Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhà Văn Võ Thị Hảo "Không Sợ Bị Bắt"

Quốc Phương (BBC)

Image
Blogger Võ Thị Hảo tin rằng trang blog của bà bị đột nhập không ngẫu nhiên.
'Nhiều lần tôi đã vào blog của tôi nhưng không thể đọc được, có những bài bị xoá trắng, tôi thấy blog của tôi đã bị xoá nội dung rồi,' nhà văn Võ Thị Hảo nói với BBC Việt ngữ hôm 30 tháng 12 về tình trạng các trang blog cá nhân của bà trên mạng internet bị thâm nhập, biến đổi nội dung và hình thức.

"Tôi nghĩ rằng đây không phải là ngẫu nhiên, nghe nói ông Thứ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông vừa ký một thông tư về việc cấm các blogs có nội dung không phù hợp với yêu cầu của họ," bà Hảo nói

Khi được hỏi là liệu bà có nghĩ tới một khả năng các trang blog của mình bị tin tặc tấn công hay không, nhà văn nữ 52 tuổi cho hay:

"Tôi nghĩ nếu là tin tặc thì họ vào họ sẽ đưa ra những nội dung khác. Họ có thể lợi dụng nội dung blog của tôi để xuyên tạc hoặc làm những việc gì đó.

''Tôi nghĩ tin tặc họ không có những cử chỉ như vậy, tất nhiên là tôi chưa thể khẳng định ai đã làm việc này. Nhưng tôi nghĩ không ngẫu nhiên."

'Nội dung nhạy cảm'
Trong một entry nói về giáo dục Việt Nam và cần làm gì để cứu vãn nhân cách Việt, đăng mới đây trên trang blog 'vothi.hao' trên 'blog yahoo 360', blogger Võ Thị Hảo viết về sự giả dối trong xã hội Việt Nam:

"Nếu tôi khôn ngoan, trước khi viết về sự giả dối, tôi cần phải rào đón khoảng mươi dòng, rằng về cơ bản nhân dân Việt Nam ta luôn trung thực thật thà dũng cảm, rằng nhân dân ta luôn có truyền thống trọng chữ tín.

"Rằng được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp nói chung và lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa nói riêng, người Việt Nam ta hịên nay và ngành giáo dục đang có nhiều tiến bộ và gặt hái được nhiều thành tựu.

"Rằng người Việt nam đi đâu cũng có uy tín trên trường quốc tế và luôn luôn dược nể trọng là một dân tộc anh hùng... Rằng những kẻ mà nó nói rằng người Việt Nam bất tín, tráo trở, tham nhũng... đó chỉ là luận điệu vu cáo nằm trong âm mưu của một chiến dịch phá hoại mang tên diễn biến hoà bình.'"

Trước câu hỏi của BBC Việt ngữ rằng liệu nội dung các bài viết trên trên blog của bà có mang tính 'nhạy cảm' đối với Chính quyền Việt Nam, theo cách nói ở trong nước hay không, nhà văn Võ Thị Hảo trả lời:
Image
Nhà văn Võ Thị Hảo tin rằng các đồng nghiệp Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải vô tội.
"Rất buồn cười ở Việt Nam có một từ là từ 'nhạy cảm'. Đây là một xu hướng dùng mỹ từ để thay cho điều mình phải nói thật. Những gì tôi viết là một tấm lòng, một tâm huyết và nói sự thật, không có gì là nhạy cảm cả."

"Không nói như vậy thì mới là chuyện lạ. Tôi thờ ơ trước nỗi đau của người khác mới là chuyện lạ, chứ như thế có gì là nhạy cảm đâu. Có thể có một số điều tôi viết làm cho một số người không thích, đó là quan điểm của họ."

'Đồng nghiệp vô tội'
"Vậy là phiên toà xử hai nhà báo và hai cán bộ điều tra liên quan đến việc công bố thông tin trong vụ PMU 18 đã diễn ra và kết thúc,'' bà Hảo viết trong một entry khác, bình luận sau phiên toà phán xử các nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải ở các tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ có tội khi đưa tin về vụ tham nhũng PMU18.

''Chừng ấy người, chừng ấy chứng cứ, chừng ấy luật sư, chừng ấy to tát vì liên quan đến bao nhiêu nhân vật, mà chỉ xử trong hai ngày, tốc độ thật phi thường. Và còn một điều phi thường khác, là trong phiên toà này có tới bốn người vô tội bị kết án oan."

Và ở một khổ khác cùng tại bài viết trên blog này, nhà văn - nhà báo Võ Thị Hảo đặt bút:

"Tôi nhìn thấy những nhà báo ôm hoa đứng dưới mưa trời ảm đạm trước cửa toà Hà Nội. Họ biết đồng nghiệp của họ vô tội và họ tin rằng những người bị oan khuất sẽ được trả tự do ngay sau phiên toà này.

"Và họ còn chờ cái ngày mà những đồng nghịêp bị hàm oan phải được xin lỗi, cải chính và bồi thường danh dự. Nhìn họ mà rơi nứơc mắt. Họ vẫn kiên nhẫn để chờ đợi một phiên toà công bằng. Để họ còn có chút niềm tin mà hành nghề. Nhưng hoa héo rũ vì không có người nhận. Người nhận lại trở vào nhà lao rồi!"

Khi được hỏi liệu chính bản thân có sợ bị chính quyền 'kết án' và 'bỏ tù' vì những gì bà đã viết và phát biểu công khai trên blog, với truyền thông trong và ngoài nước hay không, bà Hảo nói:

"Tôi nghĩ ở Việt Nam hiện nay cũng như trước đây, mọi điều đều có thể xảy ra. Có nhiều độc giả từ lâu đọc những bài tôi viết đã lo cho tôi và nói với tôi là 'hãy giữ mình'. Có những người lâu lâu gọi điện cho tôi, mà tôi bận không trả lời, thì lo rằng tôi đã bị bắt.

'Chấp nhận rủi ro'
"Trước khi tôi làm bất cứ điều gì như là tôi viết hay tôi nói lên sự thật, nói lên tâm huyết của mình, tôi biết tất cả những rủi ro, những điều mà những người họ không bằng lòng và họ muốn làm hại mình, đều có thể xảy ra. Nhưng không phải vì thế mà tôi không làm," bà nói với BBC.

Bà Hảo cho rằng những gì mà bà đã làm khi nói lên sự thật là điều tối thiểu mà một nhà văn phải làm. Bà nói:

"Khi đã cầm lấy cây bút, người ta phải cảm nhận được nỗi đau của người khác. Nỗi đau của người khác, nỗi oan khuất của một người trong xã hội, mình phải quan niệm là không của riêng ai cả. Nếu tôi thấy nhiều người khổ quá, hay thấy những khuynh hướng vi phạm quyền của con người thì tôi phải nói. Đó là lương tâm tối thiểu.

Image
Bà Hảo sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi nói lên sự thật.
"Còn khi mình đã nói thật, mình không làm điều gì xấu cả, khi mình làm một điều vì mọi người, cho cộng đồng, trong đó có mình, nếu có điều gì không hay xảy ra đối với tôi, thì tôi cũng vui chịu thôi."

Nhà văn Võ Thị Hảo cho rằng việc nếu Chính quyền trong nước bắt bà, thì đó là một điều không có lợi và không hay gì cho nhà nước. Bà nói:

"Tôi là một người nhỏ bé, mong manh, tôi là một người phụ nữ sống một mình. Tôi sống với hai con, các con tôi cũng lớn rồi và cũng hay đi. Cho nên ai muốn hại tôi thì rất dễ...

"Giả sử nhà nước có bắt tôi thì tôi nghĩ nhà nước cũng không lợi gì. Vì bắt tôi thì quá dễ.

''Tất nhiên mọi người sẽ nghĩ rằng nếu bắt Võ Thị Hảo thì nhà nước sẽ thiệt hại nhiều hơn là có lợi. Nhưng tôi nghĩ mọi điều cũng có thể xảy ra trong xu thế mà mọi quốc gia đều không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì đúng sai, trắng đen đã quá rõ ràng."

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thời sự kinh tế: Trung Quốc đả Ðô La
Tuesday, March 24, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày 13 Tháng Ba vừa qua, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Trung Quốc rằng ông muốn nước Mỹ phải bảo đảm giá trị của những món nợ mà Trung Quốc cho chính phủ và các ngân hàng Mỹ vay, ông nói thẳng là “Chúng tôi rất lo ngại.” Không nói rõ, ai cũng hiểu, mối lo đó có hai phần. Một là lo các con nợ không trả được đầy đủ vốn và lãi. Hai là khi nợ được trả lại bằng đô la Mỹ, đồng tiền đó sẽ mất giá, chủ nợ sẽ bị thiệt.

Ngày Thứ Hai vừa qua, trang nhà trên mạng lưới của Trung Quốc Nhân Dân Ngân hàng đăng một bài tham luận của ông Chu Tiểu Xuyên trong đó nhà lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương của Trung Hoa đề nghị thế giới phải bớt lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Muốn vậy, phải tạo ra một thứ tiền tệ chung để thay thế đô la Mỹ trong việc giao thương cũng như dự trữ ngoại tệ. Hiện nay Trung Quốc có một quỹ dự trữ ngoại tệ vĩ đại, trong đó 2 phần 3 là đô la Mỹ, và tổng số trị giá 1,950 tỷ đô la. Công bố bài của ông Chu Tiểu Xuyên, bằng chữ Hoa và chữ Anh, là một bước mới trong chiến dịch của giới lãnh đạo Trung Quốc tấn công vị trí của đồng tiền Mỹ, phê bình hệ thống tài chánh Mỹ nói chung và gán trách nhiệm cho nước Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay, làm cho kinh tế thế giới đồng loạt lâm nguy. Trong một tuần nữa các nhà lãnh đạo 20 nước sẽ gặp nhau trong hội nghị thượng đỉnh ở London, Anh Quốc. Giới lãnh đạo Trung Quốc lên tiếng trước để có thể ảnh hưởng trên cuộc hội nghị này.

Khi nhà lãnh đạo một nước lớn trực tiếp kêu gọi thay thế đồng đô la trong quỹ dự trữ các quốc gia, nhiều người cho rằng lời nói đó sẽ gây hậu quả tức thời là giá trị đồng đô la phải tụt xuống. Nếu chính phủ Trung Quốc bán bớt một số trái phiếu mà họ đã mua của nước Mỹ, hoặc họ ngưng mua các trái phiếu mới khi vài chục tỷ giấy nợ cũ đáo hạn, thì do luật cung cầu giá những trái phiếu của Mỹ sẽ giảm và giá trị đô la Mỹ cũng giảm theo. Cho nên họ chỉ cần nêu lên ý kiến đó thôi cũng đủ gây xáo trộn cho đồng tiền của Mỹ rồi.

Nhưng trong ngày hôm qua thị trường tiền tệ quốc tế không nao núng về giá trị đồng đô la. Ngược lại, cho đến cuối ngày, giá đô la Mỹ đã tăng lên so với đồng Euro của nhiều nước Âu Châu, và đồng Yen Nhật Bản. Hiện tượng trên xác nhận một lần nữa rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không thể ngưng việc tích trữ những giấy nợ tính bằng đô la Mỹ ở trong nhà được. Và địa vị đồng đô la trên thế giới vẫn chưa bị nao núng, mặc dù kinh tế và tài chánh Mỹ đang bị trì trệ, khủng hoảng, và trên thế giới đang có những ngoại tệ mạnh khác có thể thay thế đô la.

Trong lịch sử gần đây có một lần thế giới đã thay thế đồng tiền thông dụng nhất, đó là khi đô la Mỹ chiếm địa vị của đồng “Bảng” (pound) của Anh Quốc, để trở thành đồng tiền chung, siêu quốc gia. Một đồng tiền chung như vậy đóng hai vai trò, thứ nhất là để dùng trong mọi giao dịch thương mại. Các nhà sản xuất ở Brazil bán cho những nhà nhập cảng ở Phi Luật Tân, hay một công ty ở Ý vay nợ một ngân hàng ở Nam Phi. Các giao dịch đó dùng một đồng tiền làm đơn vị, thay vì phải đổi từ tiền nước này sang tiền nước khác, thì sẽ tránh được nhiều phí tổn và nhiều thứ rủi ro. Vai trò thứ hai của mọi đồng tiền là để dành, dự trữ tài sản một cách giản dị và ít tốn kém.

Muốn thay đổi đồng tiền thông dụng cho nhiều quốc gia, phải mất một thời gian chuyển tiếp rất lâu dài. Từ năm 1979 các nước Âu Châu đã đặt ra một đơn vị tiền tệ chung gọi là ECU, nhưng không trở thành thông dụng được. Hai chục năm sau với quyết tâm chính trị của nhiều quốc gia, đồng Euro mới ra đời thay thế cho sáng kiến trên khi mươi nước đồng lòng chịu chi các phí tổn để đạt được kết quả này. Giữa thế kỷ trước, đô la Mỹ lên ngôi thay thế đồng pound Anh Quốc là do địa vị của nền kinh tế Anh đã suy sụp sau hàng trăm năm giữ vai trò thống ngự tài chánh quốc tế. Ðồng đô la lên ngôi sau khi đã được nhiều người chấp nhận, và năm 1945 đã được một hội nghị tài chánh quốc tế đồng ý dùng làm đồng tiền tiêu chuẩn. Năm 1969, các quốc gia đã thỏa thuận đặt ra một “đồng tiền” chung, gọi là SDR (Special Drawing Rights) do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế phát hành, để tính sổ sách nợ nần với Quỹ IMF, nhưng chưa bao giờ được sử dụng như một đồng tiền thật trong dân gian. Khi ông Chu Tiểu Xuyên đề nghị tạo một đồng tiền chung cho thế giới, có lẽ ông nhắm đến việc làm cho đơn vị giao hoán SDR này trở thành thông dụng, dù mang một tên khác - cũng như đồng Euro là hậu thân của ECU vậy.

