Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chuyện Những Người Đẻ Gần Kho Đạn
Tôi có người bạn trước kia phục vụ trong ngành Quân Cụ, chuyên lo về xe cộ, súng ống, đạn dược. Anh có cái tài biến chiếc “Rép” nhà binh thành xe “Rép” dân sự dễ dàng. Cách thức biến hóa ra sao thì quả tình tôi bù trất. Anh là một con người đặc biệt, chỉ lo để ý đến xe cộ nhiều hơn là ghé mắt vào mấy cái thứ gây ra tiếng nổ chết người như đạn, mìn v v... Do đó, tuy hàng ngày phải chạm mặt với chúng nhưng anh không hề bị tiếng nổ của đạn ảnh hưởng đến tâm tính. Tôi phục anh lắm. Sống gần với đạn dược, nghe đạn nổ mỗi ngày mà anh không hề “Nổ”.

Tại sao tôi nói tiếng nổ của đạn ảnh hưởng đến tính tình con người ? Cũng dễ hiểu thôi, tiếng nổ mỗi ngày thấm dần vào da, thịt, máu, lên tới óc, vô trung khu thần kinh gây ra căn bệnh “nổ”. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng mà ! Đó là chứng bệnh của “Những Người Đẻ Gần Các Kho Đạn”. Đạn nổ thì làm chết người nhưng mấy anh chàng nổ chẳng làm “chết” ai cả. (Thật ra cũng có một vài trường hợp các người đẹp vì tin lời các chàng “nổ” mà “chết” cả một đời. Khi nhận biết ra chàng đã “nổ” để “tán” mình thì lúc ấy ván không phải đã đóng thuyền mà là đóng “thùng” rồi !).

Đạn thì có nhiều loại. Đạn súng lục, súng trường, súng tiểu liên, súng đại liên. Còn đạn đại bác thì cũng có đủ loại như 105 ly, 155 ly, 175 ly hay loại 130 ly của Liên Sô bắn xa 27 cây số v v...Mỗi loại gây ra tiếng nổ lớn nhỏ khác nhau và tác hại cũng khác nhau. Con người “nổ” cũng theo quy luật như thế. Người nổ ít, kẻ nổ nhiều, hay dở tùy trình độ.

Nổ cũng là một hình thức nói phét, chỉ khác nhau về cường độ và hoàn cảnh. Người nói phét và người nổ có chung một điểm là nói những điều không có, những điều nằm trong trí tưởng tượng của họ nhiều hơn là sự thật, và làm “vui tai” người nghe không ít. Nói phét thì không cần ngòi nổ, còn muốn cho đạn nổ thì phải có “kích hỏa” hay ngòi nổ mới làm cho đạn phát nổ.

Người nổ cũng giống như đạn nổ, nghĩa là phải có “ngòi nổ”. Ngòi nổ có thể là một người đẹp đang đứng trước mặt, có thể là trong một bữa tiệc, có thể là sau một chuyến đi xa trở về, cũng có thể là một chuyến về thăm lại quê hương v v... Cường độ nổ của người nổ được một nhà văn có tí máu khôi hài mô tả như sau: ”Trong một phút có 60 giây thì anh ta nổ hết 59 giây, bạn chỉ có duy nhất một giây để gật gù cái đầu của bạn thôi chứ không thể xen vào câu chuyện với ý kiến ý ong gì hết.”

Nếu tiếng nổ của đạn lớn hay nhỏ tùy theo loại đạn thì người nổ cũng đa dạng không kém. Người có học và vô học, cách nổ và đề tài nổ khác nhau.

Bây giờ ta thử điểm qua một số các “thể loại” nổ xem sao. Những dạng “nổ’ này, ta thường bắt gặp trong đời sống hàng ngày. Cũng như nói phét, bàn về nổ thì những anh cán ngố Việt Cộng vẫn là vô địch thế giới (nổ theo kiểu khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch bách chiến bách thắng muôn năm) dán khắp hang cùng ngõ hẻm vậy). Sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm được miền Nam, cái đau khổ của phe ta khi vào tù là phải nghe chúng “Nổ”. Những tiếng nổ chát chúa, kéo dài ngày này sang ngày khác, nổ liên hồi kỳ trận tựa hồ như mỗi tên cán ngố đều có gắn cục pin dưới đít và công tắc luôn luôn ở vị trí “on”. Bất cứ buổi lên lớp nào trước mấy chàng cải tạo đau khổ của phe ta, trăm tên cán ngố đều “nổ” một giọng điệu như nhau:

“Ta đã đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ là Pháp và Mỹ thì sá gì ba cái chuyện làm kinh tế. Kể từ ngày dựng nước và bảo vệ nước, đây là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử nước ta. Dân tộc ta thông minh, cần cù, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, tiền rừng bạc bể, nhất định trong kế hoạch bản lề 5 năm tới, nước ta sẽ vươn lên trở thành một trong những nước có nền công kỹ nghệ hàng đầu của thế giới”.

Tức cười một điều là, cán ngố thì nổ như thế, trong khi đó bà Nguyễn Thị Bình lại kêu gọi thế giới hãy viện trợ cho Việtnam một triệu cái cuốc. Con trâu đi trước, cày cuốc theo sau thì Cộng Sản Việtnam sẽ làm cho thế giới kinh ngạc là phải. Và cho đến bây giờ, sau hơn 30 năm, thế giới vẫn còn tiếp tục kinh ngạc vì sự chậm tiến và nghèo đói của quốc gia này. Nổ như thế là kiểu nổ của Hoàng Trung Thông:

“Với sức người sỏi đá cũng thành cơm”

Hay của văn nô Tố Hữu:

“Chân dép lốp bước lên tàu vũ trụ”

Ghê quá ! Quý vị thử hình dung một tên Việt Cộng mang dép lốp (tức là dép râu, loại dép làm bằng vỏ bánh xe hơi phế thải) bước lên phi thuyền của thiên hạ bay (ké) vào vũ trụ thì cái sự nổ đó kỳ quái và trâng tráo như thế nào. Việt Cộng “nổ” là do bản chất, do cái chủ nghĩa “nổ” Mác-Lênin dạy dỗ những con người Cộng sản lúc nào cũng phải biết nổ và nổ.

Còn phe ta “nổ” là do đẻ ra và lớn lên gần các kho đạn bị đặc công Việt Cộng phá hoại. Ngoại trừ mấy anh chàng nổ với các người đẹp để bắt tí ái tình còm hay kiếm vợ, còn phần lớn ‘nổ” chỉ để chứng tỏ ta đây là siêu việt siêu quần, là cũng hết xẩy con cào cào như ai. Cũng có một số người nổ vì bắt chước theo chủ nghĩa A.Q của văn hào Lỗ Tấn (A.Q chính truyện) bằng sự thắng trận tưởng tượng hay tự cho rằng trước kia ta cũng xuất thân từ dòng dõi trâm anh, thế phiệt.

Lúc chưa mất nước, tôi có một người quen ở trong quân đội. Cấp bậc anh ta là Hạ Sĩ thôi nhưng khi ra khỏi nhà đến thăm người yêu thì anh ta đeo lon Trung Úy. Nhờ cái sự “nổ” từ Hạ Sĩ lên Trung Úy này mà anh cưới được nàng. Đây là chuyện có thật chứ tôi không hề phịa. Tôi còn
nhớ, lúc tôi mới ra trường Võ Bị, mang lon Thiếu úy, chỉ huy Trung đội, đi hành quân ở Phước Tuy, tôi thường đội cái nón vải trên có gắn một hoa mai (bọn tôi gọi là lon phụ đề Việt ngữ vì lon TQLC là những vạch trắng, phần lớn dân chúng ở vùng quê không rành). Một tên đệ tử của tôi tên là Hường, lợi dụng lúc tôi ngủ trưa, hắn lén lấy cái nón của tôi đội đi ra chợ Bà Rịa “dợt le” với mấy cô thợ may. Tôi không hề biết chuyện ấy cho đến một hôm tôi nghe lính tráng trong đơn vị tôi nói về tên Hường với cái danh xưng là “Hường Nổ” :

- Cái thằng Hường đó “nổ” dễ sợ. Nó dám lấy cái nón có gắn một bông mai của Thiếu Úy đội ra chợ và tự xưng là thiếu úy để “tán” mấy cô thợ may.

Tôi hỏi tên đệ tử của tôi: - Cậu có lấy cái nón của tôi đội ra chợ tán đào đấy à ?
Hắn cười trừ, thú nhận: - Dạ, em mượn đi dợt le một tí mà.

- Thảo nào, hôm qua có một cô đến đây hỏi tôi có biết thiếu úy Hường không, té ra là cậu.

Hắn tâm tình với tôi: - Thiếu úy à, coi bộ nàng “chịu” em rồi đó. Em rất cám ơn cái nón của thiếu úy.

- Sao cậu không cám ơn tôi mà lại cám ơn cái nón ?
- Có cái nón ấy em mới “nổ” được chứ.

- Thế cậu đẻ gần gần kho đạn Long Bình hay Cát Lái ?

- Quê em ở Bình Dương mà.

- Ở trên đó có kho đạn nào không mà sao cậu “nổ” quá vậy ?

Tên đệ tử của tôi hiểu ra, có vẻ mắc cỡ và lỉnh đi chỗ khác.

Những năm sống trong các trại tù Cộng Sản, tôi cũng đã từng chung đụng và phải nghe những cây súng đại liên nổ dữ dội. Họ nổ về những ngày tháng cũ trong quân ngũ của họ với những hành động xuất quỷ nhập thần, những chiến công hiển hách, những màn ăn chơi vung vít khắp các chốn xa hoa, về cái sự tiêu xài tiền bạc như nước của họ, về những giai nhân tuyệt sắc mà họ quen biết v.v...Một khẩu “đại bác” gốc giáo chức biệt phái, từng nằm bên cạnh tôi, nổ về cái vụ ra ứng cử dân biều của anh ta :

- Hồi tôi ra ứng cử dân biểu, tôi cho học trò của tôi đi khắp các tỉnh miền Nam dán bích chương cổ động cho tôi. Tốn khá nhiều tiền mà rốt cuộc cũng không có cơ hội để sử dụng mảnh bằng cử nhân luật của tôi trong tòa nhà lập pháp đó.

- Anh ứng cử đơn vị nào?

- Quận Tân Bình, Gia Định

- Ủa, quận tân Bình mà sao cho học trò đi khắp nước cổ động làm chi ?

- Trời đất, phải cổ động khắp nước, người ta mới biết mà bầu cho mình chứ.

Nổ thì nổ như thế nhưng đề cập đến ước mơ thì mơ ước của anh ta rất giản dị. Tôi nói với anh: - Anh có một quá khứ “vàng son” quá, ngày xưa tôi không theo nổi cái gót chân của anh. Thế bây giờ anh có ước mơ gì nào ?

Câu trả lời của anh rất trần tục và tầm thường: - Tôi mơ ước sao bây giờ có mấy củ khoai mì hay vài trái bắp ăn cho no bụng thôi.

- Anh có bị bệnh tâm thần không ? Đã mơ ước thì tại sao anh không mơ ước được trở lại những ngày tháng cũ ấy cho sướng cái thân mà lại đi ước củ khoai, trái bắp ?

Anh hơi “quê”, thộn cái mặt ra và chống chế: - Bố khỉ, bụng đang đói mà lại ở trong tù thì mơ ước cao sang là không thực tế chút nào.

- Nhưng mà cái mơ ước thực tế đó của anh cũng vẫn không thể thực hiện được mà.

Anh “xì nẹc” thấy rõ: - Ông đếch thèm nói chuyện với mày nữa.

Còn phe ta mà sang đây từ hồi 75, nếu có đẻ gần kho đạn thì tôi chắc rằng cái sự “nổ” ấy cũng kinh hãi không kém. Chuyện nổ đó chỉ cần nghe qua vài câu là người ta biết ngay. Nổ như vậy được mô tả là nổ có license. Cái license là cái giấy chứng nhận hành nghề mà, không có nó là không được đâu nhá. Chẳng hạn một người tự nhận mình là kỹ sư điện, tốt nghiệp từ một trường đại học danh tiếng của Mỹ.

Theo lời anh nói, anh đã từng là kỹ sư trưởng trong một hãng Mỹ, dưới quyền anh có tới 4, 5 tên kỹ sư mũi lõ, mắt xanh, lương anh 150 đô la/giờ chứ không phải ít. Vậy mà anh cóc cần, “quit” job ngay để hành nghề tự do, sửa điện cho “phe ta” với giá phải chăng chứ không “chặt đẹp” như mấy tên chuyên viên bản xứ. Tìm cho ra được một người như anh trên cõi đời ô trược này đâu phải dễ ! Tuy nhiên, khi đi hành nghề sửa điện thì anh ta đưa ra cái danh thiếp trên đó có ghi cái “license number” đàng hoàng. Và thiên hạ bảo tôi rằng đó là một dạng nổ có license.

Nổ thì phải xẹt lửa, xẹt khói và xẹt hơi dù có license hay không. Lửa, khói, hơi xẹt ra từ người “nổ” khiến cho đời “bỗng dưng vui”. Phải vui và hãnh diện vì phe ta có được một ngòi nổ rất đáng đồng tiền bát gạo.

Và đây là một “cây bút” đẻ gần kho đạn. Anh ta viết xong một bài gửi đăng báo. Bài viết của anh không phải là truyện ngắn, tùy bút, khảo cứu hay tham luận chính trị gì cả mà là một bài về “thế thái nhân tình”. Anh gọi phone đến một người bạn hỏi ý kiến về bài viết của anh.

- Sao, anh thấy bài viết của tôi thế nào ?

- Rất tuyệt !

- Đó, anh thấy “văn tài” của tôi chưa ? Văn tôi là văn “bác học”, văn
“éloquent”, văn Tự Lực Văn Đoàn mà. Anh nên ca tụng tôi một phát đi.

Cái kho đạn này có lẽ quên một điều cơ bản là khi một tác phẩm, một bài văn...đã phổ biến thì những gì anh viết xuống không còn thuộc về anh nữa mà thuộc về độc giả. Tự khen mình hay bắt người khác khen mình, người ta gọi đó là “tự phát, tự nổ” theo cái kiểu “tự biên tự diễn”. Tuy nhiên, không thể trách anh được vì đó là chuyện thường tình. Và cũng vì cái thường tình muôn thủa ấy nên người xưa đã nói “tự kỷ văn chương, tha nhân lão bà” mà ca dao ta diễn nôm câu nói trên như sau:

Xưa nay vẫn thói thường tình
Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.

Còn những “Việt kiều” về thăm quê hương mà tôi có dịp gặp trước khi sang xứ này, không có ai trong số họ nói rằng đang hưởng “oen phe”, làm thợ trong các hãng xưởng hay buôn bán...mà ai ai cũng nhận mình là kỹ sư, bác sĩ, tệ lắm cũng là chuyên viên kỹ thuật v.v... Những năm 87, 88 có thể coi là thời kỳ mở đầu những chuyến về thăm quê nhà của Việt kiều. Việt Cộng tiếp đãi họ rất trọng thể, nhất là các kho đạn tự xưng là bác sĩ, kỹ sư với hy vọng những vị này sẽ giúp đỡ tiền bạc, máy móc v.v... Tôi được nghe kể một chuyện như sau:

Một Việt kiều nhân chuyến về thăm quê nhà, ghé lại bệnh viện Phú Nhuận, tự xưng là bác sĩ và ngỏ ý muốn tham quan bệnh viện. Giám đốc bệnh viện cũng muốn nhân dịp này nhờ anh ta giúp cho một số trang bị dụng cụ y khoa. Anh được săn đón, tiếp đãi như một thượng khách. Anh được hướng dẫn đi thăm một vòng bệnh viện, lúc tiếp xúc với cán sự phụ trách phòng mổ của bệnh viện, anh ta đã lộ nguyên hình cái sự “đẻ gần kho đạn” của anh qua mẩu đối thọai dưới đây giữa anh và nhân viên phụ trách điều hành phòng mổ.

- Thưa bác sĩ, bệnh viện mới xây cất nên phòng mổ cần trang bị một hệ thống đèn mổ không có bóng.

- Cô nói cái gì lạ vậy ? Cô xin trang bị đèn mà lại đòi đèn không có bóng là làm sao ?

Nhân viên phòng mổ có vẻ ngạc nhiên và nhận ra rằng anh ta không phải “dân trong nghề” nên giải thích:

- Đèn không có bóng là đèn không hắt bóng, tức là không in cái bóng của của dụng cụ, bàn tay hay cái đầu của bác sĩ che tối chỗ mổ trên người bệnh nhân, chứ không phải là cái bóng đèn.

Anh ta làm thinh. Sau đó, nhân viên phụ trách còn tiếp tục giải thích công dụng của hệ thống đèn phòng mổ là có thể khuếch tán hay hội tụ ánh sáng cũng như điều khiển chiếu ánh sáng xa, gần hoặc rọi vào nơi nào mà bác sĩ cần phải mổ. Anh ta bị nghe “giảng” nên xì nẹc và “hố” ngay tức khắc, cho thấy mình cũng là bác sĩ nhưng là bác sĩ chữa xe hơi:

- Cô không cần phải giải thích nữa. Tôi sửa xe hơi tôi biết. Nó giống như bóng đèn xe hơi chứ có khác cái gì đâu.

Sau buổi tham quan đó, anh “một đi không trở lại”, không “léo hánh” đến bệnh viện ấy nữa. Và cũng kể từ đó, Việt Cộng chỉ thị cho các cơ quan địa phương những quy định tiếp xúc với Việt kiều chặt chẽ hơn để khỏi bị lầm.

Trở lại chuyện bên xứ Mỹ này, một hôm tôi được mời “đi họ” cho lễ vu quy của con gái một người bạn. Bên họ đàng trai có một anh chàng mà tôi tin đến 99,99% anh ta đẻ gần kho đạn Long Bình. Anh “nổ” ghê quá, nổ liên thanh, nổ liên tu bất tận, nổ không ngừng nghỉ, không hề mệt mỏi, từ chuyện văn học đến chuyện chính trị của nước Mỹ và trên thế giới, không cần biết những người chung quanh có lắng nghe anh nói không. Anh chỉ muốn chứng tỏ cái sự rất “uyên bác”, rất “trên thông thiên văn, dưới thuộc địa lý” của anh mà thôi. Anh nói một câu, kể ra thì cũng “chí lý”:

- Tôi nghĩ, chúng ta cần phải tiếp xúc, phải nói chuyện để học hỏi những điều hay, điều lạ. Muốn thế, chúng ta phải nói chuyện với các luật sư, bác sĩ, các dân biểu, thượng nghị sĩ hay thị trưởng, thống đốc... thì kiến thức của chúng ta mới mở rộng chứ còn nói chuyện với những người “homeless” thì học hỏi được cái gì ?

Tôi không nói rằng anh nói không đúng nhưng với điều kiện nào để anh có nhiều cơ hội tiếp xúc, nói chuyện với các tầng lớp trên trong khi anh chỉ là một người bán trái cây ven đường ? Và chính anh là “nhân vật” gợi hứng cho tôi viết cái phiếm này. Tôi cám ơn anh lắm lắm.

Tôi vẫn nghĩ rằng, trong một chừng mực nào đó, những “người đẻ gần kho đạn” là những người hạnh phúc nhất (mặc dù hạnh phúc chỉ là một danh từ trừu tượng và mang một ý nghĩa rất tương đối). Tại sao tôi nói họ hạnh phúc ? Bởi vì khi họ nói ra những điều mà họ chỉ tưởng tượng như vậy thôi, nghĩa là những điều chưa từng có hay chưa từng xảy ra trong đời họ, tức là họ sống trong cái thế giới của sự tưởng tượng. Đó là cái thế giới riêng của chính họ, (một thế giới “ảo” nhưng cứ nổ đi nổ lại nhiều lần, thét rồi họ tưởng đó là sự thật) và họ sẽ không cần biết đến cái thế giới chung quanh họ nữa. Như thế, tôi có thể kết luận rằng những người “đẻ gần kho đạn” là những người hạnh phúc nhất trên trần gian này. Chư vị có đồng ý như vậy không ?

Huỳnh Văn Phú

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Mại dâm đại hạ giá ở Đức Đã quá nửa đêm trong khu đèn đỏ Berlin, gái mại dâm vẫn lượn lờ qua lại. Dấu hiệu suy thoái kinh tế hiện diện khắp nơi, kể cả trong các nhà chứa.

Cũng như nhiều ngành kinh doanh khác, công nghiệp tình dục hợp pháp của Đức đang cố thích ứng với khủng hoảng kinh tế. Thời buổi này, khách hàng không những ít đi mà còn trở nên keo kiệt hơn. Tính cạnh tranh gia tăng khi nhiều câu lạc bộ và nhà thổ áp dụng chính sách giảm giá để câu khách.
Image
Eva (trái) và Dana (phải) đang ngồi bên trong nhà thổ Artemis tại Berlin.
Cũng như các ngành kinh doanh khác, ngành công nghiệp tình dục lớn nhất châu Âu tại Đức đang phải thích ứng với suy thoái. Ảnh: AP
Từ cuối 2008, số lượng du khách từ Anh và Mỹ suy giảm mạnh, một gái mại dâm trên 20 tuổi cho biết. Khách hàng vẫn đến nhưng họ không còn cho tiền boa mỗi khi được phục vụ như trước. Cô yêu cầu được giữ bí mật tên tuổi vì không muốn bố mẹ biết mình đang làm nghề gì.

