QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Người Anh Hùng Họ Nguỵ

(Bài Từ Viet Nam Gửi Ra)
Trần Mạnh Hảo


Người yêu nước không thể nào là nguỵ
Người chết vì nước như anh không thể nào là nguỵ
Nhưng anh :
Là Nguỵ Văn Thà (*)
Anh - Hạm Trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hoá thành Tổ Quốc giữa trùng khơi
Gió mùa Đông Bắc gào khóc
Nguỵ Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng Đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Nguỵ Văn Thà
Tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc :
- Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo …


Sài Gòn 15/09/2009
(*) Ghi chú : Theo báo Tuổi Trẻ ra ngày 14/09/2009 :
Liệt Sĩ Thiếu Tá Nguỵ Văn Thà Hạm Trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ-10
của Hải Quân Sài Gòn và đồng đội đã anh dũng hy sinh
bảo vệ đảo Hoàng Sa (cùng các chiến hạm khác : HQ-4, HQ-5, HQ-16)
trong trận hải chiến đẫm máu với tàu xâm lược ngày 19/01/1974.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Chuyện Anh Trâu Điên Trận Phú Lâm

Tác giả: Phila To
Tác giả tên thật là Tô Văn Cấp, sinh năm 1941, định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. 1, hiện làm việc tại học khu Ocean View. Ông đã góp nhiều bài viết về nước Mỹ, bài nào cũng cho thấy tấm lòng và sự lạc quan, yêu đời. Bài viết mới của ông là hồi ức của một Đại Đội Trưởng thuộc Tiểu Đoàn 2 Thuỷ Quân Lục Chiến, để “truy tìm” danh tính một anh “Trâu Điên” từng dự trận Mậu Thân ở mũi tầu Phú Lâm từ 40 năm trước. Tựa đề “Tiểu Đoàn Trâu Điên và Người Phóng Viên Chiến Trường” được rút gọn theo nội dung bài viết.

***

Hiện nay cộng đồng người Việt tỵ nạn CS sống trên đất Mỹ thường có một sinh hoạt rất ý nghĩa và đượm tình đồng hương, đó là những buổi họp mặt (đại hội) hằng năm của những người cùng địa phương, cùng học đường, cùng quân trường và nhất là của các cựu quân nhân cùng đơn vị. Thông thường thì đại hội được tổ chức vào những dịp có nhiều ngày nghỉ lễ, tùy theo khả năng và nhu cầu mà tổ chức mỗi năm hoặc hai năm một lần. Binh chủng TQLCVN chúng tôi thì tổ chức mỗi năm một lần, luân phiên ở các tiểu bang khác nhau. Năm 2008 chúng tôi tổ chức tại Little Saigon vào dịp July 4,, anh em Mũ Xanh các nơi về tham dự đến gần 400 người, trong đó có khá đông anh em thuộc Tiểu Đoàn 2/TQLC mang danh hiệu Trâu Điên.

Trong khi các cựu Trâu Điên đang vui vẻ ôn lại chuyện đồng đội cũ chiến trường xưa thì vị cựu tiểu đoàn trưởng ra hiệu yên lặng rồi ông mở tờ báo KBC/HN ra cho mọi người xem bài viết của tác giả Ngọc Anh với tựa đề "Người Yêu Trâu Điên". Bên lề bài viết là tấm hình của một phụ nữ rất duyên dáng với áo dài trắng, tóc xỏa bờ vai nhưng đôi mắt thì quá buồn. Bầu không khí buổi họp mặt bỗng sôi động hẳn lên, có nhiều tiếng huýt sáo y như ngày nào năm xưa khi em "gái" hậu phương đến thăm anh "trai" ngoài tiền đồn biên giới.

Chưa biết nội dung nói gì nhưng ai cũng đòi người anh cả đơn vị cho cầm tờ báo để ngắm người đẹp, người đẹp giữa chốn ba quân, khiến nét mặt anh cả tươi vui với giọng nói trẻ trung như ngày xưa ra lệnh trước hàng quân:

"Ai là thủ phạm, ai là "Người Yêu Trâu Điên" thì bước ra khỏi hàng".

Thật bất ngờ, mấy chục "ông già" trong quân phục rằn ri sóng biển cùng nhất loạt đứng lên đưa cao tay, miệng hô lớn:
"Em, chính em, chính là em".
"Thưa đại bàng, không phải thằng đó, em mới chính là thủ phạm."

Nếu tác giả Ngọc Anh, dù là nam hay nữ, mà nhìn thấy cảnh này chắc chắn sẽ cảm động. Chỉ với cái tựa bài viết thôi mà đã khiến những cựu quân nhân già cỗi nơi hải ngoại bỗng trở lại thành những người lính trẻ trung oai hùng năm xưa, vui thật là vui.

Trước tình thế khó xử, biết trao "người đẹp" cho ai bây giờ nên anh cả liền bắt bí:
"Trâu Điên nào đã tham dự trận đánh vùng Phú Lâm hồi tết Mậu Thân đưa tay lên".

Tất cả các cánh tay lại đồng loạt đưa thẳng lên như năm xưa tuyên thệ ngày mãn khóa tại vũ đình trường, trong đó có nhiều anh khi trận Mậu Thân xẩy ra thì còn là học sinh. Anh cả mỉm cười vì ai cũng muốn "tự giác" nên ông đành trao tờ KBC/HN cho một người rồi ra lệnh:
"Trận Mậu Thân cậu là một trong hai đại đội trưởng chịu trách nhiệm giải tỏa khu vực mũi tàu Phú Lâm, hãy cầm tài liệu này về điều tra xem ai là người bị tác giả N.A khiếu nại".

Mọi người cùng cười, chỉ một tựa bài viết mà làm không khí sinh động hẳn lên, mọi Trâu Điên cùng nâng ly chúc mừng sức khỏe giống như nâng ly mừng chiến thắng Phụng Dư, Đầm Giơi, Cổ Thành v.v..
Tôi đưa tay nhận tờ KBC/HN như nhận tấm bằng tưởng lục.

***

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết "Người Yêu Trâu Điên, tất cả những gì tác giả N.A ghi lại đều có liên quan đến cuộc hành quân 40 năm về trước của đơn vị tôi. Tôi tự hỏi không lẽ lại có sự trùng hợp lạ lùng đến thế sao? Đây phải là một câu chuyện có thực.

Nội dung câu chuyện nói về thân phụ của tác giả là một phóng viên chiến trường, ông đi theo Tiểu Đoàn Trâu Điên đề chụp hình quay phim những trận đánh trong thành phố Saigon tết Mậu Thân. Trong những hình ông chụp có một tấm hình đẹp của người lính Trâu Điên và ông đã tặng tấm hình đó cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục trường Gia Long.

Thân phụ N.A đã kết thân với người lính ấy và mỗi khi họ trò chuyện bên nhau thì cô bé chăm chú nhìn hình con trâu trên vai áo trận rằn ri. Rồi người lính ấy di chuyển đi nơi khác khiến cô bé bâng khuâng và khi VC tấn công đợt 2 thì thêm một đại họa bất ngờ ập đến với tuổi thơ, thân phụ tác giả đã bị VC hạ sát trong lúc đang thi hành công vụ!

Xin phép tác giả cho tôi trích một vài đoạn trong bài viết "Người Yêu Trâu Điên" để đem so sánh với những gì đã xẩy ra 40 năm về trước ở đơn vị tôi khi tham dự trận Mậu Thân:

(trích)

Anh Trâu Điên yêu dấu.
Khi viết năm chữ này, trái tim em đập những nhịp bất thường, ngón tay cầm viết cũng run rẩy. Trước mặt em là tấm hình đen trắng ..
Anh Trâu Điên biết mà, tấm hình này chính Ba em chụp cho anh. Tự nhiên Ba cầm tấm hình ngắm nghía rồi đưa cho em, nói:

"Tấm hình này đẹp quá, muốn giữ không con?"

Tấm hình Ba khen đẹp quá, em đã ép trong cuốn nhật ký nhỏ, dấu kín giữ cho riêng em mà thôi.

Tháng Năm năm Mậu Thân, VC lại tấn công thủ đô lần thứ Hai. Buổi sáng hãi hùng đó, không có anh Trâu Điên, Ba em đã đi luôn... Không, Ba có trở về bằng thân xác còn nóng hổi, máu còn chẩy ra linh láng, ướt hết quần áo em! Hai chị em yếu đuối đã vác xác Ba về ...

Lá thư này em viết nhưng không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên ở nơi nào trên mảnh đất đầy thống khổ .... Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, ngươi bạn trẻ của Ba, hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Em giữ mãi lá thư không gửi trong cuốn nhật ký .

Với lòng mong mỏi anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa.

(Ngưng trích. Quý vị nào muốn đọc tòan bài viết xin tìm trên Việt
Báo online, hay email cho: phuongtimxua @yahoo.com )

Thực sự tôi chưa biết rõ tác giả Ngọc Anh là nam hay nữ, nhưng tấm hình kèm theo bài viết thì là hình của "cô" Phượng Tím, người cùng với "anh" Dương Thượng Trúc phụ trách mục "Thư hậu phương, thư tiền tuyến" trên báo KBC/HN. Tiết mục này tương tự như hộp thư "Dạ Lan" của đơn vị tôi ngày xưa, chuyên gửi những lá thư tình của em gái hậu phương cho anh lính tiền tuyến khiến nhiều anh tưởng thật, mơ một ngày về phép đến rủ em Dạ Lan dạo phố. Nhưng thực sự thì cô "Dạ Lan" cũng chỉ là người lính chiến có súng, cầm súng như các anh mà thôi.

Nhân dịp đọc bài viết "Người Yêu Trâu Điên", tôi xin thuật lại một vài chi tiết 40 năm về trước để giúp tác giả biêt thêm về lòng yêu nghề mà không ngại gian lao nguy hiểm của người phóng viên chiến trường. Nếu đích thực ông là thân phụ của tác giả thì xin cho tôi gửi lời chia buồn đến gia đình người quá cố, một phóng viên mà tôi quý mến..

***

Tết Mậu Thân 1968, TĐ.2/TQLC đang hành quân vùng Cai Lậy, Giáo Đức, Định Tường thì được trực thăng bốc về Saigon và đổ quân xuống ngay trong sân bộ Tổng Tham Mưu, sau khi thánh toán xong tụi VC ở trường Sinh Ngữ, trung tâm Ấn Loát, cổng xe lửa số 6 thì Tiểu Đoàn Trâu Điên chia ra từng đại đội đi đánh các nơi khác, sau đó thì Đại đội 1 của tôi và đại đội 4 của Đại Úy Vũ Dzoan được lệnh giải tỏa lực lượng địch đang chiếm khu cư xá Phú Lâm.

Chúng tôi lục soát và chiếm những mục tiêu đang có VC cố thủ trên những nhà lầu dọc theo hai con đường Hậu Giang và Lục Tỉnh để tiến về mũi tàu Phú Lâm và đài phát tuyến. Vì chiến đấu trong thành phố nên chúng tôi không được phép sử dụng pháo binh và máy bay, do đó chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn bởi vì địch đã nằm sẵn trên các cao ốc, nhìn rõ mục tiêu, nhắm súng vào chúng tôi. Nhưng đã là lính thì phải chấp nhận hy sinh để giảm thiểu thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào.

Khi đại đội tôi tiến đến ngã tư đường Hậu Giang và Phú Định thì đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong hãng pin Con Ó, cách chúng tôi một bãi đất trống và hỏa lực rất mạnh. Đã mấy tiếng đồng hồ rồi mà quân ta chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến "bằng mọi giá"!

Chúng tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết (có nghĩa là bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến), cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh trung đội đi đầu của thiếu úy Nguyễn Văn Quang chuẩn bị "tùng thiết" để vượt qua khoảng trống, chiếm mấy cao ốc trước mặt, thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.
Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp. Anh ta đã đi theo đơn vị tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi nhưng ngồi trên pháo tháp như thế thì thật liều mạng, giận quá tôi quát:
"Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay".

Tôi hét lớn với người phóng viên đang bám theo xe trong tình trạng hết sức nguy hiểm, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 lớn quá khiến nggười phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta "giả điếc" để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên. Một tay anh bám vào thành xe, một tay bấm máy hình liên tục. Mỗi khi xe lắc lư như muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo tòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ đươc nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường:

"Đường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao".

Không chậm trễ một giây, người lính cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất. Trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi. Xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.
Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng. Xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, 2 tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh-Thon, hiệu thính viên của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (* Thiếu Úy Quang khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó)

Đảo mắt quan sát một vòng, tôi thấy xung quanh xe thiết giáp vài quân nhân bị thương, chưa biết nặng nhẹ ra sao. Cách đó vài mét, người phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Đường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, anh trông thấy người vừa ra lệnh "lôi" anh ấy xuống đất nên anh ta lắc lắc cái đầu tỏ ý "ghê quá" và đưa nắm tay với ngón cái hướng lên trời, không biết ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết hay là muốn nói cám ơn tôi đã đuổi anh ấy xuống, có thể là cả hai. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:

"Về nhà nhớ mua heo cúng nghe ông, lần sau ráng giữ lấy cái "gáo dừa".

Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Đến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, cuốn theo phần thân trên của anh thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.

Thấy xe bằng sắt mà còn bị đứt huống chi người, thượng cấp không hối thúc tiến nữa mà cho dừng quân để trực thăng (gunship) đến bắn rockets thẳng vào mục tiêu, nhờ vậy chúng tôi mới vượt qua được khoảng trống và tiến nhanh đến giải tỏa địch khu cư xá Phú Lâm.

