Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


BIỂN VIỆT NAM SẮP… MẤT

Nguồn: http://blog. ifrance.com/ phusi

Ngày 11 Tháng 5 Năm 2009 là thời hạn cuối cùng mà các Nước phải nộp bản đồ về lãnh hải của các Nuớc cho Uy Ban Ðịnh Ranh Thềm Lục Ðịa của Liên Hiệp Quốc. Một nguồn tin cho biết, các Nước trên thế giới có liên quan đến biển đều đã hoàn tất các thủ tục, ngay tại các quốc gia vùng Ðông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia, Ðài Loan, Tàu cộng…v..v.. cũng đều nộp bản đồ về biển của quốc gia họ, nhưng riêng nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì cho đến nay vẩn chưa thấy đệ nạp. Thông báo của Liên Hiệp Quốc đã có hơn 10 năm nay và thời hạn cuối cùng là ngày 11 tháng 5 năm 2009 là thời hạn chót.

Nếu đến thời hạn chót mà Việt cộng vẩn không đệ nạp thì Biển Việt Nam xem như bị mất hàng triệu m2 một cách cố ý và có hệ thống. Nên nhớ rằng biển bao gồm các hải đảo, tài nguyên thiên nhiên kể cả việc sinh sống đánh cá của hàng triệu ngư dân Nước Việt. Trong khi đó Tàu cộng đã không che dấu được ý đồ dùng sức mạnh xâm chiếm biển đông, bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, đồng hóa các Nước nhược tiểu và làm bá chủ Ðông nam á. Bất chấp các hòa ước, định ước quốc tế mà chính Tàu cộng đã ký kết kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đã ký với 118 quốc gia hội viên Liên hiệp quốc vào năm 1982.

Việt Nam là một Nước đang bị Tàu cộng khống chế, xâm lấn một cách ngang ngược và thô bạo với sự đồng lỏa cũa Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Từ bức công hàm của Phạm Văn Ðồng ký ngày 4/8/1958, Tàu cộng đã đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm Trường Sa năm 1988, đến hiệp định biên giới Việt -Tàu ký ngày 30/12/1999 đến hiệp định lãnh hải Việt -Tàu ký ngày 25/12/2000 …v..v… tất cả đều ký kết một cách bí mật mà ngay cả Quốc hội bù nhìn Việt cộng cũng không được nghe , biết và quyết định. Từ đó Việt Nam đã mất đi ải nam quan, thác bản giốc, các địa danh và hàng ngàn cây số dọc theo biên giới. Riêng về lãnh hải Tàu cộng lại đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay lưỡi rồng từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Ðế, Minh Thành Tổ để nuốt trọn biển Việt Nam một cách trắng trợn.

Thời hạn đệ nạp Bản đồ về biển đã gần kề. Cộng Sản Việt Nam kẻ đang quàng ách thống trị bạo tàn trên đất nước và dân tộc Việt Nam phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử. Nếu khiếp nhược yếu hèn không dám dùng xương máu để chống lại bọn bành trướng xâm lược Bắc Kinh thì cũng phải thực hiện những nguyên tắc mà Công ước quốc tế đã quy định cho mổi quốc gia có chủ thể quyền lợi và tố quyền nhằm bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải một cách toàn vẹn.

VNCH Foundation

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đài Tử Sĩ

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua Nhật báo Người Việt đã đăng bức hình “Ðài Tử Sĩ,” ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trước kia, nay được thoát khỏi chế độ quân quản thành nghĩa trang thường dân thuộc xã Bình An.

Ký giả Trần Tiến Dũng đã kể những mẩu chuyện cảm động về những ngôi mồ tử sĩ. Có ngôi mồ được thân nhân chăm nom, xây lại, trông rất đẹp. Gặp một người em trai đi thăm mộ anh, một hạ sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh từ năm 1969, ông em nói, “Mỗi lần đến đây nặng nề u uất lắm ông ơi!” Trong nghĩa trang có những nấm đất không bia mộ, có những bia mộ đề chữ Vô Danh. Nhiều ngôi mộ do anh Út Ẩn trông nom. Người lính cũ của Sư Ðoàn 18 đã bị thương và giải ngũ từ năm 1971, đến năm 77 anh Út xin vào nghĩa trang làm công việc giữ mộ, chung quanh an là hơn 20 ngàn ngôi mộ tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Út nói với nhà báo: “Mấy ổng linh lắm, mấy chú còn trẻ không hiểu được hết đâu.” Câu chuyện của anh Bùi Văn Tư, một người dân gốc ấp Trung Thắng đang làm chủ quán ở gần nghĩa trang, cũng cho thấy: “mấy ổng linh dễ sợ.” Anh Tư sinh năm 1956, đáng lẽ bị bắt lính hồi chiến tranh bên Cam Pu Chia, anh “sợ đi Miên chết hơn sợ ma;” đã trốn trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, cầu “xin mấy ổng phù hộ che chở.” Và nhờ vậy công an không bắt được, anh được yên thân tới bây giờ. Mỗi năm trước Tết “mấy ổng khiến” anh lại được nghỉ việc để về giẫy mả cho mấy ổng.

Quý vị độc giả có thể tin hoặc không tin lời của anh Út và anh Tư, nhưng nhà báo đi thăm nghĩa trang có lẽ đã tin. Anh đến nghĩa trang dù không có ai là thân nhân trong đó. Anh và người bạn bảo nhau: Mình tìm ngôi mộ nào cúng đi. Và họ đã chọn một ngôi mồ với bia đề Vô Danh. Khi bước vào nghĩa trang, ký giả mô tả: “Trước mắt chúng tôi là đài tưởng niệm uy nghi và hoang phế.” Nhưng khi tiến đến tận nơi, ông lại thấy, “Ngọn đồi này dù không còn treo bảng là khu quân sự nhưng vẻ hoang tàn ở đây lạnh rợn người.” Ký giả vẫn nhìn thấy trong cảnh hương khói vắng tanh, bốn bề ngập xác lá vàng cùng cỏ dại, anh vẫn thấy nguyên ánh sáng, “ánh sáng từ những anh linh uy nghiêm.” Anh nghĩ, “Những người lính chôn ở đây cũng như tất cả những người lính tử trận khác, họ mãi mãi vẫn là những anh linh...”

Bài ký kể chuyện cuộc đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội cũ kết thúc với một mối lo: “Ðâu ai biết chắc là bao lâu nữa nơi đây sẽ bị những người đang phát cuồng vì lợi nhuận làm ô nhiễm tất cả.”

Ðây là một mối lo chung. Làm sao bảo vệ được vẻ tôn nghiêm cho nơi an nghỉ của hơn hai chục ngàn tử sĩ? Làm sao chống lại được lòng tham của những người có quyền muốn khai thác lợi nhuận trên khu đất nằm ở địa điểm tốt này?

Chính quyền trung ương cộng sản đã trút trách nhiệm cho chính quyền địa phương quản lý khu đất có Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Nhưng không có gì ngăn cấm được những người nắm quyền để họ bỏ qua những món lợi mà việc khai thác đất đai có thể mang lại cho họ. Họ không cho biết một quy chế nào, không ai biết giới hạn của quyền hành mà những quan chức địa phương được hưởng. Trong chế độ đó, thường những người làm quan có quyền hành vô hạn.

Cho nên những người còn thiết tha với lịch sử cần tự động cùng nhau đi thăm viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, để bầy tỏ ý chí của mình. Nhất là trong dịp Tết Nguyên Ðán năm nay. Càng đông người bầy tỏ ý nguyện bảo vệ và tôn kính nghĩa trang này, thì những kẻ có quyền càng phải e dè không dám lạm dụng.

Ðồng bào ở hải ngoại về quê ăn Tết hãy bỏ ra một ngày hay một buổi đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Cho nên bà con đang sống ở trong nước hãy cùng nhau đi thăm mộ các tử sĩ, kể từ ngày đầu năm Kỷ Sửu cho tới tháng Ba âm lịch, chấm dứt trong dịp Lễ Thanh Minh tảo mộ. Mỗi người về thăm mộ chỉ cần chọn một ngôi mồ, có tên trên bia mộ hay vô danh, không cần là thân nhân hay đồng hương với mình. Hãy quét dọn sạch sẽ, thắp một nén nhang hay đặt một bông hoa trên ngôi mồ đó. Và khấn anh linh người tử sĩ xin phù hộ cho đất nước được bình an, nhân dân được no ấm.

Cứ một người hay một gia đình về Việt Nam ăn Tết mà đi thăm một ngôi mộ thì tất cả các tử sĩ trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa sẽ có người thăm viếng.

Khi chứng kiến cảnh đó, những người dân ở chung quanh, những anh Tư, anh Út trong câu chuyện đăng trên Nhật báo Người Việt hôm qua, sẽ được khích lệ để chính họ sẽ chăm nom các ngôi mổ tử sĩ một cách bền bỉ và hăng hái hơn. Và chính những người dân ở địa phương sẽ là người sẽ bảo vệ tính cách tôn nghiêm, thiêng liêng của khu nghĩa trang này, mãi mãi.

Khi đó, chính những đồng bào địa phương sẽ lo trông nom ngôi đài tử sĩ trong nghĩa trang. Bức hình trên Nhật báo Người Việt cho thấy ngôi đài tử sĩ giống như một cửa tam quan, tuy bị bỏ thành hoang phế hơn 30 năm nhưng vẫn giữ nguyên vẻ uy nghi đáng kính. Ðây là nơi nhiều thế hệ đã tới cử hành lễ nghi tôn giáo, tuy đã bị bỏ hoang 33 năm nay nhưng sẽ còn giữ nguyên tính chất thiêng liêng. Chúng ta có bổn phận bảo vệ tính linh thiêng đáng kính đó.

Sau khi bài báo được phát hành ngày hôm qua, một số anh em cựu chiến sĩ thuộc Sư Ðoàn 18 đã bàn nhau liên lạc với anh Út Ẩn, để hỗ trợ anh trong việc trông nom những nấm mồ đồng đội. Chắc chắn sẽ còn nhiều anh em cựu quân nhân đích thân về tận nơi để góp công với những người như anh Út. Chúng ta phải đền ơn những người đã chết. Phải chứng tỏ lòng biết ơn của mình.

Tất cả mọi dân tộc đều phải bầy tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ đã bỏ mình khi làm bổn phận đối với quốc gia, dù quốc gia đó có lúc theo chính thể này hay chính thể khác, theo chủ nghĩa này hay lý thuyết khác. Những tử sĩ đó biết họ chiến đấu, hy sinh vì bổn phận đối với quốc gia, dân tộc. Cho nên dân tộc tri ân họ. Lòng biết ơn đó là một nền móng để xây dựng quốc gia lâu dài. Ðó là một bổn phận thiêng liêng, không một chế độ nào dám từ chối không cho người dân quyền thể hiện và thi hành bổn phận đó.

Cho nên người Việt ở nước ngoài cũng như ở trong nước, xin cùng nhau “tảo mộ” các tử sĩ trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa cũ trong dịp Tết Nguyên Ðán năm Kỷ Sửu này. Mỗi người, mỗi gia đình hãy âm thầm đi tảo một. Không cần phải tạo ra một tổ chức hoặc gây một phong trào. Không cần phải chính trị hóa một hành động hoàn toàn có tính cách tâm linh và lịch sử.

