Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM (miền Nam VN trước 1975)
NHỮNG ĐIỀU CẦN NÓI RÕ


Image
NHẬT TIẾN

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phạm Việt Tuyền đã từ trần ngày 16-2-2009 tại Strasbourg (Pháp), hưởng thọ 83 tuổi. Sự ra đi của ông đã để lại nhiều tiếc thương cho văn giới, đặc biệt là những thành viên của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Sau khi ông mất, đã có nhiều văn thi hữu viết bài tưởng niệm về ông và tuyên dương ông là một cây bút suốt đời tận tụy cho văn hóa.

Riêng trong lãnh vực sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, sự ca ngợi nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phạm Phạm Việt Tuyền là điều chính đáng bởi ông là người xứng đáng với những lời ca ngợi đó qua sự đóng góp rất nhiều công sức kể từ khi Trung Tâm này được thành lập (cuối thập niên 50) cho đến khi miền Nam rơi vào tay CS (tháng 4-1975).

Tuy nhiên, trong khi ca ngợi những đóng góp của nhà thơ, nhà văn, nhà báo Phạm Việt Tuyền đối với Trung Tâm Văn Bút thì cũng không nên xóa bỏ mọi công lao của rất nhiều thành viên khác. Nêu lên điều này tất không phải là vấn đề tranh cãi về chuyện công trạng của bất cứ ai, nhưng điều chính yếu là ngoài lẽ công bằng, ta còn nên để lại cho các thế hệ về sau những tư liệu văn học mà nội dung mang được tính chính xác.

Nhật báo Người Việt phát hành ở Nam Cali, số ra ngày thứ Tư 16 tháng 9-2009, nhà thơ Du Tử Lê có viết một bài mang tựa đề “Phạm Việt Tuyền, người chọn "vắng mặt". Trong phần nói về Trung Tâm Văn Bút, ông dựa vào lời kể của nhà báo Lê Phương Chi (tức Lê Thanh Thái, hiện còn ở tại VN). Điều này cũng là hợp l‎ý, vì Lê Phương Chi là người rất thân cận với những sinh hoạt của Văn Bút miền Nam trước 1975 trong nhiều năm ròng rã. Tuy nhiên không phải vì thế mà bài viết của nhà thơ Du Tử lê lại không có những điều cần phải nói cho rõ.

Tôi xin nêu vài điều mà nội dung có thể tóm tắt theo nguyên văn bài viết như sau:

1) Nhà báo kiêm nhà văn Lê Phương Chi, có lần nói với tôi (Du Tử Lê) rằng, nếu không có sự tận tụy, kiên nhẫn, quên mình của Phạm Việt Tuyền, thì, sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói.

2) Ông (tức Lê Phương Chi) cho biết, ngoài việc lo nhật tu sổ sách, giấy tờ, phát triển hội viên và, tổ chức những sinh hoạt có tính cách văn học cho hội, hàng tháng, họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.

Vẫn theo ông Lê Phương Chi, thư ký tòa soạn lâu đời và, cuối cùng của nguyệt san Tin Sách thì, trên nguyên tắc, chủ nhiệm Tin Sách là chủ tịch đương nhiệm; và chủ bút là tổng thư ký của hội. Nói cách khác, nhà văn Phạm Việt Tuyền là “xếp” trực tiếp của ông. Nhưng:“Trong suốt bao nhiêu năm tôi làm thư ký tòa soạn, chủ bút Phạm Việt Tuyền tin cậy tôi hoàn toàn. Ông không đòi hỏi hay đề nghị tôi nên giới thiệu tác phẩm này, hoặc tác giả kia. Ông cũng cho tôi toàn quyền mời người điểm những cuốn sách mà tôi dự định giới thiệu...”

3) Về đức tính khiêm tốn, luôn chọn cho mình vị trí đằng sau sân khấu, bên trong cánh gà của tổng thư ký TTVBVN, tôi (tức nhà thơ Du Tử lê) nhớ, giữa thập niên 1960, để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến, mỗi tháng, mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật, do hội viên đó, tự chọn. Nơi chốn (luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du), cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự... đều do ông đích thân liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...

4) Tháng Mười, năm 1965, cá nhân tôi (Du Tử Lê) được mời. Trước khi nhận lời, tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi, uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp: “Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì...” Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng!”


Là một cá nhân đã từng tham gia sinh hoạt của Trung Tâm Văn Bút từ năm 1959 (Hội được thành lập ngày 21-10-1957 với tên Hội Bút Việt do nhà văn Nhất Linh làm Chủ tịch sáng lập), người viết bài này nhận thấy mình có cơ may được am hiểu nhiều sự việc của Văn Bút để có thể điều chỉnh lại những điều mà nhà thơ Du Tử Lê đã đề cập đến trong bài báo kể trên. Xin đi từng điểm theo thứ tự đã ghi ở trên.

1) Không có sự tận tụy, kiên nhẫn, quên mình của Phạm Việt Tuyền, thì, sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói: Không ai phủ nhận sự tận tụy, hết mình của cố Tổng Thư Ký Phạm Việt Tuyền đối với Văn Bút VN, nhưng cũng phải kể đến sự đóng góp bền bỉ, tích cực của nhiều cây bút lẫy lừng khác như Vũ Hoàng Chương (Chủ tịch kế nhiệm Nhất Linh), Thanh Lãng (chủ tịch kế nhiệm Vũ Hoàng Chương), Vi Huyền Đắc, Đỗ Đức Thu, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Tchya Đái Đức Tuấn, Nguyễn Hoạt, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hoàng Xuân Việt, Đào Đăng Vỹ, Hồ Hữu Tường..v..v. Nếu căn cứ theo bài viết của nhà thơ Du Tử Lê thì tất cả các vị kể trên đã làm gì, đi đâu trong ròng rã hơn hai chục năm mà để đến nỗi không có cá nhân nhà văn Phạm Việt Tuyền thì “sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói” ?

Xin nêu vài sự kiện có trong thực tế :

- Ngay từ hồi Hội Bút Việt còn đóng trụ sở tại số 39 đường Cô Bắc, một con phố rất hẹp ở sau lưng Chợ Cầu Ông Lãnh Sài Gòn, khi đi vào phải lội qua những quãng bùn lép nhép hôi tanh đầy mùi cá, thì hai dịch giả : Lê văn Hoàn (dịch tiếng Việt ra tiếng Anh), Nghiêm Xuân Việt (dịch tiếng Việt ra tiếng Pháp) đã chuyển ngữ những truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam như Bình Nguyên Lộc, Đỗ Đức Thu, Linh Bảo…để gửi đi dự các cuộc thi do nhóm các Hội Văn Bút thuộc các nước trong vành đai Thái Bình Dương (Pacific Rim) tổ chức cứ 2 năm một lần. Tác phẩm ”Con chồn tinh quái” (nếu tôi nhớ không lầm) của nhà văn Linh Bảo đã một lần đoạt giải, nêu cao mầu cờ sắc áo VN trong văn giới quốc tế .

Đó không phải là điều đáng nói sao ?

Trụ sở đầu tiên của Hội Bút Việt ở đường Cô Bắc chỉ là một căn nhà 2 tầng trong một con phố chật hẹp, tầng dưới dành cho gia đình ông Nguyễn văn Hinh, thư ký của Hội (sẽ đề cập đến nhân vật này ở phần sau) và tầng trên là chỗ hội họp của Ban Chấp Hành. Riêng tôi (Nhật Tiến) đã được nhà văn Nhất Linh giới thiệu vào Hội tại căn gác này và một thời gian sau, tôi trở hành Phó Tổng thư ký Hội, phụ tá nhà văn Phạm Việt Tuyền trong một số công việc, đặc biệt là tôi đã từng ghi chép biên bản của hầu hết các cuộc họp của Ban Thường Vụ cũng như của Ban Chấp Hành Văn Bút cho đến mãi tháng 4 năm 1975 (tất nhiên trừ những khi bị đau ốm).

Qua đầu thập niên 60, nhờ sự vận động tài trợ do Chủ tịch Thanh Lãng thực hiện (trước thì do Asia Foundation, sau thì chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tài trợ) mà Văn Bút có cơ hội dời trụ sở về số 107 đường Đoàn thị Điểm Sài Gòn. Đây là một căn biệt thự rất đẹp, nằm ở ngay mặt tiền của một con đường cũng rất đẹp gần vườn hoa Tao Đàn, Sài Gòn. Biệt thự này có một sân rộng, tráng xi-măng, có thể làm chỗ đậu cho khoảng trên 10 xe hơi cùng một lúc. Đây là một tòa nhà có 2 tầng lầu rộng rãi. Tầng dưới chia làm hai : một phần vẫn để cho gia đình ông thư ký Nguyễn văn Hinh trú ngụ (lúc này ông Hinh đã có thêm dâu rể, con cháu) và phần còn lại dùng làm văn phòng của Văn Bút, có tủ sách, có bàn làm việc và có chỗ để cả máy in ronoéo cùng các ngăn chứa tài liệu. Tầng trên thênh thang, để trống thông suốt, có thể dùng làm Hội trường với khoảng trên 100 ghế ngồi và bục sân khấu. Ban Thường Vụ Văn Bút thường họp hằng tuần vào mỗi tối thứ Tư trên một cái bàn dài kê ở chính giữa (thông thường, các ghế sắt kê trong Hội trường đã được gom gọn lại, chỉ khi có những buổi thuyết trình, hội thảo thì mới được bầy ra). Phía ngoài của tầng trên là một hàng hiên cũng rất rộng rãi. Chủ tịch Thanh Lãng cũng đã có sáng kiến sử dụng hàng hiên này làm chỗ cho anh chị em văn nghệ sĩ lui tới (bất kể ngày nào) ngồi uống cà phê miễn phí và nói chuyện văn nghệ riêng tư. Chính Chủ tịch Thanh Lãng đã cho đặt mua 20 bàn nhỏ và 100 ghế xếp lùn cùng rất nhiều ly tách, phin cà phê, phích nước nóng để thực hiện cái Câu Lạc Bộ bỏ túi này.

Tạo cơ hội cho anh chị em văn nghệ sĩ có cơ hội gặp gỡ nhau để hàn huyên, để bàn chuyện sáng tác do nỗ lực của Chủ tịch Thanh Lãng, như vậy không phải là điều đáng nói sao ?

- Lại cũng cần nói thêm về cái tên Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Nó đã được đổi từ tên cũ là Hội Bút Việt. Việc đổi tên này là do Chủ tịch Thanh Lãng thực hiện trong nhiệm kỳ thay thế Chủ tịch Vũ Hoàng Chương vì đau yếu nên nhường lại. Linh mục Thanh Lãng cũng đề nghị chọn cho Văn Bút một cái huy hiệu để in trên các tiêu đề hay trang trí hội trường trong các buổi tổ chức. Sau nhiều phiên họp, Ban Thường vụ quyết định lấy mẫu huy hiệu trong có hình cây bút đặt xéo với thanh kiếm và thanh kiếm thì bị gẫy làm hai, ý nói “ngòi bút bẻ gẫy được cường quyền”. Trong huy hiệu có 2 hàng chữ : TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM và PEN Club International. PEN là cây bút nhưng cũng là những chữ đầu viết tắt : P=Poetes, Playwrights, E= Essayists, Editors, N=Novelists).

Như vậy, nói chung công lao làm cho Văn Bút có nhiều sinh hoạt đáng kể trong nhiều năm ròng rã không chỉ riêng nhà văn Phặm Việt Tuyền mà còn có sự đóng góp đáng kể của nhiều nhà văn hóa, văn nghệ lẫy lừng khác như Nhất Linh, Vũ Hoàng Chương, Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Đỗ Đức Thu, Đào Đăng Vỹ, Lê văn Hoàn, Nghiêm Xuân Việt, Hoàng Xuân Việt, Hồ Hữu Tường, Nguyễn thị Vinh..v.v…

2) Ông (tức Lê Phương Chi) cho biết, ngoài việc lo nhật tu sổ sách, giấy tờ, phát triển hội viên và, tổ chức những sinh hoạt có tính cách văn học cho hội, hàng tháng, họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.-

Điều này không hoàn toàn đúng hẳn. Tất nhiên, Tổng Thư Ký của bất cứ hội nào thì cũng phải lo chuyện phát triển hội viên, nhưng “nhật tu sổ sách, giấy tờ” thì chắc chắn Hội Văn Bút không để cho Tổng Thư Ký của mình phải gánh vác hết, vả chăng nhà văn Phạm Việt Tuyền do bận rộn rất nhiều công việc như Chủ nhiệm nhật báo Tự do, Giám đốc Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do thì làm sao ông có thể đảm đương đủ mọi thứ công việc linh tinh như thế.

Người lo sổ sách giấy tờ, cập nhập danh sách Hội viên, gìn giữ hồ sơ sổ sách của hội chính là ông thư ký Nguyễn văn Hinh, người tận tụy với Văn Bút ngay từ thuở ban đầu và sau này trở nên già nua, chúng tôi còn gọi là Cụ Hinh. Tuy Cụ không hề dính líu gì tới chuyện văn chương chữ nghĩa, sự thành công hay vinh dự nếu có của Văn Bút cũng chẳng khiến cho Cụ được vẻ vang hơn gì, nhưng Cụ lại lo lắng công việc của Văn Bút một cách rất cần mẫn tỉ mỉ. Cụ đã cất giữ tất cả những mẫu thư triệu tập các loại phiên họp, các thứ thiệp như thiệp mời tham dự buổi Nói chuyện, buổi Hội thảo, buổi trao Giải Văn Chương do Văn Bút tổ chức..v.v. Chính vì vậy mà mỗi khi có việc tổ chức, Ban Thường Vụ chỉ giao cho Cụ ngày giờ, tên diễn giả, tên đề tài thuyết trình ..v.v.. là cụ lo chạy đi in thiệp, vô phong bì và theo danh sách hội viên mà gửi đi. Một đôi khi Văn Bút cần ra thông cáo báo chí thì Ban Thường Vụ cũng chỉ cần soạn thảo nội dung và trao cho Cụ là ai nấy yên tâm rồi. Cụ sẽ ngồi đánh máy trên giấy stencil, quay ronéo nhiều bản và gửi tới mọi tòa soạn theo danh sách báo chí mà cụ vẫn tự cập nhật. Một người tận tụy như vậy mà bị xóa sạch công lao đóng góp thì thật vừa bất công, lại vừa bất nhẫn.

Về nguyệt san Tin Sách, tôi thấy rõ là tuyệt nhiên không thể có sự “họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.”, như nhà thơ Du Tử Lê nhắc lại lời nhà báo Lê Phương Chi (tức Lê Thanh Thái).

Sự thể là : tờ Tin Sách vốn là sáng kiến đầu tiên của nhà văn Trần Phong Giao khi ông còn đang trông nom tờ Văn cho nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng. Nội dung tờ Tin Sách chỉ hoàn toàn hướng vể chuyện sách vở, văn chương, gồm hai phần chính: khoảng 2/3 số trang được dành cho các bài phê bình về một số tác phẩm do các nhà văn, nhà thơ đã cho ra mắt trong tháng vừa qua, 1/3 số trang còn lại thì nội dung đúng nghĩa là những Tin về Sách hay nói một cách khác, đấy là một bản ghi một cách tóm tắt toàn bộ tên những cuốn sách vừa ra trong tháng, kể cả sách giáo khoa với vài thông tin ngắn gọn như tên sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản, khổ sách, số trang và giá tiền. Một loại nguyệt san như thế, tuy rất hữu ích cho giới độc giả để có thể theo dõi tình hình xuất bản sách trong tháng nhưng nó vẫn là loại báo khô khan, rất kén độc giả, nếu không có sự tài trợ thì khó lòng mà sống sót . Và sự sống còn của tờ Tin Sách là do Ban Thường Vụ Văn Bút đồng thanh chấp thuận trích ngân quỹ của Hội ra tài trợ, chứ không phải Hội khoán trắng cho nhà văn Phạm Việt Tuyền “trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách”.

Cũng cần nói thêm là tuy Tin Sách được coi như một cơ quan báo chí của Hội, nhưng Hội vẫn giao phó cho nhà văn Trần Phong Giao toàn quyền quyết định về bài vở, nội dung tờ báo. Sau này Trần Phong Giao vì bận việc nên trao lại cho nhà báo Lê Thanh Thái thay thế. Công việc cứ thế tiếp tục, tôi chưa bao giờ thấy bất cứ ai trong ban Thường Vụ xía vô nội dung của tờ báo hay đòi hỏi phải đăng bài này, rút lại bài kia. Đây là chủ trương của Hội Văn Bút chứ không phải chỉ riêng là tính cách vô tư của nhà văn Phạm Việt Tuyền.

3) Nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại : “ giữa thập niên 1960, để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến, mỗi tháng, mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật, do hội viên đó, tự chọn. Nơi chốn (luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du), cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự... đều do ông đích thân liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...

