Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trịnh Công Sơn Việt Cộng nằm vùng


Trong mấy tuần qua, tôi có đọc 2 bài viết của Trịnh Cung, tức Nguyễn văn Liễu, và bài của anh Bằng Phong Đặng Văn Âu, viết về nhạc sĩ TCS

Trịnh Cung viết: “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị.”

Bằng Phong Đặng văn Âu viết:“Nhạc Sĩ Trinh Công Sơn. Một Thiên tài đồng lõa với tội ác”

Hai tác giả với hai bài viết nói về TCS, nội dung khác nhau, nhưng hầu như cả hai đều đưa ra chỉ một vài dữ kiện, hoặc khách quan, hoặc chủ quan, qua tình bạn của họ đối với nhạc sĩ TCS. Để rồi, Trịnh Cung và Bằng Phong Đặng văn Âu đều không kết luận được, hoặc là không muốn kết luận, một điều quan trọng nhất: Trịnh Công Sơn bên nào? Bên này ? Bên kia? Hay nói trắng ra là: Trịnh công Sơn là ai? Quốc gia hay cộng sản?

Đã bao năm qua, kể từ sau 1975, và mãi đến những ngày gần đây, tôi vẫn giữ thái độ im lặng. Nhưng sau khi đọc xong bài của Trịnh Cung, cũng như của Bằng Phong Đặng văn Âu, tôi quyết định lên tiếng về những gì, mà vì lý do nghề nghiệp, tôi đã phải nắm rất tường tận về TCS. Lý do thì cũng đơn giản, quý vị có thể hiểu được khi đọc xong bài này.

Cuối cùng thì giờ đã điểm. Qua bao nhiêu ca ngợi, bao nhiêu tranh cãi, lý luận, có lẽ, đã đến lúc TCS nên trở lại với những gì của TCS. Đó là SỰ THÂT VỀ CON NGUỜI TCS. Trong một bối cảnh mà đất nước đang nghiêng ngã tang thương bỡi nhiều vấn nạn, cộng với một thảm họa tày trời: SỰ XÂM LĂNG CỦA TOÀN BỘ LỰC LUỢNG CS QUỐC TẾ, ĐẶC BIỆT LÀ TRUNG CỘNG, QUA BÀN TAY CS HÀ NỘI, Trịnh Công Sơn đã cống hiến gì cho quốc gia?

Giữ nhiệm vụ trưởng cơ quan an ninh tình báo Thừa Thiên- Huế từ 1966 đến đầu 1975, tôi có bổn phận phải chịu trách nhiệm chính về vấn đề gìn giữ an ninh trật tự, bảo vệ sinh mạng và tài sản cho đồng bào trong tỉnh. Và trên hết mọi chuyện, là đối phó với cục Tình Báo chiến lược Bắc Việt, lồng vào đó là một mạng lưới tinh vi và dày đặc CS nằm vùng tại Huế. Thật không sai khi nói Huế là một ổ nằm vùng. Do vậy, có lẽ chúng tôi là người “may mắn”(?!) PHẢI có bổn phận “BIẾT” rất “kỹ” về TCS và toàn bộ những phần tử hoạt động CS khác của Huế. Tôi biết TCS và nhóm người nối giáo cho giặc này, dưới tất cả các khía cạnh khác nhau.Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ thói quen đến phẩm hạnh, đến tiểu sử, đến gia đình, thậm chí, nếu cần, thì cả gia phả vv, tôi đều có bổn phận phải biết. Và tôi sẽ lên tiếng một cách thẳng thắng, về những sự việc, thông tin, dữ kiện mà chúng tôi có được về đương sự trong bài viết này. Hy vọng, sẽ cung cấp cho lịch sử, và cho những ai quan tâm đến vấn đề TCS, cũng như các hoạt động chung của đương sự với các phần tử nằm vùng khác tại Huế, mà dù yêu, dù ghét, dù hận thù, dù ngưỡng mộ tôn sùng, dù căm phẫn.... những thông tin chính xác và cần thiết, để quý vị có thể tự mình thẩm định, lại một cách đúng đắn, về con người TCS. Bởi vì, mỗi con người chúng ta, dù thế nào đi nữa, không ai muốn bị BỊP cả!

Trịnh công Sơn bên nào: Bên này ? hay bên kia ? Quốc gia?, Cộng sản?

Trước khi xác nhận cũng như công bố nhiều chuyện liên quan đến TCS, xin được phác họa lại tình hình an ninh và nội chính của Thừa Thiên-Huế, sau ngày 1/11/ 1963:

Sau đảo chánh, ảnh hưởng và thế lực chính trị của PG Ấn Quang, và đặc biệt Trí Quang, Đôn Hậu đối với chính quyền trung ương cũng như địa phương, và trong hàng ngũ tín đồ Phật giáo tại miền trung, nhất là tại Huế, QUÁ MẠNH!

Chùa Từ Đàm trở thành Dinh Độc Lập II, đó là trung tâm quyền lực thật sự cho cả Miền Nam VN. Tại miền trung, chùa Từ Đàm là tàn cây cổ thụ đầy bóng mát, che chở cho mọi hoạt động của các cơ quan dân vận, tôn giáo vận, trí thức vận, tổ chức học sinh, sinh viên “Giải Phóng” thành phố thuộc Đại Học Huế và các trường Trung học. Tất cả đều nằm dưới sự điều động của tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và Thành ủy Việt cộng.

Hầu như không có một cơ quan an ninh nào của chính phủ VNCH dám sờ vào các ổ nằm vùng gần như công khai này. Họ chỉ lấy vải thưa để che mắt thánh, nhưng thật tình không ai dám đụng đến họ cả. Nếu đụng đến họ, sẽ bị lu loa là “tàn dư Mật Vụ Nhu Diệm”, là “đàn áp Phật Giáo”, là TÀN ĐỜI! Mọi tổ chức, mọi cơ sở nội thành của Việt Cộng được phát triển hết năng xuất. Tất cả là nhờ tài điều binh khiển tướng của Trung Tá điệp Viên Hòang Kim Loan, thuộc Cục Tình báo Chiến lược Bắc Việt. Trung gian liên lạc là bí thư thân tín của Thích Trí Quang: Nguyễn Khắc Từ. Sau 1975, Nguyễn Khắc Từ lộ diện là viên đại tá Việt Cộng. Hổ trợ tận tình cho Hoàng Kim Loan là Trí Quang, Đôn Hậu.

Có thể nói từ 1963, sau đảo chánh, đến 1966, là thời gian nỗi lọan Miền Trung của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu. Ba năm oan nghiệt này là thời đại mạt vận của tất cả các cơ quan tình báo dân sự cũng như quân sự của chính phủ VNCH. Trí Quang, Đôn Hậu và hệ thống rất lớn các “thầy tranh đấu” của họ, đã xóa sổ các cơ quan tình báo xuất sắc của chính phủ, tại nhiều nơi. Đặc biệt thảm hại nhất là tại Thừa Thiên- Huế. Hủy diệt các cơ quan tình báo có nghĩa là mở đường cho CS tự do ra vào, có nghĩa là sinh mạng Miền Nam đang hấp hối!

Trước 1963, Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung do ông là do ông Dương văn Hiếu làm trưởng đoàn. Nhưng, người chỉ huy thật sự bên trong lại là ông Ngô đình Cẩn. Ông là một người có năng khiếu thiên phú về tình báo, dù chưa hề qua một trường lớp đào tạo chính quy nào. Có thể nói đây là một năng khiếu bẩm sinh kỳ lạ của ông, đặc biệt là năng khiếu chống du kích chiến và chống dấy loạn trong thành phố. Cơ quan tình báo tinh nhuệ này đã phá vỡ và bắt giữ hầu như toàn bộ các cán bộ tình báo cao cấp của Bắc Việt gởi vào miền Nam. ĐCTĐNMT đã bẽ gãy mọi mưu toan của Hà Nội về chính trị cũng như quân sự, nhất là mục đích phá rối chính trị để làm suy sụp Miền Nam. Xin dẫn chứng tài năng và công lao rất lớn của ông Ngô đình Cẩn, qua lời nói của đối thủ: đại tướng CS Văn Tiến Dũng: “ Dưới thời Diệm, ta đã gởi vào Miền Nam 60 ngàn cán bộ, cuối cùng chỉ còn 5 ngàn, như vậy là thiệt hại đến 90%”. Sau khi ông anh là TT Diệm bị đảo chánh, bị đám tuớng lãnh phản loạn bất chấp luật pháp, bất chấp kỷ cương phép nước, bất chấp đạo lý, bất chấp tình người ,giết, thì ông em út cũng bị cùng chung số phận! Tòa án gì đây? Luật pháp gì đây? luật của Trí Quang? Luật của Đôn Hậu? Luật của cái gọi là“ Phật Giáo đấu tranh”?? Tội gì thưa quý vị? Tội bắt nhiều CS! Ông Dương văn Hiếu, nhờ có ông Cẩn thế mạng rồi, nên quý thầy hơi khó làm áp lực giết thêm nữa. Sau đó, nhờ “đế quốc Mỹ xâm lược” can thiệp, nên chỉ bị tù.

Một cơ quan tình báo tinh nhuệ, đặc biệt, và bí mật khác, do ông Phan Quang Đông chỉ huy cũng bị xóa sổ. Cơ quan này hoàn toàn chỉ liên quan đến những điệp vụ quan trọng ngoài bắc mà thôi. Họ không hề dính dáng gì đến chuyện đàn áp Phật Giáo cả, cũng bị Thích Trí Quang vu vạ rồi giết. Theo lệnh Hà Nội, Trí Quang áp lực, yêu cầu chính phủ đương nhiệm, qua trung gian Nguyễn Chánh Thi, tử hình Phan Quang Đông, một viên chức chỉ huy tình báo tài ba xuất sắc, với tội “ Mật vụ Nhu Diệm”!

Cơ quan tình báo thứ 3 họat đông rất hữu hiệu tại Huế, là Ty Công An Thừa Thiên của chính phủ VNCH. Số phận cơ quan này cũng bi thảm không kém. Ông Lê Văn Dư Trưởng ty bị bắt giữ.

Hầu hết nhân viên phụ trách tình báo của 3 cơ quan này, hoặc bị sa thãi, hoặc bị bắt, hoặc bị thuyên chuyển khỏi các chức vụ trọng yếu. Tất cả cũng với tội danh tương tự: “ Mật vụ Nhu-Diêm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy v,v…”

Sau khi loại trừ sạch các thành phần “Mật vụ Nhu Diệm ác ôn”, các thầy liền thay vào cái bình cũ là cơ quan tình báo của VNCH, loại rượu mới do quý thầy bào chế ra, đó là “rượu nằm vùng”!!

1. Nguyên Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn văn Cán, một cơ sở tình báo rất quan trọng của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan, được phong làm truởng ty CSQG Thị xã Huế. Ngoài ra, Nguyễn văn Cán còn là cơ sở nuôi dưỡng tên Phan Nam, Thành ủy viên thành ủy Việt Cộng Huế, đặc trách an ninh của cơ quan thành ủy VC, trú ngụ thường xuyên trong nhà của Nguyễn văn Cán. Sau 1975 Phan Nam làm Chủ Tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế.
2. Trần văn Cư, đệ tử thân tín của Ông Đôn Hậu, được phong làm trưởng ty Công An Thừa Thiên. Trần văn Cư chính là người thẩm vấn thụ lý nội vụ ông Phan Quang Đông. Thừa lệnh CS Hà Nội, Đôn Hậu, và Trí Quang ngầm ra lệnh cho chính quyền, xử bắn Phan Quang Đông tại Sân Vận Đông Tự Do, thuộc quận III thị Xã Huế, với tội danh : ” Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo thủ tiêu Quí thầy,v.v…”

Đau đớn và cười ra nước mắt, là từ 1966 đến 1968, hai ty Cảnh Sát lại giao cho hai tay nội tuyến Việt Cộng: Ty CSQG tỉnh Quảng Trị thì Trưởng ty lại là Đại Úy Lê Cảnh Thâm, làm việc cho cơ quan Quân Báo của VC. Ty CSQG Thừa Thiên-Huế thì Trưởng ty là Đoàn Công Lập, nhân viên thuộc cấp của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan.

Khoảng thời gian dài này là thời hoàng kim tuyệt đỉnh của các hoạt động CS nằm vùng. Chỉ cần dán nhãn hiệu “ Mật vụ Nhu Diệm đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy” cho kẻ thù, là mọi việc xong ngay! Cả Miền Nam hoang mang, lo sợ, điêu đứng, biết bao thân phận bị vùi dập, cũng vì cái khẩu hiệu này.

Sau khi 3 cơ quan tình báo trọng yếu và vô cùng hữu hiệu này bị “các thầy” xóa sổ, các tổ chức cơ sở Việt Cộng trong thành phố Huế sinh sôi nẩy nở, phát triển tự do như rạ, như nấm . Chính quyền tuy biết, nhưng không dám đụng đến, vì sợ đụng chạm đến Phật Giáo. Sợ đến kinh hoàng mấy chữ “ Mật thám Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo”. Quý thầy đã thật sự thành công trong việc tự tôn, tự đồng hóa “CÁC THẦY LÀ PHẬT GIÁO”. Nói đến đây tôi không khỏi không bật cười, nhớ đến chuyện cũng tương tự như vậy. Đó là chuyện trên 30 năm nay, đảng CSHN cũng đã tự đồng hóa mình là tổ quốc! Và CS cũng đã thành công! Quý thầy cũng thành công!

Đại đa số các tổ chức CS như thế và hầu hết những kẻ tham gia trong các tổ chức đó, đều đã được Trí Quang, Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan bọc cho cái vỏ tôn giáo. Tỷ dụ như Liên Đoàn Học sinh, Sinh viên Phật tử, công chức Phật Tử, Quân nhân Phật tử, Cảnh sát Phật tử, Tiểu thương Phật Tử chợ Đông Ba v..v...

Thành phố mọc lên như rạ những địa điểm hội họp, tiếp xúc, của nhiều trí thức, giáo sư , sinh viên, học sinh, họat động cho các tổ chức trí thức vận, tôn giáo vận của Thành ủy Huế. Những địa điểm nầy trong danh từ chuyên môn chúng tối gọi là những “căn cứ lõm” của địch, tỷ như:

1- Quán Café “Bạn Tôi.”

Ở đường Đào duy Từ , tại vùng Đập Đá thuộc quận III thị xã Huế.

Thành lập bởi Lê văn Sâm, SV luật khoa, chũ quán. Có Ngô Kha, vợ chồng Giáo sư Đỗ Long Vân ở Pháp về, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn hữu Ngô, nhà văn Túy Hồng, Phan Duy Nhân, Trần Quang Long.

2- Lực lượng Giáo chức tranh đấu tại Huế:

Chũ tịch, kiêm chủ bút diễn đàn báo Dân là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phó chũ tịch là Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm.

Ngoài ra còn có tờ Sinh Viên Huế của tổng hội SV Huế, và tờ Lập Trường của nhóm trí thức đại học Huế, do giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chũ trương: Chống lại cái gọi là “Chế độ Diệm mà không Diệm”.

Quý vị độc giả, ai là người uyên thâm, xin hãy diễn giải và dẫn chứng rành rẽ, cụ thể, chứng minh dùm tôi, cụm từ “ Diệm mà không Diệm” này! Tôi chịu thua. Những lộng ngôn này là do ai làm ra? Ai sáng tác? Ai nghe theo? Mục đích là gì? Phá nát tất cả các chính quyền Miền Nam? Bất kể là ai lãnh đạo?

Tổng thống Ngô đình Diệm đã bị họ gián tiếp giết, phong cho danh hiệu mang đầy tính tội ác, rùng rợn, răn đe: “Mỹ Diệm”, “Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy”. Đất nước sau đó tang thuơng đổ vỡ, chính trị rối loạn, nhưng vẫn chưa vừa lòng. Thừa thắng xông tới, họ răn đe các chính quyền kế tiếp khác bằng khẩu hiệu mang tính bình mới rượu cũ: “ Diệm mà không Diệm”. Chỉ đơn giản vậy, nhưng buồn cười thay, một loạt các chính quyền sau đó đều xếp re, không dám hó hé với nhóm “ Phật Giáo Đấu Tranh” này

3- Tuyệt Tình Cốc.

Nằm tại hẽm Âm Hồn thuộc quận I thị xã Huế. Nguyên là ngôi nhà của cha mẹ Hòang Phủ Ngọc Tường, Hòang Phủ Ngọc Phan. Sau khi hai ông bà dời nhà ra gần cửa Đông Ba, anh em Tường, Phan biến nơi nầy thành trung tâm hội họp hoạt động của đám sinh viên, trí thức cơ sở thành ủy VC Huế.

Tuyệt tình cốc là một ngôi nhà tranh, trong một khu vườn nhỏ có cây ngoc lan. Đến mùa hoa nở, hương thơm ngát.

Nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Ngọc Phan đã đặt tên cho cây ngọc lan này là “Cây hoa tình”, và ngôi nhà kia là “Tuyệt tình cốc”,vay mượn trong tác phẩm kiếm hiệp Thần điêu đại hiệp của tác giả Kim Dung

Tuyệt tình cốc thường xuyên do anh em Hòang Phủ Ngọc Tường chủ trì sau nầy còn có họa sĩ Đinh Cường.

Trịnh Công Sơn, nữ văn sĩ Túy Hồng, Ngô Kha, Trần vàng Sao, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân, Trân Xuân Kiêm, chũ tịch tổng hội sinh viên Huế, cũng đã xuất hiện nhiều lần tại đây. Hầu hết đám này là cơ sơ sinh viên và trí thức vận của thành ủy Huế

Tuyệt tình Cốc cũng là nơi xuất bản tờ báo Việt Nam Việt Nam của nhóm trên, trong khoảng thời gian phong trào tranh đấu Miền Trung của Thích Trí Quang, giai đọan cao điểm vào đầu hè 1966.

4-Căn phòng của Lê Văn Hảo,

Giáo Sư nhân chủng học, Đại Học Huế cũng là nơi mà Hoàng phủ Ngọc Tường và đám sinh viên họat động cho Thành ủy VC dùng làm nơi viết và xuất bản báo chí.

Vô số những trí thức, học sinh, sinh viên hoạt động cho VC tại thành phố Huế. Họ tham gia sách động, trong vai trò lực lượng quần chúng: Cách Mạng đấu tranh của biến cố 1963, rồi cuộc tranh đấu bạo động 1966. Hãy nhìn, để phải giật mình tự hỏi: “Huế không mất vào tay CS trước Mậu Thân 1968 thì quả thật là một phép lạ.”. Hãy nhìn danh sách một ổ việt cộng nằm vùng dưới đây:

- Nguyễn Thiết Sinh viên Luật Khoa phụ trách Thanh niên Thành ủy Huế thóat ly lên Mật khu 1965

- Trần Quang Long: SV Việt Hán Đại Học sư phạm thoát ly năm 1968.

- Lê Minh Trường Sinh Viên Mỹ Thuật: vượt ngục lên mật khu, sau đó xâm nhập tái họat đông bị lực lượng CSĐB phục kích bắn chết tại làng Hải Cát Hạ, quận Nam Hòa.

- Vĩnh Kha. SV văn Khoa: chũ tịch Tổng hội SV , đoàn trưởng đoàn Sv Phật Tử.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường: giáo sư.

- Hòang Phủ Ngọc Phan: SV y khoa.

- Nguyễn Đính: SV văn khoa, bút hiệu Trần vàng Sao.

- Phạm thị xuân Quế: bác sĩ. Chủ tịch hội phụ nữ thành phố Huế.

- Thái Thị Ngọc Dư , sau này đậu Tiến sĩ Địa lý học tai Pháp

- Trần Anh Tuấn: Tiến sĩ Luật Khoa tại Mỹ

- Hoàng văn Giàu. Phụ khảo đại học văn khoa Huế. Đoàn Trưởng đoàn SV Phật Tử Huế. Hiện ở Úc Châu

- Thái thị Kim Lan: sinh viên văn khoa , sau du học đậu Tiến Sĩ triết học tai Đức

- Nguyễn Đắc Xuân: SV việt hán, đại học sư phạm.

- Hùynh sơn Trà: SV y khoa, thoát ly 1968

- Nguyễn văn Sở: Đại học Sư phạm Anh văn. Thóat ly 1968

- Lê Thanh Xuâ: thoát ly 1968.

- Ngô Yên Thi: SV văn Khoa. Thoát ly 1968.

- Nguyễn hữu Ngô SV Mỹ thuật

- Trần Hoài SV Việt Hán: Đại học sư pham .Thóat ly 1972

- Nguyễn Đức Thuận VS đại học sư phạm Anh văn. Thóat ly 1968

- Trần bá Chữ: SV đại học sư phạm toán. Thoát ly 1968

- Nguyễn thị Đoan Trinh ,SV dược khoa Đại học Saigòn, sát thủ Mậu Thân 1968. Y thị trực diện đeo băng đỏ, nổ súng, hạ sát rất nhiều người. Thoát ly ngay sau CS bại trận Mậu Thân

- Lê văn Tài: SV Mỹ thuật, thoát ly 1968. hiện ở Úc Châu.

- Nguyễn văn Mễ: học sinh lóp 12 Quốc Học. Thóat ly 1968

- Lê Phước Thúy: SV đại học Sư phạm .thóat ly 1968

- Lê Công Cơ SV đại học khoa học .thóat ly 1968

- Lê khắc Cầm: sinh viên, em giáo sư Lê khắc Phò

- Lê văn Hảo: giáo sư nhân chủng học Đại Học Huế.

- Bà Đào thị Yến, tức Bà Tuần Chi nguyên Hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và cũng là tình nhân của Thích Đôn Hậu. Thoát ly ra bắc cùng với Thích Đôn Hậu, sau Mậu Thân, cùng với Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm. Giáo sư Lê văn Hảo v…v…

- Bửu Chỉ: sinh viên Mỹ thuật.

- Phan Duy Nhân: Sinh viên.

Và còn rất nhiều nữa….

Những cơ sở này, hiệp lực cùng với Thích Trí Quang, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu, Thích Chánh Trực, bí thư thân tín của Thích Trí Quang là Đại Tá tình báo cộng sản Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan, Trung tá điệp viên cục tình báo chiến lược Hà Nội, như thế đủ để phá nát Huế chưa? Thưa, Quá đủ!……..