Nhưng để cho đồng Euro ra đời, các nước tham dự phải trả một cái giá là từ bỏ bớt chủ quyền, ít nhất trong lãnh vực chính sách tiền tệ. Chính phủ các nước này không còn khả năng thay đổi lãi suất, thay đổi khối lượng tiền lư hành, do đó cũng không nắm chắc được các chính sách về tiết kiệm, đầu tư ở trong nước mình. Họ nhường cho một định chế chung, là Ngân Hàng Âu Châu ấn định những chính sách đó. Ðến bao giờ các nước trên thế giới chấp nhận sự hy sinh đó? Bao giờ những quốc gia lớn như Nhật Bản, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nam Hàn, Brazil, Nam Phi, và Nga, vân vân, sẽ thỏa thuận được với nhau về vấn đề này? Trong thời gian chuyển tiếp từ đồng đô la Mỹ sang đồng tiền quốc tế mới, có những phí tổn thì các quốc gia chia nhau chịu đựng ra sao? Ðó là những trở ngại, về chính trị và về kỹ thuật, khiến cho việc thay thế đồng đô la Mỹ còn phải chờ nhiều thập niên nữa mới thành tự được.

Hiện nay khi thế giới sử dụng đô la Mỹ để giao dịch và dự trữ ngoại tệ thì nhiều quốc gia cũng chịu thiệt thòi để nước Mỹ được lợi. Chúng ta có thể tưởng tượng một người có quyền in tiền ra để tiêu dùng thì giầu có biết bao nhiêu! Nước Mỹ đang đóng vai trò như vậy. Người có quyền in tiền đó chỉ bị giới hạn là phải giữ tín nhiệm, làm sao cho đồng tiền của mình luôn luôn có giá trị thật, là do vì quyền lợi của chính mình mà thôi. Nhưng các nước khác đã quen hưởng những ích lợi của việc dùng đồng tiền chung, và cũng quen chịu đựng những thiệt thòi, cho nên muốn thay đổi sẽ khó khăn.

Chúng ta biết rằng mỗi đồng bạc là một thứ giấy nợ. Trên mỗi đồng đô la Mỹ có ghi: Federal Reserve Note, nghĩa là “giấy nợ của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang.” Một nước phát hành thêm tiền nghĩa là phát thêm giấy nợ cho thiên hạ cất vào túi; nói cách khác là đi vay của thiên hạ về mà sử dụng! Chính sách tiền tệ của Mỹ ảnh hưởng tới tất cả các nước dùng đô la Mỹ để quy định hối suất đồng tiền của mình. Kể từ Tháng Tám năm 2008 đến Tháng Ba năm 2009, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã phát hành thêm hơn 770 tỷ đô la để cho nhiều ngân hàng và công ty tài chánh vay, kể cả nhiều ngân hàng trung ương các nước; và trong tuần trước ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang mới cho biết sẽ phát hành thêm hơn một ngàn tỷ đô la nữa để mua các công trái và trái khoán nhiễm dựa trên địa ốc. Trong khi đó, các nước Á rập bán dầu lửa và Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục làm chủ nợ của nước Mỹ. Ông Ôn Gia Bảo rất có lý khi tỏ ý lo lắng về giá trị đồng đô la xuống, do đó, giá trị những công trái của chính phủ Mỹ và các trái khoán tư ở Mỹ mà Trung Quốc đã mua (mỗi thứ trên 700 tỷ Mỹ kim) sẽ lên xuống mà chính phủ Bắc Kinh không có chút quyền kiểm soát nào trên đó.

Có một chuyện chắc không thể nào xẩy ra trong thời buổi này, nhưng cũng nên nhắc lại. Thời Tổng Thống Franklin Roosevelt, ông đã bãi bỏ không dùng vàng làm bản vị cho đồng đô la nữa. Với một chữ ký của ông tổng thống, đồng tiền xuống giá khiến tất cả các món nợ tính bằng đô la Mỹ bị mất 75%! Hôm trước, cho vay một đô la là một đô la; hôm sau con nợ trả lại một đô la thì giá trị chỉ còn 25 xu thôi! Hiện nay đồng đô la không dựa trên vàng hay một thứ gì khác, ngoài giá trị của nó khi trao đổi. Giá trị đó hoàn toàn do chính phủ Mỹ bảo đảm, nếu kinh tế Mỹ còn giữ được tiềm năng mạnh nhất thế giới. Người ta tin ở đồng đô la vì biết có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ ở nước Mỹ. Chính khả năng sản xuất, làm việc, cải tiến, phát minh, khi cung cấp hàng hóa và dịch vụ của dân Mỹ, là thứ bảo đảm cho đồng đô la.

Ngày hôm qua, Thứ Ba, Tổng Thống Mỹ Barack Obama đã họp báo để trấn an dân Mỹ cũng như thế giới về các chương trình cứu nguy hệ thống tài chánh Mỹ. Những điều ông Obama nói không có gì mới hơn những tin tức đã được loan báo trong một tuần. Ngày Thứ Hai, ông bộ trưởng tài chánh đã công bố chương trình giải tỏa những chứng khoán nhiễm độc hiện đang “nằm chết cứng” trong các ngân hàng. Ðặc điểm của kế hoạch này là chính phủ Mỹ đã kêu gọi giới đầu tư tư nhân tham dự việc mua các chứng khoán này, thay vì chỉ có chính phủ đúng ra mua như đã có người đề nghị. Có thể nói là chính phủ Mỹ đang tìm cách “dụ dỗ,” đã “hối lộ,” mua chuộc các ngân hàng và quỹ đầu tư để họ cùng giải tỏa cái nút kẹt làm tắc nghẽn cả hệ thống kể từ giữa năm ngoái tới giờ. Khi thị trường chứng khoán tăng thêm 500 điểm trong ngày Thứ Hai, người ta thấy là phản ứng có vẻ thuận lợi. Ngày Thứ Năm, ông Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner lại ra trước Quốc Hội điều trần về kế hoạch cải tổ toàn diện hệ thống kiểm tra ngân hàng và các công ty tài chánh, đầu tư ở Mỹ. Ngày Thứ Sáu, ông Obama sẽ gặp các người lãnh đạo hàng chục ngân hàng lớn nhất nước Mỹ để nghe phản ứng của họ trước những kế hoạch trên, cũng như nghe ý kiến họ phê bình ngân sách mà chính phủ đang muốn xin Quốc Hội phê chuẩn. Ít khi một ông tổng thống Mỹ đích thân gặp riêng các “chủ ngân hàng” như vậy. Ngày Thứ Tư chính ông sẽ đi gặp các đại biểu Quốc Hội đảng Dân Chủ để “lóp bi” cho ngân sách này. Trong ngày Thứ Ba, ông Obama đã đăng một bài ý kiến trên 31 tờ báo khắp thế giới, để chuẩn bị dư luận trước ngày ông sang London họp với các nước G-20. Thị trường sẽ đáng giá tất cả những hành động đó để cho thấy người ta tiên đoán kinh tế nước Mỹ ra sao.

Dù chính phủ Bắc Kinh có nói Ðông nói Tây, cuối cùng giá trị của đồng đô la Mỹ sẽ tùy thuộc vào sức mạnh kinh tế lâu dài của nước Mỹ. Nhưng chúng ta có thể tin khi nào các điều kiện đã chín mùi, vai trò của đồng đô la sẽ bị thay thế mà không gây xáo trộn nào cho kinh tế thế giới cũng như cho nước Mỹ. Chuyện đó có thể xẩy ra trong vòng 30 hay 50 năm nữa, hay lâu hơn?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Càng bí mật càng dễ phạm tội ác
Ngô Nhân Dụng

Vừa rồi tại một tòa án Tokyo, Thẩm Phán Yujiro Nakatani mới xử phi công Ðặng Xuân Hợp của công ty Vietnam Airlines về tội đã “đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối hàng đánh cắp” từ Nhật Bản chuyển về Việt Nam. Như chúng ta đọc báo đã biết, có những phi công và tiếp viên của công ty hàng không nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bị bắt quả tang đem ra khỏi nước Nhật những món hàng ăn cắp từ các cửa hàng bách hóa. Họ còn khai những người ăn cắp thuộc một tập đoàn có tổ chức, trong đó có những viên đang được cho đi du học ở Nhật nhờ tiền chính phủ Nhật do dân Nhật đóng thuế. Dư luận dân Nhật thêm sôi nổi, sau vụ các giám đốc một công ty Nhật Bản bị phạt sau khi khai đã hối lộ hàng triệu mỹ kim cho Huỳnh Ngọc Sĩ.

Tòa Tokyo cho ông Hợp hưởng án treo, vì theo lời thẩm phán Nakatani, bị cáo chỉ đóng vai trò tùy thuộc, đã nhận lệnh của cấp trên làm việc đó. Cấp trên nào?

Trước tiên phải hỏi các cấp trên của ông thành ở Vietnam Airlines! Phát ngôn viên của công ty là Trịnh Ngọc Thành từ chối không bình luận gì cả, ông Thành bảo: “Cái đó là phải có cơ sở,... phải có bằng chứng!”

Bằng chứng nào? Ði tìm bằng chứng chắc không khó, nếu có ai dám đi tìm, nếu những người làm trong công ty dám khai báo đầy đủ. Nhưng chính Vietnam Airlines cũng thèm mở một cuộc điều tra nội bộ để tìm hiểu. Vì họ coi vụ chuyển hàng ăn cắp trên máy bay của họ chỉ có vài cá nhân làm, không đáng điều tra. Cũng như đảng Cộng Sản coi vụ này hay các vụ Bùi Tiến Dũng, Huỳnh Ngọc Sĩ chỉ là những trường hợp cá nhân lẻ tẻ, không phải là vấn đề lớn trong đảng của họ! Mấy ông cầm đầu đảng cứ tuyên bố “chống tham nhũng” nhưng nạn tham nhũng cứ tiếp tục bành trướng, vì họ không bao giờ công nhận đó là ung nhọt nằm trong ruột của đảng. Công nhận điều đó thì phải chịu công khai mổ xẻ cái ung nhọt đó ra. Như thế không khác gì tuyên bố giải tán đảng cộng sản!

Bởi vì ngay từ khi ra đời, đảng Cộng Sản sống bằng sự che đậy, giấu diếm, chữ họ dùng gọi là “bảo mật.” Ðảng viên không thể nào tiết lộ những bí mật của đảng cho người ngoài biết. Tất cả những vụ ăn bẩn phải được che đậy, để “bảo mật.” Ðảng Cộng Sản từ đầu đã sống trong một nỗi bí mật.

Một thí dụ: Ðố ai biết đảng Cộng Sản lấy tiền ở đâu mà chi tiêu? Trụ sở đảng ở mỗi tỉnh, mỗi thành phố, mỗi huyện, xã, vân vân, đều to lớn nghênh ngang oai phong át cả tòa nhà hành chánh địa phương. Tiền đâu ra mà xây dựng như vậy? Những ban cán sự đảng lấy tiền đâu mà hoạt động? Tiền do các đảng viên đóng góp hàng tháng hay hàng năm? Hay là đảng lãnh tiền tiền trả công, do làm công việc “lãnh đạo nhà nước và xã hội” như ghi trong điều 4 hiến pháp? Tiền “trả công” đó do thứ hợp đồng nào quy định? Ai ký hợp đồng thuê mướn đảng Cộng Sản làm việc đó? Dùng tiền công quỹ của toàn dân, thì tiền đó nằm trong những chương, mục nào, có ai biết không?

Tất cả nằm trong niềm bí mật bao phủ các hoạt động của đảng Cộng Sản, chỉ có tình trạng bí mật của các đảng cướp, mafia, mới so sánh được. Tiền là một chuyện nhỏ. Lớn hơn là các chính sách của đảng Cộng Sản, có ảnh hưởng tới toàn thể dân trong một nước. Họ bàn những gì, nghiên cứu những gì trước khi đưa ra các chính sách đó? Ðó cũng là những điều bí mật chỉ mấy lãnh tụ cao cấp biết với nhau. Như gần đây là vụ cho các công ty Trung Quốc và nước khác khai thác mỏ bô xít ở Tây Nguyên. Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng nói đó là “đường lối lớn của đảng.” Ai quyết định đường lối lớn này? Họ quyết định như thế nào? Có bao nhiêu tiếng nói phản đối, từ các nhà khoa học, các nhà văn, cả một ông Tướng Về Hưu nổi danh đã lên tiếng. Họ nêu lên nhưng tác hại vĩnh viễn trên tài nguyên đất nước, trên môi trường sống của cả miền cao nguyên và đồng bằng miền Trung, trên tương lai kinh tế của cả nước. Ðó là chưa kể mối họa “cõng rắn vào nhà” hậu quả không thể nào lường được. Những đoàn công nhân Trung Quốc đang “Xẻ dọc Trường Sơn đào bô xít” để bùn đỏ sẽ trôi xuống đồng bằng kéo theo những nấm xương tàn của bao thanh niên Việt Nam từng nghe lời đảng Cộng Sản dụ dỗ đi “chống Mỹ cứu nước.” Những oan hồn đó sẽ tự hỏi họ đã hy sinh cho ai hưởng? Cho người Việt hay người Trung Hoa?

