Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Ồ VẬY HẢ
Một tiểu thư xứ Phù Tang con nhà quý phái chưa chồng mà có thai.
Cô khai với cha mẹ và làng nước rằng tác giả bào thai là Hakuin, một thiền sư nổi danh thời dó tại Nhật Bản.
Toàn thể dân làng cùng với cha mẹ tiểu thư với vẻ mặt đằng đằng sát khí dẫn cô tới chùa gặp đạo sĩ Hakuin.
Họ không tiếc lời phỉ báng, chê trách, kết án thiền sư. Với phong thái khoan thai đạo hạnh, tay cầm chuỗi hột, thiền sư Hakuin ra vái chào đám đông tụ tập trước cổng chùa.
Bà mẹ của tiểu thư trách mắng đạo sĩ:
- Ông hãy vất bỏ lớp áo thầy tu đi. Ông đã làm ô uế nhà chùa. Ông có biết rằng ông đã làm cho con gái tôi mang bầu không?
Vị thiền sư không hề đổi sắc diện, thản nhiên đáp:
- Ồ! Vậy hả?
Trước câu trả lời này, chẳng còn ai nghi ngờ vị đạo sĩ là tác giả bào thai. Khi hay tin tiểu thư sinh con trai, thiền sư Hakuin đến đem đứa trẻ về chăm sóc, nuôi nấng cẩn thận như ... con vậy.
Phải đợi đến một năm rưỡi sau, tiểu thư mới thấy hối hận, thương cho vị thiền sư và khai thật rằng cha đứa trẻ là một ngư phủ chứ không phải Hakuin.
Cha mẹ cô và dân làng một lần nữa lại đến chùa xin lãnh đứa nhỏ về và vái lạy xin lỗi vị thiền sư. Người cha của cô gái nói:
- Xin thiền sư lấy lượng từ bi tha cho vợ con tôi đã nông nổi, nhẹ dạ vu oan cho ngài. Ngài không phải là cha của đứa trẻ đâu.
Cũng với một thái độ bình thản cố hữu, vị thiền sư trả lời: "Ồ! Vậy hả?" rồi đem trả lại đứa bé cho ông bà ngoại nó.
Bạn thân mến,
Khi bị người khác vu oan giáng họa, chúng ta thường có một trong ba thái độ:
1. Hận thù và chửi bới kẻ vu oan. Thái độ này chẳng giải quyết được gì. Hận thù chỉ chồng chất thêm.
2. Cố gắng tìm cách bào chữa để minh oan, vì nếu không nói gì thì sợ người đời sẽ suy luận: "Không có lửa, sao có khói". Thái độ biện minh vừa đủ này đôi khi thành công, nhưng nhiều lúc cũng chẳng minh oan và lấy lại được tiếng tốt cho mình, vì người đời thích nghe và dễ tin những điều xấu của người khác hơn là những điểm tốt của họ.
3. Hoàn toàn thản nhiên trước những lời thị phi, xấu miệng của thiên hạ. Các thánh nhân thường chọn giải pháp này, vì họ tin tưởng vào chính mình, tin tưởng vào sự thật, như lời Kinh Thánh: "Sự Thật sẽ cứu rỗi con." (John 8:32)
Còn gì oan ức, bất công cho bằng bản án các Trưởng Tế Do Thái truyền đóng đanh giết Chúa Giêsu. Vậy mà trước mặt quan án, Chúa Giêsu đã chọn thái độ im lặng, không thèm biện minh trước những lời buộc tội. Hơn thế nữa, Ngài còn lấy ân tình đáp lại oán thù của kẻ hại mình bằng cách tha thứ lỗi lầm cho họ. Trước lúc hấp hối, lời trăn trối đầu tiên của Chúa từ trên Thập Giá là: "Lạy Cha! Xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm" (Luc. 23, 34).
Câu chuyện thiền sư Hakuin bên Nhật cũng giống như chuyện Quan Âm Thị Kính của Việt Nam. Thị Kính là một thiếu nữ xinh đẹp, nết na. Sau khi lấy chồng, vào một ngày kia, trong lúc chồng ngủ, nàng cầm dao định cắt sợi râu ngược của chồng. Chẳng may chồng thức giấc và tưởng nàng có ý giết chồng. Thế là nàng bị nhà chồng hất hủi, đuổi ra khỏi nhà. Nàng cải trang thành đàn ông đến chùa xin tu. Gần chùa, có Thị Mầu tính nết lẳng lơ. Khi chửa hoang, y thị liền khai đã ăn nằm với Thị Kính. Thế là Thị Kính lại bị đuổi khỏi chùa để nuôi dưỡng đứa trẻ. Phải đợi khi Thị Kính chết, trong lúc tẩm liệm, người ta mới khám phá ra nàng đã bị hàm oan. Đức Phật hiện ra tuyên bố Thị Kính đã tu thành chánh quả và phong thành Phật Bà Quan Âm.
Còn oan nào hơn "oan Thị Kính"!
Chịu được oan khiên, con người mới trở thành Thánh, thành Phật.
Một tiểu thư xứ Phù Tang con nhà quý phái chưa chồng mà có thai.
Cô khai với cha mẹ và làng nước rằng tác giả bào thai là Hakuin, một thiền sư nổi danh thời dó tại Nhật Bản.
Toàn thể dân làng cùng với cha mẹ tiểu thư với vẻ mặt đằng đằng sát khí dẫn cô tới chùa gặp đạo sĩ Hakuin.
Họ không tiếc lời phỉ báng, chê trách, kết án thiền sư. Với phong thái khoan thai đạo hạnh, tay cầm chuỗi hột, thiền sư Hakuin ra vái chào đám đông tụ tập trước cổng chùa.
Bà mẹ của tiểu thư trách mắng đạo sĩ:
- Ông hãy vất bỏ lớp áo thầy tu đi. Ông đã làm ô uế nhà chùa. Ông có biết rằng ông đã làm cho con gái tôi mang bầu không?
Vị thiền sư không hề đổi sắc diện, thản nhiên đáp:
- Ồ! Vậy hả?
Trước câu trả lời này, chẳng còn ai nghi ngờ vị đạo sĩ là tác giả bào thai. Khi hay tin tiểu thư sinh con trai, thiền sư Hakuin đến đem đứa trẻ về chăm sóc, nuôi nấng cẩn thận như ... con vậy.
Phải đợi đến một năm rưỡi sau, tiểu thư mới thấy hối hận, thương cho vị thiền sư và khai thật rằng cha đứa trẻ là một ngư phủ chứ không phải Hakuin.
Cha mẹ cô và dân làng một lần nữa lại đến chùa xin lãnh đứa nhỏ về và vái lạy xin lỗi vị thiền sư. Người cha của cô gái nói:
- Xin thiền sư lấy lượng từ bi tha cho vợ con tôi đã nông nổi, nhẹ dạ vu oan cho ngài. Ngài không phải là cha của đứa trẻ đâu.
Cũng với một thái độ bình thản cố hữu, vị thiền sư trả lời: "Ồ! Vậy hả?" rồi đem trả lại đứa bé cho ông bà ngoại nó.
Bạn thân mến,
Khi bị người khác vu oan giáng họa, chúng ta thường có một trong ba thái độ:
1. Hận thù và chửi bới kẻ vu oan. Thái độ này chẳng giải quyết được gì. Hận thù chỉ chồng chất thêm.
2. Cố gắng tìm cách bào chữa để minh oan, vì nếu không nói gì thì sợ người đời sẽ suy luận: "Không có lửa, sao có khói". Thái độ biện minh vừa đủ này đôi khi thành công, nhưng nhiều lúc cũng chẳng minh oan và lấy lại được tiếng tốt cho mình, vì người đời thích nghe và dễ tin những điều xấu của người khác hơn là những điểm tốt của họ.
3. Hoàn toàn thản nhiên trước những lời thị phi, xấu miệng của thiên hạ. Các thánh nhân thường chọn giải pháp này, vì họ tin tưởng vào chính mình, tin tưởng vào sự thật, như lời Kinh Thánh: "Sự Thật sẽ cứu rỗi con." (John 8:32)
Còn gì oan ức, bất công cho bằng bản án các Trưởng Tế Do Thái truyền đóng đanh giết Chúa Giêsu. Vậy mà trước mặt quan án, Chúa Giêsu đã chọn thái độ im lặng, không thèm biện minh trước những lời buộc tội. Hơn thế nữa, Ngài còn lấy ân tình đáp lại oán thù của kẻ hại mình bằng cách tha thứ lỗi lầm cho họ. Trước lúc hấp hối, lời trăn trối đầu tiên của Chúa từ trên Thập Giá là: "Lạy Cha! Xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm" (Luc. 23, 34).
Câu chuyện thiền sư Hakuin bên Nhật cũng giống như chuyện Quan Âm Thị Kính của Việt Nam. Thị Kính là một thiếu nữ xinh đẹp, nết na. Sau khi lấy chồng, vào một ngày kia, trong lúc chồng ngủ, nàng cầm dao định cắt sợi râu ngược của chồng. Chẳng may chồng thức giấc và tưởng nàng có ý giết chồng. Thế là nàng bị nhà chồng hất hủi, đuổi ra khỏi nhà. Nàng cải trang thành đàn ông đến chùa xin tu. Gần chùa, có Thị Mầu tính nết lẳng lơ. Khi chửa hoang, y thị liền khai đã ăn nằm với Thị Kính. Thế là Thị Kính lại bị đuổi khỏi chùa để nuôi dưỡng đứa trẻ. Phải đợi khi Thị Kính chết, trong lúc tẩm liệm, người ta mới khám phá ra nàng đã bị hàm oan. Đức Phật hiện ra tuyên bố Thị Kính đã tu thành chánh quả và phong thành Phật Bà Quan Âm.
Còn oan nào hơn "oan Thị Kính"!
Chịu được oan khiên, con người mới trở thành Thánh, thành Phật.

Lông Ngỗng Trắng Ngày xưa ở một làng nhỏ ven biển có một cô bé nổi tiếng nói dối. Mẹ cô nhiều lần khuyên bảo nhưng cô
vẫn chứng nào tật nấy. Một hôm, cô đòi mẹ một cái gối nhồi bằng lông măng của loài ngỗng tuyết ở
vùng Bắc cực, vì cô nghe nói rằng loại gối này sẽ đem đến những giấc mơ ngọt ngào, và một cuộc sống
hoàn hảo. Người mẹ phải tìm đến tất cả những người thợ săn trong vùng đặt mua lông của loài ngỗng
ấy. Cuối cùng bà dồn đủ một cái gối cho cô. Bà sai cô đem ra bờ biển đổ hết những sợi lông ra. Cô bé
làm y lời mẹ. Cô vừa giũ bao gối, trăm trăm ngàn ngàn sợi lông trắng nuốt mong manh như những bông
tuyết chen chúc ùa ra, lượn lờ trên không. Gió ngoài biển lồng lộng thổi vào. Chỉ trong phút chốc, bao
nhiêu chiếc lông ngỗng đã tứ tán dạt trôi. Cô bé trở về trả cho mẹ cái áo gối rỗng. Ba ngày sau, người
mẹ trao lại cho cô bao gối bảo cô đi thu lại cho bằng hết những chiếc lông ngỗng mà cô đã thả ra hôm
trước. Cô bé trở ra bờ biển. Những sợi lông đã theo gió lang bạt đến tận phương trời nào. Cô thất vọng
trở về. Dọc đường, cô ghé từng nhà hỏi thăm. Người bảo có nhìn thấy sợi lông trắng vương chỗ này,
người bảo chỗ kia. Cô bé cố gắng tìm nhặt từng chiếc, từng chiếc một. Đến tối chưa được đầy nắm tay.
Cô về nhà phàn nàn với mẹ. Bà bảo: “Những lời nói dối cũng như những sợi lông ngỗng ấy. Khi được
thả ra, chúng có thể bay đi những ngõ ngách xa, rất xa, chẳng bao giờ lấy lại được.”
Vợ Của Bill Gates Sống Như Thế Nào?
Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền
Là vợ của người đàn ông giàu nhất hành tinh nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như... chu trình sống của con muỗi. Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?
Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu).
Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ. Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh...
"Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền",
Melinda nói.
"Tại sao lại phải nhọc công đến thế? "
Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái.
"Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác.. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.
Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.
Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.
Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.
Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy".
"Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động"
Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ.
Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD - một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.
Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi....
Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.
Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:
"Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng.
Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền".
Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?
Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình.
9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000.
Chúng được chia ra như sau:
- Sức khoẻ: 5,4 tỷ USD (gồm chi An lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)
- Giáo dục: 2,4 tỷ USD
- Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
- Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
- Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD.
Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiềnLà vợ của người đàn ông giàu nhất hành tinh nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như... chu trình sống của con muỗi. Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?
Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu).
Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ. Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh...
"Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền",
Melinda nói.
"Tại sao lại phải nhọc công đến thế? "
Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái.
"Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác.. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.
Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.
Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.
Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.
Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy".
"Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động"
Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ.
Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD - một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.
Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi....
Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.
Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:
"Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng.
Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền".
Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?
Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình.
9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000.
Chúng được chia ra như sau:
- Sức khoẻ: 5,4 tỷ USD (gồm chi An lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)
- Giáo dục: 2,4 tỷ USD
- Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
- Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
- Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD.
Còn Lại Đôi Ta
BS.Nguyễn Ý Đức
Nay thử tìm hiểu về sinh hoạt của cặp vợ chồng đã trên ba mươi năm chung sống, con cái ở riêng, và hai người bắt đầu về hưu.
Họ sẽ thích nghi ra sao để cùng nhau bạch đầu giai lão, cũng như để:
“Đôi chồng vợ ra vào khắng khít, mắm muối mà vui” (Vương Hồng Sển.)
Hôn nhân vợ chồng thuở ban đầu khắng khít là do yêu nhau, rồi lấy nhau. Mặc dù biết là mỗi người có nhu cầu, sở thích riêng, nhưng vì mới, còn tâm đầu ý hợp, còn tập trung tất cả vào nhau trong ái ân, nên họ đã quên đi để thành vợ chồng. Đó là TÌNH. Rồi với ngày tháng, hóa chất đam mê ban đầu cũng lợt phai.
Từ đây, gắn bó tình già sẽ do sự hiểu nhau, sự chia sẻ vui buồn, phụ thuộc lẫn nhau, thích nghi, trọn vẹn cho nhau. Mức độ thỏa mãn trong hôn nhân ở giai đoạn này được nhìn qua phẩm chất của đời sống hai người: hạnh phúc bên nhau, đồng lòng, cố kết với nhau, biểu lộ thương yêu, giảm thiểu phiền não. Hai người có thể yêu nhau trở lại khi cùng nhìn về một hướng, sắp xếp cho tương lai cũng như tận hưởng hiện tại, giải quyết trở ngại, khó khăn. Bây giờ đối với nhau cần có NGHĨA.
CON CÁI VỚI CHA MẸ GIÀ
Đã có nhiều bằng chứng rằng con cái giữ một vai trò quan trọng nào đó trong hoàn tất đời sống lứa đôi của người cao tuổi. Không có con, tuổi già như cô đơn, đời sống trống rỗng, không đầy đủ. Mà khi chúng ta ở riêng, người làm cha mẹ có những tâm trạng khác nhau.
Có cặp vợ chồng cho là sự vắng bóng con cái sẽ tăng thêm tình khắng khít giữa hai người, họ sẽ hạnh phúc hơn, có nhiều thì giờ cho nhay, sẽ cùng nhau thực hiện nhiều chương trình một cách tích cực hơn. Hai người sẽ như đi vào thời gian trăng mật thứ hai. Cũng có nhiều người mang một niềm trống trải, thầm lặng, thấy đâu đây như vắng thiếu vài tiếng nói, mấy dáng người. Họ sợ sẽ bị cô đơn, và cuộc sống sẽ không được trọn vẹn.
KHI ĐÃ VỀ HƯU
Nói đến về hưu, ngày nay thường là nghỉ công việc chính đã theo đuổi mấy chục năm qua, và bắt đầu một số sinh hoạt nào đó không có tính cách ràng buộc và không phải là nguồn tài chánh căn bản cho những năm còn lại. Vấn đề cần lưu tâm là hai người sẽ có 24 giờ bên nhau, trong một hôn nhân thông thường là tình bớt, nghĩa tăng. Có nhiều vui buồn, khó khăn mà hai người cần khắc phục, để mang lại thỏa mãn vợ chồng trong những năm về cuối.
Nên lưu ý tới tâm trạng khác nhau trước sự về hưu:
a-Phân vân khi sắp nghỉ.
b-Háo hức trong thời gian đầu, cho là mình sẽ tận hưởng nó và có nhiều chương trình để làm;
c-Vỡ mộng khi thấy cuộc sống chậm lại, những dự kiến không thực hiện được;
d-Thức tỉnh, sắp đặt lại hướng đi, việc làm thích hợp với thực tại;
e-Rồi ổn định trong môi trường sinh hoạt mới được hoạch định.
Có người đã nói: cưới nhau dễ, sống đời cũng không khó gì, nhưng sống trong hôn nhân và hạnh phúc với nhau không phải là dễ, nhất là khi chỉ còn hai người. Nhiều người thấy thời gian gần nhau mỗi ngày quá nhiều, làm gì cho hết.
Khi chồng về hưu trước, thì vợ cho là sẽ mất đi một số tự do cá nhân, một số thì giờ dành cho sinh hoạt riêng tư mà mình đã làm như giao hữu với bạn bè, nhóm hội từ thiện. Họ phải dành thêm một số thời giờ để cung ứng cho như cầu mới của chồng, đồng thời vẫn phải làm công việc gia đình như trước. Nhưng đa số các bà đều vui vẻ vì có cơ hội gần các ông nhiều hơn.
