QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

THÁNG TƯ THẮP NÉN HƯƠNG LÒNG

(Thay nén hương lòng, kính dâng linh hồn
Anh Hùng Liệt Sĩ và đồng bào Việt Nam
đã oan thác đau thương trước, trong và sau
ngày 30 tháng Tư đen 1975)

Tháng Tư ! Lại tháng Tư buồn !
Nhớ quê lòng cháy, mắt tuôn lệ nồng
Giọt đau vì núi, vì sông
Giọt buồn ý kiếm tình cung lỡ làng ...

Giọt thương dũng khí trời Nam
Vì đâu rã ngũ, tan hàng, thảm không !!!
Giọt cho con Lạc, cháu Hồng
Tháng Tư ngàn vạn nhánh sông xa nguồn !

Tháng Tư, ôi, tháng Tư buồn !
Máu đào đỏ sóng trùng dương mấy tầng
Rừng xanh nhỏ giọt lệ thầm
Một lòng mộ hẹp, mấy thân xác tù !
Đau này còn đến thiên thu
Nỗi oan chưa giải, hận thù chưa nguôi !!!
Đừng thêm lừa mị, hỡi người
Hợp hòa dân tộc, đắp bồi quê hương !
Tháng Tư, nếu có tình thương
Sao dân chết bởi bạo cường, dã man ?!

Tháng Tư, xin thắp tuần nhang
Khóc hồn Anh Liệt giữa làn khói đau !!!



Ngô Minh Hằng

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Thương Phế Binh VNCH sau cuộc chiến Thương Phế Binh VNCH, những Anh Hùng Trong Cuộc Chiến sau 75 họ bị chế độ CSVN trù dập như thế nào, hãy xem những dòng kỷ niệm mà chúng tôi góp nhặt được như sau:

http://www.vienxuma gazine1.com/dongtam206. htm

...dưới chế độ Cộng Sản người lành lặn bị trả thù đã đành, mà người tàn phế của chế độ cũ cũng chia sẻ những khổ đau, những nhục nhằn thê thảm như vậy luôn. Người Cộng Sản hầu như không có lương tri của một xã hội văn minh, họ đã quen lối sống hoang dã giữa những mãnh thú, sẵn sàng giết đồng loại khi sự thú tính dâng lên cơn thèm. Xua đuổi thương binh của địch thủ ra khỏi bệnh viện, đập phá nghĩa trang, mồ mã của đối phương. Ý niệm nhân bản "Nghĩa tử nghĩa tận" họ sẽ không bao giờ hiểu nổi. Do đó, TPB của nước Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản hất hủi, chà đạp lên danh dự và xua đuổi họ ra khỏi sinh hoạt xã hội bình thường. Như hàng ngàn trường hợp TPB của VNCH bị đối xử tệ bạc mà xã hội miền Nam đã chứng kiến.



Mới đây nhà văn Văn Quang gửi ra hải ngoại bài viết một câu chuyện buồn bi thương về TPB. Theo báo Viễn Đông cho phổ biến bản tin về TPB Nguyễn Văn Báu, một quân nhân thuộc Tiểu đoàn 52, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, mang số quân 73/124687. Anh bị thương cụt mất hai chân tại mặt trận Bình Long- An Lộc năm 1972. Người con trai lớn của anh Báu là Nguyễn Thành Tâm, sinh năm 1979 đã có vợ và hai con, làm nghề đạp xích lô. Người con gái út là Nguyễn Thanh Hiếu, sinh năm 1983, làm công nhân của công ty may Đại Quang cũng đã có 2 con. Còn một người chị nữa, chồng chết, đang đi bán vé số. Bà vợ anh Báu bị tai nạn đứt gân nhượng chân nên không đến bệnh viện được. Nhìn nét mặt hai người con anh Báu như vẫn còn thất thần, đau đớn vì tai nạn kinh hoàng đêm trước của bố, người con trai nước mắt lưng tròng khi kể lại về bố mình:

"Nhà em là nhà đi thuê, ở xóm lao động nghèo sau nghĩa trang Bình Hưng Hòa mà mỗi tháng phải trả một triệu hai. Mới đây chủ nhà lại đòi tăng lên triệu rưởi. Dưới nhà chật, chỉ đủ để hai chiếc xe đạp, xe gắn máy cũ. Chúng em ngủ trên gác xép. Bố em cụt hai chân nên trải chiếu nằm dưới nhà cho tiện. Gần một tháng vừa qua bố em bị bệnh tai biến, hai chân lại đau nhức và nhất là sạn thận hành hạ. Ông nằm rên suốt ngày mà cố giấu con cháu. Ông đau lắm, chúng em biết, đang cố chạy tiền đưa ông đi chữa bệnh".



Vì đau bệnh ngặt nghèo mà gia cảnh lại quá tù túng, anh Báu đã quyết định quyên sinh mình bằng cách tự thiêu và anh đã qua đời. Là người của VNCH, phải chăng tim chúng ta đau nhói mỗi khi nghe những tin buồn bã như thế này?



Nhà văn Phan Nhật Nam nhân tham dự buổi gây quỹ TPB tại Canada, anh đã viết lại tâm tình khi đọc tác phẩm "Những Mảnh Đời Rách Nát", do vị bác sĩ trẻ tuổi Phan Minh Hiển về tận bên nhà tìm hiểu hiện trạng TPB, để rồi ghi nhận lại những sự thật đau đớn của những chiến binh VNCH thất thế sau cuộc chiến:



"Khi những ngày hỗn loạn đầu tháng 5 qua đi, những thùng đồ hộp bọn em trong nhà đem về dần cạn, người phế binh vùng Sàigòn, Gia Định phải ra đường kiếm sống với những “nghề cứu đói” như vá lốp xe đạp, sửa hộp quẹt gaz, bán nhang... Và cuối cùng, đi xin ăn. Nhưng tất cả không thể kéo dài khi gã cán bộ tên là Ba Nhiệm làm trưởng ban “Truy quét tệ nạn xã hội” với một bộ phận kinh hoàng, ”Nhà Nuôi Thị Nghè” được dựng nên để làm địa điểm chuyển tiếp giải quyết tất cả những đối tượng đang sinh sống trên, với vỉa hè - Số lượng nầy càng tăng vọt khi tiếp nhận thêm hàng vạn người từ Miền Bắc túng đói tràn vào. Tuy gọi là “nhà nuôi” nhưng thật ra nơi đó là nhà tù theo đúng nghĩa, những người bị đưa vào đây đều bị coi là “tội phạm hình sự “, do đó bị tra tấn và hành hạ thường xuyên. “Tội nhân” là những người bị bắt trong các đợt bố ráp lề đường, họ không có quyền khiếu nại là bị bắt trái phép hay không, và cũng không có án phạt rõ ràng...

Hoàng Thụy và Sơn, hai phế binh do quá kiệt sức vì bệnh lao và cụt hai chân nên được ra khỏi “nhà nuôi số 4” Phú Giăng, Sông Bé. Họ không dám đi ăn xin, chỉ “xin ăn” lại từ những người sống trong nghĩa địa. Một buổi chiều, hai anh ra bến Bạch Đằng, ngước mắt nhìn tượng Đức Trần Hưng Đạo một hồi lâu rồi nắm tay nhau nhảy xuống dòng nước chảy xiết. Xác hai anh được vớt lên, cha anh Sơn đang bán bánh ú, bánh tét quanh chợ Bến Thành hay tin, đến nhìn xác con. Nhưng ông chỉ im lặng đứng chung với đám người hiếu kỳ, không dám nhận là thân nhân người xấu số vì không có tiền mai táng con mình. Ông đứng thẫn thờ nhìn chiếc xe chở xác con ông đi khuất rồi mới dám khóc.

Hoàng Thụy và Sơn không chết một mình, những người lính tàn phế lần lượt “chọn” cho mình những phương tiện và thời điểm thích nghi như trường hợp của phế binh Thơm.. “Anh Thơm khi ngồi dưới chân cầu Sài-gòn, gần Ngân Hàng Quốc Gia có suy nghĩ rằng, do vợ chồng anh thiếu quan tâm nên đứa nhỏ con anh mới chết vì suy dinh dưỡng; mẹ nó đang “đi khách” ngoài chợ Bến Thành để dồn tiền cho anh làm vốn đi bán nhang... Anh quá mệt mỏi để nghĩ tiếp... Cuối cùng, anh mở hai tuýp thuốc ngủ trút hết vào miệng, bị say thuốc, anh ọc mửa đầy hết áo quần, xong dẫy mấy cái và ngủ luôn dưới chân cầu. Những thương phế binh khác như Lộc “què” mắc bệnh ho lao, thắt cổ chết trong một toa xe lửa bỏ hoang ở Biên Hoà. Quý “đốc- tưa Zivago” không nuôi nổi mẹ già 80 tuổi, bất lực nhìn mẹ hằng ngày cầm lon ra chợ xin thức ăn nuôi thân và nuôi con, nên anh đã thắt cổ chết lè cả luỡi ra. Thanh “liệt” thì mài dao tự cắt cổ, cứa mãi không đứt vì sợ đau, đâm ra bực mình liền chĩa mũi dao đâm cái phọt vào tim...



Nhưng trong những thân thể thương tật kia, ý chí chiến đấu của người lính không hề tàn lụi, họ vẫn giữ nguyên bản lĩnh kiêu hãnh của một quân đội, một đơn vị hằng tạo dựng những chiến tích lừng lẫy, cho dù hành động phản ứng tuyệt vọng bi tráng của họ chắc chắn sẽ đưa đến hậu quả khốc hại cuối cùng với cái chết ghê rợn nhẫn tâm..."



Nhà thơ Hoàng Phong Linh, tức chiến sĩ Võ Đại Tôn trong buổi gây quỹ cứu trợ TPB tại Úc châu đã phát biểu như sau:

"Nhà thơ Hoàng Cầm, trong bài Bên Kia Sông Đuống, có viết một câu, tuy không diễn tả được hết nỗi niềm, nhưng cũng cho ta thấy được một dòng máu tê buốt xương da :“Nỗi đau như ai rụng một bàn tay” !. Trong thế hệ chúng tôi, xuyên suốt những tháng năm chiến chinh khói lửa, và bây giờ trong buổi xế chiều của cuộc sống lưu vong, mỗi lần thơ thẩn bước chân qua những nẻo đường cô đơn, tận đáy lòng vẫn còn nghe vọng về lời thơ tiếng nhạc từ quá khứ bủa vây hiện tại, hình bóng hào hùng chen lẫn tang thương : “ Em hỏi anh bao giờ trở lại ? - Xin trả lời mai mốt anh về. Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân....”. Từ lượng từ bi của đất trời, từ lòng hào sảng của định mệnh, các anh đã trở về từ chiến địa với thân xác không còn nguyên vẹn, qua những lần đem máu xương để vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mong được một phần cứu nguy Tổ Quốc. Trên mảnh đất quê hương, tại một vùng trời nào đó, từ Đức Cơ đến Đồng Xoài, từ U Minh Bình Giả đến hàng trăm ngàn địa danh bất tử, các anh đã để lại một phần máu thịt xác thân, pha thêm màu vàng son hoành tráng trên bức tranh thần kỳ của Dân Tộc vĩnh hằng. Cho dù tôi có phải quỳ xuống cũng không ôm hết được một vòng tay thịt xương các anh đã hòa chung màu đất Mẹ, ân tình này mang nặng đến nghìn sau.", Võ Đại Tôn...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Những người trấn cửa cuối cùng của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Hoàng Khởi Phong

(Một trong những câu chuyện về những “NGƯỜI LÍNH” thật sự đã làm nên Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là bài viết dưới đây của nhà văn Hoàng Khởi Phong, viết về “Hổ Xám Phạm Châu Tài”, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, người chịu trách nhiệm trấn cửa cuối cùng tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH).


Ðầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Ðại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Ðoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Sài Gòn, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.


Ngày 26 Tháng Tư, Ðại Tá Phan Văn Huấn - Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài - Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm một ngàn quân thiện chiến về phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Ðại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở. Kế đó Ðại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Ðức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Ðó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Ðại Tá Tòng, sau đó ông đại tá này biến mất cho tới tận bây giờ.

Trung Tá Ðức đưa Thiếu Tá Tài đi quan sát chung quanh bức tường thành bao quanh Bộ Tổng Tham Mưu, và đề nghị toàn bộ đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm trong vòng thành, để cố thủ bên trong vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố. Những trận đánh tại Ngã Ba Cây Thị, khi địch đã tràn vào trà trộn trong dân chúng, hay đã lẩn vào trú ẩn trong các căn nhà dân chạy loạn bỏ trống.

Trong tình hình đó lối đánh sát phạt của Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân chắc chắn sẽ giải quyết được chiến trường nhưng cũng sẽ làm cho nhà cửa, sinh mạng của dân chúng bị vạ lây không ít. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã dương danh trong những trận đánh này, tiến chiếm từng ngôi nhà, từng con ngõ, từng khu phố… Nếu bỏ toàn đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm bẹp trong Bộ Tổng Tham Mưu, thì chẳng khác gì nhốt một con chim vào trong một cái lồng hẹp, sẽ bị dụ vào thế phòng thủ hoàn toàn thụ động, không có chỗ xoay trở. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Ðức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù.


Ngay từ khi mới ngừng xe ở trước cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã nhìn thấy một điều, ông phải bung quân ra xa. Phải chặn địch ngay trên những con đường chính dẫn về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó trời đã nhá nhem tối, Thiếu Tá Tài tạm thời cho quân tập trung vào sân banh của Bộ Tổng Tham Mưu, và đó có lẽ cũng là một đêm hiếm hoi mà binh sĩ của ông tạm có thể coi là có dịp nghỉ ngơi, để lấy lại hơi thở cho chính họ, trước khi phải lao vào trận đánh cuối cùng.

Trong thâm tâm Thiếu Tá Phạm Châu Tài, ông sinh ra ngay tại đất Gia Ðịnh này, lớn lên tại Sài Gòn nên ông có thể nhắm mắt cũng biết, để có thể ngăn chặn địch xung phong vào Bộ Tổng Tham Mưu, đơn vị của ông phải bung ra xa. Phải chặn đánh địch xâm nhập ngay từ khi chúng mới ló đầu ra ở Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trung Tâm Tiếp Huyết, đường Võ Di Nguy… Với một địa bàn quá rộng như thế, phải cần quân số của cả Liên Ðoàn, nghĩa là ba ngàn người. Thế nhưng toàn thể Liên Ðoàn được đưa về Sài Gòn không phải chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phòng thủ cho Bộ Tổng Tham Mưu. Rất nhiều nơi quan yếu khác cần đến những người lính Biệt Cách Dù, những người lính chuyên về đánh đêm trong thành phố.


Ðêm 26 Tháng Tư qua đi trong yên tĩnh, trọn buổi sáng 27, Thiếu Tá Phạm Châu Tài lo bố trí quân tại những địa điểm cần thiết, để có thể chận đánh, tiêu diệt những chiến xa mở đường của địch quân. Sau khi rải quân xong, Thiếu Tá Phạm Châu Tài được lệnh lên trình diện Trung Tướng Nguyễn Văn Minh Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Từ cổng ngoài của Biệt Khu Thủ Ðô, một chiếc xe tuần tiễu Quân Cảnh dẫn đường cho xe của Thiếu Tá Tài đến văn phòng của ông tư lệnh. Trong lúc này Tướng Nguyễn Văn Minh đang bàn thảo với Tướng Ðỗ Kiến Nhiễu, chung quanh hai vị tướng này có vài đại tá. Nhìn thấy Thiếu Tá Tài đi cùng người lính Quân Cảnh, tướng Minh đứng dậy tiến hẳn ra bắt tay rất niềm nở, và nói với Thiếu Tá Tài: “Em về đúng lúc lắm”. Sau một cuộc tiếp xúc ngắn không đầy mười phút, Tướng Minh yêu cầu Thiếu Tá Tài qua thăm phối hợp với Ðại Tá Châu Văn Tiên - Tỉnh Trưởng Gia Ðịnh. Nhiều năm sau này Thiếu Tá Tài được biết, ngay sau buổi hội kiến ngắn ngủi đó (ngày 27 Tháng Tư), Trung Tướng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô biến mất.


Buổi chiều 27 Tháng Tư, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh cưỡi Vespa đến thăm Thiếu Tá Phạm Châu Tài tại Bộ Tổng Tham Mưu. Bác Sĩ Ngô Thế Vinh mang từ trong cốp xe ra một cặp rượu cho Thiếu Tá Tài và nói: “Có Hổ Xám về đây tôi thấy ấm lòng”. Thiếu Tá Tài đưa Bác Sĩ Vinh lên sân thượng của building số 1, một tòa nhà cao sáu tầng nằm đối diện với cổng số 1 của Bộ Tổng Tham Mưu, ở đó Thiếu Tá Tài chỉ tay ra xa, giải thích cho bạn biết những nơi ông đã rải quân chặn địch. Từ nóc tòa nhà cao nhìn ra tứ phía, bạt ngàn tầm mắt là nhà cửa của dân chúng, kể cả những cao ốc khác nằm đó đây trong lòng Sài Gòn, tất cả như co mình lại, lún xuống thấp để chờ những cơn mưa.

Không phải những cơn mưa đầu mùa, mà là những cơn mưa pháo mà Cộng quân đã từng bắn không thương tiếc vào An Lộc, Kon Tum, Bình Long, trên đại lộ kinh hoàng, trên Liên Tỉnh Lộ 7B… Vào lúc này dân khắp nơi đổ xô về Sài Gòn, khiến cho dân số thủ đô của miền Nam gia tăng đến chóng mặt. Dễ chừng có tới bốn triệu con người trong một thành phố chật hẹp. Trên sân thượng này Thiếu Tá Phạm Châu Tài và Bác Sĩ Ngô Thế Vinh cùng không nói nhiều, chỉ trao đổi với nhau những câu ngắn và gọn, nhưng dường như họ đồng cảm với nhau về những suy nghĩ. Cả hai đều có điều kiện để cao bay xa chạy, thế nhưng cả hai cùng đứng lại.

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh khi nói với bạn, không bao giờ dùng tên hay cấp bậc. Với ông, Thiếu Tá Phạm Châu Tài là “Hổ Xám”. Danh hiệu này đã thành từ nhiều năm nay do một sự tình cờ, từ khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài còn là các toán A trưởng, hoạt động song song với các toán Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ. Các người bạn Mỹ khi phát âm TÀI không chuẩn, nghe như TAI (TIGER), và danh hiệu HỔ XÁM ra đời từ đó. Hổ Xám không phải là một danh hiệu gọi cho kêu, cho oai. Ðể có được danh hiệu này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã cống hiến cho quân đội toàn bộ tuổi trẻ của ông, đã lao mình vào không biết bao nhiêu trận đánh trong suốt mười năm chinh chiến. Và nếu như HỔ XÁM phải nằm xuống, sẽ có rất nhiều máu của địch quân phải đổ ra.

Chính vì vậy mà trong những ngày sau cùng, đã có rất nhiều lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài được các người quen có thế lực, có tiền của rủ ra ngoại quốc, song chưa bao giờ ông có ý nghĩ bỏ lại anh em, bỏ lại đồng đội. Chẳng những thế từ khi cơn bão lửa dấy lên từ bờ sông Thạch Hãn, thổi dọc theo dãy Trường Sơn, thổi xuôi theo Quốc Lộ 1 xuống phía Nam, Hổ Xám Phạm Châu Tài chưa bao giờ có ý nghĩ đầu hàng, ông toàn chỉ nghĩ đến cách nào để chiến đấu với quân địch ở ngay trước mắt. Ông cũng không có thời giờ để nghĩ đến vợ con, ngay cả lúc đã được đưa về trấn cửa Bộ Tổng Tham Mưu, chỉ cách nơi vợ con ông trú ngụ trên đường Trương Minh Giảng gần Ðại Học Vạn Hạnh không đầy ba cây số.

Ngày 27 Tháng Tư rồi cũng qua đi, nhìn chung không khí Sài Gòn cực kỳ sôi động. Vì phải đôn đốc binh sĩ dưới quyền, nằm rải rác chung quanh Bộ Tổng Tham Mưu, trong ngày 27 Tháng Tư, có đôi lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài ghé ngang cổng Phi Long của phi trường. Ông nhìn thấy những đoàn người tìm cách chạy trốn ra ngoại quốc qua ngả phi trường. Không mấy hứng thú trước cảnh này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài quay về với các binh sĩ của ông.
Trong đêm 27 Tháng Tư, ông cảm nhận được bầu không khí thoi thóp không phải chỉ của Sài Gòn mà thôi. Những tiếng động ầm ì từ phi trường Tân Sơn Nhất, những tiếng súng đại bác bắn đi từ Phú Lâm vọng về, thỉnh thoảng những ánh đèn nhấp nháy của những chiếc máy bay đơn lẻ vụt qua trên nền trời tối sẫm.


Sáng ngày 28 Tháng Tư, trong lúc đang thị sát binh sĩ tại những ổ kháng cự, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được điện thoại của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, tự xưng là Ðại Úy X (đã quá lâu nên Thiếu Tá Phạm Châu Tài quên mất tên của vị sĩ quan này). Qua điện thoại vị sĩ quan này lớn tiếng:
- Tôi báo động cho thiếu tá biết, thằng Cao Văn Viên đã bỏ đi rồi.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài ôn tồn nói với vị sĩ quan này:
- Ðại úy không nên dùng những ngôn ngữ đó. Dù sao Ðại Tướng Viên cũng là Tổng Tham Mưu Trưởng của toàn thể quân đội, và việc bỏ đi của Ðại Tướng Cao Văn Viên thuộc về lịch sử. Ðể lịch sử sau này sẽ phán đoán việc làm của đại tướng. Tôi sẽ tới Phòng 3 ngay bây giờ, chuyện đâu còn có đó.

Khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài quay trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, ông không gặp vị sĩ quan đã gọi điện thoại cho ông. Hầu như Phòng 3 trống trơn, Thiếu Tá Tài không còn tin vào cặp mắt của mình. Xe cộ chạy dọc ngang, các sĩ quan cao cấp có xe Jeep chở đầy đồ đoàn trên xe. Người ta chạy tứ tung, kêu gọi nhau ơi ới. Nhìn ra ngoài cổng chính cũng như cổng phụ của Bộ Tổng Tham Mưu người ta ra vào lũ lượt. Vẫn còn những toán lính Quân Cảnh mang sắc phục hành sự tại hai điếm canh, song hình như họ cũng đứng đó bất lực như Thiếu Tá Phạm Châu Tài.