Vì thế, miền trung, đặc biệt Huế, đang bị nhuộm đỏ cách mạng, vừa hồng vừa chuyên. Miền Trung đang sôi sục lửa đấu tranh căm thù giai cấp! đang là địa ngục của một mạng lưới CS nằm vùng khổng lồ, bán mình cho quỷ

Ngày 23-1-1965 Thích Trí Quang cho lệnh học sinh sinh viên, đồng bào biều tình kéo đến đốt tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa. Sau đó đoàn biểu tình kéo đến đốt phòng Thông tin văn hóa Hoa Kỳ (USIS) tại số 8 đường Lý Thường Kiệt ,thuộc quân III thị xã Huế.

Ngày 27-2-1965 đám này họp báo ra mắt “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình và Hạnh Phúc Dân Tộc” và “Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết”.

Chũ tịch là Thượng Tọa Thích Quãng Liên. Các thành viên: Bác sĩ Thú y Phạm văn Huyến, thân sinh bà Phạm Thị Thanh Vân ,tức bà Ngô Bá Thành. Nhà báo Phi Bằng, tức Cao Minh Chiến, Luật sư Trịnh Đình Thảo. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Bác sĩ Lê Khắc Quyến khoa trưởng Đại Học Y Khoa Huế cũng bí mật nằm trong tổ chức nầy.

Về Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, chủ tịch là Luật Sư Nguyễn Long. Các đoàn viên chủ chốt là kỹ sư Hồ văn Bửu, kỹ sư Tô văn Can.

Hai Tổ chức nầy đều đòi hỏi:

* Quân đội Hoa Kỳ phải triệt thoái khỏi miền Nam việt Nam.
* Vấn đề thống nhất của Việt Nam phải để cho người Việt Nam tự quyết.

Ngày 1-3-1965, Thủ tướng Chính phủ VNCH, bác sĩ Phan Huy Quát, ra lệnh cách chức gần 50 công chức và khoảng 30 người bị bắt giữ. Trong đó có Cao Minh Chiến, giáo sư Tôn thất Dương Kỵ và Thú Y sĩ Phạm Văn Huyến.

Ba nhân vật nầy được giải ra Huế. Tướng Nguyễn Chánh Thi muốn thả dù nhóm này qua bên kia vỹ tuyến 17. Thủ Tướng Phan Huy Quát phản đối vì sợ báo chí và dư luận quốc tế xuyên tạc.

Ngày 19-3-1965, Tướng Nguyễn Chánh Thi chũ tọa một buổi lễ ngay tại bên này cầu Hiền Lương, sau bài diễn văn, Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và bác sĩ thú y Phạm văn Huyến được dẫn từ phía bên nầy cầu, thuộc vùng chính phủ VNCH, sang đến giữa cầu, giao cho Cộng sản Hà Nội. Cả ba lặng lẽ đi qua phía bên kia cầu phân chia biên giới Nam Bắc.

Tình hình Huế mỗi ngày mỗi trầm trọng. Ngày 6-6-1966 lúc 12 giờ trưa, trên đài phát thanh tranh đấu tại Huế, Thích Trí Quang, tên cờ gian bạc lận, buôn thần bán thánh này, rút con bài cuối cùng: “Bàn thờ Phật”. Trí Quang chơi xã láng canh bạc cháy túi, không kể gì đạo đức tối thiểu: Đưa bàn thờ Phật xuống đường! Phật nào đồng ý cho hành động này?... Ngược lại, Phật đã độ trì người con trung nghĩa xứ Huế: đại Tá Nguyễn Ngọc Loan và lực luợng Đặc Nhiệm dẹp loạn miền Trung

Chỉ sau hai tuần lễ kể từ ngày 9-6-1966 toàn bộ lực lượng tranh đấu của Thích trí Quang đã bị dẹp tan. Thích Trí Quang và đồng bọn, Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh QĐI. Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư Lệnh Sư Đòan I. Tất cả bị Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ.

Tôi liên tục mở các cuộc hành quân cảnh sát, bắt giữ toàn bộ đám cơ sở việt cộng nằm vùng cài trong Phật giáo, trong các tổ chức giáo chức, học sinh , sinh viên thuộc lực lượng tranh đấu của Thích Trí Quang. Một số lớn bọn chúng bị bắt giữ ngay, nhưng cũng có một số ít đã được Trung Tá điệp Viên Hoàng Kim Loan gởi giao liên và đưa lên mật khu. Điển hình hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân.

Chuyện khám phá ra TCS hoạt động nằm vùng, là do chúng tôi theo dõi anh em họ Phan. Cuộc đào thoát của hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Phan đã may mắn làm bộc lộ chân tướng của Trịnh Công Sơn.

Người đứng ra thi hành là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, và Lê Cảnh Đạm, lúc đó là Tổng Thư Ký Đại Học Y Khoa Huế. Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm là cán bộ trí thức vận của cở quan thanh ủy VC Huế.

Và tôi đã vô cùng bàng hoàng, buồn bả ngẩn người, khi thấy Trịnh Công Sơn dính trong vụ này.

Lực lượng CSĐB đã bám sát theo dõi hai mục tiêu Tường và Phan từ lúc bọn này ẩn trốn tại nhà sách Khánh Quỳnh tại ngã tư Anh Danh, thuộc Quận I thành phố Huế. Tiệm sách nầy là của gia đình Tôn Thất Dương Kỵ một cán bộ cộng sản gộc tại Huế.

Sau đó, bọn chúng di chuyển qua trốn tại số 66 đương Phan Chu Trinh Quân III thị xã Huế. Đây là nhà an toàn của cơ quan Thành ủy VC Huế. Chủ nhân cũng là cơ sở nội thành, tên là Nguyễn Chính. Số 66 Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư Phan Chu Trinh Nguyễn Trường Tộ, ngay đầu cầu Phủ Cam. Bên này cầu Phủ Cam là nhà tên Chính, và bên kia cầu Phủ Cam là nhà Trịnh Công Sơn, nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện với tòa Tổng Giám Mục Huế.

Đó là một dãy chung cư. Căn của Trịnh Công Sơn và gia đình trú ngụ là: 11/3 Đường Nguyễn Trường Tộ. Quận III, thành phố Huế.

Tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 11/6/1966. Trời nhá nhem tối, tôi chỉ huy điệp vụ, đứng hơi xa hiện trường. Hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường từ nhà Chính, bên này cầu Phủ Cam, đi rất nhanh sang nhà Trịnh Công Sơn, bên kia cầu Phủ cam. Trịnh Công Sơn đã có kế hoạch chuẩn bị trước cho hai tên này ăn cơm tối tại nhà. Sau đó, một chiếc xe hơi màu trắng đến đón Tường và Phan đi ngay.

Tài xế là Lê Cảnh Đạm. Hộ tống là giáo sư Tôn thất Dương Tiềm. Họ lên chùa Thiên Mụ, và sau đó đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.

Chiếc xe hơi trắng đó là của bà Tuần Chi, tức Đào Thị Yến. Mậu Thân 1968, bà giữ chức vụ Phó chũ tich Ủy Ban nhân Dân Thành Phố Huế. Vài ngày sau, đã cùng một phái đoàn đông đảo trí thức miền Nam và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu- mà theo sự theo dõi ghi nhận của CSQG Thừa Thiên Huế, cũng là người tình của bà, thoát ly ra Bắc.

Đó là lần đầu tiên mà lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên Huế phát hiện hành động tiếp tay cộng sản của Trịnh Công Sơn.

Tôi sẽ không như Trịnh Cung hoặc Anh Đặng văn Âu chỉ nói thoáng qua về TCS. Vì “ méo mó nghề nghiệp”, tôi sẽ đi từng chi tiết một. Từ đời tư, gia đinh , tình ái, sức khỏe, cá tính, tham vọng, đến những công tác tình báo mà TCS cộng tác với chúng tôi, những công việc mà TCS cộng tác với Cộng Sản, những công việc mà TCS cộng tác với Tình báo Ngọai Quốc. Kết quả và ảnh hưởng của những hành động của đương sự, đã gây tác hại như thế nào cho Miền Nam VN.

Đương nhiên sẽ đụng chạm và gây sóng gió. Và sóng gió không chỉ giới hạn riêng nhân vật TCS. Nhưng chỉ là sóng gió cho những ai trót đem lòng ngưỡng mộ tôn thờ nhân vật này một cách nhẹ dạ mù quáng. Còn những ai có chút bình tâm suy xét, biết yêu lấy quê hương khốn khổ này, thì những thông tin mà tôi đưa ra, sẽ chỉ là những xác tín. Nó rành rành như 2+2 là 4. Với tất cả lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với người dân Miền Nam và với lịch sử. Những gì tôi viết, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi sẵn sàng đối chất vói bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào về vấn đề TCS. Và đặc biệt tôi càng rất muốn đối chất với những ai cho rằng những thông tin mà tôi đưa ra là sai trái về TCS và bất cứ nhân vật nào hoạt động CS có tên trong bài này

Ngay sau đó, tôi cho lệnh mở hổ sơ TCS, điều tra lý lịch chi tiết, bám sát theo dõi đương sự. Công việc nầy được giao cho toán xâm nhập E-16, mà trưởng toán là anh Nguyễn Bá Sơn.

Một thời gian sau, nhiều phát hiện cho thấy, TCS từ lâu đã có quan hệ chặt chẽ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Phan Duy Nhân, và đặt biệt với một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành ủy VC. Cán bộ đó là Lê Khắc Cầm, em ruột của giáo sư Lê khắc Phò. Y sống hợp pháp trong thành phố Huế, Trịnh Công Sơn rất thường xuyên liên lạc với y

Ngoài ra, toán theo dõi cũng phát hiện được một số các cơ sở trong tổ chức trí vận thuộc tổ chức Hoc sinh Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế cũng có liên lạc chặt chẽ vói TCS như:

Huỳnh Sơn Trà, SV Y khoa. Đặng văn Sở, Đai học Sư phạm. Lê Thanh Xuân SV Luật khoa. Trần Hoài Đai học sư phạm Việt Hán. Giáo sư Ngô Kha, Đinh Cường, Trần quang Long, Trần Vàng Sao, Bửu Chỉ, và nhiều….nữa….

Với những dữ kiện, tin tứ, của trưởng toán xâm nhập Nguyễn bá Sơn trình lên, tôi quyết định móc nối, ép TCS làm tình báo viên xâm nhập trong tổ chức trí vận và tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng của cơ quan thành ủy VC Huế.

Công việc nầy không khó. Vì đã nắm rất vững vàng và có đầy đủ bằng cớ là TCS hoạt động CS, nên khi tôi bí mật tiếp xúc với TCS tại nhà an toàn của cơ quan tình báo Thừa thiên Huế, trong khoảng thời gian gần 4 tiếng đồng hồ, TCS, không còn cách nào khác, buộc phải cộng tác.

Và tôi có tin TCS không? Theo bản tính nghề nghiệp, dĩ nhiên, tôi phải nói chữ không. Ngay sau đó, tôi cài thêm một nhân viên tình báo xâm nhập tiếp cận vói TCS và những bạn bè cơ sở nội thành VC của TCS để có thể theo dõi và phối kiểm một số tin tức mà TCS cung cấp cho chúng tôi, cho đến tận ngày 29 tháng tư 1975.

Nhân viên này chính là một nhân chứng sống, để có thể xác nhận cho những ai còn thắc mắc rằng có phải TCS là nhân viên tình báo xâm nhập của lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, gài trong tổ chức cơ quan trí vận của thành ủy VC Huế hay không. Chính anh ta là người mà tôi đã giao cho ba giấy chứng nhận để đưa tận tay cho ba người: TCS và 2 người khác, xin tạm dấu tên

Đó là ba “Sự vụ lệnh công tác đặt biệt’ do tôi, với tư cách là Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế và là Tổng Thư ký điều hành Ủy Ban Phượng Hoàng tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, “yêu cầu mọi cơ quan Quân, Dân Chính, giúp đỡ người cầm giấy này đang thi hành phận sự”.

Sự Vụ Lệnh đặc biệt mà tôi cấp cho Trịnh Công Sơn là một lá bùa hộ mạng cực mạnh, bao bọc cho anh ta trong suốt nhiều năm. Nó đã giúp anh ta trốn quân dịch, khỏi bị bắt trong các cuộc ca hát phản chiến, hoặc biểu tình chống chiến tranh, chống chính phủ VNCH.

Vậy mà trong nhiều năm qua tại hải ngoại có một vài bài viết nói rằng trong thời gian chiến tranh, TCS phải trốn tránh cực khổ, nhọc nhằn để khỏi bị bắt đi quân dịch. Rõ là họ chỉ viết theo trí tưởng tượng, những hiẻu biết mù mờ, hoặc theo lời kể vu vơ mơ hồ đâu đó.

Nhân viên giao sự vụ lệnh đặc biệt của tôi cho Trinh Công Sơn hiện đang định cư tại vùng ngoại ô Washington D.C. Hoa Kỳ. Anh ta là một nhân chứng sống về vụ nầy.

1- Lý lịch ghi nhận tại cơ quan CSQG Huế

Sinh ngày 28/2/1939

Học lực: Tú tài I, tức lớp 11. Chương trình Pháp.

Tốt nghiệp trường sư phạm Quy Nhơn.

Giáo viên Tiểu học.

Nghiện rượu và thuốc lá nặng.

Sức khỏe trung bình.

Bị bệnh xuất tinh sớm, sau đó đến 1974 hoàn toàn bất lực.

Bản chất: Trầm lặng , kín đáo, khôn ngoan, giỏi che đậy ý nghĩ của mình.

Xem trọng tiền bạc, có tính phản bội , trọng phú khinh bần, sẵn sàng quay lưng với bạn bè hay ân nhân của mình trước kia, nếu như họ sa cơ lỡ vận

Gia đình:

Phụ thân của TCS là một quân nhân phục trong quân đội Pháp, nghành tình báo, phòng 2. Ông bị tử nạn xe hơi do xe của quân đội Pháp gây ra.

TCS có một người Cậu ruột là Lê văn Tông, một thương gia giàu có tại đường Phan Bội Châu, Huế. Ông nầy có vợ lai Pháp hiện định cư tại Pháp. Ông ta là võ sư Nhu Đạo Judo club Huế. Thật ra TCS không học nhu đạo ngày nào cả. có lẽ Trịnh Cung không biết, nên đã viết TCS có tập nhu đạo. Trịnh Công Hà, em TCS mới học nhu đạo. Hà là người từng gây chấn thương cho Trịnh Công Sơn khi Trinh công Hà dùng một thế võ khóa chặt TSC giữa sàn nhà, trong lúc hai anh em giỡn chơi với nhau.

TCS là anh đầu trong một gia đình đông con.

Các em trai là:

1- Trịnh Công Hà.

Sĩ Quan Quân Lực VNCH

Cấp bậc cuối cùng : Đại úy

2- Trịnh xuân Tịnh

Trốn quân dịch.

Các em gái:

1- Trịnh vĩnh Thúy

Chồng là giáo sư Ngô Kha.

2- Trịnh vĩnh Tâm.

Chồng là Đại úy QLVNCH Hoàng Tá Tích. Hoàng Tá Thích có anh ruột là Hoàng Xuân Tùy cấp bậc Đại Tá, Chính ủy Sư Đoàn Điện Biên Việt cộng. Sau 1975 làm Thứ trưởng bộ Đại Học.

3- Trịnh thị Hồng Diệu. Không có gì đặt biệt.

4- Trịnh thị vĩnh Ngân. Không có gì đặc biệt.

5- Trinh vĩnh Trinh, em út. Theo ghi nhận, Trịnh vĩnh Trinh cùng mẹ khác cha với những người trên.

Đã có quá nhiều tranh cải về TCS, quá nhiều câu hỏi được đặt ra: ‘Trịnh Công Sơn bên mô? Bên Ni? Bên tê”.

Trong chức vụ và trách nhiệm của một Phó trưởng Ty CSĐB và sau đó là Chỉ Huy Truởng BCH/CSQG/Tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế trong 9 năm, từ tháng 6/1966 đến đầu năm 1975, và là người đích thân áp lực, móc nối và sau đó điều khiển TCS trong chiến dịch xâm nhập vào các bộ phận trí thức vận, tôn giáo vận. học sinh sinh viên Giải Phóng Thành Phố Huế, qua những phòng trào quần chúng đấu tranh tại đô thị của cộng sản, tôi có thể xác nhận rõ ràng và minh bạch về con người của Trịnh Công Sơn:

- Trịnh công Sơn: Bên ni. Quốc gia

- Trịnh Công Sơn cũng là: Bên tê. Cộng sản Hà nội

- Trinh Công sơn còn có khả năng là : Bên nớ. Tình báo ngoại quốc

Hay nói một cách thẳng thắn, theo danh từ chuyên môn của ngành tình báo, thì Trịnh Công Sơn là điệp viên hai mang 100% và có khả năng mang thứ ba là làm cho cơ quan tình báo ngọai quốc. Nhưng vấn đề đuợc đặt ra là, mang nào là mang chính ?

I- Trịnh Công Sơn: Bên ni.

Có phần đúng, TCS bên ni. Chính tôi đã tổ chức TCS làm tình báo viên cho ngành Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế. Mặc dầu trong khoảng thời gian từ 1966 đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 cũng có lúc gián đoạn tạm thời vì anh ta không ở Huế. Nhưng chung chung thì anh ta đã hợp tác với chúng tôi trong khoảng thời gian không phải là ngắn.

Có người sẽ đặt câu hỏi, cái gì đã làm cho Trinh Công Sơn hợp tác với Liên Thành, hay nói thẳng ra là chấp nhận làm tình báo viên cho CSĐB/ thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên- Huế:

1- vì có máu phiêu lưu ưa mạo hiểm nuốn thành điệp viên?

Câu Trả lời: Không phải.

2- Vì tình cảm cá nhân giữa Liên Thành và Trịnh Công Sơn? Vì hai người quen biết với nhau từ lâu?

Câu trả lời: cũng không phải.

3- Vì tinh thần ái quốc, tinh thần trách nhiệm của người quốc gia, tinh thần trách nhiệm của một người trẻ đối với hiện tình đất nước vào thời điểm đó?

Cậu trả lời: lại càng không phải.

4- Vì quyền lợi bản thân, vì an ninh bản thân?

Câu trả lời: Đúng. Hoàn toàn đúng!

Khi tổ chức TCS, tôi đã dùng chiến thuật “Cây gậy và củ rà rốt”:

Tôi đã đưa ra những bằng chứng rành rành hành động tiếp tay của TCS trong việc đào thoát của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, do cơ quan B5 và thành ủy Huế trực tiếp tổ chức. Rồi việc một số cơ sở nội thành VC trong giới trí thức, sinh viên tiếp xúc thường xuyên với TCS, và nhất hạng là việc cán bộ Thành ủy Việt Cộng Huế Lê Khắc Cầm, đã nhiều lần tiếp xúc vói TCS.

Tôi đã nói với TCS:

“Với chừng đó sự việc đủ cho tôi có thể ký lệnh bắt giữ anh, cho thẩm vấn , thiết lập hồ sơ, không đưa ra tòa, mà trong quyền hạn và chức vụ của tôi ,ngoài Chỉ huy Trửởng CSQG, Tổng thư ký điều hành Ủy ban Phượng Hoàng tỉnh, tôi còn giữ chức vụ là tổng thư ký Hội Đồng An Ninh Tỉnh, tôi có thể đề nghị vì tình hình an ninh, giữ anh hai năm tại Phú Quốc và sau hai năm lại tái xét. Cứ như vậy mỗi đợt 2 năm. Có bao nhiều lần hai năm tại đảo Phú Quốc trong đời người, Anh có chịu nỗi không? “

Đó là cây gậy mà tôi dùng làm áp lực với TCS.

Vậy còn củ cà rốt?

Ngoài những giúp đỡ, phe lờ những việc không tiện nói ra, để gia đình TCS có thể kiếm sống, củ cà rốt rất ngọt là một Sự Vụ lệnh đặt biệt đại khái:

“ Họ và tên…….

Người mang giấy nầy là viên chức Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân, Chính giúp đỡ, trong khi thừa hành phận sự.

Huế , ngày….

Chỉ Huy Truởng CSQG TT-Huế

Kiêm Tổng Thứ ký Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh.

Thiếu tá Liên Thành. “

Bề mặt và bề trái của tấm giấy này chỉ để bảo vệ cho TCS trốn lính.

Để đổi lại, TCS cung cấp những tin tức địch mà chúng tôi cần. Tỷ như:

Danh tánh tổ chức, cá nhân các cơ sở nội thành VC trong các tổ chức trí vận, dân vận, tôn giáo vận của Thành ủy VC. Các đường dây các trạm liên lạc nội thành của bọn chúng, kế hoạch hành động của bọn chúng v…v…Tóm lại những gì mà TCS biết được.

Nhưng những gì áp lực,những gì gượng ép, bắt buộc, thường kết quả không như mình mong muốn. Những gì TCS cung cấp cho chúng tôi chỉ là 1/10 những sự việc mà TSC biết được. Có nhiều việc rất quan trọng mà TCS đã tham gia, biết rõ ràng, tường tận, nhưng y vẫn giữ im lặng, không hề báo cáo. Trong khi đó, thì một đường dây nội tuyến khác của chúng tôi đã phúc trình sự việc lại cho chúng tôi. Xin đơn cử một vài trường hợp sau đây:

1-Tại bờ sông Hương thuộc vùng Gia Hội, đọan đối diện với rạp Ciné Châu Tinh có một bến đò, thường xuyên có một chiếc đò neo tại đó, của một cặp vợ chồng nghèo, bán chè cháo độ nhật trên sông Hương về đêm. Người chồng là cơ sở nội thành của VC, nhưng thật ra lại là người của chúng tôi. Chiếc đò đó chúng tôi đã bỏ tiền ra mua và giao cho cơ sở sử dụng làm trạm liên lạc gặp mặt của cán bộ nội thành VC. Rất nhiều cán bộ, cở sở việt công trong tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng thành phố Huế đến đó để hội họp, như: Bửu Chỉ, Ngô Kha, Trần Hoài, Hoàng thị Thọ, Phạm thị Xuân Quế… và ngay cả đương sự là TCS cũng đã đến đó hội họp một đôi lần. Nhưng tuyệt đối không bao giờ TCS cho chúng tôi biết trạm liên lạc này.