Tấm lòng thành kính của chúng ta chính là một đài tử sĩ để tưởng niệm các người anh, người em, người cha hay chú bác của chúng ta, những người công dân nước Việt Nam Cộng Hòa.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Khi Dân Chủ Lên Ngôi
Giao Chỉ San Jose

Tôi vừa viết xong bài bình luận về việc ông Obama lên ngôi tổng thống thì anh bạn ký giả báo Mỹ đến liên lạc hỏi chuyện Tết Việt Nam, nhân tiện bàn qua thế sự. Hỏi rằng tôi nghĩ sao? Nghĩ gì? Chuyện Obama. Tôi trả lời ngay: Xuất sắc. Tổ chức xuất sắc, còn Obama thì mới trên trung bình. Tài tử chính Obama nhập vai vừa tròn nhưng chưa nổi bật. Đạo diễn tuyệt vời. Với dàn đạo diễn như thế có khi MCain vào vai chính với đào thương Alaska, sân khấu còn náo nhiệt hơn nhiều.

Tôi kết luận, họ tổ chức theo khuôn phép của giải Ocar chính trị. Quần là áo lượt. Như một cuốn phim dân chủ vĩ đại, hàng triệu vai phụ, hàng ngàn vai quan trọng, sau cùng nam nữ tài tử chính đã được lựa chọn để xuất hiện.
Đem nghệ thuật sân khấu vào thẳng cuộc đời. Ký giả Mỹ lại hỏi rằng, nói vậy là ông chê hay khen? Khen đấy, tôi trả lởi. Hơn một nửa nước Mỹ bầu cho tương lai, chọn Obama chiến thắng đã có cuộc trình diễn hết sức ngoạn mục. Non nửa nước Mỹ hoài niệm quá khứ với MCain nên thua cuộc, bèn dựa cột đứng xem. Hai ông bà tổng thống họ Bush chịu trận một ngày dài, chiều xuống lủi thủi ra về. Người lính già MCain, anh hùng của chinh chiến tù đầy, đã từng có trong tay hàng trăm triệu phiếu bầu, bây giờ không ai nhắc đến, dù là một vài hàng tin ngắn. Đó là điều đáng tiếc. Nhưng phải khen ngợi cho ý nghĩa của tinh thần dân chủ Hoa Kỳ. Cuộc thay đổi quyền lực không có gươm dao, súng đạn và bắt bớ giam cầm. Để chấm dứt cuộc mạn đàm bên lề thời sự, tôi dịch cho anh bạn sơ lược bài viết sau đây. Nhân chuyện ông Obama lên làm tổng thống, đã viết những điều suy ngẫm về dân chủ theo quan điểm hết sức bình dân.

Thế nào là Dân Chủ? Dân Chủ là sự chuyển giao quyền hành với tiếng nhạc và đại bác chào mừng.
Như vậy là cứ 4 năm một lần, nền Dân Chủ tại Hoa Kỳ lại có dịp đăng quang. Theo hiến pháp, người Mỹ trưởng thành, sinh quán tại Hiệp chủng Quốc là có thể được bầu vào chức vụ tổng thống tối đa hai lần. Vị tổng thống nào trải qua nhiệm kỳ đầu mà không được tái cử, có thể coi là sự nghiệp dở dang. Chỉ cầm quyền có 4 năm rồi phải bàn giao là một sự thất bại. Nếu trải qua hai nhiệm kỳ mà phải ra đi như ông tổng thống Bush con thì cũng không vui vẻ gì. Nhưng dù vui buồn ra sao, đủ bốn năm hay tám năm, dù đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa... đến ngày phải bàn giao là cứ bàn giao, dù cho xót xa như muối đổ trong lòng. Ngày xưa cuộc bàn giao không kèn không trống khi ông Johnson giơ tay thề trên máy bay 001 với sự hiện diện của bà quả phụ Kennedy là một bi kịch lịch sử, quốc gia vẫn không hề xáo trộn. Thời gian ông tổng thống Fort nhậm chức tiễn đưa ông Nixon từ nhiệm cũng là một cuộc bàn giao hết sức bẽ bàng. Nhưng đất nước cũng chẳng hề giao động. Khi ông tổng thống Carter thất bại tại Trung đông đành chấm dứt một nhiệm kỳ, phải bàn giao cho tổng thống Reagan thì buổi lễ khá long trọng, nhưng phần buồn tủi thì ông Jimmy Carter vẫn còn canh cánh bên lòng. Cho đến khi ông Reagan ra đi thì cả kẻ đi, người ở đều hết sức huy hoàng. Đây là lần bàn giao hiếm có mà vị tổng thống về hưu mang hào quang rực rỡ suốt lộ trình từ DC đến Cali. Tiếp theo, ông Bush cao niên đánh trận Iraq lần thứ nhất, thế mạnh như chẻ tre, nhưng chỉ vì khinh địch bỏ qua mặt trận quốc nội, về sau trở tay không kịp nên bị dứt điểm nhiệm kỳ thứ hai vào tay ông thống đốc từ Akansas, mang danh dòng họ Clinton, với khẩu hiệu "Change" chiếm tòa bạch ốc. Chàng tuổi trẻ Bill Cliton cũng đi hết hai nhiệm kỳ nhưng thời gian sau này mắc vòng hoa nguyệt nên phải vác chiếu ra tòa cho ủy ban tra vấn hết sức thảm thương. Vì vậy khi bàn giao xem ra cũng thiếu vẻ hào hùng. Trong khi đó, nội các mới của Cộng Hòa họ Bush kéo quân Texas về thủ đô lần thứ hai nghênh ngang như vào chỗ không người, làm cho cả vùng Virgina thơ mộng sặc mùi dầu hỏa. Vật đổi sao rời, bây giờ đến lượt nội các của họ Bush phải dọn dẹp nhà trắng sạch sẽ từ cuối tuần trước để dành cho tân chính phủ Obama từ Illinois đi xe lửa tiến quân vào thủ đô. Cờ đến tay ai người đó phất. Phe đi xuống dù cho có buồn trong bụng nhưng vẫn phải đóng vai ngoại giao lịch sự, tươi cười trước ống kính để dân trăm họ trông vào qua hàng nghìn ống kính của truyền thông toàn thế giới. Tuyệt đối không được phát ngôn bừa bãi, thậm chí cũng không được phép cáo ốm để vắng mặt. Đó là tinh hoa dân chủ và đó là thành quả đích thực cuộc bàn giao quyền hành của một quốc gia hùng cường nhất thế giới.
Ngày 20 tháng 1 vừa qua, khi cả nước lên cơn sốt với ông Obama thì thật là một ngày quá dài và não nề với hai ông tổng thống dòng họ Bush của tiểu bang cao bồi Texas. Cả ông Bush cha, cựu tổng thống thứ 41 và ông Bush con, tổng thống thứ 43 đều mang nặng mối sầu thiên cổ. Ông cựu tổng thống thứ 42 Bill Clinton hiện diện cũng không hào hứng lắm. Vui là vui gượng kẻo là... Nếu không vì có phu nhân ra làm ngoại trưởng thì có lẽ ông Clinton cũng ngồi nhà coi TV như vị tổng thống thứ 39 Jimmy Carter. Trên khán đài danh dự, trong khi chờ tân tổng thống Obama, hai ông thân mật bắt tay nhau hết sức thông cảm. - George, are you OK? Ông Clinton hỏi. - Yes, Bill, I am OK, and you? Ông Bush trả lời. - I am OK too. Ông Clinton đáp. Tuy nói vậy, nhưng cả hai đều không OK. Dù là tổng thống hay cựu tổng thống, họ cũng chỉ là con người như mọi người.

Sắc diện Dân Chủ.
Khi phe dân chủ lựa chọn Obama ai cũng nói rằng đây là một thiên tài xuất sắc của Hoa Kỳ. Rồi ngày một ngày hai, từ chiến thắng này đến chiến thắng khác, Obama vượt qua bà Clinton, tiếp theo là trận đánh bại người anh hùng huyền thoại MCain. Cả nước Mỹ và toàn thế giới lên cơn sốt. Biết bao nhiêu báo chí ồn ào tâng bốc, bao nhiêu chuyện thêu dệt gấm hoa cho con người tuổi trẻ tài cao da màu vĩ đại, Đi vào cụ thể, Obama chưa hề có được một tiểu sử xứng đáng để bước vào bạch cung với vòng hoa nguyệt quế huy hoàng tráng lệ như kỳ phe dân chủ tổ chức lễ nhậm chức vừa qua. Một chàng trai chưa hề một ngày khoác áo chinh y, chưa hề có thành quả trên trường ngoại giao quốc tế, chưa có kinh nghiệm quản trị thương trường, chưa viết được một học thuyết luật pháp và thậm chí chưa hề có thành tích chính trị trên diễn đàn dân cử. Tại sao một con người xuất thân tầm thường, mới vươn lên mức trung bình mà một sớm một chiều đã trở thành nhân vật phi thường như vậy. Phải chăng đây là một nhà thuyết giảng có tư duy mãnh liệt và khả năng thuyết phục hùng biện vô song. Phải chăng đây là con người có tham vọng, có khả năng lãnh đạo tiềm ẩn và biết lắng nghe. Biết dùng người và điều quan trọng nhất biết để người ta xử dụng mình. Thế lực nào đã đưa Obama lên và ai là người viết được kịch bản phi thường, ai là đạo diễn cho cuộn phim chính trị thành công hết sức ngoạn mục cho cả thế giới phải điên đảo. Ai có sáng kiến lựa chọn vị tổng thống thứ 44 của Hiệp chủng quốc là một người đã đến từ nguồn gốc xứ Kenya.

Từ một thanh niên da đen trẻ tuổi vô danh được lựa chọn đọc bài tham luận mở đường tại đại hội đảng dân chủ 8 năm về trước, Obama nhờ chút danh tiếng nên đủ phiếu trở thành thượng nghị sĩ đại diện đảng tại tiểu bang Illinois. Con đường chính trị từ đó thênh thang mở hội. Đảng dân chủ lựa chọn yểm trợ Obama. Đảng Cộng Hòa với những năm sui xẻo sai lầm đã giúp cho Obama cơ hội bằng vàng vươn lên làm lịch sử. Khẩu hiệu Change của Bill Clinton lại được đem ra dùng lại trong cơn tuyệt vọng của toàn quốc Hoa Kỳ. Dân Mỹ dồn phiếu cho Obama vì những hy vọng ở tương lai chứ không phải vì nhìn thấy thành tích trong quá khứ. Qua phương thức điều hành cuộc tranh cử của phe Dân Chủ, người ta hy vọng rằng sự quản lý đất nước trong tương lai cũng sẽ có những bước sáng tạo ngoạn mục như thế. Sau cùng đại diện của Dân chủ ngày nay phải là một viên ngọc đen, viên huyền châu thay mặt cho lịch sử trăm năm nô lệ. Để giấc mơ của ông mục sư King một thời đau thương thành sự thực. Để tháo gỡ hình ảnh ông Bush Texas sắt máu trên hai bán cầu. Nước Mỹ quyết định chọn một người tầm thường để đóng vai phi thường. Thể hiện được ý nghĩa rằng tổng thống cũng chỉ là con người thông thường như mọi người. Ai cũng có thể làm tổng thống nếu được lựa chọn. Chọn Obama, Hoa Kỳ trở thành một quốc gia phi thường. Chấp nhận Obama, dù thế giới có thể còn nhiều Obama, những nước Mỹ sẽ là nước duy nhất có được một nền dân chủ tuyệt đối.