Có vài điều sai lạc trong đoạn văn ngắn trên :

- Việc mỗi tháng mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn chương là kết quả của nhiều phiên họp bàn thảo kỹ lưỡng trong Ban Thường Vụ (sở dĩ phải bàn kỹ lưỡng vì không phải chỉ tổ chức có một buổi nói chuyện mà đây được coi là sinh hoạt thường xuyên của Hội mỗi tháng). Hơn nữa, cho dù sáng kiến này xuất phát từ bất cứ cá nhân nào thì nó cũng phải dựa vào uy tín của các nhà văn, nhà thơ lão thành trong Hội. Chính nhờ uy tín của những vị này mà công việc mời diễn giả đảm trách một buổi nói chuyện sẽ trở nên dễ dàng hơn. Rồi đi vào công việc tổ chức thì cũng phải đòi hỏi nhiều công sức đóng góp của rất nhiều người (như lựa chọn diễn giả, tiếp xúc và thảo luận về đề tài nói chuyện, chuẩn bị hội trường và phát động trên báo chí, in thư mời và bỏ phong bì gửi bưu điện, tìm xướng ngôn viên điều khiển buổi nói chuyện..v.v…). Nhà văn Phạm Việt Tuyền đa đoan nhiều thứ công việc quan trọng khác của Hội cũng như của riêng ông, làm sao ông có thể đích thân lo đến cả trợ huấn cụ cũng như mời khách tham dự hay quảng bá tin tức được.

Nhà thơ Du Tử Lê cho biết nơi chốn tổ chức: luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du thì cũng là điều không đúng, bởi Thính đường này không phải luôn luôn sẵn sàng cung ứng (available) theo lời yêu cầu của Văn Bút, do Học Viện Quốc Gia Âm Nhạc còn bận rộn nhiều cuộc trình diễn khác. Trong khi ấy, Văn Bút vì phải giữ thông lệ hàng tháng của mình nên nhiều khi phải chạy tìm chỗ khi chưa có trụ sở mới khang trang. Cuộc nói chuyện do Hội Văn Bút tổ chức cho chính tôi (Nhật Tiến) vào năm 1962 đã diễn ra tại hội trường của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn (sau này trở thành Thư Viện Quốc Gia do công trình của Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, cụ Mai Thọ Truyền).

Đề tài thuyết trình của tôi hôm ấy là “ Vấn đề Tự Do của Người Cầm Bút trong sinh hoạt văn nghệ hôm nay”, qua đó tôi đã chỉ trích mạnh mẽ Sở Kiểm Duyệt, Bộ Thông Tin về sự đã hạch hỏi về tên nhân vật “Thiếu phụ áo đỏ” trong tiểu thuyết kịch “Người kéo màn” của tôi khi tôi đem kiểm duyệt, xin giấy phép in. Người kiểm duyệt sách đặt câu hỏi : “Tại sao thiếu phụ không mặc mầu áo khác mà lại là áo đỏ ?”. Quả thực là tôi đã nhức đầu khi phải trực diện với tính cách chống Cộng kiểu này, nhưng do sự cương quyết của tôi, Bộ Thông Tin đã nhượng bộ và tôi được giữ nguyên tên nhân vật “thiếu phụ áo đỏ” của mình khi tác phẩm được in ra và để cho tôi có cơ hội nhắc lại việc này trong bài thuyết trình.


Kể lại điều này là để cho thấy chỉ có ở chế độ dân chủ tự do ở miền Nam thì mới có lối tranh cãi, có sự nhượng bộ, và có sự đăng đàn chỉ trích nói trên mà người trong cuộc vẫn không bị ai làm khó dễ gì. Gần 50 năm sau (tính tới năm 2009), so ra chế độ Cộng Sản Việt Nam bây giờ hãy còn thua xa lắc !

-” Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước”...Điều này đúng nhưng không phải do sự dễ dãi của riêng vị Tổng thư Ký Phạm Việt Tuyền. Nó là chủ trương tôn trọng tự do của người cầm bút theo Hiến Chương Văn Bút Quốc Tế. Nó cũng chính là lý do để cho Hội Văn Bút VN được thành lập và có rất đông đảo văn nghệ sĩ tham gia, hưởng ứng. Lẽ nào lại chỉ có một mình nhà văn Phạm Việt Tuyền dễ dãi với diễn giả, không cần phải đưa bài cho ông “duyệt” trước ! Một người suốt đời tận tụy với đường lối, chủ trương của Văn Bút như nhà văn Phạm Việt Tuyền, nếu được nghe ca ngợi mình qua câu này, chắc chính ông cũng phải thấy mắc cỡ !

4) Năm 1965, nhà thơ Du Tử Lê được Văn Bút mời nói chuyện. Ông kể : “Trước khi nhận lời, tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi, uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch ? Ông đáp: “Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì...” Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng!”

Xin có vài điều nói về đoạn văn trên:

- Việc nhà thơ Du Tử Lê muốn nhường buổi nói chuyện cho Tổng Thư Ký Phạm Việt Tuyền vì ông có tên tuổi, có uy tín và nêu thắc mắc tại sao ông Tuyền không phải là một trong những diễn giả đầu tiên khi thực hiện kế hoạch tổ chức các buổi nói chuyện hằng tháng, đối với tôi (Nhật Tiến) nó có vẻ không ăn khớp với thời gian. Như ở trên tôi đã kể, từ năm 1962 Văn Bút đã tổ chức các buổi nói chuyện, trong khi mãi tới năm 1965 nhà thơ Du Tử Lê mới tham dự, tức là sự việc coi như đã trở thành thường xuyên rồi, thì việc nhường nhịn “ai nói trước, ai nói sau” có còn cần thiết đặt ra nữa hay không ?

Nhà Thơ Du Tử Lê đã kết luận cho câu chuyện nhường nhịn này: “Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng!”.

Tôi thực tình bất ngờ khi đọc đến câu này. Mời một diễn giả trong một buổi nói chuyện hằng tháng vốn đã trở thành một sinh hoạt thường xuyên sau một thời gian dài, mà ông Tổng Thư Ký của Văn Bút lại phải dè dặt nhường người khác nói trước để tránh mang tiếng, thì tôi e nhà thơ Du Tử Lê thực đã quá suy diễn.

Theo kinh nghiệm làm việc của tôi với nhà văn Phạm Việt Tuyền qua nhiều năm ở Trung Tâm Văn Bút, tôi thấy ông tuy rất khôn khéo, dè dặt, nhưng không hề ngại ngần mỗi khi phải thực hiện một công việc cần làm. Cụ thể là trong các kỳ họp Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế, do quyết nghị đề cử của Ban Thường Vụ, nhà văn Phạm Việt Tuyền không hề từ chối và sẵn sàng thu xếp công việc để lên đường tham dự. Ông đâu có sợ bị mang tiếng ! Và như thế, ông đâu có phải là “người chọn vắng mặt” như tựa đề bài viết của nhà thơ Du Tử Lê !


Để kết thúc cho bài này, tôi chỉ xin nêu một ý nghĩ nhỏ:

Đó là “khi viết những tài liệu văn hóa để gửi lại cho thế hệ mai sau, ngoài những tư liệu cung cấp trong bài, đức tính thận trọng khi cầm bút cũng là điều phải đặt thành một nhu cầu tối cần thiết”.

NHẬT TIẾN

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


Người Phụ Nữ Việt Nam

Huỳnh Văn Phú
Từ ngàn xưa cho đến bây giờ, trong dòng văn học Việtnam, nếu người chiến sĩ đã từng được ca tụng không tiếc lời về những chiến đấu gian khổ, hy sinh của họ trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ sự tồn vong của đất nước thì cũng có rất nhiều, nếu không muốn nói là không kể xiết, những áng văn ca tụng tính cách người phụ nữ Việt nam. Những tính cách đó là sự chịu đựng cực khổ, lòng hy sinh và nhẫn nại, chìu chồng, nuôi con, chung thuỷ, cư xử có tình có nghiã, có trước có sau và không quản nắng mưa khó nhọc làm lụng, buôn bán để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Ngày còn đi học, hình ảnh người đàn bà Việt Nam, một thân một mình, bầm dập với nắng mưa, buôn tảo bán tần nuôi chồng nuôi con trong bài thơ của Tú Xương đã khiến chúng ta xúc động :

Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò nơi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò Đông


Ông Tú Xương là một thi sĩ, ông làm thơ mô tả sự vất vả ngược xuôi của bà xã ông để nuôi đàn con và cả ông nữa là điều nên làm và phải làm của một thi sĩ có lòng. Còn ông cha ta, những người ở các thế hệ trước ông Tú Xương rất xa, không phải là thi sĩ nhưng là những người có tâm hồn, đã cám cảnh trước cái tình yêu mênh mông, vô bờ bến của người đàn bà Việt nam đối với chồng con nên đã tạo ra được những vần ca dao để diễn tả cái tình ý ấy thật tuyệt vời. Bây giờ, xin mời bạn đọc câu ca dao dưới đây:

Chàng đi đưa gói thiếp mang
Đưa gươm thiếp vác cho chàng đi không.


Bạn thử tìm xem trên trái đất này liệu có người đàn bà nào yêu chồng, sẵn sàng xả thân mình để lo cho chồng như người đàn bà Việtnam được mô tả như thế không ? Câu ca dao cho thấy chàng ra đi, có gươm có dáo bên mình thì chắc là chàng đang trên đường ra trận. Nàng không ngồi bên song cửa, nhìn bóng chàng lướt đi giữa sương gió ngoài kia mà đích thân tiễn chàng đi một đoạn. Trên đoạn đường tiễn đưa đó, nàng đã chia xẻ với chàng một chút gian truân và biểu lộ tình yêu nồng thắm của mình bằng cách bảo chàng hãy đưa hành trang và gươm cho nàng vác để chàng đi không.

Nàng là một người vợ thương chồng quá đỗi nên nàng ước ao phải chi nàng có đủ sức khoẻ vác nổi cây súng đồng thì nàng tình nguyện đi lính thế cho chồng vài năm. Cái ước mơ đó đễ thương và đáng trân quý biết chừng nào :

Phải chi em vác nổi súng đồng
Em đi lính thế cho chồng vài năm


Tiễn chàng ra đi rồi, nàng trở về với bổn phận của một người con dâu săn sóc cha mẹ già và nuôi con thơ cũng như lo lắng quán xuyến tất cả mọi việc trong gia đình :

Anh đi em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ
Lầm than bao quản nắng mưa
Anh đi anh liệu ganh đua với đời


Nếu là vợ của một chiến sĩ đi ra chiến trường giết giặc, nàng sẽ hành động như trên, còn như nàng là phu nhân của một quan văn hay một văn nhân, một ông đồ nào đó thì tính cách của nàng cũng có khác. Nàng khuyên chàng nên đọc sách ngâm thơ, nếu dầu có vơi thì nàng sẽ rót cho đầy và bấc đèn có lụi tàn thì chính tay nàng khêu lên cho cháy sáng :

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu


Chàng chưa làm nên danh phận gì, còn đang là một cậu học trò mãi lo đèn sách để đi thi. Song thân của gia đình hai bên đều già, nàng mong ước chàng học hành thi đỗ để cậy trông và để đạt được mong muốn đó, nàng hết lòng lo cho chàng không quản ngại thời gian, công sức :

Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông
Mùa Hè cho chí mùa Đông
Mùa nào thức ấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao
Hỏi thăm đến ngỏ thì vào
Tay đặt gánh xuống, miệng chào thưa anh


Chàng có thi đậu, làm nên danh phận để gia đình hai bên được nhờ hay không thì chưa cần phải bàn vội, ở đây ta thấy bổn phận làm vợ, sự chung thủy, lòng yêu thương và chăm sóc chồng của người phụ nữ Việt Nam xứng đáng được ca tụng :

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông lý nấu chè hạt sen


Đó là chưa kể nàng còn làm những món rất ngoại lệ như các món nhậu và nhất là sẵn sàng mua rượu ngon để phục vụ chồng. Mặc dù người đàn bà Việtnam gần như không biết nhậu hay uống rượu nhưng không có người vợ nào không biết làm các món nhậu, thậm chí còn học hỏi mấy bà hàng xóm láng giềng hay bạn bè những “chiêu thức” đặc biệt để đãi khách của chồng:

Đốt than nướng cá cho vàng
Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi

Người đàn bà Việtnam đúng nghiã bao giờ cũng vì chồng, vì con. Chồng con là trên hết và cho dù nàng gặp phải anh chồng nghèo, nghèo rớt mồng tơi, mặc áo rách vá đùm vá đụp nhưng cái tình thương của nàng, của người đàn bà Việtnam làm vợ dành cho chồng vẫn như ngày nào, không so sánh hay quan tâm thắc mắc gì đến chồng người khác giàu sang, lắm của, nhiều tiền, ăn mặc sang trọng, đầu chải bóng mượt, xức nước hoa, nước bông thơm nức mũi :

Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
Hay :
Tay bưng đĩa muối, tay bợ sàng rau
Thuỷ chung như nhứt sang giàu mặc ai
Và :
Muối mặn ba năm vẫn còn mặn
Gừng cay chín tháng vẫn còn cay
Đạo nghiã cang thường chớ đổi đừng thay
Dẫu nên danh vọng hay có ăn mày ta cũng theo nhau


Người phụ nữ Việtnam khi lấy chồng rồi thì luôn luôn một dạ một lòng với chồng, và dù no dù đói cũng đi theo chồng cho đến cùng trời cuối đất:

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam


Sự chung thủy của người phụ nữ Việtnam đối với chồng thể hiện qua cách cư xử với người đi theo tán tỉnh mình thật đằm thắm và đôn hậu :

Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen


Đó là trường hợp đã nên vợ nên chồng rồi còn nếu hai người đang trong thời kỳ “trăng thanh gió mát”, hay “bên anh đọc sách bên nàng quay tơ” thì nàng vẫn một dạ sắt son:

Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh


Trong xã hội Việtnam, bao giờ người đàn ông cũng là trụ cột, là gốc “cây tùng” trong gia đình.Vợ con có ăn no mặc ấm hay không phần lớn là do công sức của “chàng”, nhưng chẳng may chàng làm ăn thất bại không đem lại cơm no, lành áo cho vợ con thì chính người đàn bà lại phải xả thân đi làm hoặc buôn thúng bán bưng để nuôi chàng chứ không ai khác :

Tưởng lấy anh cho lành manh áo
Đâu ngờ lấy anh rồi bán áo nuôi anh
.

Phải nói rằng người phụ nữ Việtnam là những người đàn bà tuyệt vời nhất trên trái đất già nua, phiền muộn và lắm nỗi oan khiên này. Ngoài cái bổn phận và thiên chức làm vợ, làm mẹ ra, nàng đã phải thức khuya dậy sớm gánh hàng ra đi cho kịp phiên chợ mai :

Nửa đêm ân ái cùng chồng
Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi


Và nàng phải tất tả ngược xuôi, lên dốc xuống đèo, sáng đầu chợ chiều cuối chợ đến nỗi vú nàng xẹp, lưng nàng teo đủ thấy sự hy sinh vất vả của người đàn bà Việtnam đối với chồng con to lớn đến mức nào :

Một ngày ba trận trèo đèo
Vì ai vú xẹp lưng teo hở chàng ?


Hết lên dốc lại xuống đèo và lắm lúc cũng phải băng qua các cồn cát nóng bỏng thì cái nhan sắc của nàng đâu còn đẹp, còn giòn như ngày nào mới lấy nhau :

Một ngày ba bận trèo cồn
Còn gì mà đẹp mà giòn hở anh !


Ngày nào còn con gái ở với mẹ cha, nàng đội cái nón mua 9 đồng rưỡi với cái quai thao 3 đồng, đến khi lấy chồng rồi nàng không cần chưng diện nữa, ăn mặc thế nào cũng được, không xài hoang phí, mục đích là để tiết kiệm ngân quỹ gia đình. Thành ra, bây giờ nàng sẽ đội cái nón mua chỉ có 6 đồng hay cái nón rách với quai mo :

Từ ngày em ở cùng cha
Cái nón chín đồng rưỡi, cái quai ba đồng
Đến khi em về cùng chồng
Cái nón saú đồng mà buộc quai mo
Và :
Chưa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai


Người phụ nữ Việtnam lo lắng cho chồng con với tất cả tâm hồn, tình thương và công sức của mình. Chàng muốn ăn cua, nàng sẽ đích thân lặn lội đi bắt về cho chàng ăn chứ giá như chỉ có mỗi mình nàng, việc gì phải cực cái thân, nàng chỉ cần bỏ ra ba đồng bạc mua cua về ăn là đủ rồi :

Vì chàng thiếp phải bắt cua
Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng


Nàng phải cơm bưng nước rót cho chồng, làm tròn bổn phận và phục vụ đúng mức chứ đâu như thuả còn con gái ăn uống kiểu nào cũng được kể cả việc bưng một tô cơm ngồi ăn trong bóng tối. Tất cả cũng chỉ vì lo cho chồng :

Vì chàng thiếp phải bưng mâm
Những như thân thiếp, bốc thầm cũng xong
!

Nấu cơm, giặt giũ, lau quét dọn nhà cửa, quán xuyến từ trong ra ngoài, và trong lúc nàng bận tiú tít, nào là con đòi bú khóc ré lên, nồi cơm trên bếp đang sôi mà lửa thì tắt và ngoài chuồng lợn, mấy con heo la inh ỏi đòi ăn thì ngay lúc ấy ông chồng “mắc dịch” nổi hứng bất tử muốn “tòm tem” với nàng. Hãy hượm, nàng không phản đối hay tỏ vẻ khó chịu có thể làm phật ý chồng, nàng cho con bú, dỗ cho nó ngủ say, nấu cơm cho chín và cho mấy con lợn ăn xong cái đã, bấy giờ nàng mới sẵn sàng đáp ứng “đòi hỏi” của chồng :

Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem
Bây giờ con đã ngủ yên
Lợn no, cơm chín, tòm tem thì tòm


Ta hãy xem cung cách của người phụ nữ lo lắng cho chồng đang bệnh nằm liệt giường như thế nào. Nàng sắc thuốc rồi chân thấp, chân cao bưng thuốc đến bên giừơng cho chồng uống, vừa đi vừa vái ông trời mong cho chồng chóng lành bệnh để ăn đời ở kiếp với nhau :

Cầm con dao sắc, cắt một củ gừng
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh ở đời với em.