2-Cũng như vậy, trạm thứ hai là một quán café gần nhà Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Đây cũng là trạm liên lạc hội họp nội thành của bọn chúng. Chính TCS đã đi cùng Ngô Kha đến đây nhiều lần, nhưng đương sự vẫn tuyệt đối không báo cáo lên.

Chúng tôi cũng phát hiện rất nhiều thư từ, tài liệu VC từ nội thành Huế chuyển vào Saigon do TCS giao cho Nguyễn Hữu Đống chuyển đi. Lợi dụng những chuyến bay quân sự của một số bạn bè Không Quân, nên không bị ai soát hỏi.

II- Trịnh Công Sơn : Bên tê?

Những ai đã nghĩ rằng TCS là người Cộng Sản, hoạt động cho Cộng Sản điều đó đúng, đúng 100%. Tôi khẳng định như vậy .

Câu hỏi Trinh Công Sơn: Bên tê?

Câu trả lời của tôi: Trịnh Công sơn bên tê. Y hoạt động cho cộng sản.

Cán bộ điều khiển và chỉ đạo trực tiếp đương sự là: Lê Khắc Cầm.

Như đã biết trong một buổi họp mặt tại Tuyệt Tinh Cốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vào thời điểm cao trào tranh đấu Miền trung đang lên cao 1965-1966, trước sự hiện diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, HP Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đinh Cường, Nữ văn sĩ Túy Hồng, Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, những tay SV tranh đấu gộc và cũng là đám cơ sở của Thành Ủy Huế, Trịnh Công Sơn đã hát một ca khúc mới. Bài này chỉ nói lên nỗi bất hạnh của tuổi trẻ bị cuốn vào cơn bảo của cuộc chiến, nhưng hoàn toàn không nói gì đến nguyên nhân của cuộc chiến, di hại của nó, cũng như cách giải quyết vấn đề, như là nhạc của các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Phạm Duy vv. Bài hát đó là bài“Vết lăn trầm”:

“Bài ca dao trên cồn cát, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh….rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình…”

Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của cộng sản HN, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của CS. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với TCS đang cầm súng chiến đấu tất bật, thì TCS không làm gì cả. Chỉ ăn xổi ở thì, đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình, nên đi làm cộng sản

Sau nầy TCS viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám SV, trí thức, hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người VN, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của TCS là chế ra những loại thuốc độc như thế!

Cũng đã có một vài phúc trình nói rằng, có một vài bài nhạc phản chiến của TCS, nhạc của TCS nhưng lời của Phan Duy Nhân. Phan Duy Nhân là một sinh viên, cán bộ cộng sản. Tôi nhớ không lầm thì y đã bị bắt và giam tại Côn Sơn từ sau Mậu Thân 1968

III- Trinh Công Sơn: Bên nớ ? tức cơ quan tình báo ngọai quốc

Tôi không muốn trả lời là YES, hay NO.

Không thể trả lời Yes vì chưa có thể công bố lúc này

Nhưng cũng không thể: SAY NO vì:

1- có một số tin tức khá chính xác, cho rằng một số bài nhạc gọi là “Phản Chiến”, TCS đã viết theo đơn đặt hàng của tình báo ngọai quốc. Loại nhạc này được tung ra để tạo thêm chứng cớ là dân Miền Nam không muốn chiến tranh, muốn đầu hàng CS?. Bối cảnh phản chiến như thế, rất thích hợp và xác đáng cho việc “ Đồng minh tháo chạy”.

2- Như Trịnh Cung đã viết:

“ Ngày 30 tháng 4 thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó Đỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ, đề nghị Sơn là đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ”.

Đỗ Ngọc Yến là ai?

Ông Đỗ Ngọc Yến là nhân viên Tình báo xuất sắc của chính phủ VNCH. Nhiệm sở phục vụ là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo.

Tình báo ngọai quốc đã phát hiện được những hoạt động của Ông Đỗ Ngọc Yến trong sinh viên hoặc báo chí tại Sài Gòn, như là một cán bộ nội thành VC. Họ đã không biết rằng Đỗ Ngọc Yến là nhân viên của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, được gài vào nằm vùng trong tổ chức địch, nên đã móc nối ông Đỗ Ngọc Yến . Là một người trung thành với đất nước, ông Yến trình sự việc nầy lên thượng cấp để xin chỉ thị. Ông đã được Phủ Đặc Ủy Trung Ương chấp thuận để ông làm việc cho tình báo ngọai quốc.

Tôi bạch hóa trưởng hợp của ông ĐNY, bởi lẽ, chính thể VNCH không còn, và Ông ĐNY cũng đã yên nghĩ. Nhưng ông còn để lại một nỗi oan sai trên cõi đời phiền muộn này. Và những điều tôi nói ra không còn vi phạm an ninh cá nhân của ông nữa, cho nên tôi phải nói. Mục đích của tôi là chỉ muốn minh oan, hay đúng hơn là trả lại danh dự cho một nhà báo tài ba, yêu nước. Khi tấm hình ông Yến ngồi chung với tên Nguyễn Tấn Dũng Thử tướng chính phủ Cộng sản Việt Nam được tung ra, thì dư luận liền cho Ông Yến là Cộng Sản. Mục đích của việc làm này chắc ai cũng hiểu.

Tấm hình đó, hơi giống truờng hợp tấm hình của nhiếp ảnh gia Mỹ Adam chụp Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công Cộng sản Bảy Lốp, trong Mậu Thân 1968 tại Sàigon. Tấm hình đó chỉ có thể nói lên được một nửa những gì mà Adam muốn nói. Còn một nửa kia thì cần phải phân tích thật kỹ càng, rồi hãy kết luận về Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cũng chưa muộn .

Cũng vậy, Đỗ ngọc Yến ngồi chung với Nguyễn Tấn Dũng có thể vì nghiệp dĩ tình báo và mối dây vương vấn của ông ta chưa dứt. Bởi vì ngày xưa ông đã phải vì nhiệm vụ, tuân lệnh thượng cấp, là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, họat động cho tình báo ngọai quốc. Và con tằm lại phải tiếp tục nhả tơ. Đó cũng là chuyện bình thường của một người làm tình báo chuyên nghiệp như ông mà thôi. Còn trái tim ông vẫn để lại VNCH

Xin trả lại công bằng, công lý và danh dự cho Ông Đỗ Ngọc Yến, một chiến sĩ tình báo xuất sắc của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH

Vậy thì, chuyện Đỗ Ngọc Yến đi cùng nhà báo Mỹ đến, đề nghị đón Sơn và gia đình đi Mỹ vào ngày 30/4/1975 theo lệnh của ai?

- Phủ Đặc Ủy Trung uơng tình báo VNCH? Điều này không có

- Tình báo Việt Cộng?

- Tình báo Ngoại Quốc?

Chắc quí vị đã biết câu trả lời, là ai đã phái Đỗ Ngọc Yến và nhà báo Mỹ đến đưa TCS và gia đinh đi Mỹ, không cần tôi phải nói ra.

Những phân tích của CSQG Thừa Thiên Huế và suy nghĩ, ý kiến của tôi về Trịnh Công Sơn

Là một cán bộ điều khiển TCS trong chiến địch xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức Cộng Sản tại Hu, trong một thời gian khá dài, BCH CSQG Thừa Thiên Huế và tôi có những nhận xét sau đây.

1- Mặc dầu hợp tác với cơ quan tình báo quốc gia nhưng trái tim của TCS đã dành cho cộng sản.

2-Những xáo trộn chính trị, những cuộc biểu tình , đình công bãi thị, những ngày tuyệt thực, những đêm không ngủ, những màn văn nghệ đấu tranh phản chiến, đòi hòa bình (như đòi kẹo? nghe thật là dễ! thật là ngây thơ!), đòi người Mỹ rút quân, của đám trí vận nội thành, diễn ra triền miên tại Đại Học Huế, trên khắp ngỏ đường của cố đô. Công khai , hoặc bí mật, TCS đều góp tay vào.

3- Nỗi sợ lớn nhất trong đời TCS là sợ đi lính. Vì thế, bằng mọi giá, chấp nhận mọi điều kiện, để y được bao che trốn lính. Ngoài ra, để chắc ăn, TCS còn quyết tâm ve vãn các giới chức cao cấp của chính quyền VNCH thích nhạc của y, để cho y dễ dàng trốn lính. TCS đã trở thành con người hèn hạ thiếu tư cách

Trịnh Cung nói:

“TCS sai lầm với ngừoi Cộng sản như sau:

Không ở trong đường dây của một tổ chức và chịu sự lãnh đạo của một tổ chức đó.”

Phát biểu của Trịnh Cung hoàn toàn dựa trên cảm tính, không dựa trên sự kiện. Phát biểu này hoàn toàn sai sự thật.

Ông Trịnh Cung, theo ghi nhận của CSQG, đã đổi tên từ Nguyễn văn Liễu ra thành Trịnh Cung, không chỉ bởi tình bạn với TCS, mà còn bởi quan hệ tình cảm với cô em gái TCS là Trịnh Vĩnh Thúy. Có thể vì mối ràng buộc tình cảm nhiều mặt đã che mờ sự sáng suốt, nên Trịnh Cung đã không biết rằng ông anh rễ hụt đang hoạt động cộng sản.

Tôi xin xác định: Trịnh Công Sơn nằm trong tổ chức trí vận của cơ quan Thành Ủy Việt Cộng Huế hẳn hoi. Và cán bộ lãnh đạo chỉ huy TCS là Lê Khắc Cầm

TCS đã nằm trong tổ chức nằm vùng tại Huế. Từng nhúng tay phối hợp giải thoát Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, theo chỉ thị của B5 và thành ủy. Sau này, những tên đại ác đó trở thành đao phủ thủ Tết Mậu Thân. TCS nghĩ gì khi viết và hát: “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy, những hố hầm, đã chôn vùi thân xác anh em…”

Xin hỏi vong hồn TCS, ai chôn xác anh em? Ai đã đập đầu anh em? Và ai đã giúp giải cứu những đại đồ tể này, để trở về giết dân lành Huế? TCS có trách nhiệm trong chuyện này hay không? Xin hỏi vong hồn ông?

Biết rất rõ ai gây ra chuyện thảm sát rùng rợn tại quê hương của chính mình, nhưng TCS sau đó vẫn tiếp tục hoạt động nằm vùng. TCS còn có trái tim không? Có tình nguời không? Rồi TCS vẫn viết nhạc phản chiến, mục đích phản đối chiến tranh một chiều. Có nghĩa là TCS chỉ phản đối cuộc chiến đấu của người đang phải tự vệ. Còn thì TCS ủng hộ và tiếp tay cho sự xâm lăng bằng vũ khí của CS đối với người dân Miền Nam. Như vậy, thử hỏi TCS có lương thiện không? Những lời lẽ mang tính triết lý về thân phận con người, trong nhạc TCS có thật sự từ trái tim anh ta? Nó có chút tình người nào không? Hay chỉ là những giai điệu vay mượn dối trá, phục vụ cho ác quỷ?

Trịnh Công Sơn phối hợp thưởng xuyên với lực lượng Sinh Viên Giải phóng thành phố Huế của trường Đại Học Huế, nhằm thi hành công tác dân vận, trí vận, qua những hội thảo, ca nhạc phản chiến. Tên tuổi đám CS nằm vùng có liên hệ chặt chẽ với y tôi đã viết ở phần trên.

Theo Trịnh Cung, Trinh Công Sơn:

“Không dám thoát ly theo MTGPMN”. Điều này hoàn toàn không đúng, bởi lẽ:

Vai trò và trách nhiện của TCS rất quan trong trong việc gây suy sụp tinh thần yêu nước của nhiều tầng lớp thanh niên Miền Nam Việt Nam. Qua những bản nhạc phản chiến, TCS đã tạo được một tình trạng tâm lý ươn hèn chủ bại cho một số người Miền Nam. Một số khác phản ứng chống chính quyền, gây bất lợi về mặt chính trị cho quốc gia. Như vậy, TCS đã và đang thực hiện được sứ mạng mà CS rất cần thời bấy giờ

Nếu TCS thoát ly, thì nhạc TCS sẽ bị chính quyền cấm. Và như thế thì làm sao có những buổi hội thảo chống chiến tranh? Làm sao TCS có thể đích thân tham dự, phổ biến nhạc phản chiến? Làm sao trở thành thần tượng, lôi cuốn đông đảo giới trẻ tham dự tại các trường Đai học Huế, Saigòn, Đà Lạt?

Về phương diện nầy, ta thấy ngay, MTGP đã khôn ngoan để TCS ở lại hậu phương địch, có lợi nhiều hơn là rút TCS ra mật khu.

Hơn nữa nếu TCS thoát ly ra mật khu, thì không phải tự ý y quyết định được, mà do Thành ủy Huế. Y không gặp nguy hiển như Tường và Phan, thì tại sao phải điều y ra mật khu? Trong khi nhu cầu hiện diện của y tại các đô thị, để hổ trợ cho các tầng lớp quần chúng đấu tranh, rõ ràng có lợi cho MTGP nhiều hơn.

Có một vài sự việc liên quan đến TCS tôi vẫn thuởng nghe trên một số báo chí, diễn đàn tranh cãi bàn luận:

1- Trinh Cung và một vài người đã: nói trong Mậu thân 1968 Trinh Công Sơn bị công sản giết hụt.

Ai giết hụt TCS? Hoàng phủ ngọc Tường? Hoàng Phủ Ngọc Phan? Nguyễn Đắc Xuân?

Ba tên ác quỹ này khi đó đang ở cánh Bắc của trận đánh Huế. Tức vùng chiến trận Quận I và Quận II. Cả ba đang say sưa lấy máu tươi, giết đồng bào vô tội, làm gì có thì giờ để mà sang quận III, nơi TCS trú ngụ? Mà nếu có qua được Quận III chăng nữa, thì cũng chỉ để ôm nhau vui mừng, cùng hát bài: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Vì TCS với bọn này “vừa là đồng chí, vừa là anh em mà”

Tôi khi đó là phó Trưởng ty CSĐB, và là Quận trưởng quân III, vùng TCS trú ngụ. Vì vậy tôi biết rõ chuyện nầy lắm, xin đừng bịa đặt.

2-Ngày 30/4/1975 TCS cùng gia đình đã vào Phi trưởng Tân Sơn Nhất để đi cùng Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhưng TCS và gia đình đã bị ông Kỳ bỏ rơi. Lại một chuyện bịa đặt nữa.

Ngày 28 tháng 4/ 1975 tôi gặp TCS tại một địa điểm đã hẹn trước, tại thành phố Saigon. Tôi nói với TCS:

- “Tôi là người sẽ đưa anh đi. Đã có phương tiện cho anh và gia đình. Mỗi người chỉ mang một xách tay nhỏ mà thôi”.

TCS đã trả lời tôi:

- “Cám ơn Liên Thành, nhưng mình quyết định ở lại. Người cần đi là Liên Thành, nên đi gấp đi”.

Tôi chia tay TCS khoảng 11 giờ trưa ngày 28 tháng 4 năm 1975.

Sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đang ở trên tàu ngoài vùng biển Vũng Tàu, thì TCS hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” trên đài phát thanh Saigòn. TCS đón những người anh em đồng chí của TCS vào thành phố, để nối vòng tay lớn của quỷ, của lạc hậu, nghèo đói, cơ cực. Người chỡ TCS đến đài phát thanh Saigon sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài Nguyễn Hữu Đống còn có Nguyễn Hữu Thái. Nguyễn hữu Thái là tên đặc công thuộc thành ủy Saigòn, thủ phạm tung lựu đạn giết chết Giáo sư Nguyễn văn Bông Viện trưởng Học viên Quốc Gia Hành chánh

Cuộc chiến đã chấm dứt hơn 34 năm qua, nhưng vòng tay của qủy mà TCS đã mơ uớc để “nối vòng tay lớn” vẫn còn siết chặt vận mệnh dân tộc. Hẳn TCS dưới suối vàng vẫn còn vui lắm, vì có nhiều người vẫn còn ngưỡng mộ bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” này!

Cái phi lý của hồi kết thúc của cuộc chiến này, mà một người thuộc thế hệ một rưỡi như Bác sĩ Châu An Huy Thành, trong một bài viết, đã phải ngậm ngùi:

“ Kể từ ngày 30/4/1975 đến nay, trong tâm khảm của tất cả ngừoi Việt Nam đều không nguôi câu hỏi: Tại sao Miền Nam lại thua? Tại sao cái đúng lại thua cái sai? Tại sao cái ác lại thắng cái thiện? Câu hỏi này không những đối với người Việt ở Miền Nam mà còn là câu hỏi cho cả thế hệ thanh niên lớn lên sau cuộc chiến tranh trong cả nuớc. Và mãi mãi sẽ là câu hỏi đau thuơng cho lịch sử việt Nam muôn đời sau”.

Tôi đã phải cúi mặt khi đọc câu hỏi này

Phải, đúng, thế hệ của chúng tôi đã có lỗi với quê hương, với đồng bào. Chúng tôi đã để cho “Cái đúng thua cái sai. Cái ác thắng cái thiện”.

Thế nhưng chúng tôi đã thua vì không còn súng đạn, để chống lại súng đạn của toàn bộ lực luợng CS quốc tế. Chúng tôi có lỗi, nhưng chúng tôi cũng đã tận lực.

Ai đã gây ra chuyện không còn súng đạn này? Truy nguyên câu hỏi, chúng ta phải nhận thấy rằng, cái đau của Miền Nam là đã có những kẻ thờ ma CS, nối giáo cho giặc. Đã giúp tạo ra những biến động chính trị tại Sài Gòn và tại Miền Trung. Lửa của những cuộc xuống đường, tự thiêu, đấu tranh bạo động, đã là nguyên nhân cho phong trào phản chiến quốc tế và tại Mỹ. Cuối cùng, một số kẻ phản chiến tại Mỹ trở thành những vị dân cữ, nghị sĩ.. thẳng tay cắt viện trợ cho Miền Nam, một xu cũng chẳng! CS đã đi bộ vào Miền Nam, ngồi xổm lên ngôi vị thống trị, gây bao tàn hại cho đất nước, bán đứng tiền đồ non sông cho Bắc Kinh.

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, Quân Lực VNCH, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, đã chế ngự được cái sai, họ đã bóp nát đựơc cái ác. Họ đã bảo vệ được bở cõi, bảo vệ được sinh mạng và tài sản của đồng bào. Thế nhưng, bên cạnh đó, là những kẻ lãnh đạo quân sự cũng như hành chánh, các vị gọi là “ chính trị gia” đã ươn hèn xu nịnh, đã bợ đỡ những thế lực tôn giáo đen tối để được vinh thân. Họ nhắm mắt làm ngơ, mặc đầu biết rõ rằng, những kẻ lãnh đạo tôn giáo mà họ đang dựa vào, là những tên Việt Cộng nằm vùng. Như Trí Quang, Thiện Siêu, Đôn Hâu, Chánh Trực, Như Ý v..v… họ không dám cuỡng, dám chống lại bọn chúng. Vì chống lại, họ sẽ mất hết danh vong tiền tài chức tước. Họ thuần phục Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực thuần phục thần linh.

Ngoài những tên Cộng Sản đội lốt tu hành mà tôi vừa kể trên ,còn có một đám trí thức khoa bảng, sinh viên, đã được ông bà cha mẹ của bọn chúng dùng tiền bạc, dùng lúa gạo, dùng thực phẩn, dùng tinh hoa lễ nghĩa, đạo đức của miền nam nuôi nấng dạy dỗ, đào tào chúng nên người, để rồi, một sớm một chiều, chúng quay lại phản bội ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, đi theo Cộng Sản. Chúng đem AK về thành phố bắn phá, sát hại đồng bào. Bọn này là ai? bọn chúng là đám VC nằm vùng, là đám thành phần thứ ba, là đám giáo sư và sinh viên tại Huế mà tôi đã nêu tên họ nhiều lần ở phần trên. Và tôi sẽ lập đi lập lại những cái tên này cho đến mãn đời tôi. Điển hình là: Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tuờng, Ngô kha, Trịnh công sơn, nguyễn đắc Xuân, Phan duy Nhân, Phạm thị Xuân Quế. Và quá nhiều....

Từ sau 1963 đến 1972 đám VC đội lốt tu hành phối hợp với đám trí thức, SV cơ sở nội thành VC, đã phá nát miền nam, đặt biệt là Huế. Hậu quả của những vụ tranh đấu của Trí quang 1966, vụ tàn sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968, vụ mưu toan tổng nỗi dậy tại Huế vào 5/1972 để chiếm Huế làm thủ đô cho MTGPMN, trước khi ký hòa đàm Paris 1973, tất cả chính là con đường dẫn tới hậu quả đau thương của ngày 30/4/1975.

(Còn tiếp)

3G McKeno sưu tìm trên Internet

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

CHIỀU CHIỀU RA ĐỨNG NGÕ SAU -

Võ Đắc Danh
Chị Hoa kể rằng, quê chị ở Đại Ngãi, Sóc Trăng, một xóm cù lao nằm bên bờ tây con sông Hậu. Cũng như bao nhiêu cô gái nghèo ở miền quê hẻo lánh nầy, lớn lên chị lấy chồng, sinh con, cày sâu cuốc bẩm, tiếp nối cuộc đời tần tảo của bao thế hệ đi qua. Năm bốn mươi tuổi, chồng chị đột ngột qua đời sau một cơn bạo bệnh, để lại cho chị năm đứa con, năm công đất ruộng với căn chòi trống trơ, xiêu vẹo bên bờ sông. Thế nhưng cuộc sống ấy sẽ chẳng có gì đáng nói, đáng bàn nếu như chị không bước thêm bước nữa. Mà thật ra, chị cũng chẳng bao giờ nghĩ rằng mình sẽ bước thêm bước nữa, có lẽ đó là định mệnh.

