Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

VẪN LÀ LOẠI “TRÍ THỨC” ẤY?

Sơn Tùng

Dư âm của cái gọi là “Đại Hội Viêt Kiều” (hay Đại hội người Việt ở nước ngoài) diễn ra trong ba ngày vào cuối tháng 11 vừa qua (21-23.11.2009) tại Hà-nội còn lại chỉ là một bài viết của Ông Nguyễn Hữu Liêm, một đại biểu từ San Jose, Hoa Kỳ, về tham dự. Bài này tựa là “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an” dài bốn trang được tác giả viết sau “đại hội” và được phổ biến trên blog Talawas.


Như tự giới thiệu nơi phần đầu bài, Nguyễn Hữu Liêm là một cựu quân nhân Quân lực VNCH đã di tản khỏi Việt Nam trưa ngày 30.4.1975, và nay là “chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt – Mỹ”. Ông Nguyễn Hữu Liêm còn có tên Mỹ là Henry Nguyen Huu Liem, và có bằng J.D. (1987), bằng M.A. Philosophy (1998).

Vì có bằng cấp về triết học nên hơn phân nửa bài được Ông Nguyễn Hữu Liêm dùng để viết về Hegel, Edmund Husserl, Derrida, Lý Đông A, Paul Ricoer... không ăn nhập gì tới “Đại hội Việt kiều”, mục đích không ngoài làm dáng trí thức và biện bạch quanh co cho sự đầu hàng và phản bội.


Sự đầu hàng và phản bội được diễn tả trong phần còn lại của bài viết, mà rõ rệt nhất và trơ trẽn nhất là phần cuối bài:

“Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài ‘Tiến quân ca’ được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước 1963 thì cùng với bài hát buồn cười ‘Suy tôn Ngô Tổng thống’. Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca hát bài ‘Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng’. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ - đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam ! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.”


Thế đấy! Nếu cảnh trên đây diễn ra “từ hồi thế kỷ trước”, khoảng giữa thập niên 1940, nó có thể là cảnh thực. Nhưng, năm 2009 của Thế kỷ 21 là cảnh giả - giả từ bên ngoài đến trong tận đáy lòng của mỗi người, do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn gồm những cò mồi và những kẻ xu thời vì nhiều lý do.



Ông Nguyễn Hữu Liêm muốn tỏ ra là một người trí thức, nhưng lại chỉ là loại trí thức mà hàng thế kỷ trước đã được cộng sản dùng làm cảnh ở nhiều nơi để lừa gạt những người khác trên con đường cướp chính quyền và củng cố quyền lực. Trong lịch sử cướp chính quyền và củng cố quyền lực của Đảng Cộng sản VN hơn nửa thế kỷ qua cũng có sự tiếp tay của loại người này mà một tên tuổi lớn được Nguyễn Hữu Liêm nhắc tới trong bài là Trần Đức Thảo. Ông Thảo là một giáo sư Triết tại Paris đã mê chủ nghĩa Mác và nghe lời chiêu dụ của Hồ Chí Minh mà trở về Việt Nam hợp tác với chế độ cộng sản ở miền Bắc để rồi bị vỡ mộng, bị gạt ra bên lề và kéo dài kiếp sống cực kỳ khốn khổ cả về vật chất lẫn tinh thần cho đến lúc nhắm mắt.

So với Trần Đức Thảo thì Nguyễn Hữu Liêm chỉ là một kẻ vô danh nhưng khôn hơn người đi trước. Ông Liêm chỉ đi Việt Nam tham dự “Đại hội Việt kiều” để được đón tiếp long trọng và lễ lạc linh đình, sau đó lại trở về Mỹ mà ông ta gọi là “đi” Mỹ:

“Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để ‘đi’ California – không phải ‘về’ như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước. Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không? Con người tôi vẫn là con người của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc. Tôi chưa phải là con người tự do.

Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam . Lần này, tôi đã thực sự trở về!”



Bao giờ thì Nguyễn Hữu Liêm “thực sự trở về” để làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ? Có lẽ không bao giờ, và nhà cầm quyền CSVN cũng không bao giờ hoan nghênh “nhà trì thức” Nguyễn Hữu Liêm trở về VN sinh sống, vì khi ấy ông ta sẽ không còn “hữu dụng” nữa mà có thể còn “gây rắc rối” cho sự trị an - như Trần Đức Thảo đã bị buộc tội hơn nửa thế kỷ trước.

Vậy thì nay Ông Nguyễn Hữu Liêm “đi” Mỹ với tư cách gì?

“Việt kiều”? Không. Ông Liêm không phải là Việt kiều vì ông ta đã trở thành công dân Mỹ. Ông ta chỉ có thể là Việt kiều sau khi từ bỏ quốc tịch Mỹ, và lấy lại quốc tịch Việt Nam .

Nếu không làm như vậy, Ông Nguyễn Hữu Liêm ở trong tình trạng “vịt không ra vịt, ngan chẳng phải ngan”. Với những gì đã làm ở Hà-nội và đã viết trong bài báo, ông ta đã mặc nhiên tự coi mình là một công dân của nước CHXHCN Việt Nam . Những hành động ấy đã chứng tỏ ông ta không trung thành với nước Mỹ - đất nước đã dung nhận ông ta và ông ta đã tuyên thệ khi trở thành công dân – mà còn là một sự phản bội đối với những người trước đây đã tin ông ta, đã coi ông ta là “chiến hữu”, và những người đã chấp nhận ông ta là một người “tị nạn” cộng sản và cho ông ta cơ hội để trờ thành con người như hôm nay.

Nguyễn Hữu Liêm tự nhận là một người “trí thức” và cố viết lách một cách uyên bác, nhái giọng yêu nước của những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước. Nhưng, thế giới của nửa thế kỷ trước đã khác xa với thế giới ngày nay, trong đó các thuộc địa đã không còn, các chế độ cộng sản nguyên khởi đã hoàn toàn biến mất khỏi Âu Châu, vài chế độ cộng sản còn sót lại – trong đó có Việt Nam – đã trở thành những con quái vật cổ lỗ bị biến dạng đang chờ bị diệt chủng trước phong trào dân chủ ngày một dâng cao.


Một người tự nhận là “trí thức” mà không thấy nổi bức tranh toàn cảnh ấy là thiếu sự minh triết, tự hiến thân làm chậu cảnh cho một bạo quyền cuối mùa là không có trí, không cảm thấy bất bình và không hề nhắc đến sự đàn áp những chiến sĩ dân chủ ở Việt Nam – trong đó có nhiều trí thức chính danh – là không có tâm. Không có sự minh triết, không có trí, và không có tâm thì không phải là trí thức.

Nguyễn Hữu Liêm có vài mảnh bằng đại học nhưng không thể được gọi là trí thức, và thua xa những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước mà trùm Cộng sản Nga Vladimir Lenin gọi là “những tên ngốc hữu dụng”, vì dù sao có thể lúc ấy họ cũng là những người thực sự yêu nước và mê chủ nghĩa cộng sản từ trong tháp ngà.

Những giọng điệu yêu nước của người tự nhận là Việt kiều Nguyễn Hữu Liêm thì có thể đọc được trên bất cứ tài liệu tuyên truyền nào phát xuất từ Hà-nội, do bồi bút viết.

Sơn Tùng
8.12.2009

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngọn lửa ngày 9 tháng 12

Ngô Nhân Dụng
Trong lịch sử có những biến cố chỉ diễn ra ngắn ngủi rồi bị dập tắt nhanh chóng, nhưng đánh dấu một chuyển biến quan trọng, lâu dài trong xã hội. Thí dụ như cuộc biểu tình ngày 4 Tháng Năm năm 1919 của sinh viên tại Bắc Kinh chống thái độ nhu nhược của nhà cầm quyền Trung Quốc nhượng bộ Nhật Bản. Cuộc biểu tình đã bị đàn áp, chính quyền vẫn đứng vững. Nhưng sau đó, tất cả nước Tàu thức dậy, đứng lên. Một phong trào cách mệnh đã bùng lên trong giới trí thức, thanh niên Trung Hoa, được gọi là “Cuộc vận động ngày 4 tháng 5.” Ngũ Tứ Vận Ðộng trở thành một phong trào văn hóa, xã hội, tạo ra những động lực thay đổi toàn diện nước Trung Hoa từ đó.

Cuộc biểu tình của một số sinh viên, thanh niên Việt Nam trước tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội và tòa tổng lãnh sự của họ ở Sài Gòn trước đây 2 năm cũng thay đổi người Việt Nam một cách sâu xa và rộng rãi, đánh thức giới trí thức và thanh niên ở trong nước cũng như ở bên ngoài. Nhiều người bắt đầu lên tiếng về vận mệnh quốc gia, chủ quyền dân tộc, và đánh thức những người khác. Thái độ của người dân đối với đảng Cộng Sản cầm quyền đã thay đổi, trước đây người ta đã hết sợ, nay người ta càng coi khinh. Và người dân đã bạo dạn hơn, không còn e dè khi muốn phát biểu ý kiến, khiến cho chế độ độc tài phải ra tay đàn áp mạnh hơn. Có thể nói những trí thức và sinh viên Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc trong vụ thành lập huyện Tam Sa đã thắp lên một ngọn lửa có ảnh hưởng đang lan ra mỗi ngày một rộng hơn và mạnh mẽ hơn. Trong hai năm qua, ngọn lửa tinh thần thắp lên ngày 9 Tháng Mười Hai năm 2007 vẫn tiếp tục âm ỷ cháy!

Năm 2007, sau khi cho Hạm đội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa, Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân. Người Việt Nam nào cũng phải coi đó là một hành động nhục mạ cả lịch sử nước ta. Sau khi tờ báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn được lệnh phải chấm dứt các bài có ý kiến phản đối chính phủ Trung Quốc về vụ này, các cuộc biểu tình đã bùng ra. “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam,” lời khẳng định đó trở thành “tiếng gọi đàn” trong những cuộc biểu tình sau đó, có khi chỉ được viết thành một biểu ngữ đơn độc trương lên ở nhiều thành phố trước khi bị công an Cộng Sản xé bỏ.

Tại sao chúng ta dễ bị xúc động trước một quyết định hành chánh của chính quyền Trung Quốc? Ðồng bào ta đã sôi sục trong lòng vì nhớ lại hàng ngàn năm dân ta từng bị dân phương Bắc chiếm đóng, đàn áp và bóc lột. Và cả nước cũng phẫn uất vì thái độ hèn nhát của đảng Cộng Sản Việt Nam, khi họ không dám phản đối Cộng Sản Trung Quốc một cách công khai, mạnh bạo.

Các bạn sinh viên đại học ở Sài Gòn và Hà Nội đi biểu tình hô các khẩu hiệu khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam” với tất cả tấm lòng yêu nước. Người Việt ở khắp thế giới cũng rạo rực trong lòng khi nghe họ cất tiếng. Ðồng bào ta đều nghĩ tới các chiến sĩ anh hùng đã xả thân bảo vệ Hoàng Sa, trong trận hải chiến sau cùng giữa người Việt và người Trung Quốc, năm 1974.

Sáng ngày 19 Tháng Giêng năm đó, 15 chiến sĩ Việt Nam trên chiến hạm Lý Thường Kiệt khi thấy chiến hạm Trung Quốc trúng đạn, họ đã cùng hát lên bài “Việt Nam! Việt Nam!” Sau cùng, các chiến sĩ đó đã hy sinh, nhưng người Việt Nam sẽ không bao giờ quên. Những người trẻ tuổi đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, vì toàn thể mọi người Việt Nam náo nức muốn tỏ thái độ phẫn uất. Nhà văn Hoàng Tiến nói, hơn 50 năm nay mới thấy một cuộc biểu tình phát xuất từ ý nguyện của người dân Việt Nam!

Ðiều khiến giới trẻ Việt Nam tức giận là sau khi họ biểu tình, chính quyền Bắc Kinh đã lên giọng dậy dỗ và đe dọa các đồng chí Cộng Sản của họ tại Hà Nội. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Quốc là Tần Cương (Qin Gang) nhấn mạnh rằng bang giao giữa hai nước sẽ bị thiệt hại nếu Cộng Sản Việt Nam không “tỏ ra có trách nhiệm và có những biện pháp hiệu quả” ngăn cấm thanh niên Việt Nam biểu tình. Ông Tần Cương nhắc lại “lãnh đạo hai nước đã trao đổi quan điểm nhiều lần” về vấn đề này, ngầm bảo rằng dân Việt Nam không được góp thêm ý kiến.

Chính quyền Cộng Sản Việt Nam có vẻ đồng ý với Bắc Kinh. Các cuộc biểu tình bị dẹp, những người biểu tình bị bắt giữ, sách nhiễu, bỏ tù. Năm nay, họ ra lệnh đình bản tạp chí Du Lịch 3 tháng vì, trong số báo Xuân Mậu Tý, ký giả Trung Bảo ca ngợi lòng yêu nước của những thanh niên và trí thức tham dự các cuộc biểu tình. Nhưng hành động này chỉ giúp các người viết lịch sử sau này ghi nhận rằng giới trí thức Việt Nam, mặc dù báo chí đều bị kiểm soát, vẫn can đảm lên tiếng. Trong mạng lưới Sài Gòn Tiếp Thị, sau đó ký giả Phạm Hoàng Quân còn nhắc nhở mọi người Việt rằng ngay cả trong thời nước Việt Nam bị Pháp đô hộ, sang thời Việt Nam Cộng Hòa, các chính quyền đều bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo đó. Phạm Hoàng Quân còn can đảm nhắc tới lời tuyên bố của Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Bảo Ðại tại hội nghị San Francisco năm 1951, của Ngoại Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1956. Phạm Hoàng Quân cũng thuật lại trận hải chiến năm 1974, “Hạm Trưởng Nguyễn Văn Thà cùng hơn 50 binh sĩ đã hy sinh.”

Các nhà báo ở nước ta đã chứng tỏ tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc rất đáng ca ngợi. Họ dám phá rào, viết những điều bị chế độ cấm đoán mặc dù biết sẽ phải hy sinh những quyền lợi vật chất của chính mình. Thái độ can đảm đó được truyền đi, người ta không còn sợ hãi như trước nữa. Giới trí thức và đồng bào ta đã công khai tỏ lòng phẫn nộ về những vụ khai thác Bô xít gây nguy hại về kinh tế và môi trường sống. Mạng lưới chống bô xít của học giả Nguyễn Huệ Chi đã thu hút được hàng trăm ngàn người, ở trong nước cũng như hải ngoại. Những nhà khoa học, các nhà văn đã tham gia vào “cuộc biểu tình trên mạng” này chứng tỏ người Việt Nam bây giờ đã dám lên tiếng, không còn sợ hãi như Nguyễn Tuân ngày xưa, “sống sót nhờ biết sợ” nữa.

