Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cai Thầu Từ Thiện

Image
Hồng Thập Tự Quốc Tế cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Phi Luật Tân. (Hình: Getty Images)

Ðỗ Văn Phúc
Hàng triệu năm từ khi có mặt trên trái đất, con người đã phải đương đầu với quá nhiều tai ương. Thiên tai do các biến động của thiên nhiên thì có sức mạnh vạn năng mà dù khoa học của con người có tiến bộ đến đâu cũng chỉ có khả năng giảm thiểu sự thiệt hại chứ hoàn toàn không né tránh được. Chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa các nhân tai hoặc các thiên tai xảy ra do hậu quả những hành động thiếu tính toán, bất cẩn của con người mà thôi.

Nhân tai nặng nề nhất mà nhân loại gánh chịu là các nền cai trị độc tài phát xuất từ sự điên cuồng của các cá nhân, hay do tham vọng quyền lực, tiền tài...

Cũng như thiên tai, nhân tai tác động hầu như trên mọi lãnh vực của đời sống. Từ nạn diệt chủng cho đến nạn suy đồi của nền văn hóa dẫn đến tiêu vong; cho đến dịch bệnh, tệ đoan, sự nghèo đói, khốn khó, thất học,...

Thế kỷ 20 đã mục kích hai nhân tai khủng khiếp. Ðó là chế độ Quốc Xã Ðức và chế độ Cộng Sản trên một phần ba nhân loại, và hiện còn tồn tại tại Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Hoa.

Cái nhân tai cộng sản ở Việt Nam đã tạo ra nạn diệt chủng với tính mạng hàng triệu người trong và ngay sau chiến tranh. Nó đã và đang đẩy con người vào bần cùng, đói khổ, dịch bệnh, tạo thêm cơ hội cho thiên tai hoành hành làm dân đã khổ càng khổ thêm, đã nghèo càng mạt thêm. Về mặt chính trị quốc gia, thì rõ ràng Cộng Sản đang đưa tổ quốc đến bờ hủy diệt.

Mà đã là người thì dù không theo Chúa, theo Phật, ai cũng có ít nhất trong con tim mối đồng cảm với kẻ khổ đau, tuyệt vọng. Lòng nhân đạo là bản chất của con người, trừ phi bị giáo dục đầu độc trong một môi trường bạc ác. Giúp đỡ, cứu trợ, an ủi là những việc phước thiện ít nhất mà con người có thể làm cho nhau. Nhưng cho ai, làm sao để sự giúp đỡ của mình đến tay nạn nhân xa cách mình về địa lý; người ta phải nghĩ đến việc hình thành các tổ chức thường trực hay cấp thời nhưng có quy củ, kết hợp và điều động được nhân lực và khả năng, phương tiện.

Những tổ chức lớn mà người Việt biết đến nhiều là Hội Hồng Thập Tự, Caritas, USCC, World Vision... Ở Hoa Kỳ có hàng ngàn hội từ thiện, bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Dưới đây là bản danh sách 10 tổ chức thu được nhiều tiền nhất tại Mỹ từ gần gần 1 tỷ đô la (Volunteers of America) lên đến 4 tỷ (Hồng Thập Tự Hoa Kỳ) mỗi năm. Ðủ để thấy sức đóng góp vô bờ của người Mỹ ra sao:

1
American Red Cross
$3,664,173,984
2
Food For The Poor
$1,516,189,273
3
Feed The Children
$1,148,416,507
4
World Vision
$1,127,845,601
5
Brother's Brother Foundation
$1,086,409,372
6
AmeriCares
$1,060,453,642
7
American Cancer Society
$1,042,356,808
8
The Nature Conservancy
$910,675,081
9
Mayo Clinic
$855,071,087
10
Volunteers of America
$804,113,834



Trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta thường nhận được rất nhiều thư của các hội (đa số là của Mỹ) gửi đến xin tiền. Có ngày hai ba thư. Ða số là từ các hội cứu trợ cho thương, phế binh, cựu chiến binh... Các hội này rất khéo. Họ thường kèm theo những lá thư của các vị có tiếng tăm, từng giữ những chức vụ cao trong chính quyền, quân đội. Họ cũng in sẵn các tập label địa chỉ của chúng ta hay các tấm thiệp chúc Tết, Noel cũng in sẵn tên và địa chỉ của chúng ta kèm theo trong thư. Thư đầu, họ chỉ khiêm tốn xin những khoản tiền nhỏ từ 5 đến 10, 20 đồng. Sau khi đã nhận được sự ủng hộ của chúng ta, họ sẽ gửi liên tục và nâng số tiền xin lên cao hơn.

Trên đài truyền hình, thì có các hội cứu trợ cho trẻ em, phụ nữ khốn khó ở các quốc gia nghèo Phi Châu, Á Châu, thậm chí cả các em thiếu ăn ở Hoa Kỳ. Các tổ chức thường đưa ra hình ảnh dễ thương nhưng lem luốc của các em, được giới thiệu bởi các khuôn mặt của quý bà, quý ông rất hiền từ, nhỏ nhẹ, kêu gọi sự thương cảm của khán giả.

Ðối với đồng bào tị nạn Việt Nam, thì phong trào làm từ thiện cũng nở rộ từ những năm mới đây. Nào là giúp đỡ thương phế binh VNCH, tương trợ đồng môn, cứu trợ nạn nhân bão lụt, cô nhi, già yếu, nan y...

Ngoài việc cứu trợ Thương Binh và đồng môn VNCH là nhiệm vụ chúng ta vì Cộng Sản vẫn xem họ là thù địch; còn những thành phần khác phải là đối tượng của các cơ quan xã hội Việt Cộng. Không phải việc chúng ta. Từ những tổ chức xuất phát từ Hoa Kỳ, ngày nay có hàng đoàn từ thiện Việt Nam mà thường xuyên và dập dìu nhất là dưới các màu áo nhà tu; Phật cũng như Thiên Chúa Giáo. Người viết đã có ít nhất hai lần đề cập và phân tích đến bản chất việc cứu trợ “từ thiện” ở Việt Nam. Vì thế, sẽ không nói gì thêm; nhưng sẽ đưa ra vài kinh nghiệm để quý độc giả suy nghĩ và có phản ứng thích đáng.

Chúng tôi luôn luôn ghi nhận thiện tâm thiện ý của quý vị bỏ công sức ra để làm từ thiện, xoa dịu khổ đau của đồng bào, đồng loại. Họ là những người cao quý mà người viết không dám xúc phạm đến.

Nhưng bên cạnh số nhỏ người cao quý đó, không thiếu gì kẻ bất lương đang xem việc từ thiện là một nghề rất béo bở, dễ ăn, mà lại được ca ngợi. Họ đáng được gọi là “Cai Thầu Từ Thiện”

Trong một phóng sự đặc biệt trên truyền hình Mỹ ABC giữa năm này (2009), các phóng viên đã điều tra thật sâu, thật kỹ các tổ chức từ thiện cho Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ, và đi đến kết luận rằng đa số tiền quyên góp từ các người hảo tâm thường đi vào túi các ông bà giám đốc, hoặc lương thiện hơn, là vào các chi phí hành chánh. Số tiền đến tay người thụ hưởng rất thấp. Có vài tổ chức bất lương mà phóng viên có nêu ra tên tổ chức, gần như 90% tiền quyên được là dành cho việc trả lương, tiền thưởng cho các vị trong ban giám đốc mà thường các chức vụ chóp bu là của vợ chồng, con cái chia nhau nắm giữ. Họ có toàn quyền tự ấn định mức lương lên tới hàng triệu, hàng trăm ngàn đô la. Họ dùng tiền quyên góp để trả tiền cho những khách sạn loại sang, những chuyến du chơi ngụy trang dưới danh nghĩa công tác, những chiếc xe sang trọng cho ban giám đốc, mua sắm đồ dùng trong nhà,... Thậm chí, có vị giám đốc dùng tiền để bao cho các bồ nhí tại các thành phố mà họ có đi qua công tác.

Sau đây là tên 10 tổ chức mà tiền chi phí hành chánh chiếm từ 49% đến 68%:

1
American Tract Society
68.0%
2
Boys Choir of Harlem
66.3%
3
National Council of Negro Women
64.0%
4
Bay Area Discovery Museum
60.7%
5
The Fresno Metropolitan Museum
58.4%
6
Cherokee National Historical Society
58.2%
7
Southeastern Center for Contemporary Art
57.5%
8
National Museum of Racing and Hall of Fame
55.1%
9
Japanese Cultural Center of Hawaii
49.2%
10
Charleston Area Medical Center Foundation
48.8%


Phụ bản dưới đây là mức lương giám đốc của 10 tổ chức được đánh giá là có khả năng quyên góp “thấp”. Theo báo cáo, thì tại các tổ chức này, chỉ có tối đa 40% tiền quyên là đến tay người thụ hưởng.

1
Cranbrook Educational Community
$429,152
2
Hoag Hospital Foundation
$395,719
3
Fine Arts Museums of San Francisco
$365,132
4
FreedomWorks Foundation
$320,000
5
Zionist Organization of America
$315,385
6
Washington, D.C. Martin Luther King, Jr. National Memorial Project Foundation
$289,645
7
Liberty Science Center
$285,500
8
Riley Children's Foundation
$268,697
9
Mountain States Legal Foundation
$250,237
10
Center for Individual Rights
$245,849


Các thống kê trên có tính tiêu biểu chung; chứ không đề cập đến những tổ chức đại bất lương mà như đã nói, mà trên 90% tiền thu được chia cho nhau giữa các ông bà giám đốc dưới nhiều hình thức. Sự kiện xấu xa này không chỉ xảy ra trong các cơ quan từ thiện, mà ngay cả các tổ chức tôn giáo như chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe, đọc, hay xem trên các phương tiện truyền thông. Quý vị muốn nghiên cứu thêm, có thể vào các trang web dưới tiêu đề Charity; ví dụ trang sau đây: http://www.charitynavigator.org/

Như thế, rõ ràng, việc làm từ thiệp vô hình chung đã trở nên một loại dịch vụ, kinh doanh béo bở cho những kẻ bất lương. Nó làm xói mòn lòng tin của con người vào một công tác với bản chất rất cao quý mà chỉ những người có lòng vị tha, từ tâm mới dám đứng ra đảm trách. Nó gây băng hoại một nền đạo đức mà bao nhiêu giáo lý qua bao đời đã từng dày công gây dựng trong xã hội con người.

Và tàn nhẫn nhất là nó làm cho những nạn nhân khốn khổ trở thành những người bị lợi dụng, hình ảnh bị bêu ra hàng ngày trên màn ảnh, mà chẳng được thụ hưởng bao nhiêu đồng tiền mà đồng loại của họ phải đổ mồ hôi làm ra, nhưng do từ tâm mà nhịn bớt ăn tiêu để chia sẻ cho họ.

Lòng nhân ái thì không có biên giới màu da, chủng tộc, tôn giáo. Nhưng chắc rằng con người bình thường thì hành xử, chia sớt bắt đầu từ gần ra xa. Nhưng chắc chắn người có từ tâm; sẽ không thể thiếu trí phán đoán để từ tâm của mình đặt đúng chỗ và không bị lợi dụng của các “cai thầu từ thiện” và quạ diều đang chực sẵn bên Việt Nam để chờ sà xuống ngấu nghiến bữa tiệc vô lương.

Ðỗ Văn Phúc

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hãy đứng thẳng làm người

Dáng Thơ
Qua những tin tức gần đây tại Việt Nam như Đại hội "Việt kiều", xây dựng nhà máy hạt nhân, v.v.., tôi thấy đau lòng và xót xa cho hơn tám mươi triệu dân tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại và buồn cười thay cho nhà nước Việt cộng. Việt cộng vẫn tiếp tục làm trò hề bịt mắt, coi thường trí tuệ người dân. Vậy nhưng vẫn có một số người bị hoặc tự nguyện để Việt cộng làm con rối vì lợi ích cá nhân. Ai cũng có bản năng tự nhiên của con người là cầu sống, tuy nhiên phải sống sao cho trong sạch đừng bị người đời nguyền rủa khi sống cũng như khi nhắm mắt buông xuôi về với cát bụi. Như người xưa có câu : "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Xin hãy đứng thẳng lên làm người để con cháu đừng phải cúi đầu xấu hổ khi nhắc đến.

Việt cộng không hề bỏ qua một cơ hội nào để bóc lột người dân Việt Nam từ trong nước cho đến hải ngoại để làm lợi túi tiền và tạo thêm sức mạnh của chúng. Trên toàn thế giới có người dân nào sống dưới chế độ cộng sản mà được tự do và cơm no áo ấm! Thuyết Cộng sản đã tự thiêu hủy và bị lụi tàn vì không thực tế, không đem lại quyền lợi cho người dân cùng đất nước. Từ sự bị áp bức biến thành căm phẩn, người dân tự đứng lên để đòi quyền tự do, như măng non trong rừng tre già tự vươn mình tìm ánh sáng cho tự tồn sinh. Đã có bao nhiêu gương soi từ trong nước cho đến hải ngoại, vì hai chữ Tự Do mà đã đánh đổi quyền sống của con người cho cả dân tộc Việt Nam. Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và còn nhiều rất nhiều người đã cầu sống cho mọi người mà quên mình. Đây là điều đáng ngưỡng mộ và tự hào!

Nếu Việt cộng biết thương dân, biết nghĩ đến quyền lợi của người dân, thì đâu có những tham nhũng gây hại bao nhiêu sinh mạng trong những vụ sập cầu, các công cuộc xây dựng; đâu có những vụ bắt bớ người dân oan vô tội; đâu sợ những tiếng nói mong mỏi Tự Do, Nhân Quyền mà phải tù đày những người thật tâm yêu quê hương, dân tộc; đâu bán người ra nước ngoài làm lao nô và tủi nhục hơn là bán thân làm hủy hoại nhân phẩm con người và phẩm giá dân tộc Việt. Việt cộng có thay đổi theo chiều hướng kinh tế tư bản để sống còn chế độ và làm giàu cho cá nhân đảng viên, không có nghĩa là thay đổi cho dân giàu nước mạnh. Tại sao Việt cộng không dám loại bỏ chế độ Cộng sản, chúng sợ mất hết quyền lực độc tài của chúng. Điều đó thật rõ ràng, tại sao quý vị "Việt kiều yêu nước" tự xưng "trí thức" không mở tri thức ra để nhận thức? Sự thiếu ý thức của dân "Việt kiều trí thức" không những làm nhục hai chữ Tự Do mà còn làm khổ lụy đến những người dân tại Việt Nam .

Xây dựng nhà máy điện tử hạt nhân là đem nguồn lợi kết xù vào trong túi riêng của cán bộ đảng, ngược lại đem đến cho đất nước và người dân những tai ương khó lường . Nhưng nhà nước không đoái hoài đến việc khác ngoài túi tiền thêm nặng và đã là độc đảng, độc tài thì làm gì có ý kiến nào được xét duyệt . Xin đọc tâm tình của một Kỹ sư tại Việt Nam đã có lòng cho dân tộc: http://bauxitevietnam.info/c/19378.html .

Nếu có lòng yêu nước thì hy vọng qúy vị "Việt kiều" đã tham gia đại hội nên nhìn lại. Tiền của quý vị thì nhà nước tận tình xử dụng đấy. Nhưng tiếng nói của quý vị có được nhà nước nghe đến không? Quý vị có thật sự được tự do buôn bán hay đầu tư với nhà nước? Chẳng may một ngày nào đó quý vị cũng bị vào tù vì tội có nhiều tiền, mà nhà nước gán cho cái tội "tư bản", thì lúc đó ăn năn hối hận cũng quá muộn màng. Việt cộng có cho đa đảng hay giữ độc đảng để dể cai trị? Sự thật rõ ràng là các nhà yêu chuộng Tự Do đang bị Việt cộng cầm tù! Ở tại các nước tự do có ai bị vào tù vì tội nói lên sự thật và nói lên sự khao khát Tự Do, Nhân Quyền không? Quý vị "Việt kiều yêu nước" đã có Tự Do, mà quý vị chối bỏ để trở về góp tay cho sự tự do đàn áp, tự do bỏ tù làm bao nhiêu người dân sống dưới xã hội chủ nghĩa phải bị lầm than. Để họ phải đánh đổi hai chữ Tự Do bằng cách bán đi nhân phẩm con người để được thở không khí tự do. Có đau thương và xót xa không? Ngược lại có những người đang sống dưới sự Tự Do nhưng vẫn hy sinh thân mình để đòi Tự Do cho những người bị áp bức. Thật tự hào và đáng noi gương!

Ngày xưa Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng sản đã từng lên tiếng sửa sai về việc cải cách ruộng đất tại miền Bắc nhưng vẫn tiếp tục làm sai trong Tết Mậu Thân tại Huế. Và sau khi "giải phóng" đất nước như tâm nguyện của những kẻ "yêu nước", thì vẫn tiếp tục đày đọa người dân và các sĩ quan trong chính quyền cũ. Có bao giờ Việt cộng lên tiếng nhận sai với quý vị chưa? Vậy mà Việt cộng kêu gào về giúp nước, quý vị đã vội vàng về họp đại hội. Quý vị nhận được gì ngoài những lợi nhuận bất chính? Lương tâm của một người có tri thức ở đâu? Con người ai cũng có lỗi lầm, quan trọng nhất là biết nhận lỗi và sửa lỗi. Biết bao nhiêu chính khách gia lên tiếng xin lỗi những lỗi lầm từ ông cha họ gây ra trong chiến tranh, và họ thật sự xây dựng tốt một Quốc Gia. Điều đó chúng ta nên học hỏi và thực hành để chúng ta còn tự hào là người Việt Nam có hàng ngàn năm văn hiến. Nếu Việt cộng thực tâm thay đổi và chấp nhận đa đảng thì họ mới thật sự yêu nước thương dân, lúc đó không cần kêu gọi, tôi nghĩ ai ai cũng muốn về để xây dựng quê hương. Một lần nữa xin hãy đứng thẳng lên làm người và xin hãy nhìn lại hai chữ Tự Do quý vị đã đánh đổi trước đây .

