Bình Luận Thời Sự
Đế quốc Trung Hoa vẫn bành trướng
Ngô Nhân Dụng Hàng trăm người Uighur chết ở Tân Cương và mấy chục ngư phủ Việt Nam chết ở biển Ðông sau khi bị đánh chím tầu, họ đều là nạn nhân của một hiện tượng lịch sử diễn tiến trong hai ngàn năm nay. Ðó là sự bành trướng của một đế quốc đã thành hình trên Hoa lục từ hơn 200 năm trước Công Nguyên. Người Uighur hay người Tây Tạng đã bị nuốt vào nằm trong đế quốc đó, còn người Việt vẫn đang chịu áp lực của sự cọ xát do hiện tượng bành trướng đó gây ra, giống như các nước biên ngoại khác.
Người Trung Hoa đến nay vẫn tự gọi họ là người Hán, dùng tên của đế quốc đầu tiên kéo dài 4 thế kỷ này, mà vào năm 43 họ đã chính thức chiếm đóng vùng sông Hồng, sông Mã của dân tộc Việt để thi hành một chính sách trực trị và đồng hóa. Họ đã thành công trong công việc đồng hóa các sắc dân từ vùng Thượng Hải, Phúc Kiến, cho đến Quảng Ðông, Vân Nam. Nhưng một nhóm người Việt là tổ tiên chúng ta đã thoát khỏi vòng kềm tỏa của đế quốc đó sau một ngàn năm không ngừng tranh đấu. Người Uighur và các dân tộc theo Hồi Giáo ở Tân Cương không may mắn như người Việt. Cũng bị sáp nhập vào nước Trung Hoa trong hơn một ngàn năm, đến nay họ vẫn phải sống làm dân nước đó như một nhóm thiểu số bị khinh thường. Khi những người dân “thiểu số” này nổi dậy phản kháng vì bị đối xử bất công, họ bèn bị gán cho tiếng “phản loạn.”
Kể từ thời nhà Hán, mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì những vị hoàng đế Trung Hoa lại bành trướng lãnh thổ. Các triều đại Ðường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Các dân tộc chung quanh thường được bình an những khi “bên Tàu có loạn” chia năm xẻ bảy. Ðể cho công bằng, chúng ta không nên nghĩ là cả dân tộc Trung Hoa có tham vọng đế quốc. Thực ra chính các vị hoàng đế, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; chính họ mới chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Ðế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 - 1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu.
Cho nên có thể nói Trung Quốc không phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, với một dân tộc và một tổ chức nhà nước cai trị (nation-state). Cũng giống như Liên Bang Xô Viết trước đây, chưa bao giờ là một quốc gia cả, khi guồng máy ở trung tâm nới lỏng ra thì cả đế quốc cũng tan rã. Nói về nước Trung Hoa theo lối có thiện cảm như một Martin Jacques, người Anh, tác giả cuốn “When China Rules the World” mới xuất bản, thì đó là một “civilisation-state,” một tổ chức cai trị để phát triển và bành trướng một nền văn minh riêng. Văn minh Trung Hoa được những người sống ở vùng Hoàng Hà dùng để “khai hóa” các dân man di chung quanh từ thời Tần Hán đến thế kỷ 20. Chế độ Cộng Sản đã dùng một thứ “văn minh” khác: chủ nghĩa Mác-Lê nin-Mao, với tinh thần đoàn kết vô sản thế giới, xóa bỏ phân biệt chủng tộc cũng như biên giới quốc gia.
Theo đúng chương trình của Mao Trạch Ðông, khi chế độ Cộng Sản được thực hiện khắp Á Châu thì những sắc dân ở Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, cho tới Mã Lai Á, Indonesia đều sẽ “trước là đồng chí sau là anh em,” được hưởng quy chế cùng một nhà với người Hán. Khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa để chiếm Hoàng Sa năm 1974, chính phủ Cộng Sản ở Hà Nội không lên tiếng phản đối. Vì họ theo đúng tinh thần đoàn kết vô sản của Mao Trạch Ðông, mà Hồ Chí Minh vẫn tôn thờ và ca ngợi.
Các chính phủ Trung Quốc thường nói họ là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng thực chất là một đế quốc. Nhà Thanh công nhận năm sắc dân: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, vì họ thuộc giống Mãn, cần hợp thức hóa chế độ cai trị của họ trên đa số dân Hán. Thời dân quốc, từ năm 1912, cũng theo nếp đó. Ðến thời Cộng Sản, họ nói Trung Quốc có 55 sắc dân thiểu số, hiện nay có 104 triệu, chiếm 9% trong số 1.3 tỷ người, và sắc dân chính là người Hán, 91% dân số.
Nhưng ngay đám dân gọi là “người Hán” này cũng khó coi là một dân tộc vì họ không thuần nhất chút nào. Gọi tất cả là người Hán cũng giống như chúng ta gọi các đồng bào Mường, Thái, người gốc Cham, gốc Khơ Me đều là người “Kinh” vậy. Có 8 nhóm ngôn ngữ chính ở Trung Quốc, như tiếng Ngô, tiếng Việt (Quảng Ðông), tiếng Tương, Mân Bắc, Mân Nam (Phúc Kiến), vân vân. Trong mỗi nhóm tiếng chính lại chia ra nhiều ngôn ngữ phụ. Ngôn ngữ chính thức (phổ thông) học trong trường và dùng trong chính phủ (quan thoại), nhưng người dân vẫn dùng tiếng của vùng mình trong đời sống hàng ngày. Giữa người nói ngôn ngữ chính và tiếng Quảng Ðông cũng khó hiểu được nhau như giữa người Ðức và người Anh; hoặc giữa người Pháp và người Tây Ban Nha vậy. Trung Quốc cứ hợp rồi tan, tan rồi lại hợp, vì đời Tần cưỡng chế mọi người dùng một thứ chữ viết và các vị hoàng đế đời sau tiếp tục chính sách đồng hóa đó. Nhưng hiện nay nhiều sắc dân đang muốn xác định lại bản sắc của họ. Người Hẹ (Khách Gia) và người Quảng (Việt) đều muốn tìm hiểu lại di sản văn hóa cổ truyền. Tại Quảng Ðông đang có một phong trào phục hồi những di tích của văn minh Nam Việt. Những người di dân từ miền Nam Trung Quốc ra nước ngoài thường tự gọi họ là người Ðường chứ không gọi là người Hán. Ở các khu phố Tàu người ta đặt tên Ðường Nhân Hành, và tay võ sĩ từ bên Tàu qua được gọi là “Ðường Sơn đại huynh.”
Các vị hoàng đế đời trước và Hoàng đế Ðỏ bây giờ tìm cách xóa mờ sự khác biệt giữa các nhóm dân đó, đề cao một dân tộc Hán thuần nhất, là để bảo vệ đế quốc, tức là bảo vệ ngai vàng của họ. Cho nên sau vụ tàn sát người Uighur ở Tân Cương vừa qua, chính quyền Cộng Sản đã cho chiếu tin tức trên màn ảnh truyền hình khắp nước để cổ võ tình yêu “tổ quốc” gượng ép này. Nhưng ngay bây giờ trong nước Trung Hoa vẫn có những lực ly tâm hoạt động, vì tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh. Tình trạng bất công xã hội khiến mỗi năm có đến trăm ngàn “biến cố quần chúng” khắp nơi, tức là những vụ biểu tình từ một trăm người trở lên. Một đế quốc chỉ có thể bành trướng khi thật sự tập trung quyền hành, nhất là khi chính quyền trung ương có khuynh hướng độc tài. Còn khi guồng máy cai trị bên trong đế quốc đó được dân chủ hóa, các ý kiến khác biệt được thảo luận bình đẳng, thì nhu cầu bành trướng ra bên ngoài cũng nhẹ đi vì chính quyền không cần cho dân uống thứ ma túy gọi là “ái quốc” nữa. Vì vậy, đối với những quốc gia ở bên cạnh Trung Quốc như nước ta, khi nào nước Trung Hoa dân chủ hóa thực sự thì khi đó nước Việt Nam có thể nói chuyện bình đẳng với Trung Quốc. Nhóm các nhà trí thức ký Hiến Chương 08 đã đề nghị Trung Quốc theo thể chế liên bang, vì họ hiểu khát vọng tự trị của những đám dân khác ngôn ngữ và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế.
Ðề nghị liên bang hóa Trung Quốc nhắm vào những đám dân thiểu số lớn, như người Tây Tạng, người Uighur và các sắc dân khác ở Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương. Chính phủ Bắc Kinh rất lo ngại tình trạng căng thẳng sẽ đưa tới nhiều biến loạn và những cuộc tàn sát khác, như đã xẩy ra ở Tây Tạng năm ngoái và Tân Cương năm nay. Khi binh lính người Hán bắn vào những người Hồi Giáo ở Tân Cương, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cực lực lên án. Ðầu thế kỷ 20, Tây Tạng là một nước độc lập, dân Uighur cũng đứng lên thành lập một nước Ðông Thổ (East Turkistan) giống như nước Turkistan mới tách khỏi Liên Bang Xô Viết gần đây. Bộ trưởng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Những nước Trung Á khác cùng chung một tôn giáo với dân Uighur và tiếng nói cùng gốc Thổ cũng sẽ tỏ tình đoàn kết với người Uighur. Mà đây là một vùng chính quyền Bắc Kinh đang tìm cách kết thân, qua tổ chức Hội Nghị Thượng Hải (thêm Cộng Hòa Nga và sẽ thêm Iran) để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu lửa và khí đốt từ vùng Hắc Hải, diển Caspian, sang tới Trung Á.
Những dân tộc gốc Thổ vùng Trung Á cũng chia sẻ mối lo sợ như các nước vùng Ðông Nam Á. Họ sợ sức bành trướng tự nhiên của Ðế quốc Trung Hoa. Ngay nước Nga bây giờ cũng còn sợ đế quốc Trung Hoa xâm thực dần dần vào miền Siberia, thì người Hồi Giáo Trung Á cũng lo ngại những Ban Siêu, Phục Ba mới. Ðời Ðường đã lập An Tây Ðô Hộ Phủ để xâm lăng và thống trị vùng Tân Cương, Thanh Hải, mở đường qua phía Bắc Hy Mã Lạp Sơn. Cùng thời gian đó, An Nam Ðô Hộ Phủ thống trị dân Việt và đã tiến xuống tới tận Chiêm Thành.
Ðế quốc Trung Hoa bị ngăn lại ở biên giới Việt Nam, nếu không chắc họ đã bành trướng tới Indonesia (họ gọi là Nam Dương, Biển phía Nam), Mã Lai Á, Thái Lan, vân vân, từ trước khi các đế quốc Âu Châu sang đến vùng này. Nếu không có sức đề kháng của dân Việt, biết đâu người Thái, người Khơ Me bây giờ cũng có số phận như người Uighur mà thôi! Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng Việt Nam là hàng rào bảo vệ họ trước sự bành trướng của đế quốc Trung Hoa. Cho nên những người lãnh đạo Việt Nam biết bảo vệ chủ quyền dân tộc cần phải đoàn kết hơn với các nước Ðông Nam Á trong việc đối phó với Trung Quốc. Những cuộc thương thuyết về chủ quyền và lãnh hải nên đưa ra với tính cách tập thể, nhiều quốc gia tham dự. Tuyệt đối không nên kéo dài những cuộc họp song phương, nhất là những cuộc hội đàm bí mật đến nỗi người dân nước mình cũng không biết hai đảng Cộng Sản đã bàn những chuyện gì với nhau.
Từ khi dành được độc lập, các vua chúa Việt Nam luôn luôn chỉ dám tự xưng mình là “vương” khi giao thiệp với “hoàng đế” Trung Quốc. Thái độ khiêm tốn, nhún nhường đó là thủ đoạn ngoại giao để tránh chiến tranh cho dân đỡ khổ. Nhưng suốt lịch sử, người Việt Nam không bao giờ chịu nhục trước sự đe dọa của các hoàng đế Trung Hoa, ngay cả trước đám quân Mông Cổ bách chiến bách thắng. Và ngay trong thời bình, các chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn cảnh giác coi chừng sự xâm nhập, bành trướng của người Trung Quốc. Thái độ đó trở thành lỏng lẻo khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào sự chi viện của Cộng Sản Trung Hoa từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến tư tưởng, văn hóa.
Nhưng người Việt Nam chắc ai cũng ý thức về sức bành trướng của đế quốc phương Bắc. Phản ứng của mọi giới đồng bào, kể cả người Việt ở nước ngoài, trước việc cho người Trung Hoa khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và trước những vụ tầu Trung Quốc đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, cho thấy mối lo sợ của người Việt có lý do chính đáng. Chúng ta không cần phải thù ghét người dân Trung Quốc, dù họ gọi là người Hán hay Ðường nhân. Các nước lớn đều có tham vọng bành trướng tự nhiên như vậy, các nước nhỏ phải biết tự giữ lấy thân mình! Mối lo chính là những vị Hoàng đế Ðỏ của đế quốc này vẫn dùng chiêu bài “quốc tổ” dụ dỗ, mê hoặc dân Trung Hoa để bảo vệ quyền hành của chính họ. Mà một cách kích thích lòng “ái quốc” là bành trướng ảnh hưởng của họ, trên trên các nước khác. Mối lo gần gũi nhất là sợ rằng các Hoàng đế Ðỏ ở Bắc Kinh lại mua chuộc được các ông vua chúa ở nước ta bằng “tình đồng chí giữa những người Cộng Sản cuối cùng trên trái đất!”
Khi nào hai nước Việt Nam và Trung Quốc dân chủ hóa thật thì mới có thể nói chuyện bình đẳng được.
Ngô Nhân Dụng Hàng trăm người Uighur chết ở Tân Cương và mấy chục ngư phủ Việt Nam chết ở biển Ðông sau khi bị đánh chím tầu, họ đều là nạn nhân của một hiện tượng lịch sử diễn tiến trong hai ngàn năm nay. Ðó là sự bành trướng của một đế quốc đã thành hình trên Hoa lục từ hơn 200 năm trước Công Nguyên. Người Uighur hay người Tây Tạng đã bị nuốt vào nằm trong đế quốc đó, còn người Việt vẫn đang chịu áp lực của sự cọ xát do hiện tượng bành trướng đó gây ra, giống như các nước biên ngoại khác.
Người Trung Hoa đến nay vẫn tự gọi họ là người Hán, dùng tên của đế quốc đầu tiên kéo dài 4 thế kỷ này, mà vào năm 43 họ đã chính thức chiếm đóng vùng sông Hồng, sông Mã của dân tộc Việt để thi hành một chính sách trực trị và đồng hóa. Họ đã thành công trong công việc đồng hóa các sắc dân từ vùng Thượng Hải, Phúc Kiến, cho đến Quảng Ðông, Vân Nam. Nhưng một nhóm người Việt là tổ tiên chúng ta đã thoát khỏi vòng kềm tỏa của đế quốc đó sau một ngàn năm không ngừng tranh đấu. Người Uighur và các dân tộc theo Hồi Giáo ở Tân Cương không may mắn như người Việt. Cũng bị sáp nhập vào nước Trung Hoa trong hơn một ngàn năm, đến nay họ vẫn phải sống làm dân nước đó như một nhóm thiểu số bị khinh thường. Khi những người dân “thiểu số” này nổi dậy phản kháng vì bị đối xử bất công, họ bèn bị gán cho tiếng “phản loạn.”
Kể từ thời nhà Hán, mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì những vị hoàng đế Trung Hoa lại bành trướng lãnh thổ. Các triều đại Ðường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Các dân tộc chung quanh thường được bình an những khi “bên Tàu có loạn” chia năm xẻ bảy. Ðể cho công bằng, chúng ta không nên nghĩ là cả dân tộc Trung Hoa có tham vọng đế quốc. Thực ra chính các vị hoàng đế, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; chính họ mới chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Ðế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 - 1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu.
Cho nên có thể nói Trung Quốc không phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, với một dân tộc và một tổ chức nhà nước cai trị (nation-state). Cũng giống như Liên Bang Xô Viết trước đây, chưa bao giờ là một quốc gia cả, khi guồng máy ở trung tâm nới lỏng ra thì cả đế quốc cũng tan rã. Nói về nước Trung Hoa theo lối có thiện cảm như một Martin Jacques, người Anh, tác giả cuốn “When China Rules the World” mới xuất bản, thì đó là một “civilisation-state,” một tổ chức cai trị để phát triển và bành trướng một nền văn minh riêng. Văn minh Trung Hoa được những người sống ở vùng Hoàng Hà dùng để “khai hóa” các dân man di chung quanh từ thời Tần Hán đến thế kỷ 20. Chế độ Cộng Sản đã dùng một thứ “văn minh” khác: chủ nghĩa Mác-Lê nin-Mao, với tinh thần đoàn kết vô sản thế giới, xóa bỏ phân biệt chủng tộc cũng như biên giới quốc gia.
Theo đúng chương trình của Mao Trạch Ðông, khi chế độ Cộng Sản được thực hiện khắp Á Châu thì những sắc dân ở Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, cho tới Mã Lai Á, Indonesia đều sẽ “trước là đồng chí sau là anh em,” được hưởng quy chế cùng một nhà với người Hán. Khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa để chiếm Hoàng Sa năm 1974, chính phủ Cộng Sản ở Hà Nội không lên tiếng phản đối. Vì họ theo đúng tinh thần đoàn kết vô sản của Mao Trạch Ðông, mà Hồ Chí Minh vẫn tôn thờ và ca ngợi.
Các chính phủ Trung Quốc thường nói họ là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng thực chất là một đế quốc. Nhà Thanh công nhận năm sắc dân: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, vì họ thuộc giống Mãn, cần hợp thức hóa chế độ cai trị của họ trên đa số dân Hán. Thời dân quốc, từ năm 1912, cũng theo nếp đó. Ðến thời Cộng Sản, họ nói Trung Quốc có 55 sắc dân thiểu số, hiện nay có 104 triệu, chiếm 9% trong số 1.3 tỷ người, và sắc dân chính là người Hán, 91% dân số.
Nhưng ngay đám dân gọi là “người Hán” này cũng khó coi là một dân tộc vì họ không thuần nhất chút nào. Gọi tất cả là người Hán cũng giống như chúng ta gọi các đồng bào Mường, Thái, người gốc Cham, gốc Khơ Me đều là người “Kinh” vậy. Có 8 nhóm ngôn ngữ chính ở Trung Quốc, như tiếng Ngô, tiếng Việt (Quảng Ðông), tiếng Tương, Mân Bắc, Mân Nam (Phúc Kiến), vân vân. Trong mỗi nhóm tiếng chính lại chia ra nhiều ngôn ngữ phụ. Ngôn ngữ chính thức (phổ thông) học trong trường và dùng trong chính phủ (quan thoại), nhưng người dân vẫn dùng tiếng của vùng mình trong đời sống hàng ngày. Giữa người nói ngôn ngữ chính và tiếng Quảng Ðông cũng khó hiểu được nhau như giữa người Ðức và người Anh; hoặc giữa người Pháp và người Tây Ban Nha vậy. Trung Quốc cứ hợp rồi tan, tan rồi lại hợp, vì đời Tần cưỡng chế mọi người dùng một thứ chữ viết và các vị hoàng đế đời sau tiếp tục chính sách đồng hóa đó. Nhưng hiện nay nhiều sắc dân đang muốn xác định lại bản sắc của họ. Người Hẹ (Khách Gia) và người Quảng (Việt) đều muốn tìm hiểu lại di sản văn hóa cổ truyền. Tại Quảng Ðông đang có một phong trào phục hồi những di tích của văn minh Nam Việt. Những người di dân từ miền Nam Trung Quốc ra nước ngoài thường tự gọi họ là người Ðường chứ không gọi là người Hán. Ở các khu phố Tàu người ta đặt tên Ðường Nhân Hành, và tay võ sĩ từ bên Tàu qua được gọi là “Ðường Sơn đại huynh.”
Các vị hoàng đế đời trước và Hoàng đế Ðỏ bây giờ tìm cách xóa mờ sự khác biệt giữa các nhóm dân đó, đề cao một dân tộc Hán thuần nhất, là để bảo vệ đế quốc, tức là bảo vệ ngai vàng của họ. Cho nên sau vụ tàn sát người Uighur ở Tân Cương vừa qua, chính quyền Cộng Sản đã cho chiếu tin tức trên màn ảnh truyền hình khắp nước để cổ võ tình yêu “tổ quốc” gượng ép này. Nhưng ngay bây giờ trong nước Trung Hoa vẫn có những lực ly tâm hoạt động, vì tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh. Tình trạng bất công xã hội khiến mỗi năm có đến trăm ngàn “biến cố quần chúng” khắp nơi, tức là những vụ biểu tình từ một trăm người trở lên. Một đế quốc chỉ có thể bành trướng khi thật sự tập trung quyền hành, nhất là khi chính quyền trung ương có khuynh hướng độc tài. Còn khi guồng máy cai trị bên trong đế quốc đó được dân chủ hóa, các ý kiến khác biệt được thảo luận bình đẳng, thì nhu cầu bành trướng ra bên ngoài cũng nhẹ đi vì chính quyền không cần cho dân uống thứ ma túy gọi là “ái quốc” nữa. Vì vậy, đối với những quốc gia ở bên cạnh Trung Quốc như nước ta, khi nào nước Trung Hoa dân chủ hóa thực sự thì khi đó nước Việt Nam có thể nói chuyện bình đẳng với Trung Quốc. Nhóm các nhà trí thức ký Hiến Chương 08 đã đề nghị Trung Quốc theo thể chế liên bang, vì họ hiểu khát vọng tự trị của những đám dân khác ngôn ngữ và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế.
Ðề nghị liên bang hóa Trung Quốc nhắm vào những đám dân thiểu số lớn, như người Tây Tạng, người Uighur và các sắc dân khác ở Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương. Chính phủ Bắc Kinh rất lo ngại tình trạng căng thẳng sẽ đưa tới nhiều biến loạn và những cuộc tàn sát khác, như đã xẩy ra ở Tây Tạng năm ngoái và Tân Cương năm nay. Khi binh lính người Hán bắn vào những người Hồi Giáo ở Tân Cương, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cực lực lên án. Ðầu thế kỷ 20, Tây Tạng là một nước độc lập, dân Uighur cũng đứng lên thành lập một nước Ðông Thổ (East Turkistan) giống như nước Turkistan mới tách khỏi Liên Bang Xô Viết gần đây. Bộ trưởng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Những nước Trung Á khác cùng chung một tôn giáo với dân Uighur và tiếng nói cùng gốc Thổ cũng sẽ tỏ tình đoàn kết với người Uighur. Mà đây là một vùng chính quyền Bắc Kinh đang tìm cách kết thân, qua tổ chức Hội Nghị Thượng Hải (thêm Cộng Hòa Nga và sẽ thêm Iran) để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu lửa và khí đốt từ vùng Hắc Hải, diển Caspian, sang tới Trung Á.
Những dân tộc gốc Thổ vùng Trung Á cũng chia sẻ mối lo sợ như các nước vùng Ðông Nam Á. Họ sợ sức bành trướng tự nhiên của Ðế quốc Trung Hoa. Ngay nước Nga bây giờ cũng còn sợ đế quốc Trung Hoa xâm thực dần dần vào miền Siberia, thì người Hồi Giáo Trung Á cũng lo ngại những Ban Siêu, Phục Ba mới. Ðời Ðường đã lập An Tây Ðô Hộ Phủ để xâm lăng và thống trị vùng Tân Cương, Thanh Hải, mở đường qua phía Bắc Hy Mã Lạp Sơn. Cùng thời gian đó, An Nam Ðô Hộ Phủ thống trị dân Việt và đã tiến xuống tới tận Chiêm Thành.
Ðế quốc Trung Hoa bị ngăn lại ở biên giới Việt Nam, nếu không chắc họ đã bành trướng tới Indonesia (họ gọi là Nam Dương, Biển phía Nam), Mã Lai Á, Thái Lan, vân vân, từ trước khi các đế quốc Âu Châu sang đến vùng này. Nếu không có sức đề kháng của dân Việt, biết đâu người Thái, người Khơ Me bây giờ cũng có số phận như người Uighur mà thôi! Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng Việt Nam là hàng rào bảo vệ họ trước sự bành trướng của đế quốc Trung Hoa. Cho nên những người lãnh đạo Việt Nam biết bảo vệ chủ quyền dân tộc cần phải đoàn kết hơn với các nước Ðông Nam Á trong việc đối phó với Trung Quốc. Những cuộc thương thuyết về chủ quyền và lãnh hải nên đưa ra với tính cách tập thể, nhiều quốc gia tham dự. Tuyệt đối không nên kéo dài những cuộc họp song phương, nhất là những cuộc hội đàm bí mật đến nỗi người dân nước mình cũng không biết hai đảng Cộng Sản đã bàn những chuyện gì với nhau.
Từ khi dành được độc lập, các vua chúa Việt Nam luôn luôn chỉ dám tự xưng mình là “vương” khi giao thiệp với “hoàng đế” Trung Quốc. Thái độ khiêm tốn, nhún nhường đó là thủ đoạn ngoại giao để tránh chiến tranh cho dân đỡ khổ. Nhưng suốt lịch sử, người Việt Nam không bao giờ chịu nhục trước sự đe dọa của các hoàng đế Trung Hoa, ngay cả trước đám quân Mông Cổ bách chiến bách thắng. Và ngay trong thời bình, các chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn cảnh giác coi chừng sự xâm nhập, bành trướng của người Trung Quốc. Thái độ đó trở thành lỏng lẻo khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào sự chi viện của Cộng Sản Trung Hoa từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến tư tưởng, văn hóa.
Nhưng người Việt Nam chắc ai cũng ý thức về sức bành trướng của đế quốc phương Bắc. Phản ứng của mọi giới đồng bào, kể cả người Việt ở nước ngoài, trước việc cho người Trung Hoa khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và trước những vụ tầu Trung Quốc đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, cho thấy mối lo sợ của người Việt có lý do chính đáng. Chúng ta không cần phải thù ghét người dân Trung Quốc, dù họ gọi là người Hán hay Ðường nhân. Các nước lớn đều có tham vọng bành trướng tự nhiên như vậy, các nước nhỏ phải biết tự giữ lấy thân mình! Mối lo chính là những vị Hoàng đế Ðỏ của đế quốc này vẫn dùng chiêu bài “quốc tổ” dụ dỗ, mê hoặc dân Trung Hoa để bảo vệ quyền hành của chính họ. Mà một cách kích thích lòng “ái quốc” là bành trướng ảnh hưởng của họ, trên trên các nước khác. Mối lo gần gũi nhất là sợ rằng các Hoàng đế Ðỏ ở Bắc Kinh lại mua chuộc được các ông vua chúa ở nước ta bằng “tình đồng chí giữa những người Cộng Sản cuối cùng trên trái đất!”
Khi nào hai nước Việt Nam và Trung Quốc dân chủ hóa thật thì mới có thể nói chuyện bình đẳng được.
Bảo Vệ Biển Đông
Trần Khải
Trong khi nhà nước Hà Nội chơi trò xã hội đen với các nhà hoạt động dân chủ như Nguyễn Thanh Giang, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Trần Luật… thì các tàu lạ (có lẽ của Trung Quốc, chứ khó thể nào là tàu của Iran, hay Cuba) đang vào các vùng biển Việt Nam để chơi trò xã hội đen với ngư dân Việt. Và CSVN đang ra vẻ bó tay.
Bắt cóc ngư dân Việt đưa về đảo Hải Nam rồi đòi tiền phạt mới thả, đó là hành vi hải tặc. Tàu lạ đụng chìm tàu ngư dân Việt rồi bỏ chạy, đó cũng là hành vi hải tặc vì đã cướp đi phương tiện mưu sinh và cướp mất sự bình an trên biển. Tại sao nhà nước Hà Nội chưa đưa các hành vi hải tặc này ra trước Liên Hiệp Quốc khiếu kiện? Thêm nữa, tại sao Hà Nội chưa kêu gọi Khối ASEAN thành lập một đơn vị hải quân đặc nhiệm chống hải tặc? Và rộng hơn, tại sao Hà Nội chưa mời cả Mỹ và các nước Đông Á như Nhật, Nam Hàn đặt vấn đề chống hải tặc trên toàn vùng Thái Bình Dương?
Trên nguyên tắc, bạn đồng minh của Hà Nội tại Biển Đông vẫn nhiều hơn là bạn đồng minh của Bắc Kinh tại đây. Vậy thì tại sao lại sợ tên côn đồ này? Hay thực sự, tình hình nhịn nhục, chín bỏ làm mười, bỏ mặc ngư dân Việt cho hải tặc quốc doanh Trung Quốc là có chủ trương lớn của Đảng và nhà nước CSVN? Thử nhìn quanh xem: Indonesia, Nam Hàn, Nhật, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Singapore, Thái Lan, Cam Bốt… đều muốn đứng bên VN để kình TQ, vì thấy rõ là cũng sẽ cùng một số phận như VN thôi.
Mặt khác, lời gợi ý từ phía Mỹ có lẽ đã khá minh bạch. Rằng Mỹ muốn góp sức ổn định Biển Đông, nơi có tên kiểu Trung Quốc là South China Sea (Biển Nam Trung Quốc). Trong buổi điều trần hôm Thứ Tư 15-7-2009, Thượng Nghị Sĩ liên bang Hoa Kỳ Jim Webb (Đảng Dân Chủ, Virginia) đã nói rằng TQ không chỉ mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị, mà cũng mở rộng lãnh thổ nữa, và TQ hiện đại hóa quân sự còn nhằm tiếp trợ chiến dịch này. TNS Webb dịp này cũng kêu gọi Mỹ phải tăng sức mạnh hải quân Mỹ để ổn định Biển Đông, tuy rằng Mỹ trung lập trong việc tranh chấp ở các đảo Thái Bình Dương.