"Giờ đây chúng tôi phải vật lộn rất nhiều để kiếm sống", một phụ nữ mặc chiếc quần jeans màu hồng có thâm niên 3 tuổi nghề nói, "Trước đây khách hàng thường đi thẳng đến tìm bạn. Nay họ khá hững hờ".

Tuy nhiên, đội ngũ gái đứng đường trong khu Hackescher Markt vẫn thống nhất một mức giá cuối cùng để tránh tình trạng phá giá, khoảng 110 USD mỗi lần.

Mại dâm được xem là hợp pháp ở Đức, người hành nghề có đầy đủ quyền lợi, có bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm thất nghiệp. Trên toàn nước này có khoảng 450.000 gái theo số liệu năm 2008, riêng thủ đô Berlin có 10.000 người. Đội ngũ đứng đường chỉ chiếm 3% trong số đó. Toàn bộ 97% còn lại làm việc trong các nhà thổ, tiệm mátxa hoặc phục vụ tận nhà.

"Mặc dù nhu cầu sử dụng dịch vụ vẫn duy trì mạnh mẽ, nhưng đội quân mại dâm đang ngày một tăng lên do có thêm nhiều người bị mất việc phải chuyển qua làm gái", Marion Detlefs từ hiệp hội bảo vệ gái mại dâm Hydra nói, "kết quả là tính cạnh tranh tăng lên".

Nhà chứa lớn nhất thủ đô Berlin, Artemis, đang mạnh tay quảng bá với nhiều chiêu hút khách hấp dẫn. Với vé vào cửa giá 111 USD, khách hàng được tự do sử dụng phòng tập thể dục, ăn buffet, vào bể bơi và phòng chiếu phim. Nếu trả thêm phí "vui vẻ" 83 USD, khách hàng sẽ có 30 phút tự do lựa chọn các loại hình phục vụ khác nhau. Mỗi ngày, nhà thổ này luôn có từ 60 đến 90 gái mại dâm làm việc, viên quản lý Vanessa Rahn nói

Jenna, một cô gái tóc vàng 30 tuổi cho biết cô nghỉ việc lễ tân khách sạn để chuyển vào đây từ năm ngoái. "Đây là một nghề thú vị. Tôi luôn muốn làm việc gì đó vui vẻ". Tuy nhiên cô yêu cầu giữ kín họ để người quen không biết việc cô đang làm.

Jenna cho biết số lượng khách hàng của cô không bị giảm đi, khoảng 10 người mỗi ngày, tuy nhiên họ trở nên keo kiệt hơn. "Khách là doanh nhân giảm rõ rệt", cô nói.

Để đối phó, nhà chứa tiếp tục tung ra nhiều chương trình khuyến mãi như phát thẻ giảm giá, tính rẻ cho tài xế taxi và khách hàng lớn tuổi. Cho đến nay, chính sách mới đang dần phát huy tác dụng, Rahn cho biết.

Nhà chứa Pussy Club tại thủ đô Berlin mở ra từ giữa năm 2008, tập trung nhắm vào những khách săn hàng giảm giá. Với hai mức giá chung 98 and 139 USD, tùy thuộc vào thời gian trong ngày, khách hàng có quyền sử dụng bất cứ dịch vụ nào với số lượng phụ nữ không giới hạn. Lương trả cho gái ở đây cũng theo giá chung, không phụ thuộc vào khối lượng công việc họ phải làm.

"Tất cả các cô gái được trả lương từ 140 đến 347 USD mỗi ngày, nên họ không phải lo lắng về vấn đề tiền bạc", quản lý Patricia Floreiou nói. "Nhiều phụ nữ ở các nhà chứa khác không kiếm được nhiều tiền như ở đây. Đó là lý do chúng tôi ngày càng nhận được nhiều đơn xin việc", bà nói.

Floreiou cho rằng chính sách giá chung đã giúp nhà thổ tránh mọi rắc rối trong suy thoái kinh tế. Cho đến nay, số lượng khách hàng vẫn chưa hề suy giảm.

Trở lại với Hackescher Markt, một gái mại dâm đứng đường người Mỹ lai Đức nói cô đang nghĩ đến việc quay về Mỹ khi tình hình xấu đi. "Ở Mỹ, chỉ cần nhảy nhót thôi tôi cũng kiếm được nhiều hơn là đứng đường cả đêm ở đây", cô nói.

Trong khi đó, Jema ở nhà thổ Artemis đang có dự định quay lại với cuộc sống yên tĩnh hơn với nghề lễ tân khách sạn. Tuy nhiên, cô vẫn còn luyến tiếc mức lương cao khi làm gái. "Loại hình kinh doanh này sẽ luôn tồn tại. Người ta sẽ vẫn tiếp tục chi tiền để được vui vẻ", Jema nói.

Thanh Bình (theo AP)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Lịch sử của nhẫn cưới
Khi chiếc nhẫn cưới được lồng vào tay, nó là biểu tượng của sự ràng buộc giữa hai con người, vững bền, lâu dài và vĩnh viễn. Phải chăng riêng điều này thực sự đã chứng tỏ sự hợp nhất của chúng ngay từ khoảnh khắc ra đời?

Nhẫn cưới là biểu tượng của hôn nhân

Biểu tượng rõ ràng này gửi tới mọi người một thông điệp không thể nhầm lẫn về tình trạng hôn nhân. Chiếc nhẫn cưới thường là rất đơn giản với một thiết kế đẹp và không bị lỗi mốt qua thời gian. Nó cũng có một lịch sử lâu dài, từ thời Ai Cập cổ đại, khoảng 4800 năm trước đây.

Với những người Ai Cập cổ đại, chiếc nhẫn được gắn với một thế lực siêu nhiên, một vòng tròn không có điểm chấm dứt với tình yêu bất diệt. Về sau với người Hy Lạp, khi người con gái chấp nhận chiếc nhẫn cũng có nghĩa là cô gái đã bị trói buộc về cả mặt tinh thần lẫn luật pháp và không còn được tự do nữa.

Còn ngày hôm nay, chúng ta chấp nhận chiếc nhẫn như là một phần của nghi lễ đám cưới, một sự ràng buộc mãi mãi có sự chứng kiến của cả hai gia đình, họ mạc.

Thời gian dần trôi đi và phong tục cũng có những thay đổi đáng kể. Ngày nay, không chỉ các cô dâu mới đeo những chiếc nhẫn như là một biểu tượng của sự ràng buộc mà phần lớn đàn ông cũng chọn đeo nhẫn để xác lập tính trung thực của họ, sự khẳng định gắn bó của họ với một người phụ nữ.

Chiếc nhẫn không nhất thiết phải làm bằng vàng

Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, họ sử dụng sắt bởi nó biểu tượng cho sức vững bền. Nhưng sau đó vào, nó được thay thế bằng vàng và bạc bởi chất liệu này đẹp, bền hơn, không bị han rỉ.

Đeo nhẫn cưới bên tay phải hay bên tay trái?

Hầu hết mọi người đều đeo nhẫn cưới bên ngón tay trái. Mặc dù vậy, một số phụ nữ châu Âu lại đeo nhẫn bên ngón tay phải. Một số phụ nữ vùng Scadinavia lại đeo tận 3 chiếc nhẫn: Nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, nhẫn khi làm mẹ.

Những cô dâu Do Thái thì đeo nhẫn ở ngón tay trỏ, bởi vì đó là ngón mà với nó, họ chỉ vào kinh Torah khi đọc.

Những người theo Thanh Giáo từ chối đeo nhẫn bởi vì họ coi đồ trang sức là phù phiếm.

Tại sao nhẫn cưới được đeo trên ngón áp út của bàn tay trái?

Có rất nhiều giả thuyết về việc vì sao ngón tay này lại gắn biểu tượng của hôn nhân. Cả người Hy Lạp và Ai Cập cổ đại đều tin rằng một huyết quản - được gọi là vena amoris theo tiếng Latin - chạy trực tiếp từ ngón tay này tới trái tim.

Trong nước Anh cổ đại, một chú rể sẽ trượt chiếc nhẫn từ ngón tay cái của cô dâu tới ngón trỏ và ngón giữa, nói rằng “Nhân danh cha, con và thần thánh” và sau đó, chú rể đeo chiếc nhẫn vào ngón tay còn trống bên cạnh - ngón áp út của bàn tay trái.

Thói quen này, cuối cùng sau đó được nghi lễ hóa vào những năm 1950 khi con trai của vua Henry WIII viết cuốn The Book of Common Prayer, trong đó nêu rõ đám cưới của người Tin lành hiện đại ở Anh có tuyên thệ và quy định bằng sắc lệnh ngón tay nào sẽ được đeo nhẫn cưới trong lễ cưới.

Đàn ông đeo nhẫn cưới

Theo Tiền Phong, việc đàn ông cũng phải đeo nhẫn cưới là một tục lệ tương đối mới. Mãi cho tới giữa thế kỷ 20, hầu như chỉ có phụ nữ mới đeo nhẫn cưới, có lẽ là để đánh dấu cho cái ngày người phụ nữ được coi như là một tài sản của một người đàn ông hoặc có lẽ na ná giống như hình thức phụ nữ đeo nhẫn đính hôn còn đàn ông thì không.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra và rất nhiều người đàn ông trẻ phải đối mặt với việc chia tay những người vợ trẻ đẹp của mình để ra chiến trường trong một thời gian dài, họ bắt đầu đeo những chiếc nhẫn cưới như biểu tượng của hôn nhân và sự gợi nhớ tới người vợ của họ.

Đó là một hành động rất lãng mạn và tràn đầy tình yêu của người đàn ông có trách nhiệm, chính vì vậy nó đã tồn tại đến tận thời nay, trong đám cưới chú rể cũng được cô dâu trao lại nhẫn trong ngày cưới.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

CÁI TÔI

"Tại sao một người Việt Nam làm việc tốt hơn một người Nhật, nhưng 3 người Việt Nam cùng làm một công việc thì hiệu quả lại kém xa rất nhiều so với 3 người Nhật cùng làm công việc đó"

Vấn đề này là thực tế, vậy tại sao và do đâu? Hẳn các bạn cũng biết một trong số nguyên nhân dẫn đến "nghịch lý" đó, đó chính là CÁI TÔI trong mỗi cá nhân! Một CÁI TÔI chỉ biết thừa nhận giá trị của bản thân mình mà không chịu thừa nhận đến giá trị của những người khác!

Nếu bạn ở trong một tổ chức người VN có nhiều người giỏi, tôi xin chúc mừng bạn vì có nhiều cơ hội để học hỏi! Nhưng cũng xin chia buồn với bạn vì ở đó khó có một đội ngũ làm việc thực sự, bởi họ không biết sử dụng tôi của mình. Ngoại trừ, ở đó có một nhà lãnh đạo thực thụ để liên kết và định hướng cho những cá nhân xuất sắc đó. Có điều để có một nhà lãnh đạo như vậy thật không dễ dàng!

Vốn để sống theo đúng nghĩa trong cuộc đời này, ai cũng cần một cái tôi để khẳng định mình tồn tại. Để biết cách tôn vinh bản thân và những người xung quanh. Tôn vinh giá trị cuộc sống hàng ngày. Nhưng bằng đấy ưu điểm thì hầu như lại trở thành nhược điểm! Và đã từng, tôi là như thế: một con người có chút ngạo mạn, có chút bất cần và đôi khi khinh khỉnh! Để rồi có một dịp một ngày tôi phải khóc vì những quãng thời gian tôi uổng phí cho những "trò hề lố bịch" của những kẻ rỗng tuếch bịp đời! Tôi mới hiểu cái TÔI đích thực, một cái TÔI trong cá nhân không hề bị biến mất khi hòa mình với cuộc sống xung quanh, một cái TÔI rất đỗi bình thường và không có chút gì đặc biệt. Nhưng vẫn là một cái TÔI không hề bị pha tạp, một cái tôi khao khát học hỏi và chia sẻ với mọi người.

Và khi CÁI TÔI đó không chỉ biết cách tôn vinh bản thân mình mà còn biết tôn vinh giá trị của những người xung quanh thì chắc chắn "3 người VN sẽ giỏi hơn 3 người Nhật khi làm cùng một công việc". Lúc đó hẳn 3 người sẽ tìm thấy được mục tiêu chung để đồng lòng đồng sức cùng đẩy một chiếc xe, thay vì mỗi người kéo một hướng!

Xin hãy bắt đầu thay đổi cuộc sống này bằng chính những tư tưởng, hành động của từng người.

Để hiểu rằng "Đời chỉ thay đổi khi chúng ta cùng thay đổi".

Tôi đang làm những việc đó khi bên cạnh tôi không chỉ có nhiều người bạn để chia sẻ mà còn có rất nhiều thầy để tôi noi theo!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cuộc Gặp Gỡ Thú Vị

Trần Khải Thanh Thủy

Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và ông Bernd Musch-Borowska.
Trong cơn mưa đổ sầm sập, đến mức “phố uốn thành dòng sông uốn quanh”, ngập nửa bánh xe, tôi bỗng nhận được cú điện thoại gọi đến. Nhấc ống nghe lên, tôi nhận ra tiếng một người ngoại quốc gọi tên mình bằng chất giọng đặc biệt ấn tượng: Tràn Khại Than Thụy.

Với thứ tiếng Anh vay mượn của tôi từ ngót nghét 30 năm trời nay, cho dù được cứu vớt trong 9 tháng 10 ngày ở tù, cũng không cứu tôi ra khỏi dòng ngôn ngữ mà người đầu dây gọi, trong khi tôi yêu cầu ông ta nói tiếng Việt, thì ông ta “no, no” hoài và khó khăn lắm tôi mới hiểu được ông ta tên Bernd, muốn gặp tôi trong vòng một tiếng nữa.

Chưa biết ra khỏi nhà bằng cách nào trong cảnh mưa trắng trời, trắng đất như thế này, thì đầu dây lại có tiếng nói. Lần này là tiếng người Việt nói tiếng Nam... Chỉ vẽ vòng quanh vài phút mới hiểu rằng ông Bernd đang ở Sài Gòn, vì vậy cuộc gặp đành ấn định vào ngày mai, khi ông bay ra Hà Nội.

Đặt ống nghe xuống, tôi thở phào nhẹ nhõm, cũng may ông đang ở Sài gòn, nơi chợt nắng, chợt mưa, rồi chợt tắt, nếu không, cả tôi và ông đều chỉ còn cách ngồi trong nhà nhìn trời mà khóc theo mưa, vì Hà Nội (dù đã từng tăng trưởng kinh tế tới 8,5 %, chỉ đứng sau các thành tựu kinh tế của Trung Quốc!), đã làm gì có xe lội nước? Ngay cả nút giao thông Kim Liên -nơi hầm chui cơ giới hiện đại nhất Việt Nam vừa được khai thông một tiếng đã bị ngập, người và xe máy, ô tô, lóp ngóp đi trong mưa, ướt lướt thướt như chuột lột, thì những nơi khác, do người dân “thực” được từ thời Pháp thuộc, cách đây gần trăm năm, bị xuống cấp trầm trọng, còn ngập đến mức nào?

Cuối cùng một ngày chờ đợi cũng qua nhanh, tôi cùng chị bạn đi ta xi đến khách sạn Sophia - plaza- cạnh Hồ Tây, để gặp ông theo lời hẹn.

Vừa tiến vào tiền sảnh của khách sạn, giữa lúc chúng tôi lúng túng chưa biết vào bằng cách nào vì không đem theo chứng minh thư, và điện thoại của ông có thể không gọi được, ông đã tiến ra, cao lêu đêu và nụ cười rạng rỡ, bất giác làm tôi nhớ lại nhận định của một học giả: “Nụ cười là phương tiện giao tiếp duy nhất không cần phiên dịch , ngôn ngữ”.

Nhờ nụ cười cởi mở và cái bắt tay lịch thiệp của ông mà chúng tôi lập tức quen nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trong căn phòng nhỏ của khách sạn, nơi cửa kín, phòng sang, ông tự nói về mình: ông là Bernd Musch-, giám đốc đài phát thanh ARD tại Đức, chuyên đặc trách về khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong chuyến đi này, ngoài việc quan tâm đến con người và đất nước Việt Nam, điều mà ông cần phản ánh bằng tiếng Anh và tiếng Đức trên đài ARD- là vấn đề nhân quyền của Việt Nam, vì vậy ông muốn gặp một số nhân vật tiêu biểu trong hàng ngũ đâu tranh chống lại chế độ cộng sản, những người mà ông biết - luôn là nạn nhân của sự độc tài phi nhân- như vợ ông- một cư dân Ba Lan -phải tị nạn sang Đức, và bị cấm trở lại quê hương khi đảng cộng sản Ba Lan còn chưa sụp đổ.

Câu hỏi đầu tiên ông đặt ra cho tôi là:

Bà cảm nhận thế nào về việc luật sư Lê Công Định bị bắt. Việc bắt khẩn cấp một luật sư như Định có phải là điều cần thiết như nhà nước cộng sản công bố không?

Tất nhiên, tôi khẳng định sự hèn nhát, dối trá, bạc nhược của nhà nước này, sợ tất cả những tiếng nói trung thực, những đảng phái manh nha hình thành, những lãnh đạo trẻ tuổi, nhiệt huyết, có tầm vóc, uy tín, theo phương án: “Bóp chết gà từ trong trứng”. Huống hồ một người học giỏi, tài cao, có tâm với đất nước như Định: Sẵn sàng từ bỏ tất cả danh vọng, tiền tài, địa vị để đi theo tiếng gọi của con tim, để đấu tranh cho một nền pháp lý thực sự tự do, dân chủ ở Việt Nam. Trong cảnh “tranh tối tranh sáng”, nhà cầm quyền cộng sản đã lợi dụng bóng tối độc tài để bắt Định khi ánh sáng dư luận còn chưa kịp gối đầu lên thay thế.

Có vẻ như hài lòng với câu trả lời của tôi qua cách phiên dịch của chị bạn đi cùng, ông gật gù rồi quay sang đặt câu hỏi:

- Tôi nghe nói trước đây bà đã từng bị bắt

- Vâng tôi nhớ lại thời điểm hơn hai năm trước, ngày 21-4-2007 để trả lời:

Tôi bị bắt trước ngày 30-4 chín ngày, một ngày nhạy cảm của dân tộc tôi, khi chính quyền cộng sản xua quân vào lấn chiếm Miền Nam, để lại vết thương sau 34 năm còn rỉ máu...

Trong tù họ đối xử với bà ra sao ?

- Như tất cả các tù thường phạm khác. Rất tồi và vô cùng tệ hại. Điều này tôi xin khẳng định rõ ràng vì đã chứng kiến những nhà tù ở Đức qua Net hoặc trên sách báo . Vẻn vẹn 15 kg gạo, 15 kg rau, 15 kg củi, 3 lạng thịt và nửa ký cá một tháng. Không được quyền sử dụng giấy bút, không được phép gọi điện thoại, hoặc gặp gỡ thân nhân trong cả thời gian dài. Trong khi chỗ ở vô cùng chật chội, tối tăm. Người ít là 60cm, người nhiều là 2m, còn thông thường là 80 cm. Tất nhiên bị coi là những công dân hạng bét, cần phải cải tạo tư tưởng chống đối, tiến bộ, tránh lây nhiễm trong cộng đồng, nên chúng tôi còn phải chịu cả áp lực về tinh thần và bản thể:

Thiếu thốn, đói rét, chất lượng cuộc sống chỉ là một sự hành hạ triền miên, ăn cơm cục, uống nước đục, toàn thân phù nề, ngứa ngáy vì thiếu chất và thiếu khí. Chỉ thời gian và sự ô nhiễm là thừa ứ, nên ai cũng mắc chứng bệnh phù thũng và ngứa ngáy khắp người, đặc biệt là vùng kín.

Tại sao bà lại dấn thân vào con đường nguy hiểm này?

Vì chúng tôi không thể sống quỳ, cha ông chúng tôi là những thế hệ cộng sản đầu tiên, đã bị đảng lừa trắng mắt, trắng tay, nên chúng tôi phải vùng lên để cùng nhau xoá bỏ những đam mê, bưng bít, những dối trá, lọc lừa, để con cháu chúng tôi không bị độc tài đè đầu, cưỡi cổ, không bị tiêm nhiễm tư tưởng Hồ Chí Minh, quốc tế cộng sản, học thuyết Mác Lê- thọc huyết loài người.

Bà có điều gì lo ngại cho sức khoẻ cũng như sự đàn áp của chính quyền không?

- Về cơ bản, chúng tôi chấp nhận, coi nỗi đau của dân tộc là nỗi đau của mình. Đã dấn thân vào con đường lớn của tương lai, của hội nhập toàn cầu, là phải biết chấp nhận sự thiệt thòi, hy sinh. Biết ủ đau thương trong hiện tại để sinh nở cái oai hùng cho tương lai con cái sau này, đưa tiền đồ dân tộc ra khỏi vòng luẩn quẩn, tăm tối. Hơn nữa bên cạnh tôi luôn có cả một hàng rào nhân ái bao bọc, trước mắt là 3 triệu đồng bào hải ngoại , nhưng hiện tại và sắp tới sẽ là tất cả những con người có lương tri tại quốc nội.

