Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

10 Sự Kiện Nổi Bật Trong Năm 2008 Khủng hoảng, khủng hoảng và khủng hoảng - chúng ta nghe cụm từ này quá nhiều trong năm 2008. Năm 2009 đã tới gần, cùng nhìn lại một năm đầy biến động, điểm lại những cuộc khủng hoảng mà sự ảnh hưởng của chúng lan toả không chỉ trong một quốc gia, và nhìn về một năm mới với những mong muốn lạc quan hơn cho cả thế giới.

1.- Khủng hoảng chính trị ở Pakistan

Chính trường Pakistan từ lâu đã luôn tiềm ẩn các cơn sóng ngầm. Các cuộc chia sẻ quyền lực giữa các nhà cầm quyền thường không ngã ngũ. Ba chính trị gia có ảnh hưởng lớn nhất Pakistan là cựu Thủ tướng Nawaz Sharif, cựu Thủ tướng Benazir Bhutto và Tổng thống Pervez Musharraf luôn đối đầu với nhau.

Khi cuộc đối đầu tranh giành quyền lực đang diễn ra gay cấn và căng thẳng thì ngày 27-12-2007, cả đất nước Pakistan như bị sốc trước một hung tin, một cơn đại hồng thủy đổ ập đến: cựu Nữ Thủ tướng Benazir Bhutto bị ám sát. Vụ ám sát bà Bhutto diễn ra trong thời điểm nhạy cảm của chính trường Pakistan: bà Bhutto và ông Nawaz Sharif đã đồng ý liên kết lật đổ Tổng thống Pervez Musharraf.
Image
Hình chụp bà Benazir Bhutto 30 giây trước khi bị ám sát.

Cái chết của bà Bhutto đã gây bàng hàng cho toàn bộ người dân Pakistan trong và ngoài nước. Cả thế giới đã lên án vụ ám sát này. Người Pakistan nghi ngờ chính phủ đứng sau vụ ám sát bà Bhutto. Tuy nhiên, Tổng thống Pervez Musharraf đã nhanh chóng lên tiếng bác bỏ các nghi ngờ trên của dư luận, ông nói: "Cái chết của Bhutto không phải lỗi của chúng tôi".

Sau cái chết của bà Bhutto, chính trường Pakistan chìm trong lộn xộn. Chính phủ buộc phải hoãn cuộc bầu cử đến ngày 18-2. Bà Bhutto mất đi đã gây nhiều ảnh hưởng đến đời sống xã hội, chính trị ở Pakistan. Toàn bộ nền kinh tế của Pakistan sụp đổ sau cái chết của bà. Nhưng cái gì đến rồi cũng sẽ đi, cuộc sống của người dân Pakistan cũng dần trở lại bình thường dù trong lòng ai cũng thương tiếc bà Bhutto - người phụ nữ xấu số.

Quang cảnh hỗn loạn và người bị thương sau khi bom nổ
Sau cái chết của cựu Thủ tướng Bhutto, cuộc tranh giành quyền lực trong chính trường Pakistan vẫn tiếp tục diễn ra căng thẳng. Đảng Nhân dân Pakistan PPP đã chọn Bilawal Bhutto Zardari, con trai bà Bhutto, là người kế nhiệm trong cuộc đua tranh giành quyền lực. Nhưng Bilawal còn quá trẻ để có thể thay thế vai trò của bà Bhutto nên đã nhường chỗ cho cha mình là Asif Ali Zardari lên làm lãnh đạo đảng Nhân dân Pakistan.

Ông Asif Zardari đã liên kết với cựu Thủ tướng Nawaz Sharif để gây sức ép với Tổng thống Pervez Musharraf, vạch chiến lược lật đổ, buộc ông này phải từ chức.

Trong bài diễn văn được phát trực tiếp trên truyền hình hôm 18-8-2008, Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf tuyên bố sẽ từ chức nhằm tránh làm tổn hại đến các lợi ích quốc gia. Tuyên bố từ chức của ông Musharraf đã được chấp nhận. Sau sự ra đi của ông Musharraf, các đảng phái ở Pakistan tìm người lên làm Tổng thống.

Đảng Nhân dân Pakistan PPP là đảng đứng đầu trong liên minh cầm quyền cho biết, các nghị sĩ đảng này đã thống nhất đề cử chồng của cố Thủ tướng Bhutto, ông Asif Ali Zardari, làm ứng cử viên cho vị trí Tổng thống Pakistan.

Ngày 7-9-2008, ông Asif Ali Zardari, chồng của cố thủ tướng Pakistan Benazir Bhutto - đã giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử Tổng thống của nước này, mở ra một hướng đi mới cho Pakistan thời hậu Musharraf.

2.- Cuộc bầu cử được cả thế giới chú ý

Trong năm 2008 diễn ra 2 cuộc bầu cử ở 2 cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga. Tuy nhiên, 2 cuộc bầu cử này lại diễn ra theo 2 thái cực khác nhau: Nếu ở Nga là sự dàn xếp của Vlarimir Putin sau khi đã mãn 2 nhiệm kỳ, và theo hiến pháp không được ra tái tranh cử; thì ở Mỹ lại là cuộ đua gay cấn và quyết liệt ngay từ vòng sơ bộ.

Cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ là một sự kiện quan trọng được cả thế giới hồi hộp dõi theo. Vị tân Tổng thống sẽ là người quyết định đường lối ngoại giao, chính sách quân sự của Mỹ đối với thế giới. Đặc biệt, cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2008 là một trong những cuộc bầu cử gay cấn, tốn kém bậc nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Image
John McCain Barack Obama

Cuộc đua tranh đã nóng bỏng ngay từ khi tìm vị trí ửng cử viên của các đảng tham gia tranh cử. Trong cả cuộc đối đầu giữa các đối thủ trong cùng một đảng hay giữa các đối thủ giữa hai đảng với nhau đã diễn ra hết sức quyết liệt và sòng phẳng.

Sau cuộc tranh đấu cam go, cuối cùng cử tri nước Mỹ cũng tìm cho mình một vị tân Tổng thống mà họ ủng hộ và tin tưởng. Người đã được chọn là Thượng nghị sĩ da màu Barack Obama của đảng Dân Chủ.

Người Mỹ bầu cho ông Obama với hy vọng ông sẽ là người có khả năng lèo lái nước Mỹ ra khỏi tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay cũng như có thể lấy lại tiếng nói, vị thế lãnh đạo của nước Mỹ trên thế giới.

Cử tri Mỹ còn kỳ vọng Obama sẽ là người có thể chấm dứt cuộc chiến tại Iraq trong danh dự, và sẽ làm dịu đi những căng thẳng trong quan hệ giữa liên minh doa Hoa Kỳ đứng đầu với phần còn lại của thế giới. Trước mắt ông Obama có rất nhiều khó khăn và thử thách chờ ông giải quyết và vượt qua.

3.- Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu

Trong năm qua, nền kinh tế toàn cầu đã bị suy giảm với một tốc độ chóng mặt. Khởi đầu là cuộc khủng hoảng của ngành tài chính ngân hàng. Hàng loạt ngân hàng hàng đầu của Mỹ bị vướng vào khó khăn tài chính. Khởi đầu của sự sụp đổ của Bear Stearns, ngân hàng lớn thứ tư của Mỹ. Tiếp đến là sự thua lỗ của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers. Điều này đã khiến thị trường chứng khoán Mỹ tụt dốc không phanh.


Trong tháng 7-2008, cũng tại thị trường chứng khoán, các cổ phiếu của 2 tập đoàn cho vay bất động sản Fannie Mae và Freddie Mac mất giá.

Ngày 13-7-2008, IndyMac - ngân hàng từng một thời là tổ chức cho vay địa ốc lớn nhất nước Mỹ - đã bị Ủy ban Giám sát tài chính Hoa Kỳ OTS đóng cửa và chuyển giao lại cho Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang FDIC.

Đến 25-7-2008, nước Mỹ lại đón nhận thêm 2 ngân hàng nữa bị phá sản. Rồi đến Citigroup và công ty khổng lồ trong ngành bảo hiểm AIG cũng bị cuốn vào cơn bão suy thoái.

Ở Á Châu, hai nền kinh tế lớn nhất là Nhật Bản và Nam Hàn cũng không nằm ngoài vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng.

Thị trường tài chính Âu Châu cũng phải đối diện với khủng hoảng. Ngay cả nền kinh tế lớn nhất Âu Châu cũng chính thức suy thoái. EU đã phải thông qua kế hoạch 260 tỷ đôla để phục hồi kinh tế.

Trong khi đó 3 đại tập đoàn sản suất xe hơi hàng đầu của Mỹ đã phải cầu cứu chính phủ. Các ngân hàng lớn của Mỹ cần hỗ trợ ít nhất 18 tháng nữa. Kinh tế Mỹ tiếp tục lún sâu thêm vào khủng hoảng, và chính thức suy giảm.

4.- Khủng hoảng lương thực toàn cầu

Năm 2008 là năm của những cuộc khủng hoảng. Thế giới đã phải hứng chịu một loạt các cuộc khủng hoảng trầm trọng trong tất cả mọi lĩnh vực, mọi mặt trận: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng năng lượng và thậm chí cả khủng hoảng lương thực.

Từ tháng 4-2008, cả thế giới phải đối mặt với cơn khủng hoảng lương thực trầm trọng. Mỗi nước lại có những biện pháp, những phản ứng khác nhau về cuộc khủng hoảng này. Ấn Độ ban hành lệnh cấm xuất cảng gạo để cố gắng kiểm soát giá lương thực trong nước đang tăng vọt. Còn ở Haiti thì người dân tấn công dinh Tổng thống để tìm miếng ăn... Khủng hoảng lương thực đe dọa 100 triệu người, giá lương thực tăng cao khiến "người giàu cũng khóc".

Câu hỏi được đặt ra là giải quyết khủng hoảng lương thực toàn cầu thế nào? LHQ kêu gọi làm cách mạng nông nghiệp, Nhật hỗ trợ 100 triệu đôla giải quyết khủng hoảng lương thực.

Bài học về khủng hoảng lương thực đã khiến cho nhiều nước, nhiều tổ chức đề ra các biện pháp đề phòng: Ngân hàng Thế giới World Bank đề nghị giải pháp bảo đảm an ninh lương thực, Liên Hiệp Âu Châu EU cho biết sẽ tài trợ nông nghiệp cho nước nghèo, Philippines ngưng chuyển đổi đất nông nghiệp, hợp tác toàn cầu chống khủng hoảng lương thực để chung tay cứu đói.
5.- Thảm họa động đất ở Trung Quốc

Image
Năm 2008, thế giới đã phải hứng chịu nhiều thảm họa thiên nhiên như bão Nargis ở Miến Điện, bão Fengshen ở Philippines và có lẽ nặng nề nhất là thảm họa động đất ở Trung Quốc.

Vào ngày 12-5-2008, cả miền Tây Nam Trung Quốc chao đảo vì một trận động đất mạnh tới 7.5 độ Richter. Tâm chấn xảy ra tại độ sâu 10km ở một địa điểm cách Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, khoảng 93 km. Trận động đất dữ dội này đã khiến gần 10,000 người bỏ mạng, hàng trăm người mắc kẹt dưới những tòa nhà bị sập.

Trận động đất đã tàn phá một phần lớn của tỉnh Tứ Xuyên. Nhiều trường học, công sở và nhà ở sập xuống, thiệt hại về người và của là quá lớn, kinh tế của Trung Quốc thiệt hại không nhỏ. Trong khi đó, các nhóm cứu hộ của trung Quốc phải cật lực tìm kiếm những người vẫn còn mắc kẹt trong đống đổ nát.

Ước tính trận động đất gây thiệt hại cho Trung Quốc hơn 20 tỷ đôla, khoảng 5 triệu người bị mất nhà cửa và khoảng hơn 80,000 người đã bị thiệt mạng.

Sau thảm họa này, Trung Quốc vẫn phải tiếp tục đối mặt với nguy cơ bùng phát dịch bệnh, giá lương thực tại vùng bị động đất tăng cao và phải lo chỗ ở cho người dân gặp nạn cũng như phải bắt tay ổn định đời sống xã hội, an ninh trật tự, học tập và lao động nơi đây.
6.- Vụ khủng bố đẫm máu ở Ấn Độ

Image
Hôm 27-11-2008, cả thế giới đã lặng người đi vì một loạt vụ tấn công của bọn khủng bố ở thành phố Mumbai, Ấn Độ. Ít nhất 7 địa điểm đã bị tấn công ở thủ phủ tài chính này của Ấn Độ, trong đó có hai khách sạn sang trọng, nơi các tay súng đang cầm giữ khách lưu trú làm con tin.

Quân đội Ấn Độ đã được triển khai quanh khu vực có sự hiện diện của bọn khủng bố. Cả thế giới đã lên án hành động tấn công dã man nhằm vào người vô tội này của các phần tử khủng bố.

Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã thề sẽ sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để lùng bắt những kẻ phải chịu trách nhiệm về hàng loạt vụ tấn công làm chấn động thành phố Mumbai.

Một ngày sau vụ tấn công khủng bố, lực lượng đặc nhiệm Ấn Độ đã chiến đấu để dọn sạch những tay súng còn sót lại tại hai khách sạn sang trọng và một trung tâm Do Thái.

Lực lượng an ninh Ấn Độ đã bắt được ba tên khủng bố, trong đó có một tên người Pakistan, ẩn náu bên trong khách sạn Taj Mahal - một trong những mục tiêu bị tấn công hôm 27/11/2008 ở Mumbai làm ít nhất 125 người chết và hơn 300 người bị thương.

Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cho biết những kẻ tiến hành vụ ở Mumbai đến từ nước ngoài và một quan chức quân đội chỉ huy chiến dịch tiêu diệt những tên này khẳng định chúng là người Pakistan.

Chính phủ Pakistan đã phủ nhận có liên quan đến vụ tấn công có phối hợp hôm 27/11/2008 vào Mumbai. Điều này đã khiến căng thẳng quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan thêm leo thang.

Vụ tấn công khủng bố này được ví với sự kiện 11-9-2001 ở Mỹ dù mức độ không khủng khiếp bằng. Sau khi bắt giữ và điều tra một số tên còn sống, Ấn Độ đã loại trừ khả năng chiến tranh với Pakistan.
7.- Cuộc chiến Nga - Georgia

Image
Từ lâu giữa Nga và Georgia đã có những căng thẳng, tranh chấp về vấn đề biên giới của các vùng ly khai Nam Ossetia và Abkhazia. Đỉnh điểm của xung đột này diễn ra vào đêm 7-8-2008. Nga đã đưa xe tăng vào Nam Ossetia và giao chiến ác liệt với quân Georgia.

Chiến sự bắt đầu lan sâu vào đất Georgia khi phi cơ Nga oanh tạc các mục tiêu quân sự ở thành phố Gori, chỉ cách thủ đô Tbilisi 80 km. Chiến sự ngày càng leo thang khi Nga huy động cả hạm đội Hắc Hải tới sát bờ biển Georgia.Không chịu được những đợt ném bom và bắn phá ồ ạt của Nga, Tổng thống Georgia tỏ ý muốn ký thỏa thuận ngừng bắn ngay lập tức. Sau đó Georgia rút quân khỏi nam Ossetia, nhường lại quyền kiểm soát cho Nga.

Dư luận quốc tế đã không thể khoanh tay đứng nhìn. Mỹ cáo buộc nga muốn thay đổi chế độ ở Georgia, còn Tổng thống Pháp Sarkozy đã lên đường sang Nga để tìm lối thoát cho cuộc xung đột.

Với nỗ lực của ông Sarkozy, cuộc xung đột đã tìm được lối thoát, Nga và Georgia ký kết hiệp định đình chiến.

8.- Vụ bê bối sữa nhiễm độc ở Trung Quốc

Khi người tiêu dùng trên toàn thế giới chưa kịp khôi phục lòng tin vào các mặt hàng tiêu dùng sản xuất ở Trung Quốc sau vụ hàng hóa của nước này nhiễm hóa chất độc hại thì họ lại thêm một lần nữa phải ngỡ ngàng khi được biết các sản phẩm từ sữa có nguồn gốc tại Trung Quốc bị phát hiện có chất gây sạn thận cho người uống.

Vụ việc bị phanh phui khi có hàng chục trẻ em Trung Quốc phải vào bệnh viện vì không thể đi tiểu sau khi uống một loại sữa bột rẻ tiền. Ít nhất đã có 1 em bé bị tử vong.

Giới chưc y tế Trung Quốc sau nhiều ngày chần chừ đã phải lên tiếng nhận: trong thành phần sữa cho trẻ em có chứa chất melamine, nguyên nhân chính gây sỏi tuyến tiết niệu cho người uống. Chất này được các nhà sản suất cho vào để nhằm tăng thêm hàm lượng protein.

Đã có gần 300,000 trẻ em bị bệnh do uống sữa có chứa melamine. Cuộc điều tra được mở rộng và phát hiện nguồn sữa nguyên liệu có chứa melamine đã được xuất cảng ra ngoại quốc.

