Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tháp người 'không tin nổi' ở Tây Ban

Source: Internet
Một trong những lễ hội kỳ lạ nhất trên thế giới đã được tổ chức tại Tarragona, Tây Ban Nha hôm 5/10 vừa qua là lễ hội với một trò chơi tập thể đầy mạo hiểm: Dựng tháp người.

Cuộc thi này bắt nguồn từ những vũ công xứ Tarragona cách đây hơn 3 thế kỷ. Xây tháp người là một trò chơi truyền thống được dành cho tất cả mọi người thuộc mọi chủng tộc, tôn giáo, tầng lớp xã hội và quan trọng hơn cả là mọi lứa tuổi. Trò chơi đòi hỏi tính kĩ thuật cao, sự chính xác và khả năng kết hợp giữa các thành viên trong đội.

Những người tham gia sẽ tạo từ 1 đến 3 tầng để làm móng tháp và một người sẽ leo lên làm đỉnh tháp. Đó là thành viên nhẹ nhất trong đội và thường là một đứa trẻ với cái mũ bảo hiểm to bự ở trên đầu. Theo luật chơi, đội nào xây được tháp người cao nhất và phức tạp nhất sẽ giành chức vô địch.
Dưới đây là những hình ảnh độc đáo từ lễ hội này:

Image
Nhóm chơi xếp lại thành một khối vững chắc làm nền móng

Image
Lần lượt các thành viên chồng lên nhau...

Image
theo một trọng lượng nhất định

Image
Cứ thế tháp người được dựng lên sao cho cao nhất

Image
Một sai sót nhỏ cũng có thể làm sụp đổ tất cả

Image
Thành viên nhẹ nhất, nhỏ nhất với chiếc mũ bảo hiểm
sẽ là đỉnh tháp và leo lên cuối cùng

Image
Để thành viên cuối cùng lên được đỉnh tháp đã là rất khó

Image
Duy trì sự cân bằng khi thành viên cuối cùng đó lên được đỉnh
còn khó hơn.
Nguyên tắc bất di bất dịch là khi đổ không được buông nhau ra
vì rơi như thế rất nguy hiểm.

Image
Lễ hội thường có 4 đến 5 đội với những màu áo khác nhau
cùng tập trung tại một quảng trường lớn.

Image
Trò chơi này thể hiện một tinh thần tập thể và sự gắn kết
của mọi thành viên trong đội.
Mở rộng ra nó là sự đoàn kết
của cả một cộng đồng người vùng Tarragona

Image
Nó cũng đòi hỏi sự tập trung khối lượng lớn người làm giá đỡ
(không chỉ là thành viên trong đội mà cả người xem) phía dưới khi tháp bị đổ .

Image
Đội vô địch chỉ có thể là đội xây được tháp cao nhất và phức tạp nhất

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

45 Năm "Vụ Án Thế Kỷ" (1963-2008)
Vụ Ám Sát Tổng Thống John Kennedy
Ngay sau khi John Kennedy đắc cử Tổng thống Mỹ thứ 35 nhưng chưa làm lễ nhậm chức, đã có âm mưu giết ông rồi.

Hung thủ là R.Pavlic, cựu nhân viên bưu điện, quấn mìn quanh người định “nổ tung” cùng vị tân tổng thống trong kỳ nghỉ trước khi vào tòa Bạch Ốc của J.Kennedy ở Florida...

Từ khi nhận chức cho tới tháng 11/1963, John Kennedy nhận được rất nhiều lá thư nặc danh đe dọa mạng sống. Theo luật Mỹ, nếu Cơ quan điều tra tìm ra được bằng chứng thì thủ phạm sẽ bị truy tố trước pháp luật, nhưng chẳng có nét chữ nào bị phanh phui. Rồi đến “Vụ án của thế kỷ” - như người ta thường gọi về vụ ám sát đương kim tổng thống thứ 35 của Mỹ. Cho tới tận bây giờ, nhiều bí ẩn xoay quanh cái chết của Tổng thống J.Kennedy được dư luận Mỹ cũng như thế giới luôn đòi hỏi phải được đưa ra ánh sáng.

Điểm lại lịch sử, Dallas - chặng dừng chân cuối cùng trong chuyến công du tiểu bang Texas của Tổng thống J.Kennedy. Texas rặt những kẻ bất mãn với đường lối của J.Kennedy sau gần 3 năm ông cầm quyền, nhất là sau thất bại ở Vịnh Con Heo nhằm “đè bẹp” Cuba. Và 3 phát súng định mệnh đã nổ, mặc cho những biện pháp an ninh được phòng ngừa nghiêm ngặt...

Vài giờ sau, ngay tối hôm đó cả nước Mỹ tận mắt thấy được hung thủ qua màn ảnh tivi. Đó là tên Lee Harvey Oswald, 24 tuổi, kẻ đã điểm hỏa từ một cửa sổ tầng 6 thuộc kho sách trên phố The Elms - nơi mà đoàn xe của tổng thống đi từ sân bay vào trung tâm thành phố phải băng ngang.

Khán giả Mỹ hẳn còn nhớ khuôn mặt thâm tím vì bị đánh của Oswald trên màn hình, cùng lời hét được hắn lặp đi lặp lại: “Họ ép cung tôi! Họ ép cung tôi!”. Đầu tiên Oswald bị bắt tại một rạp chiếu bóng vì tội đã bắn chết sĩ quan cảnh sát Tibet trước đó, nhưng không hiểu sao lại được “đổi” qua thành kẻ sát hại tổng thống. Người ta cũng tìm ra “tang chứng” ngay tối đó (22/11/1963): khẩu súng và kính ngắm; nhưng vân tay của Oswald mãi tới ngày 24/11 mới được “thẩm định” là đúng - khi đó hắn đã chết rồi.
Image
Khoảnh khắc trước khi J.Kennedy bị ám sát.
Nhiều nhân chứng khác, cũng như các bức ảnh và phim tư liệu cho thấy đường đạn đi không phải chỉ từ kho sách, mà cả từ dải cỏ cao kế đó - nơi đoàn xe đi qua. Giới chức cảnh sát thì khăng khăng cho rằng, Oswald đã bắn và hắn là một kẻ “loạn trí, háo danh và cực đoan” - tự tổ chức lấy vụ ám sát. Rồi L.Oswald bị Jack Ruby - chủ một hộp đêm - bắn chết ngay trước mũi cảnh sát coi ngục Dallas. “Chúng ta không bao giờ nghe được những lời biện bạch từ con người này nữa - nhà bình luận nổi tiếng E.Morgan của Hãng truyền hình ABC, nói - Ở đây có cái gì đó không đàng hoàng cho lắm, nhưng chúng ta không rõ là cái gì?”.

Trước áp lực của công luận, ngày 28/11/1963 Bạch Ốc thành lập một ủy ban đặc biệt gồm 7 người, do Chánh án Tòa án tối cao E.Worren đứng đầu. Ngày 24/9/1964 Ủy ban Worren nói trên công bố một báo cáo, dựa trên lời khai của 550 nhân chứng cùng sự nghiên cứu phân tích hàng chục nghìn trang tài liệu. Bản phúc trình chính thức loại trừ “các âm mưu trong nước cũng như quốc tế can thiệp vào cuộc mưu sát, ngoài cá nhân Lee Oswald với những phát súng bắn ra từ tầng 6 kho sách ở Dallas” - đó là kết luận của Ủy ban này. Nhưng chẳng ai lý giải nổi sao 3 phát súng mà gây ra được những 7 vết thương ở cả Tổng thống và Thống đốc Texas J.Connelly (ông này bị thương 4 chỗ), cũng như L.Oswald (hay kẻ nào đó đã bắn từ trên cửa sổ xuống), lại có thể bắn được 2 viên đạn chỉ trong 7/10 giây - với khẩu súng “tang chứng” do Italy sản xuất chỉ bắn được tối đa 2 viên trong 2,25 giây (?!).

Ủy ban Worren, cũng như Ủy ban đặc biệt được thành lập năm 1968, hay Hội đồng giám định y khoa của năm 1975, hoặc Ủy ban Đặc biệt do Quốc hội Mỹ lập ra trong năm 1976 đều không lý giải được vì sao khẩu súng của Oswald lại gây ra được những vết thương to hoác trên đầu tổng thống - ngoại trừ súng bắn đạn cực nhanh là một thứ vũ khí hoàn toàn khác? Và các ủy ban trên cũng chẳng thể khẳng định nổi là những vết thương đó được tạo ra từ chỉ một hướng bắn. Hiển nhiên là có một kẻ nào đó đã cùng điểm hỏa với Oswald.

Riêng Tổng thống Lyndon Jonhson người kế nhiệm Tổng thống Kennedy thừa nhận: “Tôi không bao giờ tin là Oswald chỉ hành động có một mình”.

Khi Ủy ban Worren nói trên đang tiến hành công việc điều tra, vào tháng 3/1969 tại Dallas đã mở phiên tòa sơ thẩm kéo dài 4 tuần xử J.Ruby tội cố sát L.Oswald với án tử hình. Rồi Tòa phúc thẩm Dallas đồng ý xử lại sau những khiếu nại triền miên của Ruby. Cho tới ngày cuối cùng trước khi lìa đời (Ruby chết trong tù vào tháng 1/1967), hắn vẫn luôn dọa là “sẽ bóc trần những kẻ chủ mưu thực sự trong vụ ám sát J.Kennedy”.

Image
"Hung thủ" Lee Oswald ?!
Đầu năm 1965 nữ ký giả Mỹ D.Kilgalen đã vào tận xà lim tử tù trò chuyện với Jack Ruby... Bà này sau đó bị đột tử trong phòng trọ thuộc một khách sạn ở New York bởi nguyên nhân “mất điện” (!). Cả một vài phóng viên khác có khả năng tiếp cận được gần với “đề tài Ruby” rồi cũng mất tích một cách khó hiểu... Tháng 12/1977, kết thúc 14 năm điều tra từ FBI theo lệnh của nguyên Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy (em trai của J.Kennedy, ông này cũng bị ám sát chết hồi tháng 6/1968), nhưng 8 vạn trang tài liệu chẳng đưa ra được điều gì mới cả. Mọi cái chết mờ ám của hơn 20 nhân chứng tiêu biểu nhất có thể giúp vạch trần “Vụ án của thế kỷ” cũng bị FBI “vô tình” bỏ qua(!).

Còn vào tháng 7/1979 kết thúc công việc của Ủy ban Đặc biệt do Quốc hội Mỹ lập ra hồi năm 1976, sau hơn 3 năm điều tra với khoản kinh phí 5,4 triệu USD, thừa nhận: “Với sự phân tích một cách khoa học nhất, cho phép tồn tại khả năng có 2 người cùng bắn vào Kennedy”. Còn căn cứ vào đoạn băng ghi âm trong kho lưu trữ của Sở Cảnh sát Dallas (mãi sau này mới được “phát hiện” ra), thì không phải là 3, mà đã có tới 4 tiếng súng nổ nhắm vào tổng thống - cả từ 2 phía: trước và sau xe chở Kennedy.

Ủy ban này kết luận: “Hiển nhiên là âm mưu ám sát Tổng thống J.Kennedy đã được xếp đặt trước. Nhưng chúng tôi không thể truy tìm được tên phát hỏa thứ hai, cũng như những kẻ chủ mưu...”. Ủy ban còn thêm: “Đứng đằng sau vụ mưu sát này không ngoài những nhóm người gốc Cuba cực hữu và những kẻ cực đoan trong thế giới tội phạm - mafia”.