Câu hỏi nơi đây là, luật pháp nào có thể sử dụng để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nếu có?
Phụ Tá Thứ Trưởng Quốc Phòng, Robert Scher, cũng trình bày trong buổi điều trần này, lập lại rằng Mỹ hoạt động theo luật của Liên Hiệp Quốc, "Hoạt động quân sự của chúng ta trong vùng này là diễn ra đều đặn và phù hợp với luật quốc tế. Chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện các chiến dịch ở Biển Nam Trung Quốc, và hoạt động của Mỹ sẽ dựa vào quyền lợi chúng ta trong khu vực và mong muốn của chúng ta là giữ gìn an ninh và ổn định khắp phía Tây Thái Bình Dương."
Hãy nhớ rằng, Mỹ còn là một quốc gia Châu Á, vì có tiểu bang Hawaii ở nơi này. Đó cũng là lý do để Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Mỹ, nói rằng Hải Quân TQ đang thu hẹp nhanh chóng sức mạnh khoảng cách với sức mạnh Hải Quân Mỹ, và, "Nếu Mỹ vẫn là một quốc gia Châu Á và là một quốc gia có hải lực, các lãnh đạo Mỹ phải lưạ chọn. Mỹ nên duy trì sức mạnh và phẩm chất hải lực — nếu không phải là tăng cường."
Chưa hết, Richard Cronin, giám đốc Chương Trình Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson Center, nói trong buổi điều trần ở Thượng Viện hôm Thứ Tư rằng TT Barack Obama nên ngưng thái độ thụ động về vấn đề chủ quyền, "Chính phủ Obama nên bày tỏ ủng hộ các nước Đông Nam Á hiện đang bị hù dọa, và phải quyết tâm khẳng định quyền hạn chúng ta về việc giữ lưu thông hàng hải tự do bất kể khiêu khích từ Trung Quốc." Trong buổi điều trần này, Scot Marciel, nhà ngoại giao Mỹ đặc trách vùng Đông Nam Á, nói rằng TQ đã hù dọa các hãng dầu Mỹ và quốc tế là phải ngưng hợp tác khai thác dầu với VN ở Biển Đông, nếu không sẽ bị TQ trả thù về các hợp đồng khác ở TQ. Như thế, về nhiều phương diện, chúng ta thấy rằng quyền lợi Hoa Kỳ là sẽ không để cho TQ thao túng Biển Đông.
Vậy rồi Mỹ cố vấn cho các nước đang bị TQ bắt nạt ra sao? Scot Marciel nói rằng TQ muốn thương lượng riêng với từng nước trong khối ASEAN, "nhưng tôi nghĩ rằng ASEAN nên thương lượng với tư cách chung một khối."
Đó là lời gợi ý rất cụ thể, rằng Việt Nam đừng nên nghĩ rằng có thể thì thầm bên tai Bắc Kinh là xong chuyện.
Chúng ta vẫn còn nhớ rằng, mới tuần trước, Ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao CS Việt Nam, trong cuộc họp báo thường kỳ vào ngày thứ Năm ngày 9/7/2009, đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ’trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện’ cho 12 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và đòi họ trả tiền phạt.
Chuyện lúc đó là, những ngư dân này nằm trong số 37 ngư dân bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ hồi tháng trước vì đã vi phạm lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc áp đặt ở gần khu vực đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp.
Trung Quốc đã quyết định phạt những ngư dân này 31,000 đô la và đã thả 25 người trong số họ. Giới hữu trách Trung Quốc hiện vẫn tiếp tục giam giữ 12 ngư dân cho tới khi họ trả đủ tiền phạt.
Giới hữu trách Việt Nam từ chối trả khoản tiền phạt này và đã yêu cầu phía Trung Quốc trả tự do ngay lập tức cho các ngư dân còn bị giam giữ. Ông Lê Dũng nói rằng những ngư dân này bị bắt trong khi đang đánh bắt cá tại vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Thế là Trung Quốc trả lời ông Lê Dũng bằng một cú độc chiêu xã hội đen: một tàu lạ vào biển Quảng Ngãi hôm 15/7/2009, đụng chìm tàu ngư dân Việt.
Theo tin các báo Thanh Niên, Tiền Phong, thông tấn xã nhà nước TTXVN, vào khoảng 1 giờ 30 phút ngày 15/7, tại tọa độ 13 độ 45 phút độ vĩ bắc, 110 độ 32 phút độ kinh đông (vùng biển tỉnh Quảng Ngãi), tàu QNg 2203 có 9 ngư dân bị một tàu lạ đâm phải và chìm tại địa điểm trên. Cả 9 ngư dân đều bị thương, trong đó có 2 người bị thương rất nặng.
Bản tin báo Tiền Phong, TTXVN dẫn lời ông Đinh Văn Chác, Trưởng phòng Phối hợp tìm kiếm cứu nạn, Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Khu vực II (đóng tại Đà Nẵng) cho biết, thông tin trên được ông Huỳnh Thọ, chủ tàu QNg 2416, báo về lúc 9 giờ 41 phút ngày 15/7. Các ngư dân trên tàu QNg 2416 đã nỗ lực ứng cứu và đưa hết 9 ngư dân gặp nạn lên tàu.
Tại sao Bắc Kinh trả lời Hà Nội một cách vang dội như thế? Tại sao Hà Nội không kiện Bắc Kinh ra trước tòa quốc tế về các hành vi hải tặc? Tại sao không biến vùng Biển Đông thành vùng cần bảo vệ chống hải tặc, như hiện nay các tàu chiến quốc tế đang đi tuần ở vùng biển ngoài khơi Somalia? Hay là sợ đưa ra quốc tế, mà cứ ấp úng không dám chỉ đích danh Trung Quốc về tội xã hội đen Biển Đông?
Có nhiều cách đơn giản để nhà nước Hà Nội có thể dễ dàng đoàn kết toàn dân để tìm mưu kế gìn giữ Biển Đông. Trước tiên, và tận cùng, là phải xem chuyện bất đồng chính kiến là điều bình thường. Tuy là còn chế độ độc đảng, nhưng phải chấp nhận các ý kiến đối lập.
Hãy trả tự do luật sư Lê Công Định, và hỗ trợ luật sư Định thiết lập một hồ sơ kiện Trung Quốc về các hành vi xã hội đen Biển Đông, nhân danh quyền lợi các công ty dầu VN và quốc tế trước giờ bị hù dọa, và nhân danh ngư dân Việt cụ thể.
Thứ nhì, nhà nước hãy nhờ nhóm Bauxite Tây Nguyên (đại diện là giáo sư Nguyễn Huệ Chi và một số trí thức) gửi thư mời Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (và phu nhân, một luật sư Mỹ gốc Việt) tới thăm Hà Nội, tới thăm Tướng Võ Nguyên Giáp… để cảm ơn về cuộc điều trần tuyệt diệu trên Thượng Viện Mỹ hôm Thứ Tư, qua đó sẽ cho thấy nhà nước CSVN cũng một lòng với nhóm Bauxite Tây Nguyên, chứ không muốn đứng theo phe xã hội đen Biển Đông làm hại dân mình.
Và rồi, chọn một ngày làm ngày lễ để ghi nhớ cái nhục mất đảo Trường Sa, Hoàng Sa - có thể đặt tên ngày lễ này là Ngày Biển Đông - để trả tự do cho tất cả các nhà hoạt động dân chủ khác, từ Điếu Cày tới Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, vân vân… Làm được như thế, là đã dựng lên được vô số cọc sắt Bạch Đằng trong lòng dân mình rồi. Có đâu mà để chịu nhục như ngày nay, mà tương lai sợ rồi sẽ cũng thành một Tây Tạng, Tân Cương.
Trần Khải
Nguồn: http://vietbao.com/?ppid=45&pid=2&nid=147142
Trần Khải
Trong khi nhà nước Hà Nội chơi trò xã hội đen với các nhà hoạt động dân chủ như Nguyễn Thanh Giang, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Trần Luật… thì các tàu lạ (có lẽ của Trung Quốc, chứ khó thể nào là tàu của Iran, hay Cuba) đang vào các vùng biển Việt Nam để chơi trò xã hội đen với ngư dân Việt. Và CSVN đang ra vẻ bó tay.
Bắt cóc ngư dân Việt đưa về đảo Hải Nam rồi đòi tiền phạt mới thả, đó là hành vi hải tặc. Tàu lạ đụng chìm tàu ngư dân Việt rồi bỏ chạy, đó cũng là hành vi hải tặc vì đã cướp đi phương tiện mưu sinh và cướp mất sự bình an trên biển. Tại sao nhà nước Hà Nội chưa đưa các hành vi hải tặc này ra trước Liên Hiệp Quốc khiếu kiện? Thêm nữa, tại sao Hà Nội chưa kêu gọi Khối ASEAN thành lập một đơn vị hải quân đặc nhiệm chống hải tặc? Và rộng hơn, tại sao Hà Nội chưa mời cả Mỹ và các nước Đông Á như Nhật, Nam Hàn đặt vấn đề chống hải tặc trên toàn vùng Thái Bình Dương?
Trên nguyên tắc, bạn đồng minh của Hà Nội tại Biển Đông vẫn nhiều hơn là bạn đồng minh của Bắc Kinh tại đây. Vậy thì tại sao lại sợ tên côn đồ này? Hay thực sự, tình hình nhịn nhục, chín bỏ làm mười, bỏ mặc ngư dân Việt cho hải tặc quốc doanh Trung Quốc là có chủ trương lớn của Đảng và nhà nước CSVN? Thử nhìn quanh xem: Indonesia, Nam Hàn, Nhật, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Singapore, Thái Lan, Cam Bốt… đều muốn đứng bên VN để kình TQ, vì thấy rõ là cũng sẽ cùng một số phận như VN thôi.
Mặt khác, lời gợi ý từ phía Mỹ có lẽ đã khá minh bạch. Rằng Mỹ muốn góp sức ổn định Biển Đông, nơi có tên kiểu Trung Quốc là South China Sea (Biển Nam Trung Quốc). Trong buổi điều trần hôm Thứ Tư 15-7-2009, Thượng Nghị Sĩ liên bang Hoa Kỳ Jim Webb (Đảng Dân Chủ, Virginia) đã nói rằng TQ không chỉ mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị, mà cũng mở rộng lãnh thổ nữa, và TQ hiện đại hóa quân sự còn nhằm tiếp trợ chiến dịch này. TNS Webb dịp này cũng kêu gọi Mỹ phải tăng sức mạnh hải quân Mỹ để ổn định Biển Đông, tuy rằng Mỹ trung lập trong việc tranh chấp ở các đảo Thái Bình Dương.
Câu hỏi nơi đây là, luật pháp nào có thể sử dụng để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nếu có?
Phụ Tá Thứ Trưởng Quốc Phòng, Robert Scher, cũng trình bày trong buổi điều trần này, lập lại rằng Mỹ hoạt động theo luật của Liên Hiệp Quốc, "Hoạt động quân sự của chúng ta trong vùng này là diễn ra đều đặn và phù hợp với luật quốc tế. Chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện các chiến dịch ở Biển Nam Trung Quốc, và hoạt động của Mỹ sẽ dựa vào quyền lợi chúng ta trong khu vực và mong muốn của chúng ta là giữ gìn an ninh và ổn định khắp phía Tây Thái Bình Dương."
Hãy nhớ rằng, Mỹ còn là một quốc gia Châu Á, vì có tiểu bang Hawaii ở nơi này. Đó cũng là lý do để Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Mỹ, nói rằng Hải Quân TQ đang thu hẹp nhanh chóng sức mạnh khoảng cách với sức mạnh Hải Quân Mỹ, và, "Nếu Mỹ vẫn là một quốc gia Châu Á và là một quốc gia có hải lực, các lãnh đạo Mỹ phải lưạ chọn. Mỹ nên duy trì sức mạnh và phẩm chất hải lực — nếu không phải là tăng cường."
Chưa hết, Richard Cronin, giám đốc Chương Trình Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson Center, nói trong buổi điều trần ở Thượng Viện hôm Thứ Tư rằng TT Barack Obama nên ngưng thái độ thụ động về vấn đề chủ quyền, "Chính phủ Obama nên bày tỏ ủng hộ các nước Đông Nam Á hiện đang bị hù dọa, và phải quyết tâm khẳng định quyền hạn chúng ta về việc giữ lưu thông hàng hải tự do bất kể khiêu khích từ Trung Quốc." Trong buổi điều trần này, Scot Marciel, nhà ngoại giao Mỹ đặc trách vùng Đông Nam Á, nói rằng TQ đã hù dọa các hãng dầu Mỹ và quốc tế là phải ngưng hợp tác khai thác dầu với VN ở Biển Đông, nếu không sẽ bị TQ trả thù về các hợp đồng khác ở TQ. Như thế, về nhiều phương diện, chúng ta thấy rằng quyền lợi Hoa Kỳ là sẽ không để cho TQ thao túng Biển Đông.
Vậy rồi Mỹ cố vấn cho các nước đang bị TQ bắt nạt ra sao? Scot Marciel nói rằng TQ muốn thương lượng riêng với từng nước trong khối ASEAN, "nhưng tôi nghĩ rằng ASEAN nên thương lượng với tư cách chung một khối."
Đó là lời gợi ý rất cụ thể, rằng Việt Nam đừng nên nghĩ rằng có thể thì thầm bên tai Bắc Kinh là xong chuyện.
Chúng ta vẫn còn nhớ rằng, mới tuần trước, Ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao CS Việt Nam, trong cuộc họp báo thường kỳ vào ngày thứ Năm ngày 9/7/2009, đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ’trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện’ cho 12 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và đòi họ trả tiền phạt.
Chuyện lúc đó là, những ngư dân này nằm trong số 37 ngư dân bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ hồi tháng trước vì đã vi phạm lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc áp đặt ở gần khu vực đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp.
Trung Quốc đã quyết định phạt những ngư dân này 31,000 đô la và đã thả 25 người trong số họ. Giới hữu trách Trung Quốc hiện vẫn tiếp tục giam giữ 12 ngư dân cho tới khi họ trả đủ tiền phạt.
Giới hữu trách Việt Nam từ chối trả khoản tiền phạt này và đã yêu cầu phía Trung Quốc trả tự do ngay lập tức cho các ngư dân còn bị giam giữ. Ông Lê Dũng nói rằng những ngư dân này bị bắt trong khi đang đánh bắt cá tại vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Thế là Trung Quốc trả lời ông Lê Dũng bằng một cú độc chiêu xã hội đen: một tàu lạ vào biển Quảng Ngãi hôm 15/7/2009, đụng chìm tàu ngư dân Việt.
Theo tin các báo Thanh Niên, Tiền Phong, thông tấn xã nhà nước TTXVN, vào khoảng 1 giờ 30 phút ngày 15/7, tại tọa độ 13 độ 45 phút độ vĩ bắc, 110 độ 32 phút độ kinh đông (vùng biển tỉnh Quảng Ngãi), tàu QNg 2203 có 9 ngư dân bị một tàu lạ đâm phải và chìm tại địa điểm trên. Cả 9 ngư dân đều bị thương, trong đó có 2 người bị thương rất nặng.
Bản tin báo Tiền Phong, TTXVN dẫn lời ông Đinh Văn Chác, Trưởng phòng Phối hợp tìm kiếm cứu nạn, Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Khu vực II (đóng tại Đà Nẵng) cho biết, thông tin trên được ông Huỳnh Thọ, chủ tàu QNg 2416, báo về lúc 9 giờ 41 phút ngày 15/7. Các ngư dân trên tàu QNg 2416 đã nỗ lực ứng cứu và đưa hết 9 ngư dân gặp nạn lên tàu.
Tại sao Bắc Kinh trả lời Hà Nội một cách vang dội như thế? Tại sao Hà Nội không kiện Bắc Kinh ra trước tòa quốc tế về các hành vi hải tặc? Tại sao không biến vùng Biển Đông thành vùng cần bảo vệ chống hải tặc, như hiện nay các tàu chiến quốc tế đang đi tuần ở vùng biển ngoài khơi Somalia? Hay là sợ đưa ra quốc tế, mà cứ ấp úng không dám chỉ đích danh Trung Quốc về tội xã hội đen Biển Đông?
Có nhiều cách đơn giản để nhà nước Hà Nội có thể dễ dàng đoàn kết toàn dân để tìm mưu kế gìn giữ Biển Đông. Trước tiên, và tận cùng, là phải xem chuyện bất đồng chính kiến là điều bình thường. Tuy là còn chế độ độc đảng, nhưng phải chấp nhận các ý kiến đối lập.
Hãy trả tự do luật sư Lê Công Định, và hỗ trợ luật sư Định thiết lập một hồ sơ kiện Trung Quốc về các hành vi xã hội đen Biển Đông, nhân danh quyền lợi các công ty dầu VN và quốc tế trước giờ bị hù dọa, và nhân danh ngư dân Việt cụ thể.
Thứ nhì, nhà nước hãy nhờ nhóm Bauxite Tây Nguyên (đại diện là giáo sư Nguyễn Huệ Chi và một số trí thức) gửi thư mời Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (và phu nhân, một luật sư Mỹ gốc Việt) tới thăm Hà Nội, tới thăm Tướng Võ Nguyên Giáp… để cảm ơn về cuộc điều trần tuyệt diệu trên Thượng Viện Mỹ hôm Thứ Tư, qua đó sẽ cho thấy nhà nước CSVN cũng một lòng với nhóm Bauxite Tây Nguyên, chứ không muốn đứng theo phe xã hội đen Biển Đông làm hại dân mình.
Và rồi, chọn một ngày làm ngày lễ để ghi nhớ cái nhục mất đảo Trường Sa, Hoàng Sa - có thể đặt tên ngày lễ này là Ngày Biển Đông - để trả tự do cho tất cả các nhà hoạt động dân chủ khác, từ Điếu Cày tới Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, vân vân… Làm được như thế, là đã dựng lên được vô số cọc sắt Bạch Đằng trong lòng dân mình rồi. Có đâu mà để chịu nhục như ngày nay, mà tương lai sợ rồi sẽ cũng thành một Tây Tạng, Tân Cương.
Trần Khải
Nguồn: http://vietbao.com/?ppid=45&pid=2&nid=147142
Gián Điệp Trung Cộng
Hiện đang có bao nhiêu gián điệp hoạt động cho Trung Quốc tại Việt Nam? Chúng ta không có thể biết chính xác là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không phải là ít. Thậm chí, có thể Bắc Kinh cũng đã gài được gián điệp vào các cấp chỉ huy cao cấp trong chính phủ Hà Nội. Không nói chuyện phim ảnh hay tiểu thuyết, cứ nói ngay như đời thực: đọc về người kỹ sư Boeing gửi hồ sơ mật kỹ thuật về cho Bắc Kinh thì biết,
hẳn là phải luồn sâu trèo cao, phải nằm ém quân để tìm biết là bao nhiêu cơ hội nhằm đưa bí mật khoa học về cho Bắc Kinh.
Báo The Christian Science Monitor hôm 18-7-2009 nêu thắc mắc là vì sao các cơ quan phản gián Mỹ phải mất quá nhiều thời gian mới bắt được Dongfan “Greg” Chung, người kỹ sư gửi bí mật khoa học về cho Trung Quốc, trong đó đã trộm được các hồ sơ mật về chương trình Con Thoi Không Gian (Space Shuttle) của NASA và bí mật phi đạn Delta IV.
Câu hỏi là vì sao lâu như thế? Và vì sao Mỹ biết là có nhiều điệp viên TQ trên đất Mỹ mà không bắt kịp hết?
Brett Kingstone, người đaị diện cho FBI và các công ty khế ước quốc phòng để thuyết trình toàn quốc ở Mỹ, nói rằng hiện đang có 3,500 gián điệp Trung Quốc tại Mỹ, mang nhãn hiệu ngụy trang làm sinh viên hay là mang visa H1B (giấy phép visa làm việc đặc biệt) chỉ để tìm việc làm trong ngành qúôc phòng Mỹ để sẽ trộm bí mật về cho chính phủ Trung Quốc.
Chỉ cần nhìn riêng về Chung thôi, là đủ thấy thiệt hại quá sức rồi. Huống gì, nếu TQ gài được vài trăm, hay vài ngàn gián điệp vào các vị trí nguy hiểm như thế.
Nhưng câu hỏi làm vì sao FBI cần tới 27 năm mới bắt được Chung? Thời gian đầu, Chung mang bí mật về nhà bằng cách kẹp hồ sơ vào xấp báo mang về nhà. Sau 27 năm, FBI mới lục lọi các thùng rác nhà Chung, và rồi mới lục soát toàn bộ khu nhà của Chung và nơi đó khám phá ra 250,000 trang hồ sơn, trong đó một số hồ sơ giấu trong một hốc dưới nhà, nơi phảỉ bò vào. Không phải phim ảnh, mà là đời thực. Thế mới lạ.
Hồ sơ Bộ Tư Pháp Mỹ viết rằng Chung đã gửi 24 cuốn cầm nang liên hệ tới phi cơ chiến đấu B-1 Bomber.. Rồi hồ sơ về chiếc đấu cơ từ F-15 cho tới B-52 cho tới trực thăng Chinook đều gửi về Bắc Kinh.
Có phảỉ vì FBI đã tôn trọng luật pháp Mỹ, và tìm chứng cớ hoài rất là vất vả? Scott Christie, cựu công tố liên bang, bây giờ laà việc cho công ty luật McCarter and English tại Newark, N.J., nói rằng chứng minh một ai đó là gián điệp nước ngoài thực là khó.
Thực ra, trường hợp của Greg Chung thì không khó gì. Lộ nguyên hình là khi một cán bộ Bộ Hàng Không TQ gửi thư cho Chung, yêu cầu tìm thông tin về các phi cơ và phi thuyền Con Thoi. Chính FBI đã tìm ra lá thư viết từ năm 1979 để giao công tác cho Chung phải tìm thông tin về các phi cơ dân sự và quân sự.
Trong một lá thư phúc đáp không đề ngày, Chung trả lời, “Tôi ước muốn cống hiến cho sự nghiệp Tứ Hiện Đại Hóa của Trung Quốc.”
Điều chúng ta thấy rằng, chắc chắn rằng Trung Quốc đã có nhiều gián điệp tại Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Không, chúng ta không muốn nhắc chuyện Trọng Thuỷ, Mỵ Châu. Chuyện xưa rồi. Thêm nữa, đó là lịch sử không sửa đổi được. Và thực ra, có bàn tới thì cũng trở thành bàn chuyện văn học, giảm quá nhiều tính chính trị.
Không, chúng ta cũng không bàn chuyện ông Hồ Chí Minh là một người Khách Gia mạo danh từ Trung Quốc sang Việt Nam hoạt động, theo một cuốn sách của một nhà văn nêu ra. Chuyện này không có nguồn nào khác để kiểm chứng, và có bàn cũng vô ích.
Không, chúng ta cũng không muốn nhắc nơi đây bản công hàm của ông Phạm Văn Đồng về lãnh hải. Cũng không muốn nhắc về thái độ chính phủ Hà Nội khi hải quân Trung Quốc tiến chiếm Đảỏ Hoàng Sa, lúc đó do quân lực chính phủ Sài Gòn trấn đóng. Chuyện cũng lỡ rồi. Bàn cũng không cứu vãn được.
Điều chúng ta muốn bàn là về tháí độ chính phủ Hà Nội hiện nay: những chính sách ưu đãi Trung Quốc quá lộ liễu, và cách xử thế quá nhu nhược với Trung Quốc.
Thí dụ, các hợp đồng ưu đãi các công ty khai thác mỏ Trung Quốc tại Quảng Ninh, và nội bật đáng lo ngại là các hãng khai thác mỏ beauxite Tây Nguyên -- điều được nhiều trí thức và Tướng Võ Nguyên Giáp báo nguy về an ninh qúôc phòng. Nhưng rồi mọi chuyện cũng êm xuôi, sau khóa họp quốc hội để gọi là bàn cho có, nhưng không thực là cặn kẽ tới đâu.
Điều chúng ta muốn bàn còn là chuyện các tàu lạ tấn công ngư dân Việt, thậm chí còn bắt cóc về đảỏ Hải Nam đòi tiền chuộc mới thả. Điều mà ai cũng biết rằng các tàù lạ này không có gì là lạ: đó là các tàù của người nhái Hải Quân Trung Quốc, đang dạy bài học cho đàn em Hà Nội.
Chúng ta vẫn im lặng? Có phải có gián điệp Trung Quốc đã mua chuộc, hay khống chế các ban biên tập báo chí trong nứơc, hay thực sự là gián điệp TQ đã khống chế Bộ Thông Tin Văn Hóa CSVN?
Vậy rồi, chúng ta vẫn chưa làm thủ tục khiếu kiện lên Liên Hiệp Quốc? Có phải gián điệp TQ đã khống chế Bộ Ngoại Giao CSVN?
Và trong tận cùng, câu hỏi là có bao nhiêu gián điệp Trung Quốc đang ngồi trong Chính Trị Bộ CSVN? Tất nhiên, không ai tin là trên đất nứơc Việt Nam hiện nay, sẽ không có một Greg Chung tương tự nào.
Trần Khải
Hiện đang có bao nhiêu gián điệp hoạt động cho Trung Quốc tại Việt Nam? Chúng ta không có thể biết chính xác là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không phải là ít. Thậm chí, có thể Bắc Kinh cũng đã gài được gián điệp vào các cấp chỉ huy cao cấp trong chính phủ Hà Nội. Không nói chuyện phim ảnh hay tiểu thuyết, cứ nói ngay như đời thực: đọc về người kỹ sư Boeing gửi hồ sơ mật kỹ thuật về cho Bắc Kinh thì biết,
hẳn là phải luồn sâu trèo cao, phải nằm ém quân để tìm biết là bao nhiêu cơ hội nhằm đưa bí mật khoa học về cho Bắc Kinh.
Báo The Christian Science Monitor hôm 18-7-2009 nêu thắc mắc là vì sao các cơ quan phản gián Mỹ phải mất quá nhiều thời gian mới bắt được Dongfan “Greg” Chung, người kỹ sư gửi bí mật khoa học về cho Trung Quốc, trong đó đã trộm được các hồ sơ mật về chương trình Con Thoi Không Gian (Space Shuttle) của NASA và bí mật phi đạn Delta IV.
Câu hỏi là vì sao lâu như thế? Và vì sao Mỹ biết là có nhiều điệp viên TQ trên đất Mỹ mà không bắt kịp hết?
Brett Kingstone, người đaị diện cho FBI và các công ty khế ước quốc phòng để thuyết trình toàn quốc ở Mỹ, nói rằng hiện đang có 3,500 gián điệp Trung Quốc tại Mỹ, mang nhãn hiệu ngụy trang làm sinh viên hay là mang visa H1B (giấy phép visa làm việc đặc biệt) chỉ để tìm việc làm trong ngành qúôc phòng Mỹ để sẽ trộm bí mật về cho chính phủ Trung Quốc.
Chỉ cần nhìn riêng về Chung thôi, là đủ thấy thiệt hại quá sức rồi. Huống gì, nếu TQ gài được vài trăm, hay vài ngàn gián điệp vào các vị trí nguy hiểm như thế.
Nhưng câu hỏi làm vì sao FBI cần tới 27 năm mới bắt được Chung? Thời gian đầu, Chung mang bí mật về nhà bằng cách kẹp hồ sơ vào xấp báo mang về nhà. Sau 27 năm, FBI mới lục lọi các thùng rác nhà Chung, và rồi mới lục soát toàn bộ khu nhà của Chung và nơi đó khám phá ra 250,000 trang hồ sơn, trong đó một số hồ sơ giấu trong một hốc dưới nhà, nơi phảỉ bò vào. Không phải phim ảnh, mà là đời thực. Thế mới lạ.
Hồ sơ Bộ Tư Pháp Mỹ viết rằng Chung đã gửi 24 cuốn cầm nang liên hệ tới phi cơ chiến đấu B-1 Bomber.. Rồi hồ sơ về chiếc đấu cơ từ F-15 cho tới B-52 cho tới trực thăng Chinook đều gửi về Bắc Kinh.
Có phảỉ vì FBI đã tôn trọng luật pháp Mỹ, và tìm chứng cớ hoài rất là vất vả? Scott Christie, cựu công tố liên bang, bây giờ laà việc cho công ty luật McCarter and English tại Newark, N.J., nói rằng chứng minh một ai đó là gián điệp nước ngoài thực là khó.
Thực ra, trường hợp của Greg Chung thì không khó gì. Lộ nguyên hình là khi một cán bộ Bộ Hàng Không TQ gửi thư cho Chung, yêu cầu tìm thông tin về các phi cơ và phi thuyền Con Thoi. Chính FBI đã tìm ra lá thư viết từ năm 1979 để giao công tác cho Chung phải tìm thông tin về các phi cơ dân sự và quân sự.
Trong một lá thư phúc đáp không đề ngày, Chung trả lời, “Tôi ước muốn cống hiến cho sự nghiệp Tứ Hiện Đại Hóa của Trung Quốc.”
Điều chúng ta thấy rằng, chắc chắn rằng Trung Quốc đã có nhiều gián điệp tại Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Không, chúng ta không muốn nhắc chuyện Trọng Thuỷ, Mỵ Châu. Chuyện xưa rồi. Thêm nữa, đó là lịch sử không sửa đổi được. Và thực ra, có bàn tới thì cũng trở thành bàn chuyện văn học, giảm quá nhiều tính chính trị.
