánh sự vụ. Các bạn cùng khóa 13 Thủ Đức mà làm chung ở Bộ Quốc phòng thì tôi vẫn còn nhớ có anh Nguyễn Khánh Hải, Nguyễn Hữu An.
Gia đình Hành chánh Tài chánh của Quân lực Việt nam Cộng hòa rất đông đảo, tôi sẽ xin
viết riêng về kỷ niệm của mình trong gia đình này vào một dịp khác.
Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại về các anh chị trong Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana, mà tôi có tham dự sinh hoạt từ 1961 sau khi ở Mỹ về lại Việt nam. Các anh chị này đều lớn tuổi hơn tôi, như BS Nguyễn văn Ái, LS Nguyễn văn Huyền, các Anh Phó Bá Long, Trần Long, Lý Chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Võ Long Triều, Lâm Võ Hoàng, Nguyễn văn Thơ…, các Chị Lê Quan Kim, Phan Nguyệt Minh, Phan Ngọc Quới, Nguyễn Thị Oanh …Chúng tôi được Linh mục Pacific Nguyễn Bình An làm Tuyên úy hướng dẫn. Ngài là một tu sĩ sống khổ hạnh đạo đức, thật là gương mẫu.
Đặc biệt nhờ họat động xã hội với giới thanh niên sinh viên từ năm 1964 trở đi, thì tôi được sát cánh với rất đông anh chị em trẻ tuổi thời đó. Với niềm say mê nhiệt thành, chúng tôi đã tham gia vào rất nhiều công tác cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung năm
1964, Chương trình Công tác Hè 1965, công việc cứu trợ nạn nhân chiến cuộc liên tục trong suốt cuộc chiến tranh đến 1975…Các bạn gắn bó trong phong trào sinh hoạt thanh niên hồi thời kỳ trước 1975 này thì đông đảo vô số kể, chỉ xin ghi ra mấy khuôn mặt điển hình như Chị Phạm thị Thân, các Anh Đỗ Ngọc Yến, Trần Ngọc Báu, Đỗ Anh Tài, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Đức Quang, Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát, Hoàng Ngọc Tuệ, Trần văn Ngô, Ngô Mạnh Thu v.v…
Riêng Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon thì để lại cho tôi một kỷ niệm sâu xa nhất và anh chị em chúng tôi đã thật sự gắn bó với nhau rất chân thành, thắm thiết; tất cả cũng chỉ vì lý tưởng chung là “Phục vụ tầng lớp bà con kém may mắn” ở khu vực ngoại ô thành phố. Các anh Hồ văn Minh, Hồ ngọc Nhuận, Mai như Mạnh, Hồ công Hưng, Nguyễn Phúc Khánh, Uông Đại Bằng, Nguyễn Đức Tuyên, Dương văn Long, Võ văn Bé, Đào Quốc Chính, Đặng Di Hùng, Đặng Kỳ Trân, Trần Kim Hoa, Lê Xuân Tảng.., các em Huỳnh văn Nguôn, Lương văn Tròn, Mai viết Phương, Nguyễn Hữu Phương, Mai viết Khắc, Nguyễn Hoài Tân, Bùi Kỳ Trân, Võ Đình Hiệp,Dương Kim Cúc, Nguyễn thị Ngọc Nga, Nguyễn thị Xuyến v.v…là những cán bộ tự nguyện nòng cốt của chương trình phát triển cộng đồng này. Tôi đã có vài bài viết về chương trình này, và sẽ viết thêm chi tiết nữa khi có điều kiện và thời gian thuận tiện hơn.
Về phía các bạn bè quốc tế, thì tôi cũng được dịp quen biết thân thương gắn bó với họ rất
nhiều từ trên 40 năm nay. Đó cũng là nhờ cái duyên cùng hoạt động xã hội,giúp đỡ các nạn nhân chiến cuộc, các trẻ em bụi đời v.v…Các đòan viên của tổ chức Thanh niên Chí nguyện Quốc tế (IVS = International Voluntary Service) như Don Luce, John Sommer, Mark Lynch, Gene Stolzfuss,Masafumi Nagao,Jackie Chagnon, Hugh Manke v.v…vẫn thường sát cánh với giới thanh niên sinh viên chúng tôi trong nhiều công tác xã hội ở nông thôn cũng như ở ngoại ô thành phố. Đặc biệt Dick Hughes là người đã xả thân tìm mọi cách để cứu thoát tôi ra khỏi nhà tù cộng sản ở Việt nam.Lại còn các bạn khác như Steve Young, Pat và Earl Martin, Sophie Quinn-Judge v.v… mà tôi đã có dịp viết đến trong loạt bài “Tôi vẫn lạc quan, vì gặp được nhiều người tốt bụng”, nên khỏi cần viết lại chi tiết ở đây nữa.
Ngoài ra lại còn một số người bạn khác ở các nước Âu châu mà tôi đã quen biết gần gũi từ trước 1975, cũng trong khuôn khổ sinh hoạt văn hóa xã hội và tôn giáo. Các chi tiết này sẽ được ghi lại trong một dịp khác. Tôi cũng dự định sẽ viết riêng một cuốn sách về “Các bạn bè quốc tế” này.
Sau năm 1975, tình hình sinh họat xã hội thật là đen tối bế tắc, nhất là đối với các
gia đình có người phải “đi học tập cải tạo” trong các trại tập trung. Nhưng tôi vẫn còn
có thể gặp gỡ tâm sự được với một số bạn hữu thân tình, cụ thể như là anh Nguyễn Xuân
Quỳnh ở Phú Nhuận, anh Nguyễn Mạnh Cường ở cùng lối xóm, các anh Nguyễn Ngọc Lan, Thế Nguyên, Trần Tuấn Nhậm, Nguyễn Ngọc Luơng, Phạm văn Bồng, Vũ Sinh Hiên, Nguyễn Đăng Đại …, rồi đến các anh Trần văn Hy, Nguyễn Đăng Dũng, Cao Đức Thư, Dương Mạnh Thường, Phạm Xuân Thương, Nguyễn Vĩnh Lộc v.v…, tất cả đều là chỗ nương tựa tinh thần vững chắc, đem lại niềm an ủi lớn lao cho tôi, nhất là trong thời gian tôi bị giam giữ trong tù từ năm 1990.
Kể cả các bạn đồng cảnh trong nhà tù với tôi suốt từ 1990 đến 1996 lúc tôi ra khỏi nhà giam để cùng với gia đình qua định cư tại Mỹ, thì các bạn tù chính trị rất là gắn bó với nhau, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Xin ghi lại tên một số bạn điển hình như : Phạm Đức
Khâm, Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn văn Tấn, Vương Đức Lệ, Tô văn Huờn, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Trì, Châu Sơn, Lý Trường Trân, Phan văn Phần, Nguyễn Hiển, Võ Thành Sắc, Lê Thái Chân, Võ văn Sáu, Phạm Thế Công, Bùi văn Phước,Phạm Quang Huy,Huỳnh văn Giàu, Đỗ Ngọc Long, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thanh Vân… Và đặc biệt nhất là Thầy Đạt, tức là Hòa Thượng Thích Huệ Đăng. Những anh em mà ở lâu tại trại lao động Z30D Hàm Tân, thì càng có nhiều dịp tâm sự sâu đậm thắm thiết và nâng đỡ tinh thần cho nhau. Thành ra đúng là “Chốn lao tù là nơi ta rèn tâm trí”, như lớp sinh viên thường hát hồi trước, mặc dù trong số này có một ít người đã ngả theo phía Mặt Trận Giải Phóng của Cộng sản đi nữa.
Từ ngày định cư tại Mỹ, thì tôi sinh họat nhiều nhất với các anh chị em trong tổ chức Mạng Lưới Nhân quyền Vịêt nam, điển hình như các Chị Jackie Bông, Hồng Liên, Đỗ thị Thuấn, Lâm Thu Vân, Nguyễn thị Tuyết Mai, các Anh Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lê Minh Nguyên, Trần Minh Công, Nguyễn Minh Cần, Đoàn Việt Trung,Tôn Thất Diên, Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong, Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Bá Tùng, Đoàn Thế Cường, Ngô văn Hiếu, Đỗ Như Điện, Nguyễn Hữu Thống,Đỗ Anh Tài, Trần Thanh Hiệp và cùng rất nhiều anh chị em khác trên toàn thế giới. Nhờ sự thông tin liên lạc mau lẹ qua hệ thống internet, nên công việc của Mạng Lưới đạt nhiều kết quả khả quan trong mục tiêu bảo vệ Nhân quyền cho người dân ở trong nước dưới chế độ hà khắc, áp bức của chính quyền cộng sản Hanoi. Anh chị em chúng tôi rất gắn bó, thân thiết với nhau qua nhiều năm tháng hoạt động chung trong tổ chức này.