Năm 1985 luật sư Mỹ nổi tiếng M.Lein, người nhiều năm nghiên cứu “vụ Kennedy” đã chỉ đích danh kẻ sát hại Tổng thống Kennedy là CIA, ông có trong tay bằng chứng chứng minh Oswald không phải là người bắn Tổng thống J.Kennedy. Ngoài ra Lein còn chỉ ra tên tuổi một vài người của CIA cộng tác với các nhóm Cuba lưu vong bàn mưu giết hại J.Kennedy vì những thất bại của ông đối với Cuba.

Cuối cùng vào giữa năm 1986 ở Mỹ phát hành thêm một cuốn sách tâm huyết nữa xoay quanh “Vụ án thế kỷ” của tác giả Henry Hurt, với nhan đề “Reasonable Doubt” (Nghi ngờ xác đáng). Trong đó tác giả phân tích các số liệu và sự kiện một cách tỉ mỉ, lôgic và khoa học cho thấy J.Kennedy bị chủ mưu giết chết - với sự tham gia của các tổ chức mật vụ hàng đầu là CIA, FBI và DIA (Cơ quan Tình báo Quốc phòng).

H.Hurt cho biết là cho đến ngày nay còn ít nhất 500 ngàn trang tài liệu liên quan tới vụ ám sát được giữ trong vòng tuyệt mật. Tác giả cũng cho biết một cựu nhân viên FBI (giấu tên - vì lý do an toàn), người từng tham gia vào giai đoạn đầu của cuộc điều tra vụ mưu sát tổng thống và ông này khẳng định: “Trước khi Oswald bị Ruby giết, dấu vân tay trên khẩu súng “tang chứng” vẫn chưa có và một điều gây sửng sốt nữa là: chưa có một thiện xạ nào ở Mỹ lặp lại được “thành tích” của tay súng hạng xoàng Lee Oswald, kể cả về thời gian bắn cũng như độ chính xác...”.

45 năm đã trôi qua sau “Vụ án của thế kỷ”, sự bí ẩn vẫn còn đó, ngày càng có thêm nhiều giả thuyết mới...

Ai là thủ phạm giết John Kennedy? Câu hỏi luôn mang tính thời sự với các thế hệ ngày nay. Có nhiều vụ án mà lịch sử phải bó tay và lần này cũng vậy chăng?!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

ĐIỀU GÌ XẨY RA KHI TA CHẾT

Hồi nhỏ chúng ta thích đọc truyện ma quỉ, thần thoại hay kiếm hiệp thường thấy nói người chết sống lại. Vợ con đã làm lễ phát tang, than khóc ỉ ôi, có khi một hai ngày rồi bất thần người chết mở mắt, ngồi dậy, ăn uống và nói truyện bình thường, lại còn kể những cảnh thần tiên hoặc ác quỉ ghê gớm mà họ đã sống, đã thấy sau khi chết. Chuyện đó có thật hay không thì chưa ai thực sự kiểm chứng được. Nay đời sống văn minh tiến bộ hơn, người ta nghi ngờ những cậu chuyện như vậy, coi là giả tưởng, chỉ là những câu chuyện người ta kể lại. Có thể đúng như người chết kể lại.

Có thể do người chết chưa chết, tâm trí vẫn còn hoạt động và quay trở lại những hình ảnh, những suy tư lúc còn sống rồi biến hóa câu chuyện thành thần tiên quỉ dữ..Người ta đặt vấn đề: Người "chết" đã chết thực sự chưa? Câu chuyện người "chết" kể lại có thực sự đúng như họ thấy không? Chết thì từ ngàn xưa vẫn là những vấn nạn nan giải. Con người sinh ra, sống, rồi chết. Sinh Ký Tử Qui là lẽ tự nhiên. Một đời sống mới nối tiếp theo sau sự chết.

Bác sĩ Sam Parnia, trong cuốn sách của ông nhan đề "Điều gì xẩy ra khi ta chết / What happens When We die" không bàn về đời sau như Thiên Đàng, Hỏa ngục, nhưng đặt vấn đề một người gọi là "chết" có thực sự chết chưa để tìm hiểu, nghiên cứu. Từ đó mới có thể có những định nghĩa chết khác nhau một cách chính xác. Rồi vấn đề được đặt ra: Khi đã chết, trí khôn, nhận thức con người có chết cùng với não bộ và thân xác không? Khi chết, nhận thức và thần trí con người có lìa khỏi thân xác không? Nếu có thì nó có những suy tư cảm nghiệm gì sau đó?
THẾ NÀO LÀ CHẾT? Có rất nhiều định nghĩa CHẾT: Chết hiểu theo y học, luật học, sinh học và văn hóa, tôn giáo, đạo đức….Ở đây, chúng tôi chỉ nói về cái chết theo quan niệm y học. Lúc còn nhỏ khi học giáo lý, các cha thường định nghĩa chết là lúc linh hồn lìa khỏi xác. Nhưng xác định lúc nào linh hồn lìa khỏi xác thì quả là rất khó mà biết. Do đó chẳng có thể xác quyết chắc chắn lúc nào một người gọi là chết. Định nghĩa CHẾT quả là một vấn đề. Theo y học thì chết là lúc Tim Ngừng Đập và Phổi Ngừng Thở. Nhưng ngày nay nhờ khoa cấp cứu hồi sinh (ACLS / CPR)[1] phát triển và tiến bộ, khi tim vừa ngừng đập nếu người ta dùng máy kích tim (defibrillation) ngay lập tức thì tim đôi khi có thể hoạt động trở lại. Do đó định nghĩa như ở trên có vẻ không còn được chính xác cho lắm.. Ngay cả khi những nguyên do hoặc cơ quan như tim và phổi là những cơ phận cần thiết cho sự sống chết như ta hiểu cũng không còn giá trị khít khao nữa. Mạng sống con người vẫn có thể tồn tại nhờ những kỹ thuật trợ sinh (Life support) phối hợp với cách ghép cơ quan và trợ tim nhân tạo (organ transplants and artificial pacemakers).

Vì vậy, ngày nay người ta định nghĩa "lúc chết" là lúc bác sĩ điều trị đưa tay tắt máy trợ sinh, rút ống thở dưỡng khí của bệnh nhân khiến óc bệnh nhân hết sinh động trước sự chứng kiến của bác sĩ khám nghiệm. Lúc đó gọi là "Óc Chết" hay "Chết Sinh Học". Lúc này óc của bệnh nhân không còn sinh động điện nữa. Khi óc không còn sinh động điện và ngưng hoạt động là lúc con người không còn nhận thức nữa (consciousness). Tuy nhiên tình trạng mất nhận thức đó (unconsciousness) phải là vĩnh viễn (permanent), không là tạm thời (transient) như khi chúng ta ngủ rất say nhất là lúc bị hôn mê (coma), bởi vì trong những trường hợp như vầy, não động đồ (EEGs) vẫn cho ta thấy một sự khác biệt rất rõ ràng. Do đó xác định lúc chết rất quan trọng trong trường hợp cần lấy cơ quan để ghép cho người khác. Cơ quan phải được lấy ngay lập tức và nhanh hết sức có thể lúc người bệnh hoặc nạn nhân vừa mới chết.

Khả năng óc lấy lại được sinh động -ở Hoa Kỳ- là một điều kiện cần thiết về mặt pháp lý, chứng tỏ một người vẫn còn sống. "…một khi óc đã được xác định là chết….thì việc cắt đứt trợ sinh rút ống dưỡng khí sẽ không bị liên đới tội hình sự hoặc dân sự" (Trường hợp Dority v. Tối Cao Pháp viện San Bernadino County, 139 Cal.Rptr.288,291 (1983).

Nhưng có người tranh luận cho rằng phần vỏ não (neo-cortex) của óc mới là quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến ý thức (consciousness) con người cho nên chỉ có sinh động điện (electrical activity) của não mới có thể xác định được một người chết hay không. Lý lẽ nào cũng có lý cả nên sau cùng tiêu chuẩn chết có thể chấp nhận được là khi nạn nhận mất khả năng nhận thức vĩnh viễn và bất khả hồi được chứng tỏ là vỏ não đã chết thực sự (death of celebral cortex). Tất cả hy vọng phục hồi tư tưởng và nhân tính vô phương cứu chữa với những kỹ thuật y khoa tân kỳ hiện đại đang có. Tuy nhiên hiện nay ở nhiều nơi người ta chấp nhận một định nghĩa CHẾT có tính cách bảo thủ hơn: Chết là khi toàn thể bộ óc đã ngừng sinh động điện và bất khả hồi (irreversible cessation of electrical activity) chứ không chỉ riêng của vỏ não (neocortex) như trước kia. (Uniform Determination Of Death Act in USA )

Với tiêu chuẩn về toàn thể bộ não, xác quyết óc chết cũng vẫn còn lôi thôi, bởi vì Não Động Đồ (EEGs) vẫn có thể khám phá ra những kích động của não giống như thiệt hoặc một số thuốc hay lượng đường trong máu xuống quá thấp, dưỡng khí thiếu hay nhiệt độ trong người quá thấp cũng có thể khiến óc tạm thời ngừng sinh động. Vì vậy các nhà thương thường có những nguyên tắc chỉ dẫn để xác định óc chết dựa vào não động đồ bất thường tùy theo trường hợp.

Cũng vì lúc nào gọi là chết thực vẫn còn chưa được xác quyết và công nhận nên những vấn đề về tôn giáo, xã hội, y học hay luật học….vẫn còn phải đặt thành vấn đề. Chừng nào vấn đề vẫn chưa được giải quyết và công nhận thì những luật lệ, nguyên tắc mà tôn giáo, xã hội, nhà nước đưa ra vẫn còn là những gì chưa được ổn?
NHỮNG NGHIÊN CỨU CỦA BÁC SĨ SAM PARNIA VÀ NHÓM CHUYÊN VIÊN Bác sĩ Sam Parnia là một trong những chuyên viên hàng đầu đặc trách nghiên cứu Sự Chết theo phương pháp khoa học thuộc Trung tâm Y Khoa Weil Cornell ở Nữu Ước. Tháng trước ông và các đồng nghiệp của ông đã tuyên bố tại Trung Tâm Dự Án Nghiên Cứu Ý Thức Con Người (Human Consciousness) những công việc đầu tiên họ đang làm: Ba (3) năm nghiên cứu tìm tòi về sinh học của những "kinh nghiệm lúc hồn lìa khỏi xác". Cuộc nghiên cứu được gọi là Sự Tỉnh Táo khi Hồi Sinh / AWARE (AWAreness during REsuscitation) và nghiên cứu trên 1,500 người được cứu sống sau khi tim ngừng đập thuộc 25 Trung Tâm Y Tế lớn ở Âu Châu, Canada và Hoa Kỳ. Báo Time có tường thuật việc này và nói với Bác sĩ Parnia về xuất xứ của dự án, những nghi ngờ cũng như những khác biệt giữa trí khôn và bộ óc con người.

Phương pháp kiểm chứng những điều mà một người "Gần Chết" cho biết.

Theo nguyên tắc, khi tim ngừng đập thì máu sẽ không chạy lên được óc. Lúc đó chỉ cần 10 giây đồng hồ là óc sẽ ngưng sinh động. Nhưng kinh nghiệm cho biết cỡ 10%-20 % người khi tim đã ngừng đập lại có thể được cứu sống, và chừng vài phút hoặc hơn giờ đồng hồ sau họ cho biết là họ vẫn tỉnh táo. Vậy thì vấn đề ở đây là những điều người đó cho biết có thật hay không hay chỉ là một loại ảo tưởng? Để kiểm chứng, một cách duy nhất là để những hình ảnh chỉ có thể trông thấy được khi nhìn từ trên trần nhà xuống mà thôi để xem họ nói có đúng hay không, bởi vì họ nói họ có thể nhìn thấy tất cả mọi sự từ trên trần nhà. Vậy nếu chúng ta thử nghiệm một loạt cỡ 200 hay 300 người có tình trạng chết như vậy và nếu họ có thể được cứu sống trở lại và nói cho chúng ta biết chúng ta đang làm gì và họ trông thấy đúng những hình ảnh mà ta đã sắp đặt thì có thể kết luận là họ còn tỉnh táo mặc dù óc họ không còn sinh động nữa.