Và chồng vì mất đi môi trường làm việc trước đây, lại ít liên hệ giao tế xã hội, nên có nhiều thì giờ với vợ, cũng như phụ thuộc vào vợ. Khi vợ nghỉ hưu trước, thì đa số các bà đều cảm thấy thoải mái, vì có thêm thì giờ với chồng đồng thời để làm một số công việc gia đình mà trước đây vì đi làm nên không thực hiện được.
Một khía cạnh quan trọng trong thời gian về hưu là chia sẻ công việc nhà.
Quan niệm “chồng chúa, vợ tôi” đã quá xưa. Đa số cặp vợ chồng về hưu đều đồng ý là phải có sự chung sức lo công việc trong nhà, mỗi người một số trách nhiệm, công việc do đôi bên cùng thỏa thuận. Những việc như mua sắm lặt vặt rửa bát, sửa soạn ăn sáng có thể thay phiên. Cắt cỏ, sửa hư hao nhỏ trong nhà chắc phải dành cho quý ông. Bữa ăn chính, mua thức ăn, sắp xếp, trang hoàng nhà cửa thì vẫn phải nhờ đến “bà nó”.
Tài chính, tiền nong đều cùng nhau trách nhiệm, tránh dành ngân khoản chi tiêu riêng vì đã cùng nhau thì còn gì mà phải riêng tư. Có nhiều cặp không mấy vui vì một bên quá an lạc, hưởng nhàn, để bên kia gánh hết mọi việc trong nhà, gây nhiều căng thẳng.
GIẢI QUYẾT CÁCH BIỆT
Hôn nhân nào chẳng có mâu thuẫn, bất hòa mà giải quyết những bất hòa đó đòi hỏi sự liên tục thương thảo, hiểu nhau, hòa hoãn, nhường nhịn nhau, kiên nhẫn với nhau. Rồi lại còn nuôi dưỡng tình già sao cho “Tương kính như tân”.
Người bình dân ta hằng nói:
“Đạo vợ chồng khó lắm bạn ơi,
Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay”.
Ngày xưa, sự đối thoại, tìm hiểu giữa các cụ ta rất giới hạn. Khi có vấn đề, giải quyết thường đơn phương, độc đoán, không có thảo luận. Nên sau đó dù mọi việc được coi như xong, nhưng ấm ức vẫn có trong lòng. Người lao động, ngày thì đầu tắt mặt tối, lo làm đủ ăn, tối nghỉ, đâu còn thì giờ để giải trí, nói chi đến đả thông, bàn luận.
Ngày nay, sự giải quyết dị biệt đã khá hơn. Cặp vợ chồng già đã dành nhiều thì giờ để có sự thông cảm, chia sẻ, quan tâm về mọi vấn đề. Cụ bà thường để ý nhiều về an toàn kinh tế cho hai người, cụ ông đặt trọng tâm vào có người bạn đường lâu dài. Họ cũng chia sẻ với nhau về tôn giáo, về vấn đề xã hội. Tuy nhiên, một số ít người khi gặp vấn đề thì lảng tránh, nói lập lờ để đánh lạc hướng, hay phủ nhận cho xong.
Cũng có cụ vẫn hay giữ uy quyền, chỉ thích ra lệnh. Có nhiều cách để giải quyết những dị biệt, mà thực ra đa số các cụ đều cho là, tới tuổi này rồi, chúng tôi chẳng còn mấy khác biệt. Họ áp dụng phương thức dân gian “Chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì.” Hoặc khi không nhường nhịn được thì cho nó xả hơi ra, mà nên chồng lui, vợ tới, luân phiên xả chứ mà chồng tới, vợ tới thì chắc sẽ nổ như tạc đạn.
Sau đó, bình tĩnh nhận diện vấn đề, cùng góp ý, đả thông cho khỏi ấm ức. Nhiều người nghĩ thôi kệ nó, vợ chồng ai chẳng có khác biệt, để từ từ rồi đâu sẽ vào đó. Nhưng trên thực tế, dị biệt mà không giải quyết thì nó trở nên khó mà đối phó, làm cản trở sự xích lại gần nhau của hai người.
Lòng tín nhiệm, tin cậy nơi nhau cũng cần cho sự ổn định tình nghĩa về già. Nó như mắt xích nối giữa hai người, như sợi chỉ quấn qua quấn lại trong tấm vải quan hệ đôi bên. Họ tin tưởng ở lời đã ước hẹn, và trông đợi phần mình sẽ hưởng. Một bất tín, dù nhỏ, dưới một khía cạnh nào đó của hôn nhân cũng có thể đưa tới bất tín khác, và là nguồn gốc của mọi xáo trộn trong tương lai.
Đôi khi hai người ngồi lại, dở chồng ảnh cũ, ôn lại những vui buồn đã qua, những kỷ niệm của thuở ban đầu. Sự kiểm điểm này là để dùng quá khứ bổ túc, tăng cường cho hiện tại, coi xem ta đã ra sao và đã làm gì để có hôm nay. Có giúp tìm ra những điểm thiếu sót để từ từ sửa đổi, giúp ta có cơ hội cùng làm những điều hai người thích làm với nhau khi trước. Cũng như giúp hiểu biết hơn những thầm kín của người bạn đường.
SĂN SÓC THƯƠNG YÊU
Săn sóc nhau khi đau ốm có ảnh hưởng gì tới liên hệ giữa hai người. Kinh nghiệm cho hay khi một người đau ốm thì người kia thường tạm hoãn các sinh hoạt riêng tư để săn sóc, và đều cho là sự săn sóc này làm tăng quan hệ vợ chồng. Đôi khi ông chồng hơi khó khăn hơn bà vợ khi làm dịch vụ này, nhưng nói chung họ đều sẵn sàng, vui vẻ.
Ngoài tác dụng tình cảm làm giảm căng thẳng tâm thần, sự quan tâm săn sóc còn mang đến một số ích lợi sinh học như làm tăng khẳ năng miễn dịch của cơ thể, kích thích sức sống người cao tuổi.
Tương tự như săn sóc, sự trìu mến thương yêu cũng mang lại nhiều điểm lợi cho quan hệ vợ chồng già. Khi tỏ tình thương yêu nhau, não bộ sẽ tiết ra kích thích tố Endorphine và Phenylethylalamine (PEA), tạo cho ta một cảm giác yêu đời, sinh động và tăng tuổi thọ.
Bên Anh Quốc, người ta nhận thấy tu sĩ Tin Lành Giáo thường sống lâu hơn tu sĩ Cơ Đốc Giáo, và họ kết luận là sự có vợ của tu sĩ Tin Lành đã đóng góp vào việc kéo dài tuổi thọ. Một bằng chứng nữa là phụ nữ góa thường đoản thọ hơn phụ nữ có gia đình. Với lợi điểm như vậy, vợ chồng già chắc cũng nên năng quan hệ tình ái.
Không cần phải là sự giao hoan vũ bão, mà sự vuốt ve mơn trớn, sự gần bên nhay, những lời nói, những điệu bộ gợi tình vào những lúc bất chợt cũng đủ tăng thân ái và làm nhịp tim ai nhảy lên cao. Bác sĩ Robert N.Buttler, chuyên gia về các vấn đề của người cao tuổi, gọi đây là ngôn ngữ thứ hai của tình yêu, đối lại với ngôn ngữ thứ nhất, thúc đẩy, đỏi hỏi, cấp bách về sinh lý. Theo ông ta, một chút lãng mạn với nhau cần được tiếp diễn mặc dù thú vui xác thịt vì lý do nào đó đã không còn. Cũng nên nhớ là các vị lão niên, lượng nam kích thích tố Testosterone thấp, nên rất cần một chút lãng mạn để gợi tình.
Kết luận.
Mặc dù với nhiều cố gắng, hôn nhân trong tuổi cuối đời của đồng hương hiện cũng có nhiều khó khăn, trở ngại. Đã có nhiều trường hợp chia cách không ngờ. Người ta cho là do hoàn cảnh xã hội, địa lý.
Cam ngọt trồng đất lạ thành chua. Nhưng nhìn cho kỹ, phần lớn những dang dở là do có ít tương đồng. Chỉ là tình yêu hơn là tình bạn, nên khi hóa chất say đắm của yêu đương phai nhạt, thì tìm yêu đương mới lạ để thay thế. Để rồi không có “vợ già canh ngọt, gừng càng già càng cay”. Không cùng “vợ chồng khi nồng khi nhạt”.
Các cụ ta quan niệm tình nghĩa vợ chồng như một ĐẠO: Đạo vợ chồng. Ca dao dân gian thường vang lên:
“Đạo vợ chồng chẳng dễ đổi thay,
Dẫu làm nên võng giá hay rủi ăn mày cũng cứ theo”.
Mong rằng đó cũng là TÌNH NGHĨA vợ chồng, cái Tình Nghĩa “Chồng như giỏ, vợ như hom”, dù đã cũ.
BS.Nguyễn Ý Đức
Nay thử tìm hiểu về sinh hoạt của cặp vợ chồng đã trên ba mươi năm chung sống, con cái ở riêng, và hai người bắt đầu về hưu.
Họ sẽ thích nghi ra sao để cùng nhau bạch đầu giai lão, cũng như để:
“Đôi chồng vợ ra vào khắng khít, mắm muối mà vui” (Vương Hồng Sển.)
Hôn nhân vợ chồng thuở ban đầu khắng khít là do yêu nhau, rồi lấy nhau. Mặc dù biết là mỗi người có nhu cầu, sở thích riêng, nhưng vì mới, còn tâm đầu ý hợp, còn tập trung tất cả vào nhau trong ái ân, nên họ đã quên đi để thành vợ chồng. Đó là TÌNH. Rồi với ngày tháng, hóa chất đam mê ban đầu cũng lợt phai.
Từ đây, gắn bó tình già sẽ do sự hiểu nhau, sự chia sẻ vui buồn, phụ thuộc lẫn nhau, thích nghi, trọn vẹn cho nhau. Mức độ thỏa mãn trong hôn nhân ở giai đoạn này được nhìn qua phẩm chất của đời sống hai người: hạnh phúc bên nhau, đồng lòng, cố kết với nhau, biểu lộ thương yêu, giảm thiểu phiền não. Hai người có thể yêu nhau trở lại khi cùng nhìn về một hướng, sắp xếp cho tương lai cũng như tận hưởng hiện tại, giải quyết trở ngại, khó khăn. Bây giờ đối với nhau cần có NGHĨA.
CON CÁI VỚI CHA MẸ GIÀ
Đã có nhiều bằng chứng rằng con cái giữ một vai trò quan trọng nào đó trong hoàn tất đời sống lứa đôi của người cao tuổi. Không có con, tuổi già như cô đơn, đời sống trống rỗng, không đầy đủ. Mà khi chúng ta ở riêng, người làm cha mẹ có những tâm trạng khác nhau.
Có cặp vợ chồng cho là sự vắng bóng con cái sẽ tăng thêm tình khắng khít giữa hai người, họ sẽ hạnh phúc hơn, có nhiều thì giờ cho nhay, sẽ cùng nhau thực hiện nhiều chương trình một cách tích cực hơn. Hai người sẽ như đi vào thời gian trăng mật thứ hai. Cũng có nhiều người mang một niềm trống trải, thầm lặng, thấy đâu đây như vắng thiếu vài tiếng nói, mấy dáng người. Họ sợ sẽ bị cô đơn, và cuộc sống sẽ không được trọn vẹn.
KHI ĐÃ VỀ HƯU
Nói đến về hưu, ngày nay thường là nghỉ công việc chính đã theo đuổi mấy chục năm qua, và bắt đầu một số sinh hoạt nào đó không có tính cách ràng buộc và không phải là nguồn tài chánh căn bản cho những năm còn lại. Vấn đề cần lưu tâm là hai người sẽ có 24 giờ bên nhau, trong một hôn nhân thông thường là tình bớt, nghĩa tăng. Có nhiều vui buồn, khó khăn mà hai người cần khắc phục, để mang lại thỏa mãn vợ chồng trong những năm về cuối.
Nên lưu ý tới tâm trạng khác nhau trước sự về hưu:
a-Phân vân khi sắp nghỉ.
b-Háo hức trong thời gian đầu, cho là mình sẽ tận hưởng nó và có nhiều chương trình để làm;
c-Vỡ mộng khi thấy cuộc sống chậm lại, những dự kiến không thực hiện được;
d-Thức tỉnh, sắp đặt lại hướng đi, việc làm thích hợp với thực tại;
e-Rồi ổn định trong môi trường sinh hoạt mới được hoạch định.
Có người đã nói: cưới nhau dễ, sống đời cũng không khó gì, nhưng sống trong hôn nhân và hạnh phúc với nhau không phải là dễ, nhất là khi chỉ còn hai người. Nhiều người thấy thời gian gần nhau mỗi ngày quá nhiều, làm gì cho hết.
Khi chồng về hưu trước, thì vợ cho là sẽ mất đi một số tự do cá nhân, một số thì giờ dành cho sinh hoạt riêng tư mà mình đã làm như giao hữu với bạn bè, nhóm hội từ thiện. Họ phải dành thêm một số thời giờ để cung ứng cho như cầu mới của chồng, đồng thời vẫn phải làm công việc gia đình như trước. Nhưng đa số các bà đều vui vẻ vì có cơ hội gần các ông nhiều hơn.
Và chồng vì mất đi môi trường làm việc trước đây, lại ít liên hệ giao tế xã hội, nên có nhiều thì giờ với vợ, cũng như phụ thuộc vào vợ. Khi vợ nghỉ hưu trước, thì đa số các bà đều cảm thấy thoải mái, vì có thêm thì giờ với chồng đồng thời để làm một số công việc gia đình mà trước đây vì đi làm nên không thực hiện được.
Một khía cạnh quan trọng trong thời gian về hưu là chia sẻ công việc nhà.
Quan niệm “chồng chúa, vợ tôi” đã quá xưa. Đa số cặp vợ chồng về hưu đều đồng ý là phải có sự chung sức lo công việc trong nhà, mỗi người một số trách nhiệm, công việc do đôi bên cùng thỏa thuận. Những việc như mua sắm lặt vặt rửa bát, sửa soạn ăn sáng có thể thay phiên. Cắt cỏ, sửa hư hao nhỏ trong nhà chắc phải dành cho quý ông. Bữa ăn chính, mua thức ăn, sắp xếp, trang hoàng nhà cửa thì vẫn phải nhờ đến “bà nó”.
Tài chính, tiền nong đều cùng nhau trách nhiệm, tránh dành ngân khoản chi tiêu riêng vì đã cùng nhau thì còn gì mà phải riêng tư. Có nhiều cặp không mấy vui vì một bên quá an lạc, hưởng nhàn, để bên kia gánh hết mọi việc trong nhà, gây nhiều căng thẳng.
GIẢI QUYẾT CÁCH BIỆT
Hôn nhân nào chẳng có mâu thuẫn, bất hòa mà giải quyết những bất hòa đó đòi hỏi sự liên tục thương thảo, hiểu nhau, hòa hoãn, nhường nhịn nhau, kiên nhẫn với nhau. Rồi lại còn nuôi dưỡng tình già sao cho “Tương kính như tân”.
Người bình dân ta hằng nói:
“Đạo vợ chồng khó lắm bạn ơi,
Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay”.
Ngày xưa, sự đối thoại, tìm hiểu giữa các cụ ta rất giới hạn. Khi có vấn đề, giải quyết thường đơn phương, độc đoán, không có thảo luận. Nên sau đó dù mọi việc được coi như xong, nhưng ấm ức vẫn có trong lòng. Người lao động, ngày thì đầu tắt mặt tối, lo làm đủ ăn, tối nghỉ, đâu còn thì giờ để giải trí, nói chi đến đả thông, bàn luận.
Ngày nay, sự giải quyết dị biệt đã khá hơn. Cặp vợ chồng già đã dành nhiều thì giờ để có sự thông cảm, chia sẻ, quan tâm về mọi vấn đề. Cụ bà thường để ý nhiều về an toàn kinh tế cho hai người, cụ ông đặt trọng tâm vào có người bạn đường lâu dài. Họ cũng chia sẻ với nhau về tôn giáo, về vấn đề xã hội. Tuy nhiên, một số ít người khi gặp vấn đề thì lảng tránh, nói lập lờ để đánh lạc hướng, hay phủ nhận cho xong.
Cũng có cụ vẫn hay giữ uy quyền, chỉ thích ra lệnh. Có nhiều cách để giải quyết những dị biệt, mà thực ra đa số các cụ đều cho là, tới tuổi này rồi, chúng tôi chẳng còn mấy khác biệt. Họ áp dụng phương thức dân gian “Chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì.” Hoặc khi không nhường nhịn được thì cho nó xả hơi ra, mà nên chồng lui, vợ tới, luân phiên xả chứ mà chồng tới, vợ tới thì chắc sẽ nổ như tạc đạn.
Sau đó, bình tĩnh nhận diện vấn đề, cùng góp ý, đả thông cho khỏi ấm ức. Nhiều người nghĩ thôi kệ nó, vợ chồng ai chẳng có khác biệt, để từ từ rồi đâu sẽ vào đó. Nhưng trên thực tế, dị biệt mà không giải quyết thì nó trở nên khó mà đối phó, làm cản trở sự xích lại gần nhau của hai người.
Lòng tín nhiệm, tin cậy nơi nhau cũng cần cho sự ổn định tình nghĩa về già. Nó như mắt xích nối giữa hai người, như sợi chỉ quấn qua quấn lại trong tấm vải quan hệ đôi bên. Họ tin tưởng ở lời đã ước hẹn, và trông đợi phần mình sẽ hưởng. Một bất tín, dù nhỏ, dưới một khía cạnh nào đó của hôn nhân cũng có thể đưa tới bất tín khác, và là nguồn gốc của mọi xáo trộn trong tương lai.