Và đây là câu trả lời của nàng đối với những ai thắc mắc vì sao áo nàng rách, vai nàng sờn. Có thể là nàng là một goá phụ, thủ tiết thờ chồng, gồng gánh đi buôn hay đi làm thuê làm mướn để nuôi con :

Em đi làm mướn nuôi ai
Cho áo em rách cho vai em sờn
Em đi làm mướn nuôi con
Áo rách mặc áo vai sờn mặc vai.


Vào thời kỳ xã hội Việtnam theo chế độ phong kiến, theo đó người đàn ông có thể có vợ lẻ, nàng hầu. Ta thấy tính cách của người phụ nữ Việtnam càng đặc biệt và nổi bật hơn khi nàng thấy chồng nổi giận, chưa biết rõ là chồng giận chuyện gì nhưng nàng đã làm lành với chồng bằng một nụ cười hớn hở với lời hứa sẽ cưới vợ bé cho chồng :

Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì
Thưa anh, anh giận em chi ?
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho


Tuy nhiên, đời sống vợ chồng không phải lúc nào cũng hạnh phúc êm đềm mãi mãi, đôi khi cũng có sóng gió, bất đồng, dẫn đến chia lìa, đổ vỡ. Ta lại thấy thêm một tính cách nữa của người phụ nữ Việtnam : Hạnh phúc đã vỡ nhưng người đàn bà không ích kỷ mà vẫn mong người chồng cũ có người mới. Trong trường hợp này, nàng xin trả lại chàng đôi bông để chàng có thể dùng đôi bông ấy đi cưới người vợ khác nhưng còn đôi vàng thì nàng xin giữ để làm kỷ niệm :

Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin


Không phải người phụ nữ nào cũng cứng rắn dứt khoát tuyệt tình, đôi khi nàng cũng van xin tình yêu chứ không phải là không có nhưng cách van xin rất ví von của nàng nghe thật gợi hình và cảm động. Nàng không so sánh nàng là cái gì lớn lao trong đời sống chàng, nàng chỉ là cơm nguội phòng khi chàng đói lòng mà thôi :

Chàng ơi bỏ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng


Chuyện người phụ nữ Việtnam thay chồng nuôi con đã để lại những hình ảnh thật đẹp và gây nhiều xúc động mạnh mẽ :

Rạm đồng nấu với bẹ môn
Đói no mẹ cũng nuôi con nên người
Hay :
Chợ xa đi sớm về trưa
Nuôi con bao quản nắng mưa dãi dầu


Trong kho tàng văn chương bình dân của dân tộc, ta có thể tìm ra nhiều, nhiều lắm những vần ca dao mô tả rất trung thực và sinh động tính cách người phụ nữ Việt nam trong gia đình cũng như ngoài xã hội qua các thời đại. Và, cho dù xã hội có biến đổi theo cách nào đi nữa thì những tính cách đáng qúy của người phụ nữ Việtnam như đã kể trên, vẫn mãi mãi như thế, không bao giờ thay đổi.

Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, 30-4-75, hàng triệu người thuộc thành phần Quân, Cán, Chính của chính thể Sàigòn đã phải vào các trại tù do Việt Cộng thiết lập trải dài từ Nam ra Bắc, lao động khổ sai, không hẹn ngày về, thì những người vợ của họ ở lại nhà cũng phải chịu đựng bao nỗi nghiệt ngã, đè nén, áp bức trong kế hoạch trả thù rất tinh vi và thâm độc của Cộng Sản. Và chính trong thời kỳ vô cùng thê thảm ấy của đất nước, tính cách của người phụ nữ Việtnam, hơn bao giờ hết, đã biểu lộ một cách rõ rệt và hùng hồn hơn. Tôi nghĩ rằng, sự hy sinh, lòng chung thủy cùng những năm tháng dài trải qua muôn vàn đắng cay, tủi nhục để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi con nên người của phần lớn những người đàn bà ở miền
Nam Việtnam có chồng đi “cải tạo” là một bộ “sử thi” vĩ đại nhất mà có lẽ không có một thứ ngôn ngữ nào, một ngòi bút nào có thể diễn tả đủ, hết và trung thực.

Ông Hồ Dzếnh, một thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến, cũng đã diễn tả cảm kích của ông trước những tính cách của người phụ nữ Việtnam trong bài “Cảm Xúc” có đoạn như sau và đoạn thơ này đã tạm kết thúc bài viết của tôi :

Cô gái ViệtNam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái ViệtNam tươi.


Huỳnh Văn Phú

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tôn Giáo Trong Vai Trò
Tranh Đấu Tự Do Dân Chủ Và Nhân Quyền Cho Việt Nam
Tôn giáo là kẻ thù không đội trời chung với cộng sản vì cộng sản chủ trương vô thần, chúng cho rằng tôn giáo là một loại thuốc phiện dùng để mê hoặc tín đồ. Đây là cách nói gian trá để che đậy một thực tế mà cộng sản rất lo sợ trước sức mạnh của tôn giáo. Lý do, người có tôn giáo thì đặt niềm tin vào Phật, vào Chúa, vào các Đấng Linh Thiêng đồng thời tuân lời tuyệt đối vào các vị lãnh đạo tinh thần là một mối lo sợ của cộng sản. Để đối phó với tôn giáo, cộng sản một mặt âm thầm diệt bỏ niềm tin tín đồ vào các đấng linh thiêng, và mặt khác, chúng lại dựng lên những huyền thoại chung quanh lãnh tụ để ru ngủ quần chúng và tạo sự ngưỡng mộ bắt người dân phải tôn thờ như các vị thần thánh. Điều nầy chúng ta không lấy làm lạ từ những tên đồ tể Marx, Lê, Mao đến Hồ đều được chúng thổi phồng, đánh bóng thành những vị thánh, cha già dân tộc rồi dựng tượng, đưa lên bàn thờ bắt dân chúng bái lạy từ lúc còn sống cho đến khi đã nằm yên trong lòng đất. Cộng sản thần thánh hóa lãnh tụ của chúng như một tôn giáo mới để thay thế Chúa, Phật, Ông Bà Tổ Tiên.

Lý do chính mà cộng sản sợ tôn giáo vì tôn giáo là môi trường mà chúng khó xâm nhập và phát triển. Ví dụ trường hợp các xứ theo Hồi giáo, với lòng sùng đạo và tín hữu tuyệt đối trung thành với giáo chủ thì không bao giờ cộng sản có thể xâm nhập vào những quốc gia nầy. Cũng như Tây Tạng, dù Tàu cộng đã dùng vũ lực cưởng chiếm xứ nầy và vị lãnh đạo tinh thần phải ra xứ ngoài lánh nạn nhưng các cuộc chống đối của dân chúng và sư sải vừa bất bạo động vẫn liên tục xảy ra từ trong nước ra đến hải ngoại. Điều nầy chứng minh cho chúng ta thấy, sức mạnh tôn giáo là một trở ngại cho việc xâm nhập và phát triển tà thuyết cộng sản.

Đối với Việt Nam là một quốc gia có thể nói rằng dân chúng gần như hoàn toàn theo một tín ngưỡng nào đó. Không Phật Giáo thì Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài hay thờ Tổ Tiên…bách phân người có tín ngưỡng lên đến gần 95% trong tổng số dân chúng, nhưng tại sao đất nước của chúng ta lại rơi vào tay vô thần cộng sản ? Xin thưa rằng, tất cả người Việt Nam chúng ta đã bị cộng sản lừa bịp kể từ lúc chúng đội lốt tôn giáo để đánh phá Việt Nam dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà. Cũng như năm 1975, cộng sản vào cướp nước và cho đến ngày nay, năm 2009, chúng ta vẫn bị cộng sản chúng nó lừa bịp bằng những trò tôn giáo quốc doanh. Tôi nói bị bịp, vì mãi đến hôm nay, nhiều người từ trong nước cho đến hải ngoại vẫn còn ủng hộ, tiếp tế và nuôi dưỡng đám tôn giáo quốc doanh nầy !

Nhiều người vẫn lầm tưởng rằng cộng sản đã phản tỉnh biết ăn năn hối cãi bằng hình thức lập bàn thờ Phật và nuôi sư nữ ngay tại trong nhà (trường hợp Lê Khả Phiêu) hoặc đúc tượng quỷ Hồ bằng vàng, đặt ngang hàng với Đức Phật trong chùa để cho khách thập phương mua vé vào thăm viếng (Chùa ở Bình Dương). Mai đây không biết ông cha quốc doanh nào vâng lệnh cộng sản đưa hình quỷ Hồ vào nhà thờ để cho tính hữu đến cầu nguyện nữa hay không ! Đó mới là điều cần phải cảnh báo với tất cả mọi người từ trong quốc nội ra đến xứ ngoài.

Cần xác định rằng tôn giáo và cộng sản là hai thái cực đối đầu nhau, như vậy, trong một quốc gia, nếu tôn giáo mạnh thì không có cộng sản, ngược lại nếu cộng sản mạnh thì sẽ không còn tôn giáo. Nhưng tại sao ở Việt Nam, một quốc gia với trên 95% dân chúng theo tôn giáo mà cộng sản vô thần ngự trị trên đất nước chúng ta đã trên 60 năm (Miền Bắc) và trên 34 năm (Miền Nam) ? Đây có thể nói là một điều nghịch lý vì các tôn giáo vẫn bành trướng từ Nam chí Bắc với hình ảnh nhà thờ chùa chiềng mọc lên như nấm cũng như các giáo hội Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo vẫn hoạt động bên cạnh bạo quyền Hà Nội ? Đó chẳng qua là cộng sản Việt Nam đã kịp thời thay đổi chiến lược, che giấu chủ trương ‘vô tôn giáo’ cố hữu của chúng bằng hình thức đẻ ra những giáo hội quốc doanh nằm dưới sự điều động của Mặt Trận Tổ Quốc. Mục đích trước tiên để chứng minh với thế giới rằng Việt Nam cộng sản có tự do tôn giáo và sau nữa để lừa bịp người dân, nhất là đối với người Việt hải ngoại đồng thời chúng xử dụng thành phần Cha Cố Sư Sải quốc doanh để trấn áp các thành phần tôn giáo nguyên thủy. Phải thành thực nói rằng cộng sản đã thành công một phần nào trong việc dàn dựng những công cụ tôn giáo để phục vụ một cách đắc lực cho chế độ. Thành phần quốc doanh nầy chẳng những nắm phần chủ động lèo lái các tôn giáo trong nước mà còn bành trước ra hải ngoại để tuyên truyền và phá hoại cộng đồng, trong đó thành phần lãnh đạo tinh thần đa số là những đảng viên cộng sản chính hiệu. Việc giáo dân, tín đồ gom góp tiền đưa về xây nhà chùa, nhà thờ thì cũng nằm trong chiều hướng khuếch trương các cơ sở tôn giáo màu mè cho cộng sản, tiền do các nơi thờ phượng trước sau gì cũng chui vào túi chế độ thì những hình thức tôn giáo bên ngoài không quan trọng, mà điểm chính là, tín đồ còn tin tưởng vào giới lãnh đạo tinh thần của mình hay hoặc còn một lòng sùng đạo hay không ? Một khi tín hữu khám phá ra giới lãnh đạo tôn giáo quốc doanh là những hạng người không xứng đáng…thì tinh thần giữ đạo trong người cũng sẽ chắc chắn mai một.

Cộng sản Việt Nam luôn luôn lo ngại vấn đề tôn giáo và sự đồng nhất tín hữu của các tôn giáo, do đó, một kế hoạch nhằm chia rẽ giữa tôn giáo nầy với tôn giáo khác đã và đang xuất hiện nhằm đánh pha lẫn nhau. Ngoài ra có những thành phần chuyên nghiệp chuyên đánh phá các tôn giáo một cách công khai cũng là một trong những kế hoạch triệt tiêu tôn giáo từ trong nước ra đến hải ngoại.

Lý do chính mà cộng sản lo sợ, nếu có sự đoàn kết chặt chẻ giữa các thành phần tôn giáo, nghĩa là có sự kết hợp tôn giáo thì đây là nguy cơ cho chế độ vì tôn giáo là một thực thể có đủ các điều kiện về nhân lực, vật lực, đoàn kết cũng như sự trung thành với chủ chăn và tinh thần đạo giáo thì dù kẽm gai, súng đạn hay nhà tù cũng không thể nào cản đường những cuộc xuống đường của con chiên, Phật tử v..v..

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng, sức mạnh Thiên Chúa Giáo đã đánh sập chế độ cộng sản Ba Lan rồi kéo theo nguyên cả khối đỏ Đông Âu-Châu từ bỏ tà thuyết vô thần trong cuối thế kỷ vừa qua. Ngoài ra lịch sử Việt Nam cũng đã chứng minh, cộng sản phải nhờ bàn tay Phật giáo để trực tiếp để giết chết nền Cộng Hòa Thứ Nhất và còn gián tiếp giúp cho cộng sản thôn tính một cách dễ dàng miền Nam, thì bây giờ chúng vẫn lo ngại tôn giáo là nguyên động lực có thể kết thúc chế độ bất nhân tàn bạo của chúng trong một ngày rất gần. Hơn nữa, bài học vùng dậy của người Tây Tạng, là một quốc gia Phật giáo mà chính Đức Đạt Lai Lạt Ma là người lãnh đạo tinh thần đang sát cánh cùng dân chúng trong cuộc tranh đấu từ bất bạo động đến bạo động. Sự nổi dậy của dân Tây Tạng đã phơi bày cho thế giới thấy được âm mưu thâm độc trong chương trình diệt tôn giáo và bành trướng thế lực cộng sản tại Đông Nam Á.

Đối với tình trạng đất nước hiện nay, cộng sản Việt Nam đang lo sợ sự nổi dậy của tôn giáo trong nước với sự yểm trợ của cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như cả thế giới tự do, do đó chúng phát triển tối đa các tổ chức tôn giáo quốc doanh nhằm bưng bít sự thật và lừa bịp thế giới cũng như những người Việt ít theo dõi tình hình chính trị tại quê nhà.

Đối với tôi, tất cả hành động nào nhằm mục đích tranh đấu tìm tự do no cơm ấm áo cho người dân trong nước và mục đích dùng làm vũ khí nhằm giải thể chế độ cộng sản đều nên cổ võ hoan nghênh. Nhưng ngược lại có những trường hợp lợi dụng các hình thức tranh đấu để mưu cầu lợi ich riêng tư cá nhân, bè nhóm phe đảng thì cần phải xét lại và dẹp tắt tức khắc để công cuộc tranh đấu có ý nghĩa và tốt đẹp hơn. Tôi nhận thấy gần đây có một vài trường hợp đưa Chúa Phật xuống đường trong các cuộc biểu tình là những hình ảnh thiếu trang nghiêm và mất tính cách thiêng liêng của tôn giáo dưới con mắt người nước ngoài. Họ không thể hiểu được một cuộc biểu tình chính trị của người Việt tự do lại đem các đấng Tối Cao ra giữa đường để chứng kiến những hình ảnh không đẹp mắt, nghe những tiếng la hét, hoan hô đá đảo…! Theo tôi, nên tổ chức những buổi cầu nguyện trong chùa, nhà thờ hay những nơi công cộng đối với các cuộc lễ lớn như…tổ chức cầu cho quốc thái dân an ở những vị trí trang trọng trong thành phố. Vẫn biết đây có thể là một hình thức cầu nguyện mới do các vị lãnh đạo tinh thần chủ xướng, nhưng qua tay lèo lái của những con buôn chính trị, những lần cầu nguyện đuợc lồng vào trong các cuộc biểu tình chính trị thì lại trở nên mất trang nghiêm làm buồn lòng tín đồ cũng như giáo hữu. Hơn nữa, hành động đưa bàn thờ xuống đường nhắc chúng ta nhớ lại thời kỳ đen tối vào năm 1966, khi Thích Trí Quang đưa Phật xuống đường để cản chân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đang truy lùng những tên cộng sản lẫn lộn trong các đám biểu tình.

Một chuyện đau buồn nữa là gần đây giáo dân Việt Nam đứng lên đòi bạo quyền Hà Nội phải trả lại đất đai cho giáo hội công giáo, tình hình tranh đấu đang lên đến cao điểm với sự ủng hộ của các tôn giáo bạn cũng như dư luận nước ngoài thì cuộc biểu tình phải dẹp bỏ theo lời khuyến cáo của Vatican ! Tôi nghĩ rằng đây là một cuộc tranh đấu của người công giáo mở đường cho các tổ chức khác nối tiếp để rồi bùng nổ và chấm dứt chế độ vô thần tàn bạo cộng sản. Nhưng tất cả mọi người đều lấy làm tiếc vì Vatican đã bị cộng sản lừa cho một vố lớn với những lời hứu hưu hứa vượn. Cộng sản đã nuốt lời và qua mặt được Vatican, chúng trở nên thô bạo hơn ra tay đàn áp người dân biểu tình đồng thời dùng công cụ san bằng mảnh đất của nhà chung để làm công viên và khu giải trí thành phố. Nếu vị Giáo Hoàng tiền nhiệm còn sống thì tình trạng tranh đấu tại Việt Nam, nếu không đạt được mục đích tối hậu lật đổ được chế độ cộng sản, thì cũng làm cho cộng sản nếm mùi thất bại và không bao giờ dám đụng đến bất cứ một tôn giáo tại Việt Nam.