Kết quả nghiên cứu này có phù hợp với quan niệm chết trong xã hội hay không?

Người dân trong xã hội bình thường quan niệm Chết là trong khoảnh khắc: Hoặc là chết hoặc là sống, không thể vừa sống vừa chết. Nhưng định nghĩa chết mà chúng ta công nhận là tim ngừng đập, phổi ngừng thở và kết quả là óc hết sinh động. Khi bác sĩ chiếu một tia sáng vào đồng tử con mắt, bình thường mắt sẽ có phản xạ, bởi vì phản xạ mắt là biểu hiện sinh động của tế bào óc, cơ quan giúp chúng ta sống, nếu không có phản xạ là óc đã hết sinh động và người đó đã chết. Lúc đó bác sĩ có thể chứng nhận là bệnh nhân đã chết với sự chứng kiến của y tá. Nhưng đó là năm mươi năm trước đây, vì lúc đó với tình trạng này bệnh nhân không có thể sống lại được.

Làm sao khoa học kỹ thuật hiện đại có thể thuyết phục được quan niệm "chết là trong khoảnh khắc"?

Ngày nay với khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại người ta có thể làm cho người chết sống lại. Có những loại thuốc kỳ thần đã được phát minh, nhưng không biết nó sẽ được tung ra thị trường hay không, có đặc tính làm chậm lại tiến trình suy thoái của tế bào óc bị tổn thương và làm bệnh nhân chết chậm lại. Cứ tưởng tượng bạn tiến trước 10 năm, người ta đưa cho bạn một bệnh nhân mà tim vừa mới ngừng đập cùng với loại thuốc thần diệu ấy thì cái gì sẽ xẩy ra. Thuốc đó sẽ làm cho mọi sự chậm lại, và nếu là bây giờ thì sẽ chậm hơn một tiếng, nhưng 10 năm nữa nó có thể kéo dài đến hơn 2 ngày. Như vậy cứ cái đà phát triển này, y khoa hiện đại càng ngày càng tiến xa hơn nữa thì một ngày nào đó chúng ta sẽ có không biết bao nhiêu là vấn nạn về luân lý, đạo đức, luật lệ và tôn giáo. Nhưng thử hỏi cái gì sẽ xẩy ra cho con người lúc bấy giờ? Điều gì thực sự sẽ xẩy ra? Ta biết rằng khi luồng máu không lưu thông đủ thì các tế bào sẽ phản ứng loạn xạ để tự bảo vệ hầu sinh tồn. Nhưng chỉ trong vòng chừng 5 phút là chúng bắt đầu bị tổn thương và biến thái. Sau chừng một giờ, sự tổn thương sẽ rất lớn và nếu ta có cố gắng kích động tim và bơm máu trở lại thì bệnh nhân cũng không thể sống được, bởi vì các tế bào đã biến đổi quá nhiều rồi. Cứ đà đó, các tế bào vẫn cứ tiếp tục biến đổi và chỉ trong vòng vài ngày là toàn thể xác bệnh nhân bắt đầu phân hóa thối rữa. Vậy thì chết không phải là trong khoảnh khắc. Nó là cả một tiến trình thay đổi bắt đầu từ lúc tim ngừng đập đi đến cao điểm là toàn thể thân xác, tất cả mọi tế bào bị hủy hoại và phân hóa thành thối rữa. Sau cùng, còn một điều nữa là trí khôn / linh hồn con người thì sao? Cái gì sẽ xẩy ra cho trí khôn và ý thức con người trong khi chết? Phải chăng nó cũng ngưng hoạt động ngay lập tức khi tim vừa mới ngừng đập? Phải chăng nó cũng ngừng hoạt động trong vòng 2 giây hoặc 2 phút đồng hồ đầu tiên ? Chúng ta cũng nên nhớ là các tế bào vẫn liên tục thay đổi trong thời gian đó. Phải chăng nó ngừng sau 10 phút, một nửa giờ hay một giờ? Đến đây thực sự chúng ta không ai biết.

Điều đầu tiên người chết sống lại nói với bạn là cái gì?

Đây là những điều bác sĩ Parnia biết được do chính người "chết" sống lại kể với ông. "Họ làm tôi sáng mắt bừng tỉnh –Bác sĩ Parnia kể- và cảm thấy mình thấp hèn nhỏ bé lại, bởi vì nghe họ kể mới thấy họ là những con người thành thật, nói sự thật chứ không phải kể ra để gây chú ý hay có tham vọng nổi danh gì. Rất nhiều trường hợp họ không nói cho bất cứ ai biết những điều đó bởi vì họ không muốn người ta sẽ nghĩ sai lầm về họ".[2] Bác sĩ Parnia đã phỏng vấn hơn 500 trường hợp khác nhau từ hơn 10 năm nay. Tất cả những điều họ kể đều tương tự như nhau và được họ diễn tả đúng như đã xẩy ra. Bác sĩ Parnia đã tìm cách nói chuyện được với các bác sĩ và các y tá đã có mặt khi những người chết sống lại và chính tai họ được nghe những điều người chết nói lại mà họ không thể cắt nghĩa được là tại sao. Một số những dữ kiện này đã được bác sĩ Parnia ghi lại trong quyển sách của ông nhan đề What Happens When We Die. Bởi vì ông muốn mọi người nhìn vấn đề ở cả hai khía cạnh, không phải chỉ bên phía bệnh nhân mà còn cả bên phía bác sĩ nữa, để thấy rằng bệnh nhân họ cảm nhận thế nào khi họ được các bác sĩ cứu họ sống lại và kể cho các bác sĩ những điều đã xẩy ra với họ. Bác sĩ Parnia đã nói chuyện với một bác sĩ chuyên khoa tim mạch, ông này nói rằng ông không có kể lại câu chuyện này cho bất cứ ai bởi vì ông không biết cắt nghĩa làm sao một bệnh nhân chết sống lại mà có thể kể lại rất chi tiết những điều ông đã nói và làm. Chuyện này đã làm ông quá kinh hoàng khiến ông quyết định không muốn nhắc đến nó nữa.

Tại sao lại có những phản đối chống lại dự án nghiên cứu này?

Bởi vì chúng ta cố gắng vượt qua giới hạn của khoa học, đang cố gắng chống lại những ức đoán và quan niệm cố định từ ngàn xưa. Rất nhiều người vẫn giữ cái ý định cố hữu là "khi ta chết là ta chết". Chỉ có vậy thôi. "Chết là trong khoảnh khắc". Hoặc chết hoặc sống. Không có vừa sống vừa chết. Tất cả những ý tưởng đó thực ra chẳng có một giá trị khoa học gì cả, nhưng đó lại là một quan niệm xã hội. Nếu chúng ta nhìn lại cuối thế kỷ XIX, các nhà vật lý học lúc bấy giờ làm việc dựa vào luật chuyển động Newton , và họ giải đáp tất cả các hiện tượng trong vũ trụ này theo luật Newton . Nhận xét thế giới quanh ta lúc bấy giờ thì luật vật lý của Newton hoàn toàn đầy đủ, nó có thể giải thích tất cả mọi sự mà ta gặp. Nhưng ngày nay, khi chúng ta quan sát những vật chuyển động thực nhỏ -nhỏ hơn cả những nguyên tử- thì luật Newton's không còn giá trị áp dụng được nữa. Do đó cần phải có một khoa vật lý học mới. Sau cùng chúng ta buộc phải đi tới khoa vật lý học quantum. Luật này đã gây ra rất nhiều tranh cãi mà ngay cả chính nhà bác học Einstein cũng không thể ngờ được.

Bây giờ chúng ta coi giữa trí óc / nhận thức và bộ não xem có khác biệt gì không. Nếu cứ cho rằng trí óc và bộ não là một như nhau thì cũng được đi, bởi vì đa số các trường hợp, có đến 99% trường hợp, chúng ta không thể tách biệt được trí óc khỏi bộ não. Chúng làm việc và hoạt động song hành cùng một lúc rất khít khao. Nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, dù là rất hiếm, như khi bộ não ngưng hoạt động thì chúng ta thấy rằng lý luận cho rằng trí khôn và bộ não là một không còn đứng vững được nữa như ta thấy những kinh nghiệm dẫn chứng ở trên. Vậy thì cần phải có một nền khoa học mới tương tự như khoa vật lý quantum vậy. Máy Gia Tốc Siêu Nguyên Tử của Trung Tâm nghiên cứu nguyên tử lực Âu Châu (CERN)[3] có thể đưa ta trở về cội nguồn. Nó có thể đưa chúng ta ngược trở lại lúc khởi đầu, chính những giây phút đầu tiên sau Big Bang. Với nghiên cứu của nhóm bác sĩ Parnia, lần đầu tiên, họ đã dùng những kỹ thuật và phương tiện khả dĩ có thể kiểm chứng được chuyện này.

ĐÔI LỜI KẾT:

Sự sống đã là một kỳ công do Thiên Chúa tạo ra, nhưng Chết cũng là một huyền bí còn mung lung mờ tối. Để có thể thấy được những gì xẩy ra ở những giây phút cuối cùng của đời ta lúc chết, chúng ta còn cần phải tiếp tục nghiên cứu tìm tòi thêm nữa. Có hay không một cái gì còn tiếp diễn sau đó hay chẳng còn gì nữa. Chết là hết ?

Hãy nhớ rằng: Đời là vô thường, giả trá. Sinh ký tử qui.

Fleming Island , Florida 19-10-2008
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, M.D

[1] Advanced Cardiac Life Support (ACLS) / CardioPulmonary Ressuscitation (CPR)

[2] Eye-opening and very humbling. Because what you see is that, first of all, they are completely genuine people who are not looking for any kind of fame or attention. In may cases they haven't even told anybody else about it because they're afraid of what people will think of them.

[3] CERN (Centre Européenne pour la Recherche Nucléaire): Trung Tâm nghiên cứu nguyên tử lực Âu Châu lớn nhất thế giới, nằm ở biên giới giữa Pháp và Thụy Sĩ.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

AUSTRALIA

Nguyễn Ngọc Chấn

Các Minh tinh tài tử chính:

Lady Sarah: Nicole Kidman
Drover: Hugh Jackman
Nullah: Brandon Walters
Neil Fletcher: David Wenham
King Carney: Bryan Brown
Directed by Baz Luhrmann.
Phim “Australia” đưa chúng ta về nước Úc nơi đất rộng người thưa, có những cánh đồng cỏ mênh mông, đến một địa danh mang tên “Faraway Downs” thuộc miền Bắc Úc. Thời bấy giờ Úc còn hoang sơ, các nhà tài phiệt từ Anh quốc đổ xô sang vùng Faraway Downs khai thác kỹ nghệ chăn nuôi.

Vào đầu thế kỷ 20 quân đội Đức Quốc Xã chinh phục, phá tan Âu châu, các nước cần thịt bò làm lương thực để nuôi quân và dân. Tại Anh quốc gia đình Ashley đã có nông trại ở Úc. Năm 1939 bà Lady Sarah Ashley (Nicole Kidman) được tin trang trại của gia đình đang bị phá phách, bà Sarah lên đường sang Úc thăm chồng. Đến nơi Lady Sarah mới hay chồng bà đã bị tử nạn. Chuyến đi thăm chồng của bà Sarah không còn là cuộc du ngoạn vương giả nhưng Sharah Ashley phải bắt tay vào một thực tế phũ phàng.