Không, chúng ta cũng không bàn chuyện ông Hồ Chí Minh là một người Khách Gia mạo danh từ Trung Quốc sang Việt Nam hoạt động, theo một cuốn sách của một nhà văn nêu ra. Chuyện này không có nguồn nào khác để kiểm chứng, và có bàn cũng vô ích.
Không, chúng ta cũng không muốn nhắc nơi đây bản công hàm của ông Phạm Văn Đồng về lãnh hải. Cũng không muốn nhắc về thái độ chính phủ Hà Nội khi hải quân Trung Quốc tiến chiếm Đảỏ Hoàng Sa, lúc đó do quân lực chính phủ Sài Gòn trấn đóng. Chuyện cũng lỡ rồi. Bàn cũng không cứu vãn được.
Điều chúng ta muốn bàn là về tháí độ chính phủ Hà Nội hiện nay: những chính sách ưu đãi Trung Quốc quá lộ liễu, và cách xử thế quá nhu nhược với Trung Quốc.
Thí dụ, các hợp đồng ưu đãi các công ty khai thác mỏ Trung Quốc tại Quảng Ninh, và nội bật đáng lo ngại là các hãng khai thác mỏ beauxite Tây Nguyên -- điều được nhiều trí thức và Tướng Võ Nguyên Giáp báo nguy về an ninh qúôc phòng. Nhưng rồi mọi chuyện cũng êm xuôi, sau khóa họp quốc hội để gọi là bàn cho có, nhưng không thực là cặn kẽ tới đâu.
Điều chúng ta muốn bàn còn là chuyện các tàu lạ tấn công ngư dân Việt, thậm chí còn bắt cóc về đảỏ Hải Nam đòi tiền chuộc mới thả. Điều mà ai cũng biết rằng các tàù lạ này không có gì là lạ: đó là các tàù của người nhái Hải Quân Trung Quốc, đang dạy bài học cho đàn em Hà Nội.
Chúng ta vẫn im lặng? Có phải có gián điệp Trung Quốc đã mua chuộc, hay khống chế các ban biên tập báo chí trong nứơc, hay thực sự là gián điệp TQ đã khống chế Bộ Thông Tin Văn Hóa CSVN?
Vậy rồi, chúng ta vẫn chưa làm thủ tục khiếu kiện lên Liên Hiệp Quốc? Có phải gián điệp TQ đã khống chế Bộ Ngoại Giao CSVN?
Và trong tận cùng, câu hỏi là có bao nhiêu gián điệp Trung Quốc đang ngồi trong Chính Trị Bộ CSVN? Tất nhiên, không ai tin là trên đất nứơc Việt Nam hiện nay, sẽ không có một Greg Chung tương tự nào.
Trần Khải
Obama nhập trận cải tổ y tếThursday, July 23, 2009
Ngô Nhân Dụng Tổng Thống Barack Obama đã thua một keo đầu trong dự án cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế của ông. Tuần trước, ông đã lên tiếng thúc giục mỗi viện Quốc Hội thông qua một dự luật cải tổ trước khi các đại biểu đi nghỉ Hè vào Tháng Tám. Vì sợ để sau chuyến nghỉ Hè thì quyết tâm cải tổ của họ sẽ giảm bớt đi. Hôm qua, Nghị Sĩ Harry Reid, trưởng khối Dân Chủ đa số, tuyên bố Thượng Viện không sẵn sàng bàn vấn đề này trong Tháng Tám, vì cần thêm thời gian tìm cách thỏa hiệp giữa những dự luật của hai ủy ban. Và Tổng Thống Obama đã lùi một bước, chấp nhận một kỳ hạn mới vào mùa Thu năm 2009.
Từ nay tới ngày Quốc Hội tái nhóm sau khi nghỉ Hè, ông Obama sẽ phải thay đổi chiến thuật để đích thân vận động cho dự án cải tổ bảo hiểm y tế nhiều hơn trước. Trong 5 tháng qua ông cố ý né không trực tiếp can thiệp vào công việc của các nghị sĩ và dân biểu hai đảng khi họ đưa ra những sáng kiến thay đổi hệ thống bảo hiểm y tế. Ông chỉ vận động bằng cách gặp gỡ với các nhóm có quyền lợi liên hệ tới vấn đề này, như các công ty bảo hiểm, bệnh viện, bác sĩ và các công ty sản xuất thuốc. Công việc đó tương đối nhẹ nhàng vì tất cả mọi người đều đồng ý hệ thống bảo hiểm y tế nước Mỹ không thể kéo dài như hiện nay được. Một cuộc nghiên cứu dư luận của Gallup cho nhật báo USA Today gần đây mới cho biết 56% dân Mỹ muốn thay đổi lớn trong hệ thống y tế, chỉ có một phần tư coi đó là chuyện không quan trọng. Cũng trong cuộc nghiên cứu này, một phần ba những người được phỏng vấn tin Tổng Thống Obama và Ðảng Dân Chủ có khả năng làm việc cải tổ cần thiết này; trong khi chỉ có 10% chọn Ðảng Cộng Hòa.
Nhưng một ý kiến chung về nhu cầu cải tổ chưa đủ, vì khi cải tổ thế nào cũng có nhiều người bị mất những quyền lợi họ đang hưởng, và ai cũng muốn họ bị thiệt ít, để cho người khác thiệt nhiều. Các đại biểu Quốc Hội soạn thảo các dự luật ở mỗi viện đã được nghe rất nhiều ý kiến của các nhóm quyền lợi khác nhau. Các bác sĩ không muốn giảm tiền thù lao, các bệnh viện muốn tự do quyết định những phương pháp trị liệu dù tốn nhiều hay ít tiền, và đặc biệt là các công ty bảo hiểm muốn bảo vệ lợi nhuận của họ. Cho nên bất cứ dự luật nào cũng có một số đông người phản đối; mà hiện ở Hạ Viện có những dự án của 3 ủy ban, tại Thượng Viện 2 dự án của 2 ủy ban.
Muốn thỏa hiệp được giữa các dự án trong một viện đã khó, sau này khi mỗi viện thông qua một dự luật rồi, việc thỏa hiệp giữa hai viện sẽ còn rắc rối. Các đại biểu Cộng Hòa trong Quốc Hội chống lại Tòa Bạch Ốc đã đành, ngay trong số các đại biểu Ðảng Dân Chủ cũng có nhiều người không đồng ý với giới lãnh đạo trong đảng họ. Bà chủ tịch Hạ Viện đã nói các đại biểu Dân Chủ có thể thông qua một dự luật vì họ chiếm đa số áp đảo. Nhưng nhiều nghị sĩ Dân Chủ trong Thượng Viện vẫn muốn tìm cách thỏa thuận với một số đồng viện Cộng Hòa để cuộc cải tổ mang mầu sắc đoàn kết lưỡng đảng. Vì thế, cuộc thảo luận bị trì hoãn ngay trong các ủy ban Quốc Hội. Ông Obama lo ngại nếu tình trạng này kéo dài, sẽ có lúc ngay cả ý muốn cải tổ cũng nguội lạnh!
Nghị Sĩ Jim De Mint Ðảng Cộng Hòa đã hô hào phải biến dự án cải tổ y tế thành “Trận Waterloo” của chính quyền Obama - Waterloo là trận đại bại của Napoleon năm 1815, chấm dứt sự nghiệp của vị hoàng đế Pháp. Nếu chính phủ Obama thất bại không đạt được một đạo luật cải tổ y tế trong năm nay thì trong cuộc bầu cử năm 2010 Ðảng Cộng Hòa có hy vọng thừa thắng xông lên chiếm lại được nhiều ghế ở Quốc Hội.
Nhưng cả hai đảng chính trị, cũng như những nhóm quyền lợi trực tiếp liên can đến hệ thống y tế đều thấy không cải tổ không được. Vì hệ thống hiện nay quá tốn kém không thể tiếp tục được. Mà ai cũng nhìn thấy nhiều điểm có thể thay đổi.
Một mục tiêu quan trọng của việc cải tổ là giảm bớt chi tiêu về y tế cho toàn dân Mỹ, vì hệ thống hiện nay phí phạm rất nhiều. Nước Mỹ đang chi mỗi năm khoảng 2,000 tỷ đô la về y tế, chiếm 16% tổng sản lượng nội địa. Nếu không thay đổi gì hết thì trong vòng 10 năm nữa số chi phí sẽ tăng gấp đôi.
Tại sao lại tốn kém như vậy? Hệ thống quản trị phức tạp cho nên tốn kém. Hai là phương pháp trả tiền cho dịch vụ y tế không đúng.
Xin kể một kinh nghiệm. Một người bạn tôi bị bệnh kinh niên, cứ lâu lâu bà vợ anh lại phải gọi xe đưa vào nhà thương cấp cứu. Anh đã ra vào bệnh viện đó năm này sang năm khác trong hơn 10 năm. Bà vợ than rằng mỗi lần vào phòng cấp cứu (ER) thì chị lại phải ngồi cho một cô thư ký phỏng vấn, kê khai lý lịch bệnh tình của ông chồng! Nếu có một triệu chứng nào khiến bác sĩ phải đưa anh ta sang một bệnh viện khác chẩn bệnh lại thì công việc hành chánh trên lại được lập lại từ đầu lần nữa. Mà một lần vào phòng ER là tiền trả bác sĩ, trả bệnh viện và tiền thuốc men, trị liệu đều tốn hơn bình thường. Có khi anh bạn tôi được chữa trị ngay rồi về nhà ngay trong ngày hoặc ngày hôm sau, để một tháng sau lại đi cấp cứu lần nữa! Nếu được thăm bệnh thường xuyên và được chỉ dẫn các phương pháp phòng ngừa để tránh trường hợp cần cấp cứu, thì chắc chắn các chi phí sẽ được giảm xuống vì bớt sử dụng phòng ER hơn!
Trong một thí dụ này ta thấy cách tổ chức của cả hệ thống tiêu tốn quá nhiều về hành chánh có thể tránh được. Nếu có một hệ thống tập trung dữ kiện về từng bệnh nhân, mỗi người có một hồ sơ để tất cả các bác sĩ và bệnh viện khi được bệnh nhân cho phép đều có thể vào coi, thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền và thời giờ. Nhưng tại sao các bệnh viện không thay đổi?
Bệnh viện không có động cơ kinh tế tự nhiên để cải thiện việc quản trị vì nó không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Họ tính tiền dịch vụ chữa trị cho các công ty bảo hiểm hay chính phủ trả; nếu chi phí quản trị cao hơn thì họ có quyền tính giá dịch vụ cao hơn. Người trả tiền là hãng bảo hiểm và chính phủ không có quyền can thiệp bắt bệnh viện thay đổi lề lối quản trị hành chánh.
Guồng máy tổ chức của hệ thống bảo hiểm tư ở Mỹ chi tiêu về hành chánh và tiếp thị tốn gần gấp mười lần hệ thống bảo hiểm công cộng ở một nước tiền tiến khác. Các công ty bảo hiểm tư ở Mỹ chi mất gần 12% ngân sách vào các việc không có tác dụng chữa trị, trong khi hệ thống y tế công ở Canada chỉ tiêu 1.3%.
Ðến phương cách trả tiền cho dịch vụ y tế cũng bất chấp quy tắc kinh tế, khiến không ai lo tiết giảm chi phí. Trong trường hợp anh bạn tôi, chúng ta tự hỏi tại sao mọi người cứ để tình trạng gọi xe cấp cứu tiếp tục mãi như vậy, trong khi ai cũng biết mỗi lần vào phòng ER thế nào cũng tốn tiền hơn bình thường? Vì cả ba giới liên hệ (bệnh nhân, bác sĩ và bệnh viện) không phải là những người trả tiền túi của mình. Cho nên không ai lo vấn đề chi tiêu tốn hơn! Các bác sĩ và bệnh viện lại được trả thêm khi chữa trị khẩn cấp cho một bệnh nhân, còn khi trị liệu và phòng ngừa thường xuyên để giảm bớt cảnh cấp cứu thì họ được trả ít hơn! Họ không cố ý gây ra cảnh bệnh nhân phải cấp cứu nhiều lần, nhưng họ không có động cơ tự nhiên nào để lo tiết kiệm tiền cho hãng bảo hiểm. Còn hãng bảo hiểm phải trả thêm tiền khi bệnh nhân được cấp cứu, nhưng họ sẽ tăng giá bảo hiểm của mọi người khác để bù vào! Tóm lại, cả hệ thống không có động cơ tự nhiên khiến mọi người muốn giảm bớt chi phí.
Cho nên trong hệ thống y tế Mỹ có nhiều bệnh nhân được “điều trị nhiều quá,” tức là đi làm những giảo nghiệm không cần thiết lắm hoặc theo các phương pháp điều trị rất đắt tiền dù có phương pháp khác rẻ hơn. Một trường hợp nổi tiếng là chuyện bà ngoại của Tổng Thống Obama được bác sĩ đề nghị mổ để chỉnh lại xương hông, mặc dù bà đã bị ung thư và biết trước không thể sống thêm được một năm.
Ai cũng thấy phải thay đổi để giảm bớt chi phí. Cần làm sao để mỗi đồng tiền chi ra về dịch vụ y tế mang lại lợi ích cao nhất. Bác Sĩ James Rohak, chủ tịch Hiệp Hội Y Tế Hoa Kỳ (American Medical Association) nói, “Không thể chấp nhận giữ nguyên tình trạng hiện nay.” Ông đã công bố một băng video ủng hộ dự luật cải tổ y tế của Hạ Viện trên web site của hội.
Nhu cầu cải tổ ngoài lý do tiết kiệm còn nhắm vào mục tiêu quan trọng thứ hai: Giảm bớt, nếu không xóa bỏ hẳn cảnh 46 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế. Con số này lớn hơn sự thật vì trong đó có những di dân bất hợp pháp và những người tự họ không lấy bảo hiểm. Nhiều người trẻ tuổi quyết định không mua bảo hiểm vì nghĩ mình khỏe mạnh. Mà khi số người ít bệnh đứng ra ngoài, chỉ những người bệnh hoạn mới mua bảo hiểm thì giá bảo hiểm cho mỗi người phải tăng lên. Cũng có những người đủ điều kiện hưởng Medicaid, Medical mà không làm thủ tục để hưởng. Nhưng dù loại bỏ những người “tự nguyện” đó thì cũng còn đến 40 triệu người không có cải tổ y tế, lớn bằng dân số Tây Ban Nha và lớn hơn Ba Lan hoặc Canada! Trong thời gian kinh tế khủng hoảng hiện nay mỗi ngày có thêm 14,000 người mất bảo hiểm y tế vì mất việc. Trong hệ thống hiện nay các công ty bảo hiểm có quyền từ chối họ nếu biết họ đã bị bệnh chữa tốn kém. Ðó cũng là một vấn đề mà bất cứ dự luật cải tổ nào cũng phải giải quyết. Không lẽ tất cả mọi người mua bảo hiểm y tế rồi lại phải mua thêm một bảo hiểm khác đề phòng trường hợp mình mất việc và mất luôn bảo hiểm y tế! Như vậy thì nước này do các hãng bảo hiểm làm chủ!
Nhưng khi những người không có bảo hiểm bị tai nạn hoặc phát bệnh nặng, họ vẫn vào phòng cấp cứu để chữa trị gấp. Ai trả tiền cho họ? Cuối cùng, chính những người đang có bảo hiểm và người dân đóng thuế phải chịu. Ðó là một lý do khác khiến chi phí y tế của người Mỹ quá lớn. Nếu có bảo hiểm, những người đó sẽ được khám bệnh thường xuyên hơn, ngăn ngừa được bệnh tật sớm hơn, và khi cần chữa trị sẽ đỡ tốn kém hơn. Tổ chức Families USA đã tính ra rằng vì chi tiêu chữa trị cho những người không bảo hiểm mà những người khác mỗi gia đình phải đóng thêm 1,000 đô la mỗi năm! Giảm bớt số người không bảo hiểm là giảm bớt chi tiêu chung cho cả hệ thống y tế.
Trên đây là hai vấn đề nặng nhất phải giải quyết khi cải tổ y tế ở Mỹ. Ai cũng đồng ý phải thay đổi. Nếu các đại biểu Quốc Hội Mỹ không làm xong việc này trong năm nay thì có thể sẽ phải chờ 10 năm, 20 năm nữa mới thay đổi được. Vì vậy ông Obama phải đích thân nhập trận, trực tiếp vận động cho kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế trong mấy tháng tới. Nếu không thì không những Ðảng Dân Chủ sẽ xuống dốc trong cuộc bầu cử sang năm mà cả nhiệm kỳ tổng thống của ông cũng sẽ lu mờ.
Ngô Nhân Dụng Tổng Thống Barack Obama đã thua một keo đầu trong dự án cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế của ông. Tuần trước, ông đã lên tiếng thúc giục mỗi viện Quốc Hội thông qua một dự luật cải tổ trước khi các đại biểu đi nghỉ Hè vào Tháng Tám. Vì sợ để sau chuyến nghỉ Hè thì quyết tâm cải tổ của họ sẽ giảm bớt đi. Hôm qua, Nghị Sĩ Harry Reid, trưởng khối Dân Chủ đa số, tuyên bố Thượng Viện không sẵn sàng bàn vấn đề này trong Tháng Tám, vì cần thêm thời gian tìm cách thỏa hiệp giữa những dự luật của hai ủy ban. Và Tổng Thống Obama đã lùi một bước, chấp nhận một kỳ hạn mới vào mùa Thu năm 2009.
Từ nay tới ngày Quốc Hội tái nhóm sau khi nghỉ Hè, ông Obama sẽ phải thay đổi chiến thuật để đích thân vận động cho dự án cải tổ bảo hiểm y tế nhiều hơn trước. Trong 5 tháng qua ông cố ý né không trực tiếp can thiệp vào công việc của các nghị sĩ và dân biểu hai đảng khi họ đưa ra những sáng kiến thay đổi hệ thống bảo hiểm y tế. Ông chỉ vận động bằng cách gặp gỡ với các nhóm có quyền lợi liên hệ tới vấn đề này, như các công ty bảo hiểm, bệnh viện, bác sĩ và các công ty sản xuất thuốc. Công việc đó tương đối nhẹ nhàng vì tất cả mọi người đều đồng ý hệ thống bảo hiểm y tế nước Mỹ không thể kéo dài như hiện nay được. Một cuộc nghiên cứu dư luận của Gallup cho nhật báo USA Today gần đây mới cho biết 56% dân Mỹ muốn thay đổi lớn trong hệ thống y tế, chỉ có một phần tư coi đó là chuyện không quan trọng. Cũng trong cuộc nghiên cứu này, một phần ba những người được phỏng vấn tin Tổng Thống Obama và Ðảng Dân Chủ có khả năng làm việc cải tổ cần thiết này; trong khi chỉ có 10% chọn Ðảng Cộng Hòa.
Nhưng một ý kiến chung về nhu cầu cải tổ chưa đủ, vì khi cải tổ thế nào cũng có nhiều người bị mất những quyền lợi họ đang hưởng, và ai cũng muốn họ bị thiệt ít, để cho người khác thiệt nhiều. Các đại biểu Quốc Hội soạn thảo các dự luật ở mỗi viện đã được nghe rất nhiều ý kiến của các nhóm quyền lợi khác nhau. Các bác sĩ không muốn giảm tiền thù lao, các bệnh viện muốn tự do quyết định những phương pháp trị liệu dù tốn nhiều hay ít tiền, và đặc biệt là các công ty bảo hiểm muốn bảo vệ lợi nhuận của họ. Cho nên bất cứ dự luật nào cũng có một số đông người phản đối; mà hiện ở Hạ Viện có những dự án của 3 ủy ban, tại Thượng Viện 2 dự án của 2 ủy ban.
Muốn thỏa hiệp được giữa các dự án trong một viện đã khó, sau này khi mỗi viện thông qua một dự luật rồi, việc thỏa hiệp giữa hai viện sẽ còn rắc rối. Các đại biểu Cộng Hòa trong Quốc Hội chống lại Tòa Bạch Ốc đã đành, ngay trong số các đại biểu Ðảng Dân Chủ cũng có nhiều người không đồng ý với giới lãnh đạo trong đảng họ. Bà chủ tịch Hạ Viện đã nói các đại biểu Dân Chủ có thể thông qua một dự luật vì họ chiếm đa số áp đảo. Nhưng nhiều nghị sĩ Dân Chủ trong Thượng Viện vẫn muốn tìm cách thỏa thuận với một số đồng viện Cộng Hòa để cuộc cải tổ mang mầu sắc đoàn kết lưỡng đảng. Vì thế, cuộc thảo luận bị trì hoãn ngay trong các ủy ban Quốc Hội. Ông Obama lo ngại nếu tình trạng này kéo dài, sẽ có lúc ngay cả ý muốn cải tổ cũng nguội lạnh!
Nghị Sĩ Jim De Mint Ðảng Cộng Hòa đã hô hào phải biến dự án cải tổ y tế thành “Trận Waterloo” của chính quyền Obama - Waterloo là trận đại bại của Napoleon năm 1815, chấm dứt sự nghiệp của vị hoàng đế Pháp. Nếu chính phủ Obama thất bại không đạt được một đạo luật cải tổ y tế trong năm nay thì trong cuộc bầu cử năm 2010 Ðảng Cộng Hòa có hy vọng thừa thắng xông lên chiếm lại được nhiều ghế ở Quốc Hội.
Nhưng cả hai đảng chính trị, cũng như những nhóm quyền lợi trực tiếp liên can đến hệ thống y tế đều thấy không cải tổ không được. Vì hệ thống hiện nay quá tốn kém không thể tiếp tục được. Mà ai cũng nhìn thấy nhiều điểm có thể thay đổi.
Một mục tiêu quan trọng của việc cải tổ là giảm bớt chi tiêu về y tế cho toàn dân Mỹ, vì hệ thống hiện nay phí phạm rất nhiều. Nước Mỹ đang chi mỗi năm khoảng 2,000 tỷ đô la về y tế, chiếm 16% tổng sản lượng nội địa. Nếu không thay đổi gì hết thì trong vòng 10 năm nữa số chi phí sẽ tăng gấp đôi.
Tại sao lại tốn kém như vậy? Hệ thống quản trị phức tạp cho nên tốn kém. Hai là phương pháp trả tiền cho dịch vụ y tế không đúng.
Xin kể một kinh nghiệm. Một người bạn tôi bị bệnh kinh niên, cứ lâu lâu bà vợ anh lại phải gọi xe đưa vào nhà thương cấp cứu. Anh đã ra vào bệnh viện đó năm này sang năm khác trong hơn 10 năm. Bà vợ than rằng mỗi lần vào phòng cấp cứu (ER) thì chị lại phải ngồi cho một cô thư ký phỏng vấn, kê khai lý lịch bệnh tình của ông chồng! Nếu có một triệu chứng nào khiến bác sĩ phải đưa anh ta sang một bệnh viện khác chẩn bệnh lại thì công việc hành chánh trên lại được lập lại từ đầu lần nữa. Mà một lần vào phòng ER là tiền trả bác sĩ, trả bệnh viện và tiền thuốc men, trị liệu đều tốn hơn bình thường. Có khi anh bạn tôi được chữa trị ngay rồi về nhà ngay trong ngày hoặc ngày hôm sau, để một tháng sau lại đi cấp cứu lần nữa! Nếu được thăm bệnh thường xuyên và được chỉ dẫn các phương pháp phòng ngừa để tránh trường hợp cần cấp cứu, thì chắc chắn các chi phí sẽ được giảm xuống vì bớt sử dụng phòng ER hơn!
Trong một thí dụ này ta thấy cách tổ chức của cả hệ thống tiêu tốn quá nhiều về hành chánh có thể tránh được. Nếu có một hệ thống tập trung dữ kiện về từng bệnh nhân, mỗi người có một hồ sơ để tất cả các bác sĩ và bệnh viện khi được bệnh nhân cho phép đều có thể vào coi, thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền và thời giờ. Nhưng tại sao các bệnh viện không thay đổi?
Bệnh viện không có động cơ kinh tế tự nhiên để cải thiện việc quản trị vì nó không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Họ tính tiền dịch vụ chữa trị cho các công ty bảo hiểm hay chính phủ trả; nếu chi phí quản trị cao hơn thì họ có quyền tính giá dịch vụ cao hơn. Người trả tiền là hãng bảo hiểm và chính phủ không có quyền can thiệp bắt bệnh viện thay đổi lề lối quản trị hành chánh.
Guồng máy tổ chức của hệ thống bảo hiểm tư ở Mỹ chi tiêu về hành chánh và tiếp thị tốn gần gấp mười lần hệ thống bảo hiểm công cộng ở một nước tiền tiến khác. Các công ty bảo hiểm tư ở Mỹ chi mất gần 12% ngân sách vào các việc không có tác dụng chữa trị, trong khi hệ thống y tế công ở Canada chỉ tiêu 1.3%.
Ðến phương cách trả tiền cho dịch vụ y tế cũng bất chấp quy tắc kinh tế, khiến không ai lo tiết giảm chi phí. Trong trường hợp anh bạn tôi, chúng ta tự hỏi tại sao mọi người cứ để tình trạng gọi xe cấp cứu tiếp tục mãi như vậy, trong khi ai cũng biết mỗi lần vào phòng ER thế nào cũng tốn tiền hơn bình thường? Vì cả ba giới liên hệ (bệnh nhân, bác sĩ và bệnh viện) không phải là những người trả tiền túi của mình. Cho nên không ai lo vấn đề chi tiêu tốn hơn! Các bác sĩ và bệnh viện lại được trả thêm khi chữa trị khẩn cấp cho một bệnh nhân, còn khi trị liệu và phòng ngừa thường xuyên để giảm bớt cảnh cấp cứu thì họ được trả ít hơn! Họ không cố ý gây ra cảnh bệnh nhân phải cấp cứu nhiều lần, nhưng họ không có động cơ tự nhiên nào để lo tiết kiệm tiền cho hãng bảo hiểm. Còn hãng bảo hiểm phải trả thêm tiền khi bệnh nhân được cấp cứu, nhưng họ sẽ tăng giá bảo hiểm của mọi người khác để bù vào! Tóm lại, cả hệ thống không có động cơ tự nhiên khiến mọi người muốn giảm bớt chi phí.
Cho nên trong hệ thống y tế Mỹ có nhiều bệnh nhân được “điều trị nhiều quá,” tức là đi làm những giảo nghiệm không cần thiết lắm hoặc theo các phương pháp điều trị rất đắt tiền dù có phương pháp khác rẻ hơn. Một trường hợp nổi tiếng là chuyện bà ngoại của Tổng Thống Obama được bác sĩ đề nghị mổ để chỉnh lại xương hông, mặc dù bà đã bị ung thư và biết trước không thể sống thêm được một năm.
Ai cũng thấy phải thay đổi để giảm bớt chi phí. Cần làm sao để mỗi đồng tiền chi ra về dịch vụ y tế mang lại lợi ích cao nhất. Bác Sĩ James Rohak, chủ tịch Hiệp Hội Y Tế Hoa Kỳ (American Medical Association) nói, “Không thể chấp nhận giữ nguyên tình trạng hiện nay.” Ông đã công bố một băng video ủng hộ dự luật cải tổ y tế của Hạ Viện trên web site của hội.
Nhu cầu cải tổ ngoài lý do tiết kiệm còn nhắm vào mục tiêu quan trọng thứ hai: Giảm bớt, nếu không xóa bỏ hẳn cảnh 46 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế. Con số này lớn hơn sự thật vì trong đó có những di dân bất hợp pháp và những người tự họ không lấy bảo hiểm. Nhiều người trẻ tuổi quyết định không mua bảo hiểm vì nghĩ mình khỏe mạnh. Mà khi số người ít bệnh đứng ra ngoài, chỉ những người bệnh hoạn mới mua bảo hiểm thì giá bảo hiểm cho mỗi người phải tăng lên. Cũng có những người đủ điều kiện hưởng Medicaid, Medical mà không làm thủ tục để hưởng. Nhưng dù loại bỏ những người “tự nguyện” đó thì cũng còn đến 40 triệu người không có cải tổ y tế, lớn bằng dân số Tây Ban Nha và lớn hơn Ba Lan hoặc Canada! Trong thời gian kinh tế khủng hoảng hiện nay mỗi ngày có thêm 14,000 người mất bảo hiểm y tế vì mất việc. Trong hệ thống hiện nay các công ty bảo hiểm có quyền từ chối họ nếu biết họ đã bị bệnh chữa tốn kém. Ðó cũng là một vấn đề mà bất cứ dự luật cải tổ nào cũng phải giải quyết. Không lẽ tất cả mọi người mua bảo hiểm y tế rồi lại phải mua thêm một bảo hiểm khác đề phòng trường hợp mình mất việc và mất luôn bảo hiểm y tế! Như vậy thì nước này do các hãng bảo hiểm làm chủ!
Nhưng khi những người không có bảo hiểm bị tai nạn hoặc phát bệnh nặng, họ vẫn vào phòng cấp cứu để chữa trị gấp. Ai trả tiền cho họ? Cuối cùng, chính những người đang có bảo hiểm và người dân đóng thuế phải chịu. Ðó là một lý do khác khiến chi phí y tế của người Mỹ quá lớn. Nếu có bảo hiểm, những người đó sẽ được khám bệnh thường xuyên hơn, ngăn ngừa được bệnh tật sớm hơn, và khi cần chữa trị sẽ đỡ tốn kém hơn. Tổ chức Families USA đã tính ra rằng vì chi tiêu chữa trị cho những người không bảo hiểm mà những người khác mỗi gia đình phải đóng thêm 1,000 đô la mỗi năm! Giảm bớt số người không bảo hiểm là giảm bớt chi tiêu chung cho cả hệ thống y tế.