Năm 1987, chị đi nuôi bệnh cho người em trong Quân y viện 121 Cần Thơ, chị thấy bên chiếc giừơng đối diện có một bệnh nhân nam bị mù đôi mắt, cụt một cánh tay, anh ta nằm đó suốt cả tuần mà chẳng hề có người thân chăm sóc. Cảm thấy chạnh lòng, chị đến giúp đở và hỏi thăm, anh tên là Nguyễn Văn Mộc - Mười Mộc - thương binh ¼, quê ở kinh xáng Thọ Mai, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Anh nói rằng anh cũng có vợ, có con, một trai hai gái, có nhà cửa, vườn ruộng thênh thang. Nhưng vợ anh thì hung dữ, con cái thì hổn hào, anh thì mù lòa, què cụt, không làm chủ được gia đình. Cả nhà lúc nào cũng xem anh như là của nợ. Tới bửa cơm thì dằn mâm xán chén, mắng chó chửi mèo, đến lúc anh ngã bệnh thì chẳng ai thèm ngó tới. Trong cơn tuyệt vọng, một đứa cháu hàng xóm thương tình đưa anh đến quân y . . .

Từ đó, chị trở thành người chăm sóc cho anh, mỗi ngày một thiết thực hơn, cụ thể hơn, gần gủi hơn . . . nhưng, theo cách giải thích của chị thì tất cả chỉ là sự bình dị của một thứ tình người.

Ba tuần sau, em chị xuất viện, chị về quê. Lúc ấy, chị cảm thấy lo lắng cho anh một mình ở lại. Còn anh chỉ ngồi im lặng thở dài. Làm sao mà chị biết được anh nghĩ ngợi gì bởi anh không còn đôi mắt. Về nhà, thĩnh thoảng ngồi một mình chị lại nhớ đến anh, tội nhiệp cho hoàn cảnh của anh, lo lắng cho cuộc sống của anh không có người chăm sóc. Có khi sáng ra chị chợt nhớ anh rồi tự hỏi: giờ nầy có ai đi mua tô cháo cho anh ? Hoặc ai sẽ giặt quần áo cho anh ? Người đâu mà bất hạnh đến tột cùng ?

Thế rồi gần một tháng sau, bất ngờ một buổi trưa, anh xuất trên chiếc tàu đò ghé vào bến sông nhà chị, tay cầm chiếc gậy dò dẫm trên sân. Chuyện người mù có thể lên xe xuống ngựa đi khắp mọi nơi thì chị đã từng nghe, từng thấy. Nhưng sự xuất hiện của anh làm cho chị vừa bối rối, vừa tủi tủi, mừng mừng. Chị cảm nhận được cuộc đời mình bắt đầu từ hôm nay sẽ có sự đổi thay, còn đổi thay như thế nào thì chị không thể lường trước được. Đêm ấy, chỉ có ngọn đèn dầu với bình trà chứng kiến cuộc hôn nhân. Dường như cố gắng lắm anh mới nói được có mỗi điều: Hoa à, anh muốn được chung sống với em, anh không thể sống thiếu em. Chị không từ chối, cũng không bằng lòng ngay mà chỉ nói: Anh thì tăm tối, tật nguyền, em thì quá nghèo làm sao nuôi được anh. Anh trấn an chị: Em đừng lo, nghèo thì sống nghèo, mỗi tháng anh góp vô cho mẹ con em mấy trăm ngàn tiền lương thương binh của anh, coi như tạm ổn, mọi chuyện từ từ rồi tính.

Họ thành vợ thành chồng từ hôm ấy.

Một tháng sau, anh Mộc đưa chị về Thọ Mai, anh nói trước nhất là về thăm lại con cái, xóm làng, sau là để nói chuyện dứt khoát với người vợ cũ cho mọi chuyện rõ ràng. Nhưng vừa về đến nơi thì bà Bảy - vợ anh Mộc - đã nổi cơn thịnh nộ. Mà thật ra, bà không có lý do gì để trách mắng anh và cả chị Hoa, bà chỉ chửi xuyên chửi xéo theo kiểu mắng chó chửi mèo. Chị Hoa ôn tồn nói: Lúc anh Mộc bệnh không có người chăm sóc, em giúp đỡ anh ấy. Nay nếu chị còn thương ảnh thì em trả ảnh lại cho chị, em không có ý định giựt chồng của chị đâu. Đêm ấy chị đến xin ngủ nhờ ở ủy ban xã. Nửa đêm, mẹ con bà Bảy xô anh Mộc ra sân rồi trói lại và xúm nhau đánh đập, cũng may là bà con lối xóm và chính quyền ra tay ngăn cản. Chị Hoa về quê được mấy ngày thì anh Mộc cũng tìm đến. Anh nói, để triệt tiêu con đường sống của anh, bà Bảy đã làm đơn tố cáo anh là thương binh giả, vì vậy mà huyện Cái Nước tạm ngưng cấp lương cho anh để chờ xác minh, cho nên anh cần một số tiền làm lộ phí để về Rạch Gía làm lại hồ sơ. Trước tình cảnh ấy, chị Hoa phải cầm cố năm công ruộng để dẫn anh đi ròng rả mấy tháng trời từ Kiên Giang đến Cà Mau tìm các cơ quan và đồng đội cũ của anh để làm lại hồ sơ. Cuối cùng, số tiền truy lảnh được cũng chỉ đủ để chuộc lại đất. Cuộc sống cứ nương nhờ vào năm công ruộng và mấy đồng lương thương binh thì không thể nào ngóc đầu dậy nổi. Một hôm, anh bàn với chị về giấc mộng đổi đời, anh nói xứ Năm Căn là xứ rừng vàng biển bạc, ở đó anh có người em kết nghĩa hồi chiến tranh, bây giờ đang nuôi tôm ở Viên An. Cách đây hai năm, anh ta có hứa với anh rằng nếu anh chịu về thì anh ta sẽ sang nhượng lại một miếng vuông, khi nào làm có tiền thì trả lại. Vậy là anh chị quyết định khăn gói ra đi, dẫn theo hai đứa con gái nhỏ, bé Lùn sáu tuổi và bé Hận bốn tuổi. Thế nhưng khi tìm đến Năm Căn thì anh bị hụt hẫng giữa xứ lạ quê người, do mấy năm trời không liên lạc được với nhau nên người em kết nghĩa đã sang miếng đất nuôi tôm cho người khác. Nhưng rồi giữa cái xứ sở đầy phóng khoáng nầy, sự may mắn lại đến với anh, ban giám đốc lâm ngư trường Tắc Biển cấp cho vợ chồng anh 5,5ha đất nuôi tôm kết hợp với trồng rừng, lại được vay mười triệu đồng để thuê mướn xẻ kinh mươn, đắp bờ bao, làm miệng cống. Chị Hoa đào đất đắp nền, đốn cây, đốn lá dựng lên căn chòi nhỏ.

Đến năm 1993, anh Mộc được chính quyền địa phương cấp mười triệu đồng để xây dựng nhà tình nghĩa. Để giảm chi phí, anh quyết định mua vật liệu về để chị Hoa tự xây. Chị Hoa chưa bao giờ biết làm thợ hồ, nhưng nhờ có anh bên cạnh, anh bảo đến đâu chị làm đến đó, cuối cùng ngôi nhà cũng được hình thành dù tường vôi lổm chổm, đường nét chẳng giống ai. Có nhà, có vuông nhưng gặp những năm tôm chết liên tục, nợ nần cứ luôn đeo đẳng, anh Mộc lại bị những vết thương cũ tái phát, hết nằm bệnh viện huyện lại lên bệnh viện tỉnh, chị Hoa phải bỏ vuông, bỏ nhà theo chăm sóc cho anh. Cuối năm 1997, anh Mộc qua đời.

Thế rồi trong cái cảnh góa bụa bơ vơ giữa xứ lạ quê người, nỗi buồn đau chưa cạn, sự nghèo túng chưa kịp qua đi thì bà Bảy xuất hiện, bà dẫn theo hai đứa con gái, thằng con trai và thằng rễ ngang nhiên đến chiếm nhà chiếm vuông, đánh đập chị Hoa rồi quăng hết quần áo của mẹ con chị ra ngoài. Chính quyền địa phương đến can thiệp mấy lần cũng không được, công an huyện đến bắt mấy mấy đứa con của bà Bảy về xử phạt hành chánh, chúng vẫn chứng nào tật nấy.

Cuối cùng, chị Hoa đành phải ra đi. Nhưng nỗi oan ức làm chị không thể nào rời bỏ cái xóm kinh rừng ấy được. Chị gởi hai đứa con ở nhà người quen rồi lang thang ra Cà Mau tìm chổ kêu oan. Tình cờ có một người nghe được tâm sự của chị nên dẫn chị đến Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh. Ở đây chị được giúp đỡ tận tình, Trung tâm cử nhân viên đi xác minh chứng cứ rồi làm thủ tục khởi kiện dân sự. Ngày 27 tháng 8 năm 2001, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm, chị Hoa thắng kiện, gia đình bà Bảy chống án, ngày 22 tháng 4 năm 2002, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phúc thẩm, chị Hoa lại thắng kiện nhưng mẹ con bà Bảy vẫn tiếp tục chiếm nhà, chiếm vuông dù đội thi hành án của huyện đã đến lập biên bản cưỡng chế hai lần.

Ông Huỳnh Văn Khương, chánh tòa dân sự Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển cho biết: Có lẽ phải khởi tố hình sự, bắt giam mẹ con bà Bảy về tội chống đối pháp luật. Rồi ông lại thở dài nói: Cái gốc là do thiếu văn hóa nên người ta mới xử sự theo cái kiểu luật rừng như vậy !
Chúng tôi rời con rạch Ông Như vào một buổi chiều mưa tầm tã, mưa ở rừng ngập mặn Năm Căn vốn đã buồn lại càng buồn hơn trước tình cảnh của mẹ con chị Hoa. Chị vẫn ngồi bệt dưới sàn nhà như tượng đá, lưng tựa vào cánh cửa, tay chống lên cạnh hàm, mắt đăm chiêu nhình về phía ngôi nhà và miếng vuông của mình cách đó vài trăm mét. Anh chủ nhà cho chị ở đậu nói, chiều nào chị cũng ngồi như thế. Tôi chợt nghiệm ra, vì vậy mà dân gian mới có bài hát ru em buồn đến não lòng:

"Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau
Chiều chiều ra đứng ngỏ sau
Trông về quê cũ ruột đau chín chiều
Ruột đau ruột thắt gan teo
Vì bởi tôi nghèo nên mới tới đây"

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

KHI CẢ ĐẠI SỨ QUÁN CSVN TẠI NHẬT BẢN BỎ CHẠY
NHỤC ƠI LÀ NHỤC !!

Andy Nguyen (May 25, 2009)
Câu chuyện tôi sẽ kể với các bạn dưới đây là chuyện mới xảy ra, còn nóng hổi. Rất tiếc tôi không có máy hình ngày hôm đó nên không thể ghi lại các hình ảnh cho các bạn xem để làm bằng chứng. Tôi chỉ viết lên đây với cảm xúc của một người Việt cảm thấy bị sỉ nhục trước một nỗi nhục do các quan chức Việt Nam trong Đại sứ quán VC tại Nhật gây ra. Bạn tin hay không thì tùy nhưng mà là chuyện có thật.

Câu chuyện xảy ra vào thứ 6 tuần vừa qua (ngày 15 tháng 5 năm 2009) tại Đại sứ quán VN ở Tokyo. Đoàn chúng tôi gồm các quan chức cảnh sát giao thông của tỉnh Saitama đến Đại sứ quán để yêu cầu Đại sứ quán VN giải thích và chứng thực về một Quyết định liên quan đến việc đào tạo, cấp bằng lái xe do ông Bộ trưởng giao thông vận tải VN Hồ Nghĩa Dũng ký gần đây đã làm phiền phức đến nhiều người VN làm việc và học tập ở Nhật khi xin đổi bằng lái xe của Nhật do Bộ Ngoại giao VN mà cụ thể là Đại sứ quán VC đã không thông báo khiến cảnh sát Nhật không thể cấp đổi bằng lái cho họ được do so sánh với quy định cấp bằng lái cũ của VN. Nhưng chuyện tôi sẽ kể không phải chuyện này mà là cái tôi chứng kiến tại Đại sứ quán ngày hôm đó.

Khi chúng tôi vào Đại sứ quán thì chỉ có những người Nhật và VN đang làm thủ tục xin VISA ở đó đang xúm xít quanh một cô gái Việt và bàn tán xôn xao, cùng với một anh chàng Nhật chồng cô ta đang la lối đòi kêu cảnh sát. Còn tại các bàn tiếp tân , làm việc không có một nhân viên Đại sứ quán nào cả. Khi tôi gõ bàn làm việc của họ, nói bằng cả thứ tiếng Nhật Việt để hỏi thì cũng không có một tiếng trả lời từ bên trong.

Một ông già tự xưng là giám đốc một xí nghiệp Nhật thấy tôi đứng kêu hoài thì đến vỗ vai tôi nói rằng : "Nhân viên đại sứ quán ở đây bỏ chạy hết rồi, ông kêu cũng không có ai trả lời đâu. Tôi ngồi ở đây từ đầu, chứng kiến hết tất cả vụ việc. Tôi tính xin VISA 3 tháng sang VN tìm cơ hội đầu tư , nhưng thấy cảnh này nản quá, không muốnđi nữa, đang đợi họ trở lại để kêu họ trả lại Passport đây ".

Tôi hỏi :"Chuyện gì đã xảy ra vậy, khủng bố à".

Ông già: " Tôi không biết tiếng Việt nên không biết cái gì xảy ra, chỉ là tôi thấy cô gái kia đến làm giấy tờ, nói chuyện gì đó với nhân viên Đại sứ quán hình như bằng tiếng Việt nam , xong rồi khi cô gái cất cái Passport thì phải có màu xanh vào xách thì họ bắt đầu cãi nhau và cô gái tính bỏ đi, sau đó thì người nhân viên Đại sứ quán nhảy qua bàn làm việc, rượt theo giật cái xách đang đeo trên vai của ta khiến cái xách của cô ta bị đứt quai và cô ta té dập đầu cạnh bàn, ông thấy máu còn chảy đầy ra đấy. Khốn nạn thật. Tôi không nghĩ rằng họ là nhân viên ngoại giao được giáo dục đàng hoàng, cách làm việc giống côn đồ quá, cứ như là phim vậy".

"Sau đó thì sao" . Tôi hỏi.

Ông già :" Sau đó thì cô ta ôm mặt đầy máu chạy ra ngoài xe kêu chồng cô ta vào, cái anh chàng trẻ đang la hét nãy giờ bên kia, đòi gọi cảnh sát và xe cứu thương đến xử lý đấy. Khi anh ta la hét chạy vào , la toáng bằng tiếng Nhật đòi kêu cảnh sát và luật sư thì các nhân viên ở đây hình như không hiểu tiếng Nhật nhưng qua thái độ của anh chàng đó thì hình như họ sợ thì phải và đột nhiên họ rùng rùng bỏ chạy hết. Báo hại chúng tôi cả đám người ngồi đây đợi không biết bao giờ mới xong giấy tờ của mình , tôi còn nhiều việc ở công ty chắc là đợi họ trở lại để lấy giấy tờ đi về thôi. Tôi nghĩ Đại sứ quán là bộ mặt của Quốc gia mà còn như thế này thì ở VN chắc còn khủng khiếp hơn phải không ? À, mà cậu cũng định đi VN à. Tôi cảm thấy bất an quá. ".

Tôi trả lời :" Xin lỗi ông , tôi là người VN, tới đây có công chuyện, tự tôi cũng cảm thấy sỉ nhục về chuyện này bởi vì tôi là một người VN. Tôi xin lỗi ông vì cái chỗ nhơ nhớp này đã làm ông bất an. Xã hội nào cũng vậy thôi. Dân chúng trong nước của tôi hiền lành và đàng hoàng chứ không có côn đồ như những tên làm việc ở đây đâu. "

Quay lại chỗ vợ chồng cô gái tôi lại hỏi cô ta :"Chuyện gì xảy ra vậy, vết thương có nặng không ? thằng nào đánh em, kêu chồng em bình tĩnh, cầm máu trước hết cái đã". Anh chàng Nhật bổn chồng cô gái thấy tôi nói tiếng Việt nghĩ tôi là nhân viên Đại sứ quán nên đột nhiên nhào tới nắm cổ tôi và hét lên " Đồ khốn nạn, tại sao chúng mày đánh vợ tao đến như vậy".

Gạt tay anh ta ra tôi nói :" Bình tĩnh, tôi là nhân viên công vụ, thông dịch của cảnh sát, những người đi với tôi là cảnh sát, từ từ nói chuyện, thẻ nhân viên của tôi đây" . "Ê, Konishi , cho anh ta coi Sổ tay cảnh sát viên của mày ", tôi gọi người cảnh sát tên Konishi đi cùng với tôi.

Nghe nói tới chữ cảnh sát thì mặt anh ta dịu lại và đổi thái độ , xin lỗi tôi. Sau đó kể hết tự sự cho các cảnh sát đi với tôi và nhờ họ lập biên bản. Nhưng các cảnh sát nói rằng họ không phải cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát Tokyo đồng thời Đại sứ quán VN đây là vùng đặc quyền ngoại giao nên họ không có nhiệm vụ cũng như quyền lập biên bản. Ông sếp đi cùng với tôi kêu mỗi người rút danh thiếp đưa ra cho anh ta và nói rằng nếu anh ta muốn kiện tụng ra tòa thì cả nhóm có mặt hôm nay họ sẽ ra tòa làm chứng.

Anh bạn cảnh sát Nhật của tôi ra xe lấy bông băng cứu thương vào băng bó cầm máu cho cô ta xong thì cô gái kể cho tôi nghe rằng cô ta tên là Hoa , dân ở quận Tân Bình , Sài gòn mới lấy chồng sang Nhật hơn một năm, hôm nay cô ta đến Đại sứ quán để gia hạn lại cái Passport nhưng sau khi làm xong thì người nhân viên Đại sứ quán nhũng nhiểu làm tiền , đòi cô ta trả tiền dịch vụ 60000 yen ( khoảng 600 USD). Cô ta bất bình vì giá niêm yết gia hạn giấy tờ không phải như vậy nên đã xảy ra cãi vả. Người nhân viên đã chửi cô ta rằng " Địt mẹ, mày là con điếm Nhật", giận quá nghĩ rằng không thể nói chuyện với những người vô học như vậy nên cô ta chỉ bỏ lên bàn trả đúng số tiền theo giá niêm yết và đi về. Cô ta không ngờ rằng nhân viên Đại sứ quán giở thói côn đồ giật xách từ phía sau làm cho cô ta té ngữa vào cạnh bàn và bị thương như vậy.

Nghe đến đấy máu nóng của tôi nổi lên, thú thật lúc đó có thuốc nổ thì tôi cũng cho nổ tung cả cái tòa đại sứ VN nhơ nhớp này, còn chuyện hậu quả thế nào tính sau.

Tôi nói với ông sếp đi cùng: "Tôi nghĩ hôm nay tôi không thể dịch làm việc ở đây được, bởi tôi mà thấy mặt mấy thằng nhân viên lưu manh của Đại sứ quán này chắc tôi ra xe của ông vác súng vô bắn tụi nó hết. Tôi chịu hết nổi rồi. Nhục nhã quá. ".

Cũng may có cô gái Việt nam cũng là thông dịch viên cho một hãng nào đó ngồi gần, nghe nói như vậy nên kéo vai tôi. "Dzậy chú về đi, nếu chuyện không quan trọng thì sẵn thông dịch cho hãng ,cháu dịch giùm mấy ông này luôn cho, cháu thỉnh thoảng cũng có đi làm thêm thông dịch cho cảnh sát, cháu hiểu nguyên tắc làm việc của mấy chú. Cháu đi dịch ở đây nhiều lần, không có máu me chảy bị thương chứ mấy cái cảnh làm tiền của mấy ổng gần giống như dzầy cháu thấy nhiều lần cũng quen rồi. ".

Trao đổi với sếp và nhờ cô gái dễ thương dịch giùm tôi bỏ đi ra ngoài xe ngồi, lấy gói thuốc của tên bạn cảnh sát hút một hơi 3 điếu dù đã bỏ thuốc gần 5 năm mới cảm giác gần bình tỉnh trở lại, nhưng hình ảnh những người Nhật ngồi cười , bàn tán với vẻ khinh mạn, câu nói của ông già người Nhật cứ đeo theo ám ảnh tôi.

NHỤC

Nhục thật, ước gì tôi sinh ra không phải là người Việt nam để có thể tâm bình khí hòa trước những nỗi buồn mang tên Việt nam do cái tập đoàn cầm quyền ngu dốt đang gây ra.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Trinh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng


Trong mấy tuần qua, tôi có đọc 2 bài viết của Trịnh Cung, tức Nguyễn văn Liễu, và bài của anh Bằng Phong Đặng Văn Âu, viết về nhạc sĩ TCS

Trịnh Cung viết: “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị.”

Bằng Phong Đặng văn Âu viết:“Nhạc Sĩ Trinh Công Sơn. Một Thiên tài đồng lõa với tội ác”

Hai tác giả với hai bài viết nói về TCS, nội dung khác nhau, nhưng hầu như cả hai đều đưa ra chỉ một vài dữ kiện, hoặc khách quan, hoặc chủ quan, qua tình bạn của họ đối với nhạc sĩ TCS. Để rồi, Trịnh Cung và Bằng Phong Đặng văn Âu đều không kết luận được, hoặc là không muốn kết luận, một điều quan trọng nhất: Trịnh Công Sơn bên nào? Bên này ? Bên kia? Hay nói trắng ra là: Trịnh công Sơn là ai? Quốc gia hay cộng sản?

Đã bao năm qua, kể từ sau 1975, và mãi đến những ngày gần đây, tôi vẫn giữ thái độ im lặng. Nhưng sau khi đọc xong bài của Trịnh Cung, cũng như của Bằng Phong Đặng văn Âu, tôi quyết định lên tiếng về những gì, mà vì lý do nghề nghiệp, tôi đã phải nắm rất tường tận về TCS. Lý do thì cũng đơn giản, quý vị có thể hiểu được khi đọc xong bài này.