Trở về vai trò của tôn giáo trong cuộc tranh đấu dành tự do dân chủ nhân quyền cho Việt Nam hiện nay, tôi nghĩ rằng đây là một điều tối cần thiết và thật cấp bách. Nhiều vị lãnh đạo tôn giáo đã can đảm chịu tù đày, bất chấp quản thúc…nhưng chưa đủ hiệu lực để thuyết phục và thúc đẩy toàn dân đứng dậy. Điều cần thiết là tất cả các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo phải đồng loạt dấn thân xuống đường bên cạnh Phật tử, con chiên để làm đầu tàu cho các cuộc tranh đấu. Tùy theo thời điểm cũng như hoàn cảnh, những hình thức tranh đấu có thể uyển chuyển nhưng phải nhiệt tình và liên tục để hướng dẫn tín đồ và Phật tử đi đúng hướng, tiếp tay với tuổi trẻ, người lao động cũng như toàn dân Việt Nam. Chỉ có những tổ chức tôn giáo là nơi tập hợp con chiên Phật tử biết tuân lời vị lãnh đạo tinh thần một cách tuyệt đối, sống chế vì đạo. Chính các tổ chức tôn giáo mới có một sức mạnh đáng kể để có thể đánh gục bạo quyền cộng sản. Chính các tổ chức tôn giáo mới có một sự đoàn kết vững chắc và bền bĩ thì mới đủ khả năng tạo một cuộc cách mạng cho tự do tôn giáo, tự do dân chủ và nhân quyền. Người Việt đang trông chờ các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo vì chính các vị nầy chính là những chiến sĩ đầu đàn cho công cuộc tranh đấu của toàn dân.

Một điều đau buồn cho tôn giáo Việt Nam, cộng sản đã âm mưu đào tạo một số lãnh đạo tinh thần theo kiểu quốc doanh, nghĩa là chỉ biết phục vụ chế độ. Chúng ta tôn trọng những vị chân tu vì họ đã dứt bỏ được những cái Tham-Thâm-Si tầm thường của con người để dấn thân vào con đường tu hành khổ hạnh, tìm hạnh phúc tinh thần vĩnh cữu cho cá nhân cũng như phục vụ tín đồ giáo hữu đi theo con đường đạo pháp. Nhưng khi một vị tu hành nào chẳng những chưa dứt bỏ được những cái tầm thường mà còn tham thâm si hơn người phàm tục, trở thành con buôn tôn giáo, xem trọng vấn đề vật chất cũng như chủ tâm chạy theo bạo quyền cộng sản để an thân phì gia thì người Việt quốc gia phải dứt khoát loại bỏ thành phần nầy ra khỏi cộng đồng để khỏi ô uế đạo pháp cũng như nơi thờ phượng, đồng thời đây cũng là giải pháp để diệt ngay cai mầm mống cộng sản đang dùng lốt tôn giáo để mị dân, che mắt thế giới và củng cố quyền lực của chúng. C ũng đ ừng qu ên th ành ph ần ăn có theo các Thầy, các Cha, vì đây là một job béo bở, vừa được nuôi ăn vừa kiếm tiền mà không cần phải làm việc và đóng thuế ! Ngoài ra cũng đừng quên thành mượn danh Phật, Chúa, mượn danh Thầy, Cha để đánh bóng con đường chính trị xu thời, vừa kiếm ăn vừa bịp bợm cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Chúng ta đánh cộng sản mà đi nuôi dưỡng, ủng hộ các thành phần lãnh đạo tôn giáo cộng sản đội lốt quốc doanh là một điều phi lý. Thành phần nầy mượn Nhà Chùa, nhà Chúa làm tổ quỷ, lấy vợ của con chiên Phật tử, ăn cắp tiền tín hữu đem biếu gái tơ, buôn Chúa bán Phật thì chính chúng ta đã giúp cho chế độ cộng sản phát triển cái ‘vô tôn giáo’ của chúng. Sở dĩ tôi nói như vậy vì cộng sản tạo ra các hình thức tôn giáo quốc doanh không ngoài mục đích là để phá hoại chúng ta.

Điểm quan trọng cần phải hiểu âm mưu của cộng sản : Chúng dựng lên các giáo hội quốc doanh với những thành phần buôn thần bán thánh, làm những chuyện ác đức, phá nát tinh thần đạo giáo, kiếm tiền kinh doanh không ngoài mục đích để cho tín đồ giáo hữu nhận thấy tất cả những nhà lãnh đạo tôn giáo đều bất xứng…rồi tín đồ giáo hữu sẽ ghét cha, khinh thầy. Từ đó sẽ xa dần nhà thờ, tránh đến chùa lạy Phật thì đã con chiên Phật tử đã vào đúng quỹ đạo phá tôn giáo do cộng sản dàn dựng. Chúng không cần lên tiếng ngăn cấm tín hữu đến nhà thờ, cản trở Phật tử đến chùa mà chỉ cần những hình ảnh xấu xa của sư-cha-quốc-doanh thì cũng đủ làm cho con chiên Phật tử chán nản và xa dần với tôn giáo của họ. Đó là âm mưu diệt tôn giáo của cộng sản.

Xin chân thành cám ơn Quý Vị.

Đinh Lâm Thanh

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Image

VƯỜN RAU QUÊ HƯƠNG


Ngày mua được căn nhà mười lăm tuổi, có sẵn mảnh vườn sau , Hân nghĩ ngay đến chuyện gầy dựng một vườn rau quê hương trên xứ người, để bù đắp cho những thiếu thốn tinh thần, mà dẫu xứ sở này dư thừa vật chất vẫn không khoả lấp nổi. Suốt ngày bù đầu nơi xưởng máy, công việc thì đều đều nhàm chán, vây xung quanh là những vách tường sơn xám khiến lúc nào cuộc sống cũng buồn tẻ. Chiếc máy lạnh chạy rì rì suốt ngày, bấy nhiêu con người thở ra hít vào cái không khí đặc quánh mùi dầu mỡ.

Hân thèm, thèm lắm, khoảng không gian màu xanh cuả quê nhà, giàn dưa chuột thấp lè tè với những quả xanh, vạt rau cải, những luống hành hẹ và mùi cỏ khô lẫn với mùi phân bò ngai ngái , nhưng đầy ắp không khí miền quê Nam Bộ. Hân nhớ lắm một mảng trời xanh, một đêm trăng tĩnh mịch trước sân nhà, ụ rơm khô có con bò đang nhơi cỏ. Trăng nằm sóng soải trên từng cuộn mây trắng, khiến chàng hình dung trời như một vùng biển xanh, mà những giải mây trắng kia lại là những cơn sóng bạc đầu gờn gợn trong không gian.

Thật ra mỗi một đời người, mỗi một thân phận đã gắn bó ít nhiều với những thăng trầm cuả giòng lịch sử quê nhà, Hân ra đời vào những năm đất nước chia hai. Dạo ấy , những người Bắc di cư vào Nam đã đổ về vùng ven đô này lập nghiệp, Hân lớn lên và cùng đi học với những đứa trẻ từ miền

Bắc vào. Khi mùa màng gặt hái xong, trên cánh đồng còn trơ lại những cọng rơm tươi, Hân đã từng dẫn đám bạn xa lạ ấy đi mót lúa, đậu phọng hay hái trái dại trong khu rừng cao su phiá xa. Dạo ấy còn thanh bình, miền quê không nghe tiếng súng, nghe văng vẳng tiếng chuông chuà xóm người Nam, hoà với tiếng chuông nhà thờ xóm người Bắc.

Riêng Hân, chàng thanh niên ngày nào phải bỏ quê nhà ra đi, nay đã là người đàn ông đứng tuổi. Vẫn ngậm ngùi đau xót nhiều năm tháng, khi bất chợt nhận ra cái cảm giác mâu thuẫn trong tâm hồn mình, khi không hề phản bội quê hương, mà vẫn cam lòng chịu hai chữ vong quốc.

Hình ảnh quê hương còn trong lòng Hân là những rẫy đất trồng đủ thứ rau xanh. Miền quê nghèo, đất thịt pha cát chỉ thích hợp cho việc trồng rẫy. Tuổi thơ cuả chàng đã chạy nhảy trên những luống khoai, luống cải, những cánh đồng trồng đậu trồng cà. Muà Tết theo cha mẹ ra rẫy, trẩy những trái dưa hấu tròn căng, xanh thẫm mang ra bán trong những buổi chợ Tết. Chiếc xe bò nghiến những bánh xe gỗ lóc cóc trên con đường đất khô ran, Hân còn ngửi được cả muì phân bò lẫn với cỏ hắt lên từ những thửa đất trồng rau ven đường. Thuở ấy, Hân còn bé, nghe mấy đứa miền Bắc đọc ra rả bài thơ cảnh miền Nam:

" Tôi yêu tiếng Việt miền Nam
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê
Tôi yêu đồng cỏ nắng se". . .

Cho mãi đến bây giờ, chàng mới cảm thấy nỗi nhớ quê hương thật sâu sắc và dữ dội, nhất là trong những ngày cận Tết. Tất cả hình ảnh miền quê cũ, cây mai trước sân nhà, con gà gáy sớm, con heo ủn ỉn đi ra đi vào xục mõm vào nồi cám, những thứ tầm thường ấy sao vẫn làm chàng nhớ đến quắt quay.

Quê hương chàng nhiều tháng năm sau đó đã trở thành bãi chiến trường, mà những người bắn giết lẫn nhau lại cũng chỉ là những khuôn mặt thân quen cùng lớn lên từ thôn xóm hiền lành ấy. Nhìn cảnh tiêu điều cuả rừng chiều quạnh hiu, những nhánh cây giơ lên trời như những bộ xương khô in trên nền trời màu tím thẫm lúc hoàng hôn, lòng Hân rã rời như đánh mất một cái gì không rõ rệt. Chiến tranh là vậy, là đánh mất màu xanh cuả cây và đánh mất màu xanh cuả tâm hồn. Chỉ tội nghiệp cho những người dân sống ở đó, vẫn phải nương vào những ruộng rẫy để mưu sinh, để tồn tại. Khi muà mưa tới, những trận đánh càng xảy ra thường hơn. Ban ngày buổi chợ quê nhóm lèo tèo vào lúc sáng sớm, chỉ mười giờ là chợ tan, trên nền xi măng cuả nhà lồng chợ chỉ còn vương lại những mảnh lá chuối khô, nắng đã chói chang dội xuống mái nhà tôn hầm hập nóng.

Chiều về, trời chưa tắt nắng, chiếc lô cốt ven đường lộ chính, vợ con những người lính Địa Phương Quân đã chui vào những mái nhà thấp lè tè cất xung quanh cái đồn lính. Cái đồn nằm cô quạnh giống như một cái bếp than, được úp xuống với ba cái cửa tò vò, từ lỗ châu mai thò ra mấy họng súng . Họ sống nhiều năm tháng phập phồng ở đó trong vòng rào kẽm gai đầy mìn rải quanh đồn. Những đứa trẻ đen đủi trong vòng rào kẽm gai, vài người đàn bà theo chồng sống một đời bất an trong cái hạnh phúc nắm được từng giờ. Những khuôn mặt người lính địa phương gầy gò, mặc đồ trận màu xanh đi giày vải, đôi mắt lơ láo vì căng thẳng chờ đợi kẻ thù, bóng tối và sự chết ập xuống bất ngờ không hề trông đợi.

Có những buổi chợ sớm, người đi chợ nhốn nháo lên vì một loạt đạn vang lên giữa buổi chợ đông, người ta bỏ chạy tán loạn khi một người bị bắn gục, với giòng máu đỏ loang chảy trên nền đất. Những khuôn mặt quen quen mà ngày là bạn, đêm đã trở thành thù, nước da đen ròn với nắng

gió rẫy nương. Hân đã có những thằng bạn chung lớp, sau này theo bên kia, lúc gặp nhau vẫn tay bắt mặt mừng, vẫn có thể nã súng vào chàng không thương tiếc. Một cuộc chiến tranh kỳ cục và cay đắng cho người dân Việt Nam, được du nhập ở tận đâu đâu, biến con người, quê hương thành hai hố thẳm đen ngòm, đầy những hận thù và chết chóc.

Cho nên, ngày chiến tranh chấm dứt, dẫu đứng về phiá những người bại trận, Hân vẫn không thể nào không thở phào nhẹ nhõm. Ít ra là cuộc chiến đã kết thúc, khu rừng cao su sau muà mưa có thể đâm những chiếc lá xanh, đỡ xơ xác khi chiều xuống. Ít ra chàng sẽ không phải nhìn thấy những đôi mắt trẻ thơ thập thò trong vòng rào kẽm gai, những người lính trở về đời sống bình thường và sẽ có một mái nhà. Và ít ra, những người ở bên kia không phải tìm cách giết những người bên này.

Ðiều khiến chàng đau lòng là sự thiếu hiểu biết cuả người thắng trận, nó tiếp tục đưa đẩy dân tộc vào nhiều nỗi thống khổ, mà đáng lẽ phải được hàn gắn những vết thương chiến tranh trong suốt bao nhiêu năm tương tàn. Bởi vậy Hân mới phải bỏ quê hương mà đi, mang theo bên lòng bao nỗi niềm đau xót.

* * *

Khu vườn phiá sau được người chủ cũ trồng mấy cây thông bên vệ rào, nay đã lớn, tàn xoè ra làm mát một khoảng sân rộng. Những cây hoa cúc dại màu tím vàng, mọc tràn lan trên bãi cỏ trống, người chủ cũ chắc cũng không có nhiều thì giờ cho việc trồng tiả để khu vườn tươi đẹp hơn.

Người ta thích trồng thông vì thông mang dáng dấp quân tử, với Hân thì chẳng có cây nào tiểu nhân, chẳng có cây nào quân tử, và cũng chẳng có hoa nào lẳng lơ. Chẳng qua là tại tâm, hễ tâm rộng thì nhìn đời thoáng đãng bao dung còn tâm hẹp thì nhìn đâu cũng thấy hận thù, nghi ngại. Cho nên, nếu có làm thông, được dáng đứng uy nghi, quân tử, thì cũng đâu hẹp hòi gì mà không che chở cho những cây cỏ nhỏ nhoi, còi cọc giữa bãi cỏ đời mênh mông.

Trước tiên, Hân phải làm cỏ và dọn một bãi đất xốp và mát để ương cây con. Muà Xuân là muà đẹp nhất để ươm cây, nhìn những cây đậu, cây mùng tơi, cây bầu cây bí nứt hạt hé mầm vào giữa tiết xuân mát mẻ, Hân liên tưởng đến những đứa bé được sinh ra trong tình thương , sự săn sóc trìu mến cuả ông bà, cha mẹ. Chàng không thể không nhớ đến những đôi mắt trẻ thơ ở quê nhà. Những đôi mắt đen tròn, mở thao láo bên trong vòng rào kẽm gai , thời kỳ đất nước còn chiến tranh. Những đôi mắt biểu hiện cho sự đói khổ, van xin trên những vỉa hè thành phố ngay trong thời gian đất nước đã hoà bình, Hân lại càng ngậm ngùi cho sự thống khổ cuả đất nước.

Trước khi gieo hạt, Hân đã ngâm hạt giống một ngày một đêm với nước ấm, xong được ủ vào những chiếc chậu nhỏ. Với cơn mưa xuân nhè nhẹ và cái mát mẻ cuả trời Xuân, chỉ hai hôm sau cây nứt hạt, nhúm đất con con bỗng bị đẩy ra bởi bàn tay non nớt cuả hai chiếc lá nõn, cây đã cựa mình, như đứa hài nhi cố cựa quậy để ra khỏi lòng mẹ. Rồi từ cái màu ưng ửng ấy, nhờ ánh sáng mặt trời, chỉ vài hôm lá to dần lên, xanh mướt, y như những lượt tóc tơ mượt mà trên đầu đứa trẻ nhỏ, rất thích mắt. Vẫn chưa quen với mưa nắng cuộc đời, người chủ vườn vẫn phải săn sóc cho cây với cái tình êm ái lắm, vì chỉ cần một cơn mưa nặng hạt, một buổi nắng trưa hanh hao là cái thân ẻo lả kia có thể đổ xuống ngả nghiêng, vì gốc chưa vững.