Bài viết này chúng tôi không chủ tâm viết về trận Mậu Thân mà chỉ muốn nói về chuyện người Phóng Viên Chiến Trường nên chúng tôi không đi vào chi tiết việc binh đao mà xin quay về với người "lính" mang ống kính, máy chụp hình.

Rất hiếm khi có được phóng viên chiến trường ở ngay tuyến đầu tại mặt trận, có chăng là sau khi mọi chuyện đã xong xuôi, báo chí mới tháp tùng theo phái đoàn trung ương đến quan sát trận địa để chụp hình quay phim đưa hình phái đoàn hoặc hình những xác VC, những cây súng gẫy lên báo chí còn những hình người lính chiến thì mờ-mờ ảo-ảo làm nền trang trí

Nhưng lần này về đánh giặc ngay trong lòng thủ đô nên có dịp nằm cùng phóng viên ngay tuyến đầu, những hình ảnh người lính TQLC xung phong vào lửa đạn đều được các anh chụp và đưa lên các trang nhật báo ngay ngày hôm sau kèm theo tên tuổi đơn vị v.v như trường hợp phóng viên Nguyễn Tú của nhật báo Chính Luận, những hình ảnh và bản tin của anh viết về Trâu Điên trên báo đã được thân nhân gửi ra chiến trường khiến chúng tôi rất hãnh diện. Dù không biết ông Nguyễn Tú nay ở nơi đâu nhưng cũng xin thay mặt anh em để cám ơn ông Tú.
Có những người lính thấy hình mình được đăng trên báo, dù không rõ lắm nhưng cũng thấy thích thú, cắt xén thật cẩn thận để giữ làm kỷ niệm hoặc làm quà tặng cho người yêu. Các cấp chỉ huy thì cất kỹ những trang báo nói về trận đánh của đơn vị mình rồi đóng khung lồng kính treo lên chỗ trang trọng nhất của đơn vị.

Đối với người lính tác chiến thì những hình ảnh và bài viết của các phóng viên chiến trường về đơn vị họ, nhất là các đơn vị cấp nhỏ như trung đội hay đại đội, là một niềm an ủi lớn lao, một điều khích lệ vô cùng quan trọng cho tinh thần chiến đấu của họ, nhưng tiếc thay, trong quá khứ, người có trách nhiệm đã không để ý đến "binh sĩ vận" mà chỉ lo "thượng cấp vận".

Có được người phóng viên đi theo khiến anh em lính chúng tôi lên tinh thần, hơn nữa chuyện anh thoát lưỡi hái của tử thần vừa qua càng làm chúng tôi quý mến nhau hơn nhất là tình cảm giữa anh và Bùi Ngọc Đường, họ thân nhau như anh em, dù tuổi tác có chênh lệch.

Trong lúc đơn vị tôi tạm đóng quân trong cư xá để chờ nhiệm vụ mới thì anh phóng viên dẫn chúng tôi về nhà, cũng ở trong cư xá Phú Lâm, anh có ý muốn giới thiệu chúng tôi với chị ấy và các cháu. Trước khi bước vào nhà anh nói nhỏ với tôi và Đường:
"Các anh đừng nói gì về chuyện vừa xẩy ra nhá, sợ bà xã tôi và sấp nhỏ lo lắng".

Một người vừa yêu nghề lại vừa yêu vợ con nên đôi khi cũng không dám nói sự thật, tôi thông cảm với anh vì tôi vẫn thường nói dối như thế. Mỗi lần về phép, mẹ tôi hỏi đi lính có vất vả không thì tôi không ngần ngừ mà trả lời mẹ ngay:
"Như đi làm thư ký văn phòng ấy mà."
Anh giới thiệu chị và các con với chúng tôi, có lẽ cũng đến "ngũ long công chúa", cháu lớn chỉ độ "trăng tròn" là cùng. Thấy lính tráng súng ống vào nhà nhưng lại ngồi uống café hút thuốc nói chuyện vui vẻ với bố nên các cháu an tâm, bạo dạn hơn, thập thò sau màn che, cười khúc khích, kí đầu hoặc vỗ vào lưng nhau "thùm-thụp".
Một gia đình thật hạnh phúc, tôi ước mong một ngày nào trong tương lai có được mái ấm gia đình như anh, nhưng có lẽ còn lâu lắm, vì anh hơn tôi gần một "con giáp". Cũng có thể không bao giờ có được hạnh phúc ấy một khi còn "vui đùa" với súng đạn, nghĩ vậy nên tôi tâm sự với anh:
"Này anh, nếu hôm qua Đường không ôm anh nhảy xuống đất thì hôm nay đâu còn chầu café này, anh đâu còn nghe tiếng cười khúc khích dễ thương của các cháu, anh phải hết sức cẩn thận khi đi làm phóng sự ngoài chiến trường, hoặc nên đổi nghề, lương không được bao nhiêu mà có quá nhiều nguy hiểm, anh đã có gia đình, các cháu đang nhìn anh kia kìa".

Tôi chỉ tay vào phía trong nhà, sau bức màn che, thấp thoáng một hai cô bé tóc đuôi gà đang nhìn bố tiếp khách, anh nhìn theo hướng tay tôi chỉ, anh gật gật đầu ra chiều suy nghĩ.
Khi bắt tay từ giã, anh xiết chặt tay tôi và nói nhỏ:
"Anh sẽ để ý và nghiên cứu lại lời khuyên của chú".
Tôi thật cảm động khi nghe anh xưng "anh" và gọi tôi bằng "chú" (em) mang đậm nét tình nghĩa gia đình. Từ hai người xa lạ, chỉ qua một lần cùng chung nguy hiểm mà chúng tôi trở thành anh em thân thiết hồi nào không hay.

Anh tiễn chúng tôi ra cửa nhưng có tiếng chị dặn với theo:
"Tối các em nhớ lại ăn cơm canh chua cá kho tộ với các cháu cho vui".

Vui quá đi chứ, hổm rầy sống giữa thành phố mà cứ phải "nhá" C ration*, thịt hộp 3-lát ngán quá (* thức ăn đóng hộp cho lính hành quân). Nhưng ngay tối đó đại đội tôi phải di chuyển gấp đến mặt trận Bình Hòa nên không kịp báo tin cho anh chị hay.

Ngày qua ngày TĐ2 di chuyển khắp nơi, từ nội thành ra tới ngoại ô, từ Nhà Bè sang bến đò Long Kiển, lên Nhị Bình (Lái Thiêu), chỗ nào có bong dáng VC là chúng tôi phải đến. Đã có lần đơn vị chúng tôi trở lại lục soát khu vực rừng khóm (dứa) (thuộc mật khu Lý Văn Mạnh), rất gần với cư xá Phú Lâm nhưng không có thì giờ ghé thăm anh chị.

Rồi VC tấn công đợt 2, bận túi bụi với những người "anh em" từ bưng về thành, nào là ngã ba Cây Thị, xóm Cao Đồng Hưng, khu Đồng Ông Cộ, cầu Bình Lợi, ngã ba Cát Lái v.v.., người tử trận kẻ bị thương, chúng tôi không còn thì giờ nhớ đến gia đình, nhớ đến người yêu nên hình dáng người phóng viên cũng mờ dần.

Vào khoảng tháng 10/1968, tình hình Saigon hòan toàn yên tĩnh trở lại, TĐ.2 được biệt phái cho Quân Đoàn III để hành quân vào mật khu Hố Bò, Bời Lời. Trước khi đi xa Saigon, Bùi Ngọc Đường trốn đi chơi nguyên ngày, khi trở lại đơn vị thì vừa kịp nhảy lên xe GMC cùng đại đội di chuyển đến quận Hiếu Thiện (Tây Ninh) và từ đây được trực thăng vận vào mật khu Bời Lời ngay nên tôi chưa có dịp "thưởng" cho Đường 5 roi. Cũng may là ngay trong trận này, Bùi Ngọc Đường cùng với Nguyện Văn Hợi đã liều mình cứu sống được viên trung úy cố vấn Mỹ bị thương và đã bị VC bắt. Nhờ thành tích này mà Đường được Sư Đoàn TQLC tưởng thưởng cho một xe Honda và dĩ nhiên tôi cũng tha cho hắn tội trốn đi phố.

Bùi Ngọc Đường và tôi là hai "thầy trò" nên khi đi hành quân thì như hình với bóng, Đường luôn ở bên cạnh để giúp tôi khi cần thiết, đi đâu là phải hỏi, vậy mà lần này dám đi cả ngày, đã vậy khi trở về lại có vẻ buồn. Tuy được phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn thưởng cho chiếc Honda mà sao Đường không vui! Và rồi, xe Honda còn trùm mền chờ ngày Đường về phép để chở người yêu dạo phố thì Đường lại hy sinh trong một cuộc hành quân sau đó!

Khi Đường tử trận rồi, Nguyễn Văn Hợi, người cùng với Đường cứu sống cố vấn Mỹ, mới nói thật với tôi là Đường trốn đi phố là để về thăm anh phóng viên ở cư xá Phú Lâm, và người anh kết nghĩa này của Đường đã bị VC hạ sát trong đợt 2 trận Mậu Thân!

Nghe Hợi nói mà tôi bỗng rùng mình, nhớ lại lúc Đường ôm người phóng viên nhẩy khỏi xe thiết giáp và họ đã thoát không bị nát thây trong gang tấc và rồi họ kết nghĩa anh em, tình huynh đệ chưa được bao lâu thì anh hy sinh mà em không biết! Khi trở lại thăm anh, chưa tàn bó nhang thắp cho anh thì em lại tử trận!

Cả hai đều những người tôi thương mến, hình ảnh của họ đã nằm sâu trong ký ức, nào ngờ, 40 năm sau, một sự tình cờ mà hai hình ảnh này sống lại thật rõ ràng trong trí nhớ của những người hay quên hiện tại mà nhớ dai chuyện quá khứ.

Đọc từng dòng từng chữ câu chuyện của N.A, tôi tin chắc người bạn phóng viên chiến trường, người anh kết nghĩa của Trâu Điên Bùi Ngọc Đường chính là thân phụ của tác giả bài viết "Người Yêu Trâu Điên" và người lính trong tấm hình mà N.A dấu kín trong tập nhật ký nhỏ có phần chắc là Bùi Ngọc Đường!
Tác giả N.A kết thúc lá thư không gửi vì không biết anh Trâu Điên ở đâu bằng lời chúc:

"Với lòng mong mỏi anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ đến anh Trâu Điên ngày xưa".

Phần tôi xin kết thúc bài viết "Trâu Điên và Người Phóng Viên" bằng lời nhắn:

"Cô Ngọc Anh ơi, Trâu Điên Bùi Ngọc Đường, người trong tấm hình mà cô giữ kín trong cuốn nhật ký, đã không thể về dự đại hội TQLC năm 2008 được.Đường không chết nhưng đã nằm lại đâu đó trên chiến trường miền Nam VN, cũng như thân phụ của cô, ông không chết nhưng về với các con bằng thân xác còn nóng hổi, máu chẩy ra linh láng!

Tôi tin rằng Bùi Ngọc Đường, người lính trong tấm hình mà cô "nhốt" trong cuốn hồi ký, hay cô nhốt hắn trong tim thì chỉ có hắn biết, hắn sẽ phù hộ cho gia đình cô.

PHILATO
California tháng 9 năm 2009.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Thư Về Em Gái Thành Đô
Sáng tác : Phạm Thế Mỹ
Tiếng hát : Trường Vũ


Nhiều khi tôi muốn viết thư thăm em
Về kể chuyện rừng xanh
Chuyện vui buồn quân ngũ
Chuyện quân hành đất đỏ
Nhiều đêm dài mưa đổ
Nhưng ngại em nhớ tôi chăng

Mười năm tôi xa mái trường yêu
Mang theo bao hẹn hò
Rời tuổi xanh học trò
Dù đời còn lắm mộng mơ
Dù biết bao giờ,
Tìm về người cũ hoa xưa

Giờ đây, nghe nói em đang vui say
Chiều hoa lệ thành đô
Vòng tay ngà đua nở
Dìu em vào giấc ngủ
Cùng hoa đèn sáng tỏ
Quay cuồng khúc hát đam mê

Hỏi em, ai sương gió đường xa
Vai ba lô nặng đầy
Tay súng giữa đêm dài
Miệt mài tranh đấu vì ai
Đừng để cho nhau
Lời nguyện cầu đau xót ngày mai

Nhớ đêm nào, đường về nhà em
Có trăng lên sáng soi lối vào
Có đôi mình, cùng chung bóng hình
Chung tiếng hát ấm êm ngày xanh

Nhớ câu thề, một lần chia tay
Có hoa rơi cuối chiều nắng hè
Đến bây giờ, dù ai hải hồ
Xin em nhớ tiếng xưa đợi chờ

Làm sao tôi nói hết trong trang thư
Tình yêu gởi về em
Mười năm dài chưa mỏi
Đời trai còn trôi nổi
Vì nghe lời khắc khoải
Quê mình đau xót em ơi

Trời biên khu,
Trăng vẫn sáng triền miên
Nhưng tim tôi lạnh đầy
Ngồi viết trang thư này
Gửi người em gái thành đô
Tôi vẫn chưa quên
Lời nguyện câu ước ngày xanh.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chuyện 35 năm trước

Lữ Giang
Báo Tuổi Trẻ online từ 8 đến 14.9.2009 đã đăng một thiên ký sự về trận đánh Hoàng Sa giữa Hải Quân VNCH và Trung Quốc năm 1974 do Chuẩn Úy Nguyễn Văn Đức, Đảo Trưởng Hoàng Sa, và Thượng Sĩ Lê Công Bảy, giám lộ (giám sát lộ trình - hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 kể lại. Bài ký sự đã được viết rất nghiêm túc, Đây là chuyện chưa từng xẩy ra trên các báo chí ở trong nước. Phải chăng “khi tổ quốc lâm nguy” thì “chiến tuyến” không còn nữa? Cả hai ông Nguyễn Văn Đức và Lê Công Bảy đều là “chiến sĩ VNCH” còn ở lại trong nước.