Trên đây là hai vấn đề nặng nhất phải giải quyết khi cải tổ y tế ở Mỹ. Ai cũng đồng ý phải thay đổi. Nếu các đại biểu Quốc Hội Mỹ không làm xong việc này trong năm nay thì có thể sẽ phải chờ 10 năm, 20 năm nữa mới thay đổi được. Vì vậy ông Obama phải đích thân nhập trận, trực tiếp vận động cho kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế trong mấy tháng tới. Nếu không thì không những Ðảng Dân Chủ sẽ xuống dốc trong cuộc bầu cử sang năm mà cả nhiệm kỳ tổng thống của ông cũng sẽ lu mờ.
Cải tổ y tế sẽ thay đổi đời sống tất cả mọi người
Friday, July 24, 2009
Ngô Nhân Dụng Ðời sống quý vị ở Mỹ dù là công dân hay thường trú nhân đều có thể bị ảnh hưởng khi dự luật cải tổ bảo hiểm y tế được thông qua. Hiện nay Quốc Hội Mỹ còn đang tranh luận trong mỗi viện; sau này cả hai viện lại còn thảo luận để thỏa hiệp với nhau. Nhưng ngay bây giờ chúng ta có thể biết trước những gì sẽ thay đổi qua các dự luật đang được nấu nướng. Sau đây là một số điểm chính yếu mà quý vị nên biết để có đủ tin tức khi theo dõi các cuộc bàn cãi.
Các dự án cải tổ y tế tại Quốc Hội đều nhắm bắt buộc mọi người sống ở Mỹ phải có bảo hiểm y tế. Giống như đã có luật bắt buộc mọi người chủ xe phải mua bảo hiểm. Những gia đình với lợi tức thấp sẽ được chính phủ trợ cấp để đủ sức mua bảo hiểm, tiêu biểu là một gia đình 4 người mà lợi tức từ 88,000 đô la một năm trở xuống sẽ được giúp (Con số này đang còn được tranh luận tại hai viện). Ngoài ra, chính phủ cũng mở rộng thêm cửa cho những người nghèo được hưởng Medicaid, chương trình trợ cấp y tế cho người nghèo mà tại California gọi là Medical.
Ðối với nhiều người đây là một thay đổi lớn. Ðây cũng là một ý kiến được ủng hộ rộng rãi nhất: Các công đoàn, các xí nghiệp lớn, đại biểu trong hai đảng và Tòa Bạch Ốc đều hoan nghênh. Các bệnh viện, bác sĩ, và công ty bảo hiểm cũng ủng hộ vì nhìn thấy họ sẽ có hơn 40 triệu thân chủ mới.
Ðiều luật này không phải chỉ ảnh hưởng tới những người không có bảo hiểm. Trong số 46 triệu người Mỹ hiện không có bảo hiểm y tế, một phần ba ở lớp tuổi ít bệnh, từ 19 đến 29 tuổi, và hơn 40% trong lớp tuổi từ 30 đến 54. Nếu những người đó bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế thì giá bảo hiểm của những người khác có thể xuống thấp.
Theo luật mới mọi người có khả năng mà không mua bảo hiểm sẽ bị phạt, phạt bao nhiêu hiện các đại biểu quốc hội chưa đồng ý với nhau. Ở Hạ Viện có đề nghị phạt mỗi người số tiền bằng 2.5% lợi tức, nếu mỗi năm kiếm trên 9,000 đô la. Tiểu bang đầu tiên áp dụng luật y tế phổ cập này là Massachusetts, và đã có kết quả tốt, dưới thời Thống Ðốc Mitt Romney, một ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa năm 2008 trước khi rút lui để ủng hộ Nghị Sĩ John McCain.
Luật Massachusetts năm nay phạt mỗi người không có bảo hiểm 1,020 đô la một năm. Tuy vẫn có nhiều người chấp nhận bị phạt, nhưng từ năm 2006 đến nay thêm được 432,000 người có bảo hiểm y tế. Trong đó có 148,000 người mua bảo hiểm trong sở làm, mà trước đây họ không tham dự dù có quyền và được chủ nhân trợ giúp. Hiện chỉ có 3% dân Massachusetts không có bảo hiểm, so với tỷ số 16% trong toàn nước Mỹ.
Mặt khác, các dự luật ở Hạ Viện buộc chủ nhân các xí nghiệp phải có bảo hiểm y tế cho nhân viên, nếu không cũng sẽ bị phạt. Nếu được thông qua, luật này áp dụng từ năm 2013. Các xí nghiệp và cửa hàng trả lương nhân viên từ 250,000 trở xuống sẽ không bị bắt buộc. Hiện nay ở Mỹ trong số một triệu xí nghiệp với 5 đến 9 nhân viên thì chỉ có một nửa đang cung cấp bảo hiểm y tế cho người làm, mỗi xí nghiệp đó tính bình quân chi phí tổng cộng 375,000 đô la một năm về y tế. Những người chống lại điều luật này thường nói là nó sẽ làm các xí nghiệp nhỏ gặp khó khăn vì tốn tiền. Nhưng các nhân viên ở đâu cũng biết rằng nếu được hưởng y tế thì họ có thể phải chịu giảm bớt những lợi ích khác về lương bổng, số ngày nghỉ, hay tiền thưởng. Trong thị trường nhân dụng các xí nghiệp tuyển nhân viên bao giờ cũng quảng cáo số lương trả cùng những lợi ích khác, như bảo hiểm y tế, hưu bổng, nghỉ hè, v.v...
Theo một trong hai dự luật ở Thượng Viện, các xí nghiệp có từ 25 nhân viên trở lên phải cung cấp bảo hiểm y tế cho họ, nếu không sẽ bị phạt 750 đô la một năm cho mỗi nhân viên làm toàn thời gian. Các cá nhân không có bảo hiểm cũng có thể bị phạt cùng số tiền đó. Theo tính toán của Ủy Ban Ngân Sách Quốc Hội (CBO) thì với các điều khoản mới này sẽ có thêm 21 triệu người Mỹ có bảo hiểm y tế; ngoài ra sẽ mở rộng chương trình Medicaid để nâng tổng số người có bảo hiểm lên tới 97% dân số Mỹ.
Theo kinh nghiệm tiểu bang Massachusetts, trong số những xí nghiệp từ 11 đến 50 công nhân, năm 2007 chỉ có 88% cung cấp bảo hiểm cho người làm, năm 2008 đã lên 92%. Luật tiểu bang này buộc các xí nghiệp trên 11 nhân viên phải cung cấp bảo hiểm y tế, nếu không sẽ phạt 295 đô la một năm cho mỗi nhân viên. Có hơn một ngàn xí nghiệp chịu đóng tiền phạt, tổng cộng gần 10 triệu đô la. Theo các dự luật ở Hạ Viện, công nhân làm ở những xí nghiệp không cung cấp bảo hiểm sẽ được phép mua bảo hiểm với chương trình công cộng của chính phủ.
Ðây cũng là một điểm ít được nhắc tới trong cuộc tranh luận về cải tổ y tế hiện nay. Những người chống chương trình bảo hiểm y tế công do chính phủ quản trị thường không nói cho mọi người biết là sự tham gia vào chương trình công đó bị hạn chế chặt chẽ. Chỉ những người đi làm ở nơi mà chủ nhân không cung cấp bảo hiểm y tế; và những xí nghiệp quá nhỏ không đủ sức mua bảo hiểm y tế tư, mới đủ điều kiện dự vào chương trình của chính phủ. Dự luật của Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện thay thế chương trình bảo hiểm y tế công bằng một hình thức hợp tác xã, có thể là một cách lựa chọn khác khi hai viện cùng thảo luận.
Người ta cũng hay phản đối chương trình bảo hiểm y tế công cộng, lấy cớ là nó sẽ cạnh tranh với các công ty bảo hiểm tư. Theo tính toán của Sở Ngân Sách Quốc Hội (CBO) thì giá mua bảo hiểm y tế công sẽ rẻ hơn giá mua ở các công ty bảo hiểm tư khoảng 10%. Nhưng không phải ai cũng được tham dự chương trình công của chính phủ; và đây cũng là một dịp thúc đẩy các công ty tư phải cắt giảm chi phí hành chánh của họ, và cả hệ thống y tế sẽ giảm bớt chi phí. Sở Ngân Sách Quốc Hội CBO dự đoán trong 10 năm số xí nghiệp cung cấp bảo hiểm cho nhân viên sẽ tăng lên chứ không giảm, mặc dù các dự luật bắt buộc chủ nhân phải trả bảo hiểm y tế cho nhân viên từ 60% (Thượng viện) đến 72.5% (Hạ viện), phần còn lại do nhân viên trả lấy.
Hiện nay các công ty bảo hiểm y tế tư đang tính giá để cho người mua bảo hiểm phải trả từ 16% đến 20% chi phí y tế suốt một đời, cho một người trung bình, còn công ty trả từ 80 đến 84%. Dự luật ở Hạ Viện chỉ bắt buộc các công ty bảo hiểm y tế phải trả khoảng 70%, dự luật ở Thượng Viện hạ xuống chỉ còn 65%, tức là họ có thể tiết kiệm được thêm nữa.
Một thay đổi quan trọng được ghi trong các dự luật ở hai viện Quốc Hội là ấn định những gì bắt buộc phải được bảo hiểm, một điều hiện nay chưa có luật lệ nào nói ra. Chẳng hạn, các dự luật tại Hạ Viện định nghĩa mỗi hợp đồng bảo hiểm y tế phải có số tiền trả bệnh viện, tiền mua thuốc, và chi phí khi sinh con, vân vân. Chi phí phòng bệnh phải được bảo hiểm 100%. Dự luật này cũng hạn chế mỗi gia đình không phải trả tiền túi trên 10,000 đô la một năm về y tế, đối với cá nhân giới hạn là 5,000 đô la. Dự luật tại Thượng Viện buộc bảo hiểm gia đình phải bao gồm các con cho tới 26 tuổi.
Các dự luật đang thảo luận đều đồng ý cấm các công ty bảo hiểm y tế không được từ chối những người đang có bệnh sẵn, như hiện nay họ có quyền làm. Nhiều người đang có bệnh mà mất việc sẽ gặp khó khăn khi mua bảo hiểm riêng, nếu bị một trong những bệnh kinh niên; luật mới sẽ tránh cho họ tình trạng đó. Theo dự luật ở Hạ Viện, công ty bảo hiểm y tế không được tính giá bảo hiểm cao thấp dựa trên tình trạng bệnh của người mua. Tiêu chuẩn được chấp nhận là tuổi tác, nhưng không được tính người già đắt hơn gấp đôi giá cho người trẻ. Với điều luật mới này, thế hệ các cụ sẽ được lợi, còn con cháu các cụ sẽ bị thiệt; nhưng khi những đứa con đó về già sẽ được bù lại.
Trên đây là một số thay đổi trong các dự luật đang bàn cãi trong hai viện Quốc Hội Mỹ. Hầu hết các đại biểu Quốc Hội đều đồng ý với những thay đổi trên, nhưng họ bất đồng về cách trả tiền để thi hành những thay đổi đó. Dù cuối cùng dự luật nào được thông qua, một hậu quả tất nhiên là chính phủ Mỹ sẽ phải chi tiền cho cuộc thay đổi lớn này. Tổng Thống Barack Obama đã hứa là ông sẽ chỉ ký ban hành dự luật nào không làm tăng khiếm hụt ngân sách thêm nữa. Cho nên, mỗi dự luật đem bàn đều phải ghi thêm những khoản thu nhập để bù lại với số tiền sẽ chi ra. Và đó là vấn đề đang tranh cãi sôi nổi nhất.
Vấn đề chi thu trở thành chướng ngại lớn cho việc cải tổ y tế kể từ ngày 16 Tháng Bẩy vừa qua, khi ông Douglas Elmondorf, giám đốc Sở Ngân Sách Quốc Hội (CBO), một cơ quan độc lập không đảng phái. Ông Elmondorf báo tin cho Quốc Hội biết rằng các dự luận đang được đưa ra sẽ không giúp giảm bớt chi phí y tế của chính phủ liên bang Mỹ mà có thể sẽ tăng lên. Ðây là một gáo nước lạnh dội lên tất cả các nhà chính trị, bắt buộc mọi người phải tỉnh ngủ! Mọi người phải ngồi xuống bàn lại về các khoản thu để bù vào các chi tiêu mới. Nhân dịp này, nhật báo Wall Street, một tờ báo bảo thủ có khuynh hướng Cộng Hòa, đã ghi nhận rằng năm 2003 cả Tổng Thống George W. Bush lẫn Quốc Hội Mỹ không ai tính đến chuyện phải thu thêm tiền đủ để trả cho việc trợ cấp thuốc trị bệnh cho những người về hưu, theo đạo luật mà Tổng Thống Bush đề nghị, khoản tiền khoản 400 tỷ Mỹ kim. Nhưng năm nay, chi phí cho dự án cải tổ y tế sẽ lên tới một ngàn tỷ Mỹ kim trong 10 năm, và mọi người bắt buộc phải tính toán. Chính vì cần tính toán kỹ lưỡng hơn cho nên cả dự án cải tổ y tế của chính phủ Obama và đảng Dân Chủ bị trì hoãn, một bước giật lùi của ông tổng thống mới.
Làm sao cắt bớt chi tiêu, và tăng số thuế thu vào để thực hiện việc cải tổ y tế, đó là đề tài đang được tranh luận, và mục này sẽ trình bày trong một dịp khác. Nhưng điều đáng chú ý là trong hệ thống chính trị nước Mỹ có những cơ quan độc lập như CBO. Ông Elmondorf, 47 tuổi, đã từng làm việc trong chính phủ Clinton, Ðảng Dân Chủ. Ông từng làm việc dưới quyền ông Lawrence Summers, hiện là cố vấn kinh tế cho Tổng Thống Obama và từng là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của ông Elmondorf tại Ðại Học Havard. Nhưng bổn phận của một công chức là nói sự thật và nói thẳng. Các nhà chính trị sẽ bị nhức đầu ngay bây giờ, nhưng dân chúng Mỹ sẽ đỡ nhức đầu trong tương lai. Một ông tổng thống mới đắc cử với số phiếu rất cao, và một đảng chính trị đang thừa thắng xông lên chiếm đa số cả hai viện Quốc Hội, họ cũng không thể ngăn cản một công chức đóng vai trò công bộc, nghĩa là “đầy tớ của công chúng!” Ðó là một điểm son của chế độ tự do dân chủ.
Friday, July 24, 2009
Ngô Nhân Dụng Ðời sống quý vị ở Mỹ dù là công dân hay thường trú nhân đều có thể bị ảnh hưởng khi dự luật cải tổ bảo hiểm y tế được thông qua. Hiện nay Quốc Hội Mỹ còn đang tranh luận trong mỗi viện; sau này cả hai viện lại còn thảo luận để thỏa hiệp với nhau. Nhưng ngay bây giờ chúng ta có thể biết trước những gì sẽ thay đổi qua các dự luật đang được nấu nướng. Sau đây là một số điểm chính yếu mà quý vị nên biết để có đủ tin tức khi theo dõi các cuộc bàn cãi.
Các dự án cải tổ y tế tại Quốc Hội đều nhắm bắt buộc mọi người sống ở Mỹ phải có bảo hiểm y tế. Giống như đã có luật bắt buộc mọi người chủ xe phải mua bảo hiểm. Những gia đình với lợi tức thấp sẽ được chính phủ trợ cấp để đủ sức mua bảo hiểm, tiêu biểu là một gia đình 4 người mà lợi tức từ 88,000 đô la một năm trở xuống sẽ được giúp (Con số này đang còn được tranh luận tại hai viện). Ngoài ra, chính phủ cũng mở rộng thêm cửa cho những người nghèo được hưởng Medicaid, chương trình trợ cấp y tế cho người nghèo mà tại California gọi là Medical.
Ðối với nhiều người đây là một thay đổi lớn. Ðây cũng là một ý kiến được ủng hộ rộng rãi nhất: Các công đoàn, các xí nghiệp lớn, đại biểu trong hai đảng và Tòa Bạch Ốc đều hoan nghênh. Các bệnh viện, bác sĩ, và công ty bảo hiểm cũng ủng hộ vì nhìn thấy họ sẽ có hơn 40 triệu thân chủ mới.
Ðiều luật này không phải chỉ ảnh hưởng tới những người không có bảo hiểm. Trong số 46 triệu người Mỹ hiện không có bảo hiểm y tế, một phần ba ở lớp tuổi ít bệnh, từ 19 đến 29 tuổi, và hơn 40% trong lớp tuổi từ 30 đến 54. Nếu những người đó bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế thì giá bảo hiểm của những người khác có thể xuống thấp.
Theo luật mới mọi người có khả năng mà không mua bảo hiểm sẽ bị phạt, phạt bao nhiêu hiện các đại biểu quốc hội chưa đồng ý với nhau. Ở Hạ Viện có đề nghị phạt mỗi người số tiền bằng 2.5% lợi tức, nếu mỗi năm kiếm trên 9,000 đô la. Tiểu bang đầu tiên áp dụng luật y tế phổ cập này là Massachusetts, và đã có kết quả tốt, dưới thời Thống Ðốc Mitt Romney, một ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa năm 2008 trước khi rút lui để ủng hộ Nghị Sĩ John McCain.
Luật Massachusetts năm nay phạt mỗi người không có bảo hiểm 1,020 đô la một năm. Tuy vẫn có nhiều người chấp nhận bị phạt, nhưng từ năm 2006 đến nay thêm được 432,000 người có bảo hiểm y tế. Trong đó có 148,000 người mua bảo hiểm trong sở làm, mà trước đây họ không tham dự dù có quyền và được chủ nhân trợ giúp. Hiện chỉ có 3% dân Massachusetts không có bảo hiểm, so với tỷ số 16% trong toàn nước Mỹ.
Mặt khác, các dự luật ở Hạ Viện buộc chủ nhân các xí nghiệp phải có bảo hiểm y tế cho nhân viên, nếu không cũng sẽ bị phạt. Nếu được thông qua, luật này áp dụng từ năm 2013. Các xí nghiệp và cửa hàng trả lương nhân viên từ 250,000 trở xuống sẽ không bị bắt buộc. Hiện nay ở Mỹ trong số một triệu xí nghiệp với 5 đến 9 nhân viên thì chỉ có một nửa đang cung cấp bảo hiểm y tế cho người làm, mỗi xí nghiệp đó tính bình quân chi phí tổng cộng 375,000 đô la một năm về y tế. Những người chống lại điều luật này thường nói là nó sẽ làm các xí nghiệp nhỏ gặp khó khăn vì tốn tiền. Nhưng các nhân viên ở đâu cũng biết rằng nếu được hưởng y tế thì họ có thể phải chịu giảm bớt những lợi ích khác về lương bổng, số ngày nghỉ, hay tiền thưởng. Trong thị trường nhân dụng các xí nghiệp tuyển nhân viên bao giờ cũng quảng cáo số lương trả cùng những lợi ích khác, như bảo hiểm y tế, hưu bổng, nghỉ hè, v.v...
Theo một trong hai dự luật ở Thượng Viện, các xí nghiệp có từ 25 nhân viên trở lên phải cung cấp bảo hiểm y tế cho họ, nếu không sẽ bị phạt 750 đô la một năm cho mỗi nhân viên làm toàn thời gian. Các cá nhân không có bảo hiểm cũng có thể bị phạt cùng số tiền đó. Theo tính toán của Ủy Ban Ngân Sách Quốc Hội (CBO) thì với các điều khoản mới này sẽ có thêm 21 triệu người Mỹ có bảo hiểm y tế; ngoài ra sẽ mở rộng chương trình Medicaid để nâng tổng số người có bảo hiểm lên tới 97% dân số Mỹ.
Theo kinh nghiệm tiểu bang Massachusetts, trong số những xí nghiệp từ 11 đến 50 công nhân, năm 2007 chỉ có 88% cung cấp bảo hiểm cho người làm, năm 2008 đã lên 92%. Luật tiểu bang này buộc các xí nghiệp trên 11 nhân viên phải cung cấp bảo hiểm y tế, nếu không sẽ phạt 295 đô la một năm cho mỗi nhân viên. Có hơn một ngàn xí nghiệp chịu đóng tiền phạt, tổng cộng gần 10 triệu đô la. Theo các dự luật ở Hạ Viện, công nhân làm ở những xí nghiệp không cung cấp bảo hiểm sẽ được phép mua bảo hiểm với chương trình công cộng của chính phủ.
Ðây cũng là một điểm ít được nhắc tới trong cuộc tranh luận về cải tổ y tế hiện nay. Những người chống chương trình bảo hiểm y tế công do chính phủ quản trị thường không nói cho mọi người biết là sự tham gia vào chương trình công đó bị hạn chế chặt chẽ. Chỉ những người đi làm ở nơi mà chủ nhân không cung cấp bảo hiểm y tế; và những xí nghiệp quá nhỏ không đủ sức mua bảo hiểm y tế tư, mới đủ điều kiện dự vào chương trình của chính phủ. Dự luật của Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện thay thế chương trình bảo hiểm y tế công bằng một hình thức hợp tác xã, có thể là một cách lựa chọn khác khi hai viện cùng thảo luận.
Người ta cũng hay phản đối chương trình bảo hiểm y tế công cộng, lấy cớ là nó sẽ cạnh tranh với các công ty bảo hiểm tư. Theo tính toán của Sở Ngân Sách Quốc Hội (CBO) thì giá mua bảo hiểm y tế công sẽ rẻ hơn giá mua ở các công ty bảo hiểm tư khoảng 10%. Nhưng không phải ai cũng được tham dự chương trình công của chính phủ; và đây cũng là một dịp thúc đẩy các công ty tư phải cắt giảm chi phí hành chánh của họ, và cả hệ thống y tế sẽ giảm bớt chi phí. Sở Ngân Sách Quốc Hội CBO dự đoán trong 10 năm số xí nghiệp cung cấp bảo hiểm cho nhân viên sẽ tăng lên chứ không giảm, mặc dù các dự luật bắt buộc chủ nhân phải trả bảo hiểm y tế cho nhân viên từ 60% (Thượng viện) đến 72.5% (Hạ viện), phần còn lại do nhân viên trả lấy.
Hiện nay các công ty bảo hiểm y tế tư đang tính giá để cho người mua bảo hiểm phải trả từ 16% đến 20% chi phí y tế suốt một đời, cho một người trung bình, còn công ty trả từ 80 đến 84%. Dự luật ở Hạ Viện chỉ bắt buộc các công ty bảo hiểm y tế phải trả khoảng 70%, dự luật ở Thượng Viện hạ xuống chỉ còn 65%, tức là họ có thể tiết kiệm được thêm nữa.
Một thay đổi quan trọng được ghi trong các dự luật ở hai viện Quốc Hội là ấn định những gì bắt buộc phải được bảo hiểm, một điều hiện nay chưa có luật lệ nào nói ra. Chẳng hạn, các dự luật tại Hạ Viện định nghĩa mỗi hợp đồng bảo hiểm y tế phải có số tiền trả bệnh viện, tiền mua thuốc, và chi phí khi sinh con, vân vân. Chi phí phòng bệnh phải được bảo hiểm 100%. Dự luật này cũng hạn chế mỗi gia đình không phải trả tiền túi trên 10,000 đô la một năm về y tế, đối với cá nhân giới hạn là 5,000 đô la. Dự luật tại Thượng Viện buộc bảo hiểm gia đình phải bao gồm các con cho tới 26 tuổi.
Các dự luật đang thảo luận đều đồng ý cấm các công ty bảo hiểm y tế không được từ chối những người đang có bệnh sẵn, như hiện nay họ có quyền làm. Nhiều người đang có bệnh mà mất việc sẽ gặp khó khăn khi mua bảo hiểm riêng, nếu bị một trong những bệnh kinh niên; luật mới sẽ tránh cho họ tình trạng đó. Theo dự luật ở Hạ Viện, công ty bảo hiểm y tế không được tính giá bảo hiểm cao thấp dựa trên tình trạng bệnh của người mua. Tiêu chuẩn được chấp nhận là tuổi tác, nhưng không được tính người già đắt hơn gấp đôi giá cho người trẻ. Với điều luật mới này, thế hệ các cụ sẽ được lợi, còn con cháu các cụ sẽ bị thiệt; nhưng khi những đứa con đó về già sẽ được bù lại.
Trên đây là một số thay đổi trong các dự luật đang bàn cãi trong hai viện Quốc Hội Mỹ. Hầu hết các đại biểu Quốc Hội đều đồng ý với những thay đổi trên, nhưng họ bất đồng về cách trả tiền để thi hành những thay đổi đó. Dù cuối cùng dự luật nào được thông qua, một hậu quả tất nhiên là chính phủ Mỹ sẽ phải chi tiền cho cuộc thay đổi lớn này. Tổng Thống Barack Obama đã hứa là ông sẽ chỉ ký ban hành dự luật nào không làm tăng khiếm hụt ngân sách thêm nữa. Cho nên, mỗi dự luật đem bàn đều phải ghi thêm những khoản thu nhập để bù lại với số tiền sẽ chi ra. Và đó là vấn đề đang tranh cãi sôi nổi nhất.
Vấn đề chi thu trở thành chướng ngại lớn cho việc cải tổ y tế kể từ ngày 16 Tháng Bẩy vừa qua, khi ông Douglas Elmondorf, giám đốc Sở Ngân Sách Quốc Hội (CBO), một cơ quan độc lập không đảng phái. Ông Elmondorf báo tin cho Quốc Hội biết rằng các dự luận đang được đưa ra sẽ không giúp giảm bớt chi phí y tế của chính phủ liên bang Mỹ mà có thể sẽ tăng lên. Ðây là một gáo nước lạnh dội lên tất cả các nhà chính trị, bắt buộc mọi người phải tỉnh ngủ! Mọi người phải ngồi xuống bàn lại về các khoản thu để bù vào các chi tiêu mới. Nhân dịp này, nhật báo Wall Street, một tờ báo bảo thủ có khuynh hướng Cộng Hòa, đã ghi nhận rằng năm 2003 cả Tổng Thống George W. Bush lẫn Quốc Hội Mỹ không ai tính đến chuyện phải thu thêm tiền đủ để trả cho việc trợ cấp thuốc trị bệnh cho những người về hưu, theo đạo luật mà Tổng Thống Bush đề nghị, khoản tiền khoản 400 tỷ Mỹ kim. Nhưng năm nay, chi phí cho dự án cải tổ y tế sẽ lên tới một ngàn tỷ Mỹ kim trong 10 năm, và mọi người bắt buộc phải tính toán. Chính vì cần tính toán kỹ lưỡng hơn cho nên cả dự án cải tổ y tế của chính phủ Obama và đảng Dân Chủ bị trì hoãn, một bước giật lùi của ông tổng thống mới.
Làm sao cắt bớt chi tiêu, và tăng số thuế thu vào để thực hiện việc cải tổ y tế, đó là đề tài đang được tranh luận, và mục này sẽ trình bày trong một dịp khác. Nhưng điều đáng chú ý là trong hệ thống chính trị nước Mỹ có những cơ quan độc lập như CBO. Ông Elmondorf, 47 tuổi, đã từng làm việc trong chính phủ Clinton, Ðảng Dân Chủ. Ông từng làm việc dưới quyền ông Lawrence Summers, hiện là cố vấn kinh tế cho Tổng Thống Obama và từng là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của ông Elmondorf tại Ðại Học Havard. Nhưng bổn phận của một công chức là nói sự thật và nói thẳng. Các nhà chính trị sẽ bị nhức đầu ngay bây giờ, nhưng dân chúng Mỹ sẽ đỡ nhức đầu trong tương lai. Một ông tổng thống mới đắc cử với số phiếu rất cao, và một đảng chính trị đang thừa thắng xông lên chiếm đa số cả hai viện Quốc Hội, họ cũng không thể ngăn cản một công chức đóng vai trò công bộc, nghĩa là “đầy tớ của công chúng!” Ðó là một điểm son của chế độ tự do dân chủ.
Dấu Ấn Tội Lỗi
NGUYỄN QUANG
Từ việc bắt giam, ngăn cản những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… khống chế công nhân đình công như tại công ty Hoa Hạ, Bắc Giang, bọn chủ nhân Trung Quốc đã lao vào tát tai, đánh đá và dùng cả ống tuýp bằng thép dài hơn cả mét tấn công các công nhân Việt Nam, nay đến lượt công an đàn áp có đổ máu giáo dân Tam Toà và nhiều người bị giam giữ.
Bạo động thật sự đã xảy ra trong các vụ đình công từ Nam ra Bắc, đồng loạt tại Sài Gòn, Đồng Nai-Biên Hoà, Đà Nẳng, Huế, Hà Nội, Hải Phòng… Công an với tư cách bảo vệ trật tự song sự việc vừa mới xảy ra ở Bắc Giang, họ đã đứng hẳn về phía Trung Quốc đàn áp công nhân. Đến cả các chuyên gia Trung Quốc cũng nhào ra đánh đập công nhân và nhiều dân làng khác. Sự phẫn nộ lên tột cùng thế rồi công nhân với người thân trong làng là các nông dân đã kéo nhau cùng tấn công các chủ nhân thực dân kiểu mới Trung Quốc trước sự phớt lờ không phản ứng gì của công an.
Tất cả trong các loại vũ khí thô sơ nhưng thô bạo đã khiến cả hai bên đều có người bị thương tích, Phía Việt nam sau đó có hàng trăm người bị công an bắt đi. Tại Bắc Giang và nhiều nơi khác cũng xẩy ra tương tự vì đã dám đứng lên đòi quyền sống của người công nhân với mức lương quá thấp chưa đến bốn mươi đô la Mỹ mỗi tháng.. Họ đã bị nhà cầm quyền kết tội nổi loạn.