Cuối cùng thì giờ đã điểm. Qua bao nhiêu ca ngợi, bao nhiêu tranh cãi, lý luận, có lẽ, đã đến lúc TCS nên trở lại với những gì của TCS. Đó là SỰ THÂT VỀ CON NGUỜI TCS. Trong một bối cảnh mà đất nước đang nghiêng ngã tang thương bỡi nhiều vấn nạn, cộng với một thảm họa tày trời: SỰ XÂM LĂNG CỦA TOÀN BỘ LỰC LUỢNG CS QUỐC TẾ, ĐẶC BIỆT LÀ TRUNG CỘNG, QUA BÀN TAY CS HÀ NỘI, Trịnh Công Sơn đã cống hiến gì cho quốc gia?

Giữ nhiệm vụ trưởng cơ quan an ninh tình báo Thừa Thiên- Huế từ 1966 đến đầu 1975, tôi có bổn phận phải chịu trách nhiệm chính về vấn đề gìn giữ an ninh trật tự, bảo vệ sinh mạng và tài sản cho đồng bào trong tỉnh. Và trên hết mọi chuyện, là đối phó với cục Tình Báo chiến lược Bắc Việt, lồng vào đó là một mạng lưới tinh vi và dày đặc CS nằm vùng tại Huế. Thật không sai khi nói Huế là một ổ nằm vùng. Do vậy, có lẽ chúng tôi là người “may mắn”(?!) PHẢI có bổn phận “BIẾT” rất “kỹ” về TCS và toàn bộ những phần tử hoạt động CS khác của Huế. Tôi biết TCS và nhóm người nối giáo cho giặc này, dưới tất cả các khía cạnh khác nhau.Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ thói quen đến phẩm hạnh, đến tiểu sử, đến gia đình, thậm chí, nếu cần, thì cả gia phả vv, tôi đều có bổn phận phải biết. Và tôi sẽ lên tiếng một cách thẳng thắng, về những sự việc, thông tin, dữ kiện mà chúng tôi có được về đương sự trong bài viết này. Hy vọng, sẽ cung cấp cho lịch sử, và cho những ai quan tâm đến vấn đề TCS, cũng như các hoạt động chung của đương sự với các phần tử nằm vùng khác tại Huế, mà dù yêu, dù ghét, dù hận thù, dù ngưỡng mộ tôn sùng, dù căm phẫn.... những thông tin chính xác và cần thiết, để quý vị có thể tự mình thẩm định, lại một cách đúng đắn, về con người TCS. Bởi vì, mỗi con người chúng ta, dù thế nào đi nữa, không ai muốn bị BỊP cả!

Trịnh công Sơn bên nào: Bên này ? hay bên kia ? Quốc gia?, Cộng sản?

Trước khi xác nhận cũng như công bố nhiều chuyện liên quan đến TCS, xin được phác họa lại tình hình an ninh và nội chính của Thừa Thiên-Huế, sau ngày 1/11/ 1963:

Sau đảo chánh, ảnh hưởng và thế lực chính trị của PG Ấn Quang, và đặc biệt Trí Quang, Đôn Hậu đối với chính quyền trung ương cũng như địa phương, và trong hàng ngũ tín đồ Phật giáo tại miền trung, nhất là tại Huế, QUÁ MẠNH!

Chùa Từ Đàm trở thành Dinh Độc Lập II, đó là trung tâm quyền lực thật sự cho cả Miền Nam VN. Tại miền trung, chùa Từ Đàm là tàn cây cổ thụ đầy bóng mát, che chở cho mọi hoạt động của các cơ quan dân vận, tôn giáo vận, trí thức vận, tổ chức học sinh, sinh viên “Giải Phóng” thành phố thuộc Đại Học Huế và các trường Trung học. Tất cả đều nằm dưới sự điều động của tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và Thành ủy Việt cộng.

Hầu như không có một cơ quan an ninh nào của chính phủ VNCH dám sờ vào các ổ nằm vùng gần như công khai này. Họ chỉ lấy vải thưa để che mắt thánh, nhưng thật tình không ai dám đụng đến họ cả. Nếu đụng đến họ, sẽ bị lu loa là “tàn dư Mật Vụ Nhu Diệm”, là “đàn áp Phật Giáo”, là TÀN ĐỜI! Mọi tổ chức, mọi cơ sở nội thành của Việt Cộng được phát triển hết năng xuất. Tất cả là nhờ tài điều binh khiển tướng của Trung Tá điệp Viên Hòang Kim Loan, thuộc Cục Tình báo Chiến lược Bắc Việt. Trung gian liên lạc là bí thư thân tín của Thích Trí Quang: Nguyễn Khắc Từ. Sau 1975, Nguyễn Khắc Từ lộ diện là viên đại tá Việt Cộng. Hổ trợ tận tình cho Hoàng Kim Loan là Trí Quang, Đôn Hậu.

Có thể nói từ 1963, sau đảo chánh, đến 1966, là thời gian nỗi lọan Miền Trung của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu. Ba năm oan nghiệt này là thời đại mạt vận của tất cả các cơ quan tình báo dân sự cũng như quân sự của chính phủ VNCH. Trí Quang, Đôn Hậu và hệ thống rất lớn các “thầy tranh đấu” của họ, đã xóa sổ các cơ quan tình báo xuất sắc của chính phủ, tại nhiều nơi. Đặc biệt thảm hại nhất là tại Thừa Thiên- Huế. Hủy diệt các cơ quan tình báo có nghĩa là mở đường cho CS tự do ra vào, có nghĩa là sinh mạng Miền Nam đang hấp hối!

Trước 1963, Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung do ông là do ông Dương văn Hiếu làm trưởng đoàn. Nhưng, người chỉ huy thật sự bên trong lại là ông Ngô đình Cẩn. Ông là một người có năng khiếu thiên phú về tình báo, dù chưa hề qua một trường lớp đào tạo chính quy nào. Có thể nói đây là một năng khiếu bẩm sinh kỳ lạ của ông, đặc biệt là năng khiếu chống du kích chiến và chống dấy loạn trong thành phố. Cơ quan tình báo tinh nhuệ này đã phá vỡ và bắt giữ hầu như toàn bộ các cán bộ tình báo cao cấp của Bắc Việt gởi vào miền Nam. ĐCTĐNMT đã bẽ gãy mọi mưu toan của Hà Nội về chính trị cũng như quân sự, nhất là mục đích phá rối chính trị để làm suy sụp Miền Nam. Xin dẫn chứng tài năng và công lao rất lớn của ông Ngô đình Cẩn, qua lời nói của đối thủ: đại tướng CS Văn Tiến Dũng: “ Dưới thời Diệm, ta đã gởi vào Miền Nam 60 ngàn cán bộ, cuối cùng chỉ còn 5 ngàn, như vậy là thiệt hại đến 90%”. Sau khi ông anh là TT Diệm bị đảo chánh, bị đám tuớng lãnh phản loạn bất chấp luật pháp, bất chấp kỷ cương phép nước, bất chấp đạo lý, bất chấp tình người ,giết, thì ông em út cũng bị cùng chung số phận! Tòa án gì đây? Luật pháp gì đây? luật của Trí Quang? Luật của Đôn Hậu? Luật của cái gọi là“ Phật Giáo đấu tranh”?? Tội gì thưa quý vị? Tội bắt nhiều CS! Ông Dương văn Hiếu, nhờ có ông Cẩn thế mạng rồi, nên quý thầy hơi khó làm áp lực giết thêm nữa. Sau đó, nhờ “đế quốc Mỹ xâm lược” can thiệp, nên chỉ bị tù.

Một cơ quan tình báo tinh nhuệ, đặc biệt, và bí mật khác, do ông Phan Quang Đông chỉ huy cũng bị xóa sổ. Cơ quan này hoàn toàn chỉ liên quan đến những điệp vụ quan trọng ngoài bắc mà thôi. Họ không hề dính dáng gì đến chuyện đàn áp Phật Giáo cả, cũng bị Thích Trí Quang vu vạ rồi giết. Theo lệnh Hà Nội, Trí Quang áp lực, yêu cầu chính phủ đương nhiệm, qua trung gian Nguyễn Chánh Thi, tử hình Phan Quang Đông, một viên chức chỉ huy tình báo tài ba xuất sắc, với tội “ Mật vụ Nhu Diệm”!

Cơ quan tình báo thứ 3 họat đông rất hữu hiệu tại Huế, là Ty Công An Thừa Thiên của chính phủ VNCH. Số phận cơ quan này cũng bi thảm không kém. Ông Lê Văn Dư Trưởng ty bị bắt giữ.

Hầu hết nhân viên phụ trách tình báo của 3 cơ quan này, hoặc bị sa thãi, hoặc bị bắt, hoặc bị thuyên chuyển khỏi các chức vụ trọng yếu. Tất cả cũng với tội danh tương tự: “ Mật vụ Nhu-Diêm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy v,v…”

Sau khi loại trừ sạch các thành phần “Mật vụ Nhu Diệm ác ôn”, các thầy liền thay vào cái bình cũ là cơ quan tình báo của VNCH, loại rượu mới do quý thầy bào chế ra, đó là “rượu nằm vùng”!!

1. Nguyên Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn văn Cán, một cơ sở tình báo rất quan trọng của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan, được phong làm truởng ty CSQG Thị xã Huế. Ngoài ra, Nguyễn văn Cán còn là cơ sở nuôi dưỡng tên Phan Nam, Thành ủy viên thành ủy Việt Cộng Huế, đặc trách an ninh của cơ quan thành ủy VC, trú ngụ thường xuyên trong nhà của Nguyễn văn Cán. Sau 1975 Phan Nam làm Chủ Tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế.
2. Trần văn Cư, đệ tử thân tín của Ông Đôn Hậu, được phong làm trưởng ty Công An Thừa Thiên. Trần văn Cư chính là người thẩm vấn thụ lý nội vụ ông Phan Quang Đông. Thừa lệnh CS Hà Nội, Đôn Hậu, và Trí Quang ngầm ra lệnh cho chính quyền, xử bắn Phan Quang Đông tại Sân Vận Đông Tự Do, thuộc quận III thị Xã Huế, với tội danh : ” Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo thủ tiêu Quí thầy,v.v…”

Đau đớn và cười ra nước mắt, là từ 1966 đến 1968, hai ty Cảnh Sát lại giao cho hai tay nội tuyến Việt Cộng: Ty CSQG tỉnh Quảng Trị thì Trưởng ty lại là Đại Úy Lê Cảnh Thâm, làm việc cho cơ quan Quân Báo của VC. Ty CSQG Thừa Thiên-Huế thì Trưởng ty là Đoàn Công Lập, nhân viên thuộc cấp của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan.

Khoảng thời gian dài này là thời hoàng kim tuyệt đỉnh của các hoạt động CS nằm vùng. Chỉ cần dán nhãn hiệu “ Mật vụ Nhu Diệm đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy” cho kẻ thù, là mọi việc xong ngay! Cả Miền Nam hoang mang, lo sợ, điêu đứng, biết bao thân phận bị vùi dập, cũng vì cái khẩu hiệu này.

Sau khi 3 cơ quan tình báo trọng yếu và vô cùng hữu hiệu này bị “các thầy” xóa sổ, các tổ chức cơ sở Việt Cộng trong thành phố Huế sinh sôi nẩy nở, phát triển tự do như rạ, như nấm . Chính quyền tuy biết, nhưng không dám đụng đến, vì sợ đụng chạm đến Phật Giáo. Sợ đến kinh hoàng mấy chữ “ Mật thám Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo”. Quý thầy đã thật sự thành công trong việc tự tôn, tự đồng hóa “CÁC THẦY LÀ PHẬT GIÁO”. Nói đến đây tôi không khỏi không bật cười, nhớ đến chuyện cũng tương tự như vậy. Đó là chuyện trên 30 năm nay, đảng CSHN cũng đã tự đồng hóa mình là tổ quốc! Và CS cũng đã thành công! Quý thầy cũng thành công!

Đại đa số các tổ chức CS như thế và hầu hết những kẻ tham gia trong các tổ chức đó, đều đã được Trí Quang, Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan bọc cho cái vỏ tôn giáo. Tỷ dụ như Liên Đoàn Học sinh, Sinh viên Phật tử, công chức Phật Tử, Quân nhân Phật tử, Cảnh sát Phật tử, Tiểu thương Phật Tử chợ Đông Ba v..v...

Thành phố mọc lên như rạ những địa điểm hội họp, tiếp xúc, của nhiều trí thức, giáo sư , sinh viên, học sinh, họat động cho các tổ chức trí thức vận, tôn giáo vận của Thành ủy Huế. Những địa điểm nầy trong danh từ chuyên môn chúng tối gọi là những “căn cứ lõm” của địch, tỷ như:

1- Quán Café “Bạn Tôi.”

Ở đường Đào duy Từ , tại vùng Đập Đá thuộc quận III thị xã Huế.

Thành lập bởi Lê văn Sâm, SV luật khoa, chũ quán. Có Ngô Kha, vợ chồng Giáo sư Đỗ Long Vân ở Pháp về, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn hữu Ngô, nhà văn Túy Hồng, Phan Duy Nhân, Trần Quang Long.

2- Lực lượng Giáo chức tranh đấu tại Huế:

Chũ tịch, kiêm chủ bút diễn đàn báo Dân là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phó chũ tịch là Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm.

Ngoài ra còn có tờ Sinh Viên Huế của tổng hội SV Huế, và tờ Lập Trường của nhóm trí thức đại học Huế, do giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chũ trương: Chống lại cái gọi là “Chế độ Diệm mà không Diệm”.

Quý vị độc giả, ai là người uyên thâm, xin hãy diễn giải và dẫn chứng rành rẽ, cụ thể, chứng minh dùm tôi, cụm từ “ Diệm mà không Diệm” này! Tôi chịu thua. Những lộng ngôn này là do ai làm ra? Ai sáng tác? Ai nghe theo? Mục đích là gì? Phá nát tất cả các chính quyền Miền Nam? Bất kể là ai lãnh đạo?

Tổng thống Ngô đình Diệm đã bị họ gián tiếp giết, phong cho danh hiệu mang đầy tính tội ác, rùng rợn, răn đe: “Mỹ Diệm”, “Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy”. Đất nước sau đó tang thuơng đổ vỡ, chính trị rối loạn, nhưng vẫn chưa vừa lòng. Thừa thắng xông tới, họ răn đe các chính quyền kế tiếp khác bằng khẩu hiệu mang tính bình mới rượu cũ: “ Diệm mà không Diệm”. Chỉ đơn giản vậy, nhưng buồn cười thay, một loạt các chính quyền sau đó đều xếp re, không dám hó hé với nhóm “ Phật Giáo Đấu Tranh” này

3- Tuyệt Tình Cốc.

Nằm tại hẽm Âm Hồn thuộc quận I thị xã Huế. Nguyên là ngôi nhà của cha mẹ Hòang Phủ Ngọc Tường, Hòang Phủ Ngọc Phan. Sau khi hai ông bà dời nhà ra gần cửa Đông Ba, anh em Tường, Phan biến nơi nầy thành trung tâm hội họp hoạt động của đám sinh viên, trí thức cơ sở thành ủy VC Huế.

Tuyệt tình cốc là một ngôi nhà tranh, trong một khu vườn nhỏ có cây ngoc lan. Đến mùa hoa nở, hương thơm ngát.

Nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Ngọc Phan đã đặt tên cho cây ngọc lan này là “Cây hoa tình”, và ngôi nhà kia là “Tuyệt tình cốc”,vay mượn trong tác phẩm kiếm hiệp Thần điêu đại hiệp của tác giả Kim Dung

Tuyệt tình cốc thường xuyên do anh em Hòang Phủ Ngọc Tường chủ trì sau nầy còn có họa sĩ Đinh Cường.

Trịnh Công Sơn, nữ văn sĩ Túy Hồng, Ngô Kha, Trần vàng Sao, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân, Trân Xuân Kiêm, chũ tịch tổng hội sinh viên Huế, cũng đã xuất hiện nhiều lần tại đây. Hầu hết đám này là cơ sơ sinh viên và trí thức vận của thành ủy Huế

Tuyệt tình Cốc cũng là nơi xuất bản tờ báo Việt Nam Việt Nam của nhóm trên, trong khoảng thời gian phong trào tranh đấu Miền Trung của Thích Trí Quang, giai đọan cao điểm vào đầu hè 1966.

4-Căn phòng của Lê Văn Hảo,

Giáo Sư nhân chủng học, Đại Học Huế cũng là nơi mà Hoàng phủ Ngọc Tường và đám sinh viên họat động cho Thành ủy VC dùng làm nơi viết và xuất bản báo chí.

Vô số những trí thức, học sinh, sinh viên hoạt động cho VC tại thành phố Huế. Họ tham gia sách động, trong vai trò lực lượng quần chúng: Cách Mạng đấu tranh của biến cố 1963, rồi cuộc tranh đấu bạo động 1966. Hãy nhìn, để phải giật mình tự hỏi: “Huế không mất vào tay CS trước Mậu Thân 1968 thì quả thật là một phép lạ.”. Hãy nhìn danh sách một ổ việt cộng nằm vùng dưới đây:

- Nguyễn Thiết Sinh viên Luật Khoa phụ trách Thanh niên Thành ủy Huế thóat ly lên Mật khu 1965

- Trần Quang Long: SV Việt Hán Đại Học sư phạm thoát ly năm 1968.

- Lê Minh Trường Sinh Viên Mỹ Thuật: vượt ngục lên mật khu, sau đó xâm nhập tái họat đông bị lực lượng CSĐB phục kích bắn chết tại làng Hải Cát Hạ, quận Nam Hòa.

- Vĩnh Kha. SV văn Khoa: chũ tịch Tổng hội SV , đoàn trưởng đoàn Sv Phật Tử.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường: giáo sư.

- Hòang Phủ Ngọc Phan: SV y khoa.

- Nguyễn Đính: SV văn khoa, bút hiệu Trần vàng Sao.

- Phạm thị xuân Quế: bác sĩ. Chủ tịch hội phụ nữ thành phố Huế.

- Thái Thị Ngọc Dư , sau này đậu Tiến sĩ Địa lý học tai Pháp

- Trần Anh Tuấn: Tiến sĩ Luật Khoa tại Mỹ

- Hoàng văn Giàu. Phụ khảo đại học văn khoa Huế. Đoàn Trưởng đoàn SV Phật Tử Huế. Hiện ở Úc Châu

- Thái thị Kim Lan: sinh viên văn khoa , sau du học đậu Tiến Sĩ triết học tai Đức

- Nguyễn Đắc Xuân: SV việt hán, đại học sư phạm.

- Hùynh sơn Trà: SV y khoa, thoát ly 1968

- Nguyễn văn Sở: Đại học Sư phạm Anh văn. Thóat ly 1968

- Lê Thanh Xuâ: thoát ly 1968.

- Ngô Yên Thi: SV văn Khoa. Thoát ly 1968.

- Nguyễn hữu Ngô SV Mỹ thuật

- Trần Hoài SV Việt Hán: Đại học sư pham .Thóat ly 1972

- Nguyễn Đức Thuận VS đại học sư phạm Anh văn. Thóat ly 1968

- Trần bá Chữ: SV đại học sư phạm toán. Thoát ly 1968

- Nguyễn thị Đoan Trinh ,SV dược khoa Đại học Saigòn, sát thủ Mậu Thân 1968. Y thị trực diện đeo băng đỏ, nổ súng, hạ sát rất nhiều người. Thoát ly ngay sau CS bại trận Mậu Thân

- Lê văn Tài: SV Mỹ thuật, thoát ly 1968. hiện ở Úc Châu.

- Nguyễn văn Mễ: học sinh lóp 12 Quốc Học. Thóat ly 1968

- Lê Phước Thúy: SV đại học Sư phạm .thóat ly 1968

- Lê Công Cơ SV đại học khoa học .thóat ly 1968

- Lê khắc Cầm: sinh viên, em giáo sư Lê khắc Phò

- Lê văn Hảo: giáo sư nhân chủng học Đại Học Huế.

- Bà Đào thị Yến, tức Bà Tuần Chi nguyên Hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và cũng là tình nhân của Thích Đôn Hậu. Thoát ly ra bắc cùng với Thích Đôn Hậu, sau Mậu Thân, cùng với Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm. Giáo sư Lê văn Hảo v…v…

- Bửu Chỉ: sinh viên Mỹ thuật.

- Phan Duy Nhân: Sinh viên.

Và còn rất nhiều nữa….

Những cơ sở này, hiệp lực cùng với Thích Trí Quang, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu, Thích Chánh Trực, bí thư thân tín của Thích Trí Quang là Đại Tá tình báo cộng sản Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan, Trung tá điệp viên cục tình báo chiến lược Hà Nội, như thế đủ để phá nát Huế chưa? Thưa, Quá đủ!……..

Vì thế, miền trung, đặc biệt Huế, đang bị nhuộm đỏ cách mạng, vừa hồng vừa chuyên. Miền Trung đang sôi sục lửa đấu tranh căm thù giai cấp! đang là địa ngục của một mạng lưới CS nằm vùng khổng lồ, bán mình cho quỷ

Ngày 23-1-1965 Thích Trí Quang cho lệnh học sinh sinh viên, đồng bào biều tình kéo đến đốt tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa. Sau đó đoàn biểu tình kéo đến đốt phòng Thông tin văn hóa Hoa Kỳ (USIS) tại số 8 đường Lý Thường Kiệt ,thuộc quân III thị xã Huế.

Ngày 27-2-1965 đám này họp báo ra mắt “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình và Hạnh Phúc Dân Tộc” và “Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết”.

Chũ tịch là Thượng Tọa Thích Quãng Liên. Các thành viên: Bác sĩ Thú y Phạm văn Huyến, thân sinh bà Phạm Thị Thanh Vân ,tức bà Ngô Bá Thành. Nhà báo Phi Bằng, tức Cao Minh Chiến, Luật sư Trịnh Đình Thảo. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Bác sĩ Lê Khắc Quyến khoa trưởng Đại Học Y Khoa Huế cũng bí mật nằm trong tổ chức nầy.