Chuyện làm đảo trưởng Hoàng Sa chúng ta chưa hề được nghe đến, nhưng trận hải chiến giữa Hải Quân Trung Quốc và Hải Quân VNCH, chúng ta đã nghe các đàn anh của Thượng Sĩ Lê Công Bảy kể lại nhiều rồi. Tuy nhiên, mỗi người nhìn vấn đề dưới những khía cạnh khác nhau. Câu chuyện Thượng Sĩ Lê Công Bảy kể lại cũng có nhiều chi tiết chưa từng được nghe, có thể góp phần làm sáng tỏ thêm lịch sử. Vì thế, chúng tôi xin tóm lược lại dưới đây hai câu chuyện nói trên.

ĐẢO TRƯỞNG ĐẢO HOÀNG SA

Mở đầu thiên ký sự, báo Tuổi Trẻ đã giới thiệu như sau:

“Hơn 35 năm trước, những người con đất Việt đã nhận lệnh vượt trùng dương ra quần đảo Hoàng Sa canh giữ biển trời Tổ quốc. Họ tự hào ra đi trong tâm thế của người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Bây giờ nhắc lại, mắt họ rưng rưng, tim họ nghẹn lại khi Hoàng Sa vẫn còn trong tay nước ngoài.

“Từ số báo này, Tuổi Trẻ đăng tải hồi ức của những người từng canh giữ biển trời Hoàng Sa 35 năm trước. Thời gian dài trôi qua, nhưng những gì tận mắt họ chứng kiến, những gì họ trực tiếp tham gia không thể phai mờ trong tâm trí.”

Chuẩn Úy Nguyễn Văn Đức đã được Biệt Khu Quảng Đà cử đi làm Đảo Trưởng đảo Hoàng Sa cách đây 40 năm do Sự Vụ Lệnh số 1445/BCH/TK/ 75/5/4 ngày 14.10.1969 do Trung Tá Lê Tri Tín, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Quảng Nam ký, cùng với 34 quân nhân thuộc Trung Đội Hoàng Sa. Lúc đó anh mới 22 tuổi.

Được hỏi ông có lo lắng gì trước lúc lên đường làm nhiệm vụ hay không, ông trả lời:

“Tại sao phải lo lắng? Đó là đất của cha ông mình để lại, là máu mủ thân yêu của Tổ quốc nên chúng tôi ra đi như lẽ bình thường, hiển nhiên. Chẳng có chút gì phải lo sợ khi chúng tôi đi trong tâm thế của một người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Khi đó quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, thuộc về người Việt, đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi”.

Một ngày cuối tháng 10-1969, ông Đức cùng trung đội Hoàng Sa gồm 34 người và bốn nhân viên khí tượng rời cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) lên đường làm nhiệm vụ. Sau hơn 24 giờ lênh đênh trên biển, Hoàng Sa thân yêu hiện dần lên trước mắt ông. Ông Đức nhớ lại:

“Lúc đầu biển khá êm, nhưng khi rời đất liền được khoảng hơn 100km thì sóng lớn dần. Từ xa Hoàng Sa hiện lên giữa nền xanh của đại dương. Bao bọc quanh Hoàng Sa là những rạn san hô rộng lớn, vì thế chúng tôi không thể cặp tàu vào được mà phải dùng canô để chuyển quân và quân trang vào đảo. Trên đảo có một tòa nhà lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc, cao khoảng 8m, tường dày 2m dành cho đảo trưởng.

“Trong phòng làm việc của đảo trưởng có một bức tường ghi tên tất cả những người lính đã ra đây giữ đảo. Và tên của chúng tôi đã được ghi lên đó, đó là niềm vinh dự lớn lao của một người con đất Việt. Xung quanh đảo là những rừng cây, tuy không to lớn nhưng cũng đủ để che chắn nắng gió cho lính đảo. Hình ảnh lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất tuyệt đẹp của Tổ quốc nơi xa đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên. Xúc động lắm”.

Ông Nguyễn Văn Đức kể tiếp:

“Nhiệm vụ của chúng tôi là đo đạc, báo cáo về sở chỉ huy ở đất liền những tin tức ở Hoàng Sa mỗi ngày. Anh em khí tượng làm nhiệm vụ quan trắc và báo cáo tình hình thời tiết để phục vụ cho tàu bè lưu thông trong vùng. Trang bị vũ trang lúc ấy không nhiều, chỉ có hai khẩu đại liên 50mm nhưng anh em vẫn kiểm soát được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Tàu bè quốc tế ngang qua đều tôn trọng chủ quyền của chúng ta, và chúng ta cũng sẵn sàng hỗ trợ tàu bè khi gặp bão tố. Những lúc rảnh rỗi chúng tôi thường dùng canô đi qua các đảo lân cận để chơi vì cảnh quan ở đây rất hữu tình. Đảo Cát, đảo Chim, đảo Elbe, đảo Duncan, đảo Drumond... chúng tôi đều đã đặt chân đến”.

Trầm ngâm nhớ lại những ngày tháng gắn bó với mảnh đất xa xôi của Tổ quốc, Chuẩn Úy Nguyễn Văn Đức nói:

“Khi thủy triều xuống, cả rạn san hô hiện lên tuyệt đẹp như một rừng hoa biển. Mỗi khi nhớ đất liền, anh em lại lấy vài cành san hô bỏ vô chậu, bắt vài con cá nhỏ ngồi ngắm nghía bên tách cà phê đen. Có sống ở đảo mới thấy nhớ đất liền, yêu quê cha đất tổ. Thời tiết ở đây khá ôn hòa nhưng gió mạnh lắm, nhiều khi anh em bị gió đẩy ngã sóng soài. Tuy vất vả, thiếu thốn nhưng anh em thấy vui và hãnh diện khi được trấn giữ biển đảo quê nhà”.

Ông cho biết có hai di tích ở đảo Hoàng Sa ông không thể nào quên. Đó là cái miếu nhỏ ở góc đảo mà anh em lính đảo vẫn thường ra đó để tìm chút an bình giữa sóng gió. Ông kể:

“Mỗi khi sóng to gió lớn hay thấy lòng bất an, anh em chúng tôi thường tìm đến ngôi miếu. Lạ lắm, chỉ cần ngửi thấy mùi nhang khói là cảm giác ở xa đất liền như được gần lại. Hơn nữa, mùi nhang khói như gợi lên những tiềm thức về quê cha đất tổ, nhớ về nguồn cội. Đó là những điều cần thiết để những người con đất Việt như chúng tôi yên lòng nơi đầu sóng ngọn gió giữ gìn biển đảo của cha ông để lại. Cạnh đó là một nghĩa trang có hơn 30 ngôi mộ là hài cốt của những chiến sĩ người Việt ngã xuống vì bệnh tật nơi đảo xa, là nắm xương của những người con Việt đã nằm xuống sau những lần đụng độ với âm mưu xâm lược của ngoại bang.

“Ở đó còn có cả hài cốt của những ngư dân từ miền Trung, miền Bắc gặp nạn trên đường mưu sinh. Và cũng có cả những nắm xương của lính nước ngoài bị chúng ta hạ gục khi âm mưu đánh chiếm đảo. Có một điều là chúng tôi không phân biệt địch ta khi họ đã ngã xuống, mỗi ngày rằm hay cuối tháng chúng tôi đều thắp nhang lên những nấm mồ hoang. Có lẽ đó là một nét đặc biệt của người Việt mình, là một hành xử đầy tính nhân văn, “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn” mà mỗi người Việt chúng ta còn lưu giữ được từ dòng máu Lạc Hồng!”.

Ngày 19-1-1974, ngày quân Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa là ngày ông Đức cảm thấy đau đớn nhất trong cuộc đời mình. Ông xúc động kể lại:

“Khi hay tin Hoàng Sa bị quân Trung Quốc tước đoạt bằng vũ lực, tôi đau đớn đến mức nước mắt không thể chảy được, lòng dạ như ai xát muối. Tôi biết ngoài kia những đứa con của đất Việt sẽ phải đổ máu vì quê hương. Tôi đau vì một mảnh đất tuyệt đẹp và giàu có của nước nhà đã bị ngoại bang vô cớ cướp đoạt. Đó là nỗi đau của một người con đất Việt!”.

TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA

Ông Lê Công Bảy cho biết ông là Thượng Sĩ giám lộ (giám sát lộ trình - hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của Hải Quân VNCH thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối hành quân. Hiện ông là bảo vệ của Đài truyền hình VN tại Sài Gòn.

Ông kể lại với báo Tuổi Trẻ rằng với chức danh nói trên, lúc nào (trong nhiệm sở tác chiến hay hải hành) ông đều phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, thường xuyên bên hạm trưởng Vũ Hữu San (Trung Tá Hải Quân, Hạm Trưởng). Nhiệm vụ của anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những tài liệu bằng đèn và cờ. Ông cho biết:

“Hôm ấy, ngày 16.1.1974, gió mùa đông bắc thổi mạnh trên biển Đông. Biển động mạnh. Chiến hạm chúng tôi đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré (đảo Lý Sơn). Đây đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển. Chỉ còn một ngày nữa chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến, anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền.

“Chưa kịp dùng cơm trưa thì từ trung tâm truyền tin đưa lên đài chỉ huy một công điện thượng khẩn: lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng. 17 giờ tàu về đến quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Hạm Trưởng San và Đại Úy Diên - trưởng khối hành quân, được lệnh lên họp khẩn cấp ở trung tâm hành quân Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Từ trung tâm hành quân, hạm trưởng điện về tàu lệnh cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ (tiếp tế lương thực).

“20 giờ Hạm Trưởng San về tàu. Lệnh cấm trại 100% được ban ra. Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và nước ngọt. Đến 21g, hai chiếc xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược xuất hiện. Lần đầu tiên trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân mặc quân phục lạ lùng. Sau một hồi dọ hỏi tôi mới biết đây là Lực Lượng Biệt Hải. Tôi được lệnh từ Đại Úy Diên chuẩn bị hải đồ đi Hoàng Sa. 23g, tàu khẩn cấp rời cảng Tiên Sa trực chỉ Hoàng Sa. Tôi cảm giác có một chuyện gì lớn lao sắp xảy ra.”

Ông Lê Công Bảy kể tiếp như sau:

11g30 ngày 17-1, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó ngày 16-1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng cũng đã có mặt tại Hoàng Sa.

HQ-4 tiến gần đảo Vĩnh Lạc. Còi tác chiến vang lên, tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu. 14 giờ, trung đội biệt hải được lệnh rời tàu trên ba xuồng cao su, 20 phút sau trung đội biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và nhận lệnh tiến sâu vào đảo lục soát.

Báo cáo từ đoàn quân gửi về: không phát hiện gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp, không có bia, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ đóng trước đầu mộ ghi bằng chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.

Các chiến sĩ biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ giả lên, hóa ra chẳng thấy xương cốt gì cả. Đây là những nấm mộ ngụy tạo mà ai đó đã dựng lên để chứng tỏ có người Trung Quốc đã sống và chết trên đảo mà thôi. 16g30, lực lượng biệt hải được lệnh rút về tàu.

Đến buổi chiều, phòng chiến báo rằng theo dõi qua hệ thống rađa tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm chiến báo được lệnh theo dõi và báo cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi, khoảng cách của hai tàu trên.

Đêm 17 rạng 18-1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. Tàu HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh cáo: Đây là lãnh hải của Việt Nam. Yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay! Phía Trung Quốc đáp trả, cho rằng Hoàng Sa là của họ.

Sáng 18-1, chiến hạm HQ-4 của chúng tôi tiến về đảo Cam Tuyền. Lúc 8g, trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi lục soát chỉ phát hiện những nấm mộ mới đắp không hài cốt y như ở đảo Vĩnh Lạc.

Đến 11g, đài khí tượng và quân đồn trú đảo Hoàng Sa báo cáo có hai tàu đánh cá vũ trang mang cờ Trung Quốc xâm nhập và tiến gần đến đảo Hoàng Sa, tàu HQ-4 và HQ-16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, tàu HQ-4 dùng tín hiệu cảnh cáo và đuổi đi, nhưng cả hai tàu Trung Quốc cố tình khiêu khích.

Tàu HQ-4 tiến thẳng đến một tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc. Trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm. Tàu được trang bị hai thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng sau lái tàu), ngoài ra có rất nhiều súng AK-47. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá Trung Quốc để xua đuổi.

Hai bên đánh nhau bằng... võ mồm. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 lùi ra dùng mũi tàu ủi thẳng vào tàu Trung Quốc, mũi tàu HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái của tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của Hải Quân VN, họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt xua đuổi tàu đánh cá vũ trang còn lại.

Cũng trong sáng 18-1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 do Trung Tá Hải Quân Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng được lệnh tăng cường ra Hoàng Sa. Cùng đi trên HQ-5 có Đại Tá Hà Văn Ngạc, được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Ngoài ra, đi theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của Hải Quân).