Trình diễn Dân Chủ. Vì ý nghĩa như thế nên buổi lễ đăng quang của Dân chủ mới phải phô diễn tối đa, dù rằng Hoa Kỳ đang công nợ và túng thiếu nhất thế giới. Ban tổ chức vận dụng mọi phương cách qua sức mạnh truyền thông để đưa về thủ đô 2 triệu người trong một ngày lịch sử. Một triệu và 500 ngàn người đứng đầy con đường từ đài kỷ niệm Washington đến điện Capitol. Nửa triệu người tràn ngập các khu vực khác của thủ đô. Ban an ninh yêu cầu không người nào được mang theo cây dù. Vì họ không kiểm soát được tất cả mọi người từ trên cao. Hàng triệu người tham dự trang bị áo lạnh, không mang dù, ra đi từ sáng sớm. Họ sẽ phải đứng trên nửa ngày dài để chỉ nhìn thấy nhau và xem buổi lễ quá màn hình đặt ở bên đường. Và xúc động lan truyền cho những giọt nước mắt chảy xuống. Hình ảnh lễ tuyên thệ của Obama chỉ là duyên cớ tác động lòng yêu nước và tình tự dân tộc. Nhiều nhà phân tích cho rằng vai trò ông tổng thống thứ 44 của nước Mỹ diễn xuất vào ngày lịch sử vừa qua coi như không có lỗi lầm, nhưng chưa xuất sắc như sự mong chờ. Bài diễn văn chờ đợi từ nhiều ngày qua chưa phải là bài diễn văn hạng nhất so với những lần ông hùng biện trên đường tranh cử. Nhân dịp này, người ta có nhắc đến năm 1865 tổng thống thứ 16, ông Lincoln đã nói: Một chính phủ của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ sụp đổ. Tổng thống Kennedy năm 1961 đã nói : Bạn đừng hỏi đất nước làm gì cho bạn, hãy hỏi rằng bạn đã làm gì cho đất nước? Vào năm 1933 Hoa kỳ cũng ở trong thời kỳ suy thoái như hiện nay, tổng thống Roosevelt đã nói: Điều duy nhất chúng ta lo sợ chính là sự lo sợ.
Phần ông Obama, bài diễn văn mở đầu của chức vụ tổng thống đã có đề cập đến ba đoạn đáng lưu ý: Đoạn đầu ông nói rằng xin cảm ơn tổng thống Bush về những cống hiến cho đất nước. Nhưng tiếp theo, ông mô tả hoàn cảnh đất nước đau thương do hậu quả của thái độ tham lam vô trách nhiệm của một số người..Ông Obama nói tiếp : Mất nhà, thất nghiệp, kinh doanh ngưng trệ, y tế tốn kém, thất vọng về giáo dục....và cách chúng ta sử dụng năng lượng khiến cho kẻ thù ngày càng mạnh hơn...

Đoạn thứ hai ông đề cập và ca ngợi các binh sĩ chiến đấu và hy sinh tại Concord, Gettysburg, Normandy và Khe Sanh.
Tại sao những nhà cố vấn lịch sử viết diễn văn cho tổng thống đã chọn các địa danh kể trên. Trận Concord năm 1775 dân quân kháng chiến Hoa Kỳ chiến thắng quân đội Anh Quốc. Trận Gettysburg năm 1863 là chiến địa nổi danh của cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Trong đệ nhị thế chiến, năm 1944 Hoa Kỳ lãnh đạo đồng minh đổ bộ trên bờ biển Normandi, giải phóng nước Pháp. Sau cùng là trận Khe Sanh tại miền rừng núi quân khu I, Việt Nam, đường vào Hạ Lào. Tại đây đầu năm 1968, cộng sản Hà Nội tập trung 40 ngàn quân bao vây để tiêu diệt căn cứ Khe Sanh của 10 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và một tiểu đoàn Biệt động Quân VNCH. Cộng sản hy vọng dựng lại chiến thắng Điện biên Phủ, nhưng sau cùng thất bại với con số tổn thất 15 ngàn tử trận nên phải rút lui.

Ở một đoạn khác ông lên án chủ nghĩa phát xít và cộng sản. Những nhà bình luận có thể chú ý đến điểm này vì không những các quốc gia Trung quốc, Việt Nam quản ngại mà ngay cả nước Nga cũng có phần lạnh nhạt. Phần lớn các hãng thông tấn của cộng sản đã cắt bỏ và kiểm duyệt.
Phân tích bài diễn văn này, chúng ta có thể hiểu được tâm tư của nhóm người lãnh đạo triều đại mới tại Hoa Kỳ trong những năm sắp tới.

Dù sao thì từ nay cũng có rất nhiều người cầu nguyện cho ông Obama, vì cũng là cầu nguyện cho chính nước Mỹ. Riêng phần chúng tôi, có đôi chút ngậm ngùi cho ông G.W.Bush. Nhưng ông may mắn có bà vợ vốn là cô giáo quê mùa sẽ vui vẻ ngồi đấm lưng cho ông trong lúc tuổi già. Riêng phần ông bạn HO. Hoa Kỳ MCain của chúng ta tuy lỡ dịp lịch sử huy hoàng nhưng thực sự hạnh phúc cuối đời chẳng ai bằng ông. Sau khi đã trải qua bao nhiêu gian khổ, hình ảnh đẹp đẽ của đời chàng là đứng giữa hai người đẹp đi khắp bốn vùng chiến thuật. Một bên là phu nhân phú quí lịch sự và một bên là bà thống đốc trẻ đẹp duyên dáng. Nợ tang bồng như thế là quá đủ. Bây giờ ông có quyền ngồi xem đám trẻ giải quyết chuyện đất nước . Như vậy chẳng phải là tuyệt đỉnh hạnh phúc hay sao!

Giao Chỉ San Jose

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

'VIỆT KIỀU' CỨNG, VIỆT CỘNG BUÔNG

VI ANH
Việt Báo Thứ Tư, 1/28/2009, 12:00:00 AM


Ngày 15.1.2008, Hải Quan của VNCS (ta gọi là Quan Thuế) đòi Ngân Hàng Đông Á phải đóng 10% thuế về số tiền người Việt hải ngoại gởi về. Ngân hàng Đông Á không chịu, Hải Quan yêu cầu ký giấy nợ, Ngân hàng Đông Á không làm.Và ngân hàng Đông Á cấp báo cho các công ty chuyển tiền ngoài VN, rằng tiền gởi về trong nước có thể bị đóng 10% thuế. Thời đại Tin học, tin đi nhanh như ánh sáng. Các đài phát thanh RFA của Mỹ, RFI của Pháp, và truyền thông tiếng Việt phổ biến rộ lên. Hậu quả nhãn tiền. Ngay những ngày sau đó số tiền gởi về VN giảm thê thảm. Tin BBC ngày 19.1.2009, Bộ Tài Chánh VNCS công điện hỏa tốc nói không có việc đánh thuế 10% đối với kiều hối gửi về nước và giải thích rằng đã có sự "nhầm lẫn" và đang mở cuộc điều tra để "làm rõ vấn đề"! Vấn đề đặt ra để suy nghiệm trong ba ngày Tết, là, những sự kiện trên phải chăng là CS Hà nội thăm dò, nắn gân thử "Việt Kiều", hễ thấy mềm thì "nắm", cứng thì buông?

Công điện hoả tốc của Bộ Tài Chánh cho thấy Việt Kiều "gân" thiệt, không cho CS dùng thân nhân mình như con tin để khai thác thêm nữa. "Việt Kiều" bây giờ không còn là những ngưòi mà CS Hà nội mới vào chụp cho cái mũ xanh dờn" ngụy quân, ngụy quyền có nợ máu vời CS" để tự tiện cướp tiền bằng cách đổi 500 đồng VNCH bằng 1 đồng của CS Bắc Việt, và mỗi người ở Miền có bao nhiêu cũng thây kệ, chỉ được lấy ra 200$ CS Hà nội mà thôi. CS bắt đi tù cải tạo, đuổi đi kinh tế mới để "quét sạch nhà sạch cửa" cấp cho cán bộ đảng viên ngoài Bắc tràn vào với tinh thần "hồ hởi phấn khởi" như người Việt tỵ nạn lần đầu tiên đến Mỹ.

Trái lại "Việt Kiều" bây giờ chiếm đại đa số của 3 triệu ngươi tỵ nạn CS, có quốc tịch của quốc gia đại siêu cường mà CS Hà nội đang cầu cạnh.Tổng sản lượng Việt Kiều mỗi năm sấp sỉ ngân sách của CS Hà nội. Tiền gởi giúp, cho không bà con mỗi năm - theo thông lệ ít khi lớn hơn 5% số kiếm được - đã là 8 tỷ Đô, hơn phân nửa số khiếm hụt ngoại thương của CS Hà nội năm rồi.

Việt Kiều bây giờ thừa kinh nghiệm, mưu lược, và phương tiện để gởi tiền giúp bà con, qua mặt CS Hà nội một cái vù . Mỗi năm có 400 000 người đi VN và hàng ngàn công ty ngoại quốc đầu tư ở VN và rất nhiều cán bộ đảng viên CS có con cháu đi du học đang rửa tiền cho cha mẹ để "thu vén cuối đời", có gì trốn đi ngoại quốc; nên con đường gởi tiển ngoài vòng kiểm soát của CS Hà nội là "chuyện nhỏ" quá dễ. Do vậy CS Hà nội không mong gì dùng bà con của Việt Kiều để bắt bí Việt Kiều như dùng xương tàn cốt rụi của quân nhân Mỹ để bắt bí Mỹ để có bang giao và giao thương thời TT Clinton nữa.

Nghề bắt bí của CS Hà nội đã lụt, đã cổ lổ sĩ mất rồi. Đã qua rồi cái thời Việt Cộng ở trong bưng bắt bí đánh thuế người ở thành. Vì bắt bí mà các công ty, các tiệm Tây, Tàu, Việt ở chợ một phần phải đóng thuế cho Việt Cộng. Việt Cộng có nhiều cách bắt bí rất thô thiển nhưng khá hiệu quả lúc chiến tranh Quốc Cộng cày răng lượt. Cho một "mẹ chiến sĩ, chị nuôi, đồng chí hộ lý, cái đít văn công, cái mông bộ đội" giả dạng thường dân đi chợ trao thơ đòi thuế. Chờ một thời gian không trả lời thì hăm dọa bằng thơ hay lời nhắn. Hăm dọa bằng lời không được thì lén gởi vài viên đạn AK hay nhét cây dao gâm sét hay vài truyền đơn viết nguệch ngoạc trước cơ sở. Rồi VC tìm các mật báo cho chánh quyền Quốc Gia. Đối với công ty ngoại quốc như BGI, thuốc Bastos , Melia thì gài hay giựt mìn xe vận chuyển của hãng nếu đòi hỏi, hăm doạ không được. Không ai muốn đóng thuế cho VC nhưng cũng không muốn bị phiền phức, rắc rối với ngành an ninh quốc gia như cảnh sát, an ninh quần đội, nên làm thinh và "thí cho cô hồn VC" một mớ tiền để yên thân làm ăn.