Đón tiếp bà tại bến tầu là Drover (Hugh Jackman), một thanh niên nghề chính là cowboy, nghề phụ là tài xế chiếc xe thổ mộ của côngty Ashley. Sarah mang theo hàng chục chiếc vali chứa quần áo giầy vớ, nón nữ trang và đủ thứ dụng cụ đàn bà lỉnh kỉnh. Drover chất hết đống vali lên chiếc xe chất đầy đồ ăn, phân bón, dụng cụ nông trại. Dọc đường quần áo của bà Sarah bay vương vải theo gió chiều. Trên mui xe còn chở mấy anh thổ dân người Úc đen đủi, đóng khố bằng lá chuối mo cau, không che hết “khúc nam nhi trái” của họ.

Đi hết một ngày đường mới tới, bà Sarah hỡi ơi trước khung cảnh hoang tàn của hãng. Ngoài Drover là người Âu châu, ông Tầu phù làm bếp còn lại toàn thể nhân viên là giống thổ dân. Trong đám người bản xứ có chú bé Nullah (Brandon Walters), chẳng biết cha mẹ là ai nhưng đã được sinh ra và lớn lên từ nông trại của ông Ashley.

Nullah chính là người thuyết minh câu chuyện “Australia”. Theo đó ông ngoại chú bé là một vị phù thủy (David Gulpilil), trước đây giúp việc cho trại chăn nuôi. Nhiệm vụ của ông là liên lạc với “Trời đất”. khi cần nắng, mưa ông ra nhẩy muá, đọc thần chú, gọị mưa xuống, kêu nắng lên. Nhiều lần cầu đâu trúng đó, ông được bà con làng nước phong vương thành “King George”. Thế rối gần đây ông chủ Ashley bị tử nạn, nhà chức trách địa phương buộc cho King George tội giết chủ bằng bùa phép, ông đã tại đào nhưng vẫn lẩn khuất quanh trại để quan sát và dạy nghề cho thằng cháu ngoại.

Sarah nhận lấy cái gia tài với niềm ngao ngán, bầy gia súc hàng ngàn con trong tình trạng đói khát. Đồng cỏ, sông nước chung quanh đã bị các trại khác chiếm, xây rào cản. Nước hồ trong vùng cũng bị đầu độc làm cho nhiều gia súc chết trôi lềnh bềnh và bất khiển dụng. Sarah nhất quyết không bỏ cuộc, bà lột bỏ cái vỏ trưởng giả bắt tay vào việc tái xây dựng trại. Điều động gia nhân Sarah tin cậy vào Drover. Làm bầu bạn, Sarah nhận Nullah làm con nuôi. Chú bé chừng 10 tuổi nhưng kiến thức khá rộng vì vẫn tiếp xúc học hỏi từ ông ngoại.

Đối ngoại Sarah luôn phải đương đầu với chủ trại lân bang, Neil Fletcher (David Wenham), ông này đã dùng đủ moị thủ đọan để chiếm đọat trại Ashley. Khi dụ ngon dỗ ngọt đòi mua trọn bộ tài sản của Sarah bằng giá rẻ mạt; Khi dùng bạo lực phá hoại, giết hại gia súc, ngăn sông, chắn lối gây khó khăn cho Sarah. Drover hết lòng khuyến khích Sarah như lúc sinh thời ông Ashley cũng bị những áp lực này. Ông Ashley rất cương nghị, cho nên, theo lý thuyết của Drover, có thể chính Fletcher là thủ phạm ám hại ông.

Bầy gia súc đã chín mùi sẵn sàng xuất cảng. Khi tầu hàng Anh tới Úc thu mua gia súc, Fletcher cũng như Ashley đều phải giao hàng một lượt. Trại của Fletcher rộng rãi, gần đường cái, bò của ông thủng thẳng lên đường. Trong khi bò của Sarah phải băng qua tô giới của Fletcher mới ra được bến tầu. Fletcher đã dựng rào chắn hết đường, Drover phải luà đàn bò hàng ngàn con băng qua sa mạc. Hơn hai ngày không cỏ, không nước, một số bò đã bỏ mạng sa truờng. Nullah đi tìm ông ngoại tới cầu mưa. King George dùng đủ phép cầu cho mưa xuống cưú đoàn gia súc khỏi chết khô và tới bến đúng lúc tầu nhận hàng.

Sau khi hoàn tất việc xuất cảng hàng, Sarah mới dành thời gian cho con tim mình. Từ ngày gặp Drover, vóc dáng cowboy, bụi đời với hàm râu quai nón cạo tỉa chừng mực khiến cho chàng tài xế lọt vào mắt xanh của bà chủ. Ngoài đời, Hugh Jackman, tài tử người Úc vừa được bầu chọn là người đàn ông hấp dẫn nhất “sexiest man alive”. Nicole Kidman cũng là người gốc Úc rất thành công tại Hollywood, cô nàng còn khá hấp dẫn nên đôi trai tài, gái sắc đóng phim với nhau làm sao tránh khỏi những cảnh mủi mẫn tình tự. Tuy nhiên, để giữ cho cuốn phim Australia không phị loại vào hạng R, hãng phim đã tự chế, cắt bỏ nhiều cảnh làm tình nóng bỏng giữa Jackman và Kidman.

Thế rồi Australia đưa qua một ngã rẽ mới. Từ thời Đệ nhị thế chiến, chính phủ Úc có chính sách tách biệt đám thiếu nhi khỏi cha mẹ thổ dân của chúng. Việc làm này được bưng bít nhiều thập niên, mãi đến mấy năm gần đây chính phủ Úc mới chính thức lên tiếng xin lỗi và bồi thường cho cho cha mẹ người bản xứ có con bị cưỡng bức vào trại tập trung.

Nullah cũng bị bắt đưa vào đảo Children Mission Center. Sarah đau khổ cùng cực vì bà đã nhận chú bé làm con nuôi nhưng chưa có giấy tờ hợp lệ nên Nullah bị bắt dẫn đi mất. Sarah chạy chọt khắp nơi ngay cả điều đình với Fletcher giúp nàng lãnh Nullah ra khỏi trại. Thế nhưng thủ tục nhận con nuôi chưa hoàn tất thì lại có biến chuyển mới.

Gần cuối Đệ nhị thế chiến, quân đội Hoàng gia Nhật bất thần tấn công Trân Châu Cảng và các vùng phụ cận trong đó có Úc. Hàng trăm máy bay Nhật bất thần không tập hải cảng Úc làm thiệt mạng hàng ngàn quân nhân và thưòng dân. Hải cảng Úc bị tàn phá nặng nề. Đảo Children Mission cũng bị oanh kích. Các linh mục phải đưa đám trẻ sống sót vào trốn trong rừng.

Trước đó vài ngày Drover từ chối lời mời sang Anh quốc chung sống với Sarah. Chàng không thích tình cảnh hàng thần lơ láo khăn gói quả muớp tiếp tục đi giang hồ vào vùng hoang dã Úc. Khi Nhật bỏ bom hải cảng, Drover tức tốc trở lại thành phố, tìm Sarah trong đống người chết. Tìm nàng không được, Drover nghĩ tới Nullah, có thể bé bị nguy hiểm trên hòn đảo biệt lập. Drover lên đảo khi quân Nhật đang tảo thanh doanh trại. Bất thần hàng trăm trẻ em và Nullah từ trong rừng chui ra. Drover đưa lên tầu chở đám trẻ về đất liền. Như phép mầu tại bến tầu trước giờ di tản khỏi đão trước khi rơi vào tay quân Nhật, Lady Sarah cũng thoát chết trong đống gạch vụn, đoàn tụ với Drover và Nulah.

Cuốn phim Australia quay cảnh thật người thật tại Úc Đại lợi với đôi tài tử giai nhân Hugh Jackman và Nicole Kidman. Cô cậu khá xinh đẹp cũng là yếu tố chính để thu hút hàng triệu khán giả khắp thế giới.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Sự bạc bẽo vô tình đối với mẹ của cô con gái lai Mỹ
Tuesday, December 02, 2008

* Trần Viết Ðại Hưng
Cuốn phim tài liệu “Người con gái từ Ðà Nẵng” (A daughter from Danang) là một phim hay và có giá trị. Phim này đoạt giải Grand Jury của Liên Hoan Ðiện Ảnh Sundance và được tuyển chọn vào trong những phim dự thi của giải Oscar nhưng tiếc rằng không thắng. Phim kể chuyện về một người con gái lai Mỹ, rời Ðà Nẵng năm 7 tuổi trong một chương trình di tản mang tên “Kế hoạch bốc trẻ em” (Operation Babylift). Sau khi ở Mỹ 22 năm, cô con gái lai Mỹ này về Ðà Nẵng để gặp lại mẹ. Cuộc gặp gỡ trùng phùng mừng mừng tủi tủi này, sau một tuần sum họp bên nhau, trước những yêu cầu trợ giúp từ người mẹ, cô con gái lai Mỹ này đã biểu lộ sự bực bội khó chịu khi nghe lời đề nghị lo lắng và phụng dưỡng cho mẹ. Cuộc hội ngộ tưởng sẽ dấy lên nhiều hy vọng và ước mong cho mẹ và con lại trở nên đầy tràn sự căng thẳng và hiểu nhầm vì sự cách biệt văn hóa giữa người con gái lai Mỹ và gia đình ngày càng lớn dần lên. Liệu nền văn hóa Mỹ nơi cô lớn lên đã tạo cho cô cách ứng xử bạc bẽo và vô tình này hay cô cũng chỉ là một sự chấn thương còn sót lại của cuộc chiến tranh Việt Nam? Sự giải đáp câu hỏi này không đơn giản vì nó bao gồm nhiều yếu tố phong tục, văn hóa, sắc tộc, địa dư và hoàn cảnh riêng tư của người trong cuộc.

Cuốn phim cho biết có một người đàn bà tên Mai Thị Kim ở Ðà Nẵng. Bà có 3 con, chồng bà đi vào bưng theo Việt Cộng. Bà được bạn bè giới thiệu đi làm việc ở một căn cứ quân sự Mỹ và từ đó có quan hệ tình cảm với một quân nhân Mỹ. Rốt cuộc bà mang thai và khi bào thai được 4 tháng thì người quân nhân Mỹ này lên đường về nước. Ðứa bé gái được sinh ra, vì không có cha nên bà lấy họ mẹ đặt cho bé và bà đặt tên bé gái là Hiệp, có nghĩa là “hiệp thông”, liên hiệp với mẹ. Mai Thị Hiệp ra đời như bao nhiêu đứa con lai Mỹ ở Việt Nam, ra đời không phải trong một không khí hân hoan vui vẻ mà ra đời trong tâm trạng bẽ bàng của người mẹ trước sự dị nghị của hàng xóm, láng giềng. Năm ấy là năm 1968. Vào những ngày trước Tháng Tư năm 1975, bà nghe tin đồn là khi Cộng Sản vào thành phố, chúng sẽ gom lại những đứa con lai Mỹ rồi tẩm xăng và đốt. Vì quá lo sợ cho tính mạng của con, bà đem bé Hiệp đến một văn phòng thiện nguyện của người Mỹ nhờ họ giúp cho bé di tản. Bà đẩy con đi để cứu con chứ không phải đẩy con đi để trút bỏ một gánh nặng. Lúc đưa Hiệp cho người nữ nhân viên hội thiện nguyện, bà thắc mắc hỏi sao hội không đưa cho bà giấy tờ nói rõ chuyện Hiệp sẽ đi về đâu, nếu không đưa cho bà giấy tờ thì làm sao bà kiếm được lại con trong tương lai? Người nữ nhân viên thiện nguyện chỉ trả lời là khi người Mỹ trở lại, bà sẽ có lại đứa con. Bà ở lại nuôi ba đứa con của người chồng cũ, nhưng bà phải đẩy Mai Thị Hiệp đi di tản vì sợ đứa con gái lai Mỹ này sẽ bị Cộng Sản giết. Từ lúc đẩy bé Hiệp đi, không lúc nào bà không nhớ đến bé. Cuộc sống càng khó khăn, đau khổ thì bà lại càng nhớ đến Hiệp nhiều hơn.