Trong không khí đó, những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ càng thêm vững niềm tin. Những Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Xuân Nghĩa, vân vân, có thể tự hào đóng vai xung phong trên mặt trận dân chủ. Họ đã trông thấy nền tảng của chế độ độc tài đảng trị đang rạn nứt. Ðây chính là lúc giới trí thức, thanh niên cùng toàn thể đồng bào đứng lên đòi những quyền tự do căn bản của con người.

Ðến cả những đại biểu Quốc Hội Cộng Sản, xưa nay vẫn im lặng vâng lời đảng chỉ đạo, nay cũng thêm can đảm. Ông Dương Trung Quốc ngầm ủng hộ các cuộc biểu tình của giới thanh niên, trí thức ngày 9 Tháng Giêng năm 2007, khi nói rằng, Tuy ngoại giao, quốc phòng quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử của người dân cho sự quyết sinh của tổ quốc. Ông ngầm nhắc tới bức thư ô nhục của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, khi nói, “bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài.”

Chúng ta đã thấy trong hai năm qua tinh thần ngày 9 Tháng Mười Hai vẫn được nuôi dưỡng, nhờ các nhà báo, các văn nghệ sĩ, giới trí thức can đảm công khai bầy tỏ thái độ bất bình đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Có những vụ bầy tỏ thái độ phản kháng một cách thầm lặng như hành động tự giải tán của Viện Nghiên Cứu Phát Triển, nhưng đó cũng là một hiện tượng chưa bao giờ xẩy ra trong giới trí thức nước ta trong chế độ Cộng Sản. Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, người đã từng dịch Karl Popper, cho thấy một người trí thức không thể chỉ ngồi yên nghiên cứu triết lý và khoa học mà nhắm mắt trước sự chà đạp tự do và những bất công đầy rẫy trong xã hội. Tâm lý người dân Việt Nam đang thay đổi, thái độ của người ta đối với bọn cầm quyền đã thay đổi. Một nhóm tăng ni phần lớn trên dưới 20 tuổi ở Tu Viện Bát Nhã đã thản nhiên và quyết tâm tu học đạo Phật mặc dù bị cả guồng máy công an đe dọa và đàn áp. Cuộc đối đầu của gần 400 thanh niên này với cả chế độ toàn trị muốn kiểm soát tất cả các tôn giáo cho thấy con người Việt Nam đã tự tin, tự làm chủ mình, không thể bắt cả dân tộc cúi đầu nghe các tín điều Mác xít trong một chế độ Stalin được nữa!

Sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản ở các nước Ðông Âu không phải chỉ do sự thất bại của hệ thống kinh tế Xô Viết, mà đã được khơi nguồn từ nhiều năm trước. Nhiều phong trào thay đổi tâm lý xã hội dân chúng các nước này đã bắt đầu từ giới trí thức, trong các đại học, các linh mục trong giáo hội Công Giáo, truyền tới giai cấp công nhân. Khi lòng dân muốn thay đổi đã chín mùi, ngay cả các cán bộ trung kiên của đảng Cộng Sản cũng phải ngả theo. Ðộng cơ cuộc cách mạng ở Ðông Âu là tự do, công bằng xã hội, và lòng yêu nước. Mảnh đất Việt Nam chúng ta hiện nay cũng đang sẵn sàng được gieo rắc những hạt giống tương lai đó. Xã hội đầy bất công. Người dân bị cướp đất, trí thức bị đàn áp. Và chủ quyền đất nước, lòng tự hào dân tộc đang bị xúc phạm. Các bạn trẻ đi biểu tình những năm 2007, 08 đã đánh thức mọi người cùng nhìn thấy tình trạng đó rõ hơn.

Chúng ta sẽ tiếp tục giữ gìn ngọn lửa do các sinh viên, trí thức Việt Nam đã thắp lên từ hai năm trước. Lịch sử sẽ ghi nhận ngày 9 Tháng Mười Hai năm 2007 như một biến cố quan trọng vào bậc nhất, đánh dấu sự biến chuyển tâm lý trong xã hội Việt Nam, báo trước ngày chế độ Cộng Sản cáo chung.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thức dậy đi nào gỗ đá ơi!

Ngô Nhân Dụng
Thi sĩ trở về nhà sau khi sống 10 năm trong nhiều nhà tù cải tạo, có lúc thốt lên lời cầu cho phép lạ xẩy ra: Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi!

Chúng ta có thể tưởng tượng, khi trở về thành phố cũ nhà thơ thấy khung cảnh cuộc đời chung quanh đã thay đổi như thế nào (Mười năm thế giới già trông thấy... Mười năm người tỏ mặt nhau đây... Mười năm chớp bể mưa nguồn đó... Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay...) Nhà thơ tự nhìn thân phận mình, “Ta về như giấc mơ thần bí” giữa một thế giới không những đã trở thành hoàn toàn xa lạ mà còn như một cơn mộng dữ bị quỷ ám. Cho nên, trong cơ mê thảng thốt, nhà thơ tự nhủ mình, “Ta về khai giải bùa thiêng yểm,” rồi bỗng nhiên thốt lên câu thần chú: “Thức dậy đi nào gỗ đá ơi!”

Làm sao cho gỗ đá biết thức dậy? Tại sao phải hô thanh hoán vũ yêu cầu gỗ đá thức dậy? Có thể vì nhìn thế giới chung quanh thấy toàn những gỗ đá vô tri.

Ở thời đại nào chúng ta cũng nên lắng nghe các thi sĩ. Vì họ nhìn thấy những hình ảnh thật hiện ẩn hiện đằng sau cuộc sống trong xã hội. Thấy bao nhiêu là gỗ đá. Toàn là gỗ đá. Khô. Cứng. Không có sự sống. Không thấy tình cảm. Một xã hội đang hóa thạch. Lòng người đã hóa thạch, trơ ra, khô cứng. Người đối xử với người như gỗ đá. Người đi đường nhìn nhau thấy chỉ là gỗ đá. Thi sĩ là tiên tri. Họ kêu lên bằng những tiếng nói lạ. Họ là những tiếng kê trong đồng vắng: Thức dậy đi nào gỗ đá ơi! Thi sĩ không “nhân cách hóa” gỗ đá. Ngược lại, mong gỗ đá trở lại làm người.

Như thế nào là một xã hội biến thành gỗ đá? Ông Trần Quốc Việt viết trên blog talawas mô tả xã hội Việt Nam vào năm 2009, 24 năm sau khi thi sĩ viết những câu thơ trên: “...Cho nên ở Việt Nam có cảnh một em bé bị chủ của quán phở hành hạ dã man bao năm trời mà không ai lên tiếng. Cảnh đám người hiếu kỳ dửng dưng nhìn người bị đụng xe nằm trên đường phố. Cảnh đám đông bị lùa vào các quán cơm tù ngay khi các xe khách ghé vào. Cảnh đánh ghen mà nạn nhân bị lột trần truồng, bị xúc phạm thân thể trước hàng trăm cặp mắt thờ ơ bên lề. Cảnh bao thiếu nữ lui tới các nơi phá thai công khai như đi chợ.”

Trần Quốc Việt chưa kể đến những chuyện gần đây hơn: Ngày 8 Tháng Mười Hai, 2009, khi trong giờ giảng bài, giáo viên Ðặng Ngọc N. ở Bình Phước bị một học sinh lớp 10A9 lấy mã tấu trong cặp sách xông lên bục giảng chém nhiều nhát vào vai, vào lưng. Trước đó, ngày 1 Tháng Mười Hai, thầy Hoàng Minh Luận, giáo viên môn thể dục tại xã Ðắk Ơ, huyện Bù Gia Mập, Bình Phước cũng bị côn đồ xông vào trường chém trọng thương.

Tại sao đạo lý trong xã hội xuống thấp đến như vậy? Trần Quốc Việt giải thích: “Chế độ toàn trị sống được là nhờ bạo lực và dối trá. Hai cái này hợp lại và, qua thời gian, đã bào mòn dần các lớp men lương tâm tích lũy từ thời sơ khai...” Một chế độ không có lương tâm biến xã hội thành khô, cứng, mất cả những xúc động bình thường của loài người. Ông viết thêm: “Nhân phẩm đã bị hủy diệt từ rất lâu... trong thời gian quá dài so với đời người, cho nên các sự kiện đàn áp tôn giáo vừa qua là giọt nước cuối cùng làm tràn cái ly vô lương tâm của chế độ khi nó dùng bạo lực trấn áp giới tu sĩ và những người thực hành tôn giáo.” Nhắc đến vụ chính quyền cộng sản Việt Nam đàn áp các tăng ni ở tu viện Bát Nhã, Ông Trần Quốc Việt viết: “Biến cố Bát Nhã là đỉnh cao của bạo lực vì làm tổn thương đến nền văn minh tâm linh và đạo lý của con người.”

Bạo lực không diễn ra qua gậy gộc, giáo mác, gươm súng. Bạo lực lên tới đỉnh cao nhất khi nó hiện ra trong tâm con người. Những người đã bị guồng máy biến thành gỗ đá vô tri mà không tự biết. Vì thế, khi nói, khi làm, họ vô tình “làm tổn thương đến nền văn minh tâm linh và đạo lý của con người.”

Khi nghe Ðinh Quang Anh Thái phỏng vấn một ni cô trong nhóm tăng ni Bát Nhã xuất gia ở Tu Viện Bát Nhã, Lâm Ðồng và đang tị nạn ở chùa Phước Huệ, Bảo Lộc, chúng ta có thể cảm thấy có những người công an đã biến thành gỗ đá. Ni Cô trả lời điện thoại ngày 10 Tháng Mười Hai, năm 2009, trong lúc nhóm côn đồ đang tấn công chùa bằng khẩu hiệu và biểu ngữ, bao vây Thượng tọa trụ trì. Hàng trăm công an chìm giả làm thường dân đang hô hoán những lời lăng mạ và treo những biểu ngữ đòi đuổi gần 200 tăng ni Bát Nhã còn sót lại đi nơi khác. Ni Cô nói các “các cô chú công an” đó hỏi những tăng ni trẻ tuổi rằng, “Tại sao các cô chú còn trẻ như thế mà đã đang tâm bán nước?” Ni Cô không thể hiểu họ muốn nói gì!

Bán nước? Gần 200 tăng ni phần lớn chưa tới 20 tuổi muốn sống đơn giản, giữa hạnh nguyện trang nghiêm, thanh tịnh. Họ không nghĩ xấu về ai, không nói, không làm tổn thương đến ai, gọi những người đến xua đuổi, đánh đập mình là “các chú công an.” Họ cũng chưa hề ra khỏi nước Việt Nam một lần, không có nhu cầu tiền tài, danh vọng, quyền hành nào để thúc đẩy họ phải bán nước! Tại sao các cô chú công an này vu cho họ tội “Bán nước?” Họ đâu có khả năng “Bán nước” như các người lãnh đạo vẫn ca ngợi “Tình hữu nghị Việt Trung đời đời xanh tươi bất diệt” trong lúc chính quyền Bắc Kinh cho lính đánh đập, cướp bóc các ngư phủ Việt Nam tránh bão cập thuyền vào hòn đảo thuộc Hoàng Sa vốn của Việt Nam?

Những người công an chìm nổi tấn công các tăng ni Bát Nhã bằng cái tâm bạo lực đã hô lên hai tiếng “Bán nước” mà không suy nghĩ, chắc cũng không biết mình nói dối, đáng hổ thẹn. Họ đã được biến thành gỗ đá. Những người đã ra lệnh cho công an làm việc đó, chính họ cũng đã biến thành gỗ đá.

Không thể nói vụ đàn áp tăng ni Bát Nhã là một hành động đơn lẻ xuất phát từ địa phương nữa. Ðây là một chính sách được chỉ đạo từ Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Lúc đầu, họ tấn công tu viện Bát Nhã nhưng gán cho một vụ tranh chấp nội bộ giữa hai nhóm Phật Giáo, lấy cớ vị viện chủ tu viện đuổi các tăng ni này đi. Khi các chùa khác sẵn sàng đón nhận các bạn trẻ này, họ không còn lấy lý do đó được nữa, bèn bầy ra mưu khác. Họ không cho phép các chùa được cho các tăng ni này trú ngụ. Thượng Tọa Thái Thuận, viện chủ chùa Phước Huệ đã can đảm không chịu ký giấy đuổi các tăng ni thơ dại, cho nên bây giờ đảng Cộng Sản tổ chức cho công an đóng vai côn đồ đòi đuổi thượng tọa đi. Trong khi đó, vấn đề Bát Nhã đã trở thành quốc tế. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã ngỏ lời thăm và khuyến khích các tăng ni Bát Nhã chuyên cần tu tập. Nghị viện Âu Châu đã nêu vấn đề Bát Nhã khi lên án cộng sản Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng. Hội nghị các tôn giáo ở Úc Châu đã xúc động khi coi triển lãm hình ảnh và lắng nghe thuyết trình về vụ Bát Nhã. Lấy lý do gì để đuổi những người trẻ tuổi chỉ muốn tu hành, chỉ niệm Phật khi bị tấn công? Họ bèn đặt ra hai chữ “Bán nước!”

Chỉ có những cán bộ “tư tưởng,văn hóa” cấp trung ương mới biết bầy ra trò vu tội này, cán bộ địa phương không có khả năng, cũng không có quyền sáng tác ra trò đó. Vì khi dùng đến trò vu vạ “Bán nước” là người ta đã sử dụng một thủ đoạn được sáng chế từ thời Hồ Chí Minh khi ông muốn tiêu diệt cán bộ các đảng phái quốc gia. Vu cho ai là “Bán nước” tức là tuyên án tử hình mà không cần tòa án. Họ đã cho tay sai giết những Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, vân vân, bằng cách đó.

Hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam đang nhắm vào Thiền Sư Nhất Hạnh, người đã chính thức yêu cầu họ giải tán Ban Tôn Giáo Chính Phủ, người đã “xúc phạm” Trung Quốc khi khích lệ người dân Tây Tạng hãy noi gương người Việt Nam bền bỉ tranh đấu hàng ngàn năm, rồi có ngày cũng thoát cảnh lệ thuộc dân Hán.