Những người nắm quyền đưa ra một “chủ trương lớn” như thế, họ có nêu ra những lý do nào để quyết định bán tài nguyên của nước Việt Nam hay không? Trước dư luận phê phán, chưa bao giờ thấy họ trình bày ý kiến để tự biện hộ, tự bênh vực quyết định của họ. Vì kiêu ngạo, khinh người, hay vì sợ? Không những thế, họ còn ra lệnh các báo, các đài, và các mạng lưới không được nói gì về vụ cho Trung Quốc khai thác bô xít nữa. Họ muốn bịt miệng báo chí, tức là cũng bịt tai của toàn dân, để phó mặc đảng Cộng Sản muốn làm gì thì làm, muốn bán gì thì bán. Cho nên người đứng ngoài quan sát cũng phải thấy là đảng Cộng Sản giờ không dám tranh luận với giới chuyên viên và trí thức Việt Nam; chỉ vì họ biết trước họ sẽ thua, sẽ đuối lý. Và phải kết luận vụ nhường quyền khai thác bô xít này là một vụ nhượng bán chủ quyền mờ ám.

Nhưng mờ ám là bản chất của đảng Cộng Sản. Nhiều người ví đảng Cộng Sản ở Việt Nam như một băng đảng Mafia. Nói như vậy chưa đủ. Mafia chỉ là một băng đảng tội ác sống bên ngoài pháp luật. Mafia có khả năng tổ chức buôn lậu, chứa bạc, ăn cướp, cướp của xong là phải chạy. Ðảng Mafia, ngay ở đảo Sicily bên Ý là nơi xuất phát của họ, cũng không bao giờ có thể đóng luôn cả vai cảnh sát bắt trộm để có quyền sử dụng vũ lực hợp pháp; đồng thời lại đóng vai quan tòa để sử dụng luôn hệ thống luật pháp tự bảo vệ mình. Ðảng Cộng Sản mạnh hơn đảng Mafia rất nhiều. Từ thời Hồ Chí Minh, ông đã nói “Ðảng ta là một đảng cầm quyền.” Nghĩa là “đảng ta” nắm trong tay cả quân đội, công an, tòa án, luật pháp, báo chí, văn nghệ, ngân hàng, cửa khẩu, vân vân, với quyền hành tuyệt đối.

Nhưng có một điều khiến các đảng cộng sản và Mafia giống nhau, đó là Quy Luật “Omerta,” có thể dịch là “bảo mật.” Luật này có nghĩa là đảng viên phải giữ bí mật nội bộ, không bao giờ được tiết lộ chuyện trong đảng cho người ngoài biết. Các đảng viên Mafia khi bị bắt cũng không bao gio được nói nửa lời về những chuyện riêng tư trong đảng, đứa nào nói là tự kết án tử hình. Ðiều luật này, theo ngôn ngữ của đảng Cộng Sản Việt Nam, còn gọi là “đoàn kết nội bộ.”

Hồ Chí Minh đã viết rằng “Ðoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của đảng... Cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của đảng như giữ gìn con ngươi trong mắt mình.” (Hồ nhắc lại lời Thống Chế Stalin.) Các đảng viên Mafia cũng giữ con ngươi trong mắt họ cẩn thận như vậy. Vì muốn giữ đoàn kết thì phải tránh không vạch ra những sai lầm của nhau, phải bao che cho nhau, không thể nào sống minh bạch công khai được.

Khi hiểu nguyên lý “Ðoàn kết nội bộ,” hay Omerta thì chúng ta hiểu tại sao sau những kỳ họp Trung Ương Ðảng không nói cho ai biết là họ đã bàn bạc những chuyện gì, kể tội những ai, cãi nhau như thế nào. Gần đây một tài liệu của ông Nguyễn Trí Chung được truyền trên mạng lưới kể chuyện hai cánh Ðỗ Mười và Võ Văn Kiệt liên kết đánh bại Lê Khả Phiêu ra sao, dân Việt mới biết các lãnh tụ đảng tranh giành quyền lực nhơ bẩn như thế nào. Trước Nguyễn Trí Chung, đã có những hồi ký khác, phá vỡ nhiều mảnh trong bức màn bí mật che phủ đảng. Nhưng những người bị gạt ra ngoài lề mới bỏ luật omerta, cất lời nói lên những sự thật, còn những người còn địa vị để chia chác quyền lợi với nhau thì vẫn “Ðoàn kết nội bộ,” như Hồ Chí Minh đã dậy.

Ðảng Cộng Sản thường tự hãnh diện về quyết định tập thể, nhưng vì thế không ai chịu trách nhiệm về bất cứ hành động nào cả. Khi phê phán, tất cả được gọi là “trách nhiệm của chúng ta.” Nhà soạn kịch quá cố Lưu Quang Vũ đã viết vở “Tôi và Chúng ta” để vạch ra căn bệnh vô trách nhiệm đó. Khi nói “chúng ta đã phạm các lỗi lầm” thì không cá nhân nào có lỗi cả. Ngày xưa “chúng ta” tổ chức đấu tố theo lệnh cố vấn Trung Quốc làm chết oan bao mạng con người, chúng ta để cho trẻ con thất học vì tiền học phí cao qua, chúng ta đã ăn cắp may trăm triệu Mỹ kim ở công ty Dệt Nam Ðịnh, trong khi đó “chúng ta” cướp đất của dân cho người ngoại quốc lập sân golf, vân vân. Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố quyết định cho Trung Quốc khai thác bô xít ở Tây Nguyên là một đường lối lớn của Ðảng. Chứ không phải của người cầm đầu chính phủ, cũng không phải của những người cầm đầu Bộ Chính Trị. Mai này, khi đoàn quân Trung Quốc “Xẻ dọc Trường Sơn đào bô xít” thành công rồi kéo nhau về, ai sẽ chịu trách nhiệm về những tàn hại trên quê hương Việt Nam?

Một bài học cho các dân tộc là chỉ khi nào những người cầm quyền chịu trách nhiệm trước dân chúng thì mới bảo đảm được là họ sẽ lo làm những việc ích lợi chung. Hiện nay các lãnh tụ cộng sản ở nước ta chỉ chịu trách nhiệm với nhau, trong một nhóm ở Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng. Khi những người trong nhóm này thỏa thuận được với nhau để chia chác quyền lợi thì họ sẽ tiếp tục “đoàn kết nội bộ” để bảo vệ lẫn nhau. Chỉ khi nào người dân được dùng lá phiếu quyết định ai là người cai trị họ, sau mấy năm không hài lòng thì bãi chức, lúc đó người cầm quyền mới biết họ chịu trách nhiệm với dân. Họ sẽ không có quyền giữ bí mật, xử lý nội bộ với nhau nữa. Càng bí mật càng dễ phạm tội ác. Khi có tự do dân chủ thì những tệ nạn trong guồng máy chính quyền mới giảm bớt được, từ chuyện nhỏ như tổ chức ăn cắp ở Nhật Bản để đem hàng về bán ở Việt Nam, cho đến chuyện lớn như bán rừng, bán biển cho người ngoại quốc khai thác. Nếu dân Việt Nam không được sống tự do dân chủ thì những tệ nạn đó không bao giờ giảm bớt!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Hoa Chỉ Trích Báo Cáo Của Hoa Kỳ Về Quân Đội Trung Hoa
Tác giả: TINI TRAN- TD chuyển ngữ



Tin Bắc Kinh – Trung Hoa, hôm thứ năm, chỉ trích bản báo cáo của Hoa Kỳ mới được công bố về sự gia tăng của quân lực Trung Hoa. Trung Hoa cho rằng bản báo cáo là một “xuyên tạc” trắng trợn có thể là nguy hại cho mối liên hệ quân sự của hai nước.

Phát ngôn nhân bộ ngoại giao Trung Hoa, Qin Gang, đả kích gay gắt bản báo cáo là đã “xâm phạm” vào nội tình Trung Hoa và nói rằng Trung Hoa đã chính thức phản kháng với Hoa Kỳ. “Đây là một việc bẻ quẹo trắng trợn các sự kiện và xâm phạm vào nội bộ Trung Hoa. Trung Hoa cương quyết phản đối và cho phía Hoa Kỳ biết một cách nghiêm trọng sự kiện đó,” ông tuyên bố trong buổi họp báo thường lệ.

Bản báo cáo của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ phổ biến ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn nói rằng mức tăng trưởng mau lẹ về quân lực Trung Hoa đã làm đảo lộn cán cân thăng bằng quân sự trong vùng và Bắc Kinh có thể dùng lực lượng đó để xâm chiến các vùng đất đai đang trong tình trạng tranh chấp với các quốc gia khác trong vùng.

Bản báo cáo này là bản đánh giá thường niên cho Quốc Hội Hoa Kỳ. Bản báo cáo tường trình rằng Trung Hoa tiếp tục phát triển các vũ khí để áp lực Đài Loan, mặc dù tình trạng căng thẳng giữa hai bên đã giảm đi rất nhiều rồi. Bản báo cáo cũng cho rằng Trung Hoa đang khai triển các vũ khí có khả năng bắn xa hơn có thể ảnh hưởng tới ngoài vùng Thái Bình Dương Á châu.

Trong buổi họp báo thường lệ ấy, ông Qin nói rằng Trung Hoa đã theo đuổi các việc phát triển có mục tiêu hòa bình và chính sách quân sự của Trung Hoa dựa trên căn bản phòng thủ mà thôi.

Bản báo cáo được công bố trong lúc căng thẳng đang tăng cao giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa sau khi tàu bè của Trung Hoa quấy nhiễu tàu thăm dò đại dương của Hoa kỳ trong lúc đang hoạt động trong vùng biển quốc tế ở Biển Nam Trung Hoa.

Các cuộc đàm phán giữa quận đội Hoa Kỳ và Trung Hoa mới tái tục gần đây sau năm tháng phải đình chỉ vì việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan hồi năm ngoái.

Bản báo cáo ghi nhận rằng “mức tiến triển và phạm vi cải tiến của quân lực Trung Hoa đã tăng nhiều” trong những năm gần đây với việc sắm thêm các vũ khí ngoại quốc và gia tăng ngân sách để phát triển các kỹ thuật tân tiến cũng như canh tân quân đội. Bản báo cáo cũng cho biết Trung Hoa tiếp tục khai triển các kỹ thuật “gây rối” như các vũ khí chống vệ tinh và các khí cụ làm nhiễu loạn các vệ tinh truyền thông.

Trong suốt hai thập niên vừa qua, ngân khoản chi tiêu cho quân đội Trung Hoa đã luôn luôn tăng trên 10%. Năm nay, Trung Hoa loan báo tăng chi tiêu của quân đội là 14,9% đến mức 480,68 tỷ yuan (khoảng 70 tỷ mỹ kim) mặc dầu con số gia tăng này nhỏ hơn mấy năm trước.

Chi tiêu khoảng đó của Trung Hoa là ngang với Nhật Bản, Nga Sô, và Anh Quốc nhưng không thể so sánh với chi tiêu của quân đội Hoa Kỳ hiện ở vào mức 10 lần nhiều hơn.

TD chuyển ngữ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nỗi Khó Da Đen


Mầu da là niềm vinh dự của con người, không ai muốn đổi mầu da nguyên thủy của mình cả, trừ một vài trường hợp hiếm hoi. Tại Hoa Kỳ mầu da vẫn tạo cho người Mỹ đen vô số khó khăn, mặc dù pháp luật đã cấm kỳ thị mầu da. Cái cảnh người da đen bị chỉ định chỗ ngồi trên xe bus, và trẻ con da đen bị chỉ định một số trường để đến học, không còn nữa,
nhưng người Mỹ đen vẫn gặp nhiều khó khăn hơn người Mỹ trắng trong mọi

job họ làm, dù họ làm thợ hay làm thầy, kể cả cái job tổng thống, như ông Barack Obama đang làm cũng gặp không ít khó khăn chỉ vì mầu da.