Ngừng lại để thưởng thức vị sinh tố ngay trước mặt, cũng là giành thời gian để chị bạn chuyển ngữ, thấy ông Bernd vẫn tỏ ý lắng nghe, tôi tiếp tục bày tỏ quan điểm của mình:

- Nếu đấu tranh công khai trực diện tôi không sợ, vì tôi biết mình đang đi theo lẽ phải của cha ông, đi bằng niềm tin của gần 7 tỷ người trên thế giới , nhưng tôi rất coi thường những trò hạ đẳng, bẩn thỉu, đê tiện do nhà nước cộng sản nghĩ ra. Cụ thể, suốt 3 tháng vừa rồi, nhà tôi tràn ngập văn hoá đảng- gồm chuột chết, xác nhuyễn thể, xương động vật thối ngâm trong dầu bẩn, đặc biệt là phân người.

Không tin vào sự thực này, Bernd nhíu mày - những nét nhăn sâu vạch ngang vầng trán:

- Thật ư? ai là kẻ gây ra cho bà những hiểm hoạ kinh khiếp này;

Quyền lức đỏ và xã hội đen, thưa ông. Nói chính xác hơn đó là những kẻ nghiện ngập, nợ án, được công an thuê đến theo chủ trương lớn của đảng, thông qua các nghị quyết CP- nghị quyết chính phủ - nghị quyết c...phân v.v Cho đến ngày 4-5, chủ trương này mới tạm dừng lại mà chưa biết đảng còn tiếp tục ra chỉ thị CP nào nữa không?

Gật gù, tư lự, đôi mắt xanh luôn linh hoạt chuyển động trên sống mũi cao, cương trực, ngài Bernd phá tan bầu không khí mát lạnh do điều hoà nhiệt độ trong phòng bằng một câu hỏi nóng :

- Bà viết bài bằng cách nào, các tác phẩm trong nước của bà có được sử dụng không?

- Tất nhiên là không, 18 tác phẩm của tôi in trong nước bị phong toả, bị thu hồi và trả về không thương tiếc từ tất cả các đại lý lớn nhỏ trong số 31 tỉnh thành cả nước, và hiện tại còn không dưới vài nghìn cuốn bị “tù” oan như vậy... còn bản thân tác giả bị bôi nhọ, bóp méo thành suy đồi đạo đức, làm tay sai cho lưu vong phản động hay các thê lực thù địch ở nước ngoài.

12 trong số 18 tác phẩm xuất bản tại Quốc nội từ 1989- 2004 bị trả về.

Trong lúc chị bạn dịch, tôi nảy ra một ý nghịch ngợm, một sự liên tưởng so sánh, thú vị: Nếu hôm nay công an biết tôi đến đây để gặp ông, thì lập tức ông cũng sẽ trở thành thế lực thù địch đối với họ, như tất cả đồng bào tôi ở hải ngoại, hay những vị dân biểu các nước thích can thiệp vào nội bộ Việt Nam, mong muốn nhà nước độc tài phải sửa đổi luật lệ, chính sách, mở đường cho tự do nhân quyền ở Việt Nam.

Đôi mắt xanh biếc của ông lập tức ánh nên những nét cười tinh nghịch, pha lẫn nét trầm buồn tế nhị, ông thú nhận:

Ở Việt Nam, tôi đang trải nghiệm lại những giây phút trước đây, khi vợ tôi còn là một thiếu nữ Ba Lan chống lại đảng độc tài, luôn bị công an rình rập theo dõi, và bản thân tôi hôm nay cũng phải nói dối người ...tháp tùng mình là tôi bị đau lưng, không đi đâu cả, để có thể bố trí gặp bà vào giờ phút muộn mằn này. Chính vì anh ta tin là thật, nên 9 giờ kém tôi mới được tự do mời các bà đến đây, hỏi chuyện.

Câu chuyện xoay sang một hướng mới, vui vẻ và nóng hổi tính thời sự, không kém phần hài hước:

Từ ngày thêm được chữ” nhà” dân chủ, mỗi chúng tôi phải chấp nhận “cưới” thêm dăm bảy chú khuyển áo vàng bên cạnh. Ngay khi nhận thiếp mời họp mặt hoặc cưới xin ai đó , chúng tôi đều giao nhiệm vụ cho nhau, ngày ấy ngày nọ mỗi người phải dắt theo 5,7 chú để đám cuới thêm phần rôm rả, trong cưới, ngoài canh

Chỉ ra phía ngoài khuôn cửa, ông Bernd làm điệu bộ nhún vai, lè lưỡi, lắc đầu, điệu bộ rất hài hước, tự nhiên:

- Nếu anh ta không tin tôi mà bỏ đi, thì bây giờ có lẽ chúng ta cũng đang trong cảnh như vậy.

Chừng như không yên tâm, khi ông đột ngột thay đổi điểm hẹn và giờ giấc qúa nhiều lần, ông hướng cái nhìn tò mò , thương cảm về phía tôi , bày tỏ:

Còn hôm nay thì sao, bà ra khỏi nhà bằng cách nào, có bị “cá” bám theo không?

- À, tôi cười phá lên vui vẻ, niềm vui hiện rõ trên nét mặt:

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi thực hiện một công việc quan trọng nào đó, tôi lập tức phải sang nhà mẹ đẻ, từ đó mới thay hình đổi dạng để ra đi. Hôm nay cũng vậy, tôi mặc quần lửng, áo cộc tay, đi giày thể thao coi như tập thể dục. Trước đó chồng tôi đi xe máy đến nhà đón chị bạn, và tiện thể quẳng bộ đồ, cùng giày dép của tôi sang bà ngoại..Sau đó chúng tôi ra đường bắt ta xi, chỉ đạo cho họ đi vòng vèo một chút để đánh lạc hướng công an (nếu có) , cuối cùng tấp xe vào tận tiền sảnh... Còn lúc về thì không quan trọng, bởi khi đó sự đã mười mươi rồi, ngoài việc hậm hực họ chẳng còn làm gì được nữa.

Mở bóp ra lấy ra 100.000 tiền hồ, Ngài Bernd bày tỏ sự ái ngại với những việc làm không mấy văn minh của chính quyền cộng sản đặc biệt là tầng lớp công an, rồi ngâp ngừng đưa tiền vào tay tôi để trả tiền ta xi.

Ồ không không, tôi cười lớn, giải thích: - Ngài từ xứ tự do, nơi con người làm chủ nên xa lạ với cách hành xử của công an Việt Nam, còn chúng tôi giáp mặt cùng sự độc tài, đè nén, bất công, nên quen rồi, điều quan trọng là chúng tôi hân hạnh được gặp ngài, để phản ảnh rõ nét vấn đề nhân quyền của Việt Nam, để qua hệ thống Đài phát thanh của ngài cũng như hàng chục, hàng trăm hãng truyền thông tại Hải ngoại, trên thế giới cùng tố cáo việc làm “nhân đạo gấp triệu lần tư bản “cho dân và vì dân của họ” , để đến một ngày nào đó độc tài phải cúi đầu trước dư luận quốc tế vì tội vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam.

Bần thần nghe tôi nói, ngài Bernd bộc bạch,

Tôi mong sao Việt Nam sẽ sớm đi theo con đường của Ba Lan.

Tất nhiên tôi khẳng định: - Chế độ cộng sản đang ở giai đoạn tan rã cuối cùng. Hiện tại ngôi nhà độc tài phải đương đầu với bao nhiêu biến động, từ lạm phát, tăng giá, biên giới, hải đảo, bô xít Tây nguyên, dân oan, lao động xuất khẩu v.v vì vậy đã để lại bao nhiêu vết rạn nứt trên thân nhà...Người dân cũng càng ngày càng mất niềm tin vào một chính thể chỉ chuyên cho dân cái đói khổ, dối trá, vì dân mà ra sức cướp bóc, nên sự tồn tại cũng chẳng còn bao lâu nữa. Toàn bộ trụ đỡ ngôi nhà bây giờ chỉ còn là của một chính đảng thối nát, một phe phái đi ngược lại với quyền lợi của 80 triệu dân mà thôi, trụ sao nổi với sức mạnh, triều cường của khối đoàn kết công -nông cả trong và ngoài nước.

Hoàn toàn mất đi sự vui vẻ ban đầu , vẻ mặt ngài Bernd tràn ngập sự uư tư:

Đúng thế!

...Kết thúc phần chủ đề ngoài luồng, tôi buồn bã chốt lại:

Vì thế tôi mong ước ra khỏi tình trạng này. Còn hiện tại ngôi nhà của chúng tôi không chỉ đơn thuần là nơi trú ngụ, nuôi dưỡng tâm hồn tình cảm của mình và những đứa con mà còn có thêm một chức năng chiến lược vô cùng quan trọng nữa, là...nơi nhốt mình. Thậm chí không được ra chợ mua thức ăn, không được đến đón con ở trường, không được gặp mẹ đẻ...Bị canh 24/24 tiếng, đêm nằm nghe rõ tiếng giầy lộp cộp của các chú công an , tiếng ho hắng, chuyện trò, xen lẫn tiếng gầm gừ, ăng ẳng của anh em nhà họ khuyển, tiếng nguyền rủa độc địa :” Mẹ kiếp, vì mấy đồng lương mà nhục hơn chó”, cả hơi thuốc khét lẹt của những chú chấn hai cho phả vào tận trong nhà qua khe cửa hẹp...

Nhìn đồng hồ đã gần 10 rưỡi, trong khi ông giám đốc đã có dấu hiện mệt mỏi do cả ngày di chuyển chờ đợi trên máy bay, đánh lạc hướng cơ quan an ninh, chúng tôi quay lại chủ đề chính, nhằm phục vụ cho bài viết sắp tới, cũng là một trong phần việc của chuyến xâm nhập thực tế này

Bà có sử dụng inter net không? Có bị gây trở ngại gì phía nhà cầm quyền không ?

Có chứ, đó là phương tiện tối ưu nhất giúp tôi có thể buôn lậu chữ nghĩa qua biên giới, sau nhiều lần bị bắt tại quán Nét, bị tịch thu phương tiện làm việc. Cụ thể từ ngày 16-8-2006 tôi bị cắt nét, cắt điện thoại di động, điện thoại bàn liên tục, bị tràn vào nhà thu liền 4 máy vi tính, 2 máy scan, hàng chục ổ USB chứa đầy dữ liệu và hàng nghìn lá đơn của bà con dân oan

- Họ lý giải như thế nào về việc làm này? Mục đích họ làm như vậy để làm gì ?

Với kẻ độc tài thì không có mục đích nào khác nhằm chặn đứng những tiếng nói trung thực, làm ảnh hưởng tới sự tự tung tự tác của họ. Vì vậy họ làm tất cả để bao vây kinh tế, để triệt tiêu nguồn sống, triệt tiêu mầm phản kháng trong mỗi nhà dân chủ, đấu tranh, theo đúng quan điểm của họ từ trước tới nay: “Theo thì sống, chống thì chết”. Khi gà chưa gáy sáng, đánh thức những trái tim lầm lạc, thì trong bóng đêm, ma quỷ luôn nói rằng “việc làm của chúng tao là đúng, là tuân thủ luật pháp, là chủ trương của nhà nước độc quyền này”

- Công an có thể làm những việc khủng khiếp như vậy sao- tràn vào nhà đọc lệnh, cướp bóc? Bernd nhướn cặp mắt xanh biếc dưới đôi lông mày bạc lên hỏi:

Vâng, vì đặc thù của nhà nước cộng sản Việt Nam là chỉ đào tạo ra những công cụ thừa hành, công cụ kiếm tiền một cách ngu trung, không đào tạo ra những con người biết suy nghĩ, cân nhắc đúng, sai, phải, trái,

Trong lúc ngài giám đốc mắt tròn mắt dẹt, tôi nói thêm:

- Mỗi nhà dân chủ chúng tôi bị cả trăm công an ký sinh sống bám vào để đục khoét tâm huyết, bản thể , để chúng tôi hoàn toàn gục ngã ý chí, còn những kẻ ký sinh trùng này thì ăn no bẫm xác trên những đồng thuế của toàn dân Sợ ông chưa hiểu, trong khi chị bạn vẫn cố gắng bám sát những ý tưởng của tôi để truyền đạt lại, tôi nói cụ thể hơn:

Trường hợp anh Đỗ Nam Hải, mỗi tháng “giúp” công an tiêu tốn 100 triệu đồng. Nơi nào đồng tiền không sinh lợi thì nơi đó bị coi là nguyên nhân của lạm phát. Đợt đổ “ bô xít phân tươi “ vào cửa nhà tôi cũng vậy, tốn kém lên tới cả vài chục triệu, vì hễ tiến hành đổ là phải cử người canh hai đầu ngõ ngăn cấm người qua lại để kẻ kia khệ nệ bê “tư tưởng Hồ Chí Minh đổ vào”. Tiền thuê kẻ nợ án, nghiện hút, tiền nuôi bảo vệ, tiền bồi dưỡng cán bộ chiến sĩ công an làm nhiệm vụ canh gác, tiền mua ổ khoá, xích sắt, xô thùng, bình hộp, khẩu trang , bao tay v.v ròng rã suốt ba tháng trời, tất cả đều được tính thành ngày công, chiến tích trong chiến dịch “trấn áp tội phạm phản động, chống Đảng, bác “ để nhận tiền thi đua khen thưởng

Không thông tỏ tiếng Anh, không biết chị bạn dịch cụm từ “công an Việt Nam là những vật thể ký sinh sống bám trên lưng những nhà dân chủ, cũng như tầng lớp lãnh đạo đảng là những ký sinh trùng nguy hiểm sống bám trên cơ thể 80 triệu người Việt Nam” như thế nào, mà ngài Bernd cười lớn, tỏ ra rất thích thú, nhắc đi nhắc lại cụm từ này, rồi cả hai quay ra trao đổi bằng tiếng anh, quên cả tôi đang ngồi trơ khấc bên cạnh

Trước khi chia tay, nhớ lại kỷ niệm cũ với ngài dân biểu Na Uy Piter Get Mark, tôi liền vui vẻ kể lại:

Tôi hy vọng sáng mai ông vẫn ở lại khách sạn này, không vì gặp tôi mà sáng sớm bị công an vào tận phòng ngủ gõ cửa cảnh báo: “ Chúng tôi đã biết tất cả mọi việc làm của ông, đề nghị ông rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng nữa, nếu không buộc chúng tôi phải dùng biện pháp mạnh”

Đáp lại, ông bảo:

Biết Việt Nam là một nước nguy hiểm cho những người tôn trọng nhân quyền, nên tôi chỉ ở lại dăm ngày, sau đó sẽ bay sang Sanhgapore, nơi tôi có một studio ở đó.

Singapore? Tôi hỏi lại đầy ngạc nhiên thích thú vì lẽ Singapore là một nước nhỏ nhưng giàu hơn Việt Nam cả trăm lần, nơi được coi là thu nhập cao nhất nhì khu vực Đông Nam Á, cũng là nơi có môi trường xanh sạch đẹp nhất, trại tù ít nhất, tỷ lệ tham nhũng ít nhất, trái ngược hoàn toàn với Việt Nam, cái gì cũng xấu nhất do toàn thể hệ thống lãnh đạo Cư Nhứt , nên đi đâu cũng nghe bà con đặt vè ...

Xe chạy chầm chậm, đầu tôi ngổn ngang bao nhiêu ý nghĩ, nhất là câu vè của bà con Miền Nam đang tràn lan trên mạng, mà tôi chỉ dám chỉnh sửa lại đôi chữ cho phù hợp niêm luật và thêm vào hai câu cuối cho tròn mạch nghĩ:

Việt Nam hạng nhứt ai ơi
Nhứt cư - như cứt bạn thời biết chưa?
Ăn cướp, ăn cắp, dối lừa
Quan to, chức lớn, mứa thừa, loạn luân...
Chỉ thương cái gọi là dân
Quanh năm suốt tháng làm thân phận rùa

Nhìn thành phố chuyển về đêm trong ánh sáng muôn hồng nghìn tía, bên cạnh nhạc sập xình từ các quán ăn nhà hàng là những người lao động mặt mày bệch bạc, nhợt nhạt vì kiếm ăn, mệt nhọc đẩy những chiếc xe lăn tự chế, trên chỏng chơ nồi niêu xoong chảo, bát đĩa ấm chén, bàn ghế sứt sẹo, vênh váo... tôi chợt nhớ lại câu nói hôm trước đã nhờ Lê thị Công Nhân dịch cho nhà báo Na Uy và hôm nay lại là nhà báo Đức- qua người dịch vô cùng thương quý, thân thiết với em, đó là: “Việt Nam là một tấm áo ngủ sặc sỡ nhưng bên trong đầy những rận” .

Hà Nội 21-6-2009
Trần Khải Thanh Thuỷ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cuộc Gặp Gỡ Thú Vị

Trần Khải Thanh Thủy

Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và ông Bernd Musch-Borowska.
Trong cơn mưa đổ sầm sập, đến mức “phố uốn thành dòng sông uốn quanh”, ngập nửa bánh xe, tôi bỗng nhận được cú điện thoại gọi đến. Nhấc ống nghe lên, tôi nhận ra tiếng một người ngoại quốc gọi tên mình bằng chất giọng đặc biệt ấn tượng: Tràn Khại Than Thụy.

Với thứ tiếng Anh vay mượn của tôi từ ngót nghét 30 năm trời nay, cho dù được cứu vớt trong 9 tháng 10 ngày ở tù, cũng không cứu tôi ra khỏi dòng ngôn ngữ mà người đầu dây gọi, trong khi tôi yêu cầu ông ta nói tiếng Việt, thì ông ta “no, no” hoài và khó khăn lắm tôi mới hiểu được ông ta tên Bernd, muốn gặp tôi trong vòng một tiếng nữa.

Chưa biết ra khỏi nhà bằng cách nào trong cảnh mưa trắng trời, trắng đất như thế này, thì đầu dây lại có tiếng nói. Lần này là tiếng người Việt nói tiếng Nam... Chỉ vẽ vòng quanh vài phút mới hiểu rằng ông Bernd đang ở Sài Gòn, vì vậy cuộc gặp đành ấn định vào ngày mai, khi ông bay ra Hà Nội.

Đặt ống nghe xuống, tôi thở phào nhẹ nhõm, cũng may ông đang ở Sài gòn, nơi chợt nắng, chợt mưa, rồi chợt tắt, nếu không, cả tôi và ông đều chỉ còn cách ngồi trong nhà nhìn trời mà khóc theo mưa, vì Hà Nội (dù đã từng tăng trưởng kinh tế tới 8,5 %, chỉ đứng sau các thành tựu kinh tế của Trung Quốc!), đã làm gì có xe lội nước? Ngay cả nút giao thông Kim Liên -nơi hầm chui cơ giới hiện đại nhất Việt Nam vừa được khai thông một tiếng đã bị ngập, người và xe máy, ô tô, lóp ngóp đi trong mưa, ướt lướt thướt như chuột lột, thì những nơi khác, do người dân “thực” được từ thời Pháp thuộc, cách đây gần trăm năm, bị xuống cấp trầm trọng, còn ngập đến mức nào?

Cuối cùng một ngày chờ đợi cũng qua nhanh, tôi cùng chị bạn đi ta xi đến khách sạn Sophia - plaza- cạnh Hồ Tây, để gặp ông theo lời hẹn.

Vừa tiến vào tiền sảnh của khách sạn, giữa lúc chúng tôi lúng túng chưa biết vào bằng cách nào vì không đem theo chứng minh thư, và điện thoại của ông có thể không gọi được, ông đã tiến ra, cao lêu đêu và nụ cười rạng rỡ, bất giác làm tôi nhớ lại nhận định của một học giả: “Nụ cười là phương tiện giao tiếp duy nhất không cần phiên dịch , ngôn ngữ”.

Nhờ nụ cười cởi mở và cái bắt tay lịch thiệp của ông mà chúng tôi lập tức quen nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trong căn phòng nhỏ của khách sạn, nơi cửa kín, phòng sang, ông tự nói về mình: ông là Bernd Musch-, giám đốc đài phát thanh ARD tại Đức, chuyên đặc trách về khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong chuyến đi này, ngoài việc quan tâm đến con người và đất nước Việt Nam, điều mà ông cần phản ánh bằng tiếng Anh và tiếng Đức trên đài ARD- là vấn đề nhân quyền của Việt Nam, vì vậy ông muốn gặp một số nhân vật tiêu biểu trong hàng ngũ đâu tranh chống lại chế độ cộng sản, những người mà ông biết - luôn là nạn nhân của sự độc tài phi nhân- như vợ ông- một cư dân Ba Lan -phải tị nạn sang Đức, và bị cấm trở lại quê hương khi đảng cộng sản Ba Lan còn chưa sụp đổ.

Câu hỏi đầu tiên ông đặt ra cho tôi là:

Bà cảm nhận thế nào về việc luật sư Lê Công Định bị bắt. Việc bắt khẩn cấp một luật sư như Định có phải là điều cần thiết như nhà nước cộng sản công bố không?