Dáng Thơ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bao giờ Tàu đuổi kịp Mỹ?

Ngô Nhân Dụng

Bà Susan Schwab, nguyên đại diện thương mại trong chính phủ Mỹ, đã được trao tước hiệu “giáo sư danh dự” của Ðại Học Quốc Gia ở Hà Nội ngày hôm qua. Trước đó bà đã thuyết trình về các vấn đề kinh tế ở đại học này, mà theo báo chí thì ba phần tư thời giờ là nói chuyện Trung Quốc.

Một câu hỏi tự nhiên trong số thính giả tới nghe một người Mỹ nói về kinh tế nước Tàu, tất nhiên là: “Bao giờ Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ?”

Bà Susan Schwab có nghĩ đến nỗi ám ảnh này, và bà nói thẳng rằng đó là một chuyện “được thổi phồng quá đáng!” Hàng hóa Trung Quốc bán sang Mỹ phần lớn là đồ gia dụng và các hàng tiêu thụ rẻ tiền, trong khi Mỹ tập trung bán những thứ hàng thuộc công nghệ cao và có lời nhiều: máy bay, khí cụ truyền thông, vân vân.

Nghe vậy thì biết người Mỹ vẫn yên tâm mua hàng Tàu, giúp dân Trung Hoa có công việc làm và giúp chính phủ Bắc Kinh thu ngoại tệ về để tiếp tục cho chính phủ Mỹ vay “với giá rẻ.” Nhưng bà Schwab không trả lới thẳng câu hỏi “Ðến bao giờ thì kinh tế Trung Hoa qua mặt Mỹ, hay nói khiêm tốn hơn, bao giờ thì họ đuổi kịp Mỹ?”

Cần phải xác định “đuổi kịp” là dựa trên tiêu chuẩn nào. Thử lấy Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) làm thước đo, hiện nay GDP Trung Quốc lớn gần bằng một phần ba của Mỹ. Nếu kinh tế Trung Quốc cứ tiếp tục tăng trưởng liên tục với tốc độ 10%, mà Mỹ chỉ tăng với tốc độ 3%, thì trong khoảng 17 năm, GDP của Trung Quốc sẽ bằng của Mỹ. Giả thiết tỷ lệ tăng trưởng 10% suốt 17 năm có vẻ lạc quan quá đáng, nhưng từ con số trên có thể tiên đoán tổng sản lượng nội địa của nước Trung Hoa sẽ lớn bằng của Mỹ trong khoảng 20 năm.

Nhưng so sánh bằng GDP không đủ, vì hai nước có dân số khác nhau. Khi kinh tế Tàu bằng kinh tế Mỹ mà số dân Trung Hoa vẫn đông gấp ba lần, thì lợi tức theo đầu người của người Trung Hoa chỉ bằng một phần ba của người Mỹ. Cho nên phải so sánh bằng GDP chia đều cho đầu người dân. Dùng con số này, thì hiện nay nếu người Trung Hoa trung bình làm ra một đồng thì người dân Mỹ có 14 đồng, lợi tức gấp 14 lần. Bao giờ thì họ đuổi kịp dân Mỹ? Theo một người sinh trưởng ở Trung Quốc và hiện làm việc tại Mỹ thì cần phải 47 năm nữa lợi tức bình quân của nước ông mới bằng nước Mỹ. Tức là dân Trung Hoa sẽ phải chờ gần nửa thế kỷ nữa.

Vị học giả Trung Hoa trên là ông Bùi Mẫn Hân (Xinmin Pei???), tốt nghiệp Ðại Học Thượng Hải trước khi sang Mỹ học, và hiện làm việc nghiên cứu tại Viện Carnegie về Hòa bình quốc tế, và giám đốc một viện nghiên cứu chiến lược tại Claremont McKenna College. So sánh với toàn thể Á Châu, ông Bùi Mẫn Hân thấy hiện nay lợi tức theo đầu người chỉ có 5,800 đô la một năm, so với 48,000 đô la của dân Mỹ. Còn ngân sách quân sự của cả Á Châu vào năm 2008 chỉ bằng một phần ba ngân sách quốc phòng của Mỹ, mà vì nước Mỹ vẫn chi rất nhiều vào việc chế tạo vũ khí, phải chờ 72 năm nữa Á Châu mới đuổi kịp.

Nhưng ông Bùi Mẫn Hân cho là vai trò “cường quốc” trên thế giới không phải chỉ đạt được nhờ sức mạnh kinh tế và quân sự. Một yếu tố quan trọng hơn, theo ông là “ý kiến, tư tưởng.” Hiện nay cả thế giới đang chịu ảnh hưởng của những ý tưởng mà Mỹ và các nước Tây phương vẫn theo đuổi từ mấy thế kỷ nay: kinh tế thị trường, chế độ tự do dân chủ, và các định chế quốc tế ra đời từ hơn nửa thế kỷ qua, như Liên Hiệp Quốc, tòa án thế giới, WTO, vân vân.

Trung Quốc đang cống hiến được gì trong lãnh vực này? Trung Quốc có đưa ra cho thế giới một mô thức chính trị hay kinh tế nào để người ta bắt chước? Hay là một quy củ mới cho đời sống quốc tế? Chưa có gì cả. Như quý vị đọc mục này đã biết, một người Trung Hoa là giáo sư Diêm Học Thông (Yan Xuetong), thuộc Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh, còn chê là “chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Hoa càng ngày càng trông giống như chủ nghĩa tư bản với đặc tính Mỹ!” Hiện nay Trung Quốc đang “xuất cảng tư tưởng” bằng những Viện Khổng Tử. Ðó là những “trung tâm văn hóa” theo kiểu Viện Goethe mà chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Ðức đã lập ở nhiều nước. Ở Hà Nội cũng có một viện Khổng Tử, và chuẩn bị xây dựng một Cung Văn Hóa với mô hình rất “hoành tráng” xây bằng tiền của Bắc Kinh. Trung Quốc đang bán món hàng Khổng Tử, thay vì xuất cảng Mao Trạch Ðông. Ngay ở trong nước Tàu, cuốn Luận Ngữ được một nữ ký giả chú thích, giải nghĩa và bình luận đã bán được dăm chục triệu cuốn, còn Sách Ðỏ của Mao chẳng ai thèm mua.

Nhưng thế giới bây giờ có thể học gì ở Ðức Thánh Khổng? Chính những người lãnh đạo ở Bắc Kinh cũng chưa biết dùng vị vạn thế sư biểu này vào việc gì, ngoài ý định lợi dụng ngài để củng cố chế độ qua các đức tính như trung thành tuyệt đối với bề trên, một ý tưởng chỉ đến đời Tống mới thịnh hành chứ chính Khổng Tử và Mạnh Tử thì không chủ trương như vậy. Cho nên, trên mặt trận tư tưởng, Trung Quốc hiện nay chưa có gì để cống hiến cho loài người; sự bành trướng của họ bây giờ dựa hoàn toàn trên trao đổi kinh tế. Mà phương thuốc kinh tế của họ thì chỉ là mô phỏng kinh tế tư bản trước đây hơn 100 năm.

Như đã trình bày trong mục này tuần trước, sự phát triển của một số công ty lớn nhất ở Trung Quốc không phải là nhờ hệ thống chính trị, luật pháp và kinh tế nước họ, mà chính là nhờ họ được sử dụng hệ thống pháp luật và thị trường tài chánh mà người Anh đã để lại ở Hồng Kông. Những nước đang mở mang khác không có một Hồng Kông ở bên cạnh sẽ không có cách nào theo chân Trung Quốc được. Toa thuốc phát triển của Trung Quốc gồm hai phần, một là chú trọng đến đầu tư và xuất cảng, hy sinh tiêu thụ; hai là dựa vào cánh cửa ngỏ ở Hồng Kông với “hạ tầng cơ sở” về định chế và pháp luật tư bản có sẵn ở đó hàng trăm năm. Các nước khác phải tự thiết lập lấy những cái khung luật pháp, thị trường tài chánh, làm hạ tầng cơ sở chính trị cho việc phát triển của mình. Nếu không thì toa thuốc sẽ thiếu vị chính, bắt chước thì chỉ tự chuốc lấy những cái dở, cái xấu của hệ thống kinh tế Trung Quốc mà không hưởng được cái lợi nào cả. Cho nên khi bà Susan Schwab khuyên các sinh viên Ðại Học Quốc Gia Hà Nội là “Việt Nam phải tìm con đường riêng, khác Trung Quốc,” là bà ấy nói rất chí tình, chứ không phải chỉ nói phỉnh người Việt mà chắc bà ấy biết không ai ưa gì ảnh hưởng Trung Quốc.

Giáo Sư Bùi Mẫn Hân đã xuất bản cuốn China's Trapped Transition: The Limits of Developmental Autocracy (Harvard University Press, 2006). Chủ đề ngay trong tựa sách đã cho biết ông nhận thấy những giới hạn của mô hình phát triển trong chế độ độc tài. Ông nêu lên những chỗ yếu kém tự sinh ra trong cơ cấu kinh tế của Trung Quốc cũng như của các nước độc tài khác. Ðiều ông quan tâm nhất là một chế độ độc tài thì không thể nào bài trừ được nạn tham nhũng, một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế. Cũng giống như Giáo Sư Hoàng Á Sinh, giới thiệu trong bài trước, ông Bùi Mẫn Hân nhận thấy kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh và có tính chất bền vững nhất vào thời 1980, khi chính trị được nới lỏng. Từ sau vụ Thiên An Môn, Bắc Kinh đã quay ngược, và những vấn đề lớn xuất hiện, như khoảng cách lợi tức giầu nghèo ngày càng rộng, số 200 triệu nông dân đi lang thang đi kiếm việc và bị kỳ thị ở thành phố, những vụ khiếu kiện về đối xử bất công, đất đai nhà cửa, tăng lên hàng trăm ngàn vụ mỗi năm, và hệ thống chính quyền các tỉnh đã trở thành những đảng Mafia.

Không riêng gì Trung Quốc, ông Bùi Mẫn Hân nhận thấy kinh tế ở các nước độc tài thường bột phát khi nào chế độ được nới lỏng, người dân được tự do hơn cả về kinh tế lẫn chính trị. Những nước độc tài nào biết chọn một công thức kinh tế vĩ mô đúng lúc thì kinh tế tiến lên được trong một thời gian, nhưng còn bao nhiêu nước độc tài khác cứ tiếp tục nghèo nàn thì không được ai chú ý tới, cho nên người ta nuôi ảo tưởng là chế độ độc tài tốt cho kinh tế các nước nghèo. Bùi Mẫn Hân còn mạnh bạo viết rằng chế độ độc tài có tính cách tự hủy diệt (self destructive). Nhưng ông cũng viết một sự thật: Những chế độ độc tài rất khéo trong việc che giấu những nhược điểm, còn các nước tự do dân chủ thì rất giỏi trong việc quảng cáo những nhược điểm của họ!

Ðối với người Việt Nam thì câu hỏi bao giờ Tàu đuổi kịp Mỹ không quan trọng bằng câu hỏi “Bao giờ Trung Quốc thống trị Á Châu?”

Trước câu hỏi này, Bùi Mẫn Hân trả lời: Còn lâu!

Theo ông thì giới lãnh đạo ở Bắc Kinh có mối lo lắng nhất là kéo dài chế độ độc tài của họ, việc bành trướng ra hải ngoại chỉ là việc phụ. Và việc bành trướng đó sẽ bị chính các nước chung quanh cản trở, chứ không phải riêng nước Mỹ. Nga, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, tự nhiên sẽ tạo ra những rào cản đối với Tàu. Các nước Ðông Nam Á càng lo lắng hơn nữa, họ sợ sự bành trướng của Trung Quốc hơn các nước khác. Chính phủ Bắc Kinh đang cố tìm cách giảm bớt mối lo sợ của các nước khác, lớn cũng như nhỏ. Ðây là một điểm mà các chính quyền Việt Nam phải nhớ và khai thác. Nếu Việt Nam tỏ ra cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, thì chính Bắc Kinh sẽ rụt rè khi phải phản ứng. Vì họ không muốn làm cho các nước khác nghi ngờ hơn về mộng bá quyền của họ.

Giáo Sư Bùi Mẫn Hân cũng đưa ra mấy con số. Trong một cuộc nghiên cứu dư luận người ta đã thấy chỉ có 10% người Nhật, 21% người Nam Hàn và 27% người Indonesia nói họ vẫn cảm thấy yên tâm khi Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo ở Á Châu. Trong khi đó, hỏi về vai trò của nước Mỹ, có 69% người Trung Hoa, 75% người Indonesia và 76% người Nam Hàn,79% người Nhật cho là ảnh hưởng của Mỹ trong vùng Á Châu đã tăng lên trong thập niên vừa qua. Người Việt Nam không cần biết Mỹ với Tàu ai sẽ hơn ai, nhưng chúng ta biết dù nước nào hơn thì mình cũng phải lo tự bảo vệ quyền tự chủ và bản sắc dân tộc.

Người Việt Nam phải quan tâm đến sự bành trướng của Trung Quốc. Nhưng chắc chắn không cần phải sợ. Trong cuốn Nhìn lại Sử Việt, cuốn đầu kể đến đời Ngô Quyền phá quân Nam Hán, sử gia Lê Mạnh Hùng đã đặt câu hỏi tại sao người Việt vẫn bảo vệ được quyền tự chủ và bản sắc sau 1117 năm Bắc thuộc, trong khi những giống dân khác như Sở, Ngô, Mân Việt, Nam Chiếu, Liêu, Hạ, Hồ Hột (Uighur), Thổ phồn, Mông, Mãn, vân vân, đã bị Hán hóa? Ông Lê Mạnh Hùng nêu ra nhiều lý do. Trong đó có một điều ít sử gia chú ý tới, là sự tiếp cận của Việt Nam với vùng Ðông Nam Á. Vào thế kỷ 21 này yếu tố trên vẫn phải chú ý tới, nhưng phải mở rộng ra ngoài vùng Ðông Nam Á sang khắp cả Á Châu và Thái Bình Dương. Khắp nơi đều có những hàng rào ngăn không cho Trung Quốc bành trướng. Việt Nam phải biết lợi dụng hoàn cảnh đó.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

10 sự kiện tồi tệ nhất trong thập kỷ qua

Suy thoái kinh tế, chiến tranh Iraq, thảm họa sóng thần cùng tai tiếng về nhà tù Guantanamo
là những sự kiện kinh hoàng nhất trong 10 năm qua do tạp chí Time của Mỹ bình chọn.

Image
Cuộc bầu cử tổng thống gây tranh cãi năm 2000 tại Mỹ.

Khởi đầu một thập kỷ nhiều biến động là kết quả bỏ phiếu gây tranh cãi kéo dài cả tháng tại bang Florida và kết thúc là
ngôi tổng thống Mỹ thuộc về George W. Bush, với số chênh lệch chỉ là 537 phiếu. Ảnh: NEWSMAKERS.

Image
Vụ tấn công khủng bố 11/9/2001.

Cuộc tấn công đẫm máu tại New York và Washington D.C. ngày 9/11/2001 đã định nghĩa lại khái niệm chính trị toàn cầu và buộc dân Mỹ
phải đặt câu hỏi về nền an ninh vốn luôn được cho là đáng tự hào của họ. Nó cũng mang tới cho nước Mỹ một kẻ thù mới - al Qaeda.
Ngày 11/9 cũng thay đổi cách sống của người Mỹ: từ việc kiểm soát gắt gao tại sân bay đến việc lo lắng về bột trắng trong phong bì và những chiếc cặp bị bỏ quên tại các ghế công viên.
Ảnh: Reuters.

Image
Cuộc đổ quân vào Afghanistan.

Hậu quả tức thì của vụ tấn công 11/9 là quyết định trừng phạt của chính quyền Bush trước đế chế Taliban đã dung nạp al Qaeda và ông trùm Osama bin Laden.
Cho dù ban đầu được đánh giá là thành công khi đánh bật Taliban khỏi Kabul, nhưng cuộc chiến tại đây ngày càng trở nên tồi tệ
khi lực lượng phiến quân này vẫn luôn ẩn núp và dần dần khôi phục lại thế lực. Ảnh: Getty For Time.

Image
Chiến tranh Iraq, 3/2003.

Tuyên bố chiến dịch quân sự như một phần không tách rời của Chiến tranh chống khủng bố, chính quyền Bush đã đổ quân vào Iraq,
kiểm soát toàn bộ quốc gia và hất cẳng tổng thống Saddam Hussein. Lý do cho cuộc xâm chiếm này là sự tồn tại của vũ khí hủy diệt mà Saddam có thể đã hỗ trợ cho đồng minh al Qaeda.
Tuy nhiên, Mỹ không tìm thấy vũ khí hủy diệt ở Iraq cũng như nhiều người ngờ rằng Saddam khó có thể đánh bạn với những chiến binh Hồi giáo cực đoan.
Thực tế đã cho thấy chiến tranh ở Iraq ngày càng sa lầy nghiêm trọng khi lấy đi tính mạng của hàng nghìn người Mỹ và gây ra các vụ scandal như nhà tù Abu Ghraib.
Ảnh: Noor For Time.

Image
Sóng thần ở châu Á - 12/2004.

Cuối tháng 12/2004, trận động đất kinh hoàng xảy ra ở ngoài khơi Sumatra, Indonesia, kéo theo những con sóng khổng lồ nhấn chìm các khu vực quanh Ấn Độ Dương.
Ước tính 200.000 người đã chết chỉ trong vài giờ đồng hồ. Ảnh: Reuters.

Image
Bão Katrina, 1/9/2005.