Sau khi đến Mỹ, Mai Thị Hiệp được một phụ nữ không chồng bảo lãnh và Hiệp về sống ở vùng Columbia, South Carolina rồi sau đó dọn về vùng Pulaski, Tennessee. Mai Thị Hiệp được đổi tên là Heidi Bub. Sau này Heidi có viết một bài văn nói đến chuyện bà mẹ nuôi người Mỹ đối xử rất khắt khe với cô. Bà tỏ vẻ khó chịu khi Heidi hẹn hò với bạn trai và về nhà quá khuya. Có một đêm, sau khi làm việc, cô đi hẹn hò và về nhà quá trễ. Bà mẹ nuôi đóng cửa nhà không cho cô vào. Cô phải đến nhà bạn để ngủ qua đêm. Khi cô lên đại học thì bà mẹ nuôi tuyên bố đuổi cô ra khỏi nhà. Cô tìm cách viết thư hàn gắn tình cảm với bà nhưng không thành công. Heidi cảm thấy chán nản và buồn rầu nhiều trong thời gian này. Trong ý nghĩ của cô, trời đã dành quá nhiều bất hạnh cho cô: mẹ đẻ bỏ rơi cô khi cô còn nhỏ và mẹ nuôi tống cổ cô ra khỏi nhà. Cô sống nhờ bạn bè lúc đầu, sau đó kiếm việc làm trong khi đi học đại học. Cuối cùng cô lấy chồng là một bạn trai hồi trung học và có 2 đứa con gái. Chồng cô là một quân nhân.

Cô bắt đầu liên lạc những văn phòng con nuôi để tìm mẹ ruột, trong khi mẹ ruột cô là bà Mai Thị Kim cũng bắn tin qua Mỹ để tìm đứa con gái lai Mỹ mà bà đã đẩy đi Mỹ năm 1975. Cuối cùng hai mẹ con đã bắt được liên lạc với nhau.

Ngày 23 Tháng Ba năm 1997 cô quyết định về thăm mẹ ở Ðà Nẵng. Ði cùng với cô là đoàn quay phim và họ đã ghi lại những hình ảnh đoàn tụ mừng mừng tủi tủi thật cảm động giữa hai mẹ con tại phi trường Ðà Nẵng. Vài ngày sau cũng là những ngày chuyện trò tíu tít để bù lại 22 năm xa cách giữa bà mẹ và đứa con gái lai Mỹ. Khi gia đình hỏi về chuyện tiền bạc thì Heidi đã bắt đầu tỏ vẻ khó chịu. Nhìn thấy nếp sống khổ cực của mẹ và gia đình, cô cũng cảm thấy áy náy khi nghĩ đến cuộc sống sung túc, tuyệt vời của cô với chồng và hai con ở Mỹ. Bà mẹ nói thẳng ước muốn của bà là bà muốn qua Mỹ để sống những ngày còn lại cuối đời. Ông anh trai cùng mẹ khác cha nói cho Heidi biết là trong thời gian Heidi xa gia đình thì anh và chị của Heidi đã khổ cực lo lắng cho mẹ, và giờ đây là lúc Heidi phải nhận lấy bổn phận lo cho gia đình. Heidi cảm thấy lạc lõng khi nghe như thế, cô cảm thấy bị áp lực và không còn nghĩ sự đoàn tụ sau bao ngày xa cách có ý nghĩa gì nữa không như cô đã tưởng. Sự vui mừng đoàn tụ giờ đây nhường chỗ cho sự khó chịu và bẽ bàng. Ðối với cô thì chuyện gia đình mong mỏi cô gánh vác giống như một thứ đổi chác khi cô trở về nhà. Heidi cảm thấy mình không có trách nhiệm gì cả. Heidi đồng ý là mình khá giả hơn gia đình ở Việt Nam nhưng rồi gia đình cô còn phải đối phó với chi phí chi tiêu gia đình, tiền nợ, và những nhu cầu hàng ngày của chồng cô và hai con.

Khi trở về Mỹ sau cuộc viếng thăm mẹ, Heidi vui mừng thấy lại chồng và hai con và cô không muốn nghĩ gì về những chuyện ở Việt Nam nữa. Mục đích của chuyến đi coi như vượt ngoài giới hạn thảo luận giữa cô và chồng cô vì cô chưa sẵn sàng để phô bày tất cả những cảm xúc lẫn lộn ra bên ngoài. Về lại Mỹ, cô cũng không tìm cách liên lạc với mẹ vì cô cảm thấy cảm xúc bị thương tổn còn quá mới mẻ. Cô cũng không biết bao lâu nữa để giải quyết chuyện nhức đầu nói trên, nhưng cô biết là phần cô cần một số thời gian và kiên nhẫn.

Cô đưa ra lời khuyên cho những ai muốn tìm lại cha mẹ ruột là người con phải tìm hiểu phong tục, tập quán và đời sống của cha mẹ trước ngày đoàn tụ để khi gặp nhau tránh khỏi chuyện đau đớn và bất bình. Cô ân hận là đã quá vội vã để đi đoàn tụ với mẹ nên đụng phải sự hiểu lầm và hối tiếc về mặt tình cảm. Ðoạn cuối cuốn phim, Heidi nói một câu lửng lơ, bạc bẽo để diễn tả mối liên lạc giữa cô và mẹ như sau, “Tôi đóng cửa nhưng không khóa” (It's closed, but it's not locked). Câu nói này cho thấy Heidi chưa muốn cắt đứt hoàn toàn liên lạc với mẹ nhưng cô không muốn liên hệ nhiều với mẹ vì sợ phải giúp đỡ mẹ.

Nhìn thấy thái độ từ khước giúp đỡ mẹ của Heidi, bà Kim tỏ ra buồn bực, thất vọng trên nét mặt và người coi phim cảm thấy bùi ngùi thương hại cho người mẹ bất hạnh kém may mắn này. Bà nói chuyện con cái giúp đỡ cha mẹ là chuyện thường tình ở Việt Nam. Bà hiểu là Heidi lớn lên trong xã hội Mỹ, bị ảnh hưởng bởi lối sống và văn hóa Mỹ nên mới có thái độ miễn cưỡng khước từ chuyện giúp mẹ như thế. Bà nhận xét như thế là đúng vì nền văn hóa Mỹ nói riêng và văn hóa Tây phương nói chung đều không tạo ra cái tinh thần và nếp sống con cái phải lo lắng và phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Heidi là sản phẩm của nền văn hóa Mỹ nên cách đối xử bạc bẽo vô tình của cô đối với mẹ cũng là lối hành xử thông thường của đại đa số người Mỹ đối với các bậc sinh thành.

Học giả Nguyễn Hiến Lê, dù cả cuộc đời chưa ra sống ở ngoại quốc, nhưng liên hệ nhiều với bạn bè sống ở nước ngoài nên ông cũng có những nhận định chính xác về lề thói con cái ở Tây phương đối xử bạc bẽo với cha mẹ khi cha mẹ về già. Ông ghi lại điều này trong hồi ký của ông như sau: “Người Âu Mỹ lớn rồi thì ra ở riêng, có khi cả tháng, cả năm không lại thăm cha mẹ một lần; cha mẹ già thì đưa vào nhà dưỡng lão. Một ông già nọ bước chân vào nhà dưỡng lão, quay lại nhìn đứa con trai, nghe nó dặn nhỏ: Ba đừng nói hở tên gia đình mình ra nhé”. Mỗi vụ hè có hàng ngàn người ở Paris đem cha mẹ lại gởi một bệnh viện rồi hết hè, họ “quên” không tới đón về, bỏ mặc cho chính phủ làm gì thì làm. Mấy ông bạn tôi ở Pháp đều phàn nàn về lòng bạc bẽo của con cái, nhất là những đứa con trai có vợ ngoại quốc. Mười đứa thì có tới chín đứa không nuôi cha mẹ. Tôi mới nghe nói vợ một học giả quá cố Việt Nam rất có tiếng tăm, chỉ có mỗi một người con gái có chồng Pháp vào hạng khá giả, mà bị con gái hất hủi, cấm không cho vô nhà chỉ vì làm phiền vợ chồng nó thôi; và bà cụ đã gần tám mươi tuổi đành phải lại ở nhờ một người cháu, không biết được bao lâu và sẽ bị cháu đuổi nữa không?

Văn minh Âu Tây tuy có những nét rực rỡ thật, có những hội bênh vực quyền làm người, cả quyền của loài vật nữa, nhưng như vậy không thể gọi là văn minh kiểu mẫu, trừ khi, như nữ sĩ Pearl Buck nói: Kiểu mẫu đó là chủ nghĩa cá nhân.” (hồi ký Nguyễn Hiến Lê trang 167, 168, tập 2, nhà xuất bản Văn Nghệ-Hoa Kỳ)

Nếu Heidi lớn lên trong hoàn cảnh và lối sống Việt Nam thì khi gặp lại mẹ, cô cũng không cần mẹ và anh chị em cô nhắc nhở cho cô về chuyện phải cấp dưỡng chăm sóc cho mẹ mà cô tự cảm thấy có bổn phận phải lo lắng, chu cấp cho mẹ. Cô phải hiểu rằng trong đời này không có gì ngọt ngào, đằm thắm cho bằng tình mẹ. Người ta đã ví tình thương của mẹ như sau:

“Mẹ già như chuối Bà Hương
Như xôi nếp một như đường mía lau”

Phải nói là hạnh phúc và may mắn biết bao cho người con được có cơ hội để lo lắng chăm sóc cho mẹ lúc tuổi già bóng xế. Heidi oán trách mẹ là đã bỏ rơi cô khi còn nhỏ là một trách cứ hoàn toàn không đúng. Chỉ vì muốn cứu cô mà mẹ cô đành phải gạt lệ đẩy cô ra đi để rồi sau đó phải sống những ngày khủng hoảng, đau đớn.

Nếu Heidi lớn lên trong không khí Việt Nam, cô sẽ được nghe bài hát bất hủ “Lòng mẹ“ của nhạc sĩ Y Vân để cô thương mẹ nhiều hơn:

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào

Lòng mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.”

Ở xứ Mỹ nơi cô lớn lên, cách đây vài năm, đã có một người mẹ Mỹ trắng cho 2 đứa con vào chiếc xe rồi đẩy xuống nước cho con chết và sau đó ngụy tạo như là một chuyện hai đứa con bị bắt cóc. Bà ta giết con để trút bỏ một gánh nặng để bà ta có thể nhẹ nợ mà đi theo tiếng gọi của yêu đương. Nền văn hóa Mỹ đã không tạo nên được lòng thương con vô bờ bến như nền văn hóa Việt Nam mà đã tạo nên sự tàn nhẫn dửng dưng trong tâm thức người đàn bà Mỹ này để bà sẵn sàng ra tay giết con để tìm lợi ích riêng cho bản thân mình. Tình mẹ đối với con tàn nhẫn và độc ác đến thế là cùng!