Tất nhiên, tôi khẳng định sự hèn nhát, dối trá, bạc nhược của nhà nước này, sợ tất cả những tiếng nói trung thực, những đảng phái manh nha hình thành, những lãnh đạo trẻ tuổi, nhiệt huyết, có tầm vóc, uy tín, theo phương án: “Bóp chết gà từ trong trứng”. Huống hồ một người học giỏi, tài cao, có tâm với đất nước như Định: Sẵn sàng từ bỏ tất cả danh vọng, tiền tài, địa vị để đi theo tiếng gọi của con tim, để đấu tranh cho một nền pháp lý thực sự tự do, dân chủ ở Việt Nam. Trong cảnh “tranh tối tranh sáng”, nhà cầm quyền cộng sản đã lợi dụng bóng tối độc tài để bắt Định khi ánh sáng dư luận còn chưa kịp gối đầu lên thay thế.

Có vẻ như hài lòng với câu trả lời của tôi qua cách phiên dịch của chị bạn đi cùng, ông gật gù rồi quay sang đặt câu hỏi:

- Tôi nghe nói trước đây bà đã từng bị bắt

- Vâng tôi nhớ lại thời điểm hơn hai năm trước, ngày 21-4-2007 để trả lời:

Tôi bị bắt trước ngày 30-4 chín ngày, một ngày nhạy cảm của dân tộc tôi, khi chính quyền cộng sản xua quân vào lấn chiếm Miền Nam, để lại vết thương sau 34 năm còn rỉ máu...

Trong tù họ đối xử với bà ra sao ?

- Như tất cả các tù thường phạm khác. Rất tồi và vô cùng tệ hại. Điều này tôi xin khẳng định rõ ràng vì đã chứng kiến những nhà tù ở Đức qua Net hoặc trên sách báo . Vẻn vẹn 15 kg gạo, 15 kg rau, 15 kg củi, 3 lạng thịt và nửa ký cá một tháng. Không được quyền sử dụng giấy bút, không được phép gọi điện thoại, hoặc gặp gỡ thân nhân trong cả thời gian dài. Trong khi chỗ ở vô cùng chật chội, tối tăm. Người ít là 60cm, người nhiều là 2m, còn thông thường là 80 cm. Tất nhiên bị coi là những công dân hạng bét, cần phải cải tạo tư tưởng chống đối, tiến bộ, tránh lây nhiễm trong cộng đồng, nên chúng tôi còn phải chịu cả áp lực về tinh thần và bản thể:

Thiếu thốn, đói rét, chất lượng cuộc sống chỉ là một sự hành hạ triền miên, ăn cơm cục, uống nước đục, toàn thân phù nề, ngứa ngáy vì thiếu chất và thiếu khí. Chỉ thời gian và sự ô nhiễm là thừa ứ, nên ai cũng mắc chứng bệnh phù thũng và ngứa ngáy khắp người, đặc biệt là vùng kín.

Tại sao bà lại dấn thân vào con đường nguy hiểm này?

Vì chúng tôi không thể sống quỳ, cha ông chúng tôi là những thế hệ cộng sản đầu tiên, đã bị đảng lừa trắng mắt, trắng tay, nên chúng tôi phải vùng lên để cùng nhau xoá bỏ những đam mê, bưng bít, những dối trá, lọc lừa, để con cháu chúng tôi không bị độc tài đè đầu, cưỡi cổ, không bị tiêm nhiễm tư tưởng Hồ Chí Minh, quốc tế cộng sản, học thuyết Mác Lê- thọc huyết loài người.

Bà có điều gì lo ngại cho sức khoẻ cũng như sự đàn áp của chính quyền không?

- Về cơ bản, chúng tôi chấp nhận, coi nỗi đau của dân tộc là nỗi đau của mình. Đã dấn thân vào con đường lớn của tương lai, của hội nhập toàn cầu, là phải biết chấp nhận sự thiệt thòi, hy sinh. Biết ủ đau thương trong hiện tại để sinh nở cái oai hùng cho tương lai con cái sau này, đưa tiền đồ dân tộc ra khỏi vòng luẩn quẩn, tăm tối. Hơn nữa bên cạnh tôi luôn có cả một hàng rào nhân ái bao bọc, trước mắt là 3 triệu đồng bào hải ngoại , nhưng hiện tại và sắp tới sẽ là tất cả những con người có lương tri tại quốc nội.

Ngừng lại để thưởng thức vị sinh tố ngay trước mặt, cũng là giành thời gian để chị bạn chuyển ngữ, thấy ông Bernd vẫn tỏ ý lắng nghe, tôi tiếp tục bày tỏ quan điểm của mình:

- Nếu đấu tranh công khai trực diện tôi không sợ, vì tôi biết mình đang đi theo lẽ phải của cha ông, đi bằng niềm tin của gần 7 tỷ người trên thế giới , nhưng tôi rất coi thường những trò hạ đẳng, bẩn thỉu, đê tiện do nhà nước cộng sản nghĩ ra. Cụ thể, suốt 3 tháng vừa rồi, nhà tôi tràn ngập văn hoá đảng- gồm chuột chết, xác nhuyễn thể, xương động vật thối ngâm trong dầu bẩn, đặc biệt là phân người.

Không tin vào sự thực này, Bernd nhíu mày - những nét nhăn sâu vạch ngang vầng trán:

- Thật ư? ai là kẻ gây ra cho bà những hiểm hoạ kinh khiếp này;

Quyền lức đỏ và xã hội đen, thưa ông. Nói chính xác hơn đó là những kẻ nghiện ngập, nợ án, được công an thuê đến theo chủ trương lớn của đảng, thông qua các nghị quyết CP- nghị quyết chính phủ - nghị quyết c...phân v.v Cho đến ngày 4-5, chủ trương này mới tạm dừng lại mà chưa biết đảng còn tiếp tục ra chỉ thị CP nào nữa không?

Gật gù, tư lự, đôi mắt xanh luôn linh hoạt chuyển động trên sống mũi cao, cương trực, ngài Bernd phá tan bầu không khí mát lạnh do điều hoà nhiệt độ trong phòng bằng một câu hỏi nóng :

- Bà viết bài bằng cách nào, các tác phẩm trong nước của bà có được sử dụng không?

- Tất nhiên là không, 18 tác phẩm của tôi in trong nước bị phong toả, bị thu hồi và trả về không thương tiếc từ tất cả các đại lý lớn nhỏ trong số 31 tỉnh thành cả nước, và hiện tại còn không dưới vài nghìn cuốn bị “tù” oan như vậy... còn bản thân tác giả bị bôi nhọ, bóp méo thành suy đồi đạo đức, làm tay sai cho lưu vong phản động hay các thê lực thù địch ở nước ngoài.

12 trong số 18 tác phẩm xuất bản tại Quốc nội từ 1989- 2004 bị trả về.

Trong lúc chị bạn dịch, tôi nảy ra một ý nghịch ngợm, một sự liên tưởng so sánh, thú vị: Nếu hôm nay công an biết tôi đến đây để gặp ông, thì lập tức ông cũng sẽ trở thành thế lực thù địch đối với họ, như tất cả đồng bào tôi ở hải ngoại, hay những vị dân biểu các nước thích can thiệp vào nội bộ Việt Nam, mong muốn nhà nước độc tài phải sửa đổi luật lệ, chính sách, mở đường cho tự do nhân quyền ở Việt Nam.

Đôi mắt xanh biếc của ông lập tức ánh nên những nét cười tinh nghịch, pha lẫn nét trầm buồn tế nhị, ông thú nhận:

Ở Việt Nam, tôi đang trải nghiệm lại những giây phút trước đây, khi vợ tôi còn là một thiếu nữ Ba Lan chống lại đảng độc tài, luôn bị công an rình rập theo dõi, và bản thân tôi hôm nay cũng phải nói dối người ...tháp tùng mình là tôi bị đau lưng, không đi đâu cả, để có thể bố trí gặp bà vào giờ phút muộn mằn này. Chính vì anh ta tin là thật, nên 9 giờ kém tôi mới được tự do mời các bà đến đây, hỏi chuyện.

Câu chuyện xoay sang một hướng mới, vui vẻ và nóng hổi tính thời sự, không kém phần hài hước:

Từ ngày thêm được chữ” nhà” dân chủ, mỗi chúng tôi phải chấp nhận “cưới” thêm dăm bảy chú khuyển áo vàng bên cạnh. Ngay khi nhận thiếp mời họp mặt hoặc cưới xin ai đó , chúng tôi đều giao nhiệm vụ cho nhau, ngày ấy ngày nọ mỗi người phải dắt theo 5,7 chú để đám cuới thêm phần rôm rả, trong cưới, ngoài canh

Chỉ ra phía ngoài khuôn cửa, ông Bernd làm điệu bộ nhún vai, lè lưỡi, lắc đầu, điệu bộ rất hài hước, tự nhiên:

- Nếu anh ta không tin tôi mà bỏ đi, thì bây giờ có lẽ chúng ta cũng đang trong cảnh như vậy.

Chừng như không yên tâm, khi ông đột ngột thay đổi điểm hẹn và giờ giấc qúa nhiều lần, ông hướng cái nhìn tò mò , thương cảm về phía tôi , bày tỏ:

Còn hôm nay thì sao, bà ra khỏi nhà bằng cách nào, có bị “cá” bám theo không?

- À, tôi cười phá lên vui vẻ, niềm vui hiện rõ trên nét mặt:

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi thực hiện một công việc quan trọng nào đó, tôi lập tức phải sang nhà mẹ đẻ, từ đó mới thay hình đổi dạng để ra đi. Hôm nay cũng vậy, tôi mặc quần lửng, áo cộc tay, đi giày thể thao coi như tập thể dục. Trước đó chồng tôi đi xe máy đến nhà đón chị bạn, và tiện thể quẳng bộ đồ, cùng giày dép của tôi sang bà ngoại..Sau đó chúng tôi ra đường bắt ta xi, chỉ đạo cho họ đi vòng vèo một chút để đánh lạc hướng công an (nếu có) , cuối cùng tấp xe vào tận tiền sảnh... Còn lúc về thì không quan trọng, bởi khi đó sự đã mười mươi rồi, ngoài việc hậm hực họ chẳng còn làm gì được nữa.

Mở bóp ra lấy ra 100.000 tiền hồ, Ngài Bernd bày tỏ sự ái ngại với những việc làm không mấy văn minh của chính quyền cộng sản đặc biệt là tầng lớp công an, rồi ngâp ngừng đưa tiền vào tay tôi để trả tiền ta xi.

Ồ không không, tôi cười lớn, giải thích: - Ngài từ xứ tự do, nơi con người làm chủ nên xa lạ với cách hành xử của công an Việt Nam, còn chúng tôi giáp mặt cùng sự độc tài, đè nén, bất công, nên quen rồi, điều quan trọng là chúng tôi hân hạnh được gặp ngài, để phản ảnh rõ nét vấn đề nhân quyền của Việt Nam, để qua hệ thống Đài phát thanh của ngài cũng như hàng chục, hàng trăm hãng truyền thông tại Hải ngoại, trên thế giới cùng tố cáo việc làm “nhân đạo gấp triệu lần tư bản “cho dân và vì dân của họ” , để đến một ngày nào đó độc tài phải cúi đầu trước dư luận quốc tế vì tội vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam.

Bần thần nghe tôi nói, ngài Bernd bộc bạch,

Tôi mong sao Việt Nam sẽ sớm đi theo con đường của Ba Lan.

Tất nhiên tôi khẳng định: - Chế độ cộng sản đang ở giai đoạn tan rã cuối cùng. Hiện tại ngôi nhà độc tài phải đương đầu với bao nhiêu biến động, từ lạm phát, tăng giá, biên giới, hải đảo, bô xít Tây nguyên, dân oan, lao động xuất khẩu v.v vì vậy đã để lại bao nhiêu vết rạn nứt trên thân nhà...Người dân cũng càng ngày càng mất niềm tin vào một chính thể chỉ chuyên cho dân cái đói khổ, dối trá, vì dân mà ra sức cướp bóc, nên sự tồn tại cũng chẳng còn bao lâu nữa. Toàn bộ trụ đỡ ngôi nhà bây giờ chỉ còn là của một chính đảng thối nát, một phe phái đi ngược lại với quyền lợi của 80 triệu dân mà thôi, trụ sao nổi với sức mạnh, triều cường của khối đoàn kết công -nông cả trong và ngoài nước.

Hoàn toàn mất đi sự vui vẻ ban đầu , vẻ mặt ngài Bernd tràn ngập sự uư tư:

Đúng thế!

...Kết thúc phần chủ đề ngoài luồng, tôi buồn bã chốt lại:

Vì thế tôi mong ước ra khỏi tình trạng này. Còn hiện tại ngôi nhà của chúng tôi không chỉ đơn thuần là nơi trú ngụ, nuôi dưỡng tâm hồn tình cảm của mình và những đứa con mà còn có thêm một chức năng chiến lược vô cùng quan trọng nữa, là...nơi nhốt mình. Thậm chí không được ra chợ mua thức ăn, không được đến đón con ở trường, không được gặp mẹ đẻ...Bị canh 24/24 tiếng, đêm nằm nghe rõ tiếng giầy lộp cộp của các chú công an , tiếng ho hắng, chuyện trò, xen lẫn tiếng gầm gừ, ăng ẳng của anh em nhà họ khuyển, tiếng nguyền rủa độc địa :” Mẹ kiếp, vì mấy đồng lương mà nhục hơn chó”, cả hơi thuốc khét lẹt của những chú chấn hai cho phả vào tận trong nhà qua khe cửa hẹp...

Nhìn đồng hồ đã gần 10 rưỡi, trong khi ông giám đốc đã có dấu hiện mệt mỏi do cả ngày di chuyển chờ đợi trên máy bay, đánh lạc hướng cơ quan an ninh, chúng tôi quay lại chủ đề chính, nhằm phục vụ cho bài viết sắp tới, cũng là một trong phần việc của chuyến xâm nhập thực tế này

Bà có sử dụng inter net không? Có bị gây trở ngại gì phía nhà cầm quyền không ?

Có chứ, đó là phương tiện tối ưu nhất giúp tôi có thể buôn lậu chữ nghĩa qua biên giới, sau nhiều lần bị bắt tại quán Nét, bị tịch thu phương tiện làm việc. Cụ thể từ ngày 16-8-2006 tôi bị cắt nét, cắt điện thoại di động, điện thoại bàn liên tục, bị tràn vào nhà thu liền 4 máy vi tính, 2 máy scan, hàng chục ổ USB chứa đầy dữ liệu và hàng nghìn lá đơn của bà con dân oan

- Họ lý giải như thế nào về việc làm này? Mục đích họ làm như vậy để làm gì ?

Với kẻ độc tài thì không có mục đích nào khác nhằm chặn đứng những tiếng nói trung thực, làm ảnh hưởng tới sự tự tung tự tác của họ. Vì vậy họ làm tất cả để bao vây kinh tế, để triệt tiêu nguồn sống, triệt tiêu mầm phản kháng trong mỗi nhà dân chủ, đấu tranh, theo đúng quan điểm của họ từ trước tới nay: “Theo thì sống, chống thì chết”. Khi gà chưa gáy sáng, đánh thức những trái tim lầm lạc, thì trong bóng đêm, ma quỷ luôn nói rằng “việc làm của chúng tao là đúng, là tuân thủ luật pháp, là chủ trương của nhà nước độc quyền này”

- Công an có thể làm những việc khủng khiếp như vậy sao- tràn vào nhà đọc lệnh, cướp bóc? Bernd nhướn cặp mắt xanh biếc dưới đôi lông mày bạc lên hỏi:

Vâng, vì đặc thù của nhà nước cộng sản Việt Nam là chỉ đào tạo ra những công cụ thừa hành, công cụ kiếm tiền một cách ngu trung, không đào tạo ra những con người biết suy nghĩ, cân nhắc đúng, sai, phải, trái,

Trong lúc ngài giám đốc mắt tròn mắt dẹt, tôi nói thêm:

- Mỗi nhà dân chủ chúng tôi bị cả trăm công an ký sinh sống bám vào để đục khoét tâm huyết, bản thể , để chúng tôi hoàn toàn gục ngã ý chí, còn những kẻ ký sinh trùng này thì ăn no bẫm xác trên những đồng thuế của toàn dân Sợ ông chưa hiểu, trong khi chị bạn vẫn cố gắng bám sát những ý tưởng của tôi để truyền đạt lại, tôi nói cụ thể hơn:

Trường hợp anh Đỗ Nam Hải, mỗi tháng “giúp” công an tiêu tốn 100 triệu đồng. Nơi nào đồng tiền không sinh lợi thì nơi đó bị coi là nguyên nhân của lạm phát. Đợt đổ “ bô xít phân tươi “ vào cửa nhà tôi cũng vậy, tốn kém lên tới cả vài chục triệu, vì hễ tiến hành đổ là phải cử người canh hai đầu ngõ ngăn cấm người qua lại để kẻ kia khệ nệ bê “tư tưởng Hồ Chí Minh đổ vào”. Tiền thuê kẻ nợ án, nghiện hút, tiền nuôi bảo vệ, tiền bồi dưỡng cán bộ chiến sĩ công an làm nhiệm vụ canh gác, tiền mua ổ khoá, xích sắt, xô thùng, bình hộp, khẩu trang , bao tay v.v ròng rã suốt ba tháng trời, tất cả đều được tính thành ngày công, chiến tích trong chiến dịch “trấn áp tội phạm phản động, chống Đảng, bác “ để nhận tiền thi đua khen thưởng

Không thông tỏ tiếng Anh, không biết chị bạn dịch cụm từ “công an Việt Nam là những vật thể ký sinh sống bám trên lưng những nhà dân chủ, cũng như tầng lớp lãnh đạo đảng là những ký sinh trùng nguy hiểm sống bám trên cơ thể 80 triệu người Việt Nam” như thế nào, mà ngài Bernd cười lớn, tỏ ra rất thích thú, nhắc đi nhắc lại cụm từ này, rồi cả hai quay ra trao đổi bằng tiếng anh, quên cả tôi đang ngồi trơ khấc bên cạnh

Trước khi chia tay, nhớ lại kỷ niệm cũ với ngài dân biểu Na Uy Piter Get Mark, tôi liền vui vẻ kể lại:

Tôi hy vọng sáng mai ông vẫn ở lại khách sạn này, không vì gặp tôi mà sáng sớm bị công an vào tận phòng ngủ gõ cửa cảnh báo: “ Chúng tôi đã biết tất cả mọi việc làm của ông, đề nghị ông rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng nữa, nếu không buộc chúng tôi phải dùng biện pháp mạnh”

Đáp lại, ông bảo:

Biết Việt Nam là một nước nguy hiểm cho những người tôn trọng nhân quyền, nên tôi chỉ ở lại dăm ngày, sau đó sẽ bay sang Sanhgapore, nơi tôi có một studio ở đó.

Singapore? Tôi hỏi lại đầy ngạc nhiên thích thú vì lẽ Singapore là một nước nhỏ nhưng giàu hơn Việt Nam cả trăm lần, nơi được coi là thu nhập cao nhất nhì khu vực Đông Nam Á, cũng là nơi có môi trường xanh sạch đẹp nhất, trại tù ít nhất, tỷ lệ tham nhũng ít nhất, trái ngược hoàn toàn với Việt Nam, cái gì cũng xấu nhất do toàn thể hệ thống lãnh đạo Cư Nhứt , nên đi đâu cũng nghe bà con đặt vè ...

Xe chạy chầm chậm, đầu tôi ngổn ngang bao nhiêu ý nghĩ, nhất là câu vè của bà con Miền Nam đang tràn lan trên mạng, mà tôi chỉ dám chỉnh sửa lại đôi chữ cho phù hợp niêm luật và thêm vào hai câu cuối cho tròn mạch nghĩ:

Việt Nam hạng nhứt ai ơi
Nhứt cư - như cứt bạn thời biết chưa?
Ăn cướp, ăn cắp, dối lừa
Quan to, chức lớn, mứa thừa, loạn luân...
Chỉ thương cái gọi là dân
Quanh năm suốt tháng làm thân phận rùa

Nhìn thành phố chuyển về đêm trong ánh sáng muôn hồng nghìn tía, bên cạnh nhạc sập xình từ các quán ăn nhà hàng là những người lao động mặt mày bệch bạc, nhợt nhạt vì kiếm ăn, mệt nhọc đẩy những chiếc xe lăn tự chế, trên chỏng chơ nồi niêu xoong chảo, bát đĩa ấm chén, bàn ghế sứt sẹo, vênh váo... tôi chợt nhớ lại câu nói hôm trước đã nhờ Lê thị Công Nhân dịch cho nhà báo Na Uy và hôm nay lại là nhà báo Đức- qua người dịch vô cùng thương quý, thân thiết với em, đó là: “Việt Nam là một tấm áo ngủ sặc sỡ nhưng bên trong đầy những rận” .

Hà Nội 21-6-2009
Trần Khải Thanh Thuỷ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ai đọc chuyện tình này cũng thấy mình nhỏ bé
Pamela Dowden thay mặt gia đình chồng viết thư cho người em chồng đang ở tù. Những lá thư đó vô tình trở thành chất truyền dẫn tình yêu giữa họ. Cô quyết định ràng buộc đời mình với một trùm một băng đảng tội phạm khét tiếng…

Đám cưới trong nhà tù

Một ngày, Pamela Dowden lái xe tới nhà tù Folsom State Prison ở bang California. Người gác cổng dẫn cô vào trong. Cô nhìn lên bức tường bằng đá granite cao vòi vọi, cánh cổng sắt và cái tháp canh trông giống như ngôi nhà của mụ phù thuỷ trong truyện cổ tích. Cô mỉm cười khi nhìn thấy Robert ở sân nhà tù.