Bài viết này đã được gợi hứng từ rất lâu, khi Chị Kathleen Bagen cùng làm việc chung với tôi năm 1972-74 tại văn phòng của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (World Council of Churches), thì chị hay nói với tôi : “Friends are blessings”. Và sau 1975, khi tôi có dịp đọc lại cuốn sách Docteur Zhivago bản tiếng Pháp, thì tôi rất tâm đắc với câu đối thoại ngắn ngủi này : “Cuộc sống của bạn là ở nơi những người khác” ( nguyên văn tiếng Pháp : “Votre vie, c’est dans les autres”). Thành ra câu nói này cũng y hệt như câu dân gian thường nói : “Trong người có ta, mà trong ta cũng có người”. Nói một cách văn hoa, triết lý , thì có thể gọn gàng là :“ mỗi con người chúng ta thì đều là cùng bản tính với nhau” (co-substance).
Khi viết những dòng chữ này, tất cả các bạn còn sống tại thế hay đã ra đi, thì đều hiện nguyên hình trong tâm khảm và trí óc của tôi. Mỗi lần nhớ đến các bạn là tâm hồn tôi đều rung động với niềm vui khôn tả. Và tôi xin cảm ơn Trời, cảm ơn Đời vì đã ban tặng cho tôi có được nhiều bạn hữu quý báu thân thương đến thế, dù tôi đã phải trải qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm vì chiến tranh sắt máu, vì độc tài áp bức, vì tù ngục đọa đày.
Để kết thúc bài viết đã khá dài này,tôi xin được ghi ra đây mấy câu thơ làm hồi còn ở trong nhà tù tại trại Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết năm 1994-95. Bài thơ như sau :
Từ nhà tù, xin gửi về các bạn :
Gửi bạn thân yêu niềm thương nhớ,
Đẹp biết bao kỷ niệm một thời.
Bởi duyên lành ta luôn gắn bó
Suốt cả đời mãi mãi yêu mến nhau./
California, Tháng 11 năm 2008
(Friends are blessings)
Bài của Đoàn Thanh Liêm Sắp đến mùa Lễ Tạ ơn Thanksgiving rồi, tôi xin được viết ít dòng về các người bạn thân quý mà tôi có duyên được gặp gỡ, quen biết từ thời niên thiếu cho tới ngày nay đã ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” rồi.
Như đã có dịp thưa trước đây, đời tôi có hai niềm say mê, đó là sách vở và bạn bè. Các bạn đã cho tôi một nguồn an ủi lớn lao, trong những ngày tháng đen tối khó khăn thờì ly loạn, đặc biệt là những ngày ở trong nhà tù cộng sản ở Việt nam.
Những người bạn hồi còn học bậc Tiểu học trước năm 1945 tại thị xã Thái bình nơi trường Monguillot, mà cho tớí nay tôi vẫn còn hay gặp lại, đó là các bạn Trần ngọc
Vân (tức nhà văn Trần Phong Vũ), Đinh Đăng Kỳ, Nguyễn Phi Hùng. Cả ba người này
đều cùng học với tôi tại lớp sơ học(cours elementaire) do thầy giáo Vinh phụ trách. Sau này vào năm 1951-52, chúng tôi lại học chung với nhau tại trung học Hồ ngọc Cẩn ở Bùi chu. Tính ra tình bạn giữa chúng tôi đến nay đã kéo dài tới trên 60 năm rồi.
Cũng từ thời gian học ở Bùi chu gần quê nhà, tôi còn nhiều người bạn khác, đó là các anh Đỗ Huy Hoàng, Lê Đức Cửu, Ngô Đình Thuấn, Hoàng Sĩ Quý, Nguyễn Hữu Ru, Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn văn Quý, Nguyễn Duy Hy v.v… Các bạn đó sau này lại cùng lên Hanoi tiếp tục học chung với tôi ở trường Chu văn An nữa. Tôi đã có dịp viết về các bạn
cùng lớp Đệ Nhất 1D năm 1953-54 vào hồi đầu năm 2008 rồi. Riêng người bạn cùng học
với tôi trong Lớp Đệ Nhị A năm 52-53 tại Chu văn An, mà nay chúng tôi hay gặp lại, đó
là anh Trịnh Đình Cương, người gốc từ Cự Đà Khúc Thủy gần Hanoi. Người bạn khác rất thân thiết với tôi trong lúc cùng ôn tập bài vở để đi thi bằng Tú tài phần 2 ở Hanoi, đó là anh Võ Thế Hào, một trí tuệ thông minh tuyệt vời, mà cũng là một người bạn rất chung thủy của tôi.Chúng tôi cũng mới gặp nhau ở Washington DC năm 2007 vừa qua.
Vào miền Nam hồi 1954, thì tôi học ở Trường Luật trên “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, rất là thơ mộng cho tuổi đôi mươi thuở ấy. Người bạn thân thiết cùng lớp mà nay hay gặp lại ở Quận Cam, đó là anh Nguyễn Đình Thảng gốc ở Hội An gần Đà nẵng. Về các bạn cùng xuất thân từ Trường Luật Saigon năm 1958, thì mới đây tôi đã viết trong bài “Hồi tưởng của một sinh viên Trường Luật khóa 1958” rồi. Điều đáng ghi nhớ nhất trong thời gian là sinh viên ở Saigon là tôi được ở Đại học xá Minh Mạng chung với các
bạn sinh viên di cư từ Hanoi vào miền Nam năm 1954. Anh Trần Thanh Hiệp được bầu làm Chủ tịch Đoàn sinh viên di cư chúng tôi, lúc đó anh đang học Luật, nhưng đã rất năng nổ họat động cả về chính trị cũng như văn hóa.Tôi ở chung phòng với các anh Vũ Hữu Bao, Từ Ngọc Quang, Trần Cự Uông, Trần văn Thảo, Nguyễn Dương…
Sau này từ năm 1956-58, thì tôi đến ngụ tại cư xá Câu lạc bộ Phục Hưng. Tại đây, tôi lại quen biết thêm rất nhiều bạn gốc từ miền Trung như Bùi Minh Đức, Hòang Ngọc Tuệ,
Nguyễn Tấn Thọ, Nguyễn Mạnh Điềm, Hoàng Quý Kế, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Hữu Bào, Trần Đăng khoa, Trang Kiên, Cao Huy Thuần v.v…Vào cái tuổi đôi mươi lúc đó, chúng tôi được sống trong cảnh thanh bình thịnh vượng ở Saigon vào giữa thập niên 1950, thật là một kỷ niệm tuyệt đẹp của thế hệ sinh viên bọn tôi.
Cũng trong thời gian này, tôi sinh họat với anh chị em trong Nhóm Sinh viên Công giáo do Linh mục Nguyễn Huy Lịch làm Tuyên úy hướng dẫn. Các anh Nguyễn văn Trung, Phùng văn Hạnh, Trương văn Ngọc, Phạm văn Ngôn, Trần Quý Thái, Trương Đình Tư, Nguyễn Đức Quý…và các chị Trần thị Lài, Lê thị Hồng, Nguyễn thị Kim Chi, Lê thị Mỹ Nhan…là những thành viên rất tích cực trong các sinh hoạt tôn giáo của Nhóm.
Sau khi tốt nghiệp trường Luật năm 1958, thì tôi đi làm cho Quốc hội thời Đệ nhất
Cộng hòa. Tại đây, tôi lại quen biết với nhiều đồng nghiệp trẻ tuổi khác nữa như các
Anh Đặng Đức Hiền, Trịnh Xuân Lam, Trần Quang Hiền, Nguyễn văn Ngân, Phạm Gia Lũy v.v…Năm 1962, tôi được lệnh trình diện khóa 13 Liên Trường Võ khoa Thủ Đức, và sau khi tốt nghiệp, thì phục vụ trong ngành Hành chánh Tài chánh thuộc Bộ Quốc Phòng. Tôi làm trong Phòng Pháp chế Tố tụng dưới quyền Đại úy Nguyễn Thanh Tịnh làm Chủ sự và Thiếu tá Phạm Đỗ Thành làm Chánh sự vụ. Các bạn cùng khóa 13 Thủ Đức mà làm chung ở Bộ Quốc phòng thì tôi vẫn còn nhớ có anh Nguyễn Khánh Hải, Nguyễn Hữu An.
Gia đình Hành chánh Tài chánh của Quân lực Việt nam Cộng hòa rất đông đảo, tôi sẽ xin
viết riêng về kỷ niệm của mình trong gia đình này vào một dịp khác.
Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại về các anh chị trong Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana, mà tôi có tham dự sinh hoạt từ 1961 sau khi ở Mỹ về lại Việt nam. Các anh chị này đều lớn tuổi hơn tôi, như BS Nguyễn văn Ái, LS Nguyễn văn Huyền, các Anh Phó Bá Long, Trần Long, Lý Chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Võ Long Triều, Lâm Võ Hoàng, Nguyễn văn Thơ…, các Chị Lê Quan Kim, Phan Nguyệt Minh, Phan Ngọc Quới, Nguyễn Thị Oanh …Chúng tôi được Linh mục Pacific Nguyễn Bình An làm Tuyên úy hướng dẫn. Ngài là một tu sĩ sống khổ hạnh đạo đức, thật là gương mẫu.