Mỗi chiều vào giờ tan ca, công nhân đổ ra những con đường quanh các khu công nghiệp mua rau củ từ những người bán hàng rong theo bên lề những con đường đầy bụi bặm, họ đang đứng trước chuyện vật giá leo thang và mong chờ sự phát triển của đất nước sẽ nâng đời sống khá hơn, song trước cái đà lạm phát ngày càng phi mã, đồng lương so với thực tế chỉ còn trên danh nghĩa. Chúng ta có thể nghe được lời tâm sự trực tiếp: “chúng em phải làm việc thường xuyên mỗi ngày mười ba tiếng đồng hồ, nghỉ ốm, nhỉ phép, nghỉ tết… không có lương, ngay cả việc chẳng may người thân qua đời cũng không được nghỉ”.
Tại công ty bao bì Hoa Hạ, nhiều người làm việc trong nhiều năm nhưng vẫn không có hợp đồng lao động cũng như bảo hiểm xã hội gì hết. Quả là chuyện không hiểu nổi một nhà cầm quyền khi con dân nước mình phải lao động cật lực mỗi ngày chỉ với năm trăm đến bảy trăm ngàn đồng tháng, đó là chưa kể bị phạt do ngủ gà, ngủ gật… Họ vẫn im lặng một cách bỉ ổi!
Người dân không còn đất canh tác
Một khi các xí nghiệp mọc lên, đất đai từ người dân bị mua rẻ với lời hứa hẹn sẽ đưa con cái họ vào làm trong các nhà máy… Người nông dân nay không còn đất canh tác, cũng không có chỗ làm và nếu được nhận làm việc cũng chỉ là thân phận nô lệ không hơn. Sự đổi đời hoàn toàn của họ từ nông nghiệp sang công nghiệp chỉ đưa đến vong thân trong kiếp người nhiều hơn. Và giờ đây mọi thứ đồ ăn, thức uống cái gì cũng đắt đỏ, cuộc sống của người công nhân chân chất chỉ càng thêm cơ cực. Họ cần phải đình công để có cuộc sống tốt hơn.
Các vụ đình công đã xảy ra liên tục ở Đồng Nai, Bình Dương… thế nhưng Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công đoàn độc lập và suốt năm mươi năm nắm quyền của cộng sản, nếu ai nghiên cứu về các tổ chức công đoàn trên đất nước này sẽ thấy rằng từ trường học, nhà máy, xí nghiệp… những người có văn hoá thuộc các bộ phận sở tại đều không chịu đảm trách công tác công đoàn. Nên thường phó mặc cho các đảng viên Việt cộng thiếu trình độ, do đó luật pháp không thông, kiến thức cùng kinh nghiệm đầy cảm tính một chiều từ tuyên truyền khiến họ tự bênh vực chính mình còn không nổi, quí hồ lo cho đồng nghiệp, bạn hữu.
Điều đáng buồn tại Việt Nam là sau đình công thường phải bỏ việc, chuyện giống như trong một giai đoạn lịch sử với những Hoa kiều nào làm đơn xin hồi hương sau đó đều bị đuổi việc khỏi các cơ quan nhà nước, nếu không buộc thôi việc, nhất là những người cầm đầu các vụ đình công họ cũng sẽ bị vu oan này khác và rồi bị trù dập. Không có tiếng nói của công đoàn ở đây vì đã có sự thoả hiệp của công đoàn nhà nước với các tập đoàn tư bản, nghĩa là mọi thứ giờ đấy đã “cả vú lấp miệng em”.
Quả là ngây thơ khi cố vấn: hãy đình công theo pháp luật trong chế độ cộng sản hay chế độ độc tài nào đó. Chúng cấu kết với nhau từ cán bộ địa phương, cán bộ công đoàn, các bí thư đảng chủ và bọn tư bản… Do đó hãy đừng mong có được những cuộc đình công gọi là hợp pháp, sẽ không bao giờ có cái hợp pháp trong cái bất hợp pháp, chỉ có cái hợp lý, hợp tình từ khát vọng của người dân trong các chế độ không phải do dân bầu nhưng là quân phiệt tiếm quyền.
Thật sự không có gì khó hiểu khi các công ty nước ngoài “quịt” cả tiền bảo hiểm xã hội của công nhân và thực chất cái tổ chức gọi là Công đoàn, Tổng liên đoàn lao động trong các chế độ cộng sản, nó chỉ là công cụ: một khi chưa nắm quyền thì kích động trong dân, lúc nắm được quyền lực thời quay lưng lại đàn áp nông dân, công nhân. Công đoàn rõ ràng chỉ là một thứ hình thức chỉ để bẩm thưa theo lệnh của của cấp trên, của đảng. Cho nên, tất cả những thứ gọi là luật pháp, pháp lệnh, sắc luật… chỉ là là những trò đùa quyền lực của kẻ độc tài, chúng cứ thổi ra như bong bóng và không cần biết thực hiện đến đâu và như thế nào. Nó chỉ là thứ bình phong hư chiêu trong món võ vô vi. Cho nên nếu chúng ta không ở trong ruột cộng sản, cứ lấy cái có mà đánh cái không sẽ bị vô vi biến hoá đến vô vọng.
Những thông báo của nhà nước hầu như không có mấy tác dụng để làm giảm các vụ phản kháng của người lao động, trong suốt một thời gian dài hầu như nhà nước đã bỏ ngỏ không ai biết có bộ lao động hay không trên đất nước này, chỉ gần đây nhất các viên chức có thẩm quyền tại các địa phương đều tuyên bố “ưu tiên trải thảm cho các nhà đầu tư nước ngoài” và thật sự trước sự bóng lộn qua hào quang tư sản họ đã quên đi nguồn vốn nhân lực quí giá của dân mình. Sự ngả chiều đến dần quay hẳn 1800 thành những người bảo vệ tư bản đàn áp dân mình.
Từ mười ngàn, hai chục ngàn và nhiều hơn nữa, công nhân khắp cả nước như ở Long An đã đình công đòi tăng lương nhằm đối phó với giá leo thang đến chóng mặt. Mức lạm phát tại Việt Nam hiện nay trên danh nghĩa là 21 – 25% nhưng thực tế là 40 – 50%! Người dân chỉ mong sao có được lương tháng chừng 100 đô so với 30 – 40 đô hiện tại thời không biết làm sao đắp đổi qua ngày. Họ muốn nói lên: chỉ vì khổ quá mới đình công, bỏ việc… con người ai cũng muốn có gia đình bình yên, hạnh phúc.
Tại công ty Canon, 100% vốn của Nhật, và khu công nghiệp Đông Anh, Hà Nội, công nhân đã bị trói chân vào bàn làm việc bởi chính người Việt. Tên trưởng dây chuyền sản xuất đã trói chân các công nhân lại… Vậy công đoàn nằm ở đâu? Họ đang là những nghị gật trong sự thoả hiệp với tư bản để kiếm lợi mà sớm hoá thân thành tư bản đỏ.
Những trang sử hãy còn chưa sang trang, từ những chiến dịch đánh bắt, tịch thu tài sản các doanh nghiệp sau khi Việt cộng chiếm miền Nam và nay trải thảm để tư sản nước ngoài vào đầu tư cho dân mình làm thuê mướn. Thật chính nghĩa thay!
Người viết bài này xin gởi riêng đến các bạn trẻ đang là du học sinh thuộc con cái của các cán bộ cộng sản hay là các tư bản đỏ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như trên khắp toàn cầu.
Xin khẳng định: nơi nào có bước chân của các bạn chính nơi đó có dấu ấn của tội lỗi. Các bạn biết rõ nguồn tiền các bạn đang sử dụng là từ đâu! Lương tối thiểu của một cán bộ nhà nước hiện nay như thế nào kể cả con của thủ tướng, vậy lấy tiền đâu mà nhà lầu, xe hơi, đưa con cái ra nước ngoài và đi về thường xuyên như cơm bữa, trong khi lương người công nhân chỉ bốn mươi đô tiền Mỹ mỗi tháng!
Nói vậy không có nghĩa kêu gọi các bạn hãy về nước, người viết còn mong nhiều hơn trong số các bạn được ra nước ngoài, cho con cái ăn học vẫn hơn mang tiền của quốc gia đi đánh bạc, nếu có thể như Mao Trạch Đông đề nghị với Nixon và Kissinger: đưa hơn mười triệu phụ nữ Trung Quốc sang Mỹ… Nhưng trên sự nhơ bẩn này cho đến khi nào lương tri chúng ta cùng thức tỉnh, khi chúng ta nhận ra trên sự xấu xa này, hãy cùng nhau biết khởi đầu, biết nói lên sự ngay thẳng với chính mình, khi con người nói được sự thực với chính mình, lòng can đảm sẽ mạnh mẽ mãnh liệt trong mỗi nhân cách, khi đó chúng ta sẽ không còn sự sợ hãi từ bên ngoài, dù đó là cám dỗ hay những thế lực mạnh nhất thời đại.
Ngày trước Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên một Trưởng phái đoàn hoà hội Paris, có nói nơi nào có bom Mỹ thả đó là lãnh thổ của Việt cộng và ngày nay với hậu duệ của Bà: nơi nào có du sinh con cái cán bộ Việt cộng chính là nơi đó có dấu ấn của tội lỗi vì những trái bom tham ô nhũng lạm của dân mà có được cảnh giàu sang phú quý còn người dân lành, chân chất thời đang quá khổ!
Chúc các bạn sẽ khởi đầu với một tương lai trong sáng trên những gì quá ư là xấu xa, mờ ám từ cha, anh, chú, bác các bạn!
Nguyễn Quang
NGUYỄN QUANG
Từ việc bắt giam, ngăn cản những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… khống chế công nhân đình công như tại công ty Hoa Hạ, Bắc Giang, bọn chủ nhân Trung Quốc đã lao vào tát tai, đánh đá và dùng cả ống tuýp bằng thép dài hơn cả mét tấn công các công nhân Việt Nam, nay đến lượt công an đàn áp có đổ máu giáo dân Tam Toà và nhiều người bị giam giữ.
Bạo động thật sự đã xảy ra trong các vụ đình công từ Nam ra Bắc, đồng loạt tại Sài Gòn, Đồng Nai-Biên Hoà, Đà Nẳng, Huế, Hà Nội, Hải Phòng… Công an với tư cách bảo vệ trật tự song sự việc vừa mới xảy ra ở Bắc Giang, họ đã đứng hẳn về phía Trung Quốc đàn áp công nhân. Đến cả các chuyên gia Trung Quốc cũng nhào ra đánh đập công nhân và nhiều dân làng khác. Sự phẫn nộ lên tột cùng thế rồi công nhân với người thân trong làng là các nông dân đã kéo nhau cùng tấn công các chủ nhân thực dân kiểu mới Trung Quốc trước sự phớt lờ không phản ứng gì của công an.
Tất cả trong các loại vũ khí thô sơ nhưng thô bạo đã khiến cả hai bên đều có người bị thương tích, Phía Việt nam sau đó có hàng trăm người bị công an bắt đi. Tại Bắc Giang và nhiều nơi khác cũng xẩy ra tương tự vì đã dám đứng lên đòi quyền sống của người công nhân với mức lương quá thấp chưa đến bốn mươi đô la Mỹ mỗi tháng.. Họ đã bị nhà cầm quyền kết tội nổi loạn.
Mỗi chiều vào giờ tan ca, công nhân đổ ra những con đường quanh các khu công nghiệp mua rau củ từ những người bán hàng rong theo bên lề những con đường đầy bụi bặm, họ đang đứng trước chuyện vật giá leo thang và mong chờ sự phát triển của đất nước sẽ nâng đời sống khá hơn, song trước cái đà lạm phát ngày càng phi mã, đồng lương so với thực tế chỉ còn trên danh nghĩa. Chúng ta có thể nghe được lời tâm sự trực tiếp: “chúng em phải làm việc thường xuyên mỗi ngày mười ba tiếng đồng hồ, nghỉ ốm, nhỉ phép, nghỉ tết… không có lương, ngay cả việc chẳng may người thân qua đời cũng không được nghỉ”.
Tại công ty bao bì Hoa Hạ, nhiều người làm việc trong nhiều năm nhưng vẫn không có hợp đồng lao động cũng như bảo hiểm xã hội gì hết. Quả là chuyện không hiểu nổi một nhà cầm quyền khi con dân nước mình phải lao động cật lực mỗi ngày chỉ với năm trăm đến bảy trăm ngàn đồng tháng, đó là chưa kể bị phạt do ngủ gà, ngủ gật… Họ vẫn im lặng một cách bỉ ổi!
Người dân không còn đất canh tác
Một khi các xí nghiệp mọc lên, đất đai từ người dân bị mua rẻ với lời hứa hẹn sẽ đưa con cái họ vào làm trong các nhà máy… Người nông dân nay không còn đất canh tác, cũng không có chỗ làm và nếu được nhận làm việc cũng chỉ là thân phận nô lệ không hơn. Sự đổi đời hoàn toàn của họ từ nông nghiệp sang công nghiệp chỉ đưa đến vong thân trong kiếp người nhiều hơn. Và giờ đây mọi thứ đồ ăn, thức uống cái gì cũng đắt đỏ, cuộc sống của người công nhân chân chất chỉ càng thêm cơ cực. Họ cần phải đình công để có cuộc sống tốt hơn.
Các vụ đình công đã xảy ra liên tục ở Đồng Nai, Bình Dương… thế nhưng Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công đoàn độc lập và suốt năm mươi năm nắm quyền của cộng sản, nếu ai nghiên cứu về các tổ chức công đoàn trên đất nước này sẽ thấy rằng từ trường học, nhà máy, xí nghiệp… những người có văn hoá thuộc các bộ phận sở tại đều không chịu đảm trách công tác công đoàn. Nên thường phó mặc cho các đảng viên Việt cộng thiếu trình độ, do đó luật pháp không thông, kiến thức cùng kinh nghiệm đầy cảm tính một chiều từ tuyên truyền khiến họ tự bênh vực chính mình còn không nổi, quí hồ lo cho đồng nghiệp, bạn hữu.
Điều đáng buồn tại Việt Nam là sau đình công thường phải bỏ việc, chuyện giống như trong một giai đoạn lịch sử với những Hoa kiều nào làm đơn xin hồi hương sau đó đều bị đuổi việc khỏi các cơ quan nhà nước, nếu không buộc thôi việc, nhất là những người cầm đầu các vụ đình công họ cũng sẽ bị vu oan này khác và rồi bị trù dập. Không có tiếng nói của công đoàn ở đây vì đã có sự thoả hiệp của công đoàn nhà nước với các tập đoàn tư bản, nghĩa là mọi thứ giờ đấy đã “cả vú lấp miệng em”.
Quả là ngây thơ khi cố vấn: hãy đình công theo pháp luật trong chế độ cộng sản hay chế độ độc tài nào đó. Chúng cấu kết với nhau từ cán bộ địa phương, cán bộ công đoàn, các bí thư đảng chủ và bọn tư bản… Do đó hãy đừng mong có được những cuộc đình công gọi là hợp pháp, sẽ không bao giờ có cái hợp pháp trong cái bất hợp pháp, chỉ có cái hợp lý, hợp tình từ khát vọng của người dân trong các chế độ không phải do dân bầu nhưng là quân phiệt tiếm quyền.
Thật sự không có gì khó hiểu khi các công ty nước ngoài “quịt” cả tiền bảo hiểm xã hội của công nhân và thực chất cái tổ chức gọi là Công đoàn, Tổng liên đoàn lao động trong các chế độ cộng sản, nó chỉ là công cụ: một khi chưa nắm quyền thì kích động trong dân, lúc nắm được quyền lực thời quay lưng lại đàn áp nông dân, công nhân. Công đoàn rõ ràng chỉ là một thứ hình thức chỉ để bẩm thưa theo lệnh của của cấp trên, của đảng. Cho nên, tất cả những thứ gọi là luật pháp, pháp lệnh, sắc luật… chỉ là là những trò đùa quyền lực của kẻ độc tài, chúng cứ thổi ra như bong bóng và không cần biết thực hiện đến đâu và như thế nào. Nó chỉ là thứ bình phong hư chiêu trong món võ vô vi. Cho nên nếu chúng ta không ở trong ruột cộng sản, cứ lấy cái có mà đánh cái không sẽ bị vô vi biến hoá đến vô vọng.
Những thông báo của nhà nước hầu như không có mấy tác dụng để làm giảm các vụ phản kháng của người lao động, trong suốt một thời gian dài hầu như nhà nước đã bỏ ngỏ không ai biết có bộ lao động hay không trên đất nước này, chỉ gần đây nhất các viên chức có thẩm quyền tại các địa phương đều tuyên bố “ưu tiên trải thảm cho các nhà đầu tư nước ngoài” và thật sự trước sự bóng lộn qua hào quang tư sản họ đã quên đi nguồn vốn nhân lực quí giá của dân mình. Sự ngả chiều đến dần quay hẳn 1800 thành những người bảo vệ tư bản đàn áp dân mình.
Từ mười ngàn, hai chục ngàn và nhiều hơn nữa, công nhân khắp cả nước như ở Long An đã đình công đòi tăng lương nhằm đối phó với giá leo thang đến chóng mặt. Mức lạm phát tại Việt Nam hiện nay trên danh nghĩa là 21 – 25% nhưng thực tế là 40 – 50%! Người dân chỉ mong sao có được lương tháng chừng 100 đô so với 30 – 40 đô hiện tại thời không biết làm sao đắp đổi qua ngày. Họ muốn nói lên: chỉ vì khổ quá mới đình công, bỏ việc… con người ai cũng muốn có gia đình bình yên, hạnh phúc.
Tại công ty Canon, 100% vốn của Nhật, và khu công nghiệp Đông Anh, Hà Nội, công nhân đã bị trói chân vào bàn làm việc bởi chính người Việt. Tên trưởng dây chuyền sản xuất đã trói chân các công nhân lại… Vậy công đoàn nằm ở đâu? Họ đang là những nghị gật trong sự thoả hiệp với tư bản để kiếm lợi mà sớm hoá thân thành tư bản đỏ.
Những trang sử hãy còn chưa sang trang, từ những chiến dịch đánh bắt, tịch thu tài sản các doanh nghiệp sau khi Việt cộng chiếm miền Nam và nay trải thảm để tư sản nước ngoài vào đầu tư cho dân mình làm thuê mướn. Thật chính nghĩa thay!
Người viết bài này xin gởi riêng đến các bạn trẻ đang là du học sinh thuộc con cái của các cán bộ cộng sản hay là các tư bản đỏ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như trên khắp toàn cầu.
Xin khẳng định: nơi nào có bước chân của các bạn chính nơi đó có dấu ấn của tội lỗi. Các bạn biết rõ nguồn tiền các bạn đang sử dụng là từ đâu! Lương tối thiểu của một cán bộ nhà nước hiện nay như thế nào kể cả con của thủ tướng, vậy lấy tiền đâu mà nhà lầu, xe hơi, đưa con cái ra nước ngoài và đi về thường xuyên như cơm bữa, trong khi lương người công nhân chỉ bốn mươi đô tiền Mỹ mỗi tháng!
Nói vậy không có nghĩa kêu gọi các bạn hãy về nước, người viết còn mong nhiều hơn trong số các bạn được ra nước ngoài, cho con cái ăn học vẫn hơn mang tiền của quốc gia đi đánh bạc, nếu có thể như Mao Trạch Đông đề nghị với Nixon và Kissinger: đưa hơn mười triệu phụ nữ Trung Quốc sang Mỹ… Nhưng trên sự nhơ bẩn này cho đến khi nào lương tri chúng ta cùng thức tỉnh, khi chúng ta nhận ra trên sự xấu xa này, hãy cùng nhau biết khởi đầu, biết nói lên sự ngay thẳng với chính mình, khi con người nói được sự thực với chính mình, lòng can đảm sẽ mạnh mẽ mãnh liệt trong mỗi nhân cách, khi đó chúng ta sẽ không còn sự sợ hãi từ bên ngoài, dù đó là cám dỗ hay những thế lực mạnh nhất thời đại.
Ngày trước Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên một Trưởng phái đoàn hoà hội Paris, có nói nơi nào có bom Mỹ thả đó là lãnh thổ của Việt cộng và ngày nay với hậu duệ của Bà: nơi nào có du sinh con cái cán bộ Việt cộng chính là nơi đó có dấu ấn của tội lỗi vì những trái bom tham ô nhũng lạm của dân mà có được cảnh giàu sang phú quý còn người dân lành, chân chất thời đang quá khổ!
Chúc các bạn sẽ khởi đầu với một tương lai trong sáng trên những gì quá ư là xấu xa, mờ ám từ cha, anh, chú, bác các bạn!
Nguyễn Quang
Không thể bảo vệ tổ quốc chỉ bằng vũ khí đi mua.
Đúng là ta đang phát triển nhanh 7, 8% một năm. Nhưng hãy thử tỉnh táo nhìn xem, đó chủ yếu là nhờ các yếu tố bên ngoài, và nhờ bán tài nguyên thô. Thực lực kinh tế của ta vẫn còn hết sức yếu kém. GDP năm 2008 của ta khoảng 100 tỷ đô-la, thì đầu tư nước ngoài là khoảng 20 tỷ, Việt kiều gửi về khoảng 5 tỷ, lao động xuất khẩu gửi về khoảng 3 tỷ, bán dầu thô khoảng vài tỷ, bán gạo khoảng vài tỷ. Như vậy các yếu tố bên ngoài, và bán tài nguyên thô chiếm khoảng gần 40% trong cơ cấu GDP của Việt Nam.
Việt Nam ta chưa bao giờ công khai các số liệu và tình hình về quốc phòng của mình. Nhưng gần đây, báo chí thấy bắt đầu được đưa tin về việc Việt Nam mua vũ khí của Nga. Và một số trang Web và blog cá nhân cũng xuất hiện, nói khá chi tiết về tình hình quốc phòng của Việt Nam. Có lẽ người ta đang muốn cho dư luận biết là quốc phòng của Việt Nam giờ đây không yếu lắm đâu, đừng quá lo về sức mạnh quốc phòng của Trung Quốc. Báo chí đưa tin Mỹ đã có những hợp tác quân sự với Việt Nam mà trước đây chưa hề có. Mỹ sẽ đào tạo phi công cho Việt Nam, sẽ có thể sẽ bán một số vũ khí hiện đại cho ta, và sẽ mở rộng hợp tác quân sự hơn nữa.
Báo chí cũng đưa tin Việt Nam ta hợp tác quân sự với Ấn Độ, mua một số vũ khí của Ấn Độ, và Ấn Độ cũng huấn luyện việc sử dụng một số vũ khí cho quân đội ta. Nhưng có lẽ sôi nổi nhất là một số trang mạng và bolg cá nhân đã đưa tin khá chi tiết về quan hệ quốc phòng Việt Nam và Nga. Vào năm 2003, Việt Nam mua của Nga hai tiểu đoàn tên lửa phòng không S-300, mỗi tiểu đoàn có 3 khẩu đội, trị giá tổng cộng 300 triệu đô-la. Năm 2004, Việt Nam mua 12 tàu phóng tên lửa (missile boats) kiểu Project 12418 trị giá 120 triệu đôla. Và năm 2009, Việt Nam lần đầu tiên chi tới 1,8 tỷ đôla mua 6 tàu ngầm loại Kilo của Nga, trị giá 300 triệu đôla 1 tàu. Cho đến hiện nay, Việt Nam chỉ có 2 tàu ngầm “bỏ túi”, tức là rất nhỏ, mua của Bắc Triều Tiên. Năm 2009 Việt Nam cũng mua 12 máy bay Su-30 của Nga, trị giá 500 triệu đo-la, nhưng sau đó rút xuống còn 8 chiếc, vì Việt Nam thiếu tiền.
Một số thông tin trên mạng cá nhân của Việt Nam cũng đưa tin Nga sẽ đóng cho Việt Nam, hoặc cấp giấy phép cho Việt Nam đóng tàu chiến khu trục trọng tải 2100 tấn...
Một số trang web và blog cá nhân của Việt Nam sau khi đưa tin về tiềm lực khổng lồ của quân sự Trung Quốc, đã có nhận xét rằng Trung Quốc chẳng có kinh nghiệm chiến tranh gì cả, rằng cuộc chiến biên giới năm 1979 đã cho thấy Trung Quốc “chẳng là cái đinh gỉ gì cả”, rằng nếu Trung Quốc định gây hấn chiếm đảo Trường Sa lần này, thì Trung Quốc sẽ chỉ thất bại mà thôi. Việt Nam ta có đặc công nước, có chiến thuật du kích trên biển, có vũ khí hiện đại, “chẳng sợ cóc gì tàu khựa”. Rằng Việt Nam ta đã từng thắng Trung Quốc nhiều lần, đã thắng Pháp, thắng Mỹ, kinh nghiệm chiến tranh có nhiều, có lòng dũng cảm, thiện chiến...
Trước tiên, có lẽ không nên gọi Trung Quốc là “tàu khựa”. Dù đánh nhau, thì cũng nên gọi nhau một cách có văn hóa. Ta gọi Trung Quốc là “tàu khựa”, thì họ cũng gọi ta là “man di”. Ứng xử với nhau một cách có văn hóa, thì vẫn cao thượng hơn. Trong cuộc chiến chống quân Minh cách đây 600 năm, sau khi ta thắng, các cụ Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã cho đóng thuyền, cấp ngựa, lương thực cho hàng binh nhà Minh về nước, khiến cho đến ngày nay, nhiều người Trung Quốc vẫn cảm kích.
Về cuộc chiến ngày nay, nếu xảy ra, thì Trung Quốc ngày nay cũng đã khác Trung Quốc trước đây nhiều.
Lịch sử đã chứng minh trên thế giới đã từng có những nước anh hùng, làm bá chủ thế giới một thời, nhưng nay chỉ còn là những nước nhỏ yếu, không có trọng lượng trên trường quốc tế. Nước Macedonia của Alexander Đại đế là một ví dụ. Hoàng đế Alexander the Great lên ngôi vua Macedonia năm 332 BC, khi mới 20 tuổi. Trong 13 năm cầm quân, đến khi ông mất năm 33 tuổi, ông đã đánh “trăm trận trăm thắng”, đế quốc Macedonia của ông đã mở rộng từ tây sang đông, bao gồm cả Hilạp, Ai cập,,,,. Nhưng rồi sau khi ông mất, nước Macedonia dần dần bị suy yếu, bị chia nhỏ, và ngày nay, chỉ còn là một nước Macedonia nhỏ bé, yếu đuối, trước đây nằm trong Liên bang Nam Tư. Hoặc đế quốc Mông cổ là một ví dụ. Khi Hoàng đế Genghis Khan cầm quân, đế quốc Mông Cổ đã xâm chiếm cả Trung Quốc, cả châu Âu, cả thế giới kinh hoàng trước quân Tac-ta Mông cổ. Nhưng rồi quân Nguyên thua tại Việt Nam 3 lần, và ngày nay, nước Mông Cổ chỉ còn là một nước nhỏ yếu, chỉ nổi tiếng ở nghề chăn cừu.
Sở dĩ 2 quốc gia Macedonia và Mông Cổ không giữ được lâu cái sự vô địch của họ, là bởi vì họ không xây dựng được một xã hội có cơ chế phù hợp, không có nền tảng kinh tế-chính trị và xã hội vững chắc và tiến bộ, để bảo đảm cho khoa học và kỹ thuật phát triển, nên sự anh hùng của họ chỉ là nhất thời.
Nước Việt Nam ta rất anh hùng, đã từng thắng Trung Quốc, thắng Pháp, thắng Mỹ. Nhưng nếu ta không xây dựng được một xã hội có nền tảng vững chắc, thì cái anh hùng của ta cũng sẽ chỉ là “vang bóng một thời” mà thôi. Hãy nhớ lại bài học lịch sử xưa. Nước ta đã từng thắng quân Nguyên 3 lần, vào các năm 1257, 1284, và 1288. Chiến thắng thật là lừng lẫy. Thế nhưng gần 100 năm sau, vào những năm 1380, Chế Bồng Nga người Chiêm Thành đã 3 lần xâm chiếm được Thăng Long, ra vào nước ta như đi vào chỗ không người, quân nhà Trần thua chạy liểng xiểng. Rất may năm 1390, tướng Trần Khát Chân giết được Chế Bồng Nga, nên mới cứu được nước ta khỏi trở thành thuộc quốc của Chiêm Thành. Nếu thế giới đứng yên, chiến tranh chỉ mãi mãi là cung, nỏ, giáo mác, kiếm, ngựa, thì Macedonia và Mông cổ sẽ vẫn hùng mạnh. Nhưng thế giới không đứng yên, kinh tế, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, vũ khí mới không ngừng được phát minh. Và nước nào không bảo đảm cho nền kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật phát triển tiên tiến, thì sẽ thất bại, cả trong thời chiến, lần thời bình. Chưa có một quốc gia nào có thể bảo vệ vững chắc tổ quốc của mình chỉ bằng vũ khí đi mua.
Nếu Việt Nam ta không thể tự sản xuất được vũ khí hiện đại, tân tiến, thì ta không thể có nền quốc phòng vững chắc được. Nếu đi mua vũ khí, thì không một nền kinh tế nào có thể chịu đựng nổi. Vì vũ khí là loại hàng xa xỉ đắt nhất thế giới. Và hơn nữa, người ta không bán các loại vũ khí hiện đại nhất, mạnh nhất cho ta. Ta chỉ có thể mua được các loại vũ khí vừa vừa, không đủ để bảo vệ tổ quốc, biển, đảo.