Ðể triệt hạ ảnh hưởng của vị thiền sư này, Cộng Sản Việt Nam đã nghĩ ra cách dùng hai chữ “Bán nước.” Trong khi hô hoán cũng như khi viết khẩu hiệu, họ gọi các tăng ni Bát Nhã là “Tăng ni Làng Mai,” mặc dù những bạn trẻ này đã xuống tóc xuất gia tại Tu viện Bát Nhã, Lâm Ðồng. Bởi vì Làng Mai là một tu viện ở Pháp, ở ngoại quốc. Gắn cho tên gọi như vậy, dễ vu cáo họ là “gốc từ nước ngoài” hơn.

Phương pháp tu tập ở Làng Mai thực ra không mới, đó chính là phương pháp tu hành của Phật Giáo Việt Nam đã có từ thời Trần Nhân Tông, từ thời các Thiền Sư Lâm Tế, Liễu Quán, nay đem áp dụng lại. Làng Mai chính thức thuộc dòng Liễu Quán, xuất phát từ Huế, giống như nhiều tự viện ở Việt Nam. Nhưng khi gắn danh hiệu một tu viện ở nước ngoài, người ta dễ vu cáo hai chữ “Bán nước” hơn!

Ðây là một thủ đoạn có tính toán, có sách lược, phải do trung ương chỉ đạo. Những anh chị em công an vậng lệnh vu cáo các tăng ni Bát Nhã tội “Bán nước” họ không biết gì cả. Họ đã được huấn luyện để biến thành gỗ đá. Những người Việt đứng ngoài bàng quan tọa thị không thấy xúc động trước cảnh chế độ bạo tàn cấm đoán và đàn áp các người tu hành, chính họ cũng đã biến thành gỗ đá. Cũng giống như những người trơ mắt nhìn “cảnh một em bé bị chủ của quán phở hành hạ dã man bao năm trời mà không ai lên tiếng. Cảnh đám người hiếu kỳ dửng dưng nhìn người bị đụng xe nằm trên đường phố” như ông Trần Quốc Việt đã kể. Ông Trần Quốc Việt giải thích hiện tượng “lương tâm hóa thạch này: “Quyền lực xui khiến những kẻ bên trên cam tâm đi ngược lại hướng tiến hóa của lương tâm con người, còn sự sợ hãi làm đa số ở phía dưới câm lặng và nhẫn nhục trước bao cảnh bất công cá nhân trong đời thường, rồi tiếp tục ngoảnh mặt trước những cảnh bất công lớn hơn ngoài xã hội, rồi dần biến thành một đám đông thầm lặng cùng khiếm khuyết một phần lương tâm bình thường, như lương tâm bình thường của người dân trong các nước theo thể chế dân chủ và tự do.

Trong tình cảnh đó, tiếng chuông đại hồng do các tăng ni Bát Nhã thỉnh lên báo động chùa Phước Huệ bị tấn công chính là những tiếng chuông tỉnh thức lương tâm của tất cả mọi người. Ông Trần Quốc Việt viết, “Qua các vụ trấn áp tôn giáo gần đây, đặc biệt qua sự hành xử của chế độ trong vụ Bát Nhã, niềm hy vọng về một sự thức tỉnh lương tâm trong tầng lớp cầm quyền của chế độ đã thành ảo vọng.”

Nói như vậy quá bi quan. Chúng ta phải tin tưởng trong mỗi con người đều có “nhất điểm lương tâm. Như Nguyễn Du từng thấy đá có khả năng chia sẻ những xúc động với con người, “Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.” Gỗ và đá cũng có khi tỉnh dậy làm người. Cho nên, cứ theo lời thi sĩ kêu gọi: Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi!


Chú Thích: Các câu thơ in nghiêng trong bài này trích từ bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên, viết năm 1985.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Làm khó các nhà tư bản

Ngô Nhân Dụng

Chỉ còn hai tuần nữa là lễ Giáng Sinh. Mối lo lớn nhất của người Mỹ là có dám đem tiền đi “sắm Tết” hay không? Nếu tin tưởng kinh tế sắp lên thì sẽ đi mua quà, và mua món đắt tiền. Ngược lại, sẽ cố nhịn, tiếp tục ăn tiêu dè sẻn.

Hôm qua, Bộ Thương Mại Mỹ đã loan báo một tin vui: Số bán của các cửa hàng bán lẻ trong Tháng Mười Một đã tăng thêm được 1.3%, gấp đôi con số mà các nhà kinh tế dự đoán vì họ dè dặt trước cảnh nạn thất nghiệp vẫn chưa thuyên giảm. Trừ số xe hơi và xăng bán gia tăng, nói chung giới tiêu thụ Mỹ đã chi thêm 0.8%. Một tin mừng nữa là trong Tháng Mười các xí nghiệp Mỹ đã bắt đầu chất thêm hàng vào kho, sau 13 tháng chỉ rút ra mà không đưa vào. Như vậy tức là guồng máy sản xuất trong nền kinh tế đã rục rịch chạy trở lại; một lý do khiến tỷ lệ thất nghiệp rút từ 10.2% xuống 10%. Tổng Sản Lượng Nội Ðịa đã tăng 2.8% một năm trong quý thứ ba, sau 4 quý liền chỉ thấy xuống. Nhìn ra thế giới, thị trường Á Châu cũng đang lên, đó cũng là một tin mừng cho nước Mỹ vì kinh tế toàn cầu lên thì các nước đều thêm cơ hội phát triển.

Nhưng kinh tế là một khoa học không chính xác lắm. Dù có các tin mừng, mọi người vẫn lo cơn khủng hoảng bắt đầu từ các ngân hàng 2 năm trước vẫn còn di hại, nếu kinh tế có hồi phục thì cũng tiến lên rất chậm chạp. Trong khi đó, chính phủ các nước đều lo đặt ra các luật lệ mới để kiểm soát, điều tiết hoạt động của các ngân hàng, ngăn không cho một cuộc khủng hoảng tương tự xẩy ra trong tương lai.

Ngày hôm qua, Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật cải tổ hệ thống tài chánh quan trọng nhất kể từ sau Ðại Chiến Thứ Hai. Dự luật này sẽ cho chính phủ Mỹ thêm nhiều quyền hạn để kiểm soát hoạt động của các ngân hàng và bảo vệ người tiêu thụ trong việc vay nợ. Trong tháng tới, đến phiên Thượng Viện đem bàn dự luật này, dân Mỹ sẽ được lắng nghe nhiều lý lẽ biện minh cho việc thay đổi nhiều hay ít. Một bên sẽ hô hào phải kiểm soát chặt chẽ hơn, bên kia sẽ báo động nếu chặt chẽ quá cả hệ thống tài chánh sẽ không thở được! Giới tài chánh Wall Street luôn luôn muốn được tự do hơn, trong khi công chúng thì muốn kiểm soát họ kỹ, vì còn đang nổi giận vì chính phủ phải đem tiền ra cứu các nhà tư bản! Khi được ban hành, đạo luật sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế Mỹ, cho nên đây không phải chỉ là một vấn đề “triết lý kinh tế” mà là chuyện sinh tử dính dáng đến tất cả mọi người dân.

Kinh tế tư bản được sắp đặt như vầy: Những người có tiền bỏ vốn hoặc cho vay để các doanh nhân đầu tư, lập xí nghiệp, tạo công việc làm. Những nhà tư bản đó sẽ hưởng lợi trên số tiền bỏ ra, và chịu rủi ro nếu thất bại. Việc trao đổi, như bỏ vốn thì phải có lời, làm việc thì được trả công, diễn ra trong các thị trường càng tự do càng tốt. Tốt nhất là thị trường hoàn toàn tự do, nghĩa là chính phủ không can thiệp.

Nhưng ai cũng biết là chính phủ ở các nước tư bản vẫn can thiệp, từ lâu rồi. Lý do là nếu để cho thị trường tự do tuyệt đối thì không những xã hội bất công mà chính thị trường nhiều khi cũng thất bại. Một nhóm nhà tư bản thất bại có thể gây tai họa chung cho cả xã hội, thí dụ cuộc khủng hoảng tín dụng xẩy ra từ năm 2007 đã dẫn tới cơn suy thoái kinh tế kéo dài tới bây giờ. Cho nên các chính phủ từ Âu Châu sang đến Mỹ đang giành thêm quyền kiểm soát các hoạt động của thị trường tài chánh và thị trường vốn. Câu hỏi là: Can thiệp thêm đến mức nào, để ngăn ngừa bớt những khủng hoảng tương lai đồng thời không kiểm soát quá chặt chẽ khiến thị trường thở hết nổi? Giới tài chánh, tư bản muốn bảo vệ quyền tự do làm ăn của họ; các nhà chính trị lo bảo vệ công ích thì muốn đặt thêm luật lệ để kiểm soát, phòng ngừa.

Quyết định sau cùng sẽ thuộc về người dân. Họ bằng lòng cho chính phủ can thiệp đến mức nào, thì họ sẽ bỏ phiếu cho các đại biểu Quốc Hội và chính quyền đưa ra các chính sách phù hợp với ước muốn của họ.

Các chính phủ thường làm theo ý dân, và trong này lúc lòng dân ở đâu cũng đang nổi giận đối với các ngân hàng, là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay, thì tự nhiên người cầm quyền sẵn sàng gây khó dễ cho các nhà tư bản!

Chính phủ Anh hôm Thứ Tư mới tăng thuế trên các món tiền thưởng cho nhân viên quản trị các ngân hàng, đánh thêm 50% sau khi họ đã đóng thuế như thường lệ. Họ gọi đó là “siêu thuế” (supertax)! Ngày hôm sau, tổng thống Pháp tuyên bố sẽ theo gương Anh, và bà thủ tướng Ðức cũng khen ngợi biện pháp đó, mặc dù các nhà băng phản đối. Lý luận của các nhà chính trị rất giản dị: Các vị quản đốc và nhân viên ngân hàng được thưởng khi tiền lời của nhà băng lên cao hơn mức bình thường. Làm việc giỏi thì được thưởng, xứng đáng lắm. Nhưng tại sao tiền lời của các nhà băng lại khấm khá như vậy? Vì họ đã được nhà nước cứu trợ. Chính phủ các nước đã lấy hàng trăm tỷ tiền dân đóng thuế cứu trợ các ngân hàng trong 2 năm qua. Như vậy thì ngân hàng có thêm lời không phải chỉ nhờ công lao của các vị quản đốc mà còn do dân đóng thuế đã đưa tiền cho họ dùng! Cho nên, đã thưởng thì xin thưởng luôn cho người dân đóng thuế! Lấy 50% tiền thưởng của quý vị trả lại cho công quỹ, đó cũng là lẽ công bằng! Ngày Thứ Sáu, ông chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu còn nêu thêm một lý do nên đánh thêm siu thuế. Ðó là một cách ngăn ngừa không cho các quản đốc ngân hàng sau này quyết định liều lĩnh, chỉ cốt sinh lợi tức thời ngõ hầu lấy tiền thưởng! Vụ khủng hoảng gần đây xẩy ra chính vì những quyết định đầy rủi ro khi các ngân hàng cho vay về địa ốc quá trớn!

Tất nhiên, các ông bà quản trị ngân hàng không đồng ý, nhưng chắc cuối cùng họ cũng phải chịu thua! Nếu chống, cứ đợi đến mùa tranh cử đi vận động dân bãi chức chính phủ đi!

Chính phủ Mỹ chắc không đi theo bước của Anh quốc, vì sợ sẽ bị gán cho danh hiệu “theo Chủ nghĩa Xã hội!” Nhưng hiện nay biết lòng dân vẫn oán hận các ngân hàng cho nên họ đã can thiệp khá mạnh. Ông Kenneth Feinberg, thuộc Bộ Tài Chánh, đã ra lệnh các ngân hàng đang còn được chính phủ cứu trợ từ 2 năm qua phải hạn chế số tiền lương và bổng cho nhân viên quản đốc. Xưa nay chưa bao giờ nhà nước Mỹ lại can thiệp dữ như vậy vào một chuyện “nội bộ” của các xí nghiệp và các ngân hàng! Ðiều đặc biệt là người đứng đầu công ty General Electric, một nhà “đại tư bản” như ông Jeffrey Immelt lại lên tiếng ủng hộ việc hạn chế lòng tham của các nhà quản đốc! Ngân hàng Goldman Sachs biết phận đã tuyên bố bãi bỏ tiền thưởng bằng tiền mặt của 30 vị quản đốc cao nhất!

Chúng ta thấy là tâm lý giận dữ của dân Mỹ đã ảnh hưởng rất lớn. Không những mất tin tưởng ở những người điều khiển tài chánh trong lãnh vực tư mà người dân còn oán trách chính phủ chỉ lo cứu các nhà tư bản lớn trong khi nhiều người dân vẫn tiếp tục mất việc làm! Có người đã tính rằng nếu đánh thêm “siêu thuế 50%” trên các món tiền thưởng ở ngân hàng như bên Anh, chính phủ Mỹ sẽ thu được thêm 30 tỷ Mỹ kim. Con số đó đủ để tạo ra thêm 6 triệu việc làm, bằng cách giảm 5,000 đô la tiền thuế cho các công ty mỗi khi tuyển thêm một nhân viên mới! Cách tính toán này quá đơn sơ, không đáng tin cậy lắm, vì các chủ nhân xí nghiệp có thể lạm dụng; sa thải một nhân viên rồi đợi đúng kỳ sẽ mướn vào làm lại, lãnh 5,000 đô la trừ thuế! Dù vậy, nhiều người vẫn tin vào cách tính toán đó, chứng tỏ người dân đang ghét các ngân hàng như thế nào! Và họ ghét lây ông chính phủ vì đã xin 700 tỷ đô la công quỹ để cứu các ngân hàng từ năm 2008 đến nay!

Nhưng chúng ta nên tránh một hiểu lầm lớn. Không nên nghĩ là số tiền 700 tỷ cứu trợ các ngân hàng và công ty tài chánh là tiền cho không, sẽ mất hút tất cả! Vì ngay từ đầu, khi đạo luật 700 tỷ này được ban hành dưới thời Tổng Thống Georges W. Bush thì nhà nước Mỹ đã ấn định đó là tiền giúp, các ngân hàng nhận lãnh tiền sẽ bị ràng buộc bằng những giấy nợ phải trả lãi hoặc những cổ phần phải trả tiền lời (cổ tức) chứ không cho như khi cứu trợ bão lụt! Tất nhiên, chính phủ sẽ mất tiền nếu ngân hàng được cứu vẫn yếu quá, phá sản luôn. Ngoài ra, các ngân hàng được giúp phải chịu cho nhà nước Mỹ kiểm soát một phần, thí dụ như vụ bắt họ không được đi mua ngân hàng khác, không được trả lương, bổng cho nhân viên theo ý muốn.