Đặc biệt nhờ họat động xã hội với giới thanh niên sinh viên từ năm 1964 trở đi, thì tôi được sát cánh với rất đông anh chị em trẻ tuổi thời đó. Với niềm say mê nhiệt thành, chúng tôi đã tham gia vào rất nhiều công tác cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung năm
1964, Chương trình Công tác Hè 1965, công việc cứu trợ nạn nhân chiến cuộc liên tục trong suốt cuộc chiến tranh đến 1975…Các bạn gắn bó trong phong trào sinh hoạt thanh niên hồi thời kỳ trước 1975 này thì đông đảo vô số kể, chỉ xin ghi ra mấy khuôn mặt điển hình như Chị Phạm thị Thân, các Anh Đỗ Ngọc Yến, Trần Ngọc Báu, Đỗ Anh Tài, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Đức Quang, Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát, Hoàng Ngọc Tuệ, Trần văn Ngô, Ngô Mạnh Thu v.v…
Riêng Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon thì để lại cho tôi một kỷ niệm sâu xa nhất và anh chị em chúng tôi đã thật sự gắn bó với nhau rất chân thành, thắm thiết; tất cả cũng chỉ vì lý tưởng chung là “Phục vụ tầng lớp bà con kém may mắn” ở khu vực ngoại ô thành phố. Các anh Hồ văn Minh, Hồ ngọc Nhuận, Mai như Mạnh, Hồ công Hưng, Nguyễn Phúc Khánh, Uông Đại Bằng, Nguyễn Đức Tuyên, Dương văn Long, Võ văn Bé, Đào Quốc Chính, Đặng Di Hùng, Đặng Kỳ Trân, Trần Kim Hoa, Lê Xuân Tảng.., các em Huỳnh văn Nguôn, Lương văn Tròn, Mai viết Phương, Nguyễn Hữu Phương, Mai viết Khắc, Nguyễn Hoài Tân, Bùi Kỳ Trân, Võ Đình Hiệp,Dương Kim Cúc, Nguyễn thị Ngọc Nga, Nguyễn thị Xuyến v.v…là những cán bộ tự nguyện nòng cốt của chương trình phát triển cộng đồng này. Tôi đã có vài bài viết về chương trình này, và sẽ viết thêm chi tiết nữa khi có điều kiện và thời gian thuận tiện hơn.
Về phía các bạn bè quốc tế, thì tôi cũng được dịp quen biết thân thương gắn bó với họ rất
nhiều từ trên 40 năm nay. Đó cũng là nhờ cái duyên cùng hoạt động xã hội,giúp đỡ các nạn nhân chiến cuộc, các trẻ em bụi đời v.v…Các đòan viên của tổ chức Thanh niên Chí nguyện Quốc tế (IVS = International Voluntary Service) như Don Luce, John Sommer, Mark Lynch, Gene Stolzfuss,Masafumi Nagao,Jackie Chagnon, Hugh Manke v.v…vẫn thường sát cánh với giới thanh niên sinh viên chúng tôi trong nhiều công tác xã hội ở nông thôn cũng như ở ngoại ô thành phố. Đặc biệt Dick Hughes là người đã xả thân tìm mọi cách để cứu thoát tôi ra khỏi nhà tù cộng sản ở Việt nam.Lại còn các bạn khác như Steve Young, Pat và Earl Martin, Sophie Quinn-Judge v.v… mà tôi đã có dịp viết đến trong loạt bài “Tôi vẫn lạc quan, vì gặp được nhiều người tốt bụng”, nên khỏi cần viết lại chi tiết ở đây nữa.
Ngoài ra lại còn một số người bạn khác ở các nước Âu châu mà tôi đã quen biết gần gũi từ trước 1975, cũng trong khuôn khổ sinh hoạt văn hóa xã hội và tôn giáo. Các chi tiết này sẽ được ghi lại trong một dịp khác. Tôi cũng dự định sẽ viết riêng một cuốn sách về “Các bạn bè quốc tế” này.
Sau năm 1975, tình hình sinh họat xã hội thật là đen tối bế tắc, nhất là đối với các
gia đình có người phải “đi học tập cải tạo” trong các trại tập trung. Nhưng tôi vẫn còn
có thể gặp gỡ tâm sự được với một số bạn hữu thân tình, cụ thể như là anh Nguyễn Xuân
Quỳnh ở Phú Nhuận, anh Nguyễn Mạnh Cường ở cùng lối xóm, các anh Nguyễn Ngọc Lan, Thế Nguyên, Trần Tuấn Nhậm, Nguyễn Ngọc Luơng, Phạm văn Bồng, Vũ Sinh Hiên, Nguyễn Đăng Đại …, rồi đến các anh Trần văn Hy, Nguyễn Đăng Dũng, Cao Đức Thư, Dương Mạnh Thường, Phạm Xuân Thương, Nguyễn Vĩnh Lộc v.v…, tất cả đều là chỗ nương tựa tinh thần vững chắc, đem lại niềm an ủi lớn lao cho tôi, nhất là trong thời gian tôi bị giam giữ trong tù từ năm 1990.
Kể cả các bạn đồng cảnh trong nhà tù với tôi suốt từ 1990 đến 1996 lúc tôi ra khỏi nhà giam để cùng với gia đình qua định cư tại Mỹ, thì các bạn tù chính trị rất là gắn bó với nhau, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Xin ghi lại tên một số bạn điển hình như : Phạm Đức
Khâm, Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn văn Tấn, Vương Đức Lệ, Tô văn Huờn, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Trì, Châu Sơn, Lý Trường Trân, Phan văn Phần, Nguyễn Hiển, Võ Thành Sắc, Lê Thái Chân, Võ văn Sáu, Phạm Thế Công, Bùi văn Phước,Phạm Quang Huy,Huỳnh văn Giàu, Đỗ Ngọc Long, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thanh Vân… Và đặc biệt nhất là Thầy Đạt, tức là Hòa Thượng Thích Huệ Đăng. Những anh em mà ở lâu tại trại lao động Z30D Hàm Tân, thì càng có nhiều dịp tâm sự sâu đậm thắm thiết và nâng đỡ tinh thần cho nhau. Thành ra đúng là “Chốn lao tù là nơi ta rèn tâm trí”, như lớp sinh viên thường hát hồi trước, mặc dù trong số này có một ít người đã ngả theo phía Mặt Trận Giải Phóng của Cộng sản đi nữa.
Từ ngày định cư tại Mỹ, thì tôi sinh họat nhiều nhất với các anh chị em trong tổ chức Mạng Lưới Nhân quyền Vịêt nam, điển hình như các Chị Jackie Bông, Hồng Liên, Đỗ thị Thuấn, Lâm Thu Vân, Nguyễn thị Tuyết Mai, các Anh Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lê Minh Nguyên, Trần Minh Công, Nguyễn Minh Cần, Đoàn Việt Trung,Tôn Thất Diên, Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong, Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Bá Tùng, Đoàn Thế Cường, Ngô văn Hiếu, Đỗ Như Điện, Nguyễn Hữu Thống,Đỗ Anh Tài, Trần Thanh Hiệp và cùng rất nhiều anh chị em khác trên toàn thế giới. Nhờ sự thông tin liên lạc mau lẹ qua hệ thống internet, nên công việc của Mạng Lưới đạt nhiều kết quả khả quan trong mục tiêu bảo vệ Nhân quyền cho người dân ở trong nước dưới chế độ hà khắc, áp bức của chính quyền cộng sản Hanoi. Anh chị em chúng tôi rất gắn bó, thân thiết với nhau qua nhiều năm tháng hoạt động chung trong tổ chức này.
Bài viết này đã được gợi hứng từ rất lâu, khi Chị Kathleen Bagen cùng làm việc chung với tôi năm 1972-74 tại văn phòng của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (World Council of Churches), thì chị hay nói với tôi : “Friends are blessings”. Và sau 1975, khi tôi có dịp đọc lại cuốn sách Docteur Zhivago bản tiếng Pháp, thì tôi rất tâm đắc với câu đối thoại ngắn ngủi này : “Cuộc sống của bạn là ở nơi những người khác” ( nguyên văn tiếng Pháp : “Votre vie, c’est dans les autres”). Thành ra câu nói này cũng y hệt như câu dân gian thường nói : “Trong người có ta, mà trong ta cũng có người”. Nói một cách văn hoa, triết lý , thì có thể gọn gàng là :“ mỗi con người chúng ta thì đều là cùng bản tính với nhau” (co-substance).