Không những thế, các cơ quan điều tra và kiểm duyệt còn phát hiện melamine trong trứng gà, trong thức ăn dành cho cá, cho gà, trong nhiều loại bánh kẹo, sữa của Nam Hàn, Nhật Bản, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Mỹ, New Zealand, Thụy Sĩ... Điều nàu dấy lên phong trào tẩy chay các mặt hàng có nguồn gốc từ sữa, trứng gà của Trung Quốc, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho Trung Quốc, hàng chục công ty, nhà máy sản xuất sữa bị đóng cửa. Thuơng hiệu các mặt hàng đuợc sản xuất tại Trung Quốc bị ảnh huởng nghiêm trọng: nguời tiêu dùng tránh xa dù giá có rẻ đến mấy.

Theo báo chí Trung Quốc, tập đoàn Tam Lộc - trung tâm vụ bê bối sữa nhiễm hoá chất - đã mắc nợ khoảng 160 triệu đôla. Trước đó, công ty này đã được xác nhận là phá sản.

9.- Nạn cướp biển hoành hành

Từ khoảng tháng 9-2008, liên tục xảy ra các vụ hải tặc cướp tàu của các nuớc đi qua hải phận Somalia để đòi tiền chuộc. Bọn hải tặc đã bắt giữ hàng loạt tàu thuơng mại, tàu hàng, tàu chở dầu, tàu du lịch, thậm chí cả tàu đánh cá của các nuớc Ukraine, Nhật Bản, Nam Hàn, Ảrập Saudi, Yemen rồi đòi tiền chuộc. Tàu thì 1 triệu đôla tàu thì hàng chục triệu đô. Bọn chúng còn dọa sẽ đánh đắm tàu nếu không có tiền chuộc.

Nguyên nhân nào đã làm gia tăng nạn cướp biển ở Somalia? Đầu thập niên 1990, nội chiến đã biến nước này thành một vùng đất không có luật lệ. Chính quyền liên bang chuyển tiếp hiện nay ở Somalia yếu đến nỗi tự bảo vệ cũng là một nhiệm vụ quá khó khăn.

Kể từ khi nước Cộng hòa Somalia bị chia năm xẻ bảy thì tàu đánh cá nước ngoài vào lãnh hải để đánh trộm cá ngừ rất nhiều ở vùng Sừng châu Phi. Ngư dân Somalia kể lại rằng những tên cướp sinh học đầu tiên là tàu đánh cá Đài Loan, kế đó là tàu Tây Ban Nha và các nước khác.

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, mỗi năm ước tính những tên trộm cá biển này kiếm được ít nhất 90 triệu đôla. Thấy cuộc sống và nghề nghiệp bị đe dọa, một số ngư dân Somalia dùng tàu cặp tàu đánh cá Đài Loan và các nước khác bắt nộp thuế hoặc chia cá bắt được.

Làm ăn trót lọt một vài vụ thấy ngon ăn, những ngư dân không theo một đảng phái chính trị nào này rút kinh nghiệm: Nếu bắt giữ thuyền viên trên tàu làm con tin - nhất là con tin người phương Tây - để đòi tiền chuộc thì sẽ kiếm được nhiều tiền hơn. Cướp biển Somalia đã ra đời trong hoàn cảnh đó.

Ở Somalia, những tên cướp biển lại là người anh hùng. Họ mang lại sự phồn thịnh, sự phát triển cho xóm làng, mang của cải vật chất từ số tiền chuộc của những nạn nhân về góp công xây dựng quê hương nơi họ sống.
10-. Khủng hoảng ở Thái Lan

Image
Trong thời gian một vài năm gần đây, Thái Lan đã nổ ra khá nhiều cuộc khủng hoảng. Trong đó có thể kể đến cuộc khủng hoảng biên giới giữa Thái Lan và Cam Bốt. Tranh chấp giữa hai nuớc là ngôi đền cổ Preah Vihear nằm giữa biên giới 2 nuớc sau khi ngôi đền này đuợc UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Hai nuớc đã đưa quân đội đến địa danh này để chiếm đóng và giao tranh. Các cuộc hội đàm song phuơng đã đuợc tổ chức nhưng cho đến nay, chủ quyền của ngôi đền thuộc về nuớc nào vẫn chưa đuợc phân định.

Trong khi căng thăng biên giới với Cam Bốt chưa giải quyết xong thì đất nuớc Thái Lan lại nổ ra cuộc khủng hoảng chính trị. Hôm 25-8-2008, hàng chục ngàn người đã tập trugn biểu tình, phong tỏa các xa lộ, đường phố ở Bangkok và lối vào Tòa nhà Chính phủ nhằm đòi Thủ tướng Samak Sundaravej và chính phủ của ông từ chức, khơi mào cho cuộc biểu tình chống chính phủ kéo dài ở Thái Lan.

Người biểu tình mang theo dùi cui đã đẩy lui cảnh sát ra khỏi các khu vực thuộc tòa nhà Chính phủ vào sáng sớm 29-8-2008 khi một thành viên của Liên minh Nhân dân vì Dân chủ PAD cảnh báo sẽ làm cho các cuộc biểu tình "hiếu chiến" hơn.

Năm ngày sau khi hàng ngàn người biểu tình do Liên minh nhân dân vì dân chủ (PAD) dẫn dắt phá rào vào chiếm giữ Dinh Thủ tướng, khu nhà này không chỉ mất đi sự tôn nghiêm mà còn giống như một trại tị nạn mất trật tự. Người biểu tình yêu cầu Thủ tướng Samak Sundaravej phải từ chức.

Đến ngày 9-9-2008, Toà án Hiến pháp đưa ra phán quyết về việc liệu Thủ tướng Thái Lan Samak Sundaravej có vi phạm hiến pháp hay không, và nếu bị kết tội, ông Samak sẽ ngay lập tức phải từ chức cùng nội các.

Tòa án hiến pháp Thái Lan đã ra phán quyết đòi Thủ tướng Samak Sundaravej cùng toàn bộ nội các phải từ chức. Em rể ông Thaksin đắc cử chức thủ tướng Thái Lan.

Nội các mới của Thủ tướng Thái Lan hôm 30/9/2008 ra tuyên bố sẽ sửa đổi hiến pháp, bất chấp động thái này có thể kích động các cuộc biểu tình chống chính phủ càng thêm rầm rộ.

Giữa lúc chính phủ Thái Lan đang lúng túng trong việc giải quyết bất ổn trong nước thì lại nảy sinh xung đột tranh chấp ngôi đền cổ ở sát biên giới với Cam Bốt. Sau nhiều nỗ lực hòa giải, bất đồng giữa Thái Lan và Campuchia dần được tháo gỡ. Đúng lúc này văn phòng Tổng Chưởng lý Thái Lan hôm 10-10-2008 đã kiến nghị lên Tòa án Hiến pháp nước này yêu cầu giải tán đảng Sức mạnh Nhân dân (PPP) cầm quyền vì đã gian lận trong bầu cử.

Tân thủ tướng Thái Lan Somchai Wongsawat tuyên bố ông có thể rời nhiệm sở. Phát ngôn viên Chính phủ Thái Lan, Nattawut Sai-kau tuyên bố, Thủ tướng Somchai Wongsawat và liên minh cầm quyền gồm sáu đảng của ông sẽ rút lui.

Thái Lan đã quyết định ngày 11-12 này sẽ tổ chức bầu cử lại. Vào lúc 11:30 phút sáng 15/12/2008, Chủ tịch Hạ viện Thái Lan Chai Chidchob đã chính thức tuyên bố chiến thắng trong cuộc bỏ phiếu bầu Thủ tướng thuộc về lãnh đạo đảng Dân chủ Abhisit Vejjaiva.

Tuy nhiên, theo giới quan sát, con đường chông gai đang chờ tân Thủ tướng Thái Lan ở phía trước...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Biết hãnh diện và cũng biết xấu hổT
uesday, December 30, 2008

Ngô Nhân Dụng
Ðộc giả Nhật báo Người Việt ở Mỹ đã viết thư về tòa báo chia vui khi đọc bản tin đội tuyển Việt Nam thắng Thái Lan trong giải bóng tròn AFF Suzuki. Kể từ năm 1959 khi đội tuyển Việt Nam Cộng Hòa thắng Giải Ðộc Lập (Merdeka) đến nay, Việt Nam mới thắng một trận đá banh quan trọng như vậy.

Cho nên chúng ta hiểu tại sao nhiều đồng bào trong nước đã ăn mừng vui nhộn tới mức gây ra tai nạn làm 4 người chết và mấy trăm người bị thương. Tội nghiệp những người bị nạn và gia đình họ, những tai nạn này đáng lẽ có thể tránh được nếu xã hội Việt Nam quen sống có trật tự và trọng kỷ luật hơn. Tất nhiên có những người lợi dụng chiến thắng của đội tuyển bóng tròn, lấy cớ đó mà tổ chức ăn nhậu vui say hoặc lái xe biểu diễn lấy le. Nhưng tâm trạng vui mừng tập thể là điều không thể dồn nén được.

Mọi đám đông người trên thế giới đều chờ khi có dịp thì xác nhận tính chất cộng đồng, xác định tính tập thể của mình, diễn tả bằng hành động. Nhất là trước những tin vui, mọi người muốn hòa nhập làm một để biểu lộ một niềm hãnh diện chung. Nhiều quốc gia cũng lợi dụng các cuộc tranh đua thể thao quốc tế để kích thích tinh thần quốc gia, dân tộc. Các nước độc tài thường đề cao thể thao, từ thời Ðức Quốc Xã tới chế độ cộng sản ở Nga Xô, Ðông Ðức. Năm nay đảng Cộng Sản Trung Quốc đã huy động tài nguyên và nhân lực của hơn một tỷ người biến Thế Vận Hội Bắc Kinh thành một cuộc trình diễn lớn; họ cũng giúp cho cả nước Trung Hoa cùng hãnh diện, ít nhất trong một tháng trời. Cho nên giữa mọi người Việt Nam cũng chia sẻ cùng một niềm vui khi đội tuyển nước ta chiếm một giải đá bóng quan trọng trong vùng Ðông Nam Á, sau gần một nửa thế kỷ. Một người, một đội tuyển, làm được một việc tốt, cả nước có thể cùng chia sẻ niềm vui. Ðây là một tình tự đáng khuyến khích.

Vì niềm hãnh diện tập thể là một nền tảng, một động cơ kích thích con người tập sống theo đạo đức và giữ đạo đức. Như trong xã hội Việt Nam, tổ tiên chúng ta vẫn đề cao danh dự gia đình cũng như tiếng tăm của làng xóm. Nhiều người Việt muốn sống đúng đạo lý không phải chỉ vì danh dự cá nhân mình, nhưng còn vì muốn giữ tư cách xứng đáng với dòng họ, với quê hương bản quán của mình. Bảo vệ tiếng thơm của tổ tiên, cố giữ tiếng tốt cho làng, tỉnh mình, cho địa phương của mình, các tình tự đó có khả năng kiềm thúc con người, không dễ để mình phạm vào đạo lý. Truyền thống đó chịu ảnh hưởng của Nho Giáo đề cao gia tộc, nhưng cũng phù hợp với tinh thần làng xã đặc thù của văn hóa Việt Nam.

Hiện nay trong các nước Á Ðông thuộc văn hóa Nho Giáo, chỉ có Nhật Bản vẫn bảo tồn khái niệm danh dự tập thể nhiều nhất; ít nhất họ còn giữ được tinh thần đó nhiều hơn Trung Quốc hay người Việt Nam. Một lý do có lẽ là vì dù đã canh tân theo lối Tây Phương nước Nhật vẫn bảo vệ đạo lý cổ truyền đặt trên nền tảng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Các nước Việt Nam và Trung Quốc đều đã trải qua các chế độ cộng sản, đã “cách mạng văn hóa,” xóa bỏ nền nếp luân lý cũ một cách khá tàn bạo.

Về hình thức, người Nhật vẫn giữ thể chế quân chủ lập hiến, mặc dù thiên hoàng chỉ giữ ngôi vị tượng trưng. Họ vẫn duy trì tôn giáo cổ truyền là Thần Ðạo dù chỉ còn hình thức tượng trưng, họ cũng vẫn giữ chữ viết cũ và lối dậy luân lý, công dân giáo dục, đã được cải tiến từ thời Minh Trị. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi người Nhật Bản tỏ ra ngạc nhiên trước những bản tin nói về quan chức Việt Nam tham nhũng, về cảnh nhân viên hãng hàng không Việt Nam âm mưu ăn cắp cùng với các người đi học việc, gọi là “tu nghiệp sinh.” Trong blog của một người Việt Nam sinh sống bên Nhật mang tên Minh T., anh kể rằng, “Một cảnh sát viên Nhật Bản tên là Tanaka Masao, tham gia cuộc điều tra các nhân viên Vietnam Airlines chứa hàng ăn cắp, đã ngạc nhiên hỏi rằng không hiểu tại sao một nước văn hiến lâu đời như nước Việt Nam mà đám công nhân cháu lại có những người chịu đi làm nô lệ và đi tổ chức ăn cắp như vậy.”

Câu hỏi trên cho chúng ta thấy thái độ tiêu biểu của một người Nhật về trách nhiệm tập thể: Khi nhìn thấy những cá nhân làm điều sai trái, họ nghĩ tới danh dự của cả tập thể. Văn hóa Nhật Bản đã tạo ra cho họ thói quen nhìn vào cả tập thể đó.

Chúng ta cũng không thể trách họ thiên lệch, chê họ đã chỉ trích oan cho một dân tộc khác chỉ vì một vài cá nhân. Vì ở đây người ta thấy cả một đám đông người, có tới 50 nhân viên hàng không Việt Nam và các người “tu nghiệp sinh” bị điều tra; lại có đủ các cơ sở thương mại, ngoại giao của chính quyền cộng sản Việt Nam bị khám xét bắt hàng ăn cắp.

Nếu chỉ bắt được một hai người Việt ăn cắp thì không ai được phép lên án cả dân tộc Việt Nam. Nhưng khi các quan chức ngoại giao đại diện cho một nước phạm lỗi lầm thì người ta thắc mắc là phải. Những quan chức này lại phạm những lỗi lầm đạo đức thuộc loại đơn giản nhất, những tội lỗi mà trẻ con nước nào cũng được dạy dỗ từ bé rằng làm như thế là sai trái, đứa trẻ nào cũng nhớ suốt đời không cần ai nhắc lại! Khi đó, nếu người ngoại quốc lên án cả nước hoặc ít nhất cả chính quyền nước đó, điều này không thể trách cứ người ta được. Vì người ta sẽ tự hỏi cái quốc gia sinh ra đám người phạm tội này đã dậy dỗ trẻ em cách sống thế nào, không giống như nhân loại hay sao?

Một lần đi du lịch bên Nhật, tôi đã có kinh nghiệm đó. Một bữa ở gần chân núi Phú Sĩ, tôi thấy một đoàn du khách ồn ào đang vào phòng ăn. Tôi hỏi người Nhật hướng dẫn đoàn chúng tôi không biết mấy người này thuộc nước nào mà nói nhiều như vậy? Anh ta cho tôi biết, đó là một nước Á Ðông tôi xin miễn kể tên. Vì đã đi chung hơn một tuần lễ với nhau và trò chuyện nhiều lần đã khá thân, anh Tanaka lắc đầu nói nhỏ với tôi: Mấy người nước này họ thường ăn ở dơ bẩn lắm! Tôi trợn mắt tỏ ý không hiểu. Anh bèn làm điệu bộ cho tôi hiểu: Anh đưa hai ngón tay lên miệng hít một hơi như người hút thuốc, xong làm bộ ném tàn thuốc xuống đất, rồi lấy chân day day trên mặt đất!

Ðối với một người Nhật thì hút xong vứt tàn thuốc xuống đất đã là ăn ở thiếu trật tự, thiếu vệ sinh. Cho nên, một người Nhật phải nhìn cảnh người dân nước khác ăn ở như vậy nhiều lần, thì họ kết luận dân tộc này không biết cách sống vệ sinh!

Cách phán đoán đó cũng hơi khe khắt, ít nhất là đối với người Việt. Nhưng tôi biết anh Tanaka đã thấy rất nhiều người hành động trái với phong tục thuần hậu của xứ anh, cho nên mới kết luận. Tôi hy vọng anh Tanaka khi sang Việt Nam hoặc tới Little Saigon không phải trông thấy cảnh nhiều người Việt Nam cũng làm như vậy. Hoặc tệ hơn nữa, nhiều người bỏ điếu thuốc hút dở dang bốc khói tiếp tục cháy trong cái gạt tàn hoặc trên mặt đất, cho người khác bị sặc vì khói!