Cách "làm ăn kiểu du kích" cò con này coi vậy mà đắc dụng ngay đối với chánh quyền Mỹ trước đây vì ăn hoc quá nhiều tưởng VC như mình nên như thầy nghề võ bị người tay ngang đánh, CS Hà nội đã dùng "xương tàn cốt rụi" của quân nhân Mỹ trong Chiến Tranh VN để bắt bí. Bằng việc trao trả hài cốt quân nhân Mỹ, CS Hà nội đã được hai việc lớn: gở cấm vận và lập bang giao Hà nội và Washington.

Cũng theo cái mững đó, CS Hà nội bây giờ bắt bí "Việt Kiều" nên thất bại. Trước đây, CS dùng những thân nhân bè bạn còn kẹt ở lại như con tin để lấy tiền chuộc. Người Việt tỵ nạn CS ở thế kẹt. Không lẽ để thân nhân gia đình đói nghèo, con cháu thất học trong gọng kềm của chế độ CS Hà nội. Không lẽ để trẻ em mồ côi, người lớn đơn chiết chết vì đói nghèo, bịnh hoạn. Nên phải bấm bụng giúp đỡ. Việc làm này làm cộng đồng người Việt tỵ nạn CS có khi tranh biện, bất đồng với nhau vì người thì quyết không đi VN, không gởi tiền về VN, người thì ở thế kẹt phải giúp gia đình, và đồng bào bất hạnh. CS Hà nội ở giữa đút tiền vào túi vì xét ra cho cùng tất cả ngoại tệ sau cùng rồi cũng vào ngân hàng nhà nước của CS Hà nội. Quyền in và phát hành tiền, quyền hối đoái là độc quyền của Đảng Nhà Nước CS. Người nhận tiền cũng như người dân Việt phải xài tiền đồng trong cuộc sống hàng ngày.

Thế nhưng túi tham không đáy, CS Hà nội thấy chưa đủ, muốn lấy thêm. Đánh thuế 10% vào số tiền gởi về VN chánh yếu là đánh thuế vào Việt Kiều. Đánh dưới hình thức thuế trị giá gia tăng của số tiền gởi về hay thuế lợi tức (từ CS là thuế thu nhập) của người nhận trên số tiền. Nhưng sau cùng Việt kiều vẫn là người thọ sắc thuế này. 100 Đô Việt Kiều xuất ra gởi về đàng nào người gởi hay người nhận đóng thuế 10% thì giá trị khi đến tay ngưòi nhận vẫn còn 90 Đô thôi. Trên thế giới này không có nước nào đánh thuế giá trị gia tăng trên tiền gởi nhưng CS Hà nội tham quá hoá liều. Và phản ứng của "Việt Kiều" làm CS phải "thật thà khai báo" đó là một " lầm lẫn". Không ai có thể tin đó là một lầm lẩn được. Không có "chỉ đạo" của Bộ Chánh tri, của Thủ Tướng Chánh phủ, Bộ tài chánh, thì Hải Quan dầu có uống một trăm thang thuốc "liều" cũng không dám làm. Làm mạnh nữa là dằng khác vì Hải Quan yêu cầu Ngân Hàng Đông Á ký giấy nợ, tức đã có lịnh rồi, không đóng thì nợ, chớ Hải Quan không cần trình lên trên ý kiến của Ngân Hàng không đóng.

Sau cùng, đến đây người Việt nhớ lại câu để đời của của Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu, đừng nghe những gì CS nói mà nhìn những gì CS làm. Sau 33 năm đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tức giải trừ CS, người Việt trong ngoài nước đã rút kinh nghiệm thêm và nói đừng nghe những gì CS nói mà làm những gì CS sợ. Không phải ngẩu nhiên mà trước khi VC tung ra vụ đánh thuế 10% của Việt Kiều, nhiều đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại lên tiếng kêu gọi kế hoạch hoá việc gởi tiền và đi VN. Tháng Tư Đen năm nay không gởi tiền về VN, không đi VN. Tháng Tư thành công, kế hoạch này có thể phát triễn theo vết dầu loang.

VI ANH

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tưởng Là Khôn Hoá Ra Rất Dại

Bùi Tín
Trưa ngày 20 tháng 1 năm 2009, tổng thống Obama đọc bài Diễn văn nhậm chức, phác họa chính sách, họat động của nhiệm kỳ 4 năm tới. Hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng toàn thế giới đều đưa tin rộng rãi và đầy đủ về buổi lễ tuyên thệ và bài Diễn văn nhậm chức hệ trọng này. Báo chí thế giới cũng chăm chú theo dõi thái độ và phản ứng của từng nước đối với buổi lễ và bài diễn văn, đưa ra nhiều nhận xét bổ ích và thú vị.

Ngay sau đó, công luận thế giới được biết bài diễn văn dài 2.380 từ tiếng Anh, được đọc trong 18 phút rưỡi, đã được chính ông Obama phác thảo; bản thân ông là nhà văn, nhà báo, từng viết hai cuốn sách đều nổi tiếng: Những giấc mơ của Cha tôi (Dreams of my Father) và Ước vọng táo bạo (Audacity of Hope); Obama từng là Tổng biên tập tạp chí Luật Pháp của Viện Đại học Harvard. Obama cũng là một nhà hùng biện, nói năng lưu loát, lập luận chặt chẽ, luôn có hình ảnh đặc sắc, đi vào lòng người nghe. Vì tầm quan trọng của bài Diễn văn nhậm chức đối với nước Mỹ và toàn thế giới, Obama chọn thêm 4 người tài để giúp mình hoàn thiện bài diễn văn này, trong đó có một trí thức trẻ hơn ông gần một chục tuổi, kiến thức rộng, tư duy trẻ, vừa được ông chọn vào Nhà Trắng cùng ông. Đây là sáng tạo tập thể nổi bật nhất của 5 bộ óc mới mẻ trong thời kỳ chuyển tiếp 76 ngày, từ 4-11-2008 đến 20-1-2009.

Nhiều nhà bình luận sành sõi nhất về thời sự và văn học từ Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật... ngay từ tối 20, sáng 21 đã nhận xét rằng bài Diễn văn này được xếp vào loại hay nhất, có giá trị và ý nghĩa nhất, của 44 đời tổng thống, bên cạnh những bài diễn văn nhậm chức lịch sử của George Washington, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt và John Kennedy...

Người ta chú ý bàn luận đến những ý nổi bật, có tính định hướng trong bài Diễn văn, như: "chúng ta đứng trước những thử thách rất thật, nghiêm trọng và không ít"; “chúng ta hãy đứng cả dậy, tự phủi bụi và bắt tay vào tái thiết nước Mỹ"; "chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay cho sợ hãi, chọn thống nhất mục tiêu thay cho xung đột và bất hòa"; "chúng ta từng hạ gục chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản"; "sức mạnh của chúng ta được phát huy do biết sử dụng nó một cách thận trọng" ; "điều đòi hỏi chúng ta lúc này đây là một kỷ nguyên mới của Trách nhiệm"; "chúng ta hãy can đảm lội qua dòng nước băng giá và vượt qua bất cứ bão táp nào"...

Trước tình hình nghiêm trọng của chiến tranh và suy thoái kinh tế, tổng thống Hoa kỳ vừa nêu cao những lý tưởng truyền thống vừa có cách nhìn thiết thực, thực dụng để cổ vũ hành động tức thời.

Bài Diễn văn nhậm chức của tổng thống Obama được cả thế giới theo dõi với niềm xúc động sâu xa, với mối thiện cảm nồng hậu vì nó hướng rõ ràng đến một thế giới hòa bình, hợp tác, dân chủ và tự do hơn trước, một nền kinh tế quốc tế được hồi phục dựa trên khoa học kỹ thuật mới, những nguồn năng lượng mới, với sử dụng tài nguyên hợp lý và nền tài chính minh bạch, đẩy lùi nguy cơ và hiểm họa do con người và tự nhiên gây nên.

Các nhà bình luận quốc tế còn đánh giá cao bài Diễn văn nhậm chức của tổng thống Obama ở giọng điệu hoà hoãn, khoan dung, nhưng lại không thiếu tinh thần nghiêm khắc cảnh cáo răn đe những thế lực khủng bố và độc tài.

Các báo chí quốc tế hầu như nhất loạt nhận xét rằng cả 4 chế độ độc đoán độc đảng Cộng sản còn sót lại Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba đều đưa tin rộng rãi về bài Diễn văn nhậm chức của tổng thống Obama, nhưng đều tẩy bỏ đi từ: "chủ nghĩa cộng sản", trong câu: "Hãy nhớ rằng thế hệ cha anh chúng ta đã hạ gục chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản không phải chỉ bằng tên lửa và chiến xa, mà bằng những liên minh vững chắc và bằng niềm tin bền bỉ".

Sao mà "4 anh em nhà Cộng" ấy giống nhau đến vậy!

Họ đều cảm thấy bị chạm nọc.

Họ không có cách nào chối bỏ sự thật rành rành, hiển nhiên.

Họ chỉ còn biết xoá đi, xoá đi một từ: "communism"; hay xoá đi một cụm từ: "chủ nghĩa cộng sản"/"cúng sạn trủ dí".

Không có cái dại nào bằng cái dại nào. Bằng cách xoá bỏ đi một từ, "bốn anh em nhà Cộng" đều tỏ ra vô lễ, lếu láo ngay với nhân dân, độc giả, đồng bào của chính nước mình. Vẫn cái kiểu trịch thượng, cường hào, "ông cho chúng bay biết cái gì thì chỉ được biết cái ấy thôi, nghe không ?".

Chắc rằng ngay nửa đêm 20 rạng 21 tháng 1 (theo giờ Hà Nội), Tô Huy Rứa và Lê Doãn Hợp (trưởng ban tuyên giáo trung ương và bộ trưởng thông tin truyền thông) đã gọi điện cho các tổng biên tập các báo, truyền thanh, truyền hình... ra nghiêm lệnh phải "thiến" ngay cụm từ "chủ nghĩa cộng sản" trong bài diễn văn vừa phát đi. Ai để lọt sẽ bị bay chức!

Sao họ chậm hiểu, thiếu thông minh đến thế nhỉ! Người biết tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, Nhật... trong nước ngày càng nhiều. Ai muốn biết toàn văn bài diễn văn, chỉ việc mở máy computer, bấm con chuột là nghe đầy đủ, thoải mái, từ chính giọng ông Obama cũng có; muốn nghe tiếng Việt thì BBC dịch ra sớm nhất, rồi RFA, VOA , RFI, thiếu gì, từ chữ đầu đến chữ cuối, từ A đến Z!

Thà rằng cứ để nguyên; xoá đi vừa tỏ ra sợ sự thật, sống không ngay thật, quen gian trá, lo sợ sự thật đến với nhân dân, vừa tự mình trưng ra cái điều mình sợ nhất để bị cả thế giới và cả đồng bào mình vạch mặt thấp hèn, chê cười và khinh bỉ.

Gian trá và dại dột dai dẳng thành cố tật, thành nếp sống, rất khó sửa. Báo chí Việt nam, nhất là báo Nhân Dân đã bị lật tẩy, chê cười khi xoá bỏ những câu chữ trong diễn văn của tổng thống Pháp Mitterand và của tổng thống Mỹ Clinton đọc tại Hà Nội, nay họ vẫn cứ chứng nào tật nấy; vào WTO hơn 2 năm rồi mà vẫn còn mê ngủ như thời chiến tranh, cứ như vẫn đóng cửa kín mít, để mà tha hồ hành dân mình, hành đồng bào mình, bằng bịt mắt, bịt tai bà con ta một cách tùy tiện, tùy hứng.