Khi viết những dòng chữ này, tất cả các bạn còn sống tại thế hay đã ra đi, thì đều hiện nguyên hình trong tâm khảm và trí óc của tôi. Mỗi lần nhớ đến các bạn là tâm hồn tôi đều rung động với niềm vui khôn tả. Và tôi xin cảm ơn Trời, cảm ơn Đời vì đã ban tặng cho tôi có được nhiều bạn hữu quý báu thân thương đến thế, dù tôi đã phải trải qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm vì chiến tranh sắt máu, vì độc tài áp bức, vì tù ngục đọa đày.
Để kết thúc bài viết đã khá dài này,tôi xin được ghi ra đây mấy câu thơ làm hồi còn ở trong nhà tù tại trại Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết năm 1994-95. Bài thơ như sau :
Từ nhà tù, xin gửi về các bạn :
Gửi bạn thân yêu niềm thương nhớ,
Đẹp biết bao kỷ niệm một thời.
Bởi duyên lành ta luôn gắn bó
Suốt cả đời mãi mãi yêu mến nhau./
California, Tháng 11 năm 2008
Yêu...
Yêu đến lần thứ tư thì gọi là tình tứ
Yêu đến lần thứ 7 thì gọi là thất tình.
Yêu 1 lúc nhiều người thì gọi là trử tình (để dành xài dài dài)
Không được chấp nhận yêu gọi là vô tình
Yêu và kết hôn với người nước ngoài gọi la ngọai tình
Yêu và kết hôn với người trong nước gọi là nội tình
Tiền để đưa cho người yêu đi chơi là bạc tình
Đang yêu mà người yêu chết là tình tang
Hai bà vợ cùng dùng chung một ông chồng gọi là chung tình...
Tình yêu quá đẹp gọi là tuyệt tình
Yêu từ thời đi học gọi là tình trường
Yêu vợ người khác bị đánh tím mặt gọi là thâm tình..
Bạn hữu yêu nhau gọi là hữu tình.
Mời người yêu ăn bánh men thì gọi là men tình
Đi với nhau ngòai mưa lạnh bị cảm gọi là cảm tình..
Người yêu hay nhậu sỉn thì gọi là say tình
Yêu mà không mặc áo thì gọi là tình trần
Giúp người yêu rửa chén bát thì gọi là tình phụ
Mời người yêu ăn khoai lang thì gọi là tình lang
Yêu đến lần thứ tư thì gọi là tình tứ
Yêu đến lần thứ 7 thì gọi là thất tình.
Yêu 1 lúc nhiều người thì gọi là trử tình (để dành xài dài dài)
Không được chấp nhận yêu gọi là vô tình
Yêu và kết hôn với người nước ngoài gọi la ngọai tình
Yêu và kết hôn với người trong nước gọi là nội tình
Tiền để đưa cho người yêu đi chơi là bạc tình
Đang yêu mà người yêu chết là tình tang
Hai bà vợ cùng dùng chung một ông chồng gọi là chung tình...
Tình yêu quá đẹp gọi là tuyệt tình
Yêu từ thời đi học gọi là tình trường
Yêu vợ người khác bị đánh tím mặt gọi là thâm tình..
Bạn hữu yêu nhau gọi là hữu tình.
Mời người yêu ăn bánh men thì gọi là men tình
Đi với nhau ngòai mưa lạnh bị cảm gọi là cảm tình..
Người yêu hay nhậu sỉn thì gọi là say tình
Yêu mà không mặc áo thì gọi là tình trần
Giúp người yêu rửa chén bát thì gọi là tình phụ
Mời người yêu ăn khoai lang thì gọi là tình lang
TRIẾT LÝ BA XU
Điều gì nói ra mà ai cũng biết cả rồi vì nó tầm thường, đơn giản, hiển nhiên, rẻ tiền thì người ta thường mỉa mai gọi nó là “triết lý ba xu”, mặc dầu đó những điều xác thực, chỉ vì nó xưa cũ hay người ta đã quen nghe.
Bây giờ mỗi ngày bạn đang có bao nhiêu công việc phải lo toan từ sáng đến chiều, hết sức là bận rộn, mỗi tối trước khi lên giường, bạn phải liệt kê các công việc cần ghi nhớ cho ngày mai trên một trang giấy, sợ có điều không ghi nhớ thì sẽ quên mất. Giá như có ai đó đề nghị bạn bỏ một ngày đi thăm một người bạn ở xa, hay nghỉ trọn một tuần, bỏ hết tất cả công việc, để làm một chuyến du lịch cho thanh thản tấm thân, cắt đứt với mọi liên lạc công việc bên ngoài, bạn sẽ không bao giờ chấp nhận, vì quá thật là bạn quá bận, không dư ra một tí tẹo thời giờ nào cho những công việc như thế.
Thế rồi đùng một cái, không báo trước, buổi chiều, chiếc xe cấp cứu rú còi inh ỏi, ghé qua nhà bạn, mang vào bệnh viện cái đầu óc bận rộn và cả cái tấm thân đang bệnh tật, có thể là sắp chết của bạn vào bệnh viện. Bạn sẽ sắp đặt gì cho chương trình vào sáng hôm sau của bạn, công việc ở sở làm, một vài chuyện giả quyết chưa xong, đôi việc giao dịch chưa hoàn tất, cái thư chưa phúc đáp, cái bill chưa trả. Bạn sẽ không làm được gì hết ngoài ra việc nằm thẳng trên giường bệnh viện với các giây nhợ chằng chịt trên cánh tay suốt ngày, xoay trở cũng khó khăn, mê mê, tỉnh tỉnh, nói gì chuyện đi đứng, bay nhảy như những ngày khỏe mạnh. Nghĩa là tất cả đều được xếp lại, như cho vào một ngăn kéo đóng kín, không giải quyết không xoay trở gì được. Bây giờ ai đưa cháu đi học, bây giờ mấy cái bills chưa trả, bây giờ còn trăm thứ việc ngổn ngang.
Tổng Thống thứ 9 của Hoa Kỳ là ông William Henry Harrison, tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1841, lẽ cố nhiên ông có nhiều kế hoạch, chương trình cho nhiệm kỳ bốn năm trước mặt, còn ai trên thế giới này bận rộn hơn ông. Ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống, nhiệt độ Washington DC xuống quá thấp dưới độ đông đá, đứng giữa trời suốt mấy tiếng đồng hồ không đội nón, Ông William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn dài 105 phút, ông bị cảm lạnh và bị sưng phổi rồi qua đời sau đó đúng một tháng vào ngày 4 tháng 4 năm 1841. Tổng Thống Harrison qua đời thì có ông Phó Tổng Thống John Tyler lên thay, cũng hết một nhiệm kỳ 4 năm (1841-1485), nước Mỹ đâu có một ngày nào không có Tổng Thống đâu. Bạn đừng nghĩ rằng vai trò của bạn khó thay thế, khi bạn không hiện diện hôm nay ở sở làm, trong gia đình, ngay tại văn phòng Phủ Tổng Thống, hay cả trên cõi trần gian này nữa. Không có gì không thể thay thế, ngay cả Tổng Thống một cường quốc như nước Mỹ.
Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe đến câu “Thân không cầu không tật bệnh, thân không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.” Quả thật, chúng ta có rất nhiều ham muốn, những món tiền lớn, chức vụ béo bở, danh vọng ngất trời, bình thường thì cũng nhà đẹp, xe đời mới, bữa ăn ngon, thú vui xác thịt. Nhưng khi nằm trên giường bệnh rồi, khi chúng ta bị bệnh tật, đau đớn, điều ước mơ duy nhất là lành bệnh, ngoài ra những thứ chức tước, danh vọng, tiền của đầy nhà, rượu ngon, gái đẹp... đều vô nghĩa. Khi thân thể rã rời, sinh lực tiêu hao, không buồn nhấc cánh tay lên, không muốn nở một nụ cười, ta còn ao ước điều gì trên cõi đời này nữa. Những con số trong ngân khoản nhà băng, những món lời trong tầm tay sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, sẽ không còn cần thiết gì cho thực trạng hôm nay với cái thân tàn tạ, nằm nhìn lên trần nhà mà chưa biết những gì có thể xẩy ra cho cái thân xác hữu cơ cùng với mầm thối rữa này.
Nhiều người đã kề cận với cái chết, nghĩa là đang ở giữa hai bờ sinh tử thì luôn luôn ám ảnh bởi nỗi biệt ly, xa cách rồi đây có thể xẩy ra giữa mình và những người thân yêu hơn là nghĩ đến những gì mình đang có bỗng phải bỏ lại đàng sau. Cái chết chỉ nhẹ nhàng, con đường ra đi chỉ có thể thênh thang nếu cuộc hành trình không mang những hành lý quá nặng với những nuối tiếc, với những tư hữu, những bận bịu tưởng chừng như không thể rời bỏ được ngay vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng làm sao ra đi mà không thương nhớ, mà để lòng mình được thảnh thơi như người xưa nói rằng “chết là trở về” hay làm sao để cái chết nhẹ nhàng vui thú “như khi ta trở lại đi trên những con đường quê những ngày thơ ấu!”