Đôi khi hai người ngồi lại, dở chồng ảnh cũ, ôn lại những vui buồn đã qua, những kỷ niệm của thuở ban đầu. Sự kiểm điểm này là để dùng quá khứ bổ túc, tăng cường cho hiện tại, coi xem ta đã ra sao và đã làm gì để có hôm nay. Có giúp tìm ra những điểm thiếu sót để từ từ sửa đổi, giúp ta có cơ hội cùng làm những điều hai người thích làm với nhau khi trước. Cũng như giúp hiểu biết hơn những thầm kín của người bạn đường.
SĂN SÓC THƯƠNG YÊU
Săn sóc nhau khi đau ốm có ảnh hưởng gì tới liên hệ giữa hai người. Kinh nghiệm cho hay khi một người đau ốm thì người kia thường tạm hoãn các sinh hoạt riêng tư để săn sóc, và đều cho là sự săn sóc này làm tăng quan hệ vợ chồng. Đôi khi ông chồng hơi khó khăn hơn bà vợ khi làm dịch vụ này, nhưng nói chung họ đều sẵn sàng, vui vẻ.
Ngoài tác dụng tình cảm làm giảm căng thẳng tâm thần, sự quan tâm săn sóc còn mang đến một số ích lợi sinh học như làm tăng khẳ năng miễn dịch của cơ thể, kích thích sức sống người cao tuổi.
Tương tự như săn sóc, sự trìu mến thương yêu cũng mang lại nhiều điểm lợi cho quan hệ vợ chồng già. Khi tỏ tình thương yêu nhau, não bộ sẽ tiết ra kích thích tố Endorphine và Phenylethylalamine (PEA), tạo cho ta một cảm giác yêu đời, sinh động và tăng tuổi thọ.
Bên Anh Quốc, người ta nhận thấy tu sĩ Tin Lành Giáo thường sống lâu hơn tu sĩ Cơ Đốc Giáo, và họ kết luận là sự có vợ của tu sĩ Tin Lành đã đóng góp vào việc kéo dài tuổi thọ. Một bằng chứng nữa là phụ nữ góa thường đoản thọ hơn phụ nữ có gia đình. Với lợi điểm như vậy, vợ chồng già chắc cũng nên năng quan hệ tình ái.
Không cần phải là sự giao hoan vũ bão, mà sự vuốt ve mơn trớn, sự gần bên nhay, những lời nói, những điệu bộ gợi tình vào những lúc bất chợt cũng đủ tăng thân ái và làm nhịp tim ai nhảy lên cao. Bác sĩ Robert N.Buttler, chuyên gia về các vấn đề của người cao tuổi, gọi đây là ngôn ngữ thứ hai của tình yêu, đối lại với ngôn ngữ thứ nhất, thúc đẩy, đỏi hỏi, cấp bách về sinh lý. Theo ông ta, một chút lãng mạn với nhau cần được tiếp diễn mặc dù thú vui xác thịt vì lý do nào đó đã không còn. Cũng nên nhớ là các vị lão niên, lượng nam kích thích tố Testosterone thấp, nên rất cần một chút lãng mạn để gợi tình.
Kết luận.
Mặc dù với nhiều cố gắng, hôn nhân trong tuổi cuối đời của đồng hương hiện cũng có nhiều khó khăn, trở ngại. Đã có nhiều trường hợp chia cách không ngờ. Người ta cho là do hoàn cảnh xã hội, địa lý.
Cam ngọt trồng đất lạ thành chua. Nhưng nhìn cho kỹ, phần lớn những dang dở là do có ít tương đồng. Chỉ là tình yêu hơn là tình bạn, nên khi hóa chất say đắm của yêu đương phai nhạt, thì tìm yêu đương mới lạ để thay thế. Để rồi không có “vợ già canh ngọt, gừng càng già càng cay”. Không cùng “vợ chồng khi nồng khi nhạt”.
Các cụ ta quan niệm tình nghĩa vợ chồng như một ĐẠO: Đạo vợ chồng. Ca dao dân gian thường vang lên:
“Đạo vợ chồng chẳng dễ đổi thay,
Dẫu làm nên võng giá hay rủi ăn mày cũng cứ theo”.
Mong rằng đó cũng là TÌNH NGHĨA vợ chồng, cái Tình Nghĩa “Chồng như giỏ, vợ như hom”, dù đã cũ.
Lệ Mừng trên cánh Đồng Chiêm
Đồng Chiêm máu chảy hòa non nước,
Tam Toà vững bước rạng niềm tin. Hôm nay tôi viết đôi dòng muộn màng về Đồng Chiêm. Nhưng không viết về những đau thương thống khổ của người dân Đồng Chiêm đang phải oằn mình gánh trên vai, cũng không ca tụng nhửng mảnh áo thẫm máu đỏ của người dân Đồng Chiêm đổ ra vì cái hung tàn của côn dồ Việt cộng, như là những giọt máu hồng chứng minh cho niềm tin riêng của ngưòi Công Giáo. Nhưng tôi viết đến những giọt lệ trên cánh Đồng Chiêm như là Lệ Mừng hơn là những ưu tư mà trước đây, trong “Tam Tòa sóng đổ về đâu” tôi đã viết là:
“Nếu lửa Tam Tòa không nóng tời Phát Diệm, Bùi Chu, Hải Phòng, Hà Nôi, Cao Bắc Lạng, Sơn Tây. Không chiếu quang đến Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết, Đà Lạt, Kontum, Sài Gòn. Lại qúa xa với Đồng Nai, Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Còn xa hơn nữa với Mỹ Tho, An Giang, Cần Thơ, Cà Mâu, Trà Vinh, Rạch Giá… và lửa ở nhà thờ Tam Tòa không bén sang cửa nhà Phật, không thổi hơi nóng tới Thánh Thất Cao Đài, Hoà Hảo và rồi Tam Tòa ở mô? Hoặc giả, hồn ai nấy giữ… phần ta, lửa chưa đến cứ ăn ngon ngủ kỹ thì Tam Toà không phải là cái tên cuối nổi lên trong cuộc bạo hành bất lương do nhà nước Việt cộng tạo ra. Nhưng đó chỉ là một trong chuỗi những địa danh lần lượt được nếm trải mùi bạo lực trong chủ trương triệt hạ ảnh hưởng tôn giáo trên phần đất này của nhà nước Việt cộng mà thôi”.
Như thế, Đồng Chiêm hôm nay cũng chỉ là một mắt xích nối tiếp từ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý … đến những địa danh khác trong tương lai. Nhưng Đồng chiêm hôm nay, sự kiện tưởng chừng giống như những nơi khác, trong thực tế, sự kiện Đồng Chiêm là một cuộc tấn công khác. Một cuộc tấn công trực diện vào biểu tượng niềm tin của ngưòi Công Giáo. Nên từ đó có khả năng khai mở ra một chân trời khác, tạo ra một hướng đi khác, tích cực hơn trong Niềm Tin của những người đi tìm Chân Lý, tìm Tự Do và Công Bằng Xã Hội.
Trước hết, có một điều không ai phủ nhận là: Cây Thánh Giá được coi như một biểu tượng khổ đau của nhân loại. Nhưng đồng thời, Cây Thánh Giá cũng là biểu tượng Ân Sủng của ơn Cứu Độ, của Tình Thương, hoặc gỉa, là biểu tượng của Bình An, nơi con người có thể đặt vào đó một niềm tin tuyệt đối. Cách riêng, đó lả biểu tượng Trung Thành trong đức tin của ngưởi công giáo trên hoàn vũ.
Thật vậy, trước khi Đức Giêsu Kitô, Người mà toàn thể nhân loại vui mừng chào đón ngày sinh vào ngày 25-12 hàng năm, bị treo lên Thập Tự Giá trên núi Sọ, Thập Giá chính là án phạt đau khổ nhất, ghê gớm nhất, nhục nhã nhất mà xã hội cách đây 2000 năm đã dành cho những tên tội phạm thuộc diện hung ác của xã hội. Nhưng khi Đấng Vô Tội là đức Giêsu Kitô bị treo lên đó. Ngài đã chết. Chết cho muôn người được sống thì Cây Thập Giá đó đã trở thành một biểu tương Thiêng Liêng tuyệt đối, Ân Sủng tuyệt đối, Tình Yêu tuyệt đối và đã đem An Bình, Hy Vọng tuyệt đôi đến ở trong lòng người.
Nói cách khác, trước biểu tượng Linh Thiêng viên mãn này, những độc ác tàn bạo, đầy uy lực của Neron, của Minh Mạng, Thiệu Trị và nay là Hồ chí Minh hay của những cường đạo Việt cộng Mạnh, Triết, Dũng, Trọng, Nghị, Thảo… có đáng là chi. Nếu như không muốn nói đó chẳng qua chỉ là những cỏ rác, rong rêu sẽ tàn lụi theo cát bụi của thời gian và để lại cho hậu thế những cái tên đáng ghê tởm. Phần Cây Thánh Giá, biểu tuợng kinh qua khổ đau sẽ mảĩ mãi muôn đời trổi vượt lên như một Ân Sủng toàn diện, một An Bình vĩnh cửu. một Niềm Tin vững chắc, một Hy Vọng tuyệt đối cho con người tìm đến để tín thác, để nương nhờ.
Vâng, hãy nhìn một người chiến binh thất trận, chạy tan hàng, lạc đồng đội và phía sau lưng là tiếng súng, tiếng giặc hò hét đuổi theo. Có lẽ đời anh sẽ không còn một nỗi kinh hoàng lo sợ, khủng hoảng nào hơn thế nữa. Nhưng khi anh chạy đến được một nơi có Cây Thánh Giá nằm trên đỉnh cao nhà thờ. Hoặc giả, tím vào bên bức vách của một căn nhà, mà trong nhà ấy trên bàn thờ có một Cây Thánh Giá thì âu lo, hoảng sợ vụt tan biến đi và thay vào đó là một niềm tin trong an bình, dù rằng đời anh chưa hề nghe biết đến từ ngữ đọc kinh hay cầu nguyện là gi! Tôi tin rằng anh ta sẽ tìm cách xin ở lại nương tựa vào Niềm Tin vừa đến ấy, hơn là, đạp đổ Cây Thánh Giá rồi lại trốn chạy quân thù trong lo âu!.
Rồi một anh cán binh Việt cộng bị thương, bị đồng đội bỏ lại trên đường mai phục để thoát chạy lấy thân. Ngoài cơn đau xé da thịt vì không được cứu chữa là sự uất hận bị bỏ rơi, anh còn lo sợ thần chết, lo sợ bị bắt và bị “nguỵ” chém giết, xẻ thịt banh da như những lời tuyên truyền nhồi sọ từ hàng ngũ cán bộ lãnh đạo trước khi đi gài mìn giết hại đồng bào. Anh đau đớn, tuyệt vọng khi lê thân vào những quãng đường, đồi, nương rẫy. Bỗng nhiên, cuộc sống như hồi sinh, dòng máu, nhịp tim lại dồn dập trong người. Một sự an bình như chưa bao giờ có đã chiếm trọn lấy cả tâm hồn và thể xác khi anh ta bò đến, và ôm được một cái chân cột. Lúc mở mắt nhìn lên. Đó chỉ là một Cây Thánh Giá thô sơ cắm trên ngôi mộ trong nghĩa trang của một xứ đạo miền quê. Anh gục đầu xuống, ôm chặt lấy và không còn muốn rời xa nữa. Bởi lẽ, dù không phải là người có đạo, chưa một lần biết cầu kinh, trái lại, còn được học tập, nuôi lờng căm thù những thành phần “tôn giáo phản động” bán nước. Kết qủa, vào lúc này, anh chỉ còn duy nhất một ước mơ. Nếu có phải chết, anh xin được chết trong phút giây an bình dưới chân cây cột mà anh đang ôm trong tay. Anh không muốn chết vì lòng căm thù như đã được học tập.
Nhưng trái ngược với nhân bản tính của con người và anh cán binh kia, Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng từ năm 1930, đã đem dân làm nô lệ cho ngoại bang, còn ra công sức xây dựng trên phần đất của Việt Nam một tổ chức phi nhân lấy chủ thuyết vô gia đình, vô tôn giáo vô tổ quốc làm lẽ sống. Lấy cường bạo, bất lương làm phương châm hành động. Từ đó, họ đã không ngừng gây ra muôn vàn thảm họa trên cả hai phương diện tinh thần lẫn thể chất cho dân tộc Việt.
Bên ngoài, dù được che đạy bởi lớp mỡ ngôn từ hào nhoáng, nhưng chẳng bao lâu sau ngày xuất hiện, người dân trên toàn đất nước đã nhận ra cái bản chất thật của tập đoàn lãnh đạo của nhà nước Việt cộng là bất nhân, gian dối: Chúng luôn luôn đẩy người dân vào những mâu thuẫn cục bộ từ gia đình, đến làng xóm, vào học đường, xã hội, để trục lợi, để nắm lấy quyền lực. Chúng không bao giờ muốn cho nhân dân có được cuộc sống gia đình yên vui, cơm no áo ấm. Không bao giờ muốn cho trẻ thơ được giáo dục nghiêm túc về trí dục và đức dục. Không bao giờ muốn xây dựng một xã hội có trật tự, biết tôn trọng luân thường đạo lý, tôn trọng luật pháp nhân bản. Cũng không bao giờ muốn thấy tôn giáo là điểm hẹn đến của công bằng đạo đức cho từng ngưòi từng nhà noi theo. Trái lại, chúng muốn đạp cho tan mọi ảnh hưởng gia đình. Phá cho nát niềm tin trong tôn giáo. Diệt cho hết truyền thống đạơ đức, luân lý xã hội và giải trừ tận căn nguyên nền Văn Hóa Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín là gốc sinh của dân tộc, để tất cả đều quy hướng về một nền luân lý vô đạo, phi nhân, vô luân, bất nghĩa, phi pháp của cộng sản.
Phía nội bộ, hàng hàng tủ sách vở trên thế giới đã ghi lại rằng: Đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng cộng đồng nghĩa với việc học tập cách thức gian dối, cách thức hành động phi luân, bất nhân, bất nghĩa với mọi người (nguyên TBT Liên Sô, Gobachev). Thủ tướng Đức, tiến sĩ Angela Markel cũng có những công bố tương tự: “Cộng sản đồng nghĩa với gian dối, tạo ra gian dối". Nên việc rèn cán, chỉnh quân, thay máu này đã trở thành một lẽ sinh tử cho chúng. Bởi lẽ, nếu gian dối, độc ác không thành bản chất của đảng. Nếu vô luân bất nghĩa không phải là dòng máu luân lưu trong huyết quản của từ Minh, Đồng, Khu, Duẫn, Mười, Linh, Phiêu… cho đến đến những Kiệt, Khải, Cầm, Anh, Triết, Trọng, Dũng, Mạnh, Nghị Thảo Rứa…, đã không có những cuộc đấu tố đẫm máu nhân dân Việt Nam từ thời 1930 đến nay, để hơn 170,000 ngàn sinh mạng, (không kể những người chết trong chiến tranh) trong đó có rất nhiều những người đã dày công lao sinh thành, dưỡng dục, nuôi nấng, che chở, bảo vệ chúng trong cuộc chiến hàng nhiều năm trước, được đền trả bằng bản án phú, nông, địa, hào, tư sản, hoặc giả, tay sai bán nước! Đã không có những cuộc chiếm đoạt đất đai, cướp giật tài sản của các tôn giáo và đày ải các vị chân tu trong chốn lao tù. Đã không có cuộc chôn sống mấy ngàn người dân vô tội ở Huế. Đã không bịt miệng người giữa chốn gọi là công đường. Đã không có cảnh những dân oan, từng là mẹ liệt sỹ, gia đình cách cách mạng lang thang đi đòi đất đòi nhà. Và cũng không có hàng triệu người Việt Nam phải sống lưu đày nơi đất khách!
Theo đó, những sự kiện như Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý và rất nhiều những đơn vị cá nhân dân oan trải rộng trên bề diện cả nước, và nay là Đồng Chiêm, không xảy ra mới là chuyện lạ! Như thế, Đồng Chiêm, hay bất cứ tên của một địa danh nào đó, sau một đêm bất chợt, trở thành một địa điểm lưu ký sự bạo tàn của nhà cầm quyền Việt cộng thì phải được hiểu rằng: Đó không phải là địa điểm cuối. Nhưng nó chỉ là những cái tên như những mắt xích, tiếp diễn cuộc bạo hành bất lương theo chủ trương của chúng cho đến khi chúng bị tiêu diệt mà thôi.
Tuy nhiên, Đồng Chiêm hôm nay, sự việc không còn nằm trong chủ trương bạo lực trấn áp lương dân để chiếm đoạt tài sản nữa. Trái lại, chúng đã vượt qúa mức của cuộc bạo hành trong trí khôn của con người. Chúng đã chính thức chà đạp biểu tượng Niềm Tin, là Ân Sủng và Ơn Cứu Độ của người Công Giáo, không phải chỉ ở Đồng Chiêm, nhưng là toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam! Chúng muốn thách đố một Niềm Tin chăng?
Nhớ lại, vào cuối năm 2007, phong trào cầu nguyện trong an bình để đòi Công Lý, đòi Tự Do tôn giáo cho người dân Việt Nam -- khởi đi từ Tổng giáo phận Hà Nội dưới sự coi sóc của Đức TGM Giuse Ngô quang Kiệt -- đã làm náo nức lòng người, làm rộn ràng mọi bước chân. Từ trong ra ngoài, không kể lương, không kể giáo, cũng không hề phân biệt chủng tộc, đều đổ dồn con mắt về Hà Nội để chờ đợi ngày chung thẩm của Công Lý. Ngày Tự Do. Nhân Quyền đến cho dân nước Việt Nam.