Nhưng cái tội vứt tàn thuốc bừa bãi có thể coi là một “thói quen xấu” mà người phạm lỗi không biết, có thể vì không được ai dạy dỗ để biết như thế là xấu. Mọi người có thể tập bỏ những thói xấu đó dần dần, giống như ở Singapore người ta tập không nhổ bậy, không vứt rác ngoài đường. Nếu có quyết tâm, cả xã hội có thể cùng nhau tập bỏ những thói xấu như thế. Còn những tội như ăn cắp, ăn trộm của các cửa hàng, hoặc ăn hối lộ của nặng hơn nhiều, thuộc phạm vi đạo đức. Tệ hơn nữa là phần lớn những người phạm tội ăn cắp đều biết làm như vậy là xấu nhưng vẫn cố ý làm.

Khi Nhật báo Người Việt đăng bài về những cảnh ăn cắp, ăn hối lộ trong đám nhân viên hàng không, tu nghiệp sinh và quan chức ngoại giao Việt Nam tại Nhật Bản, tất cả các vị độc giả viết thư về đều than là chính mình cũng cảm thấy nhục, trừ một vài vị. Một trong hai vị đó biện luận rằng mình không cảm thấy nhục, vì đây là nỗi nhục riêng cho chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ người Việt Nam nói chung không cần phải xấu hổ.

Nhưng chúng ta sợ rằng người ngoại quốc họ không biết phân biệt tinh tế như vậy! Một quốc gia mà có các “tu nghiệp sinh” ăn cắp, các nhân viên hàng không ăn cắp, đến nhân viên ngoại giao cũng bán hộ chiếu và ăn chặn tiền, một nước đông người ăn cắp tập trung cùng một nơi như vậy, mà lại biểu diễn những tội lỗi đó ở ngoại quốc, thì làm sao người nước ngoài họ phân biệt được trong đám này ai là người dân còn ai là chính quyền? Người ngoài họ nhìn chỉ thấy người Việt nào cũng là người Việt thôi! Dù những người Việt sống hoàn toàn ở ngoại quốc, cũng không vì thế mà được “miễn nhiễm!”

Một vị thứ hai, chắc là một nhân viên công an làm bổn phận, thì lên giọng mắng tờ báo Người Việt thậm tệ, cốt để bênh vực chế độ cộng sản. Vị đó phán rằng: Chúng mày hãy đọc tin này đi! Mở cái địa chỉ “link” ra thì thấy bản tin báo Lao Ðộng viết, “Ngày 26.9, Bộ Trưởng Bộ LÐTBXH VN Nguyễn Thị Kim Ngân và ông Kyoei Yanagi Sawa - chủ tịch Hiệp Hội ... IMM Japan đã ký lại bản thỏa thuận về chương trình hợp tác đưa tu nghiệp sinh (TNS) VN sang tu nghiệp và thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản. Năm đầu tiên, TNS sẽ được nhận trợ cấp tu nghiệp là 80.000 Yen, năm thứ hai và ba, mức trợ cấp tối thiểu là 90.000 Yen và 100.000 Yen.

Sau khi hoàn thành, IMM Japan sẽ hỗ trợ cho mỗi TNS 600.000 Yen (tương đương với 5.000 USD) để tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm mới. Ðược biết, qua hơn 2 năm triển khai hợp tác với IMM Japan, hơn 400 TNS VN đã được chọn, trong đó 320 TNS đã sang Nhật.”

Bản tin cũ từ Tháng Chín, với những con số như 80,000 Yen một tháng và không khác gì những con số đăng trong báo Người Việt (ở Nhật số lương đó không đủ sống). Cũng không nói gì đến những khoản ăn chặn của quan chức trong công ty độc quyền nhà nước làm việc “xuất khẩu” này. Không nói gì đến vụ cảnh sát Nhật khám xét các văn phòng đại diện hàng không Việt Nam để tìm hàng ăn cắp, trên mạng lưới có hình ảnh hàng đống hàng được phơi ra. Không hiểu người gửi email trên đã làm bổn phận chửi báo Người Việt xong rồi, anh có cảm thấy cũng xấu hổ khi đọc bản tin về đồng bào mình phạm tội ở nước ngoài hay không?

Cảm thấy xấu hổ là một nguồn gốc của đạo đức, Mạnh Tử đã dạy như vậy. Biết xấu hổ là có mầm mống tốt để biết thế nào là Nghĩa khí, là Dũng cảm. Khi biết chia sẻ nỗi xấu hổ vì đồng bào mình phạm tội, thì tự nhiên chính mình sẽ cố tránh không phạm tội, để tránh cho cha mẹ, tổ tiên, đồng bào mình khỏi phải xấu hổ lây. Trẻ em Việt Nam được giáo dục như vậy trong cả ngàn năm nay. Chúng ta cần làm sống lại đường lối giáo dục cho trẻ em biết hãnh diện về tập thể mà cũng biết xấu hổ vì tập thể. Nếu người dân một nước không biết tự mình xấu hổ mà chỉ biết chia sẻ cái vinh dự do người khác tạo ra thì nguy lắm.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhà văn Võ Thị Hảo 'không sợ bị bắt'
Tác giả: BBC


'Nhiều lần tôi đã vào blog của tôi nhưng không thể đọc được, có những bài bị xoá trắng, tôi thấy blog của tôi đã bị xoá nội dung rồi,' nhà văn Võ Thị Hảo nói với BBC Việt ngữ hôm 30 tháng 12 về tình trạng các trang blog cá nhân của bà trên mạng internet bị thâm nhập, biến đổi nội dung và hình thức.

"Tôi nghĩ rằng đây không phải là ngẫu nhiên, nghe nói ông Thứ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông vừa ký một thông tư về việc cấm các blogs có nội dung không phù hợp với yêu cầu của họ," bà Hảo nói.

Nghe cuộc phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo

Khi được hỏi là liệu bà có nghĩ tới một khả năng các trang blog của mình bị tin tặc tấn công hay không, nhà văn nữ 52 tuổi cho hay:

"Tôi nghĩ nếu là tin tặc thì họ vào họ sẽ đưa ra những nội dung khác. Họ có thể nội dung blog của tôi để xuyên tạc hoặc làm những việc gì đó.

''Tôi nghĩ tin tặc họ không có những cử chỉ như vậy, tất nhiên là tôi chưa thể khẳng định ai đã làm việc này. Nhưng tôi nghĩ không ngẫu nhiên."

'Nội dung nhạy cảm'

Trong một entry nói về giáo dục Việt Nam và cần làm gì để cứu vãn nhân cách Việt, đăng mới đây trên trang blog 'vothi.hao' trên 'blog yahoo 360', blogger Võ Thị Hảo viết về sự giả dối trong xã hội Việt Nam:

"Nếu tôi khôn ngoan, trước khi viết về sự giả dối, tôi cần phải rào đón khoảng mươi dòng, rằng về cơ bản nhân dân Việt Nam ta luôn trung thực thật thà dũng cảm, rằng nhân dân ta luôn có truyền thống trọng chữ tín.

"Rằng được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp nói chung và lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa nói riêng, người Việt Nam ta hịên nay và ngành giáo dục đang có nhiều tiến bộ và gặt hái được nhiều thành tựu.

"Rằng người Việt nam đi đâu cũng có uy tín trên trường quốc tế và luôn luôn dược nể trọng là một dân tộc anh hùng... Rằng những kẻ mà nó nói rằng người Việt Nam bất tín, tráo trở, tham nhũng... đó chỉ là luận điệu vu cáo nằm trong âm mưu của một chiến dịch phá hoại mang tên diễn biến hoà bình.'"

Trước câu hỏi của BBC Việt ngữ rằng liệu nội dung các bài viết trên trên blog của bà có mang tính 'nhạy cảm' đối với Chính quyền Việt Nam, theo cách nói ở trong nước hay không, nhà văn Võ Thị Hảo trả lời:
Image
Nhà văn Võ Thị Hảo tin rằng các đồng nghiệp Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải vô tội

"Rất buồn cười ở Việt Nam có một từ là từ 'nhạy cảm'. Đây là một xu hướng dùng mỹ từ để thay cho điều mình phải nói thật. Những gì tôi viết là một tấm lòng, một tâm huyết và nói sự thật, không có gì là nhạy cảm cả."

"Không nói như vậy thì mới là chuyện lạ. Tôi thờ ơ trước nỗi đau của người khác mới là chuyện lạ, chứ như thế có gì là nhạy cảm đâu. Có thể có một số điều tôi viết làm cho một số người không thích, đó là quan điểm của họ."

'Đồng nghiệp vô tội'

"Vậy là phiên toà xử hai nhà báo và hai cán bộ điều tra liên quan đến việc công bố thông tin trong vụ PMU 18 đã diễn ra và kết thúc,'' bà Hảo viết trên blog.

''Chừng ấy người, chừng ấy chứng cứ, chừng ấy luật sư, chừng ấy to tát vì liên quan đến bao nhiêu nhân vật, mà chỉ xử trong hai ngày, tốc độ thật phi thường. Và còn một điều phi thường khác, là trong phiên toà này có tới bốn người vô tội bị kết án oan."

Và ở một khổ khác cùng bài viết trên blog này, nhà văn - nhà báo Võ Thị Hảo đặt bút:

"Tôi nhìn thấy những nhà báo ôm hoa đứng dưới mưa trời ảm đạm trước cửa toà Hà Nội. Họ biết đồng nghiệp của họ vô tội và họ tin rằng những người bị oan khuất sẽ được trả tự do ngay sau phiên toà này.

"Và họ còn chờ cái ngày mà những đồng nghịêp bị hàm oan phải được xin lỗi, cải chính và bồi thường danh dự. Nhìn họ mà rơi nứơc mắt. Họ vẫn kiên nhẫn để chờ đợi một phiên toà công bằng. Để họ còn có chút niềm tin mà hành nghề. "Nhưng hoa héo rũ vì không có người nhận. Người nhận lại trở vào nhà lao rồi!"

Khi được hỏi liệu chính bản thân có sợ bị chính quyền 'kết án' và 'bỏ tù' vì những gì bà đã viết và phát biểu công khai trên blog, với truyền thông trong và ngoài nước hay không, bà Hảo nói:

"Tôi nghĩ ở Việt Nam hiện nay cũng như trước đây, mọi điều đều có thể xảy ra. Có nhiều độc giả từ lâu đọc những bài tôi viết đã lo cho tôi và nói với tôi là 'hãy giữ mình'. Có những người lâu lâu gọi điện cho tôi, mà tôi bận không trả lời, thì lo rằng tôi đã bị bắt.

Bà Hảo sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi nói lên sự thật

Trong một entry khác cũng tại blog 'vothi.hao', bình luận sau phiên toà xét xử các nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải ở các tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị xử có tội khi đưa tin về vụ tham nhũng PMU18, blogger Võ Thị Hảo viết:

'Chấp nhận rủi ro'

"Trước khi tôi làm bất cứ điều gì như là tôi viết hay tôi nói lên sự thật, nói lên tâm huyết của mình, tôi biết tất cả những rủi ro, những điều mà những người họ không bằng lòng và họ muốn làm hại mình, đều có thể xảy ra. Nhưng không phải vì thế mà tôi không làm."

Bà Hảo cho rằng những gì mà bà đã làm khi nói lên sự thật là điều tối thiểu mà một nhà văn phải làm. Bà nói:

"Khi đã cầm lấy cây bút, người ta phải cảm nhận được nỗi đau của người khác. Nỗi đau của người khác, nỗi oan khuất của một người trong xã hội, mình phải quan niệm là không của riêng ai cả. Nếu tôi thấy nhiều người khổ quá, hay thấy những khuynh hướng vi phạm quyền của con người thì tôi phải nói. Đó là lương tâm tối thiểu.

"Còn khi mình đã nói thật, mình không làm điều gì xấu cả, khi mình làm một điều vì mọi người, cho cộng đồng, trong đó có mình, nếu có điều gì không hay xảy ra đối với tôi, thì tôi cũng vui chịu thôi."

Nhà văn Võ Thị Hảo cho rằng việc nếu Chính quyền trong nước bắt bà, thì đó là một điều không có lợi và không hay gì cho nhà nước. Bà nói:

"Tôi là một người nhỏ bé, mong manh, tôi là một người phụ nữ sống một mình. Tôi sống với hai con, các con tôi cũng lớn rồi và cũng hay đi. Cho nên ai muốn hại tôi thì rất dễ...

"Giả sử nhà nước có bắt tôi thì tôi nghĩ nhà nước cũng không lợi gì. Vì bắt tôi thì quá dễ.

''Tất nhiên mọi người sẽ nghĩ rằng nếu bắt Võ Thị Hảo thì nhà nước sẽ thiệt hại nhiều hơn là có lợi. Nhưng tôi nghĩ mọi điều cũng có thể xảy ra trong xu thế mà mọi quốc gia đều không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì đúng sai, trắng đen đã quá rõ ràng."

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

VỊNH BẮC BỘ ĐÃ THUỘC TOÀN QUYỀN KIỂM SOÁT CỦA TRUNG CỘNG!



Ngày 30.06.2004, Đảng CSVN đã thêm một lần nữa ra tay ký kết nhượng đất biển tổ tiên cho Trung Cộng bằng văn kiện “Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ” (HĐPĐ). Cũng như công hàm bán nước của tên Phạm Văn Đồng vào năm 1958, nội dung rõ ràng của văn kiện “HĐPĐ” thì trong lúc đương thời đã không có một người dân Việt Nam nào được biết tới. Tất cả chỉ là những ngụy từ “rất phấn khởi” trên báo chí, trang mạng của Đảng CSVN : bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp, cùng tồn tại, hai bên, của nhau, đàm phán, pháp lý v.v…


Vịnh Bắc Bộ trước "HĐPĐ"
Image

Sau "HĐPĐ". Vịnh Bắc Bộ với vũng ngư trường chung Trung-Việt (phần bao bọc theo dấu mũi tên màu xanh). Một kết qủa rõ ràng chứng minh cho hành vi bán nước dâng biển của Đảng CSVN! Theo ranh giới màu đỏ, A là phần Việt Nam. B là phần Trung Cộng. Nhập nhằng và Trung Cộng đã hoàn toàn chiếm hữu Vịnh Bắc Bộ! Một đường biên giới trên biển đầu tiên đã hình thành. Máu lệ của bọn Cộng Sản dành cho dân Việt!

Vịnh Bắc Bộ SAU "Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ"
Image

Trải qua hơn bốn năm sau ngày ký kết "HĐPĐ” , có những lợi ích gì không cho phía Vịêt Nam? Có gì không?

-Không! chỉ toàn là chuyện đau thương. Bắt đầu là sự kiện 9 ngư dân Thanh Hóa thiệt mạng đầu tiên cho hành vi bán nước dâng biển của Đảng CSVN! Ngày 08.01.2005 ngư dân Thanh Hóa đang đánh bắt cá trên vùng biển Bắc Bộ bị tàu tuần tra Trung Cộng nã súng giết hại dã man, 9 người thiệt mạng tại chỗ, 8 người bị bắt giữ với tội danh “cướp biển” phải chịu nhục hình bên Trung Cộng. Tất cả là ngư dân xã Hòa Lộc, Thanh Hóa. Chết mất xác!
Vong linh của 9 ngư dân Thanh Hóa có lẽ không biết mình phải tội tình gì. Họ cũng không ngờ rằng lãnh hải của tổ tiên mà vào lúc họ nhắm mắt là đã thuộc về Trung Cộng!


Vì "lợi ích chung" của ngư trường, Trung Cộng ra lệnh truy quét tất cả các ngư thuyền vào khu vực!

Image

Tin tức bắt giữ tàu đánh cá Việt Nam "xâm phạm" ngư trường Trung Cộng đăng tải thường xuyên. Bắt giữ và áp giải tàu bè ngư dân Việt Nam có sự tham gia của biên phòng Việt Nam!
Image
Image
Image
Image

Tuần tra ngày đêm và sẵn sàng nổ súng!

Image
Image
Image

“Vịnh Bắc Bộ”! tên gọi này giờ đây chỉ còn là kỷ niệm của 4000 năm văn hiến!
Vâng, “Vịnh Bắc Bộ” kể từ sau ngày Đảng CSVN hiến dâng cho Trung Cộng đã nghiễm nhiên thuộc về Trung Cộng bằng tên gọi “Vịnh Bắc Bộ-Trung Quốc” hoặc là “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây” trên các phương tiện truyền thông thế giới. Và càng đau lòng hơn, phía Việt Nam khi gọi tên Vịnh Bắc Bộ cũng kèm theo hai chữ Trung Quốc hoặc Quảng Tây!
Hãy tham khảo sang vài link dẫn ngay đây về cách gọi tên Vịnh Bắc Bộ và bài tuyên truyền ca ngợi “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây” của Đảng CSVN.