Về Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, chủ tịch là Luật Sư Nguyễn Long. Các đoàn viên chủ chốt là kỹ sư Hồ văn Bửu, kỹ sư Tô văn Can.

Hai Tổ chức nầy đều đòi hỏi:

* Quân đội Hoa Kỳ phải triệt thoái khỏi miền Nam việt Nam.
* Vấn đề thống nhất của Việt Nam phải để cho người Việt Nam tự quyết.

Ngày 1-3-1965, Thủ tướng Chính phủ VNCH, bác sĩ Phan Huy Quát, ra lệnh cách chức gần 50 công chức và khoảng 30 người bị bắt giữ. Trong đó có Cao Minh Chiến, giáo sư Tôn thất Dương Kỵ và Thú Y sĩ Phạm Văn Huyến.

Ba nhân vật nầy được giải ra Huế. Tướng Nguyễn Chánh Thi muốn thả dù nhóm này qua bên kia vỹ tuyến 17. Thủ Tướng Phan Huy Quát phản đối vì sợ báo chí và dư luận quốc tế xuyên tạc.

Ngày 19-3-1965, Tướng Nguyễn Chánh Thi chũ tọa một buổi lễ ngay tại bên này cầu Hiền Lương, sau bài diễn văn, Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và bác sĩ thú y Phạm văn Huyến được dẫn từ phía bên nầy cầu, thuộc vùng chính phủ VNCH, sang đến giữa cầu, giao cho Cộng sản Hà Nội. Cả ba lặng lẽ đi qua phía bên kia cầu phân chia biên giới Nam Bắc.

Tình hình Huế mỗi ngày mỗi trầm trọng. Ngày 6-6-1966 lúc 12 giờ trưa, trên đài phát thanh tranh đấu tại Huế, Thích Trí Quang, tên cờ gian bạc lận, buôn thần bán thánh này, rút con bài cuối cùng: “Bàn thờ Phật”. Trí Quang chơi xã láng canh bạc cháy túi, không kể gì đạo đức tối thiểu: Đưa bàn thờ Phật xuống đường! Phật nào đồng ý cho hành động này?... Ngược lại, Phật đã độ trì người con trung nghĩa xứ Huế: đại Tá Nguyễn Ngọc Loan và lực luợng Đặc Nhiệm dẹp loạn miền Trung

Chỉ sau hai tuần lễ kể từ ngày 9-6-1966 toàn bộ lực lượng tranh đấu của Thích trí Quang đã bị dẹp tan. Thích Trí Quang và đồng bọn, Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh QĐI. Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư Lệnh Sư Đòan I. Tất cả bị Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ.

Tôi liên tục mở các cuộc hành quân cảnh sát, bắt giữ toàn bộ đám cơ sở việt cộng nằm vùng cài trong Phật giáo, trong các tổ chức giáo chức, học sinh , sinh viên thuộc lực lượng tranh đấu của Thích Trí Quang. Một số lớn bọn chúng bị bắt giữ ngay, nhưng cũng có một số ít đã được Trung Tá điệp Viên Hoàng Kim Loan gởi giao liên và đưa lên mật khu. Điển hình hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân.

Chuyện khám phá ra TCS hoạt động nằm vùng, là do chúng tôi theo dõi anh em họ Phan. Cuộc đào thoát của hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Phan đã may mắn làm bộc lộ chân tướng của Trịnh Công Sơn.

Người đứng ra thi hành là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, và Lê Cảnh Đạm, lúc đó là Tổng Thư Ký Đại Học Y Khoa Huế. Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm là cán bộ trí thức vận của cở quan thanh ủy VC Huế.

Và tôi đã vô cùng bàng hoàng, buồn bả ngẩn người, khi thấy Trịnh Công Sơn dính trong vụ này.

Lực lượng CSĐB đã bám sát theo dõi hai mục tiêu Tường và Phan từ lúc bọn này ẩn trốn tại nhà sách Khánh Quỳnh tại ngã tư Anh Danh, thuộc Quận I thành phố Huế. Tiệm sách nầy là của gia đình Tôn Thất Dương Kỵ một cán bộ cộng sản gộc tại Huế.

Sau đó, bọn chúng di chuyển qua trốn tại số 66 đương Phan Chu Trinh Quân III thị xã Huế. Đây là nhà an toàn của cơ quan Thành ủy VC Huế. Chủ nhân cũng là cơ sở nội thành, tên là Nguyễn Chính. Số 66 Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư Phan Chu Trinh Nguyễn Trường Tộ, ngay đầu cầu Phủ Cam. Bên này cầu Phủ Cam là nhà tên Chính, và bên kia cầu Phủ Cam là nhà Trịnh Công Sơn, nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện với tòa Tổng Giám Mục Huế.

Đó là một dãy chung cư. Căn của Trịnh Công Sơn và gia đình trú ngụ là: 11/3 Đường Nguyễn Trường Tộ. Quận III, thành phố Huế.

Tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 11/6/1966. Trời nhá nhem tối, tôi chỉ huy điệp vụ, đứng hơi xa hiện trường. Hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường từ nhà Chính, bên này cầu Phủ Cam, đi rất nhanh sang nhà Trịnh Công Sơn, bên kia cầu Phủ cam. Trịnh Công Sơn đã có kế hoạch chuẩn bị trước cho hai tên này ăn cơm tối tại nhà. Sau đó, một chiếc xe hơi màu trắng đến đón Tường và Phan đi ngay.

Tài xế là Lê Cảnh Đạm. Hộ tống là giáo sư Tôn thất Dương Tiềm. Họ lên chùa Thiên Mụ, và sau đó đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.

Chiếc xe hơi trắng đó là của bà Tuần Chi, tức Đào Thị Yến. Mậu Thân 1968, bà giữ chức vụ Phó chũ tich Ủy Ban nhân Dân Thành Phố Huế. Vài ngày sau, đã cùng một phái đoàn đông đảo trí thức miền Nam và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu- mà theo sự theo dõi ghi nhận của CSQG Thừa Thiên Huế, cũng là người tình của bà, thoát ly ra Bắc.

Đó là lần đầu tiên mà lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên Huế phát hiện hành động tiếp tay cộng sản của Trịnh Công Sơn.

Tôi sẽ không như Trịnh Cung hoặc Anh Đặng văn Âu chỉ nói thoáng qua về TCS. Vì “ méo mó nghề nghiệp”, tôi sẽ đi từng chi tiết một. Từ đời tư, gia đinh , tình ái, sức khỏe, cá tính, tham vọng, đến những công tác tình báo mà TCS cộng tác với chúng tôi, những công việc mà TCS cộng tác với Cộng Sản, những công việc mà TCS cộng tác với Tình báo Ngọai Quốc. Kết quả và ảnh hưởng của những hành động của đương sự, đã gây tác hại như thế nào cho Miền Nam VN.

Đương nhiên sẽ đụng chạm và gây sóng gió. Và sóng gió không chỉ giới hạn riêng nhân vật TCS. Nhưng chỉ là sóng gió cho những ai trót đem lòng ngưỡng mộ tôn thờ nhân vật này một cách nhẹ dạ mù quáng. Còn những ai có chút bình tâm suy xét, biết yêu lấy quê hương khốn khổ này, thì những thông tin mà tôi đưa ra, sẽ chỉ là những xác tín. Nó rành rành như 2+2 là 4. Với tất cả lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với người dân Miền Nam và với lịch sử. Những gì tôi viết, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi sẵn sàng đối chất vói bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào về vấn đề TCS. Và đặc biệt tôi càng rất muốn đối chất với những ai cho rằng những thông tin mà tôi đưa ra là sai trái về TCS và bất cứ nhân vật nào hoạt động CS có tên trong bài này

Ngay sau đó, tôi cho lệnh mở hổ sơ TCS, điều tra lý lịch chi tiết, bám sát theo dõi đương sự. Công việc nầy được giao cho toán xâm nhập E-16, mà trưởng toán là anh Nguyễn Bá Sơn.

Một thời gian sau, nhiều phát hiện cho thấy, TCS từ lâu đã có quan hệ chặt chẽ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Phan Duy Nhân, và đặt biệt với một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành ủy VC. Cán bộ đó là Lê Khắc Cầm, em ruột của giáo sư Lê khắc Phò. Y sống hợp pháp trong thành phố Huế, Trịnh Công Sơn rất thường xuyên liên lạc với y

Ngoài ra, toán theo dõi cũng phát hiện được một số các cơ sở trong tổ chức trí vận thuộc tổ chức Hoc sinh Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế cũng có liên lạc chặt chẽ vói TCS như:

Huỳnh Sơn Trà, SV Y khoa. Đặng văn Sở, Đai học Sư phạm. Lê Thanh Xuân SV Luật khoa. Trần Hoài Đai học sư phạm Việt Hán. Giáo sư Ngô Kha, Đinh Cường, Trần quang Long, Trần Vàng Sao, Bửu Chỉ, và nhiều….nữa….

Với những dữ kiện, tin tứ, của trưởng toán xâm nhập Nguyễn bá Sơn trình lên, tôi quyết định móc nối, ép TCS làm tình báo viên xâm nhập trong tổ chức trí vận và tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng của cơ quan thành ủy VC Huế.

Công việc nầy không khó. Vì đã nắm rất vững vàng và có đầy đủ bằng cớ là TCS hoạt động CS, nên khi tôi bí mật tiếp xúc với TCS tại nhà an toàn của cơ quan tình báo Thừa thiên Huế, trong khoảng thời gian gần 4 tiếng đồng hồ, TCS, không còn cách nào khác, buộc phải cộng tác.

Và tôi có tin TCS không? Theo bản tính nghề nghiệp, dĩ nhiên, tôi phải nói chữ không. Ngay sau đó, tôi cài thêm một nhân viên tình báo xâm nhập tiếp cận vói TCS và những bạn bè cơ sở nội thành VC của TCS để có thể theo dõi và phối kiểm một số tin tức mà TCS cung cấp cho chúng tôi, cho đến tận ngày 29 tháng tư 1975.

Nhân viên này chính là một nhân chứng sống, để có thể xác nhận cho những ai còn thắc mắc rằng có phải TCS là nhân viên tình báo xâm nhập của lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, gài trong tổ chức cơ quan trí vận của thành ủy VC Huế hay không. Chính anh ta là người mà tôi đã giao cho ba giấy chứng nhận để đưa tận tay cho ba người: TCS và 2 người khác, xin tạm dấu tên

Đó là ba “Sự vụ lệnh công tác đặt biệt’ do tôi, với tư cách là Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế và là Tổng Thư ký điều hành Ủy Ban Phượng Hoàng tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, “yêu cầu mọi cơ quan Quân, Dân Chính, giúp đỡ người cầm giấy này đang thi hành phận sự”.

Sự Vụ Lệnh đặc biệt mà tôi cấp cho Trịnh Công Sơn là một lá bùa hộ mạng cực mạnh, bao bọc cho anh ta trong suốt nhiều năm. Nó đã giúp anh ta trốn quân dịch, khỏi bị bắt trong các cuộc ca hát phản chiến, hoặc biểu tình chống chiến tranh, chống chính phủ VNCH.

Vậy mà trong nhiều năm qua tại hải ngoại có một vài bài viết nói rằng trong thời gian chiến tranh, TCS phải trốn tránh cực khổ, nhọc nhằn để khỏi bị bắt đi quân dịch. Rõ là họ chỉ viết theo trí tưởng tượng, những hiẻu biết mù mờ, hoặc theo lời kể vu vơ mơ hồ đâu đó.

Nhân viên giao sự vụ lệnh đặc biệt của tôi cho Trinh Công Sơn hiện đang định cư tại vùng ngoại ô Washington D.C. Hoa Kỳ. Anh ta là một nhân chứng sống về vụ nầy.

1- Lý lịch ghi nhận tại cơ quan CSQG Huế

Sinh ngày 28/2/1939

Học lực: Tú tài I, tức lớp 11. Chương trình Pháp.

Tốt nghiệp trường sư phạm Quy Nhơn.

Giáo viên Tiểu học.

Nghiện rượu và thuốc lá nặng.

Sức khỏe trung bình.

Bị bệnh xuất tinh sớm, sau đó đến 1974 hoàn toàn bất lực.

Bản chất: Trầm lặng , kín đáo, khôn ngoan, giỏi che đậy ý nghĩ của mình.

Xem trọng tiền bạc, có tính phản bội , trọng phú khinh bần, sẵn sàng quay lưng với bạn bè hay ân nhân của mình trước kia, nếu như họ sa cơ lỡ vận

Gia đình:

Phụ thân của TCS là một quân nhân phục trong quân đội Pháp, nghành tình báo, phòng 2. Ông bị tử nạn xe hơi do xe của quân đội Pháp gây ra.

TCS có một người Cậu ruột là Lê văn Tông, một thương gia giàu có tại đường Phan Bội Châu, Huế. Ông nầy có vợ lai Pháp hiện định cư tại Pháp. Ông ta là võ sư Nhu Đạo Judo club Huế. Thật ra TCS không học nhu đạo ngày nào cả. có lẽ Trịnh Cung không biết, nên đã viết TCS có tập nhu đạo. Trịnh Công Hà, em TCS mới học nhu đạo. Hà là người từng gây chấn thương cho Trịnh Công Sơn khi Trinh công Hà dùng một thế võ khóa chặt TSC giữa sàn nhà, trong lúc hai anh em giỡn chơi với nhau.

TCS là anh đầu trong một gia đình đông con.

Các em trai là:

1- Trịnh Công Hà.

Sĩ Quan Quân Lực VNCH

Cấp bậc cuối cùng : Đại úy

2- Trịnh xuân Tịnh

Trốn quân dịch.

Các em gái:

1- Trịnh vĩnh Thúy

Chồng là giáo sư Ngô Kha.

2- Trịnh vĩnh Tâm.

Chồng là Đại úy QLVNCH Hoàng Tá Tích. Hoàng Tá Thích có anh ruột là Hoàng Xuân Tùy cấp bậc Đại Tá, Chính ủy Sư Đoàn Điện Biên Việt cộng. Sau 1975 làm Thứ trưởng bộ Đại Học.

3- Trịnh thị Hồng Diệu. Không có gì đặt biệt.

4- Trịnh thị vĩnh Ngân. Không có gì đặc biệt.

5- Trinh vĩnh Trinh, em út. Theo ghi nhận, Trịnh vĩnh Trinh cùng mẹ khác cha với những người trên.

Đã có quá nhiều tranh cải về TCS, quá nhiều câu hỏi được đặt ra: ‘Trịnh Công Sơn bên mô? Bên Ni? Bên tê”.

Trong chức vụ và trách nhiệm của một Phó trưởng Ty CSĐB và sau đó là Chỉ Huy Truởng BCH/CSQG/Tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế trong 9 năm, từ tháng 6/1966 đến đầu năm 1975, và là người đích thân áp lực, móc nối và sau đó điều khiển TCS trong chiến dịch xâm nhập vào các bộ phận trí thức vận, tôn giáo vận. học sinh sinh viên Giải Phóng Thành Phố Huế, qua những phòng trào quần chúng đấu tranh tại đô thị của cộng sản, tôi có thể xác nhận rõ ràng và minh bạch về con người của Trịnh Công Sơn:

- Trịnh công Sơn: Bên ni. Quốc gia

- Trịnh Công Sơn cũng là: Bên tê. Cộng sản Hà nội

- Trinh Công sơn còn có khả năng là : Bên nớ. Tình báo ngoại quốc

Hay nói một cách thẳng thắn, theo danh từ chuyên môn của ngành tình báo, thì Trịnh Công Sơn là điệp viên hai mang 100% và có khả năng mang thứ ba là làm cho cơ quan tình báo ngọai quốc. Nhưng vấn đề đuợc đặt ra là, mang nào là mang chính ?

I- Trịnh Công Sơn: Bên ni.

Có phần đúng, TCS bên ni. Chính tôi đã tổ chức TCS làm tình báo viên cho ngành Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế. Mặc dầu trong khoảng thời gian từ 1966 đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 cũng có lúc gián đoạn tạm thời vì anh ta không ở Huế. Nhưng chung chung thì anh ta đã hợp tác với chúng tôi trong khoảng thời gian không phải là ngắn.

Có người sẽ đặt câu hỏi, cái gì đã làm cho Trinh Công Sơn hợp tác với Liên Thành, hay nói thẳng ra là chấp nhận làm tình báo viên cho CSĐB/ thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên- Huế:

1- vì có máu phiêu lưu ưa mạo hiểm nuốn thành điệp viên?

Câu Trả lời: Không phải.

2- Vì tình cảm cá nhân giữa Liên Thành và Trịnh Công Sơn? Vì hai người quen biết với nhau từ lâu?

Câu trả lời: cũng không phải.

3- Vì tinh thần ái quốc, tinh thần trách nhiệm của người quốc gia, tinh thần trách nhiệm của một người trẻ đối với hiện tình đất nước vào thời điểm đó?

Cậu trả lời: lại càng không phải.

4- Vì quyền lợi bản thân, vì an ninh bản thân?

Câu trả lời: Đúng. Hoàn toàn đúng!

Khi tổ chức TCS, tôi đã dùng chiến thuật “Cây gậy và củ rà rốt”:

Tôi đã đưa ra những bằng chứng rành rành hành động tiếp tay của TCS trong việc đào thoát của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, do cơ quan B5 và thành ủy Huế trực tiếp tổ chức. Rồi việc một số cơ sở nội thành VC trong giới trí thức, sinh viên tiếp xúc thường xuyên với TCS, và nhất hạng là việc cán bộ Thành ủy Việt Cộng Huế Lê Khắc Cầm, đã nhiều lần tiếp xúc vói TCS.

Tôi đã nói với TCS:

“Với chừng đó sự việc đủ cho tôi có thể ký lệnh bắt giữ anh, cho thẩm vấn , thiết lập hồ sơ, không đưa ra tòa, mà trong quyền hạn và chức vụ của tôi ,ngoài Chỉ huy Trửởng CSQG, Tổng thư ký điều hành Ủy ban Phượng Hoàng tỉnh, tôi còn giữ chức vụ là tổng thư ký Hội Đồng An Ninh Tỉnh, tôi có thể đề nghị vì tình hình an ninh, giữ anh hai năm tại Phú Quốc và sau hai năm lại tái xét. Cứ như vậy mỗi đợt 2 năm. Có bao nhiều lần hai năm tại đảo Phú Quốc trong đời người, Anh có chịu nỗi không? “

Đó là cây gậy mà tôi dùng làm áp lực với TCS.

Vậy còn củ cà rốt?

Ngoài những giúp đỡ, phe lờ những việc không tiện nói ra, để gia đình TCS có thể kiếm sống, củ cà rốt rất ngọt là một Sự Vụ lệnh đặt biệt đại khái:

“ Họ và tên…….

Người mang giấy nầy là viên chức Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân, Chính giúp đỡ, trong khi thừa hành phận sự.

Huế , ngày….

Chỉ Huy Truởng CSQG TT-Huế

Kiêm Tổng Thứ ký Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh.

Thiếu tá Liên Thành. “

Bề mặt và bề trái của tấm giấy này chỉ để bảo vệ cho TCS trốn lính.

Để đổi lại, TCS cung cấp những tin tức địch mà chúng tôi cần. Tỷ như:

Danh tánh tổ chức, cá nhân các cơ sở nội thành VC trong các tổ chức trí vận, dân vận, tôn giáo vận của Thành ủy VC. Các đường dây các trạm liên lạc nội thành của bọn chúng, kế hoạch hành động của bọn chúng v…v…Tóm lại những gì mà TCS biết được.

Nhưng những gì áp lực,những gì gượng ép, bắt buộc, thường kết quả không như mình mong muốn. Những gì TCS cung cấp cho chúng tôi chỉ là 1/10 những sự việc mà TSC biết được. Có nhiều việc rất quan trọng mà TCS đã tham gia, biết rõ ràng, tường tận, nhưng y vẫn giữ im lặng, không hề báo cáo. Trong khi đó, thì một đường dây nội tuyến khác của chúng tôi đã phúc trình sự việc lại cho chúng tôi. Xin đơn cử một vài trường hợp sau đây:

1-Tại bờ sông Hương thuộc vùng Gia Hội, đọan đối diện với rạp Ciné Châu Tinh có một bến đò, thường xuyên có một chiếc đò neo tại đó, của một cặp vợ chồng nghèo, bán chè cháo độ nhật trên sông Hương về đêm. Người chồng là cơ sở nội thành của VC, nhưng thật ra lại là người của chúng tôi. Chiếc đò đó chúng tôi đã bỏ tiền ra mua và giao cho cơ sở sử dụng làm trạm liên lạc gặp mặt của cán bộ nội thành VC. Rất nhiều cán bộ, cở sở việt công trong tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng thành phố Huế đến đó để hội họp, như: Bửu Chỉ, Ngô Kha, Trần Hoài, Hoàng thị Thọ, Phạm thị Xuân Quế… và ngay cả đương sự là TCS cũng đã đến đó hội họp một đôi lần. Nhưng tuyệt đối không bao giờ TCS cho chúng tôi biết trạm liên lạc này.

2-Cũng như vậy, trạm thứ hai là một quán café gần nhà Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Đây cũng là trạm liên lạc hội họp nội thành của bọn chúng. Chính TCS đã đi cùng Ngô Kha đến đây nhiều lần, nhưng đương sự vẫn tuyệt đối không báo cáo lên.

Chúng tôi cũng phát hiện rất nhiều thư từ, tài liệu VC từ nội thành Huế chuyển vào Saigon do TCS giao cho Nguyễn Hữu Đống chuyển đi. Lợi dụng những chuyến bay quân sự của một số bạn bè Không Quân, nên không bị ai soát hỏi.

II- Trịnh Công Sơn : Bên tê?

Những ai đã nghĩ rằng TCS là người Cộng Sản, hoạt động cho Cộng Sản điều đó đúng, đúng 100%. Tôi khẳng định như vậy .

Câu hỏi Trinh Công Sơn: Bên tê?

Câu trả lời của tôi: Trịnh Công sơn bên tê. Y hoạt động cho cộng sản.

Cán bộ điều khiển và chỉ đạo trực tiếp đương sự là: Lê Khắc Cầm.