Lúc 15g30 chiều 18-1, lệnh Đại Tá Ngạc cho ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Duy Mộng. Khoảng 16g, có hai tàu chiến Trung Quốc bắt đầu khiêu khích, cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được vì các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng.

Đêm 18 rạng ngày 19-1, tàu chiến và tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc vẫn tiếp tục khiêu khích, tiến đến gần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Tình hình dịu hơn khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc.

Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do thiếu tá hải quân Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng đã ra chi viện cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.

Tình hình tại biển Đông đột ngột trở nên căng thẳng vào ngày 11.1.1974 khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói trên, Hải Quân Trung Quốc đã mở màn chiến dịch xâm chiếm Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.

Trong các ngày kế tiếp, phía Trung Quốc bất ngờ đổ người lên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đến ngày 15-1-1974, quân Trung Quốc đã chiếm đóng các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond).. .

Lúc 6g sáng 19-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo. Không một tàu chiến nào của Trung Quốc phát hiện được HQ-4 và tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5.

Khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy, chúng tôi đã phát hiện doanh trại mới toanh và cột cờ có cờ Trung Quốc. Hai mươi phút sau, lực lượng biệt hải đổ bộ lên đảo (mặt đông nam). Lực lượng đổ bộ cắm cờ Việt Nam lên bờ cát và hốc đá, rồi khẩn cấp tiến vào bên trong đảo. Trong khi đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa chưa vào được vì HQ-5 không thể vào sát bờ, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giật dữ dội không vào bờ được. HQ-5 phải thả tàu cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát chúng tôi đã phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo, hàng trăm quân Trung Quốc ồ ạt vào đảo rất nhanh vì xuôi gió.

Thế rồi báo cáo bất lợi dồn dập gửi về đài chỉ huy tàu HQ-4. Một số đông quân Trung Quốc nấp sau các tảng đá chĩa thẳng mũi súng vào đội hình biệt hải. Trên mặt biển lúc ấy, chúng tôi thấy tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 và hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là bốn tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình của ta. Tình hình bắt đầu căng thẳng, báo hiệu một trận đụng độ sinh tử không thể nào tránh khỏi. Trong khi đó ở phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc tiếp tục cho đổ người ồ ạt lên đảo của ta.

Và họ nổ súng trước. Vào lúc 8g30, một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.

Lúc đó, sát bên tàu HQ-4 của chúng tôi đã xuất hiện hai tàu chiến Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li. Các họng súng đại bác Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4.

Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc và trình cho hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San. Nghe xong một nội dung cực kỳ khiêu khích từ tàu Trung Quốc, hạm trưởng San tức thì đỏ mặt, quát tháo ầm ĩ. Quay sang chúng tôi, ông ra lệnh không nhận tín hiệu từ tàu Trung Quốc nữa.

Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Đại tá Hà Văn Ngạc, lúc đó đang ở trên chiến hạm HQ-5, được giao toàn quyền hành động. Đại Tá Ngạc ra lệnh: Tất cả đại bác đều phải hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo, dọn đường lập đầu cầu để biệt hải và người nhái đổ bộ tái chiếm đảo. Hạm trưởng Vũ Hữu San gằn từng tiếng trong bộ đàm: “Trình đại bàng, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nay nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển trước khi tính đến việc đổ quân, hiện nay số tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng đến giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được?”. Rồi hạm trưởng San nói tiếp: “Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hi sinh vì Tổ quốc, nhưng...”.

Ông cúp máy và ra lệnh: “Tất cả khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch!”.

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh “bắn”. Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân Trung Úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.

Tuy nhiên, chiến hạm HQ-4 vẫn vững vàng trong cuộc hải chiến. Đài quan sát trên nóc báo cáo có tàu Trung Quốc đang đuổi theo. Tôi nhìn ra phía sau vừa thấy hai tàu chiến Trung Quốc. Liền lúc đó từ mạn phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 rồi phóng thẳng vào hai tàu đối phương. Những khối cầu lửa từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 li) bay thẳng vào tàu Trung Quốc. Một chiếc trúng đạn bốc cháy, một chiếc quay ngang và sau đó lãnh đủ hàng loạt đạn từ HQ-4.

Nhưng ngay lúc đó, thông tin từ HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 li của tàu này đã bị trúng đạn, ba quân nhân tử thương, hai bị thương nặng. HQ-4 vòng lại yểm trợ HQ-5. Không thấy tàu HQ-16 và HQ-10 đâu cả. Liên lạc mãi với hai tàu này vẫn không được.

Thật ra lúc ấy tàu HQ-10 đã bị thương nặng. Tàu này nhỏ, cũ kỹ, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền hai quả 100 li từ tàu Trung Quốc.

HQ-4 và HQ-5 quay đầu về hướng nam. Sau đó một giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. HQ-5 do máy yếu và một máy bị sự cố chưa kịp khắc phục nên “rớt” lại đâu đó. Trên biển HQ-4 trở nên lẻ loi một mình. Đó cũng là lúc hải quân Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, hạm trưởng Vũ Hữu San đã vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng.

Khoảng 16g30, tôi đang trong giấc ngủ sâu vì đã mấy hôm không chợp mắt thì còi tập họp vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn tập họp đầy đủ nghe thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu được lệnh quay lại Hoàng Sa. Nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa, chiến đấu đến cùng để giữ đảo”. Nhìn sau lái tàu, tôi biết tàu đang quay lại và hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả đều bất động, không ai nói với ai một lời nào trước giờ phút cảm tử này.

Tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi, đến khi thức dậy trời tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho biết tàu đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói hạm trưởng San báo cáo thẳng với tư lệnh hải quân là HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không còn đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều có trục trặc... Lệnh từ đất liền: các tàu quay về, hủy bỏ lệnh tấn công tái chiếm Hoàng Sa.

5g30 sáng 20-1 HQ-4 về đến cảng Tiên Sa, 9g tàu HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Lúc 12g30, tàu HQ-16 bị thương nặng, từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển.

Ông Lữ Công Bảy kết luận:

“Trận hải chiến Hoàng Sa chỉ kéo dài hơn 30 phút, nhưng nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù 35 năm đã trôi qua.”

Bây giờ cả Hoàng Sa và Trường Sa không còn nữa. Trung Quốc coi hai đảo này như “món nợ” mà đảng CSVN phải trả cho Trung Quốc khi nhận viện trợ của Trung Quốc để chiếm miền Nam.

Lữ Giang

(21.9.2009)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mũ Đỏ+Cờ Vàng Trên Khải Hoàn Môn Paris


Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées
và đặt vòng hoa tại mộ bia chiến sĩ vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn tại Paris hôm 03/10/2009
do hội Union Nationale des Parachutistes tổ chức để mừng ngày lễ St-Michel (29/09)..

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


TRUNG TÁ NGUYỄN ĐỨC XÍCH:
NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT

Sau khi vô tù ngày 2 tháng 5 năm 1975 ở tỉnh Cà Mau, qua cái lịnh đầu hàng vô điều kiện một cách bất ngờ, nhưng có chủ mưu, thông đồng, theo yêu cầu với giặc Cộng do đại tướng Dương Văn Minh và lịnh "bàn giao trong vòng trật tự" của chuẩn tướng nội phản "ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản "Nguyễn Hữu Hạnh; tôi bị giải đi nhiều trại như: khám lớn Cà Mau, Trại tù Cái Rắn (Tân Ánh), Kiến Vàng, khám lớn Bạc Liêu, Trại lao động Gành Hào và mùa hè năm 1976 bị đưa lên trại tù cấp quân khu, trực thuộc quân khu 9; được Việt Cộng chiếu cố khá tận tình, nên trong tất cả các lần chuyển trại nào cũng có tên tôi và được "cách mạng" nâng cấp tù từ tỉnh lẻ lên cấp quân khu, dù cấp bậc trong nhà binh từ đầu mới ra trường đến sau 2 năm ra đơn vị vẫn như cũ do bị ký củ.

Đến trại tù gọi là Liên Trại 3, trước đây là trung tấm huấn luyện Quốc Gia Chi Lăng, ở vùng Thất Sơn, thuộc tỉnh Châu Đốc; trại nầy có 3 liên độ mang số 3, 5 và 5, chứa hàng chục ngàn tù binh từ cấp úy trở lên, là số tù còn tồn đọng, được coi là nặng ký từ các tỉnh giải về sau những đợt "bắc tiến" của những người mới hôm qua từng làm cho kẻ chiến thắng "thất điên bát đảo" qua những trận đánh lừng danh từ Quảng Trị đến Mũi Cà Mau, nay trở thành người tù binh bất đắc dĩ. Được biết, ngoài trại Chi Lăng, còn có một số tù cấp đại úy, còn tồn đọng, tập trung trong trại cải tạo ở tỉnh Mộc Hóa (Kiến Tường), đó là đoàn 675. Tôi được đưa vào liên đội 3, một nơi tạp nhạp tù từ cấp úy đến đại tá, nên có cơ hội ở chung với những người mà trước đây là thượng cấp của mình. Chi Lăng với cát, khí hậu khô, nhất là vào mùa hè, làm tăng sức nóng như bài thơ của Nguyễn Khuyến:

"Ai xui con quốc gọi mùa hè.
Cái nắng nung người, nóng, nóng ghê".

Vừa vào trại lúc 10 giờ sáng, sau khi ổn định chỗ ngủ, thì chạy ra sau hè để múc chút nước xài, tắm cho mát sau chuyến đi khá mệt trong chiếc xe G.M.C đầy ấp người và đầy căng thẳng. Những dải nhà dài trong trại nầy vốn là nơi dành cho các tân binh quân dịch hay các đơn vị gởi về huấn luyện; nóc lợp thiếc, nền nhà xi măng, trước đây thẳng tấp những chiếc giường bằng sắt, dành cho tân binh ngủ. Nay trống trơn, chỉ còn trơ lại nền nhà, đủ thấy là " cách mạng" rất tài tình, giải phóng nhanh, mạnh đến mức nào? Nếu tháo được thiếc, cạy được xi măng, thì những dải nhà nầy chắc chắn chỉ còn lại cái sườn và nền cát trơ trọi. Giữa hai dải nhà là cái giếng nước, mua hè mực nước lên rất chậm mà số người đứng chờ mút nước thì đông, tức là số cung quá ít so với số cầu. Tôi cùng nằm trong số những người chờ đợi ấy, bỗng có giọng nói Huế thanh thót vang lên:

- Các anh múc nước, xin đừng quên nước hỷ!.

Tôi nhìn lại, một người đàn ông trung niên, gương mặt dễ coi, mái tóc đen vợn, mặc bộ đồ lính đang đứng nhìn mọi người chờ nước lên và lắc đầu. Tôi hỏi vài người đứng chung, ở trại nầy trước, họ cho biết đó là trung tá NGUYỄN ĐỨC XÍCH, nguyên tỉnh trưởng Gia Định, thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Nghe nói tên, tôi giựt mình, vì trước đó từng nghe qua anh qua, từ thời còn là cậu học trò tiểu học, không ngờ gặp lại ở đây. Sau đó, tôi làm quen với anh Trịnh Tiến Bình, đại uý ở tiểu khu kiến Hòa, là người Bắc di cư 1954, có nhà ở Hố Nai; anh Bình là người Công Giáo, chống Cộng kiên cường, anh biết tôi qua vài lần tiếp xúc, nên đưa đến gặp anh Nguyễn Đức Xích.

Từ đó tôi trở thành người của nhóm sinh hoạt trong trại tù. Đây là sự kết hợp giữa những người Công Giáo và Phật Giáo Hòa Hảo, trong hoàng cảnh khó khăn, nguy hiểm, nằm trong tay giặc. Nhóm nầy ngoài anh Xích, có trung tá Nguyễn Thanh Liêm (Hòa Hảo, là thầy trong binh chủng Quân Cảnh, nghe nói ông đi Mỹ), đại úy Đỗ Thành Luôn (thiết giáp), thiếu tá Phùng Đức Vinh, thuộc Pháo Binh Dù, tức là Vinh Mổ Bụng; vì anh bị thương, bụng chưa lành mà bị Việt Cộng đuổi ta khỏi bịnh viện, nên khi vào tù vẫn còn các băng lớn ở bụng, khi mở ra thấy cả thịt đỏ tươi ở bên trong (nhìn anh Vinh mà biết cách mạng nhân đạo đến độ kinh tởm)...

Anh Nguyễn Đức Xích là đàn anh trong quân đội, người thầy khả kính, bạn tù vong niên của tôi, dù sau khi anh bị giặc sát hại, nhưng lòng tôi vẫn thường nghĩ đến anh trong niềm kính phục, nhất là mỗi độ tháng TƯ ĐEN về hàng năm. Nhờ anh Xích mà tôi cũng như nhiều người tù khác coi cách sống, tư cách của anh như một biểu hiện tinh thần bất khuất, tấm gương cho người tù trong hoàn cảnh xấu nhất sau ngày giặc Cộng "nối vòng tay LỚN đầy lông lá" mà toàn dân miền Nam không bao giờ quên "lũ giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào".

Anh tốt nghiệp khóa 2, sĩ quan trừ bị Thủ Đức, có bằng cử nhân, là người thân cận với tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 28 tuổi, là thiếu tá, sau lên trung tá trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, làm tỉnh trưởng Gia Định; thời mà các sĩ quan từ đại úy trở lên, trước khi được thăng cấp, được gọi lên trình diện tổng thống để nhìn tướng; lúc đó miền Nam chia thành 5 quân khu, đại tá Trần Thiện Khiêm là tư lịnh quân khu 5, đặt bộ tư lịnh ở tỉnh Cần Thơ; theo anh kể thì sau ngày đảo chánh, anh bị những người mới lên cầm quyền trù dập, giải ngũ và sau cùng làm bên Giám Sát Viện cho đến ngày mất miền Nam.