Cái khó ông gặp với người da trắng trong nước có thể không thể hiện rõ rệt, nhưng cái khó ông đang gặp trong thế giới da mầu lại không thể phủ nhận. Người da đen làm khó ông tổng thống da đen Obama quả là một sự thật chua chát.
Sự thật này không cần phải chứng minh, vì thái độ thù nghịch của thế giới da đen đối với Obama rất rõ; ông làm hòa với khối Ả Rập, những người có mầu da giống ông, thái độ cầu hòa này cũng gặp nhiều khó khăn.
Obama chìa tay ra đề nghị bắt tay với người Iran, lãnh tụ tối cao của Iran, ông đạo Ayatollah Ali Khamenei, lắc đầu nói Obama chưa đủ “tư cách” làm thân với Iran, và còn nói ông sẽ chờ cho đến lúc thấy những thay đổi cụ thể trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ rồi mới cho Obama bắt tay.
Hôm thứ Bẩy 21 tháng Ba vừa rồi, ông đạo Ayatollah Khamenei, giới chức tối thượng trong sinh hoạt chính trị của Iran, đã trả lời công hàm ngoại giao của ông Obama gởi đi một hôm trước, hôm thứ Sáu, nhân ngày tết của Iran. Ngoài việc chúc tết người Iran, Obama tỏ ý ước mong là giao tình giữa Hoa Kỳ và Iran sẽ trở nên hoà dịu sau 30 năm căng thẳng.
Trả lời thông điệp thân hữu của Obama, ông Khamenei nói sẽ không có thay đổi trong giao tình giữa hai nước, ngày nào chính phủ Hoa Kỳ còn tiếp tục chính sách thù nghịch với Iran, và chưa đem đến những “change” (đổi mới) thực sự trong chính sách ngoại giao của họ.
“Ngoài miệng họ xoen xoét nói ‘change’, nhưng trên thực tế có thấy ‘đổi mới’ gì đâu,” ông Ðạo Iran nói trong bản diễn văn ông đọc trước vài chục ngàn người Iran tại thành phố thánh địa Mashhad.
Tờ New York Time viết, “ông ta vẫn còn giữ cho cánh cửa bang giao không đóng kín bằng câu ‘nếu Hoa Kỳ thay đổi thái độ, chúng tôi cũng sẽ thay đổi.”
Trong điện văn chúc tết, Obama cảnh cáo Iran là chỗ đứng của Iran trong liên quan quốc tế “không thể tạo được bằng khủng bố hay vũ khí, mà bằng những hành động hòa bình nói lên tầm vóc và văn hoá Ba Tư (tên cũ của Iran)”.
Trong bài diễn văn Khamenei nêu lên câu hỏi về thái độ của Obama là trong cùng một bản điệp văn duy nhất, mà Obama vừa chúc tết dân tộc Iran, vừa chỉ trích Iran yểm trợ khủng bố và mưu đồ chế tạo vũ khí nguyên tử.
“Obama xỉ nhục nước Cộng Hoà Hồi Giáo Iran ngay trong ngày đầu năm của chúng ta,” Khamenei nói. “Obama nói thời điểm ‘change’ đã tới rồi, nhưng có thấy tăm hơi đổi mới chỗ nào đâu. Dấu hiệu đổi mới nó như thế nào? Xin ông cho chúng tôi thấy rõ hơn là điều gì đã đổi mới.”
Saeed Laylaz, một nhà phân tách chính trị tại Iran, nói, những lời chỉ trích của ông Khamenei không có nghĩa là khước từ đề nghị hoà hoãn của ông Obama. Laylaz còn nhận định về nhu cầu duy trì cảm tình trong quần chúng khiến Khamenei phải giữ thái độ “hơi” chống Mỹ.
“Giới lãnh đạo tôn giáo Iran cần giảm bớt căng thẳng với Hoa Kỳ, trong lúc vẫn duy trì một lập trường chống Hoa Thịnh Ðốn một cách vừa phải,” Laylaz nhận định. Nhà phân tách chính trị này viết Obama nên tháo khoán việc bán đồ part máy bay hành không dân sự cho Iran, hoặc tháo gỡ một số chương mục của Iran đang bị “đóng băng” trong những ngân hàng Hoa Kỳ.
Liên hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Iran bị cắt đứt năm 1979 vì trong cuộc “Cách Mạng Hồi Giáo” sinh viên đã chiếm tòa đại sứ Hoa Kỳ và bắt giam những nhà ngoại giao Hoa Kỳ vào đó.
Tuy nhiên vào thời điểm 2001 và 2002, hai nước đã cộng tác gián tiếp với nhau trong cuộc chiến tranh A Phú Hãn, nhưng rồi liên hệ lại trở thành trì trệ vì nguyên tổng thống Bush xếp Iran vào thành phẩn 3 nước tạo thành “trục ác quỷ”.
Obama gặp khó khăn ngoại giao với khối Ả Rập, có lẽ vì người Ả Rập kỳ vọng vào ông quá nhiều; để chứng minh thái độ “đòi hỏi” của người Ả Rập, chỉ cần tưởng tượng người gởi thông điệp hòa bình cho Iran không phải là Obama mà là Bush.
Phản ứng của Khamenei có thể sẽ “ngoại giao” hơn, cởi mở hơn.
“Phúc thư” chứa đựng lập trường đòi hỏi của Iran còn đang làm khó Obama thì thái độ của những người da đen khác tại Nam Mỹ cũng không giúp ông thoải mái hơn. Hôm Chủ Nhật 22 tháng Ba, tổng thống Venezuela Hugo Chavez chỉ trích ông Obama là ignorant (dốt), còn cần học hỏi nhiều về Châu Mỹ Latin.
Chavez nói việc Obama đắc cử khiến ông đã chuẩn bị chọn và gửi một đại sứ của Venezuela sang Hoa Thịnh Ðốn, nhưng rồi ông lại không chọn, không gửi nữa sau việc Obama chỉ trích ông là “xuất cảng khủng bố” và tạo chướng ngại cho sự tiến bộ của Nam Mỹ.
Trong bài diễn văn truyền hình hàng tuần, Chavez nói, “Tối thiểu người bàng quang cũng có thể nhận ra Obama là một người dốt, cần đọc thêm, tìm hiểu về thực tế tại Châu Mỹ Latin.”
Liên hệ của Chavez với Hoa Thịnh Ðốn không lúc nào không căng thẳng trong triều đại của tổng thống Bush. Tháng Chín năm ngoái ông trục xuất đại sứ Hoa Kỳ tại Venezuela và triệu hồi đại sứ Venezuela về nước, tạo ra tình trạng đoạn giao trên thực tế. Hai toà đại sứ vẫn còn nhưng thiếu là thiếu 2 ông đại sứ.
Trong tháng 5 sắp tới, cả hai vị tổng thống da đen này cùng dự trù sẽ tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Châu Mỹ, tổ chức tại Trinidad và Tobago. Chavez nói ông sẽ đem vấn đề Cuba gia nhập vào khối các quốc gia Mỹ Châu, và “chúng ta không thể tiếp tục nhận những quyết định của ‘đế quốc’ Hoa Kỳ.”
Chavez còn nói, “Chúng tôi chỉ đòi hỏi Venezuela được kính trọng; nếu Obama kính trọng chúng tôi, chúng tôi sẽ kính trọng ông ta; nếu ông ta tiếp tục thái độ thiếu kính trọng đối với Venezuela, chúng tôi sẽ đối đầu với đế quốc Hoa Kỳ.”

Trong những chương trình vô cùng bận rộn của Obama, ông chưa chú tâm lắm về Iran và Venezuela, mà chỉ tạo những cải thiện vừa phải với hai quốc gia này. Ưu tiên lớn hơn Iran và Venezuela là A Phú Hãn.
“Hoa Kỳ cần tìm giải pháp để chấm dứt chiến tranh tại đây,” Obama nói; câu nói này cho thấy việc ông gửi 17,000 quân sang A Phú Hãn không phải là giải pháp cho chiến tranh, mà chỉ là một biện pháp chiến thuật ngắn hạn; ông không coi việc dân chủ hoá A Phú Hãn là mục tiêu của Hoa Kỳ.
“Phải có chiến lược giải chiến tại A Phú Hãn,” Obama nói trong cuộc phỏng vấn trên chương trình “60 minutes của CBS. “Không thể để chiến tranh triền miên lôi cuốn chúng ta.” Ông nói các quốc gia Âu Châu đã tỏ ý muốn rút quân trong vòng vài năm sắp tới.
Hoa Kỳ hiện có 53,000 quân, sau đợt tăng quân mới nhất do chính Obama quyết định; thỏa mãn nhu cầu quân số của những tuớng lãnh chỉ huy chiến trường, nhưng ông dự trù một chiến lược trả A Phú Hãn lại cho người A Phú Hãn và chỉ tiếp tục phần truy kích những thành phần khủng bố al-Qaeda, nhóm người đã chủ trương cuộc tấn công 9/11.
Obama nói ông định nghĩa lại cuộc chiến tranh A Phú Hãn, định nghĩa mới của ông đi ngược hoàn toàn với đường lối chiến tranh của nguyên tổng thống Bush.
Trả lời câu hỏi về đường lối chiến tranh mới này, Obama nói, “Ưu tiên một của chúng ta là truy kích để làm cho nhóm al-Qaeda không còn khả năng tấn công vào lãnh thổ Hoa Kỳ, không thể tấn công quyền lợi của Hoa Kỳ tại hải ngoại, và quyền lợi của các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ.”
Obama nói cho đến lúc này ông thấy vai trò tổng tư lệnh cũng vui vui, đòi hỏi ông đọc nhiều hơn về chiến tranh, và về lịch sử.
“Tôi không có nhiều thì giờ để học hỏi, mà khối lượng tài liệu về chiến tranh lại mênh mông,” Obama nói. Ông so sánh sự phức tạp của tình hình A Phú Hãn với sự phức tạp của nền kinh tài Hoa Kỳ.

Cho đến giờ này, nhiều người bắt đầu nhìn nhận ông Obama có thiện chí và khả năng, để giải quyết những khó khăn của Hoa Kỳ; bên trong quốc nội bốn trận giặc kinh tế, tài chánh, địa ốc, và thất nghiệp, quấn lấy nhau như một cuồn chỉ rối, tạo khốn khổ cho người công dân Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng chưa chấm dứt, nhưng giải pháp cho vô vàn khó khăn đã có để suy thoái không trở thành khủng hoảng, trả cuộc sống thường ngày trở lại mức rất gần với bình thường.
Nhiều người Mỹ không nhớ đến mầu da đen của Obama nữa; nhưng mầu da này đang tạo khó khăn cho ông trên trận giặc ngoại giao.
Khamenei, Chavez chỉ trích ông, đòi hỏi ông làm nhiều hơn một vị tổng thống Mỹ da trắng. Tuy nhiên, những đòi hỏi này có thể chỉ là những vòi vĩnh với một vị tổng thống Mỹ đồng màu da với họ, người mà họ kỳ vọng sẽ làm nhiều hơn cho họ.
“Làm nhiều hơn” thật sự cũng không có gì nhiều, không có những nhượng bộ quá đáng, mà chỉ là những việc làm hợp lý như bán đồ part máy bay dân sự cho Iran, và một câu chào mừng chân thành, thân tình với Chavez trong cuộc hội nghị sắp diễn ra tại Trinidad.
Mầu da đen của Obama đang là chướng ngại ngoại giao cho ông tại Nam Mỹ và Trung Ðông, nhưng ông đủ bản lãnh để biến mầu da thành thuận lợi cho một thế giới hoà bình hơn, ít thù nghịch hơn.
Và đó là con đường giúp Obama đi vào lịch sử.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thời sự kinh tế: Không sợ giầu mà sợ cách làm giầu sai

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố trong ba tháng đầu năm nay, kinh tế nước ta chỉ tăng 3.1%, giảm quá nửa so với tỷ số tăng trưởng 7.5% cùng thời kỳ năm ngoái.

Tuy vậy, chính quyền Cộng Sản vẫn dự đoán Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Việt Nam sẽ tăng 6.5% trong cả năm 2009, một con số khó lòng đạt được. Theo Ngân Hàng Thế Giới thì trong năm nay kinh tế Việt Nam sẽ lên được chừng 5.5%, còn Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) dự đoán xuống 4.75%. Nhưng cả hai con số đó vẫn còn quá lạc quan so với số tiên đoán của các chuyên viên nghiên cứu kinh tế trong tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU, Tin kinh tế). Ông Justin Wood thuộc EIU mới nói chuyện ở Hà Nội hôm giữa Tháng Ba 2009, cho biết EIU dự đoán kinh tế Việt Nam năm nay sẽ chỉ tăng 0.3%, tức là gần số không.

Ví thử như dự đoán của EIU thành sự thật, thì cũng không có gì lạ. Vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, những nước không đủ nội lực thì chịu ảnh hưởng nặng nhất. Cũng trong bản báo cáo của IMF, họ dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ tăng thêm 6.5% trong năm nay, sụt mạnh so với tỷ số tăng trưởng tới 10% trong mấy năm trước.

Kinh tế Việt Nam cũng như Trung Quốc thiếu nội lực vì lệ thuộc quá nhiều vào hàng xuất cảng và đầu tư của người ngoại quốc. Khi hai hoạt động đó giảm bớt vì cơn khủng hoảng toàn cầu thì kinh tế những nước thiếu nội lực đều sa sút nặng. Có những nước như Singapore, Ðài Loan, hoặc lãnh địa Hồng Kông, họ sống nhờ xuất cảng, họ phải chịu tai vạ; lý do vì dân số thấp, một điều kiện họ không thay đổi được. Còn Việt Nam và Trung Hoa là 2 nước đông dân nhưng cũng chịu tai vạ, vì chính sách của chính quyền sai. Trong hàng chục năm qua các nước này chỉ nhắm vào sản xuất nhiều để bán ra ngoài, chứ không đặt ưu tiên nâng sức cao tiêu thụ của người dân, không lo phát triển một thị trường nội địa có căn bản. Cho nên bây giờ không xuất cảng được nhiều nữa thì chịu tai vạ lớn hơn.

Chính sách thúc đẩy sản xuất để xuất cảng, không phát huy thị trường nội địa, đưa tới những hậu quả kinh tế và xã hội. Nhà nước sẽ nâng đỡ các công ty xuất khẩu, đặc biệt là những công ty do đảng viên cầm đầu và các doanh nhân ngoại quốc. Những cán bộ kinh doanh của đảng này sẽ kiếm lợi lớn cho đảng cầm quyền và cho chính họ; các xí nghiệp ngoại quốc được ưu đãi khi chia chác với các cán bộ nhà nước; nhưng lớp người thực sự làm công việc sản xuất là nông dân, ngư dân và công nhân thì sẽ bị thiệt thòi. Lương của từng cá nhân người lao động thấp đã đành, nhưng các chính sách khác của nhà nước cũng bỏ rơi họ.

Có hai yếu tố sản xuất là vốn và lao động. Khi chính sách quốc gia chỉ nhắm vào xuất cảng mà không tìm cách nâng cao sức tiêu thụ của người trong nước, thì nỗ lực đầu tư sẽ chuyển phần lớn vào máy móc thiết bị, thu hút các nguồn vốn bằng các chính sách ưu đãi; họ sẽ không cố gắng đầu tư thêm vào lao động, nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động. Nhà nước theo chính sách đó sẵn sàng ưu đãi các công ty lớn, giảm thuế khóa, cho họ được sử dụng đất lấy của dân. Nhà nước hỗ trợ họ tổ chức thi hoa hậu hay làm sân cù giải trí thì được; nhưng không có tiền chi nâng cao giáo dục và y tế ở nông thôn là những yếu tố cần thiết nâng cao sản năng lao động. Ngân sách giáo dục quốc gia thấp, các học sinh tiểu học phải đóng tiền, thì lớp người chịu hậu quả nặng nhất là con cháu công nhân và nông dân, chứ không phải con cái các cán bộ và giới trung lưu thành thị. Vì những người có tiền vẫn có thể cho con đi học tư, có thể gửi con đi ngoại quốc ngay từ bậc trung học. Ngân sách y tế công cộng thấp thì những người bị bỏ rơi không được chữa bệnh, không biết phòng bệnh cũng là những người nghèo. Nói chung, những người nghèo nhất nước cũng bị thất học và yếu ớt, bệnh tật nhiều nhất, quốc gia đã bỏ rơi không đầu tư vào những người này.