Như đã biết trong một buổi họp mặt tại Tuyệt Tinh Cốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vào thời điểm cao trào tranh đấu Miền trung đang lên cao 1965-1966, trước sự hiện diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, HP Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đinh Cường, Nữ văn sĩ Túy Hồng, Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, những tay SV tranh đấu gộc và cũng là đám cơ sở của Thành Ủy Huế, Trịnh Công Sơn đã hát một ca khúc mới. Bài này chỉ nói lên nỗi bất hạnh của tuổi trẻ bị cuốn vào cơn bảo của cuộc chiến, nhưng hoàn toàn không nói gì đến nguyên nhân của cuộc chiến, di hại của nó, cũng như cách giải quyết vấn đề, như là nhạc của các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Phạm Duy vv. Bài hát đó là bài“Vết lăn trầm”:

“Bài ca dao trên cồn cát, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh….rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình…”

Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của cộng sản HN, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của CS. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với TCS đang cầm súng chiến đấu tất bật, thì TCS không làm gì cả. Chỉ ăn xổi ở thì, đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình, nên đi làm cộng sản

Sau nầy TCS viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám SV, trí thức, hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người VN, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của TCS là chế ra những loại thuốc độc như thế!

Cũng đã có một vài phúc trình nói rằng, có một vài bài nhạc phản chiến của TCS, nhạc của TCS nhưng lời của Phan Duy Nhân. Phan Duy Nhân là một sinh viên, cán bộ cộng sản. Tôi nhớ không lầm thì y đã bị bắt và giam tại Côn Sơn từ sau Mậu Thân 1968

III- Trinh Công Sơn: Bên nớ ? tức cơ quan tình báo ngọai quốc

Tôi không muốn trả lời là YES, hay NO.

Không thể trả lời Yes vì chưa có thể công bố lúc này

Nhưng cũng không thể: SAY NO vì:

1- có một số tin tức khá chính xác, cho rằng một số bài nhạc gọi là “Phản Chiến”, TCS đã viết theo đơn đặt hàng của tình báo ngọai quốc. Loại nhạc này được tung ra để tạo thêm chứng cớ là dân Miền Nam không muốn chiến tranh, muốn đầu hàng CS?. Bối cảnh phản chiến như thế, rất thích hợp và xác đáng cho việc “ Đồng minh tháo chạy”.

2- Như Trịnh Cung đã viết:

“ Ngày 30 tháng 4 thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó Đỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ, đề nghị Sơn là đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ”.

Đỗ Ngọc Yến là ai?

Ông Đỗ Ngọc Yến là nhân viên Tình báo xuất sắc của chính phủ VNCH. Nhiệm sở phục vụ là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo.

Tình báo ngọai quốc đã phát hiện được những hoạt động của Ông Đỗ Ngọc Yến trong sinh viên hoặc báo chí tại Sài Gòn, như là một cán bộ nội thành VC. Họ đã không biết rằng Đỗ Ngọc Yến là nhân viên của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, được gài vào nằm vùng trong tổ chức địch, nên đã móc nối ông Đỗ Ngọc Yến . Là một người trung thành với đất nước, ông Yến trình sự việc nầy lên thượng cấp để xin chỉ thị. Ông đã được Phủ Đặc Ủy Trung Ương chấp thuận để ông làm việc cho tình báo ngọai quốc.

Tôi bạch hóa trưởng hợp của ông ĐNY, bởi lẽ, chính thể VNCH không còn, và Ông ĐNY cũng đã yên nghĩ. Nhưng ông còn để lại một nỗi oan sai trên cõi đời phiền muộn này. Và những điều tôi nói ra không còn vi phạm an ninh cá nhân của ông nữa, cho nên tôi phải nói. Mục đích của tôi là chỉ muốn minh oan, hay đúng hơn là trả lại danh dự cho một nhà báo tài ba, yêu nước. Khi tấm hình ông Yến ngồi chung với tên Nguyễn Tấn Dũng Thử tướng chính phủ Cộng sản Việt Nam được tung ra, thì dư luận liền cho Ông Yến là Cộng Sản. Mục đích của việc làm này chắc ai cũng hiểu.

Tấm hình đó, hơi giống truờng hợp tấm hình của nhiếp ảnh gia Mỹ Adam chụp Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công Cộng sản Bảy Lốp, trong Mậu Thân 1968 tại Sàigon. Tấm hình đó chỉ có thể nói lên được một nửa những gì mà Adam muốn nói. Còn một nửa kia thì cần phải phân tích thật kỹ càng, rồi hãy kết luận về Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cũng chưa muộn .

Cũng vậy, Đỗ ngọc Yến ngồi chung với Nguyễn Tấn Dũng có thể vì nghiệp dĩ tình báo và mối dây vương vấn của ông ta chưa dứt. Bởi vì ngày xưa ông đã phải vì nhiệm vụ, tuân lệnh thượng cấp, là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, họat động cho tình báo ngọai quốc. Và con tằm lại phải tiếp tục nhả tơ. Đó cũng là chuyện bình thường của một người làm tình báo chuyên nghiệp như ông mà thôi. Còn trái tim ông vẫn để lại VNCH

Xin trả lại công bằng, công lý và danh dự cho Ông Đỗ Ngọc Yến, một chiến sĩ tình báo xuất sắc của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH

Vậy thì, chuyện Đỗ Ngọc Yến đi cùng nhà báo Mỹ đến, đề nghị đón Sơn và gia đình đi Mỹ vào ngày 30/4/1975 theo lệnh của ai?

- Phủ Đặc Ủy Trung uơng tình báo VNCH? Điều này không có

- Tình báo Việt Cộng?

- Tình báo Ngoại Quốc?

Chắc quí vị đã biết câu trả lời, là ai đã phái Đỗ Ngọc Yến và nhà báo Mỹ đến đưa TCS và gia đinh đi Mỹ, không cần tôi phải nói ra.

Những phân tích của CSQG Thừa Thiên Huế và suy nghĩ, ý kiến của tôi về Trịnh Công Sơn

Là một cán bộ điều khiển TCS trong chiến địch xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức Cộng Sản tại Hu, trong một thời gian khá dài, BCH CSQG Thừa Thiên Huế và tôi có những nhận xét sau đây.

1- Mặc dầu hợp tác với cơ quan tình báo quốc gia nhưng trái tim của TCS đã dành cho cộng sản.

2-Những xáo trộn chính trị, những cuộc biểu tình , đình công bãi thị, những ngày tuyệt thực, những đêm không ngủ, những màn văn nghệ đấu tranh phản chiến, đòi hòa bình (như đòi kẹo? nghe thật là dễ! thật là ngây thơ!), đòi người Mỹ rút quân, của đám trí vận nội thành, diễn ra triền miên tại Đại Học Huế, trên khắp ngỏ đường của cố đô. Công khai , hoặc bí mật, TCS đều góp tay vào.

3- Nỗi sợ lớn nhất trong đời TCS là sợ đi lính. Vì thế, bằng mọi giá, chấp nhận mọi điều kiện, để y được bao che trốn lính. Ngoài ra, để chắc ăn, TCS còn quyết tâm ve vãn các giới chức cao cấp của chính quyền VNCH thích nhạc của y, để cho y dễ dàng trốn lính. TCS đã trở thành con người hèn hạ thiếu tư cách

Trịnh Cung nói:

“TCS sai lầm với ngừoi Cộng sản như sau:

Không ở trong đường dây của một tổ chức và chịu sự lãnh đạo của một tổ chức đó.”

Phát biểu của Trịnh Cung hoàn toàn dựa trên cảm tính, không dựa trên sự kiện. Phát biểu này hoàn toàn sai sự thật.

Ông Trịnh Cung, theo ghi nhận của CSQG, đã đổi tên từ Nguyễn văn Liễu ra thành Trịnh Cung, không chỉ bởi tình bạn với TCS, mà còn bởi quan hệ tình cảm với cô em gái TCS là Trịnh Vĩnh Thúy. Có thể vì mối ràng buộc tình cảm nhiều mặt đã che mờ sự sáng suốt, nên Trịnh Cung đã không biết rằng ông anh rễ hụt đang hoạt động cộng sản.

Tôi xin xác định: Trịnh Công Sơn nằm trong tổ chức trí vận của cơ quan Thành Ủy Việt Cộng Huế hẳn hoi. Và cán bộ lãnh đạo chỉ huy TCS là Lê Khắc Cầm

TCS đã nằm trong tổ chức nằm vùng tại Huế. Từng nhúng tay phối hợp giải thoát Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, theo chỉ thị của B5 và thành ủy. Sau này, những tên đại ác đó trở thành đao phủ thủ Tết Mậu Thân. TCS nghĩ gì khi viết và hát: “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy, những hố hầm, đã chôn vùi thân xác anh em…”

Xin hỏi vong hồn TCS, ai chôn xác anh em? Ai đã đập đầu anh em? Và ai đã giúp giải cứu những đại đồ tể này, để trở về giết dân lành Huế? TCS có trách nhiệm trong chuyện này hay không? Xin hỏi vong hồn ông?

Biết rất rõ ai gây ra chuyện thảm sát rùng rợn tại quê hương của chính mình, nhưng TCS sau đó vẫn tiếp tục hoạt động nằm vùng. TCS còn có trái tim không? Có tình nguời không? Rồi TCS vẫn viết nhạc phản chiến, mục đích phản đối chiến tranh một chiều. Có nghĩa là TCS chỉ phản đối cuộc chiến đấu của người đang phải tự vệ. Còn thì TCS ủng hộ và tiếp tay cho sự xâm lăng bằng vũ khí của CS đối với người dân Miền Nam. Như vậy, thử hỏi TCS có lương thiện không? Những lời lẽ mang tính triết lý về thân phận con người, trong nhạc TCS có thật sự từ trái tim anh ta? Nó có chút tình người nào không? Hay chỉ là những giai điệu vay mượn dối trá, phục vụ cho ác quỷ?

Trịnh Công Sơn phối hợp thưởng xuyên với lực lượng Sinh Viên Giải phóng thành phố Huế của trường Đại Học Huế, nhằm thi hành công tác dân vận, trí vận, qua những hội thảo, ca nhạc phản chiến. Tên tuổi đám CS nằm vùng có liên hệ chặt chẽ với y tôi đã viết ở phần trên.

Theo Trịnh Cung, Trinh Công Sơn:

“Không dám thoát ly theo MTGPMN”. Điều này hoàn toàn không đúng, bởi lẽ:

Vai trò và trách nhiện của TCS rất quan trong trong việc gây suy sụp tinh thần yêu nước của nhiều tầng lớp thanh niên Miền Nam Việt Nam. Qua những bản nhạc phản chiến, TCS đã tạo được một tình trạng tâm lý ươn hèn chủ bại cho một số người Miền Nam. Một số khác phản ứng chống chính quyền, gây bất lợi về mặt chính trị cho quốc gia. Như vậy, TCS đã và đang thực hiện được sứ mạng mà CS rất cần thời bấy giờ

Nếu TCS thoát ly, thì nhạc TCS sẽ bị chính quyền cấm. Và như thế thì làm sao có những buổi hội thảo chống chiến tranh? Làm sao TCS có thể đích thân tham dự, phổ biến nhạc phản chiến? Làm sao trở thành thần tượng, lôi cuốn đông đảo giới trẻ tham dự tại các trường Đai học Huế, Saigòn, Đà Lạt?

Về phương diện nầy, ta thấy ngay, MTGP đã khôn ngoan để TCS ở lại hậu phương địch, có lợi nhiều hơn là rút TCS ra mật khu.

Hơn nữa nếu TCS thoát ly ra mật khu, thì không phải tự ý y quyết định được, mà do Thành ủy Huế. Y không gặp nguy hiển như Tường và Phan, thì tại sao phải điều y ra mật khu? Trong khi nhu cầu hiện diện của y tại các đô thị, để hổ trợ cho các tầng lớp quần chúng đấu tranh, rõ ràng có lợi cho MTGP nhiều hơn.

Có một vài sự việc liên quan đến TCS tôi vẫn thuởng nghe trên một số báo chí, diễn đàn tranh cãi bàn luận:

1- Trinh Cung và một vài người đã: nói trong Mậu thân 1968 Trinh Công Sơn bị công sản giết hụt.

Ai giết hụt TCS? Hoàng phủ ngọc Tường? Hoàng Phủ Ngọc Phan? Nguyễn Đắc Xuân?

Ba tên ác quỹ này khi đó đang ở cánh Bắc của trận đánh Huế. Tức vùng chiến trận Quận I và Quận II. Cả ba đang say sưa lấy máu tươi, giết đồng bào vô tội, làm gì có thì giờ để mà sang quận III, nơi TCS trú ngụ? Mà nếu có qua được Quận III chăng nữa, thì cũng chỉ để ôm nhau vui mừng, cùng hát bài: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Vì TCS với bọn này “vừa là đồng chí, vừa là anh em mà”

Tôi khi đó là phó Trưởng ty CSĐB, và là Quận trưởng quân III, vùng TCS trú ngụ. Vì vậy tôi biết rõ chuyện nầy lắm, xin đừng bịa đặt.

2-Ngày 30/4/1975 TCS cùng gia đình đã vào Phi trưởng Tân Sơn Nhất để đi cùng Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhưng TCS và gia đình đã bị ông Kỳ bỏ rơi. Lại một chuyện bịa đặt nữa.

Ngày 28 tháng 4/ 1975 tôi gặp TCS tại một địa điểm đã hẹn trước, tại thành phố Saigon. Tôi nói với TCS:

- “Tôi là người sẽ đưa anh đi. Đã có phương tiện cho anh và gia đình. Mỗi người chỉ mang một xách tay nhỏ mà thôi”.

TCS đã trả lời tôi:

- “Cám ơn Liên Thành, nhưng mình quyết định ở lại. Người cần đi là Liên Thành, nên đi gấp đi”.

Tôi chia tay TCS khoảng 11 giờ trưa ngày 28 tháng 4 năm 1975.

Sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đang ở trên tàu ngoài vùng biển Vũng Tàu, thì TCS hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” trên đài phát thanh Saigòn. TCS đón những người anh em đồng chí của TCS vào thành phố, để nối vòng tay lớn của quỷ, của lạc hậu, nghèo đói, cơ cực. Người chỡ TCS đến đài phát thanh Saigon sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài Nguyễn Hữu Đống còn có Nguyễn Hữu Thái. Nguyễn hữu Thái là tên đặc công thuộc thành ủy Saigòn, thủ phạm tung lựu đạn giết chết Giáo sư Nguyễn văn Bông Viện trưởng Học viên Quốc Gia Hành chánh

Cuộc chiến đã chấm dứt hơn 34 năm qua, nhưng vòng tay của qủy mà TCS đã mơ uớc để “nối vòng tay lớn” vẫn còn siết chặt vận mệnh dân tộc. Hẳn TCS dưới suối vàng vẫn còn vui lắm, vì có nhiều người vẫn còn ngưỡng mộ bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” này!

Cái phi lý của hồi kết thúc của cuộc chiến này, mà một người thuộc thế hệ một rưỡi như Bác sĩ Châu An Huy Thành, trong một bài viết, đã phải ngậm ngùi:

“ Kể từ ngày 30/4/1975 đến nay, trong tâm khảm của tất cả ngừoi Việt Nam đều không nguôi câu hỏi: Tại sao Miền Nam lại thua? Tại sao cái đúng lại thua cái sai? Tại sao cái ác lại thắng cái thiện? Câu hỏi này không những đối với người Việt ở Miền Nam mà còn là câu hỏi cho cả thế hệ thanh niên lớn lên sau cuộc chiến tranh trong cả nuớc. Và mãi mãi sẽ là câu hỏi đau thuơng cho lịch sử việt Nam muôn đời sau”.

Tôi đã phải cúi mặt khi đọc câu hỏi này

Phải, đúng, thế hệ của chúng tôi đã có lỗi với quê hương, với đồng bào. Chúng tôi đã để cho “Cái đúng thua cái sai. Cái ác thắng cái thiện”.

Thế nhưng chúng tôi đã thua vì không còn súng đạn, để chống lại súng đạn của toàn bộ lực luợng CS quốc tế. Chúng tôi có lỗi, nhưng chúng tôi cũng đã tận lực.

Ai đã gây ra chuyện không còn súng đạn này? Truy nguyên câu hỏi, chúng ta phải nhận thấy rằng, cái đau của Miền Nam là đã có những kẻ thờ ma CS, nối giáo cho giặc. Đã giúp tạo ra những biến động chính trị tại Sài Gòn và tại Miền Trung. Lửa của những cuộc xuống đường, tự thiêu, đấu tranh bạo động, đã là nguyên nhân cho phong trào phản chiến quốc tế và tại Mỹ. Cuối cùng, một số kẻ phản chiến tại Mỹ trở thành những vị dân cữ, nghị sĩ.. thẳng tay cắt viện trợ cho Miền Nam, một xu cũng chẳng! CS đã đi bộ vào Miền Nam, ngồi xổm lên ngôi vị thống trị, gây bao tàn hại cho đất nước, bán đứng tiền đồ non sông cho Bắc Kinh.

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, Quân Lực VNCH, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, đã chế ngự được cái sai, họ đã bóp nát đựơc cái ác. Họ đã bảo vệ được bở cõi, bảo vệ được sinh mạng và tài sản của đồng bào. Thế nhưng, bên cạnh đó, là những kẻ lãnh đạo quân sự cũng như hành chánh, các vị gọi là “ chính trị gia” đã ươn hèn xu nịnh, đã bợ đỡ những thế lực tôn giáo đen tối để được vinh thân. Họ nhắm mắt làm ngơ, mặc đầu biết rõ rằng, những kẻ lãnh đạo tôn giáo mà họ đang dựa vào, là những tên Việt Cộng nằm vùng. Như Trí Quang, Thiện Siêu, Đôn Hâu, Chánh Trực, Như Ý v..v… họ không dám cuỡng, dám chống lại bọn chúng. Vì chống lại, họ sẽ mất hết danh vong tiền tài chức tước. Họ thuần phục Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực thuần phục thần linh.

Ngoài những tên Cộng Sản đội lốt tu hành mà tôi vừa kể trên ,còn có một đám trí thức khoa bảng, sinh viên, đã được ông bà cha mẹ của bọn chúng dùng tiền bạc, dùng lúa gạo, dùng thực phẩn, dùng tinh hoa lễ nghĩa, đạo đức của miền nam nuôi nấng dạy dỗ, đào tào chúng nên người, để rồi, một sớm một chiều, chúng quay lại phản bội ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, đi theo Cộng Sản. Chúng đem AK về thành phố bắn phá, sát hại đồng bào. Bọn này là ai? bọn chúng là đám VC nằm vùng, là đám thành phần thứ ba, là đám giáo sư và sinh viên tại Huế mà tôi đã nêu tên họ nhiều lần ở phần trên. Và tôi sẽ lập đi lập lại những cái tên này cho đến mãn đời tôi. Điển hình là: Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tuờng, Ngô kha, Trịnh công sơn, nguyễn đắc Xuân, Phan duy Nhân, Phạm thị Xuân Quế. Và quá nhiều....

Từ sau 1963 đến 1972 đám VC đội lốt tu hành phối hợp với đám trí thức, SV cơ sở nội thành VC, đã phá nát miền nam, đặt biệt là Huế. Hậu quả của những vụ tranh đấu của Trí quang 1966, vụ tàn sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968, vụ mưu toan tổng nỗi dậy tại Huế vào 5/1972 để chiếm Huế làm thủ đô cho MTGPMN, trước khi ký hòa đàm Paris 1973, tất cả chính là con đường dẫn tới hậu quả đau thương của ngày 30/4/1975.


(Còn tiếp)
Last edited by linhgia on Thu May 28, 2009 5:33 am, edited 1 time in total.
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Trinh Công Sơn nằm vùng


(tiếp theo và hết)


Sau 30/4, TCS đã không đuợc sử dụng. Tình trạng này là chung cho tất cả nhóm chính trị thuộc cái gọi là MTGPMN, chứ không riêng gì TCS. Cũng may cho TCS, sau này gặp bà Phan Lương Cầm, vợ thứ hai của Võ văn Kiệt. Bà Phan Luơng Cầm Cầm là con nuôi của Thiếu úy Phan tử Lăng trong quân đội Pháp tại Huế. Sau này Phan tử Lăng trở thành đại tá trong quân đội Nhân dân của Võ nguyên Giáp. Bà Cầm say mê nhạc Trịnh Công Sơn, và nhờ đó, Trịnh Công Sơn được Sáu Dân, tức Võ văn Kiệt cứu vớt. Đời TCS bắt đầu sang một trang mới. Cất cánh giàu sang phú quí, quay lại hất hủi đám Trịnh Cung , Nguyễn hữu Đống và đám bạn bè tranh đấu cũ tại Huế, mà đã một thời tận sức ,tận lòng giúp đõ TCS và gia đình y,.

Giấc mộng cưối đời của TCS là mong muốn trở thành đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam. Đúng như như Trịnh Cung đã viết trong bài “TCS và tham vong chính trị”. Khi giấc mộng vàng này bị Hoàng Hiệp, chính trị viên của Hội Âm Nhạc thành phố HCM, và cũng là cán bộ trách nhiệm quản lý TCS ngăn chận, bóp nát, thì TCS tức giận, phản ứng bắng lời những lẽ tục tĩu mà tôi không dám lập lại. Nhưng tôi không hề ngạc nhiên là TCS đã nói như vậy. Xin đọc bài của TC để biết TCS đã nói gì với Hoàng Hiệp

TCS muốn trở thành đảng viên CS chẳng phải vì lý tưởng hoặc thiết tha gì với đảng CS Việt Nam lúc đó nữa, mà vì quyền lợi của một đảng viên được hưởng khi còn sống và ngay cả khi đã chết.

Những ngày bênh họan, gần kề cái chết, mong ước của CTS là được an nghỉ trong nghĩa trang dành cho những đảng viên cộng sản.

Ngày 1/4/2001 TCS trút hơi thở cuối cùng. Gia đình TCS và nhất là Trịnh Xuân Tịnh, người em trai thứ hai của TCS đã vất vả chạy chọt, để cho TCS đuợc an nghỉ tại nghĩa trang dành cho đảng viên CS trong thành phố Sài Gòn, nhưng đã thất bại.