Anh Xích không muốn nhắc đến cái ngày rủi ro là bị bắt trên đường vượt biển tìm tự do do sau 1975; nhưng có vài người bạn kể lại là: anh bị bắt trong một chuyến vượt biên ở Rạch Giá, Việt Cộng xét hành lý để kiếm vàng, tình cờ, trong mớ hình mang theo để kỷ niệm, chúng thấy tấm hình của anh chụp chung với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Việt Cộng nói là: "Anh chụp hình chung với thằng Thiệu thì không phải là tay vừa", nên chúng bắt và canh giữ đặc biệt, sau đó đưa lên trại tù quân khu (đó là chủ mưu giết anh sau nầy).

Sau đó Việt Cộng biết anh Xích là người thân cận, liên hệ mất thiết đến tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ thù số một của Việt cộng; một người từng làm tan rã cả mạng lưới nằm vùng của Hồ Chí Minh cài lại sau năm 1954, quốc sách ấp chiến lược thành công và kể từ khi luật số 10/59 ra đời, đặt Việt Cộng ra ngoài vòng pháp luật, là những tên khủng bố, bị luật pháp qui vào tội hình sự; khiến tên Việt gian bán nước Hồ Chí Minh hốt hoảng, đưa thêm những người miền Nam tập kết trở về hoạt động để bù vào sự tổn thất quá lớn ấy.

Những kẻ đón gió: tướng tá Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu ... vì lo sợ tổng thống Diệm có kế hoạch trẻ trung hóa hàng tướng lãnh để cải tổ quân đội, sẽ có một số tướng về vườn, hay không còn giữ những chức vụ quan trọng nên làm phản; thêm vào đó sự bất đồng ý kiến vời Hoa Kỳ về mặt chiến lược chống Cộng ... được những tên ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản khai thác, nên trung tướng Dương Văn Minh, kẻ đại diện cho khuynh hướng thân Cộng của nhóm Phật Giáo Ấn Quang do thượng tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, lợi dụng, kết hợp và tổ chức cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, làm hỏng cả kế hoạch "diệt Cộng tận gốc" của chánh thể đệ nhất Cộng Hòa.

Những kẻ thời cơ, thiếu viễn kiến, lại tranh chấp quyền hành liên miên từ 1963, tạo cơ hội cho Việt Cộng hồi sinh và sau cùng đưa đến thảm cảnh 30-4-1975. Nếu không có đảo chánh, thì Việt Cộng không bao giờ có cơ hội huênh hoang cái gọi là: "đại thắng mùa xuân 1975". Sự thất bại miền Nam 1975, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa là cuộc đảo chánh ấy, nên những người có trách nhiệm muốn chạy tội mà đổ thừa cho Mỹ gây ra. Thật ra thì nếu Mỹ có muốn thay thế Ngô Đình Diệm, nhưng các tướng tá vẫn một lòng phục vụ đất nước, không nghe ai, thì liệu người Mỹ có đảo chánh được không?. Chẳng lẽ họ mang lính từ bên kia bờ đại dương để đảo chánh?

Anh Xích kết nạp tôi vào tổ chức bí mật, không tên, gọi là "nhất đầu chế", anh dạy tôi nhiều điều hữu ích, trao dồi kiến thức, nhất là anh khuyến khích tôi đọc sách Việt Cộng để tìm hiểu, tìm ra những sai lầm để bẻ gảy bằng lý luận chủ thuyết Cộng Sản, tôi không quên câu nói của anh: "Muốn chống Cộng, anh phải hiểu chủ nghĩa Marx Lenin hơn cả chính ủy", nên từ đó tôi hay mượn sách tuyên truyền của Việt Cộng trong thư viện nhỏ ở Liên trại để đọc kỹ, nghiên cứu và thảo luận với anh nếu thấy không hiểu.

Có lần anh đem cuốn sách của Lenin viết, được dịch ra tiếng Việt, do nhà xuất bản SỰ THẬT Hà Nội, sách có tựa là: "Thế Nào Là Thi Đua", anh mở trang gần chót và đọc cho tôi nghe câu nói của Lenin dạy và chỉ thị cho cán bộ: "Đối với bọn trí thức như bác sĩ, cho chúng nó lau nhà xí, nếu cần đem bắn vài tên để làm gương ..." và anh nói là: người trí thức là kẻ thù số một của đảng Cộng Sản, ai trí thức đi theo, bị lợi dụng một thời gian, rồi bị vắt chanh bỏ vỏ; có khi bị thủ tiêu, giết hại. Chúng tôi thường tập trung ở giữa sân banh volley, gần nhà bếp, được cho là nơi an toàn, vì không có dính với các dãy nhà nào, phòng ngừa bọn ăng ten, anh Xích gọi là "chó săn" xâm nhập, nghe lén, báo cáo ... Trong trại nầy, hễ người tù nào lăm le muốn tiến bộ là biết ngay, nên những bộ mặt xạo bị lộ, như cây kim để trong bọc vải bị lòi ra. Chúng tôi không ưa và luôn cảnh giác thành phần nầy, là những kẻ nội thù thật nguy hiểm.

Trong trại, nhất là ở liên đội 3, có một nhân vật nổi tiếng là anh chàng nhạc sĩ VŨ ĐỨC SAO BIỂN, người được cán bộ liên đội 3 phong chức "Trưởng Ban Văn Nghệ Liên Đội" và kiêm luôn "nhà trưởng nhà 4", anh nhạc sĩ nầy được anh em trong nhóm đặt là "Vũ Đức Sao Chổi" và cũng được ghép thêm một chữ nữa là "Vũ Đức Sao Chổi CHÀ". Tôi không còn lạ gì anh, gặp và biết từ lúc mới về trại tù Bạc Liêu, đi lao động ở Gành Hào và đến Chi Lăng. Tên cúng cơm là VÕ HỢI, một số anh em có óc khôi hài giải nghĩa chữ Háng theo nghĩa Đùi bằng chiết tự như sau: Vỏ hay Võ là DA, Hợi là Heo ... tức là DA HEO; cái tên nầy trở thành nick name, được anh hoan hỷ chấp nhận khi có anh em gọi để thay tên Võ Hợi; trong sáng tác, anh lấy nhạc danh "Vũ Đức Sao Biển". Sinh quán ở Quảng Ngãi, xuất thân là nhà giáo, tốt nghiệp đại học sư phạm, dạy môn triết học ở trường trung học đệ nhị cấp Tương Lai (tỉnh Bạc Liêu), lập gia đình với một cô gái địa phương; dù vậy anh cũng động viên, học ở Thủ Đức, ra trường nhưng không có ra chiến trận một ngày nào, được biệt phái sang ngành giáo chức, và cấp bậc lên automatic từ chuẩn úy đến trung úy ... thế là anh bị tù cải tạo sau 30-4-1975.

Trong thời gian ở trại tù Bạc Liêu, tôi thấy anh là người "luôn phấn đấu để tiến bộ" theo tiêu chuẩn của Việt Cộng đề ra; mà người ta ví von bảo là "bảo hoàng hơn vua" và có khi: "Người tù yêu Bác và đảng còn hơn tổng bí thư". Anh bảo thân nhân mang đàn guitar, sáo ... và chơi nhạc cách mạng thật nhuyễn, là mũi nhọn "xung kích" cho các chương trình văn nghệ do các trại tù phát động hàng năm vào dịp tết, ngày sinh Hồ Chí Minh, quốc khánh 2 tháng 9 ... anh thường động não ca những bài như: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, xuống đường, tình đất đỏ miền đông .... anh có giọng ca rất hay, nhạc lý vững, nên khi ca bài: "Đi mô rồi cũng về Hà Tỉnh" hay "chào em cô gái Lam Hồng" nghe y như ca sĩ miền Bắc, khiến cán bộ quản giáo vỗ tay khen ngợi; nhưng đa số anh em trong trại tù thì cảm thấy cái lỗ tai bị hiếp dâm nhiều lần trong mỗi ngày: từ cái loa tiếp vận từ đài phát thanh nhà nước đặt trong nóc trại, đến ở trong buồng giam cũng còn nghe tiếng hát Võ Hợi "tiếng hát át tiếng ... đói".. Anh sáng tác bài ca Đảng, Bác, tôi còn nhớ vài câu trong bài "Trồng Cây nhớ Bác" có câu:

"Trồng cây ta lại nhớ Người.
Cây bao nhiêu lá, thương Người bấy nhiêu"

Bài ca tiếp:

"Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa.
Bác tuy già, nhưng còn mạnh khỏe".

Tôi không quên một sáng tác mà anh "động não" ở trại tù Chi Lăng, có tựa đề là: "Hôm qua anh đi lạc đường" hay là "Anh làm rẫy" (bài hát theo thể Minor):

"Hôm qua anh đi lạc đường.
Anh cầm súng Mỹ đánh phá quê hương.
Hôm nay đây, chính tay anh đã trồng thành giồng sanh tươi.
Bạn thân ơi!, Đảng cho ta tìm lại cuộc đời".

Chính sự tiến bộ "vượt chỉ tiêu" của anh, mà nhiều người tù phải lánh xa, anh về sau 5 cuốn lịch "học tập tốt, lao động tốt", khi nhận được giấy ra trại, có người bạn cùng nhà hỏi anh làm gì? Thì anh đáp ngay: "Sẽ nộp đơn vào ban Ca Múa Trung Ương", nghe đâu anh vẫn còn ở Việt Nam, tiếp tục sáng tác và trở thành văn công cho Bác và đảng và thỉnh thoảng tôi thấy vài quyền sách phê bình kiếm hiệp Kim Dung do anh viết, được nhà xuất bản trong nước ấn hành, gởi ra vài thư viện ở nước Úc; có lần tôi mang một quyển sách của anh, gặp quản thủ thư viện người Úc ở Belmont để cảnh báo cho họ biết là: chớ nên nhận bất cứ sách nào từ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gởi ra ngoài, toàn là tài liệu tuyên truyền và họ cũng hoan hỷ tháo lá cờ máu chung với lá cờ các nước trên một Board "đa văn hóa" sau khi tôi giải thích, sau đó tôi mang lá cờ vàng ba sọc đỏ thay thế. Tôi cố hỏi ai đã cung cấp những sách vở từ trong nước, thì hỏi từ chối, cho đây là chuyện nội bộ điều hành thư viện, thôi cũng đành chịu. Cho nên tại các nơi có người Việt tỵ nạn, bọn Việt Cộng len lỏi, tìm đủ mọi cách mang tác sách vở tặng cho các thư viện, họ rất hoan hỷ nhận những sách vở miễn phí, để vào các kệ sách, không hề biết đó là sách tuyên truyền.

Nhóm chúng tôi sinh hoạt đều đặn, vào những buổi chiều, sau giờ cơm, lợi dụng sân banh có ánh đèn sáng, mang chiếu trải ở giữa sân, tha hồ mà nói những chuyện quan trọng về tình hình đất nước, nên khi có bóng dáng của những người tù tiến bộ là chúng tôi biết ngay. Anh Xích có nhiều điều tâm tình, nói về thời kỳ anh còn làm tỉnh trưởng dưới thời tổng tống Ngô Đình Diệm. Anh dành sự kính trọng qua những câu chuyện có quan hệ tới đệ nhất Cộng Hòa, tôi chú ý câu chuyện về đời sống riêng tư, càng kính phục khi nghe anh Xích nói về chí sĩ Ngô Đình Diệm, ông hút thuốc hiệu bình dân là BASTOS ĐỎ (giới lao động, xe lôi, xích lô ...) hay hút; khác với cái gọi là "chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại", hắn hút á phiện ro ro, hút loại thuốc mắc tiền của hãng Philip Morris (thuốc hút của Mao Trạch Đông gởi hàng tháng đều bị Hồ chê và cho những người phục vụ trong dinh) và ăn uống cầu kỳ như vua chúa.

Tổng thống Diệm suốt đời không vợ con, đời sống thánh thiện; trong khi đó kẻ tự xưng là "cha già dân tộc" Hồ Chí Minh: "suốt đời vì dân vì nước, Bác không bao giờ nghĩ đến vợ con", nhưng tên Việt gia nầy có đời sống tình dục trác táng, tàn bạo, giết cả những người từng cùng hắn chăn gối như Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân ... tư cách, lối sống của tên Việt gian Hồ Chí Minh không đáng xách dép cho Tổng thống Diệm. Tổng Thống thường hay gọi anh Xích lên, trao cho số tiền lương tổng thống hàng tháng và nói: "Cơm nước có người lo, tôi không cần tiền tiêu, anh mang về xem dân nghèo thì cho họ". Anh cũng cho biết là người thân với đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (lúc đó là tổng giám mục), anh tỏ ý lo ngại cho số phận của vị tu sĩ danh tiếng nầy trước sự trù dập của chế độ Cộng Sản.

Về trường hợp của cố vấn Ngô Đình Nhu, em ruột của tổng thống, nhiều người biết ông Nhu là người có kiến thức, khả năng, nhiệt tình với đất nước; được coi là cánh tay đắc lực cho tổng thống trong công cuộc "diệt Cộng cứu nước" và các chính sách kinh bang tế thế. Vai trò ông Nhu rất quan trọng, nên Việt Cộng nằm vùng muốn loại ông Nhu ra khỏi chính quyền trung ương; Thượng Tọa Thích Trí Quang, lợi dụng tập quán "Trọng Phật kính tăng" một cách máy móc của Phật Tử, trở thành lãnh đạo của một thế lực tôn giáo lớn ở miền Nam; như tờ báo Times cho là: "Người làm rung chuyển cả nước Mỹ", Thích Trí Quang vận động chính giới Mỹ, nên có lần đại sứ Mỹ gặp tổng thống Diệm đề nghị: "không cho ông Nhu làm cố vấn".