Báo Pháp còn tinh khôn khám phá ra rằng báo Trung Quốc còn xoá bỏ thêm một đoạn nữa trong bài diễn văn nói trên của tổng thống Obama. Đó là đoạn: "Với những kẻ bám quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng tiếng nói đối lập, hãy hiểu rằng các người đang đứng về phía sai lầm của lịch sử!". Bắc Kinh lại giơ kéo lên để "thiến", vì cảm thấy chạm nọc. Vậy thì Bắc Kinh và Hà Nội, ai khôn hơn ai trong chuyện này? "Hai anh em nhà Cộng" này đều giống y như nhau trong khi bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng và để tham nhũng nữa, cũng giống y như nhau về đàn áp, bỏ tù mọi tiếng nói đối lập, bất đồng chính kiến, đều cấm báo tư nhân, đều kiểm soát chặt các bloggers trẻ....

Ngược lại, báo chí Việt Nam bị đảng khoá mồm và đảng còn dạy cho tự khoá mồm vẫn có thể khoe là ta cũng "khôn ranh ra phết"! Đó là trường hợp của báo Tuổi Trẻ, khi đưa hầu như toàn bộ bài Diễn văn nhậm chức của tổng thống Obama, trong đoạn nhắc đến công lao của những thế hệ đi trước: "Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord, Gettysburg, Normandy và Khe Sanh", đã xoá bỏ chữ “Khe Sanh”. Xin nhớ tổng biên tập cũ báo Tuổi Trẻ vừa được đảng cho về vườn, thì tổng biên tập mới đã có "tinh thần bén nhạy" nhanh nhẩu xoá bỏ chữ Khe Sanh là điều dễ hiểu.

Thế nhưng báo mạng Vietnam.Net vẫn để nguyên chữ “Khe Sanh” - trận diễn ra năm 1967-1968 ở chiến trường Trị - Thiên, bên cạnh Concord - trận chiến diễn ra năm 1775, Gettsburg - trận diễn ra năm 1863 (đều trong cuộc nội chiến Nam - Bắc) và Normandy - trận đổ bộ lớn từ nước Anh lên châu Âu năm 1944 để diệt bọn phát xít Hít-le, như trong bản gốc. Có lẽ vì thế nên bài này bị xoá ngay sau một buổi xuất hiện trên VietNamNet.

Ý định của Tổng thống Obama là rất rõ; trận chiến Khe Sanh được ông coi như có giá trị lịch sử tiêu biểu cho chính nghĩa dân chủ và tự do, chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế có mưu đồ nô dịch toàn thế giới. Với một độ lùi lịch sử hơn 40 năm, khi mây mù của thế kỷ 20 đã tiêu tan, mọi việc được sáng tỏ.

Đối với một số cựu chiến binh quân đội nhân dân, cho đến nay không phải không có người vẫn còn cay đắng nói đến trận Khe Sanh - mà anh em gọi là "Khe Tử", khi biết bao đồng đội bị thương và hy sinh tại đó, nhưng bản thân, gia đình và đồng bào ta đến nay vẫn không có tự do, vẫn bị những cường hào cộng sản các cấp ức hiếp, đè nén, còn lãnh thổ , lãnh hải Tổ quốc thì nay bị đảng cộng sản nhượng "vô tư" cho các "đồng chí đàn anh của họ". Vậy thì chiến đấu để làm gì? cho ai ? Câu hỏi trên mỗi tấm mộ liệt sĩ.

Diễn văn của ông Obama không nói đến 2 chữ Việt Nam. Chỉ có hai chữ “Khe Sanh” mà đã làm cho Hà Nội giật mình chạm nọc. Và họ cũng giật bắn mình khi nghe đến câu: "những kẻ bám lấy quyền lực bằng tham nhũng, lừa dối và bịt miệng tiếng nói đối lập hãy biết rằng các người đang đứng về phía sai lầm của lịch sử". Có tật thì giật mình. Đứng về phía sai lầm của lịch sử thì ắt bị nhân dân mình, bị cả nhân loại chống lại, và sẽ bị lịch sử đào thải. Có lời phán quyết nào nghiêm khắc hơn?

Obama với Việt Nam, Việt Nam với tổng thống Obama, đi sâu vào có khối chuyện hay, sẽ còn có khối chuyện hay.

Nhất là đối với tuổi trẻ Việt Nam, cùng thế hệ với Obama, cùng thời đại với Obama, cùng thành thạo computer như Obama, cùng mê tận dụng cái con Blackberry như Obama, cùng nghiện internet và email như Obama, coi thông tin nhanh nhậy như hơi thở như Obama, chớ có phạm sai lầm và dại dột.

Đối với thế hệ khao khát hiểu biết này, cái gì cũng muốn hiểu thấu đáo, hiểu đến nơi đến chốn, hiểu cặn kẽ nguồn cơn, xin chớ có dại dột cắt câu này, thiến chữ nọ, giở trò ăn gian và xảo trá, tưởng là khôn ngoan, mà hoá ra là dại, quá ư là dại đấy!

Paris 22-1-2009 - Bùi Tín

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Việt khắp nơi trông đợi gì ở Obama?
Tác giả: Hà Giang, RFA


Chỉ hơn một tuần lễ sau ngày lễ nhậm chức, tổng thống Obama đã phải vật lộn với hàng loạt những vấn đề cực kỳ phức tạp và khó khăn của Hoa Kỳ cũng như trên thế giới. Đã thế, là một biểu tượng cho sự đổi thay và hy vọng, ông Obama còn mang nặng trên vai kỳ vọng của biết bao người trước đây đã ủng hộ và mong cho ông được đắc cử, cả của cử tri Hoa Kỳ lẫn của dân chúng mọi giới ở khắp toàn cầu. Vậy những người trẻ ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam mong đợi gì nơi ông? Hà Giang ghi nhận và gửi đến thính giả:


Đối với nhiều người trên thế giới, việc ông Obama đắc cử để trở thành tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ là một biến cố lịch sử, một thay đổi quan trọng về quan hệ chủng tộc ở Mỹ, cũng như là một biểu tượng cho hy vọng và sự đổi mới. Trong niềm hân hoan đón nhận biến chuyển mà đa số cho là khả quan ấy, nhiều người đã vô hình chung đặt vào tổng thống Obama những niềm kỳ vọng, mà một số nhà phê bình cho rằng, nếu bình tâm xét lại có thể người ta đã tự tạo cho mình những thất vọng sau này.

Người ta mong là ông Obama sẽ nhanh chóng hòa giải được hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan; Họ mong ông gấp rút giải quyết được cuộc suy thoái kinh tế không những của nước Mỹ mà còn cho toàn cầu; Mong cho vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới được cải thiện; Mong những quân nhân Mỹ hiện đang viễn chinh ở Iraq được mau chóng trở về đoàn tụ với gia đình… Những điều này và còn biết là bao nhiêu niềm trông đợi khác đã tạo ra một thử thách vô cùng lớn lao cho vị tổng thống da mầu đầu tiên của Hoa Kỳ.

Người Việt chúng ta ở cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam cũng mong đợi ở ông Obama nhiều điều.

Anh Đông, một sinh viên Việt Nam sống tại Sài Gòn nói rằng dù ở thật xa nhưng giới trẻ Việt Nam đã theo dõi rất sát cuộc vận động tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ, và họ cũng mong cho có sự cải thiện ở Việt Nam . Anh phát biểu:

“Mặc dù là cách xa nửa vòng trái đất nhưng mà tôi rất là quan tâm đối với việc mà nhân dân Mỹ bầu chọn tổng thống trong thời gian vừa qua. Chiến thắng của ông Obama đã cho thấy rằng người dân Mỹ cần sự thay đổi. Thực lòng mà nói thì tôi rất là mong muốn rằng trong nhiệm kỳ 4 năm sắp tới, ông Obama sẽ thực hiện đúng được cái lời hứa khi mà tranh cử đó là việc vực dậy nền kinh tế của nước Mỹ và thế giới. Đặc biệt là đối với Việt Nam thì tôi mong muốn là trong nhiệm kỳ sắp tới thì mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ sẽ được thắt chặt hơn trên tinh thần hòa bình và hữu nghị, trong đó thì mối quan tâm tới vấn đề dân chủ và nhân quyền đối với Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể!.”

Mặt khác, nỗiưu tư canh cánh bên lòng về việc lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam hiện đang bị Trung Quốc dần dà xâm chiếm đã khiến ông Bá ở Hải Phòng lên tiếng:

“Yêu cầu ông Obama giúp nhân dân Việt Nam đòi lại lãnh hải và hải đảo của nhân dân Việt Nam. Việt Nam không có nhân quyền, và yêu cầu ông Obama đưa ra ánh sáng, trước công luận trên toàn thế giới!”

Qua lời chị Thảo, mộtthiếu nữ đang sống ở Thủ Đức, người ta có thể hình dung ra được nỗi khát khao cho nhân quyền và một nền tự do thực sự của đa số những người trẻ ở Việt Nam:

“Hy vọng rằng là, ông ấy là một người trẻ hơn, ông ấy có cái mạnh dạn và sự cứng rắn của ông ấy đối phó với nhà nước Việt Nam để buộc nhà nước Việt Nam đi thực hiện được nhân quyền và tự do…”

Tại Hoa Kỳ, người Việt có những mong đợi dường như có phần thiết thực hơn. Một thanh niên tên Quốc, chuyên viên điện tử, hiện định cư ở Nam California cho biết:

“Tôi thật sự cũng không có mong đợi gì nhiều lắm ở ông Obama cao hơn những tổng thống trước đến gì của Mỹ, nhưng ông Obama là một người thuộc sắc dân thiểu số, cho nên tôi mong đợi là ông sẽ khuyến khích người thuộc sắc tộc thiểu số tham gia vào sinh hoạt chính trị nhiều hơn, điều này ích lợi cho nước Mỹ. Tôi cũng mong đợi là ông sẽ thay đổi một số chính sách trước đây của Tổng Thống Bush, để cải thiện cái hình ảnh của nước Mỹ trên thế giới trong khi đó vẫn đẩy mạnh tiến trình dân chủ bằng một con đường khôn ngoan hơn, giúp dân chủ hóa Việt Nam và giúp Việt Nam tránh được ảnh hưởng không tốt của những nước độc tài”.

Bà Hằng, một nhà giáo nhà ở khu Little Saigon, mong rằng nền kinh tế chóng được phục hồi:

“Điều tôi mong đợi nhất ở Tổng Thống Obama, thứ nhất là ở chính trị, ông ta làm trong sạch cái bộ máy chính trị của chính phủ Mỹ, và cái thứ hai là về kinh tế, ông ta vực dậy được cái nền kinh tế của Mỹ qua cái thời kỳ suy thoái này. Đó là hai hy vọng lớn nhất của tôi.”