Viện Nghiên Cứu Trung Quốc ca ngợi “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây”:
http://vnics.org.vn/Default.aspx?ctl=Article&aID=55

Thư mời tham dự Hội chợ Thủy sản Vịnh Bắc Bộ-Trung Quốc:
http://www.vasep.com.vn/xttm/2008/vbb.html


Bắc Bộ là một phương vị xác định trên mặt địa lý. Bắc Bộ ở đây là Bắc Bộ của Việt Nam! Sự khai thác tiềm năng của Vịnh Bắc Bộ qúa lớn, mà sau khi ký kết “HĐPĐ” với Việt Nam, tên khổng lồ Trung Cộng ngây ngất như chạm vào núi vàng ròng. Hắn để nguyên tên gọi phiên ngữ sang tiếng Hoa là “BeiBuWan” (Bắc Bộ Loan: Vịnh Bắc Bộ) hoặc “Beibu Gulf” và tung hoành giao dịch, khai thác. Việt Nam chỉ được tính là một trong mười nước đồng minh trong kế hoạch phát triển Vịnh Bắc Bộ của Trung Cộng. Ngày 23.07.2007 trong cuộc “Hội thảo Nghiên cứu Chiến lược Phát triển Vịnh Bắc Bộ” tổ chức tại Bắc Kinh, Ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương ĐCS Trung Cộng là Giả Khánh Lâm đã phát biểu:

"Sự phát triển của Vịnh Bắc Bộ là thiết yếu cho toàn bộ sự phát triển của khu Tự trị Quảng Tây, sự ổn định của biên giới phía Nam và cho đoàn kết quốc gia".

“Vịnh Bắc Bộ” từ sau ngày ký kết “HĐPĐ” với Việt Nam đã không ngừng mang lại lợi ích kinh tế dồi dào cho Trung Cộng: “Vịnh Bắc Bộ là một trong “Tứ đại ngư trường”; “Vịnh Bắc Bộ” trong đặc khu kinh tế Quảng Tây là chiến lược quốc gia; Năm 2007, cục Du lịch Quốc Gia Trung Cộng đặt ra “Kế hoạch Phát triển Du lịch Vịnh Bắc Bộ”; “Vịnh Bắc Bộ” là đặc khu tăng trưởng kinh tế trọng điểm; “Chiến lược Phát triển Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây 2006-2020” đã đặt Vịnh Bắc Bộ là khu tăng trưởng kinh tế hàng thứ 4 (sau các khu kinh tế đặt ra từ trước là Võ Hán ở Trung Bộ, Thẩm Dương ở Đông Bắc, Thành Đô-Trùng Khánh ở Tây Bộ); Năm 2008 thành lập Ngân hàng “Vịnh Bắc Bộ” nhằm thực hiện cho kế hoạch Siêu Cảng và Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015); Ngày 30.07.2008, Hội nghị Quốc tế Phát triển Vịnh Bắc Bộ diễn ra tại Quảng Tây, Việt Nam tham dự với tư cách là khách mời trong khối ASEAN; “Vịnh Bắc Bộ” là một thương hiệu hấp dẫn khách hàng trong và ngoài Trung Cộng, đến nỗi từ giữa năm 2007 đã xảy ra tình trạng tranh nhau đăng ký thương hiệu “Vịnh Bắc Bộ” như một hiện tượng kinh tế…
Hội nghị quốc tế cho đề tài hợp tác với Vịnh Bắc Bộ tại Quảng Tây ngày 30.07.2008

Image
Image
Image

Để cảm nhận rõ hơn sự vĩ đại của nền kinh tế Vịnh Bắc Bộ, có thể tham khảo qua vài trang mạng Trung Cộng chuyên về hoạt động của Vịnh Bắc Bộ:

http://www.bbwnews.com.cn/
http://www.beibuwan.cn/
http://www.bgoec.com/
http://www.bbwdm.cn/ 
http://www.bbwxxw.com/  
http://www.gx.xinhuanet.com/topic/fecbg/
http://www.bbwce.cn/
http://www.jobbw.com/ 
…

Bên cạnh đó, thông tin từ nội địa Việt Nam chỉ toàn là ca ngợi cho Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây, ca ngợi cho “HĐPĐ” là một giải pháp công bằng, cho dù đã mất đi 12.000km vuông trên biển, cho dù ngư dân Việt Nam không ngừng bị bách hại khi vòng kim cô từ ngoài biển đang càng thắt chặt! Biển Đông ở vị trí chung với Việt Nam không còn là khu vực tranh chấp đối với Trung Quốc. Một đối thủ đáng sợ nhất đã bị loại trừ! Bản đồ kinh tế Trung Cộng ghi rõ, bao trùm toàn phần hải dương Việt Nam là “Khu vực Hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ”.

Khu vực Hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ trong chiến lược "Nam Tiến" phát triển kinh tế Trung Cộng.

Image

Thằng đàn anh ăn nên làm ra như thế, nhưng thằng đàn em không thấy hé môi một tiếng gì về thành qủa có lợi ích thật sự cho quốc gia sau khi ký kết “HĐPĐ”! Có chăng là vài tin báo bão đang vào Vịnh Bắc Bộ! Buồn buồn như mọi năm, như ngàn năm nô lệ!

Thế mà chúng vẫn cười! Bọn bán nước! Từ thằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thằng Phó TT Hoàng Trung Hải trong chuyến thăm Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây năm 2008. Lịch sử Việt Nam sẽ lưu tên truyền thống mãi quốc cầu vinh hào hùng của Đảng CSVN!


Nguyễn Tấn Dũng tại Quảng Tây 2008
Image

Hoàng Trung Hải tại Quảng Tây 2008. Chuyến khảo sát Vịnh Bắc Bộ "với hy vọng có thêm sự hợp tác của Trung Quốc cho các miền duyên hải"

Image

Trở lại tên gọi “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Cộng lập luận rằng: “Vịnh Bắc Bộ” là tên gọi do người Trung Quốc đặt ra. Người Việt Nam gọi là “Vịnh Đông Kinh” (TonKinWan). Tên gọi “Vịnh Bắc Bộ” là nhằm chỉ vùng vịnh nằm ở phía Bắc biển Nam Trung Quốc” (!). Đây là một cách giải thích thô bỉ nhưng Đảng CSVN vẫn chỉ cười và nín lặng. Giải thích theo lối “khảo cổ” thì gần đây trên mạng sina của Trung Cộng có dẫn ra một bài phân tích về qúa trình biến động biên cảnh Trung-Việt. Theo đó, vùng biển Vịnh Bắc Bộ và miền duyên hải Việt Nam kéo dài xuống tận Nha Trang là thuộc về Trung Cộng từ đời Tây Hán nên Trung Cộng phải bằng mọi giá chiếm hữu trở lại như đã từng chiếm Lão Sơn và những vùng rừng núi ở Bắc Việt!

Vịnh Bắc Bộ và Duyên hải Việt Nam là của Trung Cộng!

Image
Nói như thế nào thì cái họa mất nước đang diễn ra thành sự thật. Hãy nhìn những khuôn mặt xôi thịt của bọn CSVN. Chúng không có Quốc Gia! Chúng đang phục vụ cho Quốc tế Cộng Sản hàng chục năm nay. Một phường ăn cắp, lưu manh, đĩ điếm đang làm nhục đất Việt từng ngày!

Hãy nhìn thêm những hình ảnh dưới đây. Ngày 15.08.2008, nhân dịp đoàn văn công Việt Nam sang biểu diễn tại thành phố Đông Hưng-Quảng Tây, trên trang “Báo Vịnh Bắc Bộ” của tỉnh Quảng Tây đã lên hình ảnh với lời chú thích “tộc người Kinh từ Tam Đảo sang biểu diễn văn nghệ”.

京族三岛风情美
(Nét thơ mộng của tộc người Kinh Tam Đảo)
Image
Image

Đấy, từ hai chữ Việt Nam dần dà được gọi như cách gọi tên của dân tộc thiểu số! Vào năm nào sẽ chính thức mang tên “Khu tự trị Giao Chỉ” ? Sẽ lại có báo đài ca ngợi là “một giải pháp công bằng”, “phù hợp với quan điểm lịch sử” chăng?


NGÀN ĐỜI DÂN VIỆT ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN!


Chân Mây
http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=49318

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nguyễn Tấn Dũng theo gót Phạm Văn Ðồng?

Ngô Nhân Dụng

Trong mấy ngày đầu năm 2009, các mạng lưới ở Việt Nam trao đổi tin tức và bàn tán rất nhiều về vấn đề biên giới Hoa-Việt. Người Việt ở nước ngoài cũng thắc mắc không kém. Một câu hỏi chưa ai giải đáp được là: “Tại sao Bắc Kinh thúc đẩy Hà Nội phải hoàn tất việc ‘cắm mốc biên giới’ trước ngày cuối cùng năm 2008?” Một câu hỏi khó trả lời hơn là: “Tại sao chính quyền Hà Nội cũng muốn làm cho xong việc cắm mốc trước khi năm 2009 bắt đầu?”

Trên thế giới có hàng trăm quốc gia đang tranh chấp về biên giới với nhau. Nhiều cuộc tranh chấp kéo dài hàng mấy trăm năm người ta vẫn đành chịu, không giải quyết được. Vì ở các nước đó không chính quyền nào muốn kết thúc cuộc tranh cãi với nước kia, sợ mang tiếng với con cháu sau này là mình cam tâm bán nước. Thí dụ giữa hai nước Canada và Mỹ, với 5,000 cây số biên thùy, hiện có 4 vùng tranh chấp “nổi cộm” kéo từ miền Ðông (tiểu bang Maine và New Brunswich) qua miền Tây (Alaska và B.C.). Có những cuộc tranh chấp bắt đầu từ năm 1783, khi nước Mỹ mới ra đời, cho tới những vấn đề gay go nổi bật lên mới ba chục năm gần đây, khi Canada xác định đường biển xuyên Bắc Cực là lãnh hải nước họ, còn Mỹ thì coi đó là hải phận quốc tế! Chính phủ hai nước Mỹ và Canada vẫn tiếp tục cãi nhau không ai chịu nhường ai, suốt hai trăm năm rồi chưa nghỉ. Nhưng hai nước vẫn thân thiện không bao giờ phải gây chiến với nhau (họ đánh nhau lần lần chót vào năm 1812, gần với bây giờ hơn cuộc chiến giữa quân Việt Nam và nhà quân Thanh vào năm 1789). Ngoài các cuộc tranh chấp với Mỹ ra, Canada còn tranh chấp biên giới với cả Ðan Mạch nữa, nếu quý vị tò mò muốn biết thêm!

Nếu trên thế giới các nước láng giềng gần hoặc xa có thể cãi cọ nhau về biên giới hàng trăm năm mà lúc nào cũng có thể giao thương thân thiện, thì tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải vội vàng làm công việc phân định biên giới với Trung Quốc cho lẹ như vậy? Chắc hẳn hai đảng Cộng Sản họ phải có những “ý đồ” mà người dân thường không hiểu được!

Bản tin chính thức của nhà nước Việt Nam nói rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã gặp ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Vũ Ðại Vỹ vào ngày 29 Tháng Mười Hai, 2008. Trước mặt ông Vũ Ðại Vỹ, ông Dũng bảo phái đoàn phía Việt Nam phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ để kết thúc phần việc còn lại trong tiến trình phân biên giới và cắm mốc.”

Ngày 29 tức là chỉ có hai ngày là hết năm 2008, như vậy thì khi ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh cho nhân viên trong chính phủ của ông phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ” có nghĩa là họ phải làm gì? Trong 2 ngày còn lại đó các chuyên viên Việt Nam không thể nào duyệt lại được 2000 biên bản ghi về các vụ cắm mốc, với 2000 cái mốc. Cũng không thể đi coi lại bất cứ một cái mốc nào còn bị nghi ngờ không đích xác. Cho nên, nói “tích cực đẩy mạnh tiến độ” chỉ có nghĩa là thúc giục “ký cái gì thì ký luôn cho nó rồi!”

Vì thế ngày hôm qua, mùng 2 Tháng Giêng năm 2009, hai bên chính phủ mới “thông báo đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền trong năm 2008 như hạn định.”

Bản thông báo này sẽ đi vào lịch sử. Giống như lá thư ngày 14 Tháng Chín năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Trong lá thư đó, ông “Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đã ngỏ ý tán “thành bản tuyên bố về hải phận” của Trung Quốc ra trước đó mười ngày. Tuy ông Ðồng không nói rõ là ông tán thành những cái gì, nhưng phía Trung Quốc họ ghim ngay lấy lời nói đó để giải thích rằng một ông thủ tướng chính phủ Cộng Sản Việt Nam nhân danh cả nước Việt Nam, đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc hải phận Trung Quốc! Tên ông Phạm Văn Ðồng đã được gắn liền với quyết định của Cộng Sản Việt Nam nhắm mắt cho nước bạn xã hội chủ nghĩa phương Bắc thâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào hải phận - vì lợi ích của mặt trận vô sản toàn thế giới chống đế quốc Mỹ!

Bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 cũng có thể được Bắc Kinh giải thích theo lối tương tự. Bởi vì nội dung nó cũng lập lờ như lá thư của Phạm Văn Ðồng. Họ nói rằng “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” nhưng không ai được trông thấy cái quá trình đó nó diễn ra và nó kết thúc như thế nào. Không ai được thấy một cái bản đồ nào, nhất là bản địa đồ những nơi mà người dân Việt Nam nghi ngờ Trung Quốc vẫn muốn cưỡng đoạt - kể từ khi họ bắt đầu gửi chí nguyện quân vượt biên sang giúp Cộng Sản Việt Nam vào năm 1950, rồi được thúc đẩy mạnh lần nữa trong cuộc xâm lăng năm 1979.

Không người Việt Nam nào biết đích xác hai đảng Cộng Sản “đồng chí, anh em” này đã thỏa thuận gì với nhau theo lời lẽ bản thông báo chung trên đây. Ngoài một lời thông báo mơ hồ rằng họ đã “làm xong việc cắm mốc rồi” thì không ai biết họ đã cắm cái gì ở đâu, cắm ra sao!

Bản thông báo mơ hồ đó sẽ bị các chính quyền Trung Quốc lợi dụng. Ngay bây giờ hoặc hàng trăm năm sau này, khi không còn chế độ Cộng Sản ở cả hai nước nữa, các người nắm quyền ở Bắc Kinh có thể vin vào câu “hoàn tất quá trình cắm mốc” này để nói rằng trên căn bản, những người cầm quyền ở Hà Nội đã thỏa thuận hoàn toàn với những cột mốc mà người Trung Hoa đã cắm, cho tới ngày 1 Tháng Giêng năm 2009! Bao giờ thì hai bên mới kiểm tra lại được tất cả 2,000 cây cột, so với các bằng chứng lịch sử, để coi mỗi cây cọc có cắm đúng chỗ hay không? Chính quyền Cộng Sản Việt Nam đoán rằng phải mất cả năm mới hoàn tất việc đó. Nhưng nếu khi đi kiểm tra mới nhận ra những điểm sai lầm, cố ý hoặc sơ xuất, ngay trên thực địa, thì còn phải tranh luận cho tới bao giờ? Nếu công việc đó mất một năm trời mới xong, thì tại sao không đợi tới lúc đó hãy thông báo việc hoàn tất? Tại sao phải thông báo chung “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” ngay từ bây giờ, ngay đầu năm 2009?

Ở trong “thông báo đã hoàn tất” này có một điều gì khuất tất, cho nên họ mới nói việc hoàn tất “trong năm 2008 như hạn định.” Ai ấn định ra cái hạn định phải làm xong trong năm 2008? Chỉ có mấy ông bà trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới biết vì đâu các đồng chí Trung Quốc lại ra cái hạn định đó. Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết đều đã gặp các người cầm đầu đảng Cộng Sản và chính phủ Trung Quốc. Không biết rằng khi đi nói chuyện như vậy thì họ nhân danh chính phủ nước này nói với chính phủ nước kia, hay họ mang danh nghĩa các đồng chí Cộng Sản Việt Nam nói chuyện với các đồng chí Cộng Sản Trung Quốc? Nếu là đồng chí Cộng Sản với nhau thì mọi chuyện rất dễ nói. Vì đối với các con người Cộng Sản, biên giới quốc gia là một di sản của thời kỳ tư bản bóc lột, do ý thức hệ tư bản bầy đặt ra. Người Cộng Sản đổ máu đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản toàn thế giới, những con người vô sản thì không có quê hương! Ðúng hơn, đối với các chiến sĩ vô sản thì nơi nào có chế độ Cộng Sản nơi đó chính là quê hương! Ông Lê Duẩn đã nổi tiếng với lời tuyên bố coi Liên Xô là quê hương thứ hai của ông.

Gần đây, một trên báo điện tử ở Việt Nam có phỏng vấn một tác giả ở Quảng Tây chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Giáo Sư Hoàng Tranh đã in cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc vào năm 1990, bản tiếng Việt dầy 400 đã được dịch và ấn hành. Nhà báo nghe tác giả Hoàng Thanh kể rằng “trong những tháng cuối cùng cuộc đời Hồ Chí Minh, túc trực bên giường bệnh của ông là một đoàn bác sĩ Trung Quốc, cùng với các bác sĩ Việt Nam.” Chúng ta biết vào những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc dưỡng bệnh nhiều tháng để được các y sĩ Trung Hoa điều trị. Trong sách trên, Hoàng Tranh kể, một buổi chiều cuối Tháng Tám, có lúc tỉnh lại, Hồ Chí Minh nói với các bác sĩ người Tầu: “Tôi muốn nghe ai hát một bài ca Trung Quốc.” Một y tá của bệnh viện Bắc Kinh bèn cất giọng hát cho ông nghe, Hoàng Thanh viết, “Hồ Chủ Tịch nghe xong, mỉm cười, và đấy là nụ cười chót của ông trước khi hôn mê cho đến lúc qua đời.” Hồ Chí Minh chết ngày 2 Tháng Chín năm 1969. Những chi tiết trên đây đã được đăng trên báo điện tử ở Việt Nam.