Theo lời anh Xích cho biết: "tổng thống bảo là: em tôi làm việc không ăn lương, tình nguyện, không có thiệt hại gì cho ngân sách quốc gia, chẳng lẽ cấm không cho làm việc cho dân và nước tôi hay sao?". Giới chức Mỹ đành chịu thua, sau đó tìm cách móc nối với các "phản tướng, phản tá" làm cuộc đảo chánh. Sau 1-11-1963, sau cuộc chỉnh lý dẹp Dương Văn Minh, quốc trưởng là trung tướng Nguyễn Khánh chịu áp lực của khối Phật Giáo Ấn Quang qua thượng tọa Thích Trí Quang, nên giết người em út của tổng thống là Ngô Đình Cẩn. Một hành vi không thể chấp nhận đối với kẻ tu hành, đạo mạo như tập đoàn Thích Trí Quang.

Tu theo Phật Giáo cấm sát sanh, nhưng giết người là trọng tội với Phật, như vậy tư cách của Thích Trí Quang và đám tăng sĩ theo Việt Cộng còn thua cả CON CHÓ; tiếc thay là có một số phật Tử mù mắt, như Tam Tạng, quỳ lạy ma quái giả dạng mà tưởng là Phật; nên các tên tu sĩ quốc doanh, Việt Cộng giả dạng như Thích Nhất Hạnh, Trí Quang, Minh Châu .... linh mục Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần ... vẫn có số tín đồ và con chiên ủng hộ. Thế là họ vẫn tồn tại và tiếp tục "mượn đạo tạo đảng" gây thêm tội lỗi, làm hại đạo, hại nước.

Nếu những tu sĩ nầy không có tín đồ, con chiên ủng hộ thì họ cũng phải bị đào thải như "Chùa Bà Đanh" thôi, và đảng Cộng Sản vô thần nhìn thấy họ không có ai ủng hộ nữa, thì cũng áp dụng chính sách "vắt chanh bỏ vỏ". Tóm lại, cũng chính sự mù quáng của tín đồ, con chiên mà bọn tu sĩ quốc doanh mới có đất dụng võ. Nếu ở hải ngoại, không ai cho các tu sĩ từ trong nước ra xin tiền một XU, thì đảng Cộng Sản cũng chẳng "hồ hởi phấn khởi" gởi tu sĩ của họ ra hải ngoại để vừa móc túi và vừa làm công tác tôn giáo vận. không ai nuôi, ủng hộ thì Việt Cộng cũng phải chết thôi.

Tôi nào quên vụ trốn trại bất thành của nhóm do trung úy HUỲNH THANH SOUL thực hiện, ở liên đội 4 là nổi tiếng khắt khe do tên liên đội trưởng gốc Nghệ An là thượng úy Sáu Ân, nên hệ thống ăn ten khá nguy hiểm. Nhóm của anh Soul bị bể, nhiều người bị đánh te tua, nhốt nhà đá .... để dằn mặt tù, tên thiếu tá chánh ủy Hai Thâu tổ chức lên lớp học tập tại hội trường lớn ở liên đội 5, gom hết 3 liên đội lại; sau những hù dọa, dằn mặt và đưa ra vài người tù trong nhóm trốn trại nhưng nhờ "giác ngộ" mà được hưởng chính sách khoan hồng, hai người được đưa lên nói chuyện và tâm tình, ca tụng "cách mạng" là trung úy LÂM CHÁNH TÀO và trung úy hải quân NGUYỄN VĂN BA tức là BA RÂU.

Hai người nấy nói chuyện thì phải bịt tai, sau đó cán bộ gọi anh Nguyễn Đức Xích lên phát biểu; anh bình tỉnh dùng cái gọi là "quan hệ cũ-mới" để lên án sự tàn ác của chế độ Cộng Sản; anh gọi đó là do sự tuyên truyền của ngành Tâm Lý Chiến để lấy cớ vạch mặt Cộng Sản ngay trước mặt chúng; sau cùng thì anh dành rất ít ngôn từ để nói về cái MỚI là "cách mạng"; đây là chiến thuật" chén úp đầu voi "khiến bọn cán bộ tức lắm, nhưng không làm gì được.

Mùa xuân năm 1977, liên trại 3 tổ chức văn nghệ và chỉ thị các nhà làm báo tường thi đua, rồi chọn tờ nào hay nhất, thi đua với các liên đội, nếu thắng giải, được "tờ biểu dương". Anh Xích bị chính liên đội trưởng là thượng úy Chính Sanh chỉ định cho làm tờ báo của nhà 2. Đó là lối thăm dò tư tưởng, anh biết, nhưng không còn cách nào từ chối. Anh lợi dụng tờ báo để nhắn nhủ với các bạn tù, hãy giữ vững tinh thần, qua bài viết "MÙA XUÂN CẮM HOA", được nhiều người tù hiểu, nhưng bọn chó săn cũng biết và báo cáo cho quản giáo. Tôi thích bài nầy lắm, được treo ở vách tường trong cái CANTEEN của Liên Đội 3, nên đọc thuộc lòng, vẫn còn nhớ, ghi lại như sau:

"Vào một ngày đầm ấm mùa xuân, trong lúc tôi đang đi dạo trong khu vườn nhỏ, mục đích là đi tìm vài thứ hoa để cắm trên bàn thờ ông bà. Bất chợt có người bạn thân đến thăm, tôi mời vào nhà, chúng tôi uống chun trà ấm và sau đó tôi đưa bạn ra vườn, nói rõ mục đích tìm hoa. Hai chúng tôi sánh vai nhau đi dạo trong khu vườn, sau khi lướt qua những bụi Cúc, Đào, Mai ... cuối cùng tôi đành lựa bông Hồng, cắt vài cành, mang vào nhà. Chúng tôi lại trò chuyện, bạn tôi hỏi: "Sao anh chọn hoa Hồng?". Tôi mỉm cười trả lời: "Hoa Hồng lâu tàn, mang vào là thích hợp, ĐƯỢC CẮM TRÊN SỎI ĐÁ. NHƯNG HOA VẪN NỞ"...

Trong đó cũng có một bài nói về câu chuyện của anh tù, trung úy Đoàn Ca, người làm cây nạn dàn thung, bắn chim Én để cải hoạt; bài viết tự đề: "Đoàn Ca bắn chim én", anh có ngụ ý lên án vụ bộ đội, vệ binh trong trại đã bắn chết bác sĩ Tài và làm bị thương một số anh em khác ở Liên đội 4, lúc đi cầu tiêu vào buổi sáng, nghe nói là Việt Cộng "giận cá chém thớt" vì chúng bị thiệt hại nặng khi đụng độ với lực lượng kháng chiến Hòa Hảo ở núi Dài. Trong những câu nói của anh Xích, tôi không quên anh lập lại nhiều lần là:

- "Chủ nghĩa Marx với chiêu bài phân bố quyền lợi đồng đều trên toàn thế giới, nhưng người Cộng Sản phi nhân"

- "Mình ở tù cũng do Mỹ, được thả cũng do Mỹ và sau nầy Việt Cộng thua cũng do Mỹ tất cả đều do Mỹ thôi"

Tình hình biên giới căng thẳng, hàng đêm chúng tôi nằm ở sân banh, nghe tiếng súng đại bác nổ xa xa mà mừng thầm. Nhưng sau đó, trại tù dời về Vườn Đào, thuộc xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho chỗ nầy là khu của Việt Cộng trước 1975. Đời sống khó khăn vì nhà đất, cách lá. Dù vậy, chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhưng rất cẩn thận vì bọn chó săn luôn rình rập. Chắc chắn là do sự xếp đặt của cán bộ trại, nên hai người tù bị lưu ý, là mục tiêu thanh toán: đại úy Quách Dược Thanh, trung tá Nguyễn Đức Xích, được ở chung một tổ, tổ trưởng là trung úy Nguyễn Chí Thành (tức là Thành Sốt Rét, hay Thành Xe Lôi), anh nầy là phân chi khu trưởng Tân Xuyên ở Cà Mau, ngủ giữa hai anh Xích và Thanh; hiện anh Thành định cư ở San Jose (Bắc Cali).

Mùa nước lụt khủng khiếp 1978, nhưng trại tù vẫn "tử thủ" và sau khi nước vừa rút ló mặt đường, thì tên Trung úy Trần Khen (tự là Tư Khen) dẫn 2 vệ binh tới nhà trong, còng tay và dẫn anh đi về bộ chỉ huy, trước sự lo lắng của nhiều người, nhất là những người có quan hệ với anh một người bạn là anh trung úy Dương Văn Th... (hiện định cư ở Mỹ) tình cờ làm lao động ở gần bộ chỉ huy liên trại, nghe bên trong có tiếng đánh đập và giọng anh Xích vang lên: "Các anh không được đánh tôi, muốn gì hãy nói chuyện tử tế với nhau". Anh bị nhốt trong Cornex gần bịnh xá. Tết năm 1979, một số anh em nhận thăm nuôi, qua sự dàn xếp bí mật của bác sĩ Trương Văn Thành (sư đoàn 7), lén gởi thuốc, đồ ăn cho anh Xích, không biết ai báo cáo, việc đổ bể và nhiều người bị bắt, nhốt gần nửa tháng ở Cornex, trong đó tôi có biết anh Lữ Phùng Quang (trung úy ban 2 ở Châu Đốc), thiếu tá Nguyễn Văn Thà (quận trưởng) thời gian sau ngày anh bị bắt thật căng thẳng, Hai Thâu, Ba Minh, cán bộ lên lớp hù dọa đủ thứ để tìm ra tổ chức anh Xich, nhưng không ai bị lọt bẫy và anh Xích không hé môi dù bị đánh đập, hành hạ.

Vào một buổi tối, lúc 10 giờ, thình lình nghe tiếng súng nổ dòn ở phía hàng rào liên đội 5, và tiếp theo đó là bộ đội mang súng chạy rần rật ngoài đường lộ đất trong trại, y như có đánh trận vậy. Tù ở trong nhà, không ai dám ra sân, đi cầu ... hồi họp chờ đợi. Đến sáng hôm sau, tên thượng úy Chính Sanh đến nhà ngoài ra lịnh 5 người khỏe mạnh làm công tác đặc biệt. Tôi có người bạn thân là trung úy Người Nhái Trần Văn Xòn đi trong toán công tác; anh Xòn cho biết anh Xích bị bắn chết, nằm ngoài vòng rào liên đội 5, anh cho biết sương đêm bám vào mái tóc vợn sóng bồng bền và trên môi vẫn còn nở nụ cười ngạo nghễ tin anh Xích bị giết làm chấn động mọi người, nhất là người bạn tù thân thiết, từng sinh hoạt bí mật trong nhóm từ Chi Lăng đến Vườn Đào.

Sau khi giết chết Nguyễn Đức Xích, cán bộ trại tung tin là: Anh Xích vượt trại nên bị bắn, ai cũng biết đây là tin vịt, vì anh bị nhốt trong cornex kiên cố, có khóa cẩn thận, thì làm sao thoát được. Theo một nguồn tin về cái chết của trung tá Nguyễn Đức Xích, dù là tin chưa kiểm chứng nhưng cũng xin ghi lại để có thêm suy nghĩ: số là trong lúc anh Xích bị nhốt trong cornex, có một bộ đội canh coi được anh Xích giác ngộ, nên quí mến anh cho nên cán bộ cấp trên biết được.. Đêm đó, người cán binh nầy muốn thả anh, nên lén dẫn ra tới hàng rào, lấy cớ là đi cầu đám cán bộ biết được nên bắn chết anh Xích và giết luôn người bộ đội. Tuy nhiên, ai cũng biết đây là chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng giết hết những người nào bị cho là nguy hiểm.

Trong trại tù Vườn Đào, có đại tá Phạm Chí Kim, tỉnh trưởng tại chức Kiến Hòa, được giữ lại miền Nam và nghe nói được hưởng chính sách "khoan hồng" về với gia đình; có thể nói trường hợp đại tá Kim là hiếm hoi cấp cao như vậy mà còn ở lại miền Nam. Ngoài ra còn có nhiều người đồng cấp tá với anh Xích, nhưng về sớm như: trung tá Hoàng Đức Thành (tức là Thành Nhà Đèn, sĩ quan tiếp vận), trung tá An (thiết giáp), trung tá Huỳnh Hữu Chỉ (tiếp liệu), thiếu tá Thái Sĩ (người Huế, Công Binh, về rất sớm và được biên chế làm Công nhân Viên cho trại tù), trung tá Nguyễn Thời Rê (nguyên là tỉnh trưởng Châu Đốc)

Sau cái chết của trung tá Nguyễn Đức Xích và đại úy Quách Dược Thanh, để chạy tội, cán bộ trại tù Vườn Đào tung ra nhiều hỏa mù, nhằm hạ kẻ thù, dù đã bị sát hại; đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc, nên sau nầy có nhiều nguồn tin như: gia đình anh Xích không chung vàng, nên hai Thâu giết, hay là đại úy Quách Dược Thanh báo cáo vụ tham nhũng bột ngọt của thượng úy Chín Sanh với Ba Minh, nên bị Chính Sanh giết trả thù. Có thể một số anh em tù thiếu nhận xét mà nghe tin nầy từ đám ăn ten đồn trong trại từ miệng của bọn cán bộ quản giáo, sau nầy mang ra hải ngoại để tiếp tục hạ uy tín những người tù bất khuất. Sau khi ở nước ngoài, tôi tìm được gia đình anh Nguyễn Đức Xích, liên lạc với linh mục Nguyễn Đức Sách và anh Nguyễn Đức Đơn (anh qua đời đột ngột năm 2005). Theo tin tức của anh Đơn cho biết thì gia đình đã lấy cốt anh Xích, tro được giữ ở Việt Nam một phần và phần khác đem ở tiểu bang Queensland (Australia), thế cũng tạm yên cho những người bạn tù như tôi. Lúc còn ở trong trại tù, anh Xích rất quí mến anh Quách Dược Thanh, có lần nói: "Thanh ơi! Tại sao tao gặp mầy quá muộn màng trong hoàn cảnh nầy?".