Lúc nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày khỏe mạnh quý báu biết bao nhiêu. Những chuyện nghe ra rất tầm thường trong cuộc sống hằng ngày bây giờ bỗng trở nên giá trị, khó tìm lại được. Những buổi sáng thức dậy thấy được ánh mặt trời và những chòm lá xao động bên ngoài cửa sổ, có thể nghe cả tiếng chim hót, tiếng xe cộ qua lại ồn ào hay tiếng người lao xao đâu đó. Những chuyện ấy rất thường tình, đời sống trôi chảy chung quanh ta, mà ngày thường không bao giờ chúng ta quan tâm, để ý đến. Bây giờ trong một căn phòng vắng lặng, cách biệt đời sống bên ngoài, mạch máu và nhịp tim đập của chúng ta gắn liền với những giọt thuốc tỉ tê đang luồn vào cơ thể.
Có những ngày nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày lành mạnh là đáng quý, không gì hơn được sống gần những người mình thương yêu, được làm những điều mình thích, được nói được cười trong một nhân quần ấm áp trong một ngày như hôm nay. Thế thì khi chúng ta được trở lại với cuộc sống dù là tầm thường, nhưng rất bình thường yên ổn, chúng ta có thấy quý những ngày như thế không? Hay bây giờ chúng ta đã thực sự quên rồi.
Cuộc sống đã xô đẩy chúng ta đi không một phút giây ngơi nghỉ trên chuyến tàu tốc hành đang băng băng trong đêm trong ngày, qua bao nhiêu dòng sông, chiếc cầu, qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi. Con tàu đã dừng lại một ga nhỏ nào đó để cho chúng ta lên tàu, rồi con tàu sẽ dừng lại một sân ga nào đó cho chúng ta xuống tàu, có thể cũng không ai biết chúng ta là ai, hiện diện trên toa tàu này lúc nào, trừ những người hành khách kế cận. Một người khách đã xuống tàu lúc con tàu đậu lại một sân ga nào đó đâu có gì là quan trọng.
Trong cuốn sổ điện thoại của tôi dùng thường ngày đã có những cái tên và số điện thoại bị gạch bỏ hay không bao giờ dùng đến, vì những bạn bè, thân thuộc này đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Tên của tôi trong cuốn sổ điện thoại của bạn cũng vậy, một này nào đó, như khi tôi đã xuống tàu, đâu có ai cần đến nữa.
Đến cái tuổi nào đó, có những người không còn thấy quyền lực, danh vọng và tiền của là quan trọng nữa. Con tàu trước khi rời sân ga đã kéo những hồi còi dài trong đêm tối, có thể không ai để ý đến một người hành khách đã xuống tàu lầm lũi một mình. Con tàu như dòng đời trôi chảy chúng ta đã bỏ lại sau lưng. Giờ phút đó, chúng ta không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng trước giờ ra đi, có thể có nhiều điều chúng ta chưa thực hiện được như những mơ ước từ lúc niên thiếu. Nhiều triết gia đã cho rằng chúng ta đã sống như thế nào chứ không phải đời sống dài hay ngắn.
Nhưng cái điều mà ai cũng biết, ai cũng nghe nói nhiều lần đến nhàm chán, và chẳng ai muốn nghe thì người ta gọi nó là thứ triết lý ...ba xu. Câu chuyện này có thể được xếp loại như vậy chăng?
Huy Phương
Điều gì nói ra mà ai cũng biết cả rồi vì nó tầm thường, đơn giản, hiển nhiên, rẻ tiền thì người ta thường mỉa mai gọi nó là “triết lý ba xu”, mặc dầu đó những điều xác thực, chỉ vì nó xưa cũ hay người ta đã quen nghe.
Bây giờ mỗi ngày bạn đang có bao nhiêu công việc phải lo toan từ sáng đến chiều, hết sức là bận rộn, mỗi tối trước khi lên giường, bạn phải liệt kê các công việc cần ghi nhớ cho ngày mai trên một trang giấy, sợ có điều không ghi nhớ thì sẽ quên mất. Giá như có ai đó đề nghị bạn bỏ một ngày đi thăm một người bạn ở xa, hay nghỉ trọn một tuần, bỏ hết tất cả công việc, để làm một chuyến du lịch cho thanh thản tấm thân, cắt đứt với mọi liên lạc công việc bên ngoài, bạn sẽ không bao giờ chấp nhận, vì quá thật là bạn quá bận, không dư ra một tí tẹo thời giờ nào cho những công việc như thế.
Thế rồi đùng một cái, không báo trước, buổi chiều, chiếc xe cấp cứu rú còi inh ỏi, ghé qua nhà bạn, mang vào bệnh viện cái đầu óc bận rộn và cả cái tấm thân đang bệnh tật, có thể là sắp chết của bạn vào bệnh viện. Bạn sẽ sắp đặt gì cho chương trình vào sáng hôm sau của bạn, công việc ở sở làm, một vài chuyện giả quyết chưa xong, đôi việc giao dịch chưa hoàn tất, cái thư chưa phúc đáp, cái bill chưa trả. Bạn sẽ không làm được gì hết ngoài ra việc nằm thẳng trên giường bệnh viện với các giây nhợ chằng chịt trên cánh tay suốt ngày, xoay trở cũng khó khăn, mê mê, tỉnh tỉnh, nói gì chuyện đi đứng, bay nhảy như những ngày khỏe mạnh. Nghĩa là tất cả đều được xếp lại, như cho vào một ngăn kéo đóng kín, không giải quyết không xoay trở gì được. Bây giờ ai đưa cháu đi học, bây giờ mấy cái bills chưa trả, bây giờ còn trăm thứ việc ngổn ngang.
Tổng Thống thứ 9 của Hoa Kỳ là ông William Henry Harrison, tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1841, lẽ cố nhiên ông có nhiều kế hoạch, chương trình cho nhiệm kỳ bốn năm trước mặt, còn ai trên thế giới này bận rộn hơn ông. Ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống, nhiệt độ Washington DC xuống quá thấp dưới độ đông đá, đứng giữa trời suốt mấy tiếng đồng hồ không đội nón, Ông William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn dài 105 phút, ông bị cảm lạnh và bị sưng phổi rồi qua đời sau đó đúng một tháng vào ngày 4 tháng 4 năm 1841. Tổng Thống Harrison qua đời thì có ông Phó Tổng Thống John Tyler lên thay, cũng hết một nhiệm kỳ 4 năm (1841-1485), nước Mỹ đâu có một ngày nào không có Tổng Thống đâu. Bạn đừng nghĩ rằng vai trò của bạn khó thay thế, khi bạn không hiện diện hôm nay ở sở làm, trong gia đình, ngay tại văn phòng Phủ Tổng Thống, hay cả trên cõi trần gian này nữa. Không có gì không thể thay thế, ngay cả Tổng Thống một cường quốc như nước Mỹ.
Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe đến câu “Thân không cầu không tật bệnh, thân không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.” Quả thật, chúng ta có rất nhiều ham muốn, những món tiền lớn, chức vụ béo bở, danh vọng ngất trời, bình thường thì cũng nhà đẹp, xe đời mới, bữa ăn ngon, thú vui xác thịt. Nhưng khi nằm trên giường bệnh rồi, khi chúng ta bị bệnh tật, đau đớn, điều ước mơ duy nhất là lành bệnh, ngoài ra những thứ chức tước, danh vọng, tiền của đầy nhà, rượu ngon, gái đẹp... đều vô nghĩa. Khi thân thể rã rời, sinh lực tiêu hao, không buồn nhấc cánh tay lên, không muốn nở một nụ cười, ta còn ao ước điều gì trên cõi đời này nữa. Những con số trong ngân khoản nhà băng, những món lời trong tầm tay sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, sẽ không còn cần thiết gì cho thực trạng hôm nay với cái thân tàn tạ, nằm nhìn lên trần nhà mà chưa biết những gì có thể xẩy ra cho cái thân xác hữu cơ cùng với mầm thối rữa này.
Nhiều người đã kề cận với cái chết, nghĩa là đang ở giữa hai bờ sinh tử thì luôn luôn ám ảnh bởi nỗi biệt ly, xa cách rồi đây có thể xẩy ra giữa mình và những người thân yêu hơn là nghĩ đến những gì mình đang có bỗng phải bỏ lại đàng sau. Cái chết chỉ nhẹ nhàng, con đường ra đi chỉ có thể thênh thang nếu cuộc hành trình không mang những hành lý quá nặng với những nuối tiếc, với những tư hữu, những bận bịu tưởng chừng như không thể rời bỏ được ngay vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng làm sao ra đi mà không thương nhớ, mà để lòng mình được thảnh thơi như người xưa nói rằng “chết là trở về” hay làm sao để cái chết nhẹ nhàng vui thú “như khi ta trở lại đi trên những con đường quê những ngày thơ ấu!”