Trong buổi sáng 28 Tháng Tư tại Bộ Tổng Tham Mưu, văn phòng của Ðại Tướng Cao Văn Viên trống trơn. Các phòng, ban của Bộ Tổng Tham Mưu chỉ vài tháng trước nhộn nhịp kẻ ra người vào, quân nhân các cấp ra vào áo quần thẳng tắp, giờ đây sáng ngày 28, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy cơ quan đầu não của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vắng lặng như tờ. Ông chua chát nhận chân được thế nào là một đoàn quân không có tướng cầm đầu. Ông nghiệm lại từ lúc về trình diện tăng phái về trấn cửa cho Bộ Tổng Tham Mưu, được Ðại Tá Tòng - Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh, tiếp vào lúc xế chiều của ngày 26 Tháng Tư, tới bây giờ là 10 giờ sáng của ngày 28 Tháng Tư, chưa một lần nào Thiếu Tá Tài nhìn thấy bóng dáng ông Ðại Tướng Cao Văn Viên.

Không hiểu trong những giờ phút thập tử nhất sinh như thế này, ông đại tướng ở đâu, làm gì. Ngay cả ông Ðại Tá Tòng cũng biến mất không thấy tăm hơi. Trong sân Bộ Tổng Tham Mưu, quân nhân các cấp người chạy lên, kẻ chạy xuống như là những quân đèn cù. Xe Jeep, xe Dodge phun khói mờ trời đất. Nhiều chiếc xe còn kéo theo cả móc hậu, bên trong đầy đồ đạc, dụng cụ. Ai nấy đều như mê sảng. Trong hoàn cảnh đó, Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho dù muốn xin một cái lệnh của cấp trên, cũng sẽ không tìm ra một sĩ quan cao cấp nào để ban hành lệnh.


Khoảng 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Tư, Thiếu Tá Phạm Châu Tài gọi điện thoại liên lạc với Ðại Tá Phan Văn Huấn, lúc đó đang đóng quân ở Suối Máu - Biên Hòa, để trình bày tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ liền Bộ Tổng Tham Mưu như là cảnh tan chợ chiều. Vào khoảng 3 giờ chiều, Ðại Tá Phan Văn Huấn đích thân lái xe từ Suối Máu về gặp Thiếu Tá Phạm Châu Tài, thì tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu đã dịu xuống, những ai muốn TAN HÀNG khi chưa có lệnh TAN HÀNG đã không còn hiện diện tại đơn vị. Hai vị chỉ huy của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù trao đổi với nhau vài câu ngắn ngủi, rồi chia tay để mỗi người quay về với nhiệm vụ của mình.

Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, một nhân viên của Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu liên lạc với Thiếu Tá Tài, mời lên gặp Ðại Tá Trần Văn Thăng, một sĩ quan thâm niên của Cục An Ninh Quân Ðội, không hiểu do lệnh của ai, đã được đưa về thay thế cho Ðại Tá Tòng trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu. Khi hội kiến xong trở ra, Thiếu Tá Tài nhận thấy Ðại Tá Thăng có lẽ là người phúc hậu, một cấp chỉ huy đàng hoàng tử tế, chứ không phải một sĩ quan tác chiến dầy kinh nghiệm. Thật tình mà nói thì Ðại Tá Thăng không phù hợp với tình thế dầu sôi lửa bỏng trong lúc này.


Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 Tháng Tư, trong lúc Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang đứng trên nóc một cao ốc gần Bộ Tổng Tham Mưu, nơi bố trí của một toán Biệt Cách Dù thì thấy một phi đội A37 bay vụt qua trên đầu, Thiếu Tá Tài nghĩ là phi cơ của Không Quân đi oanh tạc ở đâu về. Bốn chiếc A37 bay thật thấp xẹt qua các nóc cao ốc, rồi hướng về phía phi trường Tân Sơn Nhất. Thế rồi Thiếu Tá Tài thấy những cụm lửa, khói bốc lên ở phi trường. Té ra không phải là máy bay của phe ta mà là phi cơ địch bỏ bom xuống phi trường. Phản ứng đầu tiên của Thiếu Tá Tài là ra lệnh cho binh sĩ của ông phòng thủ trên các cao ốc chĩa hết súng, kể cả súng cá nhân lên trời đề bắn hạ các phi cơ này, nếu chúng quay lại bỏ bom vào Bộ Tổng Tham Mưu là nơi mà ông chịu trách nhiệm phòng thủ. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài phút, chỉ một pass bom, song phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất đã bị hư hại nặng.

Mãi mấy tiếng đồng hồ sau, qua làn sóng của đài phát thanh Việt Cộng, Thiếu Tá Phạm Châu Tài mới biết được mấy chiếc A37 đó là của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, bị bỏ lại ở ngoài Trung khi các đơn vị ở đó triệt thoái xuống phía Nam. Các phi cơ này do tên CS Nguyễn Thành Trung hướng dẫn, bay từ phi trường Phan Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất.

Sau khi Ðại Tá Thăng nhận nhiệm vụ, lệnh đầu tiên và có lẽ cũng là lệnh duy nhất của ông ban ra trong tư cách Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh là kể từ giờ không một ai được phép RA khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, còn người VÀO, thì có lẽ trong giờ thứ 25 này, mấy ai còn nghĩ đến việc quay trở lại một địa điểm sắp làm mồi cho lửa đạn. Sau khi phi trường bị mấy chiếc A37 bỏ bom bất ngờ, vào khoảng 6 giờ chiều, Tướng Nguyễn Văn Chức từ Bộ Tổng Tham Mưu lái xe Jeep ra ngoài, bị lính Quân Cảnh chặn lại, nhưng ông Chức vẫn muốn lái xe ra ngoài, thấy vậy các binh sĩ Biệt Cách Dù can thiệp, và yêu cầu Tướng Chức quay trở lại. Suốt đêm 28, tiếng súng lớn nhỏ ở khắp nơi vọng về, song tại khu vực phòng thủ của Thiếu Tá Phạm Châu Tài tình hình lắng dịu.


Ngày 29 Tháng Tư, Bộ Tổng Tham Mưu đã có một Tổng Tham Mưu Trưởng khác: Trung Tướng Vĩnh Lộc. Vì Tướng Cao Văn Viên đã chuồn, cho nên không hề có lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu Tổng Tham Mưu Trưởng. Dầu sao thì sự hiện diện của một ông tướng cũng vãn hồi phần nào bộ mặt của Bộ Tổng Tham Mưu, khiến cho cơ quan đầu não này có một chút sinh khí. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy một số tướng lãnh khác cũng tới cùng với khá nhiều sĩ quan cấp đại tá.

Buổi chiều ngày 29 Tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc và một số tướng lãnh hội họp với nhau ngay tại phòng khánh tiết của Tổng Tham Mưu Trưởng. Buổi họp giống như một buổi tiếp tân nhiều hơn là một cuộc họp trong tình thế cực kỳ khẩn trương. Hầu như không một vị sĩ quan nào ngồi trên ghế, có tới vài chục vị đứng quây quần với nhau thành nhiều nhóm. Thiếu Tá Phạm Châu Tài được gọi lên tương kiến trong buổi họp kỳ lạ này.

Cùng đi với Thiếu Tá Tài là bốn người lính cận vệ, và cả Thiếu Tá Tài ai nấy đều trang bị vũ khí khắp người. Thiếu Tá Tài được giới thiệu như là một người hùng. Ông ghi nhận được trong buổi họp này ngoài Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham Mưu Trưởng còn có sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, và một chuẩn tướng nữa có bảng tên là Hỷ (không có họ) và sau cùng có chừng mười mấy vị phần lớn là đại tá. Sau khi được các sĩ quan cao cấp bắt tay khích lệ, Thiếu Tá Tài được Trung Tướng Có hỏi thăm về tình trạng đơn vị, và nhắn nhủ:
- Em ráng giữ Bộ Tổng Tham Mưu cho tới sáng ngày mai. Ráng giữ nguyên vẹn cho tới ngày mai. Ðã có giải pháp.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngửng mặt lên nhìn thẳng vào mắt các tướng lãnh trong phòng họp rồi bằng một thái độ quả quyết, một giọng nói tự tin trả lời cho Trung Tướng Nguyễn Hữu Có:
- Tôi xin cam đoan với quý vị tướng lãnh và các vị sĩ quan trong phòng họp này, là trong đêm nay sẽ không có một con kiến, một con ruồi nào lọt được vào Bộ Tổng Tham Mưu chứ đừng nói tới một thằng Việt Cộng.
Kế đó Trung Tướng Có hỏi Thiếu Tá Tài có cần ông giúp đỡ gì không.
Thiếu Tá Tài nhân đó xin rút một biệt đội của ông đang phải nằm án ngữ tại Lục Quân Công Xưởng về, để tăng cường cho quân số phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu, vì cả đơn vị có một ngàn người còn phải chia mất một phần tư lực lượng, bị xé quá mỏng không có được một đại đội làm tuyến phòng thủ cuối cùng trong Bộ Tổng Tham Mưu.

Nghe vậy Trung Tướng Có bốc điện thoại gọi và cho kết quả ngay. Buổi họp cấp kỳ tại Bộ Tổng Tham Mưu diễn ra không lâu, sau khi các sĩ quan cao cấp rời khỏi phòng khánh tiết, cái không khí đìu hiu của buổi sáng lại diễn ra. Tuy nhiên buổi chiều đó biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài.

Ðêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các đứa con được bung ra không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị ông vô cùng vững chãi. Cho dù trên cái vòm chỉ huy của quân đội, các ngôi sao cứ tuần tự băng trong bóng tối của trận chiến sau cùng. Ông vững lòng với binh sĩ thuộc hạ, không hề có một ổ kháng cự nào bị bỏ ngỏ.

Ðêm 29 Tháng Tư năm 1975, có thể là một đêm dài vô tận với hầu hết mọi người quân như dân, ai nấy đều co mình lại chờ sáng, thậm chí mắt căng ra không ngủ được, nhưng với Thiếu Tá Phạm Châu Tài thì khác, ngoại trừ những lúc phải đi kiểm soát binh sĩ dưới quyền, ngoại trừ những lúc phải chỉ huy, ông đã ngủ rất ngon trong những giờ trống. Sở dĩ Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngủ ngon, vì ông đã xác định hẳn cho cá nhân mình cũng như toàn đơn vị một ý chí duy nhất: Giữ cho được Bộ Tổng Tham Mưu không phải chỉ một đêm nay, mà là nhiều đêm sau nếu cần, cho tới khi nào có được giải pháp cuối cùng cho miền Nam.


Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Quân tiến vào Sài Gòn qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ với mình là giờ phút cuối cùng đã điểm. Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của Cộng Sản đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng. Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mà mặt trận đâu có xa xôi gì. Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra. Thế những những người lính chưa kịp ra lò này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. Hai chiến xa của địch đã bị bắn hạ tại đây, thế nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Sài Gòn. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh Cộng Sản, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.

Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ một chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền. Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những người LÍNH cuối cùng. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. Hai chiếc tăng khác của Cộng Quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, một chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng Quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Hai chiếc tăng nữa bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các binh sĩ Biệt Cách cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người LÍNH hờm súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân tiến vào.

Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Những người lính Biệt Cách Dù vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.


Vào khoảng mười giờ, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nghe trên đài phát thanh truyền đi lệnh của Ðại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu tất cả quân nhân các cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng. Thiếu Tá Tài bỏ phòng tuyến trở vào một văn phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, đích thân gọi điện thoại lên Dinh Ðộc Lập và được Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tự nhận là Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho biết là bây giờ ông muốn được nói chuyện với Ðại Tướng Dương Văn Minh, vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Ðội.

Khoảng chừng 15 phút chờ đợi dài như một thế kỷ, bên kia đâu dây điện thoại mới nghe giọng nói của Ðại Tướng Dương Văn Minh cất lên:
- Ðại Tướng Dương Văn Minh tôi nghe.
- Thưa đại tướng, tôi là Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang chỉ huy Biệt Kích Dù phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi được ủy thác phòng thủ tại đây cho tới khi có giải pháp cuối cùng. Cách đây một giờ chúng tôi được lệnh ngưng bắn gọi qua máy siêu tần số, và vừa mới rồi được nghe lệnh của đại tướng trên đài phát thanh kêu gọi ngưng bắn. Chúng tôi xin hỏi lại cho rõ về ngưng bắn là thế nào.

Sau một khắc ngần ngừ, Ðại Tướng Minh nói:
- Mình không còn một cái gì để đánh cả. Em chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia.
- Thưa đại tướng, thế có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện.

Ðầu dây bên kia lại một phút im lặng nặng nề trôi qua, Thiếu Tá Tài nói tiếp vào điện thoại:
- Thưa đại tướng, chúng tôi được lệnh là cố thủ tại đây, và từ sáng tới giờ chúng tôi đã ngăn chặn được các mũi tấn công của địch. Chúng tôi đã bắn cháy 6 chiếc tăng của Cộng Sản trong khu vực này, mà không hề hấn gì cả. Thưa đại tướng, chúng ta không thể đầu hàng được. Công lao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong bao nhiêu năm sẽ…
- Tùy các em.
- Thưa đại tướng, nếu đầu hàng đại tướng có bảo đảm cho sinh mạng của hai ngàn người đang tử thủ tại Bộ Tổng Tham Mưu không.

Lại một phút nặng nề nữa trôi qua. Sau cùng Tướng Minh nói:
- Xe tăng của địch quân sắp tiến vào đây. Tùy các em.

Và rồi điện thoại bị cúp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài buông điện thoại xuống, quay trở lại với phòng tuyến của mình. Ông đã đi qua những hành lang rộng, những văn phòng khang trang của Bộ Tổng Tham Mưu, song ông không bắt gặp một tướng lãnh nào, một sĩ quan cao cấp nào. Khi nghe câu nói cuối cùng của Ðại Tướng Dương Văn Minh cho biết là xe tăng của Cộng quân đang sắp tới Dinh Ðộc Lập, Thiếu Tá Tài đã định trình bày cho Ðại Tướng Minh biết, là nếu cần ông sẽ mang quân về cứu đại tướng, vì không thể đầu hàng vô điều kiện được, mà phải có một giải pháp nào đó cho quân đội, cho những người LÍNH.

Quay trở ra phòng tuyến của mình, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy toàn thể đơn vị của ông vẫn còn súng lăm lăm trong tay, mắt hướng ra ngoài chờ địch quân tiến tới.

Ðúng vào lúc đó thì tiếng Ðại Tướng Dương Văn Minh lại vang lên trên làn sóng phát thanh. Bây giờ không phải là lệnh ngưng chiến tại chỗ, chờ bên kia tới BÀN GIAO, mà lệnh ÐẦU HÀNG VÔ ÐIỀU KIỆN.
Các cánh quân Cộng Sản từ xa vẫn tiếp tục xít chặt vòng vây quanh Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng dường như súng thì đã ngưng nổ, và tất cả chìm trong một sự im lặng ngột ngạt.
Khoảng 15 phút sau dân chúng cư ngụ ở gần Bộ Tổng Tham Mưu kêu gọi rối rít:
- Các ông ơi, đừng đánh nhau nữa. Hòa bình rồi. Ði về nhà đi thôi.

Dân chúng ùa tới mang rất nhiều quần áo dân sự, đặc biệt là những áo thun, đưa cho các binh sĩ Biệt Cách Dù:
- Thôi đừng mặc quân phục nữa, thay đồ đi.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài tập họp binh sĩ dưới quyền lần chót. Ông không còn ra lệnh cho thuộc hạ nữa, mà nói với những người anh em không may mắn của ông một lần cuối cùng:

- Chúng ta là Biệt Cách Dù, không có vụ đầu hàng. Thôi tan hàng, và lặn cho kỹ. Không có vụ đầu hàng…. Biệt Cách Dù không thể đầu hàng…

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Người Lính Già Trên Chuyến Tàu Đêm
Nguyên Nhung
Hơn mười năm trở lại quê nhà, lúc bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất, buổi xế trưa trời nóng bức, không khí ngột ngạt, ông Bảo lặng lẽ nối đuôi sau đám hành khách đang lục tục xếp hàng làm thủ tục hải quan, mồ hôi vã ra đầy người. Người về lặng lẽ chờ, cảm giác có nôn nao nhưng không láo nháo bằng đám người nhà đang đứng ở phiá ngoài chờ đợi thân nhân. Khi ngồi trên chiếc taxi chạy ra khỏi phi trường, ông Bảo mới ngỡ ngàng nhìn một Sài Gòn thay hình đổi dạng. Sài Gòn đây rồi, hơn mười năm biền biệt vắng xa, ông Bảo cố tìm lại vài nơi chốn quen ngày xưa khi chiếc xe tắc xi cố len lỏi chạy trong dòng xe đầy nghẹt trên đường phố.

Thay đổi nhiều, nhưng ông Bảo không phải về để tìm điều gì trong cái thành phố diện tích chật chội với tám triệu người dân đang chen chúc nhau gần như không có không khí để thở. Ông chỉ lướt qua Sài Gòn, rồi về nghỉ ở nhà bà con vùng ngoại ô thành phố, chờ chuyến xe lửa ra Trung, ở đó có bà mẹ già của ông đang thoi thóp những ngày cuối đời chờ đứa con xa trở về.

Đã quen với những xa lộ thênh thang cuả nước Mỹ, những khu nhà ở cách xa nhau nằm ẩn mình sau những bóng cây xanh, phố xá cũng ít bộ hành trên đường phố, ông Bảo cảm thấy hơi ngộp thở trước cái nóng, cái bụi, cái ngột ngạt của một Sài Gòn đang chuyển mình để ngoi lên với những đô thị lớn trên thế giới.

Hồi xưa ông ít khi có dịp về Sài Gòn, bởi thế với ông sự thay đổi ấy không làm ông choáng ngợp bao nhiêu. Mười hai năm ở quê người, mỗi lần nhớ về quê hương, trong óc ông hỗn độn nhiều hình ảnh khắp ba miền đất nước, nhưng quả đáng tội, hồi niên thiếu ông đã sống ở miền Trung, dải đất nghèo nhất trong ba miền Trung Nam Bắc, nó đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng ông, dù ông được sinh ra ở miền Bắc.

* * *
Trời đã dần tối, những vị sao giờ này mới nhấp nháy trên nền trời tối thẫm như nhung. Bỏ lại Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông , thành phố ánh sáng của những người giàu và là nơi trú ẩn cho những người nghèo trong những hẻm hóc tối tăm không bình yên.

Nơi nào cũng vậy, ở Mỹ người ta vẫn có thể bắt gặp được những hình ảnh tương phản cuả sự nghèo giàu, nhưng không quá chênh lệch như ở Việt Nam. Chẳng cần nhìn đâu xa, ngay trên chuyến tàu này, những người như ông từ nước ngoài về, những du khách ngoại quốc muốn tìm cảm giác của chuyến tàu đêm , hoặc những người thành phần khá giả ở trong nước thường vẫn kiếm một chỗ khá đầy đủ tiện nghi trên xe lửa. Còn ở những toa tàu ngồi, ông thấy trên khoảng trống cuả hai hàng ghế ngồi, lổn nhổn những chân cẳng và hành lý ngổn ngang, người đi tàu đang thu dọn để tìm một chỗ nghỉ lưng suốt đoạn đường dài ra Trung, Bắc.

Toa ông ở có bốn người, hai anh Tây ba lô đi du lịch Việt Nam, một người Việt có vẻ thuộc hạng khấm khá về thăm nhà ngoài Trung. Khi vào phòng, mỗi người chỉ gật đầu mỉm cười với nhau rồi tìm chỗ của mình. Chiếc giường nệm trắng toát, có bàn để ngồi uống trà, vài cuốn quảng cáo về du lịch để trên mặt bàn, ông bỗng nghe tiếng nhạc dặt dìu vang lên , có lẽ từ lúc chuyến tàu đêm chuyển bánh mà ông không để ý.

Quái lạ! Bản nhạc " Tàu Đêm Năm Cũ" được một cô ca sĩ có giọng trầm buồn vẫn lồng lộng vang lên trên chuyến tàu đêm ra miền Trung, khiến ông bàng hoàng lặng đi một chút khi nghĩ về những cảnh chia ly trên sân ga hiu hắt ánh đèn mờ, ở những thập niên trước khi chiến tranh còn đang sôi sục.

" Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga nơi tiễn người trai lính về ngàn, tàu cũ năm xưa mang về trả cho tôi người xưa..."

Thốt nhiên, ông nghe mắt mình nằng nặng, cảm giác những chuyến tàu đêm năm cũ hồi ông còn là một người lính bỗng ào ạt trở lại, như là ông lại một lần nữa nhìn thấy bóng dáng người lính năm xưa, bùi ngùi nắm tay người yêu trước giờ chia biệt, và tiếng còi tàu , ôi tiếng còi tàu sao lúc ấy nó não nùng như hồi kèn truy điệu. Ông vội nhắm mắt lại để đừng nghĩ gì nữa. Chung quanh ông còn lại gì, chập chờn ảo giác cuả những hình xưa trở lại. Không, ông vẫn đứng đây, bên khung cửa sổ cuả toa tầu hạng nhất, tóc đã bạc, đôi mắt đã xụp mí khi về già, nhìn mải miết vào bóng đêm mịt mùng để tìm lại những hình bóng cũ.

Con tàu tăng tốc độ, ông không nhìn rõ gì lắm, chỉ nghe vù vù tiếng gió đêm thổi bạt hai bên tai. Có lẽ sau hai tiếng đồng hồ hay hơn một chút, ông lại thấy con tàu đi vào khu thành phố rực ánh đèn. Khung cưả sổ của toa tàu khá rộng, hai người Tây ba lô đang nhai mỗi anh một ổ bánh mì thịt, vừa rù rì nói chuyện, người đàn ông Việt Nam cùng phòng cũng đứng ở đó từ bao giờ, ngắm cảnh lên xuống ở sân ga. Ông quay sang người bạn đồng hành hỏi trỏng:

" Đây là đâu nhỉ?"
Ông ta cũng trả lời trống không, giọng miền Bắc:
" Tới Long Khánh rồi". Rồi nhìn đồng hồ ông ta tiếp:
" Hơn chín giờ. Ông về đâu?"
" Tôi ra Quảng Ngãi."
Ông trả lời vắn tắt. Người khách tò mò hỏi thêm:
" Ông ở nước ngoài về?"