Xét về thiệt hại vật chất thì cơn bão càn quét nước Mỹ có thể không kinh hoàng như sóng thần ở Ấn Độ Dương,
nhưng ảnh hưởng tâm lý của nó thì vô cùng to lớn. Thành phố New Orleans, gắn liền với biểu tượng nước Mỹ, bị nhấn chìm toàn bộ.
Sự phản ứng thiếu hiệu quả của mọi cấp chính quyền trước thảm họa đã làm xói mòn quan niệm về một nước Mỹ "ngoại lệ". Ảnh: MAGNUM FOR TIME

Image
Sự suy thoái kinh tế, 13/9/2008.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu vào tháng 9/2008 khi tập đoàn Lehman Brothers sụp đổ.
Sự hoảng loạn, lo sợ nhanh chóng lan tràn khắp toàn cầu. Nhưng ảnh hưởng của nó nặng nề với dân Mỹ hơn bao giờ hết.
Thu nhập trung bình của mỗi hộ dân Mỹ năm 2000 là 52.500 USD. Đến năm 2008, con số chỉ là 50.303 USD. Năm 2000, 11,3% dân Mỹ sống dưới mức đói nghèo.
Đến năm 2008, con số là 13,2%. Ảnh: Redux.

Image
Vụ gian lận tài chính lớn nhất trong lịch sử, tháng 10/2008.

Siêu lừa đảo nước Mỹ với cái tên Bernie Madoff đang gặm nhấm quãng đời còn lại trong nhà lao ở North Carolina
với án tù 150 năm vì thực hiện âm mưu gian lận tài chính lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Vụ lừa đảo được lật tẩy vào cuối năm 2008 mở ra một danh sách nạn nhân trải dài từ châu Mỹ tới châu Âu và cả châu Á.
Đến nay, người ta vẫn chưa xác định số tiền 50 tỷ USD đã biến đi đâu. Ảnh: Getty Images.

Image
Sự tan rã của ngành công nghiệp ôtô.

Ngành công nghiệp xe hơi Mỹ dường như tan biến sau sự sụp đổ của hàng loạt đại gia như GM, Chrysler và UAW.
Thành phố xe hơi Detroit của Mỹ trở nên khủng hoảng với những chiếc xe chất lượng thấp,
dây chuyền sản xuất được giám sát bởi bộ máy quản lý cồng kềnh, phụ thuộc vào cơ cấu tài chính thiếu chuyên nghiệp. Ảnh: VII for Time.

Image
Scandal nhà tù Guantanamo.

Đã bị bôi bẩn bởi scandal về nhà tù Abu Ghraib, lý tưởng về một nước Mỹ tự do lại bị vùi dập bởi
những biện pháp tra khảo tàn khốc và vô nhân đạo tại trại quân sự Mỹ ở Guantanamo, Cuba.
Với phần còn lại của thế giới, nhà tù Guantanamo đã phủ mờ ánh sáng tự do mà nước Mỹ tuyên bố là luôn bảo vệ, giữ gìn. Ảnh: Getty Images.


Diệu Minh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Kinh Tế cũng là Chính Trị

Nguyễn Xuân Nghĩa

Bom nguyên tử và thế liên hoàn kinh tế
Ðòi ép Iran, Tổng Thống Obama lại lùi vào vách...



Sau ba tháng chờ đợi qua chín lần hội họp, tối Thứ Ba, Tổng Thống Barack Obama mới công bố quyết định về chiến trường Afghanistan. Người ta đợi xem ông sẽ đưa thêm bao nhiêu quân vào đấy - và để làm gì. Ðể làm gì thì ông đã nói: “hoàn tất nhiệm vụ” (hàm ý là “...mà ông Bush bỏ dở”) chứ không để chiến thắng. Việc Nghị sĩ John Kerry kịp thời tung ra báo cáo do ông yêu cầu phe mình điều tra (“chính quyền trước để hụt mất Osama bin Laden tại Tora Bora”) nằm trong đòn đổ lỗi ấy.

Nhưng làm sao hoàn tất nhiệm vụ - finish the mission - tại Afghanistan là chuyện sách lược thì không ai rõ là gì.

Mục tiêu của ông Obama chỉ là trì hoãn sự phán xét của cử tri nên ông không thể rút quân như đa số trong phe Dân Chủ đòi hỏi hoặc tăng quân như các tướng lãnh đề nghị. Nhưng ông vẫn phải có quyết định để chứng minh là mình có quyết định, và không tháo chạy. Ông sẽ trì hoãn như thế nào thì sau này ta mới biết được, có khi qua những tiết lộ sau về việc giã từ A Phú Hãn.

Một việc mà ông không thể trì hoãn là phải có thái độ trước sự thách thức của Iran.

***

Từ Tháng Tư đến nay, Hoa Kỳ đã ra nhiều tối hậu thư cho lãnh đạo Iran mà vô hiệu. Tuần qua, Tehran còn thông báo sẽ xây thêm 10 lò tăng cường chất uranium. Trước áp lực của nhóm P5+1 - năm hội viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Tầu) cộng thêm nước Ðức - và sự bất lực của Nguyên Tử Lực cuộc IAEA, Iran vẫn tỏ ra là không e sợ một đòn trả đũa, hay một quyết định cấm vận kinh tế. Nếu chính quyền Obama không làm gì thì Iran thắng lớn trong toàn khu vực Trung Ðông và sẽ thành vấn đề cho Hoa Kỳ trong thế giới Hồi Giáo. Nếu ông Obama có phản ứng quyết liệt thì sẽ có một cuộc chiến thứ ba trên bàn và trong lý lịch, sau chuyện Iraq và Afghanistan.

Ông chỉ có một thế lách, là cho lãnh đạo Iran thấy sự lợi hại của đòn phong toả kinh tế. Chúng ta trở lại chuyện treo chuông cổ mèo trong bài “Phong Toả Ba Tư” trên cột báo này vào đầu Tháng Chín vừa qua (ngày 8 Tháng Chín).

Ba tháng sau, mình có thể nhìn vào chuỗi xích liên hoàn nhằm bao vây Iran, và những mắt xích yếu nhất, hoặc mở to.

Mở ra toang hoác là trường hợp Trung Quốc và Liên Bang Nga. Hai xứ này không có nhu cầu gỡ bí cho Hoa Kỳ để siết chặt vòng đai kinh tế chống Iran. Nước Mỹ càng vướng bận với các hồ sơ đối ngoại thì hai xứ này càng dễ đối phó với Mỹ trên các hồ sơ khác. Quả nhiên, hôm Thứ Hai 30, Liên Bang Nga ký với Iran một lúc bốn hợp đồng về dầu hỏa, khí đốt và viễn thông. Và Nguyên Tử Lực Cuộc của Iran thông báo Nga sẽ được ưu tiên trong các dự án năng lượng sau này.

Chuyện ấy khiến hai đồng minh cứng rắn nhất của Mỹ bỗng thấy thốn dạ.

Ðó là Anh và Pháp. Họ có thể ủng hộ quyết định cấm vận - như tập trung vào việc sinh tử nhất là phong toả xăng dầu vào Iran vì xứ này cần nhập cảng tới 35% của nhu cầu. Nhưng họ cũng hiểu quy luật “bít lỗ hà ra lỗ hổng.” Ngoài Nga và Trung Quốc, nhiều xứ khác hoặc nhiều tổ hợp dầu khí quốc tế - khác với BP hay Total - sẽ trục lợi. Thất thâu oan uổng!

Ðồng minh then chốt nhất của Mỹ trong vụ này là nước Ðức thì lại nhìn qua nơi khác...

Hôm Thứ Hai 30, vì mắc bệnh, Thủ Tướng Israel là Benyamin Netanyahu đã điện thoại thay vì qua tận Berlin để gặp Thủ Tướng Angela Merkel. Ðôi bên đã chuẩn bị một phiên họp nội các hỗn hợp để bàn về quan hệ giữa Israel với Palestine và nhất là về hồ sơ Iran. Israel không tin vào khả năng thuyết phục của Hoa Kỳ với Tehran và khó chịu với áp lực của chính quyền Obama nên xoay trở theo hướng khác, với Liên Bang Nga, Pháp và nay là Ðức. Thủ Tướng Merkel sẵn sàng chiều lòng để tăng cường tư thế của nước Ðức - và nhân tiện cho Obama một bài học.

Trong các nước Âu Châu, Ðức có nhiều quan hệ kinh tế nhất với Iran và Tháng Sáu năm ngoái còn trù tính một số dự án xây dựng hạ tầng năng lượng cho xứ này. Các tổ hợp tài chánh Ðức cũng kinh doanh mạnh trong việc bảo hiểm cho các tầu dầu ra vào Iran, tức là bị thiệt nhất nếu xăng dầu vào xứ này bị phong toả.

Ðức lại có nhu cầu mua khí đốt của Nga và muốn có một đối sách khác với Liên Bang Nga, để giữ thế mạnh trong khối Liên Hiệp Âu Châu. Có khi còn... kiếm ra tiền khi Nga muốn tư nhân hóa một số tổ hợp quốc doanh. Thủ Tướng Valimir Putin càng tỏ vẻ gay gắt với Hoa Kỳ chừng nào lại càng chiều chuộng Thủ Tướng Merkel chừng đó. Vì vậy, bà Merkel sốt sắng nói chuyện với cả Israel và Nga, về cùng một hồ sơ đang gây nhức đầu cho Hoa Kỳ là chuyện Iran.

Bà Merkel càng muốn dùng đòn bẩy này để lại quả chính quyền Obama vì một cái gai khác: tổ hợp xe hơi General Motors.

Khi tổ hợp này vỡ nợ và được chính quyền Obama cấp cứu, một chi nhánh Ðức của GM là Opel bị đe dọa và có thể phải thải người trong số 25,000 nhân viên, ngay trước khi Ðức có tổng tuyển cử. Khi ấy, Merkel trực tiếp kêu gọi Obama quan tâm đến mảnh vụn Opel của GM vì sẽ gây thêm thất nghiệp và bất ổn xã hội tại Ðức sau vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ tại Mỹ. Câu trả lời từ phía Hoa Kỳ là “đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ!”

Chính quyền Merkel đành ráo riết tìm giải pháp khai thông ngay trước bầu cử.

Một trong nhiều giải pháp đưa ra và được chọn lựa là chính phủ Ðức cho Opel vay một tín khoản 4,5 tỷ Euro để cấp cứu và dàn xếp việc bán Opel cho hãng chế tạo phụ tùng xe hơi Magna của Canada, với nguồn tài trợ của ngân hàng quốc doanh lớn nhất của... Nga (Sberbank). Ðiều kiện là Opel không sa thải nhân viên trong dự án cải tổ. Khi ấy, tổ hợp GM đồng ý với quyết định này.

Kết quả thì đảng của bà Merkel thắng cử và liên minh với một đảng mạnh hơn bên cánh hữu, nhưng kinh tế Ðức vẫn chưa hoàn toàn phục hồi. Trong khi ấy, GM cũng tạm qua cơn sóng gió nhờ bán xe thay hàng đồng nát - cash for clunkers - và tới đầu Tháng Mười Một vừa rồi thì... đổi ý. Hội đồng Quản trị GM quyết định không bán Opel nữa, nhưng sẽ chấn chỉnh tổ chức! Ngày 25 vừa qua thì GM thông báo biện pháp cụ thể là sẽ sa thải 9,000 công nhân Ðức.

Nhìn lại cho sâu - vì kinh tế cũng là chính trị - chính quyền Obama không muốn Liên Bang Nga tiến hợp tác quá sâu với Ðức và doanh nghiệp Nga học được kỹ thuật chế tạo xe hơi loại rẻ, bền và ít hao xăng để có thể sau này sẽ cạnh tranh với xe hơi Mỹ trên thị trường Âu châu. Hãng GM cũng không muốn Magna của Canada sẽ chế tạo loại xe ấy và tung vào... thị trường Bắc Mỹ. Cũng rất hợp lý.

Nhưng thủ tướng Ðức biết rất rõ là hãng GM đang có trong túi 13 tỷ Mỹ kim của chính quyền Mỹ mà không chi một xu cho hãng Opel, lại đòi chính quyền Ðức cáng đáng lấy vì Merkel đã lỡ hẹn bốn tỷ rưỡi Euro cho hãng Opel vay trong dự án Magna/Sberbank. Ðồng minh với nhau mà tráo trở như vậy thì đáng được một bài học... tại Iran.

Ðâm ra xe hơi đã tông vào quan hệ vốn dĩ kém nồng thắm giữa Tổng Thống Obama với Thủ Tướng Merkel. Vụ tông xe ấy có khi làm lở bức tường ông Obama muốn xây chung quanh Iran.

Trong khi ấy, dù ở rất xa hóa ra rất gần là xứ Brazil cũng nhảy vào vòng liên hoàn kinh tế, để đòi gỡ thêm một mắt xích của Obama.

Thứ Ba tuần trước, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad vừa hoàn tất chuyến công du Brazil trên đường thăm viếng Mỹ Châu La Tinh. Trong khi Israel lật đật đưa Tổng Thống Shimon Peres bay qua gặp Tổng Thống Luiz Innacio Lula da Silva để chặn đầu thì ông da Silva lững lờ lên tiếng: Brazil chống lại mọi biện pháp cấm vận Iran!

Xứ Brazil là cường quốc Nam Mỹ và lời nói của da Silva có trọng lượng hơn Tổng Thống Hugo Chavez khật khùng của xứ Venezuela mục nát.

Chavez đã bắn tiếng là nếu Iran bị phong tỏa thì Venezuela sẽ gửi xăng dầu qua tiếp tế. Chuyện ấy không làm Hoa Kỳ giật mình vì thật ra vượt quá tầm nước miếng của ông Chavez lắm lời và đa sự. Nhưng Brazil lại khác. Xứ này có thực lực riêng, lệ thuộc rất ít vào xuất cảng (có 13% tổng sản lượng GDP - và mua bán rất ít với Hoa Kỳ - chỉ có 3% GDP - nên không e ngại một sự trả đòn, dù Quốc Hội Mỹ đã hăm là sẽ ngăn cấm Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng EximBank của Mỹ tài trợ cho các dự án năng lượng của Brazil.

Ngoài ra, Brazil còn có một khách sộp đang chờ ngoài cửa để mua nguyên nhiên vật liệu và vượt qua Mỹ về chuyện làm ăn buôn bán. Ðó là Trung Quốc! Vì vậy, Tổng Thống Lula da Silva có thể ỡm ờ lên tiếng chống Mỹ và bênh vực Iran để lấy tiếng ở nhà và trong khối Mỹ Châu La Tinh mà không bị lỗ lã gì nhiều!

Người ta không tin là Brazil có thể cứu được Iran - nhất là khi Tehran còn có nhiều đồng minh khác ở gần hơn - nhưng việc một quốc gia có vẻ vô can như xứ Brazil mà cũng nhảy vào buông lời chống Mỹ tất nhiên sẽ khiến nhiều xứ khác nhìn lại cái thế và lực của Hoa Kỳ. Kẻ thù thì không sợ mà đồng minh lại chẳng tin thì tội gì mà đứng bên nước Mỹ. Lợi ích kinh tế chưa thấy đâu thì lại bị mang tiếng là tay sai của Mỹ, và bị bỏ rơi giữa dòng như nhiều xứ khác đã bị...

Hơn cả Anh, Pháp hay Ðức, thái độ kỳ lạ của Brazil mới khiến người ta thấy ra sự cô đơn của ông Obama, khi càng đấu lực với Iran lại càng lùi tới chân tường!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quan trọng nhất vẫn là chuyện “giốp“

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn ở Âu Châu qua đã than rằng mỗi khi đọc báo Người Việt trên mạng anh rất bực mình vì những tiếng Mỹ được “Việt hóa.” Thí dụ như “Job” (bà con ta đọc là giốp) tức là công việc làm; hoặc “care” (ta hay đọc là ke) tức là quan tâm, săn sóc; vân vân. Anh bạn khuyên người viết tiếng Việt nên tránh thói quen đó, vì đa số độc giả không sống ở Mỹ. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý.

Hôm nay viết truyện kinh tế ở nước Mỹ, tôi xin phép theo thói quen của nhiều người Việt sống ở đây, hy vọng bà con sống ở nơi khác, nhất là ở Việt Nam, rộng lòng tha lỗi cho. Câu chuyện là: Ông Barack Obama đang cố chứng tỏ ông cũng “ke” đến mối lo về “giốp” của dân! Cho nên ông đã mời hơn 100 người đến “họp thượng đỉnh” ở Tòa Bạch Ốc về chuyện giốp. Và tuần tới ông sẽ trình bày với quốc dân một chương trình tạo thêm giốp mới. Liệu ông có hy vọng thành công hay không?

Kinh tế Mỹ đã suy thoái suốt 24 tháng qua, kể từ Tháng Mười Hai, năm 2007, tháng nào cũng có tin tức nói số công việc làm giảm bớt. Ða số dân chúng coi đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, đặc biệt là những người đã mất giốp và gia đình họ. Cho nên họ bất mãn với tất cả giai tầng lãnh đạo, từ những người chỉ huy các ngân hàng, các xí nghiệp cho đến những nhà chính trị đã được họ bầu lên. Nhưng sau cùng mối bất mãn thế nào cũng đổ dồn trên đảng Dân Chủ, là đảng đang nắm quyền cả hành pháp lẫn lập pháp. Nếu những người đang nắm quyền hành trong tay mà không thay đổi được tình trạng kinh tế, đặc biệt là giải quyết vấn đề mất giốp, họ sẽ bị dân trừng phạt bằng thứ vũ khí mạnh nhất, là lá phiếu, trong năm tới.

Chính phủ Obama đang bị người dân giận hoặc ghét, mặc dù họ vẫn than cơn suy thoái do chính quyền trước để lại. Vì trong 9 tháng vừa qua, ông Obama dành ưu tiên cho những vấn đề khác. Ðầu năm, ông đã đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế, xong rồi thôi. Ông không tỏ vẻ quan tâm tới hàng chục triệu người mới mất việc trong năm qua. Tổng số người thất nghiệp đã lên gần 15 triệu rưỡi, trong số đó gần 6 triệu người thất nghiệp ít nhất 6 tháng vẫn chưa tìm được việc làm. Thời gian trung bình sống trong tình trạng thất nghiệp lên tới 28 tuần lễ, con số cao nhất kể từ năm 1948 đến nay. Ðiều này cho thấy cơn khủng hoảng công việc lần này quả thật là trầm trọng. Trong khi đó, mỗi lúc coi ti vi hay đọc báo, theo dõi các cuộc tranh luận trong Quốc Hội, người dân thấy hầu như cả guồng máy chính trị đang quay nhìn đi chỗ khác!