TCS bị chôn tại nghĩa trang Gò Dầu Hạ. Đó là nghĩa trang bình thuờng, không như uớc muốn. Nơi an nghỉ của những người mà bọn cộng Sản thường gọi là Ngụy Quân , Ngụy Quyền, Ngụy dân của chính quyền cũ.

Ba mưoi bốn năm đã trôi qua, nhiều tranh luận về “thiên tài” TCS, hắn là ai? là Quốc gia hay Cộng sản?

Là người, vì lý do nghề nghiệp, cùng thế hệ, tuổi đời suýt soát nhau, TCS là bạn của anh tôi, thành phố Huế lại nhỏ, nên tôi biết rất rõ và sâu về TCS. Nhưng tôi vẫn im lặng. Không phải vì sợ khi phải đụng đến “Thiên tài” Trịnh Công Sơn của một số không nhỏ những người đã và đang hết lòng xuýt xoa ngưỡng mộ, mà thật tình vì trong lòng xem thường TCS.

Bất hạnh thay quê hương xứ Huế và đất nước Việt Nam lại có “thiên tài” kiểu này. Đã từ lâu rồi, ít khi tôi muốn nhắc đến tên TCS. Rất nhiều người hỏi tôi về TCS, vì họ biết là tôi biết tận kẻ răng chân tóc toàn bộ nhóm nằm vùng Huế. Họ muốn tôi xác nhận TCS là ai? Có hoạt động CS không? tôi chỉ cười mà không nói. Thật ra thì cũng có phần muốn chờ xem có ai đó ngoài tôi ra, nói lên điều này. Bởi vì tôi tin rằng, tôi không phải là nguời duy nhất biết con người thật của TCS

Nhưng sau hai bài viết của Trịnh Cung, và anh Bằng Phong Đặng văn Âu, gây tranh luận giữa hai phe chống và bênh TCS, tôi quyết định nói ra toàn bộ sự thật. Vì bản thân hai bài viết cũng như rất nhiều ý kiến về TCS đều thiếu sót, mù mờ. Cũng dễ hiểu, vì cả hai tác giả trên có lẽ đều không biết nhiều, biết sâu về TCS, thì làm sao độc giả có thể tìm cho mình một thái độ, một lý do nào đó để tiếp tục, hoặc yêu, hoặc hận. Vì thế mà tôi đã phải nói ra những gì mà tôi biết, rồi quý vị và lịch sử tùy nghi suy nghĩ. Yêu vẫn cứ yêu, ghét vẫn cứ ghét. Không sao cả!.

Hay là quý vị có thể bình tĩnh hơn, để đánh giá và chọn cho mình một thay đổi tình cảm nào đó?

Đương nhiên, những gì tôi vừa trình bày trên sẽ gây sóng gió đụng chạm. Con người bình thường ai cũng muốn sóng yên biển lặng, tôi cũng không khác. Nhưng vì là người mang bản chất đương đầu, thấy việc sai trái khó thể làm ngơ, thì giữa sự thật và sóng gió, tôi chọn sự thật.

Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm những gì tôi nói về TCS . Tôi sẵn sàng tranh luận với bất kỳ cá nhân nào, tổ chức nào muốn cùng tôi tranh luận về TCS ở bất cứ nơi nào, ngày giờ nào, trên các diễn đàn công luận. Nhưng tôi sẽ không tranh luận với bất cứ ai chỉ dùng bút danh, bút hiệu mà không có tên tuổi lý lịch thật, cũng như những ai không có những quan hệ ràng buộc tuơng đối với TCS, để có thể đưa ra những thông tin khả tín. Bởi vì nếu như thế, thì tôi xin trả lời như thế này: tục ngữ VN mình có câu: “ nói chuyện với cái đầu gối còn sướng hơn”

Có một điều làm tôi áy náy. Đó là khi nghĩ đến người bạn, người đồng đội cũ, một người rất dễ thưong, đại úy Trịnh Công Hà. Xin cho tôi gởi một lời xin lỗi độc nhất đến người bạn thân này

“Xin lỗi Trịnh Công Hà. Tôi không còn cách nào khác, tôi phải nói ra sự thật. Mất miền Nam là trách nhiệm của chúng ta. Tôi và bạn cùng chung lý tưởng và chiến tuyến. Nhưng bất hạnh thay, anh của bạn thì không. Anh của bạn đã nối giáo cho giặc, rồi thì giặc bán đứng giang sơn!. Tôi có còn chọn lựa nào không?,

Trịnh Công Hà! Xin lỗi bạn.

Và có ai đó đặt câu hỏi cho tôi là sao không viết khi TCS còn sống? Sao không để TCS yên nghĩ. Thưa quý vị, tôi khó có thể viết khi TCS còn sống là bởi TCS có nhiều khả năng vẫn còn đang hoạt động cho tình báo ngoại quốc, có nhiều điều không thể bạch hóa. Còn câu hỏi sao không để TCS an nghĩ? Thưa quý vị, những tội lỗi với đất nuớc và dân tộc như thế, có chết ngàn năm cũng phải lôi ra….

Và lời cuối của tôi cho bài viết này, và cho TCS, đó là những nhận xét của Tố Hữu về những nhân vật nỗi tiếng của miền nam, trong đó có TCS. Tố Hữu đã nhận xét về TCS như sau:

“TCS là thành phần không đáng tin cậy. lý lịch xấu. Cha và nhiều người trong gia đình thời trước đã tham gia quân đội Pháp, làm phòng nhì của quân đội Pháp tại Huế. Thằng này sống ngã theo chiều gió”.

“TCS đã bị Trần Hoàn trù yểm thì cũng chẳng có gì lạ”.

Tôi không biết khi còn sống, Trịnh Công Sơn có biết cộng sản đã nhìn TCS như vậy không? Chẳng lẽ tôi còn biết mà TCS lại không biết? Phủ phàng và nhục nhã quá! Thật uổng công nô bộc tận tụy với chính quyền Cách Mạng.

Tủi nhục cho thay cho bất cứ ai mãi tìm danh vọng trong địa ngục, như đám nằm vùng Trịnh Công Sơn.
band4 3G McKeno

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Mời Ghé Cà Phê Lú Ở SanTa Ana

634 S Harbor Blvd
Santa Ana, CA 92704
(714) 839-1608


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Nhìn cha nụi này chưa uống mà đã lú mất bà nó rồi !!! :lol: :lol: :lol:

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Cho và nhận
Sáng nay mình mới nghe lại một câu chuyện ngụ ngôn, nghe mấy lần rồi nhưng vẫn thấy thấm. Mà không thấm sao được? Vì đó là bản tính con người mà.

Một người đàn ông đi trên đường bên bờ kè sông, bỗng thấy một người đàn ông khác té nhào xuống khúc sông sâu. Người bị nạn hét lên cầu cứu:
- Cứu tôi! Cứu tôi với!
Người đàn ông nhanh chân chạy lại rồi vói tay xuống bảo:
- Anh đưa tay ra cho tôi, mau lên! đưa tay ra đây tôi kéo lên cho.
Nhưng người bị nạn vẫn không chịu đưa tay ra. Thấy vậy, người đàn ông bèn nói lớn:
- Vậy thì hãy nắm chặt lấy tay tôi đây!
Bấy giờ người bị nạn mới nắm chặt lấy tay và được cứu lên bờ…

Chuyện đơn giản có thế. Hóa ra thì trên đời, con người ta vốn keo kiệt và vị kỷ. Chẳng ai dám đưa của mình ra đâu, có chết cũng chẳng chịu đưa, nhưng chỉ biết nắm lấy của người khác mà thôi. Nghĩ như thế có cực đoan quá không nhỉ? Nhưng sao thấy hình như hơi bị đúng. Ngay chính mình nhiều lúc cũng vậy.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

BÀ VỢ BIẾT VÂNG LỜI

Ông kia làm việc như điên,
Suốt đời dành dụm món tiền khá to.
Tiền kiếm được chỉ lo keo kiệt,
Chẳng dám xài cất riết trong rương.
Đến khi liệt chiếu liệt giường,
Biết gần từ giã cõi dương gian nầy.
Lời trăn trối tỏ bày với vợ:
“Tôi chết rồi bà nhớ điều nầy,
“Tiền dành dụm bấy lâu nay,
“Bà cho vào cả quan tài đựng tôi.
“Bà hãy thề giữ lời tôi dặn,
“Về dưới kia tôi hẳn cần tiền.
“Có tiền trong bụng mới yên,
“Nếu cần hối lộ, móc liền ra chi”.



Buổi tang có lễ nghi đầy dủ,
Bà vợ ngồi ủ rủ bần thần.
Kế bên người bạn rất thân,
Cầm tay thủ thỉ ân cần hỏi han.
Cầu kinh rồi áo quan sắp đậy,
Bà vợ nhanh đứng dậy rảo chân.
Tay bưng chiếc hộp đến gần,
Nhẹ nhàng đặt xuống bên thân của chồng.



Khi tang lễ đã xong tất cả,
Bà bạn thân vội vã hỏi liền.
Hỏi rằng chiếc hộp đựng tiền?
Đem chôn dưới đất có điên không nào?
Bà vợ nghe gật đầu rồi bảo:
“Tôi là người Công giáo chân thành,
“Nói ra phải giữ lời mình,
“Nếu mà không giữ tội tình khó dung.
“Tôi hứa làm lời chồng trăn trối.
“Nếu không làm có lỗi sao yên.
“Nhưng không tôi chẳng phải điên,
“Có ngu mới lại đem tiền chôn đi.
“Sáng nay chẳng nghĩ suy lâu,
“Đem tiền đi gởi ngân hàng.
“Rồi mua chiếc hộp đàng hoàng,
“Cho vào quyển ‘séc’ rõ ràng không sai.
“Chồng tôi muốn tiêu muốn xài dưới đó.
“Ghi ‘séc’ thì tiền có thiếu chi.
“Thế thì thỏa đáng còn gì,
“Lời thề vẫn giữ, ngu thì không ngu.”



Chuyện nầy gởi càc cô khôn lỏi,
Cùng những chàng tưởng giỏi mà đần.
Ở đời khôn dại đem cân,

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Buồn cười ! Đất nước và dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn 4000 năm. Trải bao thăng trầm của thời cuộc, dân tộc Việt Nam vẫn còn, đất nước Việt Nam vẫn còn. Bởi thế, - yêu nước có nghĩa là tôi yêu thiết tha cái mảnh đất mà tổ tiên tôi đã sống, lao động và chiến đấu để giữ cho tôi ;
- yêu nước là góp một ý kiến cho đất nước, dù ý kiến đó chỉ có một từ. Hội nghị Diên Hồng thời Trần nhắc nhở chúng ta điều đó. Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử kí toàn thư có chép :

Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông – chú thích của người viết) triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão điều nói “đánh”, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”.
Vâng, yêu nước là thế đó. Bởi vậy mới thấy thật ấu trĩ khi có thời người ta “đánh đồng” đất nước, dân tộc với một ý thức hệ chính trị : “yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước”. Rồi tại các nơi “cao sang” của cửa nhà quan, người ta không tiếc lời tung hô : “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, muôn năm”. Như thế có khác gì câu chúc tụng : “Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế” của triều đình phong kiến thuở xưa ? Tôi buồn và tôi cười cho những cái khẩu hiệu như vậy ! Buồn, vì đất nước và dân tộc ở đâu mà lại tung hô mỗi mình Đảng Cộng sản ? Đảng Cộng sản trên đất nước này vỏn vẹn chỉ trên 3 triệu người, còn dân tộc Việt Nam xấp xỉ trên dưới 90 triệu người ở khắp năm châu. Buồn cho cái vinh quang mà dân tộc, đất nước đáng phải có lại bị “một bộ phận quần chúng nhân dân” là Đảng viên tước mất ! (Đảng ta thích dùng cụm từ “một bộ phận quần chúng nhân dân” lắm, tôi mượn tạm ở đây nhé, cám ơn Đảng nhiều nhiều !) Tôi cười vì người ta chỉ có thể vẽ những câu chúc tụng, gào những lời tung hô nhưng không xây dựng được một đất nước Việt Nam hùng cường thật sự. Đáng buồn và cũng đáng cười. Tuổi teen (tuổi mới lớn) bây giờ chúng nó gọi chung lại là : “buồn cười” đó quý độc giả ạ !

Trên đây là cảm xúc thật sự của tôi trong những ngày này, những ngày mà tiếng nói xây dựng đất nước không được chân thành lắng nghe.

Làm quan chỉ để hết nhiệm kì rồi về vườn “biệt thự”, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho dân nước nó đỡ khổ !

Làm quan nhưng không có trình độ để đưa ra những quyết sách đúng dắn nhằm phát triển đất nước, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho dân nước nó đỡ tụt hậu !

Làm quan mà chỉ biết đặt bút kí, bất chấp các cảnh báo về những hậu quả lâu dài của sự việc, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho con cháu của dân nước chúng tôi còn sống với.

Van nài như thế đã đủ chưa nhỉ ? Chắc là không ? Bởi quan vẫn cứ là quan và muốn làm gì thì làm ! Lịch sử sẽ phán xét những vị quan hôm nay. Nhưng không biết các vị ấy có đủ “tầm” để “nhìn” tới không, hay vẫn cứ ngang như cua “lúc đó ta chết quách nó rồi, còn đâu mà bình phẩm với nhận xét” ! Mong rằng đất nước Việt Nam ta không có những “ông quan” có “bộ não đậu bắp” như thế ! Và tôi chợt nhớ thành ngữ của tuổi teen : “Hên xui, ai biết được !”.

Vài lời với quý độc giả và ban biên tập trang web :

- Thưa quý độc giả, sau bài viết này, tôi gửi đến quý vị một số đường link về nhân vật Nguyễn Trường Tộ. Không phải vì ông là người Công giáo mà giới Công giáo chúng tôi “xông hương, đánh bóng” nhưng vì ông là một người Việt Nam, đã sống trên đất nước Việt Nam này, và đã lên tiếng một cách không mệt mỏi với mong muốn đất nước có những cải cách triệt để. Nhắc tới ông trong thời điểm này, như một sự đồng tình và ủng hộ sâu sắc mà tôi gửi tới các trí thức đã gửi bản kiến nghị trong vụ bauxite. Mong sao bi kịch ngày trước của Nguyễn Trường Tộ sẽ không lặp lại lần nữa. Xin kính chào và chúc sức khoẻ quý độc giả, cách đặt biệt quý trí thức “Made in Vietnam” (tôi dùng cụm từ này hoàn toàn với ý kính trọng và tự hào).

- Thưa Ban biên tập, trước thực trạng người Việt Nam ngày càng không biết gì về lịch sử Việt Nam, nên chăng, thi thoảng, ban biên tập cũng tìm vài gương danh nhân trong lịch sử nước Việt để giới thiệu cùng bạn đọc, với tinh thần “ôn cố tri tân”. Vì như có lần quý web đưa tin, con em chúng ta ngày nay được “nhồi sọ” từ bé về “tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong khi chẳng thấy dạy bao nhiêu về các bậc tiền nhân đã dày công xây dựng và gìn giữ nước non này. Lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc đâu có thiếu anh hùng, hào kiệt, danh nhân văn hoá, sao lại quá đề cao dẫn tới việc bắt ép con trẻ học có mỗi gương một con người “hành tung mập mờ” như vậy ? Kính mong quý web tìm ra một phương cách hữu hiệu nhằm giúp “dân ta được biết sử ta”, để nhờ đó, bạn đọc gần xa, nhất là các bạn trẻ, có một cái nhìn toàn diện và đúng đắn về lịch sử Việt Nam, cũng như hiểu cho đúng nghĩa : “Thế nào yêu nước ?”. Xin kính chào và xin chân thành cám ơn.

Phi Anhttp://www.dcctvn.net/news.php?id=3683

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hoạn quan - những số phận nghiệt ngã


Image
Hoạn quan là sản phẩm của chế độ phong kiến Trung Hoa. Trong gần 3.000 năm, những hoạn quan dù tồn tại trong biết bao dâu bể của lịch sử nhưng luôn bị người đời coi như một thứ sản phẩm dị hình dị tướng. Hoạn quan thường có nguồn gốc khác nhau. Ngoài những người cam chịu tự cung (thiến) vào làm hoạn quan trong triều đình để nhận những khoản bổng lộc cho gia đình, còn có những hoạn quan là tội phạm cam chịu gia hình nhằm giảm tội.

Nguồn gốc của thái giám vốn từ quan điểm của những người cầm quyền tin rằng hoạn quan khi không có những người kế tục sẽ không ham hố danh vọng, hết lòng phục vụ mình. Tuy nhiên, quan điểm đó có vẻ không chính xác vì nhiều vị hoạn quan vẫn muốn có quyền lực, thậm chí còn ham hố quyền lực hơn người thường.

Những người chuyên biến người thường thành hoạn quan là người phải có tay nghề đặc biệt gọi là "đao tử tượng". Những "đao tử tượng" có phương pháp "phẫu thuật" bí truyền nên chỉ nhận con cái, họ hàng thân thích làm đệ tử.

Thời xưa, cung hình (bị hoạn) là một trong những hình phạt thảm khốc dành cho tội nhân. Sử gia vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc Tư Mã Thiên (khoảng 145-90 TCN), do bênh vực tướng quân thua trận Lý Lăng, bị vua Hán nổi giận phạt "cung hình". Nhờ kiến văn quảng bác ông được giữ lại làm quan tại Sử quán. Sau đó với nỗi uất ức, ông đã trước tác nên bộ sử đồ sộ Sử ký Tư Mã Thiên danh tiếng.

Một trong những hoạn quan nổi tiếng nhất trong lịch sử là Triệu Cao. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, một tay Triệu Cao đã viết nên cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Trung Hoa. Triệu Cao đã thuyết phục tể tướng Lý Tư sửa chiếu thư của Thuỷ Hoàng, phế bỏ thái tử Phù Tô, đôn Tần Nhị Thế lên làm vua. Sau đó, cũng một tay Triệu Cao ép Phù Tô, Nhị Thế và Lý Tư uống thuốc độc tự tử và chút nữa thì Triệu Cao đã bước lên ngai vàng. Tuy nhiên, sau đó viên hoạn quan đầy tham vọng này đã bị ngũ mã phanh thây.

Không hiếm trường hợp sau khi bị hoạn, những hoạn quan vẫn có đầy đủ khả năng đàn ông. Trường hợp như Lao Ái là hoạn quan nhà Tần thông dâm với mẹ của Tần Thuỷ Hoàng và có hai con riêng với bà mẫu hậu này. Đến triều Thanh có trường hợp hoạn quan An Thế Hải, sau khi bị hoạn vẫn thông dâm với cung tần mỹ nữ.

Hoạn quan đôi khi tạo thành những thế lực lớn trong triều đình. Họ là những người hàng ngày sống gần gũi hoàng gia nên rất dễ được sự tin cậy của hoàng đế. Khi đã có được sự tin cậy, quyền lực rơi vào tay họ cũng là điều dễ hiểu. Điều đó khiến nhiều quan chức lo ngại và ganh ghét. Triều Càn Long (1736-1796) có chuyện quan lại tâu với Hoàng đế chuyện những hoạn quan tuy đã bị hoạn nhưng lâu ngày có thể trở lại như bình thường và xin Càn Long cho kiểm tra nhằm "thanh sạch hoá" cung cấm. Nhà vua chuẩn y và viên quan kia nhân đó giết hại nhiều hoạn quan.

Trong sử sách Trung Hoa xuất hiện một hoạn quan, một kiến trúc sư tài danh có nguồn gốc Việt Nam, đó là Nguyễn An (1381-1453). Triều Hồ đưa ông sang Trung Hoa như một cống vật và trở thành hoạn quan của nhà Minh. Nhận thấy phẩm chất của một công trình sư bậc nhất, triều Minh đã cho ông đảm nhận một công việc cực kỳ quan trọng, đó là xây thành Bắc Kinh. Nguyễn An đã chỉ huy một lượng nhân công hàng triệu người và tốn 17 năm để tạo thành một kiệt tác ghi tên vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới ngày nay.

Bởi cuộc sống cô độc không người nối dõi nên nhiều vị thái giám tìm đến với đạo Phật. Ngôi Pháp Hải Thiền Tự ở núi Thuý Vy, phía tây thành Bắc Kinh là ngôi chùa do thái giám Lý Đồng xây dựng và là nơi những thái giám đến sống những ngày cuối đời. Hoạn quan được xếp vào hàng quan chức nhưng ở dạng tôi đòi phục vụ cho vua chúa và cung tần mỹ nữ. Họ là quan nhưng dường như chẳng mấy người muốn làm và cũng chẳng được mấy người coi trọng.

Những hoạn quan sau khi bị gia hình sẽ giữ gìn cẩn thận "phần đã mất". Họ ngâm với hương liệu quý giữ trong chiếc hộp nhỏ treo cẩn thận trên xà nhà. Mỗi năm họ treo chiếc hộp đó cao hơn một chút nhằm hàm ý thăng tiến trong triều đình. Khi được xét thưởng hay trong mỗi dịp triều đình điều tra, họ phải chứng minh mình vẫn là hoạn quan bằng cách trưng ra chiếc hộp đó. Cho đến khi qua đời, chiếc hộp sẽ được chôn theo với mong mỏi kiếp sau sẽ như người bình thường.

Một phần hoạn quan có những hành động bất thường có lẽ là vì yếu tố tâm sinh lý. Cuộc sống tình dục thiếu hụt nghiêm trọng, bị hoàng gia coi như vật trang trí, giữ mãi phận tôi đòi và ấn tượng khi bị "cung hình" luôn ám ảnh khiến họ trở thành những người đáng thương. Sử gia Tư Mã Thiên khi nghĩ lại giây phút bị cung hình đã cay đắng viết: "Mỗi khi nghĩ đến nỗi nhục đó thì mồ hôi ướt đầm áo, nghĩ mình chỉ đáng canh cửa cho đàn bà hay tốt hơn là nên ẩn thân vào nơi sơn cùng thuỷ tận".

Năm 1996, cụ Sun YaoTing, hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến đã qua đời, đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của hoạn quan.

(Quốc Tế )

Post Reply