Những người tù thân thiết với hai anh, nào quên những lời nói, kỷ niệm, nhất là kính phục tinh thần bất khuất của những người tù sau 1975, mà hai anh là một trong rất nhiều người tiêu biểu. Anh Quách Dược Thanh cũng có câu nói thật ý nghĩa với các bạn tù, đàn em thân tình, cùng vững lập trường: "Muốn sống để trả thù, dù phải ăn cỏ...".

Nhân đây, người viết xin có ý kiến: hầu hết các tù nhân đều có tờ giấy RA TRẠI do bộ Nội Vụ Việt Cộng cấp. Trong phần kết án, có ghi tội danh như: can tôi thiếu úy, thiếu tá .... đó là những thứ tội mà thế giới nhận rõ là "vi phạm nhân quyền" và hoàn toàn phi lý, phi pháp. Việt Cộng đem vụ chất da cam thưa các hãng Hoa Kỳ, thì những quân nhân cán chính cũng nên vận động, quyên góp tiền để đưa bạo quyền Cộng Sản ra các tòa án ở hải ngoại và đòi bồi thường những năm ở tù phi lý, cũng như đòi bồi thường nhân mạng cho những người bị giết với nhiều cách: bắn, tra tấn lao động, bỏ đói, bịnh tật không thuốc men chăm sóc.

Nếu có được những người biết luật, các luật gia giúp đỡ, phát động bởi những người tù có uy tính như các tướng lãnh, vận động chính giới các nước như Mỹ, Úc (nhất là các hội cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam) thì tù nhân sẽ dịch các tờ giấy ra trại bằng tiếng Anh, có thị thực, gởi đến, càng nhiều người càng tốt nếu việc nầy thực hiện, thì mỗi người H.O hay tù, dân, chỉ cần đóng 1 đồng, cũng dư tiền để lo thủ tục pháp lý. Một điều nữa là cái vụ kiện nầy cũng là bằng chứng để tố cáo tình trạng vi phạm nhân quyền thô bạo của đảng và nhà nước Việt Cộng trước công luận thế giới; nếu không thành công nhưng cũng làm cho bạo quyền Việt Cộng mất mặt đối với Liên Hiệp Quốc, các nước Âu-Mỹ. Mỗi người một tay, mỗi cách đánh, thì dù cho núi cũng phải bị san bằng, huống chi cái chế độ bạo ngược Cộng Sản nầy đang trong thời kỳ dẫy chết..

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA.

Thơ: Nguyễn thị Kim Loan.

Tôi tìm về những lối quen xưa,
Nghĩa trang quân đôi ở Biên Hoà,
Chạnh lòng một cõi đời hoang vắng,
Khi thấy nơi kia những nấm mồ.
Từ "Cổng Tam Quan" đường như dài,
Tôi nghe gío lạnh thổi qua vai,
Truy điệu hồn người "Đền Tử Sĩ",
Là nắng, là mưa ( không có ai).
Cỏ dại mọc cao đến ngang đầu,
Che hồn tử sĩ dưới mộ sâu,
Cha mẹ, họ hàng, người quen cũ,
Vợ con anh. Giờ ở nơi đâu?
Đã bao lần trên nấm mộ anh,
Cỏ tàn rồi cỏ lại thêm xanh?
Ai để cho mộ bia đổ nát?
Khi đã qua rồi cuộc chiến tranh !
Thương vô cùng những nấm mồ hoang,
Gío chiều lồng lộng tiếng than van,
Đã lâu không ai về hương khói,
Sưởi ấm hồn người lính vô danh.
Hoang phế từ lâu "Nghĩa Dũng Đài",
Những buổi hoàng hôn, những sớm mai,
Chiến công của những người nằm xuống,
Chưa kịp ghi đã nắng mưa phai.
Cũng đã tiêu điều "Vành Khăn Tang",
Cho người đã "Vị Quốc Vong Thân",
Anh ơi, chỉ có trời mây trắng,
Vẫn nguyện suốt đời để tang anh.
"Thương Tiếc" bức tượng đã nát tan,
Người lính ngồi đôi mắt xa xăm,
Súng để trên đùi anh nghĩ đến
Đồng đôi nào vừa mới hi sinh?
Các anh vẫn đứng ở giữa đời,
Dù chỉ là những nấm mồ thôi,
Dù ai còn nhớ hay quên lãng?
Người lính hiên ngang ấy một thời.
Ôi, những niềm đau, những xót xa,
Tưởng rằng theo năm tháng phôi pha,
Hôm nay tôi thấy từng ngôi mộ,
Sừng sững niềm đau cũ lại về.

Nguyễn thị Kim Loan
* Những chữ in đậm là tên, là nơi chốn trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mời các bạn cùng xem video
Ngày Cám Ơn Cựu Quân Nhân QLVNCH & Hoa Kỳ
Tại Houston Texas Ngày 11 tháng 10 năm 2009

Image

Ngày Cám Ơn
Cựu Quân Nhân QLVNCH & Hoa Kỳ
tai Houston - Texas Oct, 11- -2009


Click vào hàng chữ Ngày Cám Ơn

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

TÔI KHÔNG THÍCH CHÍNH TRỊ

NGUYÊN SANG
Có người, khi nghe đề cập đến những vấn đề liên quan tới Việt Nam, nhất là những chuyện xấu xa của chế độ Cộng Sản, thường giẫy nẫy lên mà rằng: “Tôi không thích nói chuyện chính trị”. Cũng có người, khi thấy đồng hương đi biểu tình chống Cộng, thường bỉu môi: “Tôi không thích những người làm chuyện chính trị”.

Thưa bạn! Nếu tôi bảo: “Chính suy nghĩ đó đã nhuộm đỏ miền Nam, và cũng chính phát biểu đó, đã chẳng những nuôi dưỡng chế độ CS, mà còn tạo điều kiện cho CS thò cánh tay ra hải ngoại, quấy phá Cộng đồng người Việt tỵ nạn”. Chắc chắn bạn sẽ không bao giờ tin tôi, chưa nói là bạn sẽ trút lên đầu tôi những lời lẽ không đẹp, bẩn thỉu nhất, có khi không tìm thấy trong từ điển.

Nầy nhé! Bạn theo tôi một thoáng trở về quá khứ. Bạn phải đồng ý với tôi một điều. Miền Nam được Thế giới Tự Do - đứng đầu là Mỹ - chọn làm tiền đồn chống Cộng, ngăn chặn hiểm họa CS đang bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Đó là cuộc chiến tranh “ý thức hệ”.

Phía Miền Bắc, CS lấy chính trị làm đầu (Đảng lảnh đạo), và tuân theo sách lược chính trị của CS Quốc Tế. Trong Nam, “ý thức Quốc gia”, chỉ là một ý niệm trừu tượng, không có lý luận khoa học, không được hệ thống hoá, không thể đương đầu nỗi với lý thuyết “CS”. Đệ Nhất Cộng Hoà đã nghĩ ra đối sách, với học thuyết “Nhân Vị”, tiếc rằng chưa hoàn chỉnh và không đủ sức thuyết phục nhân dân, trong công cuộc đấu tranh chính trị với CS.

Miền Bắc có Liên Sô và Trung cộng hổ trợ đắc lực trên mọi phương diện, vì có chung lý tưởng Quốc tế Vô Sản. Miền Nam, Mỹ hổ trợ về quân sự là chính. Về chiến tranh chính trị, phải nhờ Đài Loan cố vấn. Thực chất, có lý thuyết, mà không có phương tiện thực hành, có cũng như không. Nước Mỹ là một nước “Tư Bản”, chuyện đối kháng với Cộng Sản, là chuyện đương nhiên. Chính phủ Mỹ, không cần đến Chiến tranh Chính trị, để tranh thủ nhân dân. Họ chỉ có “Tâm lý chiến”, mục đích phục vụ và nâng cao tinh thần, sức chiến đấu của binh sĩ. Mỹ dem mô hình của mình đến miền Nam và chỉ yễm trợ cho Tâm Lý Chiến. Hoàn toàn không quan tâm đến chính trị và cũng chẳng cung cấp bất cứ phương tiện nào để đấu tranh chính trị.

Điều dễ nhận thấy nhất là trong tổ chức Quân Đội: CS Bắc Việt đặt chính trị trên cả tác chiến. Chính Ủy có quyền uy tối thượng. Trong khi đó, Quân đội miền Nam đặt chính trị vào nhiệm vụ thứ yếu, là phó, là Ban 5, không chút thực quyền.

Kết quả Bạn thấy đó, miền Nam thất thủ tại chính trường Mỹ. Người dân Mỹ chỉ thấy ảnh tướng Loan bắn vào đầu một tên Cộng Sản, mà không thấy hàng vạn nhân dân Miền Nam chết thê thảm vì Việt Cộng bằng mọi hình thức: đấu tố, đấp mô, phá cầu, đặt mìn, pháo kích bừa bãi. tấn công…

Nhân dân Mỹ chỉ biết vụ Mỹ Lai, mà không hề biết Huế với những mồ chôn tập thể Tết Mậu Thân. Người dân Mỹ chỉ biết cái gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam, chứ không hề thấy hàng hàng lớp lớp những sư đoàn chính qui Bắc Việt xâm nhập miền Nam… Thưa bạn. Phải chúng ta thua vì chính trị không bạn?

Bây giờ, trở lại thực tại bạn nhé! Xin nhắc một điều. VN là một nước Xã Hội Chủ Nghĩa (xác định đi theo một Chủ nghĩa là khẳng định đường lối chính trị đó bạn!), do Đảng lãnh đạo (Đảng không là tổ chức chính trị thì là gì, hở bạn?. Điều 4 Hiến Pháp của họ có ghi rõ, bạn có thể tham khảo thêm). Hỏi Bạn một câu: Nếu Bạn hợp tác với VNCS, có phải bạn chấp nhận những điều nêu trên không? Nhắc thêm cho bạn một chi tiết, CS có khẩu hiệu: “Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”. Họ gài bạn đấy!

Họ khêu gợi lòng yêu nước của Bạn, dụ dỗ Bạn hợp tác và cuối cùng gán cho Bạn cái lập trường chính trị, Bạn không muốn cũng không được. Nếu Bạn cố cải chầy cải cối, là Bạn chỉ đem tài năng và chất xám phục vụ Tổ quốc, chứ không màng chính trị, tôi nhắc Bạn nhớ câu:”Hồng hơn Chuyên”. Cộng sản đặt nặng chính trị hơn chuyên môn, bạn ạ! Vẫn chưa tin ư? Bạn cứ phạm tội hình sự đi, Bạn sẽ được xét xử tại Toà án, và có ngày về. Còn nếu Bạn dính dấp đến chính trị, đoan chắc Bạn sẽ bị “cải tạo” trong tù, vô hạn định. Có lần, nếu Bạn có theo dõi thời sự, chắc Bạn biết sự kiện một chiếc tàu y tế bị cấm nhập bến ở VN? Ngay cả hoạt động chuyên môn phục vụ nhân đạo cũng phải chào thua “phục vụ chính trị”.

Cũng chả cần bạn cộng tác, tiếp tay với họ, bạn chỉ làm thinh, làm ngơ trước các hoạt động của họ; Bạn đã đồng loả và tự bày tỏ lập trường thân Cộng rồi. Đôi khi những hành động tưởng như vô tình, làm theo “feeling” của mình. Bạn lại gây ảnh hưởng tai hại cho người khác trong công cuộc chống Cộng. Cái đó gọi là “thiếu ý thức chính trị”, là “vô tình hại bạn”, là “đâm sau lưng chiến sĩ”.

Có hai sự kiện “nhạy cảm” mà cộng đồng người Việt hải ngoại vô cùng “bức xúc” (xin lỗi vì dùng chữ của CS). Sự kiện thứ nhất là “các nghệ sĩ VN qua”. Sự kiện thứ hai là “các nhà từ thiện về”. Nửa ý kiến ủng hộ, nửa chống đối. Có quá nhiều phân tích về hai sự kiện nầy, ở đây, tôi chỉ nhìn qua khía cạnh chính trị.

Bạn ái mộ một nghệ sĩ, tặng hoa, chụp ảnh lưu niệm. Bạn nghỉ sao, nếu bức ảnh đó được guồng máy tuyên truyền khổng lồ của Cộng Sản minh họa trong chiến dịch lừa dối nhân dân, rằng thì là: ”Việt kiều niềm nở đón tiếp các nghệ sĩ từ trong nước qua, trong tinh thần Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc”?.

Bạn vô tình làm hại các cá nhân và tổ chức đối kháng rồi bạn biết không?