Ông lắc đầu, nói " Không, không". Có gì chứng minh được ông là người xa quê mới về thăm nhà, bộ quần áo tầm thường khiến ông trông giống một người lính già phục viên hơn là một ông Việt Kiều. Mà ông chính là người lính già về thăm quê thật, cho là có cái lằn Nam Bắc nằm chình ình ngay chính giữa, thì ông vẫn chỉ là một người lính già không hơn không kém.

Bốn chữ "Nhà Ga Long Khánh" lộng lẫy đóng khung trong những bóng đèn xanh đỏ đập vào mắt ông, khiến ông chợt buồn rầu khi nhớ rằng có một thời vợ ông đã vất vả đi lên đi xuống cái sân ga này. Từ đây đi thêm một cuốc xe " Lam" nữa, cách thị xã khoảng mười cây số. Hai bên đường là những làng mạc của dân di cư miền Bắc, đi khoảng 2 cây số là đã thấy nhà thờ. Chỗ đấy có một trại tù , ngày xưa vợ ông đã đi tìm chồng hú họa ở cái địa chỉ mang những con số đầy bí ẩn và tối tăm như đời tù tội của ông.

Gần ba mươi năm trước, vợ ông đã giả dạng thành một người bán rong bán trái cây lặn lội lên Long Giao tìm chồng. Long Giao là căn cứ quân sự cuả sư đoàn 18 Bộ Binh để lại, một khu quân sự rộng lớn bao xung quanh những con đường đất đỏ bụi mù, sau này trồng chuối bạt ngàn xen lẫn với những vườn tiêu của dân địa phương, len lỏi vào khu vườn chuối là những con đường đất nóng bỏng.

Năm đầu ở Long Giao, vợ ông vẫn bỏ lũ con thơ ở nhà, đi tìm chồng với cái hy vọng mong manh là tìm được chồng trong đám đàn ông ngày ngày vác cuốc đi lao động xung quanh trại. Mỗi lần đi, bà lại quảy trên vai một đôi gánh, dưới thúng đựng dăm thứ đồ ăn tiếp tế, trên chiếc mẹt ngụy trang vài thứ trái cây. Từ một khoảng xa đến hai lớp hàng rào kẽm gai, đám đàn ông thất trận ngừng tay cuốc ngóng mắt nhìn theo một đám phụ nữ dáng dấp thon thả đang lố nhố đứng ngoài khu vườn chuối ngó vào.

Kẻ nhóng ra, người ngó vào, bụi và nắng nhấp nhoá nên khó nhận ra nhau, thỉnh thoảng đám phụ nữ trẻ lại mon men xấn vào gần hàng rào kẽm gai để được gần gũi hơn đám tù đang cuốc đất, lại bị đuổi ra xa như một bầy gà nhao nhác. Làm sao gần được em ơi, hai hàng rào kẽm gai với lại những câv súng kè kè như vậy, họ í ới gọi nhau hỏi chuyện. Lần ấy may mắn ông đã nhận ra vợ trong chiếc áo cánh trắng, trên đôi vai nhỏ bé là đôi đòn gánh mà ông không hiểu làm sao vợ ông lại có thể gánh được, khi từ bé đến lớn bà chưa hề biết gồng gánh là gì. " Cạn ao thì bèo xuống đất", ông thương vợ quá, nhưng cũng phải công nhận sự khéo léo và nhẫn nhục cuả vợ trong thời buổi nhiễu nhương ấy.

Chỉ lần ấy thôi vợ chồng nhìn thấy nhau để rồi ông lên đường ra Bắc. Đêm ấy khi ngồi trong chiếc xe bịt bùng để đi xa, ông có nghe tiếng còi tàu. Tiếng còi rúc lên lạnh lùng như tiễn biệt, lòng ông quặn đau khi nghĩ đến vợ con. Sau này ông có nghe bà kể, nhà ở gần sân ga, chiều nào bà cũng tìm một nơi yên lặng để ngóng tiếng còi tàu, cứ hy vọng con tàu ấy sẽ là chuyến tàu đêm năm cũ trở về sân ga, có ông tàn tạ trở về với bà và lũ con. ...

Mới đó mà gần ba mươi năm rồi. Mười ba năm trong tù, ông không quên. Giờ này khi tàu ngừng trên sân ga Long Khánh, ông vẫn nhớ cái khởi đầu cuả một cuộc hành trình mười ba năm ông bị bứt ra khỏi mái ấm gia đình. Hú viá, ông còn đây, thân hình có tiều tuỵ nhưng vẫn còn đây, ông sờ vào hai lỗ tai lạnh để biết rằng mình vẫn còn đây, người tù mười ba năm vẫn còn đây, với những vết sẹo đã lành da vẫn ngưá ngáy một cách dị kỳ khi nhớ lại. . .

Sau thời gian dừng lại để khách lên khách xuống, con tàu lại rùng rùng chuyển bánh, ông để ý hễ tàu đến tàu đi, đều có kèm theo một hồi còi rất dài,nó kêu tu tu trong đêm vắng, buồn thắt ruột. Nhạc lại vang vang trong những cái loa gắn trên thân tàu, toàn những bản đã cũ:

"....Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm xứ mẹ cho em về cùng. Rồi ta sẽ đi chung chuyến tàu...".

Tiếng hát vang vang một âm điệu rộn rã, những bản nhạc một thời viết cho lính lại được sống lại trong chuyến tàu đêm . Giờ này ở đây chỉ có người lính già đi tìm quá khứ , dường như những người lính sống hay chết đã đồng loạt tử trận tháng Tư năm ấy. Ông rút một điếu thuốc phì phà trong bóng tối, đốm lửa lập loè như lại làm sống dậy một thời trẻ tuổi. Con tàu trong đêm tối cứ băng mình lặng lẽ xập xình đi vào vùng biển mặn, hình như có mùi nước mắm biển Phan Thiết quyện trong gió. Trong đêm tối, mắt ông không nhìn thấy gì vì cảnh vật mập mờ, nhưng ông đánh hơi được nơi chốn bằng khứu giác.

Tàu lại vào sân ga, người lên kẻ xuống, những người bán hàng rong và người đi tàu đang kỳ kèo trả giá những túi khô mực, những thùng nước mắm. Ông nhớ những lần nhậu thâu đêm suốt sáng với bạn bè, con khô nướng vội và những chai bia 33 lăn lóc dưới gầm bàn, ngả nghiêng đi về với một vầng trăng khuya. Vậy mà không ngã, vẫn ngất ngưởng đi về đến nơi đến chốn. Thời ấy hết rồi, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang chỉ là những nơi ghé vào ngắn hạn, nhưng ông nhớ hoài mùi biển mặn. Nhớ xa hơn một chút về biển, chuyến tàu Hải Quân cuối cùng từ bãi biển Đà Nẵng lui về phương Nam, hỗn độn, chen lấn, quan không ra quan , quân chẳng ra quân, chuyến ấy ông mất sạch sành sanh, khi về đến Vũng Tàu mỗi người chỉ còn cái túi vải đeo trên vai, vài bộ quần áo, đúng là " trên răng, dưới ...dế". Ông nhớ ngày hôm ấy, chiếc xà lan quá tải ngả nghiêng trên mặt biển, người ta rơi lõm tõm xuống nước, chết vô số. Oâi lại biển, kinh khủng lắm, hễ nếm phải nước biển là ônng lại nghĩ đến hương vị nước mắt, hai thứ ấy nó giống nhau lạ lùng.

Nha Trang biển đêm vẫn rì rào sóng vỗ, từ xa đã nghe được tiếng sóng , ngửi được mùi biển mặn. Chỉ tiếc là lúc ấy đã khuya, ông không nhìn thấy gì bằng cách lại đánh hơi ra những nẻo đường quê hương bằng khứu giác, bằng đôi mắt lập lờ nhìn không rõ cuả tuổi già. Ông đi vào giường nằm, nhưng không ngủ được. Chiếc giường nệm êm ái làm ông lại nhớ tới chuyến tàu về Nam cách đây trên hai mươi năm, ông và người bạn tù xa lạ kết tình " huynh đệ " nhờ chiếc còng gắn vào cổ tay hai người. Đêm tối, anh bạn tù bàn tay nhỏ nhắn, rút được cái tay ra khỏi còng, vì thế mà ông được giải thoát một chặng đường dài. Kỷ niệm ấy ông nhớ mãi. . . Bây giờ anh ta trôi dạt đâu nhỉ?

" Một đêm mùa hè, tôi đến sân ga đi đón người trai lính trở về. Tàu cũ đêm nay mang trả lại cho tôi người xưa. . ."

Giọng ca buồn buồn của cô ca sĩ vẫn nỉ non trên chiếc loa suốt đoạn đường dài, hình như tàu mỗi lúc một đi nhanh hơn khi ra ngoài vùng đồng quê, đã thấp thoáng những rừng dừa Tam Quan bạt ngàn để bước vào ranh giới tỉnh Bình Định.

Bây giờ thì dường như trong ký ức cuả người lính già, kỷ niệm lần lượt trở về rõ mồn một. Khổ nỗi lại chỉ toàn những kỷ niệm thời chinh chiến, năm 72, nơi ấy những trận đánh ác liệt nhất đã diễn ra ở đây, trở ra những vùng khốc liệt như Sa Huỳnh, Đức Phổ, Mộ Đức. Đơn vị thám sát cuả ông toàn là những người lính tiên phong cảm tử đi vào miền đất chết, trước khi quân bạn được dàn trận đi đằng sau.

Trong bóng đêm mập mờ, mỗi một bến ga ông lại thấy mình gần gũi với kỷ niệm thời quân ngũ. Những địa danh gợi nhớ đến quay quắt từng vuông rừng, từng hốc núi, từng ngọn đồi hay những trảng cỏ tranh cao hơn đầu người. Màu xanh cuả rừng dưà Tam Quan vẫn không là cảnh đẹp yên bình để người lính mơ mộng, nó rình rập nỗi chết trong đó. Bồng Sơn, Quế Sơn, tên đẹp chi lạ mà đầy oan khiên cuả máu và nước mắt.

Khoảng hai giờ sáng là đến Sa Huỳnh, rặng núi biếc giờ này đã tối đen khi con tàu chui qua lòng núi càng đen kịt lại như mực, giá ban ngày ông đã có thể thấy những đồi cát, những mảng rừng thưa bông cỏ lau trắng xoá tiếp giáp để đi vào ranh giới Quảng Ngãi. Ngày xưa, ông đã mòn gót giày trên những vùng đất chỉ có những bom đạn và nỗi chết, những đồng cỏ lau trắng xoá buồn u uẩn như người goá phụ đôi mươi quấn chiếc khăn tang trên đầu.

Vẫn nghe như hơi gió biển thổi qua triền núi thấp, vẫn nghe như hằng nghìn âm thanh thì thầm của những hồn xưa sống dậy. Những ngôi sao sáng và một mảnh trăng khuya, ở nhữnng vùng hiu quạnh hình như nền trời bỗng sáng hơn. Ông dùng thêm ly cà phê đen để đầu óc được tỉnh táo, mắt ông cay xè vì thiếu ngủ nhiều đêm , nhưng vẫn không làm sao ngủ được. Gần ba mươi năm mới có một đêm như đêm nay, trở về những vùng đất thân yêu đã gắn liền với ông suốt thời trai trẻ. Trong khung cưả sổ của toa tàu chỉ có mình ông đứng đó, hai gã Tây ba lô đã ngủ say, còn người đàn ông Việt Nam kia chắc quá quen với đoạn đường này, ông nghe tiếng ngáy nho nhỏ vang lên trong buồng tàu.

Con tàu cứ lầm lũi băng mình trong đêm tối, thỉnh thoảng lại tu tu lên khóc. Nhất là ban đêm, giữa cảnh huyền hoặc của một nửa vầng trăng và những ngôi sao, gió thổi vù vù khi con tàu đi vào miền núi rừng miền Trung, ông gần như sống lại hoàn toàn cảm giác cuả đời lính thám sát nơi chiến trường miền Trung trên ba mươi năm về trước. Cảm giác lần này lạ hơn, có lẽ vì ám ảnh chuyện cũ, ông nhìn những cành cây lay động dưới ánh trăng mờ khi con tàu vùn vụt đi qua, mà cứ ngỡ là những cánh tay của bao linh hồn anh em đồng đội năm xưa, đang vẫy tay đón ông về thăm chốn cũ. Thế giới vô hình làm sao hiểu được, nếu hiểu được người ta đã chẳng phải than khóc trước sự ra đi vĩnh viễn cuả người thân hay bè bạn.

Sa Huỳnh ơi! Ông nhớ quá đi thôi mặt trận đêm ấy, những người lính thám sát lầm lũi đi trong bóng tối, những ụ đất ngày xưa giờ đã xanh cỏ, những vạch đạn cưá vào bóng đêm ghim vào cây cỏ, vào thân thể người lính đang di động trong đêm, tiếng rên la của người lính bị thương đòi uống nước.

" Nước, cho xin hớp nước..."

Tiếng rên rỉ đau đớn và đứt đoạn của người đàn em bị trúng đạn đòi xin hớp nước giờ này hình như cứ vọng mãi trong đầu ông. Ông nhớ có những đêm hành quân trời mưa rét cóng, lúc hai bên im tiếng súng rút vào cố thủ, khi dừng quân ông được một người lính cần vụ đưa cho ly cà phê đựng trong chiếc ca sắt nóng hổi. Chưa bao giờ có một thứ cà phê nào ngon bằng hôm ấy, nó làm ông tỉnh táo và lòng ngập tràn tình thương yêu đồng đội, gắn bó với nhau trong nhiều khoảnh khắc chết sống của đời người.

Ôi những ngày như thế, bạn bè ông, đồng đội cuả ông đã ra đi mà vẫn thèm rít một hơi thuốc cuối cùng, khônng biết ở cõi bên kia linh hồn họ có tìm lại được mùi cà phê, hơi thuốc lá như cõi dương gian này không?

Ở đây, khi cuộc hành quân tạm yên, ít nhiều gì đơn vị ông hay đơn vị bạn cũng bỏ lại rừng xanh những dòng máu đỏ, những bàn tay, cái chân cho cuộc chiến ấy, chưa kể có những người đã ra đi vào miền đất lạnh. Thiếu uý Kha, trung uý Điền, trung sĩ Nghiã, những người đàn em dễ thương mà ông còn nhớ, họ chết ở đây, trong đám rừng đen đặc kia. Ông nhớ lúc ấy đã vét tuí tìm gói thuốc " Quân tiếp Vụ", chỉ còn duy nhất một điếu cong queo, ông vuốt lại cho thẳng rồi gắn lên môi người đàn em bị thương nặng, làm món quà tiễn chân kẻ ra đi không bao giờ trở về. Điếu thuốc cuối cùng ấy là món quà quý dành cho người sắp chết, ông thèm lắm mà không dám hút. Ông giơ tay vuốt mắt cho người lính cùng đơn vị, mắt cũng cay xè. . .

Tiếng gió giữa canh trường qua rừng cây đen thẫm như tiếng reo cuả linh hồn những ngươì đàn anh, đàn em năm cũ vọng u u trong đầu ông, ông thấy nước mắt mình trào ra ướt đẫm trên má. Ông thò tay vào túi, gói thuốc còn nguyên, ông bóc gói thuốc rồi nâng lên trước mặt thì thầm nói một mình:

" Hút, hút đi các bạn, hút cho thoả trước khi để linh hồn tan vào cõi hư vô »

Ông ném từng điếu thuốc vào cái khối đen ngòm của rừng cây ven đường, không thét ra được khỏi lồng ngực phập phồng hai lá phổi héo, nhưng trong đầu ông lồng lộng :

" Hết chiến tranh rồi. Hết lâu rồi các bạn ơi! Thuốc đây, hút đi, hút đi rồi các bạn muốn đi đâu thì đi. Đừng ở lại đây nữa. . ."

Những điếu thuốc bay lả tả theo đường tàu, nước mắt ông cứ trào ra ướt đầm trên má, nhỏ giọt xuống trên thân áo. Vô tình hay cố ý, đêm nay ông về thăm lại chốn cũ, phong phanh chiếc áo sơ mi và chiếc quần màu ô liu, y như một người lính kỳ nghỉ phép về thăm nhà. Trong cái loa tiếng nhạc lại vang vang :

" Ngày tháng đợi chờ, tôi đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào. Tàu cũ năm xưa có trả lại cho tôi người xưa, để đêm nay ngồi đây, viết lại tâm tình này. . ."

Ông bịt hai lỗ tai để đừng nghe âm thanh rên rỉ buồn buồn cuả bài hát lập đi lập lại trên chuyến tàu đêm. Tạm biệt các bạn thân quý của tôi, ba mươi năm gặp lại nhau như thế đủ rồi, khi ra đi đầu các bạn còn xanh, nay trở về đầu tôi đã bạc. Khác nhiều lắm rồi, những mỏm đất, những đồi cỏ, những rừng dầy, rừng thưa, đã phủ kín một màu xanh, cho quê hương thôi máu lửa. . .

Ba mươi năm sau cuộc chiến, người lính năm xưa đã hy sinh còn để lại những gì cho Tổ Quốc . Ngoài những vết sẹo kéo da non của người còn sống, ông Bảo chạnh nghĩ đến những thương binh đã lây lất sống nốt đời mình trên vỉa hè thành phố, dựa dẫm vào vợ con để thành một gánh nặng buồn tủi. Thế còn những đứa con của người tử sĩ thì sao? Trung uý Điền xuất thân trường Đà Lạt, khi chết trận bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ, trung sĩ Nghĩa có một đứa con không biết là trai hay gái trong bụng vợ. Gia tài người lính để lại chỉ có chiếc ba lô, đựng dăm thứ lặt vặt cho những cuộc hành quân dài ngày nơi rừng núi, khi nằm xuống họ đã kéo theo sau lưng mình sự đổ vỡ, tan tác, rách nát, thảm thương của một hệ luỵ máu thịt cùng chịu chung số phận. . .

Bình minh đã lên, ở miền nhiệt đới bình minh bao giờ cũng dậy sớm, chuyến tàu đi qua những quận lỵ cũ để vào thị xã. Lúc tàu đi ngang Phổ Đức, Mộ Đức, lại những chiến trường xưa, những chiếc xe nhà binh năm cũ ở đâu trong đầu ông ào ào chở đầy lính đi vào vùng lửa đạn. Tàu ghé vào ga, những người bán dạo trên bến ga mời chào í ới. Nhìn đĩa xôi gà trên tay một chú bé độ 12 tuổi, mà bé choắt vì phải ra đời sớm, ông gọi mua một đĩa xôi mà không cần trả giá. Nhìn cậu bé sáng sớm bưng trên tay mâm xôi đi bán dạo, cái đùi gà vàng lườm được rô ti thật hấp dẫn, ông hiểu cái nghèo đè nặng trên đầu người dân. Ông ăn mà không biết ngon, chỉ ăn cho đỡ đói, để tìm hương vị cũ, niềm đau cũ. Chú bé bán xôi được ông cho một món tiền lớn gấp mười đĩa xôi gà, cứ đứng trân trân nhìn ông tưởng như là phép lạ đang xảy ra trên sân ga.

Nhìn làm gì em ơi, giá hơn mười năm trước tôi cũng làm gì dám ăn đĩa xôi gà trên tay em, chẳng phải thịt gà phong độc như dân địa phương thường nói, mà vì nghèo, cái nghèo là thứ quả báo lớn nhất mà ông Trời bắt con người phải chịu khi còn sống. Lúc này đầu óc ông tỉnh táo hơn, nôn nao hơn, vì ông sắp về tới gia đình, về với bà mẹ già vừa mù, vưà điếc, chưa chắc gì đã nhận ra con.

Người ta lại tấp nập lên tàu, xuống tàu. Ông ăn xong đĩa xôi, gọi một ly cà phê đá nhâm nhi nhìn kẻ lên người xuống, bỗng liên tưởng cuộc đời y hệt một chuyến tàu, mà những người lính già như ông còn ngồi lại với nỗi buồn chiến tranh đọng lại trong mỗi hồi tưởng. Đêm qua khi đi ngang Sa Huỳnh lúc hai giờ sáng, hình như ông đã gặp lại bạn bè năm xưa trở về, họ là những người đã xuống tàu ba mươi năm trước. Ba mươi năm sau trên chuyến tàu đời, những lớp người đi sau như thằng bé bán xôi, cô bé dáng học trò ngồi bán cà phê ở toa ăn uống là lớp người sau lên tàu muộn .

Bây giờ nếu ông kể chuyện cũ ba mươi năm trước, chắc hẳn chúng nó sẽ tròn mắt lên mà nghe như chuyện cổ tích. Một câu chuyện cổ tích rất buồn, chỉ còn một người lính già như ông ngồi lại trên chuyến tàu đêm, khắc khoải. Ông đi chầm chậm, tiếng nhạc vẫn lồng lộng trên sân ga, không phải bài " Tàu đêm năm cũ", mà nghe rất lạ, như bài cầu kinh sắp tới hồi kết thúc:

" Rồi tàu xa rời, xa rời kỷ niệm
Trả lại cho mình, nửa phần yêu thương
Tìm lại xót xa, tìm lại vui buồn
Đi vào nhân gian, với lòng yêu thương.
Đi đi, đi thấu kiếp người. . .
Ôi niềm đau, hỡi nỗi vui
Đi đi, đi thấu kiếp người
Đi đi, để biết khóc cười hỡi ...ơi!

Hơn mười giờ, tàu vào ga Quảng Ngãi. Ông sốc cái ba lô trên lưng, chậm rãi chờ người ta chen chúc nhau xuống sân ga, con tàu lại tu tu lên khóc. Ông sắp về với mẹ ông, căn nhà xưa trong một ngõ nhỏ, con ngõ này hồi xưa thế nào nay vẫn vậy, nhưng nhà cửa được nâng cao, xây dựng lại khiến thoạt nhìn tưởng mọi điều đã đổi khác.

Ông về với mẹ, biết đâu không phải là lần cuối được cầm lấy tay mẹ, tay con cũng nhăn nheo huống gì tay mẹ ông chỉ còn là một rúm da bọc xương khẳng khiu. Mẹ ông nằm đó, chả biết ai với ai, đôi mắt loà quáng lên một vùng ánh sáng mù mờ, như ngọn đèn cạn dầu leo lét chờ tắt.