“Chào Bait”, Robert nói và vòng tay qua người cô. Bait, là tên viết tắt của Dragon Bait, có nghĩa là “công chúa”. Họ lấy tên này từ cuốn tiểu thuyết của Tom Robbins về một cuộc tình giữa một cô công chúa và một kẻ sống ngoài vòng pháp luật.

Robert “Blinky” Griffin mặc quần bò và áo sơ mi xanh của nhà tù. 36 tuổi, anh ta khét tiếng nhất trong hệ thống nhà tù ở California. Anh ta có đôi vai rộng, lông mày rậm, có ria quặp và những hình xăm chạy dọc cánh tay. Trong khi đó, Pam, 34 tuổi, là sinh viên năm thứ nhất của trường Luật. Cô mảnh dẻ và khá đẹp với mái tóc nâu đỏ và đôi mắt mầu lục nhạt. Trong vòng tay của Robert, cô giống như một bức tượng sứ mong manh. Nhưng điều cô biết rõ nhất là cô cảm thấy an toàn ở đây.

“Em thực sự muốn làm chuyện này chứ?”, Robert hỏi.

“Vâng”, cô trả lời.

Họ bước vào sân, nơi các bạn bè và luật sư của nhà tù Denny Wipf đã chờ sẵn. Pam không mời ai cả. Đây là đám cưới thứ 2 của cô và cô sẽ phải giải thích quá nhiều nếu thông báo về đám cưới này. Cô không muốn bất cứ ai hỏi cô về lý trí hay sự tỉnh táo. Cô không muốn nói với cha mẹ mình ở Kansas, với 2 anh trai hay bất cứ người bạn nào. Đây là nơi mà cuộc sống bí mật của cô bắt đầu.

Denny bắt đầu nói: “Chúng ta ở đây để chứng kiến cuộc hôn nhân của Robert Lee Griffin và Pamela Dowden".

Image
Pamela Dowden và Robert

Từ trên tháp canh, người lính gác nhìn xuống với khẩu súng trường cỡ 30.

"Tôi nhắc nhở các bạn rằng tình yêu, sự chung thủy và hiểu nhau là nền tảng của một ngôi nhà hạnh phúc và bền lâu. Không có lời thề nào quan trọng hơn những lời mà các bạn đã hứa... Nếu bạn giữ được những lời hứa này, ngôi nhà của các bạn sẽ hạnh phúc và tràn ngập niềm vui".

Robert trao cho cô chiếc nhẫn do một người bạn tù tự chế. Họ hôn nhau nhưng không có bánh cưới và các điệu nhảy. Kết thúc đám cưới, Pam lái xe về nhà, nấu bữa tối và ở một mình trong đêm tân hôn.

Đó là một ngày mùa hè năm 1984. Pam đã không thể tưởng tượng được cuộc hôn nhân đó lâu bền đến thế nào.

Lâu cho đến lúc cô trở thành đối tác của một công ty luật danh tiếng và là cố vấn cấp cao cho tập đoàn First Data Corp, công ty xử lý các giao dịch tài chính lớn nhất thế giới. Còn chồng cô được xác định là trùm một trong những băng đảng bạo lực nhất nước Mỹ có tên Aryan Brotherhood. Ủy viên công tố nói rằng anh ta có biệt danh “Cái nháy mắt” bởi vì anh ta có thể ra lệnh giết một người bạn tù chỉ bằng một cái nháy mắt.

Lâu cho đến lúc cô mua một căn nhà đẹp ngợp cây cối ở, còn chồng cô sống 12 năm trong một phòng giam bé xíu không cửa sổ ở một nhà tù khắc nghiệt nhất bang California.

Lâu cho đến lúc cô đi tập yoga, đi nghe opera và đi du lịch với bạn bè ở khắp các nước trên thế giới còn chồng cô bị còng tay đưa đến tòa Los Angeles trong một vụ án nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ở đó, chồng cô có nguy cơ bị xử tử hình.

Suốt từng ấy thời gian, họ chỉ viết thư cho nhau và gặp nhau qua lớp cửa kính khi cô đến thăm chồng ở nhà tù. Đằng đẵng suốt 2 thập kỷ, cô đã không chỉ ở bên cạnh Robert mà còn tiến hành một quy trình pháp lý cố gắng giúp chồng ra khỏi nhà tù.

………….

Những bức thư tình yêu

Pam lớn lên ở Kansas trong một gia đình rất giáo lý và nghiêm khắc. Cô là một học trò giỏi, thích đọc sách và chơi piano. Nhưng tính cách của cô tiềm ẩn sự ưa phiêu lưu, mạo hiểm. Khi vào học trong trường đại học, cô thích thể hiện mình, thích tranh luận và chơi với những người có phong cách khác lạ. Đến năm thứ 2, cô bỏ học và làm việc ở một quán bar.

Tại đây, cô gặp Gerry Griffin, một người lính vừa trở về từ Việt Nam. Họ quyết định cưới nhau và chuyển đến sống gần gia đình Gerry ở California. Pam khi đó mới 23 tuổi, đã tiếp tục học đại học để lấy nốt tấm bằng cử nhân xã hội học.

Trong các trò chuyện, mẹ chồng Pam thường nhắc đến một người em của Gerry đang phải ở tù vì tội cướp có vũ trang. Bà rất thương cậu vì đó là cậu con nhạy cảm và chu đáo nhất nhà. Cậu thanh niên đó là Robert. 12 tuổi, Robert đã hút cần sa và 14 tuổi đã tự trích heroin. Vào năm lớp 11, anh ta đấm 1 giáo viên và bị gửi đến trại giáo dưỡng. Năm 1970, khi mới 21 tuổi, anh ta đã phải vào tù vì một loạt tội ăn cướp, mua bán heroin, với một mức án không xác định từ 6 tháng đến chung thân.

Ở nhà tù, Robert nhanh chóng nổi lên là một tay anh chị có máu mặt. Hắn ngay lập tức được gia nhập một băng đảng khét tiếng nhất trong nhà tù, và các vụ bạo lực liên tiếp xảy ra, 4 quản giáo bị giết, đốt phá, cướp bóc trong nhà tù là chuyện thường xuyên. Hắn được gửi tới nhà tù khắc nghiệt nhất nhưng hắn vẫn là kẻ đầu trò trong mọi vụ bạo loạn và giết người tại đây.

Số phận trớ trêu đã khiến mẹ chồng nhờ Pam là người thay mặt gia đình viết thư thăm hỏi Robert.

Bức thư đầu tiên toàn những chuyện tầm phào và tin tức về gia đình. Nhưng không biết từ lúc nào cô bị cuốn hút bởi khát khao thể hiện mình của Robert. Cô đã từng rất sợ phát biểu trước đám đông và cô cũng sợ phải thú nhận điều đó, nhưng rồi cô đã thổ lộ điều đó với Robert. Anh ta cho rằng nỗi sợ hãi của cô chính là một phần trong những thất bại của nhân loại mà bản thân anh ta cũng đang vướng phải. Dần dần, những bức thư của họ trở thành một diễn đàn để họ thể hiện cuộc đấu tranh nội tâm của mình.

Robert tìm cách tự trau dồi kiến thức cho mình và thích thảo luận về lịch sử và triết học. Đôi khi những bức thư của anh ta có một sự nuối tiếc, như thể anh ta đang kể lại vở bi hài kịch của chính đời mình. Đôi lúc lại giống như sự trầm ngâm mô phạm của một sinh viên mới vào trường đại học và có khi lại giống như một giai điệu jazz.

Năm 1974, anh ta đã viết về một cái giá treo cổ cũ, bị bỏ quên như thế này: “Phòng treo cổ ảm đạm như địa ngục. Nghe thì có vẻ bệnh hoạn nhưng nơi đó đã trở thành phòng của tôi, nơi tôi chiêm nghiệm về vũ trụ này. Chỉ 13 bước là tới giá đó, và bước thứ 14 sẽ đưa bạn lên tới nơi…. Bạn không biết cảm giác dễ chịu thế nào khi ở trên đó, nơi không có một linh hồn nào khác…”

Trong một bức thư khác, Robert châm biếm bài hát Rocky Mountain High của John Denver và một bài thơ Wordsworth về sức mạnh tinh thần của thiên nhiên vượt xa trí tuệ của con người. Wordsworth “cảm thấy rằng không cần đến sách nhưng ở đây, tôi sống và nhìn nhận điều đó qua sách… Để nói rằng bạn không thể mất cái mà bạn chưa bao giờ có là một lời nói dối. Tệ hơn nữa là cái điều đó mỗi ngày lại rời xa bạn hơn. Tôi nghĩ đôi lúc tôi cảm thấy như tôi đã chết 5 năm trước”.

Đối với Pam, tìm hiểu một người qua thư từ là một việc tạo nên mối thân tình sâu sắc. Trong khoảng không gian trừu tượng bé nhỏ mà họ chia sẻ với nhau, không có lấy 1 giây phút tồi tệ, không có sự ba hoa để giết thời gian.

Pam gửi cho Robert những cuốn sách và sau đó họ cùng thảo luận về nó.

3 đêm hiếm hoi được thực sự là vợ chồng

Trong khi đó cuộc sống vợ chồng của Pam không được suôn sẻ lắm. Cô tốt nghiệp đại học và làm thư ký cho một công ty xây dựng. Chồng cô - Gerry - là kỹ sư đường ray tàu, anh đi suốt ngày và họ không thể nói chuyện hay chia sẻ được với nhau. Cô cảm thấy như đang bị mê ngủ. Cô viết cho Robert: “Có thể tại vì tôi phải ở một mình quá nhiều. Tôi đoán là tôi chưa bao giờ có nhiều tự do như vậy. Tôi luôn đề cao sự riêng tư của mình nhưng tôi cũng luôn coi trọng mối bang giao của tôi với mọi người. Nó giống như là khi nào tôi muốn ở bên những người bạn của mình, tất cả những gì tôi có thể làm là ngồi xuống và viết thư cho cậu”.

Sau đó, Robert được chuyển đến một nhà tù gần nơi Pam sống và cô thường thăm anh ta vào cuối tuần. Cô nói về mong muốn được học luật và Robert khuyến khích cô làm việc đó. Đôi khi họ ngồi trên vỉa hè và cùng đọc một cuốn sách. Mỗi lần rời nhà tù, cô đều cảm thấy khoảng trống tình cảm của mình được lấp đầy.

Một lần, khi Pam đến thăm, Robert xuất hiện và nói toàn những ngôn ngữ của băng đảng. Pam đã bỏ về sớm. Robert cảm nhận được sự thất vọng nơi cô. Một ngày tháng 6/1981, Robert nói với cô anh ta đã cai nghiện. Chỉ cần nhìn vào mắt Robert là cô hiểu anh ta làm việc đó là vì cô. Anh ta rũ bỏ dần cuộc sống tội phạm của mình là để gỡ bỏ dần những rào cản trên con đường tình cảm của họ.

Năm 1983, cô quyết định ly hôn với Gerry. Năm 1984, giấu tất cả bố mẹ và bạn bè, đồng nghiệp, cô làm lễ thành hôn với Robert tại nhà tù. Một năm sau cô tốt nghiệp trường Luật McGeorge ở Sacramento và làm việc tại Omaha.

Từ khi kết hôn, họ chỉ được có 3 cuộc hội tụ gia đình tại một căn hộ trong nhà tù ở Folsom. Đó là những dịp rất hiếm hoi mà họ được ở bên nhau mà không có ai khác làm phiền. Họ nấu ăn, xem ti vi, ngủ cùng nhau và làm những việc mà một đôi vợ chồng mới cưới cần làm.

Có lần Pam đã mua đến 1 con cua lớn để nấu bữa tối nhưng lại quên không mang cái kìm để có thể bẻ con cua đó. Và Robert đã mất cả buổi tối đập vỡ con cua bằng cái mở bia. Đó cũng là kỷ niệm bên nhau hiếm hoi của họ. Robert đã mơ về cuộc sống gia đình, về một điệu nhảy bên bàn ăn và cả chuyện đoạn tuyệt với giới tội phạm.

Sau đó, Pam đã viết cho Robert: "Em tỉnh dậy với hình ảnh anh trong đầu em. Đó là anh với vòng tay ôm chặt lấy em và nổi bật là nụ cười của anh, anh có một nụ cười ngọt ngào nhất trên khuôn mặt mình. Cái tôi của em trong hình ảnh đó không thể nhìn thấy gì, bởi vì đầu em còn đang ngả vào vai anh, nhưng cái tôi lúc nào cũng mang hình ảnh đó thì có thể nhìn thấy rất rõ ràng. Em đã nhìn thấy nụ cười đó từ trước đó rồi, chỉ là sự chuyển động của khoé miệng anh cũng thể hiện sự ưu tư về hạnh phúc với những xúc cảm trong trái tim anh. Vâng, em yêu anh, em yêu anh vì thế".

Tin vui đến khi Robert thoát được lời cáo buộc về tội giết người nhưng với luật an ninh mới áp dụng cho các băng nhóm tội phạm, Robert không những không được tha mà còn bị buộc phải ở trong xà lim, rất hiếm được ra ngoài. Pam lại miệt mài viết thư và 1 tháng 1 lần đến nhà tù thăm chồng. Cũng theo luật mới, họ chỉ được nhìn nhau qua tấm kính.

Số phận của những hòn sỏi nhỏ bé

Cũng đã có lúc Pam tự hỏi mình họ sẽ sống thế nào nếu Robert được ra khỏi tù. Liệu anh ta có phù hợp với thế giới trí thức mà cô đang sống không. Liệu đồng nghiệp, bạn bè cô sẽ nhìn cô với ánh mắt thế nào? Song cô chỉ biết rằng cô rất nhớ người chồng tội phạm của mình và với kiến thức luật của mình, cô đã đấu tranh không mệt mỏi để Robert được ra khỏi tù.

Năm 1989, Pam nộp đơn lên tòa án quận Kern cho rằng bang đã vi phạm quyền con người của Robert khi giam anh ta trong hố, với lý do không phải vì hành vi tồi tệ nào của anh ta mà chỉ vì muốn ép anh ta trở thành kẻ chỉ điểm trong tù. Tòa bác đơn mà không đưa ra lời giải thích nào. Khi Pam bắt đầu kháng án là lúc Robert bị đưa đến nhà tù hẻo lánh Pelican Bay State Prison. Đó là một nhà tù mới với hệ thống an ninh được tăng cường ở mức tối đa. Song không mất mấy thời gian để Robert nhận ra rằng cái đáng sợ hơn ở đây là sự chết dần về mặt tâm hồn. Nơi được mệnh danh là "cái móng" khủng khiếp nhất này sẽ khiến cho những kẻ tội phạm ghê gớm nhất rơi vào tình trạng trống rỗng trì trệ. Sự cách biệt sẽ dần dần hạ gục bất cứ một tù nhân nào.

Nơi ở mới của Robert, khi đó đã 42 tuổi, là căn phòng rộng 2,4m và dài 3,6m. Robert phải ở đó 22 tiếng rưỡi mỗi ngày. Tường và giường ngủ là những tấm bê tông. Cửa là một tấm thép có khoan một lỗ nhỏ ở trên. Mỗi ngày, Robert được phép ra khỏi xà lim tối đa là 90 phút. Nơi duy nhất anh ta được ra ngoai là một cái sân bê tông nhỏ với tường bao kín xung quanh. Sân này không bao giờ có ai, không có thiết bị gì và thứ duy nhất có là 1 cái cống. nhưng đây là nơi duy nhất Robert thư giãn đầu óc, nơi anh ta có thể cảm nhận được cơn bão đang đến gần, nhìn thấy sương mù hay khói bốc lên từ đâu đó. Một nửa sân được che bằng tấm kính bẩn và nửa còn lại được che bằng những tấm lưới để không khí có thể lọt vào. Đây là khoảng trời duy nhất Robert nhìn thấy để có thể tưởng tượng về một bài thơ của Oscar Wilde mà anh ta ưa thích, "Khúc hát của nhà giam tri thức".

Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người

Nhìn với cặp mắt đăm chiêu như vậy

Lên cái lều bé nhỏ mầu xanh

Mà người tù nhân đó gọi là bầu trời

Và nhìn chăm chú vào mọi đám mây hình cánh diều bạc bay qua

Viết thư cho Pam cũng là cách giúp Robert thư giãn đầu óc. Việc kể lại mỗi ngày của mình khiến cho tư duy của Robert sống lại, giúp anh ta hiểu anh ta vẫn còn có mặt ở thế giới thực này.

Pam phải mất một hành trình dài hết máy bay rồi đến ô tô mới đến thăm chồng được 6 tuần/1lần. Trong phòng thăm thân này, cô ngồi bên này tấm kính, còn Robert ngồi bên kia, bị nhốt trong một chiếc cũi. Họ sẽ xả hết những buồn bực trong cuộc sống hàng ngày mà họ phải tích lại trong mình kể từ cuộc thăm lần trước. Cô nói về công việc còn anh ta nói về nhà tù. Sau những giây phút hồi hộp này, họ trở nên vui vẻ hơn. Robert sẽ ngốn ngấu tin tức về gia đình mình, về bố mẹ Pam và những chuyến công tác, du lịch của Pam.

Robert thích thú tới từng chi tiết trong mọi câu chuyện của Pam. Cô có sự tò mò của một đứa trẻ trong cách cảm nhận thế giới bên ngoài. Họ nói về việc biển đã cuốn cát đi như thế nào, về một thanh củi trắng trôi giạt trên biển giống như xác một chú cá voi nổi lềnh bềnh. Hay một chương trình phát thanh mô tả một con sâu bướm biến thành chất lỏng trong một cái kén như thế nào, và rồi chui ra ngoài thành một con bướm với một xung lực mạnh mẽ.

Robert trở nên hốc hác và nhợt nhạt do sự rối loạn tuyến giáp và bệnh viêm gan C. Bộ râu của anh ta biến thành mầu xám. Pam lo lắng cho chồng mình. Cô nhìn thấy sự căng thẳng trên khuôn mặt anh ta. Anh ta đã làm mọi thứ có thể để thể hiện sự chuộc lỗi.

Anh ta đã đề nghị được xóa bỏ những hình xăm trên người, đăng một quảng cáo trên tờ báo địa phương thông báo giải tán những băng nhóm tội phạm trong tù. Anh ta cũng hoàn thành 1 khóa học hàm thụ để trở thành một trợ lý luật sư.

Pam cũng dần dần tiết lộ với những người thân nhất của mình về Robert. Cha mẹ cô trở nên lạnh lùng nhưng cũng chấp nhận. Bạn bè cô thì vui mừng vì họ có cái gì đó để buôn chuyện với nhau và đi tìm lời giải cho mối tình bí hiểm này. Gerry, chồng cũ của cô, lúc đầu rất tức giận nhưng cuối cùng cũng làm lành với bọn họ. Pam cảm thấy được thoải mái đôi chút khi giải toả được sự căng thẳng của việc giấu giếm này. Cô nhanh chóng trở thành cố vấn cao cấp của tập đoàn First Data Resources, chi nhánh ở Omaha nhưng ông chủ của cô không hề biết rằng chồng cô đang ở trong tù.

Đơn kháng cáo của Pam không được chấp nhận. Trước đây họ thường tâm sự với nhau về những việc họ sẽ làm khi Robert được ra tù. Họ sẽ ngồi phía sau nhà, ngắm những con chim lửa trên cây tần bì, đọc báo chủ nhật. Họ sẽ làm vườn, đi cắm trại và đi du lịch ở Ireland. Nhưng giờ đây họ không còn nói về điều đó nữa. Pam đã 56 và Robert 58 tuổi. Khi họ già hơn, Pam đã học được cách cẩn trọng hơn với những hy vọng của mình.

Pam dự định sẽ về hưu vào năm tới. Cô không có con. Mẹ cô đã mất. Bố cô đã rất ốm yếu. Cô không muốn tưởng tượng về những ngày còn lại trong cuộc sống thực của cô. Nhưng một hình ảnh cứ mỗi lúc lại lướt qua đầu cô: Robert và cô nói chuyện trong căn bếp của cô, cùng nấu bữa tối. Và cô không muốn chỉ có một mình mình trong hình ảnh đó. "Suốt gần 20 chục năm qua, tôi đã không được hôn anh ấy, giờ tóc tôi đã bạc, tôi rất muốn được ôm anh ấy một lần", Pam nói. Cô có lý do để hy vọng. Robert đã thụ án 32 năm và thời hạn đó đã đủ cho tội tấn công bạn tù mà anh ta mắc phải.

Nhưng một tin dữ hơn còn đến với cô, năm 2002, thành phố Los Angeles đã kiện các băng nhóm tội phạm vì tội làm tiền giả. Mặc dù Robert của cô đã xa rời băng đảng này 15 năm nhưng suốt thời gian trước đó, anh ta đã có ảnh hưởng rất lớn tới băng nhóm. Nếu bị kết án mức nặng nhất, anh ta sẽ bị tử hình.

Pam đã theo chồng hết từ phiên tòa nọ đến phiên tòa kia để rồi phải nghe một kết cục cuối cùng là Robert có tội và phải tiếp tục ở trong tù đến hết đời. Đến lúc này, Pam mới hiểu rõ được chữ "không bao giờ". Cô sẽ không bao giờ được nắm tay chồng nữa, không bao giờ được hôn chồng, không bao giờ được ăn bữa tối cùng Robert nữa. Tấm kính nhà tù sẽ mãi mãi ngăn cách họ.