Nhìn những chồi non một ngày một lớn, tự nhiên Hân thoáng một chút bâng khuâng, vì chàng vốn là người hay suy nghĩ. Phải rồi, chàng nghĩ đến phận người, những đứa bé sinh ra trên mảnh đất vùng quê khốn khổ cuả chàng, vẫn những đôi chân không nhảy nhót trên đường làng, lùng sục trong những rẫy những ruộng để mót về những hột đậu phọng hay hạt luá còn sót lại trên đồng. Ðất nước chàng mà ở đó có những con người nuốt hết những cuả ngon, cuả ngọt, khiến những đứa bé vừa sinh ra lại được coi là gánh nặng cho xã hội, cho đất nước. Chàng biết rằng họ đã có kế hoạch làm sao cho những đứa bé không thể ra đời, với ý nghĩ hãi sợ sau này sẽ có những kẻ dành mất phần ăn cuả họ, lấy mất chỗ đứng cuả họ. Chứ họ có biết đâu rằng, con người vốn bắt đầu từ KHÔNG thì cũng trở về KHÔNG, như triệu triệu con người sinh ra, rồi lại triệu triệu con người mất đi, chỉ là để nối tiếp công việc bảo tồn đời sống cuả nhân loại. Tham sống sợ chết đã đành, nhưng sống như thế nào và chết như thế nào thì với những kẻ vô nhân, chỉ có nghiã là vơ vào cho đầy ắp túi tham cuả họ mà thôi.

Những cây đậu đuã đã vươn cao lên tới cái giàn nằm cách mặt đất độ hai thước, và khi những chú đậu non như hai đứa bé song sinh, thò hai cọng đậu dài như hai chiếc đũa qua lỗ mắt cáo trên mặt giàn, lúc ấy cả nhà đã sửa soạn có được những bữa cơm ngon với rau cỏ trong vườn. Khi cô nàng mùng tơi đã khoe những chiếc lá mọng, được chuẩn bị hái nấu với tôm tươi bóc vỏ, là khi ấy khu vườn đã bước vào tiết cuối xuân mát mẻ. Cuối Xuân khi trời còn rất xanh, bát canh mùng tơi xanh biếc hay điã đậu đũa xào tôm thịt, ăn với dưa mắm trộn tỏi ớt, thêm một chén nước mắm nguyên chất giầm với quả ớt chín chỉ thiên, chẳng ngon lắm sao??!!

Ðúng ra đâu phải cây nào cũng qua tiến trình đâm hoa, kết quả thì mới được coi là có giá trị. Rau thường chỉ ăn lá, mà thứ trúc đào chỉ cho hoa đỏ thắm, dù không ăn uống được nhưng nàng ta vẫn có cái thắm tươi riêng biệt để tô điểm cuộc đời. Những bông hoa lài thường toả hương thơm vào buổi tối, dưới ánh trăng, mùi thơm thoang thoảng trong không gian như đã đủ sức làm dịu đi nỗi mệt nhọc sau một ngày làm việc. Nếu không nhờ những cánh hoa ấy, mùi hương ấy làm sao con người có thể quân bằng nội tâm. Rồi những loại rau như cây bù ngót, thân khẳng khiu và ngay đuỗn mọc ra những chiếc lá xanh nho nhỏ, chỉ cần hái đầy một rổ, vò sơ rồi nấu với chút thịt nạc băm nhuyễn, mát đáo để. Người khô hạn, phổi hanh hao, mắt mờ, đầu váng vất, nắm lá xanh ấy có tác dụng thần kỳ, cái nóng cái khô như biến ngay đi, dễ chịu như được người con gái đắp chiếc khăn mặt ướt lên trán vào một trưa hè.

Cây cỏ trong khu vườn rau cuả Hân , giống như thần dân cuả một vị vua nhân đức, được hưởng phúc ấm cuả người lãnh đạo mà làm đẹp cuộc đời. Ðấy cũng nhờ ở cách dùng, cách trân trọng tối đa, nhờ thế mà cây tươi tốt, xum xuê, nẩy hoa đơm trái. Chân lý ấy mà áp dụng được trong một gia đình, một tập thể, một quốc gia thì hẳn nhiên đã có thiên đàng tại thế.

Nhìn vườn rau xanh tươi tốt cuả mình, Hân có cái vui đang làm một điều gì có ích lợi, dẫu rằng chỉ thu hẹp lại trong thế giới cây cỏ. Muốn thực hiện được sự công bằng không thiên vị cho bất cứ loại cây nào, lợi nhiều hay ít thì người chủ vườn vẫn phải có cái nhìn vô tư và thẳng thắn. Lão bí rợ không thể ỷ mình có sức khoẻ, cành lá mập mạp mà lấn sang mảnh đất cuả đám rau má trẻ con nằm nép bên vệ rào, dẫu rằng công dụng cuả lão có đa năng, đa hiệu thật đấy. Ðọt bí xào tỏi ăn bùi và thơm, khi kết trái thì quả nào quả nấy to đùng như bụng ông địa, thứ ấy mà đè lên mảng rau má kia thì chúng chỉ có chết, bởi vậy Hân cũng chỉ cho chúng lan tràn đến mức nào thôi.

Chàng thú vị nhân cách hoá cho đám cây cỏ cuả mình. Mỗi thứ cây là một loại người khác nhau, một chỗ đứng khác nhau, chàng chỉ dung hoà chúng chứ không cai trị, vì con người có thói quen thích lãnh đạo và lấn lướt người khác. Những vạt rau má bé tý teo như những đồng tiền hai mươi lăm xu, xem vậy mà lợi hại ra gì, cứ xay ra để uống với chút đường và đá, mát tì mát phổi không thứ nào bằng, còn kẹt lắm nấu suông với lon súp gà, thêm mấy con tôm khô, cũng có một tô canh mát mẻ. Có từng xực những bữa ê hề thịt thà, ít rau cỏ, mới thấy quý khi được ăn một bát canh rau, bao nhiêu sân si lắng xuống , lòng cứ nhẹ tênh như bay về chốn non bồng nước nhược.

Với lũ cây non be bé Hân nâng niu như trẻ thơ, thì với mấy cây già cỗi sắp tiêu diêu về bên kia thế giới, Hân vẫn có cái trân trọng như trân trọng người có tuổi. Có lẽ cũng từ sự tương quan tuổi tác mà chàng có sự săn sóc ấy chăng? Suy bụng ta ra bụng người, cây mười tuổi như người trăm tuổi, nhất là với những cây có đời sống ngắn ngủi.

Hân nhớ có một lần chàng đau nặng, lúc nào người cũng ren rét, bệnh chẳng ra bệnh gì, nằm liệt một chỗ mấy tháng trời. Trận ấy may là chàng thoát chết, lúc tỉnh hồn tỉnh viá, Hân soi gương thấy mặt mũi vêu vao, hốc hác, thoát chết lần ấy, chàng tự nhủ phải tận dụng những giây phút quý giá cuả đời người mà làm điều gì hữu ích cho cuộc sống. Cận kề giữa hai bờ sinh tử, lơ mơ nhìn ánh nắng chiều se sắt ngoài hàng dâm bụt đỏ, mảng trời xanh không một gợn mây, chàng thấy đời quả đẹp vô cùng. Từ đấy chàng tự hỏi, sao không làm điều gì đẹp đẽ để lúc hai tay buông xuôi sẽ không ân hận, tiếc nuối, để biết cái hạnh phúc khi được làm người, cũng bởi cái ân sủng từ nhiều kiếp trước mà thành. Lỡ như, Hân mỉm cươì khi nghĩ nếu mình ăn ở chẳng ra chi, trời cho tái sinh làm kiếp vịt quạc quạc, lại có ai đó ân oán với mình từ kiếp trước, cắt cổ làm bữa tiết canh thì còn gì là đời vịt.

Hân hay nghĩ vớ vẩn, nghĩ lung tung rồi cười một mình cho đời đỡ buồn. Sống cũng nhiều, vui cũng nhiều, buồn cũng nhiều, nhìn chặng đời qua thì chỉ những hận thù, bon chen, bóc lột, ganh ghét. Hân vẫn mơ tưởng một ngày mình làm vua, không phải để vui hưởng vinh hoa phú quý như các vị vua trần thế, nhưng ít ra chàng sẽ cố gắng lập lại cái thanh bình trật tự cho thần dân cuả mình, hưởng thực sự nền thái bình thịnh trị.

Ðời đâu dễ mà mơ được một giấc mộng trọn vẹn như thế. Thôi thì chàng trồng cây, trồng rau, trồng hoa, rồi đem cung cách cuả mình mà sắp xếp , săn sóc cây cỏ như vua thương dân, để an ủi cho riêng mình là đã thực hiện được những hoài bão tốt đẹp, ít là cho loài thực vật. Khu vườn rau quê hương, là cả một giang sơn gấm vóc, một bờ cõi có ranh giới hẳn hoi, có trên có dưới, không lấn áp kèn cựa, không nâng ai quá đỗi để tủi hổ kẻ tầm thường, một xã hội cây cỏ chan hoà tình yêu thương, không gian dối.

Còn một vài việc tuy bận rộn Hân vẫn phải làm. Ðó là cây kim quất nay đã gần chục tuổi, đã quá tuổi xuân xanh và đang vào độ tàn héo. Mỗi lần rắc một lượt phân, lượt đất cho cây, Hân vẫn hóm hỉnh: " Chào cụ". Chả biết cụ quất có bịnh hoạn gì không mà dù chăm cách mấy cụ vẫn không tươi lên được, hay là tai cụ nghễnh ngãng cho nên không nghe được tiếng gió xuân đã thì thào về với đất trời, y như người đã ốm, đã già, máu không lưu thông nên lúc cố đâm được mấy chiếc lá non, thì chỉ một sáng một chiều đã héo ngay đi, trông rất thương tâm. Chục năm trước, độ còn xuân xanh, muà Xuân như khoác một chiếc áo vàng óng ả lên cây kim quất trẻ tuổi, quả trĩu cành, hoa trắng muốt, lá biếc xanh. Hân dạo ấy cũng biết làm thơ, chàng cảm khái khi nhìn muà Xuân về với hai vần thơ nhỏ:

" Muà Xuân em mặc áo vàng,

Ðất trời như đã rộn ràng quanh tôi."

Cây kim quất nay đã già, cũng biết rét run lẩy bẩy khi cơn gió Ðông thổi về, dù đã được Hân che chắn, chăm sóc cẩn thận.


* * *

Hân vẫn gửi tất cả tâm tình, cả trái tim cuả mình cho cây cỏ, như chàng vẫn hướng về quê nhà với nỗi niềm thiết tha mong đợi. Một ngày nào đó những mầm non sẽ mọc lên, sẽ làm xanh tươi lại một đất nước thống khổ vì chinh chiến kéo dài hàng bao nhiêu năm, sẽ thay đổi bộ mặt tổ quốc với những cái tâm trong sáng, biết thiết tha với tiền đồ cuả dân tộc.

Với một khuôn mặt trầm lặng và tính tình kín đáo, cộng thêm tư tưởng có vẻ lập dị, người không hiểu chàng sẽ có thể nghĩ chàng là kẻ có tính hơi man mát, điên điên, mấy ai đã nghĩ tới được chiều sâu của một con người nặng lòng với quê hương, xứ sở. Tổ quốc ở bên kia giờ này vẫn còn đầy những con sâu đục rỗng xương tuỷ dân tộc, còn kẻ tha hương vẫn chưa tìm được lối về, những con én vẫn bay nhưng muà xuân thì chưa thấy. Ðường về thì thiên hình vạn trạng, con người vẫn đục trong lẫn lộn. Ðến bao giờ mới hết cảnh người hiếp đáp người, xứ sở được vươn lên, đất nước không bị áp bức?

Thôi thì trong hiện tại, trên mảnh sân này, Hân đã thực hiện được điều ấy với cây cỏ trong vườn rau quê hương cuả chàng.

NGUYÊN NHUNG

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


HỦ TIẾU GÕ Về ĐÊM


Văn Lang

Saigon về khuya (kể cả những đêm mưa lạnh), tại các khu phố bình dân, sâu trong các con hẻm vẫn nghe tiếng rao hàng: "Bánh giò... ơ!"Bánh giò... ơ!" và tiếng gõ "lóc cóc,"lóc cóc."à Đó đích thị là tiếng "rao mời" của hủ tiếu gõ.

Bánh giò thì 2 ngàn đồng một cái nóng hổi "vừa thổi vừa ăn," còn hủ tiếu "gõ" thì 3 ngàn đồng một tô cũng nóng hôi hổi không thổi ăn cũng được nhưng "phỏng" lưỡi ... ráng chịu. Nếu "khổ chủ" nghèo, chỉ có hai ngàn thì người bán hủ tiếu gõ cũng không ngần ngại bán "tuốt," dĩ nhiên đó là một tô hủ tiếu "không người lái," tức không có thịt. Ăn vậy càng "diet." Tốt chán!

Nói về thịt trong hủ tiếu gõ (bao giờ cũng là thịt heo) luôn được "xắt" rất ư là"nghệ thuật." Miếng thịt cũng "to" như những hàng hủ tiếu bình thường khác, nhưng "bề dầy" luôn rất "khiêm tốn" vì luôn mỏng nhự.. tờ giấy. Với dáng vẻ "mỏng manh, kiêu sa" như vậy của vài "lát" thịt "xiển dương" cho tô hủ tiếu gõ, có lẽ chỉ hợp với cách ăn uống của các "yểu điệu thục nữ," tiểu thư con nhà giàu (?)Chứ với dân lao động thì vài lát thịt mỏng tanh như vậy, ăn chưa đủ dính "kẽ răng." Nhưng biết làm sao được? Vì tiền nào của nấy! Muốn ăn ngon, ăn no thì vô khu người Hoa trong Chợ Lớn, ăn tô hủ tiếu Nam Vang 25 ngàn đồng một tô, đủ cả thịt, tôm, gan, mỡ...

Nhưng ăn hủ tiếu gõ không ai mê ăn thịt, chủ yếu ăn lót lòng cho đỡ đói hầu tìm giấc ngủ qua đêm. Hủ tiếu gõ được cái luôn nóng, phục vụ tận nơi, cũng đầy đủ giá, hẹ, chanh, ớt, tăm... Nếu cảm thấy tô hủ tiếu 3 ngàn ăn không đủ no, có thể tùy "hỷ" thêm vào... "cơm nguội" rồi "xịt" thêm nước tương, dầm vài ba trái ớt hiểm cay "xé lưỡi" là cũng đủ "ngất ngư con tàu đị"à Có điều lạ là hầu như tất cả những người bán bánh giò dạo là dân Bắc, thì hầu hết những người bán hủ tiếu gõ là dân miền Trung gốc Quảng Ngãi.

Dân Nam "bản địa" không bán hủ tiếu gõ mà bán hủ tiếu "thất nghiệp." Hủ tiếu "thất nghiệp" giống hủ tiếu gõ về mặt "nội dung" và giá cả nhưng khác hủ tiếu gõ về "hình thức" bán.

Chẳng hạn, trong một xóm nghèo của người miền Nam, một gia đình nào đó đang "thất nghiệp" và nhận thấy đầu hẻm đang còn trống bèn bày ra đó vài cái bàn, cái ghế, đặt thùng "nước lèo" ít "phụ tùng" rồi "nổi lửa" bán hủ tiếu "thất nghiệp" cũng 3 ngàn đồng một tộ Nhưng họ không đi dạo trong hẻm và không... gõ. Hủ tiếu "thất nghiệp" luôn ngồi "cố định" và thường là chỉ bán buổi sáng, hoặc trưa, tuyệt nhiên không bán vào lúc tối, hoặc đêm. Người bán hủ tiếu thất nghiệp và người ăn hủ tiếu thất nghiệp thường là người cùng xóm quen thân lâu đời, do vậy khi bị "kẹt"chưa có việc làm có thể ra ăn rồi "ký sổ" khi nào đi làm có tiền sẽ "thanh toán." Có lẽ chính vì vậy mà người Nam gọi hủ tiếu đầu hẻm là hủ tiếu "thất nghiệp."



Ngược lại, hủ tiếu gõ do người Trung bán thì đều là dân "nhập cư" và họ không thân quen với cư dân "bản địa" đủ để cho.. thiếu. Nồi "nước lèo" của hủ tiếu gõ được đặt trên một chiếc xe "lưu động," được thiết kế như một "quầy" bán hủ tiếu bình thường. Giúp cho người "chủ quán" đẩy từ khu nhà trọ ra "góc phố" nào đó mà họ "nhắm" là thuận lợi thì dừng lại và bầy bàn ghế rạ Nếu khách ăn đông thì một hoặc hai "đệ tử" (những đứa nhỏ 13.14 tuổi, được thuê, cũng ở quê ra) sẽ bưng bê, chạy bàn cho khách ăn ngay tại vỉa hè, nếu khách vắng, hoặc trời mưa, các "đệ tử" này phải đi sâu vào các con hẻm, vừa đi vừa gõ "lóc cóc,"lóc cóc"à để mời khách.

(Dụng cụ để gõ là một cây sắt nhỏ "đập" đều đều vào một miếng gang hay thép chi đó, có khi là hai khúc gỗ tốt - tùy phương tiện khả thi).

Hủ tiếu gõ nói chung là "cơ động" và "chuyên nghiệp" hơn hủ tiếu "thất nghiệp." Vì hủ tiếu gõ bán ngày tới hai "cữ." Cữ 1, từ một giờ trưa tới 5 giờ chiều (địa điểm thường gần khu lao động, xí nghiệp may). Cữ 2 - từ 7 giờ tối tới 1 giờ sáng (địa điểm gần xóm lao động nghèo nhưng cũng phải tiện đường cho xe cộ) vì dân đi chơi hay làm ăn khuya cũng thường hay ghé ăn hủ tiếu gõ.