Nếu vào trường học Việt Nam, Heidi sẽ được dạy cho những bài học vỡ lòng về công cha, nghĩa mẹ và những lời dạy này sẽ in sâu vào trong đầu óc trong trắng của cô như vết mực đỏ son in lên trang giấy trắng:

“Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Và công lao nuôi nấng của cha mẹ:

Nâng niu bú mớm đêm ngày

Công cha nghĩa mẹ coi tầy biển non”

Ngay cả người con gái đôi khi vì lấy chồng xa cũng hối tiếc là mình không được dịp gần gũi cha mẹ để lo lắng cho song thân.

“Chồng gần không lấy lại lấy chồng xa

Mai sau cha yếu mẹ già

Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng”

Cô sẽ được học 24 gương hiếu thảo của người con trong tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu”, nếu cô theo đạo Phật, thì vào mùa lễ Vu Lan cô sẽ được kể cho nghe chuyện hiếu đạo của Mục Kiền Liên đối với mẹ là bà Thanh Ðề. Cô sẽ hiểu cách sống ngàn đời của người Việt Nam là “trẻ cậy cha, già cậy con”. Lúc còn nhỏ con cái trông cậy vào sự nuôi nấng của cha mẹ thì khi cha mẹ về già lại nương tựa vào con là một chuyện làm hợp lý. Chỉ có những đứa con bất hiếu, vô giáo dục mới coi chuyện lo lắng, phụng dưỡng cha mẹ là một gánh nặng. Chỉ có ở Tây phương này, vì quá đề cao chủ nghĩa cá nhân nên con người mới tìm đủ mọi cách để cung phụng cho bản thân mình mọi tiện nghi, lạc thú, còn chuyện lo lắng trông nom cha mẹ già yếu thì không đoái hoài đến, không coi đó là bổn phận của mình. Một nền văn hóa đề cao sự ích kỷ bạc bẽo như thế thì sẽ sinh ra thứ con vô tình bạc bẽo với mẹ như cô gái Heidi trong phim tài liệu “Người con gái từ Ðà Nẵng” cũng không làm ai ngạc nhiên. Có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa” nhưng định nghĩa ngắn gọn và cô đọng nhất là “văn hóa là lối sống”. Lề lối sinh sống đối xử của một con người chắc chắn tùy thuộc nhiều vào văn hóa nơi người đó hấp thụ khi lớn lên. Văn hóa như thế nào thì lối sống như thế, đó là chuyện hiển nhiên.

Hiện nay trong những gia đình tỵ nạn Việt Nam ở hải ngoại, một số nhiều gia đình tan nát vì tệ nạn ly dị, phần lớn là do những người vợ chủ xướng. Người đàn bà Việt Nam vốn có truyền thống chịu thương, chịu khó, hy sinh cho chồng cho con. Thế mà mới qua hải ngoại trong một thời gian ngắn, đàn bà Việt đã học cái thói “hư thân, mất nết” của đàn bà bản xứ để rồi cũng ly dị như điên. Tỷ lệ ly dị của những cặp vợ chồng Việt Nam ở hải ngoại không thua tỷ lệ ly dị của người ngoại quốc bản xứ. Xem thế mới thấy cái lề thói sống ảnh hưởng sâu đậm như thế nào đến con người. Cây cam trồng ở phương Nam thì ngọt mà đem lên phương Bắc thì chua là vậy. Muốn cam ngọt dù trồng ở phương Bắc thì phải duy trì lối sống cổ truyền văn hóa của dân tộc trong khi vẫn cố gắng học tập, làm việc theo với phương cách của người bản xứ. Ra nước ngoài rồi, người Việt mình nên học cái phương pháp làm việc và học tập tiên tiến của người bản xứ, trong khi đó không nên bị tiêm nhiễm cái lối sống “vô tình, bạc nghĩa” của người Tây phương. Có thế mới bảo đảm sự thành công và hạnh phúc cho gia đình trước mọi thử thách trong cuộc sống lưu vong.

Khi nói đến lối sống Việt Nam, thì cũng nên nói rõ nếp sống đạo lý Việt Nam là nếp sống của miền Bắc trước 1954 và của miền Nam trước 1975, chứ miền Bắc sau 1954 và miền Nam sau 1975 dưới chế độ Cộng Sản thì nề nếp văn hóa cổ truyền coi như bị thui chột và trên đà hủy diệt. Bởi vì miền Bắc sau 1954 và miền Nam sau 1975 đã bị chủ nghĩa Cộng Sản đầu độc văn hóa Việt Nam. Cuộc cải cách ruộng đất do chính phủ Hồ Chí Minh chủ xướng ở miền Bắc sau 1954 với những cảnh con đấu tố cha mẹ, anh chị em ruột đối xử nhau như kẻ thù đã làm cho bao ngàn năm văn hiến Việt Nam tan nát, chế độ tem phiếu của miền Bắc cũng đã chia cắt tình thâm cốt nhục. Miền Nam sau 1975 cũng không khá gì hơn, vì cần bảo vệ vật chất quyền lợi để sống còn với chế độ mới mà có bao nhiêu cảnh xào xáo xảy ra trong mọi gia đình. Chế độ tuyển chọn lý lịch cũng đã khiến nhiều đứa con phải chối bỏ cha mẹ để được vào đoàn, vào đảng. Ðạo lý Việt Nam một lần nữa lại đứng bên lề vực thẳm. Mong sao chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ sớm tàn lụi để văn hóa Việt Nam đích thực lại trỗi dậy trở lại, góp phần nuôi dưỡng những tình cảm thân thương, ruột thịt giữa con người Việt Nam với nhau. Di sản của chế độ bất nhân, vô luân Cộng Sản để lại cũng phải mất nhiều thế hệ mới mong xóa sạch được. Nước giàu, dân mạnh cần kèm theo với một nền văn hóa cao mới thật sự là mục tiêu nhắm tới của một nước Việt Nam tương lai.

Văn hóa Trung Hoa vì là văn hóa Á Ðông nên cũng có một số điểm tương đồng như văn hóa Việt Nam khi nói đến bổn phận và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ lúc về già. Văn hóa Trung Hoa không những khuyên bảo con cái phải giữ chữ Hiếu lúc cha mẹ còn sống mà khi cha mẹ mất đi con cái phải để tang cha mẹ trong vòng 3 năm. Ba năm để tang cũng là một thời gian hợp lý để đền trả lại “công cha, nghĩa mẹ” vì thời gian từ lúc đứa con sinh ra cho đến khi 3 tuổi là thời gian cha mẹ cực khổ nuôi nấng nhất. Lo lắng cho cha mẹ lúc còn sinh tiền, tưởng nhớ đến cha mẹ lúc khuất bóng là căn bản của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Có nhìn thấy sự bạc bẽo khốn nạn của những đứa con trong xã hội Tây phương đối với cha mẹ thì mới thấy nền văn hóa Á Ðông như Trung Hoa và Việt Nam có những nét đặc thù đáng quý và đáng được lưu truyền.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bị giam hãm, tù đầy trong một khoảng thời gian tổng cộng 27 năm. Vì được lớn lên trong nền văn hóa Việt Nam, trong những năm tù tội, ông lúc nào cũng nghĩ đến cha mẹ và mong sao được ở gần để lo lắng, chăm sóc cho hai đấng sinh thành: Ðã lâu rồi không nhận thư con.

Mẹ thầy mong tin con quá

Thầy kể qua cho con rõ cảnh nhà

Mẹ bây giờ hai mắt như lòa

Hôm sớm trong nhà quanh quẩn!

Thầy gần như lẩn thẩn

Bước đi đờ đẫn run chân

Viết phong thư phải nghĩ đến dăm lần

Mong con về đỡ đần chăm sóc. (Thư nhà - 1967)

Ông đau đớn không được gần gũi mẹ cha để lo cho cha già mẹ yếu:

Có người mẹ gầy nhom mắt lóa gần lòa

Có người cha quá già, quá yếu!

Có người con bất hiếu là tôi

Hết tù lại tội

Bệnh ốm không nuôi nổi thân mình...

Ôi người mẹ nặng tình yêu dấu!

Ôi người cha hiểu thấu lòng con!

... Chiều âm thầm lạnh tắt trên non.

Không còn được nữa

Những tình xưa thương mến vô vàn!

... Ta thương tiếc cuộc đời tuổi trẻ

Ta lại thương người mẹ thương yêu

Người cha sớm chiều héo hắt

... Bao nhiêu thương nhớ mẹ thầy

Con xin hẹn đến một ngày Xuân vui

Rưng rưng hai giọt ngậm ngùi

Con xin Trời đất niềm vui cuối cùng! (Có người mẹ - 1969)

Ông tự trách mình đã phạm nhiều lỗi lầm làm khổ mẹ cha và ân hận vì hoàn cảnh tù đày nên ông không có cơ hội báo đền ơn sinh thành dưỡng dục:

Tình thương xót không bao giờ hết

Của mẹ cha làm tan nát lòng con

Dù cuộc đời đau khổ chất thành non

Còn cha mẹ, con còn phải sống

Vì con biết con là lẽ sống

Là niềm vui, là tất cả của mẹ cha

Biết bao nhiêu tội lỗi những ngày qua

Con đã mắc khiến cha buồn mẹ khổ

Con đã biết đời con tan đổ

Không thể làm gì báo đáp mẹ cha

Dù cho năm tháng phôi pha

Mối hận ấy con xóa nhòa sao nổi! (Ngày xuân tới - 1961)

Nằm trong tù, sự đói khát cùm kẹp hành hạ ông không đau bằng nỗi đau khi ông nghĩ đến hoàn cảnh đơn chiếc, cô quạnh của mẹ cha ông:

Bao năm rồi, tôi không phải là tôi

Thân bất động vì tình thương gia quyến

Ôi, những buổi hoàng hôn xao xuyến

Bóng mẹ già cầu nguyện đau thương

Bóng người cha thui thủi bên đường

Lê thân ốm trên phố phường u ám

Nghĩ như vậy lòng tôi ảm đạm

Nhục nhằn ư, còn biết nói sao?

Mắt tôi khô mà ruột tím gan bào

Bao uất hận dâng trào trong lặng lẽ!

... Ðời nặng trôi như một đêm dài

Mắt không nhắm và đầu đau nhức nhối! (Tôi sống mãi - 1961)

Sau khi ra tù rồi, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng còn nghĩ đến mẹ cha dù lúc ấy cha mẹ ông đã qua đời. Ông kể chuyện cho biết là cha mẹ ông trước khi qua đời, đã may áo sẵn áo quần cho ông để khi ông ra tù có quần áo mà bận. Tình thương cha mẹ dành cho ông bao la và cảm động như thế nên ông coi đó là thứ tình cảm mà thế gian này không có thứ gì có thể đem so sánh được

Con thành thi nhân cũng chính là nhờ

Công sức mẹ thầy nuôi cho ăn học

Gia cảnh bần hàn lo toan chăm sóc

Con chỉ nằm đọc sách, luyện vần thơ

Không mảy may báo hiếu được một ngày

Thực có tội với mẹ thầy biết mấy!

Nhưng lòng già rất thương, đâu nghĩ ngợi

Chỉ mong con nên sự nghiệp, nên người

Trước lúc qua đời, thầy mẹ còn lo

May quần áo để tù về con sẵn có

Tình thầy mẹ mênh mông như thế đó

Thế gian này không có thứ đem so!

(Con thành thi nhân - 1980)

Trường hợp Nguyễn Chí Thiện là một trường hợp tiêu biểu của một gia đình Việt Nam: Bố mẹ hy sinh lo lắng cho con và con cũng hết lòng thương mến bố mẹ. Ðạo lý và văn hóa dân tộc đã hun đúc nên một người con chí hiếu như Nguyễn Chí Thiện, lúc nào cũng tưởng nhớ đến sự an nguy của đấng sinh thành, cho dù đang lúc nằm tù với muôn ngàn khổ nhọc, đắng cay.