Một hành động nhỏ và “mua vui trong chốc lát” của Bạn đã gây tác hại lớn và lâu dài. Tuy nhiên, nếu có ý thức chính trị, chỉ cần buổi văn nghệ đó, có nền là cờ vàng của chúng ta, ta có thể hoá giải được mọi âm mưu thâm độc của CS, tha hồ bạn chụp hàng nghìn tấm ảnh lưu niệm mà không bị ai lợi dụng và cũng không hại ai cả.

Vấn đề thứ hai là công tác từ thiện tại VN, tôi không chống đối, dù thâm tâm tôi vẫn nghĩ, tại sao lại phải giúp Nhà Nước CS, lo chuyện an sinh xã hội, để họ tham nhũng, để họ làm giàu, để họ củng cố phương tiện tuyên truyền thò tay đánh phá cộng đồng (như các chưong trình Duyên Dáng VN tiêu pha hàng triệu đô la, chương trình vệ tinh truyền hình VTV4…). Tôi cũng suy nghĩ, thật sự ở VN không chỉ có các nhóm người được giúp đỡ là bất hạnh, mà hầu như - trừ Đảng ra - toàn dân đều bất hạnh và cần được giúp đỡ. Nhưng thôi, tôi nhìn sự kiện trên dây, qua gốc độ ý thức chính trị. Giả dụ mà các cơ quan từ thiện nầy treo được tấm bảng : “Tổ chức nầy của Việt kiều… tặng”, cho mọi người cùng thấy và cùng hiểu là chính Việt kiều chứ không phải Việt Cộng giúp đỡ họ, thì hay biết mấy.

Nếu không làm vậy, việc từ thiện sẽ bị Cộng Sản lợi dụng và tuyên truyền lếu láo: “Đảng đã vận động được khúc ruột xa nghìn dặm về giúp Đảng, giúp dân” . Cướp công, cướp của là nghề của họ. Bạn chịu khó lật lại trang sử của Đảng, Bạn sẽ thấy họ rất thành công trong việc cướp công kháng chiến, cướp chính quyền, và năm 75 họ cướp cả miền Nam.

“Cứu cánh biện minh cho phương tiện” là kim chỉ nam cho họ, Từ lời nói đến việc làm, họ dùng mọi phương cách dù tà đạo, xảo trá, gian ác và dã man đến đâu… miễn sao đạt được thắng lợi, đạt được mục đích yêu cầu của họ. Câu nóì của Cựu Tổng Thống Thiệu: “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm” , chỉ phản ảnh một khía cạnh dối trá, chưa nói hết bản chất của CS là ác độc và tàn nhẫn.

Thưa Bạn. Nếu bạn qua Mỹ vì lý do kinh tế, tôi chúc bạn đạt được giấc mơ của Bạn. Dĩ nhiên, muốn thành công trên đất Mỹ, bạn phải hòa nhập vào xã hội Mỹ. Người Mỹ rất thích làm việc thiện nguyện. Họ khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi người làm chuyện thiện nguyện, ngoài mục đích san sẻ bớt gánh nặng cho Chính Phủ, nó còn mang giá trị đạo đức, khi quan tâm đến tha nhân. Tôi tin chắc Bạn sẽ tiếp thu được đức tính nầy của người Mỹ. Cho dù Bạn không thích chính trị. Cho dù Bạn không thích nhận mình là người Việt. Bạn cũng có thể thể hiện việc thiện nguyện cho một cộng đồng tỵ nạn khốn khổ, tuy sống an bình nơi miền đất hứa, mà lòng vẫn canh cánh về đồng bào và quê hương nghìn trùng xa cách.

Chuyện thiện nguyện rất đơn giản. “Mình không giúp ích gì cho cộng đồng, thì cũng không làm gì phương hại cho cộng đồng, không làm đồng hương phiền lòng, nản lòng” .

Bạn không thích chuyện chính trị, mà phê phán ý thức chính trị của người khác, mặc nhiên, bạn đã đứng vào phe chính trị đối nghịch. Bạn hãy làm một chuyện thiện nguyện trên bình diện tinh thần là “giữ im lặng” trước công cuộc chống Cộng của người khác. Bạn đã không ủng hộ thì cũng xin đừng biểu tỏ thái độ hoặc ngôn ngữ chống báng. Được vậy, bạn gián tiếp giúp đỡ thiện nguyện cho cộng đồng rồi đó!

Thực ra, nếu Bạn qua đây theo diện tỵ nạn chính trị một cách trực tiếp, hay gián tiếp (do gia đình bảo lãnh), khỏi nói, Bạn cũng phải hiểu rằng: Hai chữ chính trị, gắn liền vào cuộc đời của người tỵ nạn chính trị. Cho dù bạn muốn nhận hay không muốn nhận.

Lại nữa, nếu bạn là một “con người” đúng nghĩa, Bạn phải mang trong người Bổn Phận và Trách Nhiệm từ trong gia đình, cho đến ra ngoài xã hội, cao hơn cả là Tổ quốc, tùy theo vai trò của mình. Trong gia đình, vai trò là một người con, bạn phải có bổn phận và trách nhiệm với Cha Mẹ. Là Chồng phải có bổn phận và trách nhiệm với vợ…v..v.. Là một thành viên của cộng đồng, bạn không thể trốn tránh bổn phận và trách nhiệm trước Cộng Đồng. Xa hơn nữa, là một người dân, Bạn phải có bổn phận với dân tộc và nghĩa vụ với quốc gia.

Chúng ta đang sống trong một xứ sở Tự Do. Bạn có quyền tự do “không thích chính trị”. Tôi xoá bỏ tư tưởng không tốt trong đầu, khi cho rằng Bạn không thích chuyện chính trị chỉ vì Bạn sợ đường về quê hương của Bạn gặp trở ngại với CS. Tôi nghĩ đơn thuần, chỉ vì Bạn muốn ung dung tự toại, thụ hưởng thành quả mà bạn đạt được trên đất khách quê người.

Tôi cũng chẳng có ý nghỉ là bạn phải có bổn phận và trách nhiệm gì với cộng đồng. Tôi chỉ xin Bạn làm thêm một việc thiện nguyện thứ hai, cụ thể là xa lánh các văn hoá phẩm độc hại của CS, các cơ sở giao du với CS, các cửa hàng, chợ búa bán hàng CS. Bảo đảm trăm phần trăm với Bạn, không có cái gì liên hệ với CS mà không mang chất chính trị trong đó.

Lấy một ví dụ nhỏ thật nhỏ, trong các phim truyện VN, thế nào bạn cũng có dịp nhìn lá cờ máu, nhìn hình tượng “ảo” ông công an thật dễ thương dễ mến!… Chính trị chỗ đó, đó bạn!

Bạn không thích chính trị, tốt nhất là đừng xem, đừng thưởng thức, đừng tiêu thụ, đừng phổ biến những gì dính dấp với CS. Được vậy, Bạn mới công tâm, mới “fair” với tôn chỉ “không thích chính trị” của bạn.

Chắc là việc nầy không khó và cũng chẳng ảnh hưởng gì không tốt đến cá nhân bạn, phải không bạn?

Chân thành cám ơn Bạn chịu khó đọc những dòng nầy.

Chào Bạn,

NGUYÊN SANG

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Ngày Vinh Danh Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Houston:
Hùng tráng và cảm động

Wednesday, October 14, 2009

Image
Toàn cảnh buổi lễ vinh danh trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Houston.
(Hình: Hiền Vy)

Image
Các cựu quân nhân Mỹ-Việt trong buổi lễ vinh danh. (Hình: Hiền Vy)

Nguyễn Phục Hưng

(Gởi cho Người Việt từ Houston, Texas)
Vào chiều Chủ Nhật, ngày 11 Tháng Mười, năm 2009, mặc dù trời lất phất mưa và gió lạnh đầu Thu vừa tràn đến, nhưng hàng ngàn cư dân Houston cũng đứng hai bên đại lộ Bellaire khu Tây Nam Houston để đón chào đoàn xe hoa và cuộc diễn hành của các cựu quân nhân Mỹ-Việt đã từng sát cánh trong cuộc chiến Việt Nam.

Ngày Vinh Danh Chiến Sĩ Tự Do tại Houston do 3 nhóm trẻ người Việt là “Nhóm chuyên gia trẻ Việt Mỹ tri ân cựu chiến sĩ Tự Do” (Young Vietnamese American Professionals Salute Veterans of Freedom), nhóm thiện nguyện Góp Một Bàn Tay (Lend A Hand) và nhóm Gia Ðình Việt Mỹ (Amerisian) phối hợp cùng hội Cựu Chiến Binh Việt Mỹ và một số trường học tại Houston tổ chức rất quy mô.

Khi được hỏi về chủ đích của ngày lễ vinh danh này, Tiến Sĩ Michael Hòa, một thành viên ban tổ chức đã cho biết, “Ngày lễ nhằm tuyên dương sự hy sinh của các chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ cho Việt Nam trong hơn 21 năm.”

“Mục đích duy nhất là tri ân tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và những chiến sĩ Hoa Kỳ đã tham chiến từ năm 1960 đến năm 1975.”

Ngày vinh danh bắt đầu bằng một cuộc diễn hành trên đại lộ Bellaire, là khu thương mại lớn nhất của người Việt tại Houston với sự góp mặt của hàng trăm cựu chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đủ các binh chủng với sự hỗ trợ của các ban nhạc diễn hành và xe hoa. Trong khi đoàn cựu chiến binh diễn hành trên đại lộ Bellaire thì trên không, máy bay trực thăng của Quân Lực Hoa Kỳ cũng có màn biểu diễn. Tiếp theo là lễ tưởng niệm các chiến sĩ Việt Mỹ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ tự do và lễ xướng danh cùng trao tặng hoa cho các cựu chiến binh trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ.

Anh Nhân Trần, trong nhóm “Gia đình Việt Mỹ”, đến từ Chicago nói rằng buổi lễ vinh danh này còn là dịp cho giới trẻ mang hai giòng máu Việt Mỹ cảm ơn thế hệ cha anh đã hy sinh để họ có một cuộc sống tự do, thành đạt và bình đẳng tại Hoa Kỳ.

“Ðây là một niềm vinh hạnh lớn lao. Ðã hơn 30 năm chúng em chưa có cơ hội ra mắt cộng đồng cũng như ra mắt với những bậc chú cha là những người đã hy sinh, cống hiến thân xác cho tự do và dân chủ. Sự hy sinh và cống hiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Lực Hoa Kỳ được công nhận và đánh giá là một việc làm oai hùng cho cùng một lý tưởng là tự do và dân chủ. Sự giúp đỡ của Quân Lực Hoa Kỳ có mục đích chính là đấu tranh giành độc lập cho đồng bào Việt Nam của chúng ta cho nên chúng em rất hân hạnh có những người cha, người chú như vậy.”

Một cựu chiến binh Hoa Kỳ, ông Jack Field, đã cho rằng buổi lễ vinh danh hôm nay thật tuyệt vời. Theo ông, những chiến sĩ Hoa Kỳ không thất trận ngoài chiến trường mà họ thua vì mặt trận tuyên truyền phản chiến ngay tại Hoa Kỳ và họ đã bị đối xử bất công lúc trở về. Do đó ngày vinh danh là một dịp phục hồi danh dự cho các chiến sĩ Tự Do đã bị quên lãng và cộng đồng Việt tại Houston đã làm được những điều rất có ý nghĩa và các cựu chiến binh Hoa Kỳ vô cùng cảm kích

Ðại Tá Bob Mokart thuộc Vệ Binh Quốc Gia Texas đã nói là ngày vinh danh có ý nghĩa cao cả và ông rất cảm động về tinh thần cao đẹp của người Mỹ gốc Việt và ông hân hạnh đón chào họ cùng xây dựng nước Mỹ.

Một cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, ông Châu Nguyễn, nói ông rất vui mừng khi thấy đồng hương vẫy tay chào mừng đoàn diễn hành vì điều đó chứng tỏ đồng hương vẫn còn nhớ những chiến sĩ Cộng Hòa:

“Trong lúc diễn hành tôi thấy đồng bào đón dọc đường, họ cho những tràng pháo tay và cái đó có nghĩa là họ chào đón các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, họ chưa quên chiến sĩ VNCH.”

Cô Laura Lê, một nữ đại úy Hải Quân trừ bị người Mỹ gốc Việt trong Quân Lực Hoa Kỳ nói rằng, “Sinh ra và lớn lên trong cộng đồng Người Việt tại Houston, cô chưa từng thấy một buổi lễ nào hùng tráng và cảm động như ngày lễ vinh danh các cựu chiến binh Việt Mỹ hôm nay.”

Ông Ngô Quang Chiến, một cựu chiến binh thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, cho rằng ngày vinh danh rất có ý nghĩa và nghẹn ngào tỏ ý tiếc là với bao nhiêu sự hy sinh mà đất nước ta ngày nay vẫn chưa có tự do:

“Ðất nước hiện giờ thì thực sự tự do, dân chủ không có. Chúng tôi là những người đã chiến đấu cho tự do trước năm 1975. Bây giờ thực ra vẫn còn những niềm đau và uất nghẹn trong tâm tư của người lính đã từng cống hiến cho đất nước...”

Sau phần xướng danh và tặng hoa cho các cựu chiến binh Việt Mỹ, những chiếc máy bay trực thăng bay một vòng giã từ mọi người và cuộc văn nghệ liên hoan ngoài trời bắt đầu. Ngày lễ vinh danh đã kết thúc với pháo bông rực rỡ và một buổi tiệc liên hoan trong nhà hàng do ban tổ chức và các mạnh thường quân trong cộng đồng Việt Nam tại Houston khoản đãi.

Post Reply