Cho nên, khi nhà nước theo đuổi một chính sách chỉ nhắm làm giầu nhanh chóng bằng việc xuất cảng, khuyến khích xuất cảng bằng bất cứ giá nào, thì giới lao động ở nông thôn và thành thị đều bị thiệt thòi. Nếu ví lợi tức chung của quốc gia là một cái bánh dầy hay bánh chưng, chúng ta thấy phần chia cho giới lao động thì thấp quá, kinh tế lên lợi tức của họ cũng không tăng được bao nhiêu; còn phần chia cho các nhà kinh doanh xuất cảng, trong và ngoài đảng Cộng Sản, thì lớn và được tăng lên mãi. Cho nên cảnh bất công xã hội ngày càng trầm trọng.

Nhưng khi số thu nhập của đại đa số người dân Việt Nam bị kìm hãm vì họ bị bỏ rơi thì một hệ quả là khả năng tiêu thụ trong nước cũng rất thấp. Khả năng mua (cũng gọi là mãi lực) của người dân thấp vì phần lợi tức quốc gia chia cho họ thấp, vì họ không thuộc “diện ưu tiên.” Ngoài ra, nếu kiếm thêm được đồng nào họ cũng chỉ lo để dành vì lo khi đau ốm, lo con đi học. Ở Trung Quốc số tiền nông dân gửi ngân hàng tăng 18% một năm vì dân nhịn ăn nhịn mặc. Chính phủ các nước chủ trương ưu tiên xuất cảng đều bóc lột người dân trong nước họ để chiều đãi các khách hàng ở các nước giầu. Riêng chính phủ Trung Quốc thì bắt dân nhịn tiêu thụ để bán hàng rẻ cho Mỹ thật nhiều, khi thu được tiền Mỹ rồi lại đem cho Mỹ vay, giúp dân Mỹ được hưởng lãi suất thấp.

Khi đa số người dân trong một nước mà nghèo, không được học, sức khỏe không được bảo vệ, thì hậu quả tai hại trên nền kinh tế sẽ rất lâu dài. Kỹ năng làm việc sẽ thấp, cả nước sẽ tự hạ thấp mình chỉ làm những việc mà người dân các nước tiên tiến không muốn làm nữa vì công việc không có giá trị cao.

Trên mặt xã hội, ai cũng thấy cần xóa bỏ cảnh bất công; nhưng trên mặt kinh tế, bất công xã hội còn là một trở ngại cho sự phát triển nữa. Mà chỉ trong những nước chưa quen sống tự do dân chủ thì cảnh bất công mới nặng nề và gây nhiều tai hại về mặt kinh tế.

Ở Trung Quốc, một nửa phần trăm dân Trung Hoa thuộc lớp người giầu nhất nước là chủ nhân của 60% tài sản của tư nhân; những người còn lại, 99.5% làm chủ 40% tài sản tư. Ðó là do Boston Consulting Group tính toán năm 2006. Ở một nước chậm tiến như Mexico mà người giầu nhất nước này cũng có lúc là người giầu nhất thế giới. Ông Carlos Slim có tài sản 59 tỷ Mỹ kim vào năm 2007, trong năm đó ông Bill Gates ở Mỹ chỉ có 56 tỷ. Nhưng tài sản của Bill Gates chưa lớn bằng một nửa phần trăm (0.4%) Tổng Sản Lượng Nội Ðịa nước Mỹ; còn gia sản của ông Slim lớn bằng 6.6% GDP của nước ông ta. Trong số 100 người giầu nhất thế giới có 40 người Mỹ, nhưng tổng cộng tài sản của họ cũng chỉ lớn bằng 4.5% GDP nước Mỹ.

Ðiều phân biệt giữa các người Mỹ giầu và Carlos Slim là bọn Mỹ phải cạnh tranh gắt gao mới giầu được. Còn ông Slim may mắn nắm được một độc quyền khi chính phủ Mexico tư nhân hóa công ty điện thoại quốc gia vào năm 1990. Nhà nước Mexico ngoảnh mặt đi, ông Slim dùng độc quyền đó như một cái máy in tiền, nhờ nắm được thời cơ lúc công nghiệp điện tử phát triển. Sau 70 năm sống dưới chế độ độc đảng, Mexico là một nước tư bản có xã hội bất công nhất. Mà đó cũng là nước nghèo nhất trong lục địa Bắc Mỹ. Có một mối liên hệ giữa công bằng xã hội và phát triển kinh tế, những xã hội càng công bằng thì phúc lợi kinh tế của người dân càng cao hơn. Có hai định chế tạo ra tình trạng đó: chính trị tự do dân chủ và kinh tế cạnh tranh bình đẳng.

Ở Việt Nam có nhiều người giầu, nhiều người cũng làm việc hết mình mới trở nên giầu sang chứ không nên có thành kiến hễ giầu là phải tham nhũng. Một nước có nhiều người giầu không có gì hại cả, còn tốt nữa. Nhưng đứng trên mặt kinh tế thuần túy mà bàn thì câu hỏi quan trọng là: “Họ làm giầu bằng cách nào?”

Khi mọi người trong một nước làm giầu nhờ thành công trong thị trường cạnh tranh thật sự, thì việc làm giầu của họ cũng đồng thời giúp cho quốc gia giầu thêm, nhiều người khác được chia sẻ lợi nhuận.

Còn khi những người làm giầu, dù làm giầu bằng việc kinh doanh chứ không phải hối mại quyền thế, nhưng họ chỉ trở nên giầu có nhờ khéo chạy chọt, đút lót, nhờ tìm gốc lớn để bám và dù lớn để che, thì công việc làm giầu của họ không mang lại lợi ích cho quốc gia bằng những người làm giầu nhờ giỏi cạnh tranh trong thị trường.

Ðức Khổng Tử nói, “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” nghĩa là “Không lo thiếu thốn mà lo chia không đều.” Câu này ngày xưa ông Hồ Chí Minh hay đem ra dậy đảng viên, nhưng coi bộ chẳng có anh nào nhớ cả; bây giờ các quan lớn Cộng Sản chỉ lo làm giầu cho mình thôi, dân thất học hay bệnh hoạn “mặc kệ nó.”

Bây giờ chúng ta có thể nhại lời Ðức Thánh Khổng mà nói thêm rằng: “Không lo có người giầu mà nên lo phương cách làm giầu thế nào.” Nếu chính sách quốc gia đặt ưu tiên phải viết ra và thi hành những luật lệ cạnh tranh công bằng, tạo cơ hội cho tất cả mọi người như nhau trong thị trường cạnh tranh, thì trong nước càng nhiều người giầu càng lợi chung cho kinh tế quốc dân. Ngược lại, nếu những người cầm quyền chủ trương dành ưu tiên cho phe cánh mình, đảng viên của mình, và những người khác nếu chịu đút lót cho phe cánh, đảng viên của mình, cho bọn người được ưu đãi đó cơ hội làm giầu dễ và giầu to nhất; thì chính sách đó không ích lợi cho đất nước, đáng xóa bỏ, cần thay thế.

Nhìn lại chính sách kinh tế của các chính quyền Cộng Sản tại Trung Quốc và Việt Nam thì ai cũng thấy họ tạo ra cảnh bất công xã hội. Nhưng không phải vì kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tạo nên cảnh giầu nghèo chênh lệch đó. Chính chủ trương ưu đãi các đảng viên và phe cánh của đảng Cộng Sản đã gây bất công xã hội. Nhưng tai hại nhất là chính sách này còn cản trở cả sự phát triển kinh tế của quốc gia nữa. Vì bọn người được hưởng thụ nhờ các chính sách ưu đãi đó đang trở nên một thế lực, họ sẽ ngăn cản tất cả những thay đổi cần thiết để tạo dựng khuôn khổ cho các luật lệ cạnh tranh công bằng và cơ hội đồng đều. Khi chưa có thị trường cạnh tranh thật sự thì quốc gia không thể lợi dụng được những ưu điểm của cơ chế thị trường để phát triển. Ở Bắc Mỹ có ba nước theo kinh tế tư bản, nhưng Mexico khác hẳn Canada và Mỹ.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thời sự kinh tế: Phá sản tạo cơ hội làm lại

Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần qua, ông Steven Rattner đã mời ông Rick Wagoner, chủ tịch tổng giám đốc công ty General Motors tới văn phòng của mình ở Bộ Tài Chánh. Ông Rattner, người phụ trách vấn đề cứu các công ty sản xuất xe hơi từ Tháng Hai vừa qua, báo tin cho ông Wagoner biết nếu muốn chính phủ tiếp tục nghiên cứu việc cứu công ty, thì ông cùng với nhiều thành viên trong hội đồng quản trị công ty phải từ chức để người khác lên thay và đổi cách điều hành công ty sản xuất xe hơi lớn nhất nước Mỹ, và trước đây vài năm còn lớn nhất thế giới.

Năm ngoái, có lẽ không ai tưởng tượng nổi chính phủ Mỹ có thể yêu cầu những người lãnh đạo một công ty kỹ nghệ nghỉ việc. Ðây là một hành động hoàn toàn trái ngược với một quy tắc trong kinh tế tư bản, là chính phủ không can thiệp vào nội bộ của một công ty tư nhân, quy tắc thiêng liêng như đã được ký kết “hợp đồng xã hội” của nước Mỹ, giữa chính phủ và dân, giữa các người làm chính trị và giới làm kinh tế.

Nhưng kinh tế tư bản ở Mỹ đang thay đổi. Từ Tháng Mười năm ngoái chính phủ Mỹ đã bổ nhiệm người đứng điều khiển đại công ty bảo hiểm AIG, quốc hội đã ứng 700 tỷ Mỹ kim cứu nguy các ngân hàng và công ty tài chánh, cũng như chính phủ đã cho 2 công ty General Motors và Chrysler vay hơn 17 tỷ đô la vào Tháng Mười Hai năm ngoái. Qua các hành động đó, hầu hết mọi người đồng ý là muốn cứu kinh tế tư bản thì nhà nước phải can thiệp.

Trong bầu không khí đó, hành động “can thiệp trắng trợn” của ông Rattner không khiến mọi người ngạc nhiên nữa. Các chuyên viên của ông đã nghiên cứu trong hơn một tháng chương trình cải thiện do 2 công ty này nộp, họ kết luận nếu tiếp tục như vậy thì cả 2 công ty vẫn chưa có lối thoát và người dân đóng thuế ở Mỹ sẽ còn phải đổ tiền vô cứu trợ không biết bao giờ ngưng. Bây giờ, chính phủ cho Chrysler một tháng, và General Motors sẽ có 2 tháng, để đưa ra những giải pháp mới để thuyết phục chính phủ đưa thêm cho họ gần 22 triệu nữa, nếu chính phủ vẫn chưa hài lòng thì cho cả hai phá sản. Nước Mỹ có 3 công ty xe hơi lớn, việc phá sản của General Motors và Chrysler sẽ để lại một công ty Ford, chính thức chấm dứt thế kỷ huy hoàng của thành phố Detroit, mà tình trạng suy yếu đưa tới sụp đổ đã bắt đầu từ hơn 30 năm nay.

Câu hỏi là: Chính phủ Obama sẽ cứu các công ty General Motors và Chrysler hay sẽ để cho họ phá sản? Ðối với vị tổng thống nhậm chức chưa được 100 ngày, cả hai lựa chọn này đều bất lợi cho ông về mặt chính trị - người Mỹ gọi là một tình trạng chỉ có thua, không có thắng (no win situation).

Nhưng chính vì quyết định cách nào cũng là chịu thua, cho nên có lẽ việc quyết định sẽ dễ dàng hơn. Vì ông Obama có thể không cần nghĩ tới lợi ích chính trị của chính mình nữa mà quyết định với một tiêu chuẩn khác. Ðó là bảo vệ quy tắc căn bản của nền kinh tế thị trường, trong đó mọi người và mọi tổ chức kinh tế chịu trách nhiệm về hành động của mình, khi thất bại thì chấp nhận khai phá sản, cải tổ cơ cấu để bắt đầu lại từ đầu.

Trường hợp công ty Chrysler có lẽ dễ nhìn thấy lợi hại hơn. Chính phủ Obama đang đề nghị công ty này bán một phần (khoảng 20%) cho công ty Fiat của Ý. Chính phủ sẽ cung cấp cho họ khoảng 6 tỷ đô la nữa để tiếp tục hoạt động. Người ta sẽ tính ra rằng họ phải bỏ 10 tỷ đô la, cũ và mới, các chủ nợ của công ty phải xóa nợ 7 tỷ đô la nữa, tất cả để bảo vệ công việc làm cho 50,000 công nhân của Chrysler, như thế là muốn cứu mỗi công việc làm phải chi 340,000 đô la, trong đó có 200,000 của dân đóng thuế ở Mỹ. Nếu dân chúng Mỹ quyết định, thì họ sẽ chọn cứu Chrysler hay cho phá sản?

Trường hợp General Motors phức tạp hơn, vì nhãn hiệu GMC đã từng có thời là nhãn hiệu của sức mạnh công nghiệp của cả nước Mỹ, và công ty này không đưa ra được một kế hoạch cải tổ thỏa đáng đến nỗi nhà nước phải can thiệp cũng vì nhiều nhóm quyền lợi trong đó không ai chịu nhường ai.