Cải tổ y tế, bảo vệ bầu khí quyển trái đất cho khỏi bị ô nhiễm và hâm nóng, đó là những vấn đề quan trọng thật. Nhưng đó là những chuyện đã lưu cữu từ lâu và sẽ phải giải quyết trong thời gian lâu dài. Chuyện “giốp“mới là chuyện nóng hổi! Ông tổng thống đã du hành các nước Âu Châu và Á Châu, các chuyến đi đó chưa giúp gì cho các xí nghiệp tuyển thêm người làm việc! Cuộc chiến Afghanistan quan trọng thật, nhưng nó ở quá xa và phần lớn dân Mỹ không biết nó ảnh hưởng gì đến túi tiền của họ. Khi chính phủ và Quốc Hội tỏ ra chỉ chú ý đến những vấn đề lớn xa xôi và lâu dài đó, trong khi ít có ai nhắc nhở tới số phận hàng chục triệu người không có tiền mua sắm để đón lễ Giáng Sinh sắp tới, thì coi chừng, sang năm dân sẽ trừng phạt!

Khi Tổng Thống Obama bắt đầu chứng tỏ cho mọi người Mỹ thấy là ông “cũng lo lắng” đến người người thất nghiệp thì may mắn lại có một tin vui: Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong Tháng Mười Một giảm chút đỉnh, từ 10.2% xuống 10% (Trước khi kinh tế Mỹ đi vào suy thoái, cuối năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp chỉ có 4.7%). Số công việc làm bị mất trong Tháng Mười Một chỉ có 11,000, nhẹ hơn con số 111,000 giốp bị mất trong Tháng Mười. Ðây là những tin vui sau khi kinh tế Mỹ đã bị mất hơn 7 triệu công việc làm trong hai năm qua.

Nhưng niềm vui nhỏ bé này cũng rất mong manh. Cũng vì vậy mà thị trường chứng khoán New York tăng vọt lên sau khi nghe tin thất nghiệp giảm, sau đó lại xuống để chỉ tăng nhè nhẹ. Tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm chỉ vì nhiều người đã bỏ cuộc không đi tìm việc nữa, do đó tên họ bị gạt ra khỏi danh sách những người thất nghiệp. Trong 6 tháng vừa qua, đã có hơn một triệu người “ra khỏi thị trường nhân dụng,” không đi tìm việc nữa! Sau khi nghe “tin mừng” về thị trường nhân dụng này, nhiều người đã bỏ cuộc trước đây sẽ “gia nhập thị trường” đi tìm việc trở lại, và có thể làm tỷ lệ tăng lên. Từ nay đến cuối năm, sẽ có nhiều người kiếm được việc làm nhờ dịp Lễ Giáng Sinh. Nhưng các con số hàng bán sau ngày Lễ Tạ Ơn vừa qua cho thấy các cửa hàng bán lẻ không phấn khởi lắm cho nên hy vọng này cũng rất nhỏ.

Sang năm 2010, sau mùa Giáng Sinh, tỷ lệ thất nghiệp có thể lại tăng lên. Muốn có thêm nhiều công việc làm, thì kinh tế phải phục hồi để các xí nghiệp phải hoạt động nhiều hơn. Nhưng ngay khi số hàng bán tăng lên, thường các xí nghiệp cũng không tuyển thêm người mới, vì chưa biết chắc chắn. Họ sẽ yêu cầu các công nhân đang làm việc tăng năng suất hoặc tăng giờ làm phụ trội, và chỉ tuyển thêm người vào làm việc bán thời gian. Ðó là lý do số giờ làm việc mỗi tuần tăng chút đỉnh, từ trung bình 33 giờ một tuần tăng thêm được một phần năm giờ, tức thêm 12 phút nữa. Cũng vì những người lao động đang có việc phải làm thêm giờ phụ trội nhiều hơn cho nên số lương trung bình cũng tăng lên được hơn 4 đô la, thành 622 đô la một tuần.

Nhiều người lao động được lãnh thêm lương sẽ chi tiêu nhiều hơn, hy vọng tạo ra công việc làm cho những người lao động khác! Ðó là một nguồn hy vọng. Một điều thêm hy vọng nữa là trong một chu kỳ kinh tế bình thường, các xí nghiệp sẽ tuyển nhân viên mới thường xuyên sau khi họ bắt đầu tăng số nhân viên bán thời gian được ba đến 6 tháng. Trong 4 tháng vừa qua, tháng nào các xí nghiệp Mỹ đã tăng số nhân viên bán thời gian, trong Tháng Mười Một thêm 52,000 người được tuyển. Nếu đà này tiếp tục được vài ba tháng nữa, con số lao động được tuyển sẽ tăng lên, giảm bớt nạn thất nghiệp. Nhưng sau cùng, chỉ khi nào giới tiêu thụ tin tưởng và chịu chi thêm tiền thì kinh tế mới thực sự hồi phục.

Một yếu tố chính khiến người tiêu thụ ở Mỹ bớt chi tiền là tình trạng các ngân hàng chưa sẵn sàng cho vay. Kinh tế Mỹ do người tiêu thụ làm chủ, họ quyết định gần 70% tổng sản lượng nội địa. Trong cả thập niên qua, số tiêu thụ tăng mạnh nhờ người ta vay nợ được dễ dàng - một ưu điểm mà cũng chứa những nhược điểm nguy hiểm! Nhưng sau hai năm suy thoái kinh tế, người Mỹ đã thay đổi thói quen vay nợ. Từ 6 tháng nay số thẻ tín dụng (credit cards) do các ngân hàng cấp đã giảm một phần tư, bớt 100 triệu thẻ, một hiện tượng chưa từng thấy. Một phần vì các ngân hàng thắt chặt điều kiện cấp thẻ tín dụng, nhưng lý do chính là chính những người dùng thẻ đã hủy bỏ bớt số thẻ cầm trong tay.

Người Mỹ đã bắt đầu tình nguyện tiết kiệm nhiều hơn, vì lo lắng tương lai hơn, sau khi cả nước đã “mất” 12 ngàn tỷ đô la vì giá nhà đất và chứng khoán bị giảm giá. Tuy con số mất đó chỉ xuất hiện trên sổ sách, nếu người ta không bán nhà và không bán cổ phiếu thì chưa mất gì cả, nhưng khi cảm thấy “nghèo hơn” thì mọi người cũng bớt chi tiêu! Tình trạng tiết kiệm gia tăng trong cơn suy thoái này rất đặc biệt. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng số vay nợ của cả nước Mỹ đã giảm, lần đầu tiên hiện tượng này xẩy ra kể từ năm 1952! Trong thời gian đó, chính phủ đã đi vay thêm rất nhiều, nhưng con số vay thêm đó không lớn bằng số tín dụng giảm trong lãnh vực tư, khi người tiêu thụ và các xí nghiệp hoặc bớt vay hoặc trả bớt nợ cũ! Ðối với toàn thể nền kinh tế thì đây cũng có thể là một điều may, vì khi lãnh vực tư bớt vay nợ thì vấn đề ngân sách khiếm hụt sẽ không nguy hiểm bằng khi kinh tế đang phát triển mà từ quan đến dân ai ai cũng muốn vay nợ!

Khi người tiêu thụ bớt chi tiêu, như ở Trung Quốc muốn kích thích kinh tế thì chính quyền đã thay thế bằng cách đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước đầu tư, mặc dù nhiều dự án đầu tư không mang lại ích lợi lâu dài mà chỉ nuôi thêm tham nhũng. Ở nước Mỹ, chính quyền không thể ép các xí nghiệp đầu tư, mà các xí nghiệp nhỏ và cỡ trung đang gặp khó khăn khi vay nợ cũng không muốn bỏ tiền ra đầu tư trong lúc này. Cho nên, việc kích thích kinh tế ở Mỹ hiện cũng trông đợi vào tiền chi tiêu của chính phủ. Chi tiêu như thế nào để số cầu tăng lên ngay mà vẫn có lợi ích ích lâu dài, đó là vấn đề mà cả nước Mỹ đã bàn cãi từ cả năm nay.

Trong khi khai mạc “họp thượng đỉnh” về “giốp, Tổng Thống Obama nói ông xin nghe mọi ý kiến giúp tạo thêm việc làm, và ông công nhận rằng chỉ lãnh vực tư mới có thể làm công việc đó chứ không phải nhà nước. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Dân Chủ thì muốn nhà nước phải tiêu thêm! Họ đang nhắm vào số tiền chưa dùng tới trong ngân sách giải cứu các ngân hàng, có từ thời Tổng Thống Bush. Ý định này có thể sẽ bị chống đối mạnh mẽ, mà Tòa Bạch Ốc cũng không ủng hộ.

Kế hoạch mà ông Obama sẽ công bố trong tuần tới sẽ trợ cấp các chính quyền tiểu bang và thành phố để họ ngưng sa thải nhân viên. Chính phủ cũng sẽ trợ cấp cho những chương trình tiết kiệm năng lượng khi sửa sang nhà cửa, để tạo thêm công việc làm và kích thích tiêu thụ, đồng thời giải đáp một vấn đề lâu dài là nước Mỹ tùy thuộc quá nhiều vào dầu, khí nhập cảng. Ông Obama sẽ giảm thuế cho các xí nghiệp nhỏ để khuyến khích họ tuyển thêm người làm việc. Ngoài những món chi tiêu mới đó, còn nhiều chương trình trong đạo luật kích thích kinh tế từ đầu năm nay chưa được chi tiêu, trong năm tới sẽ thi hành đây đủ hy vọng sẽ tạo thêm công việc làm. Nước Mỹ cần tạo thêm 8 triệu công việc để tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống như trước cơn suy thoái, cộng thêm 1.5 triệu công việc mới cho những thanh niên mới bước vào thị trường nhân dụng mỗi năm.

Những kế hoach chi tiêu của nhà nước sẽ tạo ra được tối đa là 2 triệu công việc trong một thời gian. Sẽ không giúp được bao nhiêu nếu dân Mỹ không chi tiêu ngay những đồng tiền họ mới nhận được. Hiện cũng có nhiều điềm tốt, cho phép mọi người hy vọng.

Một, là dân Mỹ không thể nhịn chi tiêu mãi được. Nhiều gia đình muốn thay xe hơi, thay tủ lạnh, mua bộ âm thanh mới, đã trì hoãn trong gần 2 năm qua, thế nào họ cũng phải đi sắm đồ mới. Họ sẽ kích thích sản xuất. Các xí nghiệp trong năm qua đã giảm số hàng chứa trong kho, nhưng đến nay số tồn kho xuống đến mức quá thấp, họ sẽ bắt buộc phải sản xuất hoặc mua hàng tồn kho trong mấy tháng nữa. Yếu tố chính gây nên cuộc suy thoái lần này là thị trường địa ốc khủng hoảng. Trong tuần qua, thị trường nhà cửa có nhưng tin vui hiếm hoi. Số nhà mới xây được bán đã tăng lên, và giá khá ổn định.

Với những điềm lành đó, người ta hy vọng kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục trong nửa đầu năm 2010. Khi đó, các xí nghiệp sẽ tuyển người, số thất nghiệp sẽ giảm. Và dân Mỹ lại hăng hái đi vay nợ!

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Chuyên gia Đinh Xuân Quân và diễn văn của TT Obama Sau bài diễn văn của Tổng thống Obama đọc tại trường Võ bị West Point tối thứ Ba, chúng tôi đã tiếp xúc với chuyên gia Đinh Xuân Quân, một người từng phục vụ trong chính quyền của Tổng thống Karzai nhiệm kỳ đầu, qua chương trình của World Bank để giúp cải tổ hành chính. Sau đây là ý kiến của ông về một số điểm trong bài diễn văn mà chúng tôi nêu lên: đó là thời hạn 18 tháng mà Tổng thống Obama đưa ra và lời tuyên bố của Tổng thống: Afghanistan sẽ không phải là Việt Nam. Mời quý vị theo dõi các chi tiết sau đây qua bài viết của Lan Phương.

Khi Hoa Kỳ và đồng minh đưa quân vào Afghanistan năm 2001 lực lượng Tây phương lúc đó chỉ có 8 ngàn quân
Afghanistan, với một diện tích rộng hơn nước Pháp và gấp đôi nước Việt Nam, đầy núi non hiệm trở, khi Hoa Kỳ và đồng minh đưa quân vào Afghanistan năm 2001 để đánh đuổi Taliban và al-Qaida, lực lượng Tây phương lúc đó chỉ có 8 ngàn quân. Tuy thua nhưng dần dần Taliban đã trỗi dậy vì sự lơ là của Hoa Kỳ, khi nước này phát động cuộc chiến Iraq năm 2003 và chú ý nhiều hơn đến tình hình Iraq.

Mãi cho đến năm 2005, 2006, vì sự lắng dịu tại Iraq quân đội NATO và Hoa Kỳ mới được tăng dần lên tới con số 68 ngàn. Hiện giờ quân số Hoa Kỳ và đồng minh tại Afghanistan vào khoảng 100 ngàn. Chuyên gia Đinh Xuân Quân đưa ý kiến về tuyên bố của Tổng thống Obama sẽ gửi thêm 30 ngàn binh sỹ đến Afghanistan.

Ông Quân nói: "Mặc dù có 100 ngàn quân tại Afghanistan, đây cũng chỉ là con số rất nhỏ, vì xứ Afghanistan rất lớn. Tuy nhiên chúng ta nên để ý là trong quân đội, thường thì 3 người ở hậu phương mới có một người chiến đấu, do đó binh sỹ chiến đấu rất ít. Khi Tổng thống Obama nói là ông đặc biệt gửi 30 ngàn quân chiến đấu, đó là chuyện quan trọng làm người ta chú ý; như thế có thể nói rằng 30 ngàn quân chiến đấu tức là tăng gấp đôi lực lượng chiến đấu tại Afghanistan. Đây là chuyện rất rõ ràng trong quyết tâm của chính phủ Hoa Kỳ và đồng minh NATO để giải quyết cho nhanh chóng."
Image
Chuyên gia Đinh Xuân Quân
Thời hạn 18 tháng mà Tổng thống Obama đưa ra để chính quyền Afghanistan phải chỉnh đốn hầu có thể giữ vững lãnh thổ là một công việc thiên nan vạn nan khi Tổng thống Karzai phải đối phó với nhiều khó khăn, thứ nhất là quân sự.

Ông Quân cho biết: "Quân đội Afghanistan mới được tái xây dựng vào năm 2002, và lúc đó họ chỉ nhắm là có 40 ngàn người thôi. 40 ngàn người thì chưa đủ để rải khắp Afghanistan, do đó đã có nhiều cố gắng của đồng minh NATO và Hoa Kỳ để đào tạo quân đội Afghanistan. Nhưng ta cũng phải để ý là Afghanistan có 4 bộ lạc chính là người Pashtun thân Taliban, sau đó là người Tadjiks, người Hazaras và người Ouzbeks và nhiều bộ tộc nhỏ khác. Trong bối cảnh này, điều đầu tiên người ta để ý là đa số quân đội Afgahsnitan ít học, không biết đọc, biết viết ; đào tạo một quân đội ít học rất là khó."

Cái khó thứ hai là về mặt hành chính, cai trị, ông cho biết tiếp:

"Cái thứ hai là phải có sự hiện diện của chính phủ trên khắp Afghanistan về phương diện hành chính; phải có một đội ngũ xây dựng nông thôn, dù muốn hay không chính phủ Afghanistan phải có mặt trên khắp lãnh thổ và phải cung cấp dịch vụ cho dân từ vấn đề điện nước, đường xá, công ăn việc làm, phát triển nông thôn, thì dân mới tin tưởng vào chính phủ trung ương được, chưa kể vấn đề tham nhũng. Đó là hai điều khó khăn nhất cho chính phủ Karzai.

Quốc gia Afghanistan là tập hợp của nhiều bộ lạc, họ không có một tinh thần quốc gia, họ chỉ có tinh thần đứng dậy chống ngoại xâm mà thôi chứ không có một tổ chức hành chính hay chính phủ trung ương có thể chi phối và quản lý tất cả mọi nơi ở Afghanistan. Đó là những yếu kém mà chính phủ Karzai phải giải quyết.

Nói tóm lại quân đội Afghanistan phải tăng lên và đào tạo nhiều hơn, cái thứ hai phải có một đội ngũ hành chính, xây dựng nông thôn tại mọi nơi, và thứ ba là phải triệt được tham nhũng. Tham nhũng đi song song với vấn đề ma túy. Hai tỉnh Kandahar và Helmand là nơi sản xuất 90% ma túy (thuốc phiện) trên thế giới."



Hai tỉnh Kandahar và Helmand là nơi sản xuất 90% ma túy (thuốc phiện) trên thế giới

Afghanistan đã bị hạn hán đến 7 năm nay, nông gia phải trồng trọt để kiếm sống, mà thứ cây dễ trồng nhất trong thời tiết khô hạn là cây thẩu; đã vậy, vì chính quyền trung ương không đủ mạnh, các sứ quân có thế lực thường vẫn can dự vào việc sản xuất thuốc phiện và thông đồng với các viên chức chính phủ bằng tham nhũng để thủ lợi. Và nạn tham tham nhũng cứ thế mà lan tràn mạnh. LHQ đã cố gắng nhiều trong việc giúp nông dân trồng các loại nông phẩm khác như lúa mỳ và trái cây chẳng hạn.

Tổng thống Obama nói rằng Afghanistan sẽ không phải là VN. Chuyên gia Đinh Xuân Quân nêu ra những khác biệt để hậu thuẫn cho tuyên bố của Tổng thống Obama.

Ông Quân nhận xét: "Tôi thấy khác biệt rất nhiều. Đầu tiên, cuộc chiến tại Việt Nam là cuộc chiến giữa phe Quốc gia và phe Cộng sản. Phe Cộng sản được khối cộng sản từ Liên Xô tới Trung Quốc, Ba Lan v..v.. giúp họ. Họ được cả một khối rất lớn viện trợ và guồng máy tuyên truyền của họ rất là mạnh, thông tin bị khép kín.