Trong chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cho dù ta có mưu giỏi, dũng cảm, lòng yêu nước, nhưng nếu không có pháo do Trung Quốc giúp, thì ta không thể thắng được trận Điện Biên Phủ. Trong chiến tranh với người Mỹ 1954-1975, cho dù ta có lòng dũng cảm, mưu trí, đoàn kết, nhưng nếu không có vũ khí do Liên Xô và các nước anh em giúp đỡ, thì ta cũng không thể thắng được.
Ngày nay, không ai giúp đỡ ta cả. Ta phải tự lo lấy về tiềm lực quốc phòng.
Và như vậy Đảng ta đang đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn.
Muốn kinh tế phát triển, thì phải thực hiện tốt hơn cơ chế thị trường, mở rộng tự do dân chủ hơn nữa. Nhưng nếu mở rộng dân chủ, tự do hơn nữa, giảm bớt “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì Đảng ta lại sợ bị mất chính quyền. Hiện nay, mới chỉ có một dúm người đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam, mà Đảng ta đã phải đối phó thật vất vả, bị động.
Với cơ chế “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như hiện nay, có thể bảo đảm nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, vững chắc, người tài được sử dụng không?
Chắc chắn nhiều người nói là “được”, vì ta đang ổn định nhất thế giới, và nền kinh tế sau đổi mới đang phát triển tốc độ nhanh, 6, 7, 8% một năm...
Đúng là ta đang phát triển nhanh 7, 8% một năm. Nhưng hãy thử tỉnh táo nhìn xem, đó chủ yếu là nhờ các yếu tố bên ngoài, và nhờ bán tài nguyên thô. Thực lực kinh tế của ta vẫn còn hết sức yếu kém. GDP năm 2008 của ta khoảng 100 tỷ đô-la, thì đầu tư nước ngoài là khoảng 20 tỷ, Việt kiều gửi về khoảng 5 tỷ, lao động xuất khẩu gửi về khoảng 3 tỷ, bán dầu thô khoảng vài tỷ, bán gạo khoảng vài tỷ. Như vậy các yếu tố bên ngoài, và bán tài nguyên thô chiếm khoảng gần 40% trong cơ cấu GDP của Việt Nam. Tiềm lực kinh tế thật thì còn quá ọp ẹp. Như ông Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị khi mới nhậm chức, đã từng nhận xét về nền kinh tế Hà Nội, là sản phẩm mạnh nhất của Hà Nội chỉ là màn tuyn!
Một vị đại sứ nước ngoài ở nước ta cũng đã từng nhận xét gần đây là mặc dù kinh tế Việt Nam đổi mới sau hơn 20 năm, nhưng không sản xuất nổi các loại bao bì cho đúng chất lượng.
Nền kinh tế đó có thể bảo đảm cho một nền quốc phòng mạnh được không?
Không. Nếu có chiến tranh, thì nền kinh tế đó của Việt Nam ta thực sự là một thảm họa.
Tự ru ngủ bằng những cái anh hùng xưa là một nguy cơ nhãn tiền có thể không bao giờ sửa chữa được.
Nguyễn Gót Asin
Đúng là ta đang phát triển nhanh 7, 8% một năm. Nhưng hãy thử tỉnh táo nhìn xem, đó chủ yếu là nhờ các yếu tố bên ngoài, và nhờ bán tài nguyên thô. Thực lực kinh tế của ta vẫn còn hết sức yếu kém. GDP năm 2008 của ta khoảng 100 tỷ đô-la, thì đầu tư nước ngoài là khoảng 20 tỷ, Việt kiều gửi về khoảng 5 tỷ, lao động xuất khẩu gửi về khoảng 3 tỷ, bán dầu thô khoảng vài tỷ, bán gạo khoảng vài tỷ. Như vậy các yếu tố bên ngoài, và bán tài nguyên thô chiếm khoảng gần 40% trong cơ cấu GDP của Việt Nam.
Việt Nam ta chưa bao giờ công khai các số liệu và tình hình về quốc phòng của mình. Nhưng gần đây, báo chí thấy bắt đầu được đưa tin về việc Việt Nam mua vũ khí của Nga. Và một số trang Web và blog cá nhân cũng xuất hiện, nói khá chi tiết về tình hình quốc phòng của Việt Nam. Có lẽ người ta đang muốn cho dư luận biết là quốc phòng của Việt Nam giờ đây không yếu lắm đâu, đừng quá lo về sức mạnh quốc phòng của Trung Quốc. Báo chí đưa tin Mỹ đã có những hợp tác quân sự với Việt Nam mà trước đây chưa hề có. Mỹ sẽ đào tạo phi công cho Việt Nam, sẽ có thể sẽ bán một số vũ khí hiện đại cho ta, và sẽ mở rộng hợp tác quân sự hơn nữa.
Báo chí cũng đưa tin Việt Nam ta hợp tác quân sự với Ấn Độ, mua một số vũ khí của Ấn Độ, và Ấn Độ cũng huấn luyện việc sử dụng một số vũ khí cho quân đội ta. Nhưng có lẽ sôi nổi nhất là một số trang mạng và bolg cá nhân đã đưa tin khá chi tiết về quan hệ quốc phòng Việt Nam và Nga. Vào năm 2003, Việt Nam mua của Nga hai tiểu đoàn tên lửa phòng không S-300, mỗi tiểu đoàn có 3 khẩu đội, trị giá tổng cộng 300 triệu đô-la. Năm 2004, Việt Nam mua 12 tàu phóng tên lửa (missile boats) kiểu Project 12418 trị giá 120 triệu đôla. Và năm 2009, Việt Nam lần đầu tiên chi tới 1,8 tỷ đôla mua 6 tàu ngầm loại Kilo của Nga, trị giá 300 triệu đôla 1 tàu. Cho đến hiện nay, Việt Nam chỉ có 2 tàu ngầm “bỏ túi”, tức là rất nhỏ, mua của Bắc Triều Tiên. Năm 2009 Việt Nam cũng mua 12 máy bay Su-30 của Nga, trị giá 500 triệu đo-la, nhưng sau đó rút xuống còn 8 chiếc, vì Việt Nam thiếu tiền.
Một số thông tin trên mạng cá nhân của Việt Nam cũng đưa tin Nga sẽ đóng cho Việt Nam, hoặc cấp giấy phép cho Việt Nam đóng tàu chiến khu trục trọng tải 2100 tấn...
Một số trang web và blog cá nhân của Việt Nam sau khi đưa tin về tiềm lực khổng lồ của quân sự Trung Quốc, đã có nhận xét rằng Trung Quốc chẳng có kinh nghiệm chiến tranh gì cả, rằng cuộc chiến biên giới năm 1979 đã cho thấy Trung Quốc “chẳng là cái đinh gỉ gì cả”, rằng nếu Trung Quốc định gây hấn chiếm đảo Trường Sa lần này, thì Trung Quốc sẽ chỉ thất bại mà thôi. Việt Nam ta có đặc công nước, có chiến thuật du kích trên biển, có vũ khí hiện đại, “chẳng sợ cóc gì tàu khựa”. Rằng Việt Nam ta đã từng thắng Trung Quốc nhiều lần, đã thắng Pháp, thắng Mỹ, kinh nghiệm chiến tranh có nhiều, có lòng dũng cảm, thiện chiến...
Trước tiên, có lẽ không nên gọi Trung Quốc là “tàu khựa”. Dù đánh nhau, thì cũng nên gọi nhau một cách có văn hóa. Ta gọi Trung Quốc là “tàu khựa”, thì họ cũng gọi ta là “man di”. Ứng xử với nhau một cách có văn hóa, thì vẫn cao thượng hơn. Trong cuộc chiến chống quân Minh cách đây 600 năm, sau khi ta thắng, các cụ Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã cho đóng thuyền, cấp ngựa, lương thực cho hàng binh nhà Minh về nước, khiến cho đến ngày nay, nhiều người Trung Quốc vẫn cảm kích.
Về cuộc chiến ngày nay, nếu xảy ra, thì Trung Quốc ngày nay cũng đã khác Trung Quốc trước đây nhiều.
Lịch sử đã chứng minh trên thế giới đã từng có những nước anh hùng, làm bá chủ thế giới một thời, nhưng nay chỉ còn là những nước nhỏ yếu, không có trọng lượng trên trường quốc tế. Nước Macedonia của Alexander Đại đế là một ví dụ. Hoàng đế Alexander the Great lên ngôi vua Macedonia năm 332 BC, khi mới 20 tuổi. Trong 13 năm cầm quân, đến khi ông mất năm 33 tuổi, ông đã đánh “trăm trận trăm thắng”, đế quốc Macedonia của ông đã mở rộng từ tây sang đông, bao gồm cả Hilạp, Ai cập,,,,. Nhưng rồi sau khi ông mất, nước Macedonia dần dần bị suy yếu, bị chia nhỏ, và ngày nay, chỉ còn là một nước Macedonia nhỏ bé, yếu đuối, trước đây nằm trong Liên bang Nam Tư. Hoặc đế quốc Mông cổ là một ví dụ. Khi Hoàng đế Genghis Khan cầm quân, đế quốc Mông Cổ đã xâm chiếm cả Trung Quốc, cả châu Âu, cả thế giới kinh hoàng trước quân Tac-ta Mông cổ. Nhưng rồi quân Nguyên thua tại Việt Nam 3 lần, và ngày nay, nước Mông Cổ chỉ còn là một nước nhỏ yếu, chỉ nổi tiếng ở nghề chăn cừu.
Sở dĩ 2 quốc gia Macedonia và Mông Cổ không giữ được lâu cái sự vô địch của họ, là bởi vì họ không xây dựng được một xã hội có cơ chế phù hợp, không có nền tảng kinh tế-chính trị và xã hội vững chắc và tiến bộ, để bảo đảm cho khoa học và kỹ thuật phát triển, nên sự anh hùng của họ chỉ là nhất thời.
Nước Việt Nam ta rất anh hùng, đã từng thắng Trung Quốc, thắng Pháp, thắng Mỹ. Nhưng nếu ta không xây dựng được một xã hội có nền tảng vững chắc, thì cái anh hùng của ta cũng sẽ chỉ là “vang bóng một thời” mà thôi. Hãy nhớ lại bài học lịch sử xưa. Nước ta đã từng thắng quân Nguyên 3 lần, vào các năm 1257, 1284, và 1288. Chiến thắng thật là lừng lẫy. Thế nhưng gần 100 năm sau, vào những năm 1380, Chế Bồng Nga người Chiêm Thành đã 3 lần xâm chiếm được Thăng Long, ra vào nước ta như đi vào chỗ không người, quân nhà Trần thua chạy liểng xiểng. Rất may năm 1390, tướng Trần Khát Chân giết được Chế Bồng Nga, nên mới cứu được nước ta khỏi trở thành thuộc quốc của Chiêm Thành. Nếu thế giới đứng yên, chiến tranh chỉ mãi mãi là cung, nỏ, giáo mác, kiếm, ngựa, thì Macedonia và Mông cổ sẽ vẫn hùng mạnh. Nhưng thế giới không đứng yên, kinh tế, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, vũ khí mới không ngừng được phát minh. Và nước nào không bảo đảm cho nền kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật phát triển tiên tiến, thì sẽ thất bại, cả trong thời chiến, lần thời bình. Chưa có một quốc gia nào có thể bảo vệ vững chắc tổ quốc của mình chỉ bằng vũ khí đi mua.
Nếu Việt Nam ta không thể tự sản xuất được vũ khí hiện đại, tân tiến, thì ta không thể có nền quốc phòng vững chắc được. Nếu đi mua vũ khí, thì không một nền kinh tế nào có thể chịu đựng nổi. Vì vũ khí là loại hàng xa xỉ đắt nhất thế giới. Và hơn nữa, người ta không bán các loại vũ khí hiện đại nhất, mạnh nhất cho ta. Ta chỉ có thể mua được các loại vũ khí vừa vừa, không đủ để bảo vệ tổ quốc, biển, đảo.
Trong chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cho dù ta có mưu giỏi, dũng cảm, lòng yêu nước, nhưng nếu không có pháo do Trung Quốc giúp, thì ta không thể thắng được trận Điện Biên Phủ. Trong chiến tranh với người Mỹ 1954-1975, cho dù ta có lòng dũng cảm, mưu trí, đoàn kết, nhưng nếu không có vũ khí do Liên Xô và các nước anh em giúp đỡ, thì ta cũng không thể thắng được.
Ngày nay, không ai giúp đỡ ta cả. Ta phải tự lo lấy về tiềm lực quốc phòng.
Và như vậy Đảng ta đang đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn.
Muốn kinh tế phát triển, thì phải thực hiện tốt hơn cơ chế thị trường, mở rộng tự do dân chủ hơn nữa. Nhưng nếu mở rộng dân chủ, tự do hơn nữa, giảm bớt “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì Đảng ta lại sợ bị mất chính quyền. Hiện nay, mới chỉ có một dúm người đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam, mà Đảng ta đã phải đối phó thật vất vả, bị động.
Với cơ chế “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như hiện nay, có thể bảo đảm nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, vững chắc, người tài được sử dụng không?
Chắc chắn nhiều người nói là “được”, vì ta đang ổn định nhất thế giới, và nền kinh tế sau đổi mới đang phát triển tốc độ nhanh, 6, 7, 8% một năm...
Đúng là ta đang phát triển nhanh 7, 8% một năm. Nhưng hãy thử tỉnh táo nhìn xem, đó chủ yếu là nhờ các yếu tố bên ngoài, và nhờ bán tài nguyên thô. Thực lực kinh tế của ta vẫn còn hết sức yếu kém. GDP năm 2008 của ta khoảng 100 tỷ đô-la, thì đầu tư nước ngoài là khoảng 20 tỷ, Việt kiều gửi về khoảng 5 tỷ, lao động xuất khẩu gửi về khoảng 3 tỷ, bán dầu thô khoảng vài tỷ, bán gạo khoảng vài tỷ. Như vậy các yếu tố bên ngoài, và bán tài nguyên thô chiếm khoảng gần 40% trong cơ cấu GDP của Việt Nam. Tiềm lực kinh tế thật thì còn quá ọp ẹp. Như ông Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị khi mới nhậm chức, đã từng nhận xét về nền kinh tế Hà Nội, là sản phẩm mạnh nhất của Hà Nội chỉ là màn tuyn!
Một vị đại sứ nước ngoài ở nước ta cũng đã từng nhận xét gần đây là mặc dù kinh tế Việt Nam đổi mới sau hơn 20 năm, nhưng không sản xuất nổi các loại bao bì cho đúng chất lượng.
Nền kinh tế đó có thể bảo đảm cho một nền quốc phòng mạnh được không?
Không. Nếu có chiến tranh, thì nền kinh tế đó của Việt Nam ta thực sự là một thảm họa.
Tự ru ngủ bằng những cái anh hùng xưa là một nguy cơ nhãn tiền có thể không bao giờ sửa chữa được.
Nguyễn Gót Asin
Thế cân bằng Mỹ – Trung Quốc
Tuesday, July 28, 2009
Ngô Nhân Dụng
Ngoại Trưởng Hillary Clinton và Bộ Trưởng Tài Chánh Tim Geithner đang họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế với các ông Vương Kỳ Sanh, phó thủ tướng và Ðới Bính Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ nói nước Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến đến gần nhau hơn. Ông Ðới Bính Quốc mô tả hai nước như cùng đi trên một con thuyền lớn đang bị sóng to gió lớn, và quyền lợi hai bên liên hệ chằng chịt với nhau.
Người Việt nghe câu đó có người giật mình, nghĩ ngay đến những con “tầu lạ” đâm vào các thuyền của ngư phủ Việt Nam ra khơi đánh cá trong mấy tháng qua!
Cuộc gặp mặt hàng năm của hai chính phủ Trung Hoa và Mỹ tiếp nối một chính sách đã bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1972 giữa Richard Nixon cùng với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai. Chuyến Hoa du của Nixon thúc đẩy Mao và Chu vào vị thế liên kết với Mỹ để cùng chống Nga, nhưng cũng cho Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng rút khỏi Việt Nam vì có những quan tâm chiến lược lớn hơn khắp thế giới. Sau đó là chuyến công du lịch sử của Ðặng Tiểu Bình tới Washington năm 1979. Thăm viếng nước Mỹ rồi, Ðặng Tiểu Bình xua quân sang “dậy cho Việt Nam một bài học,” bài học dậy bằng những xác chết người Việt và người Trung Hoa vô tội.
Hôm Thứ Hai, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố bang giao Hoa-Mỹ sẽ có ảnh hưởng quyết định trên thế giới trong thế kỷ 21 - “shape the 21st century,” trong nguyên văn. Nói điều này ra cũng chỉ là nói một sự thật. Các chính phủ Mỹ từ thời Nixon đến nay vẫn tiếp tục chính sách giao thương giúp kinh tế Trung Hoa thoát khỏi cảnh trì trệ và lạc hậu do chế độ Cộng Sản gây ra. Họ chấp nhận sẽ có một cường quốc đối thoại ngang hàng với Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương, và viễn tượng đó đã thành hình qua các thời tổng thống thuộc cả hai đảng.
Người Việt Nam lại tự hỏi: Khi Mỹ và Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao của họ lên hàng chiến lược như vậy thì số phận Việt Nam có bị họ quyết định hay không và quyết định ra sao?
Chúng ta không nên quá lo lắng chuyện hai nước Mỹ, Hoa sẽ chia nhau ảnh hưởng trên các quốc gia ở Thái Bình Dương, trong đó các nước nhỏ như Việt Nam sẽ bị dùng làm một vật trao đổi. Kinh nghiệm lịch sử sẽ khiến các chính phủ Mỹ không dám theo con đường phiêu lưu đó. Và các hoạt động ngoại giao hiện đang diễn ra cũng cho thấy nước Mỹ chắc chắn sẽ không để cho Trung Quốc tự do bành trướng, hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ chung quanh.
Trong thế kỷ trước, Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm đau đớn khi một cường quốc Á Châu bành trướng, đó là Nhật Bản. Nước Nhật đã vươn lên từ khi đánh bại hải quân Nga năm 1905, và bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng trên miền Ðông Bắc Châu Á. Khi Nhật Bản chiếm bán đảo Cao Ly, tới Mãn Châu, rồi gây chiến với Trung Quốc sau “biến cố” Lư Cầu Kiều năm 1937, Mỹ tuy bênh vực Trung Quốc nhưng vẫn đứng ngoài, nhìn các con cọp giao đấu. Những biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ chỉ làm cho Nhật Bản càng thấy nhu cầu phải bành trướng mạnh hơn để chiếm lấy những miền đất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Chỉ đến khi quân Nhật tấn công Pearl Harbor cuối năm 1941 thì Mỹ mới chính thức bước vào vòng chiến. Bài học của cuộc chiến tranh đó là chính phủ Mỹ không thể để yên cho một cường quốc Á Châu xâm chiếm, ép buộc các nước Á Châu khác trong kế hoạch bành trướng ảnh hưởng của họ, mà tưởng là nước Mỹ sẽ được yên thân.
Với kinh nghiệm đó, chắc chắn các chính phủ Mỹ trong thế kỷ 21 này sẽ phải ngăn ngừa trước mọi kế hoạch bành trướng của bất cứ quốc gia nào trong vùng Châu Á; trước khi quá trễ. Rõ ràng là quốc gia duy nhất hiện nay có thể nuôi tham vọng bành trướng này là Trung Quốc, một nước với những vị hoàng đế tự xưng là Thiên Tử (Con Trời), mà qua hai ngàn năm vẫn tự coi họ là trung tâm của Thiên Hạ, tất cả mọi thứ dưới bầu trời.
Cho nên ngay trong lúc tiến hành chính sách giao thương và khuyến khích Trung Quốc thay đổi theo đường lối tư bản để cải thiện kinh tế, các chính phủ Mỹ vẫn không quên củng cố những hàng rào chung quanh cường quốc đang lên này. Nước Mỹ không có lý do nào để tiếp tục giữ quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, nếu không phải là đề phòng Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục những hiệp ước bảo vệ Ðài Loan, vẫn bán vũ khí chiến lược cho Trung Hoa Dân Quốc, và gần đây nhất bắt đầu hợp tác với Ấn Ðộ về quân sự, năng lượng nguyên tử, và sản xuất vũ khí. Các nước Ðông Nam Á đều nhìn thấy mối đe dọa từ Trung Quốc và thiết tha hợp tác với Mỹ. Úc là một đồng minh tự nhiên của Mỹ vì cả hai đều theo thể chế tự do dân chủ, mà Úc cũng là một quốc gia của di dân như nước Mỹ.
Tuần trước, bà Hillary Clinton mới tới Thái Lan họp và ngày 22 Tháng Bẩy 2009 đã ký vào bản Hiệp Ước Thân Hữu và Cộng Tác với khối Ðông Nam Á ASEAN. Lâu lắm chính phủ Mỹ mới cử một người cấp ngoại trưởng đến dự cuộc họp của khối này, trong thời Tổng Thống George W. Bush chỉ có những viên chức cấp thấp đến dự. Năm 2005, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự một cuộc họp Diễn Ðàn Vùng ASEAN (ARF) của các nước Ðông Nam Á mà từ năm 1982 lúc nào các vị ngoại trưởng Mỹ cũng dự, khiến năm đó nhiều người lo ngại chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi không chú ý đến khu vực này nữa. Năm nay tình thế thay đổi, có thể chính vì chính sách gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong vùng này. Bà Clinton tuyên bố, “Hoa Kỳ đã trở lại Ðông Nam Á.” Bà không ngại nói thẳng đến mối lo ngại của các nước láng giềng của Trung Quốc, và nói, “cho nên chúng tôi muốn tăng cường mối bang giao với các nước ở phía Ðông và Ðông Nam Châu Á. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là mọi nước có thể làm việc với nhau và Trung Quốc sẽ tập trung mọi nỗ lực của họ vào việc nâng cao đời sống kinh tế của dân chúng họ để cạnh tranh trên thị trường (thế giới).”
Sau khi trở về Washington, Hillary Clinton đã dự cuộc họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế cùng với ông Tim Geithner, mà năm ngoái chỉ do ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson trong chính phủ Bush dẫn đầu. Các cuộc họp đối thoại trước đây chỉ nhắm vào các vấn đề kinh tế giữa hai nước. Từ năm ngoái ông Paulson đã mở rộng đề tài bàn cả về vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn. Giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhiều vấn đề chung cần bàn cũng liên can đến kinh tế nữa, cho nên năm nay có mặt của bà Clinton. Trong cơ cấu chính quyền ở Washington, một bộ trưởng ngoại giao có địa vị cao hơn bộ trưởng tài chánh.
Ông Geithner vẫn tiếp tục lời kêu gọi thường lệ của chính phủ Mỹ là Bắc Kinh hãy bớt chú trọng đến xuất cảng hàng hóa mà nên hướng cho người dân Trung Hoa được tiêu thụ nhiều hơn. Nhưng ông Obama đến khai mạc cuộc họp đã không quên nhắc nhở chính phủ Trung Quốc phải tôn trọng quyền làm người bên trong lãnh thổ của họ. Một cách cụ thể, ông nhấn mạnh, “tôn giáo và văn hóa của mọi dân tộc phải được tôn trọng và được bảo vệ.” Ai cũng hiểu rằng ông Obama ám chỉ tới văn hóa và tôn giáo của người Uighur ở Tân Cương và người Tây Tạng. Hiện nay chính phủ Mỹ chưa quyết định ông Obama nên gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trước hay đợi sau chuyến công du của ông sang Trung Quốc rồi mới gặp.
Nếu Mỹ với Trung Quốc không quyết định cho cả thế giới thì mối bang giao giữa hai nước chắc chắn sẽ quyết định tình hình Ðông Nam Á trong thế kỷ 21 này. Ðó là hai cường quốc trong vùng, mặc dù nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương.
Nước Mỹ đã giúp cho Trung Quốc tiến đến địa vị ngày hôm nay, kể từ khi Tổng Thống Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông và Tổng Thống Carter đón tiếp Ðặng Tiểu Bình. Khách tiêu thụ ở Mỹ giúp các xí nghiệp ở Trung Quốc phát triển, những đầu tư của người Mỹ và người Hoa ở Mỹ giúp nâng cao công nghiệp và kỹ thuật ở Ðài Loan rồi từ đó lan sang lục địa. Chính nước Mỹ góp phần nâng địa vị của Trung Quốc trong vùng Ðông Nam Á lên cao hơn.
Trong tình thế đó, đường lối ngoại giao của nước Việt Nam không thể nghiêng về một nước, dù là Trung Quốc hay Mỹ. Nhưng trong lúc bị sức nặng của Trung Quốc đè lên một bên vai, thì cần tái lập thế cân bằng mới, qua những liên hệ mật thiết hơn với Mỹ. Cần phải tái lập thế cân bằng giữa hai cường quốc Thái Bình Dương, nếu không Việt Nam sẽ bị lép vế đối với Trung Quốc mãi mãi.
Nhưng sau cùng, đường lối tốt nhất vẫn là gây dựng cơ bản cho các quan hệ song phương với tất cả các nước Á Ðông, đặc biệt là vùng Ðông Nam Á. Khi khối Ðông Nam Á đoàn kết và phồn thịnh hơn thì không còn sợ Trung Quốc bành trướng, cũng không sợ Mỹ bỏ rơi nữa. Một khối gần 600 triệu dân Ðông Nam Á sẽ đủ sức bảo vệ lẫn nhau.
Cho nên chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam cần phải tự tách dần ra khỏi vòng kềm tỏa của Cộng Sản Trung Quốc, để phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và cả quân sự với các nước Ðông Nam Á. Phải dùng diễn đàn ASEAN nhiều hơn nữa để đưa ra những vấn đề tranh chấp về chủ quyền trên biển và trên đất liền với Trung Quốc. Nếu cứ nhắm mắt cúi đầu xin trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ còn chịu thiệt thòi rất lâu, có khi sẽ trở thành hoàn toàn lệ thuộc. Mà nhiều người Việt lo tình trạng lệ thuộc đó đã diễn ra rồi!
Tuesday, July 28, 2009
Ngô Nhân Dụng
Ngoại Trưởng Hillary Clinton và Bộ Trưởng Tài Chánh Tim Geithner đang họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế với các ông Vương Kỳ Sanh, phó thủ tướng và Ðới Bính Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ nói nước Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến đến gần nhau hơn. Ông Ðới Bính Quốc mô tả hai nước như cùng đi trên một con thuyền lớn đang bị sóng to gió lớn, và quyền lợi hai bên liên hệ chằng chịt với nhau.
Người Việt nghe câu đó có người giật mình, nghĩ ngay đến những con “tầu lạ” đâm vào các thuyền của ngư phủ Việt Nam ra khơi đánh cá trong mấy tháng qua!
Cuộc gặp mặt hàng năm của hai chính phủ Trung Hoa và Mỹ tiếp nối một chính sách đã bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1972 giữa Richard Nixon cùng với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai. Chuyến Hoa du của Nixon thúc đẩy Mao và Chu vào vị thế liên kết với Mỹ để cùng chống Nga, nhưng cũng cho Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng rút khỏi Việt Nam vì có những quan tâm chiến lược lớn hơn khắp thế giới. Sau đó là chuyến công du lịch sử của Ðặng Tiểu Bình tới Washington năm 1979. Thăm viếng nước Mỹ rồi, Ðặng Tiểu Bình xua quân sang “dậy cho Việt Nam một bài học,” bài học dậy bằng những xác chết người Việt và người Trung Hoa vô tội.
Hôm Thứ Hai, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố bang giao Hoa-Mỹ sẽ có ảnh hưởng quyết định trên thế giới trong thế kỷ 21 - “shape the 21st century,” trong nguyên văn. Nói điều này ra cũng chỉ là nói một sự thật. Các chính phủ Mỹ từ thời Nixon đến nay vẫn tiếp tục chính sách giao thương giúp kinh tế Trung Hoa thoát khỏi cảnh trì trệ và lạc hậu do chế độ Cộng Sản gây ra. Họ chấp nhận sẽ có một cường quốc đối thoại ngang hàng với Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương, và viễn tượng đó đã thành hình qua các thời tổng thống thuộc cả hai đảng.
Người Việt Nam lại tự hỏi: Khi Mỹ và Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao của họ lên hàng chiến lược như vậy thì số phận Việt Nam có bị họ quyết định hay không và quyết định ra sao?
Chúng ta không nên quá lo lắng chuyện hai nước Mỹ, Hoa sẽ chia nhau ảnh hưởng trên các quốc gia ở Thái Bình Dương, trong đó các nước nhỏ như Việt Nam sẽ bị dùng làm một vật trao đổi. Kinh nghiệm lịch sử sẽ khiến các chính phủ Mỹ không dám theo con đường phiêu lưu đó. Và các hoạt động ngoại giao hiện đang diễn ra cũng cho thấy nước Mỹ chắc chắn sẽ không để cho Trung Quốc tự do bành trướng, hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ chung quanh.
Trong thế kỷ trước, Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm đau đớn khi một cường quốc Á Châu bành trướng, đó là Nhật Bản. Nước Nhật đã vươn lên từ khi đánh bại hải quân Nga năm 1905, và bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng trên miền Ðông Bắc Châu Á. Khi Nhật Bản chiếm bán đảo Cao Ly, tới Mãn Châu, rồi gây chiến với Trung Quốc sau “biến cố” Lư Cầu Kiều năm 1937, Mỹ tuy bênh vực Trung Quốc nhưng vẫn đứng ngoài, nhìn các con cọp giao đấu. Những biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ chỉ làm cho Nhật Bản càng thấy nhu cầu phải bành trướng mạnh hơn để chiếm lấy những miền đất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Chỉ đến khi quân Nhật tấn công Pearl Harbor cuối năm 1941 thì Mỹ mới chính thức bước vào vòng chiến. Bài học của cuộc chiến tranh đó là chính phủ Mỹ không thể để yên cho một cường quốc Á Châu xâm chiếm, ép buộc các nước Á Châu khác trong kế hoạch bành trướng ảnh hưởng của họ, mà tưởng là nước Mỹ sẽ được yên thân.