Trong khi đó một du sinh tên Dương hiện đang theo học ngành quản trị xí nghiệp tại thành phố Garden Grove, và đã ở đây được gần 4 năm, cảm thấy phấn khởi vì ông Obama là một người da mầu mà đã rất thành công, và mong rằng quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và các nước khác sẽ Obama cải thiện. Du sinh Dương bầy tỏ:

“So với những tổng thống khác có thể ông Obama sẽ thông cảm hơn. Người da mầu mà thành công thì những người Châu Á hay dân tộc khác cũng sẽ thành công như ông. Cũng mong là ông Obama sẽ giúp cho những người trẻ có thêm cơ hội để mà có công ăn việc làm nhiều hơn, và cái quan hệ ngoại giao với các nước khác như Việt Nam sẽ tốt hơn về mặt kinh tế và chính trị.”

Những kỳ vọng mà người Việt khắp nơi đặt ra cho Tổng thống Obama không khác mấy so với các đời tổng thống Mỹ trước đây. Tuy sự khác biệt về màu da đã đưa ông nằm ở một vị thế cao hơn trong lòng những người thuộc sắc dân thiểu số nhưng việc đặt quá nhiều kỳ vọng vào một vị tổng thống có rất nhiều điều cần phải giải quyết xem ra thật khó cho ông trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn mà suy thoái kinh tế toàn cầu chính là ưu tiên hàng đầu cho tân tổng thống.


Hà Giang, thông tín viên RFA.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hận Nam Quan

Ngô Nhân Dụng

Tờ báo Xuân Kỷ Sửu của Tổng Cục Du Lịch trong chính quyền cộng sản trong nước đã đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.

Trong số báo Xuân trên cũng đăng bài của thi sĩ Bùi Minh Quốc, một người mà mục này đã nhắc tới khi ông viết bài tố cáo “Âm mưu diễn biến hòa bình” của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhà thơ thấy Cộng Sản Trung Hoa đã tìm cách chiếm đoạt chủ quyền của Việt Nam bằng cách chiếm dần dần quyền lãnh đạo trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Âm mưu đó đã thành công một phần, như chúng ta thấy trong thái độ nhu nhược của giới lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước chính quyền Bắc Kinh trong vụ Hoàng Sa.

Bài viết của Bùi Minh Quốc nhắc tới “hồi ký” của Hoàng Tùng, một cựu cán bộ cao cấp và một đảng viên lâu năm đã từng theo sát các lãnh tụ cộng sản. Thực ra ông Hoàng Tùng không viết hồi ký, tài liệu được truyền bá trên Internet chỉ là những “lời tự thuật” của ông, được ghi lại và hiệu đính. Nội dung nhắm nhiều nhất vào những điều ông biết về Hồ Chí Minh, ông kể lại với chủ ý bênh vực cho ông Hồ. Riêng trong phạm vi này, ông Hoàng Tùng đã vô tình cho thấy “công cuộc diễn biến hòa bình” của Trung Cộng đã thành công từ thời 1950, khi các cố vấn đầu tiên của Trung Cộng sang chỉ huy quân đội cộng sản Việt Nam.

Trong một bài trước, mục này đã nhắc tới ý kiến của các cố vấn Trung Cộng là khai trừ các thành phần “không phải vô sản và bần cố nông” trong quân đội Việt Nam. Một người phụ tá của Văn Tiến Dũng đã lập một danh sách những sĩ quan nên khai trừ, nộp cho các cố vấn. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngăn việc thanh lọc này vì sợ thiếu người. Mà quả thực, trong quân đội Việt Nam lúc đó thành phần thực sự vô sản và bần cố nông không có ai đáng làm sĩ quan.

Nhưng bài tự thuật của Hoàng Tùng cũng cho thấy sự thật về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc, bao trùm lên cả quân sự lẫn chính trị từ năm 1950. Theo Hoàng Tùng thì Hồ không thích rất nhiều chính sách của Trung Cộng. Hoặc Hoàng Tùng nói ông Hồ không phục Stalin và Mao Trạch Ðông mà ông ta còn hận vì bị hai người đó ép buộc. Các đảng viên cộng sản bây giờ hay nêu ra những chi tiết đó để chữa tội cho ông Hồ, có vẻ như muốn chứng minh ông ta không phải là cộng sản thứ thật, chỉ là cộng sản bất đắc dĩ mà thôi!

Nhưng đối với tất cả mọi người Việt Nam khác thì vấn đề không phải là ông Hồ phục Stalin hay không, không phải là trong thâm tâm ông ta đồng ý hay không thích những chính sách nào của Mao Trạch Ðông. Câu hỏi chính là: Cuối cùng ông Hồ đã làm gì và hậu quả ra sao?

Chúng ta thấy ông Hồ cuối cùng vẫn phải cúi đầu chấp thuận ý kiến của các cố vấn Trung Cộng. Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6 và 7, suốt những năm từ sau năm 1950 ông Hồ mỗi lần viết đều nhất thiết suy tôn “Ðại Nguyên Soái Xtalin,” hoặc Chủ Tịch Mao Trạch Ðông vĩ đại.

Hoàng Tùng kể rằng trong thời gian đó cố vấn quân sự của Trung Cộng “Vi Quốc Thanh chuẩn bị (chiến dịch Biên Giới) mọi việc nhất nhất đều xin ý kiến của Mao.” Trước khi chiến dịch đó bắt đầu vào đầu năm 1950, Hoàng Tùng kể rằng Võ Nguyễn Giáp chủ trương đánh Cao Bằng nhưng Tướng cố vấn Trung Cộng Trần Canh bảo phải đánh vào Ðông Khê. Sau phải đánh Ðông Khê.

Hoàng Tùng kết luận, “Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên Giới.” Cái giá phải trả cho công “giúp” đó là, “Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.” Những chữ “chỉnh huấn, chỉnh quân” không phải là những khẩu hiệu suông mà là những cuộc tranh đấu nội bộ trong quân đội, theo mẫu đã thực hành ở Trung Quốc, với mục đích tiêu diệt những thành phần “chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp vô sản.” Cho nên Hoàng Tùng nói tiếp, “Thế là năm 1950-51, đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội.”

Trong bài tổng kết về chiến dịch này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, “Trung Quốc có câu Quân Lệnh Như Sơn,” tức là lệnh trong quân vững chắc như núi, không thể thay đổi được. Rõ ràng lối nói trên cũng nhắm để khi dịch bản tổng kết này ra tiếng Trung Hoa thì các cố vấn phải khen Hồ là một học trò giỏi của Mao Chủ Tịch.

Ðó là một bước đầu của “diễn biến hòa bình” mà Bùi Minh Quốc tố cáo. Từ đó, các cố vấn Trung Cộng còn tiến thêm nhiều bước nữa.

Trong thời gian đó Hồ Chí Minh chỉ đóng vai như một bù nhìn, bảo Võ Nguyên Giáp thi hành các lệnh hành quân của Tướng Trần Canh. Hồ Chí Minh cũng đóng vai cán bộ tuyên truyền, viết những lá thư gửi ra mặt trận hô hào các chiến sĩ Việt Nam hãy liều chết hy sinh. Trong lá thư đề ngày 8 tháng 10 năm 1950 Hồ còn hứa sẽ “khao các chiến sĩ một bữa thịt bò.” Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6, bản in năm 2000, in lá thư thịt bò này ở trang 103, nhưng trước đó 2 trang còn in một bài thơ của Hồ Chí Minh tặng Tướng Trần Canh, cố vấn mặt trận. Bài này bắt chước gần nguyên văn bài Lương Châu Từ đời Ðường, trong câu đầu Hồ Chí Minh chỉ thay tên rượu “Bồ Ðào mỹ tửu” bằng tên một thứ rượu mới: “Hương Tân mỹ tửu dạ quang bôi.” Theo chú thích của nhà xuất bản thì “Hương Tân” ở đây là rượu champagne. Thế mới biết, trong thời gian kháng chiến gian khổ của toàn dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc vẫn được trọng đãi!

Hoàng Tùng lại kể rằng tại đại hội đảng Lao Ðộng năm 1951, La Quý Ba là đại biểu ngoại quốc duy nhất (ngoài Lào và Cam Pu Chia) tới dự, ông cố vấn đã giảng về thuế nông nghiệp. Và, “Sau đó (Việt Minh) bắt đầu đánh thuế. Họ (Trung Cộng) đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất. Vì thế nên Mùa Hè năm 1952 Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất.”

Vâng lệnh đó, năm 1953 Hồ Chí Minh phát động chính sách cải cách ruộng đất trong Hội Nghị Trung Ương kỳ thứ tư, khóa 2. Bài diễn văn báo cáo của ông, đọc ngày 25 Tháng Giêng năm 1953, đăng trong Toàn Tập 7, đã ca ngợi công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Ông Hồ kể Trung Quốc đã “chia ruộng cho 500 triệu nông dân” thành công rộng và lớn! Con số 500 triệu này là do các cố vấn cung cấp, vì lúc đó Bắc Kinh khoe nước họ đã có 582 triệu dân. Ðó là bước nhẩy vọt trong cuộc đời lệ thuộc Trung Cộng của Hồ Chí Minh.

Cuộc cải cách ruộng đất làm chết hàng trăm ngàn người Việt Nam, trong đó có những người đã theo kháng chiến chống Pháp từ đầu. Nhưng vụ giết người thê thảm nhất là vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là bà Cát Thanh Long. Bà là người đã ủng hộ chính phủ kháng chiến hàng trăm lạng vàng, các con theo kháng chiến trong quân đội, các cán bộ cao cấp cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ đã được bà nuôi. Ðó là những chi tiết mà Hoàng Tùng kể lại, trước khi ông tiết lộ có người Việt Nam đã mách cho các cố vấn Trung Cộng biết về bà Nguyễn Thị Năm để họ chọn làm “thí điểm,” đấu tố trước hết để làm gương. Hồ Chí Minh chống lại, nhưng sau cùng lại phải gật đầu đồng ý.

Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì vụ “cải cách ruộng đất” chỉ là một cái cớ. Mục đích của các cố vấn Trung Cộng là thay đổi toàn thể cơ cấu đảng Cộng Sản Việt Nam. Hoàng Tùng viết về mưu đồ của Trung Cộng: “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta... họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể... họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta.”

Thế Hồ Chí Minh làm gì trong lúc đó? Ngoài việc vâng theo lệnh các cố vấn Trung Cộng ra, ông chỉ còn phải lo viết những bài ca tụng các chính sách mà các cố vấn chỉ bảo, ra lệnh các cán bộ, đảng viên thi hành tốt các chính sách đó. Ngoài ra, ông còn để thời giờ làm thơ nữa, nhất là thơ bằng chữ Hán mà các cố vấn có thể đọc được. Trong một bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17 Tháng Ba năm 1950, in trong Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản năm 2000, Hồ Chí Minh đã viết bốn câu ca ngợi hồng quân Trung Hoa. Ðây là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh viết trong chuyến đi Trung Quốc năm đó, ngẫu hứng viết về cảnh Bắc Kinh, Hồ Bắc, Trường Sa (ở Hồ Nam). Hai câu chót trong bài Ngọ Quá Thiên Giang ca ngợi chiến thắng của đạo quân Mao Trạch Ðông tại Thiên Giang, câu chót có khí thế rất hùng hồn, oanh liệt:

“Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!”

Phan Văn Các dịch là “Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”

Nếu các nhà báo trong Tổng cục Du lịch ở Việt Nam bây giờ mà đăng bài thơ Hận Nam Quan, họ nên nhớ, xin đừng quên, rằng trước đây 59 năm, hồi Tháng Ba năm 1950 Hồ Chí Minh đã hào hứng hoan nghênh đoàn quân của Mao “trực đáo Trấn Nam Quan” rồi!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Có nên né tránh cuộc chiến 30 năm trước?

Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu
Bài viết riêng cho BBCVietnamese.com

Image
Một cựu binh Trung Quốc thăm lại nghĩa trang tử sĩ trong chiến tranh biên giới 1979
Trong quá trình cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.
Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên bình dường như là khoảng thời gian đang bị quên lãng.

Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đã ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong vòng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố tình lãng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam

Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” thì các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.

Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức gì đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi vì đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.

Việt nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, vì vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh mình.

Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.

Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, thì vấn đề Trung Quốc có vai trò gì với trật tự quốc tế và có đe dọa gì với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đã to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, vì vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của mình.


Cuối năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ

Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, vì vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ý nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ý định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.

Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, vì vậy càng có ý nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề phòng.

Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc phòng của Trung Quốc.

Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lý luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.

Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam tìm ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Chưa thỏa đáng

Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rõ là học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung.

Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, thì có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.


Học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung



Nhìn về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nhìn chung. Cũng vì vậy trong quá trình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển hình cho điều này.

Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại ký ức không tốt đẹp cho hai bên, thì cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá trình lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.

Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.

Hồ chủ tịch đã từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm tình hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.

Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy trì độc lập tự chủ và phát triển đất nước của mình, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.

Vì vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lý giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lý hòa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.

Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gần đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) ('Dân chủ làm tại Đài Loan', Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.

Trong tháng Hai, BBC sẽ có loạt bài - trên cả phát thanh và trang mạng - đánh dấu 30 năm cuộc chiến biên giới Việt - Trung 1979, nhìn từ nhiều quan điểm khác nhau. Rất mong nhận được những bài bình luận, hồi ức của quý độc giả về sự kiện lịch sử này.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

TẾT: CS NỔ, PHÁO TỊT NGÒI
Vi Anh

Tin RFA mới nhứt, cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu đã tác động đến nhiều người Việt đang sinh sống ở nước ngoài kể cả những lao động xuất khẩu. Người về và tiền gởi về VN nhơn dịp Tết đều giảm. Thế nhưng Tết Kỹ sữu này, do bịnh thành tích và con số cố hữu, Đảng Nhà Nước CS Hà nội vẫn "nổ" như pháo -- nhưng pháo hơi tịt ngòi.

Đảng CS thì kẹt nội bộ vì tranh chấp quyền hành giữa chánh phủ và ban bí thư trung ương, cụ thể là giữa hai người Nam, Nguyễn tấn Dũng và Trương tấn Sang. Nước thì khó khăn vì kinh tế toàn cầu suy thoái, tài chánh khủng khoảng, nhiều nhà đầu tư rút chân. Dân nghèo lại nghèo thêm vì các công ty ngoại quốc lổ lã bỏ của chạy lấy người. Công nhân không được trả lương về quê với hai bàn tay trắng mang theo tức giận tràn hông. Nên để đánh lạc hướng dư luận trong ngoài nước, CS Hà nội mở hết công suất truyên truyền thổi phòng số người đi và số tiền "Việt Kiều" gởi về VN. Nhưng lạnh lùng phân tích cho thấy CS nói vậy nhưng không phải vậy mà tệ hơn vậy nhiều.

Một, quá bể về số "Việt Kiều" [từ sau dùng chữ VK cho gọn] đi về nước trong năm 2008. Trong năm CS Hà nội ra rả tuyên truyền đón hơn 4.5 triệu du khách trong đó có Việt kiều. Nào là Chủ Tịch Nhà Nước CS Hà nội Nguyễn minh Triết tuyên bố miển thị thực chiếu khán nhập cảnh, nào là Mặt Trận Tổ quốc, nào là Ủûy ban Người Việt Ở Nước Ngoài, nào là đài tuyền hình ruyền hình VTV4, chi nhánh tuyên truyền quốc ngoại của truyền hình CS thành phố CS gọi là Hồ chí Minh và của truyền hình trung ương của CS ở Hà nội dùng hết công suất để tuyên truyền chiêu dụ. Nhưng sự thật quá phũ phàng suốt năm 2008, chỉ có 400,000 người Việt đi về nước!

CS dùng kỹ thuật tuyên truyền quơ đũa cả nắm. Ngay những du khách ngoại quốc kia, theo sưu khảo độc lập cho biết, đến VN du lịch ít khi trở lại lần thứ hai, vì cảm thấy bất an cho cá nhân và ghét nhiều dòm hành của công an cảnh sát CS. Tin của truyền thông quốc tế độc lập cho biết số khách du lịch vào VN xuống nặng nên Tổng Cục Du Lịch hạ giá xuống tới 60%.

Con số 400,000 quá nhỏ đối với tổng số hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS định cư ở khắp các nước của ba châu, nhứt là Tâu Aâu, Bắc Mỹ, và Uùc Châu. Càng thấy nhỏ hơn khi thấy trong số 3 triệu người Việt tỵ nạn CS này đã có hơn 300,000 người tốt nghiệp đại học bốn năm trở lên. Số đậu bằng tiến sĩ, bác sĩ các ngành không ít -- mà theo lời Phó Chủ tịch Ủûy ban Người Việt Ở Nước Ngoài -- chỉ có 200 người "trí thức" về làm việc, thì quả là quá quá ít. Làm việc ở đây có thể hiểu là phù động, mùa màng, chớ không phải bán thì hay toàn thì vì cho đến bây giờ chưa thấy người trí thức nào về làm việc và ở luôn, hồi tịch VNCS cả.


Hơn nữa trong số 400 000 người đó chắc chắn có số người Việt đi "lao động xuất khẩu" (theo con số của CS Hà nội hiện có 500,000 người), cô dâu Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai, Tân gia ba là những người trong nước đi làm ở ngoại quốc. Khi gia tư hữu sự, hết hợp đồng, hay bị bạc đãi nên phải về nước - điều mà báo chí đăng tin hầu như hàng tuần. Những người sau này không phải là Việt Kiều theo thuật ngữ của CS và theo thực tế và pháp lý những người Việt nói trên không có định cư cố định, nhập quốc tịch các quốc gia định cư hay thường trú nhân hợp pháp ở các nước ngoài VN, đi VN bằng passport hay giấy tái nhập cảnh do quốc gia định cư cấp.

Hai, về số tiền 8 tỷ Việt Kiều gởi về cũng "bể". Trong khi đó, CS Hà nội đánh bóng tuyên truyền Việt Kiều gởi về 8 tỷ Mỹ kim, tăng 1 tỷ 300 triệu so với năm ngoái. Khoa trương là bịnh cố hữu của nhà cầm quyền chậm tiến. Thành tích con số là cái bịnh kinh niên của chế độ độc tài CS. Sẵn dịp Tết nên CS Hà Nội "nổ" hơn pháo nữa.Thử nghĩ xem làm ăn kiếm lời kia mà "Việt Kiều" đăng ký đầu tư ở VN chỉ cóù gần 2 tỷ Đô la. Đăng ký là con số trên giấy tờ, một chuyện còn xa với thực tế khi xuất chi thực hiện. Làm sao VK gởi cho bà con ở VN 8 tỷ nhiều hơn năm ngoái 1 tỷ 3 khi mà tình hình các nước mà người Việt định cư đang lâm vào suy thoái kinh tế và khủng khoảng tài chánh.

Phương chi, hiện nay CS Hà nội xuất khẩu lao động trên 500,000 người. Những người đó không phải là Việt Kiều theo thuật ngữ của CS Hà nội và theo qui chế nhập cư quốc tế. Đó là những người Việt đi lao động xuất khẩu, đang làm việc ở hơn 30 nước để mong kiếm tiền gởi về giúp gia đình. Số tiền của những đồng bào này gởi về chắc không nhỏ. Theo Uûy ban Người Việt ở Nước Ngoài của CS Hà nội nói trên cho biết số người này thường gởi gởi về từ 70 đến 80% số tiền kiếm được để nuôi gia đình. Trái lại Việt Kiều theo tiêu chí thông thường tiền tặng dữ thường chỉ chiếm 5% lợi tức kiếm được, là quá lắm rồi.

Trong số tiền gởi về VN, muốn hay muốn cũng phải kể hai số tiền các tổ chức đấu tranh gởi về giúp những người và các tổ chức tranh đấu trong nước để có phương tiện hành động. Và những tổ chức từ thiện giúp cho người nghèo và bịnh. Cái này thì khó mà biết vì gởi lòn qua đường chuyển tiền giúp gia đình, từ thiện,đầu tư, kinh doanh.

Ba và sau cùng, TT Nguyễn văn Thiệu rất có kinh nghiệm về CS đã nói, đừng nghe những gì CS nói, mà nhìn những gì CS làm. CS Hà nội đã làm cán cân chi phó ngoại thương của CS Hà nội niên khoá rồi khiếm hụt 14 tỷ Đô la.Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng ban đầu nói hạ quyết tâm tăng trưởng kinh tế tỷ lệ 9, rồi sụt 7, rồi 6,5, rồi 6,25%. Nhưng Ngân Hàng Thế giới cho biết có ráng lắm là 5%. Cán bộ đảng viên chỉ có "ăn" hối lộ, tham nhũng là giỏi. Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Ăn cả tiền viện trợ, tiền vay lãi suất ưu đãi, ăn đất, ăn nhà của Dân Oan và các tôn giáo, ăn của người lao động xuất khẩu, ăn cả tiền của trẻ em mồ côi đi làm con nuôi cho ngoại quốc. Những người như vậy thì cầm quyến đất nước và nhân dân làm sao khá được.

Còn VK càng gởi tiền nhiều về VN thì CS Hà nội càng nhiều ngoại tệ vì quyền phát hành tiền VN là quyền của Đảng Nhà Nước, muốn in bao nhiêu đề đổi ra tiền VK gởi về cũng được, vì dù nhận tiền gởi bằng ngoại tệ sau cùng người nhận cũng phải đổi ra tiền VNCS để xài. VK càng về kiếm cỏ non bò lạc ở VN thì CS Hà nội càng có lý do tuyên truyền hoà giải hoá hợp, gia đình ở ngoại quốc càng dễ mất hạnh phúc, và lớp thiếu nữ VN càng bị hư vì tiền. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại đang phát động phong trào kêu gọi hãy kế hoạch hoá việc gởi tiền và đi VN. Kêu gọi Tháng Tư Đen năm nay không gởi tiền về VN, không đi VN. Tháng Tư thành công, kế hoạch này có thể phát triễn theo vết dầu loang qua những khác khác trong năm.

VI ANH

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Một kế hoạch 900 tỷ đô la

Ngô Nhân Dụng

Tổng Thống Barack Obama và các đại biểu quốc hội Mỹ đang đi dần dần tới một kế hoạch kích thích kinh tế. Ði từ từ, vì khi phải bàn việc chi tiêu 900 tỷ mỹ kim, chắc chắn người ta khó đồng ý với nhau ngay. Ví thử quý vị là một đại biểu quốc hội Mỹ mà sắp bàn vấn đề này, với 900 tỷ Mỹ kim mình phải quyết định đem chi vào việc nào, quý vị có nghĩ tới việc dành một số tiền trong đó để chi vào việc gì ích lợi nhất cho các cử tri đã bầu mình hay không? Với hơn 500 đại biểu quốc hội, bên kia là ông tổng thống và chính phủ của ông với những lời hứa hẹn họ đã nói khi tranh cử, chúng ta có thể tưởng tượng biết bao nhiêu là ý kiến muốn đem dùng 900 tỷ Mỹ kim vào những việc hữu ích!