Lúc nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày khỏe mạnh quý báu biết bao nhiêu. Những chuyện nghe ra rất tầm thường trong cuộc sống hằng ngày bây giờ bỗng trở nên giá trị, khó tìm lại được. Những buổi sáng thức dậy thấy được ánh mặt trời và những chòm lá xao động bên ngoài cửa sổ, có thể nghe cả tiếng chim hót, tiếng xe cộ qua lại ồn ào hay tiếng người lao xao đâu đó. Những chuyện ấy rất thường tình, đời sống trôi chảy chung quanh ta, mà ngày thường không bao giờ chúng ta quan tâm, để ý đến. Bây giờ trong một căn phòng vắng lặng, cách biệt đời sống bên ngoài, mạch máu và nhịp tim đập của chúng ta gắn liền với những giọt thuốc tỉ tê đang luồn vào cơ thể.
Có những ngày nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày lành mạnh là đáng quý, không gì hơn được sống gần những người mình thương yêu, được làm những điều mình thích, được nói được cười trong một nhân quần ấm áp trong một ngày như hôm nay. Thế thì khi chúng ta được trở lại với cuộc sống dù là tầm thường, nhưng rất bình thường yên ổn, chúng ta có thấy quý những ngày như thế không? Hay bây giờ chúng ta đã thực sự quên rồi.
Cuộc sống đã xô đẩy chúng ta đi không một phút giây ngơi nghỉ trên chuyến tàu tốc hành đang băng băng trong đêm trong ngày, qua bao nhiêu dòng sông, chiếc cầu, qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi. Con tàu đã dừng lại một ga nhỏ nào đó để cho chúng ta lên tàu, rồi con tàu sẽ dừng lại một sân ga nào đó cho chúng ta xuống tàu, có thể cũng không ai biết chúng ta là ai, hiện diện trên toa tàu này lúc nào, trừ những người hành khách kế cận. Một người khách đã xuống tàu lúc con tàu đậu lại một sân ga nào đó đâu có gì là quan trọng.
Trong cuốn sổ điện thoại của tôi dùng thường ngày đã có những cái tên và số điện thoại bị gạch bỏ hay không bao giờ dùng đến, vì những bạn bè, thân thuộc này đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Tên của tôi trong cuốn sổ điện thoại của bạn cũng vậy, một này nào đó, như khi tôi đã xuống tàu, đâu có ai cần đến nữa.
Đến cái tuổi nào đó, có những người không còn thấy quyền lực, danh vọng và tiền của là quan trọng nữa. Con tàu trước khi rời sân ga đã kéo những hồi còi dài trong đêm tối, có thể không ai để ý đến một người hành khách đã xuống tàu lầm lũi một mình. Con tàu như dòng đời trôi chảy chúng ta đã bỏ lại sau lưng. Giờ phút đó, chúng ta không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng trước giờ ra đi, có thể có nhiều điều chúng ta chưa thực hiện được như những mơ ước từ lúc niên thiếu. Nhiều triết gia đã cho rằng chúng ta đã sống như thế nào chứ không phải đời sống dài hay ngắn.
Nhưng cái điều mà ai cũng biết, ai cũng nghe nói nhiều lần đến nhàm chán, và chẳng ai muốn nghe thì người ta gọi nó là thứ triết lý ...ba xu. Câu chuyện này có thể được xếp loại như vậy chăng?
Huy Phương
Bà cụ & chiếc xe chó
Một phụ nữ nhà quê. Một con người luôn ném hết nghị lực ra giữa trời đất để sống. Bảy mươi ba tuổi. Tên Cao Thị Mỹ. Mỹ trong nghĩa từ Hán – Việt là "cái đẹp". Nhưng ít ai gọi cái tên ấy, người ta thường nhắc đến bà một cách nửa lạ nửa quen: bà cụ có chiếc xe chó
10 năm nay, bà con xã Phước Vinh, khu vực biên giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quen với hình ảnh bà cụ và chiếc xe chó. Bao năm qua chó Vàng cứ lầm lũi kéo xe chạy trên đường, gánh trên vai gánh nặng cuộc đời của bà chủ tội nghiệp của nó.
Cỗ xe cuộc đời Bà Mỹ từng có chồng, có con. Chồng mất, người phụ nữ ấy hết lặn lội nuôi con, đến nuôi dâu, rồi nuôi cháu. Mấy mẹ con tần tảo xây được căn nhà. Nhà mới chưa ráo hồ thì người ta khiêng xác đứa con trai đầy máu về đặt trước mặt bà. Một "hung thần đường phố" nào đó đã cướp sinh mạng nó rồi bỏ trốn. Người mẹ ấy lặng lẽ bán cái nhà mới xây để lo tang ma và xây một cái mả tươm tất cho con.
Bấy giờ, tài sản đáng giá của người mẹ chỉ còn cái thân già, ba con chó và một con heo. Con trai chết rồi, chẳng còn ai đỡ đần. Chỉ còn đàn chó, con heo trung thành quấn dưới chân bà. Ban đầu bà lấy mấy thanh tre, ghép với hai bánh xe đạp rồi dạy cho con heo kéo. Cái loài ủn ỉn hay ăn hay ngủ chỉ kéo được mấy bước rồi lăn ra nghỉ mệt. Bà thử buộc xe vào cổ ba con chó. Không ngờ chúng kéo chạy bon bon. "Vậy là trời còn thương, cho một kế sinh nhai, di chuyển". Bà tự nhủ rồi chất một bao gạo, một giỏ xách đựng quần áo và di ảnh của con trai lên cỗ xe chó ấy. Cứ chó kéo xe đi trước, bà đạp xe tất tả theo sau. Người và chó đi về hướng thị xã. Ngày đi. Đêm nghỉ bên lề đường. Ròng rã gần 70 cây số đến toà án tỉnh. Người mẹ quyết tâm đòi công lý cho đứa con xấu số.
Không nhớ nổi bao lâu ăn ở vạ vật bên đường để chờ đến ngày người ta tìm ra kẻ gây tai nạn, tuyên án, người đàn bà già cỗi ấy mới cùng ba con chó lủi thủi về. Đến quê, bà tặng hết số tiền người ta đền mạng sống đứa con trai cho cô con dâu, nó cũng nghèo khó và bạc phước như bà. Còn bà, dắt mấy chú chó xuống chiếc xuồng ba lá sống một đời lênh đênh.
Cuộc đời du cư cứ buổi sớm ra đồng mò ốc, mót lúa, mót mì…, buổi chiều lại cùng mấy con chó chở những thứ vừa kiếm được ra chợ để đổi lấy thức ăn. Hàng năm trời, giấc mơ của con người ấy và mấy chú chó cũng bập bênh trên con xuồng neo ở sông Vàm Cỏ. Sau trận bệnh tưởng chết trên xuồng, bà mới mua khung chòi tre với giá bằng bốn ký thịt bò. Người ta cho dựng nhờ trên một nền đất hoang bốn mùa lộng gió bên kia sông. Vậy là bà có một nơi bình yên để treo di ảnh đứa con thân yêu.
Robinson trên đồng Nghèo, nhiều người nghèo. Khổ, nhiều người khổ. Nhưng, con người ấy đã cho tôi cảm xúc rất lạ. Lạ từ nụ cười khanh khách trên khuôn mặt đen nhẻm đầy bùn đất. Lạ từ những giọt nước mắt lăn vội khi bỏ di ảnh con vô giỏ bàng rồi treo lên cỗ xe chó chở theo những ngả đường mưu sinh. Lạ từ chuyện lần mò trồng và chăm sóc cả một vườn khổ qua, bí đỏ, rau lang xanh mướt… để cho bà con hàng xóm ai thích ăn thì cứ hái miễn phí. Lạ từ cách mỗi ngày bà đều tìm và cắm một cành hoa tươi lên vách chòi tả tơi. Lạ đến những ngày bà nhịn đói để cho mấy chú chó được no. Lạ từ sự tự vấn bản thân khi trót làm chết mấy chú chó: "Trời! Tui già rồi, mà sao tui còn ngu hết biết vậy trời!".
Gặp tôi, bà rớt nước mắt hai lần: lần thứ nhất nói tới con trai, lần thứ hai nhắc về mấy chú chó. Cỗ xe tam cẩu giờ chỉ còn một mình con Vàng kéo. Con chó được huấn luyện đeo tờ giấy đi chợ giúp bà cụ đã bị sợi dây quấn vào cổ chết khi thò đầu xuống sông uống nước. Con chó thứ hai từng bơi qua sông kiếm người cứu chủ nhân trong đêm bà bệnh nặng trên xuồng đã bị mấy bợm nhậu bắt trộm làm thịt.