Nhà lý luận thiên tài Hà Sĩ Phu cũng dành những lời lẽ cảm động, thiết tha khi nói đến hai bậc sinh thành của mình khi hai người khuất bóng. Ông làm câu đối khóc khi mai táng mẹ như sau:

“Trời dẫu sập chẳng đau bằng mất mẹ

Ðất tuy dày không cản được lòng con”

Ông còn làm một câu đối gửi ra từ trong tù (1996) nhân ngày giỗ cha ông:

“Nhớ giỗ Cha thắp nén hương thầm, đem chí khí quyết đền công dưỡng dục!

Yêu đất Mẹ mở con đường lớn, lấy bút nghiên mong trả nợ tang bồng”

Nhìn lại cô con gái lai Mỹ Heidi, cô qua Mỹ sống cuộc đời sung sướng là cũng do mẹ cô đẩy cô đi. Nếu cô không được mẹ đẩy đi năm 1975 thì khi ở lại cô có quyền nếm mùi bo bo và cơm độn chứ không hưởng được đời sống tiện nghi vật chất mà cô đang có hiện tại ở Mỹ. Mẹ cô đưa đề nghị muốn cô bảo lãnh mẹ qua Mỹ, cô từ chối. Nếu không thì mẹ mong cô giúp đỡ chút ít tiền bạc vật chất trong lúc tuổi già bóng xế mà cô cũng lạnh lùng, tàn nhẫn khước từ. Thật không biết dùng danh từ nào nữa đây để nguyền rủa cô con gái lai khốn nạn, bất hiếu này. Cô cũng có hai đứa con gái, chắc là rồi đây khi cô về già, cô cũng lại gặp sự đối xử bạc bẽo, vô trách nhiệm của hai con cô dành cho cô như cô đã đối xử tàn tệ, dửng dưng với người mẹ ruột ở Ðà Nẵng. Khi bà Mai Thị Kim đẩy đứa con lai Mai Thị Hiệp đi Mỹ, bà chỉ có ý định cứu đứa con vì sợ Cộng Sản làm hại con bà. Tiếc thay, đứa con của bà lớn lên trong xã hội Mỹ, tiêm nhiễm văn hóa Mỹ nên nó từ khước bà vì sợ mang gánh nặng cưu mang, cấp dưỡng cho bà. Bà coi như mất đứa con bạc bẽo, vô tình này.

Cơn hồng thủy 30 Tháng Tư 1975 không chỉ làm cho bà mẹ Mai Thị Kim phải xa rời đứa con lai Mỹ Mai Thị Hiệp mà còn làm cho bao nhiêu gia đình Việt Nam khác ly tán khắp bốn phương trời như những cánh hoa bay tơi tả trong một chiều gió lộng. Những người Việt ly hương, vì được lớn lên trong xã hội và nền văn hóa Việt Nam, nên họ có một lối xử sự hoàn toàn khác hẳn cô con gái Heidi Mai Thị Hiệp. Họ làm việc cực khổ nhưng khoan khoái, nhẹ người khi gửi cho gia đình còn kẹt lại ở Việt Nam những thùng quà hay tiền. Họ vui vẻ sung sướng khi nhận thư báo tin nhà đã nhận được quà hay tiền. Quà cáp hay tiền không phải là chuyện thù tạc cho vui mà chính là những phương tiện để nuôi sống gia đình còn kẹt lại. Ðạo lý Việt Nam đã dạy cho họ cách hành xử hợp lý, hợp tình như vậy. Ðối với họ, lo lắng cho cha mẹ lúc tuổi già sức yếu hay giúp đỡ cho anh chị em không phải là một gánh nặng khó chịu mà là niềm vui của người con hiếu thảo, của một người em, chị, anh có trách nhiệm trong lúc ở xứ người. Phần lớn đều hoàn thành những thủ tục bảo lãnh để đem thân nhân qua sống ở vùng đất lạ tạm dung để con và cha mẹ được chung sống với nhau sau bao ngày xa cách, anh chị em được dịp sum họp, quây quần để cùng nhau xây dựng cuộc đời mới.

Chiến tranh Việt Nam đã để lại nhiều di sản. Di sản không chỉ có những bom đạn mìn bẫy còn sót lại tiếp tục gây thương tích cho người dân Việt Nam vô tội mà di sản còn có thể kể đến những đứa con lai mà những quân nhân Mỹ còn để lại sau chiến tranh. Vì lớn lên trong nền văn hóa Tây phương, những quân nhân Mỹ này đa số không ai nghĩ đến những hòn máu rơi mà họ đã để lại vì Tây phương vốn coi thường quan hệ máu mủ ruột thịt. Rất hiếm trường hợp có người quân nhân Mỹ đi tìm lại hòn máu rơi của mình. Khi về Mỹ họ xây dựng cuộc đời mới và không muốn vướng mắc về những chuyện tình cảm và con rơi ngày xưa. Mai Thị Hiệp là một thí dụ điển hình, tới giờ này cô cũng chẳng biết cha cô là ai. Những đứa con lai như Hiệp lớn lên trong nền văn hóa “vô tình bạc nghĩa” Tây phương nên đã gây ra nhiều đau khổ cho những người mẹ Việt Nam sinh ra chúng. Mai Thị Hiệp đã thật sự làm cho người mẹ Việt Nam đau khổ bởi cách hành xử tàn tệ, bội bạc của Hiệp đối với mẹ không đúng với đạo lý và cách sống của người Á Ðông.

Cách đối xử tốt đẹp hay tàn tệ của con cái đối với cha mẹ không phải là một chuyện làm ngẫu nhiên tình cờ mà là cả một quá trình giáo dục và đào tạo cùng sự ảnh hưởng của môi trường sống nơi đứa con lớn lên. Cho dù thời thế có thay đổi thế nào chăng nữa thì “cha mẹ từ, con hiếu” vẫn là câu châm ngôn muôn đời để cho mọi gia đình Việt Nam noi theo. Lối sống có tình, có nghĩa có thủy có chung, có hiếu có để không phải là chuyện một sớm một chiều là có được mà phải trải qua nhiều quá trình tập nhiễm, rèn luyện. Còn có biết bao nhiêu đứa con bạc bẽo, bất hiếu như Heidi Mai Thị Hiệp nằm trong những gia đình Việt Nam hải ngoại mà phương cách ngăn ngừa hữu hiệu nhất là các bậc phụ huynh cần phải dạy con sống theo nếp sống cổ truyền, luân lý Việt Nam nói riêng và Á Ðông nói chung. Ðây là một chuyện không dễ làm nhưng nếu muốn có một gia đình sống trong hạnh phúc, thương yêu, cha mẹ lo cho con khi còn nhỏ, con lo lắng phụng dưỡng cho cha mẹ lúc về già thì thiết tưởng nỗ lực khó nhọc mà các bậc phụ huynh bỏ ra dạy dỗ các con không phải là chuyện làm vô bổ.

Quê hương ngàn trùng xa cách nhưng nếu trong gia đình Việt lưu vong có những đứa con hiếu thảo biết lo lắng phụng dưỡng cho cha mẹ lúc tuổi già bóng xế thì chuyện đó cũng làm ấm lòng bao bậc cha mẹ trong những ngày tháng buồn nản ở xứ lạ, quê người.

* Trần Viết Ðại Hưng

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

8 Dân Biểu Hoa Kỳ yêu cầu VN trả tự do cho
cô Phạm Thanh Nghiên và Blogger Điếu Cầy.

Tác giả: Hà Giang, RFA

Image
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm của bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, 8 dân biểu Hoa Kỳ đã cùng viết thư yêu cầu Việt Nam trả tự do cho cô Phạm Thị Thanh Nghiên và ông Điếu Cầy. Đây là hai nhân vật tiêu biểu cho những người dân hiện đang bị nhà cầm quyền Việt Nam chà đạp các quyền làm người căn bản, và đã bị bỏ tù, chỉ vì họ dám lên tiếng đòi hỏi những quyền tự do căn bản do luật định như quyền tự do ngôn luận, báo chí, và quyền tự do hội họp. Thông tín viên Hà Giang có bài tường trình về việc này như sau.

Tuy Việt Nam là một trong những quốc gia đã ký vào bản tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền, nhưng nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ cho rằng tại đây những quyền căn bản của con người như quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do hội họp của người dân, vẫn còn bị chà đạp.


Vào dịp kỷ niệm 60 năm củabản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, cộng đồng người Việt hải ngoại ở Mỹ, đã vận động để chính giới Hoa Kỳ can thiệp với chính quyền VN yêu cầu thả tự do cho những nhân vật hiện đang bị nhà cầm quyền Việt Nam cầm tù, tiêu biểu như trường hợp của blogger Điếu Cầy, và cô Phạm Thanh Nghiên.

Trong lá thư gửi cho Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, ký ngày 10 tháng 12 năm 2008, 8 vị dân biểu Hoa Kỳ gồm có bà Loretta Sanchez, bà Zoe Lofgren, bà Janice Schakowsky, ông John Olver, ông Maurice Hinchey, ông Chris Van Hollen, ông Edward Royce và ông Daniel Longren đã viết như sau: “Là những thành viên của quốc hội Hoa Kỳ, chúng tôi quan tâm sâu xa về tình trạng nhân quyền bị chà đạp ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam. Mặc dù đã cam kết sẽ tôn trọng những quyền làm người theo tiểu chuẩn quốc tế, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục bắt bớ và giam cầm những người đã xử dụng quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp của họ.”

Bà Loretta Sanchez phát biểu:

Khi được gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế, chính quyền Việt Nam đã cam kết với thế giới là sẽ cải thiện tình trạng nhân quyền một cách vượt bực tại Việt Nam: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và tự do tôn giáo. Rất nhiều những hứa hẹn. Trong thời gian 11 năm mà tôi làm việc ở Quốc Hội, đã có biết bao nhiêu lời hứa của chính quyền VN, nhưng đã không có lời hứa nào trở thành sự thật.

Trong trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên, 8 vị dân biểu Hoa Kỳ viết: “Cô Phạm Thanh Nghiên là một người phụ nữ đấu tranh cho dân chủ 31 tuổi, hiện đang bị giam cầm mà không được xét xử tại nhà giam Trần Phú, tỉnh Hải Phòng. Cô Phạm Thanh Nghiên đã bị bắt ngay sau khi cô tọa kháng tại nhà vì nộp đơn xin được biểu tình một cách ôn hòa mà không được chấp thuận. Bà Nguyễn Thị Lợi, thân mẫu của cô chia xẻ:

Theo với tôi thì đúng ra chẳng có phạm tội gì cả, theo tôi nghĩ họ cũng chỉ bầy ra thế để mà bắt, chứ con tôi làm đúng luật, hoàn toàn đúng luật. Nó chỉ có tọa kháng ở nhà với khẩu hiệu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và phản đối cái công hàm ông Đồnng ký ngày 14 tháng 9 gì đó, năm 58.

Về ông Điếu Cầy, những dân biểu này đã viết: “Ông Nguyễn Hoàng Hải, mà nhiều người biết đến qua danh hiệu Blogger Điếu Cầy, là một người bất đồng chính kiến đã bị nhà nước bỏ tù vì những bài viết bầy tỏ quan điểm rất hòa hoãn của ông về tệ nạn tham nhũng, và việc những nhân công bị bạc đãi. Blogger Điếu Cầy bị bắt trong tháng Tư vừa qua khi ông kêu gọi biểu tình để tẩy chay cuộc rước đuốc của Bắc Kinh đi qua VN. Bà Dương Thị Tân, vợ cũ của Blogger Điếu Cầy cho rằng nhà cầm quyền đã tìm cách để buộc tội oan cho ông và bắt ông.