Bên cạnh bà mẹ già vưà loà, vừa điếc, vẫn không biết là có một đứa con đi xa vừa trở về. Không còn cách nào khác hơn, ông cầm lấy bàn tay nhăn nheo, gầy guộc cuả mẹ, để bà sờ mặt con với những giọt nước mắt ướt đầm trên những ngón tay. Không biết trong cõi mịt mù của đời người sắp tàn ấy, bà có sờ được ra khuôn mặt cuả đứa con từ lâu rồi không gặp. . .

Nguyên Nhung

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH kỳ 3 -Bắc Cali

Image

Nhóm Hưng ca và nữ ca sĩ Nguyệt Ánh



Image

các Tình nguyện viên Trẻ đang đếm Tiền do khán giả trao tặng


Image

Hànng Ngàn khán giả ngồi chật các Lều để xem chương trình văn nghệ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn : Mộng Lớn Chưa Thành!


Báo chí vừa đăng tin Ông Nguyễn Bá Cẩn, Thủ Tướng VNCH vừa từ trần tại San Jose, hưởng thọ 79 tuổi. Nhiều người cho rằng Ông Nguyễn Bá Cẩn ra đi mà mộng lớn chưa thành, có biết bao nhiêu việc ông đang làm và sẽ làm...nhưng chưa làm xong, chưa có kết quả...mà đã vội ra đi! Cách nay mấy năm, vào dịp Tết, ông Đỗ Tiến Đức, chủ nhiệm báo Thời Luận ở Los Angeles có tổ chức một bữa tiệc tất niên để cám ơn quý vị ân nhân và ra mắt Báo Xuân Thời Luận...Trong số hơn quan 300 quan khách được mời có ông Nguyễn Bá Cẩn,

Cựu Thủ Tướng VNCH, vừa là tác giả của một bài tham luận về chính trị được trên báo Xuân Thời Luận năm đó. Đối với ông Đỗ Tiến Đức, ông Nguyễn Bá Cẩn vừa là một vị khách quan trọng, một bậc vị vọng trong Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn, vừa là thân hữu, là bậc đàn anh, xuất thân từ khóa đầu tiên của trường Quốc Gia Hành Chánh dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Ngoài tư cách là chủ nhiệm báo Thời Luận, năm đó, ông Đỗ Tiến Đức còn là Chủ Tịch Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh..vì thế, sự hiện diện của ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu Thủ Tướng VNCH còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa.

Tôi thường viết bài cho báo Thời Luận, nhất là báo Xuân, nên tôi cũng được mời và có mặt hôm đó tại nhà hàng Emerald Bay, góc đường Euclid và Edinger, thành phó Santa Ana, Nam California. Không hiểu ông Đỗ Tiến Đức nghĩ thế mà mà lại mời tôi lên sân khấu giới thiệu ông Nguyễn Bá Cẩn với quan khách. Ông Đức nói nhỏ với tôi: “Hôm nay có mặt ông Nguyễn Bá Cẩn từ San Jose đến...nhờ anh giới thiệu ông với quan khách...Ngày xưa ông Nguyễn Bá Cẩn cũng là Bân Biểu Hạ Nghị Viện...đồng viện với anh...Ông Nguyễn Bá Cẫn là diễn giả trong bữa tiệc tối hôm nay với đề tài liên quan đến thời sự, chính trị...”

Thiếu gì người mà lại trao cho tôi trách nhiệm nầy. Thật là một bất ngờ, tôi không kịp chuẩn bị gì cả...Trong chế độ VNCH trước 1975, tôi và ông Nguyễn Bá Cẩn không đi chung một con đường trên phương diện chính trị. Tôi là người đối lập, ông thuộc thành phần thân chính. Ông là người may mắn thăng quan tiến chức, từ một chân thư ký ở quận, ông tiến dần lên Phó Quận, Phó Tỉnh, Dân Biểu, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện rồi Thủ Tướng...Còn tôi là một người tranh đấu, thất bại, tù tội, gia đình tang tóc, là loại trâu đến chậm chỉ còn uống nước đục. Sau năm 1975, dưới con mắt của tôi, những gì ông Nguyễn Bá Cẩn đã đạt được trong cuộc đời đều vô nghĩa...duy chỉ có một điều đáng nói mà thôi...Tôi muốn nói lên điều đó...Và, chỉ thoáng một giây...tôi nhận lời ủy thác của ông Đỗ Tiến Đức.

Sau thủ tục khai mạc: chào cờ, mặc niệm, giới thiệu quan khách...Ông Đỗ Tiến Đức mời tôi lên sân khấu để giới thiệu một vị khách đặc biệt là diễn giả chính trong bữa tiệc tất niên đón mừng Xuân mới hôm nay. Tôi vốn không có tài hùng biện và cũng không có giọng nói dễ nghe, truyền cảm của một MC chuyên nghiệp. Tôi là người có khả năng viết mà không có khả năng nói trước quần chúng. Nhưng tôi vẫn tự tin bước lên sân khấu vì tôi muốn nói một điều mà tôi cần nói hôm nay trước sự hiện diện của ông Nguyễn Bá Cẩn.

Tôi mở lời : “Kính chào quý vị quan khách...Tôi được ông Đỗ Tiến Đức, chủ nhiệm báo Thời Luận kiêm Chủ Tịch Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh, là người ký tên trên thư mời quý vị đến dự bữa tiệc tối hôm nay, trao cho công tác đứng ra giới thiệu một vị khách quý, từ xa đến, là diễn giả chính trong cuộc họp mặt nầy...Vị khách quý ấy đến từ San Jose, Bắc California mà quý vị đã biết, là một người xuất thân từ khóa đầu tiên của trường Quốc Gia Hành Chánh, là Dân Biểu, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, là Thủ Tướng VNCH vào tháng 4/1975...Đó là ông Nguyễn Bá Cẩn.

Nhưng tất cả tiền tài, danh vọng mà ông Nguyễn Bá Cẩn đã đạt được trước 1975, cá nhân tôi chưa bao giờ quan tâm đến vì tôi không cho những thứ đó là quan trọng...Đối với tôi, chỉ có một điều rất quan trọng mà ông Nguyễn Bá Cẩn đã đạt được...Điều đó lớn hơn cả tiền tài danh vọng mà ông Nguyễn Bá Cẩn có trước 1975 và hiện nay...Điều đó cao hơn cả những nhu cầu về ăn ở, văn hóa, nghệ thuật, triết học, chính trị,v..v...Điều đó cao hơn hết trong các sinh hoạt tinh thần của con người...

Đó là sau 1975, sau khi mất hết địa vị, tiền tài danh vọng, mất hết nhà cửa ruộng vườn, mồ mả tổ tiên...ông Nguyễn Bá Cẩn đã tìm được niềm tin tôn giáo, ông Nguyễn Bá Cẩn đã tìm gặp được Thượng Đế. Đó là điều quan trọng và lớn lao nhất đối với cuộc đời của một con người. Tôi xin chúc mừng ông Nguyễn Bá Cẩn và xin giới thiệu ông với mọi người. Từ 1971 đến nay, hơn 30 năm rồi, tôi mới có dịp gặp lại ông Nguyễn Bá Cẩn. Tôi đến đây là để gặp lại ông Nguyễn Bá Cẩn và để chúc mừng ông”.

Cái tên Nguyễn Bá Cẩn sau Thánh hiệu Phêrô đã được chính thức đưa lên Cáo Phó và Phân Ưu trong mấy ngày hôm nay qua báo chí và truyền thanh, truyền hình. Trước 1975, ông Nguyễn Bá Cẩn chỉ có tên Nguyễn Bá Cẩn mà thôi, không có tên Phêrô Nguyễn Bá Cần!

Tôi tin rằng, sau khi đã vĩnh viễn ra đi, từ giã thế gian nầy, ông Nguyễn Bá Cẩn sẽ được Thánh Phêrô, người đứng đầu Hội Thánh của Chúa Giêsu, người cầm chìa khóa mở cửa thiên đàng, người mà ông Nguyễn Bá Cẩn đã chọn làm quan thầy, sẽ đưa ông vào Nhà Cha trên trời, nơi mà ông Nguyễn Bá Cẩn đã tuyên xưng đức tin khi chịu phép Rửa Tội :
“Tôi tin có một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng,
Đấng Tạo Thành Trời Đất,
Muôn Vật Hữu Hình và Vô Hình...”

Nguyễn Lý-Tưởng
Cựu Dân Biểu VNCH

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

Nguyễn thị Thảo An

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưE1ng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình = ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người l ính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài ngÆ= �ời lính hA 7u như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với ời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chE1ng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không h muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để đÆ= �ợc sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính 1ếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, v càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó,= ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa20là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.
Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trA 0 thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim rung động tiB Ac thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh h=C 3i mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và nhữn g lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.
Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền ph0ơng. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyC3n qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cu i đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã kh3c thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng= Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng s thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.
Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không p hải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gAt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồ= i mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn=2 0nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem v nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.
Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gi= an. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)

Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung= dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá b o cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quÃ= ¡ may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bC3nh thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.
Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những=2 0trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
Ðể một mai, khi quê20hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.... Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai....


Nguyễn thị Thảo An
Kennesaw, Georgia

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

BÀI TƯỞNG NIỆM
44 NĂM
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA ANH HÙNG

(19.6.1965 – 19.6.2009)



Hôm nay,
Trước bàn thờ Tổ Quốc uy danh
Những người lính già cùng thế hệ tuổi xanh
Hợp lòng chung khấn nguyện:
Bao Anh Hùng trong cõi vĩnh hằng linh hiển
Xin về đây chứng kiến Tâm Thành.
Chúng tôi,
Giữa trời lưu vong năm châu bốn biển
Dâng nén hương lòng,
trọn Nghĩa Tình đồng đội chi binh.
Chúng tôi,
Dù phai màu áo trận
Nhưng Tổ Quốc luôn hiện hữu bên mình
Và thời gian vẫn vuông tròn Trách Nhiệm.
Đứng bên này bờ đại dương,
chúng tôi hướng lòng tưởng niệm
Về Đất Tổ Quê Cha.
BỐN MƯƠI BỐN NĂM QUÂN LỰC CỘNG HÒA
NGÀY KỶ NIỆM LỪNG DANH QUÂN SỬ.
Chúng tôi,
Mang tuổi lính, và tuổi đời lênh đênh viễn xứ
Cùng vận Nước gian nan.
Từ bốn phương trời thế giới thênh thang
Vẫn còn vang bước quân hành
trên Bốn Vùng Chiến Thuật.
Theo dấu chân những Người đã khuất
Nguyện lòng son cùng với Núi Sông.
Trong ngậm ngùi chưa thỏa mộng tang bồng
Cúi xin hương linh các Anh Hùng Tử Sĩ
Phù hộ chúng tôi giữ tròn Tâm Chí
Sát cánh cùng nhau, tiếp bước kiên cường.
Từ Địa Phương Quân đến các Binh Chủng
hùng trấn biên cương,
Từ Hải Quân vượt sóng trùng dương
Đến Không Quân cánh đại bàng tung lướt gió,
Đã có bao người ngày đêm gian khổ
Vẫn bền gan, dù phải hy sinh.
Giữ yên Đất Mẹ, quên cả thân mình
Đem xương máu bảo toàn danh Tổ Quốc.
Xác thân gửi vào lòng Dân Tộc
Hồn còn sống mãi đến thiên thu.
Từ Thiên Thần Mũ Đỏ tung cánh hoa dù
Đến Cọp Rằn Mũ Nâu,
cùng bước chân âm thầm Biệt Kích.
Từ Cọp Biển Mũ Xanh,
cùng nhau tạo nên chiến tích
Lẫy lừng, Tổ Quốc Tri Ân.
Dù nổi trôi theo vận nước trong khổ nạn Toàn Dân
Chúng tôi vẫn thẳng đứng, ngay hàng, hiện diện.
Quân Lực hùng anh, lừng vang bách chiến
Thỏa chí bình sinh cho vẹn ước nguyền.
Quyết xông pha trên khắp mọi miền
Thân Lính Chiến Vì Dân luôn tiến bước.
Từ Bến Hải đến Cà Mau xuôi ngược,
Cờ Vàng bay trên Quảng Trị Cổ Thành.
Hoa Dù nghiêng đồng ruộng,
Chao bóng giữa rừng xanh.
Trên chiến địa vang dậy bước quân hành
Hay âm thầm từng đêm xuyên lòng đất địch.
“An Lộc địa, sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân!”
Trọn một đời hãnh diện áo Quân Nhân
Chung góp máu, dựng Cờ Thiêng đất Mẹ.
Chúng tôi nguyện hiến dâng đời trai trẻ
Cho Tổ Quốc tồn vinh.
Đã bao người trong khói lửa hy sinh
Không lùi bước, chắn ngang biển địch.
Thành Đinh Công Tráng vang lời truyền hịch
Đem máu xương vào chiến tích nghìn thu.
Qua Miên Lào vượt đèo núi thâm u
Reo chiến thắng, trời nung Hè Đỏ Lửa!
Tết Mậu Thân, giữ nguyên từng điểm tựa
Ngạo nghễ Cờ Vàng trên Phú Văn Lâu.
Bình Giả, Đầm Dơi, Hạ Lào,
vượt qua rừng thẳm sông sâu
Ghi tên vào Quân Sử.
Truy địch Trường Sơn, Pleime, A Lưới,
thành địa danh bất tử
Hiển hách đến muôn đời.
Hôm nay,
Chúng tôi về đây xin khấn nguyện một lời
Chung tiếp sức, không bao giờ bỏ cuộc.
Cùng thế hệ cháu con giữ nguyên cờ Tổ Quốc,
Song hành đòi lại quê hương.
Chúng tôi nguyện noi gương
Từ Chiến Sĩ Vô Danh đến Anh Hùng Tướng Lãnh
Giờ phút cuối trên miền Nam bất hạnh
Đã hiên ngang tuẫn tiết, chẳng quy hàng.
Chúng tôi nguyện làm viên gạch lót đàng
Cho Hậu Duệ ngày mai về dựng Nước.
Sát cánh, kề vai, cùng nhau tiếp bước
Cho vẹn toàn Nghĩa Khí Quân Dân.
Vì Trách Nhiệm, cuối đời mang hoài bảo góp phần
Chung truyền thống, dựng cao Cờ Chính Nghĩa.
Chúng tôi nguyện một lòng tái xây tuyến địa
Cùng Toàn Dân, Sử mới viết nghìn trang.
Một ngày mai trong ánh sáng vinh quang
Trên Đất Mẹ uy linh Cờ Tổ Quốc.
Dưới biểu tượng Tự Do giữa mùa Xuân Dân Tộc
Chúng tôi đây, luôn thẳng lối nghiêm hàng.
Cúi xin hương linh Anh Hùng một thuở dọc ngang
Về đây chứng giám.
Bao thế hệ khắc sâu vào tâm khảm
Một lời chung huyết thệ giữ lòng son.
Xin giúp chúng tôi trong Đạo Nghĩa vuông tròn
Vì Tổ Quốc thiêng liêng,
Vì hào quang Danh Dự,
Vì chu toàn Trách Nhiệm
Xin trọn đời Tâm nguyện hiến dâng!


Võ Đại Tôn
Úc Châu, 6/2009

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Người mang thánh giá -

Nguyễn Trọng Hoàn
TÂY NINH 1972.

Viên Thiếu tá Tiểu đoàn phó nài nỉ:
- Thưa Trung tá, một lần nữa xin Trung tá xem xét lại tư cách Trưởng ban 2 của Trung úy Nguyễn Xuân Nam.
Viên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/9 thuộc Sư đoàn 5 nhỏ nhẹ:
- Từ ngày tôi về Tiểu đoàn này đến giờ, tôi thấy đây là một sĩ quan rất có khả năng. Lẽ ra, viên sĩ quan ban 2 này phải được bổ nhậm ở những đơn vị có trách nhiệm lãnh thổ như địa phương quân hay nghĩa quân thì hay biết mấy,

vì phải nhìn nhận rằng, tuy chúng ta là đơn vị hành quân cơ động nhưng ông ta sắp xếp các lưới tình báo rất chuyên nghiệp và hữu hiệu.
Viên Thiếu tá Tiểu đoàn phó: Điều chính tôi muốn trình Trung tá, không phải những điều ấy, mà tôi xin phép nói thẳng, đây là một sĩ quan vô kỷ luật, vô nhân đạo, đầy ắp máu lạnh. . .
Viên Tiểu đoàn trưởng nhíu mày: Có thiên kiến lắm không? tôi đang đọc một bản phúc trình và một lá thư của Nam. . .
Bỗng viên Tiểu đoàn trưởng đặt tay lên vai người cộng sự ăn chay trường có khuôn mặt đen như củ tam thất, cặp mắt lúc nào cũng như buồn ngủ dưới cặp lông mày đen, rậm rạp trông giống ông Ác trong chùa, nhưng lại có cái tâm nhân hậu như ông Bụt trong những chuyện cổ tích. . .
- Cậu cứ đọc đi, chúng mình sẽ bàn lại vấn đề này. . .
. . . . . . .
Bản Phúc trình:
Kính thưa Trung Tá.
Thi hành khẩu lệnh của Trung tá, tôi làm bản phúc trình này để tường trình về hành động đối xử của tôi với tù binh Bắc Việt, do gợi ý của Thiếu tá Tiểu đoàn phó và để Trung tá hiểu rõ hơn cách làm việc của tôi, tôi xin lần lượt phúc trình các vụ việc cụ thể trong thời gian trước đây một năm ( Trong đó có thời gian Trung tá chưa về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn này)
- Ngày 23 tháng 1 năm 1971 Tiểu đoàn hành quân trong khu vực XT ,bên kia sông Vàm Cỏ thuộc quận Đức Huệ, tỉnh Hậu Nghĩa. Đơn vị đụng địch tại ấp Bà Ràng, tôi đã đánh trọng thương một tù binh thuộc Tiểu đoàn cơ động tỉnh Long An. Khi giải giao tù binh này cho chi khu Đức Huệ, chi khu này không nhận, lấy lý do tù binh này bị đánh quá nhiều, tôi đã bị Trung tá Nguyễn Văn Nhung, Tiểu đoàn trưởng tiền nhiệm khiển trách nặng nề.
- Ngày 2 tháng 6 năm 1971 Tiểu đoàn đụng địch tại vùng Lưỡi Câu, biên giới Việt Miên, đơn vị ta bắt được hai cán bộ kinh tài thuộc hậu cần cục R, trong đó có một là nữ. Trong lúc khai thác chiến trường, tôi có ra lệnh lột quần áo của người nữ này để y thị sợ mà phải khai. Tôi đã bị Trung tá Nhung đề nghị phạt 10 trọng cấm xin gia tăng tối đa.
- Ngày 1 tháng 2 năm 1972. Trong thời gian Tiểu đoàn bị vây hãm tại An Lộc. Toán thám báo giao nộp một phụ nữ cảm tình viên Cộng Sản. Tôi đã sắp thành công trong việc tra cung người phụ nữ này, thì tôi bị Thiếu tá Dương Kim Mãng, Tiểu đoàn phó khiển trách và buộc ngưng cuộc điều tra, Thiếu tá cho rằng đây là một người đàn bà điên. Riêng tôi đoan chắc với cấp trên y thị không có triệu chúng gì về bệnh tâm thần cả. Y thị là tiền sát viên Cộng sản? Y thị là mật báo viên? Với sắc đẹp và sự khôn khéo ấy, y thị là cả trăm câu hỏi đối với một sĩ quan ban 2 chuyên nghiệp như tôi.
Kính trình Trung tá thẩm tường.
Trung úy Nguyễn Xuân Nam.
Sau đây là một thư riêng tôi xin gửi đến Trung tá như một lời tâm sự riêng với mục đích duy nhất để Trung tá hiểu rõ hơn một thuộc cấp của Trung tá.

NINH BÌNH 1951.

Quê tôi ở miền trung du Bắc Việt, nơi thể nghiệm đầu tiên của cuộc cải cách ruộng đất. . .
Thật khủng khiếp, ngỡ ngàng và bi thảm, nó làm đảo lộn bao tập quán và trật tự xã hội mang tính truyền thống đã có từ bao lâu đời. Nhũng dồn nén, mặc cảm tự ti, xu thế muốn thay đổi và lối sống quá quắt của giai cấp địa chủ phong kiến đã bùng dậy, Lúc đầu lôi kéo được tuyệt đại dân chúng nghèo đói nhưng rồi như bao nhiêu cuộc cách mạng khác trên thế giới, nó lao vào cái quá đà,và sau đó rơi vào tay một thiểu số, mà cái rực rỡ của buổi bình minh cách mạng, tạo cho họ cái ảo tưởng là, họ đang độc quyền chân lý, biến cách mạng đang trên đà thành công thành một trào lưu tự cô lập mình và xa rời các sự kiện thực tế, đưa cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mang đầy tính tình tự dân tộc thành xu thế vọng ngoại, đầy ắp tính giáo điều. Thay vì đáp ứng đúng vào khát vọng và lòng yêu nước cùng những hy sinh vô bờ bến thì nó lại quay lưng, hòa nhập vào cái bóng đen khổng lồ của một thứ chủ nghĩa xã hội kiểu Mao với tất cả bản chất sắt máu, quá khích và tả khuynh triệt để. . .
Nó xa lạ hoàn toàn với bản chất khoan hòa nhân ái của người Việt nam, và cứ cái đà ấy nó biến và đưa chủ nghĩa Mác không còn là một khoa học tích cực, một học thuyết về thực tại, và thật đáng tiếc, nó không còn được nhìn như một loại triết học về thế giới quan khoa học của giai cấp vô sản nữa.
Trong bối cảnh ấy, gia đình tôi tan nát, ông bà nội tôi bị đấu tố chết, cha mẹ tôi không kịp chôn cất người thân của mình, vội vã ôm chúng tôi xuống tị nạn tại một tỉnh ven biển, một khu Công giáo tự trị, giáo phận Bùi Chu Phát Diệm. . .