Con người ta lúc sắp chết ai cũng nhớ đến quê hương của mình, ông Hồ Chí Minh khác, ông muốn nghe một bài hát Trung Quốc. Ông đúng là một con người quốc tế, không có đầu óc chật hẹp như đa số chúng ta! Nụ cười sau cùng trên môi ông là cảm xúc về một bài hát tiếng Trung Quốc, chứ không phải là một bài mẹ ru con vùng Nghệ Tĩnh.

Nhưng đại đa số người Việt Nam không chia sẻ chí hướng “cách mạng vô sản toàn thế giới” của ông Hồ và các đồng chí do ông dậy dỗ. Cho nên mọi người Việt bình thường vẫn thắc mắc về những mảnh đất đã mất, những miền biển đã bị cướp. Cho nên trong nấy ngày đầu năm 2009 trên các mạng lưới ở Việt Nam lại xôn xao chuyện biên giới Việt-Trung. Câu hỏi cuối cùng vẫn là: “Tại sao họ phải hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008?”

Rất có thể vì trong năm qua các ông lãnh tụ Cộng Sản ở Việt Nam đã gặp các đồng chí Trung Quốc rồi phải chấp nhận một điều kiện của họ là “hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008” thì mới được họ đáp lại bằng những điều khác. Chúng ta không biết được hai đảng Cộng Sản đã trao đổi những quyền lợi nào với nhau. Nhưng có thể đoán rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc rất thiết tha hoàn tất việc cắm mốc biên giới càng sớm càng tốt. Họ có thể muốn ăn chắc. Ai biết được, sang năm các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng còn ngồi đó hay không? Ai biết được bao giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam cũng phải nhả chính quyền ra cho dân tự do bầu cử chọn lấy? Ở đời có cái gì bền mãi đâu?

Muốn ăn chắc, Cộng Sản Trung Quốc ấn định một cái mốc: hoàn tất việc cắm mốc biên giới trong năm 2008! Trước ngày cuối năm, ông Vương Gia Thụy, trưởng ban đối ngoại của trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bay sang Hà Nội. Ðã có một thứ trưởng ngoại giao, lại gửi qua thêm một ủy viên trung ương đảng, chắc hẳn là để nhắc nhở các đồng chí Cộng Sản Việt Nam về tình đoàn kết Cộng Sản toàn thế giới!

Nhưng chắc các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam cũng khôn chứ không ngu dại. Họ đồng ý với các đồng chí Trung Quốc, nhưng suốt năm vẫn trì hoãn. Ðến cuối năm, họ không dám ký một nghị định thư mà chỉ làm một bản thông báo chung thôi. Cũng giống như ông Phạm Văn Ðồng ngày xưa vậy, nghĩ rằng mình cứ nói “tán thành” chung chung, không nói tán cái gì và thành cái gì cả, cũng được. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, Phạm Văn Ðồng làm sao đánh lừa được Chu Ân Lai! Ký một chữ, ghi tên vào lịch sử!

Bây giờ cũng vậy. Bản thông báo chung loan tin “hoàn tất việc cắm mốc” nhưng không cho biết chi tiết cái mốc nào ở đâu. Sẽ từ từ coi, sẽ bàn cãi thêm. Nhưng trong khi bàn cãi như vậy, bên nào sẽ mạnh miệng? Người ta bảo “mạnh vì gạo, bạo vì tiền!” Bây giờ hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập Việt Nam, đến nỗi quả trứng, mớ rau nhập từ Trung Quốc cũng rẻ hơn hàng sản xuất ở Việt Nam! Nếu ông Vũ Ðại Vỹ đạt được đúng yêu cầu ông nói, là “phát triển sâu rộng quan hệ hợp tác chiến lược song phương” thì không biết công nhân các xí nghiệp Việt Nam, các nhà nông Việt Nam còn có việc gì làm không, ngoài việc đi làm mướn cho Trung Quốc?

Ví thử các cuộc tranh luận về 2000 cột mốc kéo dài hàng trăm năm mới kết thúc, thì trong thời gian đó, dù chưa có bản hiệp định nào được ký kết cả, chính quyền ở Bắc Kinh vẫn có thể vin vào bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 để nói với cả thế giới rằng một chính quyền đại diện cho toàn thể nước Việt Nam đã công nhận là việc cắm mốc kết thúc tốt đẹp mĩ mãn rồi! Không còn gì để bàn cãi lại nữa!

Và như vậy thì cái tên ông Nguyễn Tấn Dũng hàng trăm năm sau sử sách sẽ còn ghi cho hậu thế không quên!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bush để Gaza lại cho Obama

Ngô Nhân Dụng

Gaza là dải đất nằm giữa Ðịa Trung Hải và nước Israel, dài 41 cây số, rộng từ 6 đến 12 cây số, một cạnh ngắn dài 11 cây số tiếp giáp với Ai Cập. Biên giới chính với Israel là lằn gianh ngưng bắn được thỏa thuận từ năm 1950 sau khi Israel tuyên bố độc lập và các nước Á Rập chung quanh đồng loạt tấn công để ngăn nhưng thất bại.

Cuộc tấn công của quân đội Israel cắt Dải Gaza làm ba phần trong ba ngày qua là biến cố sau cùng trong chuỗi những hậu quả do việc thành lập quốc gia của người Do Thái. Ðây là một cuộc chiến giữa chính phủ Israel và những người Á Rập sống trong vùng Palestine bị mất đất từ khi nước Israel ra đời. Từ khi liên quân Á Rập thua Israel năm 1948, chính phủ Ai Cập quản trị Dải Gaza, cho đến năm 1967 thì vùng này bị Israel chiếm. Thỏa hiệp năm 1993 đặt Gaza cũng như miền Tây Ngạn sông Jordan dưới chính quyền của người Palestine, nhưng từ năm 2007 miền đất Gaza đã tuột ra khỏi tay chính quyền đó, sau khi dân chúng bỏ phiếu cho đảng Hamas, với khuynh hướng chống Israel mạnh hơn. Năm ngoái đã có một thỏa thuận ngưng bắn giữa Israel và chính quyền Hamas, nhưng từ gần hai tuần qua quân Israel đã tiến vào Gaza để tiễu trừ các nhóm du kích Hamas, sau khi Hamas bắn hỏa tiễn vào nước Israel. Sau 10 ngày bỏ bom và ba ngày đánh trên bộ, đã có hơn 600 người Palestine bị giết chết, hầu hết là thường dân; còn quân đội Israel thiệt mạng 5 người.

Ngoại Trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã bãi bỏ chuyến đi Trung Quốc vì cuộc chiến bùng nổ ở Dải Gaza. Nhưng từ đầu chính phủ George W. Bush đã giữ một thái độ không can thiệp, không ý kiến; cho tới ngày hôm qua, khi bà Rice đi New York để cùng các nước trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bàn về một nghị quyết yêu cầu hai bên ngưng bắn. Trong vài tuần nữa, khi Tổng Thống Tân Cử Barack Obama tuyên thệ thì có thể Tổng Thống George W. Bush sẽ vui vẻ nhường cho tân tổng thống lo nốt vụ ngừng bắn ở Dải Gaza.

Tổng Thống Bush trong 8 năm qua vẫn tỏ ra không thiết tha dự vào vấn đề xung đột Palestine và Israel, ngoài thái độ ủng hộ chính phủ Israel một cách quyết liệt. Cuộc bầu cử ở Palestine năm 2006 là do chính phủ Mỹ thúc đẩy, trong chương trình “dân chủ hóa” vùng Trung Ðông mà Tổng Thống Bush coi là mục tiêu chính sau khi tấn công Iraq. Nhưng khi nhóm Hamas có khuynh hướng cực đoan thắng thế và đảng Fatah ôn hòa bị thua thì chính phủ Mỹ lần lần đứng ra xa, để cho người Palestine tự xử với nhau. Cuối cùng đảng Fatah vẫn nắm quyền trong vùng Tây Ngạn (West Bank) còn Hamas làm chủ Dải Gaza với một triệu rưỡi dân. Nhóm Hamas được hai chính phủ Iran và Syria hỗ trợ tiền bạc và vũ khí, họ bị chính phủ Mỹ coi là một nhóm khủng bố. Tuy nhiên, trong vùng Gaza tổ chức này cũng cung cấp cho dân chúng các cơ sở giáo dục, y tế, tôn giáo, xã hội, chứ không phải chỉ là một nhóm thuần túy quân sự.

Trong vụ đổ máu từ mươi ngày qua, chính phủ Israel đổ lỗi tại du kích quân Hamas đã bắn hỏa tiễn sang Israel sau khi thỏa thuận đình chiến chấm dứt ngày 19 tháng 12 năm 2008; nhưng nhóm Hamas lại tố cáo quân đội Israel đã khiêu khích trước bằng việc thắt chặt việc phong tỏa biên giới không cho dân Palestine được tiếp tế thực phẩm và thuốc men.

Vậy tại sao Israel mở cuộc hành quân trên bộ sau khi đã oanh tạc các căn cứ hỏa tiễn của nhóm Hamas? Chính phủ Israel cho biết họ muốn dẹp hết các căn cứ du kích, xóa bỏ các đường hầm sâu dưới đất vẫn đem vũ khí từ Ai Cập sang Gaza. Và chắc chắn họ muốn tiêu diệt nhóm Hamas, càng nhiều càng tốt. Nhưng một nguyên nhân rất gần là cuộc bầu cử sắp tới bầu quốc hội Israel và bầu chức vụ thủ tướng. Chính phủ Israel, với ông thủ tướng đã từ chức, phải tỏ ra cứng rắn để bảo vệ vai lãnh đạo của đảng họ. Bà Ngoại Trưởng Tzippi Livni và ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Ehud Barak đều sẽ ứng cử thủ tướng, trong khi lãnh tụ phe đối lập là cựu Thủ Tướng Benjamen Netanyahu có khuynh hướng cứng rắn đang được nhiều cử tri ủng hộ hơn. Netanyahu đã chỉ trích chính phủ không bảo vệ được an ninh, trước các vụ bắn hỏa tiễn của Hamas, khiến chính phủ Israel không thể bất động.

Chính phủ Israel có thể đè bẹp quân Hamas, như họ đã làm trong mấy ngày qua, nhưng họ biết không thể nào tiêu diệt hết được nhóm này. Nhóm Hamas đã theo chiến thuật cổ điển trong chiến tranh du kích, là khi gặp bên địch với lực lượng mạnh hơn thì tránh không đụng độ. Nhóm này đang bảo vệ thành phần thiện chiến nhất và các quân du kích cảm tử của họ để chờ ngày khác sử dụng. Cả hai bên đều có thể kéo dài cuộc chiến hiện nay mà cuối cùng sẽ không đưa tới một bên nào chiến thắng rõ rệt về quân sự. Quân Israel có thể sẽ san bằng nhiều căn cứ của Hamas nhưng chắc sẽ không muốn đóng quân lại trong Dải Gaza mà họ đã giữ suốt 40 năm rồi bỏ đi. Kinh nghiệm cuộc xâm lăng Lebanon năm 2006 cho thấy quân Israel không phải là bách chiến bách thắng khi đụng độ với đội quân du kích Hizbollah. Lần đó, sau cùng quân Israel đã rút về mà không tiêu diệt được nhóm Hizbullah do Iran và Syria giúp đỡ. Quân Hamas nhỏ hơn và yếu hơn Hizbollah, nhưng họ cũng được dân Palestine trong Dải Gaza ủng hộ triệt để. Cho nên cả hai phe sẽ tiếp tục cầm cự, chờ những diễn biến quốc tế đưa tới một cuộc ngưng bắn. Trong khi chờ đợi cả hai đều tận dụng thời gian này để chiếm những lợi thế khi cuộc ngưng bắn bắt đầu.

Ðối với chính phủ Israel, họ cố làm cho nhóm Hamas yếu hơn nhiều, một cách ủng hộ đảng Fatah trong cuộc tranh chấp nội bộ của người Palestine; mà ngày 9 tháng này trên nguyên tắc ông chủ tịch Mahmoud Abbas phải tổ chức bầu cử lại. Ðối với quân Hamas, họ nhắm vào các mục tiêu chính trị hơn là quân sự.

Khi cuộc chiến mới nhất nổ ra, nhiều chính phủ Á Rập trong vùng không tỏ ra bênh vực nhóm Hamas, trong đó có chính phủ Ai Cập, mà trong cuộc tranh chấp nội bộ của người Palestine họ nghiêng về phía đảng Fatah. Nhưng sau khi cảnh dân chúng Palestine ở Gaza bị tàn sát được chiếu trên truyền hình khắp thế giới Á Rập, dư luận đã tỏ ra phẫn nộ về phản ứng quá tay của quân Israel, do đó nhiều người bắt đầu ủng hộ nhóm Hamas. Những chính phủ Hồi Giáo và Á Rập chủ trương ôn hòa đối với Israel bây giờ cũng lên án cuộc tấn công làm chết hơn 600 người. Cuộc chiến ở Gaza đã ảnh hưởng tới cả các nước Âu Châu, khi nhiều vụ bạo động đã diễn ra đối với các cơ sở của người gốc Do Thái sống ở Pháp, Anh, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, vân vân; nhiều khẩu hiệu chống Do Thái lại xuất hiện. Ðối với nhóm Hamas thì cuộc chiến càng kéo dài càng giúp họ tuyên truyền chống Israel và chống Mỹ trong thế giới Hồi Giáo, và nhờ thế sau này họ sẽ được ủng hộ nhiều hơn.

Cả hai bên đang chuẩn bị tuyên bố chiến thắng khi nào họ thỏa thuận việc ngưng bắn. Chính phủ Israel sẽ xin được sự ủng hộ của các cử tri trong cuộc bầu cử tháng tới, vì họ đã tỏ ra cương quyết bảo vệ an ninh cho dân. Nhóm Hamas sẽ coi bất cứ cuộc ngưng bắn nào bảo đảm Israel phải mở đường giao thông, thương mại và tiếp tế cho dân trong Dải Gaza là một chiến thắng của họ. Khi nào quân Israel rút khỏi Gaza, họ sẽ ăn mừng chiến thắng lần nữa. Hiện nay cả hai bên đang kéo dài cuộc tranh chấp, bên Israel cố tiêu diệt đối phương còn bên Hamas cố tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng.

Cuộc chiến ở Gaza trong mươi ngày qua có thể chỉ xảy ra và kéo dài vì ở Mỹ đang là một thời kỳ chuyển tiếp giữa hai vị tổng thống. Chính phủ của Tổng Thống Bush không có lý do gì để đưa ra những hành động mạnh mẽ trong khi đang chờ ngày hết trách nhiệm. Ông Obama vẫn nêu một lý do quen thuộc là trong nước chỉ có một người là tổng thống thôi, mà hiện nay người đó là Tổng Thống Bush, để tránh bầy tỏ ý kiến rõ rệt.

Bà Condoleezza Rice đã nói đến một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc yêu cầu hai phe ngưng bắn. Nhưng bà lại nói trước rằng cuộc ngừng bắn phải có tính cách “dài hạn, giữ được lâu bền, và không bị giới hạn về thời gian.” Ðây là một câu nói khó hiểu. Thường khi nói “ngưng bắn” bao giờ người ta cũng nghĩ đó là một hành động cấp tốc, cho nên có tính cách tạm thời, trong khi chờ các giải pháp dài hạn. Cho nên, những điều kiện mà bà Rice đưa ra có nghĩa là 5 cường quốc thường trực của Hội Ðồng Bảo An sẽ còn phải thảo luận rất lâu. Khi nào chính phủ Israel thấy họ đã đánh quân Hamas đến mức có đánh thêm cũng không lợi thêm bao nhiêu nữa, họ có thể sẽ đồng ý việc ngưng bắn. Chính phủ Israel hiện nay có thể tuyên bố chiến thắng trước ngày bầu cử đầu Tháng Hai này. Khi đó chắc chính phủ Mỹ sẽ thấy việc ngưng bắn có thể kéo dài và bền vững, đáng ủng hộ. Trong bốn tuần chờ đợi sắp tới, các nước Âu Châu sẽ đóng vai tích cực đưa ra các sáng kiến để giúp chính phủ Israel có cớ nói chuyện lại với quân Hamas về thỏa hiệp ngưng bắn, qua trung gian của Âu Châu, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ.