Cái thứ hai là những trận chiến ở Việt Nam ở tầm cỡ sư đoàn, quân đoàn; miền bắc, nhờ khối Cộng sản hỗ trợ, nên nó đã làm thay đổi cán cân trong cuộc chiến. Trong khi tại Afghanistan thì đây là trường hợp ngược lại, đó là một xứ Hồi giáo cực đoan, chỉ có một số cá nhân, một số hội của Hồi giáo cực đoan gửi tiền giúp, chứ không phải là các quốc gia ủng hộ họ."

Cũng theo chuyên gia Đinh Xuân Quân, trình độ dân trí của người Afghanistan còn thấp kém, chậm tiến, quốc gia này giống như đang trong thời trung cổ.

Theo chuyên gia này, cái khó nhất của Tổng thống Obama khi ông đề ra thời hạn 18 tháng, thì vấn đề quân sự, an ninh may ra có thể đạt được mục tiêu nhưng còn về tái thiết, xây dựng chính phủ thì 18 tháng là quá ngắn. Tuy nhiên đây là bước đầu, nếu thành công thì về sau sẽ dễ dàng hơn.

Điểm chính mà chuyên gia này nhận xét qua bài diễn văn của Tổng thống Obama là: lần đầu tiên chính phủ Hoa Kỳ có một chính sách rõ ràng đối với Afghanistan. Trước đây toàn là chính sách vá víu và Hoa Kỳ đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để bình định, tái thiết nước này.

Lan Phương

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Những Tên Trí Thức Vô Học Mặt Mo
Không Biết Nhục !


Image
Vợ chồng Trần Thanh Vân nhận bằng khen của đảng

Người bạn tôi hỏi trí thức làm sao mà gọi là "vô học" ? Tôi trả lời, trí thức là những người đạt được bằng cấp, sau khi đạt được bằng cấp mà vẫn đối xử với những người khác một cách hạ cấp thì không thể gọi là người có học được. Xưa nay người ta đi học trước hết là "Tiên học Lễ, rồi mới tới Hậu học Văn"

Sự chia sẻ của ông cụ Gs. TS Trần Thanh Vân, việt kiều Pháp từ năm 1950, khi ông về Việt Nam dự Hội nghị “Người Việt Nam trên toàn thế giới” lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội. Ông Trần Thanh Vân trả lời tờ báo Dân Trí , phát biểu một câu hết sức thất học và vô ý thức.

"Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình.

Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục - ở nước ngoài không được như thế".


[Trích] ............ .........


Trần Thanh Vân: “Tôi khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc”.

Tôi muốn hỏi:

— Ông lấy tư cách gì mà “khẳng định” dùm cho hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài ?

— “Người Việt Nam ở nước ngoài” mà ông nói đến ở đây chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng số người Việt Nam ở nước ngoài ?

— Hay “người Việt Nam ở nước ngoài” mà ông nói đến ở đây chỉ là một nhóm người có tư cách giống y như ông ?

— Tại sao chính ông “rất muốn trở về Việt Nam để làm việc” nhưng lại không về hẳn cho toại nguyện, mà chỉ thỉnh thoảng ghé về theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa dăm ba bữa, rồi trở ra nước ngoài để sống, làm việc, mà than van là “khổ lắm” !?


Trần Thanh Vân: “Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày - khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình”.

Tôi muốn hỏi:

— Theo ông Trần Thanh Vân thì người Việt sống trong nước không khổ ? Họ đi làm về thì không phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình ?

— Thế thì ai làm cho họ những việc ấy ? Những người đầy tớ chăng ?

— Những người đầy tớ ở Việt Nam là người ngoại quốc chứ không phải là “người Việt mình” hay sao ?

— Có phải ông Trần Thanh Vân ở bên Pháp không có đủ tiền thuê đầy tớ, cho đến khi về thăm Việt Nam thì ở khách sạn có người phục vụ, hay mướn nhà ở ngắn hạn và thuê đầy tớ với giá rẻ mạt, nên ông cảm thấy cuộc sống của ông sang trọng hẳn lên, không “khổ lắm” như khi còn ở Pháp ?

— Việt kiều đem tiền về nước sống rủng rỉnh trên đầu của một nhóm đầy tớ nghèo nàn khốn khổ thì vinh dự lắm chăng , là thể hiện lòng “yêu nước” chăng ?

— Phải chăng nỗi khổ của một kẻ trí thức thì chỉ vỏn vẹn ở chỗ phải nấu ăn, rửa chén bát, làm việc nhà ?

— Thế còn khi chứng kiến những sự đàn áp, xâm phạm nhân quyền, bất công xã hội, tham nhũng tràn lan trong xã hội, thì kẻ trí thức vẫn sung sướng , không hề cảm thấy khổ sở chút nào ư ?


Trần Thanh Vân: “Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế”.

Tôi muốn hỏi:

— Xin ông Trần Thanh Vân cho biết cụ thể sống ở Việt Nam thì “rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài” trên những phương diện nào ?

— Có phải ông Trần Thanh Vân làm Giáo sư ở Pháp suốt bao nhiêu năm nay mà không được xã hội Pháp tôn trọng ? Không được sinh viên Pháp kính phục ? Chỉ khi về đến Việt Nam thì ông mới được “xã hội tôn trọng, sinh viên kính phục” ?

— Phải chăng một nhà giáo là kẻ chỉ biết sung sướng khi được “xã hội tôn trọng, sinh viên kính phục”, bất chấp cái xã hội đó đầy những ung nhọt văn hoá , bất chấp cái nền giáo dục đó tệ hại , nhếch nhác ?


Tôi thấy Trần Thanh Vân và Nguyễn Hữu Liêm rất giống nhau, chỉ khác một chút xíu là Trần Thanh Vân không có lối nói giả giọng triết lý để làm sang. Về Nguyễn Hữu Liêm tôi đã có phát biểu một ý kiến ngắn. Tôi xin chép lại nơi đây cái ý kiến đó để mời ông Trần Thanh Vân và những người giống như ông đọc thử:

Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!

(hết trích)

Khi một người học xong để làm Thầy thì người đó có trách nhiệm phải dạy lại cho người đi sau biết những điều hay lẽ phải , dạy đạo đức trước khi dạy đến ngành chuyên môn . Ông Gs Trần Thanh Vân đã thể hiện một phong cách thiếu đạo đức , trong lòng của ông, những người dân VN trở thành những tên nô lệ cho hạng người trí thức như ông .

Người dân VN bao nhiêu năm qua đã sống đau khổ dưới chế độ CSVN , ngày hôm nay đảng CSVN lại đưa thêm những thành phần "trí thức" luôn coi dân VN là nô lệ - thử hỏi những hạng người này có xứng đáng được gọi là những người có học hay không ?


Xuân Nhi
Giáo Sư, Thạc sĩ Toán
CSU, East Bay.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Thảm sát trên đảo Trường Sa
Câu chuyện sau đây được viết ra để tưởng niệm hơn 130 đồng bào trên “ghe ông Cộ” trên đường vượt biển tìm tự do đã bị Việt cộng tàn sát dã man vào tháng Tư năm 1979 ở đảo Trường Sa, và cũng để gửi đến các con yêu quý của ba: Chí Dũng, Đông Nghi, Tì Tì.

Thời gian gần đây, dư luận đồng bào trong và ngoài nước vô cùng phẫn nộ trước nguồn tin Trung cộng đã xả súng bắn vào ngư dân Việt Nam đang săn bắt hải sản chung quanh khu vực đảo Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam, gây thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản cho ngư dân Việt Nam, Đây không phải là lần thứ nhất Trung cộng xả súng bắn vào ngư dân Việt Nam. Cách đây vài năm, Trung cộng cũng đã xả súng bắn vào ngư thuyền Việt Nam khiến cho 8 người bị chết và nhiều khác bị thương, sau đó Trung cộng còn ngang nhiên bắt giam nhiều ngư thuyền và ngư dân Việt Nam một cách trái phép vô cùng ngang ngược, bất chấp công pháp quốc tế về luật hàng hải. Đây là hai vụ điển hình nhất mà dư luận quốc tế có đưa tin và đề cập đến. Dĩ nhiên, là còn có nhiều vụ khác đã xảy ra nhưng không có người biết đến. Điều đáng để nói là: nhà cầm quyền Việt cộng đã không có lấy một hành động đáng kể nào được xem là để bảo vệ công dân của mình trước các hành động man rợ của Trung cộng. Thái độ nhu nhược và bất lực của Việt cộng trước việc Trung cộng bắn giết bừa bãi dân lành đã bị đồng bào nguyền rủa.

Nhưng đâu có ai biết được một câu chuyện đã xảy ra cách đây 28 năm về trước, cũng tại quần đảo Trường Sa này. Một cuộc tàn sát man rợ khác đã diễn ra, máu đào loang thắm cả một vùng biển, xác người trôi vất vưởng làm mồi cho muôn loài cá. Cuộc thảm sát man rợ này đã diễn ra do chính bộ đội Việt cộng, lực lượng trú đóng trên đảo Trường Sa ra tay thực hiện. Và….. nạn nhân là hơn 130 đồng bào vượt biển tìm tự do trên một con thuyền xuất phát từ thành phố Nha Trang. Trung cộng là giống dân ngoại chủng luôn luôn có ý đồ xâm chiếm Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Trung cộng bắn giết ngư dân Việt Nam cũng do bản chất xâm lăng, đồng thời muốn chứng tỏ thế nước lớn của mình đối với Việt Nam. Thế nhưng, bộ đội Việt cộng xả súng hàng loạt bắn thẳng vào chính những người cùng một dòng máu, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, mà họ gọi là đồng bào, chỉ vì những đồng bào này đã bỏ nước ra đi vì không chấp nhận một chế độ độc tài cộng sản. Hành động này của bộ đội Việt cộng đã vượt qua mức tưởng tượng bình thường của con người. Hành vi tội ác này của chúng nó, ngày nay đã được đảng cộng sản xóa bỏ để trở thành quá khứ, và những người sống sót trên con tàu oan nghiệt đó trở thành những khúc ruột xa ngàn dậm theo chủ trương của đảng, cho dù những người này không và sẽ không bao giờ quên dược cái đêm kinh hoàng của tháng 4 năm 1979 của 28 năm về trước. Bộ máy tuyên truyền của đảng Vc giờ đây đang cùng với những cá nhân, đảng phái đón gió trở cờ đang cùng nhau diễn xuất kịch bản “xoá bỏ hận thù, hướng tới tương lai ” Người sĩ quan bộ đội cộng sản, người đã trực tiếp ra lịnh thẳng tay tàn sát đồng bào vô tội trên đảo Trường Sa 28 năm về trước, nếu còn sống, có lẽ giờ đây đã biến thành một tay tư bản đỏ giàu sang, và đang ngồi ở vị trí Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Việt Nam

Tác giả câu chuyện này xin được viết ra đây câu chuyện của 28 năm về trước, như một nén hương lòng thắp muộn để tưởng nhớ đến hơn 130 đồng bào trên “ ghe ông Cộ ” những người bạn đồng hành của tác giả đã bất hạnh gục ngã trước những họng súng oan nghiệt của những tên Việt cộng cuồng sát. Những người còn may mắn sống sót sau cuộc thảm sát trên, nếu có dịp được đọc những dòng chữ này xin hãy cùng nhau dành một phút để cầu nguyện cho những bạn đồng hành xấu số của chúng ta. Những kẻ theo cộng sản là những kẻ cuồng tín, cuồng sát. Cho nên chúng mới xả súng bắn những người chạy đi, dù là đàn bà hay con trẻ, trong tay không tấc sắt. Dù chúng đổi tên, thay áo bộ đội, vất nón cối, bỏ dép râu….

Câu chuyện được bắt đầu từ đây

Chúa ơi cứu con với !
Tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt đã khiến cho tôi phải lấy tay vuốt mặt mình và bàng hoàng nhận ra toàn là máu, máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng cao đầu lên một chút để nhìn sang bên cạnh, người phụ nữ đang oằn oại với vết thương một bên đùi vỡ toác do đạn xuyên phá, máu tuôn xối xả. Tôi xót xa nhìn người phụ nữ đang lăn lộn vì đau đớn, nhưng cũng đành bất lực không cứu giúp gì được, vì ngay bản thân tôi cũng đang nằm bẹp dí xuống sàn tàu để tránh đạn.

Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng rên xiết, la hét, kêu gào, của những người bị trúng đạn quyện vào nhau tạo thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người, âm thanh giữa biên giới của sự sống và cái chết chỉ diễn ra trong một cái nháy mắt, mới còn nghe rên la đó…. một loạt đạn tiếp theo đã ghim chặt vào thân người, lập tức tiếng rên la im bặt, một con người đã vĩnh viễn ra đi, những người khác tiếp tục rên la, chờ đợi loạt đạn tiếp theo cướp lấy mạng sống của mình. Tôi tự nhủ thầm, muốn sống còn phải rời bỏ con tàu ngay lập tức. Tôi vùng dậy, và nhận ra con tàu đang chìm dần từ phía sau của thân tàu, phía trước của con tàu đã bị đạn pháo bắn gãy, đang chổng lên trời. Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt, một cảnh tượng hãi hùng mà tôi chưa từng chứng kiến. Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn của con người trong tôi bừng sống dậy, tôi lao mình ra khỏi con tàu phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng biển chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu. Thật là may mắn, tôi vừa rời xa con tàu thì dường như cùng một lúc, một trái đạn pháo kích rớt chính xác ngay giữa con tàu khiến con tàu gãy đôi và chìm xuống biển, mang theo toàn bộ số người có mặt trên tàu lên tới trên 130 người.

Trên mặt biển bây giờ đã không còn thấy bóng dáng con tàu đâu nữa, thay vào đó là những vật dụng bể nát của con tàu, những tấm ván bể nổi trôi lềnh bềnh trên sóng nước. Xác người chết ! xác người chết trôi nổi quanh tôi, phụ nữ, đàn ông, con nít, già có, trẻ có. Tất cả, không một ai còn được toàn vẹn thân thể, không một ai còn sống cả….. Có lẽ tôi là người sống sót duy nhất còn lại của con tàu, ngoài tôi ra thì chỉ còn lại toàn rặt là xác của người chết. Máu, là máu, từng vệt loang dài chảy ra từ vết thương của những xác chết, theo dòng nước trôi quanh tôi. Thủy triều đang lên, tôi rùng mình nghĩ đến đàn cá mập đói đang lẩn quẩn quanh đây chờ thủy triều lên cao sẽ theo mùi máu mà kéo đến, thì cho dù tôi có còn sống thì vẫn phải làm mồi cho đàn cá mập như những xác chết kia mà thôi! Tôi vươn tay cố gắng chụp lấy một mảnh ván để bám vào, tôi bám chặt vào mãnh ván, nhắm mắt lại cầu nguyện, dọn mình chờ chết, và trong cái khoảnh khắc tuyệt vọng đó tôi đã nghĩ đến gia đình, nghĩ đến những người thân thương ruột thịt, đã không biết được rằng tôi đã bỏ thây giữa biển cả và làm mồi cho cá mập. Vĩnh biệt tất cả……

Câu chuyện bắt đầu:
Chuẩn bị ra đi tìm tự do, dân chủ, hạnh phúc, no ấm

3 giờ sáng thành phố Nha Trang vẫn còn chìm trong giấc ngủ, hàng trụ điện bên đường Nguyễn Thái Học tỏa ánh sáng mờ mờ, soi bóng tôi trên đường. Vai mang cái phao (loại ruột xe hơi được bơm căng lên) giả làm dân đi tắm biển sớm (đối với người dân Nha Trang thì việc có người đi tắm biển vào lúc 3- 4 giờ sáng là chuyện thường) tôi rảo bước thật nhanh hướng về phía biển cho kịp giờ hẹn. Xuống tới bãi cát, tôi đưa mắt nhìn quanh dò xét địa thế, bãi biển vắng lặng không một bóng người, tôi yên tâm cởi bỏ áo ra chỉ mặc chiếc quần cụt, giả vờ làm vài động tác thể dục trước khi bước xuống nước. Từ xa, về phía biển có ánh sáng mù mờ của một chiếc thuyền câu đang tiến vào bờ, tôi lại đảo mắt nhìn quanh kiểm soát lần cuối trước khi rời bãi cát. Bước xuống nước, tôi nhoài người bơi nhanh về hướng chiếc thuyền câu, trả lời đúng mật mã, một bàn tay vươn ra kéo tôi lên chiếc thuyền. Thuyền lướt nhẹ trên mặt biển hướng về “Hòn Tre” cá nhân tôi thì phải nằm sát xuống khoang thuyền không được ngồi dậy cho đến khi tới chỗ ẩn nấp ngoài đảo Hòn Tre.

Hòn Tre là một hòn đảo lớn, nằm cách bờ biển và hải cảng Nha Trang khoảng chừng 6 cây số, cư dân trên đảo này rất ít chỉ chừng vài chục gia đình, hầu hết đều sinh sống bằng nghề chài lưới. Nơi đây cũng là nơi ẩn nấp của các tàu thuyền và ngư dân mỗi khi gặp gió bão. Con thuyền chạy được chừng hơn tiếng đồng hồ thì tới một cửa động nằm khuất sâu vào phía trong trên đảo Hòn Tre, rất khó mà tìm thấy nếu không quen thuộc được địa hình nơi đây. Từ phía ngoài nhìn vào, tôi chỉ nhìn thấy một màu tối đen, bằng ánh sáng của cái đèn (pin) do người ngồi trước mũi soi sáng, chiếc thuyền câu từ từ lướt nhẹ vào động. Tôi được bỏ xuống đây để ẩn trốn chờ đêm đến sẽ ra “ tàu lớn ”. Một tốp 5 người đàn ông chạy ra đón tôi, ai nấy đều trần như nhộng, không mặc một thứ gì trên người ( sau này thì tôi cũng như họ vì không khí trong động rất oi bức khó chịu ) họ là những người đã đến trước tôi từ đêm hôm trước, cũng để chờ để ra tàu lớn. Trời đã sáng tỏ, nhưng từ phía bên trong động, chúng tôi nhìn ra bên ngoài cũng chỉ nhìn thấy được một vệt ánh sáng rất mờ, yếu ớt chiếu sáng vào trong động. Lúc này trong động chúng tôi cũng đã lờ mờ nhìn thấy được nhau, thật là một cảnh tượng sống động có một không hai mà trong cuộc đời của tôi đã được tận mắt nhìn thấy, 5 ông Adam của thời kỳ hồng hoang, ăn lông ở lỗ, trên người không một mảnh vải che thân, đang đứng giữa một thạch động thiên nhiên thì thào to nhỏ với nhau, vì cứ sợ bên ngoài nghe được. Nhưng thật ra thì có hét to lên cũng chẳng có ai người ta nghe thấy. Không khí trong động đã bắt đầu oi bức dần lên, tôi cũng phải lột bỏ cái quần cụt mang trên người để trở thành người tiền sử như những người khác.