Sau khi chèo xuồng đưa tôi qua sông, bà và con Vàng lặng lẽ quay về căn chòi le lói ánh đèn chong. Nơi ấy đêm đêm chỉ còn bà cụ và con chó ngủ còng queo trên chiếc nệm làm bằng rơm khô. Phía sau xe chúng tôi nặng trĩu mấy trái bí đỏ do chính tay bà cụ nghèo trồng và hái tặng. Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!
10 năm nay, bà con xã Phước Vinh, khu vực biên giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quen với hình ảnh bà cụ và chiếc xe chó. Bao năm qua chó Vàng cứ lầm lũi kéo xe chạy trên đường, gánh trên vai gánh nặng cuộc đời của bà chủ tội nghiệp của nó.
Cỗ xe cuộc đời Bà Mỹ từng có chồng, có con. Chồng mất, người phụ nữ ấy hết lặn lội nuôi con, đến nuôi dâu, rồi nuôi cháu. Mấy mẹ con tần tảo xây được căn nhà. Nhà mới chưa ráo hồ thì người ta khiêng xác đứa con trai đầy máu về đặt trước mặt bà. Một "hung thần đường phố" nào đó đã cướp sinh mạng nó rồi bỏ trốn. Người mẹ ấy lặng lẽ bán cái nhà mới xây để lo tang ma và xây một cái mả tươm tất cho con.
Bấy giờ, tài sản đáng giá của người mẹ chỉ còn cái thân già, ba con chó và một con heo. Con trai chết rồi, chẳng còn ai đỡ đần. Chỉ còn đàn chó, con heo trung thành quấn dưới chân bà. Ban đầu bà lấy mấy thanh tre, ghép với hai bánh xe đạp rồi dạy cho con heo kéo. Cái loài ủn ỉn hay ăn hay ngủ chỉ kéo được mấy bước rồi lăn ra nghỉ mệt. Bà thử buộc xe vào cổ ba con chó. Không ngờ chúng kéo chạy bon bon. "Vậy là trời còn thương, cho một kế sinh nhai, di chuyển". Bà tự nhủ rồi chất một bao gạo, một giỏ xách đựng quần áo và di ảnh của con trai lên cỗ xe chó ấy. Cứ chó kéo xe đi trước, bà đạp xe tất tả theo sau. Người và chó đi về hướng thị xã. Ngày đi. Đêm nghỉ bên lề đường. Ròng rã gần 70 cây số đến toà án tỉnh. Người mẹ quyết tâm đòi công lý cho đứa con xấu số.
Không nhớ nổi bao lâu ăn ở vạ vật bên đường để chờ đến ngày người ta tìm ra kẻ gây tai nạn, tuyên án, người đàn bà già cỗi ấy mới cùng ba con chó lủi thủi về. Đến quê, bà tặng hết số tiền người ta đền mạng sống đứa con trai cho cô con dâu, nó cũng nghèo khó và bạc phước như bà. Còn bà, dắt mấy chú chó xuống chiếc xuồng ba lá sống một đời lênh đênh.
Cuộc đời du cư cứ buổi sớm ra đồng mò ốc, mót lúa, mót mì…, buổi chiều lại cùng mấy con chó chở những thứ vừa kiếm được ra chợ để đổi lấy thức ăn. Hàng năm trời, giấc mơ của con người ấy và mấy chú chó cũng bập bênh trên con xuồng neo ở sông Vàm Cỏ. Sau trận bệnh tưởng chết trên xuồng, bà mới mua khung chòi tre với giá bằng bốn ký thịt bò. Người ta cho dựng nhờ trên một nền đất hoang bốn mùa lộng gió bên kia sông. Vậy là bà có một nơi bình yên để treo di ảnh đứa con thân yêu.
Robinson trên đồng Nghèo, nhiều người nghèo. Khổ, nhiều người khổ. Nhưng, con người ấy đã cho tôi cảm xúc rất lạ. Lạ từ nụ cười khanh khách trên khuôn mặt đen nhẻm đầy bùn đất. Lạ từ những giọt nước mắt lăn vội khi bỏ di ảnh con vô giỏ bàng rồi treo lên cỗ xe chó chở theo những ngả đường mưu sinh. Lạ từ chuyện lần mò trồng và chăm sóc cả một vườn khổ qua, bí đỏ, rau lang xanh mướt… để cho bà con hàng xóm ai thích ăn thì cứ hái miễn phí. Lạ từ cách mỗi ngày bà đều tìm và cắm một cành hoa tươi lên vách chòi tả tơi. Lạ đến những ngày bà nhịn đói để cho mấy chú chó được no. Lạ từ sự tự vấn bản thân khi trót làm chết mấy chú chó: "Trời! Tui già rồi, mà sao tui còn ngu hết biết vậy trời!".
Gặp tôi, bà rớt nước mắt hai lần: lần thứ nhất nói tới con trai, lần thứ hai nhắc về mấy chú chó. Cỗ xe tam cẩu giờ chỉ còn một mình con Vàng kéo. Con chó được huấn luyện đeo tờ giấy đi chợ giúp bà cụ đã bị sợi dây quấn vào cổ chết khi thò đầu xuống sông uống nước. Con chó thứ hai từng bơi qua sông kiếm người cứu chủ nhân trong đêm bà bệnh nặng trên xuồng đã bị mấy bợm nhậu bắt trộm làm thịt.
Sau khi chèo xuồng đưa tôi qua sông, bà và con Vàng lặng lẽ quay về căn chòi le lói ánh đèn chong. Nơi ấy đêm đêm chỉ còn bà cụ và con chó ngủ còng queo trên chiếc nệm làm bằng rơm khô. Phía sau xe chúng tôi nặng trĩu mấy trái bí đỏ do chính tay bà cụ nghèo trồng và hái tặng. Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!

CẢM ƠN CHƯA BAO GIỜ THỪA
Tác giả: Nguyễn Trần Diệu Hương
Mỗi năm một lần xin diễn tả bằng chữ nghiã lời cảm ơn tất cả mọi người đã góp bàn tay làm cho đời sống an vui hơn, lời cảm tạ tất cả những ân nhân cụ thể đã cùng nhau gây dựng nên được những công dân tốt cho xã hội.
Xin kính cảm tạ Cô giáo đầu đời ở lớp mẫu giáo đã đưa chúng ta từ một xã hội nhỏ chỉ thu gọn với những người cùng huyết thống đến một xã hội lớn hơn có bạn bè cũng ngây thơ như chính chúng ta ở thủa đầu đời. Cô đã dạy cho chúng ta làm quen với những con số trên đầu mười ngón tay măng non chỉ biết cầm thức ăn nước uống.
Xin kính cảm tạ tất cả các Thầy Cô giáo bậc Tiểu học đã nhẫn nại uốn từng ngọn cây non theo đường ngay nẻo thẳng, đã dạy chúng ta những bước chập chững đầu đời của một Công dân gương mẫu, biết yêu thương Tổ quốc, biết ngả mũ chào vĩnh biệt lần cuối người quá cố khi thấy những đám ma chạy lẫn trong giòng xe cộ ngược xuôi. Xin cảm tạ các Thầy Cô giáo năm năm Tiểu học đã đặt nền tảng suy luận trong mỗi chúng ta qua những con toán cộng trừ nhân chia đơn giản, những kiến thức Việt Sử từ thời dựng nước, những bài học thuộc lòng mang âm hưởng ca dao.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy Nhạc ở những năm đầu Trung học dạy chúng ta những bài hát đậm tình quê hương, đã khắc sâu vào lòng chúng ta những nốt nhạc làm lòng bình an hơn trong những lúc tâm hồn bất an, khắc khoải vì cuộc đời không vuông vức như những giòng kẻ có mang bảy nốt nhạc quen thuộc của mỗi giờ nhạc lý.
Xin kính cảm tạ các Cô dạy môn Nữ công đã dạy học trò con gái biết thêu thùa, may vá, biết nấu những món ăn đơn giản. Môn Nữ công gia chánh tưởng chỉ để dạy các cô bé ngày xưa làm nội tướng sau náy, nhưng cũng đã giúp được nhiều chị nuôi thân và đôi khi nuôi cả gia đình trong những ngày khốn khó đầu thập niên 80 ở quê nhà.
Xin kính cảm tạ các Thầy dạy môn Thể dục, ngày xưa còn bé, chúng ta cứ nghĩ đó là giờ giải trí ngoài trời nhưng đến tuổi nửa đời người mới hiểu được lợi ích của những cái nhảy cao, nhảy xa, những hít ra thở vào ở một góc sân trường ngày còn thơ dại.