3 ngày sau, Pam viết cho Robert: "Tình yêu của em. Em cảm thấy thật khó khăn khi phải đặt bút viết. Con đường chúng ta đã đi rất cay đắng và không chắc chắn. Nhưng đó là con đường chúng ta đã đi cùng nhau, tay trong tay.... Sẽ có những khát vọng được viết lại, những giả thuyết phải bị xóa bỏ. Giấc mơ của chúng ta về những đứa con và những đau đớn đến tận xương tuỷ... Em vẫn biết chân lý ngay cả khi nó đã không còn tồn tại xung quanh chúng ta. Anh yêu quý, chúng ta sẽ tìm được đường đi của mình. Em nhớ rằng nhiều năm trước, em đã đi dọc bãi cát ở bờ biển Thái Bình Dương, nhìn những hòn sỏi nhỏ tí, bóng loáng và nghĩ làm sao thời gian và nước biến có thể xé tan những tảng đá to thành những mảnh nhỏ xíu như thế này. Chúng ta cũng bị xé như vậy bởi thời gian và nước biển. Chúng ta có thể trở nên rất nhỏ bé, Robert, nhưng những gì còn lại sẽ rất quan trọng với chúng ta, và sẽ không có gì sai trái ở đó cả - Em yêu anh, Robert - Pamela".

Trong một lần khám nhà Pam liên quan đến vụ án của Robert, cảnh sát đã tìm thấy 44 thùng to đựng những bức thư mà họ đã viết cho nhau. Giờ đây họ sẽ nhiều thời gian để tiếp tục viết những bức thư tình đầy cảm động của mình.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

QUYỀN ĐƯỢC RÊN

Cuốn tiểu thuyết thứ 8 ông mới in xong được vài ngày đã nhận được nhiều lời chúc mừng của bạn bè thân hữu. Ông vui. Ông tự thưởng cho mình vài ngày nghỉ ngơi để xả hơi, trước khi bắt tay vào việc hoàn thiện tập thơ tự sự của đời. Ông pha ấm chè Thái thật nóng. Ngồi nhâm nhi một mình trong căn nhà tuyềnh toàng đồ đạc, ông lơ đãng nhìn ra ngoài trời. Mưa! Mưa quá! Ngâu mà…
Chuông điện thoại ré lên như động cỡn. Ông nhấc máy, nhỏ nhẹ:
- Alô. Ai đấy ạ! Tôi là Hoàng, xin nghe.

- Hoàng hả. Khỏe chứ! Kha lán 9 đây! Nhớ không! Cuốn “Lẽ đời” được đấy. Hồ hởi, phấn khởi nhé!...

Ông giật thót người, buông rơi ống nghe xuống nền nhà. Trong màn mưa dầy đặc ông bỗng thấy quản giáo Quang lừ lừ đi vào. Vẫn da mặt bì bì, xàm xạm; vẫn cái phẩy mạnh tay vào không gian; vẫn cái miệng hơn hớn nói trước mọi phạm nhân: “Hồ hởi, phấn khởi nhé!” Ông chăm chắm nhìn quản giáo Quang… Những ký ức của hơn bốn mươi năm trước tưởng mãi mãi bị chôn vùi bỗng ào ạt sống dậy trong ông…

“Bao giờ đậy nắp áo quan

Mang theo xuống huyệt nỗi oan tày đình…”

Thơ ông từng viết thế.

Sau hội nghị Ấp Thôn, ông thấy mình rất hoang mang. Ở đâu, làm gì, ông cũng thấy như mình bị theo dõi, nghi ngờ. Nhiều người bạn vẫn ngày ngày bù khú, đàm đạo, trò chuyện với ông, giờ đây hình như họ tìm cách lảng tránh. Ông lơ mơ đoán: có chuyện rồi. Nhưng là chuyện gì thì ông chịu. Ông uể oải đạp xe đến nhà thi sĩ Phương – người nổi tiếng với biệt danh “Biết tuốt” để dò hỏi. Với vẻ mặt quan trọng của kẻ “biết tuốt” những bí mật quốc gia, thi sĩ Phương nhẩn nha nói: “Có nhiều người dò hỏi về cậu lắm, cậu phải liệu. Nghe nói, ở hội nghị Ấp Thôn người ta xếp cậu là Kẻ nổ phát súng đầu tiên của phái Nhân Văn đấy. Nổ phát súng đầu tiên, cậu hiểu không?” Nghe thế, ông trợn tròn mắt nói:

- Vô lý! Họ căn cứ vào đâu mà kết luận thế. Vô lý. Thậm vô lý!.

- Họ không vô lý đâu. Họ dựa vào đơn tố cáo của thằng Năng Lé. Nó dựng đứng chuyện cậu dịch bài “Văn nghệ và chính trị” của Lỗ Tấn là khơi mào cho một âm mưu. Tưng tửng hỏa mù thế thôi! Đấy, cái chết của anh em mình nằm ở chỗ ấy đấy. Văn chương mà, hiểu thế đếch nào chẳng được.

Lời tủng tẳng của thi sĩ Phương làm ông đã hoảng lại càng thêm hoảng…

Nhưng nỗi hoang mang không phải kéo lâu. Vào một ngày, ông cũng không rõ nắng mưa ra sao, chỉ biết vào khoảng gần trưa, có hai người đàn ông ăn mặc bình thường cùng người tổ trưởng dân phố bước vào nhà. Họ yêu cầu ông đứng dậy, rồi một người dõng dạc đọc lệnh khám nhà. Sau lệnh, tất cả giấy tờ, sách báo, bản thảo và cả những quyển sách Mác-Lê dày cộp cũng được xếp lên chiếc xích lô đỗ xịch trước cửa nhà. Ông cúi đầu lặng lẽ bước theo họ. Vẳng theo ông là những tiếng thút thít kìm nén của vợ con. Định dừng bước nói với vợ con vài lời, nhưng họng ông nghẹn ứ. Một cú huých nhẹ và một lời thúc giục nhỏ, nhưng đanh: Đi. Đi mau…

Trại 12 Hỏa Lò, vẫn thế - ông đưa mắt nhìn quanh. Trước thời gian, mọi vật đều biến đổi. Nhưng có lẽ, nhà tù là nơi biến đổi chậm hơn cả. Vẫn cái nhà xí mốc meo, hôi thối. Vẫn cái bể nước tầng tầng lớp lớp rêu phong. Vẫn cái không gian mờ mờ ẩm ẩm. Ở đây, hơn mười năm trước ông cùng các tù nhân trong trại đã tận mắt chứng kiến những giây phút bi tráng cuối cùng của người chiến sĩ cộng sản họ Hoàng trước khi ra pháp trường. Cũng ở đây, ông phải căng đầu suy nghĩ để chống lại những cuộc hỏi cung mưu mô và căng thẳng của bọn Phòng Nhì Pháp. Hơn mười năm trước, tang chứng vật chứng “phản lọan” của ông và các đồng chí đã rõ ràng nên kẻ thù mới đầy được ông lên Sơn La… Giờ tang chứng, vật chứng có gì đâu cơ chứ! Hơn nữa, lòng ông sạch. Ông thanh thản chờ đợi cuộc hỏi cung để tự biện minh cho mình. Nhưng… Chờ mãi, chờ mãi vẫn chẳng thấy gì. Nửa tháng sau, ông được đưa lên núi rừng Yên Bái. Những thâm niên ở nhà tù Hỏa Lò, Sơn La ngày trước bỗng thức dậy trong ông một sự dò kiếm, tìm hiểu những điểm giống nhau, khác nhau giữa chúng với trại cải tạo Yên Bái của ta bây giờ. Núi thì cũng điệp trùng, rừng thì cũng âm u đến như Sơn La là cùng. Có lẽ nhà tù Đế Quốc hiện đại hơn, nhiều bê tông, nhiều kẽm gai sắt thép hơn và dữ dằn hơn – lính canh gác quanh mình đầy súng đạn, còn ở đây thì… chỉ những lán tre nứa, ọp ẹp; chỉ những sạp giường nứa gồ ghề và những hàng rào tre nứa sơ sài và những anh quản giáo hiền hiền ngô ngố. Nhưng chớ coi thường… Ở Sơn La còn có thể vượt ngục được nhưng ở đây thì… trốn ra ngoài rồi sống ở đâu, vợ con sẽ ra sao? Ông khẽ rùng mình. Ở lán trung tâm ông thoáng nhìn thấy văn sĩ Phùng, thi sĩ Thảo, họa sĩ Phạm. Mấy gã còn nháy mắt gật đầu trêu ông như ở ngoài đời. Ông vội quay mặt, lờ đi như không biết gì – kinh nghiệm tù dạy ông phải thế. Sao lại đông thế nhỉ? Họ mắc tội gì? Ông thèm được nói chuyện với họ quá mà không dám nhìn lâu.

Lán 9 – nơi ông ở có 16 phạm nhân. Mươi anh ăn cắp vặt, du thủ du thực; dăm anh đâm người, đánh vợ; ông và Apao (nghe nói, đâu như anh này chứa chấp thổ phỉ). Một dãy nhà tre nứa, tuềnh toàng, ọp ẹp nằm thườn thượt như nấm mồ hoang, cỏ chui qua vách nứa. Ông hòa nhập nhịp sống của trại rất nhanh. Sáng sáng, khi hồi kẻng lành lạnh rờn rợn ré lên, là ông đổ nước vào miệng, súc òng ọc vài cái rồi ra lĩnh củ khoai ăn sáng. Xong là ra lĩnh cuốc xẻng, quang gánh – công cụ cho một ngày lao động. Định mức là rất rõ ràng cụ thể, nhưng có hoàn thành hay không lại là việc không quan trọng. Quan trọng là ý thức: phân công việc gì cũng chấp hành không ý kiến, không thắc mắc. Quan trọng là: khi có mặt quản giáo phải cố làm việc hăng say, chờ lúc quản giáo vẫy tay gọi phải nhanh nhẹn chạy đến, đứng cách xa 3m cúi đầu, lắng nghe lời huấn thị, giáo dục của quản giáo: “Hồ hởi, phấn khởi nhé – Đào sâu suy nghĩ nhé!” Tất cả chỉ có thế thôi. Rồi buổi tối ngồi gật gà bình xét. Khổ, đói rồi cũng quen, nhưng nhớ nhà thì không thể. Chiều chiều, sau bữa cơm thấy Apao lánh riêng ra một chỗ, đăm đắm nhìn rừng núi thâm u là ông lại lặng lẽ rơi nước mắt. Apao nó đang nhớ nhà, nhớ rừng… Ngày ông bị bắt, đứa con út mới sinh được mấy ngày, mới chỉ kịp đặt tên. Vợ đã yếu giờ lại bị cho thôi việc. Tấm thân gày còm ấy giờ đây biết làm gì để nuôi bốn đứa con nhỏ dại. Tuần trước, nghe nói, họ cử cán bộ đến tận nhà vận động vợ con ông đi xây dựng vùng kinh tế mới. Hoàn cảnh kinh tế khó khăn… Những lời nói đường mật… Những viễn cảnh ngọt ngào… Lòng ông nóng như lửa đốt. Ông muốn thét vào không gian dặn vợ: “Cố bám chặt lấy phố phường. Cống rãnh, đường phố sẽ giúp Em và các con vượt qua hoạn nạn.” Nhưng núi rừng trùng điệp thế, không gian mang mang thế làm sao ông dặn nổi vợ con! Ông đau đáu thấy mình có tội với vợ con. Bất lực, bí tắc, ông lê chân đến đứng trước mặt người quản giáo – người trạc tuổi con ông, chưa đọc thông viết thạo. Ông chắp tay, cúi đầu, giữ đúng khoảng cách 3 mét rồi nhỏ nhẹ thưa: “Thưa cán bộ, trường hợp tôi bao giờ thì được ra toà?” Ra tòa! Phải! Ra tòa! Các phạm kinh tế hay hình sự ở lán ông ai cũng đã được ra tòa. Họ có án đàng hoàng. Họ biết rõ ngày đi – cũng biết rõ ngày về. Còn ông… Ông mong ước được ra tòa. Ra tòa – ông nghĩ: Mọi việc sẽ được phân định rõ ràng. Trắng ra Trắng. Đen ra Đen. Lúc ấy, dẫu có phải đi tù ông cũng không oan ức. Người quản giáo nhìn ông. Nhìn từ đầu xuống chân rồi khinh khỉnh nói:

- Ông là nhà văn có tiếng mà còn dốt thế! Tù rồi còn đòi ra tòa làm gì?

Ông lạnh người nhận ra cái tuyệt đúng, tuyệt gọn, tuyệt dễ hiểu của lời lẽ anh quản giáo, nhưng như thế thì mông lung quá, mịt mờ quá… Ông rụt rè thưa tiếp:

- Nếu không ra tòa, không có án tôi biết sao được tội gì? Hình phạt là bao nhiêu năm?

Nhìn ông, anh quản giáo cười hiền, tỏ ý thông cảm:

- Dốt thế, ở tù cũng đáng... Ông là đi học tập, đi cải tạo chứ có phải tù đâu mà hỏi án bao nhiêu năm. Đi học tập, đi cải tạo thì bao giờ học tập tốt, cải tạo tốt thì… ra trường. Tốt nghiệp ý mà! Muốn biết bao nhiêu năm thì phải tự hỏi mình chứ hỏi gì tôi. Thôi, hồ hởi, phấn khởi nhé!.

Ông ghìm tiếng thở dài ngao ngán, biết mình rơi vào tình trạng sống dở chết dở rồi, muốn thoát khỏi nó chỉ còn cách:

“… Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại

Khôn ngoan không dám làm người

Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi…”

Phải biết chấp nhận thực tại. Chấp nhận một cách hồn nhiên và phải luôn hồ hởi, phấn khởi. Apao đấy. Họa sĩ Kha đấy. Họ đi tù rất hồn nhiên, đâu có trĩu nặng như ông. Càng hồn nhiên, giác ngộ tốt, hồ hởi, phấn khởi, sẽ càng chóng… ra trường.

Mấy tháng sau, ông được giám thị gọi lên giao nhiệm vụ mới: làm y sinh – dùng lá lẩu quanh trại chữa bệnh cho phạm nhân của trại. Hồ sơ lý lịch cho họ biết, ông có tài vặt này từ khi ngồi tù thực dân ở Sơn La, có lẽ vậy. Tốt quá! Nhận nhiệm vụ mới ông rất vui. Vui vì nhiều lẽ. Từ đây ông được tạm chia tay với cuốc, với xẻng, với gánh phân… với những tối ngồi bình xét ngày lao động. Từ đây không có người giám sát, ông sẽ có thời gian tranh thủ hái thêm mớ rau rừng, vồ thêm con cóc, đập thêm con rắn cải thiện bữa ăn, bồi dưỡng cơ thể để còn có sức mà về với mẹ đĩ. Ông bồi hồi nhớ tới lần vô tình nhìn thấy con cua đang lổm ngổm bò dưới đáy ruộng lúa. Ông gạt vội đám đỉa lúc nhúc ngoe nguẩy trên mặt nước, ào xuống ruộng, vồ gọn mấy chú cua. Xé từng con ăn sống, mà chất ngọt chất bổ của con cua thấm đến đâu ông biết rõ đến đấy. Đúng là bổ hơn cả nhân sâm. Từ đây, ông sẽ có dịp la cà sang các lán chuyện trò, thỏa chí tò mò ham biết của nhà văn. Và nhất là việc trị bệnh cứu người còn giúp ông nuôi dưỡng ngọn lửa tính người mà giờ đây trong ông nó chỉ còn leo lét cháy… Nghe đồn, ở lán chân đồi còn gọi lán Đồi Ma có nhốt một phạm lạ. Phạm này chẳng biết mắc tội gì. Cũng chẳng biết có điên hay không. Chỉ biết từ ngày vào trại hắn chỉ nói, nói sang sảng, nói toàn đúng, nói tới mức giám thị trại phải nhốt riêng hắn ra một lán khuất nẻo. Hôm trên đường sang lán 4 chữa bệnh, ông ngó trước ngó sau không thấy ai liền tạt sang lán Đồi Ma. Đúng lời đồn, khi còn cách lán vài chục mét ông đã nghe tiếng nói sang sảng phát ra. Giọng nói có âm có sắc, tròn vành rõ chữ, khúc triết mạch lạc nhưng đã đuối. Ông ghé mắt nhòm qua vách lán. Trong không gian tử thần có một bộ xương người ngồi ngay ngắn trên mặt sạp nứa dài thườn thượt. Từ lỗ thủng sâu hoắm trên chiếc đầu lâu sang sảng phát ra tiếng nói rất hay và tuyệt đúng. Ông rùng mình, bỏ chạy. Hai ngày sau hắn chết. Ông ghìm tiếng thở dài, thương lắm số kiếp một sinh linh nhỏ bé. Con người có số phận không? Ông nhớ, sau lần vượt ngục Sơn La, tổ chức Đảng cho người tìm đến tận nhà giao cho ông một cái chức kha khá… Tiếp theo là những ngày hoạt động sôi nổi, tràn đầy hào khí. Những bài thơ, trang văn, lời kịch đậm đà lòng yêu nước diết da toát ra trong bản ngã của con người nhân hậu có sức hút công chúng lạ lùng. Ông hừng hực sống. Ông rạo rực sống. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, toàn Đảng toàn dân náo nức bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, ông háo hức vung ngọn bút náo động kịch trường. Ngày đêm ông say sưa làm việc, lúc viết kịch bản, viết báo, viết thơ…, khi làm đạo diễn chọn diễn viên, phân vai, chọn cảnh; lúc gặp người này, khi người khác gặp… náo nức tưng bừng… Thế mà bỗng nhiên, thoắt một cái thành thằng tù xa vợ, lìa con, bạn bè lảng tránh…

Ông ngậm ngùi chợt nhớ đến cái ngày ra tù… “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”. Ra tù, ở Yên Bái tiếng ấy reo vang, hừng hực như lửa phát nương nhưng khi về đến đô thành nó trở thành đốm lửa ma lạnh lẽo. Ở Yên Bái bạn tù lưu luyến tiễn đưa, về đến nhà không bạn bè thăm viếng. Thậm chí mấy ngày sau, ra phố vô tình gặp người bạn văn (người bạn hiểu rõ nỗi oan khuất của ông giờ đã có chức có quyền trong làng văn nghệ), người đó kéo sụp mũ che mặt lảng tránh… Cũng phải thôi, họ sợ liên lụy. Ông tự nhắc mình: giờ đây trong quan hệ mình phải thận trọng giữ gìn đừng để liên lụy đến bạn bè hàng xóm. Ngày ông đến đồn công an trình báo, người chiến sĩ công an trạc tuổi con ông (cái tuổi mà khi ông và đồng đội bừng bừng dũng khí tham gia cướp chính quyền thực dân – phong kiến, chúng còn đỏ hỏn) nghiêm khắc, ân cần giáo dục và nhắc nhở ông phải sống sao cho ra sống. Lòng ông nhức nhối, buốt đau. Giá trước đây thì… Nhưng giờ đây, sau những lời giáo huấn đó là hộ khẩu, tem gạo; là người vợ và những đứa con xanh xao, gầy còm, ngơ ngác sống, rụt rè sống, nhẫn nhục sống… Ông lểu thểu về nhà, lăn ra giường và nghĩ miên man. Phải kiếm việc để làm ngay – ông tự nhủ. Nhưng, làm gì? Văn sĩ Đoàn nói: “Vì không biết làm gì, tôi phải làm nhà văn.” Còn ông, đến nhà văn cũng không được làm thì làm gì? Làm gì?... Té ra, một ngày ở ngoài nghìn thu ở tù. Ông lò dò đến thùng gạo. Mở nắp thùng thấy chỉ còn vài lon gạo. Ông giật mình hiểu ra cái khảnh ăn của vợ con. Thảo nào, vợ con ông gầy gò, xanh xao thế! Phải tìm việc đi làm ngay – ông tự nhủ rồi đi luôn đến nhà văn sĩ Trần. Nghe nói, mình đi Yên Bái được ít lâu thì cậu ấy cũng bị nghỉ việc. Lăn lộn hè phố lâu rồi, chắc cậu ấy có nhiều mối tìm việc, lo gì ế! Ông căng mắt nhìn xiên vào lớp không gian mờ mờ ảo ảo, trống trải, lạnh lẽo như căn nhà mồ và giật mình, ngơ ngác khi nhận ra hình dạng người bạn nối khố. Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Đúng là: hết thời kỳ oanh đến thời kỳ liệt. Còn đâu văn sĩ Trần đầy vẻ tinh tướng. Ăn mặc thì phong lưu, đài các. Lời nói thì khúc triết, văn hoa. Đi đứng thì ung dung tự tại. Giờ đây, văn sĩ Trần lừng danh đang ngồi co ro như chú gà rù trên chiếc giường giẻ quạt cũ, đầu gối quá tai, nom rũ rượi, thê lương hơn con bù nhìn trên ruộng. Vừa nhìn thấy ông, văn sĩ Trần hơi ngửa mặt cười và nói luôn:

- Học tập xong rồi hả? Giác ngộ rồi, đến giáo huấn ta đấy phỏng?... Ngẫm kỹ thấy anh cũng giỏi. Giỏi lắm! Người đời phải gây tội mới được tù. Còn anh, chẳng phải nhọc xác gây gì cũng được tù. Thời Pháp đi tù thời Pháp. Thời ta đi tù thời ta. Thời nào cũng được tù. Dễ thường nghề tù cũng đến kịch bậc rồi chứ kém cỏi gì!