Trong khi đó, về phía nhà nước Việt cộng, sau gần mười năm hoà hoãn, đi cầu tự khắp nơi, kể cả việc chúng đến Roma để tìm chỗ tựa ngõ hầu tồn tại sau khi đế quốc đỏ tan vỡ, nay lại trở về với bản chất phi nhân bạo tàn. Ngoài thì dâng đất, dâng biển, dâng tài sản thiên nhiên của quốc gia cho Tàu cộng để cầu vinh. Bên trong thì mưu đồ áp chế, cướp đoạt tài sản của nhân dân và dùng bạo lực tiêu diệt Công Lý, bóp chết Tự Do, Nhân Quyền của con ngưòi. Kết qủa, cuộc đi đòi Công Lý không ngừng lại vì đàn áp, bạo lực của nhà nước. Trái lại, “Tuyên Ngôn Công Lý” lại hiển hiện rõ ràng trong lời công bố của TGM Hà Nội ngay giữa hội đường, trước mặt những kẻ nắm bạo quyền vào ngày 20-9-2008 tại Hà Nội: “Tự Do Tôn Giáo là cái quyền cơ bản của con người, Tự do Tôn giáo không phải là một ân huệ Xin - Cho”. Ai, và còn ai nữa đã hiên ngang vì Công Lý như thế? Công bằng mà trả lời rằng, ít nhất, trong thời gian ấy còn LM Nguyễn văn Lý cũng vì Công Lý mà ngồi tù. Luật sư Lê thị Công Nhân cũng vì đất nước vì nhân dân vì quyền làm người vì tương lai của dân tộc mà vào ngục như đi nhận một nhiệm sở mới!
Dĩ nhiên, Việt cộng biết rõ sức mạnh của toàn dân ngày nay không thuộc về chúng. Nhưng cơn mộng du bạo lực lại không thể rời xa những đôi mắt đảng, nên chúng tiến hành thêm cuộc bạo hành bắt người ở Thái Hà. Kết qủa hàng vạn vạn cành thiên tuế từ tay nhân dân đi đòi tự do tôn giáo, đi đòi Công Lý đã vươn cao trên khắp trời Hà Nội. Trong khi đó, dẫu gian ác là thế, nhà nước Việt cộng vẫn không thể tìm ra tội trạng để kết án tám anh chị em giáo dân Thái Hà. Sức mạnh của người dân chưa ngừng lại ở đó. Cả nửa triệu người đã như ngọn sóng dâng tràn tim về bên bờ sông Nhật Lệ. Tam Tòa không còn nhỏ bé, nằm chờ Xin – Cho, nhưng đã vươn mình trổi dậy với giang sơn trong cuộc trường chinh tìm Công Lý. Lúc ấy, nhiều người đã cho rằng, chẳng còn bạo lực nào có thể ngăn cản được lòng người mong tìm đến Sự Thật, tìm đến Công Lý.…
Bổng như một cơn khổ nạn. Giữa lúc người người hăm hở chờ đợi ngày cùng nhau dồn bước chân trên đường Công Lý. Một bản tin không rõ xuất xứ, không rõ chủ đích đăng tải trên Nét đã làm nghẽn hơi thở biết bao tim lòng. Làm chùn, làm chậm hàng triệu triệu đôi chân và làm bao dòng lệ vương tràn trên khoé mắt: Đó là bản tin Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức TGM Hà Nội!
Hỡi Trời ơi. Những tưởng rằng trời tan, đất lở. Toàn dân rúng dộng, giáo dân hoang mang, chính quyền hồ hởi. Họ hồ hởi vì từ mấy năm nay, có khi nào họ quên không tìm cách đẩy “Ông Công Lý” ra khỏi Hà Nội. Hơn thế ra khỏi Việt Nam càng tốt. Lý do, có khi nào kẻ thờ thần gian dối dám giáp mặt thần Công Lý?
Phía Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì hoàn toàn giữ im lâng. Đã yên lặng trước hướng đi của hàng triệu dôi chân tìm Công Lý, đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam, lại càng thủ kỹ trước bản tin. Các Ngài yên lặng đến nỗi tạo ra nghi ngờ trong hàng ngũ giáo dân, làm hoang mang lòng người.Và làm ly tán thêm niềm tin của giáo dân vào Hội Đồng vì những bản tin đồn cứ vùn vụt loan đi: “Nào là có nhiều vị giám mục không đồng thuận với hướng đi tìm Công Lý của Đức Cha Kiệt. Nào là các Ngài không muốn hướng đi tìm Công Lý của đức TGM Hà Nội làm ảnh hưởng đến ân huệ Xin-Cho" đã thành nếp trong Giáo phận của các Ngài. Nào là đa số các Ngài hài lòng với phương cách “đối thoại Xin Cho” để được dễ dãi trong việc xuất ngoại…. xin tiền về xây cất, mở mang, tổ chức lễ lạc cho to lớn linh đình... hơn là cố công xây dựng đền thờ Công Lý nơi lòng ngườì nhu tinh thần của thư chung năm 1980 của HĐGMVN. Và nào là phải yên lặng để chờ nhà nước chấm điểm, ra ơn cho về Hà Nội, Sài Gòn!”
Tệ hơn thế, bản tin đồn còn mang đi những mầm mống độc hại như "một số vị trong HĐGMVN dịp Ad limina ờ Roma cũng muốn đức TGM Hà Nội từ chức”. Thêm cho bản tin đồn ấy là việc đức TGM Hà Nội đau bệnh phải đi tĩnh dưõng lại Nho Quan càng làm cho bản tin đồn có cơ sở và cho lòng người héo úa với những dòng nước mắt sầu muộn lã chã rơi! Phần Ngài, giọt nước mắt cô đơn, giọt nước mắt thương dân có lẽ chưa ngưng đọng. Từ đó, có người còn đưa tin đồn là "đức TGM Hà Nội sẽ xuất hiện trong ngày khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện, nhưng là để từ biệt hơn là trở lại với đoàn chiến"!
Nhưng mấy ai ngờ, lịch sử vẫn chỉ là những giây phút tình cờ tiếp nối nhau. Từ ngàn xưa, Đức Giêsu Kitô cũng đã trải qua khổ nạn trên thập tự gía trước khi Phục Sinh để giải thoát con ngươi. Cũng thế, hôm nay sức sống đã bừng lên. Nhà thờ lớn Hà Nội như muốn nổ tung ra vì sức ép hân hoan của hàng vạn đôi tay vỗ vào nhau. Rồi những buồng phổi đang co cụm bỗng dãn hơi thở, tràn lên tất cả mọi khuôn mặt những nét rạng rỡ, tiếng cười reo như trẻ thơ, trong lúc dòng lệ lại vội lăn trào xuống trên đôi gò má! Ôi! nước mắt. Nước mắt tại sao lại tuôn trào? Lệ mừng! Lệ Mừng ư? Rồi chẳng ai bảo ai, Bàn tay này. Ánh mắt kia, giao hòa, ôm choàng lấy nhau và trao nhau trọn vẹn một niềm tin và người ta đã khóc trong nỗi vui mừng khôn tả.
Thật, chẳng còn một ngôn ngữ nào có thẻ diễn đạt nổi niềm vui mừng của người giáo dân Hà Nội khi Đức Hồng Y Roger Etchégaray, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, đứng chủ tế thánh Lễ Tại Nhà thờ Lớn Hà Nội đã trao trả cây gây Mục Tử lại cho đức TGM Ngô Quang Kiệt và nói rằng: “Đây là cây gậy mục tử của đức TGM Hà Nội, tôi trả lại cho Ngài, tôi không muốn mang về Roma"!? Chỉ ngần ấy tiếng âm vang, Ngài đã vực “kẻ chết sống lại”, đã “tiêu diệt” muôn khổ đau khô đọng trong lòng người. Ngài làm cho mọi người bàng hoàng như thấy trời mở ra. Người người ôm choàng lấy niềm hạnh phúc của một giấc mơ tưởng chừng đã chết.
Chẳng còn một ai muốn nhớ đến tình hình sức khỏe của vị TGM ra sao, và cũng chẳng còn ai muốn nghe lại cái chữ từ chức hôm nào nữa. Tất cả đã là dĩ vãng. Không, tất cả đã là tiền kiếp. Chỉ còn lại đây, Ngài và cây gây mục tử của Ngài hiện diện với dân thành Hà Nội, và với niềm tin Công Lý và Sự Thật soi đường như ngài nhắc nhở trong thư chung vào ngày 25-11-2009.
“Không thể sống Năm Thánh trọn vẹn nếu thiếu những việc thực hành”. Và một trong ba điểm trong việc thực hành của năm thánh là: “tích cực thực thi công bình bác ái. Trong Cựu Ước, Năm Thánh buộc ta trả lại cho người khác những gì thuộc về họ như quyền sở hữu, quyền tự do"(x. Lv 25, 8-17) Điều này, Ngài không chỉ nói để hướng dẫn cho giáo dân, nhưng cũng cho các đối tác trong xã hội nữa.
Vâng! Đó là ước mơ nhân bản. Đó là niềm tin yêu, hy vọng của cuộc sống. Và nếu trên đôi cao kia còn có Cây Thánh Giá giang tay che chở cho lời Công Lý thì dưới lũng sầu, hẳn nhiên là không thiếu bóng kẻ tà ma phá phách. Theo đó, Cây Thánh Gía, trên Núi Thờ của Đồng Chiêm, dầu đã đứng trên đỉnh cao ấy hàng trăm năm, nhưng cũng khó có ngoại lệ!
Theo tin tức loan đi, vào khoảng 2 giờ sáng ngày 06-1-2010, một lực lượng hùng hậu có từ 600 đến 1000 công an sắc phục, thường phục, chó nghiệp vụ, dân quân đã kéo đến vây chặt lấy giáo xứ Đồng Chiêm và đổ quân lên chiếm cứ và đập nát Cây Thánh Gía trên Núi Thờ. Đồng thời lực lượng này cũng tấn công đánh đập nhiều giáo dân bằng lựu đạn cay, lụu đạn khói… làm máu chảy thầm áo lương dân và nước mắt chảy tràn trên cánh Đồng Chiêm!…
Khi đọc bản tin, nhiều người tưởng lầm rằng mình đang sống trong khoảng tiền bán thế kỷ 20. Và họ nhận ra ở cái nước xã hội chủ nghĩa Việt cộng cái gì cũng lạ. Xem ra không giống xã hội loài người. Không giống là bởi vì:
1. Cây Thánh Gía trên núi Thờ ở Đồng Chiêm dã giang tay đứng đó như để che chở, đem đến niềm ủi an cho những nầm mộ mồ côi, cho những ánh mắt thẫn thờ mệt mỏi trong chiều tàn, hàng trăm năm rồi. Cây Thanh Giá ấy chẳng lấn đất dành dân với ai. Hơn thế, không phải là kẻ thù của loài người mà nhà nước Việt cộng lại phải tổ chức một cuộc hành quân đêm, đến đột kích và phá sập thì không một người nào không thấy lạ.
2. Nếu bảo rằng Cây Thánh Gía đứng ở đó trái luật, thì cứ đua luật ra mà tính. Hoặc gỉa, gọi những ngưòi phạm luật ra mà trị, Phép nước nào có vị thân? Tại sao lại phải hành quân đêm? Chẳng lẽ nhà nước phải làm như thế cho phù hớp với lời ca: “Con ơn nhớ lấy lời này, cướp đêm là giặc cưóp ngày là quan!” May mắn thay, nhà nước ta thì được tiếng cả ngày lẫn đếm nhỉ?
3. Tàu cộng cướp đất, cướp biển, bát ngư dân của Việt Nam. Chúng là những tội phạm đúng nghĩa theo luật. Luật nước, luật quốc tế. Tại sao nhà nước Việt cộng lại không dám hành quân đêm đến tiêu diệt địch và giải thoát nhân dân của mình nhỉ? Đã thế, còn xây đài tưởng niệm với những bảng đề “Nghĩa trang liệt sĩ Trung quốc”. Trong khi đó biết bao nhiều chiến sĩ Việt Nam đã bỏ mình khi chiến đấu bảo vệ biên giới, chiến đấu bảo vệ vùng biển thì không thấy có được một nấm mồ yên phận. Ấy là chưa nói đến câu hỏi là: Nếu những quân bành trướng Trung quốc được xây lăng mộ trên đất Việt với danh nghĩa "Nghiã trang liệt sĩ Trung quốc” thì những cán binh Việt Nam chết trong những cuộc chiến với Trung quốc sẽ đưọc gọi là gì? “Nghĩa trang phản quốc hay nghĩa trang của những thằng…khờ dại?” Lạ! đến lạ!
Khó ai có thể trả lời được câu hỏi này. Tuy nhiên, cha ông ta đã từng nói: “gieo gío thì gặt bão”. Việt cộng đã gây ra thảm họa cho dân, chúng phải gánh lấy cái hậu qủa của cơn bão từ nhân dân.
Riêng người dân Đồng Chiêm, rõ ràng là nước mắt tràn trên mặt mẹ, cha, chảy ròng xuống trên khuôn mặt con cháu mà lại không phải là nước mắt thương đau, sầu khổ. Nhưng lại là Lệ Mừng:
- Mừng vì Thánh giá vẫn ở trong lòng ta và con cháu ta. Riêng Thánh Gía trên núí bị côn đồ hạ xuống, dân ta dựng lại lúc nào mà chả được. Đã thế, còn uy nghi vững vàng hơn!
- Mừng vì chủ chiên lại quần áo dơn sơ đến thăm dân Người như ngày nào lặn lội bùn sâu đi thăm đoàn chiên trong trời giông bão.
- Mừng vì khi thấy tất cả các vị Giám Mục ở ngoài Bắc đã ngay lập tức gời thư Hiệp Thông đến vị TGM Hà Nội, bày tỏ một ý chí thống nhất cho hướng đi tìm Công Lý và Sự Thật. Và đòi buộc nhà cầm quyền phải tôn trọng Tự Do Tôn Giáo.
- Mừng vì đây là sự Hiệp Nhất, không phải là hiệp thông.
- Mừng vì những bước chân từ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, nay là Đồng Chiêm và rồi, từ khắp nôi lại sẵn sàng lên đường vì Công Lý, vì Tự Do sau những ngày khổ nạn.
Thật vậy, ngày 19-6-1098, ngày 117 vị chân phước tử đạo Việt Nam được tuyên phong lên hành hiển thánh là một biến cố lớn trong lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Ngày ấy, Giáo Hội đã xác minh lòng Trung Thanh tuyệt đối của các vị tử dạo Việt Nam với Thánh Gía của Đức Giêsu Kitô. Ngày mà chính những ngưòi còn sống, có khi còn nằm trong guồng máy lãnh đạo của nhà nước này, dù không vui vẻ gì với Biến Cố ấy, cũng phải hiểu thấu đáo rằng. Người Công Giáo có thể chết vì Niềm Tin của mình. Mà biểu tượng lớn nhất ở trong đức tin của họ chính là Thánh Gía của Đức Kitô.
Như thế, Đồng Chiêm hôm nay không còn là một sự kiện có liên quan đến tranh chấp đất đai với nhà nước. Nhưng là một Biến Cố. Hơn thế, có cơ trở thành một biến cố lớn trong dòng lịch sử của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Một khi Đồng Chiêm đã trở thành Biến Cố, không còn là một sự kiện nhỏ của địa phương nữa, thì thật khó có thể lường trươc được cái kết qủa sẽ ra sao.
· Máu sẽ tiếp tục đổ ra và liệu người Công Giáo hôm nay có nằm yên chờ chết, hay nằm ôm chặt lấy cây thánh giá và để cho nhà nước độc quyền lôi đi chà đạp nhân phẩm, chà đạp Đức Tin của họ, Hoặc gỉa, đem đi tù đày hay đưa ra pháp trường dép râu nón côí hay không?.
· Hay máu sẽ đổ và khối ngưòi anh dũng vì Đức Tin kia, cùng với mọi người kháp năm châu bốn bề đồng chuyển mình, mở ra một vận hội mới, không phải chỉ là đòi lại tự do tốn giáo. Nhưng là đem lại Công Lý, Tự Do, Nhân Quyền và Dân Chủ cho Việt Nam?.
Cuộc chuyển minh ấy sẽ ra sao và đất nước này đi về đâu? Đó là chuyện của ngày mai. Hiện tại, người ta chỉ thấy cuộc chuyển mình đã bắt đắu. Bắt đầu bằng thư Hiệp Nhất của tất cả các Giám Mục thuộc Giáo Khu Tổng Giáo Phận Hà Nội. Trong thư có những điều rất đáng ghi nhận tính Hiệp Nhất là:
“Vì thế chúng tôi xin Đức Cha đề xuất vối giới hữu trách chính quyền:
1. Xét lại luật về đất đai..
2. Cần chọn giải pháp ít tổn thất lòng người…
Trong thư cũng xác định hướng đi của người CGVN là: ”GHCGVN luôn ước mong góp phần xây dựng một đại gia đình Việt Nam, trong đó mọi thành viên cùng chung sống hòa bình và tôn trọng lần nhau.”
Điều ấy có nghĩa là, Đồng Chiêm không lẻ loi, Hà Nội không cô đơn một minh. Nhưng tất cả mọi hành động vì Đức Tin vì Công Lý thì toàn thể Giáo Hội đều chung một nhịp bước. Chính lý lẽ này đã làm sống lại một hướng đi, và khiến lòng người thêm mạnh mẽ hiên ngang. Đã biến nước mắt sầu khổ của ngưòi dân Đồng Chiêm, nước mắt đơn côi của Hà Nội, nước mắt tủi hờn của Tam Tòa, Loan Lý… thành Lệ Mừng. Lệ Mừng reo vui trong ngày hội tìm Công Lý.