Gần khu vực căn cứ 26, quận Gò Vấp, tôi gặp Long, chàng trai 17 tuổi, dân Bình Định, có "thâm niên" làm thuê cho xe hủ tiếu gõ đã được 5 năm. "Ông chủ" của Long là một người đàn ông quê Quảng Ngãi. Lúc mới "vô nghề" bưng, bê, gõ... lương tháng của Long là 300 ngàn đồng.

Bây giờ thì Long đã có thể thay chủ "đứng bán" cho khách, lương của Long được "nâng lên" là 500 ngàn đồng (được bao luôn ăn và chỗ ngủ). Cùng bán với Long là một cô bé "đen đúa" gầy như "que củi," chủ yếu đi "gõ," lương tháng được trả 350 ngàn đồng (bao ăn, ngủ thì về với mẹ, mẹ cô bé bán vé số dạo, thuê nhà gần "ông chủ" hủ tiếu gõ).

Tôi hỏi Long, đứng bán suốt như vậy có thấy cực không? Long nói quen rồi, nhưng nói thêm. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu ngủ!

Một giờ sáng đẩy xe hủ tiếu về, dọn dẹp, rửa xong hết mọi thứ, 2 giờ sáng mới được "ngả lưng" cho tới 10 giờ sáng hôm sau, thức dậy chuẩn bị cho cữ trưa đi bán và lại cho tới 2 giờ sáng mới đi ngủ, ngày ngày cứ vậy...

Tôi hỏi Long vừa đứng bán, vừa đi gõ vậy có mỏi chân không? Long lắc đầu -gần thì đi bộ, xa một chút thì đi xe đạp... Long cho tôi biết "ớn" nhất trong nghề này là "phải" ăn hủ tiếu hoài hoài mỗi ngày. Riết rồi nhìn thấy hủ tiếu là phát... bệnh.

Tôi hỏi: "Bộ không ăn cơm à? Long cho biết chỉ ăn có bữa cơm trưa, còn từ tối tới khuya khi nào đói thì tự nấu hủ tiếu mà ăn.

Tôi hỏi Long bán suốt không có ngày nghỉ như vậy, rồi làm sao có bạn bè, đi chơi? Long cười, đi chơi thì không, nhưng bạn bè thì có. Tôi hỏi Long thường chơi với ai? Long nói, thường chơi với mấy đứa cũng bán hủ tiếu gõ. Gặp nhau trên đường "công vụ," nói vài ba câu chuyện rồi "phân công": Mày đi hẻm này, tao đi hẻm kia...

Gần 10 năm trước, trên địa bàn Gò Vấp có xảy ra một vụ trọng án. Nạn nhân là một cô bé bán hủ tiếu gõ. Cô bé khoảng 13 tuổi, đen, gầy, ăn bận dơ dáy, tóm lại không có chút gì gọi là "gợi cảm," trừ lòng thương hại. Vậy mà, trong một đêm đi bán hủ tiếu gõ, được một bàn nhậu gồm mười mấy tay thợ hồ (cũng gốc miền Trung) kêu đem hủ tiếu cho họ. Lúc đó cả bọn uống rượu đế đã say "quắc cần câu," một tên trong bọn nổi "thú tính" bèn đè cô bé kia ra cưỡng hiếp tới chết. Đáng căm giận mà cũng đáng tiếc là cả bọn thợ hồ kia không tham gia nhưng cũng không tìm cách can ngăn đồng bọn.

Cuối cùng ra tòa, tên thợ hồ kia bị kêu mức án cao nhất, trong khi vợ hắn đang mang bầu đứa con đầu lòng. Những cảnh đời vừa đáng thương vừa đáng giận, cũng không biết nói sao khi người xưa đã có câu: "Thượng bất chính, hạ tất loạn!" Đổi mới, đổi cũ chưa thấy đâu chỉ thấy đám quan tham ăn chơi... mát trời ông địa.

Như mấy "trự" ở PMU 18, cá độ đá banh sương sương vài vụ "banh" vài triệu... đôla. Thua bạc thì đè ngay mấy em, cháu sinh viên "làm thịt" tại chỗ. Trụ Vương có đội mồ sống dậy cũng phải gọi "các bác" ở Bộ giao thông vận tải bằng... cụ. Nhiều lúc chỉ muốn "quăng bút" theo gương Cao Bá Quát ngày xưa đi... "làm giặc!"

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mối Tình "Công Nương & Tổng Thống"

Sự thật đã được phơi bày, Công nương và tổng thống chỉ là một câu chuyện hư cấu hoàn toàn.
Cuộc bàn tán xôn xao trên các phương tiện truyền thông Anh và Pháp đã vô tình quảng cáo rất hiệu quả
cho cuốn tiểu thuyết của cựu tổng thống Valéry Giscard d’Estaing

Image
Tiểu thuyết Công Nương và Tổng Thống đã được bày bán sớm hơn kế hoạch một tuần ở Paris. Ảnh: AP
Chiến dịch quảng cáo cuốn Công nương và tổng thống bắt đầu từ một sự kiện báo chí: Nhật báo Le Figaro số ra ngày 21-9 cho chạy trên trang nhất bức ảnh của ông Giscard với công nương Diana ngồi gần nhau tươi cười dưới một dòng tít lớn “Công nương và tổng thống, một câu chuyện khó tin”. Bên trong, tờ báo dành cả một trang nói về “Những mối tình lãng mạn của công nương và tổng thống”.

Trở thành đầu đề bàn tán
Bài đinh “độc quyền” của trang báo tường thuật tóm tắt nội dung cuốn tiểu thuyết với một vài trích dẫn thích hợp để đặt vấn đề: Có phải ông Valéry Giscard d’Estaing (tên thường gọi là Giscard) từng cặp bồ với công nương Diana? Tờ báo kết luận: “Chỉ có cựu tổng thống (Giscard) mới nắm được bí mật của câu chuyện ỡm ờ này”.

Tiết lộ giật gân nói trên khiến cuốn tiểu thuyết diễm tình của ông Giscard trở thành đầu đề của nhiều bài báo và bình luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng hai bờ biển Manche. Trong khi báo chí Anh nghi ngờ và bỡn cợt “câu chuyện tình tưởng tượng” của ông Giscard, thậm chí giận dữ vì công nương Diana, một trong những người làm rạng danh nước Anh, bị một ông già (năm nay, cụ Giscard đã 82 tuổi) Pháp đem ra làm mồi câu khách thì phần lớn các báo Pháp và Tây Âu thắc mắc về ý đồ thật sự của ông Giscard.

Nhật báo Thụy Sĩ Le Matin dẫn lời Jean-Pierre Corcelette, người viết tiểu sử của ông Giscard, cho biết: “Điều cốt yếu đối với ông Giscard là được người ta nhắc đến ông”. Ngoài ra, người ta ngờ rằng ông muốn đánh bại ông Jacques Chirac theo kiểu “đánh phủ đầu” trên mặt trận bán sách bởi cuốn hồi ký của ông cựu tổng thống nổi tiếng hơn ông Giscard này sẽ ra mắt độc giả vào cuối tháng 10.

In thêm 20.000 bản
Theo phân tích của nhà báo Dominique Chabrol viết trên bản tin AFP, đó mới chỉ là màn một của kịch bản lăng xê cuốn Công nương và tổng thống của Nhà Xuất bản XO mà Tổng Giám đốc Bernard Fixot không ai khác hơn là rể ông Giscard. Màn hai diễn ra ngày 22-9. Cũng tờ Le Figaro dành thêm một trang báo nói về “Giscard và Diana”. Cây bút Stéphane Bern, một chuyên gia về những mối tình vương giả, tự hỏi: “Nên chăng thêm cái tên cựu tổng thống (Giscard) vào danh sách những người tình nổi tiếng của cố công nương Diana?”...

Và đây là màn ba (kết thúc): Sau khi để thiên hạ đoán già đoán non 48 giờ, ngày 23-9, ông Giscard thú nhận trong một cuộc phỏng vấn mà nội dung được tiết lộ sớm để trấn an dư luận của tuần báo Le Point (số phát hành ngày 1-10) rằng ông đã “bịa ra các sự việc, ngoại trừ địa điểm và bối cảnh. Đây là một cuốn tiểu thuyết mà Diana là nhân vật chính. Tôi muốn thử làm sống lại cô ấy như lúc sinh thời”.

Ông Giscard cho biết thêm ý tưởng cuốn tiểu thuyết tình cảm của ông là của công nương Diana khi hai người gặp nhau năm 1994 và đàm đạo về chuyện tình của các nhà lãnh đạo nước lớn. Cũng nhân dịp này, ông Giscard than phiền rằng: “Văn hóa chế độ cũ cứ muốn các cựu tổng thống Pháp không nên làm gì hết, nhất là đừng lao động. Họ chỉ có quyền phát hành những cuốn hồi ký mà không ai muốn đọc. Tôi không chấp nhận tình trạng đó và theo thời gian, tôi cảm thấy mình càng ngày càng tự do hơn”. Tờ Le Figaro cho biết thêm lúc đầu ông Giscard định lấy bút danh là Anne Eaux-Nime, trùng âm với anonyme (nặc danh). Nhưng nhà xuất bản đã thuyết phục ông nên ký tên thật vì bút danh đó không ổn và khó bán được sách.

Chiến dịch quảng cáo nói trên đã thắng lớn. Thay vì đợi đến ngày 1-10 mới phát hành, Nhà Xuất bản XO đã cho phát hành hôm 24-9. Số đầu sách in ban đầu dự trù 100.000 bản đã được in thêm 20.000 bản theo các đơn đặt hàng gửi tới tấp đến Nhà Xuất bản XO trong mấy ngày qua.

Tác phẩm có nhiều sạn
Hầu hết các nhà phê bình văn học đều không hài lòng với cuốn tiểu thuyết (thứ hai) của viện sĩ hàn lâm Pháp Valéry Giscard d’Estaing. Nhà phê bình Thierry Bellefroid cho rằng ông Giscard vận dụng lối hành văn của tiểu thuyết tình cảm một cách dễ dãi, lạm dụng sáo ngữ. Văn chương của ông – người từng soạn thảo bản hiến chương châu Âu - khá cẩu thả. Là một viện sĩ hàn lâm nhưng thật lạ, ông viết không ít câu cú sai ngữ pháp. Ông cũng mắc những sai lầm “khủng khiếp” như viết thủ tướng Churchill qua đời năm 1945 thay vì 1965. Hoặc ông mô tả “những kẻ hiếu kỳ chụp ảnh bằng điện thoại di động” trong khi bối cảnh cốt truyện diễn ra năm 1985.

Trên một bình diện khác, nhà báo Gilbert Collard trên tờ France Soir lại thấy tội nghiệp cho vợ ông Giscard. Dưới tựa đề Những bó hoa cho Anne-Aymone, Gilbert cho rằng dựng lên câu chuyện tình tưởng tượng này, ông Giscard đối xử không lịch sự với công nương Diana và Anne-Aymone, vợ ông.

Ông Giscard tỏ ra bình thản trước những lời chỉ trích tác phẩm cũng như cá nhân ông. Đêm thứ sáu tuần rồi, xuất hiện trong một chương trình truyền hình France 2, ông Giscard cho biết ông không ngờ bị chỉ trích gay gắt như thế. Tuy nhiên, ông nói đã quen với chuyện đó mặc dù không dễ có được thói quen như vậy. Ông nói: “Họ (các nhà phê bình) chế giễu tôi thế nào không quan trọng. Bị độc giả chế giễu mới làm cho tôi cảm thấy bị tổn thương chút ít”.

Theo nguồn tin của nhật báo Le Monde, Công nương và tổng thống là quyển đầu trong bộ tiểu thuyết ba quyển mà ông Giscard đang viết. Nữ nhân vật chính trong quyển thứ nhì sẽ là Jackie Kennedy và trong quyển cuối cùng là công nương Grace Monaco.
Print

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Máy giặt không dùng nước

Xưa nay, sinh hoạt tắm rửa, giặt giũ của con người đi liền với… nước. Tuy nhiên, trong một tương lai rất gần, việc sử dụng nước, ít ra cho giặt giũ, có thể sẽ giảm đến 90% nhờ một phát minh mới của các học giả người Anh: Máy giặt đồ khỏi cần nước. Sáng chế này có thể tạo ra một cuộc cách mạng trong kỹ nghệ giặt giũ, tiết kiệm điện nước, và giúp bảo vệ môi trường.

Những thử nghiệm đầu tiên cho ý tưởng này diễn ra âm thầm trong hơn 4 năm qua tại trường Đại học Leeds (Anh quốc) dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Stephen Burkinshaw. Sau đó, Cambridge Consultants Group chế tạo những hạt nhựa dẻo đặc biệt (plastic chip), cỡ nhỏ, với hình dáng na ná hạt gạo, và thiết kế một cơ quan tinh xảo nhằm hút các hạt “gạo dẻo” này sau khi giặt xong. Hiện nay, hãng Xeros đảm trách sản xuất đại trà và quảng bá máy giặt đến với người tiêu dùng.



Giáo sư Stephen Burkinshaw và một nắm “gạo dẻo”

Image



Thay vì lãng phí nước, chiếc máy này giặt quần áo với 44 pound (20 kg) “gạo dẻo”, loại “gạo” có thể được dùng đi dùng lại tới 100 lần. Mỗi khi sử dụng, bỏ quần áo vào máy như bình thường, cùng với bột giặt hòa tan trong một cúp nước, và thêm lượng “gạo dẻo” cần thiết. Trong khi máy chạy, nước xà bông được hâm nóng, bốc hơi, tạo ra một môi trường ẩm ướt, giúp tẩy sạch quần áo, từ những chấm vàng cam li ti trên ngực áo sau khi ăn… bún bò Huế, đến những vết… son môi. Sau đó, các hạt “gạo dẻo” sẽ hút hết chất bụi và thấm nước dơ đi.

Image



1. Nơi chứa quần áo
2. Nơi nạp “gạo dẻo”
3. Nơi nạp nước và xà bông
4. Hạt “gạo dẻo” hút chất bẩn
5. Hút “gạo dẻo” sau khi giặt



Do sử dụng chỉ 20% lượng nước so với các máy giặt đồ cổ điển, máy có thể bớt đi nhiều tỉ lít nước hàng năm. Và vì quần áo giặt xong không bị ướt nên bạn có thể khỏi cần đến máy sấy, tiết kiệm ít nhất 30% năng lượng. Máy giặt đồ dùng “gạo dẻo” cũng cắt giảm lượng khí thải carbon tương đương với việc bớt đi hàng triệu xe hơi trên đường phố.

Image





Phát minh này nhận được nhiều hậu thuẫn vì tiện lợi cho người tiêu dùng, tốt cho môi trường, và hứa hẹn lợi nhuận khổng lồ. Nhu cầu dùng máy giặt đã tăng thêm 23% trong 15 năm qua. Lợi nhuận trên thị trường máy giặt toàn cầu ước lượng lên 20 đến 50 tỉ Mỹ kim hàng năm. Hãng Xeros vừa công bố những chiếc máy giặt dùng “gạo dẻo” đầu tiên sẽ ra mắt người tiêu dùng Anh quốc vào năm tới và sẽ đến thị trường thế giới trong một thời gian không xa

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Ðâu Là Sự Thật ?

Ðặng Xuân Khánh (Sinh viên trẻ đang sống trong lòng quê hương VNXHCN)



Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Dim”, ”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…

Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi! Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

Theo ước tính của các cơ quan truyền thông, thông tin quốc tế thì hơn 1 triệu người đã đi bằng hình thức này (h**p://archives. cbc.ca/id- 1-69-324/ l...ty/boat_ people).

Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 - 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?

4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960???

Ðặng Xuân Khánh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bốn trăm hạt giống Bồ Ðề

Ngô Nhân Dụng

Quế Ðường Lê Quý Ðôn (1726-1784) là một nhà Nho, một học giả đại danh trong lịch sử Việt Nam. Trong cuốn Kiến Văn Tiểu Lục (bài tựa viết năm Cảnh Hưng 38, tức 1777) có một chương “Thiền Dật” nói về đạo Phật ở nước ta. Trong đoạn mở đầu chương này, Lê Quý Ðôn đã phải dùng nhiều lời biện minh cho những đóng góp của Phật Giáo. Ðiều đó chứng tỏ trong thế kỷ 18 và trước đó đã nhiều nhà Nho bầy tỏ ý kiến chống đối đạo Phật. Ðể chứng tỏ đạo Phật có vai trò tích cực, Lê Quý Ðôn đã chứng minh rằng trong giáo lý của Ðức Thích Ca có đủ cả đạo hiếu, đạo trung; và ngược lại chính Khổng Tử cũng khuyên răn người quân tử phải trừ bỏ ba tật xấu Tham, Sân, Si không khác gì Phật Ðà (trong thiên Quý Thị, sách Luận Ngữ).