Qua câu chuyện, tôi được biết nơi đây là nơi cất giấu dầu chạy máy dùng cho chuyến vượt biển, mỗi ngày một ít số dầu tồn trữ được tăng dần lên theo với thời gian, và đây là giai đoạn chót cho nên 5 người họ đã ở lại luôn trong thạch động, chờ tối nay thì sẽ chuyển sang tàu lớn. Tôi được chia cho một ít cơm với muối mè đã được vắt cục lại với nhau để đỡ đói chờ đêm đến ra tàu lớn, nằm ngả lưng trên mặt đá lởm chởm, tôi liên tưởng đến chuyến vượt biển đêm nay và cầu nguyện ơn trên cho mọi việc được thông suốt, nghĩ đến gia đình, nghĩ đến tương lai không biết rồi sẽ đi về đâu, tôi bồi hồi tấc dạ. Đêm đến, ánh đèn pin từ cửa động chiếu ánh sáng vào, cùng với tiếng người nói chuyện với nhau. Rõ ràng là không phải những người trong ban tổ chức, mọi người nín thở chờ đợi, mọi người đều nằm ép sát mình xuống mặt đá, không dám cử động mạnh, cũng may là từ phía ngoài nhìn vào thì chỉ thấy một màu tối đen, nên chúng tôi đã không bị phát giác.

Thời gian chờ đợi tưởng chừng như vô tận, sau cùng thì nhóm người đó cũng bỏ đi, chúng tôi thở ra nhẹ nhõm. Một anh trong nhóm chúng tôi cho biết, đó là những người đi “soi mực” ban đêm và anh đoan chắc rằng họ chỉ vô tình đi lạc vào đây mà thôi. Vào khoảng giữa đêm thì chiếc thuyền câu liên lạc đã trở lại thông báo cho biết là: tối nay không thể khởi hành được vì có sự trục trặc do lý do an ninh. Mọi người lộ vẻ thất vọng, nhưng cũng đành phải nhận lấy phần lương thực cho ngày mai và tiếp tục chờ đợi. Thời gian chờ đợi trong thạch động dường như dài vô tận, chúng tôi chỉ có việc ăn xong rồi nằm hoặc đi lại cho giãn gân cốt, trò chuyện thì hạn chế tối đa vì lo sợ bị phát giác. Một ngày một đêm đã trôi qua, mọi người nôn nóng chờ tin từ con thuyền liên lạc, bóng đêm lại phủ đầy bên ngoài cửa động, con thuyền liên lạc đã trở lại và tiếp tục báo tin buồn vẫn chưa thể khởi hành được, chúng tôi nóng ruột thấy rõ, người đưa tin thì chỉ làm nhiệm vụ đưa tin và chuyển lương thực cho chúng tôi xong thì rút lui. Đêm thứ ba, bóng con thuyền đưa tin đã trở lại, lần này có vẻ hối hả hơn hai đêm trước, theo sau nó là ba chiếc thuyền câu khác nối đuôi nhau tiến vào thạch động, tôi đoán là giờ khởi hành đã tới. Quả đúng như tôi dự đoán, chúng tôi được lịnh “bốc” toàn bộ số dầu chạy máy lên bốn chiếc thuyền câu cùng với mọi người rời thạch động ra tàu lớn. Giây phút quan trọng đã đến, chúng tôi lần lượt chuyển hết số dầu lên thuyền, còn chúng tôi thì nằm sát xuống thuyền bên trên được phủ một tấm nylon để che kín. Bốn chiếc thuyền câu theo hàng dọc lặng lẽ rời thạch động hướng về tàu lớn. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi đã cập được sát tàu lớn đang bỏ neo chờ chúng tôi.