Cho nên, từ đó tới nay, nhiều ngân hàng được cứu trợ đã hoàn trả lại nhà nước, để được tự do, tránh các ràng buộc này! Ngân hàng JP Morgan đã trả lại cho chính phủ Mỹ 25 tỷ đô la, và trước đó đã trả khá nhiều tiền cổ tức (tiền lời của cổ phần) cho chính phủ rồi. Trong tuần này Bank of America cũng đã hoàn lại số tiền 45 tỷ đô la mà nhà nước đã giúp trước đây. Ngày hôm qua ông bộ trưởng tài chánh đã thông báo cho bà chủ tịch Hạ Viện biết rằng trong số tiền 346 tỷ Mỹ kim đã đem ra cứu trợ các ngân hàng ông tin rằng sẽ thu lại được hơn 300 tỷ (đến nay đã có 116 tỷ được trả lại).

Nhưng khi chính phủ Mỹ giúp các ngân hàng, ngoài chuyện sẽ phải hoàn trả vốn và lãi, các ngân hàng còn phải “tặng” cho nhà nước một số quyền lợi tài chánh, tiêu biểu là những “warrants,” tức là tấm phiếu cho quyền mua cổ phần của các ngân hàng này với một giá cố định, trong một thời hạn, thí dụ 10 năm. Những “phiếu mua” đó có thể vô giá trị nếu cổ phần của ngân hàng không lên trên giá được ấn định, nhưng sẽ có giá trị lớn nếu cổ phần lên cao. Và hiện nay các phiếu mua warrants này đang có giá. Khi Goldman Sachs xin trả lại chính phủ Mỹ 10 tỷ đô la cứu trợ trước đây, họ cũng điều đình mua lại tất cả các phiếu mua (warrants) mà chính phủ đang giữ, với giá 1.1 tỷ Mỹ kim; tức là nước Mỹ đã “được lời thêm” hơn 1 tỷ trong việc cứu giúp họ! Hôm qua, chính phủ Mỹ lại vừa kiếm được một món lời nữa, khi bán đấu giá các warrants mà Ngân hàng JP Morgan đã biếu khi được cứu, thu về được 936 triệu Mỹ kim!

Cho nên, xin đừng hiểu lầm rằng khi chính phủ Mỹ cứu các ngân hàng tức là họ cho không, như lối làm kinh tế bao cấp. Cứu các nhà tư bản, nhà nước cũng làm theo lối tư bản; tức là phải có trao đổi, ông mất của kia, bà chìa của nọ! Năm chính phủ Mỹ đã cứu công ty xe Chrysler và kiếm bộn nhờ bán lại các warrants khi giá cổ phần của họ lên cao.

Nhưng đa số công chúng ở Mỹ không để ý đến điều đó, vẫn tưởng là ông nhà nước đem 700 tỷ tiền đóng thuế của dân đi cho bọn tư bản giàu sụ! Cơn giận dữ của họ là một cơ hội cho các nhà chính trị thắt chặt vòng tay kiểm soát với các ngân hàng! Tuy nhiên, công việc kiểm soát đó là cần thiết. Ít nhất để tránh những tai họa do lòng tham của giới tài chánh gây ra, mà nạn nhân là hàng triệu người dân đang lo không có tiền đi sắm sửa lễ Giáng Sinh!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vụ tấn công Berlusconi phơi bày mâu thuẫn ở Italy

Nhiều người Italy tỏ ra thương cảm sau khi thấy gương mặt đầy máu của Thủ tướng Silvio Berlusconi, tuy nhiên,
làn sóng ủng hộ kẻ tấn công cũng rất mạnh mẽ trên mạng xã hội Facebook và YouTube.

Image
Gương mặt đầy máu của Berlusconi sau vụ tấn công. Ảnh: Reuters.
"Gương mặt đầy máu, hoảng hốt và sợ hãi của Silvio Berlusconi sẽ mãi là một biểu tượng lịch sử của nước cộng hòa này", AP dẫn một câu bình luận trên tờ La Stampa, không do Berlusconi sở hữu, hôm qua.

Berlusconi, 73 tuổi, được đưa tới bệnh viện San Raffaele tại thành phố Milan sau khi một người đàn ông ném một bức tượng mang hình thánh đường Gothic vào mặt thủ tướng. Kẻ tấn công được xác định là Massimo Tartaglia, 42 tuổi, bị bắt ngay lúc đó và đang ngồi ở nhà giam thành phố. Anh ta không có tiền sử, song từng được điều trị tâm lý. Hãng thông tấn ANSA hôm qua đưa tin Tartaglia đã viết một lá thư gửi Berlusconi và xin lỗi vì "hành động thiển cận, hèn nhát và bốc đồng" của anh ta.

Berlusconi vẫn còn đau đớn. Ông không ăn được và còn phải ở trong bệnh viện ít nhất một ngày nữa. Bác sĩ riêng của thủ tướng là Alberto Zangrillo cho hay ông bị dập mũi, gãy hai răng, và bị rách môi. Ông đang uống thuốc kháng sinh và giảm đau song không phải phẫu thuật.


Theo AP, vụ tấn công khiến cả nước Italy bàng hoàng này diễn ra giữa thời điểm tình hình chính trị trong nước ngày càng căng thẳng. Nhiều tháng nay, Berlusconi cảm thấy có một bầu không khí thù hận vây quanh ông trong lúc đang phải đối đầu với những bê bối tình dục và các cáo buộc về vi phạm pháp luật.

Pháp ngôn viên của thủ tướng là Paolo Bonaiuti cho hay cảm giác đó trở nên rõ ràng hơn trước khi ông tới cuộc gặp gỡ ở Milan. "Ông ấy nói với tôi: 'Anh biết không, bầu không khí thù hận và căng thẳng này khiến tôi lo lắng'", Bonaiuti nhớ lại. "Anh có nghĩ có chuyện chẳng lành sẽ xảy ra với tôi không?".

Kể từ khi đặt chân vào chính trường hồi giữa thập niên 90, Berlusconi càng làm chia rẽ Italy, một xã hội vốn có nhiều phe phái đối lập hàng thế kỷ nay. Những người phản đối Berlusconi cho rằng ông trùm truyền thông - chính trị gia là một mối đe dọa đối với nền dân chủ. Họ cáo buộc ông bẻ cong luật pháp để tư lợi. Những người ủng hộ thủ tướng thì ngưỡng mộ sức hấp dẫn, tiền bạc, thậm chí những trò đùa của ông. Họ luôn muốn trở thành người như thủ tướng. Họ ca ngợi nhân cách của ông và tin rằng ông là nhà cải cách.
Image
Cảnh sát Italy cầm tấm biển chúc Berlusconi nhanh bình phục. Ảnh: CSM.
Làn sóng phản đối ông mạnh mẽ tới mức một trợ lý của Berlusconi còn viết sách thu thập những lời lăng mạ mà đối thủ chính trị dành cho chính trị gia bảo thủ này. Tuy nhiên, dù đo bằng tiêu chuẩn của Italy, không khí thù địch với Berlusconi vẫn là ở mức cao, đặc biệt tăng lên trong nhiều tháng gần đây, khi trên đường phố xuất hiện nhiều cuộc biểu tình.

Tờ báo lớn nhất Italy Corriere della Sera nhận định tình hình chính trường ở nước này gần như giống một cuộc nội chiến. "Làn sóng chống đối thủ tướng là kết quả của điều đó", tờ báo không thuộc quyền sở hữu của Berlusconi nhận định.

Berlusconi dính vào nhiều bê bối vì nghi ngờ có quan hệ với các cô gái trẻ và gái mại dâm. Vợ thủ tướng đòi ly dị ông song Berlusconi khẳng định chưa bao giờ mua dâm cũng như không hề có quan hệ nào không đúng mực. Thủ tướng cũng đối mặt với hàng loạt cuộc biểu tình, mới đây là hàng chục nghìn người đổ về Rome hôm 5/12. Ông còn bị cáo buộc có quan hệ với mafia, một điều mà ông cực lực bác bỏ.

Dù vấp phải nhiều sự phản đối, Berlusconi được bầu làm thủ tướng lần thứ ba vào năm 2006. Chiến thắng đó đánh dấu sự trở lại nắm quyền, sau gần hai năm ông phải nhường bước cho liên minh trung tả sau thất bại sít sao. Cuộc tấn công mới này có lẽ càng củng cố thêm quyết tâm của phe ủng hộ ông. "Những người Italy chân chính luôn ở bên ông" là dòng chữ trên một tấm băng rôn treo ở tường bệnh viện nơi Berlusconi điều trị.

Trong khi đó, Bộ trưởng Nội vụ phụ trách về lực lượng cảnh sát Roberto Maroni cho biết có tới 300 nhóm trên Facebook ca ngợi kẻ tấn công Berlusconi. Maroni dự định cấm các nhóm này trên Facebook. Ông cũng nhắc tới những video trên YouTube về vụ tấn công với những bình luận kích động thêm bạo lực.

Maroni chủ trì một cuộc họp khẩn cấp ở Milan bàn về an ninh của thủ tướng. Ông cho biết tạm thời chưa thấy bất cứ một sai sót nào song cho biết họ đang điều tra toàn bộ quy trình bảo vệ.

Có khoảng 30 điệp viên bảo vệ Berlusconi khi ông xuất hiện nơi công cộng. Tuy nhiên, vị thủ tướng luôn coi bản thân là người của công chúng, thích hòa nhập vào đoàn người ủng hộ và bắt tay họ. "Berlusconi có quyền lại gần người ủng hộ, bởi vì đây là dân chủ và đây là chính trị", Maroni nói.

H. Ninh

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Mỹ Hoa đấu khẩu

Ngô Nhân Dụng
Hai nước Mỹ và Trung Hoa đang đấu khẩu tại Copenhagen, trong Hội nghị về Thay đổi Khí hậu kỳ thứ 15 do Liên Hiệp Quốc tổ chức, gọi tên là COP15. Trong hai ngày nữa, nếu hội nghị không đưa tới một kết quả nào đáng gọi là “có tiến triển” thì, trước mặt đại biểu 192 quốc gia tham dự, nước này sẽ chỉ tay vào nước kia mà tố: Lỗi tại bên đó cả!

Trung Quốc đã thành công một bước khi lôi kéo được 77 quốc gia cùng kết lại thành một khối những nước “đang phát triển,” (cũng gọi là “nước nghèo”) đứng đối lập với các “nước giàu,” tức là đã phát triển. Trước khi hội nghị khai mạc, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hà Á Phi đã lên án Mỹ không theo gương Âu Châu đóng góp tiền cho quỹ giúp những nước nghèo giảm bớt việc thải khí CO2 làm bầu khí quyển Trái Ðất nóng lên dần. Các nước nghèo ở đây đại đa số là các nước Á Phi!

Ðại diện Mỹ đã đáp lễ nói rằng dân Mỹ không thể nào chấp nhận đóng thuế để chính phủ đem tiền đi giúp Trung Quốc làm bổn phận đó. Cuộc đấu khẩu “hâm nóng” hội nghị không khác gì khí CO2 làm khí hậu nóng thêm. Các nước nghèo khác thấy thái độ gây gổ của Trung Quốc chỉ làm cho cuộc bàn cãi bị trì hoãn và có thể chấm dứt mà chẳng thấy được đồng nào cả, cho nên đã bất bình. Mấy ngày sau, phía Trung Quốc phải thanh minh rằng họ chỉ kêu gọi Mỹ phải góp tiền giúp các nước nghèo, nhưng chính họ sẽ không nhận đồng nào trong đó cả! Các nước Á Phi càng bực mình. Nếu Trung Quốc không cần tiền thì đừng tố cáo gây ồn ào làm gì, để yên cho các nước nghèo bàn thẳng chuyện ai sẽ nhận được bao nhiêu tiền, có phải nhanh chóng hơn không?

Cuối cùng, cuộc bàn cãi trong hội nghị này là vấn đề Tiền. Tại sao lại dính đến tiền, cần tìm hiểu nguồn cơn cho rõ.

Nguyên do là bầu không khí bao quanh Trái Ðất đang bị đe dọa sẽ nóng lên dần dần, có thể tai hại cho tương lai nhân loại. Một lý do chính khiến nhiệt độ tăng là việc đốt các nhiên liệu, như dầu lửa, than đá, khí đốt, vân vân, thải ra chất CO2 ngày càng nhiều mà không tiêu đi đâu được. Lớp khí đó giống như một chiếc chăn, mền phủ lên khí quyển mỗi ngày một dầy thêm. Tấm mền giữ sức nóng mặt trời tỏa xuống mỗi ngày giống như trong nhà kiếng trồng cây cảnh vậy. Cho nên Trái Ðất ngày một nóng thêm. Người ta sẽ hỏi: Nếu khí hậu nóng hơn thì “mở máy lạnh,” tại sao phải lo? Lo vì nếu nhiệt độ trung bình trên Trái Ðất tăng thêm 2 độ nữa thì sẽ có nhiều hậu quả không thể biết trước sẽ đối phó ra sao: Mùa mưa, hướng gió sẽ thay đổi, ruộng nương mùa màng sẽ bị ảnh hưởng; băng đá trên địa cực sẽ tan ra, mực nước biển sẽ lên cao, nhiều thành phố và vườn ruộng ven biển sẽ bị ngập, vân vân. Người ta đã tính ra rằng kể từ khi có cuộc cách mạng kỹ nghệ đến nay, đốt than đốt dầu mãi, nhiệt độ trên mặt đất đã tăng thêm 0.7 độ bách phân. Nhưng trong 2 trăm năm đã qua tốc độ tăng còn chậm, bây giờ tăng nhanh hơn vì các nước đều đang kỹ nghệ hóa, họ tiêu thụ số dầu lửa, hơi đốt và than nhiều gấp trăm lần hồi thế kỷ trước!