Nắng sẽ lên, Công Lý sẽ đến và người Việt Nam đang đứng trươc cơ hội, trăm năm mới có một lần, để cùng nhau nắm lấy giấy phút tình cờ ấy để tạo nên lịch sử, tạo nên một ngày hội trong Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam.
Tháng 1 năm 2010
Bảo Giang
Đồng Chiêm máu chảy hòa non nước,
Tam Toà vững bước rạng niềm tin. Hôm nay tôi viết đôi dòng muộn màng về Đồng Chiêm. Nhưng không viết về những đau thương thống khổ của người dân Đồng Chiêm đang phải oằn mình gánh trên vai, cũng không ca tụng nhửng mảnh áo thẫm máu đỏ của người dân Đồng Chiêm đổ ra vì cái hung tàn của côn dồ Việt cộng, như là những giọt máu hồng chứng minh cho niềm tin riêng của ngưòi Công Giáo. Nhưng tôi viết đến những giọt lệ trên cánh Đồng Chiêm như là Lệ Mừng hơn là những ưu tư mà trước đây, trong “Tam Tòa sóng đổ về đâu” tôi đã viết là:
“Nếu lửa Tam Tòa không nóng tời Phát Diệm, Bùi Chu, Hải Phòng, Hà Nôi, Cao Bắc Lạng, Sơn Tây. Không chiếu quang đến Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết, Đà Lạt, Kontum, Sài Gòn. Lại qúa xa với Đồng Nai, Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Còn xa hơn nữa với Mỹ Tho, An Giang, Cần Thơ, Cà Mâu, Trà Vinh, Rạch Giá… và lửa ở nhà thờ Tam Tòa không bén sang cửa nhà Phật, không thổi hơi nóng tới Thánh Thất Cao Đài, Hoà Hảo và rồi Tam Tòa ở mô? Hoặc giả, hồn ai nấy giữ… phần ta, lửa chưa đến cứ ăn ngon ngủ kỹ thì Tam Toà không phải là cái tên cuối nổi lên trong cuộc bạo hành bất lương do nhà nước Việt cộng tạo ra. Nhưng đó chỉ là một trong chuỗi những địa danh lần lượt được nếm trải mùi bạo lực trong chủ trương triệt hạ ảnh hưởng tôn giáo trên phần đất này của nhà nước Việt cộng mà thôi”.
Như thế, Đồng Chiêm hôm nay cũng chỉ là một mắt xích nối tiếp từ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý … đến những địa danh khác trong tương lai. Nhưng Đồng chiêm hôm nay, sự kiện tưởng chừng giống như những nơi khác, trong thực tế, sự kiện Đồng Chiêm là một cuộc tấn công khác. Một cuộc tấn công trực diện vào biểu tượng niềm tin của ngưòi Công Giáo. Nên từ đó có khả năng khai mở ra một chân trời khác, tạo ra một hướng đi khác, tích cực hơn trong Niềm Tin của những người đi tìm Chân Lý, tìm Tự Do và Công Bằng Xã Hội.
Trước hết, có một điều không ai phủ nhận là: Cây Thánh Giá được coi như một biểu tượng khổ đau của nhân loại. Nhưng đồng thời, Cây Thánh Giá cũng là biểu tượng Ân Sủng của ơn Cứu Độ, của Tình Thương, hoặc gỉa, là biểu tượng của Bình An, nơi con người có thể đặt vào đó một niềm tin tuyệt đối. Cách riêng, đó lả biểu tượng Trung Thành trong đức tin của ngưởi công giáo trên hoàn vũ.
Thật vậy, trước khi Đức Giêsu Kitô, Người mà toàn thể nhân loại vui mừng chào đón ngày sinh vào ngày 25-12 hàng năm, bị treo lên Thập Tự Giá trên núi Sọ, Thập Giá chính là án phạt đau khổ nhất, ghê gớm nhất, nhục nhã nhất mà xã hội cách đây 2000 năm đã dành cho những tên tội phạm thuộc diện hung ác của xã hội. Nhưng khi Đấng Vô Tội là đức Giêsu Kitô bị treo lên đó. Ngài đã chết. Chết cho muôn người được sống thì Cây Thập Giá đó đã trở thành một biểu tương Thiêng Liêng tuyệt đối, Ân Sủng tuyệt đối, Tình Yêu tuyệt đối và đã đem An Bình, Hy Vọng tuyệt đôi đến ở trong lòng người.
Nói cách khác, trước biểu tượng Linh Thiêng viên mãn này, những độc ác tàn bạo, đầy uy lực của Neron, của Minh Mạng, Thiệu Trị và nay là Hồ chí Minh hay của những cường đạo Việt cộng Mạnh, Triết, Dũng, Trọng, Nghị, Thảo… có đáng là chi. Nếu như không muốn nói đó chẳng qua chỉ là những cỏ rác, rong rêu sẽ tàn lụi theo cát bụi của thời gian và để lại cho hậu thế những cái tên đáng ghê tởm. Phần Cây Thánh Giá, biểu tuợng kinh qua khổ đau sẽ mảĩ mãi muôn đời trổi vượt lên như một Ân Sủng toàn diện, một An Bình vĩnh cửu. một Niềm Tin vững chắc, một Hy Vọng tuyệt đối cho con người tìm đến để tín thác, để nương nhờ.
Vâng, hãy nhìn một người chiến binh thất trận, chạy tan hàng, lạc đồng đội và phía sau lưng là tiếng súng, tiếng giặc hò hét đuổi theo. Có lẽ đời anh sẽ không còn một nỗi kinh hoàng lo sợ, khủng hoảng nào hơn thế nữa. Nhưng khi anh chạy đến được một nơi có Cây Thánh Giá nằm trên đỉnh cao nhà thờ. Hoặc giả, tím vào bên bức vách của một căn nhà, mà trong nhà ấy trên bàn thờ có một Cây Thánh Giá thì âu lo, hoảng sợ vụt tan biến đi và thay vào đó là một niềm tin trong an bình, dù rằng đời anh chưa hề nghe biết đến từ ngữ đọc kinh hay cầu nguyện là gi! Tôi tin rằng anh ta sẽ tìm cách xin ở lại nương tựa vào Niềm Tin vừa đến ấy, hơn là, đạp đổ Cây Thánh Giá rồi lại trốn chạy quân thù trong lo âu!.
Rồi một anh cán binh Việt cộng bị thương, bị đồng đội bỏ lại trên đường mai phục để thoát chạy lấy thân. Ngoài cơn đau xé da thịt vì không được cứu chữa là sự uất hận bị bỏ rơi, anh còn lo sợ thần chết, lo sợ bị bắt và bị “nguỵ” chém giết, xẻ thịt banh da như những lời tuyên truyền nhồi sọ từ hàng ngũ cán bộ lãnh đạo trước khi đi gài mìn giết hại đồng bào. Anh đau đớn, tuyệt vọng khi lê thân vào những quãng đường, đồi, nương rẫy. Bỗng nhiên, cuộc sống như hồi sinh, dòng máu, nhịp tim lại dồn dập trong người. Một sự an bình như chưa bao giờ có đã chiếm trọn lấy cả tâm hồn và thể xác khi anh ta bò đến, và ôm được một cái chân cột. Lúc mở mắt nhìn lên. Đó chỉ là một Cây Thánh Giá thô sơ cắm trên ngôi mộ trong nghĩa trang của một xứ đạo miền quê. Anh gục đầu xuống, ôm chặt lấy và không còn muốn rời xa nữa. Bởi lẽ, dù không phải là người có đạo, chưa một lần biết cầu kinh, trái lại, còn được học tập, nuôi lờng căm thù những thành phần “tôn giáo phản động” bán nước. Kết qủa, vào lúc này, anh chỉ còn duy nhất một ước mơ. Nếu có phải chết, anh xin được chết trong phút giây an bình dưới chân cây cột mà anh đang ôm trong tay. Anh không muốn chết vì lòng căm thù như đã được học tập.
Nhưng trái ngược với nhân bản tính của con người và anh cán binh kia, Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng từ năm 1930, đã đem dân làm nô lệ cho ngoại bang, còn ra công sức xây dựng trên phần đất của Việt Nam một tổ chức phi nhân lấy chủ thuyết vô gia đình, vô tôn giáo vô tổ quốc làm lẽ sống. Lấy cường bạo, bất lương làm phương châm hành động. Từ đó, họ đã không ngừng gây ra muôn vàn thảm họa trên cả hai phương diện tinh thần lẫn thể chất cho dân tộc Việt.
Bên ngoài, dù được che đạy bởi lớp mỡ ngôn từ hào nhoáng, nhưng chẳng bao lâu sau ngày xuất hiện, người dân trên toàn đất nước đã nhận ra cái bản chất thật của tập đoàn lãnh đạo của nhà nước Việt cộng là bất nhân, gian dối: Chúng luôn luôn đẩy người dân vào những mâu thuẫn cục bộ từ gia đình, đến làng xóm, vào học đường, xã hội, để trục lợi, để nắm lấy quyền lực. Chúng không bao giờ muốn cho nhân dân có được cuộc sống gia đình yên vui, cơm no áo ấm. Không bao giờ muốn cho trẻ thơ được giáo dục nghiêm túc về trí dục và đức dục. Không bao giờ muốn xây dựng một xã hội có trật tự, biết tôn trọng luân thường đạo lý, tôn trọng luật pháp nhân bản. Cũng không bao giờ muốn thấy tôn giáo là điểm hẹn đến của công bằng đạo đức cho từng ngưòi từng nhà noi theo. Trái lại, chúng muốn đạp cho tan mọi ảnh hưởng gia đình. Phá cho nát niềm tin trong tôn giáo. Diệt cho hết truyền thống đạơ đức, luân lý xã hội và giải trừ tận căn nguyên nền Văn Hóa Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín là gốc sinh của dân tộc, để tất cả đều quy hướng về một nền luân lý vô đạo, phi nhân, vô luân, bất nghĩa, phi pháp của cộng sản.
Phía nội bộ, hàng hàng tủ sách vở trên thế giới đã ghi lại rằng: Đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng cộng đồng nghĩa với việc học tập cách thức gian dối, cách thức hành động phi luân, bất nhân, bất nghĩa với mọi người (nguyên TBT Liên Sô, Gobachev). Thủ tướng Đức, tiến sĩ Angela Markel cũng có những công bố tương tự: “Cộng sản đồng nghĩa với gian dối, tạo ra gian dối". Nên việc rèn cán, chỉnh quân, thay máu này đã trở thành một lẽ sinh tử cho chúng. Bởi lẽ, nếu gian dối, độc ác không thành bản chất của đảng. Nếu vô luân bất nghĩa không phải là dòng máu luân lưu trong huyết quản của từ Minh, Đồng, Khu, Duẫn, Mười, Linh, Phiêu… cho đến đến những Kiệt, Khải, Cầm, Anh, Triết, Trọng, Dũng, Mạnh, Nghị Thảo Rứa…, đã không có những cuộc đấu tố đẫm máu nhân dân Việt Nam từ thời 1930 đến nay, để hơn 170,000 ngàn sinh mạng, (không kể những người chết trong chiến tranh) trong đó có rất nhiều những người đã dày công lao sinh thành, dưỡng dục, nuôi nấng, che chở, bảo vệ chúng trong cuộc chiến hàng nhiều năm trước, được đền trả bằng bản án phú, nông, địa, hào, tư sản, hoặc giả, tay sai bán nước! Đã không có những cuộc chiếm đoạt đất đai, cướp giật tài sản của các tôn giáo và đày ải các vị chân tu trong chốn lao tù. Đã không có cuộc chôn sống mấy ngàn người dân vô tội ở Huế. Đã không bịt miệng người giữa chốn gọi là công đường. Đã không có cảnh những dân oan, từng là mẹ liệt sỹ, gia đình cách cách mạng lang thang đi đòi đất đòi nhà. Và cũng không có hàng triệu người Việt Nam phải sống lưu đày nơi đất khách!
Theo đó, những sự kiện như Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý và rất nhiều những đơn vị cá nhân dân oan trải rộng trên bề diện cả nước, và nay là Đồng Chiêm, không xảy ra mới là chuyện lạ! Như thế, Đồng Chiêm, hay bất cứ tên của một địa danh nào đó, sau một đêm bất chợt, trở thành một địa điểm lưu ký sự bạo tàn của nhà cầm quyền Việt cộng thì phải được hiểu rằng: Đó không phải là địa điểm cuối. Nhưng nó chỉ là những cái tên như những mắt xích, tiếp diễn cuộc bạo hành bất lương theo chủ trương của chúng cho đến khi chúng bị tiêu diệt mà thôi.
Tuy nhiên, Đồng Chiêm hôm nay, sự việc không còn nằm trong chủ trương bạo lực trấn áp lương dân để chiếm đoạt tài sản nữa. Trái lại, chúng đã vượt qúa mức của cuộc bạo hành trong trí khôn của con người. Chúng đã chính thức chà đạp biểu tượng Niềm Tin, là Ân Sủng và Ơn Cứu Độ của người Công Giáo, không phải chỉ ở Đồng Chiêm, nhưng là toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam! Chúng muốn thách đố một Niềm Tin chăng?
Nhớ lại, vào cuối năm 2007, phong trào cầu nguyện trong an bình để đòi Công Lý, đòi Tự Do tôn giáo cho người dân Việt Nam -- khởi đi từ Tổng giáo phận Hà Nội dưới sự coi sóc của Đức TGM Giuse Ngô quang Kiệt -- đã làm náo nức lòng người, làm rộn ràng mọi bước chân. Từ trong ra ngoài, không kể lương, không kể giáo, cũng không hề phân biệt chủng tộc, đều đổ dồn con mắt về Hà Nội để chờ đợi ngày chung thẩm của Công Lý. Ngày Tự Do. Nhân Quyền đến cho dân nước Việt Nam.
Trong khi đó, về phía nhà nước Việt cộng, sau gần mười năm hoà hoãn, đi cầu tự khắp nơi, kể cả việc chúng đến Roma để tìm chỗ tựa ngõ hầu tồn tại sau khi đế quốc đỏ tan vỡ, nay lại trở về với bản chất phi nhân bạo tàn. Ngoài thì dâng đất, dâng biển, dâng tài sản thiên nhiên của quốc gia cho Tàu cộng để cầu vinh. Bên trong thì mưu đồ áp chế, cướp đoạt tài sản của nhân dân và dùng bạo lực tiêu diệt Công Lý, bóp chết Tự Do, Nhân Quyền của con ngưòi. Kết qủa, cuộc đi đòi Công Lý không ngừng lại vì đàn áp, bạo lực của nhà nước. Trái lại, “Tuyên Ngôn Công Lý” lại hiển hiện rõ ràng trong lời công bố của TGM Hà Nội ngay giữa hội đường, trước mặt những kẻ nắm bạo quyền vào ngày 20-9-2008 tại Hà Nội: “Tự Do Tôn Giáo là cái quyền cơ bản của con người, Tự do Tôn giáo không phải là một ân huệ Xin - Cho”. Ai, và còn ai nữa đã hiên ngang vì Công Lý như thế? Công bằng mà trả lời rằng, ít nhất, trong thời gian ấy còn LM Nguyễn văn Lý cũng vì Công Lý mà ngồi tù. Luật sư Lê thị Công Nhân cũng vì đất nước vì nhân dân vì quyền làm người vì tương lai của dân tộc mà vào ngục như đi nhận một nhiệm sở mới!
Dĩ nhiên, Việt cộng biết rõ sức mạnh của toàn dân ngày nay không thuộc về chúng. Nhưng cơn mộng du bạo lực lại không thể rời xa những đôi mắt đảng, nên chúng tiến hành thêm cuộc bạo hành bắt người ở Thái Hà. Kết qủa hàng vạn vạn cành thiên tuế từ tay nhân dân đi đòi tự do tôn giáo, đi đòi Công Lý đã vươn cao trên khắp trời Hà Nội. Trong khi đó, dẫu gian ác là thế, nhà nước Việt cộng vẫn không thể tìm ra tội trạng để kết án tám anh chị em giáo dân Thái Hà. Sức mạnh của người dân chưa ngừng lại ở đó. Cả nửa triệu người đã như ngọn sóng dâng tràn tim về bên bờ sông Nhật Lệ. Tam Tòa không còn nhỏ bé, nằm chờ Xin – Cho, nhưng đã vươn mình trổi dậy với giang sơn trong cuộc trường chinh tìm Công Lý. Lúc ấy, nhiều người đã cho rằng, chẳng còn bạo lực nào có thể ngăn cản được lòng người mong tìm đến Sự Thật, tìm đến Công Lý.…
Bổng như một cơn khổ nạn. Giữa lúc người người hăm hở chờ đợi ngày cùng nhau dồn bước chân trên đường Công Lý. Một bản tin không rõ xuất xứ, không rõ chủ đích đăng tải trên Nét đã làm nghẽn hơi thở biết bao tim lòng. Làm chùn, làm chậm hàng triệu triệu đôi chân và làm bao dòng lệ vương tràn trên khoé mắt: Đó là bản tin Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức TGM Hà Nội!
Hỡi Trời ơi. Những tưởng rằng trời tan, đất lở. Toàn dân rúng dộng, giáo dân hoang mang, chính quyền hồ hởi. Họ hồ hởi vì từ mấy năm nay, có khi nào họ quên không tìm cách đẩy “Ông Công Lý” ra khỏi Hà Nội. Hơn thế ra khỏi Việt Nam càng tốt. Lý do, có khi nào kẻ thờ thần gian dối dám giáp mặt thần Công Lý?