Chúng ta kính trọng ý kiến của phu tử Quế Ðường. Nhưng với con mắt của những kẻ hậu sinh đã được tiếp xúc với nhiều trào lưu tư tưởng và kinh nghiệm sống khác, phải nhìn nhận rằng Phật Giáo còn đóng góp nhiều hơn cho cuộc sống của loài người chứ không phải chỉ có vai trò hỗ trợ cho Nho Giáo, là học thuyết chính thức được chế độ quân chủ tập quyền công nhận. Hiện nay người Tây phương cũng đi tìm học và tu tập theo Phật Giáo chính vì họ tìm thấy trong đó những cách nghĩ và sống mang lại an lạc cho con người và cho xã hội. Ðạo Phật cống hiến những phương pháp Sống An Lạc, nói theo lối ngày nay, là sống hạnh phúc đích thực. Bao nhiêu người Việt Nam đang tu tập theo cách chỉ dẫn của các Thiền Sư Thích Thanh Từ và Thích Nhất Hạnh, họ đang đem bản thân và cuộc đời của mình chứng minh ai cũng có thể đạt tới hạnh phúc chân thực đó. Và mọi người nên tìm cách rèn luyện cho mình sống được như vậy. Nhất là những người muốn lo việc chính trị hay kinh doanh, có ảnh hưởng lớn lao trên những người khác. Vì một người không sống bình an, hạnh phúc với chính mình thì sẽ không thể tạo nên an vui cho người khác được.

Sáng hôm qua tôi gặp một người bạn trẻ tuổi đang chủ trương một công ty đầu tư lớn ở Huntington Beach, California. Trong câu chuyện thân tình tôi có khuyên anh nên tìm dự một khóa tu tập thiền quán, như các thầy người Thái Lan, Tây Tạng, Ấn Ðộ hoặc Tích Lan đang dậy ở khắp nơi trong nước Mỹ. Thị trường lên xuống do lòng Tham và sự Sợ hãi thúc đẩy. Nếu mình tập làm chủ được lòng Tham và nỗi Sợ thì có thể tránh được nhiều lầm lẫn, sẽ dễ thành công hơn. Tôi nghĩ các bạn trẻ khác ở Việt Nam, đang kinh doanh, đang đi học hay hoạt động trong những lãnh vực khác cũng nên tu tập để sống như vậy. Chính họ sẽ tìm được hạnh phúc đích thực và có thể trở thành hữu ích cho đất nước hơn.

Một hình ảnh làm nhiều người ngạc nhiên và phát lòng kính trọng là các thiền sinh ở Tu Viện Bát Nhã sống trong cảnh đe dọa và đàn áp của công an tỉnh Lâm Ðồng với thái độ thong dong và dũng cảm. Họ chứng tỏ đã làm chủ được sân si và không hề sợ hãi. Gần bốn trăm người sống dưới áp lực của căm thù và bạo động nhưng không bị lay chuyển. Họ sống trong những xóm mang tên Bếp Lửa Hồng, Mây Ðầu Non, Rừng Phương Bối, vân vân. Trong những video được truyền bá trên các mạng lưới chúng ta có thể vào coi, những tăng ni phần lớn ở lớp tuổi 20 hoặc trẻ hơn xuất hiện như những hình ảnh trang nghiêm, hiền hòa, giữ đúng cung cách “đi, đứng, nằm ngồi” mà các thiền sư Liễu Quán, Bách Trượng, Quy Sơn đã vẽ ra từ hàng ngàn năm trước, gọi là “uy nghi” của người xuất gia. Trong lúc video chiếu cảnh công an và những người được thuê đến đập phá các ngôi nhà trong tu viện, phá đến cả pho tượng bà mẹ cầm tay dắt hai con, một pho tượng vô tội, thì từ trong tự viện vẫn vang lên ngân nga tiếng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Những người tu hành trẻ tuổi này cho thấy họ không sợ, không giận, không tham, ung dung, thanh thản, theo đúng một danh hiệu khác của Bồ Tát Quan Âm là Quán Tự Tại.

Ðó là những cây bồ đề nhỏ đang mọc lên ở nước Việt Nam. Họ là những tấm gương sống động cho tuổi trẻ nước ta nhìn vào, tìm hiểu, và noi theo. Phật Giáo có thể đóng góp cho tuổi trẻ nước Việt Nam rất nhiều, để tự xây dựng mình và giúp cho đất nước. Dù họ theo bất cứ tôn giáo nào hay không có tôn giáo, mỗi thanh niên Việt Nam cũng nên đi tìm cho mình một cách sống có ý nghĩa, xây dựng một lý tưởng cho cuộc đời của họ. Hãy sống như những tăng ni đã tu tập ở Bát Nhã, mà bây giờ đang lâm cảnh “lưu vong” ngay trên đất nước của mình. Họ muốn tu hành nhưng không được phép tu, mặc dù không ai nói một lời, làm một việc nào chống lại chính quyền và cái đảng độc tài tham nhũng đang cai trị. Khi được các nhật báo và đài phát thanh ở nước ngoài phỏng vấn, tất cả những vị thiền sinh còn có dịp lên tiếng đều cho biết họ không hề nhận được một chỉ thị nào của thầy của họ ở nước ngoài. Ðảng gán và chính quyền Cộng Sản không thể nào vu cáo cho họ là đã bị “những thế lực phản động ở ngoài” xúi giục, như họ đã ghép cho các ông Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, hoặc cô Lê Thị Công Nhân.

Nhiều Phật tử ở Việt Nam lên tiếng, “Hãy cứu lấy gần 400 cây bồ đề nhỏ này!” Nhiều vị tôn đức trong nước đã can đảm đứng ra bênh vực và sẵn sàng đùm bọc các tăng ni trẻ đó. Hòa Thượng Thích Toàn Ðức, trong ban lãnh đạo Phật Giáo Lâm Ðồng, đã dũng cảm khi tuyên bố các tăng ni Bát Nhã không có tội nào đối với đạo Phật, không làm hại gì cho đất nước, cho nên phải được phép tiếp tục tu tập. Thượng Tọa Thái Thuận, chùa Phước Huệ là người đã bị công an đánh khi ông tới thăm các thiền sinh Bát Nhã trước đây, nay đã đưa tay đón nhận các thiền sinh này. Ngôi chùa Phước Huệ nhỏ nằm kế bên một nhà thờ Thiên Chúa Giáo trong thị xã Bảo Lộc, không biết đến lúc nào công an sẽ tấn công chùa, các thiền sinh có thể chạy qua xin trú ẩn trong ngôi nhà của Chúa Giê Su! Hòa Thượng Pháp Chiếu đã tuyên bố từ chức và lên tiếng ủng hộ hành động của Thượng Tọa Thái Thuận. Một vị hòa thượng ở vùng Thủ Ðức, Sài Gòn, Thầy Minh Nghĩa cũng sẵn sàng tiếp nhận tất cả các tăng ni nếu không bị ngăn cản.

Nhưng công an đã ngăn cấm tất cả. Một viên công an đã nói thẳng với vị thầy của anh ta rằng đây là lệnh của trung ương chứ không phải là quyết định của địa phương. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không cho phép những hạt giống bồ đề được mọc lên, không cho phép những cây bồ đề nhỏ được lớn lên.

Nhưng trong nước Việt Nam còn nhiều người đang muốn tưới tẩm cho những hạt giống bồ đề được sống mãi trong lòng dân tộc. Ðồng bào đã tự động tiếp tế cơm ăn, áo mặc cho các thiền sinh Bát Nhã. Nhiều người đã tiếp tế cả các phương tiện truyền thông, từ máy chụp hình tới những điện thoại di động để các tăng ni có thể liên lạc được với nhau và với bên ngoài. Những thiền sinh trẻ nhất, những em 14, 15 tuổi đã được các anh, các chị khuyến khích về với gia đình nhưng còn những người khác vẫn tiếp tục giữ chí nguyện xuất gia không sợ hãi.

Thái độ của các tăng ni thể hiện từ bi và trí tuệ, sẽ khuyến khích tín tâm nơi người Phật tử Việt Nam và cả những người trẻ tuổi sống trong truyền thống tôn giáo khác. Ðây là một tin mừng. Khi nào còn những thanh thiếu niên Việt Nam biết sống có lý tưởng, vững tin ở lý tưởng của mình, không tham lam, không giận dữ, không sợ hãi; lúc đó chúng ta còn tin tưởng ở tương lai đất nước. Không phải chỉ có Phật Thích Ca dậy loài người sống như thế, Ðức Thánh Khổng, Chúa Giê Su cũng dậy loài người như vậy. Những người sống hết mình với đạo lý của tôn giáo mình được cha mẹ ông bà truyền thụ thì có thể giúp cải hóa xã hội chung quanh. Ðó là niềm hy vọng mà các tôn giáo đang cống hiến cho dân tộc ta.

Lê Quý Ðôn kể một câu chuyện cảm động vào cuối chương Thiền Dật trong Kiến Văn Tiểu Lục. Ông cho biết vào niên hiệu Vĩnh Hòa, cuối thế kỷ 17, ở chùa Lâm Ðộng, thuộc huyện Ðông Triều có một thiền sư hiệu là Như Ðức. Lê Quý Ðôn mô tả ngài là người “giới luật tinh nghiêm, xa gần đều kính mến”. Mỗi khi lên kinh đô đi qua cửa nhà ai thì già trẻ lớn bé đều vui mừng nói, “Thầy của chúng ta đã tới.”

Mỗi năm sư ông Như Ðức làm giỗ Tổ Ðiều Ngự, tức Vua Trần Nhân Tông là tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, năm nào cũng thấy có một đàn khỉ từ trên núi xuống cửa chùa, như đến dự lễ giỗ. Sau lễ giỗ, thầy Như Ðức mang một mâm oản và sôi ra đặt xuống đất trước cửa chùa, và nói: “Ða tạ chúng sinh đã nhớ ngày giỗ sư tổ mà đến đây...” Lê Quý Ðôn kể rằng những con khỉ, con vượn “kéo đến mỗi con cầm lấy một miếng oản rồi bước đi mà không hề tranh giành nhau gì cả. Năm nào cũng vậy.” Ðức độ của nhà sư đã cảm hóa được cả những loài thú vật.

Chúng ta hy vọng rằng những hạt giống bồ đề mọc lên từ Tu Viện Bát Nhã cũng sẽ cảm hóa được những loài khỉ và vượn thời nay.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Người Viết Mướn


Tiểu Tử

Ở chợ Plateau thành phố Abidjan (thủ đô cũ của xứ Côte d Ivoire, Phi Châu) ai cũng biết ông già viết mướn đó. Người ta gọi ông là " l'écrivain chinois" (ông Tàu viết mướn).

Xứ Côte d Ivoire - thuộc vùng Phi Châu Da Đen - ngày xưa là thuộc địa của Pháp. Dân bản xứ đi học bằng tiếng Pháp. Và vì họ gồm nhiều bộ tộc, mỗi bộ tộc nói một thổ ngữ, nên họ phải dùng tiếng Pháp để hiểu nhaụ Về sau, khi đã độc lập rồi, trường vẫn dạy bằng tiếng Pháp và ngôn ngữ chánh trong dân gian vẫn là tiếng Pháp. Những người ít học hay thất học thì nói "tiếng bồi", nghĩa là tiếng Pháp không đúng văn phạm. Mấy bà buôn bán ở chợ Plateau nói trên thuộc vào thành phần nàỵ Nhiều bà có con cái "đi làm ăn" ở Pháp hay ở Bỉ, lâu lâu cần xin gì hay cần nhắn gì, họ phải nhờ người khác viết cho cái thơ.

Ngoài ra, có nhiều người cần viết đơn từ thưa gởi nhưng không đủ trình độ để viết đúng từ ngữ hành chánh nên nhờ viết dùm.

Do đó mới có cái nghề viết mướn.

Ở khu chợ Plateau, trước đây, chỉ có một người đàn ông trung niên người bản xứ làm nghề này. Anh ta hành nghề dưới hàng hiên khu phố nhìn qua chợ, nằm cách chợ một con đường. Chỗ hắn ngồi là một bức tường nhỏ nằm giữa hai cửa hàng bán radio của người libanais.

"Dụng cụ" của anh ta là cái máy đánh chữ loại xách tay đặt trên bàn gỗ nhỏ. Anh ta ngồi trên ghế thấp vừa tầm với cái bàn, nhưng vì anh ta lớn con chân dài nên khi đánh máy anh ta phải cho hết hai chân xuống dưới bàn đưa thẳng về phía trước lòi ra một khúc, trông giống như anh ta ôm cái bàn vào lòng ! Còn "khách hàng" thì hoặc đứng hoặc ngồi xổm cạnh hai bàn chân to xù mang dép Nhựt của hắn, tỉ tê kể những gì mà họ muốn để trong thư. Anh ta gõ máy bằng hai ngón tay nhưng gõ khá nhanh, khách kể đến đâu hắn gõ theo đến đấy.

Đánh xong thơ, khách hàng đưa cho hắn mảnh giấy nhỏ trong đó có ghi rõ địa chỉ của người nhận thơ, hắn lấy trong ba lô để dưới chỗ hắn ngồi một phong bì có dán tem sẵn, đánh máy địa chỉ, cho thơ vào rồi le lưỡi liếm keo dán lạị. Người khách hàng chỉ còn có cho thơ vào thùng thơ đứng ở góc đường gần đó.

Dĩ nhiên, khi hắn tính tiền, hắn tính cả tiền giấy, phong bì, tem…

Thơ gởi đi Pháp hay đi Bỉ đều cùng một giá. Cho nên đã thành lệ, sau vài câu chào hỏi, khách hàng cứ đặt tiền trước lên bàn rồi đợi hắn sửa bộ kéo bàn vào lòng với cái máy đánh chữ lúc nào cũng " ngậm " sẵn một tờ giấy, là bắt đầu tỉ tê kể lể…

Còn đơn từ thì hắn dùng phong bì không có tem, bởi vì khách hàng mang tay đến nộp thẳng cho cơ quan liên hệ. Loại "đơn từ" này, hắn vẫn lấy bằng giá với "thơ nhà", bởi vì, theo hắn giải thích, viết cho hành chánh khó gấp mấy lần viết cho thân nhân. Bớt con tem nhưng thêm nhiều công suy nghĩ !

Một hôm, có ông già Á Đông – ốm nhom, già khú – đi lang thang với điếu thuốc trên môi, ngang qua đó nghe tiếng đánh máy lọc cọc nên tò mò đứng lại nhìn. Đợi anh đen làm xong công việc, ông già mới chào hỏi làm quen. Anh đen rất ngạc nhiên vì ông ta nói tiếng Pháp rất trôi chảy rành rọt, không giống những người á đông mà anh đã từng gặp hay quen biết. Ông già ghé đít ngồi lên bệ thềm gần đó, hỏi:
- Ông làm nghề gì vậy?

Anh đen nhăn răng cười :

- Viết thơ dùm người ta, người ta trả tiền. Ông không thấy bà hồi nãy cầm phong bì đi sao?
- Thấy. Nhưng mà hồi nãy hai người nói với nhau bằng thổ ngữ nên tôi không hiểu.

Ngừng một chút, ông già lại hỏi:
- Làm ăn có khá không?
- Ố! Cũng tạm được.

Hắn chỉ qua bên chợ :
- Khách hàng của tôi là mấy bà buôn bán ở bên kia. Họ không biết chữ, mà con cái họ thì đi làm công bên Pháp bên Bỉ hết. Thành ra, ngày nào cũng viết dùm vài cái thơ, lai rai… Với lại ở xứ này, người ta hay thưa gởi kiện cáo lắm nên có công việc làm hoài!

Rồi hắn nhìn ông già từ đầu đến chân:
- Còn ông ? Ông làm nghề gì ở đây ?
- Già quá đâu có ai mướn. Ở không, đi lang thang.

Anh đen lại nhìn ông già ra vẻ tội nghiệp:
- Rồi lấy gì sống ?
- Sống nhờ con. Con gái ở nhà làm nem. Thằng em nó đạp xe đi bán. Khá chật vật!
- Ông người Tàu hả ?
- Không. Tôi người Việt Nam.

Nói xong, ông già thở dài. Tội nghiệp cho cái xứ Việt Nam của ông ! Nhược tiểu đến mức độ mà người dân khi ra ngoại quốc cứ bị thiên hạ gọi là người Tàu !

Ông già đưa bao thuốc lá mời anh đen :
- Hút một điếu chơị
- Cám ơn. Tôi không biết hút thuốc.

Ngừng một chút, anh ta hỏi :
- Nhà ông ở đâu?
- Ở tuốt trên Cocody, gần nhà thờ.
- Xa quá há. Rồi ông đi bằng gì xuống đây? Xe buýt hả?
- Đi bằng xe đạp. Đạp xuống thì dễ, đạp về leo dốc mới mệt !

Anh đen lại nhìn ông già một lúc, mới nói :
- Ông nói tiếng Pháp rành quá mà không đi làm việc cũng uổng.
- Già như tôi thì còn làm được gì ?
- Tuổi tác ăn nhập gì, trình độ văn hoá mới cần chớ !

Ông già hít mấy hơi thuốc, suy nghĩ. Một lúc sau ông hắng giọng rồi hỏi :
- Ông thấy tôi làm cái nghề viết mướn được không ?

Anh đen nhăn răng cười hớn hở:
- Được chớ! Được chớ!

Rồi đề nghị:
- Ông cứ ngồi kế bên đây ! Đừng ngại gì hết! Cả khu Plateau chỉ có một mình tôi làm nghề này. Có thêm ông càng vui.

Thấy dễ dàng quá, ông già đứng ngẩn ra, chưa kịp nói lời nào thì anh ta nói tiếp:
- Vậy, sáng mai ông đem máy đánh chữ ra nghen.
- Tôi không có máy đánh chữ. Tôi viết tay được không ?