Hai giáo khu này có lực lượng vũ trang riêng do quân đội Pháp huấn luyện và trang bị võ khí.
Ở đây thế lực của các tăng lữ vượt ra khỏi phạm vi của nhà thờ, các cha xứ đã biến cả một vùng trù phú ấy thành những giáo khu kiểu trại lính với kỷ luật sắt, nửa quân đội, nửa thần quyền. Mỗi giáo dân là một chiến sĩ, mỗi giáo phận là một pháo đài chống lại Cộng sản. Đây là gíao khu toàn tòng.
Lúc đầu mới đặt chân lên vùng đất thánh này, tôi lơ mơ không hiểu lý do gì đã dẫn đến thái độ quá khích của cả hai bên ( Công giáo và Cộng Sản) đối với nhau. Họ quên mất cả chính sách, quên mất cả bản chất tôn giáo và chủ nghĩa để tàn sát và giết hại lẫn nhau không một chút nương tay.
Máu loang đỏ nghị quyết, Chúa ngỡ ngàng trên các Thánh chương.

Tôi quen dần với không khí chống Cộng ngùn ngụt ấy.Tôi quen dần với hình ảnh ông cố đạo người Bỉ, cứ sáng sáng đi chậm chạp dưới dốc cầu Trì Chính, ông như một nhà sư khất thực, đôi mắt dịu dàng, có hàm râu trông như râu của Chúa Jesus, trông ông thoát tục và thân thiết.
Tôi cũng say mê dáng cao cao, lối nói quảng bác, cái chóp đỏ và những bài giảng khúc triết, mang tính thời sự nhiều hơn giáo huấn của Đức Giám mục Lê Hữu Từ. . .
Tôi quen dần với những tiếng hô “ sát sát” trong những buổi tập diễn của các chiến sĩ tự vệ áo đen. Tôi cũng tò mò và ngạc nhiên khi chứng kiến những buổi lễ làm “ Chết phép lành” của cha Hoàng Quỳnh dành cho đội Vệ sĩ cảm tử tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc.

Cuộc đời tôi bắt đầu thay đổi từ hôm cha Hoàng Quỳnh đến thăm bố tôi.. .
Cha ngạc nhiên nhìn thấy quyển Thánh kinh đang mở trên bàn. Cha hỏi:
- Nhà cháu ai đọc sách này thế?
- Thưa, cháu.
- Cháu đọc kỹ chưa?
- Thưa, cháu đọc mới được có vài lần.
- Cháu bên Phật, cháu cũng tin có Đức Chúa Trời?.
- Thân trình cha, xin cho cháu nói với tất cả tâm ý của cháu.
- Con cứ nói ta nghe.
- Cháu đọc Thánh kinh để tìm nội dung, tìm bước chân tương lai của con người, chứ không tìm niềm tin cha ạ.
Cha Quỳnh có vẻ bối rối;
- Thế con có tin cuốn sách này được viết ra bằng sự dẫn dắt kỳ diệu của Thượng đế hay không?.
Tôi không trả lời câu hỏi của cha, tôi nói:
- Con không nghĩ là cuốn sách này là truyện tích kéo dài lâu đời về loài người trong quá trình vươn lên tìm kiếm Đức Chúa Trời không, con không dám tin như vậy. Có điều con cứ thắc mắc mãi, về việc sách ghi chép những bước từng trải của loài người vươn lên tìm Đức Chúa Trời và lần lần cải tiến ý niệm về Đức Chúa theo kinh nghiệm của những thế hệ trước.
Trong rất nhiều đoạn của Thánh kinh có chép rằng Đức Chúa Trời phán. Con nghĩ Đức Chúa Trời thực ra không nói như thế đâu, người ta phát biểu tư tưởng của mình bằng ngôn ngữ tự nhận là của Đức Chúa Trời, chớ thật ra chỉ là những điều người ta tưởng về Đức Chúa Trời mà thôi.
Cha Hoàng Quỳnh quả vừa bản lĩnh vừa nhân hậu, cha thoáng tím mặt rồi vừa xua tay vừa nói:
- Đừng, đừng con, lậy Chúa Jesus, Đức Maria xin cứu chuộc một trí khôn lầm lạc. Đấy đọc Kinh thánh mà không có niềm tin nó tác hại như thế đấy, càng nguy hiểm hơn nếu con không đọc tới nơi tới chốn. Không, không phải như con trẻ và bọn duy lý nói vậy đâu. Đấy là những hoang tưởng, những ngụy tín, kéo Kinh thánh xuống ngang hàng với những sách khác. . .Con hãy nghe ta nói đây:
- Kinh thánh là sách chép Đức Chúa trời tự khải thị cho loài người để dậy dỗ và dẫn dắt họ trên Đường Sự Sống. Đấy, chỉ có một chân lý nhất quán như thế thôi.
Cha để tay lên vai tôi, tự nhiên tôi rùng mình:
- Thế con đã tìm được gì trong Thánh kinh nào?
- Thân trình cha, con đã đọc khá nhiều sách trong thư viện giáo xứ, thì quả Kinh thánh là tài sản quý giá hơn hết của loài người. Nó đạt được đủ hai yếu tố mà chưa có một quyển sách nào có được là phổ quát và vĩnh cửu. Nó không còn là của nhà thờ, của Công giáo nữa. Nó là vốn sống của thế gian, túi khôn của loài người. Nó có xuất có xử. Có tồn có dụng. Nó không dừng lại ở việc chỉ khuyên người ta tránh dữ làm lành mà bao quát cả những điều thánh thiện và dung tục.
Chỉ tiếc có một điều: Thân trình cha, con nghĩ cuốn sách được viết ra không phải cho người cùng khổ đang khao khát hướng về Chúa vì nó khó đọc quá cha ạ! Nhiều ẩn ngữ quá, nhiều câu người đọc như đứng trước ngã ba đường. Nó gần giống như những câu chân chân giả giả trong bí kíp võ đạo vậy, mà người đọc, hiểu hoặc được mặc khải thì rất hiếm. Còn như coi đó là công việc duy nhất ở trên tòa giảng để giải bầy và truyền dạy thì con xin cha tha tội, con thấy như vẽ rắn thêm chân, đẩy Thượng đế đi xa hơn vào vùng sương mù huyền bí. . .Từ Kinh thánh tới niềm tin, đến được mặc khải rồi hành động, một quá trình tuy đơn giản bằng phẳng nhưng có một cái gì lấp ló bàn tay con người. . .

Cha lắng nghe, đôi mắt loáng vẻ kỳ dị. Cũng may vừa lúc ấy bố tôi về đến.
Cha kéo bố tôi ra ngoài vườn sau. Hai người ngồi ngoài đó nói chuyện rất lâu. Lúc tôi mang nồi nước sôi ra châm thêm vào bình trà. Tiếng nói chuyện ngừng bặt, thấy tôi chần chờ muốn nghe lóm, cha chỉ tôi:
- Năm nay nó bao nhiêu tuổi?
Bố tôi nói:
- Mười chín rồi đấy.
Tôi ngạc nhiên, sao bố tôi lại tăng tuổi tôi lên nhiều như vậy.
Cha nói:
- Thanh niên bây giờ khôn trước tuổi, biết đọc và suy nghĩ Phúc âm, tuy non nớt, không căn bản nhưng xem ra còn hơn chúng ta ngày xưa rất nhiều, ngày xưa ông nhớ không, bọn mình ngu ngơ tồng ngồng. . .
Tôi liếc bố tôi, chiều nay lại uống ở đâu rồi. . .
Như không có tôi, bố tôi cười khà khà:
- Có lần tôi dẫn ông chui qua bờ ao nhà bà Đông, ông còn nhớ không? Gai tre cào xước cả lưng, ông hỏi: “ Đi đâu vậy?” Tôi đưa tay lên miệng: “Suỵt! Đi xem chim!” Ông ngây thơ: “Chim gì mà ở dưới đất vậy?”. Tôi kéo tay ông rồi cứ thế mà bò, qua lùm nhót, tôi chỉ xuống cầu ao, ông nhìn trân trân đỏ mặt rồi lùi dần, tôi còn tham, nấn ná. . . “ Đồ đạo đức giả, trên đời không có thú gì bằng nhìn trộm đàn bà con gái tắm truồng”. Mà tôi cũng không ngờ sao ông lại ác thế, tôi đang say xưa, bỗng nghe thấy ông la bên lùm tre: “ Coi chừng thằng Mạnh nó đang nhìn trộm đấy!” Hai hòn giái tôi nó chạy tót lên đầu. Mặt tôi lãnh đủ những nắm bùn của cái Thắm, cái Tỵ. Tôi xấu hổ chui ra “ Ông thụi bỏ mẹ mày! Đồ. . .” Bỗng tôi sáng con mắt lên: “ Mả bố mày đây rồi”. Cái thánh giá to tướng, ông vẫn đeo ở cổ, lúc nãy khi ông chui ra, còn toòng teeng trên đốt tre. Tôi run lên với cảm giác thú vật rồi hiên ngang trở lại cái cầu ao, lần này thì đếch phải bò nữa.
Cái Thắm, cái Tỵ đã mặc xong quần áo. Tôi huơ huơ cây Thánh giá rồi ném về phía chúng nó. Tôi quát to để cho ông ở bên kia hàng rào tre nghe thấy:
- Cả cái thằng này cũng nhòm hĩm của chúng mày đây này!
Kể đến đây bố tôi cười sằng sặc. Cha Quỳnh cũng cười hồn nhiên. Tiếng cười của cha trong veo.

Cha về rồi mà bố tôi vẫn ngồi một mình như một pho tượng. Từ ngày mẹ tôi mất, bố con tôi dồn tình thương cho nhau
- Bố nghĩ gì vậy bố?
- Con ngồi xuống đây, bố có một việc nói với con.
- Việc gì vậy bố?
- Cha Tổng Chỉ huy Tổng bộ tự vệ vừa xin bố để cho con đi theo cha Tổng.
- Sao lạ vậy bố, nhà mình đạo Phật lại không có đức tin, vả lại để lại bố sống quạnh quẽ một mình, làm sao con đi cho đành..
- Bố chỉ lo sự xa cách của cha con mình, còn những điều con nêu trên không cần, tình thế đến mức này, đâu còn phân biệt lương giáo nữa, mà cùng một mặt trận con ạ! Mặt trận bên này và bên kia. bên ta và bên địch. Nhà tràng Phúc Nhạc không cung cấp đủ cán bộ. Việt Minh đang thắng thế, Giáo hội đang ở chân tường. Lớp cán bộ mới không cần trang bị bằng thần học nữa mà chỉ cần lòng căm thù, ý chí chiến đấu một mất một còn.
- Đành rằng Việt minh thì vô thần, quả là họ không có tín ngưỡng thật đấy, nhưng con thấy họ không làm hại đến người lành.
Bố tôi quắc mắt:
- Thế ông bà nội con là những người ác hay sao?
- Con xin lỗi bố. nhưng con chỉ thắc mắc mình và họ không thỏa hiệp được hay sao? . . .Đạo với Đời, việc ai nấy làm!
- Không chung sống với nhau được đâu con ạ, cây muốn lặng, gió chẳng muốn đừng. Chống lại thì hoặc thua hoặc có cơ may thắng, còn thỏa hiệp thì không bị diệt ngay những tan vỡ từ từ ( bố tôi bắt đầu tái mặt) Con nên nhớ, sách lược muôn thuở của Cộng sản là: Liên kết với kẻ thù phụ để đánh kẻ thù chính, cứ thế như tầm ăn lá, từ từ diệt tất. . .
Bố tôi ôm đầu:
- Cháy nhà mới ra mặt chuột, bọn Việt Nam Quốc Dân Đảng chỉ là thứ thùng rỗng kêu to.
- Con thấy thày Thích Tâm Châu vẫn đi lại với giáo xứ ?
- Thì cũng chỉ được có mỗi ông sư này, còn tất cả chỉ toàn là bọn già giái non hột ( bố tôi dằn từng tiếng) Bố thấy chỉ có người Công giáo mới có khả năng chống Cộng, còn thì vất đi tất.
- Thế tại sao mình phải nhẩy vào cái vòng tranh chấp của họ?
- Không đứng ngoài được đâu con ạ, Giáo hội đã đùm bọc mình trong những khi thất cơ lỡ vận, gia tộc ta mang nặng một mối thù, ông bà nội con bị đấu tố chết. lẽ nào bây giờ mình không đóng góp. Phải sòng phẳng con ạ. . .
Bố tôi khóc, đây là lần thứ hai tôi thấy bố tôi khóc, lần đầu là lúc hạ huyệt mẹ tôi. . .
- Thôi con hiểu rồi, con xin nghe bố, cái sợ của con là bố phải sống một mình, từ nay không có con bên cạnh, bố đừng uống rượu nữa nghe bố.
Rồi tôi cũng khóc, bố tôi lau nước mắt rồi cười vang lên như một người điên. Âm thanh vùa ma quái, vừa thỏa thuê, những uất nghẹn như bật ra từ lâu lắm rồi. Đôi mắt của bố tôi lóe lên những tia hừng hực như đốm lửa âm ỉ lâu ngày, gặp gió cháy bùng

Tôi đi theo cha Hoàng Quỳnh và làm thư ký riêng cho cha từ ngày ấy. . .
Hôm đến văn phòng Tổng Bộ tự vệ nhận việc, cha dặn tôi:
- Cha chỉ yêu cầu một điều, nếu các cha bề trên có hỏi thì con trả lời : con có đạo nhé!
Tôi tự ái : Sao cha không lấy người trong đạo giúp việc cho cha, con ngoại đạo ngộ lỡ có chuyện gì mang tiếng cho cha
Cha Quỳnh xua tay:
- Đừng khí khái hảo! Cha chúa ghét cái bọn con chiên nịnh hót, làm hư các cha không ai khác là con chiên của mình

“ Cha Quỳnh không phải là loại cha răng đen, thuốc lào, thịt chó”. Càng ở gần cha, tôi càng nghĩ như vậy, cha không hiểu rộng nhưng biết nhiều , biết đủ thứ chuyện, cả việc đạo lẫn chuyện đời, tính tình cha có đôi lúc bất thường. Cha không hợp với các cha già bảo thủ, cha căm ghét việc các cha đánh con chiên, cha gay gắt phê phán việc đem chuyện gia đình ra bêu rếu tại nhà thờ. Cha thích bỡn cợt với các cha trẻ cấp tiến “họ ăn nói báng bổ thật nhưng niềm tin của họ thì có cơ sở rất cao, tương lai của giáo hội ở trong tay của các vị ấy đấy!”
Có lần cha nghe ai phàn nàn về việc cha già Thiên dùng roi xua con chiên đi lễ ,cha tím mặt:
- Tại các ông, các bà đấy, cứ nịnh cha lắm vào, cái gì cha cũng nhất, cứ bơm riết rồi cha nào cũng thành Đức Chúa Trời cả thôi.

Đấy là đối với việc đạo, tôi cũng được kề cận bên cha những lần ra Hà Nội, ra Huế gặp Cao ủy Pháp, gặp Thủ hiến Bắc Việt, gặp cả Quốc truởng Bảo Đại, những lần gặp gỡ như vậy cha dung dị, tự tin, tôn trọng đối tượng. Duy có lần gặp Bảo Đại – cha bước ra, mặt buồn buồn, cha bảo:
- Người Nhật thật may mắn có Minh Trị Thiên Hoàng! còn mình ...Ôi! bất hạnh quá! Một quái thai chính trị !
Cha nhổ toẹt trên thềm dinh rồi nắm tay tôi chạy như ma đuổi
Mấy ngày sau, tôi gặp cha ỏ nhà chung Phát Diệm, cha vẫn còn buồn, cha kéo tôi vào phòng, cha ngồi trầm ngâm, dư âm cái lần gặp Đức vua vẫn còn cấu xé cha...
- Cậu nhìn xem cái phòng này có gì đặc biệt ?
Tôi nhìn quanh quất, chẳng thấy gì, lắc đầu.

Cha đẩy một cái ghế dài. . .Một khung cửa vừa đủ cho một người, bên kia là cái phòng tối om .
- Đấy! năm 1946 có hai anh em nhà họ Ngô Đình chạy từ Hà Nội vào, Giáo hội hào hiệp đưa tay ra đón, chính tôi đã sai Lê Quang Luật đưa Nhu qua Lào, tương lai đất nước phải có những tay như thế...
Cha lại trầm ngâm: Tiếc rằng bây giờ sự đấu tranh giữa các chủ thuyết còn quá gay gắt, chủ nghĩa Mác tuy làm chủ bản thân nó còn quá kém, chưa đến mức là một khoa học. Tuy vấn đề con người luôn luôn được Mác rao giảng, nhưng trong Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản, Mác đã định nghĩa con người là sự tổng hòa các quan hệ xã hội. Nói một đàng làm một nẻo, khi viết những nguyên lý về duy vật lịch sử thì Mác lại cố tình lờ luôn yếu tố con người mà chỉ xoáy vào vấn đề giai cấp, lấy cớ rằng con người đã tham gia vào đủ mọi việc, đã có mặt trong các nguyên lý cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hóa rồi.
Thế nhưng, học thuyết của Mác, không phải là không có sức hấp dẫn, không phải là không có tính thực dụng, nó biết gom góp các kẽ hở của duy tâm để bổ túc cho duy vật. Tuy vậy nó quá độc tài, nó quá thiên về con người tập thể để quên mất con người cá nhân, đòi hỏi quá đáng về sự hy sinh bản thân. Nó được tô vuốt ở phương Tây nhưng lại bị hiếp dâm ở phương Đông.
Những vụ thanh trừng đẫm máu ở Diên An, Tứ Xuyên, Thượng Hải đang biến những cái nhìn ban đầu về Mác thành cái nhìn xót xa hoảng sợ.
Còn chủ nghĩa tư bản ư? Tuy cái tiên đoán về chủ nghĩa này đã có nhiều dấu hiệu cho thấy Mác đã sai lầm nhưng nó vẫn bị tai tiếng về bản chất bóc lột của nó. Khác hẳn với Mác, nó lại duy cá nhân và đánh mất cái tập thể. Khi trở thành đế quốc thì nó lại quá độc ác.
Qua nhiều đêm nói chuyện với Nhu. . . Cha thấy cái học thuyết của ông ta đang thai nghén quả có thể dung hòa được cái tích cực và tiêu cực của hai lưỡng cực đối kháng này. Chỉ tiếc một điều. Tớ là thày tu, tớ phải cay đắng nhận thấy rằng: Cái đầu của anh chàng này có pha tôn giáo. Tránh kỵ triết học chính trị có pha tôn giáo, nó giống như vá áo không cùng màu vải. Nó biến học thuyết thành hoang tưởng hỗn tạp.
Cha lẫm bẩm: Cần nhất là phải biết làm chủ được những lý thuyết cơ bản.

Tôi nhìn cha: Đôi lông mày đậm dầy này. . .Vầng trán có những vết nhăn trăn trở này.. . Cặp mắt và vành môi khát vọng kia, đâu chỉ dừng lại ở bộ áo thày tu: Đen hay đỏ? Cái đầu thông bác kia chỉ ép xác trong cái cổng kín bưng của tu viện, sao không ở chỗ khác kìa?
Tôi sống với cha Quỳnh như vậy đã gần được hai năm

Quan hệ giữa tôi và cha có cái nhập nhằng dễ thương làm sao! Có lúc thì như cha con. Có lúc như thày trò. Có lúc như đồng đội. Có lúc như bạn bè. Có ai hứng chí lấn lướt một chút, thì người kia cũng chẳng phật lòng, chẳng sợ mất mặt, chẳng sợ phạm thượng.