Hội Nghị Kyoto năm 1997 đã công nhận mối nguy cơ khí hậu nóng dần, kết luận rằng cả thế giới phải giảm bớt tốc độ thải CO2 vào trong khí quyển. Không thể nào không phun thêm CO2 lên trời được, nhưng phải kềm chế cho phun lên ít ít thôi. Công ước Kyoto chỉ đòi hỏi các nước giàu hạn chế số khí CO2 thải ra, còn các nước nghèo được miễn. Nhưng có hai nước hiện nay thải nhiều khí CO2 nhất, cộng chung hai nước thải 40% số khí CO2 vào trong khí quyển mỗi ngày, thì không hạn chế số khí thải của họ. Ðó là Mỹ và Trung Quốc. Mỹ đã rút ra khỏi công ước Kyoto, không ký thì không nhận trách nhiệm phải thi hành. Trung Quốc thì được xếp vào loại nước nghèo, cho nên không phải tự hạn chế. Công ước Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012, nếu không được các quốc gia ký kết triển hạn. Cho nên các nước nghèo hiện đang nghi ngờ các nước giầu muốn cứ để mặc cho nó chết nhẹ nhàng. Mà họ cũng không chấp nhận cho Trung Quốc, hiện nay đang thải nhiều khí CO2 nhất thế giới nhiều hơn cả Mỹ, mà lại đi “phá đám” có thể làm cho hội nghị bị vỡ, mọi người ra về tay không!

Ðiều mà các nước nghèo muốn đạt được là Tiền. Hội nghị COP 15 phải đưa tới những cam kết của các nước giàu giúp đỡ các nước nghèo trong kỹ thuật hạn chế khí thải CO2. (Trung Quốc, Ấn Ðộ, hiện nay làm ô nhiễm không khí thế giới nhiều nhất nhưng không phải đóng góp!)

Tại sao cần giúp đỡ? Vì muốn giảm bớt số khí CO2 phun vào khí quyển thì phải có những kỹ thuật mới rất tốn tiền. Nước giàu có thể bầy ra những “kỹ thuật sạch” đó, giống như phú quý sinh lễ nghĩa; còn các nước nghèo khó có tiền để được xài sang như vậy. Cho nên các nước tiên tiến phải góp tiền trợ giúp các nước nghèo. Trong những thế kỷ trước các nước giàu đã thải nhiều khí CO2 quá rồi, bây giờ họ không những phải giảm bớt mà còn có bổn phận giúp các nước nghèo giảm tốc độ thải CO2 nữa. Từ năm 1890 đến 2007, các nước giàu thải vô không khí 60% số CO2, riêng nước Mỹ với dân số bằng 5% số dân thế giới, đã chịu trách nhiệm 30%! Cho nên một hiệp ước về khí hậu trước đây đã quy định các nước giàu phải giúp tiền các nước nghèo mua hoặc sản xuất kỹ thuật hạn chế khí CO2.

Chính phủ Mỹ không chấp nhận quy tắc đóng góp vì các xí nghiệp Mỹ phản đối. Ấn định giới hạn số khí CO2 được phép thải ra tức là bắt các xí nghiệp phải tiêu tiền thay đổi kỹ thuật sản xuất cho “sạch” hơn, thải ít CO2 hơn trước. Tốn tiền tức là chi phí tăng lên, giá thành sẽ lên, hàng sẽ khó bán. Dân Mỹ không muốn đóng thuế để giúp các xí nghiệp Ấn Ðộ hay Trung Hoa có tiền thay đổi kỹ thuật sạch, rồi chính họ sẽ cạnh tranh với hàng hóa Mỹ!

Hiện nay các nước nghèo đang phát triển chính là nơi đang phun nhiều khí CO2 vào khí quyển nhất. Họ muốn các nước giàu phải hứa giúp. Muốn giúp, phải góp tiền, mà số tiền chi ra có thể lên tới 100 tỷ đô la một năm, hay còn nhiều hơn.

Trong hội nghị, các nước giàu đặt điều kiện ngược lại: Họ muốn trước hết các nước nghèo phải tự mình ấn định chỉ tiêu phải đạt được trong việc hạn chế việc thải khí CO2! Nếu không, thì không thể bàn chuyện giúp đỡ mua kỹ thuật sạch. Trong khi các nước nghèo chỉ muốn hứa hẹn chung chung thôi. Trung Quốc đã bị các nước nghèo khác phản đối khi chính phủ Bắc Kinh ủng hộ việc bắt các nước nghèo phải ký kết với giới hạn rõ ràng!

Trước khi lên đường đi Copenhagen, Tổng Thống Barack Obama đã đề nghị lập một quỹ 350 tỷ đô la để giúp các nước nghèo phát triển năng lượng sạch trong 5 năm, nước Mỹ sẽ xin góp 85 tỷ vào trong quỹ đó. Chương trình này sẽ giúp mua kỹ thuật dùng năng lượng mặt trời để bớt dùng than, dầu sản xuất điện. Sẽ dùng những khí cụ trong nhà loại mới ít tốn điện hơn, như máy lạnh, máy giặt, vân vân. Và sẽ nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng sạch mới, không thải ra khí CO2. Hiện nay chính phủ Mỹ cũng đang khuyến khích các doanh nhân hướng về nghiên cứu và sản xuất các kỹ thuật năng lượng sạch mới, với chương trình kích thích kinh tế. Ðây là một ngành đang lên, có hy vọng sẽ là một ngành hái ra tiền trong tương lai, khi cả thế giới thấy phải bớt hoặc ngưng dùng than đá, khí đốt và dầu lửa.

Cuối cùng trong hội nghị Copenhagen các nước giàu sẽ phải cùng ấn định hạn chế việc thải khí CO2, từ nay đến năm 2020, hoặc lâu nhất là 2050. Các nước nghèo nhưng lớn như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Brazil cũng sẽ ấn định mức giới hạn phải đạt được. Các nước giàu sẽ hứa giúp tiền cho các nước nghèo và nhỏ thay đổi kỹ thuật năng lượng sạch, nhưng chưa biết sẽ đặt ra nhưng điều kiện nào.

Ông Obama sẽ khó hứa hẹn nhiều với các nước khác trong hội nghị Copenhagen. Vì ông còn bị Quốc Hội kiểm soát chi tiêu. Trước khi ông lên đường, 10 nghị sĩ đảng Dân Chủ đã công khai gửi thư khuyến cáo rằng ông đừng quên “Chỉ Quốc Hội Mỹ mới có quyền hứa hẹn lâu dài, chứ không phải ông tổng thống!” Chính sách ngoại giao ở Mỹ là do Thượng Viện quyết định. Ngân sách chi tiêu là do cả hai viện Quốc Hội kiểm soát. Cho nên quyền hành của ông tổng thống Mỹ bị giới hạn, mà giới hạn lớn nhất chính là lòng dân.

Gần 50% dân Mỹ vẫn không tin rằng việc họ thải chất CO2 lại làm cho khí quyển Trái Ðất nóng hơn! Họ không tin như vậy thì không những chính phủ sẽ khó thuyết phục họ hạn chế họ tiêu thụ than và dầu, mà càng khó hơn nếu muốn dùng tiền đóng thuế của họ để giúp dân Á Châu, Phi Châu tiết kiệm năng lượng! Dân Mỹ đã quen dùng điện, hơi đốt để sưởi hồ bơi, chạy máy lạnh, lái xe, cắt cỏ, hành động nào cũng thải CO2 cả, thải nhiều nhất là các nhà máy điện dùng than. Làm sao can ngăn họ được? Hiện nay tiểu bang California đang dẫn đầu nước Mỹ, và thế giới, trong việc sử dụng điện mặt trời, nhưng không phải người Mỹ nào cũng thích những kỹ thuật mới lạ như dân California!

Cho nên trong ngày Thứ Sáu này, chúng ta không hy vọng ông Obama và ông Hồ Cẩm Ðào gặp nhau sẽ vui vẻ như tháng trước gặp ở Bắc Kinh. Khi đó, hai ông đều lên tiếng hứa hẹn hai nước sẽ hợp tác cùng hạn chế khí CO2 thải vào không khí. Nhưng bây giờ là lúc đi vào chi tiết, cả hai đều sẽ ngập ngừng. Nếu kết quả hội nghị chỉ là nói suông chứ không cam kết điều gì cụ thể, Mỹ sẽ đổ lỗi tại Tàu và Tàu sẽ đổ tội cho Mỹ!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhóm Harvard đã giải đáp
vấn đề then chốt này


Bùi Tín
“…Kinh tế thân hữu, kinh tế mật hữu, kinh tế phe nhóm, kinh tế cánh hẩu, kinh tế kiếm chác, kinh tế tầm gửi (dựa dẫm viện trợ và đi vay ODA và ngoại hối từ nước ngoài) nói lên thực chất chế độ chính trị xuống cấp thê thảm hiện nay…”

Trong nước dư luận báo chí và công luận xã hội đang xôn xao bàn tán về những chuyện rắc rối, khó hiểu trong cuộc sống. Biết bao câu hỏi “vì sao? vì sao?” được đặt ra, chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Vì sao bà Ba Sương được họ phong "Anh hùng thời đổi mới", "đảng viên xuất sắc" 10 năm liền, huân chương Lao động, "Phụ nữ ấn tượng của châu Á - Thái Bình Dương " năm 2002 ...lại bị truy tố ra trước vành móng ngựa, tự giải trình hàng chục lần là mình vô tội, rồi bị kết án 8 năm tù giam? Báo trong nước kêu lên: "Hiện tại bắn đại bác vào quá khứ", "Cơ chế mới kết tội cơ chế cũ" ...nhưng không giải thích được vì sao.

Vì sao tướng công an Trần Văn Thanh, thanh tra bộ công an, đang oanh liệt một thời, lại bị truy tố, đứng trước vành móng ngựa toà án Đà Nẵng rồi đưa về trại giam chờ phiên toà phúc thẩm khi đang bị bệnh nặng tim và tiểu đường?

Vì sao vụ án PMU 18 với bị cáo chính Bùi Tiến Dũng kéo dài lê thê hơn 4 năm trời, làm cho những cam kết long trọng "kiên quyết (!), khẩn trương (!) chống tham nhũng như chống giặc nội xâm" của những người lãnh đạo cao nhất như trò đùa dai, tự mỉa mai mình?

Vì sao Huỳnh Ngọc Sỹ ăn hối lộ hơn 800 ngàn đôla, có bằng chứng pháp lý hơn 3 ngàn trang do bộ tư pháp Nhật cung cấp lại chỉ bị kết án có 3 năm tù, "vì nhân thân tốt ", "từng có nhiều cống hiến", để báo Thanh Niên phải kêu lên là "tội bằng con voi lại phạt bằng con kiến"? Thật ra nền tư pháp độc quyền đã đánh tráo vụ án ăn hối lộ của công ty Nhật thành vụ án cho thuê nhà công để lấy tiền chia nhau! Các bloggers trong nước gọi đây là "trò xiếc" bẩn của ngành xử án nước nhà.

Hàng ngàn, hàng vạn câu hỏi "vì sao?" như thế đang làm nát óc các nhà báo, các công dân quan tâm đến thời cuộc, các nhà trí thức dân tộc của "mạng Bauxite Vietnam.info", của Viện VDS, của hàng triệu dân đen và dày vò hành hạ vô vàn người bị kết án, tù đày oan ức.

Thì đây, những bản báo cáo của Nhóm tư vấn của trường Đại học Harvard Mỹ có mặt tại Hà Nội hơn 3 năm nay để góp ý cho thủ tướng và giới cầm quyền đã cung cấp chiếc chìa khoá để giải đáp các câu hỏi "Vì sao?" trên đây.

Nhóm tư vấn này gồm có các giáo sư Mỹ và vài nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Việt.

Họ dùng từ "crony economy" để chỉ ra nền kinh tế đang ngự trị ở Việt Nam, từ đó nhận diện căn cước của chế độ chính trị hiện hành.

Chữ tiếng Anh "crony" có nghĩa là bạn rất thân, từ điển Anh ghi thêm "close friend", "companion", "partner", thêm các từ cùng nghĩa: "chum", "pal", "buddy", có thể dịch ra tiếng Việt là: bạn nối khố, bạn tâm giao, cánh hẩu, bạn cật ruột...

Tiếng Trung hoa gần đây có dùng từ "thân hữu kinh tế", "mật hữu (bạn cực thân) kinh tế", "gia tộc kinh tế"... chỉ nền kinh tế đặc trưng trên lục địa Trung Hoa hiện nay.

Từ trên đây, có thể nói chế độ kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay không còn gì là bản chất giai cấp vô sản, giai cấp công nhân, hay bản chất dân tộc, như tài liệu chính thức của Học viện chính trị Hồ Chí Minh rao giảng.

Vậy thì chế độ chính trị còn mang chất Cộng sản không? Đây là vấn đề phức tạp, lại rất cần làm rõ. Có ý kiến cho rằng chất cộng sản không còn gì, đảng CS chỉ còn cái vỏ, cái tên gọi; người cộng sản nay đã trở thành tư sản, địa chủ, nhà kinh doanh, có tài sản, nhà cửa, bất động sản, có nhà đất cho thuê, có ngân khoản gửi ngân hàng lấy lãi, có vàng bạc quý kim cất giấu.

Hơn nữa Đảng cộng sản đang trải qua một cuộc khủng hoảng, một cuộc đảo lộn sâu sắc trong nội bộ, một cuộc thoái trào, sa sút về phẩm chất chính trị và đạo đức, cái hình thức đoàn kết, gắn bó, thống nhất ngày xưa đã tan vỡ, rã rời, sự phân hoá giai cấp ở 2 đầu ngay trong đảng đã hiển nhiên.

Phần lớn đảng viên cao cấp cầm quyền đã thành tư sản hay tư sản mại bản, tư sản chứng khoán, tư sản nhà đất, tư sản quan liêu tham nhũng ăn bám, có kẻ thành tư sản kiêm địa chủ, có người thành nhà kinh doanh, chủ công ty, hùn vốn các công ty xuất nhập khẩu; một số đảng viên cầm quyền ở nông thôn trở thành địa chủ, phú nông, một số thành cường hào mới, có cả cường hào gian ác, như bà con nông dân ở Quảng Nam, Nghệ An và Bình Dương tố cáo.

Mặt khác một số đảng viên bình thường không có thế lực chính trị làm chỗ dựa, ở thành thị cũng như ở nông thôn, chỉ là công dân bình thường, công nhân bình thường, viên chức bình thường, thành trung nông; cũng có số ít đảng viên, gia đình liệt sỹ, cựu chiến binh thất thế trở thành vô sản, mất đất mất nhà, do bọn đảng viên cường hào hiếp đáp, có khi thất nghiệp phải ra thành phố kiếm việc vặt hay thành đội quân cửu vạn, bốc vác cho con buôn...Họ bị những đồng chí của mình bóc lột và đàn áp thẳng tay.