Xin kính cảm tạ các Thẩy Cô dạy môn Sinh Vật tưởng như khô cằn khó nuốt nhưng đã giúp chúng ta trân trọng đời sống thiên nhiên, biết yêu thương tất cả mọi loài vật từ chim bay trên trời đến kiến bò dưới đất; biết tôn trọng cả những cơ phận trong cơ thể con người, không ăn uống bừa bãi để tránh được hậu quả "tham thực cực thân", biết tập thể dục thường xuyên để giữ được một thân thể khoẻ mạnh, tránh được gánh nặng cho gia đình và xã hội, biết góp phần nhỏ của mình giữ cho trái đất bớt bị ô nhiễm.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Hội họa đã dạy chúng ta biết phân biệt những nét đậm nhạt của màu sắc, biết thưởng thức từ những bức tranh tĩnh vật đơn giản đến những đường nét lập thể của trường phái Picasso.
Những kiến thức hội họa ngày xưa đã giúp chúng ta biết tô thêm màu sắc vào đời sống mà màu xám thường lấn trội màu hồng và màu xanh.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Công dân, hướng dẫn chúng ta đạo làm người, bổn phận đối với Tổ quốc và gia đình; biết kính trọng người già, nhường nhịn trẻ con , và biết thương yêu người tàn tật.
Xin kinh cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Sử Địa đã mở rộng tầm mắt cho chúng ta về thế giới loài người, về tiến trình dựng và giữ nước của mỗi một dân tộc để cảm thông hơn với những đất nước nhược tiểu.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn ngoại ngữ; chúng ta đã phải uốn lưỡi theo từng phát âm của một ngôn ngữ mới, phải học thuộc lòng rất nhiều động từ bất quy tắc. Điều đó không bao giờ ngờ là đã giúp được rất nhiều cho những thuyền nhân tỵ nạn ngay từ những phút đầu tiên trên biển cả mênh mông gặp được một thuyền đánh cá đến những chuỗi ngày dài của đời sống lưu vong sau này.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Vật lý đã dẫn dắt chúng ta từ những khái niệm căn bản về giòng điện, cực dương, cực âm, điện tích, từ trường đến ánh sáng giao thoa, những hạt ion mà thời Trung học ở Việt Nam vì không có phòng thí nghiệm, tất cả chỉ là hình ảnh và trí tưởng tượng. Vậy mà những kiến thức đầu đời đó cũng đã góp phần tạo nên những nhà khoa học, những kỹ sư Việt Nam thông minh, cần cù đang ở rải rác khắp năm châu bốn biển âm thầm đóng góp rất nhiều cho sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, buồn thay không phục vụ trực tiếp được cho quê hương vẫn còn nghèo nàn lạc hậu ở bên kia bờ đại dương.
Xin kính cảm tạ càc Thầy Cô dạy môn Hóa học với những phản ứng hoá học có màu, không màu, có vị hay không vị, tất cả đều chỉ nằm trong tưởng tượng vì không có Lab như ở các trường Trung học ở Mỹ . Vậy mà vẫn giúp ích được nhiều cho chúng ta từ việc nấu nướng giản đơn trong bếp ,không bao giờ bị cháy thức ăn, đến việc đọc được những hoá chất trên các bao bì của thực phẩm, hay xa hơn đã là nền tảng căn bản cho những Bác sĩ, Dược sĩ, những chuyên viên dinh dưỡng đã góp phần làm xoa dịu được nỗi đau của rất nhiều bệnh nhân ở năm châu bốn biển. Hy vọng một ngày rất gần, những kiến thức đó được đem về để giúp các em bé Việt Nam nghèo nàn cơ cực đang phải đi bán rong ở khắp nẻo đường đất nước; để giúp các ông bà cụ già ở tuổi gần đất xa trời, đáng lẽ phải được hưởng phúc lợi của xã hội, vẫn phải lê tấm thân tàn đi bán từng tấm vé số đổi lấy chén cơm.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Toán, từ những bài cộng trừ nhân chia đơn giản đầu đời, đến những bài qũy tích, vì phân, tích phản đã làm đau đầu các cô cậu học trò không được giỏi Toán của thủa nào. Bước xuống cuộc đời, nếu không phải là nhà khoa học, không làm trong ngành kỹ thuật thì không hề phải lấy đạo hàm, không hề phải dùng đến những đẳng thức lượng giác, nhưng những kiến thức đó dã là nền tảng cho mọi nghĩ suy chín chắn biết xét đoán cả cuộc đời một cách khách quan và đúng đắn như những con số của môn toán. Ở tuổi nửa đời người chúng ta mới thấy cuộc đời chẳng bao giờ tròn triạ, cũng chẳng có được hình bầu dục, hình Parabol hay Hyperbol như những hình vẽ trong tập vở Toán ngày nào nhưng bằng những suy nghĩ trên nền tảng của môn Toán, những bài học thủa còn ngồi ở ghế nhà trường, chúng ta không bị lực ly tâm đẩy ra ngoài qũy đạo của nhân cách và lòng bác ái.
Xin kính cảm tạ các Thầy Cô dạy môn Văn đã đưa vào lòng chúng ta những lời ca dao trầm bổng đến những tác phẩm có giá trị ở bất cứ thời đại nào. Từ những bài Luận thơ dại ngày nào chúng ta đã viết được những đoạn văn lấy được nước mắt độc giả, hay giúp người đọc "mua vui cũng được một vài trống canh". Có những lúc bị cả một hệ thống xã hội dồn vào chân tường như thời mới lớn, chúng ta vẫn vững vàng và không làm điều gì sai trái nhờ đã được học "Les Miserables", và "Tâm hồn cao thượng" ít nhất là hai lần trong suốt những năm Trung học,
Xin kính cảm tạ những Thầy Cô không cùng màu mắt, không cùng màu da, ở các trường Đại học ở Mỹ , đã kiên nhẫn nâng đỡ chúng ta, những học sinh Việt Nam tỵ nạn túi rỗng tay không, ngây ngô tội nghiệp từ thủa chân ướt chân ráo bỡ ngỡ từ ngôn ngữ đến phong cách sống, đến những nâng đỡ tinh thần và những chỉ dạy qúy báu trong những ngày chuẩn bị bài thi tốt nghiệp hay trình các luận án khoa học. Xin được cảm ơn các Thầy Cô đã hoàn tất những chấm phá cuối cùng của một bức vẽ để từ đó chúng ta thực sự bước xuống cuộc đời, là người có một cái đầu biết suy nghĩ và một tấm lòng đầy từ tâm góp phần làm cho xã hội giàu mạnh hơn.
Xin cảm ơn những người hàng xóm láng giềng dù không cùng màu da, nhưng vẫn rất lịch sự dễ thương, đã mở cửa ra vào, đã bơm bánh xe giủm cho những cô gái Việt Nam nhỏ người, yếu sức.
Xin cảm ơn những người đồng nghiệp cùng sở làm, dù cá tính đôi lúc đối chọi như mặt trời và mặt trăng vẫn rất là nhiệt tình cộng tác và giúp đỡ lẫn nhau trong những công việc phải làm để trả nợ áo cơm lẫn những việc thích làm thêm vì yêu nghề hay vì muốn học hỏi điều mới.
Xin cảm tạ quê hương thứ hai luôn mở rộng vòng tay cho người tỵ nạn lưu vong và luôn là chỗ dung thân ấm êm hạnh phúc cho tất cả những ai phải sống đời lưu lạc.
Xin cảm tạ ơn trời đã cho chúng ta luôn binh an cả tâm hồn lẫn thể xác và luôn có một công việc an nhàn ngay cả giữa những nỗi trôi của tình hình kinh tế. Xin cảm ơn nụ cười thân thiện của những người lạ trên đường phố ở những buổi trưa đi bộ dưới những hàng cây xanh ngát vào mùa hè và vàng đỏ vào mùa thu.
Xin cảm ơn bạn bè gần xa luôn quan tâm thăm hỏi; bạn bè thời Trung học dù đã mấp mé nửa đời người vẫn khăng khít thân tình như thời còn ngồi ở ghế trường Trung học.
Xin cảm tạ anh chị em trong nhà luôn đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, luôn có mặt bên nhau trong thành công cũng như trong vấp ngã ngay từ thủa chào đời .
Và cuối cùng xin kính cảm tạ Ba Mẹ , hai ân nhân lớn nhất, đã đưa chúng ta vào đời, đã làm tất cả mọi thứ có thể làm được để chúng ta có được một thời thơ ấu ấm êm hạnh phúc. Những nhọc nhằn và hy sinh của Ba Mẹ vào "thủa trời đất nổi cơn gió bụi" từ năm 1975 đến giữa thập niên 80 là một nhắc nhở để chúng ta đủ nghị lực không đầu hàng trước bất cứ khó khăn nghịch cảnh nào. Những điều Ba Mẹ khuyên răn từ thời còn dại khờ vẫn được khắc cốt ghi tâm làm kim chỉ nam của cuộc đời, mong đó là món quà lớn nhất để báo đáp công ơn dưỡng dục sinh thành...
Thanksgiving 2008
ở "Tầm nhìn của núi"
Nguyễn Trần Diệu Hương