Cho đến một hôm tôi đang đọc sách trong thư viện giáo xứ thì có cậu bé giúp việc cho cha tìm tôi:
- Thày về gấp, cha Tổng đang chờ.
( Như tôi nói ở trên, tôi đạo Phật, cha dặn dấu không cho ai biết, nên ai cũng tưởng tôi là thày Bốn, thày Năm bên Tiểu chủng viện biệt phái qua giúp việc cho cha)
Về đến văn phòng, không thấy cha tôi đi thẳng xuống nhà riêng. Cha vẫy tay:
- Vào đây, vào đây thụ lộc!
“Lộc” là quà ngon vật lạ, con chiên quý cha thường đem biếu, một dĩa thịt luộc đầy ắp, một dĩa lòng, một tô nhựa mận và một chai rượu nếp cẩm.
Tôi xuýt xoa;
- Chà, mưa dầm gió bấc thế này mà chén thịt chó thì chỉ có sướng mà chết thôi!.
Cha cười:
- Vào đi, vào đi kẻo lạnh
An tọa tôi lại xuýt xoa:
- Bố con nói đùa, cái thú nhất là nhìn trộm đàn bà con gái tắm truồng, nhưng theo con thì chẳng có gì thú bằng chén thịt chó. Hay thịt chó và đàn bà có cái gì gắn bó đến ngũ dục của đàn ông, cha nhỉ?
Cha Quỳng cười thoải mái:
- Bố cậu hôm trước không kể hết cái chuyện ngày xưa ấy. . .
Cha vừa nhấm nháp vừa kể:
. . .Sau khi bố cậu chơi khăm tớ. Cái Tỵ, cái Thắm cầm cái thánh giá về ngay nhà tớ. Ôi! Ôi! Lậy Chúa tôi, tớ bị một trận đòn thừa sống thiếu chết và ngay ngày hôm sau tớ bị gửi vào nhà dòng
Cha cười sảng khoái:
- Ấy nhờ thế mà thành cha đấy!
Khi chai nếp cẩm đã gần hết, Bỗng cha hỏi tôi:
- Tớ hỏi thật nhé, cậu có biết đàn bà là gì không?
- Thưa cha, cứ như Kinh thánh. . .
Cha xua tay:
- Đừng, đừng múa rìu qua mắt thợ, đừng lấy Kinh thánh ra để hù dọa tớ, tớ hỏi thật đấy, tớ muốn biết thêm về một chút đời thường. . .
- Thế thì thưa cha, cứ như những người đi trước, từng có “ Nợ máu” với cánh đàn bà thì con thấy, quả Thiên Chúa đã sáng suốt khi không sáng tạo người nữ từ cái đầu của người nam để nàng lấn lướt, cai trị chàng. Nhưng quả Chúa cũng chưa am tường nhân thế khi lấy người nữ từ cái xương sườn của người nam, chỗ ấy rất gần con tim khiến đàn ông cứ mê muội, cứ say đắm vào những cái phù phiếm mà đau khổ nhiều hơn hạnh phúc. Như bố con ấy, cái hôm mẹ con mất bố con khóc như con trâu rống. . .
Cha Quỳnh cười:
- Thế thì theo cậu phải tạo người nữ từ phần nào của người nam?
- Phải tạo từ đôi chân để họ mãi mãi làm nô lệ cho đàn ông!
Cha xua tay:
- Không được đâu, không được đâu, này tớ không đùa đâu đấy, cậu phải lấy vợ đi. Cây có cây đực cây cái. Người có âm có dương thì mới hanh thông được, còn như bọn thày tu chúng tớ, có sáng suốt, có uyên bác thật đấy nhưng vẫn có cái gì lệch lạc, nghiêng ngả, mất thăng bằng. Lúc nào cũng như bị dị ứng, tức như bò đá. . .
Tôi xum xoe:
- Con hỏi thực xin cha đừng giận:
- Hỏi đi, sao tự dưng lại khách sáo thế?
- Tại vì đây là những điều khó nói, con nghĩ đàn ông cả với nhau mới dám hỏi cha: Cha có bao giờ bị dục tình thôi thúc không ạ?
- Câu hỏi hay, quả là khó nói đấy, nhưng tớ với cậu, mình cùng cánh đàn ông với nhau tớ phải nói thật: Ghê Lắm. khủng khiếp lắm
. . .Từ cái ngày nhìn thấy cái Thắm , cái Tỵ, tớ cứ bị ám ảnh hoài, những bữa trưa hè, những đêm đông, nhất là về ban đêm, có một cái gì bứt rứt xôn xao. Có một cái gì nó cứ chạy rần rật trong từng thớ thịt, hai má thì cứ nóng ran. Phía trên đầu thì vang váng. Phía dưới thì căng cứng, các tế bào cứ như bị tê dại hẳn đi. Hơi thở của mình như không thể điều khiển được nữa, cứ như có ai gãi ở các đầu ngón chân ấy.
- Thế thì cha chịu trận à?
- Mình cởi quần áo ngoài ra, mặc mỗi cái quần đùi. Đêm miền biển lạnh giá là vậy mà mình cứ thế mà chạy, quay lại bể nước xối ào ào rồi lại chạy tiếp, lại xối nước. . .Về nằm, ngủ được thì không sao, không ngủ được thì đâu lại vào đấy. . .Có khi mình mặc áo lễ vào, lên nhà thờ quỳ xin Chúa toàn năng cho êm ả tâm hồn, cho thanh khiết đẩy đi mọi cám dỗ. Nhưng đến là quỷ! Khi nhìn thấy tượng thánh, thì tớ lại nhớ ra khuôn mặt cái Tỵ! Chúa ơi! Sao mặt con bé giống Đức Mẹ như hai giọt nước. Rồi tớ lại nghĩ bậy bạ, thân thể thì cứ rã rời, tâm hồn thì hoang mạc như một bãi chiến trường vừa mới qua cơn binh lửa. Cái mặc cảm ấy nó cứ ray rứt tớ như một bóng ma. . .Ghê sợ lắm!
- Các thày chùa bên chúng con, họ chay tịnh còn đỡ, các cha bên này, ăn uống không kiêng khem, chịu sao nổi.
Cha bối rối, chợt như nhớ ra một điều gì, cha nhìn tôi, nhíu mày:
- Này, tớ nghe đồn, cậu léng phéng với cái cô Hiên gì đó của Hội con Đức Mẹ , bên giáo xứ Kim Sơn phải không? Hình như cô ta có một người anh thoát ly từ năm 45, 46 gì đó. Cẩn thận, rất cẩn thận anh bạn trẻ nhé.
“ Cái cô Hiên gì đó” quả thực tôi có yêu, có say mê, có tâm sự, thề thốt. . .

Một tháng sau, Hiên và người em út của cô ta, không mộtlời từ biệt tôi, đã bỏ Giáo khu trốn ra vùng Việt Minh.
Cha Quỳnh che chắn cho tôi hết lòng, tôi mới không bị lôi ra ban An ninh của Tổng bộ.
Người ta đã không tìm ra ai là người làm nội tuyến cho Việt Minh đánh đồn Yên Thổ, nhưng người ta đã râm ran đồn đoán ai là người đã để lọt ra ngoài các tin tức mật từ Tổng bộ Tự vệ.
Tôi như người mất trí. tôi ngồi lắp ráp lại những câu hỏi không đầu không đuôi của Hiên và những câu trả lời hớ hênh của tôi, trong những lần chúng tôi ngồi tâm sự với nhau.
Trong đôi mắt nhân hậu của Cha Tổng có thấp thoáng sự thương hại và ngờ vực. . .Tôi không còn được làm thư ký trong những phiên họp của Tổng bộ nữa. . .

Tôi xin cha cho tôi được nghỉ việc. . .Cha nhận lời.
Tôi thất thểu về nhà. . .
. . . Bố tôi ngồi bất động trên cái chõng tre, giọng ông tắc nghẹn:
- Con không phải giải thích nữa, bố biết hết cả rồi.
Đêm hôm ấy, tôi trằn trọc hoài không ngủ được, tôi nhớ đến cha Quỳnh. Tôi thương bố tôi. tôi ghê tởm Hiên. Tôi ghê tởm tôi. Tôi đem những kỷ vật Hiên đã có ý để lại cho tôi, như cái khăn màu tím nàng hay quấn cổ, cái kẹp ba lá, những lá thư hò hẹn, tôi đem những thứ đó ném xuống sông.
Tôi như người lần đầu tiên đi đánh bạc gặp ngay đứa cờ bạc bịp. . .
Bổng tôi nghe như có tiếng rên nho nhỏ của Bố trong giường trong:
- Xoan ơi! Nhục quá! Xoan ơi! ( Xoan là tên mẹ tôi)
Tôi cứ tưởng bố tôi nói mê.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy đun nước để bố tôi pha trà. Chờ hoài không thấy bố dậy. Tôi lên tiếng gọi, vẫn im lặng. Tôi nhẹ kéo chăn ra. Máu trong miệng, mũi bố tôi đã khô đen, hai con mắt trắng dã, trừng trừng. . .
Tôi cắn răng nhìn xác bố. . .“ Con khốn nạn, mày là người đã làm tan nát đời tao, gia đình tao” Tôi hét lên như một thằng điên:
- Trời ơi, Bố ơi! Thù này biết bao giờ mới trả được hở trời?

Đám ma của bố tôi sầu thảm như đất trời ngày hôm ấy. . .
Cha Quỳnh mặc thường phục. Đám ma đi dọc đường phố Phát Diệm mưa phùn, trơn lạnh. . .Những người đứng dọc hai bên đường nhìn quan tài bố tôi thương xót. nhìn tôi khinh bỉ.
Tôi xin cha để dời Giáo xứ;
- Con về đâu ? Cha hỏi như khóc.
- Con phải đi lính. . .Chỉ có quân đội. . .
- Con nên vào Huế học trường Đập Đá ta chứng nhận cho.
- Không con chỉ muốn làm lính, con muốn chính tay con, chứ không phải qua lệnh của con.
Trong một cữ chỉ mà chính tôi cũng không thể ngờ được. Tôi quỳ xuống chắp tay lậy cha:
- Thưa cha Linh hưởng. Con tuy ngoại đạo nhưng như đã phó hồn xác trong tay Chúa, sự nhân ái của Cha cả đời nằm nguyên vẹn trong trái tim con. Xin cha giúp con cầu nguyện Chúa phán xét công bằng.
Cha Quỳnh khóc. Tôi khóc. . .

CĂN CỨ SUỐI MƯƠNG, HÒA BÌNH NĂM 1952

Hai chị em Hiên bỏ Phát Diệm vào một buổi sáng tinh mơ.

Hiên ngoái lại rất lâu nhìn một lần cuối cái dốc cầu Trì Chính. Những dấu chân hẹn hò của cô và Nam như còn chập chờn, bồng bềnh trong sương mù của buổi sáng hôm ấy.
Khi chiếc thuyền nan xuôi dòng về hướng Thượng Kiệm, tim cô nhói lên khi nhìn thấy tháp chuông giáo đường vươn cao lên trên những ngọn cau già, nước mắt cô trào ra, trong hơi nước ngầy ngậy ngái ngủ, cô ngửi thấy cả đến mùi hoa hoàng lan quấn quýt lấy hương vị tình yêu đầu đời, từ những hàng cây dọc lối vào nhà xứ.

Cô đến Nho Quan, Tân Lạc rồi vào Hòa Bình. Hai chị em Hiên tìm đến căn cứ Suối Mương.
Anh vệ quốc cảnh vệ dẫn hai chị em đến giới thiệu với một chính trị viên.
Hậu nói như khoe:
- Hai chúng tôi là em ruột của Chính ủy Hải Ninh.
Viên cán bộ mặt lạnh tanh:
- Đồng chí Hải Ninh đả bị hạ tầng công tác và đang thời gian quản chế. . .
Hai chị em Hiên đứng không muốn vững, bám vào nhau:
- Anh tôi có tội gì chứ?
- Tôi không biết.
- Chúng tôi có được phép gập anh tôi không?
- Theo tôi hai cô không nên gập anh ấy lúc này, hãy để cho anh ta tập trung tư tưởng để tự đánh giá mình. Mọi quan hệ với anh ta chỉ làm vấn đề thêm phức tạp
“Mình về đâu bây giờ?”. Câu hỏi ấy cứ oằn lên vai Hiên trên con đường từ căn cứ ra Thạch Thất.
Đến bến đò Tân Vệ, Hậu nói như rên:
- Chị ơi, em mỏi chân lắm rồi, hai bàn chân giộp hết rồi.
Hiên nhìn em thương hại. Cánh đồng Sằn vắng vẻ, còn bờ sông không bóng một con đò. Hiên như được linh tính mách bảo là ban an ninh căn cứ đang theo dõi bước chân hai chị em cô.

Sau đây là những mẫu đối thoại không đầu không đuôi của hai cô con gái, lần đầu tiên ra đời để đi làm cách mạng
Hậu nói:
- Cứ như anh thợ săn đầu mùa, gập ngay viên đạn thối!
Hiên nói: Chị đã bảo ở nhà mà không nghe. Anh Ninh nhắn có mình chị.
Hậu nói: Em không muốn xa chị, em chán cái không khí xóm đạo nhà mình lắm rồi. Em sợ, sợ kinh khủng. . .Trời mưa dầm, gió bấc, tiếng cầu kinh ê, a. .
Hiên nheo mắt:
- Có sợ thày Bốn không đấy!
- Sợ luôn, em chúa là ghét thứ đã đi tu mà còn tình. Tu tiếc gì cái ông ấy. Chị biết không, ông ấy bảo em: Kỳ lễ Đức Mẹ Lên Trời này, ông ấy trình cha xứ cho em ngồi xe hoa làm Đức Mẹ. Em hỏi: “ Sao thày không chọn chị Hiên ?” Thày nói: “ Đâu phải ai muốn làm Đức Mẹ cũng được, phải ngoan này, phải còn trinh này. . .” Em hỏi: “ Thế cái đêm Giáng sinh, sau hang đá, thày cầm tay em, thày sờ ngực em, vậy em còn trinh không?” Thày nói: “ Nói nhỏ chứ, đừng có nói với chị Hiên em nghe. Mà chị Hiên em cũng ghê lắm. Mê thày Nam như điếu đổ, ngày nào cũng qua Tổng bộ, Còn ngủ lại đêm bên ấy nữa chứ”. Rồi thày nheo mắt: “ Chị em đâu có làm Đức Mẹ được, mất trinh rồi”
Chị này, cái đêm chị qua Phát Diệm, chị ngủ với anh Nam hả chị? Mất trinh hôm ấy hả? như vậy chị em mình cùng mất trinh cả rồi còn gì ( Hiên cười khúc khích) em vẫn tưởng trinh tiết là cái gì phải kiên cố lắm, khó khăn lắm, dư luận lắm chứ đâu có nhẹ nhàng, mỏng tanh, mất còn không biết ( cả hai chị em cười khúc khích)
Hậu lại hỏi:
- Kháng chiến là gì? Cách mạng là gì hả chị?
Hiên trầm ngâm giây lát, cô nhớ ngay đến Hải Ninh:
- Thì cứ như chơi đồ hàng ấy thôi, nhưng nhân rộng ra, lớn ra, cái gì cũng thật, cái gì cũng giả: Đánh nhau thật, căm thù thật, đấu đá thật, hạ tầng công tác thật, chết thật. Nhưng khen thì giả. . .
Hiên lại nhớ đến Nam, đến cái bẽ bàng của Hải Ninh. cô nhớ đến lời chị Bổng:
- Còn Cách mạng ư? Trong lý thuyết thì lãng mạn. Ngoài thực tế thì trần truồng. Trông xa thì như một cô gái trinh trắng đài các. Chạm vào thì mới biết đó là một con đĩ toang hoác.
Hậu hỏi: Người trong giáo xứ đồn rằng, trong trận đánh đồn Yên Thổ, có tin tức chị lấy của Tổng bộ qua anh Nam phải không?
Hiên bừng lên: Không, em biết bên đạo mình có câu thề nào nặng nhất không? Nghe chị đây, chị mà làm thế, chị bị trọng tội đấy!

Có tiếng súng nổ chát tai, cả thân thể Hiên bật tung lên. Một tay chới với như muốn tìm chỗ dựa nào đó ở khoảng không. Một tay chống xuống đất, rồi ngã nghiêng. . .
Hậu trân trân nhìn Hiên quằn quại , cô lấy hai tay ôm lấy mặt rồi rú lên:
- Chúa ơi! Chị ơi! Ai bắn chị tôi thế này.
Tiếng khóc, tiếng gào, tiếng gió theo nước sông loang loáng về phía hạ du. . .

SÀI GÒN 1954.

Sư đoàn khinh binh số 10 của tôi vào Nam. Đóng ở Long Khánh.
Đây là lúc ông Nhu thanh toán xong các lực lượng thân Pháp và các lực lượng giáo phái, ông quay sang “ Làm thịt” nốt Tổng bộ tự vệ. Lực lượng chống Cộng có đến hàng vạn người này dần dần tan tác.
Đức cha Lê Hữu Từ vẫn ngạo nghễ làm lễ ở nhà thờ di cư Phát Diệm. Đức cha đang suy nghĩ gì thì chỉ có Chúa mới biết, nhưng những người thân cận nhìn bóng cha nghiêng nghiêng mỗi chiều tắt nắng, không nén được tiếng thở dài cho tình đời đen bạc.
Còn cha Quỳnh, hình như ông Cố vấn quên hẳn cái việc cha đã tổ chức cho ông trốn qua Lào bằng cách ra lệnh cho Lê Quang Tung bắt giam cha. Sau đó đầy cha đến cái xứ đồng khô cỏ cháy Bình An này.

. . .Nhờ bộ đồ lính còn vương đất đỏ. Tôi lẻn được vào thăm cha.
Cha ôm đầu tôi, hôn tôi. Tay cha sờ sờ cái lon Thượng sĩ nhất của tôi:
- Bây giờ mà còn như thế này à! Đám sĩ quan Bùi-Phát , tướng tá hết cả rồi. Thằng Phạm Xuân Chiểu trở cờ biết chưa?
Tôi đau đớn nhìn cha. Cha già hẳn đi. Tôi móc trong cái “ Túi bắt gà” một gói bên ngoài là lá chuối.
- Con ghé Gò Vấp, biết cha mê món này.
Cha nhìn trân trân ( một thoáng suy nghĩ: không biết đôi mắt này có giống lúc bố và cha nhìn xuống dưới cầu áo nhà bà Đông không nhỉ? ) rồi cười lên ha hả, khiến bọn mật vụ bên ngoài ngơ ngác.
- Bố anh! Trước khi anh tới đây, tôi nghĩ có thể bắt tay ông Diệm chứ có bao giờ dám mơ tưởng đến món này đâu. Ôi! Tranh bá đồ vương. Ôi ! Công hầu khanh tướng! Làm sao bằng cái gói thịt chó này cơ chứ ! Ủa mà sao lại khóc? Yên tâm đi! Chúa sắp xếp hết, Chúa rất công bằng. Rồi cũng êm thôi.
“ Rồi cũng êm thôi”. Cái đầu của cha một lần nữa xác định được cái nhanh nhạy ấy

:Nhà Ngô càng ngày càng bị sức ép của Mỹ. Sau những lần dằn mặt từ những Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, rồi đến Nguyễn Văn Cừ, Phạm Phú Quốc. Đến sự chống đối ngấm ngầm của các sĩ quan thân Pháp. Đến ngay sự lạnh nhạt của tòa thánh Vatican. Đến lúc phải tìm một mô hình giáo khu Bùi Phát cho Quốc sách Ấp chiến lược, Ông Nhu dần dần thấy cái quá đà của ông trong việc đánh phá Tổng bộ tự vệ Phát Diệm với cả triệu giáo dân và những người gốc miền Bắc sau lưng nó. Nó đâu giống Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo đâu?
Giáng Sinh năm 1960 tôi trở lại Bình An. Lần này thì khôngcòn hoang vắng như lần trước nữa. Những chiếc xe hơi, xe Jeep nối đuôi nhau. Chủ nhân của chúng là những chính trị gia đối lập, cần sự hậu thuẫn của Công giáo. Cớ cả những sĩ quan, viên chức cần lên lon, thăng ngạch, cần đi làm tỉnh trưởng, tư lệnh. . .

Thấy tôi lấp ló. Cha đuổi khéo hai người khách đang ngồi trong phòng, ra tận cửa lôi tôi xềnh xệch.
- Lần trước nhờ món thịt cầy của cậu mà tớ thoát chết hai lần. Lại trò bắn lén kiểu bắn Trịnh Minh Thế. Hoàng Quỳnh đâu có ngờ nghệch như Trịnh Minh Thế đâu chớ. Về với tớ đi. Hai tay vừa rồi là chuyên viên trong văn phòng ông Cố Vấn đấy. Ông Nhu muốn tìm thêm kinh nghiệm của Giáo khu ngày trước . Ông ta quên là mỗi thời mỗi khác. Ngày ấy, lòng dân còn toàn tòng. Bây giờ thì ly tán hết rồi! Chưa qua sông đã đấm buồi vào sóng, ai còn tin được. . .
. . .Người ta vẫn bảo Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh thân Pháp. Thì đã sao nào? Pháp già rồi nhưng có thủy có chung. Chơi với tụi Mỹ như chơi với dao vậy. Vừa thực dụng lại vừa tráo trở. Đụng tới quyền lợi của họ, thì bạn hay thù cũng a lê hấp !
. . . Sao về với tớ không? Ngày còn ở Ninh Bình, cậu thua đếch gì thằng Chiểu, thằng Đổng. .
Thấy số người chờ càng lúc càng đông. tôi hỏi:
- Cha còn nhớ chị em cô Hiên không?
- A ha ! cái rắc rối của đời cậu ấy mà, tớ làm sao quên được, nhưng “ Giai nhân nan tái đắc” Bóng chim tăm cá phải không? Sao nhất định không lấy vợ à?
- Thưa cha, quả là mọi việc đều do Chúa an bài cả cha ạ. Con mới được tin hai con yêu cái này cũng di cư vào đây, đang ở vùng Bình Long Bến Cát gì đó. Con về đây chỉ để nhờ cha, xin cho con đổi về sư đoàn nào ở gần đó. Nếu bố con có linh thiêng , xin dẫn đường chỉ nẻo cho con. Đời con thua chúng, thua bạn chỉ vì còn đeo đuổi mối thâm thù này. Xin cha cầu nguyện cho con. . .

Cha Quỳnh bỗng ho xù xụ, tóc cha đã bạc quá nửa. Cha nhìn tôi :
- Mình còn nhiều dang dở, những sở nguyện chưa đạt được một phần ba. Cậu xem ra còn bết bát hơn mình, tụi mình không còn bắt đầu từ số không được đâu, thật là lực bất tòng tâm. Nghĩ cho cùng: Chỉ có tha thứ và sự bình yên ở nước Chúa mới là yên phần hồn rỗi phần xác !
Bỗng cha cười ha hả:
- Ngày xưa, nói chuyện đàn bà với cậu, tớ cũng thầm mong Cộng đồng Vatino cho phép linh mục lấy vợ, bây giờ mà có được phép, tớ cũng đếch thèm
Cha đứng lên lấy phích nước, cái dáng gù của cha làm tăng vẻ chậm chạp
- Cậu ở với mình một thời gian. Cậu thấy mình thế nào? Mình có cuồng tín quá hay không? Có trọng đời khinh đạo quá hay không? Tớ biết tính cậu hay nói thẳng tớ mới hỏi, cần cứ việc khuyên. Bố cậu lúc sinh thời vẫn cho tớ những lời bộc trực thấm thía.
Cha chỉ tay ra ngoài phòng chờ, lố nhố những khách. Môi dưới của cha trề ra
- Họ gồm hai loại: Con chiên chân chính và những người đến nhờ vả. Con chiên thì cha nào chả là ông thánh. Lúc nào họ cũng thấy thấp thoáng nơi vị chăn dắt của mình ánh hào quang của Đức Chúa Trời!
Còn những người đến cầu cạnh mình ư? Họ đời nào dám nói cái sở đoản của mình ra kia chứ . Có lần mình giả vờ nóng giận, mình hỏi me xừ Ngô Trọng Hiếu: “ Có phải với cương vị Bộ trưởng Công dân vụ ông tuyên bố trước các Tỉnh đoàn trưởng là phải xem xét tôn giáo như một hiện tượng văn hóa không? Đó là quan điểm của chính phủ hay của cá nhân ông?” Ông ta sợ hãi ra mặt. . .
Cha vừa pha trà vừa nói:
- Họ đến với mình bằng những câu: “Nhờ cha sinh phúc, nhờ cha gia ân cho”. Mình làm chó gì có quyền mà làm ngay cho họ được, mà phải làm trung gian. Ôi! đã là trung gian bên Đạo, lại còn phải làm trung gian bên Đời!
Cha cười thiểu não:
- Có đứa còn phong cho mình là thiên tài nữa kia đấy.
Cha đổi giọng cười ha hả :
- Thiên tài đếch gì tớ. Thiên tài đớp thịt chó thì có!