Phía Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì hoàn toàn giữ im lâng. Đã yên lặng trước hướng đi của hàng triệu dôi chân tìm Công Lý, đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam, lại càng thủ kỹ trước bản tin. Các Ngài yên lặng đến nỗi tạo ra nghi ngờ trong hàng ngũ giáo dân, làm hoang mang lòng người.Và làm ly tán thêm niềm tin của giáo dân vào Hội Đồng vì những bản tin đồn cứ vùn vụt loan đi: “Nào là có nhiều vị giám mục không đồng thuận với hướng đi tìm Công Lý của Đức Cha Kiệt. Nào là các Ngài không muốn hướng đi tìm Công Lý của đức TGM Hà Nội làm ảnh hưởng đến ân huệ Xin-Cho" đã thành nếp trong Giáo phận của các Ngài. Nào là đa số các Ngài hài lòng với phương cách “đối thoại Xin Cho” để được dễ dãi trong việc xuất ngoại…. xin tiền về xây cất, mở mang, tổ chức lễ lạc cho to lớn linh đình... hơn là cố công xây dựng đền thờ Công Lý nơi lòng ngườì nhu tinh thần của thư chung năm 1980 của HĐGMVN. Và nào là phải yên lặng để chờ nhà nước chấm điểm, ra ơn cho về Hà Nội, Sài Gòn!”
Tệ hơn thế, bản tin đồn còn mang đi những mầm mống độc hại như "một số vị trong HĐGMVN dịp Ad limina ờ Roma cũng muốn đức TGM Hà Nội từ chức”. Thêm cho bản tin đồn ấy là việc đức TGM Hà Nội đau bệnh phải đi tĩnh dưõng lại Nho Quan càng làm cho bản tin đồn có cơ sở và cho lòng người héo úa với những dòng nước mắt sầu muộn lã chã rơi! Phần Ngài, giọt nước mắt cô đơn, giọt nước mắt thương dân có lẽ chưa ngưng đọng. Từ đó, có người còn đưa tin đồn là "đức TGM Hà Nội sẽ xuất hiện trong ngày khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện, nhưng là để từ biệt hơn là trở lại với đoàn chiến"!
Nhưng mấy ai ngờ, lịch sử vẫn chỉ là những giây phút tình cờ tiếp nối nhau. Từ ngàn xưa, Đức Giêsu Kitô cũng đã trải qua khổ nạn trên thập tự gía trước khi Phục Sinh để giải thoát con ngươi. Cũng thế, hôm nay sức sống đã bừng lên. Nhà thờ lớn Hà Nội như muốn nổ tung ra vì sức ép hân hoan của hàng vạn đôi tay vỗ vào nhau. Rồi những buồng phổi đang co cụm bỗng dãn hơi thở, tràn lên tất cả mọi khuôn mặt những nét rạng rỡ, tiếng cười reo như trẻ thơ, trong lúc dòng lệ lại vội lăn trào xuống trên đôi gò má! Ôi! nước mắt. Nước mắt tại sao lại tuôn trào? Lệ mừng! Lệ Mừng ư? Rồi chẳng ai bảo ai, Bàn tay này. Ánh mắt kia, giao hòa, ôm choàng lấy nhau và trao nhau trọn vẹn một niềm tin và người ta đã khóc trong nỗi vui mừng khôn tả.
Thật, chẳng còn một ngôn ngữ nào có thẻ diễn đạt nổi niềm vui mừng của người giáo dân Hà Nội khi Đức Hồng Y Roger Etchégaray, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, đứng chủ tế thánh Lễ Tại Nhà thờ Lớn Hà Nội đã trao trả cây gây Mục Tử lại cho đức TGM Ngô Quang Kiệt và nói rằng: “Đây là cây gậy mục tử của đức TGM Hà Nội, tôi trả lại cho Ngài, tôi không muốn mang về Roma"!? Chỉ ngần ấy tiếng âm vang, Ngài đã vực “kẻ chết sống lại”, đã “tiêu diệt” muôn khổ đau khô đọng trong lòng người. Ngài làm cho mọi người bàng hoàng như thấy trời mở ra. Người người ôm choàng lấy niềm hạnh phúc của một giấc mơ tưởng chừng đã chết.
Chẳng còn một ai muốn nhớ đến tình hình sức khỏe của vị TGM ra sao, và cũng chẳng còn ai muốn nghe lại cái chữ từ chức hôm nào nữa. Tất cả đã là dĩ vãng. Không, tất cả đã là tiền kiếp. Chỉ còn lại đây, Ngài và cây gây mục tử của Ngài hiện diện với dân thành Hà Nội, và với niềm tin Công Lý và Sự Thật soi đường như ngài nhắc nhở trong thư chung vào ngày 25-11-2009.
“Không thể sống Năm Thánh trọn vẹn nếu thiếu những việc thực hành”. Và một trong ba điểm trong việc thực hành của năm thánh là: “tích cực thực thi công bình bác ái. Trong Cựu Ước, Năm Thánh buộc ta trả lại cho người khác những gì thuộc về họ như quyền sở hữu, quyền tự do"(x. Lv 25, 8-17) Điều này, Ngài không chỉ nói để hướng dẫn cho giáo dân, nhưng cũng cho các đối tác trong xã hội nữa.
Vâng! Đó là ước mơ nhân bản. Đó là niềm tin yêu, hy vọng của cuộc sống. Và nếu trên đôi cao kia còn có Cây Thánh Giá giang tay che chở cho lời Công Lý thì dưới lũng sầu, hẳn nhiên là không thiếu bóng kẻ tà ma phá phách. Theo đó, Cây Thánh Gía, trên Núi Thờ của Đồng Chiêm, dầu đã đứng trên đỉnh cao ấy hàng trăm năm, nhưng cũng khó có ngoại lệ!
Theo tin tức loan đi, vào khoảng 2 giờ sáng ngày 06-1-2010, một lực lượng hùng hậu có từ 600 đến 1000 công an sắc phục, thường phục, chó nghiệp vụ, dân quân đã kéo đến vây chặt lấy giáo xứ Đồng Chiêm và đổ quân lên chiếm cứ và đập nát Cây Thánh Gía trên Núi Thờ. Đồng thời lực lượng này cũng tấn công đánh đập nhiều giáo dân bằng lựu đạn cay, lụu đạn khói… làm máu chảy thầm áo lương dân và nước mắt chảy tràn trên cánh Đồng Chiêm!…
Khi đọc bản tin, nhiều người tưởng lầm rằng mình đang sống trong khoảng tiền bán thế kỷ 20. Và họ nhận ra ở cái nước xã hội chủ nghĩa Việt cộng cái gì cũng lạ. Xem ra không giống xã hội loài người. Không giống là bởi vì:
1. Cây Thánh Gía trên núi Thờ ở Đồng Chiêm dã giang tay đứng đó như để che chở, đem đến niềm ủi an cho những nầm mộ mồ côi, cho những ánh mắt thẫn thờ mệt mỏi trong chiều tàn, hàng trăm năm rồi. Cây Thanh Giá ấy chẳng lấn đất dành dân với ai. Hơn thế, không phải là kẻ thù của loài người mà nhà nước Việt cộng lại phải tổ chức một cuộc hành quân đêm, đến đột kích và phá sập thì không một người nào không thấy lạ.
2. Nếu bảo rằng Cây Thánh Gía đứng ở đó trái luật, thì cứ đua luật ra mà tính. Hoặc gỉa, gọi những ngưòi phạm luật ra mà trị, Phép nước nào có vị thân? Tại sao lại phải hành quân đêm? Chẳng lẽ nhà nước phải làm như thế cho phù hớp với lời ca: “Con ơn nhớ lấy lời này, cướp đêm là giặc cưóp ngày là quan!” May mắn thay, nhà nước ta thì được tiếng cả ngày lẫn đếm nhỉ?
3. Tàu cộng cướp đất, cướp biển, bát ngư dân của Việt Nam. Chúng là những tội phạm đúng nghĩa theo luật. Luật nước, luật quốc tế. Tại sao nhà nước Việt cộng lại không dám hành quân đêm đến tiêu diệt địch và giải thoát nhân dân của mình nhỉ? Đã thế, còn xây đài tưởng niệm với những bảng đề “Nghĩa trang liệt sĩ Trung quốc”. Trong khi đó biết bao nhiều chiến sĩ Việt Nam đã bỏ mình khi chiến đấu bảo vệ biên giới, chiến đấu bảo vệ vùng biển thì không thấy có được một nấm mồ yên phận. Ấy là chưa nói đến câu hỏi là: Nếu những quân bành trướng Trung quốc được xây lăng mộ trên đất Việt với danh nghĩa "Nghiã trang liệt sĩ Trung quốc” thì những cán binh Việt Nam chết trong những cuộc chiến với Trung quốc sẽ đưọc gọi là gì? “Nghĩa trang phản quốc hay nghĩa trang của những thằng…khờ dại?” Lạ! đến lạ!
Khó ai có thể trả lời được câu hỏi này. Tuy nhiên, cha ông ta đã từng nói: “gieo gío thì gặt bão”. Việt cộng đã gây ra thảm họa cho dân, chúng phải gánh lấy cái hậu qủa của cơn bão từ nhân dân.
Riêng người dân Đồng Chiêm, rõ ràng là nước mắt tràn trên mặt mẹ, cha, chảy ròng xuống trên khuôn mặt con cháu mà lại không phải là nước mắt thương đau, sầu khổ. Nhưng lại là Lệ Mừng:
- Mừng vì Thánh giá vẫn ở trong lòng ta và con cháu ta. Riêng Thánh Gía trên núí bị côn đồ hạ xuống, dân ta dựng lại lúc nào mà chả được. Đã thế, còn uy nghi vững vàng hơn!
- Mừng vì chủ chiên lại quần áo dơn sơ đến thăm dân Người như ngày nào lặn lội bùn sâu đi thăm đoàn chiên trong trời giông bão.
- Mừng vì khi thấy tất cả các vị Giám Mục ở ngoài Bắc đã ngay lập tức gời thư Hiệp Thông đến vị TGM Hà Nội, bày tỏ một ý chí thống nhất cho hướng đi tìm Công Lý và Sự Thật. Và đòi buộc nhà cầm quyền phải tôn trọng Tự Do Tôn Giáo.
- Mừng vì đây là sự Hiệp Nhất, không phải là hiệp thông.
- Mừng vì những bước chân từ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, nay là Đồng Chiêm và rồi, từ khắp nôi lại sẵn sàng lên đường vì Công Lý, vì Tự Do sau những ngày khổ nạn.
Thật vậy, ngày 19-6-1098, ngày 117 vị chân phước tử đạo Việt Nam được tuyên phong lên hành hiển thánh là một biến cố lớn trong lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Ngày ấy, Giáo Hội đã xác minh lòng Trung Thanh tuyệt đối của các vị tử dạo Việt Nam với Thánh Gía của Đức Giêsu Kitô. Ngày mà chính những ngưòi còn sống, có khi còn nằm trong guồng máy lãnh đạo của nhà nước này, dù không vui vẻ gì với Biến Cố ấy, cũng phải hiểu thấu đáo rằng. Người Công Giáo có thể chết vì Niềm Tin của mình. Mà biểu tượng lớn nhất ở trong đức tin của họ chính là Thánh Gía của Đức Kitô.
Như thế, Đồng Chiêm hôm nay không còn là một sự kiện có liên quan đến tranh chấp đất đai với nhà nước. Nhưng là một Biến Cố. Hơn thế, có cơ trở thành một biến cố lớn trong dòng lịch sử của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Một khi Đồng Chiêm đã trở thành Biến Cố, không còn là một sự kiện nhỏ của địa phương nữa, thì thật khó có thể lường trươc được cái kết qủa sẽ ra sao.
· Máu sẽ tiếp tục đổ ra và liệu người Công Giáo hôm nay có nằm yên chờ chết, hay nằm ôm chặt lấy cây thánh giá và để cho nhà nước độc quyền lôi đi chà đạp nhân phẩm, chà đạp Đức Tin của họ, Hoặc gỉa, đem đi tù đày hay đưa ra pháp trường dép râu nón côí hay không?.
· Hay máu sẽ đổ và khối ngưòi anh dũng vì Đức Tin kia, cùng với mọi người kháp năm châu bốn bề đồng chuyển mình, mở ra một vận hội mới, không phải chỉ là đòi lại tự do tốn giáo. Nhưng là đem lại Công Lý, Tự Do, Nhân Quyền và Dân Chủ cho Việt Nam?.
Cuộc chuyển minh ấy sẽ ra sao và đất nước này đi về đâu? Đó là chuyện của ngày mai. Hiện tại, người ta chỉ thấy cuộc chuyển mình đã bắt đắu. Bắt đầu bằng thư Hiệp Nhất của tất cả các Giám Mục thuộc Giáo Khu Tổng Giáo Phận Hà Nội. Trong thư có những điều rất đáng ghi nhận tính Hiệp Nhất là:
“Vì thế chúng tôi xin Đức Cha đề xuất vối giới hữu trách chính quyền:
1. Xét lại luật về đất đai..
2. Cần chọn giải pháp ít tổn thất lòng người…
Trong thư cũng xác định hướng đi của người CGVN là: ”GHCGVN luôn ước mong góp phần xây dựng một đại gia đình Việt Nam, trong đó mọi thành viên cùng chung sống hòa bình và tôn trọng lần nhau.”
Điều ấy có nghĩa là, Đồng Chiêm không lẻ loi, Hà Nội không cô đơn một minh. Nhưng tất cả mọi hành động vì Đức Tin vì Công Lý thì toàn thể Giáo Hội đều chung một nhịp bước. Chính lý lẽ này đã làm sống lại một hướng đi, và khiến lòng người thêm mạnh mẽ hiên ngang. Đã biến nước mắt sầu khổ của ngưòi dân Đồng Chiêm, nước mắt đơn côi của Hà Nội, nước mắt tủi hờn của Tam Tòa, Loan Lý… thành Lệ Mừng. Lệ Mừng reo vui trong ngày hội tìm Công Lý.
Nắng sẽ lên, Công Lý sẽ đến và người Việt Nam đang đứng trươc cơ hội, trăm năm mới có một lần, để cùng nhau nắm lấy giấy phút tình cờ ấy để tạo nên lịch sử, tạo nên một ngày hội trong Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam.
Tháng 1 năm 2010
Bảo Giang

Làm thế nào để khỏi già ?
Lê Tấn Tài
Khi nào các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa? Già là một điều không ai tránh khỏi.
Hiện nay các viện nghiên cứu y khoa đã cho biết một cách chính xác các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa từ lúc nào.
Các bác sĩ người Pháp đã tìm thấy chất lượng tinh trùng bắt đầu suy thoái từ tuổi 35, bởi thế khi người đàn ông 45 tuổi thì một phần ba số lần mang thai sẽ dẫn đến sảy thai. Angela Epstein đã viết trong DailyMail, tuổi của các bộ phận trong cơ thể bắt đầu suy thoái như sau :
1./ Não bắt đầu suy thoái lúc 20 tuổi. Khi chúng ta trưởng thành, các tế bào não bị giảm dần. Và não cũng teo nhỏ lại. Khởi đầu con người có 100 tỉ tế bào não, nhưng đến tuổi 20 con số nầy giảm dần, và đến tuổi 40 con người mất mỗi ngày 10.000 tế bào ảnh hưởng rất nhiều đến trí nhớ và có tác dụng rất lớn đến tâm sinh lý người già.
2./ Ruột bắt đầu suy giảm từ tuổi 55. Ruột tốt có sự cân bằng giữa các vi khuẩn có ích và có hại. Vi khuẩn có ích sẽ giảm đi đáng kể sau tuổi 55, đặc biệt ở phần ruột già. Sau 55 tuổi bộ tiêu hóa bắt đầu xấu đi và sẽ gây hại cho các bệnh đường ruột. Táo bón là một bệnh thông thường của tuổi già, cũng như dịch vị từ bao tử, gan, tuyến tuỵ, ruột non bị suy giảm .
4./ Bọng đái bắt đầu suy thoái từ tuổI 65. Người già thường mất kiểm soát bọng đái. Nó bắt đầu co lại đột ngột, ngay cả khi không đầy. Phụ nữ dễ gặp trục trặc này hơn khi chấm dứt kinh nguyệt. Khả năng chứa nước tiểu của bọng đái một người già chỉ bằng nửa so với người trẻ tuổi, khoảng 2 cốc ở tuổi 30 và 1 cốc ở tuổi 70. Ðiều này khiến người già phải đi tiểu nhiều hơn, và dễ nhiễm trùng đường tiểu.
5./ Vú bắt đầu thoái hóa từ năm 35 tuổi. Khi người đàn bà đến 30 tuổi thì vú mất dần các mô và mở, sự đầy đặn và kích cở của bộ vú bị suy giảm. Khi 40 tuổi núm vú bị teo lại và vú thòng xuống.
6./ Phổi lão hóa từ tuổi 20. Sụn sườn vôi hóa, lồng ngực biến dạng, khớp cứng ảnh hưởng tới thở, nhu mô phổi giảm đàn hồi, giãm phế nang. Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40 có nhiều người đã bắt đầu khó thở vì các cơ bắp và xương sườn buồng phổi bắt đầu xơ cứng ..
7./ Giọng nói bắt đầu yếu và khàn kể từ tuổi 65. Phụ nữ có giọng khàn và nhỏ trong khi đàn ông giọng cao và nhẹ.
8./ Mắt lão hóa từ năm 40 và phần lớn phải mang kiếng, không còn nhìn rõ một vật ở xa. Khả năng tập trung của mắt kém hơn do cơ mắt yếu hơn.