Với kinh nghiệm đó, chắc chắn các chính phủ Mỹ trong thế kỷ 21 này sẽ phải ngăn ngừa trước mọi kế hoạch bành trướng của bất cứ quốc gia nào trong vùng Châu Á; trước khi quá trễ. Rõ ràng là quốc gia duy nhất hiện nay có thể nuôi tham vọng bành trướng này là Trung Quốc, một nước với những vị hoàng đế tự xưng là Thiên Tử (Con Trời), mà qua hai ngàn năm vẫn tự coi họ là trung tâm của Thiên Hạ, tất cả mọi thứ dưới bầu trời.
Cho nên ngay trong lúc tiến hành chính sách giao thương và khuyến khích Trung Quốc thay đổi theo đường lối tư bản để cải thiện kinh tế, các chính phủ Mỹ vẫn không quên củng cố những hàng rào chung quanh cường quốc đang lên này. Nước Mỹ không có lý do nào để tiếp tục giữ quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, nếu không phải là đề phòng Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục những hiệp ước bảo vệ Ðài Loan, vẫn bán vũ khí chiến lược cho Trung Hoa Dân Quốc, và gần đây nhất bắt đầu hợp tác với Ấn Ðộ về quân sự, năng lượng nguyên tử, và sản xuất vũ khí. Các nước Ðông Nam Á đều nhìn thấy mối đe dọa từ Trung Quốc và thiết tha hợp tác với Mỹ. Úc là một đồng minh tự nhiên của Mỹ vì cả hai đều theo thể chế tự do dân chủ, mà Úc cũng là một quốc gia của di dân như nước Mỹ.
Tuần trước, bà Hillary Clinton mới tới Thái Lan họp và ngày 22 Tháng Bẩy 2009 đã ký vào bản Hiệp Ước Thân Hữu và Cộng Tác với khối Ðông Nam Á ASEAN. Lâu lắm chính phủ Mỹ mới cử một người cấp ngoại trưởng đến dự cuộc họp của khối này, trong thời Tổng Thống George W. Bush chỉ có những viên chức cấp thấp đến dự. Năm 2005, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự một cuộc họp Diễn Ðàn Vùng ASEAN (ARF) của các nước Ðông Nam Á mà từ năm 1982 lúc nào các vị ngoại trưởng Mỹ cũng dự, khiến năm đó nhiều người lo ngại chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi không chú ý đến khu vực này nữa. Năm nay tình thế thay đổi, có thể chính vì chính sách gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong vùng này. Bà Clinton tuyên bố, “Hoa Kỳ đã trở lại Ðông Nam Á.” Bà không ngại nói thẳng đến mối lo ngại của các nước láng giềng của Trung Quốc, và nói, “cho nên chúng tôi muốn tăng cường mối bang giao với các nước ở phía Ðông và Ðông Nam Châu Á. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là mọi nước có thể làm việc với nhau và Trung Quốc sẽ tập trung mọi nỗ lực của họ vào việc nâng cao đời sống kinh tế của dân chúng họ để cạnh tranh trên thị trường (thế giới).”
Sau khi trở về Washington, Hillary Clinton đã dự cuộc họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế cùng với ông Tim Geithner, mà năm ngoái chỉ do ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson trong chính phủ Bush dẫn đầu. Các cuộc họp đối thoại trước đây chỉ nhắm vào các vấn đề kinh tế giữa hai nước. Từ năm ngoái ông Paulson đã mở rộng đề tài bàn cả về vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn. Giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhiều vấn đề chung cần bàn cũng liên can đến kinh tế nữa, cho nên năm nay có mặt của bà Clinton. Trong cơ cấu chính quyền ở Washington, một bộ trưởng ngoại giao có địa vị cao hơn bộ trưởng tài chánh.
Ông Geithner vẫn tiếp tục lời kêu gọi thường lệ của chính phủ Mỹ là Bắc Kinh hãy bớt chú trọng đến xuất cảng hàng hóa mà nên hướng cho người dân Trung Hoa được tiêu thụ nhiều hơn. Nhưng ông Obama đến khai mạc cuộc họp đã không quên nhắc nhở chính phủ Trung Quốc phải tôn trọng quyền làm người bên trong lãnh thổ của họ. Một cách cụ thể, ông nhấn mạnh, “tôn giáo và văn hóa của mọi dân tộc phải được tôn trọng và được bảo vệ.” Ai cũng hiểu rằng ông Obama ám chỉ tới văn hóa và tôn giáo của người Uighur ở Tân Cương và người Tây Tạng. Hiện nay chính phủ Mỹ chưa quyết định ông Obama nên gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trước hay đợi sau chuyến công du của ông sang Trung Quốc rồi mới gặp.
Nếu Mỹ với Trung Quốc không quyết định cho cả thế giới thì mối bang giao giữa hai nước chắc chắn sẽ quyết định tình hình Ðông Nam Á trong thế kỷ 21 này. Ðó là hai cường quốc trong vùng, mặc dù nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương.
Nước Mỹ đã giúp cho Trung Quốc tiến đến địa vị ngày hôm nay, kể từ khi Tổng Thống Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông và Tổng Thống Carter đón tiếp Ðặng Tiểu Bình. Khách tiêu thụ ở Mỹ giúp các xí nghiệp ở Trung Quốc phát triển, những đầu tư của người Mỹ và người Hoa ở Mỹ giúp nâng cao công nghiệp và kỹ thuật ở Ðài Loan rồi từ đó lan sang lục địa. Chính nước Mỹ góp phần nâng địa vị của Trung Quốc trong vùng Ðông Nam Á lên cao hơn.
Trong tình thế đó, đường lối ngoại giao của nước Việt Nam không thể nghiêng về một nước, dù là Trung Quốc hay Mỹ. Nhưng trong lúc bị sức nặng của Trung Quốc đè lên một bên vai, thì cần tái lập thế cân bằng mới, qua những liên hệ mật thiết hơn với Mỹ. Cần phải tái lập thế cân bằng giữa hai cường quốc Thái Bình Dương, nếu không Việt Nam sẽ bị lép vế đối với Trung Quốc mãi mãi.
Nhưng sau cùng, đường lối tốt nhất vẫn là gây dựng cơ bản cho các quan hệ song phương với tất cả các nước Á Ðông, đặc biệt là vùng Ðông Nam Á. Khi khối Ðông Nam Á đoàn kết và phồn thịnh hơn thì không còn sợ Trung Quốc bành trướng, cũng không sợ Mỹ bỏ rơi nữa. Một khối gần 600 triệu dân Ðông Nam Á sẽ đủ sức bảo vệ lẫn nhau.
Cho nên chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam cần phải tự tách dần ra khỏi vòng kềm tỏa của Cộng Sản Trung Quốc, để phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và cả quân sự với các nước Ðông Nam Á. Phải dùng diễn đàn ASEAN nhiều hơn nữa để đưa ra những vấn đề tranh chấp về chủ quyền trên biển và trên đất liền với Trung Quốc. Nếu cứ nhắm mắt cúi đầu xin trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ còn chịu thiệt thòi rất lâu, có khi sẽ trở thành hoàn toàn lệ thuộc. Mà nhiều người Việt lo tình trạng lệ thuộc đó đã diễn ra rồi!
“Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê”
Thursday, July 30, 2009
Ngô Nhân Dụng
Gần đây chúng tôi mới nói chuyện với một người Việt từng tham dự những cuộc biểu tình trước tòa lãnh sự Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh thành lập huyện Tam Sa ở đảo Hải Nam; anh đã từng bị công an đuổi bắt. Tôi hỏi đùa một câu vô duyên: Sao, đã biết sợ công an chưa? Câu trả lời của anh thật bất ngờ: Không sợ, vì họ cũng là người Việt cả. Tôi chỉ sợ công an Trung Quốc!
Công an Trung Quốc làm gì những người Việt biểu tình ở Hà Nội hay Sài Gòn? Không, họ không cần làm gì cả. Họ chỉ cần theo dõi, ghi chép. Họ sẽ có tên tuổi, địa chỉ, tình trạng vợ con, kế sinh nhai, đường đi lối về hàng ngày của tất cả những người từng nói hay hành động chống quyền lợi Trung Quốc ở Việt Nam. Họ lập một cuốn sổ đen. Khi hữu sự, họ sẽ sẵn sàng. Hình ảnh “cuốn sổ đen” đó đang ám ảnh rất nhiều người Việt yêu nước.
Nghe anh bạn nói, tôi ngờ vực không tin. Nhưng nếu quý vị được nghe cả giọng nói bình thản, dửng dưng không xúc động của anh, quý vị sẽ hiểu mối lo sợ này là có thật. Mạng lưới công an Trung Cộng đã hoạt động ở Sài Gòn-Chợ Lớn từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Dù bây giờ nó không bành trướng lên tới mức đáng sợ như trên, thì mối lo sợ vẫn có thật. Không lẽ công an Việt Nam cũng cộng tác “chiến lược và toàn diện” với công an Trung Quốc trong mật vụ này hay sao?
Gần đây một nhà báo ở Sài Gòn mới bị một đám côn đồ “lạ mặt” hành hung vô cớ. Tình cờ, anh cũng là một nhà báo từng viết trên mạng những bài về đòi bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Anh cũng viết rất nhiều về vụ Bô Xít, và những vụ “tầu lạ” đâm chìm thuyền đánh cá Việt Nam ra biển. Ðám “người lạ” đánh anh nhà báo và đám “tầu lạ” đâm thuyền ngư phủ Quảng Ngãi có liên hệ gì với nhau không?
Một điều chúng ta biết chắc là chính quyền Cộng Sản Trung Quốc quyết tâm bành trướng ảnh hưởng không riêng trong vùng Ðông Nam Á mà ra khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào trên thế giới có tài nguyên thiên nhiên để khai thác, Trong mục này đã có lần kể chuyện chúng tôi gặp một sinh viên người Congo ở Quảng Châu. Khi nói chuyện với nhau, anh ta bày tỏ nỗi ngạc nhiên không hiểu sao người Trung Quốc sang nước anh nhiều thế. Và họ đi khắp nơi, cả những vùng núi non xa xôi anh không bao giờ nghĩ đến mà họ cũng mò tới. Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi đọc một bản tin cho biết hơn 200 nhà kinh doanh Trung Quốc ở Congo mới lén bỏ trốn về nước, để lại hàng ngàn công nhân bản xứ đến đập phá nhà cửa, máy móc, cơ xưởng vì họ không được trả lương! Ðám doanh nhân này là những người Trung Quốc sang Congo khai thác mỏ. Hồi đầu năm 2009 giá nguyên liệu kim khí tụt xuống khắp thế giới, các đại gia Trung Quốc chỉ tính làm ăn chụp giật, thấy lỗ vốn bèn bỏ của chạy lấy người!
Hôm rồi, một anh bạn từ Pháp qua chơi kể rằng anh đã đi khắp các nước Phi Châu vì công việc của sở. Tình cờ, anh cũng kể có lần đi đến thăm một chi nhánh của hãng anh ở Côte d'Ivoire, anh tới một thị xã xa xôi hẻo lánh. “Ông biết không? Mình đang bước đi ngoài phố bỗng giật mình thấy một da vàng mặc áo may ô ưỡn cái bụng phệ trên chiếc ghế trước cửa nhà! Ông ấy đang ngồi xỉa răng! Ở giữa cái xứ chỉ thấy toàn mầu da đen, mình tưởng là gặp đồng bào Việt! Hỏi chuyện rồi mới biết ông ấy là một cố vấn cho chính quyền tỉnh, do Bắc Kinh gửi tới! Ông ấy được mang cả gia đình vợ con sang Côte d'Ivoire để làm cố vấn!”
Không thể nói chính phủ Bắc Kinh chỉ nhắm riêng vào nước Việt Nam mình khi họ đi tìm các nguồn tài nguyên để khai thác. Trung Quốc đang cần công nghiệp hóa. Họ đi tới bất cứ nơi nào tìm quặng mỏ. Họ vừa bị hụt vụ mua 18% cổ phần trong công ty Rio Tinto ở Úc Châu, bắt người đứng đầu công ty Anh-Úc này ở bên Tầu, gán cho tội “gián điệp.” Ở Trung Ðông các nước Á Rập Hồi Giáo cũng chống Trung Quốc sau vụ đàn áp người Uyghur tại Tân Cương. Dân chúng những nước Trung Á cùng chung gốc Turk (Thổ) đã biểu tình chống Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh lo hối lộ chính quyền các nước này để mua dầu lửa và khí đốt. Dù ăn hối lộ, chính quyền các nước này cũng không dám đàn áp dân họ để bênh vực Thiên triều. Ở Algerie có những vụ tập kích đánh vào xe chở người Trung Quốc. Cũng vì vụ Tân Cương cả. Nhu cầu nguyên liệu và nhiên liệu khiến chính quyền Bắc Kinh phải tiếp tục bành trướng, khắp thế giới. Ðó sẽ là hiện tượng quan trọng nhất ở Á Châu trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong vùng biển Ðông của nước ta.
Vì Ðông Nam Á vẫn là một trọng tâm của tham vọng bành trướng này. Chỉ vì lý do địa dư; đó là những nước láng giềng, nhỏ, còn yếu, và quyền lợi còn khác biệt nhau rất nhiều. Trong các nước ASEAN có nước dân chủ, có nước độc tài, có nước Phật Giáo, có nước Hồi Giáo, có nước độc tài Cộng Sản, có nước độc tài quân phiệt, có nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt Nam, có nước theo Thiên Chúa Giáo như Phi Luật Tân. Tình trạng này khiến ASEAN còn chưa thể liên kết chặt chẽ, và Bắc Kinh thì đã gõ cửa xin vào tham dự, đến năm nay Mỹ mới bước vô. Người Mỹ từng coi Tây Bán Cầu với những nước Châu Mỹ La tinh, là “sân sau” của họ, không muốn cường quốc nào đụng tới. Bây giờ Trung Quốc có thể cũng mong tới ngày cả miền biển Ðông Á và Ðông Nam Á trở thành “cái ao trước cửa” cho họ thả câu.
Ðứng về mặt đạo đức, chúng ta lên án tham vọng bá quyền này, của bất cứ quốc gia nào. Trên thực tế, bất cứ chính quyền độc tài một nước lớn nào cũng nuôi những tham vọng như vậy, và có khả năng khích động dân chúng ngả theo khuynh hướng đó. Thế kỷ trước, Nhật Bản đã làm như vậy. Ngay một Ðảng Cộng Sản nho nhỏ của các ông Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ cũng có thời muốn làm bá chủ toàn cõi Ðông Dương kia mà! Cho nên phải coi tham vọng bá quyền của Trung Quốc là một sự thật không thể tránh được, các nước Ðông Á phải đối phó chứ không thể chỉ lên án suông mà thôi.
Trong cuộc phỏng vấn của Nhật báo Người Việt, đăng ngày hôm qua, Giáo Sư Carl Thayer đã nói, “Có Hoa Kỳ hiện diện, Trung Quốc không thể múa gậy vườn hoang.” Ðúng như vậy. Các nước Ðông Nam Á đều mong nước Mỹ trở lại vùng này để tạo thế cân bằng với Trung Quốc. Trung Quốc đã lập căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam (Thời Tây Hán gọi tên là Châu Nhai và Ðạm Nhĩ) với 6 hàng không mẫu hạm và 20 tầu ngầm nguyên tử. Chỉ có hạm đội Thứ Bẩy của Mỹ đáng vai đối thủ. Nhưng chúng ta đã có dư kinh nghiệm về cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Nước nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ mà thôi. Người Việt Nam không thể trông nhờ vào ngoại lực. Muốn kháng cự được sức bành trướng của hơn một tỷ dânTrung Quốc thì người Việt phải lo lấy nước Việt chứ không thể trông cậy vào ai khác. Trong hai ngàn năm lịch sử tổ tiên chúng ta vẫn sống như vậy, bây giờ cũng không khác.
Nhưng dân tộc Việt Nam muốn đủ sức cự địch với sức bành trướng của Trung Quốc nếu chính quyền cũng chứng tỏ quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc và toàn dân đoàn kết một lòng kháng cự. Hiện nay chúng ta không thấy những dấu hiệu đó. Ðiều đáng lo ngại đối với dân tộc Việt Nam bây giờ không phải là những đoàn quân Trung Quốc tiến qua biên giới như hồi năm 1979. Phương cách xâm lăng đó đã lỗi thời rồi, mà không cần thiết nữa. Ðiều lo lắng nhất là một kế hoạch “tàm thực,” (tầm ăn dâu), hay nói theo kiểu bà con trong nước, gọi là Diễn Biến Hòa Bình. Cộng Sản Trung Quốc không cần gây chiến với Việt Nam. Họ đang gậm nhấm nước Việt Nam từ từ, như đã gậm dần dần cho tới khi nuốt chửng đất đai của người Uyghur, người Mông Cổ, nước Ðại Lý, nước Tây Tạng.
Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt cũng đăng thiên phóng sự viết về chuyến đi thăm miền đất cực Ðông của nước ta, mũi Sa Vỉ, bờ biển Trà Cổ, thành phố Móng Cái, giáp giới Trung Hoa. Ký giả Thiên Thư viết tựa đề: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.” Ðó là “tám chữ vàng” mô tả một sự thật. Có những mảnh đất cho người Trung Quốc thuê 50 năm, còn dài hạn hơn nhiều nông dân Việt Nam chỉ được thuê đất 35 năm. Người Trung Quốc sang mở nhà hàng, khách sạn, sân Golf, và cả cờ bạc, đĩ điếm. Người Trung Quốc làm chủ, người Việt Nam làm thuê. Hai bên cùng có lợi. Các quan chức lợi nhất. Tổng cộng thành 20 chữ vàng, có thể coi là một chính sách, chủ trương lớn của đảng và nhà nước... Trung Quốc!
Nếu chưa đọc, xin mời quý vị đọc lại thiên phóng sự này. Nhiều nhà báo trong nước đã kể chuyện và chụp hình những “làng Trung Quốc” ở Việt Nam, từ miền Bắc vào tới miền Trung và Cao nguyên. Nhưng ở thành phố Móng Cái, ở mũi Sa Vĩ, có những trung tâm thương mại Trung Quốc mà người Việt muốn xin việc làm phải nói hai thứ tiếng. Con cháu người Việt khôn ngoan ở đây sẽ biết rằng muốn có tương lai phải học tiếng Quảng hay tiếng Phổ thông. Tiếng đầu lòng con học nói có thể là “Nỉ Hào Ma?” Người bạn ở Sài Gòn đang sợ công an Trung Quốc, anh vẫn tin tưởng rằng anh không cần sợ công an Việt Nam. Vì họ cũng là người Việt như mình cả. Niềm tin đó còn có cơ sở vững chắc hay không?
Nhiều người Việt ở Nam California đã nói đùa rằng có ngày Bắc Kinh sẽ đổi tên huyện Tam Sa thành Tứ Sa. Vì ngoài Hoàng Sa, Trường Sa của nước ta, cộng với Tây Sa của họ, họ còn muốn có thêm chữ Sa thứ tư là Bôn Sa (Bolsa) nữa! Trung Quốc sẵn sàng đầu tư sang Bolsa mở nhà hàng, khách sạn, thương xá, cư xá cho người già, khu giải trí, vân vân; chỉ cần lúc nào cũng theo đúng 8 chữ vàng: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.”
Nhưng tầm ăn dâu ở Á Châu thì dễ, sang tới Mỹ sẽ khó hơn nhiều. Vì ngay người Hoa và người Việt gốc Hoa ở Mỹ cũng sợ Bắc Kinh xâm nhập. Cho nên dân Bolsa không cần lo. Nếu có một huyện Tứ Sa thì chắc chữ Sa thứ tư sẽ là mũi Sa Vĩ trong tỉnh Móng Cái. Ở Quảng Châu đã có bãi Sa Diện (Mặt Cát, sách thường in nhầm là Sa Ðiện), nay có thêm Sa Vĩ (Ðuôi Cát) nối với nhau như khẩu hiệu “núi liền núi, sông liền sông” từ 50, 60 năm trước!
Tám chữ vàng “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê” không nhất thiết chỉ áp dụng trong các khách sạn, nhà hàng. Tại sao không áp dụng (hợp tác chiến lược và toàn diện), ngay trong hoạt động của ngành công an hai nước? Người Trung Quốc có thể còn muốn áp dụng tám chữ vàng trong tất cả mọi phạm vi, từ trên xuống dưới, như công cuộc trị quốc và bình thiên hạ mà họ vẫn theo đuổi từ thời Tần Hán đến giờ. Trong tâm thức, họ có thể nghĩ đó là sứ mệnh ông Trời đã buộc dân Hán tộc phải thi hành! Người Việt Nam tất nhiên nghĩ khác, hai ngàn năm nay vẫn nghĩ ngược lại. Vậy người Việt Nam phải làm gì?
Thursday, July 30, 2009
Ngô Nhân Dụng
Gần đây chúng tôi mới nói chuyện với một người Việt từng tham dự những cuộc biểu tình trước tòa lãnh sự Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh thành lập huyện Tam Sa ở đảo Hải Nam; anh đã từng bị công an đuổi bắt. Tôi hỏi đùa một câu vô duyên: Sao, đã biết sợ công an chưa? Câu trả lời của anh thật bất ngờ: Không sợ, vì họ cũng là người Việt cả. Tôi chỉ sợ công an Trung Quốc!
Công an Trung Quốc làm gì những người Việt biểu tình ở Hà Nội hay Sài Gòn? Không, họ không cần làm gì cả. Họ chỉ cần theo dõi, ghi chép. Họ sẽ có tên tuổi, địa chỉ, tình trạng vợ con, kế sinh nhai, đường đi lối về hàng ngày của tất cả những người từng nói hay hành động chống quyền lợi Trung Quốc ở Việt Nam. Họ lập một cuốn sổ đen. Khi hữu sự, họ sẽ sẵn sàng. Hình ảnh “cuốn sổ đen” đó đang ám ảnh rất nhiều người Việt yêu nước.
Nghe anh bạn nói, tôi ngờ vực không tin. Nhưng nếu quý vị được nghe cả giọng nói bình thản, dửng dưng không xúc động của anh, quý vị sẽ hiểu mối lo sợ này là có thật. Mạng lưới công an Trung Cộng đã hoạt động ở Sài Gòn-Chợ Lớn từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Dù bây giờ nó không bành trướng lên tới mức đáng sợ như trên, thì mối lo sợ vẫn có thật. Không lẽ công an Việt Nam cũng cộng tác “chiến lược và toàn diện” với công an Trung Quốc trong mật vụ này hay sao?
Gần đây một nhà báo ở Sài Gòn mới bị một đám côn đồ “lạ mặt” hành hung vô cớ. Tình cờ, anh cũng là một nhà báo từng viết trên mạng những bài về đòi bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Anh cũng viết rất nhiều về vụ Bô Xít, và những vụ “tầu lạ” đâm chìm thuyền đánh cá Việt Nam ra biển. Ðám “người lạ” đánh anh nhà báo và đám “tầu lạ” đâm thuyền ngư phủ Quảng Ngãi có liên hệ gì với nhau không?
Một điều chúng ta biết chắc là chính quyền Cộng Sản Trung Quốc quyết tâm bành trướng ảnh hưởng không riêng trong vùng Ðông Nam Á mà ra khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào trên thế giới có tài nguyên thiên nhiên để khai thác, Trong mục này đã có lần kể chuyện chúng tôi gặp một sinh viên người Congo ở Quảng Châu. Khi nói chuyện với nhau, anh ta bày tỏ nỗi ngạc nhiên không hiểu sao người Trung Quốc sang nước anh nhiều thế. Và họ đi khắp nơi, cả những vùng núi non xa xôi anh không bao giờ nghĩ đến mà họ cũng mò tới. Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi đọc một bản tin cho biết hơn 200 nhà kinh doanh Trung Quốc ở Congo mới lén bỏ trốn về nước, để lại hàng ngàn công nhân bản xứ đến đập phá nhà cửa, máy móc, cơ xưởng vì họ không được trả lương! Ðám doanh nhân này là những người Trung Quốc sang Congo khai thác mỏ. Hồi đầu năm 2009 giá nguyên liệu kim khí tụt xuống khắp thế giới, các đại gia Trung Quốc chỉ tính làm ăn chụp giật, thấy lỗ vốn bèn bỏ của chạy lấy người!
Hôm rồi, một anh bạn từ Pháp qua chơi kể rằng anh đã đi khắp các nước Phi Châu vì công việc của sở. Tình cờ, anh cũng kể có lần đi đến thăm một chi nhánh của hãng anh ở Côte d'Ivoire, anh tới một thị xã xa xôi hẻo lánh. “Ông biết không? Mình đang bước đi ngoài phố bỗng giật mình thấy một da vàng mặc áo may ô ưỡn cái bụng phệ trên chiếc ghế trước cửa nhà! Ông ấy đang ngồi xỉa răng! Ở giữa cái xứ chỉ thấy toàn mầu da đen, mình tưởng là gặp đồng bào Việt! Hỏi chuyện rồi mới biết ông ấy là một cố vấn cho chính quyền tỉnh, do Bắc Kinh gửi tới! Ông ấy được mang cả gia đình vợ con sang Côte d'Ivoire để làm cố vấn!”
Không thể nói chính phủ Bắc Kinh chỉ nhắm riêng vào nước Việt Nam mình khi họ đi tìm các nguồn tài nguyên để khai thác. Trung Quốc đang cần công nghiệp hóa. Họ đi tới bất cứ nơi nào tìm quặng mỏ. Họ vừa bị hụt vụ mua 18% cổ phần trong công ty Rio Tinto ở Úc Châu, bắt người đứng đầu công ty Anh-Úc này ở bên Tầu, gán cho tội “gián điệp.” Ở Trung Ðông các nước Á Rập Hồi Giáo cũng chống Trung Quốc sau vụ đàn áp người Uyghur tại Tân Cương. Dân chúng những nước Trung Á cùng chung gốc Turk (Thổ) đã biểu tình chống Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh lo hối lộ chính quyền các nước này để mua dầu lửa và khí đốt. Dù ăn hối lộ, chính quyền các nước này cũng không dám đàn áp dân họ để bênh vực Thiên triều. Ở Algerie có những vụ tập kích đánh vào xe chở người Trung Quốc. Cũng vì vụ Tân Cương cả. Nhu cầu nguyên liệu và nhiên liệu khiến chính quyền Bắc Kinh phải tiếp tục bành trướng, khắp thế giới. Ðó sẽ là hiện tượng quan trọng nhất ở Á Châu trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong vùng biển Ðông của nước ta.
Vì Ðông Nam Á vẫn là một trọng tâm của tham vọng bành trướng này. Chỉ vì lý do địa dư; đó là những nước láng giềng, nhỏ, còn yếu, và quyền lợi còn khác biệt nhau rất nhiều. Trong các nước ASEAN có nước dân chủ, có nước độc tài, có nước Phật Giáo, có nước Hồi Giáo, có nước độc tài Cộng Sản, có nước độc tài quân phiệt, có nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt Nam, có nước theo Thiên Chúa Giáo như Phi Luật Tân. Tình trạng này khiến ASEAN còn chưa thể liên kết chặt chẽ, và Bắc Kinh thì đã gõ cửa xin vào tham dự, đến năm nay Mỹ mới bước vô. Người Mỹ từng coi Tây Bán Cầu với những nước Châu Mỹ La tinh, là “sân sau” của họ, không muốn cường quốc nào đụng tới. Bây giờ Trung Quốc có thể cũng mong tới ngày cả miền biển Ðông Á và Ðông Nam Á trở thành “cái ao trước cửa” cho họ thả câu.
Ðứng về mặt đạo đức, chúng ta lên án tham vọng bá quyền này, của bất cứ quốc gia nào. Trên thực tế, bất cứ chính quyền độc tài một nước lớn nào cũng nuôi những tham vọng như vậy, và có khả năng khích động dân chúng ngả theo khuynh hướng đó. Thế kỷ trước, Nhật Bản đã làm như vậy. Ngay một Ðảng Cộng Sản nho nhỏ của các ông Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ cũng có thời muốn làm bá chủ toàn cõi Ðông Dương kia mà! Cho nên phải coi tham vọng bá quyền của Trung Quốc là một sự thật không thể tránh được, các nước Ðông Á phải đối phó chứ không thể chỉ lên án suông mà thôi.
Trong cuộc phỏng vấn của Nhật báo Người Việt, đăng ngày hôm qua, Giáo Sư Carl Thayer đã nói, “Có Hoa Kỳ hiện diện, Trung Quốc không thể múa gậy vườn hoang.” Ðúng như vậy. Các nước Ðông Nam Á đều mong nước Mỹ trở lại vùng này để tạo thế cân bằng với Trung Quốc. Trung Quốc đã lập căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam (Thời Tây Hán gọi tên là Châu Nhai và Ðạm Nhĩ) với 6 hàng không mẫu hạm và 20 tầu ngầm nguyên tử. Chỉ có hạm đội Thứ Bẩy của Mỹ đáng vai đối thủ. Nhưng chúng ta đã có dư kinh nghiệm về cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Nước nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ mà thôi. Người Việt Nam không thể trông nhờ vào ngoại lực. Muốn kháng cự được sức bành trướng của hơn một tỷ dânTrung Quốc thì người Việt phải lo lấy nước Việt chứ không thể trông cậy vào ai khác. Trong hai ngàn năm lịch sử tổ tiên chúng ta vẫn sống như vậy, bây giờ cũng không khác.