- Tưởng cậu hộ khẩu ngoài đường phố. Biết đâu lại “cấm cung” thế này! Yếu liễu đào tơ quá! Nghe nói, tớ đi Yên Bái được mấy tháng thì cậu cũng có quyết định cho thôi việc hả?

- Quyết định quyết đeo gì đâu. Sau mấy hôm kiểm điểm, đến cơ quan làm việc tự dưng thấy anh em nhạt nhẽo với mình quá. Cứ xà vào đâu thì chúng nó hình như lại lảng đi. Cũng chẳng thấy thủ trưởng phân công công việc… Được vài hôm như thế thì chán, thì nghỉ, chứ quyết định quyết đeo gì. Ông Trương, thằng Phùng, thằng Nguyễn cũng nghỉ việc cơ quan rồi. Thằng Phùng ra bờ hồ cắt tóc, gần cây đa ở đền Ngọc Sơn ấy. Ông Trương tối tối xách sọt đi các chợ, bới rác nhặt lá lẩu về nuôi lợn, nuôi người. Thằng Nguyễn đi đội than ở Vọng. Ông có biết thằng Văn không? Thằng ấy hóa ra số sướng ông ạ. Khi ở nhà, thì nhà cạnh hồ, tha hồ sát cá. Giờ lại được điều đến nông trường trông giữ mía cho Hợp tác xã ông ạ. Đúng là chuột sa chĩnh gạo. Phải tay ông thì, mía sẵn đấy ông cứ “tẩn” cho đã đời.

- Ông tìm được việc làm ổn định như chúng nó chưa?

- Ông lạ gì tôi. Tôi thì làm được cái đếch gì ngoài việc viết. Học từ tấm bé đến giờ. Cái kìm còn không biết cách cầm. Mó phải cuộn dây điện nằm trong tủ còn sợ giật. Giờ không được viết nữa thì ở nhà trông nhà, nấu cơm, cho vợ với cái mẹt thuốc lá lê la đầu đường xó chợ. Thương bà ấy, trước tôi cũng lò dò ra giúp thêm. Nào ngờ cứ dò ra lần nào là lần ấy mẹt thuốc bị bắt. Họ không bắt mình mà chỉ bắt mẹt thuốc mới đau. Sau bà ấy cấm chỉ, bắt tôi cấm cung ở nhà. Lúc nào buồn quá thì… “Mây ở đầu ô, mây lang thang”…

- Nghe nói, cậu Hoàn – bạn con chấy cắn đôi với cậu, dạo này lên to lắm. Đến nhờ nó một câu việc gì chẳng xong. Có việc làm nó mới ra con người ông ạ.

- Tớ đếch đến! Mình gặp nạn nó không đến, mình lại mò đến xin xỏ, nhờ vả nó thì còn ra đếch gì cái tình bạn. Mà có lẽ bạn mình tinh những loại hiểu biết, giỏi giang, vô tình gặp mình trên phố chúng đều biết cách kéo sụp mũ xuống che mặt, lảng tránh. Làm vậy đỡ khó xử ông ạ!

“ Mai sau có gặp lại nhau.

Xin đừng cúi mặt để đau lời chào.”

Nó không đánh hôi mình thế là tốt rồi.

- Nó thù ghét gì mình mà đánh hôi. Chẳng qua là do bị phân công mà phải viết thôi. Thông cảm với chúng nó – người mà.

- Ông ở xa nên không biết. Đúng là chúng nó chẳng có thâm thù gì với mình. Đúng là có đứa bị phân công, nhưng cũng có đứa vì chút lợi lộc, quyền chức nhỏ nhoi mà a dua, xiểm nịnh. Có đứa té nước theo mưa để ra vẻ ta đây là oai, là quan trọng, là trung thành và cách mạng tới cùng… Lão Sơn đấy, khi bài Nam Chinh mới ra đời thì hết lời khen ngợi, tụng ca, giờ thì quay ngoắt 180 độ phê cái này, phán cái kia, đọc mà lợm giọng. Nhưng thôi, giờ cái gì đã qua rồi thì cho qua luôn, không giữ cho khỏi rặm bụng. Hỏi thật nhá: Hôm nay anh đến định nhờ tôi xin việc chứ gì? Phải thì khai ra!

- Phải! Nhưng tôi về đây. Ốc còn chẳng mang nổi mình ốc…

- Thế mà lại mang được cọc cho rêu đấy. Ông có thích đi đẩy xe bò không? Đẩy thôi. Phụ thôi. Không được cầm càng đâu. Cầm càng là phải giỏi lắm! Lớ ngớ nó tùng bê mẹ xe bò lên, người lơ lửng trên không trung như con nhái bén ấy. Tôi có quen anh tổ trưởng tổ vận chuyển Toàn Thắng. Chưa bại lần nào. Ở đấy họ đang cần tuyển một người đẩy xe kiêm bốc dỡ hàng. Lương công nhật đồng tư một ngày, không cao lắm nhưng cũng nhiều hơn tiền công đan thuê của mấy con vịt giời nhà ông. Bở đấy. Thích thì tôi xin cho. Áo quần đầu tóc lếch thếch thế này là tốt rồi nhưng… phải cái là da còn trắng quá, mịn quá.

- Bở đấy. Ông làm đi. Tôi đâu dám cướp “nắm cơm chim” của bạn.

- Tôi cũng muốn làm lắm nhưng họ không dám nhận. Không dám nhận ông hiểu không? Cái tình thế khốn nạn của tôi là thế đấy. Thà như ông đi tù rồi là xong. Thằng tù rồi thì làm gì mà chẳng được. Còn thằng tôi, thật sống dở chết dở…Việc đang làm thì tự nhiên nghỉ. Bài viết chẳng dám in… Chẳng có tai tiếng gì nên thiên hạ họ vẫn nghĩ mình cao sang lắm… Anh đây công tử không nhà. Cái áo đi mượn cái quần đi thuê… mà họ vẫn tưởng là ông nọ bà kia. Tôi đã xin tay tổ trưởng rồi, hắn tưởng tôi nói lỡm nên lại nói dỗi, càng làm mình thêm đau. Thế có chết cha mình không. Thôi, không dài dòng, ông theo tôi đến gặp nó ngay, không nó nhận người khác thì khốn…

Ông từ từ mở mắt, nhấp nhẹ một hớp chè, tự thưởng cho cái trí nhớ của mình. Mấy chục năm ba chìm bảy nổi ngỡ tưởng tất cả đã trôi vào quên lãng, nào ngờ… Ông nhớ rõ từng chi tiết, từng từ ngữ, từng biến thái sắc mặt của văn sĩ Trần trong cuộc trò chuyện đó. Giờ đây bạn ông đã là người thiên cổ. Hết rồi, đời của một con người tài hoa bạc phận nhưng những gì bạn ông làm được lúc văn chui – rượu lậu vẫn còn cả đấy… Những trang văn, những bài thơ bạn âm thầm viết, giấu vợ, giấu con, giấu bè giấu bạn… mà sao thấm đẫm tình người, mà sao run rẩy cõi không gian. Giá mà ông Trần còn sống, cùng ông đi dự lễ phát giải thưởng văn chương cho ông Sâm (trong lũ chúng ta) thì ông Trần sẽ nói gì, khi thấy cảnh vợ con ông Sâm xốc nách, đặt ông lên ghế ngồi. Còn ông Sâm chỉ lặng lẽ ngồi, mặc cho mấy giọt cặn lệ khó nhọc rỉ ra nơi khóe mắt. Một vinh quang cay đắng. Một hạnh phúc muộn mằn. Ai đó nói nhỉ:

Hạnh phúc đến sao người thân nước mắt rưng rưng

Hạnh phúc muộn, mong manh hơn sợi khói

Hạnh phúc đến, anh lặng không cười nói

Anh biết mình, không còn được như xưa…

Thương những giọt nước mắt rơi

Nuối tiếc thời hoa đỏ

Lo sợ ngày mai…

Trên đỉnh cao vời vợi

Gió rít mịt mùng

Đỉnh chon von, chơi vơi…

Mà anh tóc bạc, da mồi…

Hạnh phúc muộn như trái cây chín ép

Chỉ nhợt nhờ, ưng ửng đến quái thai

Chỉ sợ xấu trai!

Không cần đẹp lão!

Phải lắm! Đẹp lão còn nhử được ai! Mà có nhử được cũng bất lực, phí cả cái đẹp đi. Nhưng nói thế liệu có thái quá không? Vì méo mó có vẫn hơn không. Hơn nữa, chí ít đó cũng là sự ghi nhận: lũ các ông đâu phải tồi. Suối giải oan cũng bớt đi được vài chục giọt… Ông tủm tỉm cười khi nghĩ tới cảnh ông hân hoan từ nhà văn sĩ Trần về báo cho vợ con biết tin: ông đã trúng tuyển và được bổ nhiệm làm thằng đẩy xe bò kiêm bốc vác trong tổ vận chuyển Toàn Thắng – không bại. Nghĩ vợ con cũng mừng rú như ông, nào ngờ… Họ ôm mặt khóc thút thít. Những tiếng nấc nức nở, xót thương làm ông hoảng sợ. Thời gian sau, khi công việc đi vào ổn định, cả nhà đã quen cảnh sáng sáng ông úp chiếc nón rách lên đầu, tay xách liễn cơm lầm lũi bước ra khỏi nhà, vợ ông mới nói: hôm đó họ khóc vì họ thương ông quá. Một nguời chữ nghĩa đầy mình, thông minh sáng láng, tiếng Tây tiếng Tầu vanh vách…, phải đi tù còn có thể hiểu được, chứ làm ông xe bò kéo thì họ chưa bao giờ tưởng tượng được. Cái bà, trông thế mà lạc hậu. Còn vương vít tư tưởng tiểu tư sản (Tạch – Tạch – Sè). Thời đại mới: lao động là vinh quang. Là nhà văn, là nghệ sĩ, là giáo viên hay anh hót cứt đều vinh quang tuốt. Ăn trộm ăn cướp của ai mà xấu hổ. Hơn nữa, lao động sinh niềm vui. Tự giác ngộ mình thế thôi, nhưng thực lòng những ngày đầu đi đẩy xe bò ông thấy ngượng ngùng, xấu hổ… Vẫn chỉ dám cắm mặt xuống đường và rất lo gặp người quen. Lòng tự nhủ phải dấu mình, để lòi đuôi ra thì rách việc lắm…

“… Li ti đi dưới gầm trời

Vẫn lo nhiều lúc mây rơi trúng đầu…”

Rồi cũng dần dần quen… Những ngày đi đẩy xe bò, cắm mặt xuống đất ông thấy lòng thanh thản, đầu óc thư thái, ăn ngon ngủ say. Vĩnh biệt nhé danh hão! Vĩnh biệt nhé họp hành, kiểm điểm! Rồi ông cũng tự nhiễm những “thói quen nghề nghiệp”: nắng thì úp mê nón rách lên đầu, nóng thì quần đùi - cởi trần, khát thì chổng mông bên vòi nước công cộng, mưa thì phủ chiếc áo tơi… Những thói quen rất tốt cho cuộc sống đầy cảnh giác. Giờ thì ông đã an tâm sống. Trong con mắt của đồng nghiệp, cái anh Hoàng hiền đến mực cậy mồm mới nói vài câu, chỉ được cái hùng hục làm, đích thực là người của họ, cũng bố cu mẹ đĩ, cũng thành phần cốt cán, không có gì phải cảnh giác. Cuộc sống và sự nghiệp của ông sẽ êm ả trôi nếu không có một lần… Quái lạ, cái đất nước mình, ở đâu, môi trường nào cũng có gái đẹp mới chết chứ. Cái cô Thúy đã đi đẩy xe bò mà người ngợm cứ ròn tan, tươi tắn. Lại còn cái mắt, cái mồm mới diệt giới làm sao. Lại còn cứ tìm cớ trêu chọc, va chạm. Những va chạm, tình tứ làm ông nhớ về những ngày tháng huy hoàng… Những cô đào, nghệ sĩ lừng danh thiên hạ cũng va thế, cũng chạm thế, cũng liếc thế… Mình là thằng đẩy xe bò, ngơ ngơ, dôn dốt – ông luôn tự nhắc mình và cố lờ như không hiểu những lời trêu chọc:

Ai sinh ra cái xe bò

Để chàng quân tử kéo gò lưng tôm

Dựa lưng vào chiếc xe, ông lấy nón úp lên mặt, vờ như nằm khểnh mặc mẹ đời. Lại vút lên tình tứ:

Làm trai cho đáng nên trai

Ăn cơm với vợ còn nài vét niêu

Rồi những cái lay, tiếng giục, tiếng cười rạo rực… Nó nhìn cậu, nó cười kìa… Không dằn nổi mình, ông buột miệng:

Gái này là gái cũng liều

Thắt lưng thật chặt giằng niêu với chồng

Tiếng vỗ tay, cười nói rầm rầm làm ông hứng khởi. Chợt nhận thấy ánh mắt nghi ngờ, cảnh giác của ông tổ trưởng. Ông giật mình ân hận. Rồi đến một trưa nắng. Nắng mềm đường nhựa. Nắng cháy gió. Có hai người Pháp đỏ như tôm luộc nói với nhau những lời lo lắng vì lạc đường. Ông bèn chỉ cho họ biết đường về khách sạn Metropol… Việc chỉ vậy thôi nào ngờ… Chỉ ít phút sau ông đã phát hiện thấy tay tổ trưởng bí mật vào đồn công an trình báo những điều nghi vấn. Ông ghìm tiếng thở dài, số kiếp ông sao khổ vậy, người ta làm người lao động sao dễ thế, mà ông… Ông nhớ tới ông Xuân ở bãi Phúc Tân, trốn cải cách ở quê lên bãi sinh sống. Cũng trắng trẻo thư sinh như ông, cũng tiếng Tây tiếng Tàu làu làu mà cũng xe bò ba gác như ông, tối tối còn xách cái đèn dầu đi học bình dân học vụ. Hai năm ròng học không xong cái vỡ lòng nên gia đình được xếp thành phần dân nghèo thành thị. Giờ đây ông ấy đã là người lao động thực thụ rồi, không còn ai eo xèo, xoi mói. Thế mà ông đoảng quá… Binh tình này phải nghỉ việc thôi. Gia đình đang đi vào thế ổn định. Các con đang thì lớn, ăn như tằm ăn rỗi. Da vợ, má con đã có chút sắc hồng. Chẳng ai còn phải khảnh ăn như trước…

Ông lại nhấp ngụm chè nhỏ và bất chợt lè lưỡi nhớ tới từng ngày đi đào hầm thuê sau đó. Các cụ nói cấm có sai: Nhất thổ nhì mộc.Ông không thể quên những lần vung chiếc búa chim xuống nền đá ong khô khốc. Hai cánh tay bật chùn lại. Một luồng điện giật nẩy toàn thân. Ông khạc mạnh vào lòng bàn tay một bãi đờm vấy máu. Lúc đó ông hoảng hồn, nhưng rồi lại có cách tự trấn an mình. Hồi ở nhà tù Sơn La, có lúc ông đã thổ ra từng bát máu, rồi cũng có sao đâu. Hơn nữa, bát cơm nào của người lao động chẳng đổi bằng mồ hôi, xương máu. Ông lại nghiến răng vung cuốc. Công việc đang thuận lợi, thu nhập cũng rảnh rang thì… Sư cha cái anh Giôn Xơn, nó lại tuyên bố: Ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nghĩa là, nó ngừng ném bom ở khoảng không gian mà ông sống và đào hầm để kiếm sống. Thế là… ông lại thất nghiệp. Nhưng ơn giời, phúc tổ, các cụ lại nói đúng: Trời sinh voi thì sinh cỏ. Trong lúc chưa biết nên buồn hay vui, khi mà anh Giôn Xơn giở chứng thì ông lại gặp vận may: ông được anh buôn chó tuyển luôn làm phụ tá. Thế là từ đấy, sáng sáng với chiếc xe đạp tòng tọc, với 2 chiếc sọt sắt buộc chắc chắn 2 bên gác ba ga, với cái thòng lọng cắm sau yên, ông thong thả đạp xe sau anh lái chó, đi khắp đường làng ngõ xóm. Đường xá ngoại thành và các vùng quê lân cận nhỏ lắm, xấu lắm. Nắng thì xóc nẩy người. Mưa thì lầy ngập ngụa. Nhưng gió. Nhưng nắng. Nhưng bát ngát cánh đồng. Bỗng thi hứng dạt dào trong ông. Ông dùng ý chí cố gạt nó ra khỏi đầu. Văn chương là thứ cực kỳ nguy hiểm. Vinh quang chẳng đáng là bao mà nhục nhã ê chề thì vô tận. Ngày ra tù ông đã ngầm tự hứa sẽ cai nó, sẽ cạch nó đến già. Nhưng gió, nhưng nắng, nhưng hương đồng gió nội, nhưng những thôn nữ dịu dàng, e ấp như lúa, như ngô… khiến thi hứng giờ đây cuồn cuộn trào dâng. Ông chặc lưỡi . Sao mình lại không viết? Chẳng lẽ những cái mình viết trước đây đều vớ vẩn sao? Cứ viết. Giờ chưa hiểu thì sau sẽ hiểu. Lưu Bang chẳng từng đã đái vào mũ Lục Sinh sao? Sau lại phải dắt cả hoàng tộc và bá quan đi tế trên dòng sông nước Lỗ để mua lòng sĩ phu trong thiên hạ? Lịch sử nhiều nước đã chứng minh chỉ có hôn quân, bạo chúa mới căm thù trí thức, căm thù sách vở. Phải viết. Phải viết. Ông lẩm nhẩm sắp xếp lại ý tứ trong đầu:

“Anh thích chồi thật xanh

Và hoàng hôn giáng đỏ

Con đường làng nho nhỏ

Hun hút vào chân mây…

(Ờ… ờ…) Cánh đồng quê bối rối

Con đường quê ngập ngừng

Hương quê thơm phập phồng

Em dịu dàng, e ấp…

Bỗng, từ một mái nhà lúp xúp ven đường vẳng ra tiếng đàn bà gọi giật giọng: Chó ơi, Chó ơi… ời! Ông ngớ người nhận ra họ gọi mình. Chút tủi thân, tủi phận chợt bật lên làm mắt ông nhòe đi…

… Ông bồi hồi nhớ về một ngày ở thời buôn chó… Ngày ấy, ú ớ gặp hên. Mới nửa buổi ông đã mua được một xe chó đầy. Về đến nhà thì vợ đi trả hàng, con đi học… Ông lôi giấy bút ra viết. Dòng cảm hứng dâng trào. Những con chữ thân quen bừng bừng rạo rực nở rộ trên mặt giấy. Ông cố ngoáy tay thật nhanh cho kịp, cho hết những ý nghĩ vùn vụt xuất hiện trong đầu. Ông cắm cúi viết, miệt mài viết cho đến khi chợt nhận ra vợ và đứa con gái đầu lòng đang ôm nhau thút thít khóc ở góc phòng. Ông thẫn thờ rời bút, hoang mang đến với họ. Mấy năm này gia đình ông đã ở thế ổn định. Khó khăn và nỗi buồn nào vào nhà mà ông không biết? Gạn hỏi ông mới biết, thì ra thấy ông đói viết, ngấu nghiến viết như thằng đói lâu năm vớ được bữa ăn ngon, bà thương bà khóc. Bà nói: Trong người có tơ thì phải nhả, nhưng chớ động tới ai. Viết xong không được mang in mà phải nộp để bà lưu giữ.

- Vâng! Tôi viết thì ai người ta in mà bà lo. Bà giữ cho tôi là tốt rồi.

Ông kéo đứa con gái vào lòng, xoa đầu an ủi nó. Nó ngước mắt nhìn ông nói trong nghẹn ngào:

- Bố ơi! Bố đừng viết nữa, con sợ lắm.

Lời nói trẻ thơ như cật nứa cắt lòng ông. Ông ứa nước mắt tự nói với lòng mình: “Bố hiểu rồi. Con đừng lo. Ngày ra tù là bố biết ngay: Một ngày ngoài ngàn thu ở thù. Khi ở trại làm y sinh, chưa được lên voi, chỉ ở mức lên chó thôi, đi tới đâu, gặp ai bố cũng được “đồng nghiệp” tay bắt mặt mừng, chuyện trò, động viên, chia sẻ… Ngày ra tù, về nhà con thấy đấy. Nhà mình vẫn hoang lạnh như nấm mồ hoang. Bạn bè thân thiết, hàng xóm láng giềng có ma nào đến sẻ chia với mình đâu. Thậm chí ra ngoài đường có người chẳng may gặp bố, họ còn kéo mũ che mặt lảng đi. Bố hiểu rồi, nỗi nhọc nhằn, cực khổ của bố trong những năm ở trại sẽ chẳng là gì so với nỗi nhọc nhằn, tủi hổ của mẹ và các con phải gánh chịu hàng ngày”. Một ngày ngoài ngàn thu ở tù. Bố ơi! Bố đừng viết nữa con sợ lắm. Thảo nào thi sĩ Phúc, văn sĩ Lam cứ phải viết chui, viết lủi. Mỗi lần viết cứ phải lén lút như tội phạm. Những câu thơ hay, những áng văn hay thẫm đẫm tình người – tình vật phải chịu chung số phận đớn đau nơi gầm giường, nóc bếp, đống rơm, chuồng lợn… Ông nghiêm túc nói với con:

- Bác Trần vừa tề gia nội trợ - nữ công gia chánh để bác gái bán hàng vừa viết truyện. Ông Trương vừa bới rác nhặt rau nuôi lợn vừa viết kịch. Bác Phùng vừa cắt tóc vừa làm thơ. Bác Loan vừa câu cá vừa vẽ… Chẳng lẽ bố lại không vừa làm lái chó vừa viết văn được sao? Không đọc không viết bố thấy tiếc thời gian lắm, tủi mình và chưa xứng với mẹ, với các con. Vả lại, không viết nữa tức là bố công nhận mình sai, phải đi tù là đúng.