General Motors và các công ty xe hơi ở Mỹ nói chung có hai vấn đề lớn khiến họ bị các công ty ngoại quốc qua mặt khi đến Mỹ mở nhà máy sản xuất, thứ nhất là ban giám đốc họ nhắm vào những lợi ích ngắn hạn và chi phí về lao động quá cao. Những chiếc xe của công ty Honda hoặc Toyota sản xuất với giá thành rẻ hơn, vì họ chi phí về công nhân lao động thấp hơn. Các công ty Mỹ chịu những khoản chi lao động đặc biệt vì đã ký kết hợp đồng với Công Ðoàn UAW của các công nhân ngành xe hơi, nhiều hợp đồng ký từ hai ba chục năm trước khi xe Mỹ chưa bị xe các nước khác cạnh tranh gắt gao. Theo các hợp đồng này, nhiều khi công ty không có việc làm vẫn phải trả lương cho công nhân để họ ngồi ở nhà. Các công nhân về hưu được hưởng hưu bổng và bảo hiểm y tế rất cao, cho đến hết đời. Các công ty từ Ford đến General Motors đều nhìn ra rằng các xưởng máy của họ ở Canada sản xuất mỗi chiếc xe với giá thành rẻ hơn, vì bên đó mọi dịch vụ y tế đều do chính phủ đảm nhiệm.

Khi một công ty thua lỗ, các cổ đông, tức là những chủ nhân cổ phần của công ty phải chịu hy sinh, mất tiền, điều này ai cũng đồng ý. Nhưng còn hai thành phần liên hệ có quyền lợi khác nhau nữa là các chủ nợ, và các công nhân và nhân viên trong công ty. Ðể tránh cho công ty khỏi phá sản, cả hai thành phần này cũng phải chịu chia sẻ sự thiệt hại. Chính phủ Obama đã yêu cầu công ty General Motors phải đạt được sự thỏa thuận của các ngân hàng và chủ nhân các trái khoán chịu giảm bớt các khoản nợ tích lũy từ nhiều năm, cũng như Công Ðoàn UAW phải chịu bỏ bớt những quyền lợi của đoàn viên để giảm chi phí sản xuất.

Nhưng trong hơn ba tháng vừa qua, General Motors chỉ đạt được những nhượng bộ nhỏ của các trái chủ cũng như của nghiệp đoàn. Ðó là lý do ông Steven Rattner thấy kế hoạch cải tổ của họ không bảo đảm là công ty sẽ phát triển và đứng vững được trong những năm sắp tới. Trong bản kế hoạch của họ nộp cho ông Rattner, General Motors tiên đoán sang năm 2011 họ sẽ bán được 14.3 triệu chiếc xe, trong khi năm nay bán được 9 triệu xe. Những con số đó quá lạc quan. Ngày hôm qua công ty Honda ở Mỹ đã công bố sẽ giảm bớt hơn 200,000 đơn vị trong số sản xuất năm nay, chỉ còn chế tạo 1 triệu 250 ngàn chiếc xe hơi.

Nỗi khó khăn của General Motors là hai nhóm quyền lợi, chủ nợ và công đoàn bên nào cũng muốn bên kia phải chịu thiệt thòi thêm, còn mình thì đã nhượng bộ đủ rồi. Nếu trong 60 ngày tới ban giám đốc mới của công ty không thuyết phục họ đi tới một thỏa hiệp giảm bớt chi phí nữa, thì chính phủ Obama sẽ để cho phá sản.

Dân Mỹ đã quá chán ngán về các chương trình cứu giúp các ngân hàng của chính phủ, dùng tiền của người dân đóng thuế. Giúp 2 công ty General Motors và Chrysler thêm 21 tỷ đô la nữa không có gì hấp dẫn đối với dân Mỹ, nhất là lại giúp công ty Fiat trở thành chủ nhân một phần của Chrysler. Nhưng ông Barack Obama sẽ bị chỉ trích nếu không giúp 2 công ty xe hơi, sau khi chính phủ Mỹ đã dùng hàng ngàn tỷ để giúp các ngân hàng. Chính phủ có thể nghĩ khác người dân bình thường. Các công ty xe hơi chỉ ảnh hưởng trên các gia đình công nhân của họ và của các công ty bán xe và cung cấp bộ phận cho xe hơi. Còn các ngân hàng liên hệ đến tất cả mọi người, từ người kinh doanh đến người tiêu thụ ở khắp nơi. Người dân bình thường ở Mỹ không hiểu được những mạng lưới tài chánh phức tạp là lý do phải cứu các ngân hàng. Những người sẽ lên tiếng chỉ trích chính phủ nặng nhất sẽ là các công đoàn, trong đó có UAW, là thành phần đã ủng hộ Tổng Thống Obama từ lâu. Người ta sẽ nói chính phủ Obama chỉ cứu các nhà tư bản ở Wall Street mà bỏ rơi các công nhân.

Nhưng việc cứu giúp 140,000 đoàn viên của công đoàn UAW có thể khiến nhiều người lao động khác ở Mỹ có thể bất mãn. Hàng triệu công nhân làm việc ngoài Detroit đã bị mất việc, họ không được cứu. Công nhân làm việc tại các công ty Toyota, Honda cũng là người Mỹ, và họ đã chịu thiệt thòi vì lương bổng thấp hơn, nay lại bị thiệt thòi hơn. Chủ nhân các cổ phần của Honda, Toyota, Nissan ở Mỹ phần nhiều cũng là người Mỹ, họ sẽ thấy bị đối xử bất công.

Tóm lại, dù cứu hay không cứu hai công ty General Motors và Chrysler, Tổng Thống Barack Obama cũng sẽ bị chỉ trích. Nếu ông muốn chứng tỏ là người công bằng và chính trực, thì ông nên chọn giải pháp tôn trọng quy tắc của kinh tế tự do, là cho hai công ty khai phá sản qua chương 11 luật phá sản ở Mỹ. Khai phá sản không phải là chấm dứt hoạt động, mà là tạo cơ hội cho mọi người phải dứt khoát với quá khứ, bắt đầu làm lại. Có như vậy kỹ nghệ xe hơi ở Mỹ mới cải tổ được để cạnh tranh với các công ty ngoại quốc.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

G-20 và bên lề

Ngô Nhân Dụng

Sau hội nghị G20 ở London, Tổng Thống Barack Obama sẽ tới Praha, thủ đô Cộng Hòa Tiệp để họp với các đồng minh ở Âu Châu. Sau khi nói chuyện kinh tế ở nước Anh, các nhà lãnh đạo Mỹ và Âu Châu sẽ bàn vấn đề an ninh ở một nước nhỏ nằm giữa hai “vùng ảnh hưởng” của Nga và Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, cho chuyến du hành đầu tiên của ông tổng thống Mỹ mới đầy đủ.

Tuy được quảng cáo rầm rộ, nhưng kết quả của Hội Nghị G20 chỉ có 1,100 tỷ đô la do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và các ngân hàng quốc tế sẽ đem cho vay; ngoài ra là những điều thỏa thuận đại cương đã được mọi người dự đoán. Lời kêu gọi các chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh tế mà chính phủ Mỹ đưa ra đã không được nhắc tới; mặc dù các “đồng minh kinh tế” của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc đều sẽ làm đúng như điều mà ông Obama cùng vị bộ trưởng tài chánh của ông vẫn hô hào.

Ngược lại, Pháp và Ðức được hài lòng, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ Tướng Ðức Angela Merkel đều tuyên bố “thắng lợi” khi bản thông cáo chung nêu lên những điều mà họ cương quyết đòi hỏi là tăng cường các luật lệ kiểm soát hệ thống tài chánh quốc tế: Mở rộng việc áp dụng các luật lệ về tiền vốn tối thiểu để kiểm tra các quỹ đầu tư loại “đối trọng” (hedge funds) mà xưa nay không ai ngó tới; tăng việc giám sát các công ty tài chánh không phải ngân hàng; đặt luật lệ kiểm tra các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) xưa nay vẫn làm công việc cho điểm các ngân hàng và các công ty; và hỗ trợ tổ chức OECD (trụ sở đặt tại Pháp) bài trừ những “đảo trốn thuế” của những người giầu ở các nước giầu. Hai nhà lãnh đạo Ðức và Pháp đã bầy tỏ cho cả thế giới thấy họ đoàn kết với nhau ra sao, trước ngày họp hội nghị; ông Sarkozy còn dọa sẽ bỏ ra về nếu các đòi hỏi trên không được chú ý (Ông dùng hình ảnh “chiếc ghế trống” giống như Tướng De Gaule năm xưa không đến họp khối NATO, chiếc ghế được bỏ trống).

Nhưng các thắng lợi của ông Sarkozy và bà Merkel cũng giống như người ta đẩy được một cánh cửa đã mở sẵn. Vì hầu như tất cả mọi người có trách nhiệm tại các thị trường tài chánh, trong lãnh vực tư cũng như trong chính quyền, ở Mỹ và khắp các nước, ai cũng thấy là phải làm tất cả những điều mà các nhà lãnh đạo hai nước lớn nhất Âu Châu đã đòi hỏi. Các công ty thẩm lượng tín dụng lâu nay vẫn nghiên cứu rồi cho điểm A, B, C trên các trái khoán, tức là những giấy nợ của các công ty, các ngân hàng, hoặc các chính phủ, họ đã nhắm mắt suốt mấy năm nên cho điểm cao những “trái khoán nhiễm độc” đang tác hại trên các ngân hàng Mỹ. Một nguyên nhân là gần đây chính các nhà phát hành trái khoán lại là người thuê và trả công cho những người thẩm lượng trái khoán của họ. Chẳng khác gì một nước để cho các người tập lái xe đi thuê ông giám khảo chấm coi mình có đậu bằng lái xe hay không! Ai cũng đồng ý là tình trạng đó phải chấm dứt, không cần ông Sarkozy và bà Merkel lên tiếng yêu cầu.

Các quỹ đối trọng nhiều tiền quá, di chuyển tiền từ nước này sang nước khác dễ dàng quá, nhiều khi đầu tư liều lĩnh, lắm lúc chỉ đầu cơ ngắn hạn kiềm lời, ai cũng thấy phải khép họ vào vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Các nước nhỏ (thường ở các hòn đảo) cho lập ngân hàng dễ dãi và đánh thuế nhẹ để thu hút giới tư bản hoàn cầu tới bỏ vốn, nhưng được giữ kín mà không nêu danh; các đảo quốc này có thể trở thành những ổ trốn thuế vĩ đại, ai cũng thấy cần kiềm hãm.

Nhưng một điều không ai nhắc ông Sarkozy và bà Merkel là cơn khủng hoảng tín dụng từ năm 2007 cho đến hiện nay hoàn toàn không phải vì các quỹ đối trọng cũng như các hòn đảo trốn thuế gây ra. Mà hội nghị G20 họp mấy bữa nay là để đối phó với cơn khủng hoảng đó. Nhìn kỹ lại, ai cũng đồng ý là cuộc khủng hoảng bắt đầu từ các hành động liều lĩnh của chính các ngân hàng, trên nguyên tắc ngân hàng là những định chế đã được chính quyền các nước kiểm soát bằng luật lệ rất chặt chẽ. Cứ nhìn danh sách những ngân hàng ở Mỹ, hãng bảo hiểm AIG, và hai đại công ty tài chánh Fannie và Freddie chuyên về địa ốc, đó toàn những cơ sở đáng lẽ ra phải “an toàn” vì nằm trong vòng luật lệ của chính phủ cả. Chính những luật lệ và các định chế kiểm soát các ngân hàng phải được tăng cường. Nhưng ai cũng biết một hội nghị G20, gồm 19 nhà lãnh đạo các quốc gia cộng thêm tổ chức Liên hiệp Âu châu (EU) trong một ngày không thể nào bàn được chuyện phải kiểm soát các ngân hàng chặt chẽ hơn như thế nào. Các chuyên viên về tài chánh và về luật pháp sẽ phải làm việc hàng năm, hoặc nhiều năm, mới có đủ ý kiến, mà chưa chắc các nước đã thỏa thuận được với nhau.

Cho nên Tổng Thống Sarkozy và Thủ Tướng Merkel phải vui mừng tuyên bố thắng lợi với những lời hứa hẹn rất tổng quát. Người hoan hỉ nhất sau hội nghị có lẽ là Thủ Tướng Anh Quốc Gordon Brown. Ông đã dành rất nhiều thời giờ đi gặp gỡ, tham khảo, cổ động, làm trung gian tìm thỏa hiệp giữa các nước có ý kiến đối nghịch (đi dây giữa Mỹ và Ðức-Pháp mặc dù lập trường Anh giống Mỹ như hệt), nhiều người đùa rằng bây giờ ông Brown đang đóng vai bộ trưởng tài chánh của cả thế giới. Nay ông có thể tuyên bố là hội nghị đã thành công. Pháp và Ðức không lầu bầu nữa. Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào đã tự ý kích thích kinh tế giống như Mỹ vậy, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ đóng vai trò bơm tiền vào các nước với 750 tỷ, trong đó các nước nghèo cũng được khoảng 5 tỷ đô la. Trung Quốc sẽ giúp nền ngoại thương nhiều nước nhỏ bằng cách cho vay, chắc chắn là sẽ dễ dãi cho những nước nào mua hàng của họ vay tiền, dù có hội nghị này hay không. Một thắng lợi khác mà ông Brown có thể kể lại khi viết hồi ký sau này, là hai ông Obama và Medvedev đã gặp nhau ở London, và đã có những bước đầu thỏa thuận về giảm bớt vũ khí hạt nhân.

Ðây là một chuyện chẳng ăn thua gì với khủng hoảng kinh tế và hội nghị G20 cả. Nhưng ông Barack Obama có thể sẽ kiếm được điểm tốt với dân chúng Mỹ, qua công việc bên lề hội nghị này. Chứng tỏ rằng chưa tới 100 ngày sau khi nhận sở làm ở Tòa Bạch Ốc, ông tổng thống mới đã đặt nền móng cho những nước cờ ngoại giao sắp tới.