Đảng CS đã thay đổi sâu sắc, phân hoá mạnh, nhưng về đường lối chính trị, nhóm lãnh đạo vẫn duy trì nguyên vẹn cái cốt lõi tệ hại nhất, đó là độc quyền chuyên chính, độc quyền cai trị, ngăn chặn bằng bạo lực mọi xu thế dân chủ hoá, đa nguyên đa đảng hoá xã hội. Chính đây là chỗ mạnh mong manh tạm thời và cũng là chỗ yếu cơ bản, là tử địa của nó khi đất nước đã mở cửa và hội nhập quốc tế.

Không ít đảng viên cộng sản lâu năm, là viên chức, trí thức dân tộc, có lương tâm, yêu nước, thương dân, - tiền bạc không mua được, chức tước không ham - , cuộc sống tạm đủ ăn, sống trong sạch, tỉnh táo nhận ra tình hình sa sút của đất nước, lo lắng thấy đạo đức suy đồi, ngay thẳng chỉ rõ lối ra là dân chủ hoá cho đất nước, nhưng bị vu cáo, cô lập, cấm phản biện; anh chị em báo động khi Tổ quốc lâm nguy, chủ quyền quốc gia bị đe doạ, đất biển đảo bị lấn chiếm, từ đó chán đảng, ngừng sinh hoạt đảng, mong muốn có một đảng khác lãnh đạo đất nước, một đảng trong sạch, dân chủ, chí cốt với dân tộc, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn, gắn bó với thế giới dân chủ của thời hiện đại. Đảng này có thể thi đua, ganh đua với đảng CS, tạo nên sinh khí chính trị, góp phần thúc đẩy đảng CS phải hoàn thiện mình, lấy xã hội làm trọng tài, sẽ có lợi nhiều mặt cho đất nước.

Các nhà lãnh đạo CS đang kêu trời về tình trạng "nhạt đảng", “nhạt lý tưởng" của đảng viên, về hiện tượng "tự diễn biến", "tự huỷ diệt" của đảng CS. Họ rất lo khi các ông Trần Độ, Bùi Minh Quốc, Phạm Quế Dương, Lê Hồng Hà..., gần đây là nhà văn-nhà báo Phạm Đình Trọng tuyên bố vĩnh biệt đảng "vì đảng không còn đáng tin nữa".

Chỉ có dân chủ thứ thật, dân chủ từ trên xuống dưới, chứ không phải ngược đời là "dân chủ ở cơ sở đã" (!), mới có thể chấm dứt cái cơ chế kỳ lạ hiện nay, chấm dứt một xã hội mà căn cước không rõ ràng, tư bản không ra tư bản, cộng sản không hẳn cộng sản, dân chủ không ra dân chủ, chắp vá hỗn độn, tiếp nhận toàn những điều xấu nhất của phong kiến, tư bản lũng đoạn, xã hội chủ nghĩa thực tiễn theo mô hình Staline và Mao...

Kinh tế thân hữu, kinh tế mật hữu, kinh tế phe nhóm, kinh tế cánh hẩu, kinh tế kiếm chác, kinh tế tầm gửi (dựa dẫm viện trợ và đi vay ODA và ngoại hối từ nước ngoài) nói lên thực chất chế độ chính trị xuống cấp thê thảm hiện nay.

Các đặc điểm trên phơi bày các mối quan hệ chằng chịt trong một xã hội cực kỳ hỗn loạn. 15 nhân vật trong bộ chính trị, mỗi người có phe cánh, bộ hạ, cánh hẩu riêng của mình về chính trị, kinh tế, tài chính, đối ngoại. Ở các tỉnh, huyện cũng có những lãnh tụ riêng, nhóm ảnh hưởng, phe cánh riêng, hùn hạp hay sát phạt nhau. Họ có những đàn anh đỡ đầu ở trung ương, có tay chân bộ hạ tay sai ở cơ sở, có khi còn dùng cả bọn xã hội đen. Đó là những sứ quân cát cứ.

Trong cái xã hội đỏ đen lẫn lộn, giá trị "lộn tùng phèo" này, các hiện tượng phổ biến đầy rẫy như "thư riêng", "phong bì", "hoa hồng", "lại quả", "lót tay", “nhấm nháy", "ô dù", người thân tín của bác Ba, chú Năm, anh Bảy, cô Tám, cụ Mười..., và đủ loại "cò" làm cái việc "mưu sĩ", "chỉ trỏ", "mối lái", “mở đường", "gõ cửa", "kết thân", những ma cô mới nhan nhản của "nền kinh tế lợi ích riêng" đầy mưu mô, mánh mung, chụp giựt này.

Với nền kinh tế độc đáo trên, lợi ích dân tộc là phù phiếm, lợi ích nhân dân là trên giấy, tài sản chung bị xẻ thịt chia chác cho các phe nhóm, y như ở Trung Quốc hiện nay, chừng 0,40% dân số chiếm 70% tài sản chung, còn 99,60 nhân dân chia nhau 30% tài sản còn lại. [Ở Việt Nam, vào khoảng 40 vạn số "dân có phe cánh" ngự trị trên lưng 82 triệu dân chúng bơ vơ mất quyền công dân]. Sự chênh lệch giàu/nghèo là kinh khủng, kẻ tham nhũng bất tài gian manh phất lên như tên lửa, người lao động lương thiện thất thế thì nghèo đói thê thảm. Đó, cái "xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" (!) là thế! Mong những nhà văn dân tộc tài năng ghi lại cảnh xã hội trớ trêu độc đáo chưa từng có này.

Bà Ba Sương chỉ lo xây dựng nông trường, không có phe cánh ở tỉnh và trung ương, trong khi nhóm đương quyền ở Cần Thơ đang mê mẩn với quy hoạch Khu kinh tế công nghiệp mũi nhọn béo bở, bà bị chúng thí theo kiểu vắt chanh bỏ vỏ là tất nhiên, vì chuyện cướp đất, cưỡng chiếm đất, buôn đất là chuyện lớn của quốc gia.

Tướng công an Trần Văn Thanh dám cả gan tố cáo bí thư tỉnh uỷ Nguyễn Bá Thanh, uỷ viên trung ương đảng, được uỷ viên bộ chính trị, trưởng ban Kiểm tra trung ương đảng Nguyễn Văn Chi đích thân đỡ đầu và che chở thì dù là tướng công an cũng chỉ có vào tù và bị hạ nhục. Huỳnh Ngọc Sỹ tội cực nặng lẽ ra nằm tù 12 đến 15 năm, nhưng chỉ bị kết án 3 năm, để rồi sẽ được giảm án, ân xá do "cải tạo tốt" (!), vì ông ta là tay chân thân tín của nguyên thứ trưởng giao thông Nguyễn Việt Tiến, mà ông này lại là đệ tử cật của ngài tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Ông Sỹ còn thông gia với ông Lê Thanh Hải là uỷ viên Bộ chính trị, bí thư thành uỷ Sài Gòn...

Một chế độ không có công tâm, không tuân theo luật pháp và hiến pháp, không coi trọng hiền tài, không cho mọi công dân cơ hội thành đạt ngang bằng nhau, chỉ coi trọng phe nhóm mình, chỉ bảo vệ quyền lợi bất chính của phe cánh, không lo che chở những công dân bị oan ức, chỉ lo bao che những kẻ cánh hẩu, bộ hạ thân tín riêng tư... một xã hội như thế chứa đầy tật bệnh hiểm nghèo, không thể yên ổn, hài hoà và phát triển.

Việt Nam thời đổi mới đã và đang đóng góp một danh từ mới cho từ điển quốc tế. "A crony economy", tạm dịch là kinh tế thân hữu, kinh tế phe cánh, kinh tế cánh hẩu, với vô vàn mối quan hệ mờ ám, nhơ bẩn, với vô vàn mưu đồ phá nước hại dân, đang nghiễm nhiên nảy nở, tung hoành khắp nơi, từ trên cao nhất xuống tận cơ sở.

Cám ơn các bạn giáo sư Đại học Harvard - người Mỹ và người Mỹ gốc Việt - đã nhìn thẳng vào sự thật ở Việt Nam, khám phá ra một thực tế, cũng là một nguy cơ, một thảm hoạ của đất nước Việt Nam, cảnh tỉnh bao người vẫn còn nhầm lẫn về sự phát triển "mạnh mẽ"(!), "lành mạnh"(!), "phát triển đi lên"(!), "đúng hướng"(!) của đất nước.

Danh từ mới lạ này là chiếc chìa khoá quý để tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ và chuẩn xác các sự kiện kinh tế, tài chính, chính trị, văn hoá và đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.

Bùi Tín
Paris 9-12-2009

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Muốn chống tham nhũng Tư pháp phải độc lập

Ngô Nhân Dụng
Ngày Thứ Tư, một tòa án ở Nam Hàn đã ra lệnh bắt giam cựu Thủ Tướng Han Myeong-Sook để truy tố về tội nhận hối lộ 50,000 đô la Mỹ vào năm 2007. Bà Han Myeong-Sook (Hàn Minh Thụ, đọc theo âm Hán Việt), bị tố cáo đã nhận số tiền trên để giúp đưa một người lên làm chủ tịch Công ty Ðiện lực Hàn Quốc. Bà là người phụ nữ đầu tiên làm thủ tướng Hàn Quốc, dưới thời cố Tổng Thống Roh Moo Huyn (Lư Vũ Huyền).

Tổng Thống Lư Vũ Huyền đã đắc cử năm 2003 nhờ đưa mục tiêu chống tham nhũng lên hàng đầu, và ông đã thực hiện những cải tổ nhằm giúp các cơ quan điều tra về hối lộ hoạt động có hiệu quả hơn. Chính vị cựu tổng thống này là đã tự tử vào Tháng Năm vừa qua để chứng tỏ mình trong sạch; sau khi ông được mời hỏi cung về một vụ tham nhũng nhỏ khác liên can tới gia đình của ông. Ông Lư Vũ Huyền công nhận bà vợ ông có nhận một triệu đô la từ một nhà kinh doanh sản xuất giầy, nhưng bà coi đó là một món tiền vay nợ chứ không phải tiền cho không. Ông chọn cái chết để đánh thức dư luận dân Nam Hàn về một tệ nạn chính trị ở xứ ông, là mỗi chính phủ mới lên lại bới móc để tố cáo các quan chức chính quyền cũ về tội tham nhũng. Sau khi ông qua đời, người Ðại Hàn đã khắp nước đã nhiệt liệt bày tỏ lòng kính trọng đối với ông. Nhưng điều đó cũng không ngăn cản được việc chính quyền mới điều tra và chuẩn bị truy tố bà Hàn Minh Thụ. Hiện nay bà đang làm cố vấn cho Ðảng Dân Chủ đối lập với vị tổng thống đương nhiệm, và bà tố cáo việc truy tố bà là một âm mưu bôi nhọ vì chính trị đảng phái.

Ðây là chuyện chính trị bên Hàn Quốc mà chúng ta không biết rõ nội tình để phê phán. Ðiều đáng chú ý đối với người Việt Nam là bộ máy chống tham nhũng ở Ðại Hàn Dân Quốc có hoạt động thật. Những người chống tham nhũng ở đó có thể đã lạm dụng quyền điều tra và truy tố vào mục tiêu chính trị phe đảng. Nhưng nhờ thể chế tự do dân chủ thật sự cho nên không đảng phái nào có thể nắm quyền mãi mãi để che giấu các vụ tham nhũng của phe đảng mình. Mỗi vụ tố cáo tham nhũng đều được điều tra và quyết định sau cùng là của tòa án. Trong ba lần bầu cử trong mười năm vừa qua, ba vị tổng thống đắc cử thuộc các đảng chính trị khác nhau, nhưng hệ thống tư pháp vẫn độc lập với những người nắm quyền hành pháp và lập pháp. Tuy thói quen bới móc những chính quyền tiền nhiệm để bêu xấu về chính trị là điều đáng trách, nhưng chính nhờ “thói xấu” đó mà những người đang cầm quyền sẽ phải lo bảo vệ thanh danh nhiều hơn, không những không được nhận hối lộ mà còn phải tránh đừng để bị hiểu lầm là mình tham nhũng. Việc truy tố một vị cựu thủ tướng về một mối nghi ngờ nhận 50,000 đô la cho thấy dù số tiền hối lộ nhỏ tới đâu pháp luật cũng không thể bỏ qua.

Số tiền hối lộ mà bà Hàn Minh Thụ bị tố cáo, chỉ có 50 ngàn đô la, thật là nhỏ trong đời sống kinh tế Nam Hàn, nơi mà lợi tức bình quân là 18,000 đô la một năm. So với số tiền mà một công ty Nhật Bản đã đưa cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, một viên chức ở Sài Gòn lên tới hơn hai triệu thì bà Hàn Minh Thụ “ăn quá ít.” Mà ở Việt Nam, lợi tức bình quân của người dân chỉ có 1,100 đô la một năm. Nhưng khi guồng máy công lý ở một nước dân chủ tự do chạy, thì số tiền nhỏ hay lớn không quan trọng, quan chức ăn bẩn một đồng cũng bị gọi là tên ăn cắp! Ở Mỹ, báo chí đang “bới móc” việc các nghĩ sĩ đã dùng công quỹ khi đi ra nước ngoài, trong đó ngoài công vụ còn có mục đích du lịch. Những vụ “lạm dụng” này, nếu có thật, cũng chỉ đáng dưới 10,000 đô la! Trong một nước tự do dân chủ báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành động lạm quyền, không khác gì các cơ quan tư pháp độc lập.

Ngày hôm qua, một tin sôi nổi hơn là phán quyết của Tòa án Tối cao Pakistan khiến đương kim Tổng Thống Asif Ali Zardari không còn được miễn chấp về những tội hối lộ mà ông từng bị truy tố rồi đã được vị tổng thống trước tạm xóa bỏ trước đây hai năm. Năm 2007, dưới áp lực của Hoa Kỳ và Anh Quốc, cựu Tổng Thống Pervez Musharraf đã ký một nghị định “ân xá” khoảng 8 ngàn chính trị gia và công chức trong những vụ truy tố về hối lộ, tham nhũng, mang tên là quyết định hòa giải dân tộc. Mục đích của quyết định này là mở đường cho nhiều chính trị gia đối lập đang lưu vong được trở về nước. Ông Zardari đã từng ở tù 11 năm trong lúc bị truy tố mà chưa đem xử; ông và vợ là bà Benazir Bhutto đã được hồi hương để tham dự vào sinh hoạt chính trị. Bà Bhutto đã từng làm thủ tướng Pakistan hai lần, họ phải sống lưu vong vì hai vợ chồng đã bị truy tố nhận hối lộ hàng tỷ đô la, nếu về nước sẽ bị bắt. Sau khi về nước được hai tháng nhờ quyết định ân xá trên, trong lúc đang đi vận động chính trị bà Bhutto đã bị ám sát.