Khi đó có thể ông Barack Obama đã vào Tòa Bạch Ốc rồi, và chính phủ Mỹ chỉ việc đứng ra đóng vai bảo kê cho việc ngưng bắn được hai bên tôn trọng, ít nhất được mấy năm cho tới khi có những lý do khiến họ thôi không muốn yên nữa! Sự thay đổi một người làm tổng thống Mỹ sẽ không ảnh hưởng gì mấy đến chính sách ngoại giao của nước này. Mỹ vẫn phải coi Israel là đồng minh số một trong vùng, và Israel thì lúc nào cũng lo bị người Á Rập đe dọa, họ phải lo tự vệ. Trong lịch sử họ đã thấy phương pháp tự vệ hiệu quả nhất là tấn công đối thủ trước khi nó mạnh quá. Ngược lại, các nước Á Rập trong vùng cũng không tha thiết gì với việc một nước Palestine thống nhất và theo thể chế dân chủ tự do ra đời, trong khi dân chúng các nước Á Rập khác vẫn còn chưa được tự do. Cho nên các nước này ủng hộ các phe nhóm trong dân Palestine nhưng chỉ ủng hộ vừa đủ để khỏi mang tiếng mà thôi. Chỉ khi nào người Palestine đồng ý được với nhau một chiến sách chung thì họ mới lập quốc được, mà điều này chưa thấy có triển vọng nào là sẽ xẩy ra. Cho nên cuộc tranh chấp giữa dăm triệu người Israel và mấy trăm triệu người Á Rập trong vùng này sẽ còn kéo dài không biết bao giờ mới hết. Một hay hai đời tổng thống Mỹ cũng không làm thay đổi thế cân bằng lực lượng giữa Israel và các nước Á Rập được.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

TQ Có Thể Sụp Đổ?

Trần Khải

Trung Quốc có thể sụp đổ hay không? Nếu có cơ sụp đổ như thế, phải là do một áp lực lớn, gay gắt, dữ dội và mãnh liệt nhiều lần hơn phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989.

Hẳn nhiên, không ai nghĩ rằng Đài Loan sẽ đưa quân vào chiếm lục địa. Cũng không thể có chuyện nổi dậy ở Tây Tạng, Tân Cương. Cũng không có bàn tay phù phép CIA nào có thể làm nhà nước Bắc Kinh sụp đổ. Nhiều phần có thể suy đoán, rằng sụp đổ hay biến đổi bản chất phải là tự trong lòng chế độ. Có thể là sẽ có một Gorbachev, hay một Yeltsin… Cũng có thể là dân đói và nổi loạn… Cũng có thể tự Đảng CSTQ tách làm đôi vì cơ duyên nào đó, và rồi bất khả hàn gắn…

Nhưng đối với nhiều nhà nghiên cứu tại các đại học Hoa Kỳ, nếu TQ sụp đổ nhiều phần sẽ là do tham nhũng quá độ.

Nhà khoa học chính trị Pei Minxin đã viết một bản nghiên cứu phổ biến tháng trước bởi viện Carnegie Endowment of International Peace, bản doanh ở Washington. Họ Pei là nhà khoa học chính trị tốt nghiệp ở đại học Shanghai International Studies University tại Thượng Hải, rồi có bằng Tiến Sĩ ở Đại Học Harvard và có các tác phẩm in tại Mỹ.

Bản khảo sát khẳng định rằng tham nhũng tại Trung Quốc "đã có ảnh hưởng tràn qua biên giới" và làm thiệt hại các nhà đầu tư Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác.

Bản văn viết, "Hành vi bất hợp pháp của các cán bộ địa phương có thể làm các công ty Tây Phương thiệt hại lớn về môi trường, nhân quyền và tài chánh."

Không phải Pei là người duy nhất đưa ra tiên đoán đó. George Zhibin Gu, một chuyên gia ngân hàng đầu tư tốt nghiệp ở đại học Nanjing University và đậu bằng Tiến Sĩ ở University of Michigan, đã nhận xét rằng tham nhũng có thể phá hủy kinh tế TQ.

Không phải chỉ các chuyên gia tại Mỹ mới nói như thế. Bản tin Reuters hôm 6-1-2009 nhan đề "China faces wave of unrest in 2009" (TQ đối diện làn sóng bất ổn trong năm 2009) cũng ghi nhận rằng Đảng CSTQ cũng thấy cơ nguy sụp đổ.

Bản tin viết rằng báo nhà nước Liaowang Magazine, phát hành bởi thông tấn nhà nước Xinhua, đã cảnh báo thẳng thừng về bất ổn năm 2009 vì sẽ tăng vọt các cuộc biểu tình, khi thất nghiệp lên cao làm bất mãn giới công nhân nhập cư và sinh viên đại học.

Phóng viên kỳ cựu Huang Huo của Xinhua nói trên báo này rằng, "Không ngờ vực gì, bây giờ chúng ta đang vào thời kỳ đỉnh điểm của sự cố đám đông." Kiểu nói bí hiểm "sự cố đám đông" (mass incidents) là kiểu nói để chỉ các cuộc biểu tình và nổi loạn.

Bài báo viết, "Năm 2009, xã hội TQ có thể đối diện thêm nhiều mâu thuẫn và xô xát và các chuyện này sẽ thách thức thêm các khả năng lãnh đạo của mọi cấp cán bộ của Đảng và Nhà Nước."

Đe dọa lớn nhất cho ổn định TQ sẽ tới từ sinh viên đại học ra trường, gặp thị trường việc làm co cụm và đồng lương khó khăn hơn, và từ một làn sóng thợ nhập cư những người đã mất việc làm vì các hãng xưởng làm hàng xuất khẩu bị đóng cửa.

Tình hình nhiều tháng nay đã có nhiều hãng xưởng đóng cửa, và các trở ngại an sinh xã hội đã khởi sinh ra nhiều đợt biểu tình gần đây. Cán bộ các tỉnh nơi đã cung cấp việc làm cho hàng chục triệu công nhân nhập cư tại các hãng xưởng ở các tỉnh ven biển, bây giờ báo cáo có bước tăng vọt số người về lại làng quê sau khi mất việc và không tìm ra việc mới.

Thống kê nhà nước TQ ước tính là gần 10 triệu công nhân từ làng lên tỉnh nhập cư đã mất việc, theo bài báo, nhưng không nói rõ thời gian các việc này khai sinh.

Khi tính cả sinh viên tốt nghiệp năm 2008 và chưa tìm được việc, sẽ có hơn 7 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học năm nay đi tìm việc làm, theo ước tính của Huang.

Bài báo nói mục tiêu chính phủ TQ là đạt mức tăng thường niên GDP ở mức 8% cho năm 2009, thì chỉ tạo ra được 8 triệu việc làm cho cả nước. Trong năm 1989, chính các sinh viên bất mãn đã làm nòng cốt cho các cuộc biểu tình đòi dân chủ.

Huang viết, "Nếu trong năm 2009, có nhiều lao động nhập cư thất nghiệp không tìm việc được trong vòng nửa năm hay lâu hơn, cứ đi vòng quanh thành phố với không có đồng lương nào trong túi, thì vấn đề sẽ nghiêm trọng hơn."

Huang là Trưởng Phòng Xinhua tại thành phố Chongqing.
Có thể Trung Quốc sẽ sụp đổ? Vì tham nhũng, vì thất nghiệp, vì ý thức dân chủ của người dân, hay vì nhiều yếu tố gộp lại?
Có một hiệu ứng cơ may sẽ thấy là: nếu Trung Quốc sụp đổ, nhà nước CS Việt Nam sẽ có thể sụp đổ dây chuyền…

TRẦN KHẢI

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Madoff: Một Bài Học Cho Dân Tỵ Nạn

VŨ LINH .
trong thế giới tư bản cá lớn nuốt cá bé này, chẳng có gì “chùa” hết...

Trung tuần tháng 12 vừa qua, giới tài phiệt Wall Street ở New York bị rúng động bởi một trận động đất kinh hồn.Không phải động đất sập nhà rớt cầu gì. Cũng chẳng phải thị trường chứng khoán lại tuột cả ngàn điểm như hồi tháng 10. Lần này là tin một đại tài phiệt bị bắt vì tội lừa đảo thuộc loại siêu cao cấp.

Quá cao cấp đối với dân tỵ nạn chúng ta.
Nhưng chúng ta cần biết vì kiểu lừa gạt này thật ra rất thông thường, nhiều người tỵ nạn nghèo mạt cũng đã là nạn nhân. Và nhiều người sẽ tiếp tục là nạn nhân nếu cả tin mà không chịu tìm hiểu.

Ông Bernard Madoff bị FBI bắt ngày 11 tháng 12 vừa qua vì tội lừa gạt một số tiền vô tiền khoáng hậu ước lượng là hơn 50 tỷ đô la. Hãy tưởng tượng là 50 tỳ đó gồm toàn giấy 100 đô và mình mà nhẩn nha đếm cả 50 triệu tờ giấy trong tám tiếng một ngày mỗi giây một tờ (lẹ hơn tiêu hay đốt) thì phải mất hơn bốn năm! Nhiều lắm. Sáu ngày trước khi bị vồ, ông ta còn chộp được 10 triệu đô la của một nạn nhân là đại gia tại New York . Chưa bao giờ lịch sử nhân loại lại có chuyện một người lừa tiền thiên hạ đến mức kinh khủng như vậy (lừa tiền thôi, chứ lừa xương máu cách mạng hay độc lập dân tộc thì có nhiều lắm, khỏi nói ở đây cho lạc đề!)


Ông Madoff này là một đại gia tài chánh ở New York . Là Chủ Tịch một công ty đầu tư tuy ít người biết nhưng rất thành công và có tiếng trong giới tài chánh cao cấp. Trước đây có lúc ông đã là Chủ Tịch Thị Trường Chứng Khoán NASDAQ, nơi giao dịch cổ phiếu của các công ty phần lớn hoạt động trong ngành kỹ thuật cao cấp điện toán, mạng internet… như Yahoo, Google, Microsoft, Apple, Cisco, …

Nhờ địa vị đó, ông là một trong các tài phiệt nặng ký, có uy tín rất lớn trong thế giới tài chánh, từ Nữu Ước đến Luân Đôn, Ba Lê, Mu Ních, Đông Kinh, Thượng Hải, …

Ta không cần đi vào chi tiết chuyện lừa đảo của ông, nhất là khi nhà chức trách còn điều tra, chưa có gì rõ ràng. Chỉ cần biết là cái mánh ông Madoff dùng thường được gọi là “Ponzi scheme”, mánh Ponzi, sau này biến thể ra thành một “pyramid scheme”, mánh kim tự tháp.

Ponzi là tên một di dân trẻ gốc Ý Đại Lợi. Đầu thế kỷ, anh di cư qua Mỹ lập nghiệp. Anh nghĩ ra một mánh khoé làm ăn nhờ đó từ hai bàn tay trắng, trở nên triệu phú trong vòng chưa đầy sáu tháng.

Đại khái, anh mở một cái bi-di-nét mua qua bán lại phiếu tem bưu điện. Rất thường. Nhưng anh hứa với những người hùn hạp làm ăn với anh là họ sẽ được lời cỡ 50% trong vòng 45 ngày, tức là vốn đầu tư sẽ tăng gấp đôi trong vòng ba tháng. Nhiều người phiêu lưu muốn thử thời vận bèn nhẩy vào và quả nhiên, đúng như anh hứa thật, lời 50% trong 45 ngày. Không sai.

Tiếng đồn bung ra, hơn 40.000 người xúm lại tặng tiền cho anh, anh thu được khoảng 15 triệu (tương đương với mấy trăm triệu tiền ngày nay) và anh trở thành triệu phú trong vòng sáu tháng.

Trên căn bản, cái mánh này thật là giản dị. Anh thu tiền mặt của thiên hạ, ghi vào sổ, kiểu như sổ tiết kiệm ngân hàng vậy. Bốn mươi lăm ngày sau, anh cũng ghi vào sổ số tiền lời 50% thật. Người đầu tư mê quá, chẳng những không rút tiền ra, mà lại bỏ thêm vào nữa, và cứ như thế thấy số vốn đầu tư của mình tăng vọt mau chóng… trên sổ sách.

Có những người đa nghi hơn, rút tiền ra ngay sau khi thấy lời. Và anh Ponzi này trả tiền cho họ ngay, rất sòng phẳng, với số tiền lời vĩ đại đúng như anh hứa. Anh lấy tiền mấy người mới tham gia vào để trả cho họ. Có người chắc ăn, lấy tiền ra rồi đi luôn. Nhưng chỉ là thiểu số. Phần đông những người đầu tư khác thấy có lời lớn thật, thì tin tưởng lại, bỏ tiền vào trở lại, rồi lại bỏ thêm nhiều hơn nữa để hy vọng có lời thêm nữa. Mấy người khác nhìn vào cái gương này, an tâm, cũng bỏ thêm tiền vào.
Cái mánh của anh Ponzi là thuyết phục được các tay đầu tư tiếp tục đưa tiền cho anh, càng ngày càng nhiều. Thêm vào đó, càng ngày sẽ càng có nhiều người nhẩy vào cuộc, đưa thêm tiền cho anh. Nền tảng của cái tính toán của anh Ponzi này chỉ là đánh vào lòng tham của thiên hạ.
Nhưng anh lại trở thành nạn nhân của chính sự tham lam, thành công quá nhanh của anh. Cái kim tự tháp xây trên cát sụp đổ mau lẹ và anh bị xộ khám mau chóng, chưa kịp ăn hưởng gì. Chỉ để lại cho đời cái tên: "mánh Ponzi".

Ông tài phiệt tân thời Madoff cũng làm ăn theo mánh đó. Qua trung gian công ty đầu tư của ông, ông cũng hứa lời lớn. Nhưng ông rất khôn khéo, rào trước đón sau rất kỹ lưỡng, một cách rất quy củ, rất khoa học, nghĩa là khó tính, chọn lọc khách hàng, chứ không phải là ai muốn góp tiền đầu tư cũng được!. Số tiền lời của ông trả lại thiên hạ không lớn quá như của cái anh Ponzi, nhưng rất chắc nịch, năm này qua năm khác, khiến các nhà đầu tư tin tưởng vào khả năng đầu tư có lời của ông.

Lấy ví dụ, Nasdaq có lên 5% thì ông cho các nhà đầu tư của ông ăn 8%-10%. Nasdaq có xuống 5% thì đầu tư của ông chỉ sụt theo 2%. Ăn ít no dai. Ông Madoff này làm ăn như vậy từ 1960 đến giờ mới bị bắt!
Điểm đặc biệt của ông là ông không phải tay làm ăn cò con.

Madoff có tôn chỉ là "chọn mặt lấy vàng"! Chỉ nhận làm ăn với các triệu phú, tỷ phú, các đại công ty đầu tư, các đại ngân hàng. Rất ít nhà đầu tư chứ không dựa vào số đông quần chúng. Nhưng số người này bỏ vào cho ông những số tiền bạc triệu, bạc tỷ, càng ngày càng lớn. Theo tin báo chí, một nhà đầu tư Pháp đã tự tử vì bị mất hết gia tài của cả họ hàng trong nhà, đâu một tỷ rưỡi đô. Một số ngân hàng lớn nhất thế giới cũng bị lỗ cả tỷ bạc.

Công ty đầu tư của ông trên sổ sách hiện nay có khoảng 17 tỷ đô tài sản, nhưng khi cảnh sát coi lại thì… chẳng có gì hết, ngoại trừ các văn phòng, máy điện toán, bàn ghế nhân viên. Chưa ai biết ông Madoff này đã tẩu tán tiền lời của ông đi đâu hết.

Cái mánh Ponzi này đã được một số tay ma đầu biến chế và quần chúng hóa thành cái mà người ta gọi là "mánh kim tự tháp".
Cái mánh kim tự tháp rất thông thường, và có dịp phát triển mau chóng trong giới dân trung lưu hay nghèo, ít hiểu biết về những khúc mắc tài chánh. Chỉ thấy dễ ăn, có lời nhiều là rủ rê bạn bè, thân nhân vào.
Điển hình là ta thấy có nhiều chương trình bán hàng dựa trên mánh kim tự tháp, nhất là trong những ngành bán mỹ phẩm, thuốc tễ dưỡng sinh, và bảo hiểm nhân thọ. Đây là những ngành kinh doanh phổ biến trong đó có rất nhiều công ty lớn và uy tín hoạt động. Do đó, không tránh được chuyện vài tay mánh mung, lợi dụng nước đục thả câu, chui vào khai thác. Nhìn vào, chẳng có cách nào biết được công ty nào chân chính, công ty nào mánh mung.

Trên căn bản, các công ty mánh mung này đi thu dụng một người bán, và đòi hỏi họ đi thu dụng nhiều người khác gia nhập. Mỗi người đi bán đều được ăn huê hồng. Và mỗi khi họ kết nạp được một người mới vào, thì họ cũng ăn huê hồng của người mới này luôn. Cứ như thế tiếp tục, mỗi khi có một lớp người mới vào là họ lại “lên cấp”, ăn thêm huê hồng.
Sự khác biệt giữa Ponzi và kim tự tháp là mánh Ponzi phần lớn dựa vào một người chủ chốt, thuyết phục được những người đầu tư không rút tiền ra mà cứ tiếp tục bỏ thêm tiền đầu tư vào. Một người chủ chốt liên hệ trực tiếp với những người đầu tư.