Ánh sáng của cửa sổ phía tây xuyên qua tầu dừa chênh chếch, chiếu vào chỗ cha ngồi. Tôi thấy rõ mái tóc điểm sương khô khốc, những nếp nhăn men mét, hai túi lệ chẩy xệ dưới đôi mắt trũng sâu khắc khoải.
Tôi nói:
- Thưa cha cứ theo định nghĩa “ Cái không học ở đâu cả, cái không thể học nổi, cái không thể bắt chước được. Đó là thiên tài!” Thì người ta bảo cha là thiên tài đúng quá rồi còn gì! Hồi còn ở với cha, con may mắn được cha mặc khải khá nhiều. đoán biết và nắm bắt được chút ít tư tưởng của cha, nhìn cách cha giải quyết vấn đề, xem cách cha khu xử sao cho hợp đạo đẹp đời. Con vẫn tiếc giá như cha đừng đi tu, những điều sở tồn của cha mà làm sở dụng thì hay biết mấy, thì giúp ích cho nước nhà biết mấy.
Con xin nói thật, giới tăng lữ bây giờ. Đạo nào cũng vậy, có làm chính trị giỏi cách mấy thiên hạ cũng gán cho cái tội khuynh loát lợi dụng đấy cha ạ. Cha không nghe giới kẻ chợ bây giờ họ sắp xếp thang bậc trong xã hội bằng vỏn vẹn có tám chữ: Nhất cố, nhì sư, tam xi, tứ tướng.
Cha cười buồn:
- Cố là gì? Xi là gì?
Tôi nói:
- Cố là cố đạo, là các linh mục, Còn xi là taxi, là những tên ma cô chở đĩ điếm cho ngoại kiều.
Cha giật mình: “ đến thế cơ à?” Rồi cha ho khung khúc.
Tôi nói:
- Ngày ở với cha, con có đọc trong một tờ báo cũ của thư viện giáo xứ, tờ Phụ Nữ Thời Đàm, một bài thơ của một nữ sĩ, vịnh Hai Bà Trưng, con sửa lại mấy chữ có ý để tặng cha, xin cho con đọc trình cha nghe, coi như nhận xét của con về cha kính yêu.
Bùi Phát quân thù kinh vó giặc.
Giáp vàng, áo chùng lạnh đầu voi
Chúa ơi, Tòa giảng bơ vơ quá.
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi.
Cha bắt tôi đọc lại lần nữa, cha buông bút ngồi ôm đầu
- Ôi bơ vơ, lẻ loi thật!

MẶT TRẬN BÌNH LONG 1972

Tôi hỏi người phụ nữ “ Điên”

- Cô bị bắt trong trường hợp nào?
- Tôi đang giặt giũ ở bờ sông, các ông bắt tôi
- Tình hình này, ai dám ra sông để giặt? Quê cô ở đâu?
- Hải Hậu, Ninh Bình
- Trước năm 1953 cô ở đâu?
- Tôi ở Kim Sơn, Phát Diệm
- Rồi sau đó
- Tôi lên Nho Quan!
( Bố mẹ ơi, quả nhiên lưới trời lồng lộng, rất thưa nhưng không sao lọt được! Kẻ thù hình như đang ngồi ngay trước mặt con đây, cũng khuôn mặt trái xoan, cái mũi dọc dừa, cũng đôi mắt bồ câu trong sáng và phản trắc ấy. Bố ơi, còn văng vẳng đâu đây tiếng bố gọi mẹ lúc lâm chung: “ Xoan ơi, nhục quá!” Rồi bố chết, bố đem những uất nghẹn cùng những điều không làm được về thế giới bên kia, bố để lại thế giới này cái hận thù dai dẳng cho con đeo mãi vào người trong niềm ân hận bất lực.)
Tôi rung lên như lên cơn sốt:
- Cô còn có một người chị?
Ôi! một câu hỏi hớ hênh, rất không nghiệp vụ và đầy tính định mệnh đã cứu người phụ nữ. Tôi đã tự lột bỏ lốt áo người thẩm vấn để lộ rõ cái nóng vội của một kẻ tử thù, đang muốn ăn tươi nuốt sống đối phương.
( Còn người phụ nữ, tuy cô không có cái bản lĩnh của Hiên, nhưng tính nhậy cảm và nhanh nhạy của một người đàn bà đã thấy rất rõ trong đôi mắt của người trưởng ban tình báo kia loang loáng vẻ kỳ bí của một thế giới đầy u uẩn. Vầng trán tái tím kia như đang toát ra những làn tử khí hừng hực, có bóng tử thần lấp ló.)
Cô lạnh toát người, Có một lực siêu nhiên gì mách bảo cô phải nói to như một lời khẳng định:
- Không, tôi không có một người chị nào cả!
Thiếu tá Mãng bước vào, chẳng biết ất giáp gì, quát tôi:
- Lại đánh tù binh hả? Việt Cộng gì con dở dở ương ương này, làm lệnh tha, tôi ký.
Ông vừa bước ra khỏi hầm vừa lầu bầu:
- Việc ngập đầu, đéo lo, lo ba cái con mẹ điên điên khùng khùng.
Tôi tức uất người, tức vì cái nông cạn võ biền của đồng đội mình, chống Cộng kiểu ông ta chỉ là đánh võ vườn, Ông ta đánh giặc bằng tâm tính của một nhà tu, với tính khí của một cao bồi miền viễn tây nước Mỹ, và lối hành sử mệnh lệnh của một công chức

HOUSTON 1978,

Tiếng súng ở bến đò Vệ, Hòa Bình ngày ấy không giết chết Hiên, nhưng giết chết tâm hồn của Hiên và Hậu. Đặc biệt với Hậu, do sợ quá mà sau này có lúc cô không làm chủ chính cô.
Xin tóm tắt, từ năm 1972. . .
Sau khi thả Hiên ra, sau khi An Lộc được giải tỏa. Trung úy Nguyễn Văn Nam tiếp tục theo dõi Hiên
. . .Quả đúng Hiên là em Hậu, giấy thế vì khai sinh cho những người tản cư làm tại Tòa hòa giải rộng quyền Hà Nội của Hiên với tên mới là Thoa, Nguyễn Thị Kim Thoa. . .

. . .Thoa và Hậu di cư vào Nam cùng với lòng căm thù Cộng Sản ngun ngút. Cô đi học tiếp rồi ra trường thành giáo sư trường trung học Hưng Đạo. Người chồng thứ nhất của Thoa, một sĩ quan Đà Lạt chết trận Mậu Thân năm 1968, để lại cho cô một bé trai kháu khỉnh. Lúc hạ huyệt Thuận, cô ôm con khóc lặng trong mưa phùn hiếm hoi của mùa xuân miền Nam. nét sầu bi cô phụ ấy, đánh thức tâm hồn của người đồng nghiệp kém cô 5 tuổi, vốn tu xuất
Cô và Thuấn lấy nhau, tình yêu chưa làm ấm chăn gối vợ chồng thì Thuấn tử trận tại chiến trường An lộc.

Tôi ( Người viết lại chuyện này), nghe tiếng Nam bên kia đầu giây, giọng vui vẻ:
- Anh sẽ qua thăm chú?
- Sao anh bảo đến mùa hè sang năm anh chị mới qua, gấp vậy?
- Không, anh cần qua. Anh đem cho chú thêm một vài chi tiết và đoạn kết của câu chuyện chú đang viết.
Tôi háo hức chờ Nam

Hôm gập Nam tại phi trường Houston sau bao nhiêu năm xa cách. Tôi ôm Nam còn vợ tôi và vợ Nam vồn vã hỏi thăm về nhau. Nam giới thiệu vợ:
- Đây là bà xã anh, chú có đoán được là ai không nhỉ?
Người đàn bà có đôi mắt buồn rười rượi, có giông bão còn đọng ở ánh mắt, đưa tay ra:
- Nghe anh Nam nói nhiều về anh, tôi là Hiên, là Thoa, là cừu thù một thời của nhà tôi đấy.
Mùa đông Houston lạnh kinh người nhưng người tôi cứ nóng bừng.
Đêm hôm ấy, Nam kể cho tôi nghe quãng đường anh chị tìm nhau, anh tìm chị để trả thù, còn Chúa lại dẫn chị tìm anh để nối lại mối tình đầu.
- Còn Hậu bây giờ ra sao?
- “Cô tù binh” của anh năm xưa bây giờ gia thất đề huề . Cũng tính sang thăm chú một chuyến này, nhưng cuối cùng cô chú ấy lại đổi ý.
Nam kết luận:
- Quả nhiên có Chúa thật chú ạ. Không tin không được. Cha Quỳnh dậy chí phải.
- Chú có nghe gì về cha?
Giọng Nam u uất:
- Ngay sau khi chiếm miền Nam, Việt Cộng tìm ngay đến giáo xứ Bình An. Họ bắt cha giam vào khám Chí Hòa. Tại phòng số 8, khu ED, nơi chặng chót của bước đường thánh giá. Cha đã uống xong chén đắng cuối cùng. . .

Nguyễn Trọng Hoàn

( Viết tại Phòng giam 8, khu ED 1991. Hoàn tất tại Mỹ 1997)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cuộc chiến đấu của
những người lính không còn binh chủng


Nguyên Huy
Bốn người ngồi trong một phòng khách sang trọng. Họ vốn là Sĩ quan đồng khóa 14 Thủ Ðức trước năm 1975. Ra trường người được chuyển về Hải Quân, người Không Quân, người về Bộ Binh, Chiến Tranh Chính Trị. Những năm tháng trong quân ngũ, họ vẫn gặp nhau thường xuyên do tình cờ cùng công tác ở một Nha, Sở. Ba Mươi Tháng Tư Một Chín Bẩy Lăm, họ tan tác. Người di tản được. Người vào tù. Người trốn tù, vượt biên. Ba Mươi tháng 4 năm nay họ gặp lại được nhau. Buổi gặp mặt hôm nay là tiệc mừng đón kẻ sang Mỹ chậm nhất trong 4 người.

Người ngồi trong góc tối mờ của phòng khách bắt đầu kể lại một kỷ niệm. Giọng anh bình thản, đều đều như đọc một trang sử đã qua. Ba người ngồi nghe, nhạt nhòa trong ánh sáng của đèn phòng khách.

Bên ngoài, trời Cali đầu Hè, vẫn lạnh. Không gian tĩnh quá như muốn nhấn mạnh cái lẻ loi, cô đơn của người xa xứ.

* * *

Vào những ngày chộn rộn nhất của Tháng Tư năm ấy tôi lại phải ra công tác ngoài Huế. Chả là vị giám đốc của tôi được lệnh cho thu dọn đài phát tuyến để chuyển vào Nam vì tình hình mất Huế kể như gần chắc rồi. Lòng không muốn, nhưng quân lệnh, khó mà cưỡng. Ở Huế, tôi vội vã cùng nhân viên địa phương tháo gỡ hết và liên lạc xong với 1 đơn vị Hải Quân, xin được 1 chuyến tầu chuyên chở. Nhưng chỉ vào tới Ðà Nẵng thôi vì tầu còn phải trở lại để di chuyển cho nhiều cơ quan khác. Tôi đành đánh điện về xin chỉ thị. Kết quả: bằng mọi giá, tôi phải giữ được dụng cụ vật liệu của Trung Tâm đã tháo ra. Thế là tôi đành ở lại Ðà Nẵng để chờ Trung Ương liên lạc với bên Hải Quân xin chuyên chở vật liệu vào Sàigòn. Bắt đầu là những giờ phút kinh hoàng ập đến. Huế đã thất thủ. Ðà Nẵng lên cơn sốt di tản. Người đổ ra cảng Ðà Nẵng và suốt dọc bờ biển Sơn Trà hỗn loạn. Dân lính hòa nhau trong cuộc chạy đua ra biển. Một cuộc tìm sống hãi hùng. Pháo Cộng Sản bắt đầu nã rải dọc bờ biển là lúc mà con người không còn đối xử được với nhau 1 chút nhân ái nào nữa. “Panique” đã diễn ra. Tôi phải làm sao? Bỏ của chạy lấy người? Ðể rồi vào Sàigòn chắc là sẽ bị ra tòa án quân sự. Ở lại để chờ di chuyển vật liệu. Chắc chết. Tôi không thể nào dứt khoát được. Không phải tôi có tinh thần trách nhiệm cao đâu, mà chính vì sợ phải ra tòa án quân sự khi không hoàn tất được nhiệm vụ. Lúc này, tôi mới thấy mình ngu. Người ta thì bỏ cả đơn vị, công sở, thậm chí cả vợ con để chạy lấy người mà mình thì không dứt khoát được. Tôi cố nhờ một vài đơn vị còn trụ lại để liên lạc với thượng cấp của tôi mà không liên lạc được. Vị Sĩ quan truyền tin bảo tôi, “Ông cứ xuống tầu đi, Trung Ương phải biết tình thế này chứ. Chuyến tầu của đơn vị tôi sẽ nhổ neo lúc 3 giờ. Nếu đi, 2 giờ 30 ông lại đây”. Tôi cảm ơn, chạy về đơn vị mình. Viên Trung sĩ trực, đi cùng tôi vẫn bình tĩnh nằm chờ ở bến. Tôi hỏi:

- Mình tính sao bây giờ?

Hiểu ý tôi, viên Trung sĩ đáp.

- Tùy Ðại Úy quyết định.

- Vậy 2 giờ 30 mình ghé tiểu đoàn truyền tin đi cùng họ.

- Vâng.

Anh ta lặng lẽ xếp lại tấm chăn dã chiến và cái ba lô anh lấy làm gối. Gấp chiếc ghế bố nhà binh để góc tường, anh ngó căn nhà kho rộng chứa đầy những vật liệu tháo gỡ từ một Trung tâm phát tuyến, anh thẫn thờ:

- Bỏ lại kể cũng tiếc thật. Cả chục triệu đô la chứ ít gì.

Tôi hỏi anh là Trung đội Ðịa Phương Quân được tòa tỉnh Huế biệt phái cho đi khuân vác theo đâu.

Anh rắn rỏi đáp:

- Mạn phép Ðại Úy, tôi cho họ về Huế cả rồi.

Tôi trợn mắt:

- Tình thế này mà anh để họ về Huế.

- Họ nôn nóng vợ con gia đình. Biết làm sao.

Tôi định la nhưng chợt nhận ra tình cảnh chung, đành lặng lẽ thu xếp hành trang.

Pháo địch nã lên dữ dội hơn. Tiếng súng nhỏ râm ran khắp thành phố. Nhưng dòng người vẫn chật đầy phố phường. Như một cảnh hội pháo. Nhưng là Hội của Quỷ vì ai nấy mặt mũi xanh rờn, áo quần tơi tả.

Tôi ngó ra bãi biển. Như một cảnh tắm biển Mùa Hè ở các xứ người. Nhưng ở đây, nơi quê hương khốn khổ này, người ra biển không phải là để tắm mà để trốn chạy chính đồng bào của mình. Không có cảnh áo tắm nào đâu. Chỉ là một bãi biển đen kịt những con người khốn khổ. Một đám lính không còn vị chỉ huy nào, hùng hổ vừa bắn chỉ thiên vừa lao những chiếc jeep, dodge ào ào xuống bãi. Chúng gạt mọi người, cướp những chiếc thuyền cao su, thuyền gỗ, hay bất cứ thứ gì nổi trên nước có thể đưa chúng ra nơi tàu Hải quân đậu. Tiếng người la ó, gào thét râm ran. Tiếng đại pháo từng chập rộ lên và bây giờ thì liên tục triền miên. Bỗng đám đông xao động hẳn. Nhiều tiếng la thất thanh:

- Việt Cộng đã vào thành phố rồi đấy.

Tôi hốt hoảng, ngoắc viên Trung sĩ chạy túa theo đoàn người quên cả ba lô hành trang.

Chạy dọc theo bãi Sơn Trà xuống phía Nam cùng dòng người hỗn loạn, tranh cướp nhau lên một chiếc đò gỗ. Người lái đò hét lớn:

- Mỗi người một lạng vàng, tôi mới chở.

Ai nấy gật đầu. Tôi cũng gật đầu.

- Chung vàng ra.

- Cứ cho đò ra khơi đi. Chúng tôi sẽ chung đủ.

Tôi nhìn lại người trên thuyền. Chiếc thuyền khoảng 5m dài hơn 1m rộng mà có tới gần 5 chục người. Nước mấp mé mạn thuyền. Tôi tìm viên Trung sĩ. Không thấy. Chúng tôi đã lạc nhau. Một ông trung niên, dáng như nhà buôn, đứng ra thu vàng cho tên lái thuyền. Thôi thì lại huyên náo. Người không có vàng, chỉ đưa tiền. Tiền cả bịch lớn, chẳng biết là bao nữa. Người lột đồng hồ, tư trang... Còn tôi? lấy gì bây giờ. Tôi đành lắc đầu.

- Không có gì, lính mà.

Ông thương gia trừng mắt:

- Nhẩy xuống đi. Lính mà cũng chạy à.

Chợt ông nhìn trên tay tôi, hỏi:

- Rolex hả.

Tôi chợt nhớ chiếc đồng hồ đeo tay Rolex quí giá của tôi. Tôi lưỡng lự:

- Cũ rồi.

Ông Thương gia gay gắt:

- Tháo ra đi. Mất thì giờ quá.

Một bà dè bỉu:

- Còn tiếc gì nữa cơ chứ. Sống là may.

Có tiếng la lớn:

- Thuyền chìm! Thuyền chìm!

Rồi hỗn loạn. Tôi chỉ kịp cởi chiếc áo lính thì nước đã tới cổ. Bản năng sinh tồn đã đưa tôi tới mạn tầu Hải quân lúc nào tôi cũng chẳng biết. Lên tầu, vừa lạnh mệt tôi thiếp đi bao lâu để khi tỉnh dậy thoáng nghe thấy tiếng reo:

- Cam Ranh.

* * *

Ở lại Cam Ranh chờ chuyến tầu Hải Quân để về Vũng Tầu cả tháng trời, tôi không còn biết phải làm gì. Ngày ngày dạo quanh các khu tị nạn, ngóng chờ các chuyến xe hàng từ Nha Trang vào để đọc nghiến ngấu những tin chiến sự trên báo Chính Luận phối hợp những tin tức nghe được trên đài BBC vào chiều tối, thấy càng sốt ruột. Tôi đã thử lội bộ, tìm đường về Nam nhờ các chuyến xe hàng. Nhưng một xu dính túi không có giữa lúc bạc tiền được tung ra không tiếc để có được một chỗ trên xe hàng chạy về Nam. Vả lại, trên đường bộ xuôi Nam, làm sao có an toàn. Mỗi lúc, câu chuyện di tản chiến thuật của quân dân Miền Nam càng trở nên bi đát, đau thương, kinh hoàng hơn. Ðắn đo mãi, tôi đành ở lại chờ đi bằng đường thủy.

Buổi sáng hôm xuống được chuyến chiến hạm HQ của Hải Quân Việt-Nam, cũng là lúc mà mọi người được tin là Nha Trang đã mất. Khi vào đến Vũng Tầu, tôi mới được biết là Nha Trang đã bỏ ngõ khi Cộng Quân còn ở cách thành phố đến cả nửa ngày đường. Người ta bảo nhau chạy vì tối hôm trước đài BBC có loan tin Cộng Quân tiến vào thành phố Nha Trang.

Từ Vũng Tầu về Sàigòn chẳng còn bao xa nữa. Nhưng tôi vẫn nôn nóng. Trước cảnh chiến địa tan hoang, người người ly tán ở miền Trung, tôi không còn lòng dạ nào ngoài ước muốn được ở bên gia đình lo cho vợ dại con thơ. Nhưng ở Vũng Tầu, ngoài các bến bãi và những nơi tạm trú cho quân đội và dân chúng, thành phố biển này cũng chỉ hơi xao động. Phố xá vẫn buôn bán tấp nập, tầu bè san sát và bãi biển thì đông đặc người. Cũng có người tắm, nhưng phần nhiều là ngóng chờ những chuyến ra khơi. Nghe nói thì tầu Mỹ đã bắt đầu đón người, nên ai nấy đều nhìn ra biển chứ ít ai nghĩ đến trở vào đất liền.

Trong khi đó chiến sự lan mạnh. Có tin Phan Rang đã mất và Cộng Quân đang dồn về Long Khánh. Thoáng trong óc tôi, một hình ảnh một mạng lưới đang thu hẹp lại. Tôi quyết định tìm mọi cách trở về Sàigòn mà không lóng ngóng ở bãi biển để tìm cách ra đi như mọi người khác.

Khi men được về đến Biên Hòa thì Biên Hòa cũng thất thủ. Ðó là sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975. Tôi vội lội bộ băng ruộng cùng rất nhiều đồng bào, tìm về hướng Thủ Ðức. Nhiều tiếng miền Trung thốt lên, e ngại:

- Có ai biết đường về Thủ Ðức - Sàigòn không?

- Cứ đi. Qua các thôn xóm hỏi thì rõ.

Tôi quan sát đám người cùng đi. Bấy giờ tôi mới chợt nhận ra, phần lớn là anh em trong quân đội. Có một vài phụ nữ, với con nhỏ, chắc là gia đình của quân nhân. Chúng tôi tập họp nhau lại khoảng 50 người. Một anh bạn trẻ, mặc chiếc sơ mi rách nát nhầu, nhưng cái quần lại là quần “trây di”, chân đi dép Nhật, hăng hái nói:

- Cứ theo tôi.

Tôi hỏi anh.

- Anh biết rõ lối đi không.

Nhìn kỹ tôi một lát, anh mới nói:

- Cách đây 10 năm tôi có ở vùng này 8 tháng.

Hiểu ý anh tôi hỏi:

- Tôi khóa 14. Còn anh.

Anh vui mừng:

- Chúng ta cùng khóa rồi. Vậy anh còn nhớ đêm di hành cuối khóa không?

Tôi ngần ngại thú nhận:

- Ðêm đó tôi trốn hành quân.

Anh không nói gì, quay nhìn bốn hướng. Rồi chợt nhận ra điều gì anh quả quyết.

- Mình đi về hướng này. Chỉ đến trưa là sẽ tới sân bắn mới Thủ Ðức. Tới đó mình tìm xe lam về Sàigòn được rồi. Bọn nó chưa ra khỏi được Biên Hòa đâu.

50 người chúng tôi theo anh lội tắt các khu ruộng. Hết xóm đến thôn, lại đến ruộng, rạch. Ðâu đâu cũng thấy dân chúng nhớn nhác nên chẳng ai để ý đến chúng tôi cả. Một vài nơi đã dám kéo cờ Giải Phóng Miền Nam, nửa xanh nửa đỏ có ngôi sao vàng.

* * *

Chúng tôi tới được bờ Nam sông Sàigòn thì cũng vừa lúc tiếng súng lớn nhỏ nổ rộ bốn chung quanh. Anh bạn trẻ nói cho cả bọn:

- Mình đang ở giữa một mặt trận rồi.