9./ Tim lão hóa từ tuổi 40. Khối lượng cơ tim giảm. Tuần hoàn nuôi cơ tim cũng giảm, suy tim tiềm tàng, huyết áp tăng dần. Sức bơm của tim giảm dần vì các mạch máu giảm sự đàn hồi. Các động mạch cứng dần và bị mở đóng vào các thành mạch. Máu cung cấp cho tim cũng bị giảm bớt. Ðàn ông 45 tuổi và đàn bà 55 dễ bị đau tim.
10./ Gan lão hóa từ năm 70. Chức năng chuyển hóa và giải độc giảm. Tuy nhiên gan là một bộ phận gần như không chịu khuất phục tuổi tác. Người ta có thể ghép gan của một ông già 70 tuổi cho một người 20 tuổi.
11./ Thận lão hóa năm 50. Số đơn vị lọc chất thải khỏi máu bắt đầu giảm xuống ở tuổi trung niên.
12./ Tuyến tiền liệt lão hóa vào năm 50. Hệ thống sinh dục nam gồm có: tinh hoàn và bộ phận sinh dục phụ như đường dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, túi tinh và dương vật. Tuyến tiền liệt thường lớn dần theo tuổi tác. Khi tuyến tiền liệt tăng kích thước sẽ ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó.
13./ Xương lão hóa hóa vào tuổi 35. Cho đến giữa những năm 20 tuổi, mật độ xương vẫn còn tăng. Trẻ em xương lớn rất nhanh, cứ mỗi 2 năm lại thay đổi toàn bộ xương củ nhưng đến tuổi 35 thì xương đã lão, hiện tượng mất xương bắt đầu như một quá trình già cả tự nhiên.
14./ Răng suy từ tuổi 40.. Răng bị hao mòn. Dễ bị bệnh nha chu. Niêm mạc bị teo dần.
15./ Bắp thịt lão hóa từ năm 30.. Thông thường bắp thịt khi bị lão hoá thì được tái tạo ngay, nhưng đến tuổi 30 thì tái tạo ít hơn là lão hóa. Ðến tuổi 40, mỗi năm bắp thịt bị sút giảm từ 0.5 đến 2 % . Vì thế người già khó giữ thăng bằng, trở thành chậm chạp, dễ bị ngã và gẫy xương.
16./ Nghe [thính giác] giảm đi kể từ giữa năm 50. Rất nhiều người bị lãng tai kể từ năm 60.
17./ Da suy giảm kể từ năm 20. Chúng ta đã giảm dần việc sản xuất chất keo dính của da từ giữa tuổi 20. Việc thay thế các tế bào chết cũng chậm dần.
18./ Vị giác và khứu giác giảm từ năm 60. Thông thường chúng ta có thể nếm được 100.000 vị trên lưởi. Các vị này chúng ta chỉ nếm được phân nửa khi già và đến tuổi 60 thì không còn ngửi và nếm một cách chính xác được nữa.
19./ Sinh sản mất khả năng từ năm 35. Khả năng sinh nở của phụ nữ bắt đầu giảm sau tuổi 35, vì số lượng và chất lượng trứng trong tử cung giảm xuống.
20./ Tóc lão hóa từ tuổi 30.. Thông thường cứ 3 năm thì tóc cũ sẽ được thay thế toàn bộ tóc mới. Và đến năm 35 tuổi thì tóc không còn đen nhánh nữa mà ngã màu đen xám và rụng dần đi.
Làm thế nào để làm chậm sự lão hóa ?
Già không phải là một bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển; cần chú ý một số đặc điểm sau:
- Người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, có bệnh dễ phát hiện, nhưng cũng có bệnh rất kín đáo, tiềm tàng, nguy hiểm.
- Triệu chứng ít khi điển hình, không ồ ạt, không rõ rệt, nên khó chẩn đoán, dễ sai lạc nếu ít kinh nghiệm.
- Khả năng phục hồi sức khỏe sau các trận ốm thường chậm hơn so với người trẻ, nên sau điều trị phải có thời gian an dưỡng.
Một số biện pháp làm giảm tốc độ lão hóa:
Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu.
Vì thế muốn giảm tốc độ lão hóa cần phải:làm gì?
Về tư tưởng luôn luôn lạc quan yêu đời, chủ động gạt bỏ những cái làm ảnh hưởng đến bộ não, hạn chế tối đa nỗi cô đơn, giải quyết tốt nhất mối quan hệ xã hội và gia đình, có triết lý sống đúng; phải chú ý cả 3 vấn đề: lẽ sống, lối sống và hành động sao cho khoa học văn minh để loại trừ 7 nguyên nhân gây bệnh của Ðông y là : hỷ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng.
Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
Thường xuyên luyện tập đều đặn về trí tuệ và thể lực như đọc sách báo, nghe đài, xem TV, internet… đồng thời tập thể dục thể thao, đi bộ, tập thở, tĩnh tâm thư giãn, v.v… phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe từng người.
Sinh hoạt điều độ, không làm gì quá sức bình thường, giữ gìn trạng thái cân bằng giữa ngủ và nghỉ, giữa ăn và làm, giữa trí óc và chân tay, giữa trong nhà và ngoài trời, giữa lười và chăm, v.v… cũng rất quan trọng.
Ăn uống đúng và đủ theo khả năng của mình, không nên nghiện bất cứ thứ gì, hạn chế thịt nhất là mỡ, ăn nhiều rau quả tươi, giảm chất bột, giảm bánh kẹo, bảo đảm cân bằng thức ăn âm và dương, giữ người không béo và cũng không gầy. Nên nhớ con người là giống ăn ngũ cốc, nên thức ăn cho người phải 80% là ngũ cốc còn 20% là rau quả và các thứ khác, không nên ăn quá no, người già rất cần đạm ở đậu tương, vừng lạc, tôm cua, ốc hến…
Cần có môi trường sống tự nhiên tốt, phần lớn các cụ sống 100 tuổi trở lên đều ở vùng núi, ở nông thôn còn ở thành phố thì rất ít và gốc cũng không phải thành thị.
Hiện nay môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng đó là tự hủy hoại mình (chặt cây, phá rừng, chất thải, phân hóa học, thuốc trừ sâu….) đã làm mất đi cảnh thanh bình của thiên nhiên, là điều cũng nên hết sức tránh.
Kiên trì áp dụng 10 bài học về sức khỏe của Nhật Bản, đất nước được mệnh danh là ‘vương quốc của tuổi thọ’ vì có tuổi thọ cao nhất thế giới hiện nay. 10 bài học đó là:
- Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau
- Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua
- Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả
- Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa
- Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần
- Bớt đi xe, năng đi bộ
- Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn
- Bớt nóng giận, cười nhiều hơn
- Bớt nói, làm nhiều hơn
- Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn.
Những bài học trên có tác dụng rất lớn đối với những người bị tăng huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan…
Tóm lại:
Biết cách sống, ta có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài được tuổi thọ, có thể điều chỉnh được chiếc đồng hồ sinh học trong con người chúng ta chạy chậm lại, ta cũng có thể giữ bộ máy cực kỳ tinh vi của ta được bền vững lâu dài hơn.

Hoan hô Google
Lê Phan
Hôm Thứ Tư tuần này, Google tuyên chiến với chính quyền Bắc Kinh. Google tuyên bố là đã có những tấn công vào hệ thống Gmail cũng như hạ tầng cơ sở kỹ thuật phát xuất từ Trung Quốc. Do đó công ty quyết định từ nay sẽ không tuân thủ lệnh tự kiểm duyệt của chính quyền Bắc Kinh nữa, và nếu không thể tiếp tục thì có thể đi đến quyết định rút lui khỏi thị trường Trung Quốc.
Nhưng tại sao Google, trong nhiều năm, cũng như các công ty kinh doanh Tây Phương khác, đã sẵn sàng theo đuổi kinh doanh bất kể lương tâm, bỗng nhiên thay đổi ý kiến.
Một phần nào giải thích thái độ của công ty, tờ New York Times kể lại câu chuyện của cô Tenzin Seldon, sinh viên 20 tuổi của Viện Ðại Học Stanford. Cô Seldon đột nhiên nhận được một thông điệp từ văn phòng viện yêu cầu cô liên lạc với Google vì Gmail của cô đã bị tin tặc tấn công. Tenzin, vốn gốc người Tây Tạng, là một trong nhóm tranh đấu cho nhân quyền tại quê cũ. Lập tức cô liên lạc với giám đốc Luật Pháp của Google, David Drummong.
Cô Seldon kể lại là ông David cho cô biết địa chỉ Gmail của cô đã bị một người ở Trung Quốc đột nhập khiến công ty rất lo ngại và yêu cầu cô cho mượn cái laptop của cô. Ngay lập tức cô thay password và cẩn thận hơn trong những gì cô viết qua email. Cô cũng cho phép Google mượn cái laptop. Chuyện này xảy ra cách đây hơn một tuần. Tuần này họ trả lại máy cho cô và nói là không tìm thấy virus hay là các chương trình xấu nhưng quả là địa chỉ Gmail của cô đã bị lén lút đột nhập. Google xác nhận câu chuyện của cô sinh viên gốc Tạng, nhưng không chịu cho biết là có bao nhiêu nhà tranh đấu đã là nạn nhân của các cuộc đột nhập như vậy.
Ðiều chắc chắn là một người bình thường ở Trung Quốc, dầu có tò mò đến đâu, cũng không “hack” vào email của một nhà tranh đấu cho người dân Tây Tạng. Kẻ chủ mưu vụ đột nhập này chắc chắn phải vô cùng lo ngại về hoạt động của những người chống đối ở Tây Tạng nên mới tìm cách đột nhập một địa chỉ email tư nhân như vậy.
Cho đến nay, mức độ của sự tấn công vào Google và vài chục công ty khác vẫn còn chưa rõ, nhưng tin này đã làm cho không phải chỉ các nhà kinh doanh mà ngay chính Washington cũng lo ngại. Chính phủ Hoa Kỳ, kể từ chính phủ Bush nay đến chính phủ Obama, đã bày tỏ quan ngại về an ninh trên hệ thống computer của thế giới và các cuộc tấn công xuyên qua Internet. Các nhà nghiên cứu độc lập về an ninh Internet cho là có ít nhất 34 công ty đã bị đột nhập bởi những cuộc tấn công phát xuất từ Trung Quốc. Theo các chuyên gia này, trong số các công ty đó có Adobe, Symantec, Yahoo và Dow Chemical, và mục tiêu là gián điệp kỹ nghệ.
Tờ Washington Post giải thích là mục tiêu các cuộc tấn công này có vẻ nhắm đến những kỹ nghệ chiến lược mà Trung Quốc đang còn thụt hậu. Các cuộc tấn công vào những công ty chuyên về kỹ nghệ quốc phòng là nhắm để tìm tin tức về các hệ thống vũ khí, trong khi các công ty kỹ thuật là để tìm mật mã gốc (source code) vốn là nền tảng của các chương trình điện toán.
Trên blog của mình, ông Drummond của Google giải thích là vào giữa Tháng Mười Hai năm rồi, Google đã tìm thấy “một cuộc tấn công tinh vi và có mục đích” vào hệ thống computer của công ty “phát xuất từ Trung Quốc.” Cộng thêm vào cuộc tấn công đó là những cuộc đột nhập Gmail của một số các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở Hoa Kỳ, Âu Châu và tại chính Trung Quốc. Và theo ông Drummond, chuyện đột nhập Gmail này xảy ra khá thường xuyên. Chuyện này, cùng với sự gia tăng kiểm duyệt của chính quyền đã làm cho Google thấy cần phải “nghiên cứu lại sự khả thi” của công việc làm ăn của họ tại Trung Quốc. Trong năm vừa qua, Google cũng đã có nhiều vụ đụng độ với Bắc Kinh. YouTube đã bị chặn khi cho phổ biến một đoạn phim cho thấy cảnh công an đánh các nhà sư Tây Tạng. Dịch vụ Blog của Google cũng gặp nhiều cản trở với hiện nay không làm sao vào được ở Bắc Kinh. Trong khi đó Twitter và Facebook đã bị chặn từ nhiều tháng nay.
Cũng có thể nói hành động của Google dựa trên quyền lợi hơn là vì lý tưởng. Ở Trung Quốc, tuy thị trường lớn thật, với trên 300 triệu người được coi là “công dân mạng,” Google chỉ chiếm được có 30% thị phần. Thật ra gần đây Google đã tăng được thêm 3% và hiện nay chiếm được 33% thị phần. Thành ra, rút lui ra khỏi Trung Quốc cũng không gây thiệt hại bao nhiêu cho công ty trong khi lại còn có thể giúp công ty có thể được ủng hộ từ những khách hàng ở Tây Phương.
Nhưng thật ra nhiều công ty Tây Phương cũng đang ở trong cái thế của Google. Tuyên bố trên thông tấn xã AFP, ông Duncan Clark, một nhà tư vấn, nhận xét là ngày càng có sự thiếu cân xứng giữa lập trường của các công ty Tây Phương và chính quyền Bắc Kinh. “Ở đây (Trung Quốc) người ta nghĩ không ai có thể bỏ qua Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ nay nhiều công ty đang nghĩ là không ai có thể làm ăn được với Trung Quốc.”
Và có lẽ chính vì vậy mà chính phủ Trung Quốc đã có vẻ giật mình. Chính quyền đã tìm cách giấu nhẹm lý do tại sao Google tính chuyện rút lui khỏi Trung Quốc. Các địa chỉ Internet ở Trung Quốc tìm cách ém nhẹn tin này. Nhưng ở Trung Quốc cũng như trên toàn thế giới, các “công dân mạng” ngày nay có đủ khả năng để vượt qua tường lửa, dầu là “Vạn lý tường lửa” của Bắc Kinh. Ðã có nhiều lời khen Google được phổ biến trên các diễn đàn. Nhiều người còn mạnh dạn hơn. Họ đã đem hoa tới để trước cửa văn phòng của Google tại Bắc Kinh. Tờ New York Times nói có hai cô sinh viên đã còn mang cả rượu và nhang đến để làm lễ “cúng vọng” cho Google.
Trung Quốc đã được hưởng rất nhiều nhờ việc mở cửa kinh tế và nhờ toàn cầu hóa. Trung Quốc sẽ không hùng mạnh như ngày nay nếu không có toàn cầu hóa khiến thị trường Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu mở rộng cửa cho họ bán hàng. Nhưng Bắc Kinh vẫn chỉ nghĩ đến “mở cửa” hiểu theo nghĩa là “mở cửa có lợi cho họ.” Ở một khía cạnh khác, Bắc Kinh rất sợ “mở cửa.” Nhưng chính vì sợ mở cửa, Bắc Kinh rồi sẽ thấy là họ đang tự hại mình. Google đóng cửa văn phòng và hoạt động ở Trung Quốc không chỉ làm cho 700 nhân viên, đa số là các chuyên viên điện toán thượng thặng mất việc lương cao, mà sẽ làm cho Trung Quốc mất một cơ hội học hỏi thêm từ một trong những công ty sáng tạo nhất của Hoa Kỳ. Học lén làm sao bằng được học chính thức?
Thành ra trong cuộc chiến giữa Google và chính quyền Trung Quốc chưa biết rồi ai sẽ thắng ai sẽ bại.
Nhưng dầu sao xin hoan hô Google. Không hiểu quí độc giả nghĩ sao chứ bản thân tôi sẽ rất bất mãn nếu thấy địa chỉ Gmail của mình bị ai đọc lén. Nếu Google sẵn sàng bảo vệ email của tôi thì tôi xin ủng hộ Google hết mình.
Lê Phan

Những con đường mang tên "Cha"
Vũ Ngọc Hậu
Lê vẫn thường tự hào khoe: "Mẹ em nấu ăn rất ngon". Tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện và thường tự hỏi tại sao Lê thường nói thế trong những lúc chúng tôi đang nói chuyện về những việc chẳng ăn nhập với điều ấy. Vả lại cũng đâu có gì lạ? Những bà mẹ nội trợ thông thường, đâu thiếu người nấu ăn ngon? Cho đến một ngày tôi mới hiểu, khi Lê khoe những câu khoe thường nhật, chỉ có điều thêm một vế sau: "Mẹ em nấu ăn rất ngon. Vì mẹ em làm nghề nấu cỗ".
Hôm ấy Lê có chuyện buồn, chơi với nhau bao lâu, bấy giờ tôi mới biết hoàn cảnh gia đình Lê: "Bố em bỏ đi Nga hơn chục năm. Hai anh em Lê được đi học từ những bữa nấu cỗ thuê của mẹ...". Câu chuyện kết thúc bằng câu nói tôi đã rất quen: "Mẹ em nấu ăn rất ngon!".
...Và căn phòng chỉ có tiếng động khi tôi lên tiếng: "Còn bố chị thì biết rất nhiều đường, vì bố chị làm nghề xe ôm!".
Hai chúng tôi nhìn nhau rất lâu và cùng im lặng.
Câu chuyện chỉ có thế nhưng tôi không thể quên ngay sau đó. Nó cứ trở đi trở lại trong tôi...
Bố tôi làm xe ôm đến nay đã mười bảy năm. "Tuổi nghề" của ông tính bằng "tuổi đời" của tôi. Vì sao ư? Chỉ khi sinh ra tôi ông mới bắt đầu nghề xe ôm - cái nghề gắn bó với chiếc xe và những con đường...
Năm 1991, năm tôi ra đời! Năm 1991, năm bố tôi bắt đầu đón khách trên sân cảng, năm mẹ tôi ở nhà nuôi bốn con lợn lấy tiền cho chị gái tôi đi học...