Nhưng dân tộc Việt Nam muốn đủ sức cự địch với sức bành trướng của Trung Quốc nếu chính quyền cũng chứng tỏ quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc và toàn dân đoàn kết một lòng kháng cự. Hiện nay chúng ta không thấy những dấu hiệu đó. Ðiều đáng lo ngại đối với dân tộc Việt Nam bây giờ không phải là những đoàn quân Trung Quốc tiến qua biên giới như hồi năm 1979. Phương cách xâm lăng đó đã lỗi thời rồi, mà không cần thiết nữa. Ðiều lo lắng nhất là một kế hoạch “tàm thực,” (tầm ăn dâu), hay nói theo kiểu bà con trong nước, gọi là Diễn Biến Hòa Bình. Cộng Sản Trung Quốc không cần gây chiến với Việt Nam. Họ đang gậm nhấm nước Việt Nam từ từ, như đã gậm dần dần cho tới khi nuốt chửng đất đai của người Uyghur, người Mông Cổ, nước Ðại Lý, nước Tây Tạng.
Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt cũng đăng thiên phóng sự viết về chuyến đi thăm miền đất cực Ðông của nước ta, mũi Sa Vỉ, bờ biển Trà Cổ, thành phố Móng Cái, giáp giới Trung Hoa. Ký giả Thiên Thư viết tựa đề: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.” Ðó là “tám chữ vàng” mô tả một sự thật. Có những mảnh đất cho người Trung Quốc thuê 50 năm, còn dài hạn hơn nhiều nông dân Việt Nam chỉ được thuê đất 35 năm. Người Trung Quốc sang mở nhà hàng, khách sạn, sân Golf, và cả cờ bạc, đĩ điếm. Người Trung Quốc làm chủ, người Việt Nam làm thuê. Hai bên cùng có lợi. Các quan chức lợi nhất. Tổng cộng thành 20 chữ vàng, có thể coi là một chính sách, chủ trương lớn của đảng và nhà nước... Trung Quốc!
Nếu chưa đọc, xin mời quý vị đọc lại thiên phóng sự này. Nhiều nhà báo trong nước đã kể chuyện và chụp hình những “làng Trung Quốc” ở Việt Nam, từ miền Bắc vào tới miền Trung và Cao nguyên. Nhưng ở thành phố Móng Cái, ở mũi Sa Vĩ, có những trung tâm thương mại Trung Quốc mà người Việt muốn xin việc làm phải nói hai thứ tiếng. Con cháu người Việt khôn ngoan ở đây sẽ biết rằng muốn có tương lai phải học tiếng Quảng hay tiếng Phổ thông. Tiếng đầu lòng con học nói có thể là “Nỉ Hào Ma?” Người bạn ở Sài Gòn đang sợ công an Trung Quốc, anh vẫn tin tưởng rằng anh không cần sợ công an Việt Nam. Vì họ cũng là người Việt như mình cả. Niềm tin đó còn có cơ sở vững chắc hay không?
Nhiều người Việt ở Nam California đã nói đùa rằng có ngày Bắc Kinh sẽ đổi tên huyện Tam Sa thành Tứ Sa. Vì ngoài Hoàng Sa, Trường Sa của nước ta, cộng với Tây Sa của họ, họ còn muốn có thêm chữ Sa thứ tư là Bôn Sa (Bolsa) nữa! Trung Quốc sẵn sàng đầu tư sang Bolsa mở nhà hàng, khách sạn, thương xá, cư xá cho người già, khu giải trí, vân vân; chỉ cần lúc nào cũng theo đúng 8 chữ vàng: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.”
Nhưng tầm ăn dâu ở Á Châu thì dễ, sang tới Mỹ sẽ khó hơn nhiều. Vì ngay người Hoa và người Việt gốc Hoa ở Mỹ cũng sợ Bắc Kinh xâm nhập. Cho nên dân Bolsa không cần lo. Nếu có một huyện Tứ Sa thì chắc chữ Sa thứ tư sẽ là mũi Sa Vĩ trong tỉnh Móng Cái. Ở Quảng Châu đã có bãi Sa Diện (Mặt Cát, sách thường in nhầm là Sa Ðiện), nay có thêm Sa Vĩ (Ðuôi Cát) nối với nhau như khẩu hiệu “núi liền núi, sông liền sông” từ 50, 60 năm trước!
Tám chữ vàng “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê” không nhất thiết chỉ áp dụng trong các khách sạn, nhà hàng. Tại sao không áp dụng (hợp tác chiến lược và toàn diện), ngay trong hoạt động của ngành công an hai nước? Người Trung Quốc có thể còn muốn áp dụng tám chữ vàng trong tất cả mọi phạm vi, từ trên xuống dưới, như công cuộc trị quốc và bình thiên hạ mà họ vẫn theo đuổi từ thời Tần Hán đến giờ. Trong tâm thức, họ có thể nghĩ đó là sứ mệnh ông Trời đã buộc dân Hán tộc phải thi hành! Người Việt Nam tất nhiên nghĩ khác, hai ngàn năm nay vẫn nghĩ ngược lại. Vậy người Việt Nam phải làm gì?
Hoa Kỳ hiện diện, Trung Quốc không thể múa gậy vườn hoang’
Wednesday, July 29, 2009
Giáo Sư Carl Thayer.
Thực hiện: Hà Giang Lời tòa soạn: Sự kiện Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, thay mặt Tổng Thống Obama ký Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác ASEAN cho thấy Hoa Kỳ ngày càng quan tâm hơn đến khu vực này. Sự quan tâm của Washington đến ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng vươn mình ra thế giới có những hàm ý chiến lược. Giáo Sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu hàng đầu về Châu Á-Thái Bình Dương, nhận định, rằng “giai đoạn thả nổi” của Hoa Kỳ đối với Á Châu đã “chấm dứt.” Xin giới thiệu cùng độc giả cuộc phỏng vấn Giáo Sư Carl Thayer dành cho nhật báo Người Việt ngày 28 Tháng Bảy do Hà Giang thực hiện. . Ông Carl Thayer là giáo sư khoa Nhân Văn và Xã Hội Học tại Ðại Học New South Wales, Úc Châu. Ông là chuyên gia nghiên cứu quân sự, kiêm giám đốc diễn đàn Nghiên Cứu Quốc Phòng, là tác giả của gần 400 bài viết nghiên cứu tình hình các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương.
***
-Hà Giang: Trong chuyến công du qua Thái Lan tham dự một loạt hội nghị quốc tế, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã thông báo là “Hoa Kỳ trở lại Ðông Nam Á.” Theo ông, yếu tố nào khiến Hoa Kỳ đi đến quyết định này, sau bao nhiêu năm bỏ quên khu vực này?
-GS Carl Thayer: Thật ra theo tôi thì Hoa Kỳ chưa bao giờ quay lưng lại với Á Châu, mà chỉ là đã thả nổi Á Châu. Việc Ngoại Trưởng Condoleezza Rice không tham dự đa số những hội nghị thường niên của ASEAN đã cho những quốc gia trong vùng thấy là Hoa Kỳ đang bị vướng víu ở đâu đó. Ngược lại, Ngoại Trưởng Hillary Clinton không những đã tham dự hội nghị thường niên, mà bà, thay mặt cho Tổng Thống Obama đã ký vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN. Ðây là một văn kiện quan trọng đối với ASEAN, và chỉ những quốc gia ký thỏa ước này mới được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh Ðông Á. Như vậy Hoa Kỳ đã chấm dứt một giai đoạn thả nổi, và đã bắt đầu tăng cường sự góp mặt vào những sinh hoạt của vùng này.
Tôi cho rằng chính phủ Obama đã nhận ra rằng chính sách của Tổng Thống Bush ở Á Châu hết sức bất lợi, vì đã đẩy xa những quốc gia trong vùng này khỏi tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ, tuy nhiên nguyên nhân sâu xa vẫn là vì Trung Quốc. Gần đây, Hoa Kỳ rất bất bình với những động thái không thể chấp nhận được của Trung Quốc chẳng hạn như việc áp lực Exxon Mobil hủy bỏ việc hợp tác với Việt Nam . Muốn đối đầu với Trung Quốc, Hoa Kỳ phải nắm chắc được rằng họ đang múa cùng một điệu với các thành viên của ASEAN. Hành vi của Trung Quốc đối với các nước Á Châu hiện nay rất đáng ngờ, và vì thế người ta hân hoan đón nhận việc Hoa Kỳ bắt đầu có mặt trở lại trên các bàn hội nghị trong vùng là điều dễ hiểu.
-Hà Giang: Việc Hoa Kỳ trở lại Á Châu chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc rất quan tâm. Theo giáo sư, Trung Quốc đón nhận sự trở lại Á Ðông của Hoa Kỳ như thế nào, và sẽ có phản ứng ra sao?
-GS Carl Thayer: Hai đại cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc phải tiếp tục giao hảo tốt với nhau. Khi còn tại chức, Tổng Thống Bush đã thiết lập nền móng cho mối giao dịch tốt giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, việc Tổng Thống Bush bán vũ khí cho Ðài Loan đã khiến những cuộc đàm phán về tương quan quân sự giữa hai nước bị hủy bỏ. Giờ đây, với một lãnh đạo mới, Hoa Kỳ đã lại bắt đầu những cuộc thảo luận này ở cấp cao. Một mặt Trung Quốc muốn hợp tác hơn là đối nghịch với Hoa Kỳ, nhưng mặt khác họ cũng muốn Hoa Kỳ phải nhìn nhận và nể mặt Trung Quốc như một đại cường quốc. Gần đây, chúng ta đã thấy hai bên có đồng quan điểm về việc Iran , đó là một điểm chung tốt. Về phía Hoa Kỳ, tôi có nhận xét là đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ đã không dùng biện pháp “củ cà rốt và cây gậy” mà dùng biện pháp “cây gậy và củ cà rốt.” Hoa Kỳ tiếp tục cho tàu di chuyển vào vùng biển mà Trung Quốc bảo là của họ, không chấp nhận những áp lực mà Trung Quốc đặt lên những công ty đang hợp tác với Việt Nam, đó là cái gậy. Nhưng Hoa Kỳ cũng chìa ra củ cà rốt khi tỏ ra sẵn sàng muốn đối thoại song phương và hợp tác với Trung Quốc để cùng giải quyết những tranh chấp, nhất là ở biển Ðông. Tôi nghĩ rằng sau khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton bước chân vào hội nghị thường niên của ASEAN, và ký vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN, chính phủ Obama đã tái lập được một chỗ đứng vững vàng ở vùng đất đang có rất nhiều bất ổn. Trung Quốc biết là họ và Hoa Kỳ cùng phải học cách hợp tác với nhau sao cho có lợi cho đôi bên cũng như cho ổn định của Á Châu và thế giới.
-Hà Giang: Với sự góp mặt tích cực của Hoa Kỳ tại Á Châu, cục diện thế giới, nhất là trong vùng Á Châu trong tương lai, xa cũng như gần, sẽ thay đổi ra sao?
-GS Carl Thayer: Việc Hoa Kỳ chú tâm trở lại Á Châu sẽ đột ngột thay đổi cục diện. Trung Quốc là nước đầu tiên ký tên vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN, điều đó đã khiến các thành viên trong ASEAN nồng nhiệt đón nhận Trung Quốc vào quỹ đạo của họ. Thật ra ASEAN mong muốn sự có mặt của Hoa Kỳ, vì các nước Ðông Nam Á không muốn phải chọn một trong hai cường quốc. Nhưng trong khi Trung Quốc hết sức o bế các nước Châu Á, thì Hoa Kỳ đã hững hờ với những diễn biến ở đây. Hoa Kỳ đã bỏ rơi nhiều mặt trận chiến lược quan trọng khi quá chú tâm vào cuộc chiến chống khủng bố, đồng thời chủ trương đơn phương hành động của Tổng Thống Bush đã khiến nhiều quốc gia mất cảm tình với Hoa Kỳ. Giờ đây chiến lược ngoại giao khôn ngoan của chính quyền Obama đã bắt đầu khiến Hoa Kỳ chiếm dần lại cảm tình của thế giới. Trong chuyến đi Á Châu vừa qua, Ngoại Trưởng Hillary đã làm đẹp lòng 10 quốc gia thành viên của ASEAN, kể cả Indonesia. Thế lực thế giới sẽ quân bình hơn, và Trung Quốc sẽ không còn là đại cường duy nhất có ảnh hưởng lên ASEAN nữa. Sự có mặt của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ thay đổi tình hình ở Miến Ðiện chẳng hạn. Ðặc biệt, Thái Lan với tình trạng chính trị bất ổn của họ, từ trước đến giờ phải nghiêng hẳn về Trung Quốc, nay cũng sẽ hoan nghênh sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Sự có mặt của Hoa Kỳ cũng là điều các nước Ðông Nam Châu Á mong muốn, vì họ sẽ đứng giữa hai cường quốc mà không phải chọn nghiêng hẳn về bên nào. Tôi cho rằng chính sách liên kết với nhiều quốc gia hơn của chính quyền Obama sẽ cải thiện một số vấn đề đã được gây ra trong thời Tổng Thống Bush.
-Hà Giang: Là một công dân Hoa Kỳ, giáo sư có cho đây là một thay đổi tốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không?
-GS Carl Thayer: Dĩ nhiên rồi! Tôi là một công dân Mỹ đã sống ở Úc Châu từ năm 1971, và có cả quốc tịch Hoa Kỳ lẫn quốc tịch Úc. Tôi có dịp thăm nhiều nơi trên thế giới, và vừa trở về Úc sau một chuyến đi Tân Gia Ba. Phải thú thật là trong những năm vừa qua tôi đã có lúc lúng túng khi phải đối diện rất nhiều với những thái độ chống Hoa Kỳ, có khi thật gay gắt, ở khắp nơi. Tôi rất vui là những chống đối này trong khoảng 6 tháng nay, gần như mất hẳn đi, và thế giới đang bắt đầu có thiện cảm lại với Hoa Kỳ. Ðiều cần nhất là Ngoại Trưởng Hillary Clinton phải tiếp tục áp dụng chính sách “ngoại giao khôn ngoan” mà bà vẫn nói, để chúng ta không mất đi những sự ủng hộ hiếm hoi đang tích tụ, nhưng có thể bốc hơi trong phút chốc, mà Hoa Kỳ đang có trong lúc này. Chúng ta cần chứng tỏ cho thế giới thấy là Hoa Kỳ không phải là một quốc gia chỉ biết hành động đơn phương mà không biết hợp tác. Tôi mong là Tổng Thống Obama sẽ quyết định tham dự hội nghị thượng đỉnh Ðông Á cùng với nguyên thủ 16 quốc gia, và sẽ giành lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong vùng đất năng động có rất nhiều tiềm năng mà chúng ta đã vắng mặt trong suốt 8 năm qua.
-Hà Giang: Với sự có mặt của Hoa Kỳ, Trung Quốc có bớt ngang ngược trong việc xác nhận chủ quyền của họ trên biển Ðông?
-GS Carl Thayer: Trung Quốc sẽ tiếp tục xác nhận chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của họ. Nhưng Hoa Kỳ đã phản ứng đủ để cho Trung Quốc thấy là những hành động ngang ngược, khinh suất của họ như bao vây và quấy rối một tàu khảo sát không trang bị vũ khí của Hải Quân Hoa Kỳ là một điều không thể tái phạm. Hai bên phải tiếp tục thảo luận và đi đến một thỏa ước về biển Ðông. Nhưng quan trọng hơn cả là Trung Quốc phải đáp ứng kêu gọi của Ngũ Giác Ðài và phải minh bạch hơn về ngân sách quốc phòng của họ. Tôi muốn nói đến việc Trung Quốc đã âm thầm xây dựng một căn cứ hải quân có thể tiếp nhận 20 tiềm thủy đĩnh nguyên tử và 6 hàng không mẫu hạm ở đảo Hải Nam. Tóm lại, với sự có mặt của Hoa Kỳ trong vùng, Trung Quốc không thể cứ tiếp tục múa gậy vườn hoang, và lấy cớ là vì Hoa Kỳ hành động đơn phương nên Trung Quốc muốn làm gì thì làm, mà phải hợp tác với Hoa Kỳ để giải quyết những xung đột. Nếu tôi là một người Việt Nam, tôi sẽ rất vui trước sự kiện này.
-Hà Giang: Trong buổi họp mặt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ vừa qua, Tổng Thống Obama có nhắc đến quan tâm của ông về tình hình nhân quyền ở Trung Quốc. Theo giáo sư thì nhân quyền có thực sự là quan tâm hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không, hay Tổng Thống Obama chỉ nói cho vừa lòng cử tri nhất là những người hay tổ chức quan tâm đến vấn đề nhân quyền?
-GS Carl Thayer: Hoa Kỳ, như bất cứ chính quyền nào đều phải chú ý đến những nguyện vọng của cử tri. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng chính quyền Hoa Kỳ sẽ biến vấn đề nhân quyền của Trung Quốc hay Việt Nam thành một trọng tâm của chính sách ngoại giao trong lúc này. Nhưng lời phát biểu của Tổng Thống Obama với Trung Quốc có nghĩa là Hoa Kỳ vẫn rất quan tâm đến những gì đang xảy ra ở Tây Tạng, Tân Cương và sẽ tiếp tục theo dõi những diễn biến ở đây.
-Hà Giang: Cảm ơn thời gian mà giáo sư dành cho chúng tôi.
Wednesday, July 29, 2009
Giáo Sư Carl Thayer.
Thực hiện: Hà Giang Lời tòa soạn: Sự kiện Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, thay mặt Tổng Thống Obama ký Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác ASEAN cho thấy Hoa Kỳ ngày càng quan tâm hơn đến khu vực này. Sự quan tâm của Washington đến ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng vươn mình ra thế giới có những hàm ý chiến lược. Giáo Sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu hàng đầu về Châu Á-Thái Bình Dương, nhận định, rằng “giai đoạn thả nổi” của Hoa Kỳ đối với Á Châu đã “chấm dứt.” Xin giới thiệu cùng độc giả cuộc phỏng vấn Giáo Sư Carl Thayer dành cho nhật báo Người Việt ngày 28 Tháng Bảy do Hà Giang thực hiện. . Ông Carl Thayer là giáo sư khoa Nhân Văn và Xã Hội Học tại Ðại Học New South Wales, Úc Châu. Ông là chuyên gia nghiên cứu quân sự, kiêm giám đốc diễn đàn Nghiên Cứu Quốc Phòng, là tác giả của gần 400 bài viết nghiên cứu tình hình các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương.
***
-Hà Giang: Trong chuyến công du qua Thái Lan tham dự một loạt hội nghị quốc tế, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã thông báo là “Hoa Kỳ trở lại Ðông Nam Á.” Theo ông, yếu tố nào khiến Hoa Kỳ đi đến quyết định này, sau bao nhiêu năm bỏ quên khu vực này?
-GS Carl Thayer: Thật ra theo tôi thì Hoa Kỳ chưa bao giờ quay lưng lại với Á Châu, mà chỉ là đã thả nổi Á Châu. Việc Ngoại Trưởng Condoleezza Rice không tham dự đa số những hội nghị thường niên của ASEAN đã cho những quốc gia trong vùng thấy là Hoa Kỳ đang bị vướng víu ở đâu đó. Ngược lại, Ngoại Trưởng Hillary Clinton không những đã tham dự hội nghị thường niên, mà bà, thay mặt cho Tổng Thống Obama đã ký vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN. Ðây là một văn kiện quan trọng đối với ASEAN, và chỉ những quốc gia ký thỏa ước này mới được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh Ðông Á. Như vậy Hoa Kỳ đã chấm dứt một giai đoạn thả nổi, và đã bắt đầu tăng cường sự góp mặt vào những sinh hoạt của vùng này.
Tôi cho rằng chính phủ Obama đã nhận ra rằng chính sách của Tổng Thống Bush ở Á Châu hết sức bất lợi, vì đã đẩy xa những quốc gia trong vùng này khỏi tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ, tuy nhiên nguyên nhân sâu xa vẫn là vì Trung Quốc. Gần đây, Hoa Kỳ rất bất bình với những động thái không thể chấp nhận được của Trung Quốc chẳng hạn như việc áp lực Exxon Mobil hủy bỏ việc hợp tác với Việt Nam . Muốn đối đầu với Trung Quốc, Hoa Kỳ phải nắm chắc được rằng họ đang múa cùng một điệu với các thành viên của ASEAN. Hành vi của Trung Quốc đối với các nước Á Châu hiện nay rất đáng ngờ, và vì thế người ta hân hoan đón nhận việc Hoa Kỳ bắt đầu có mặt trở lại trên các bàn hội nghị trong vùng là điều dễ hiểu.
-Hà Giang: Việc Hoa Kỳ trở lại Á Châu chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc rất quan tâm. Theo giáo sư, Trung Quốc đón nhận sự trở lại Á Ðông của Hoa Kỳ như thế nào, và sẽ có phản ứng ra sao?
-GS Carl Thayer: Hai đại cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc phải tiếp tục giao hảo tốt với nhau. Khi còn tại chức, Tổng Thống Bush đã thiết lập nền móng cho mối giao dịch tốt giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, việc Tổng Thống Bush bán vũ khí cho Ðài Loan đã khiến những cuộc đàm phán về tương quan quân sự giữa hai nước bị hủy bỏ. Giờ đây, với một lãnh đạo mới, Hoa Kỳ đã lại bắt đầu những cuộc thảo luận này ở cấp cao. Một mặt Trung Quốc muốn hợp tác hơn là đối nghịch với Hoa Kỳ, nhưng mặt khác họ cũng muốn Hoa Kỳ phải nhìn nhận và nể mặt Trung Quốc như một đại cường quốc. Gần đây, chúng ta đã thấy hai bên có đồng quan điểm về việc Iran , đó là một điểm chung tốt. Về phía Hoa Kỳ, tôi có nhận xét là đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ đã không dùng biện pháp “củ cà rốt và cây gậy” mà dùng biện pháp “cây gậy và củ cà rốt.” Hoa Kỳ tiếp tục cho tàu di chuyển vào vùng biển mà Trung Quốc bảo là của họ, không chấp nhận những áp lực mà Trung Quốc đặt lên những công ty đang hợp tác với Việt Nam, đó là cái gậy. Nhưng Hoa Kỳ cũng chìa ra củ cà rốt khi tỏ ra sẵn sàng muốn đối thoại song phương và hợp tác với Trung Quốc để cùng giải quyết những tranh chấp, nhất là ở biển Ðông. Tôi nghĩ rằng sau khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton bước chân vào hội nghị thường niên của ASEAN, và ký vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN, chính phủ Obama đã tái lập được một chỗ đứng vững vàng ở vùng đất đang có rất nhiều bất ổn. Trung Quốc biết là họ và Hoa Kỳ cùng phải học cách hợp tác với nhau sao cho có lợi cho đôi bên cũng như cho ổn định của Á Châu và thế giới.
-Hà Giang: Với sự góp mặt tích cực của Hoa Kỳ tại Á Châu, cục diện thế giới, nhất là trong vùng Á Châu trong tương lai, xa cũng như gần, sẽ thay đổi ra sao?
-GS Carl Thayer: Việc Hoa Kỳ chú tâm trở lại Á Châu sẽ đột ngột thay đổi cục diện. Trung Quốc là nước đầu tiên ký tên vào Thỏa Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ASEAN, điều đó đã khiến các thành viên trong ASEAN nồng nhiệt đón nhận Trung Quốc vào quỹ đạo của họ. Thật ra ASEAN mong muốn sự có mặt của Hoa Kỳ, vì các nước Ðông Nam Á không muốn phải chọn một trong hai cường quốc. Nhưng trong khi Trung Quốc hết sức o bế các nước Châu Á, thì Hoa Kỳ đã hững hờ với những diễn biến ở đây. Hoa Kỳ đã bỏ rơi nhiều mặt trận chiến lược quan trọng khi quá chú tâm vào cuộc chiến chống khủng bố, đồng thời chủ trương đơn phương hành động của Tổng Thống Bush đã khiến nhiều quốc gia mất cảm tình với Hoa Kỳ. Giờ đây chiến lược ngoại giao khôn ngoan của chính quyền Obama đã bắt đầu khiến Hoa Kỳ chiếm dần lại cảm tình của thế giới. Trong chuyến đi Á Châu vừa qua, Ngoại Trưởng Hillary đã làm đẹp lòng 10 quốc gia thành viên của ASEAN, kể cả Indonesia. Thế lực thế giới sẽ quân bình hơn, và Trung Quốc sẽ không còn là đại cường duy nhất có ảnh hưởng lên ASEAN nữa. Sự có mặt của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ thay đổi tình hình ở Miến Ðiện chẳng hạn. Ðặc biệt, Thái Lan với tình trạng chính trị bất ổn của họ, từ trước đến giờ phải nghiêng hẳn về Trung Quốc, nay cũng sẽ hoan nghênh sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Sự có mặt của Hoa Kỳ cũng là điều các nước Ðông Nam Châu Á mong muốn, vì họ sẽ đứng giữa hai cường quốc mà không phải chọn nghiêng hẳn về bên nào. Tôi cho rằng chính sách liên kết với nhiều quốc gia hơn của chính quyền Obama sẽ cải thiện một số vấn đề đã được gây ra trong thời Tổng Thống Bush.
-Hà Giang: Là một công dân Hoa Kỳ, giáo sư có cho đây là một thay đổi tốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không?
-GS Carl Thayer: Dĩ nhiên rồi! Tôi là một công dân Mỹ đã sống ở Úc Châu từ năm 1971, và có cả quốc tịch Hoa Kỳ lẫn quốc tịch Úc. Tôi có dịp thăm nhiều nơi trên thế giới, và vừa trở về Úc sau một chuyến đi Tân Gia Ba. Phải thú thật là trong những năm vừa qua tôi đã có lúc lúng túng khi phải đối diện rất nhiều với những thái độ chống Hoa Kỳ, có khi thật gay gắt, ở khắp nơi. Tôi rất vui là những chống đối này trong khoảng 6 tháng nay, gần như mất hẳn đi, và thế giới đang bắt đầu có thiện cảm lại với Hoa Kỳ. Ðiều cần nhất là Ngoại Trưởng Hillary Clinton phải tiếp tục áp dụng chính sách “ngoại giao khôn ngoan” mà bà vẫn nói, để chúng ta không mất đi những sự ủng hộ hiếm hoi đang tích tụ, nhưng có thể bốc hơi trong phút chốc, mà Hoa Kỳ đang có trong lúc này. Chúng ta cần chứng tỏ cho thế giới thấy là Hoa Kỳ không phải là một quốc gia chỉ biết hành động đơn phương mà không biết hợp tác. Tôi mong là Tổng Thống Obama sẽ quyết định tham dự hội nghị thượng đỉnh Ðông Á cùng với nguyên thủ 16 quốc gia, và sẽ giành lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong vùng đất năng động có rất nhiều tiềm năng mà chúng ta đã vắng mặt trong suốt 8 năm qua.
-Hà Giang: Với sự có mặt của Hoa Kỳ, Trung Quốc có bớt ngang ngược trong việc xác nhận chủ quyền của họ trên biển Ðông?
-GS Carl Thayer: Trung Quốc sẽ tiếp tục xác nhận chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của họ. Nhưng Hoa Kỳ đã phản ứng đủ để cho Trung Quốc thấy là những hành động ngang ngược, khinh suất của họ như bao vây và quấy rối một tàu khảo sát không trang bị vũ khí của Hải Quân Hoa Kỳ là một điều không thể tái phạm. Hai bên phải tiếp tục thảo luận và đi đến một thỏa ước về biển Ðông. Nhưng quan trọng hơn cả là Trung Quốc phải đáp ứng kêu gọi của Ngũ Giác Ðài và phải minh bạch hơn về ngân sách quốc phòng của họ. Tôi muốn nói đến việc Trung Quốc đã âm thầm xây dựng một căn cứ hải quân có thể tiếp nhận 20 tiềm thủy đĩnh nguyên tử và 6 hàng không mẫu hạm ở đảo Hải Nam. Tóm lại, với sự có mặt của Hoa Kỳ trong vùng, Trung Quốc không thể cứ tiếp tục múa gậy vườn hoang, và lấy cớ là vì Hoa Kỳ hành động đơn phương nên Trung Quốc muốn làm gì thì làm, mà phải hợp tác với Hoa Kỳ để giải quyết những xung đột. Nếu tôi là một người Việt Nam, tôi sẽ rất vui trước sự kiện này.
-Hà Giang: Trong buổi họp mặt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ vừa qua, Tổng Thống Obama có nhắc đến quan tâm của ông về tình hình nhân quyền ở Trung Quốc. Theo giáo sư thì nhân quyền có thực sự là quan tâm hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không, hay Tổng Thống Obama chỉ nói cho vừa lòng cử tri nhất là những người hay tổ chức quan tâm đến vấn đề nhân quyền?
-GS Carl Thayer: Hoa Kỳ, như bất cứ chính quyền nào đều phải chú ý đến những nguyện vọng của cử tri. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng chính quyền Hoa Kỳ sẽ biến vấn đề nhân quyền của Trung Quốc hay Việt Nam thành một trọng tâm của chính sách ngoại giao trong lúc này. Nhưng lời phát biểu của Tổng Thống Obama với Trung Quốc có nghĩa là Hoa Kỳ vẫn rất quan tâm đến những gì đang xảy ra ở Tây Tạng, Tân Cương và sẽ tiếp tục theo dõi những diễn biến ở đây.
-Hà Giang: Cảm ơn thời gian mà giáo sư dành cho chúng tôi.