Năm 2008 ông Zardari đắc cử, trở thành tổng thống Pakistan sau khi Tướng Musharraf từ chức. Tuy nhiên, ngay lúc đó phe đối lập đã nộp đơn khiếu kiện tính chất hợp pháp của quyết định ân xá ông Zardari và bà Bhutto. Chính phủ Mỹ trước đây đã hết sức ủng hộ Tướng Musharraf nhưng sau vẫn ủng hộ ông Zardari, vì ông được Quốc Hội bầu lên theo thể thức dân chủ. Hơn nữa, ông Zardari được coi là ủng hộ chính sách chống khủng bố của chính phủ Mỹ khi quân đội Pakistan mở các cuộc tiễu trừ nhóm Taliban ở vùng Bắc xứ này. Ngày hôm qua, Ðô Ðốc Michael Mullen, tham mưu trưởng quân đội Mỹ đang thăm viếng Pakistan để bàn việc gia tăng phối hợp quân sự để chống phe Taliban là tàn quân al Qaeda đang lập chiến khu trong vùng biên giới Pakistan với Afghanistan.

Nhưng hôm Thứ Tư, Chánh thẩm Tòa án Tối Cao, ông Iftikhar Mohammed Chaudhry, cùng tất cả 17 vị Thẩm phán tối cao đã kết luận rằng quyết định năm 2007 của cựu Tổng Thống Musharraf là bất hợp pháp, trở thành vô hiệu ngay lập tức. Tổng Thống Zardari, cùng với nhiều nhà chính trị khác, trong đó có hai vị bộ trưởng Quốc Phòng và Nội Vụ có thể sẽ bị truy tố trở lại về những vụ tham nhũng mà họ bị tố cáo trước khi có quyết định ân xá. Ông Zardari, 54 tuổi, tuyên bố ngay rằng ông tôn trọng quyết định của tòa án. Tuy nhiên theo Hiến Pháp thì trong khi còn đang giữ chức tổng thống ông có thể được miễn ra tòa về những vụ truy tố như vậy.

Phán quyết của Tối Cao Pháp Viện Pakistan được giới luật gia nước này xuống đường hoan nghênh vì tinh thần thượng tôn pháp luật, mặc dù sẽ khiến cho bàn cờ chính trị xứ này thêm rắc rối và chính phủ Mỹ lo ngại việc chống khủng bố sẽ bị sao lãng trong khi ông tổng thống bận lo các vấn đề pháp lý của riêng mình. Tuy nhiên, ông tổng thống đã nhường rất nhiều quyền quyết định cho ông thủ tướng; và chính sách chống khủng bố của Mỹ tùy thuộc vào bộ máy quân sự nhiều hơn là các nhà chính trị.

Chánh Án Tối Cao Iftikhar Mohammed Chaudhry là nhân vật tượng trưng cho cuộc tranh đấu giữ quyền tư pháp độc lập ở Pakistan từ nhiều năm qua. Tuy được cựu Tổng Thống Musharraf bổ nhiệm vào chức vụ này, nhưng ngay từ đầu ông Chaudhry đã tỏ ra có tinh thần độc lập, pháp bất vị thân. Nhiều phán quyết của ông đi ngược lại với quyền lợi của chính quyền quân phiệt nên ông được giới luật gia ngưỡng mộ. Khi Tướng Musharraf cảm thấy Tòa án của Chánh Án Chaudhry có thể sẽ theo đúng hiến pháp phán quyết không cho phép ông ứng cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa, Tướng Musharraf đã cách chức ông chánh án. Vụ này gây phẫn nộ trong dân chúng, các luật sư và thẩm phán trẻ đã xuống đường biểu tình phản đối, họ coi ông Chaudhry là một thần tượng. Những cuộc biểu tình này đã làm 49 người thiệt mạng vì xô xát. Sau đó, Tòa án Tối cao đã họp xử và tuyên bố việc cách chức của ông Musharraf là bất hợp pháp. Ông tướng này đã phải nhượng bộ, tuyên bố sẽ tôn trọng quyết định của tòa án tối cao. Từ khi trở lại chức vụ, ông Chaudhry vẫn giữ óc độc lập, trọng pháp, vượt lên trên chính trị đảng phái, ông trở thành một biểu tượng của tinh thần tự do dân chủ ở Pakistan.

Tháng Tám mới đây, Tòa Án Tối Cao đã yêu cầu Quốc Hội Pakistan biểu quyết hợp pháp hóa quyết định ân xá năm 2007 của cựu Tổng Thống Musharraf, nhưng các phe nhóm trong Quốc Hội không thỏa hiệp được với nhau để biểu quyết. Ðúng kỳ hạn, ông Chaudhry đã họp tòa để xử, mà kết quả là quyết định “Hòa giải Dân tộc” của Tướng Musharraf đã bị xóa bỏ vì bất hợp pháp.

Cuộc đấu tranh chính trị giữa các phe đảng ở Pakistan sẽ còn tiếp tục. Nhiều người đang đòi ông Zardari và các bộ trưởng được ân xá trước đây nay phải từ chức và bị truy tố. Ông Zardari sẽ chịu thêm áp lực và có thể sẽ trao trả nhiều quyền hành cho quốc hội và vị thủ tướng là người khác đảng. Ðó là những quyền mà Tướng Musharraf đã giành về cho chức vụ tổng thống khi ông cầm quyền.

Chúng ta không biết chắc chính trị xứ Pakistan sẽ biến chuyển ra sao trong những ngày sắp tới; nhưng điều đáng chú ý là quốc gia này đang được thúc đẩy để tiến hành công cuộc dân chủ hóa. Lực lượng làm công việc thúc đẩy này bắt đầu từ trong ngành tư pháp, mà đa số là các luật sư.

Biến cố ở Pakistan cũng giống như ở Nam Hàn, cả hai đều dính đến những tội về tham nhũng, hối lộ. Ông Zardari và bà Bhutto đã từng bị tố cáo là tích lũy tài sản 1.5 tỷ Mỹ kim, tuy nhiên chính phủ Pakistan chỉ biết họ có 60 triệu Mỹ kim trong trương mục ở các ngân hàng Thụy sĩ. Tại Thụy Sĩ, một tòa án đã phạt hai ông bà mỗi người 50,000 mỹ kim vì tội rửa tiền, liên can đến số hoa hồng mà hai công ty Thụy sĩ đã trả cho họ. Tòa án Thụy sĩ cũng bắt họ phải hoàn lại 12 triệu cho chính phủ Pakistan mà họ đã nhận từ các công ty này. Quyết định ân xá của ông Musharraf năm 2007 đã tha cho ông Zardari và bà Bhutto về món nợ đó. Nhưng nay, Tòa Án Tối Cao Pakistan cho phép mở lại những hồ sơ tương tự, liên hệ đến hàng ngàn nhà chính trị khác, nhiều người đang nắm quyền! Ðây là một thắng lợi của tinh thần dân chủ, và của công tác chống tham nhũng!

Muốn chống tham nhũng cần phải có một hệ thống tư pháp độc lập. Phải có những cơ quan truyền thông tự do. Việt Nam hiện nay đang thiếu cả hai điều kiện đó. Khi một đảng độc quyền cai trị thì không thể nào chống tham nhũng có hiệu quả được.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyến đi Mỹ lãnh giải Nhân quyền cho Mẹ
Đỗ Thủy Tiên,
viết riêng gửi RFA 2009-12-15



Tôi vừa trở về sau chuyến đi Washington DC vào giữa tháng 12. Chuyến đi thực sự rất mệt mỏi,
nhưng những điều nó đem lại quả thực quý giá và có ý nghĩa đối với tôi.

Image
Phát biểu tại lễ trao giải. Hình do Đỗ Thủy Tiên gửi đến RFA

Gia đình tôi đang ở tình trạng vô cùng khó khăn. Mẹ tôi bị bắt vì đã lên tiếng và đấu tranh cho cái đúng và lẽ phải, giờ bà không thể liên lạc với bất cứ ai bên ngoài, thuốc men thì không được phép nhận một chút nào (họ nói dối là trong tù có thuốc) trong khi đang phải chịu đựng tiểu đường và lao phổi trong điều kiện tồi tệ ở chốn lao tù. Bố và em tôi luôn bị công an theo dõi hàng ngày trong mọi hoạt động bên ngoài.

Em gái tôi còn rất nhỏ - 12 tuổi, cái tuổi chưa đủ để chịu đựng sự thiếu vắng mẹ và những khó khăn hay đau khổ khó vượt quá, tôi lo cho em nhất, em còn rất bé và nhạy cảm, không hiểu em có thể giữ tinh thần vững vàng để học hành cho tốt không. Sắp tới ngày 13 tháng 12 là sinh nhật em, tôi chỉ mong em cố gắng vượt qua mọi khó khăn trước mắt và chăm sóc cho bố, cho bà, chờ đến ngày mẹ về.

Bố tôi giờ đã mất việc, bị đồng nghiệp, bị hàng xóm nhìn với con mắt kỳ thị và xa lánh, tôi hiểu bố tôi cảm thấy khó khăn như thế nào - và nhất là khi bị cách ly khỏi mẹ tôi, hơn 2 tháng trời không biết tin tức gì về bà cũng như tình trạng sức khỏe, thậm chí không thể vào gặp để gửi thuốc, hay chỉ để nhìn thấy bà vài giây, để nói vài câu.

Bà ngoại tôi đã già lắm, tuổi già chỉ muốn ở gần con cháu thì lại phải xa con gái và cháu gái (tôi đang học ở Pháp). Gần đây tinh thần bà suy sụp nặng nề vì lo cho con gái và nhớ thương cháu gái, và bà còn vừa bị gãy chân bởi một tai nạn gây ra bởi xe máy (mà chúng tôi nghi ngờ là đòn thù của lũ bất nhân). Đôi lúc chỉ biết an ủi bà qua điện thoại, nghe giọng bà thều thào mà lòng đau như cắt.

Tài chính của gia đình giờ chỉ còn nhờ vào sự giúp đỡ của bạn bè - những người có điều kiện hơn ở nước ngoài. Bản thân tôi giờ đang cố gắng tìm một việc làm để tự trang trải chi phí học hành cũng như sinh hoạt ở Pháp. Biết hoàn cảnh gia đình khó khăn là vậy, nhưng tôi vẫn luôn gắng gượng chống đỡ bản thân - tôi không cho phép mình suy sụp hay quỵ ngã, tôi luôn cố gắng quên đi nỗi đau đớn để vươn lên cố gắng trong cuộc sống cũng như học hành.

Mới đây, khi vụ việc của mẹ tôi được nhiều người biết đến, rất nhiều cô bác đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi. Có bác Phượng, bác Bảo lo cho tôi nơi ăn chốn ở trong những ngày xa nhà đi kêu gọi cho tự do của mẹ. Có chú Bình giúp đỡ tôi trong chuyến đi Bỉ gặp cộng đồng châu Âu (EU).

Và trong chuyến bay sang Mỹ an toàn, có anh Hoàng Tứ Duy ở Mỹ đã luôn luôn đồng hành cùng tôi trong mọi cuộc đi lại, gặp gỡ với chính giới. Ngoài ra tôi có được visa để sang Mỹ cũng là nhờ sự giúp đỡ, thúc đẩy của các cô các bác và nhất là sự can thiệp của dân biểu Loretta Sanchez.

Chuyến đi đã diễn ra thành công tốt đẹp. Ngày 10/12 tôi đã được gặp gỡ với 2 dân biểu Joseph Cao và dân biểu Loretta Sanchez tại tòa nhà của quốc hội Mỹ ; Sau đó chúng tôi gặp với ông Matt Palmer, Deputy Director for Mainland Southeast Asia Affairs và bà Susan O’Sullivan, Senior Advisor, Bureau of Democracy Human Rights & Labor tại Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Ngày hôm sau tôi cũng có thêm một số cuộc gặp gỡ với các dân biểu trong quốc hội Mỹ khác như Chris Smith, Dan Lungren, Zoe Lofgren và tổ chức quốc tế Human Rights Watch để kêu gọi họ quan tâm và giúp đỡ cho gia đình tôi và nhất là mẹ tôi bằng cách cho họ thấy những gì chúng tôi đang phải chịu đựng và các nỗ lực của mẹ tôi trong nhiều năm qua. Họ tỏ ra rất quan tâm, thông cảm và lắng nghe, và họ đã hứa sẽ làm tất cả những gì có thể.



Đặc biệt nhất là tôi đã có vinh dự được tham dự lễ trao giải của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tại Court Hotel, và được thay mặt mẹ tôi nhận giải thuởng cao quý này. Tôi đã trả lời nhiều bài phỏng vấn về mẹ và con đường của mẹ, đã chụp rất nhiều ảnh kỷ niệm với các cô bác mà tôi mới chỉ nghe tên chứ chưa được gặp.

Image
Chú Nguyễn Bá Tùng, Chủ Tịch Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam
Và thực sự khi nhìn ảnh mẹ ở đó, tôi đã vô cùng xúc động. Mẹ tôi đã đấu tranh, đã xả thân, đã hy sinh và giờ mẹ tôi đã được đền đáp xứng đáng. Tôi đã được rất nhiều các cô, các chú, các bác, các ông, các bà đón tiếp rất nồng nhiệt bởi họ yêu quý mẹ tôi - tác giả của nhiều tác phẩm lên tiếng thay cho những người dân nghèo khổ, của những cuộc tranh đấu bất tận cho cái đúng, cho lẽ phải, cho dân tộc.

Và điều đó khiến tôi thực sự hạnh phúc. Hạnh phúc vì thấy mẹ tôi được yêu quý và kính trọng như mẹ thực sự đáng được hưởng. Và hạnh phúc vì khi gặp khó khăn hoạn nạn, mẹ không hề đơn độc, không hề một mình mà vẫn có rất nhiều người ở bên mẹ, lên tiếng cho mẹ, bảo vệ mẹ, tranh đấu và bước tiếp con đường mà mẹ đang bị gián đoạn. Dù đang ở trong tù nhưng tôi tin là mẹ vẫn đang vững tin vào con đường mình đã chọn, vào những người đồng nghiệp mà mẹ có.