Giọng anh đen hơi xìu xuống :
- Ồ… cũng không sao. Cứ ra đây đi, rồi tính.

Ông già mừng rỡ, bắt tay anh đen, nói "Cám ơn ! Cám ơn ! Ông tốt bụng quá!", rồi đi xăng xớm về chỗ để xe đạp trước ngân hàng gần đó, mở khoá lấy xe phóng lên đạp đi mà nghe như vừa được bơm vào người thêm nhiều sinh lực!

Mấy hôm sau, ông già xin được của hội nhà thờ một cái bàn và ba cái ghế bằng nhôm loại xếp được để đi pique-nique. Ông mua một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi rồi đạp xe đạp chở bàn ghế đến ngồi cạnh anh đen, hành nghề viết mướn. Buổi sáng đó, trước khi rời nhà, ông lẩm bẩm:"Bữa nay đúng là một ngày đẹp trời!"…

Ông già ngồi đã ba hôm, chẳng có một ai đến nhờ viết" Khách hàng " cứ nhờ anh đen. Thấy vậy, anh ta an ủi:
- Đừng buồn. Từ từ rồi sẽ có khách. Tại ông không có máy đánh chữ nên người ta không biết đó thôi.

Một hôm, có hai bà cùng đến một lúc. Anh đen tiếp một bà rồi nói với bà kia :
- Nếu bà gấp thì bước qua ông đồng nghiệp của tôi đây, ổng giúp cho. Ổng

viết tay, nhưng cần gì ! Viết tay hay đánh máy cũng vậy thôi ! Điều cần thiết là viết làm sao cho người đọc hiểu.

Bà khách ngần ngừ một lúc rồi bước qua ngồi lên cái ghế xếp trước mặt ông già. Như thông lệ, bà ta đặt tiền lên bàn rồi bắt đầu kể lể bằng thứ tiếng Pháp không có văn phạm. Ông già ngồi chống càm, lắng tai nghe.

Thấy ông viết mướn không viết gì hết, bà khách ngừng kể, lấy làm lạ nhìn ông:
- Sao ông không viết?
- Thưa bà, tôi đang nghe bà kể đây.

Bà ta chỉ anh đen:
- Sao kỳ vậy? Ông làm không giống anh này! Với anh ta, khi tôi bắt đầu nói là anh ta bắt đầu gõ. Còn ông thì không nhúc nhích gì hết!

Ông già phì cười, giải nghĩa chầm chậm:
- Xin lỗi. Tôi phải nghe bà kể hết những gì bà muốn nói cho người con của bà, rồi tôi mới sắp xếp câu văn để viết. Bà biết không, viết thư phải viết cho mạch lạc thì người con của bà mới hiểu được hết cái ý của bà, bà hiểu không?

Bà khách ngần ngừ rồi gật đầu. Ông già đốt điếu thuốc, nói tiếp :"Bây giờ, xin bà kể lại. Từ từ kể lại, tôi nghe".

Bà khách liếc nhìn ông rồi nhìn vội xuống hai bàn chân của bà, thấp giọng kể…

Bà khổ lắm, buôn bán ế ẩm, con dâu mang bầu đứa thứ năm gần sanh mà cứ đau rề rề, mấy đứa cháu nội đi mót khoai mót củ nhưng không đủ ăn, bà đã gởi ba cái thơ xin tiền thằng con, xin nó thương vợ thương con của nó nheo nhóc, chắc thơ đã đi lạc nên không thấy hồi âm, bà khổ lắm, không biết thằng con ở bên Pháp còn sống hay đã bị cái gì rồi… Bà khách ngừng kể, kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Nghe xong, ông già viết mướn, chừng như xúc động, làm thinh hít mấy hơi thuốc dài. Bà khách len lén nhìn ông rồi lại nhìn xuống chân của bà, hai bàn chân cùi đày nằm trong đôi dép cao su rách bươm lấm lem bùn đất. Bà đợi.

Suy nghĩ một lúc, ông già mới lấy giấy viết. Lâu lâu, ông ngừng lại nhìn xa xăm qua chợ nằm phía đối diện như để tìm chữ tìm câu. Rồi lại cúi đầu viết tiếp.

Viết xong, ông hỏi:
- Bà cần tôi đọc lại không?

Bà khách chớp chớp mắt, lắc đầu. Bà đưa cho ông địa chỉ của người con, ông chép lên phong bì đã dán tem, cho thơ vào dán lại rồi trao cho bà khách. Bà cầm thơ lật qua lật lại nhìn như thiếu tin tưởng, rồi đứng lên làm thinh đi về hướng thùng thơ đứng ở góc đường. Ông già nhìn theo, lòng nghe chơi vơi như chính ông đang đi gởi thơ cho thằng con…

Ngày nào ông già viết mướn cũng mang đồ ra ngồi cạnh anh đồng nghiệp đen, nhưng không phải ngày nào ông cũng có khách. Lâu lâu, có dư người thì anh đen " đẩy " qua cho ông. Anh ta nói đùa :" Đồng nghiệp mà! Phải giúp nhau chớ! " Ông cười chua chát :"Cám ơn! Cám ơn! Nhờ lòng tốt của anh mà tôi cũng vớt vát được một hai người".

Một hôm, anh đen bỗng hỏi:
- Hồi trước ông làm gì ở Việt Nam?
- Buôn bán.

Ông không muốn nói hồi đó ông là chủ hai nhà thuốc tây, khá giàu.
- Rồi tại sao ông đi qua đây vậy?
- Tại làm ăn không được. Tại… tại nghèo.

Ông không muốn nói "cách mạng" đã tịch thâu tài sản của ông, gia đình ông sống cầu bơ cấu bất ở vùng kinh tế mới, vợ ông chết ở trên đó, ông và hai đứa con trốn về thành phố sống chui như bầy chó hoang, ăn nhờ ở đậu …
- Bộ ông có quen ai bên nầy hả?

Đến đây thì ông già không giấu diếm gì hết:
- Đâu có. Tôi đâu có quen ai. Tôi nghe nói Nhà Nước Côte D Ivoire dễ dãi và tốt bụng nên tôi viết đại một lá thơ dài gởi thẳng cho ông Tổng Thống, trong đó tôi kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi. Tôi viết mà không có hy vọng gì hết.
- Ồ… Tại ông không biết chớ Tổng Thống Houphouet của tụi này rất bình dân và thương người lắm!
- Bây giờ thì tôi biết. Bởi vì sau bức thơ của tôi, tôi nhận được visa và luôn vé máy bay cho ba cha con tôi nữa. Chuyện thật khó tin.
- Gì mà khó tin? Tổng Thống tụi này hay làm những "cú" ngoạn mục như vậy lắm! Chắc ông viết thư cũng phải hay lắm nên mới làm xúc động "Le Vieux" (Ông Già).

Ở Côte d Ivoire, dân chúng thương Tổng Thống Houphouet nên khi nói chuyện với nhau họ gọi ông là " Ông Già " một cách trìu mến.
- Hồi đó tôi viết giống như tôi muốn than thở với một người nào đó để cho vơi nỗi thống khổ của mình, chớ đâu dè. Nhận được giấy tờ, tôi như trên trời rớt xuống!

Đến đây, ông già không nói rằng ông đã bán mấy chiếc nhẫn cất giấu từ sau trận nhà nước đánh tư sản, để chạy lo vô hộ khẩu của người bà con xa, rồi chạy lo chiếu khán xuất cảnh, v.v…

Ông chỉ nói:
- Hồi qua đến phi trường Abidjan, cha con tôi không biết đi đâu ở đâu. Tôi phân trần với chánh quyền sở tại, họ điện thoại gọi hội "Anciens d Indochine". Nhờ hội này giúp nên tụi tôi mới có căn nhà nhỏ ở Cocody và chút vốn làm nem đi bán dạo, sống lây lất tới bây giờ…
- Tôi nghe nói người Việt Nam tỵ nạn ở Pháp ở Mỹ nhiều lắm. Bộ ông không có bạn bè bà con định cư ở các xứ đó sao?
- Có chớ.
- Sao ông không viết thơ cho họ? Kẻ đi trước giúp người đi sau là sự thường mà.

Ông thở dài, hít mấy hơi thuốc rồi mới nói:
- Tôi có viết thơ chớ. Chỉ viết thăm thôi và báo tin rằng tôi đã đến Côte d Ivoire. Nhưng không thấy ai trả lời hết.
- Có lẽ không đúng địa chỉ chăng.
- Đúng chớ! Nếu không đúng nó phải được trả về, bởi vì tôi có ghi rõ địa chỉ người gởi mà. Hồi ở Việt Nam người thân của họ cho tôi địa chỉ và tin tức, nói họ bây giờ ổn định và khá lắm.
- Ờ… sao vậy há?
- Chắc họ sợ tôi xin tiền…

Ông cười khẩy một tiếng nghe như ông muốn khạc ra một cái gì chận ngang cổ họng, một cái gì vừa cay đắng vừa nhờm tởm. Ông nhớ lại hồi thời "vàng son", bạn bè bà con của ông tới lui nhà ông ăn nhậu hà rầm, trong số đó có nhiều người đã được ông giúp đỡ cưu mang. Vậy mà bây giờ…

Ông hít một hơi thuốc thật sâu rồi nhả khói ra từ từ làm khoảng trống trước

mặt bị mờ đi, giống như ông muốn xoá bỏ trong đầu hình ảnh của mấy thằng bạn bè mấy người bà con mà ông vừa nhớ lại…

Anh đồng nghiệp da đen suy nghĩ một lúc lâu rồi nghiêng người qua vỗ vai ông vài cái nhè nhẹ, một cử chỉ an ủi tầm thường như vậy mà ông già viết mướn bỗng thấy nó đẹp vô cùng. Ông xoay người qua bắt tay anh đen, không nói gì hết, nhưng ông chắc chắn rằng anh bạn đó hiểu là cái cám ơn của ông già Việt Nam lưu vong…

Một hôm, bà khách hàng đầu tiên của ông già viết mướn mang biếu ông hai trái xoài Caméroun (loại xoài xứ Caméroun ngon nổi tiếng vùng Phi Châu Da Đen) vừa cười vừa nói:
- Tôi cám ơn ông. Nhờ cái thơ của ông mà thằng con của tôi hồi tâm. Nó gởi tiền về, kèm theo một cái thơ dài. Nó nói nó đọc thơ của ông nó khóc quá! Nó lạy lục xin tôi tha tội cho nó. Nó nói là nó có vợ và một con ở bên Pháp nhưng nó thề sẽ gởi tiền về đều đặn để nuôi tụi này… Tôi vui quá! Vui quá!

Bà ta nói một hơi, nói thứ tiếng Pháp "ba xí ba tú", nhưng trong giọng nói nghe đầy xúc động. Nói xong, bà kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Ông già nhớ lại cách đây hơn mươi bữa, bà cũng kéo áo lên lau như vậy sau khi kể lể sự buồn khổ của bà. Thì ra, cái vui cái buồn vẫn giống nhau ở giọt nước mắt!

Ông già mỉm cười:
- Tôi viết mướn, bà trả tiền, có gì đâu mà bà cám ơn?
- Không nhờ cái thơ của ông, không biết tụi này còn khổ sở đến đâu. Cám ơn ! Cám ơn!

Nói xong, bà đi trở qua chợ. Ông già đưa một trái xoài cho anh đen:
- Anh cầm lấy để chia vui với tôi!

Anh ta cầm trái xoài trên tay nhìn ngắm một lúc rồi nói:
- Làm nghề này đã hơn năm năm, tôi chưa được khách hàng tặng quà bao giờ. Ông mới ra nghề mà được như vầy là ông viết thơ phải hay lắm.
- Thì cũng ráng viết vậy thôi.
- Đâu được! Viết mà làm xúc động người đọc đâu phải dễ. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông tổng thống của tụi tôi đã gởi tặng ông visa và vé máy bay!

Ông già viết mướn đốt điếu thuốc, thở khói một cách sảng khoái. Ông nhớ lại ngày xưa, thuở thiếu thời, ông lúc nào cũng đứng đầu về luận văn, và về sau ra đời, ông cũng có lai rai vài ba truyện ngắn đăng báo này tạp chí nọ. Viết, đối với ông, là để giải toả tâm tư, một cách giải toả trầm lặng và sâu đậm hơn là nói. Cho nên trong đời ông, ông rất thích viết, nhứt là viết thơ cho bạn, những người cũng thích viết như ông hay ít ra cũng biết viết vài dòng hồi âm hay vài chữ để hỏi thăm nhau…

Hai hôm sau, có thêm một bà mang đến mấy trái cam để cám ơn ông đã viết thơ cho chồng bà có vợ đầm ở Bỉ. Rồi cứ như vậy, vài hôm là có người đến cám ơn, cho quà, khi thì chai đậu phọng (Ở đây, sau khi rang, đậu được cho vào chai lít đầy tới miệng rồi đóng nút để giữ cho được dòn lâu. Người nghèo bản xứ hay ăn đậu phọng với bánh mì…). Khi thì mấy trái cà chua, vài bó rau cải… Có gì cho nấy, không nề hà! Ông già nhận hết, bởi vì ông thấy làm như vậy, người cho rất vui. Cái vui của họ được bộc lộ ra một cách rất thiệt thà : họ quay lưng bước đi, vừa vỗ tay thành nhịp vừa lắc lư nhún nhảy. Lần nào ông cũng nhìn theo, thấy cũng vui lây…

Vậy rồi không biết họ đồn với nhau thế nào mà khách hàng cứ đến nhờ ông viết. Những người cần làm đơn từ cũng đến nhờ ông! Bên anh đen đồng nghiệp thấy thưa khách. Ông già bèn đề nghị:"Tình trạng này kéo dài coi kỳ quá! Tôi đề nghị anh bạn như thế này: tôi lãnh viết thơ nhà, anh lãnh viết đơn hành chánh. Mình cứ nói đơn hành chánh phải được đánh máy cho sạch sẽ dễ đọc thì các cơ quan mới mau chóng cứu xét. Anh đồng ý không?" Anh đen nhăn răng cười, bắt tay ông một cái đau điếng!

Từ đó, thấy khách đến, anh đen trịnh trọng nói :"Đơn từ thì ở bàn này. Thơ cho thân nhân thì bước sang bàn ông bạn đồng nghiệp của tôi đây!" Lần hồi, khách hàng cũng quen nên cả hai người viết mướn cùng có việc làm đều đặn. Và càng ngày càng đông khách.

Một hôm, anh đen hỏi :
- Tôi cứ thắc mắc: làm sao viết thơ mướn mà ông viết hay được như vậy?

- Tại anh không biết. Xưa nay tôi say mê viết. Tôi thích viết cho một người nào đó để giải bày, để chia xẻ những cảm nghĩ những suy tư của mình, chọn lời cho đúng, chọn câu cho hay… thú lắm !

Ông già ngừng nói, hít chầm chậm một hơi thuốc rồi chép miệng:
- Bây giờ tôi chẳng còn ai để mà viết. Bạn bè thì anh biết đó. Chúng nó cũng như người vừa đui vừa điếc, viết uổng công. Cho nên làm nghề viết mướn này, tôi có chỗ để viết. Tôi khổ cái khổ của khách hàng, tôi vui cái vui của khách hàng, tôi tâm sự cái tâm sự của khách hàng. Tôi viết với tất cả những xúc cảm chân thật đó, viết mà không nghĩ là mình viết mướn!

Anh đen vỗ tay đôm đốp, khen:
- Hay! Ông nói hay quá! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao khách hàng mến mộ ông như vậy! Tổng thống tụi tôi đem ông qua đây, đúng là ổng có con mắt!

Rồi hắn cười hắc hắc làm ông già cũng bật cười theo. Cả hai, không người nào nhớ rằng mình da đen hay mình da vàng, họ chỉ biết họ là hai người viết mướn…

Hai năm sau…

Một hôm ông già bỗng thèm viết cho mấy thằng bạn hồi đó. Viết cho mỗi người một cái thơ, lời lẽ y chang như nhau. Viết bức thơ cuối cùng cho họ. Viết để cho họ thấy rằng ông phủi đít phủi tay, dứt khoát không còn bận bịu gì nữa với quá khứ, với lớp bụi đất đã ăn bám vào ông hồi thuở "vàng son".

Ông đốt điếu thuốc, suy nghĩ. Đại khái, ông sẽ viết:

"Thưa anh …gì gì (hay chị …gì gì)

Tôi viết thơ này để báo tin cho anh… (hay chị…) mừng dùm cho cha con chúng tôi. Tụi này đã định cư luôn ở Côte d Ivoire. Bây giờ, đời sống tụi này đã ổn định, cuộc sống tương đối khá. Hai con tôi có cửa hàng bán nem ở chợ Cocody, thiên hạ đến mua cũng đông. Còn tôi thì làm nghề viết mướn, khách hàng cũng nhiều. Được như vậy là nhờ ở xứ đen này, con người thấy đen nhưng lòng dạ của họ không đen chút nào hết. Chẳng bằng người Việt mình, nhiều người bề ngoài trắng trẻo lịch sự nhưng lòng của họ chẳng những đen mà còn bạc nữa, anh…( hay chị…) có thấy như vậy không?..."

Nghĩ đến đó, ông già bật cười khan một mình!

Post Reply