Tàu lớn” là một chiếc ghe đi biển của ngư dân, dài khoảng 15 thước, rộng chừng 3 thước, mà dân trong nghề đi biển gọi là “3 lốc đầu bạc”, dầu được chuyển cấp tốc và nhanh chóng lên tàu lớn, chúng tôi cũng đã lần lượt leo lên tàu lớn. Tàu nhổ neo, chạy ở vận tốc bình thường như là một chiếc tàu đánh cá bình thường khác đang hoạt động quanh đó. Tôi leo lên mui tàu tìm chỗ ngồi, tôi đã giật mình kinh ngạc khi nhìn thấy toàn bộ số người có mặt trên tàu. Đông quá! Chỗ nào cũng có người ngồi chen chúc, nhưng rồi tôi cũng không lấy làm quan tâm cho lắm, miễn sao con tàu cứ tiếp tục hướng mũi ra khơi hướng về Philippines. “Tháng ba bà già đi biển” câu thành ngữ của những người hành nghề đánh cá, rất đúng trong trường hợp của chuyến vượt biển đêm nay. Mặt biển phẳng như gương, bầu trời trong vắt với muôn vì sao lấp lánh. Sau khi đã bỏ xa khu vực đánh cá trong vùng, con tàu mở hết tốc lực hướng mũi ra khơi. Mặt trời đã ló dạng từ phía chân trời, trời đã dần sáng tỏ, từ trên mui tàu tôi có dịp quan sát rõ hơn toàn bộ khung cảnh trên tàu, điều khủng khiếp đập vào mắt tôi đầu tiên là mặt nước biển chỉ cách bẹ tàu có chừng non 1 thước, chứng tỏ con tàu đang bị khẳm vì chở quá nặng, con tàu như đang oằn mình trườn tới phía trước với sức nặng vượt quá mức cho phép.
Trên khoang tàu la liệt là người, trước mũi, sau khoang, chỗ nào cũng có người. Nắng đã lên cao, tuy mới sáng sớm nhưng nắng giữa đại dương đã mang lại cái nóng khó chịu trong người rồi, vài người đã cởi áo ra cũng như tận dụng hết tất cả những gì khả dĩ có thể che nắng được để tránh cái nắng đã bắt đầu gay gắt. Chỗ duy nhất có thể tránh nắng được là cabin tàu đã được dành riêng cho gia đình chủ tàu, các hầm tàu bình thường dùng để làm nơi chứa cá sau khi thu hoạch được, đã được gỡ bốc nắp hầm đi dùng làm nơi tránh nắng, nhưng có lẽ dưới hầm tàu không khí quá ngột ngạt oi bức nên cứ chốc chốc lại có người trồi lên để hứng lấy khoảng không khí trống trải trên tàu, có người leo lên khỏi miệng hầm thì cũng có người lại chui xuống dưới hầm tàu, cái quy trình “cắc cớ” này cứ thế mà tiếp diễn trong suốt cuộc di hành. Vài tiếng khóc của trẻ em đã nổi lên vì khát nước, chủ tàu ra lịnh cung cấp nước uống cho mọi người, người lớn thì được ba nắp “ bi đong “, con nít được gấp đôi trong ngày đầu tiên, cứ cách khoảng chừng 1 giờ đồng hồ thì lại cấp tiếp cho con nít, người lớn thì phải chịu nhịn lâu hơn. Vì ngồi trên mui cabin nên tôi đã nói chuyện được với gia đình chủ tàu, theo như họ cho biết thì chuyến đi đã bị gặp khó khăn do địa điểm bị tiết lộ ra bên ngoài bởi những người chung vàng cho chuyến đi, do đó thân nhân của những người này đã “canh me” rất sát chuyến đi. Đó cũng là lý do khiến chúng tôi phải chờ đợi trong thạch động hết hai ngày đêm, đêm thứ ba chủ tàu quyết định phải ra đi bằng mọi giá trước khi việc đổ bể. Tàu cập sát bờ biển nơi “kho gạo” để bốc người, số người dự trù chính thức là gần 60 người. Không ngờ, khi tàu cập vào bờ thì người ở mọi ngõ ngách túa ra leo lên tàu, và vì không muốn bị lộ nên chủ tàu đành phải chở hết số khách không có trong danh sách, sau khi kiểm soát lại thì được biết là con số người đã lên đến hơn 130 người.
Trời đã vào chiều, gió thổi lạnh, một đàn cá heo “dolphin” bơi cập theo hông tàu trông rất đẹp mắt, mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống chân trời, bóng tối bắt đầu phủ xuống, con trăng thượng tuần treo lơ lửng trên đầu, bóng con tàu trông thật cô đơn giữa biển cả mênh mông, con người đã trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, đâu đó văng vẳng tiếng cầu nguyện, lúc đầu nhỏ, sau to dần lên, và không hẹn hầu như mọi người trên tàu đều cầu nguyện theo tôn giáo mình. Biển hoàn toàn vắng lặng, không có bóng một con tàu nào qua lại, không gian là một màu đen che phủ đến lạnh người, con tàu vẫn lầm lũi lướt tới, tôi được anh tài công người của chủ tàu đưa cho một “ tấm bạt ” loang đầy dầu mỡ để che lạnh, tôi cùng vài người khác quây quần phía bên trong tấm bạt cho bớt lạnh. Một ngày một đêm đã trôi qua trong an bình, mọi người thầm cảm tạ ơn trên đã che chở cho con tàu. Ngày thứ hai, nắng dường như gay gắt hơn, nắng như đổ lửa xuống những tấm thân đã rộp lên vì bị phỏng nắng, tiếng con nít khóc vang trời. Nước ! Nước đã trở thành một thứ quan yếu bật nhất trên tàu, chủ tàu đã cử bốn thanh niên lực lưỡng đứng canh gác khu vực để nước. con nít được ưu tiên tăng lượng nước uống lên từ 6 nắp lên 8 nắp, nhưng người lớn thì bị giảm xuống chỉ còn có một nắp mà thôi.
Ngày qua đi, đêm lại xuống, tiếng kinh cầu lại vang lên, thỉnh thoảng lại có tiếng nôn oẹ vang lên, đoàn lữ hành nằm dã dượi trân mình hứng chịu khí hậu lạnh lẽo của đại dương về đêm. Ngày hứng chịu cái nắng khủng khiếp, đêm về lại phải đón nhận cái lạnh, chỉ mới có hai ngày mà những con người khốn khổ đã teo hóp lại, sức đề kháng dường như đã không còn nữa. Ngày thứ hai cũng trôi qua bình an, nhưng đoàn người thì đã hoàn toàn đuối sức, ai nằm chỗ đó, phó mặc cho con tàu muốn đưa mình đi tới đâu thì đi. Trưa ngày thứ ba thì sóng gió đã nổi lên, mặt biển đã không còn phẳng lặng nữa, gió đã nổi lên kéo mạnh từng cơn, bầu trời vần vũ, mây đen kéo về đen kịt, từ xa từng ngọn sóng bạc đầu đang kéo tới. Sóng to, gió mạnh, khiến con tàu chao đảo liên tục, từng cơn sóng cao vời bốc con tàu lên cao, nhìn xuống dưới là một hố sâu thẳm đến rợn người. Tôi cùng những người khác trên mui phải leo xuống khoang tàu, vì quá nguy hiểm nếu cứ tiếp tục ở lại trên mui tàu. Đang ở giữa trưa mà tôi cứ ngỡ rằng là đang lúc chiều tối vì bầu trời tối đen, chủ tàu trấn an mọi người rằng: ”Đây là chuyện thường thôi, chỉ là “gió Nam”, gió Nam thì mấy người làm nghề biển coi như cơm bữa.” Hư thật ra sao không biết, nhưng mọi người đã quá hoảng sợ và trở nên nhốn nháo, khiến con tàu đã bị sóng nhồi chao đảo lại thêm tròng trành như muốn lật úp. Chủ tàu phải hét lớn ra lịnh, không được nhốn nháo, nếu không muốn tàu bị lật thì ai ở đâu ngồi đó. Con tàu chuyển mình kêu răng rắc như muốn vỡ ra từng mảnh nhỏ, khiến mọi người đang lúc hoảng sợ càng thêm hoảng sợ, tiếng than khóc, tiếng gọi nhau vang lên thảm thiết, người ta dồn cục vào với nhau như để tìm sự che chở cho nhau.
Mưa đã bắt đầu trút xuống, ngày càng nặng hột hơn, mưa giăng trắng xóa cả một khoảng không gian rộng lớn giữa đại dương, con tàu vẫn trồi lên hụp xuống tưởng chừng như muốn hất văng những thuyền nhân xuống biển. Con tàu đã phải chuyển hướng, không thể nào đi theo hướng đã định mà phải cập theo sóng để tránh cho tàu khỏi bị lật úp, người tài công chính của tàu, người nắm giữ sinh mạng của hơn 130 thuyền nhân, giờ đây đang gồng mình ôm chặt bánh lái với sự giúp sức của hai người khác để giữ cho con tàu khỏi bị lật, giữ cho con tàu khỏi bị lật đã là một việc vô cùng khó khăn lắm rồi, việc nhận rõ phương hướng đã không còn được đặt ra nữa. Con tàu đã thật sự lạc mất phương hướng, mặc cho sóng gió đưa đẩy, mọi người chỉ còn biết cầu nguyện và phó mặc số mệnh vào sự may rủi mà thôi. Cơn bão vẫn tiếp tục quần thảo từ trưa đến tối, nhồi con thuyền xoay vòng giữa cơn bão dữ, những người trên tàu giờ đây đa số đã phải chui vào hầm tàu để tránh khỏi bị hất văng xuống biển.
Đến tối thì cơn bão chấm dứt, mọi người ngoi ngóp bò dậy, may mắn thay suốt cơn bão dữ mọi người vẫn được bình an dù đã phải trải qua một ngày kinh hoàng khiến ai nấy không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc tiếp tục di hành thêm nữa. Có ánh đèn ! Có ánh đèn ! Một người la to, rồi nhiều người khác cùng la, cứ tưởng như là mơ. Nhưng quả thật, từ hướng bên phải của con tàu có ánh đèn leo lét khi ẩn khi hiện do sự trồi lên hụp xuống của con tàu. Tài công hướng mũi con tàu chạy thẳng vào nơi có ánh đèn, trông thì gần, nhưng thật ra thì tàu phải chạy gần hai giờ đồng hồ mới đến được. Càng đến gần thì mọi người nhận ra đó là một hòn đảo, đảo nhưng có ánh đèn, nghĩa là có người sinh sống trên đảo. Mọi người mừng rỡ quỳ tạ ơn trên đã dẫn dắt con tàu đến nơi bình an. Con tàu đang ngon trớn, bỗng nghe đánh….. ầm một tiếng lớn, tiếng máy tàu gầm rú liên hồi, anh tài công la lớn “Ghe mắc rạng”, anh tài công cố gắng bằng mọi cách để xoay chuyển con tàu nhưng đành bó tay đứng nhìn, nhìn mũi tàu ghếch cao ở phía trước, tôi đoán là con tàu đã “cưỡi” lên đá ngầm rồi. Từng đợt sóng mạnh mẽ đánh vào mạng tàu như muốn phá vỡ con tàu ra làm trăm mảnh. Nhìn vào phía trong đảo, thấy không còn xa lắm, từ chỗ con tàu gặp nạn vào đất liền khoảng chừng vài trăm thước. Phải rời tàu đi tìm phương tiện cấp cứu thôi, có người lên tiếng đề nghị. Thế là một số trai tráng khỏang chừng 20 người trong đó có tôi, tình nguyện rời tàu đi vào đảo tìm phương tiện cấp cứu, chúng tôi được quấn dây thừng thật chặt rồi lần theo đó mà vào chỗ nông hơn để đi vào bờ, thật may mắn là vào lúc đó thủy triều đang rút xuống cho nên chúng tôi có thể đi bộ vào đảo được, dưới chân tôi là muôn ngàn những con cầu gai cùng với các loại vỏ nghêu, vỏ ốc, mà tôi đã phải giẫm lên khiến cho lòng đôi bàn chân bị cắt đứt ngang dọc, khiến đau rát buốt óc. Chúng tôi lần mò, nối đuôi nhau tiến vào đảo, đặt chân được lên bãi cát trên đảo, chúng tôi nằm nhoài ra nghỉ lấy sức. Hồi tưởng lại cơn bão vừa qua, tôi vẫn còn hãi hùng và thầm cám ơn ơn trên đã che chở, bằng không có lẽ giờ này chúng tôi đã vùi thây giữa lòng biển cả rồi. Lấy lại được sức, đoàn người tiếp tục bước sâu vào trong đảo, riêng tôi thì còn quá mệt nên cũng chẳng vội vã bước theo họ. Vì lý do đó, cho nên tôi trở thành người cuối cùng ở sau chót của đoàn người. Bất ngờ, hàng loạt đèn pha từ phía trong đảo bật sáng chiếu thẳng vào chúng tôi. Có tiếng hô to….. ai đó, đứng lại, vào đây làm gì? Lúc đầu chúng tôi nghe không rõ vì gió biển thổi cùng với tiếng sóng, hơn nữa họ lại nói tiếng Việt phát âm giọng Bắc khiến chúng tôi ngỡ là một thứ tiếng ngoại quốc, có thể là tiếng Phi. Chúng tôi đã vô cùng mừng rỡ vì biết được mình đã tới nơi chốn mà mình muốn.
Chúng tôi vừa đưa cả hai tay lên trời, vừa làm dấu cho họ biết rằng chúng tôi đến đây là do thiện chí và cứ thế tiếp tục bước tới. Nhưng càng đến gần thì chúng tôi nhận ra rõ ràng là tiếng Việt chứ không phải là tiếng ngoại quốc. Có tiếng hô qua loa phóng thanh. Tất cả đứng lại….. nếu không sẽ bị bắn bỏ. Trời ạ…… chúng tôi đã lạc vào đảo của Việt Nam rồi! Chúng tôi lập tức đứng lại, hai tay vẫn đưa thẳng khỏi đầu, chúng tôi hội ý với nhau là: để qua mặt được họ, chúng tôi phải nói rằng tàu vượt biên do nhà nước tổ chức ra đi. Khi nói như vậy, chúng tôi ngầm hai ngụ ý: Thứ nhất, khi biết là chúng tôi ra đi do nhà nước tổ chức thì họ sẽ tìm phương tiện giúp chúng tôi. Thứ hai, nếu không giúp được gì thì họ cũng sẽ không làm khó dễ chúng tôi, trường hợp tệ lắm là họ sẽ bắt trở về đất liền để đi tù, trong trường hợp này thì mọi người sẽ an toàn hơn cả. Giọng nói kia tiếp tục vang lên: Tất cả đứng yên tại chỗ đợi lịnh……Thời gian lặng lẽ trôi qua trong ngột ngạt. Khoảng chừng hơn 10 phút, thì đột nhiên từ phía bờ cát một loạt lửa da cam tóe lên cùng lúc với những tràng súng liên thanh nổ rền trời, tôi giật mình ngó về phía đoàn người. Tôi như bị hoa mắt vì thấy máu từ các thây người phun ra khắp nơi, thây người đổ ập xuống, tiếng rên la thảm thiết vang lên như muốn xé tan màn đêm. Việt cộng giết người….. nghĩ thế xong là tôi vội vàng bò hết tốc lực để tránh ra xa khỏi đoàn người và đứng lên vùng chạy về phía biển, vài người khác trong đoàn người cũng cố gắng mang thương tích vùng chạy ngược trở ra biển, một số chỉ chạy được nửa chừng rồi thì ngã xuống nằm lại luôn. Bằng tất cả sức lực còn lại trong người, tôi chạy thẳng và nhào người ra biển, giẫm lên cầu gai, võ nghêu, võ ốc mà chạy càng xa, càng tốt, trong tôi bây giờ không còn có cảm giác đau đớn do bị cầu gai đâm thủng chân nữa, tôi hoàn toàn ở trong trạng thái vô cảm. Sau cùng thì tôi cùng vài người khác cũng đã chạy ra được nơi con tàu mắc cạn. Mọi diễn biến trên đảo đã được chúng tôi tường thuật lại, thực ra thì mọi người đã nghe được tiếng súng nổ tuy không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng cũng phần nào đoán ra được là đã có chuyện không lành. Khi nghe chúng tôi báo cáo lại mọi chuyện, mọi người đã vô cùng hoảng sợ. Tất cả đàn ông, trai tráng trên tàu, đều được huy động xuống để đẩy con tàu ra khỏi vùng đá ngầm.
Trời đã phụ lòng người ! Sức của con người làm sao chống chọi lại với sức mạnh của thiên nhiên, chúng tôi cố đẩy được con tàu xê dịch đi một chút, thì lập tức các ngọn sóng lại đánh đẩy con tàu trở về vị trí cũ. Đang lúc tất cả đang cố gắng đẩy con tàu thì súng lại nổ vang rền, đạn bay như rải về phía con tàu. Có tiếng thét kinh hãi… có người trúng đạn… có người trúng đạn, tiếp theo là những tiếng khóc, tiếng kêu gào, khung cảnh rối loạn cả lên, mạnh ai người đó chạy tìm chỗ nấp, nhưng nấp vào đâu bây giờ, giữa trời nước bao la và con tàu khốn khổ đang phải hứng chịu những vết đạn từ những con người tàn bạo? Súng đã thôi nổ liên hồi, nhưng vẫn tiếp tục nổ cầm chừng, và thỉnh thoảng lại có người gào lên kêu cứu khi thân nhân mình trúng đạn. Phải ở vào hoàn cảnh trên thì mới có thể cảm nhận được hết cái không khí dã man, tàn bạo, đầy khủng bố mà không thể có ngòi bút nào lột tả được hết. Súng vẫn nổ lai rai, đoàn người vẫn cố gắng trong tuyệt vọng để đẩy con tàu. Nhưng bất lực! Hoàn toàn bất lực! Mọi người đã kiệt sức vì đói lạnh, da thịt mọi người đã thâm tím đi vì lạnh. Tất cả đều buông xuôi leo lại lên tàu phó mặc cho trời. Suốt đêm đạn vẫn nỗ, người tiếp tục chết vì đạn, tiếng kêu khóc vẫn cứ vang lên mỗi khi có người trúng đạn chết. Từ nơi xa xa, có thấp thoáng ánh đèn chiếu sáng từ một hòn đảo khác bên cạnh.
Trời sáng dần, tiếng kẻng buổi sáng phía trong đảo vang lên. Đoàn người tội nghiệp dõi mắt về hướng đảo trông chờ phép lạ. Trên đảo nhộn nhịp hẳn lên, bộ đội chạy tới chạy lui, gia đình thân nhân vợ con của bộ đội cũng chạy ra đứng nhìn con tàu nghiêng ngả. Đàn bà, con nít trên tàu được cho lên mui tàu hướng về trong đảo quỳ lạy xin được cứu giúp. Tiếng kêu khóc vang dội trời xanh, những con người Việt Nam khốn khổ đang quỳ lạy những con người Việt Nam khác ngừng tay bắn giết đồng bào mình. Lịch sử Việt Nam từ bao nhiêu ngàn năm nay chưa bao giờ có những trang sử ô nhục như thế này. Ô kìa…. phép lạ xảy ra, có bóng của những bàn tay vẫy phất như báo cho thuyền nhân biết là họ có thể vào bờ được rồi, những cái vẫy tay mời gọi từ phía trong đảo đã làm mọi người như sống lại. Ưu tiên cho đàn bà và con nít vào trước, dây thừng được lấy ra quấn chặt vào mình, cùng với sự giúp sức của vài thanh niên, sợi dây thừng dài được nối từ con tàu vào thân của những người xuống tàu lôi vào bờ. Đoàn người rời con tàu xa dần dần tiến vào bờ, dây thừng vẫn được quấn chặt vào người, cách bờ chừng 100 mét nhưng vẫn chưa thấy người từ trên bờ ra cứu giúp. Bỗng nhiên súng lại nổ. Trời ơi! súng nổ nhắm vào những người đang quấn chặt dây thừng ngang mình để vào bờ, thế là chỉ còn có chờ chết mà thôi, làm sao mà có thể chạy thoát được khi sợi dây oan nghiệt đang trói mọi người lại với nhau. Không một ai còn sống sót qua trò chơi man rợ của lũ người không tim trên đảo. Tiếng kêu gào thảm thiết lại vang lên của những người chồng, người cha, khi nhìn thấy cảnh vợ con mình bị bắn giết vô cùng man rợ như trên. Đàn bà con nít lại được đưa lên mui tàu chấp tay hướng vào đảo mà van lạy xin được buông tha, đáp ứng lại những lời van xin thảm thiết này là những tràng đạn lại nổ tiếp, bóng người đàn bà với tư thế hai tay chấp vào nhau vì đang quỳ lạy ngã chúi xuống biển từ trên mui tàu, cùng lúc với các em trẻ bật ngửa ra sau giẫy chết vì trúng đạn. Tàn bạo, man rợ, không thể nào tả hết.
Tàu vướng đá ngầm rồi, phải rời tàu thật nhanh.
Nắng đã lên cao, từ trong đảo bóng dáng bộ đội Việt cộng chạy lại ụ súng được mọi người trên tàu nhìn thấy rõ mồn một. Tấm phông che súng được kéo xuống, nòng súng được hạ xuống. Trời ơi !….. Một cây súng pháo với nòng súng dài có đến 10 thước đang hiện ra trước mắt mọi người trên tàu. Kinh hãi…. hỗn loạn trên tàu đã diễn ra, chỉ cần một trái đạn pháo từ khẩu súng đó mà trúng vào con tàu thì tất cả chỉ còn là tro bụi. Cầu nguyện, và dọn mình chờ chết, vì sẽ không còn ai sống sót sau khi trái đạn được khai hỏa bắn trực xạ vào một mục tiêu cố định là con tàu. Nhưng không, tấm phông đã được kéo lại che đậy khẩu súng, nòng súng đã được nâng lên cao, không còn ở vị trí sẵn sàng nhả đạn nữa. Bóng dáng bộ đội lại chạy nhốn nháo, và họ đang lấp ráp chân “ đế ” của cây súng cối. Dã man, tàn bạo, bộ đội cộng sản Việt Nam vì tiếc một quả đạn súng pháo lớn, nên đang thay vào đó là đạn súng pháo nhỏ hơn, và đó là trò chơi giết người của họ.
Ầm…. quả đạn đầu tiên được bắn ra rớt xuống biển cách con tàu chừng vài thước, mọi người chưa kịp hoàn hồn thì. Ầm…. quả đạn thứ hai rớt chính xác ngay mũi tàu, thịt xương văng tung tóe, máu đổ chan hoà, cùng lúc với hàng loạt đạn lớn nhỏ vang rền khắp nơi, tay chân, máu thịt, vung vãi ở khắp mọi nơi trên tàu, con người lăn lộn, vật vã với vết thương, khung cảnh của địa ngục trần gian đang phơi bày trước mắt tôi. Sau tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm bên cạnh tôi. Tôi vùng dậy, nhoài mình phóng ra khỏi con tàu, một ngọn sóng cuốn tôi ra xa cùng lúc với một trái đạn khác rớt ngay giữa thân tàu, con tàu gẫy đôi và chìm xuống biển. Tất cả sự kiện xảy ra chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, sau khi tiếng kẻng buổi sáng trên đảo vang lên.
Chung quanh tôi xác người chết trôi vất vưởng khắp nơi, những người còn sống sót thì vẫn phải đang lặn hụp với từng cơn sóng biển, và từ trong bờ đảo những tên bộ đội Việt cộng khát máu vẫn giương súng nhắm bắn vào những người sống sót, rất may là nhờ sóng biển nhồi lên hụp xuống mà cái đầu tôi trở thành một mục tiêu khó bắn trúng của những kẻ sát nhân, có người đang cố gắng bơi ra xa khỏi tầm đạn, nhưng nửa chừng thì tôi bỗng thấy nằm bất động trôi vật vờ trên biển, tôi biết rằng họ đã trúng đạn hoặc chết vì vết thương quá nặng. Thủy triều đã lên cao, sóng biển không còn đánh mạnh nữa, và cũng chính vì vậy mà những người sống sót khó tránh khỏi tầm ngắm của lũ sát nhân. Tất cả đã vĩnh viễn ra đi, tôi cũng đã trôi ra xa khỏi tầm đạn và đang nằm chơi vơi giữa đại dương bao la, khung cảnh hoàn toàn im lặng đến rợn người. Tôi nhắm mắt lại cầu nguyện, nghĩ đến gia đình đang còn ở lại đất liền xa xôi, chỉ trong chốc lát nữa thôi những con cá mập sẽ kéo tới và tôi sẽ chết vì bị cá mập ăn. Nghĩ tới cá mập, tôi hoảng sợ mở mắt ra. Và kìa, từ hướng xa tôi nhìn thấy một chiếc thuyền câu đang trôi về hướng tôi. Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội công sản Việt Nam hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt, nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ lại thì tôi nhận ra trên chiếc thuyền đó hoàn toàn im lặng, không có một sự di động của bất cứ người nào trên thuyền, tôi hơi vững tâm và cố gắng bơi lại gần thuyền. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi trông thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên thuyền họ bèn quay lại sụp lạy tôi và xin tha mạng, tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động trên sàn tàu. Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau thì tôi mới vỡ lẽ ra họ cũng trôi dạt vào đây và cũng bị bắn như chúng tôi. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, trên tàu gồm 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị vào khoảng 9 tuổi, bé em trai khoảng 6 tuổi. Ba của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở phía mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát mất phần vai hai bên, hai cánh tay chỉ còn dính liền bởi phần da còn lại trên vai, đang nằm thôi thóp thở dưới hầm máy, tình trạng cho thấy là anh này sẽ khó thoát chết do vết thương quá nặng. Trong khi con thuyền đang trôi vật vờ như thế thì cũng có được 4 người khác từ chiếc tàu bị bắn chìm trước đó thoát chết, leo lên được con thuyền mà chúng tôi đang có mặt. Như vậy là tổng cộng số người thoát chết của hai chiếc thuyền là 16 người, con số trên 130 người đã bị bắn chết vùi thây dưới lòng biển lạnh.