- Sao anh biết.

- Kinh nghiệm chiến trường lâu nay.

Một người trong bọn lắng nghe rồi nói:

- Phía này là quân bạn.

Rồi anh kéo một số người đi tiếp. Tôi đắn đo. Anh bạn trẻ lôi tôi đi:

- Phải đi thôi.

- Nhưng lỡ lọt vào trận tuyến địch thì sao.

- Anh quên tiếng M1 nổ rồi à.

Tôi chợt tỉnh, yên tâm đi theo.

Nắng chiều gắt gao. Ðồng cỏ hừng hực hơi nóng. Cỏ lút đầu người. Mới đó mà không hiểu mọi người đã tản đi đâu hết. Tôi đành nhắm hướng các ngọn cỏ lau xao động phía trước mà tiến tràn. Lúc này tiếng súng nổ ran như pháo Tết ở sau lưng, càng khiến bước chân tôi lội nhanh về phía trước. Có lẽ tôi đã lạc bọn rồi. Phía trước chỉ là những làn cỏ lướt trong gió. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ đồng bọn tôi đang trú ẩn. Có tiếng đạn réo trên đầu. Tôi cúi xuống chạy lúp xúp. Những ngày ở quân trường năm xưa tôi đã quên hết. Bốn tháng giai đoạn 1 học chiến thuật, 4 tháng sau đó về ngành CTCT rồi ra trường, chỉ ở văn phòng. Bỗng tôi thấy 1 người nằm vắt qua bờ mương nhỏ. Một chiến binh. Bên nào? Bộ quân phục dã chiến đầy bùn quen thuộc, nhưng đôi giầy “saut” lại bằng vải. Quân đội mình làm gì có giầy nầy. Chợt tôi thấy cái nón cối cách xa đó. Tôi hốt hoảng, rẽ về lối khác. Thế là mình đang ở trong chiến tuyến của Cộng Quân rồi. Phải ra thoát. Lúc này 1 cây súng trên tay chắc có ích. Tôi quay lại, nhặt lấy khẩu A.K. bên xác chết. Hình như đâu đó có tiếng nói. Tôi lắng tai cố nghe nhưng không thấy gì. Chỉ là tiếng gió rào rạt làm nền cho những tiếng súng từng hồi rộ lên.

Chiều xuống thấp lắm. Cơn gió đồng mát mẻ thổi trên người bắt đầu se khô mồ hôi đẫm áo. Phía trước mặt tôi, hình như là một thôn xóm. Ðã thấy một lối đi mòn giữa một bãi tha ma trống. Tôi không dám tiến đến bãi tha ma vì sợ làm đích cho cả hai bên. Lại phải đi vòng. Hình như thấp thoáng có một mái tranh. Và những nóc nhà tranh, nhà ngói hiện ra. Một địa danh chợt đến: Linh Xuân Thủ Ðức ư. Không. Ðây phải là Cát Lái rồi. Cánh đồng cỏ lút đầu vẫn trải dài trong bóng chiều thật nhạt. Tiếng súng vẫn từng chập, ở mọi phía. Lúc này, hình như tôi không phải là tôi nhút nhát, mà lại quen được tiếng súng nổ. Thỉnh thoảng có vài phút yên tĩnh trên cánh đồng, tôi lại sợ cái yên tĩnh ấy.

* * *

Bây giờ thì tôi khá bình tâm. Một vài dấu hiệu quen thuộc trong cảnh chiều đã xuống thấp. Rõ rồi. Ðây là Ngã Ba Cát Lái. Ðúng con sông này và con đường nhựa nhỏ tôi đang băng qua đây. Ký ức chợt hoạt động mạnh mẽ. Biết bao nhiêu chiều Chủ Nhật tôi đã cùng N. tới nơi này. Dựng xe bên bờ đường, ngồi trên bờ cỏ, ngắm chiều xuống rồi trở về thành phố ăn một bữa cơm tây và chia tay. Chả có gì nhưng đã là những hình ảnh làm tôi nuối tiếc, thèm khát biết bao khi vào quân trường phải thực tập những bài học lính gác giặc tại các khu vực này. Bây giờ, cả chục năm đã qua, trở lại chốn cũ giữa hoàn cảnh khó tả này, hình ảnh người yêu cũ lại hiện ra và cũng cùng lúc hình ảnh gia đình ập đến. Bước chân tôi lại dồn dập. Tiếng súng vẫn ở sau lưng rộ lên nhiều hơn phía trước mặt. Tôi đoán, quân bạn đang rút về thành phố. Cuộc chiến này sắp chấm dứt rồi sao. Chấm dứt ngắn gọn như thế sao. Chúng tôi sẽ còn lại gì. Không thể thế được. Mậu Thân 1968 chúng tôi đã phản công và chỉ sau 2 tuần, lại làm chủ tình thế suốt từ Nam ra đến Thạch Hãn.

Nhưng bây giờ, chúng đang đẩy lùi chúng ta. Cuộc chiến bây giờ là trận địa chiến không phải du kích, đánh lẻ như phần lớn các cuộc đụng độ hồi 1968.

Vậy sẽ thua sao? Tương lai rồi sẽ thế nào cho một Việt-Nam?

- Ðứng lại.

Một tiếng quát nhỏ đưa tôi về thực tại. Tôi bàng hoàng nhìn trong đêm, phía có tiếng quát, và đứng sững người, bỏ khẩu A.K. xuống đất.

- Ðơn vị?

Tiếng nói dịu đi. Tôi vội trả lời vì đoán là quân bạn.

- Chiến Tranh Chính Trị.

- Ở đâu.

- Sàigòn.

Một thân người nhô ra khỏi bức tường. Trong ánh sáng mờ của đêm sao, tôi thấy rõ một chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa vì dáng đứng của anh. Anh ngoắc tay cho tôi lại gần:

- Di tản miền Trung vào hả.

Tôi gật đầu, giải thích:

- Ðang công tác thì chiến sự lan đến.

- Bỏ chạy cả phải không.

Anh chiến binh cười lớn, ngạo nghễ. Một tràng tiểu liên réo trên đầu. Lửa đạn nhoang nhoáng. Anh đẩy tôi ngã sấp, miệng chửi tục. Cùng lúc, phía bức tường, từng tràng trung liên khạc lửa, đinh tai nhức óc.

Anh chiến binh bảo tôi:

- Lấy súng rồi tìm chỗ nấp. Chúng đã dò ra bọn mình rồi đó.

Có tiếng gọi chiêu hàng xa xa:

- Các anh hãy bỏ súng xuống. Hòa bình đã tới rồi. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Ðừng ngu xuẩn điên cuồng chống lại Cách Mạng, chống lại nhân dân.

Lại một tràng trung liên xuyên về hướng đó. Anh chiến binh chửi tục. Anh nói với tôi:

- Anh rút theo đồng bào hay ở lại chiến đấu với tụi tôi.

Tôi vội vàng:

- Tôi phải về Trung Ương báo cáo công tác ngay không thể ở lại với các bạn được. Bạn có thể cho biết đơn vị nào đang chặn địch ở đây không.

Anh lẩm bẩm:

- Ðơn vị. Chính tôi cũng không còn biết nữa. Rút chạy từ Qui Nhơn, tôi đã lạc đơn vị.

- Vậy anh đang chiến đấu với ai.

Anh hất đầu về phía bức tường.

- Tổ trung liên kia gồm một Dù, một Biệt Ðộng Quân và một Bộ Binh. Họ không nói nhưng nhìn quân phục và huy...

Tiếng nổ chát chúa ngay bên tai, khói mù mịt. Tiếng những bước chân chạy và tiếng vũ khí va đập. Thoáng có tiếng gọi:

- Rút vào trong thôn đi các bạn.

Thấp thoáng tôi thấy cả chục bóng đen di chuyển. Tôi cố gắng len lỏi theo họ, qua các hàng rào tre, gỗ, kẽm gai, tường gạch. Vẫn là tiếng anh chiến binh lúc đầu:

- Nếu anh không ở lại thì nên đi phía này ra xa lộ mà kiếm xe về Sàigòn. Bọn tôi sẽ về chân cầu xa lộ...

Tiếng súng chợt nổ rền 4 phía. Chúng tôi đang ở trong một thôn xóm. Hình như chúng tôi đã bị bao vây tứ phía. Anh chiến binh kéo tôi chạy vào trong 1 căn nhà gạch. Có tiếng nói gằn giọng:

- Chạy đâu nữa, kiếm 1 vị trí chiến đấu đi.

Tôi chợt nhận ra quanh tôi có rất nhiều người. Phần lớn là chiến binh. Tôi không rõ họ thuộc đơn vị nào. Nhưng tất cả, quân phục đều tả tơi, nhưng vũ khí lại rất đầy đủ. Một người trong nhóm nói:

- Chúng ta không thể tụ cả lại đây được. Phải phân tán ra.

- Ai chỉ huy ở đây.

- Tôi.

Mọi người đều dồn mắt nhìn về phía tiếng người vừa xưng “tôi” dõng dạc. Nền trời đêm qua khung cửa mở rộng soi rõ một dáng người nhỏ nhắn nhưng vững chãi. Tự nhiên tôi thấy vững tin và có lẽ những người chung quanh tôi cũng vậy. Nhiều tiếng nói:

- Chúng tôi sẵn sàng.

Bỗng có tiếng một người:

- Chiến đấu gì nữa. Tìm đường mà rút thôi.

Người nhỏ nhắn đanh giọng:

- Ðó là ý kiến của một mình anh. Anh có quyền làm như vậy. Và xin anh ra khỏi căn nhà này ngay.

Rồi với một giọng cao hơn, người nhỏ nhắn cương quyết:

- Ai muốn rút cứ việc bỏ vũ khí lại, nhất là đạn và lựu đạn.

Không khí chợt im lặng, làm tiếng súng bên ngoài càng rõ hơn. Không một ai có cử động bỏ ra ngoài. Người nhỏ nhắn bắt đầu phân công tác:

- Hai bạn nào ra nhận định hướng tiến của địch?

Hai bóng người vụt đứng lên, lẻn qua cửa rất nhanh.

- Tổ trung liên án ngữ đường vào thôn.

- Rõ.

Ba người vác súng và đạn chuyền qua cửa sổ ra sau vườn căn nhà.

- Các bạn còn lại, vũ khí đạn dược còn được bao nhiêu?

Nhiều tiếng nói lao xao. Người nhỏ nhắn tiếp:

- Không sao. Chúng ta cố gắng cầm cự, rút đến chân cầu xa lộ là có đủ đạn dược rồi. Ở đó có một đơn vị Dù đang trấn cầu. Bây giờ tôi chia như sau, 3 người một nhóm. Nhóm 1, bên phải căn nhà chế ngự hướng xa lộ. Nhóm 2, bên trái, cũng vậy. Nhóm 3 phía sau nhà, kiểm soát các nhà lân cận. Còn lại là nhóm 4 trừ bị tại đây. Chúng ta chờ “tiền sát” về sẽ tìm đường rút ra khỏi thôn.

Mọi người im lặng thi hành nhiệm vụ. Bây giờ thì mọi người đều không cần biết đến địch ở bên ngoài là bao nhiêu, nhưng cứ nghe tiếng súng thì không thể nào nghĩ là quân số 2 bên ngang nhau được. Nhưng tất cả đều như nhớ lại những bài học chiến thuật xưa và văng vẳng câu nói của cán bộ dạy chiến thuật “phải biết lao vào chỗ chết để tìm ra đường sống khi bị địch vây hãm hay phục kích”.

Tiếng súng bên ngoài thưa thớt. Ðêm hình như đã khuya. Ðã nghe rõ tiếng côn trùng rỉ rả khắp khu vườn tối.

Hai tiền sát viên trở lại. Tôi nghe rõ từng giọng hổn hển:

- Chúng không vào thôn. Chúng đang tiến về cầu xa lộ. Chúng đi từng đoàn nghênh ngang. Dân nói, chúng đông lắm...

Vị “chỉ huy” của chúng tôi ra lệnh:

- Vậy ta rút. Bây giờ để toán 3 rút trước, rồi toán 2 và toán 1. Trung liên sau cùng với tôi và nhóm trừ bị. Thôi, Chúng ta bắt đầu.

Tự nhiên tôi cảm thấy yên tâm ghê gớm. Hình như tôi đã trút bỏ được hết nỗi lo lắng về gia đình. Trước mặt tôi bây giờ chỉ là một cuộc chiến đấu không cân sức mà chúng tôi phải chấp nhận.

Khi chúng tôi ra khỏi thôn thì trời hửng sáng. Phía chân trời một vài vệt đỏ rõ ràng. Một vài ngọn gió mát lướt trên cánh đồng không xua đuổi được hết cái oi bức của đêm qua.

Tôi quay nhìn vị “chỉ huy”. Anh thấp hơn tôi chút ít, da ngâm đen vì sương gió chiến trường. Dưới chiếc mũ sắt mà chiếc quai vải bỏ không cài, gương mặt anh rắn đanh. Ðôi mắt thật sáng. Dưới bộ quân phục hoa Dù, vẻ người của anh vẫn không hết những nét chân chất của người nông dân miền Nam. Tôi chợt nhận ra nơi ve áo ngực anh cái lon Thượng Sĩ Nhất. Vội sờ lên cổ áo, tôi mừng thầm nhớ ra là đã tháo bỏ lon Ðại Úy của mình. Tò mò tôi nhận xét người chiến binh đi cạnh tôi. Trên ve áo ngực anh có 2 lỗ thủng nơi chỗ thường gắn cấp bực. Phải là một Sĩ quan. Tôi tin thế và hỏi:

- Anh ở đơn vị nào?

- Sư Ðoàn 1.

Anh tiếp luôn:

- Sư đoàn tập trung ở Vũng Tầu nhưng tôi bỏ, tính về Sàigòn tìm xem vợ con ra sao thì lại kẹt. Còn anh?

- Tôi đang công tác ở Ðà Nẵng.

Anh giải thích thêm:

- Anh em ở đây đủ sắc phục, đủ các đơn vị. Chiều qua tụi tôi tình cờ tụ lại với nhau khi chiến đấu ở dọc xa lộ. Trên cùng một chiến tuyến mà tôi chẳng biết thuộc đơn vị nào. Ðến lúc thưa tiếng súng, hỏi nhau mới rõ chẳng có ai biết đơn vị mình đang chiến đấu là đơn vị nào và cũng chẳng có ai là chỉ huy cả. Thế nhưng, anh em vẫn cứ tiếp tục cầm súng mà không ai bỏ hàng ngũ cả. Thật lạ.

- Bây giờ thì có “chỉ huy” rồi đó.

Người chiến binh đi bên tôi, nghiêm chỉnh trả lời:

- Rất tiếc là anh không dự 1 trận phá vòng vây chiều qua của tụi tôi ở Ngã Ba Long Thành. Vị “chỉ huy” này đã một mình ôm cây Trung liên yểm trợ cho mười mấy anh em vượt ngã ba phía Bắc xuống phía Nam vì bên quận Tân Uyên chúng dầy đặc không còn lối nào thoát. Ai cũng sợ phải vượt Ngã Ba vì lộ trống quá mà. Nhưng nhờ có khẩu trung liên mà 1 đơn vị có dễ đến cả đại đội địch không tiến lên được. Có nhìn thấy anh nằm khơi khơi ôm khẩu trung liên ở bến xe đầu ngã ba mới thấy phục. Ai cũng lên tinh thần cả nên mới cùng nhau tiếp tục chiến đấu đấy chứ.

Một chiến binh đi phía sau cũng góp tiếng:

- Chiến đấu không phải để chạy đâu mà chiến đấu để tìm 1 đơn vị bạn, rồi sẽ nhập vào chiến đấu qui mô.

Tôi quay lại. Người vừa nói hất đầu hỏi tôi.

- Phải vậy không?

Tôi gật, Anh định nói tiếp vừa lúc vị “chỉ huy” reo khẽ:

- Cầu xa lộ.

Chúng tôi theo “lệnh”, đi về hướng bờ sông Sàigòn tránh hướng cầu. Dự định tới bờ sẽ đi ngược lên tới chân cầu để tìm 1 đơn vị lớn nào đó đang trấn cầu ngăn đà tiến của địch.

Buổi sáng một ngày như mọi ngày. Hướng xa lộ vẫn có tiếng xe chạy rào rạt. Người đi lại có vẻ đông đúc. Có lẽ dân chạy di tản về Sàigòn. Vậy chúng sẽ tiến quân lối nào, chúng có dùng xa lộ không. Anh em chúng tôi đang bàn hỏi nhau thì chợt nghe tiếng máy nổ dồn dập rồi chiếc T.54 đầu tiên nhô cái nòng lên trước. Mạch máu anh em chúng tôi căng thẳng. Ôi! Chúng kiêu ngạo quá! Chúng dám tiến quân lẫn trên đường di tản của dân. Vị “chỉ huy” thúc chúng tôi tiến nhanh về phía cầu, bỏ không đi về hướng bờ sông nữa. Trên xa lộ, một chiếc T.54 bắt đầu rẽ xuống bên đường quay nòng về cánh đồng. Chúng đang yểm trợ cho bộ binh qua cầu.

Một tiếng nổ từ phía cầu. Một cụm khói bốc lên từ chiếc T.54. Thế là đạn trên tăng vã ra như mưa rào về phía cầu. Chúng tôi quan sát trên cầu. Từng ụ cát trải dài nhưng tiếng súng vẫn không có. Quân bạn đã rút rồi chăng. Trên mặt lộ lúc này vắng tanh. Phía sau 3 chiếc T.54 là từng đoàn địch quân đang mở rộng vòng tiến lên cầu. Bọn chúng chạy lúp xúp. Có đứa chạy rơi cả mũ, vội quay lại nhặt. Những chiếc nón cối mới tinh và những bộ quân phục cũng mới tinh. Chúng tự tin là vào Sàigòn tiếp thu ư? Có thế, chúng mới mặc quân phục mới khi còn phải chiến đấu.

Bây giờ thì chúng đang mở rộng trận tuyến. Có thể như 1 trung đội đang tiến về phía chúng tôi. Vị “chỉ huy” làm hiệu tay triển khai chiến tuyến. Chúng tôi, 3 người một, nhanh chóng tìm các ụ chiến đấu. Chúng đã tới gần. Chúng định làm 2 gọng kìm bẻ vào chân cầu tiêu diệt quân bạn trên cầu. Vị “chỉ huy” khai hỏa. Chúng tôi đồng loạt nổ ròn vào những cái bia sống rất rõ. Lúng túng mất một lúc tôi mới sử dụng được khẩu A.K. Tôi cố điều chỉnh để đạn không ra liên thanh, quên hẳn nút điều chỉnh. Từng loạt người đổ rập, nhưng vẫn là những bóng người nhấp nhô tiến lại. Có một lúc tôi tự hỏi không biết chúng có được học chiến thuật không mà chúng - chiến đấu kỳ lạ thế. Cứ xồng xộc xông vào lưới đạn, đội hình lung tung. Tôi chợt nhận ra qui luật của chúng. Cứ khoảng 5 phút là một đợt tiến lên rồi lại nằm xuống ngay giữa cánh đồng. Như một cái máy. Khẩu trung liên của chúng tôi như cũng tìm ra được khuyết điểm đó của chúng nên cũng cứ 5 phút một lại quạt một tràng. Cuộc chiến đấu căng thẳng. Sức tiến của địch chậm hẳn lại. Trên cầu súng của bạn lúc này cũng nã xuống như mưa. Hai chiếc T.54 đã bốc cháy. Nhấp nhô trùng điệp phía xa, địch quân đang dồn lên. Trên tuyến chiến đấu của chúng tôi đã thủng, cắt rời ba chúng tôi với anh em cùng vị “chỉ huy”.

Khẩu A.K. của tôi đã hết đạn. Tôi quăng súng nhìn 2 chiến hữu. Một người ngoắc đầu bảo tôi rút. Tôi thấy anh nạp băng đạn kép vào khẩu M.16 của anh và say sưa bắn tỉa như muốn yểm trợ cho tôi rút xuống bờ sông.

Không để lỡ cơ hội. Tôi lăn mình vào 1 bụi rậm sau lưng rồi cứ len theo các bụi lau sậy trườn xuống. Tiếng súng mỗi lúc mỗi xa dần. Ðến khi nhìn thấy bờ nước thì tôi đã cách xa hẳn tuyến chiến đấu rồi. Tìm được một bụi lau lớn, tôi để ngập mình trong làn nước, nhìn trở lại phía các bạn đang chiến đấu. Phía đó, không còn tiếng súng nữa. Phía cầu, khói bốc mù mịt. Nhiều tiếng nổ lớn dội lên. Tôi mong chiếc cầu sập xuống. Nhưng không, nó vẫn đó, vẫn vắt qua hai bờ, lưng cầu uốn lên vạch một đường cong trên bầu trời xanh ngắt. Mặt trời đã cao. Nước trên mặt đã ấm nhưng ở dưới chân vẫn còn buốt. Tôi nhìn về phía bờ bên kia. Tân Cảng - New Port. Hai chiếc tầu Hải Quân nhỏ vẫn còn đó. Tầu thuyền san sát. Người đen nghẹt trên bến.

Tôi ước ao bơi được qua sông. Sông quá rộng.

Lúc này tiếng súng phía cầu chỉ còn thưa thớt. Nhưng bầu trời bỗng rền vang tiếng trực thăng. Tôi mừng thầm. Quân ta đang được trực thăng vận phản công. Một chiếc Chinook rồi 2, rồi 3 lượn vòng về phía thành phố. Không có 1 cuộc đổ quân nào cả. Trên cầu đã có bóng nón cối qua lại.

Tôi ngậm ngùi nhớ vị “chỉ huy”, nhớ các chiến hữu trong mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Họ còn sống không.

Bây giờ, 18 năm sau, tôi vẫn nghĩ họ còn sống, những người chiến binh không còn binh chủng.

* * *

Người kể chuyện vuốt mặt, đứng dậy đi về phía cửa sổ phòng khách. Anh kéo cánh cửa kính. Tiếng rào rạt liên tu bất tận của dòng xe cộ trên đường phố Cali ào vào phòng phá vỡ cái không khí trầm mặc của câu chuyện anh vừa kể.

Cả 4 người chợt nghĩ “Sắp hết ngày Chủ Nhật. Lại sắp bắt đầu một tuần lễ ‘đi cày.’”

Nguyên Huy

Post Reply