Hai ông tổng thống Mỹ và Nga đã đồng ý mỗi nước sẽ giảm bớt một phần ba số vũ khí hạt nhân trong kho. Hiệp Ước Giảm Vũ Khí Chiến Lược (viết tắt là START) sẽ hết hiệu lực vào năm tới, và hai nước sẽ phải ký một hiệp ước mới. Trong hàng chục năm qua, hai nước không nói chuyện được với nhau vì không khí căng thẳng bởi các chuyện bên ngoài: Mỹ muốn mở rộng khối NATO cho các nước “chư hầu cũ” của Liên Xô gia nhập; và Nga thì cố xác định ảnh hưởng của mình trên các nước đó. Năm 2002 Mỹ và Nga đã thỏa thuận sẽ giảm số đầu đạn nguyên tử xuống chỉ còn 2,200 (Mỹ) và 1,700 (Nga).

Trong cuộc gặp gỡ ngày Thứ Tư ở London, Medvedev và Obama đã đồng ý sẽ giảm nữa, xuống chỉ còn mỗi bên 1,500; đồng thời sẽ tăng cường việc giám sát. Hai bên vẫn lên lớp nhau như cũ, Nga không muốn NATO mở rộng đến biên thùy của họ, còn Mỹ nhất định không công nhận các vùng ly khai khỏi Cộng Hòa Georgia do quân Nga hỗ trợ. Vẫn dùng lối nói như khi đi tranh cử, ông Obama bảo ông Medvedev rằng khái niệm “vùng ảnh hưởng” của Nga đã lỗi thời, không còn thích hợp với thế kỷ 21.

Tuy hiệp ước Start từ đầu chỉ liên quan đến hai nước Nga và Mỹ, nhưng việc hai ông tổng thống bàn với nhau chuyện này có thể được đưa lên thành một thông điệp gửi cho các nước khác, đặc biệt là Bắc Hàn và Iran.

Ông Obama có thể gửi một lời nhắn tới hai nước có tham vọng làm bom nguyên tử (Bắc Hàn đã có rồi, Iran đang luyện) là các chính phủ Mỹ và Nga đang giảm bớt vũ khí hạt nhân, và trong tương lai, có thể đi tới việc hủy bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân, nếu tất cả các nước đều đồng ý. Như vậy thì những nước nhỏ không có lý do gì làm thêm bom nguyên tử, nhất là một nước để hàng triệu dân chết đói như Bắc Hàn.

Trong khi chờ đợi tiến tới việc hủy bỏ vũ khí hạt nhân, chính phủ Mỹ có thể đề nghị Nga cùng ngưng luyện các chất có thể làm bom hạt nhân. Ðây là một ý kiến đã được nhiều nhà chính trị lão thành cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ nêu lên trong hai năm qua, có thể kể tên các cựu Bộ Trưởng George Shultz và Henry Kissinger (Cộng Hòa), William Perry (Dân Chủ). Nước Mỹ sẽ bớt tốn tiền mà không sợ thiệt hại nếu Nga qua mặt.

Trong khi tới Praha, Cộng Hòa Tiệp, ông Barack Obama có thể sẽ đưa ra những ý kiến hòa dịu với Nga để thúc đẩy tới những thỏa hiệp khác sau cuộc gặp gỡ với ông Medvedev. Vì ai cũng biết ông tổng thống Nga không phải người quyết định, phải ngỏ lời sao cho ông Thủ Tướng Putin cũng được nghe, sau khi ông Medvedev về báo cáo. Một trở ngại là nước Nga sẽ bị thiệt khi hủy bỏ hết vũ khí hạt nhân. Vì hiện nay lực lượng quân sự không hạt nhân của Nga rất yếu, không đủ tiền; bỏ bom hạt nhân đi thì không còn ai sợ Nga nữa.

Nhưng thời kỳ cần tích trữ bom hạt nhân đã hết rồi. Trước đây, Mỹ theo chủ thuyết MAD (mutually assurred destruction), hai bên cùng tận diệt nếu tấn công nhau bằng bom nguyên tử, vì không bên nào đủ sức hủy diệt hết kho vũ khí nguyên tử của bên kia. Chủ thuyết MAD chỉ có giá trị khi Mỹ, hoặc Nga, biết “địa chỉ” của người đánh mình bằng bom nguyên tử, để gửi bom trả lại. Bây giờ mối lo bom nguyên tử có thể nằm ở những tổ chức khủng bố, không có địa chỉ rõ ràng, nhưng có đủ tiền để mua bom nguyên tử trong thị trường chợ đen!

Cho nên con đường phải tiến tới là kiểm soát tất cả việc tinh luyện uranium hay plutonium có thể biến thành bom nguyên tử. Và trong công việc này, Mỹ cần Nga hợp tác, việc ký kết lại hiệp ước Start là một bước đầu.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tội chụp mũ
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên


Tùy theo điều kiện sống, tùy theo phong tục tập quán, mỗi quốc gia có một hệ thống luật pháp riêng. Tuy vậy do tính thống nhất giữa dân tộc tính và nhân loại toàn tính, xã hội quốc tế có những nguyên tắc pháp lý căn bản chung. Một trong những nguyên tắc kia là nguyên tắc “Vô luật bất thành tội”. Điều này có nghĩa là: Không người nào có thể bị trừng phạt vì lý do đương sự đã làm một việc mà việc đó không bị hình luật ngăn cấm. Xưa kia hình luật nước Pháp chỉ trừng phạt các tội: trộm, cướp, lường gạt… mà quên không quy định tội “ăn không trả tiền”. Vì vậy hồi bấy giờ toà án Pháp quốc bị buộc phải tha bổng những người ăn quỵt. Mãi cho đến khi luật phạt tội ăn quỵt ra đời, thời kỳ vàng son của những kẻ ăn quỵt mới chấm dứt. Bây giờ chúng ta thử đặt vấn đề: Tại Hoa Kỳ, phải chăng hình luật có liệt kê tội “Phỉ báng một người bằng cách “chụp mũ” người đó là Cộng Sản” ? Câu trả lời nằm trong các tin tức sau đây:

Báo Người Việt số phát hành ngày 20/03/2009 cho biết: Năm 2006, Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster, thông qua thủ tục đầu phiếu đã quyết định tuyển Tiến Sĩ Lâm Kim Oanh làm tổng quản trị học khu. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau đó, chính Hội Đồng Học Khu lại biểu quyết thâu hồi quyết định của họ trước đó. Hỏi ra mới biết: Sở dĩ học khu có hành động xoay chiều như vừa kể là vì ông Cao Sinh Cường đã bảo với học khu rằng Tiến Sĩ Lâm Kim Oanh là Cộng Sản. Vì vậy giáo sư Lâm Kim Oanh vào đơn kiện ông Cao Sinh Cường trước toà Thượng Thẩm California về tội phỉ báng. Sự thiệt hại của GS Lâm Kim Oanh trong trường hợp này là đương sự bị mất chức vụ tổng quản trị học khu.

Vẫn theo báo Người Việt, sau khi đọc hồ sơ Lâm Kim Oanh kiện Cao Sinh Cường, Chánh Án Charles Margines nêu ý kiến: “ Đã có bằng chứng đủ mạnh cho thấy sự việc ông Cao Sinh Cường phỉ báng bà Kim Oanh bằng cách “chụp mũ” bà Kim Oanh là Cộng Sản với ý định làm mất uy tín của đương đơn”. Toà Thượng Thẩm California có thể ra phán quyết về vụ Kim Oanh kiện Cao Sinh Cường trong vài tháng tới.

Mặt khác, năm 2003 toà án Denver, tiểu bang Colorado tuyên phạt những người đã chụp mũ Cộng Sản cho ông Hồ Ngộ và hai người con của ông này. Bị cáo phải trả cho các nạn nhân số tiền bồi thường thiệt hại lên tới 4 triệu 8 trăm ngàn Mỹ Kim.

Năm 2007, ông Phạm Tuân, chủ chợ Capital Market tại Saint Paul, Minnesota bị chụp mũ Cộng sản. Toà án liên hệ đã ra lệnh cho các bị cáo phải bồi thường cho nạn nhân 693 ngàn Mỹ Kim tiền thiệt hại.

Đời sống thiên biến vạn hoá, muôn hình vạn trạng. Vì vậy, không phải lúc nào hình luật cũng có khả năng mô tả đầy đủ và rõ ràng tất các loại tội phạm. Rất nhiều khi Toà án phân vân trong việc xác định tội danh cho một tội phạm. Giải quyết phân vân vừa kể, tức là toà án tuyên phán một bản án có tính tiền lệ, gọi tắt là án lệ. Án lệ có tác dụng giúp các Toà án về sau giải quyết những vụ án tương tự bằng cách đi theo con đường mà án lệ đầu tiên đã mở ra.

Trở lại với câu chuyện chụp mũ Cộng Sản. Các ý kiến và phán quyết của toà án thuộc các tiểu bang California, Colorado, Minnesota đã dẫn đến án lệ rằng một người bị xem là phạm tội phỉ báng khi chụp mũ Cộng Sản cho người khác. Mang “án lệ phạt tội chụp mũ” đặt cạnh nghị quyết 36 của Hà Nội, chúng ta nên nghĩ gì và làm gì? Như mọi người đã biết nghị quyết 36 có mục tiêu: Xâm nhập cộng đồng Việt Nam hải ngoại, gây chia rẽ, vô hiệu hoá mọi hoạt động cộng đồng, lôi kéo thành viên của cộng đồng phục vụ chế độ Hà Nội. Làm thế nào để cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vừa có thể khoá chặt tay chân nghị quyết 36 vừa không bị phiền nhiễu bởi “Án lệ phạt tội chụp mũ CS”? Thưa rằng: Có ba trận địa đang chờ đón những người chống độc tài Hà Nội.

Trận địa thứ nhất:

Chống nghị quyết 36, chúng ta không thể không tố giác những tay CSVN đang nằm vùng trên đất Mỹ để thực hiện vô số hành động phi pháp. Muốn cho công việc tố giác đạt hiệu quả cao, chiến sĩ đấu tranh cần nghiêm khắc tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
1. Đừng bao giờ tìm cách tố cáo một người là CS chỉ vì lý do tư thù, lý do cạnh tranh nghề nghiệp hay chính trị.

2. Hãy tố cáo có kèm theo nhân chứng hay vật chứng những lời nói và việc làm của một người có chủ đích tuyên truyền hay tán trợ chế độ Hà Nội. Những tố cáo này cần cụ thể và chính xác. Nghe lời tố cáo, người nghe tự kết luận người bị tố cáo đích thực là CS. Tuyệt đối không bao giờ tố cáo trắng trợn và vô tội vạ kiểu: “ Nguyễn Văn X, Trần Văn Y là Cộng Sản”. Tiếng Việt rất phong phú, người Việt rất thông minh, chỉ cần một vài chi tiết thật chính xác, ngưòi nghe có thể hiểu ý của người nói 100%, không cần phải sát phạt, thẳng thừng với nhau. Vì vậy, hãy nói thật rõ và thật cụ thể với ghi chú: Không tố cáo trắng trợn và vô trách nhiệm. Đó là phương pháp giúp chúng ta thực hiện quyền tự do ngôn luận mà không bị vướng vào “Án lệ phạt tội chụp mũ Cộng Sản”.

Trận địa thứ hai:

Xin nhắc lại mục tiêu trọng tâm của nghị quyết 36 là đánh phá các cộng đồng Việt Nam hải ngoại, đặc biệt là cộng đồng Việt Nam tại Mỹ. Tuyệt đa số người Việt trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ đều mang quốc tịch Mỹ. Vì vậy, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ là một bộ phận không thể tách rời khỏi quốc gia Hoa Kỳ. Thi hành nghị quyết 36 bằng cách đánh phá và/hoặc gây chia rẽ cộng đồng Việt Nam tại Mỹ hiển nhiên chế độ Hà Nội đã xâm lấn vào công việc nội bộ của Hoa Kỳ một cách cực kỳ công khai và thô thiển. Sự việc này không thể nằm ngoài tầm quan sát của cơ quan an ninh Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng dành cho ngành công tố quyền tùy nghi truy tố. Quyền này hàm ý rằng đứng trước một hay nhiều tội phạm xảy ra với đầy đủ bằng chứng, cơ quan công tố được quyền tùy nghi: hoặc truy tố, hoặc “án binh bất động”. Tình trạng án binh bất động kia có thể diễn ra bởi nhiều lý do: ổn định xã hội, chính trị quốc tế, vụ án cần mở rộng hơn là những gì nó đã lộ ra v.v. Vì vậy tại Hoa Kỳ, có nhiều tội phạm kéo dài trong nhiều năm, sau đó các can phạm mới bị truy tố. Điều này cho thấy một tội phạm chưa bị truy tố không có nghĩa là bị can vô tội. Trong khi chờ đợi ngành công tố Mỹ ra tay bố ráp những cán bộ CS Hà Nội ngấm ngầm phá hoại Cộng Đồng Việt tại Mỹ, người Mỹ gốc Việt hãy mẫn cán trình báo cho cơ quan an ninh Hoa Kỳ biết rõ mọi tác vụ phạm pháp trên đất Mỹ do CS và tay chân điều động và tổ chức. Hành động như vừa kể có nghĩa là chúng ta không những chống nghị quyết 36 trong hiện tại mà còn đón đường đánh nghị quyết này trong tương lai.