Tình hình kinh tế xuống trước hết vì cả hệ thống ngân hàng bị kẹt với những món nợ xấu. Các công ty tài chánh, tạm gọi chung là các ngân hàng, đã cho vay bừa bãi suốt mấy năm trời. Lỗi ở ngân hàng trung ương giữ lãi suất ở mức thấp lâu quá. Lỗi ở các chính phủ Trung Quốc, Á Rập dư tiền đem sang cho Mỹ vay dù lãi suất thấp. Tiền nhiều quá, rẻ quá, các ngân hàng không đi vay rồi đem về cho vay lại cũng uổng. Nhưng trong hệ thống tài chánh người ta lại có nhiều sáng kiến, đem “đóng gói” lại các món nợ mua nhà, dùng làm bảo đảm mà đi vay nợ thêm, phát hành các trái phiếu. Nhiều “sáng chế” đưa ra những loại chứng khoán mới trong hệ thống tài chánh. Các chứng khoán mới này, gọi là đê ri va ti, giúp cho các ngân hàng càng dễ vay nợ hơn, mối rủi ro của các món nợ được đem chia ra cho nhiều người cùng chịu, thì nghĩ rằng rủi no cũng nhẹ hơn.

Ðùng một cái, nhiều người vay nợ xấu không trả được nợ. Ðến lúc đó những trái khoán bảo đảm bằng những món nợ khó đòi đó không ai muốn mua nữa. Các công ty tài chánh và ngân hàng lớn bị kẹt vì trong nhà chứa bao nhiêu thứ trái khoán nhiễm độc đó. Ðiều độc hại là người ta không biết chắc những chứng khoán nào bị nhiễm độc nhiều hay ít. Ai dám mua những trái khoán đó nếu không biết đến lúc nào các món nợ trong đó sẽ ngưng không trả được nữa? Tháng Mười, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đoán là có khoảng 1,400 tỷ đô la trái khoán bị nhiễm độc sẽ không còn giá trị nào nữa. Ðến Tháng Giêng, họ nâng con số ước đoán lên 2,200 tỷ đô la. Tại sao con số lại tăng lên? Vì người ta không thể biết món nợ nào là món nợ xấu trước khi chính con nợ báo tin không có tiền trả nợ! Và số con nợ xấu đó ngày càng xuất đầu lộ diện nhiều hơn.

Hậu quả là các ngân hàng bị ứ đọng với hàng ngàn chứng khoán không ai muốn mua. Chính các ngân hàng biết sẽ lỗ vốn, phải để dành tiền đề phòng, họ có tiền cũng không còn đem cho ai vay nữa. Các xí nghiệp không vay được tiền chạy công việc, người tiêu thụ không vay được tiền sắm xe, mua nhà, tất cả kéo nhau cùng đi xuống! Nước Mỹ mỗi tháng mất nửa triệu công việc làm. Trong một ngày Thứ Hai vừa qua, các công ty lớn loan báo sẽ sa thải 76,000 công nhân. Con số mới ra cho thấy trong quý sau cùng của năm 2008 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ đã giảm gần 4% một năm, một tỷ lệ giảm sụt nặng nề nhất từ 26 năm nay.

Trong tình trạng kinh tế suy thoái bình thường thì muốn thúc cho các hoạt động đi lên ngân hàng trung ương có thể bơm thêm tiền vào trong xã hội. Giảm lãi suất là một cách thúc cho người ta vay nợ và chi tiêu hoặc đầu tư. Nhưng khi ngân hàng trung ương đã giảm lãi suất xuống đến số không rồi thì không giảm thêm được nữa. Ngân Hàng Trung Ương cũng có thể bơm tiền vào nền kinh tế theo những cách khác. Nhưng ngay việc bơm tiền vào cho các ngân hàng cũng không thúc được cho các ngân hàng nhúc nhích thêm trong việc cho vay. Vì họ vẫn còn kẹt với những trái khoán không ai muốn mua. Nói chung, là những “biện pháp tiền tệ” mà ngân hàng trung ương vẫn dùng bây giờ trở thành vô dụng. Người ta vẫn ví như đi đẩy một sợi dây, thay vì kéo dây, ngân hàng trung ương trở nên bất lực.

Chính vì vậy mà tất cả mọi người đồng ý: Chính phủ phải đứng ra làm công việc đẩy tiền trực tiếp vào trong nền kinh tế. Trong tình trạng người tiêu thụ và các xí nghiệp, các ngân hàng không chịu đẩy cho đồng tiền luân chuyển, chính phủ phải đứng ra làm công việc đẩy tiền đó. Thiếu tiền thì đi vay nợ, khi nào kinh tế lên sẽ thu thuế trả nợ. Ðấy là lý do chính phủ Bush trước đây và chính phủ Obama bây giờ, thuộc hai đảng khác nhau, triết lý kinh tế cũng khác nhau, mà đều đồng ý phải đi vay nợ lấy tiền kích thích kinh tế. Số khiếm hụt ngân sách đã lên đến ngàn tỷ đô la, và sẽ khiếm hụt thêm hàng ngàn tỷ nữa trong năm tới. Nhưng không có đường nào khác.

Hạ Viện Mỹ đã chuẩn y một ngân sách 819 tỷ kích thích kinh tế với tỷ số 244 - 188 phiếu. Tất cả các dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu chống. Nhiều đại biểu Dân Chủ chống (11 vị) vì kế hoạch kích thích chưa vừa ý họ. Ở cả hai viện quốc hội ai cũng có ý kiến. Có người muốn phải ghi vào trong luật là các xí nghiệp nhận được công việc do chính phủ trao cho thì chỉ được mướn các công nhân quốc tịch Mỹ mà thôi! Có người đòi khi kích thích kinh tế thì chỉ được phép mua những hàng hóa sản xuất ở Mỹ thôi. Người muốn phải dành nhiều tiền trợ giúp các gia chủ sắp bị xiết nhà; người muốn tăng trợ cấp cho những người thất nghiệp; mỗi người một ý. Khi không được vừa ý, dù là một ý rất nhỏ, họ có thể bỏ phiếu chống! Các đại biểu Cộng Hòa nêu một ý kiến lớn; họ đòi chương trình kích thích này phải bớt phần chính phủ chi tiêu và tăng thêm phần cắt giảm thuế. Triết lý “giảm thuế” này đã được thi hành mạnh mẽ dưới thời Tổng Thống George W. Bush, và đến nay vẫn còn được đảng Cộng Hòa tin tưởng.

Câu hỏi là: Có hai con đường để chính phủ đẩy tiền vào trong nền kinh tế: chi tiêu trực tiếp hoặc giảm thuế để dân có tiền đem tiêu. Ðường nào có hiệu quả kích thích hơn? Người thích giảm thuế thì cho là người dân đem tiền tiêu bao giờ cũng có hiệu quả hơn để đồng tiền cho các công chức nhà nước tiêu! Người nghĩ ngược lại thì cho rằng khi trả lại thuế hay cắt thuế, người dân nhận được tiền chưa chắc đã đem tiêu, nhất là trong lúc này ai cũng lo sắp mất việc. Như vậy thì không có hiệu quả kích thích bằng chính phủ đưa tiền trả lương cho những người làm việc! Việc gì, các đại biểu quốc hội sẽ bầy ra.

Nhưng việc thông qua hơn 800 tỷ ở Hạ Viện tương đối dễ dàng. Cái cửa sắp tới phải đi qua là Thượng Viện. Ở đây đảng Dân Chủ có đa số 59-41, chưa đủ 60 phiếu để buộc các nghị sĩ Cộng Hòa phải ngưng thảo luận, nếu họ muốn dùng thủ tục filibuster không cho Thượng Viện biểu quyết. Liệu Tòa Bạch Ốc và các nghị sĩ Dân Chủ có thể thuyết phục được một số nghị sĩ Cộng Hòa ủng hộ mình hay không?

Có thể, nếu có sự trao đổi. Một số nghị sĩ, Dân Chủ hoặc Cộng Hòa, có những ý kiến họ rất thiết tha. Nếu chiều theo ý thì họ có thể bỏ phiếu thuận. Có người muốn tăng số tiền miễn thuế cho những người vay nợ khi mua nhà. Có người muốn buộc các ngân hàng phải ngưng ngay việc xiết nhà dù chủ nhà không trả được nợ. Trong dự luật chi tiêu kích thích trị giá gần 900 tỷ ở Thượng Viện có những khoản chi bị nhiều nghị sĩ chống đối; thí dụ chi cho cơ quan y tế quốc gia để nghiên cứu thuốc ngừa cảm cúm. Nhiều người không hiểu tại sao chương trình ngừa cúm đó lại đem cho vào kế hoạch kích thích kinh tế? Nghị Sĩ Olympia Snowe, tiểu bang Maine, là một người đặt câu hỏi đó. Bà thuộc đảng Cộng Hòa, và là một trong những tác giả viết về thuế trong dự luật kích thích kinh tế ở Thượng Viện. Nếu Tổng Thống Obama chinh phục được bà Snowe ủng hộ thì sẽ có nhiều nghị sĩ Cộng Hòa khác cũng sẽ ủng hộ kế hoạch kích thích kinh tế của ông. Ông Obama có thể sẽ nhượng bộ Nghị Sĩ Cộng Hòa Charles Grassley, tiểu bang Iowa, nếu ông đồng ý thêm vào trong dự luật một khoản giảm thuế cho những người lợi tức khá giả nhưng tìm được nhiều lý do hợp pháp để không phải đóng thuế, gọi là Thuế Tối Thiểu (alternative minimum tax).

Tuần lễ tới sẽ là thời gian các nghị sĩ ở Thượng Viện và Tòa Bạch Ốc gặp gỡ để mặc cả, trao đổi với nhau, với hy vọng cuối cùng các nghị sĩ Cộng Hòa sẽ không dùng tới thủ tục filibuster nói dai, nói hoài không cho biểu quyết. Thượng Viện được tiếng là nơi các đại biểu thảo luận với nhau như người lớn, chứ không gay go om sòm như ở Hạ Viện. Cho nên hiện nay ông trưởng khối đa số (Dân Chủ) ở Thượng Viện đang hy vọng sẽ có 80 nghị sĩ bỏ phiếu thuận. Ít nhất, ông hy vọng sẽ có 5, 6 nghị sĩ Cộng Hòa sẽ ủng hộ dự luật.

Vì trong tình trạng kinh tế đang báo động như bây giờ, không mấy ai muốn đóng vai kỳ đà cản mũi trước một kế hoạch cứu nguy kinh tế. Ðảng Dân Chủ cũng không muốn một mình đứng ra nhận trách nhiệm về kế hoạch này. Vì không ai biết với 900 tỷ sắp chi ra đó bao giờ kinh tế Mỹ sẽ hồi phục! Nếu may mắn đến cuối năm nay mà kinh tế bắt đầu lên trở lại thì ai cũng muốn đứng ra nhận công của mình; còn nếu đến sang năm kinh tế vẫn chưa lên thì sẽ nhiều người khoe với cử tri là chính mình đã biết trước nên bỏ phiếu chống!

Post Reply