Sóng lớn quá, có người rơi xuống biển.
Con thuyền cứ tiếp tục trôi vật vờ trên biển, nhưng càng lúc càng rời xa khu vực nguy hiểm, lúc này đã vào khoảng 10 giờ sáng, nhìn sang bên trái của con thuyền, chúng tôi nhìn thấy một hòn đảo khác cách chúng tôi không xa lắm. Nghĩa là con thuyền của chúng tôi đang nằm giữa vị trí của hai hòn đảo. Hòn đảo này tôi đoán có lẽ là hòn đảo mà chúng tôi đã thấy thấp thoáng ánh đèn từ đêm hôm trước, đêm hôm bị bộ đội Việt cộng tàn sát. Chúng tôi quyết định phải rời xa hai hòn đảo này càng sớm càng tốt nếu còn muốn sống. (Đây là một quyết định sai lầm mà chúng tôi đã phải trả giá rất đắt, sẽ được nói đến ở đoạn sau) chúng tôi dùng mái chèo cố gắng chèo con thuyền ra khơi, vì bình xăng của con thuyền đã bị bắn vỡ chảy hết dầu. Gió đã đổi chiều, thổi con tàu tội nghiệp của chúng tôi trôi vào cõi vô định. Con thuyền này dài chừng 6 thước, rộng gần 2 thước, loại thuyền dùng để đi câu ven bờ biển chứ không thể đi xa hơn. Vậy mà nó cũng đã chở 13 con người vượt được hàng trăm hải lý để đến nơi đây cùng chung số phận như chúng tôi.
hiều xuống dần, không gian yên tĩnh, không có một bóng dáng của bất cứ một con tàu nào khác ngoài con thuyền của chúng tôi lạc lõng giữa đại dương. Tối đến, chúng tôi phát giác ra một chuyện chết người khác, con thuyền đang bị vô nước từ phía dưới lườn tàu, thế là chúng tôi tìm cách chặn nước không cho tràn vào, và cử người canh chừng để tát nước liên tục. Cứ hai người cho mỗi phiên trực tát nước, số phận của 16 người sống sót trên con thuyền này sẽ tùy thuộc vào hai người có nhiệm vụ tát nước ra khỏi tàu, nếu chẳng may họ buồn ngủ, hoặc mệt quá mà chểnh mảng thì con thuyền sẽ chìm và mọi người cũng sẽ chìm theo con thuyền, nhưng biết làm sao hơn đây! khi mà tất cả mọi người ai cũng còn mang nét mặt kinh hoàng vì mới vừa phải trải qua một biến cố quá đau thương và…. phó mặc mọi việc cho Thượng Đế. Một đêm kinh hoàng trôi qua, người sống phải sống cùng xác chết trên một diện tích vô cùng chật hẹp của con thuyền, vấn đề vệ sinh chung đã được đặt ra, là phải giải quyết cái xác chết vẫn còn ở trước mũi thuyền. Thật là tội nghiệp cho hai đứa trẻ, chúng kêu khóc thảm thiết không cho thủy táng người cha thân yêu của mình. Chúng tôi cũng đành phải chìu lòng của hai em, nhưng sang đến ngày thứ ba thì chúng tôi phải giấu lén hai em mà thủy táng người quá cố để bảo vệ sức khỏe cho những người còn lại. Sau này biết được hai em đã lăn lộn khóc lóc vô cùng bi thảm, chúng tôi chỉ còn biết rớt nước mắt dỗ dành hai em. Tình trạng của anh thanh niên bị thương dưới hầm tàu đã trở nên tồi tệ hơn vì không có thuốc men chạy chữa, vết thương đã thối rữa, biết là anh cũng sẽ không qua khỏi, tối ngày thứ ba, sau khi thủy táng người đàn ông ba của hai đứa trẻ, chúng tôi quyết định nấu cho anh chút cháo trộn với đường cát như là bữa ăn tối cuối cùng trước khi ra đi, tôi là người đã đút cháo cho anh ăn, suốt bữa ăn anh cứ liên tục kêu cứu cầu sống, tôi chỉ còn biết gạt lệ an ủi với anh là cố gắng chút cháo, rồi mọi người sẽ được cứu sống. Sáng hôm sau, chúng tôi thấy anh đã nhắm mắt lìa đời, thân thể anh tái xanh vì đã không còn máu. Chúng tôi cũng đã thủy táng anh và cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát.
Đã hơn một tuần lễ lênh đênh trên biển, có một điều thật lạ lùng là chúng tôi không hề nhìn thấy bất cứ một thương thuyền nào qua lại vùng biển này cả. Không lẽ chúng tôi đã lạc vào một vùng biển chết? Lương thực còn được mấy kí gạo sau ngày bị bắn dùng để nấu cháo cầm hơi cũng đã hết, nước uống thì đã hết từ trưa, cơn đói khát đang đốt cháy ruột gan mọi người. Một ngày đói khát đã bắt đầu và sẽ còn tiếp tục không biết kéo dài đến bao lâu. Cầu nguyện, chỉ còn có biết cầu nguyện thôi, tất cả mọi việc đều đã được sắp đặt và an bài do Thượng Đế, con người đã trở thành vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, vũ trụ.
Lại một ngày đói khát nữa, cái khát làm cho da thịt như muốn bốc khói, môi nứt nẻ, đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh bởi thức ăn, nước uống. Tội nghiệp hai đứa trẻ, suốt ngày chúng cứ nói đến miếng ăn mà trước đây mẹ chúng làm cho chúng ăn, hoặc thứ nước uống mà chúng thích. Mọi người như mê loạn đi vì đói và khát. Dường như lời cầu nguyện của chúng tôi đã thấu tới trời xanh. Chiều hôm đó, trời đổ cơn mưa, những hạt mưa như những nước cam lồ trong chuyện thần tiên, tưới mát thân thể chúng tôi, chúng tôi say sưa ngửa mặt lên trời hứng lấy nước mưa mà uống, lấy thêm “can nhựa” trên tàu hứng lấy nước mưa dự trữ. Nhưng trời mưa lại dẫn đến một vấn đề khác. Thuyền ngập nước, thế là mọi người xúm vào tát nước cho thuyền khỏi chìm, rất may là cơn mưa không kéo dài, và còn may hơn nữa là từ đó cho đến ngày được cứu, cứ vài ngày lại có một cơn mưa ngắn giúp chúng tôi có đủ nước uống. Vấn đề nước uống đã được giải quyết, nhưng còn thức ăn? Chúng tôi đã không còn được bất cứ một thứ gì để có thể ăn được. Cơn đói cứ dày vò, ám ảnh chúng tôi liên tục, người chúng tôi đã teo lại chỉ còn lớp da bọc lấy xương, hay nói cho đúng hơn là những bộ xương biết bò, vì chúng tôi không thể nào đứng vững được nữa. Một hôm tôi bò xuống hầm máy để cố gắng kiếm thử xem còn gì có thể ăn được không, tôi trông thấy một chai “ xá xị ” mới nhìn tôi cứ tưởng đó là một chai đựng dầu nhớt gì đó của mấy người thợ máy bỏ quên, nhưng tôi cứ cầm lên và ngửi thử. Một mùi thơm ngào ngạt bốc thẳng vào óc tôi, khứu giác tôi dường như mở ra tối đa để hít lấy mùi thơm đó. Mùi thơm của mỡ heo, đúng vậy, chai xá xị kia là một chai dùng để đựng mỡ heo dành để chiên đồ ăn của các ngư phủ. Tôi thọc ngón tay vào miệng chai và đưa lên miệng mút. Trời ạ! Thật là một thứ cao lương mỹ vị mà tôi chưa hề được thưởng thức qua bao giờ, tôi cứ mút lấy mút để cái thứ nước sền sệt nhưng vô cùng tuyệt hảo đó. Chợt nhớ lại những người ở trên, đặc biệt là hai đứa trẻ, tôi bò trở lên với chai xá xị, không ai còn để ý đến tôi vì mọi người đều đã nằm liệt. Tôi bò đến hai đứa trẻ, thò ngón tay tôi móc một ít mỡ heo nhét vào miệng các em, như là một liều thuốc tiên các em bừng tỉnh lại, tôi ra dấu cho các em cứ bình tĩnh mà mút mỡ heo, nhắm chừng các em đã dần dần có chút sinh lực trở lại, tôi trút một ít mỡ heo vào cái chén nhựa cho các em, còn lại tôi dùng một chiếc đũa thọt vào chai xá xị có mỡ heo và kêu mọi người lại mút lấy chiếc đũa thần kỳ diệu. Nhờ có chai xá xị mỡ heo mà chúng tôi có được một bữa tiệc sang trọng nhất trong đời. Và cũng nhờ chút mỡ heo tuyệt vời đó mà em bé trai có chút sinh lực ngồi nghịch phá cái máy radio nhỏ xíu bất khiển dụng, cái radio bị vỡ lòi ra mấy sợi dây kẽm nhỏ, một bác lớn tuổi trên thuyền có sáng kiến uốn mấy sợi kẽm nhỏ đó thành những cái móc câu, dùng cước cột các móc câu đó lại, cạy các con ốc nhỏ bám theo be thuyền làm mồi. Kết quả thật bất ngờ khích lệ, buổi đầu tiên bác câu được hai con cá lớn độ bằng bàn tay người lớn. Cái cột buồm vô dụng được bác ấy chẻ ra từng miếng nhỏ dùng để nhóm bếp. Cũng may là trên thuyền còn có được cái hộp quẹt còn sử dụng được. Hai con cá được bác nướng lên chia đều cho mỗi người. Từ đó chúng tôi được chia ra làm công việc chẻ cột buồm để giữ lửa, bác ấy làm công việc câu cá. Ngày nào có được vài con cá thì bác chia đều cho mỗi người được một miếng bằng hai ngón tay, ngày nào không câu được thì mọi người nhịn đói uống nước mưa cho qua cơn đói.
Chúng tôi đã trôi trên biển 20 ngày qua rồi, nhưng vẫn không nhìn thấy bóng dáng của một chiếc thương thuyền nào, mỗi khi chiều xuống tôi thường bò lên trước mũi thuyền nằm trông ngóng bóng dáng một con thuyền. Nằm nhìn những con chim hải âu săn mồi trên biển mà lòng tôi tan nát, không ngờ rằng cuộc đời của mình lại kết thúc trong bi thảm như thế này. Sợ nhất là mỗi khi chiều về, màn đêm chuẩn bị buông xuống, chung quanh là một màu tối đen, không khí chết chóc cứ như lẩn quẩn đâu đây. Hoặc những khi trời nổi cơn giông, từng lượn sóng cao như mái nhà bốc con thuyền lên cao, rồi nhận con thuyền xuống đáy, rồi lại bốc lên, cứ như thế kéo dài hàng mấy giờ đồng hồ liền khiến chúng tôi vô cùng sợ hãi. Tình trạng cô đơn giữa đại dương bao la kéo dài cho đến tuần lễ thứ ba thì chúng tôi nhìn thấy con tàu đầu tiên. Thật là không còn gì để diễn tả được nỗi vui mừng của chúng tôi, chúng tôi reo mừng, reo la cầu cứu, vì nghĩ rằng chắc chắn là mình sẽ được cứu. Nhưng, ô kìa ! Chiếc thương thuyền vẫn lạnh lùng rẽ nước phăng phăng chẳng buồn ngó đến chúng tôi, mặc dù khoảng cách của đôi bên quá gần, gần đến nỗi chúng tôi có thể nhìn thấy thủy thủ trên chiếc tàu buôn đang tập trung trên bong tàu để nhìn chúng tôi. Con tàu khuất dạng ở chân trời, chúng tôi ngỡ ngàng, hụt hẫng, sao lại có chuyện lạ lùng như vậy ? Sao lại có những người vô lương tâm đến như vậy? Thấy người sắp chết sao không cứu? Ngần ấy câu hỏi cứ quay trong đầu tôi cho tôi đến khi tôi lịm người đi vì mệt mỏi và thất vọng.
Lại có thêm bóng dáng một chiếc tàu buôn từ đàng xa, như được tăng thêm sức, tôi cùng vài người khác vùng dậy trèo lên mui ra dấu cầu cứu, và cũng như chiếc tàu thứ nhất, họ lạnh lùng bỏ đi mặc cho chúng tôi kêu gào đến kiệt sức. Từ đó trở đi, mỗi ngày chúng tôi nhìn thấy hàng chục chiếc tàu buôn qua lại trong vùng nhưng không một chiếc nào chịu cứu vớt chúng tôi. Thậm chí, có ngày chúng tôi còn nhìn thấy hạm đội của Mỹ đang thao dượt trên biển với máy bay phản lực lên xuống trên các chiến hạm. Từ dữ kiện này, tôi đoán là chúng tôi đang ở đâu đó trong vùng vịnh Philipines. Chiều ngày thứ 30 trên biển, chúng tôi tuyệt vọng trong mòn mỏi, không còn hơi sức để kêu cứu nữa, mặc cho các tàu buôn vẫn qua lại nhìn chúng tôi sắp chết. Tôi nằm xoải trên mui con thuyền đưa mắt hững hờ nhìn chiếc tàu buôn mang hàng chữ Nhật chở đầy những cây gỗ với đường kính hai người ôm, chiếc tàu buôn đó, cũng như những chiếc khác trước đây, cũng lạnh lùng băng qua trước mặt chúng tôi mà đi thẳng, tôi cũng chẳng buồn ngó theo làm chi vì quá chán ngán với thế thái nhân tình. Khoảng độ hai tiếng đồng hồ sau, tôi đang nằm nhìn mặt trời xuống dần thì bỗng giật mình vì tiếng còi hụ ngân dài, tiếng còi hụ giữa biển khơi nghe vang dội, tôi nhổm mình dậy nhìn thì trông thấy từ đàng xa chiếc tàu buôn chở gỗ mà tôi nhìn thấy từ chiều đang tiến về hướng chúng tôi. Và….. Trời ạ ! Thủy thủ trên tàu đang nhộn nhịp với dây thừng và phao cấp cứu, và quan trọng hơn nữa là nó đang giảm dần tốc độ để lựa thế lại gần thuyền chúng tôi mà tàu chúng tôi không bị lật do sóng vỗ. Dùng thân tàu to lớn như ngọn núi, chiếc tàu buôn chận lại các ngọn sóng đang vỗ về phía ghe chúng tôi như một bà mẹ đang bảo vệ đứa con bé bỏng của mình, các thủy thủ đang cố gắng quăng các sợi dây thừng sang phía chúng tôi. Họ đã cứu chúng tôi, sau khi đã cột được dây thừng vào thuyền chúng tôi, họ đã kéo được con thuyền cập sát hông chiếc tàu buôn, chiếc thang dây được buông xuống, chúng tôi từng người một dưới sự phụ giúp của các thủy thủ trên chiếc tàu buôn, chúng tôi đã lần lượt lên được chiếc tàu buôn an toàn. Leo lên được bong tàu chúng tôi ngã sóng soài xuống và nằm im không cử động gì được nữa, vì tất cả sinh lực còn lại đã được dồn lại cho việc leo lên chiếc tàu buôn to lớn kia sau gần hai tiếng đồng hồ cố gắng thực hiện.
Con thuyền nhỏ bé tội nghiệp của chúng tôi được kéo theo sau chiếc tàu buôn, nhưng sau đó có lẽ vì lý do an toàn đã được cắt bỏ, nhìn chiếc thuyền bé nhỏ tội nghiệp đã cưu mang chúng tôi một tháng trời ròng rã trên biển đang từ từ chìm xuống biển, chúng tôi không hẹn mà ai cũng bật lên tiếng khóc chào vĩnh biệt con thuyền.
Tối đến, chúng tôi được cho uống nước mát ướp lạnh, một loại nước uống thông dụng của người Đại Hàn có pha đường. Thật là một cảm giác khó tả, khi cầm ly nước trong tay nhưng chưa uống được vì quá vui mừng vì đã được cứu sống, tất cả xảy ra như một giấc mơ. Sáng hôm sau chúng tôi được cho ăn cháo loãng với nước tương (xì dầu) chúng tôi ăn như chưa bao giờ được ăn. Nhưng vì sợ chúng tôi bị bội thực, thủy thủ trên tàu đã không cho chúng tôi ăn nhiều, vậy mà cũng có người sau khi ăn xong bèn quay qua ói xối xả vì bội thực. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được biết đây là một chiếc tàu chở mướn của một công ty hàng hải Nhật Bản với thủy thủ đoàn và thuyền trưởng là người Đại Hàn, chiếc thuyền đang trên đường chở gỗ từ Pakistan về Okinawa, một hòn đảo nằm về phía cực Nam nước Nhật. Viên hoa tiêu cho chúng tôi biết diễn biến của sự việc như sau: Lúc chiều (là lúc mà tôi nhìn thấy chiếc thuyền) ông ta đã thấy con thuyền của chúng tôi và đã báo cáo lên thuyền trưởng xin phép được tiếp cứu, nhưng viên thuyền trưởng cho biết là ông ta không được phép làm vậy, nếu không tất cả nhân viên kể cả ông sẽ bị mất việc và gặp rắc rối, vì vậy mà chiếc tàu vẫn tiếp tục hải trình như tôi đã thấy. Tuy nhiên, viên hoa tiêu vẫn cứ tiếp tục van nài thuyền trưởng với lý do là sẵn sàng bị mất việc, chứ thấy người sắp chết mà không cứu là không được. Hơn nữa, theo tin tức khí tượng cho biết thì tối nay bão sẽ kéo tới và chắc chắn rằng con thuyền vượt biên sẽ bị nhận chìm xuống biển. Viên thuyền trưởng đã khóc và chấp nhận vớt chúng tôi. Vị trí mà chiếc tàu buôn đã cứu chúng tôi nằm cách đảo Lữ Tống (Luzon) của Philippines khoảng 60 cây số. Và nếu chúng tôi có sống sót qua cơn bão này thì chúng tôi sẽ trôi ra tới Ấn Độ Dương, vì gió đã đổi chiều và chúng tôi sẽ khó có cơ hội được cứu thoát vì đó không phải là hải trình của tàu buôn.
Chúng tôi cũng đã tường thuật lại chuyến vượt biên kinh hoàng của chúng tôi cho thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ trên tàu được biết. Sau khi nghe chúng tôi tường thuật, thuyền trưởng đã đánh điện vào đất liền thông báo cấp tốc, vì trước đó qua tin tức ông cũng đã biết được chuyến vượt biên kinh hoàng này do những người sống sót trước đó tường thuật lại. Số là trong cái đêm kinh hoàng đó, khi chúng tôi bị bộ đội Việt cộng tàn sát dã man, thì có 8 người đàn ông nhìn thấy có ánh đèn trên một hòn đảo ở từ phía xa, cách nơi chiếc thuyền bị nạn chừng vài hải lý, nên thay vì ở lại chờ chết, họ đã lặng lẽ dùng các can nhựa có trên tàu để bơi về phía hòn đảo có ánh đèn đó để tìm sinh lộ. Họ đã tìm đúng sinh lộ, vì đó là hòn đảo thuộc chủ quyền của Philippines. Họ được cứu và đưa về đất liền ngay đêm hôm đó. Đêm đó, quân trú phòng trên đảo được lệnh báo động và sẵn sàng để cứu vớt các thuyền nhân mắc nạn, họ cho biết là có nghe tiếng súng nổ suốt đêm, và súng pháo kích sáng hôm đó, nhưng không thể làm gì khác hơn được là đứng nhìn, vì hòn đảo đang diễn ra cuộc tàn sát thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tóm lại, trong khi chúng tôi vẫn còn đang lênh đênh trên biển đúng một tháng, thì đã có 8 người trên chiếc “ghe ông Cộ” đã được cứu thoát do bơi sang đảo Phi.
Nhận được tin từ vị thuyền trưởng, Bộ Nội Vụ Nhật Bản đã đồng ý cho chúng tôi cập bến Okinawa, thuyền trưởng hoan hỷ loan báo tin này cho chúng tôi biết và chúc mừng chúng tôi thoát nạn. Ba ngày sau, chúng tôi cập bến hải cảng Okinawa. Người đầu tiên bước lên tàu để đón chúng tôi là một thông dịch viên tiếng Nhật, anh tên là Nguyễn Gia Hùng, một sinh viên du học tại Nhật Bản trước năm 1975, hiện đang phụ giúp với hội Caritas Nhật lo giúp đỡ những thuyền nhân Việt Nam đang tị nạn tại Nhật Bản. Chúng tôi đã vô cùng xúc động vì nghĩ mình đã được tái sinh lần thứ hai. Chúng tôi bịn rịn bắt tay từ giã các vị ân nhân cứu mạng mình để lên đất liền làm thủ tục tị nạn, những người này cũng đã khóc khi tiễn chúng tôi bước xuống cầu tàu. Bước xuống tàu, chúng tôi đã nhìn thấy một rừng phóng viên báo chí, các hãng thông tấn thế giới đang chờ sẵn để lấy tin tức, một cuộc họp báo đã được tổ chức liền tại chỗ dưới sự hướng dẫn và thông dịch của các anh thuộc tổ chức Người Việt Tự Do tại Nhật Bản. Sau đó chúng tôi lên xe bus về trại tị nạn tại quận Motobucho, một trại tị nạn dành cho người Việt tị nạn được coi là lớn nhất nước Nhật với vỏn vẹn chừng 300 người Việt hiện đang tạm trú để chờ các quốc gia đệ tam nhận đi định cư. Ngày hôm sau, tất cả các báo chí, đài truyền hình Nhật Bản đều cho chạy đi bản tin đầu với hình ảnh và tin tức về chuyến vượt biển kinh hoàng do tội ác Việt cộng gây nên, và 30 ngày đói khát lênh đênh trên mặt biển của chúng tôi. Cầm trên tay tờ báo, nhìn vào hình ảnh của chính mình, tôi đã rúng động không còn nhìn ra được mình nữa, thay vào đó là một bộ xương với hộp sọ nhô cao lên. Đôi dòng lệ đã âm thầm chảy xuống vì hạnh phúc. Tôi biết mình đã thực sự sống sót.
Chủ nghĩa cộng sản đã là một thảm họa của nhân loại. Kể từ khi thứ chủ nghĩa này xuất hiện trên thế giới, nó đã giết chết không biết là bao nhiêu nạn nhân vô tội. Cuộc vượt biển tìm tự do đầy bi thảm và kinh hoàng của tôi cũng chỉ là một sự đóng góp vào kho tàng tội ác của chủ nghĩa cộng sản. Điều đáng quan tâm là hiện nay đất nước và dân tộc Việt Nam vẫn còn bị chìm đắm dưới sự độc tài, toàn trị của đảng Việt cộng. Chỉ có một con đường duy nhất là phải chấm dứt cái chế độ man rợ này, không thể nào nói chuyện hoà hợp hòa giải với những con người với đầu óc chai cứng vì đặc quyền, đặc lợi, mà họ đang thụ hưởng trên từng thân xác của những con người Việt

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Một khúc phim đáng xem
Ngày tàn của chế độ Cộng sản có lẽ chẳng kéo dài lâu đâu.
Sự tồn tại của chế độ Cộng sản gắn liền với sự sợ hãi của người dân trong nước, nhưng có lẽ gió sắp đổi chiều mà
bằng chứng là đoạn phim vừa post trên YouTube dưới đây là buổi trình diễn văn nghệ của Sinh viên Giáo phận Vinh
tại Hà Nội, diễn lại hoạt cảnh Công an CS khủng bố và đánh đập dân Tam Tòa (giáo phận Vinh).
Buổi trình diễn công khai và được sự ủng hộ của mọi người nói lên một điều "người dân VN đã vượt qua nỗi sợ hãi và đã dám biểu lộ tinh thần phản kháng".
Xin hãy click vào link dưới đây để xem


Post Reply