Trận địa thứ ba:

Yếu tố chủ chốt của tội phỉ báng là bị can phải gán cho nạn nhân những việc làm thực sự đáng kinh tởm kiểu trộm, cướp, hiếp dâm, giết người, buôn bán ma túy… Vì vậy, khi đưa ra án lệ phạt tội chụp mũ một người là CS, toà án Hoa Kỳ mặc nhiên đồng hoá CS là tất cả những gì chống lại xã hội văn minh, tất cả những gì làm cho bất cứ người nào bị gán cho hai chữ Cộng Sản đều cảm thấy xấu hổ sâu sắc. Sự thực, có khuynh hướng xuất hiện trong những hoàn cảnh rất bất ngờ. Bức hình chụp linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng là một tình cờ diễn tả chính xác cái gọi là tự do ngôn luận dưới chế độ Hà Nội. Án lệ phạt tội chụp mũ CS là một tình cờ cho thấy dưới mắt nhìn của toà án Hoa Kỳ, uy tín của chế độ Hà Nội đang chìm sâu dưới đáy bùn đen. Chúng ta, những người yêu chuộng tự do dân chủ hãy phổ biến sâu rộng về Việt Nam ý nghĩa nhục nhã mà án lệ phạt tội chụp mũ CS đã dành cho đảng CSVN. Sự phổ biến kia làm cho dân chúng VN thấy rõ hơn giá trị hèn kém của CSVN dưới mắt nhìn của xã hội văn minh. Những “thấy rõ hơn” vừa nói sẽ là chất xúc tác hối thúc lịch sử phải chuyển mình.

“Án lệ phạt tội chụp mũ Cộng Sản” đã mặc nhiên giúp con người nhìn ra một chân lý mới. Ấy là: tiếng nói phát ra từ guồng máy tuyên truyền của chế độ độc tài, tham ô kiểu Hà Nội, hiển nhiển là tiếng nói của dối trá, của gạt gẫm. “Án lệ phạt tội chụp mũ Cộng Sản” là tiếng nói tuyệt đối phi chính trị, tuyệt đối phi tuyên truyền. Nó là tiếng nói lạnh lùng và nghiêm trang của công lý. Nó vừa là lẽ phải vừa là nhu cầu của đời sống được bật lên thành án văn. Nhờ vào sự khác biệt giữa án văn và tuyên- truyền- văn, “Án lệ phạt tội chụp mũ Cộng Sản” là một phát biểu không dè dặt rằng ngày nào chế độ Hà Nội còn tồn tại, ngày đó Việt Nam còn bị đè bẹp bên dưới tảng đá của cực kỳ phi lý.

Đỗ Thái Nhiên

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Ai thắng ai bại?

Friday, April 03, 2009
Ngô Nhân Dụng


Hôm qua Nhật Báo Người Việt đã đăng một “thư độc giả” phản ứng trước bài “Một chính quyền thối nát” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Thực ra đây không phải là phản ứng từ một “độc giả bình thường” đọc bài của Trần Khải Thanh Thủy, mà rõ ràng từ một cán bộ văn hóa tư tưởng của chính quyền Cộng Sản được bà nói tới trong bài này. Ông công an văn hóa tư tưởng này viết rằng “...Tụi mày thua trận rồi thì im cái mồm lại đi nghe. Ký tên: TAO.”

Có một nhầm lẫn lớn trong một dòng chữ này. Tác giả bức thư coi tất cả những người chỉ trích chế độ Cộng Sản đang cai trị nước ta đều là những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Cho nên anh ta (hay chị ta) mới gọi là “tụi mày thua trận rồi...” để yêu cầu “im cái mồm lại.”

Nhưng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy không sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Cô không thuộc hàng ngũ những “ngụy quân, ngụy quyền,” hay “ngụy dân” đã từng thất bại trên chiến trường vào năm 1975 và sau đó bị những người thắng trận đầy đọa bằng nhà tù lớn, nhà tù nhỏ khi áp đặt chủ nghĩa xã hội của họ trên miền Nam. Những người kể trên là những người thua trận thật, còn Trần Khải Thanh Thủy thì khác. Cô là một cô gái trưởng thành trong chế độ Cộng Sản, được uốn nắn theo lối giáo dục của Cộng Sản, đã làm việc trong chế độ đó. Chính vì vậy nên bản thân cô có kinh nghiệm về những tai họa mà chế độ Cộng Sản gây ra trên đất nước ta. Chính vì vậy nên cô đã nêu lên những ý kiến phải thay đổi chế độ tai hại đó, hậu quả là bây giờ cô bị cả bộ máy của đảng và nhà nước Cộng Sản khủng bố. Bài “Một chính quyền thối nát” cô viết đăng trên Nhật Báo Người Việt trong mấy ngày qua chỉ tả lại những hành động khủng bố của các tay chân của chế độ Cộng Sản (công an đến dân phòng, bảo vệ...) đối với gia đình cô trong đêm trước ngày các giáo dân Thái Hà ra tòa phúc thẩm. Guồng máy công an chỉ tìm cách ngăn cản không cho cô tới coi phiên tòa được mà thôi. Cô gửi cho cả hình ảnh những uế khí mà các tay khủng bố này đổ ra đầy trước cửa nhà cô vào lúc ba giờ sáng; và thuật lời chồng cô kể “chúng nó... không dám xách xô phân trộn dầu đổ như cũ (như lần trước) mà đứng cách một mét hất thẳng vào rồi bỏ chạy.”

Bài văn của Trần Khải Thanh Thủy rất trào lộng. Ba giờ sáng cô ra cửa, “Trước mắt tôi nhoe nhoét tư tưởng Hồ Chí Minh trải khắp bậc cửa nhà, không còn một chỗ để đặt chân.”

Có lẽ mấy ông công an tư tưởng văn hóa đọc tới đây thấy Trần Khải Thanh Thủy ví những xú uế với tư tưởng Hồ Chí Minh cho nên giận quá mất khôn. Họ theo đúng bài bản mà ban tư tưởng văn hóa của đảng soạn sẵn, cho nên coi cô cũng là “thành phần phản động nặng” rồi chửi như thường lệ, “tụi mày thua trận rồi... im cái mồm lại.”

Trần Khải Thanh Thủy cũng giống như những nhà trí thức Việt Nam khác, những người trẻ tuổi như Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Ðỗ Nam Hải, vân vân; họ là những người đã sống trong chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa.” Họ đã nhìn rõ những sai lầm tai hại trong cuộc sống mà đảng Cộng Sản ép dân ta phải theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Lực lượng đối kháng tiềm tàng nguy hiểm nhất đối với đảng Cộng Sản hiện nay là những người dân đã sống hoàn toàn trong chế độ đó. Những thanh niên trí thức yêu nước đã sống trong chế độ của họ nên biết rõ chế độ đó như thế nào có khả năng kết hợp các nông dân, công nhân bị bạc đãi để gây một phong trào đòi thay đổi. Chính quyền Cộng Sản không biết cách đối phó với phong trào mới này ra sao nên mới khủng bố từng người một, và gán cho những người đó thuộc vào phe những người “thua trận,” giống như mọi người lính, người dân sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.

Nhưng tới đây chúng ta thấy một câu hỏi lớn hơn: Thực sự thì ai là những người thua trận?

Câu trả lời tùy thuộc cách chúng ta nhìn mặt trận đó là trận tranh đấu nào.

Quý vị có thể định nghĩa trong giới hạn một trận chiến tranh, bắt đầu từ năm 1958 khi đảng Cộng Sản ở miền Bắc bắt đầu xâm nhập, đánh phá, rồi tiếp tục đem quân tấn công miền Nam cho đến năm 1975 thì kết thúc. Nói về cuộc chiến tranh đó, thì phe Việt Nam Cộng Hòa đã thua trận.

Nhưng tại sao có cuộc chiến tranh Nam Bắc trong 17 năm đó? Cuộc chiến này cũng chỉ là một giai đoạn trong một cuộc tranh chấp lớn hơn và lâu dài hơn, giữa những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc Gia và những người Cộng Sản theo một chủ nghĩa quốc tế. Trước năm 1930, những người làm cách mạng chống Pháp ở nước ta đã có hai khuynh hướng khác biệt. Nhiều người chủ trương đuổi bọn thực dân đi rồi xây dựng một quốc gia độc lập, thiết lập một chế độ tự do dân chủ. Tiêu biểu cho phong trào này là những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cho tới Nguyễn Thái Học, truyền xuống tới các đảng phái quốc gia sau này như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, và đảng Dân Chủ Xã Hội do Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ lập ra ở miền Nam, vân vân.

Ðối nghịch với khuynh hướng đó là những người theo chủ nghĩa Cộng Sản, chủ trương đặt cuộc tranh đấu của người Việt Nam vào trong một cuộc cách mạng lớn khắp thế giới, họ theo một chủ nghĩa quốc tế. Trong phe quốc tế này, nhóm Ðệ Tam đã tìm cách tiêu diệt những người Ðệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, rồi tấn công tới những người theo khuynh hướng quốc gia.

Cuộc chiến giữa hai khuynh hướng quốc gia và quốc tế bắt đầu từ 1930 trước hết là một cuộc tranh chấp về tư tưởng lập quốc. Xóa bỏ chế độ vua quan phong kiến, đánh đuổi thực dân rồi, người Việt Nam sẽ sống với nhau theo mô hình chính trị, kinh tế nào? Ðó là câu hỏi căn bản phân biệt giữa các đảng phái quốc gia và phe Cộng Sản đệ tam. Ðó là nguyên nhân gây ra những vụ đổ máu ngay trong lúc người Việt còn đang lo đánh Pháp giành độc lập. Khi Hồ Chí Minh theo ý kiến các cố vấn Trung Cộng làm cải cách ruộng đất, ông ta vẫn không quên nhân cơ hội đó tiêu diệt tất cả những người không thuộc thành phần mà đảng Cộng Sản có thể tin cậy. Những người góp công lao vào cuộc kháng chiến rất nhiều cũng bị sát hại, nhiều người đã bỏ Cộng Sản để về theo chính quyền quốc gia, tới năm 1954 đã mở ra một giai đoạn mới, Việt Nam bị chia thành hai miền sống trong hai thể chế khác nhau. Ðến năm 1975 phe quốc gia thua trận, điều này không ai chối cãi.

Nhưng cuộc tranh chấp thực sự giữa hai phe không bắt đầu bằng vũ khí và cũng không phải chỉ nằm trong mặt trận quân sự. Khi cụ Phan Bội Châu lên tiếng bài bác chủ trương làm “cách mạng vô sản” ở Việt Nam, cụ đã vạch rõ nước ta lúc đó không hề có giai cấp tư bản cũng không có giai cấp vô sản. Những nhà ái quốc đã bị Cộng Sản ám hại như Trương Tử Anh, Lý Ðông A, Huỳnh Phú Sổ cũng đều lấy dân tộc làm căn bản, chống lại chủ trương đấu tranh giai cấp của đảng Cộng Sản.

Cho nên, cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản đầu tiên là một cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị. Nói theo lối Cộng Sản, đó là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Cho nên cuộc tranh chấp đó cũng không được giới hạn trong biên giới một nước, không quyết định qua một cuộc chiến tranh ở một đất nước, dù đó là một cuộc chiến đã làm chết mấy triệu người Việt Nam. Cuộc đấu tranh giữa những người Quốc Gia và những người Cộng Sản ở Việt Nam nằm trong một cuộc chiến toàn cầu giữa trào lưu tư tưởng tự do dân chủ đối nghịch với phong trào Cộng Sản thế giới.

Từ những năm trong thập niên 1940, 50 trên thế giới đã nhiều người nhìn thấy chế độ Cộng Sản không thể tồn tại lâu dài được, vì nó đi ngược lại với bản chất con người và xã hội loài người. Nhiều người đã nhìn thấy chế độ Cộng Sản không hề giải phóng loài người như họ vẫn hứa hẹn, mà ngược lại còn nô lệ hóa con người. Nhưng các phong trào Cộng Sản vẫn bành trướng được vì những nước lớn như Nga và Trung Quốc thấy có thể lợi dụng các phong trào Cộng Sản ở từng nước nhỏ khác mà xây dựng đế quốc của họ, tiếp tục tham vọng của những hoàng đế Nga và Trung Hoa đời trước.

Ðến năm 1975, có thể coi là phong trào Cộng Sản thế giới đã lên tới đỉnh cao nhất. Nhưng trong nội bộ các nước Nga và Trung Quốc, chế độ Cộng Sản đã tàn hại chính các dân tộc này. Vụ sụp đổ của các nước Cộng Sản từ năm 1989 cho thấy từ căn bản chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại. Cộng Sản thất bại khắp trên thế giới, ngay tại những nước vẫn còn mang nhãn hiệu Cộng Sản như Trung Quốc, Việt Nam, thì chính các đảng Cộng Sản ở đó cũng đã quay đầu đi ngược về hướng kinh tế tư bản, trở thành những chế độ độc tài dựa trên độc quyền về kinh tế và chính trị, trống rỗng về mặt tư tưởng.

Trong trận chiến đấu quan trọng nhất là tranh chấp tư tưởng và ý thức hệ, khối Cộng Sản đã thua, hoàn toàn phá sản. Bây giờ những người mang tên đảng Cộng Sản ở Việt Nam chỉ là mạo danh một chủ nghĩa lỗi thời, lợi dụng những thần tượng đã tan vỡ, để bảo vệ những quyền lợi thủ đắc của một giai cấp tư bản mới. Khi nhìn lại cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở nước ta, cho tới giờ thì phải công nhận là cuối cùng là phe Cộng Sản đã “thua trận.” Chính họ đang tự cởi bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, và không biết có gì để thay thế nên chỉ biết chạy theo chủ nghĩa kim tiền!

Cho nên bà Trần Khải Thanh Thủy chắc không lo ngại gì khi bị công an tư tưởng văn hóa của chế độ Cộng Sản quấy rối, phá phách. Vì bà biết mình đang đứng trong hàng ngũ những người thắng trận. Một ngày mai dân Việt Nam sẽ phải được sống trong một chế độ dân chủ tự do lành mạnh, khi đó người Việt sẽ ghi giai đoạn nước ta sống dưới chế độ Cộng Sản như một cơn ác mộng ngắn trong lịch sử dân tộc. Và trong một hai thế hệ nữa, mọi người sẽ quên cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn đảng Cộng Sản. Vì trong mỗi con người cũng như trong lịch sử một dân tộc, không ai muốn nhớ những cơn ác mộng.

Post Reply