Đứa con gái ngừng khóc, mặt nó đanh lại, biểu lộ sự sẻ chia nỗi đau với người cha. Nhìn mặt con, ông giật mình chợt nhận ra, trên gương mặt nó, có những nét gì phảng phất nét mặt Việt Vương – Câu Tiễn trong những năm nhẫn nhục. Lòng ông the thắt thương con và lo sợ cái gì lạ lắm đang ẩn giấu trong mắt nó. Ông thủ thỉ nói với con và cũng như nói với lòng mình:

- Con ơi! Oán hờn mà trả bằng oán hờn thì oán hờn ngày càng chồng chất. Con người hơn con vật ở chỗ đối xử với nhau có nghĩa có nhân. Lớn lên rồi con sẽ hiểu, không phải ngẫu nhiên mà Thánh Găng Đi nói: “Tôi không bao giờ tự hạ thấp mình ngang tầm của bạo lực.” Cái gì đã qua bố con mình cùng cho qua con nhé! Chớ để bụng, đừng thù oán ai cả… Càng đớn đau mình phải sống càng nhân hậu, con có hiểu không?

Lẽ ra ông có thể yên tâm sống trên cõi đời này với vị thế của ông lái chó kiêm văn sĩ, nếu không có một ngày…Ông khẽ lắc đầu… Ngày đó, ông mang chó về giao cho cửa hàng thịt chó Quang Vinh. Người ta rọ mõm con chó lại rồi treo ngược lên cành cây. Hai hàng dãi chó nhễu ra. Trong ánh mắt hoảng loạn của nó, ông nhìn thấy những tia oán hờn, trách móc, nhẫn nhục, xót xa… Người đồ tể xía một đường dao sắc lẹm. Một tia máu phọt ra đỏ hồng ấm như máu người. Con chó oằn mình giẫy giụa trong không gian. Càng giẫy máu càng phọt mạnh. Thế là xong! Một số kiếp nhỏ nhoi, yếm thế trước sức mạnh dửng dưng đến lạnh lùng của bạo tàn. Ông rùng mình, ân hận, xót xa… Thương cho một kiếp chó vốn rất tận tụy, trung thành với con người. Và từ đó ông bỏ việc…

Cứ thế, ông ngồi chết lặng rồi lại mỉm cười mơ hồ nhớ tới chuỗi năm tháng đổi nghề như thay áo. Những ngày ra ngoại thành để đóng gạch thuê. Nhớ một trưa hè nắng như đổ lửa. Đang nhào đất thì bỗng ngứa ran khắp lưng. Chân tay dính đầy bùn đất không làm sao mà gãi được. Chợt nhìn thấy con trâu đang cọ mình dưới gốc đa, thế là ông chạy ngay vào chiếm một chỗ. Bắt chước trâu, ông cọ mạnh tấm lưng trần vào gốc cây sần sùi. Cọ đến đâu sướng run đến đấy. Đang sướng, bỗng ông giật mình nghe thấy tiếng khóc nức nở như từ trên trời rơi xuống. Ngửa mặt lên nhìn thì… Ối giời ơi! Đó là cô đào Bích – nghệ sĩ Bích Đào lừng danh. Bích Đào nói trong tiếng nấc:

- Ngứa mà cũng không biết đường gãi gọn được như trâu… Em không thể ngờ đời anh lại có đận khốn nạn thế này… Về! Về ngay! Em sẽ kiếm cho anh nghề khác.

Ông lại lắc đầu cười, nhớ về những ngày sau đó nặn từng con lợn đất đem bán. Đúng là tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Người ta có nhiều mối giao hàng. Làm đến đâu có người đến tận nơi lấy hết tới đó. Hơn nữa, họ lại có vốn. Lợn đất của họ, phơi khô xong được đưa vào lò nung qua cho rắn, rồi lại còn được phết một lớp sơn đỏ rực màu. Đằng này lợn đất ông làm tiền đâu mà thuê nung. Đành chỉ phơi khô rồi quét qua một lớp vôi hồng trông cứ nhờn nhợt dài dại. Làm xong không có mối giao. Đành gánh hàng ra chợ bán lẻ. Mua vé vào chợ thì lãi có ngày chẳng đủ tiền vé. Bán ngoài cổng chợ thì công an, quản lý chợ bắt hàng. Gánh rao dọc phố thì tiếng rao đuối hơi, lạc chìm giữa dòng đời ồn ã… Gánh ra ngoại thành thì bán được nhúc nhắc nhưng nhiều lúc gặp mưa giữa đường, giữa đồng thấy cũng nản lòng. Có lần ông đã chịu ướt, dành tấm ni lông che lên miệng thúng mà những cơn gió cứ tớn lên, giật mạnh tấm ni lông để xối những hạt mưa vào những con lợn đất… Mươi phút sau, cả vốn lẫn lãi của ông đã trở thành bùn đất… Ông lắc đầu mủm mỉm cười: rõ đúng, tình thương vô ý gây nên tội. Ông lại bắt đầu những tháng ngày đi tìm việc. Ông nhẩm tính trên ngón tay. Phải mượn thêm cả những ngón chân. Mác-xim Gooc-ky thời lưu lạc trải qua bao nhiêu nghề nhỉ? Ơn giời, cuối cùng ông cũng neo đậu được cuộc đời bằng nghề mộc. Tai ông lại vang lên tiếng gọi: Ê… mộc! Ê… mộc! Tiếng gọi tuy xấc xược nhưng sau nó vẫn là cơm ăn, áo mặc, là tiền bạc, là cuộc sống của gia đình. Ông vẫn hồi hợp chờ mong tiếng gọi như trước đây từng mong thiên hạ gọi chó ơi! Chó ơi! Mấy chục năm gắn bó với nghề mộc cũng mang đến cho ông nhiều buồn vui đáng nhớ. Đoạn đời này nếu viết ra cũng được tập sách dầy cỡ dăm trăm trang chứ ít ỏi gì! Mà nhất định sẽ không tầm tầm, nhàn nhạt. Viết sách về cuộc đời mình ư? Tướng tá, chính khách gì mà hồi ký. Jiu-cốp đâu mà “nhớ lại và suy nghĩ”. Phải, mình sẽ viết lại những kỷ niệm buồn vui của một đời oan trái phải học tập, phải rèn luyện thế nào để giữ được tính người trong một hoàn cảnh trớ trêu, hoang dại. Hơn 40 năm sống trong oan sai mà giúp vợ nuôi 4 con ăn học nên người, viết được dăm chục tác phẩm các loại. Đời người thế kể cũng chẳng đến nỗi nào. Thân phận cỏ cây như thế phải đâu là bèo bọt. Có cây còn nuôi được trâu bò, chó đẻ còn chữa được ỉa chảy, nhọ nồi còn cầm máu hay hạ được cơn sốt… Cỏ cây như thế còn trăm lần hơn, vạn lần gấp những tên tuổi lẫy lừng mà độc hại. Phải, mình sẽ viết lại cuộc đời mình để sẻ chia với bè bạn, người thân. Biết đâu sau này, ai đó ngồi thăm thẳm trên ghế cao quyền lực, đọc cuốn truyện này sẽ phải ngập ngừng nghĩ suy trước khi thò tay ký một quyết định liên quan đến thân phận một con người, dù đó là thân phận con sâu cái kiến.

Cõi trời chỉ có cỏ hoa

Cõi người – nếu có, chỉ là chữ NHÂN.

Nghĩ tới đây, dòng cảm xúc trong ông dâng lên dào dạt. Ông lập cập đeo kính rồi lập cập ngồi ngay ngắn trước màn hình, tay bật máy, tay rê rê con chuột. Rồi như có sức mạnh của quyền năng, các ngón tay ông bắt đầu múa nhanh trên bàn phím. Những con chữ hối hả chen nhau xuất hiện trên màn hình. Ông cứ gõ, gõ, tay như múa… Bỗng ông giật mình ngừng tay khi chợt nghe thấy tiếng nấc rất quen thân của vợ. Tiếng nấc của một thời tưởng đã là ngày xửa ngày xưa, không bao giờ trở lại.

- Ông!... Ông viết cái gì thế này? Sao lại bắt đầu bằng ngày ông bị đi tù, hở giời!

- Tôi viết lại những kỷ niệm buồn vui của đời mình ấy mà.

- Ông dừng ngay, dừng ngay không được viết nữa! Tôi lạy ông, xin ông đấy. Bới lại những cái đó làm gì. Phế thải hạt nhân đã chôn rồi thì không được bới, nguy hiểm lắm, ông a...à…ạ!...

- Bà yên tâm. Bây giờ đổi mới rồi. Con người đối xử với nhau nhân văn hơn trước nhiều rồi. Mà bà còn lạ gì tôi, nào có biết hận thù, căm uất ai đâu mà bà phải lo, phải sợ. Họ đánh mình đau quá thì mình rên. Rên cho nó đỡ đau, bà ạ! Con người ai chẳng có quyền được Rên.

- Sắp xuống lỗ rồi mà ông còn thơ ngây thế? Ông tưởng Rên là tội nhẹ lắm ư? Các ông ngày xưa ngợi ca – hát ông ổng còn bị kẻ độc miệng cho mang vạ. Giờ lại đòi Rên. Quyền được Rên! Ơ hơ…quyền được Rên! Ngớ ngẩn, ngớ ngẩn hết chỗ nói…

Nghe vợ mắng, ông buông tay sững sờ… ờ… ờ… Bà ấy nói… Bà ấy nói… Ông đưa mắt nhìn ra ngoài trời… Mưa! Mưa! Mưa vẫn xối xả. Trong làn mưa mù mịt ông lại thấy quản giáo Quang lừ lừ đi vào, tay vẫy vẫy, miệng làu bàu mà như ra lệnh cho ông: Hồ hởi, phấn khởi nhé! Hồ hởi, phấn khởi nhé!.

Một làn gió lạnh thổi thốc vào nhà. Ông rùng mình, tê buốt.

Cao ốc N5A, Trung Hòa- Nhân Chính, 5/2007

Lê Mai
http://viet-studies.info/VNTien/LeMai_QuyenDuocRen.htm

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tiếng Việt Phong Phú


Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến. Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu,
cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá
chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát. Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng.

Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ. Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây
cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh.

Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cứu cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp“ chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy. Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén. Chó chiên, chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cư, cháu của chú Chiến. Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá
chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát. Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng.

Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ. Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây
cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh.

Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cứu cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp” chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, cáccụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén. Chó chiên,
chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Thằng Cu siu tầm

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ði Lấy Chồng... Gần

Huy Phương
Sau lần in cuốn tạp ghi “Ði Lấy Chồng Xa,” nhiều ông bạn đã hỏi đùa rằng, lúc nào thì có tập truyện “Ði Lấy Chồng... Gần” đây? Chuyện chơi mà không ngờ hóa thật, bây giờ con gái Việt Nam khỏi cần bôn ba kiếm chồng phương xa nữa mà sắp có chuyện lấy chồng gần... tại chỗ. Các ông cha bà mẹ không còn chuyện đưa con lên Saigon để theo gương bác “từ thành phố này người đã ra đi,” cũng như không còn trông ngóng tin con nơi xa nữa, mà lại “có bát canh cần nó cũng đem cho.” (1)

Theo việc triển khai mỏ bô-xít tại Ðắc Nông, ngày nay tại Bảo Lộc, hàng quán phục vụ người Tàu đã mọc lên rất nhiều với các bảng hiệu song ngữ Việt-Tàu. Thị xã Bảo Lộc có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6,000 người Trung Quốc đến “đóng chốt” tại đây. Ðó là nơi mà Bộ Công Thương đã cho rằng “đã nhiều năm qua, Tây Nguyên tập trung phát triển tối đa cây công nghiệp, nhưng hiệu quả kinh tế còn hạn chế, đời sống đồng bào còn khó khăn, hạ tầng nghèo nàn, trình độ dân trí hạn chế.” Như vậy rồi đây, dân chúng cao nguyên hay cả nước, nơi dân cư nghèo đói, không có công ăn việc làm, sẽ đổ về đây để kiếm sống, bằng những dịch vụ, kể cả việc làm vợ hờ hay bán thân cho công nhân Tàu Cộng để kiếm sống.

Bộ Công Thương cho rằng ở Tây Nguyên “trình độ dân trí hạn chế,” phải chăng hạn chế vì bị bưng bít thông tin, bị đàn áp, bị dối trá. Với trường hợp tương tự, cũng với hoàn cảnh này, tại đất nước Peru, chúng ta đã biết tin trong tuần qua, hàng ngàn người da đỏ võ trang lao nhọn đã chống lại lực lượng an ninh. Ðây là cuộc bạo động lớn nhất chưa từng có ở Peru kể từ thời kỳ nội chiến. Tổng Thống Alan Garcia bị những nhà lãnh đạo thiên tả Châu Mỹ La Tinh chỉ trích đã cho khai thác dầu hỏa và tài nguyên rừng Amazon làm thiệt hại môi trường và đe dọa đời sống của người da đỏ địa phương. Trong những ngày qua người da đỏ đã biểu tình, phong tỏa đường sá, sông ngòi, tuyên bố bảo vệ vùng đất của tổ tiên họ. Còn dân Tây Nguyên của chúng ta nghĩ gì, làm gì trước việc chính phủ Cộng Sản cho khai thác bô xít tại đây, hay dân chúng lại cho rằng đây là lúc họ có thể thoát ra khỏi cảnh nghèo túng nhờ sự hiện diện của ngoại quốc trên phần đất của họ, dù đây là thứ ngoại quốc “hạng bét”.

Công nhân Trung Cộng hay lính Trung Cộng ngụy trang công nhân, đã làm đường xe lửa, đã khai thác bô-xít, rồi sẽ còn được “trúng thầu” dài dài nhiều công trình béo bở và chiến lược trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam. Chúng sẽ tràn ngập khắp đất nước chúng ta như đã từng có thời “Ðoàn quân Tàu Ô đi...” của đám Lư Hán ở miền Bắc. Hải Phòng, Bình Dương đã có làng Trung Quốc. Không đâu xa, ngay tại Chu Lai, Quảng Nam có ngôi chùa Phú Sơn, thuộc Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam, lâu nay vẫn thường bị công an theo dõi, rình rập, làm khó khăn, nhưng từ ngày vùng này có một làng “Trung Quốc” được dựng lên, công nhân Trung Quốc lui tới thăm viếng chùa, tặng những máy niệm Phật điện tử bằng tiếng Tàu cho Phật tử, thì công an coi bộ cả nể, không dám làm chuyện khó cho chùa nữa. Và những nhà có con gái là đối tượng cho công nhân Trung Cộng làm “dân vận,” lui tới thăm viếng.

Hai trăm công nhân Trung Hoa tại nhà máy xi măng Nghi Sơn, Thanh Hóa chỉ vì một đụng chạm nhỏ với đồng bào của chúng ta, đã làm loạn kéo đến đập phá nhà dân, đánh người đến mang thương tích. Câu chuyện xẩy ra từ năm ngoái, nhưng bị bưng bít, tới nay mới đưa ra công luận vì lại xẩy ra một vụ công nhân Tàu tự ý bắt giữ tội phạm, đánh đập tra khảo mà không chịu giao cho công an địa phương giải quyết. Cũng tại Thanh Hóa, quanh nhà máy xi măng của Tàu tại huyện Tĩnh Gia, hàng quán, nhà nghỉ, quán cà phê, karaoke, dịch vụ điện thoại đã được mở ra và đàn bà Việt Nam đã bắt đầu bán thân cho ngoại bang ngay trên đất nước mình.

Việt Cộng cũng sẽ mượn tay Tàu Cộng để bảo vệ ngôi vị tay sai độc đoán của mình. Vì nếu như có một cuộc nổi dậy của nhân dân Việt Nam, kể cả bộ đội Cộng Sản chống lại bọn cầm quyền, thì các lực lượng Tàu Cộng đã được ém trong nước đợi thời cơ và bọn bá quyền ở phương Bắc sẽ tràn xuống, lấy lý do bảo vệ cho kiều bào của chúng, không tiếc tay tàn sát các lực lượng nổi dậy, để bảo vệ cho đàn em trung thành. Lúc bấy giờ hiển nhiên Việt Nam sẽ là một Tây Tạng thứ hai của Tàu Cộng.

Trang “Ðàn Chim Việt” đã cảnh cáo: “Ngày hôm nay, lực lượng công nhân và có thể là quân nhân Trung Quốc đang bắt đầu cắm vào địa bàn Tây Nguyên nói lên điều gì? Không cần phải là một nhà quân sự, ai cũng có thể đặt câu hỏi là nếu có một cuộc ngoại công của Trung Quốc từ các biên giới phía Bắc như Vân Nam, phía Tây như từ Lào, Campuchia, phía Ðông như từ căn cứ tàu ngầm Hải Nam, từ Hoàng Sa, Trường Sa kết hợp với cuộc nội công từ Tây Nguyên thì thử hỏi quân đội Việt Nam có thể cầm cự được trong bao lâu?”

Nước mất nhà tan, phụ nữ Việt Nam lang thang xứ người hành nghề mãi dâm, nay lại làm đĩ cho ngoại bang trên đất nước mình. Trong thời kỳ Ðệ II Thế Chiến, gần 200,000 phụ nữ, chủ yếu từ Ðại Hàn và Trung Quốc, đã bị ép phục vụ tình dục với binh lính Nhật Bản trong các nhà chứa do quân đội Thiên Hoàng lập ra. Phụ nữ Việt Nam thời Pháp thuộc cũng có một số bán thân cho Pháp, thời chiến tranh Quốc Cộng vừa qua cũng có người cho Mỹ, cho Nga, nhưng trên đất nước Việt Nam ngày nay được gọi là độc lập tự do thì phụ nữ đã bị đẩy tới cảnh làm đĩ mười phương: Ðài Loan, Trung Quốc, Ðại Hàn, Nam Dương, Thái Lan, Nhật Bản và nhục nhã hơn nữa là Cam Bốt. UNICEF và Bộ Tư Pháp Việt Nam báo cáo trong năm 2005 có đến 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra ngoại quốc (10% của tổng số nạn nhân khắp thế giới). Câu nói bào chữa là sở dĩ Việt Nam “đạt tỉ lệ cao” là “vì hoàn cảnh nghèo khó, không có việc làm, thiếu học...”

Trong năm 2000, có khoảng nửa triệu nạn nhân Việt Nam bị bán qua Trung Quốc, Macao, Ðại Hàn, Cao Miên, Thái Lan và nhiều nước khác. Năm 2003 phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên Ebay Taiwan Website với giá bắt đầu là $5,400. Trong năm 2005 nhiều thiếu nữ Việt Nam đã bị đem ra trưng bày như một món hàng, ngồi trong những tủ kính để khách qua lại lựa chọn trong Trade Fair ở Singapore. Một điều đáng buồn là theo thống kê của những tổ chức như International Organization Migration (IOM), Chab Dai, IJM... đang làm việc chống nạn buôn bán trẻ em ở Cambodia, thì tại Nam Vang, chỉ có khoảng một triệu dân, trong đó có khoảng 15 ngàn gái mãi dâm, thì đã có hơn phân nửa là thiếu nữ và trẻ em Việt Nam.

Ai là kẻ sĩ phu yêu nước, ai là đồng bào xót xa cho ruột thịt, trước nạn nước này mà không khỏi chau mày, xót dạ. Ở miền Nam, cù lao Dung, nơi nước ngọt, vườn tốt, con gái đẹp đã được gọi là cù lao Ðài Loan, quê hương của những cô gái “đi lấy chồng xa.” Rồi đây, hết cảnh đi lấy chồng xa, chúng ta đã có làng bô-xít, làng Trung Quốc, phụ nữ Việt Nam sắp được đi lấy chồng gần, nếu bọn cầm quyền Hà Nội tiếp tục cho Trung Cộng khai thác bô-xít và mở ra những cơ hội cho người Tàu tràn vào đất nước, hèn nhát đưa đến chỗ làm nô lệ thực sự cho bọn bá quyền phương Bắc. Người dân cũng thức tỉnh nhưng bị chế độ trấn áp lâu ngày, tê liệt ý chí vì sợ hãi, tuyệt vọng và bị nguyên một guồng máy sẵn sàng nghiền nát mà không có lối thoát, biết nhục nhưng vẫn phải nhắm mắt đưa chân, vì quá đói nghèo tuyệt vọng.

(1) Có gả thì gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho” (ca dao)

Post Reply