18 tuổi, tôi biết thế nào là đúng, thế nào là sai và đâu là điều nên làm. Tôi đã làm tất cả những gì có thể ở Mỹ để kêu gọi sự giúp đỡ cho gia đình, cho tự do của mẹ tôi và cho công bằng của tất cả mọi người. Tất cả những gì tôi đã trải qua những ngày qua thật sự là những điều vô cùng có ý nghĩa.

Ở một xứ sở của tự do và công bằng, mẹ tôi thực sự được tôn trọng và được người ta nhìn nhận đúng với giá trị con người mẹ, và mẹ tôi cũng như gia đình tôi không hề đơn độc. Mẹ ơi, bố ơi, bà ơi, gia đình mình ơi, vững tin lên nhé ! Con yêu cả nhà.

Và nhân đây xin cảm ơn tất cả các cô, các chú bác, các ông bà đã giúp đỡ mẹ cháu và gia đình cháu, trực tiếp hay gián tiếp, bằng nhiều cách khác nhau. Đặc biệt nhất là bác Phượng, bác Bảo, chú Bình, và anh Duy đã sát cánh và đồng hành bên cháu, bên em những ngày này :). Không có mọi người thực sự mọi việc sẽ rất khó khăn với em.

Kính tặng Mẹ trong lao tù
Ngày 12.12.2009

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Một nhà kinh tế Mỹ lạc quan

Ngô Nhân Dụng

Vào dịp cuối năm, mọi người vẫn hay dự đoán về tương lai năm sắp tới. Năm 2010 kinh tế Mỹ sẽ ra sao? Giáo Sư Alan S. Blinder, thuộc Ðại Học Princeton, mới đưa ra một viễn tượng rất lạc quan, người nghi ngờ sẽ coi là quá lạc quan. Ông Blinder, đã từng làm phó chủ tịch Federal Reserve, tức ngân hàng trung ương Mỹ, thuộc loại “nhà kinh tế một bàn tay.” Theo ông tính toán thì kinh tế Mỹ sang năm sẽ rất khá, ông đã thấy toàn dấu hiệu tốt lành!

Trong một bài viết tuần trước, Giáo Sư Blinder phân tích thấy cuộc khủng hoảng tín dụng đang dần dần nguôi và hệ thống ngân hàng sắp hoạt động bình thường trở lại. Ông đoán chỉ trong mấy tháng nữa thôi các xí nghiệp sẽ bắt đầu tuyển thêm người, tạo thêm công việc làm mới.

Từ Tháng Bẩy năm 2009 ông Blinder đã viết một bài trên nhật báo Wall Street tiên đoán kinh tế Mỹ đang xuống đến chỗ thấp nhất rồi (đụng đáy), chỉ còn hướng đi lên thôi. Bây giờ vào Tháng Mười Hai, ông thấy đó là một sự thật. Nếu quý vị đang mong có một tin vui về nền kinh tế Mỹ, xin đọc tiếp những lý luận của ông.

Vào cuối Tháng Bẩy, ông Blinder mới nhận thấy 6 tháng đầu năm có chuyện lạ. Số tiền “đầu tư” trong nền kinh tế Mỹ đã giảm bớt quá nhiều, giảm 38%. Trong khi đó, toàn thể các hoạt động kinh tế thì giảm 3.6%. Tại sao lạ? Vì ai cũng biết trong nền kinh tế Mỹ có ba phần chính, tiêu thụ, đầu tư, và chi phí của nhà nước, thì phần “đầu tư” chiếm 14% tổng số GDP. Nếu phần đó giảm 38% thì riêng nó không đã kéo toàn thể GDP xuống, giảm mất 5.4% (tức 14% x 0.38). Nếu GDP chỉ giảm 3.6% tức là ở các khu vực khác đã tăng lên được 1.8%. Ai cũng thấy, đó là do chính phủ Mỹ đã gia tăng chi tiêu, bù cho cảnh dân chúng giảm chi và các xí nghiệp giảm đầu tư.

Nhưng điều khiến ông Blinder lạc quan là trong quý thứ ba năm nay phần đầu tư trong kinh tế Mỹ không còn giảm nữa là đã tăng lên 11%. Ðang xuống nặng, nếu xuống nhẹ hơn đã là phước rồi; nay lại tăng lên nữa thì đúng là đại phúc. Khi tính tổng số đầu tư, thấy có 3 phần: máy móc thiết bị mới; xây cất nhà cửa mới; và sản xuất thêm hàng không để đem bán nhưng để gia tăng hàng tồn kho. Trong nửa đầu năm 2009, các xí nghiệp Mỹ đã giảm sản xuất vì lấy hàng trong kho ra dùng hoặc bán; nhưng đến lúc họ cũng phải lo thiếu hàng cho nên phải chất thêm hàng vào kho. Ðây là một lý do để chúng ta lạc quan là hoạt động sản xuất sẽ tăng trở lại thay vì giảm đi. Trong khi đó thì các xí nghiệp hoãn việc mua sắm thiết bị mới sẽ tới lúc phải đi mua trở lại, và kỹ nghệ xây dựng gia cư cũng sẽ phải ngóc lên sau những tháng ngưng trệ.

Cuối cùng thì dù phần đầu tư có tăng lên nhiều cũng không đủ để vực cả nền kinh tế lên, vì đó vẫn là một phần rất nhỏ. Chính phủ tăng chi tiêu nhưng sẽ bị giới hạn vì không dám chấp nhận khiếm hụt ngân sách quá đáng. Phần quan trọng nhất vẫn là trách nhiệm người tiêu thụ, họ đóng góp vào hai phần ba tổng sản lượng nội địa. Trong một năm nay, người Mỹ giảm tiêu thụ. Người không may mất việc thì giảm chi, người khác còn khá giả cũng giảm chi khi thấy tài sản của mình tự dưng nghèo hơn vì nhà xuống giá, cổ phần cũng xuống giá. Ðây là điều Giáo Sư Blinder không dám tiên đoán lạc quan lắm. Nhưng ông đã tính rằng giả thử dân Mỹ bớt chi tiêu, tỷ lệ tiết kiệm từ 2.7% lợi tức khả dụng tăng lên thành 5%, thì kinh tế Mỹ năm 2010 vẫn có thể gia tăng với tốc độ 3 hoặc 4% một năm. Ðược như vậy thì tốt quá rồi!

Một điều khiến Giáo Sư Blinder lạc quan là cảnh gia tăng năng suất trong thị trường nhân dụng. Năng suất lao động (productivity) được đo lường bằng trị giá số sản xuất trung bình trong một giờ người lao động làm việc. Khi kinh tế suy thoái thế nào năng suất trong cả nước cũng tăng lên. Lý do vì các xí nghiệp giảm bớt nhân viên và công nhân khiến cho những người còn giữ được việc làm sẽ phải làm giỏi hơn, nhanh hơn trước. Công việc trước kia do 4 người làm, bây giờ chỉ có 3 người làm thôi, dù số việc có giảm đi chút đỉnh thì cả 3 người còn lại đều có năng suất lao động cao hơn trước.

Một dấu hiệu đáng chú ý là trong sáu tháng vừa qua chỉ số tính năng suất lao động ở Mỹ đã tăng lên đến hơn 8%. Ðây là một hiện tượng bất thường. Một lý do có thể là những người đang làm việc được dùng máy móc tốt hơn. Trong thời gian qua số máy móc mới, phương pháp làm việc mới đã được phổ biến thêm trong sinh hoạt kinh tế nước Mỹ, giúp cho người lao động tăng năng suất. Trong lúc kinh tế đi xuống, các hoạt động sáng chế cái mới, hoạt động phổ biến những cái mới chưa được dùng nhiều, đều đã gia tăng lên.

Nhưng khi nhìn vào tỷ số 8% gia tăng của năng suất lao động thì người ta cũng phải thấy ngay rằng nhân viên và công nhân các xí nghiệp ở Mỹ đã làm việc “tận lực” rồi - nói cách khác, họ đã bị “bóc lột sức lao động” tối đa để xí nghiệp khỏi phải tuyển nhân viên mới. Hệ quả là: Trong thời gian sắp tới, các xí nghiệp sẽ bắt buộc phải tuyển mộ thêm người! Thị trường nhân dụng chắc chắn sẽ phục hồi trong mấy tháng tới. Tháng Mười Một vừa qua, nước Mỹ chỉ mất 11,000 công việc làm, một con số rất nhỏ; đó cũng là một dấu hiệu lạc quan.

Nhưng trên đây là chưa nói tới những số tiền chính phủ Mỹ sẽ chi tiêu mà đạo luật kích thích kinh tế hồi Tháng Hai đã quyết định là 787 tỷ Mỹ kim. Từ khi được chuẩn chi đến cuối năm, bộ máy hành chánh liên bang cũng chỉ đủ sức chi ra 30% số tiền đó. Còn lại 70% sẽ tiêu nốt trong năm 2010 và 2011. Khi số tiền đó được đem trả lương cho nhân viên hay mua từ các xí nghiệp, chúng sẽ được đem ra tiêu dùng, góp vào số tiền tiêu thụ trong xã hội Mỹ.

Cuối cùng, còn một yếu tố nữa để giúp người Mỹ lạc quan: Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang mới được tuần báo Time chọn làm “Nhân vật năm 2009” (Năm ngoái họ chọn ông Obama khi ông mới đắc cử). Ben Bernanke trở thành “nhân vật” nổi bật, cho thấy điều người Mỹ quan tâm nhất hiện nay là kinh tế. Từ cuối năm 2008 Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã giảm lãi suất xuống đến gần số không. Lãi suất giảm nhằm khuyến khích người ta vay tiền để tiêu thụ hoặc đầu tư, hậu quả là thúc đẩy kinh tế. Hành động của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã thúc đẩy được gì chưa?

Các nhà kinh tế đều biết rằng sau khi Ngân Hàng Trung Ương giảm lãi suất, không phải ai cũng chạy tới nhà băng vay tiền ngay. Không phải ai tới xin vay thì ngân hàng cũng thuận ngay. Một xí nghiệp phải mất hàng tháng hay hàng năm mới quyết định được một dự án đầu tư. Người tiêu thụ cũng chỉ đi vay khi biết trước công việc làm ổn định không lo thất nghiệp trong năm tới! Cho nên phải chờ cả năm sau ảnh hưởng của quyết định giảm lãi suất mới thấm đến tất cả xã hội, kích thích cho kinh tế hồi phục. Bây giờ đã là một năm kể từ khi lãi suất ở Mỹ xuống gần số zero.

Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này đặc biệt hơn trong quá khứ vì nó bắt nguồn từ trong hệ thống ngân hàng. Thường thường, kinh tế khủng hoảng trong hệ thống sản xuất và tiêu thụ, khi số cung và cầu bị chênh lệch quá đáng. Khi số sản xuất lên quá cao không bán kịp, các xí nghiệp lo ế hàng sa thải nhân viên khiến nhiều người thất nghiệp làm số tiêu thụ lại giảm đi, các xí nghiệp khó bán hàng lại cho thêm nhiều người nghỉ, cứ như vậy cái vòng luẩn quẩn làm cho cả nền kinh tế đi xuống với nhau. Cuộc khủng hoảng từ năm 2007 không giống kiểu đó. Nó bắt nguồn từ sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng. Vì vậy, trong cơn khủng hoảng này tất cả các ngân hàng đều rụt rè không cho vay dễ dãi như thường lệ. Do đó, chính sách giảm lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương sẽ phải đợi hơn một năm, có thể đến 2 năm mới tác động được vào sinh hoạt tiêu thụ và đầu tư! Tính ra thì trong năm 2010 tác động đó sẽ biểu hiện trong kinh tế nước Mỹ. Trong lúc này, hệ thống ngân hàng đang hồi phục, nhiều ngân hàng lớn đã trả lại chính phủ Mỹ những món tiền 10 tỷ, 45 tỷ được cho vay lúc khốn khó (cùng với tiền lời). Ngoài ra, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ vẫn còn những “món võ” khác chưa thi triển hết, để kích thích cho tiền tệ lưu hoạt hơn. Chính sách đó sẽ cùng với các yếu tố khác kể trên đây đóng góp vào sự hồi phục của kinh tế Mỹ trong năm tới.

Giáo Sư Alan S. Blinder thú nhận rằng ông đã đưa ra những viễn ảnh rất lạc quan, có vẻ “một chiều.” Nói cách khác, ông tình nguyện làm một “kinh tế gia một tay.” Hoặc là ông có đủ hai tay nhưng tình nguyện chỉ dùng một tay trong câu chuyện đang bàn này, giống như một võ sư thượng thừa chấp đối thủ, chỉ đánh một tay thôi.

Xin giải thích danh hiệu “nhà kinh tế một tay” nếu quý vị chưa quen thuộc với hình ảnh này. Khi có nhiều ý kiến phân vân, người Mỹ không nói như người Việt mình rằng, “một mặt thì kinh tế rất lạc quan”... “nhưng đứng trên mặt khác thì lại có vẻ bi quan.” Họ không dùng chữ “mặt” mà dùng bàn tay.

Họ có thể vừa nói vừa khua hai tay: “on the one hand... on the other hand,” nghĩa là “trên bàn tay này (thì)... trên bàn tay kia (thì),” vân vân. Cho nên ông Tổng Thống Mỹ Harry Truman có lần hỏi ban tham mưu của ông: Kiếm cho tôi một kinh tế gia chỉ có một bàn tay được không? Rất khó kiếm. Nhà kinh tế nào mà chỉ có một bàn tay chắc sẽ thất nghiệp, thà đi làm nghề hớt tóc còn hơn!

Nhưng trong lúc năm hết Tết đến, ai cũng muốn nghe những tin tức lạc quan cho cả làng vui vẻ; chính ông Blinder thú nhận như vậy. Khi người ta vui vẻ, lạc quan, họ sẽ sẵn sàng đem tiền ra xài, ai cũng nghĩ như vậy thì có thể thúc đẩy cho kinh tế hồi phục sớm hơn!

Nếu sang năm mới các số thống kê cho thấy thái độ lạc quan trên đây là không tưởng, ký giả này sẽ trình bày những lý luận ngược lại; để quý vị thấy trong kinh tế học có nhiều nhà nghiên cứu đầy đủ cả hai tay!

Post Reply