“Luật sư của tôi họ có kinh nghiệm dầy dạn, họ bảo một cái này không đã vi phạm nghiêm trọng cái việc ngăn cản người ta và sau đó dùng cái đó quy kết cho người ta một cái tội. Có một cái chương trình sẵn như thế, tức là một cái bẫy họ giương ra, họ đẩy người khác vào đó, xong họ bảo người ta vi phạm.”

Bà dân biểu Loretta Sanchez cả quyết rằng Việt Nam không có nhân quyền:

Ở Việt Nam hoàn toàn không có nhân quyền và chúng tôi đã làm mọi cách để cho thế giới biết điều đó. Ở Việt Nam, tất cả mọi người dám đứng dậy để cất lên tiếng nói đòi hỏi dân chủ, đòi hỏi nhân quyền, đòi quyền được tự do hội họp với ba, bốn, năm người, với một vài biểu ngữ đơn giản, tất cả, từng người một đều đã bị bỏ tù.

8 vị dân biểu Hoa Kỳ đã kết thúc lá thư bằng lời kêu gọi như sau: 60 Năm trước đây, cả thế giới đã ngồi cùng lại ký bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền, theo đó cô Phạm Thanh Nghiêm và Blogger Điếu Cầy có quyền tự do ngôn luận, tự do phản kháng, và tự do báo chí. Chúng ta cùng có bổn phận phải bảo vệ những quyền căn bản này cho nhân loại. Chính quyền Việt Nam không những đã ký vào bản tuyên ngôn này, mà còn hứa sẽ tôn trọng và bảo vệ quyền tự do cho mỗi người dân. Chúng tôi, những dân biểu của Quốc Hội Hoa Kỳ khẩn thiết yêu cầu nhà nước Việt Nam hãy thả tự do ngay cho cô Phạm Thanh Nghiên, Blogger Điếu Cầy, và những người bất đồng chính kiến khác hiện còn đang bị giam giữ.


Hà Giang, thông tín viên RFA.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mùa Noel lại vang lên các loại nhạc Noel, Giáng Sinh
Friday, December 12, 2008

Image
Nữ ca sĩ Hoàng Oanh tự đứng ra phát hành CD “Tình Ca Giáng Sinh”
được nhiều người đón nghe trong vùng Little Saigon, Orange County. (Ảnh do nghệ sĩ cung cấp)
LITTLE SAIGON, Orange County.- Khoảng thời gian này, các hệ thống truyền thanh, truyền hình Hoa Kỳ, Mễ (Mexico)... cũng như của người Việt trong vùng Little Saigon, Orange County, đã đua nhau vang lên các loại nhạc Noel, Giáng Sinh khiến nhắc nhở mọi người, dù kinh tế đang khó khăn nhiều phần, là mùa lễ quan trọng, vui tươi, cuối năm đã gần đến.

Ði đến đâu, hay ngồi ở đâu trong vùng Little Saigon, người ta cũng có thể nghe được các bài hát về Noel hay Thánh Ca mùa Giáng Sinh, nào là White Christmas, The Little Drummer Boy, Holy Night, Santa Claus is coming to town, Jingle Bells... xen kẽ với Feliz Navidad, Ave Maria... và Ðêm Thánh Vô Cùng, Ðêm Ðông Lạnh Lẽo, Bài Thánh Ca buồn, Lá Thư Trần Thế (với các giọng ca Hoàng Oanh, Trung Chỉnh và bé Hoàng Yến), Mùa Sao Sáng, Hoa Trắng Thôi Cài Trên AÔo Tím, Chiều Bên Giáo Ðường, Kinh Chiều...

Mùa Noel năm nay, cũng như trong vài năm gần đây, các trung tâm băng nhạc của Little Saigon, như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn, Tình, Làng Văn... đều không sản xuất băng nhạc mới về mùa Noel, Giáng Sinh... vì thật ra loại băng nhạc này chỉ phục vụ được một khoảng thời gian ngắn, chừng hai, ba tuần lễ trước Noel, chứ không thể bán được suốt năm, như các loại băng ca nhạc thông thường.

Chính vì vậy các băng nhạc CD, DVD Noel, Giáng Sinh từng được các trung tâm băng nhạc, hay cả của các ca sĩ đứng ra phát hành từ các năm trước đây cho đến nay, vẫn không hề mất thời gian tính, và vẫn được đón nghe như thường, như CD Tình Ca Giáng Sinh, tức Hoàng Oanh Hải Ngoại 16 (của Trung Tâm Hoàng Oanh Music Center), với 12 bài hát gắn liền với Noel, Giáng Sinh, do nữ ca sĩ Hoàng Oanh trình bày, như Niềm Tin (Thơ Nhất Tuấn, nhạc Anh Linh); Thala Xóm Ðạo (Dzũng Chinh); Trời Chưa Muốn Sáng (Trần Thiện Thanh)...

Trung Tâm Asia phát hành DVD đặc biệt Giáng Sinh với hơn 19 bài hát Giáng Sinh như: Bài Thánh Ca Buồn (Julie), Liên Khúc “Ðêm Thánh Vô Cùng”,” Người Tình Mùa Ðông” (Như Quỳnh), “Hai Mùa Noel” (Mạnh Ðình-Như Quỳnh), Liên Khúc “Mùa Ðông” với Duy Quang, Tuấn Ngọc, Trung Hành, “Một Ngày Vui Mùa Ðông” với Thanh Lan, Tiếng Mưa Buồn với nữ ca sĩ Ngọc Lan, Mùa Sao Sáng với Sơn Tuyền....

Ngoài ra còn có CD “A Don Ho Ho Ho Christmas” với 10 bài hát về Noel, Giáng Sinh do nam ca sĩ Don Ho trình bày

CD “Tình Khúc Giáng Sinh”, qua 10 giọng ca khác nhau trình bày các bài hát Noel, Giáng Sinh, như Dalena (Holy Night), Don Ho, Y Nhi, Kenny Thai (Ði tìm Chúa tôi), Phương Loan (Quê Hương Thượng Ðế), Phương Loan, Chí Thiện, Huỳnh Thi, Phương Hồng Quế (Liên Khúc Noel)...

DVD “Thúy Nga Paris by Night 18” đặc biệt về nhạc Noel, Giáng Sinh, như Bài Thánh Ca Buồn (Elvis Phương), Ðêm Thánh Vô Cùng (Dalena), Chuông Vang Vang (Hợp Ca)...

Trung tâm Vân Sơn cũng có phát hành một CD Noel, với các bài hát về Noel, như Little Drummer Boy, Tiếng Chuông Giáng Sinh, Ðêm Thánh Vô Cùng, Tà áo đêm Noel... qua các tiếng hát của Trường Vũ, Cát Tiên, Nguyễn Thắng, VPop, Thảo Khanh, Hà Ngọc Vân...

Ngoài ra, các trung tâm NQ records, Làng Văn, Giáng Ngọc... cũng đều có phát hành các CD, DVD về Noel, Giáng Sinh. (L.T.)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tổng Thống Bush Bị Ném Giầy Vào Mặt !!
14/12/2008

Image

TT G.W. Bush thăm viếng Iraq để ăn Noel và giả từ. Trong lúc họp báo với Thủ tướng Iraq ông bị một ký giả Iraq ném 2 chiếc giày vào mặt, TT Bush né tránh kịp và bình tỉnh họp báo tiếp trong khi An Ninh bắt giữ tên ném giày. Xin vào link sau đây để xem video (sau phần qủang là video TT Bush họp báo) :

http://news.bbc.co.uk/2/hi/middle_east/7782422.stm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những hình ảnh phóng viên Iraq ném giày vào mặt Bush

Trong chuyến công du tạm biệt Iraq trước khi mãn nhiệm vào tháng 1/2009,
Tổng thống Mỹ George W. Bush đã bị một phóng viên nước chủ nhà ném giày vào mặt.

Image
Sự cố xảy ra khi ông Bush đang có cuộc họp báo chung với Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki hôm 14/12/08

Image
Một người đàn ông Iraq có mặt trong buổi họp báo đã ném liên tiếp hai chiếc giày về phía Tổng thống sắp mãn nhiệm của Mỹ.
Người gây ra sự cố hy hữu được xác định là một phóng viên của kênh truyền hình Al-Baghdadiya có tên Muntadar al-Zeidi.

Image
Trước khi ném chiếc giày thứ nhất về phía ông Bush,
phóng viên Al-Zeidi đã hét lớn rằng: "Đây là một nụ hôn từ biệt của người dân Iraq".
Chiếc giày đã ném trượt mục tiêu.

Image
Trong văn hóa Arập, ném giày là một biểu hiện của sự khinh miệt. Khi ném chiếc giày thứ hai, phóng viên Al-Zeidi tuyên bố:
"Chiếc này dành cho những người vợ góa, trẻ mồ côi và những người đã bị giết hại ở Iraq".
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ đã tránh được chiếc giày này.

Image
Lực lượng an ninh bắt giữ thủ phạm ném giày vào ông Bush.

Image
Các vệ sỹ vây quanh Tổng thống Mỹ sau sự cố ném giày.
Ông Bush tìm cách xoa dịu tình hình bằng cách so sánh sự cố với một cuộc biểu tình chính trị ở Mỹ.

Thanh Bình (Theo BBC, AP, Reuters)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Giày ném Bush được đặt giá 10 triệu USD

Image
Phóng viên Iraq ném giày vào Bush. Ảnh: AP.
Một thương gia Ảrập Xêút đề nghị trả 10 triệu USD để mua lại một chiếc giày đã bay về phía Tổng thống Mỹ Bush trong cuộc họp báo ở Baghdad.

Trang web eBay thì đưa một chiếc giày lên đấu giá và hứa sẽ dành số tiền này tặng cho Hiệp hội Tiểu đường Mỹ. Tổ chức do con gái thủ lĩnh ở Libya Muammar Gaddafi đứng đầu lại bày tỏ sự ngưỡng mộ với phóng viên ném giày Muntadar al-Zaidi bằng việc trao cho anh này huy chương.

Trên mạng, đoạn video về vụ tấn công đạt kỷ lục người xem, với khoảng 100.000 lượt truy cập mỗi giờ. "Chỉ một ngày sau vụ tấn công, có tới 650 đoạn video quay cảnh này thu hút được tới 5,4 triệu lượt xem và 48.000 lời nhận xét", hãng NewTeeVee ghi lại.

Các hãng trò chơi cũng nhanh chóng chớp thời cơ ra các mẫu game mới nhờ sự kiện hôm 14/12 ở Baghdad. Trong một trò, người chơi vào vai Tổng thống Bush và giành điểm bằng việc tránh những chiếc giày lao tới. Trong một trang khác, người chơi ghi điểm bằng việc ném giày vào ông.

Phóng viên Zaidi gây ra cơn sốt trên toàn thế giới khi đứng phắt dậy trong cuộc họp báo ở Baghdad hôm 14/12. Anh này ném liên tiếp hai chiếc giày về phía tổng thống Mỹ và cho đó là "nụ hôn tạm biệt của dân Iraq" dành cho ông. Ném giày vào người khác là một hành vi sỉ nhục trong văn hóa Ảrập.

Phóng viên này đã ra tòa hôm qua và thừa nhận hành vi ném giày. Nếu bị kết tội có ý định ám sát Bush, anh này có thể sẽ bị giam tới 15 năm.

Mai Trang (theo PressTV)

Post Reply