Ngược lại, mánh kim tự tháp dựa trên căn bản hạ tầng càng ngày càng phát triển, càng ngày càng nhiều người tham gia. Một người thu dụng ba người, rồi ba người này thu dụng thêm ba người nữa, thành ra chín người, từ chín người thành 27 người, v.v… Đun lên như hình cái tháp. Những người tham gia chỉ biết người đã giới thiệu mình mà không biết những người chủ chốt là ai. Để nhóm chủ chốt lấy tiền của người sau trả cho người trước.
Và lý tất nhiên là đến một lúc nào đó, nền tảng đó sẽ không lớn mạnh mãi mãi được, càng ngày sẽ càng ít người mới tham gia. Để rồi đến lúc số tiền trả cho những người lớp trước lớn hơn số tiền thu được nơi những người vào sau. Và rồi toàn thể kim tự tháp sụp đổ.

Thông thường thì mấy người chủ chốt lúc đó đã biến mất từ lâu rồi. Hay số tiền thu được cũng đã bị tẩu tán đi mất hết rồi. Hay anh chủ chốt chỉ cần khai phá sản là… huề. Hay có bị bắt đi tù thì cũng đã ăn hưởng quá no nê rồi. Cái ông Madoff năm nay 70 tuổi, sống cuộc đời vương giả của một triệu phú từ gần 50 năm nay, bây giờ có vào tù vài năm rồi chết trong tù cũng… chẳng sao. Vợ con vẫn còn cả triệu sống đời này qua kiếp khác.
Mánh kim tự tháp này có rất nhiều hình thức.

Điển hình nhất là các phong trào bán hàng thông dụng, ví dụ mỹ phẩm. Mỗi người tham gia đều phải bỏ tối thiểu vài trăm, vài ngàn mua một lô mỹ phẩm về bán. Hàng đã trả tiền trước rồi, nên công ty không cần biết, muốn bán sao cũng được, cách nào hay giá nào cũng được, hay nuốt lấy cũng được (tức là để trong nhà). Sau khi đã lấy lô mở hàng rồi thì có quyền mua thêm, và bắt đầu được ăn huê hồng. Mức huê hồng càng ngày càng cao.

Mặt khác, nếu giới thiệu bạn bè, thân nhân vào làm chung thì lại còn được ăn huê hồng tiền giới thiệu, rồi huê hồng trên số hàng của người mới vào bán được. Rồi cứ thế tiếp tục “lên cấp”, càng ngày càng nhiều huê hồng. Và theo lời hứa hẹn, đến lúc nào đó, không cần bán gì nữa, chỉ ngồi nhà chơi, ăn huê hồng trên đầu những người mình giới thiệu vào, và những người được giới thiệu vào sau, theo kiểu giây chuyền chồng chất.
Mỗi năm đều có “đại hội” tổ chức tại những nơi mà chỉ nghe không là đã phải mê, như bồ biển Hạ Uy Di, Cancun… để nghe tuyên dương những người đã thành công lớn, lãnh văn bằng, chức vị mới, tiền thưởng, tên tuổi hình ảnh được đưa lên bản tin của công ty, mang về khoe với con cháu, bạn bè…

Đi dự đại hội ở những thiên đường như vậy mà chỉ có trả tiền tượng trưng, rẻ mạt, không hấp dẫn sao được? Nhưng thiên hạ quên mất là tiền đi là do chính họ đã trả trước rồi khi bỏ cả trăm, cả ngàn để nhập cuộc. Không thiếu gì trò cám dỗ.

Những người tham gia sẽ được giới thiệu làm quen với những người đã thành công vượt mức, bây giờ đều triệu phú hết. Nhìn vào đó làm gương. Cũng có những người thành công thật, trở thành giàu có thật. Trong cái mánh nào thì cũng có người được hưởng thật. Nếu không thì làm sao chiêu dụ được số đông? Nhưng thực tế là trong cả chục ngàn người tham gia thì những người thành công chỉ đếm trên một bàn tay. Còn lại toàn là dân lao động không công, nếu chưa mất hết vốn lẫn lời là may lắm rồi.
Một hình thức khác cũng khá thông dụng.

Cách đây khoảng mười mấy hai chục năm gì đó, có một lúc có phong trào xâu chuỗi trong một cộng đồng tỵ nạn Việt (xin miễn nói là cộng đồng ở nơi nào).

Đã khá lâu, nên kẻ viết này cũng không nhớ rõ hết chi tiết.
Đại cương thì không biết từ đâu bộc phát ra một cái nghề mới. Đi mua hột về xâu chuỗi, làm vòng cổ, vòng tay cho mấy bà đeo; hay làm chuỗi tràng.
Mỗi người tham gia phải bỏ vào đâu vài ngàn đô cho một công ty tự xưng là chuyên sản xuất xâu chuỗi, làm vốn tiên khởi để lấy dụng cụ, đồ nghề về nhà làm việc tại gia. Rồi sau đó bỏ tiền ra mua một số hột mang về nhà ngồi xâu, xâu xong mang những xâu chuỗi đó giao lại công ty, ăn lời gấp đôi. Ví dụ như bỏ một ngàn đô mua hột, mang giao lại, lãnh hai ngàn đô.

Khi phong trào mới bộc phát, chỉ có vài người phiêu lưu nhào vô xem thử.
Thấy có ăn thật. Bỏ năm trăm đô, mấy ngày sau lãnh về một ngàn ngay. Bỏ thử ra một ngàn nữa, mấy ngày sau cũng thu về hai ngàn ngay. Chắc hơn đinh đóng cột. Rất nhiều điều lợi. Lời gấp đôi, lãnh tiền mặt chẳng khai thuế má gì, việc làm quá dễ, ai cũng làm được, mấy bà ngồi nhà vừa coi phim bộ vừa làm, với sự phụ giúp của mấy đứa con gái, cháu gái.
Thế là cơn sóng thần tsunami xâu chuỗi tràn ngập cộng đồng. Thiên hạ nhẩy bổ vào. Bao nhiêu tiền tiết kiệm trong ngân hàng, hay giấu dưới gầm giường được lôi ra, năm ngàn, mười ngàn, hai chục ngàn, không cần biết. Lời gấp đôi trong có mấy ngày, mấy tuần mà. Ông chồng nào không đồng ý sẽ bị bà xã lải nhải "giấu tiền cho vợ bé hay sao vậy? là hết hồn. Bà vợ nào không đồng ý thì bị chồng chê là làm biếng, kiếm cớ không chịu cầy cuốc kiếm tiền. Rồi lại rủ thêm bạn bè thân nhân, cùng nhau ăn lời, lại được huê hồng giới thiệu người mới vào.

Chẳng ai thắc mắc là sao không thấy mấy xâu chuỗi này bán ở đâu cả! Có hỏi thì được trả lời là bán ở tiểu bang khác, hay bán ở Á Châu, Phi Châu gì đó.

Sự thật, chẳng có ai bán xâu chuỗi gì hết. Những xâu chuỗi mang về giao lại cho công ty, được công ty gỡ ra, lấy hột ra đưa lại cho thiên hạ về xâu tiếp. Cứ thế đến lúc nào đó, mấy anh đầu nậu hết hột để xâu, hay ăn no quá rồi, và quyết định đóng màn, chấm dứt tuồng hát, đi qua nơi khác làm ăn.

Những người “đầu tư” bỏ ra cả ngàn, cả chục ngàn, mang cả thùng xâu chuỗi đến công ty, thì mới hay công ty đã dọn đi mất rồi, điện thoại không ai trả lời. Hỏi nhau thì chẳng ai biết công ty biến đâu mất rồi. Cũng chẳng biết ai là chủ nữa. Thế là mất toi hết vốn lẫn lời, ôm một đống hột không biết làm gì.

Làm gì bây giờ? Đi thưa kiện à? Thưa ai, thưa ở đâu? Dân tỵ nạn tiếng Anh tiếng Mỹ mù tịt, biết thưa gởi gì? Giấy tờ đâu? Bằng chứng gì? Chẳng may thưa gởi, ông thuế vụ lại hạch hỏi “thế mấy trăm mấy ngàn bà ăn lúc đầu đó có khai thuế chưa” thì chỉ có chết. Ngậm bồ hòn thôi.

Dĩ nhiên là mánh mung lừa đảo thì nhiều vô kể và cũng hết sức đa dạng, chẳng thể nào biết hết, kể hết được. Bình luận gia kinh tế trên cột báo này là ông Nguyễn Xuân Nghĩa thì nêu vấn đề với người viết, là dù không thể biết hết mình vẫn cố gắng thông tin cho mọi người cùng hiểu để khỏi bị lừa.

Đành cố gắng trình bày vài ý kiến ở đây cho "phải đạo":
Điều cần biết là trong thế giới tư bản cá lớn nuốt cá bé này, chẳng có gì “chùa” hết. Người Mỹ có câu “there’s no free lunch” - chẳng có bữa ăn nào miễn phí cả. Nếu thấy cái gì quá dễ ăn, chẳng tốn công tốn sức bao nhiêu mà lại lời to thì tốt nhất nên tránh xa, hoặc... tới gần mà hỏi - nhưng không đem tiền theo.

Chẳng hạn như hỏi xem hệ thống đầu tư đó hoạt động từ bao lâu rồi, có cơ quan kiểm toán (kiểm tra kế toán), có khai thuế không, bao nhiêu, và tiền đầu tư đó - kể cả các hạt xâu chuỗi - do cơ sở nào quản lý để sanh lời?... Một điều quan trọng nữa cần để ý: không phải là mình nói chuyện với một đại diện của một công ty lớn là chắc ăn; không ai có thể nói công ty đầu tư của ông Madoff là nhỏ cả. Cho nên, nếu có lòng tham muốn thử thời vận thì cũng được, nhưng gặp họa vào thân thì phải chịu thôi.

Mà nói về họa thì có nhiều mối họa khó tránh lắm!
Đầu năm mới, không dám làm độc giả mất vui mà dẫn lại cái giọng cười cười của ông kinh tế gia trên cột báo này: chạy theo tiền là ra! Phải xem tiền từ đâu rót vào đâu, dùng làm gì để sanh lời cho chúng ta như được quảng cáo hay hứa hẹn? Mà cả một chuỗi xoay vần ấy có sổ sách luật lệ minh bạch không?

Theo lý luận đó thì ta sẽ hết tưởng bở nếu nghĩ đến tiền hưu bổng Social Security: tiền từ mình đóng thuế, thí dụ như FICA, được giao cho nhà nước hay ai đó quản lý để trả lại cho mình sau này khi ta về già. Các chính trị gia đều hứa vậy để lấy phiếu cử tri cao niên nhưng sự thật là khi mình lãnh tiền thì đấy là tiền của thế hệ về sau đóng vào một cái quỹ có nguy cơ phá sản từ lâu. Nếu ông Madoff lại là nhà làm luật và hứa hẹn trả lại thuế cho mình từ một cái quỹ lủng thì các thế hệ về sau sẽ kiện ai khi tiền đã bị xài trước từ lâu rồi?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Quà Kỷ Sửu dai như thịt trâu cho tổng thống tuổi Sửu

Nguyễn Xuân Nghĩa
Với cái tựa rất đẹp, kế hoạch cứu nguy kinh tế của tổng thống tuổi Sửu Barack Obama sẽ là biến cố lớn của năm Kỷ Sửu tại Hoa Kỳ.

Kế hoạch “American Recovery and Reinvestment Plan”, tạm dịch là “Hồi phục và đầu tư mở rộng cho Hoa Kỳ”, sẽ tốn 675, 775, 850 hay cả ngàn tỷ? Chưa biết, nhiều phần sẽ rất cao. Mục tiêu ưu tiên là tạo thêm ba triệu việc làm nội hai năm tới, một sự điều chỉnh theo hướng cao hơn con số ông Obama dự báo trước đây là hai triệu rưỡi. Nếu chỉ tạo thêm hai triệu rưỡi việc mới thì chẳng hóa là thất nghiệp sẽ còn tăng trong hai năm tới sao?

Cùng lễ đăng quang huy hoàng mà đầy thử thách cho nhân viên bảo vệ, kế hoạch vừa kích cầu để phục hồi vừa đầu tư để phát triển sẽ là dấu ấn quan trọng cho cách Obama mở màn. Nhưng thực tế của chính trị Hoa Kỳ lại có nhiều lợn cợn trên nẻo vinh quang của vị tổng thống tân cử.

Trước hết là cái ghế Nghị Sĩ Illinois đang trôi trên con kinh nước đục của Chicago:

Thống Ðốc Rod Blagojevich bị điều tra và truy tố mà vẫn bất chấp luật pháp và dư luận để chỉ định người sẽ thay thế Nghị Sĩ Barack Obama tại Thượng Viện. Một nhân vật da đen mới là éo le! Tổng thống tân cử đã tránh bị vấy bùn vì vụ đó nhưng Thượng Viện trong tay đảng Dân Chủ bị lâm vào trận đồng chí tương tàn. Mà Thượng Viện vẫn thiếu bốn ghế nghị sĩ khi Quốc Hội khóa 111 khai mạc. Tìm đâu 80 phiếu sẽ ủng hộ kế hoạch cứu nguy của Obama?

Ðã vậy, việc Thống Ðốc Bill Richardson có thể rút khỏi chức vụ Tổng Trưởng Thương Mại của nội các Obama - vì đang bị điều tra về mâu thuẫn quyền lợi - lại là cơn gió lật. Ông Richardson là gốc Latino và số nhân vật Latino trong nội các mới càng tăng lại làm giảm số dân cử Latino tại Quốc hội nên họ cũng không mấy vui!

Khi tranh cử, Nghị Sĩ Obama không thể ngờ là tổng thống tân cử lại kẹt vào loại sự đời vớ vẩn đến vậy. Nhưng đấy mới chỉ là vài món khai vị trong thực đơn rất đắng của người sẽ phải lãnh đạo Hoa Kỳ.

Nhìn từ bên ngoài, từ năm châu thế giới, tổng thống tuổi Sửu sẽ còn vất vả hơn nhiều trong năm trâu. Chưa mở màn đã đầy màn khói súng.

Ta chưa biết là khi nào xung đột sẽ bùng nổ giữa hai cường quốc nguyên tử của tiểu lục địa Nam Á là Ấn Ðộ và Cộng Hòa Hồi Quốc Pakistan. Sau vụ khủng bố Mumbai đêm 26 tháng 11, Ấn Ðộ phản ứng mạnh vì vai trò đồng lõa hoặc ít ra là thụ động của Pakistan. Khi Pakistan rút 20 ngàn quân từ vùng tiếp giáp với Afghansitan về phòng ngừa Ấn Ðộ, chiến trường Afghanistan của Mỹ bị trống. Giao tranh mà bùng nổ, chiến lược Afghanistan của Obama sẽ bị tật phong gió ngược.

Ông chuẩn bị nhậm chức trong tinh thần chờ đợi một tin cực xấu từ Nam Á.

Nhưng xấu hơn cả là vụ Gaza, bùng nổ đúng một tháng sau vụ Mumbai. Ðó là việc Israel không tập các căn cứ của lực lượng Hamas trong dải Gaza từ ngày 26 và sau tám ngày tấn công từ xa thì hôm mùng ba đã tung quân vào trận địa. Từ thời Harry Truman đến nay, tất cả các tổng thống Hoa Kỳ đều phải nhá cái gân gà Palestine. Chưa nhậm chức, Tổng Thống Obama đã thấy gân gà còn dai hơn thịt trâu.

Ách tắc Palestine xảy ra từ khi Obama chưa ra đời.

Y như việc phân định ranh giới Ấn Ðộ và Pakistan, chuyện Palestine cũng là một thành tích của liệt cường Tây Phương. Trên quê hương cũ của dân Do Thái nay là đất ngụ cư của dân Á Rập, năm 1948 Tây Phương đã cắm vào đó - như lưỡi dao - một khu vực dành cho quốc gia Israel.

Lịch sử và địa dư đã nặn ra một bài toán không có giải đáp. Xứ Israel là một ốc đảo giữa một đại dương Á Rập theo Hồi Giáo, bên trong có hai khu vực tập trung người Palestine. Lớn là vùng Tây ngạn sông Jordan tiếp giáp xứ Jordan ở hướng Ðông, nhỏ là dải Gaza, sát biên giới Egypt ở phía Tây Nam. Trong một Trung Ðông Hồi giáo có một Israel theo Do Thái giáo; trong Israel có hai khu vực Á Rập. Hai khu vực không chịu sống chung để một quốc gia Palestine có thể hiện hữu và chung sống với Israel! Mà làm sao sống chung khi chia thành hai khu vực?

Tại Tây Ngạn, dân Á Rập chịu sự chi phối của chính quyền Palestine, trong tay lực lượng Fatah theo hướng ôn hòa và hợp tác với Israel. Tại dải Gaza, dân Á Rập chịu sự chi phối của lực lượng Hamas cực đoan - bị Tây Phương liệt danh là khủng bố. Từ năm 2005, Israel đã triệt thoái khỏi dải Gaza theo chiến lược nhượng đất để mua hòa bình, mà không thành. Vì hòa bình của Hamas hàm nghĩa sự diệt vong của Israel.

Ðầu năm Sửu, dân Á Rập Palestine lại có bầu cử và Hamas muốn, lần nữa, chứng tỏ họ mới tranh đấu cho Palestine chứ không thỏa hiệp như bọn Fatah phản bội. Vì vậy, ngay sau khi kế hoạch hưu chiến do Egypt dàn xếp mãn hạn, Hamas pháo kích lãnh thổ Israel bằng súng cối, đại bác, rồi hỏa tiễn 122 ly loại nội hóa BM21 Grad và cả hỏa tiễn Fajr-3 do Iran chế tạo, với tầm xa hơn, và ngày một xa hơn.

Ðầu năm Sửu, Israel cũng sẽ có bầu cử. Sau khi rút khỏi Gaza, lần này, Chính quyền liên hiệp giữa hai đảng Kadima và Lao động không thể không phản ứng. Ðối lập là đảng Likud theo xu hướng bảo thủ thì đòi có biện pháp mạnh. Ðến khi hỏa tiễn của Hamas có thể bắn tới Tel Aviv và tới cả Jerusalem thì chuyện sinh tử của Israel là sự thống nhất trong chính trường Israel.

Vừa không tập các căn cứ Hamas được ém trong khu dân cư (dải Gaza có mật độ dân số cao nhất thế giới!), Israel vừa trưng tập cả vạn lính trừ bị để đưa quân vào Gaza nhổ sạch nọc Hamas. Vừa đưa quân vào, Tel Aviv còn bắn tiếng: sẵn sàng ứng chiến tại mạn Bắc, nếu lực lượng Hezbollah vọng động từ miền Nam của xứ Lebanon. Khi đối phó với Hamas, Israel được sự yểm trợ ngầm của Egypt vì chính quyền Cairo biết sợ khủng bố Hamas sẽ làm loạn xứ Ai Cập. Nhưng, Israel cũng biết Iran không ngồi yên ở sau các lực lượng Hamas hay Hezbollah.

Cánh tả Tây Phương, hay tả ngạn sông Seine hoặc dân Palestine tại Tây ngạn sông Jordan cùng dân Hồi Giáo ở nhiều nơi trên thế giới hò nhau biểu tình phản đối Israel mạnh tay. Truyền thông khắp nơi ngoan ngoãn loan tin như vậy. Nhưng giới lãnh đạo các nước, kể cả Hồi Giáo, thì hiểu vì sao Israel phải ra đòn. Có khi thầm mong Israel sẽ nhổ cỏ dại cho họ khỏi bị lây nạn khủng bố Hamas. Các giáo chủ Iran thì nghĩ khác. Tháng Sáu này họ cũng sẽ có bầu cử và rất hài lòng nếu Israel bị lún sình như từng bị khi tấn công Hezbollah tại Lebanon vào Tháng Sáu năm 2006 mà không nên cơm cháo.

Ðâm ra sự tồn vong của Israel còn chi phối toàn bộ chiến lược Hoa Kỳ tại Trung Ðông. Trong chiến lược ấy, có cách ứng xử với Iran, một bài toán của tổng thống tân cử.

Khi tranh cử, Obama khéo dời chủ trương phản chiến và thân Hồi Giáo về lập trường cứng rắn hơn với Iran và ủng hộ Israel. “Nếu bị ném đá vào nhà thì mình có quyền phản ứng!” Nhờ đó, ông được hậu thuẫn của hơn 60% cử tri gốc Do Thái.



Bây giờ ông sẽ tính sao?

Chủ tịch luân phiên của Liên Hiệp Âu Châu nay thuộc về Cộng Hòa Tiệp với Tổng Thống Vaclav Klaus có lập trường rõ rệt thông cảm với Israel, như quan điểm của các nước Ðông Âu trong liên hiệp và của chính quyền Bush. Nhưng Liên Âu đang có mối lo của riêng Âu Châu, với suy sụp kinh tế còn lan rộng, với đòn thách thức của Liên Bang Nga tại Georgia, với vấn đề năng lượng khí đốt do Nga cung cấp... Chủ tịch Âu Châu khó phối hợp một chánh sách thống nhất về vụ Gaza nên sẽ chẳng giúp gì cho Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Obama. Chưa nói tới lá phiếu phá bĩnh của Nga và Trung Quốc trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Mà nhìn về nhà, vào trong nội các, Obama nghĩ sao về lập trường của tân Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi mà nguyên Tổng Thống Bill Clinton đã ngậm tiền quá đậm của các nước Á Rập? Hillary sẽ nghe ông hay sẽ theo quan điểm cố hữu của Bill là nâng đỡ Palestine? Mà giờ là Palestine nào? Tại Tây ngạn sông Jordan hay trên dải Gaza?

Chưa phất cờ, Obama thấy nổi lên toàn gió ngược! Phải chi ông biết lẩy Kiều! Có chiều phong vận có chiều thanh tân... Ông thèm cơn lốc thổi sau cỗ xe chuyển bánh của Bush, như “bụi hồng dứt nẻo đi về chiêm bao”...

Có phải không nào!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

2009: Còn suy thoái, và lo khủng hoảng!

Ngô Nhân Dụng

Bản tin về số người Mỹ thất nghiệp ngày hôm qua đã xác nhận cơn suy thoái kinh tế ở Mỹ hiện giờ sẽ còn nặng nề hơn và có thể kéo dài đến cuối năm 2009. Số thống kê được nhắc lại nhiều lần trên các đài truyền hình là hơn nửa triệu người mất việc trong Tháng Mười Hai năm 2008 (524 ngàn người so với 584 ngàn người mất việc trong Tháng Mười Một); và tỷ lệ thất nghiệp leo lên 7.2%, tỷ số cao nhất từ Tháng Giêng năm 1993 khi ông Bill Clinton mới lên thay cựu Tổng Thống George H.W. Bush.

Tính chung cho cả năm 2008, số việc làm bị mất liên tục trong 12 tháng qua đã lên tới 2.6 triệu công việc, con số cao nhất kể từ năm 1945 đến nay. Hai triệu người mất việc trong bốn tháng cuối cùng năm ngoái sau khi có kế hoạch cứu nguy khủng hoảng tài chánh. Hiện nay có 4 triệu 611 ngàn người Mỹ đang lãnh trợ cấp của bảo hiểm thất nghiệp trong số 11 triệu người không có việc làm; đây là con số cao nhất kể từ cuộc suy thoái năm 1982. Trong năm 2009 số người mất việc chắc chắn sẽ tăng thêm.

Ðiều khiến các người nghiên cứu kinh tế lo ngại không phải là những con số việc làm đã bị mất mà là một thống kê khác: Số giờ làm việc trung bình của người lao động Mỹ cũng giảm bớt, mà đó là những người đang có việc làm. Nếu tính cả số giờ làm việc bị cắt thì tỉ lệ thất nghiệp thực sự tương đương với 13.5% và sẽ còn cao hơn, đến giữa năm 2009 sẽ có thêm một triệu rưỡi người mất việc nữa.

Bộ Lao Ðộng cho biết trong tháng 12 vừa qua những người Mỹ đang làm việc chỉ làm mỗi tuần trung bình 33.3 giờ. Ðây là con số giờ làm việc hàng tuần thấp nhất kể từ khi bắt đầu theo dõi số thống kê này từ năm 1964. Kinh nghiệm cho biết thường các xí nghiệp thường giảm số giờ làm việc của các công nhân trước khi sa thải người, đề phòng nếu việc kinh doanh khá lên thì không phải lo tuyển người mới tốn kém hơn nhiều. Nhưng nếu việc kinh doanh không khá hơn mà lại sút giảm thì các xí nghiệp sẽ sa thải thêm nhân viên. Và viễn tượng năm 2009 chưa thấy dấu hiệu nào khá cả, trước khi các kế hoạch chi tiêu kích thích kinh tế của Tổng Thống tân cử Barack Obama bắt đầu được thực hiện. Thời gian từ lúc quốc hội chuẩn y đến khi thi hành để đồng tiền thực sự tác động vào nền kinh tế cũng phải chờ ba tháng đến nửa năm.

Trong những tháng cuối nam qua, số giờ làm hàng tuần đã giảm nhanh hơn tốc độ giảm của số công việc làm, cho thấy các xí nghiệp đang cố trì hoãn việc sa thải. Trong 4 tháng cuối năm 2008 số giờ làm việc trung bình của công nhân sản xuất đã giảm theo tốc độ 9.4% một năm. Số giờ làm giảm nhiều cho thấy các xí nghiệp đã cắt bớt giờ làm của hầu hết mọi công nhân thay vì sa thải một số người. Nếu họ theo chính sách sa thải thay vì bớt giờ làm thì tỉ lệ 9.4% này cho thấy số việc làm bị mất tương đương trong một năm là 13 triệu công việc. Những con số đó khiến người ta tiên đoán trong nửa đầu năm 2009 sẽ còn nhiều người mới mất việc nữa.

Một điều đáng lo khác trong các con số thống kê là số công việc làm bị mất trải đều ra đủ mọi ngành hoạt động kinh tế. Trong năm 2008 có gần 800 ngàn người trong lãnh vực công nghiệp chế tạo bị sa thải, trong đó có 21 ngàn người trong ngành sản xuất xe hơi và phụ tùng. Ngành bán lẻ mất 522 ngàn công việc vì dân bớt tiêu thụ, trong tháng 12 cũng mất 66,000 công việc. Nhưng bị ảnh hưởng nặng nhất là ngành xây cất, trong tháng 12 đã mất 101,000 việc làm, và kể từ lúc cực thịnh Tháng Chín năm 2006 thì đã có 900 ngàn công nhân xây dựng bị mất việc làm.

Các hoạt đồng kinh tế về dịch vụ cũng bị ảnh hưởng dù nhẹ hơn, đã mất 273 ngàn việc làm trong tháng 12; chỉ có hai ngành cho con số việc làm tăng lên là các dịch vụ y tế và giáo dục, tăng tổng cộng 45,000 việc làm trong tháng trước; trong khi số công chức mới được tuyển vào làm cho chính phủ cũng tăng thêm 7 ngàn người.

Cuối cùng nước Mỹ đã chính thức bước vào một giai đoạn suy thoái (recession), theo định nghĩa trường ốc. Sau khi Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của Mỹ đã giảm bớt 0.5% trong quý thứ ba năm 2008, GDP sẽ giảm khoảng 5% trong quý thứ tư (các tỷ lệ đều tính theo thường niên). Các nhà nghiên cứu kinh tế thường coi kinh tế bước vào suy thoái khi GDP giảm sụt hai quý liên tiếp. Tuy nhiên, có những cơ quan nghiên cứu tư nhân như NBER dùng một định nghĩa rộng rãi hơn, họ đánh dấu cuộc suy thoái kinh tế lần này bắt đầu từ tháng 12 năm 2007. Nếu như vậy, thì kinh tế có cơ sẽ bị coi là lâm vào một cuộc khủng hoảng chứ không phải chỉ là suy thoái.

Không có một định nghĩa chung về tình trạng khủng hoảng kinh tế (depression) được nhiều người chấp nhận. Có hai khuynh hướng, một số coi là có khủng hoảng kinh tế nếu cuộc suy thoái làm cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa có lúc giảm nhiều quá, giảm từ 10% một năm trở lên; hoặc theo lối khác, khi nào cơn suy thoái kéo dài từ 3 năm trở lên thì coi là khủng hoảng kinh tế. Giai đoạn 1930 nước Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế, theo cả hai lối định nghĩa trên. Vì cơn thoái trào đã kéo dài 43 tháng và có lúc GDP giảm mất 13% trong một năm.

Trước năm 1930, hầu hết khi kinh tế thoái trào đều là được gọi là depression, khủng hoảng, vì các cơn suy thoái thường kéo dài hơn hoặc nặng nề hơn bây giờ. Nhưng kể từ thập niên 1940, 50 đến nay, các cơn suy thoái thường nhẹ và ngày càng ngắn dần; lần cuối cùng vào năm 2001 thì GDP giảm chưa tới 2% theo tỷ lệ hàng năm và chỉ kéo dài khoảng 8 tháng. Chính vì sự thay đổi đó nên các nhà nghiên cứu đã dùng một từ mới, recession, suy thoái kinh tế, để phân biệt với hiện tượng depression trong quá khứ. Lý do khiến kinh tế xuống nhẹ và ngắn hơn chính vì những người điều hành kinh tế quốc gia đã khôn ngoan học được kinh nghiệm cũ để tìm ra phương pháp mới đối trị với suy thoái kinh tế.

Trước cuộc khủng hoảng 1930 thế giới còn dùng vàng làm vật bảo đảm cho đồng tiền, khi kinh tế xuống thì số lượng tiền lưu hành tự động giảm bớt. Lúc đó khối lượng tiền trong kinh tế Mỹ giảm bớt một phần ba, cộng với các chính sách sai lầm bảo hộ mậu dịch khiến cho kinh tế Mỹ càng lún xuống nặng nề. Bây giờ khi biết kinh tế đang xuống, các ngân hàng trung ương và chính phủ đều tung thêm tiền vào trong xã hội để mọi người tiêu tiền và kích thích tạo thêm công việc làm mới. Ðồng thời chính phủ cũng tăng hoặc kéo dài thời gian lãnh trợ cấp thất nghiệp, giảm thuế cho mọi người, là những cách đưa tiền cho dân chúng tiêu thụ thêm. Những chính sách đó có tác dụng giảm bớt cường độ suy thoái và cắt ngắn thời gian kinh tế đi xuống.

Năm 2009 kinh tế Mỹ có hy vọng chỉ bị suy thoái mà không rơi vào khủng hoảng hay không?

Nếu thận trọng, không ai dám quả quyết là có hay không. Mọi người lo là có thể, nhưng cũng hy vọng là sẽ không đến nỗi nào! Vì cơn thoái trào kinh tế lần này đặc biệt khác những lần gần đây. Kinh tế Mỹ năm qua đã xuống mà không theo một chu kỳ bình thường. Bình thường thì cảnh suy thoái diễn ra khi kinh tế tăng trưởng quá đà, ngân hàng trung ương bèn thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát; hành động đó khiến cho hoạt động kinh tế giảm đi. Lần này, kinh tế Mỹ xuống vì những lý do khác nữa, bắt đầu khi trái bong bóng giá nhà cửa phồng lên quá cao rồi bị xẹp, đưa tới cơn khủng hoảng tín dụng. Từ đó các ngân hàng kẹt tiền và mọi người, mọi công ty và ngân hàng đều giảm bớt nợ, tiêu thụ và sản xuất đều giảm. Tất cả những điều đó diễn ra đưa tới tình trạng giá cả xuống, có cơ nguy biến lạm phát thành giảm phát. Do đó, cơn suy thoái năm nay dễ kéo dài và nặng nề hơn những lần gần đây, dễ có cơ biến thành khủng hoảng kinh tế.

Trong trường hợp suy thoái bình thường, chỉ cần ngân hàng trung ương thay đổi chính sách tiền tệ, đổi chính sách thắt chặt bằng cách giảm lãi suất và bơm thêm tiền vào xã hội. Các ngân hàng, các xí nghiệp và người tiêu thụ sẽ phản ứng theo, họ có thể làm giảm bớt cơn suy thoái. Nhưng trong trường hợp như hiện nay, các biện pháp tiền tệ không hiệu quả như cũ vì cả hệ thống ngân hàng đã “trở chứng” không còn đóng vai “chuyển” các chính sách của ngân hàng trung ương vào xã hội một cách nhuần nhuyễn như bình thường. Cho nên bên cạnh các chính sách tiền tệ ít hiệu quả đó, cần những kế hoạch kích thích kinh tế trực tiếp với các chính sách chi tiêu của chính phủ.

Ðó là lý do mọi người đang trông đợi ở số tiền 800 tỷ Mỹ kim chi trong 2 năm mà ông Tổng Thống tân cử Barack Obama đã hứa hẹn. Nếu chương trình chi tiêu này được quốc hội chấp thuận sớm và thi hành đúng thì nhiều hy vọng kinh tế Mỹ sẽ chỉ suy thoái mà không lâm vào khủng hoảng. Tới cuối năm 2009 chúng ta mới biết chắc chính phủ Obama có cứu được nền kinh tế hay không. Quốc hội chắc chắn sẽ ủng hộ và cầu mong ông Obama thành công, vì sang năm dân Mỹ lại chuẩn bị đi bầu quốc hội nữa! Chế độ tự do dân chủ có một phương pháp khích lệ các nhà chính trị làm việc đứng đắn, hết lòng vì dân, chính vì người dân lúc nào cũng có quyền cho họ về vườn!

Post Reply