Chuyện nếu kể ra sẽ dài thật là dài. Mười bảy năm, đâu phải chuyện một ngày? Suốt mười bảy năm, tôi nghe không biết bao nhiêu lần câu chào mời khách của bố tôi "Bác về đâu đó bác?". Câu trả lời của những người khách đi xe không quen mặt làm sao tôi nhớ hết? Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Đồ Sơn, An Hải... hay Cầu Đất, Cát Đài, Lê Lợi, Dư Hàng... Biết bao con đường. Vậy mà tại sao đến bây giờ, khi đã sang tuổi mười bảy, tôi mới nghĩ đến những con đường ấy để biết rằng bố tôi đã biết rất nhiều nơi trên đất Hải Phòng này...
Suốt những ngày đi học, ít khi nào tôi hỏi được bố bài tập của mình. Bố tôi chẳng thuộc một bài thơ, Toán thì lên cấp II ông đã không làm được... Tôi cho rằng ông chẳng biết gì. Đến sau này tôi mới hiểu ông biết rất nhiều. Những con đường ông biết đã nuôi tôi thành một cô gái cao 1m60, nặng 50 cân từ một đứa trẻ nặng 2 cân mốt, dài vài chục phân lúc mới lọt lòng.
Những con đường đào lên, lấp xuống, những con đường qua tháng năm không biết bao nhiêu chiếc xe đã đi qua. Tôi chỉ biết trên những nẻo đường ấy, đã từng in dấu một người xe ôm trong những buổi trưa hè nóng bỏng...
Người thầy dạy Toán biết rất nhiều công thức Toán, cô giáo dạy Văn thuộc rất nhiều bài thơ, người nấu bếp thuê ấy đều nuôi lớn những đứa con của mình bằng những gì học biết. Bố tôi - người xe ôm thì biết rất nhiều những nẻo đường. Ông cũng nuôi chị em tôi lớn lên bằng những gì ông biết. Đôi khi, tôi nghĩ đó là tất cả những gì ông có - một người bố yêu con như biết bao người bố yêu con. Vậy nên nếu tôi có một người bố làm nghề xe ôm thì đâu có nghĩa tôi không được yêu thương để lớn - lên - đúng cách như khi tôi có một người bố làm thầy giáo, kỹ sư hay giám đốc?
"Bố tôi biết rất nhiều con đường. Vì ông làm nghề xe ôm"...
Có những con đường không được đặt tên, có những con ngõ vô danh, nhưng vẫn có thể dẫn người ta trở về mái ấm. Với tôi, ấy là những con đường mang tên "Cha"...
Vũ Ngọc Hậu

CỌP TRONG KÝ ỨC DÂN GIAN ( Sưu tầm)
Nam Bộ là vùng đất mới của phương Nam có quá trình hình thành và phát triển hơn 3 thế kỷ (1698 - 2004). Trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Nam Bộ hôm nay là vùng đất trù phú, nơi dung nạp nhiều dân cư khác nhau từ mọi miền đất nước đến đây lập nghiệp. Quả là “đất lành chim đậu”.
Ngày nay đến với đồng bằng Nam Bộ, ít người còn hình dung được cái thiên nhiên còn đầy vẻ hoang sơ của buổi đầu khai phá. Chính những câu truyện kể, truyền thuyết, các giai thoại còn tồn tại trong ký ức, các địa danh, ca dao dân ca mà các tài liệu địa chí đã ghi nhận được từ xa xưa truyền lại, giúp ta hình dung được khung cảnh thiên nhiên ấy.
Trong cái buổi ban đầu đi mở đất, một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã mà con người phải đối chọi, rùng rợn nhất là hổ (hùm, cọp). Với bộ mặt gân guốc, quai hàm mở rộng hoác hoạc, lưỡi thè lè đỏ lòm, mắt tròn to sắc lạnh, xảo quyệt, râu mép rung rinh thính nhạy, thân mình vạm vỡ, nặng từ cả tạ đến vài tạ. Bốn bộ móng vuốt khoằm khoằm sắc lẻm chộp đâu trúng đó, con người và bất kỳ loài thú nào khi đối mặt với hổ là đồng nghĩa đối mặt với tử thần. Có một thời con người đành bó tay sợ hãi, bất lực trước sự hoành hành của hổ, phải gọi chúng bằng Ông, được đưa vào miếu thờ với sức mạnh chúa sơn lâm để canh giữ bảo vệ đình miếu. Nhưng con người, với đà ngày càng sinh sôi phát triển, đã đẩy lùi giang sơn của hổ đến tận những vùng hẻo lán. Tuy vậy, cho đến nay cọp vẫn còn bảo lưu trong ký ức của nhân dân địa phương, qua những câu chuyện kể, chuyện cổ tích (mà dân Nam bộ gọi là chuyện đời xưa), truyện cười, thần thoại, ngụ ngôn, trong tín ngưỡng dân gian... bắt nguồn từ hiện thực mà con người phải chứng kiến, đối mặt. Thái độ của con người đối với cọp chuyển biến từ sợ hãi, đến chiến đấu thắng cọp, rồi thuần dưỡng, rồi tôn thờ cọp vv... biểu hiện những trạng thái tâm lý phức tạp của người lưu dân mở đất.
Từ những tài liệu đã có và cũng từ những ghi nhận qua lời kể của người dân, bài viết này nhằm tìm hiểu về loài cọp ở Nam bộ dưới góc độ văn hóa.
2. Cơ sở hình thành ký ức về cọp ở Nam Bộ: (Cọp Nam Bộ qua các sách địa chí)
Khởi thủy mọi ký ức về cọp của người Việt Nam Bộ gắn liền với tiến trình con người khai phá vùng đất này. Cái buổi ban đầu ấy, những người dân mở đất Nam Bộ với hành trang thô sơ của mình vừa từ ghe bầu, thuyền buồm đặt chân lên vùng đất hoang rậm, sông sâu, thú dữ như hiệp sức thử thách người mới đến. Để khai phá đất, lập làng, lập ấp, người Việt cũng như đồng bào các dân tộc ít người, ngoài việc gặp những cánh đồng hoang vắng, những đầm lầy heo hút, những rừng rậm bạt ngàn, họ còn gặp khá nhiều thú dữ. Đáng nói nhất trong loài thú dữ nơi này là cọp. Cọp rất nhiều là mối đe dọa thường xuyên làm cản trở công cuộc khẩn hoang lập ấp, đe dọa thường trực tính mạng của con người sống ở đây:
Đồng Nai xứ sở lạ lùng,
Dưới sông cá lội, trên rừng cọp um.
Cọp Gia Định:
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi mùa xuân năm Canh Dần 1770 đời vua Duệ Tông có con mãnh hổ vào nhà người ở phía nam chợ Tân Cảnh, hai nhà sư Hồng Aân và Trí Năng đã diệt được cọp. [2:107]. Trịnh Hoài Đức đã ví loài này ở đất Gia Định bằng những câu tục ngữ: “Dữ như cọp Vườn Trầu”. “Aùc như sấu Vũng Gấm”. Viết về “Vườn Phù Lâu” , ông cho biết “chỗ ấy còn nhiều rừng rậm, mãnh hổ thường hay bắt người, nên có câu “dữ như cọp Vườn Trầu”. [2:48, 72].
Đến cuối thế kỷ XIX, ấy thế mà số người chết vì cọp vẫn còn đáng kể “...cọp, sấu còn hoành hành ở vùng quê Bến Tre, Gò Công, An Hóa vào khoảng 1900 - 1910, nào riêng gì vùng sình lầy phía Cà Mau. Bên bờ Hậu Giang ngày nay, vùng Phong Điền nổi danh trù phú với vườn cam quýt - vào khoảng 1900 cọp vẫn còn tại đó” [11:265]
Năm 1909, tuần báo Nam kỳ địa phận dành để tuyên truyền phổ biến giáo lý đạo Thiên chúa mà còn đăng tải những tin tức về cọp như chuyện thời sự hàng ngày:
Vùng cầu An Hạ, 3 tháng có 12 người.
Vùng cầu Hóc Môn , trong một vài tuần có 4 người.
Vùng Thủ Dầu Một, trong vài tháng 8 người.
Mãi đến sau năm 1930 mà cọp còn lảng vảng ở vùng Rạch Giá, Cà Mau, Bảy núi.
*Cọp Tây Ninh:
“Ngày xưa Tây Ninh toàn là rừng già... cho nên nó là giang sơn của cọp, voi, mang, mển... Thời ấy chúa sơn lâm hay bén mảng gần xóm đông dân cư để rình bắt heo bò và cõng người về rừng xé xác... Năm 1947 - 1948 cọp loạn rừng. Tại xã Ninh Thanh – ấp Chánh, cọp đã ăn 3 mạng và mỗi đêm thường về ấp này bắt heo mang vô rừng ăn dần”[4:165].
*Cọp Vũng Tàu:
“Vùng Núi Lớn xã Thắng Nhì gần chợ Bến Đá, có ngôi chùa gọi là Điện Bà do nhà sư họ Trương sáng lập. Bên cạnh Điện Bà năm 1949 còn dấu tích hai miệng hang lớn, theo lời của dân chúng kể lại, đó là hai cái hang ông thần Hổ ở tu ngày xưa. Họ kể rằng, vào thời kỳ này có hai vị chúa sơn lâm chiều chiều khi tới giờ công phu, thường đến ở ngoài ngồi nghe kinh, và chẳng bao giờ bắt gà vịt, phá khuấy dân ở quanh vùng, sau đó ở tu luôn tại hai cái hang ấy. Một ông tu tại đó cho tới chết, còn một ông bị người Pháp bắn nhầm khi đi kiếm ăn ngoài rừng. Trong chùa hay tin tới xin xác về chôn tại trong hang ông ở, lấy lại cái đầu phơi khô đem thờ trong chùa, sau bị đánh cắp mất. Ngôi chùa này trước có tên là Long Nhan điện”. [5:168]
Một di tích của thời cọp lộng hành Vũng Tàu năm xưa là miếu thờ thần Hổ , về sau này Hội điện sửa sang và xây cất lớn lên thành Điện thờ Ngũ hành và Quan Thánh. “Con đường mòn từ trên ngọn hải đăng đi xuống bãi Thùy Vân ngày xưa dây leo chằng chịt, cây cối rậm rạp rất khó đi, được dân sở tại đặt tên là đường mòn Oâng Hổ”. (con đường từ núi Nhỏ xuống biển)
Nguo^`n: thie^nduongnhac.com
CỌP THÀNH TINH VÀ VOI CỦA VUA HÀM NGHI
Cho tới bây giờ người Vân Kiều ở hai xã Hướng Linh và Hướng Sơn huyện Hướng Hóa, Quảng Trị đã không còn trong cõi lạc hậu nữa, nhưng vùng rừng thiêng này vẫn có những điều bí ẩn đã thành huyền thoại, ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào đến mức khó hiểu và những bí ẩn của vùng núi này còn nhiều điều phải khám phá.
Cọp lạ và voi vua
Ông Pạ Tuyến, 61 tuổi hiện là Chủ tịch xã Hướng Linh, đồng thời cũng là người nhiều phen mắt thấy tai nghe những chuyện của vùng rừng núi này nói với tôi "vùng này lạ lắm, có những chuyện cứ như hoang đường ấy, nhưng tôi cam đoan mang cả cái chức chủ tịch xã của mình ra mà thề rằng nó hoàn toàn có thật, chính tôi và hàng trăm người dân trong xã đều đã chứng kiến và sợ như mất vía mỗi lần chạm mặt chúa sơn lâm. Theo như tôi được biết vùng này khoảng 20 năm nay cứ mỗi năm đều thấy một con cọp có màu lông đen tuyền xuất hiện, đã từng nghe dân làng đồn đại nhiều, chính ông Tuyến thực mục sở thị thì đã đụng hắc hổ này 2 lần, ông vẫn nhớ như in lần đầu tiên đụng ngài, năm đó vào tháng 3/1995, lúc đó ông Tuyến còn làm cán bộ phụ trách thương binh xã hội của xã Hướng Linh, ông cùng ông Đang lúc đó là thủ quỹ, hiện là Chủ tịch mặt trận tổ quốc xã, đi bộ vào thôn Hoong phát tiền chính sách. Trời đã quá trưa nên trên con đường mòn vào thôn chỉ có 2 ông cùng với một túi tiền, đi qua con suối đầu thôn vừa mới ló lên khỏi dốc, 2 ông đã nhìn thấy một ông cọp to như con trâu, đang lừng lững đứng chặn giữa đường. Quá đột ngột vì lúc đó khoảng cách giữa 2 người và con cọp lạ chỉ cách nhau 4m , ông Tuyến vốn là một tay thiện xạ từ hồi chiến tranh chống Mỹ, hôm đó lại khoác theo một khẩu AK với nguyên một băng đạn, nhưng vì sự xuất hiện quá bất ngờ của con cọp lạ, gần ngay trước mắt nên chỉ biết đứng như trời trồng, không giám động thủ. Nhớ lại cảm giác lúc đó, vị chủ tịch xã thừa nhận, "tôi chưa sợ cái chi hết, nhưng hôm đó cả tôi và đồng chí Đang như bị mất hồn, không nhúc nhích được chi, cả hai đều đứng im chờ tai họa. Nhưng không hiểu vì sao ngài cọp chỉ nhìn hai chúng tôi liếm mép vài cái rồi lững thững bỏ đi, phải mất vài ngày sau chúng tôi mới bình tĩnh được để tiếp tục làm việc bình thường”. Còn anh Nguyễn Văn Tuân, nguyên hiệu trưởng trường cấp II Hướng Linh nay là phó Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Hướng Hóa, thì thừa nhận: Mỗi lần có cọp đen xuống núi là cả trường không có lấy một mống học sinh, đợi cho yên ắng, các thầy cô giáo phải mất ít nhất 2 tuần lội bộ dọc rừng, để đi động viên học sinh trở lại trường, anh Tuân nhớ lại cứ thời điểm đó nhà nhà đóng cửa im ỉm từ sáng đến tối, trâu bò khắp xã cũng được lùa vào chuồng, canh giữ cẩn mật, còn trẻ con thì không dám ló mặt ra khỏi nhà. Sự "giáng thế" của hắc chúa sơn lâm, mới đây nhất vào tháng 11/2007 tại thôn Hoong, qua theo dõi nhiều năm của đồng bào Vân Kiều trong xã Hướng Linh thì bao giờ con cọp đen này cũng xuất hiện ở cánh rừng Vàng, sau đó sang rừng Miếu đi vòng qua thôn Hoong, rồi tiến lên đỉnh Voi Mẹp thì mất hút. Tuy đều đặn xuất hiện và được người dân mô tả là có hình dáng rất lớn, bằng chứng là dấu chân để lại trên đường đi qua to như chiếc bát múc canh của đồng bào, nhưng tuyệt nhiên không một lần ông cọp lạ này bắt người hay trâu bò làm đồ nhắm. Nhưng theo kinh nghiệm nhiều năm thì cứ mỗi lần cọp xuất hiện thì nhiều người dân trong vùng lại bị đau, trâu, bò bỗng rưng lăn ra chết hàng loạt, trong lần xuất hiện gần đây nhất thì thôn Hoong có 34 con trâu, bò to khỏe tự nhiên lăn ra chết. Nặng nhất là nhà Hồ Pà Chiêng, người bắt gặp cọp đen đầu tiên trong khu rừng Vàng, về đến nhà thì nghe tin dữ 4 con trâu đực to như voi con nhà mình mới được lái buôn trả 50 triệu, bỗng lăn ra chết, đành phải nhờ cả làng đào hố rồi khiêng đi chôn giúp. Nhiều người già trong làng cho rằng con cọp đen này đã thành tinh, nên mãnh lực của nó toát ra cũng đủ làm chết các loại gia súc và làm đau người trên đường nó đi qua.
Cũng tại vùng rừng núi này theo ông Tuyến, trước kia còn xuất hiện một con voi, mà nhiều người cho rằng là thớt voi của vua Hàm Nghi còn sót lại vì trên cổ con voi còn mang một chiếc chuông lớn. Nhưng năm 1973 con voi này đã bị những kẻ lạ mặt bắn hạ, ngay dưới chân đỉnh Voi Mẹp thuộc địa phận huyện Gio Linh. Khi nghe tin voi bị bắn, ông Tuyến dẫn dân quân đuổi đến nơi, thì bộ ngà đã bị cướp, con voi vẫn còn chiếc chuông đeo ở cổ, dân quân đã thu về nhưng bây giờ không biết thất lạc nơi nào?
Rừng thiêng
Cho tới bây giờ những người già sống đến bách niên tại thôn Hoong, hầu như không biết bên trong khu rừng Miếu ngay cạnh làng mình có những gì? Vì đây là một khu rừng thiêng mà không phải ai cũng được đặt chân tới, hiện tại người được phép duy nhất được ra vào bên trong khu rừng này là trưởng bản Hồ Rầm, trên đường dẫn tôi đến khu vực Miếu mà dân làng vẫn thường dùng làm nơi cúng thần rừng, trong những ngày đại lễ ông nói với tôi "Khu rừng này ngay cạnh làng mình, nhưng dân làng không bao giờ dám tự ý đi vào, mọi lá cây ngọn cỏ, muông thú bên trong cũng không bị xâm phạm, trời sinh như thế nào thì rừng Miếu vẫn nguyên trạng như vậy". Sự quá rậm rạp của khu rừng khiến tôi liên tục bị mất hút người dẫn đường, do từng cuộn dây leo chằng chịt che lấp tầm nhìn, mặc dù hai người chỉ cách nhau vài sải tay, thỉnh thoảng tôi lại bị giật thót mình, bởi đụng phải những đàn khỉ, chúng thi nhau kêu khèng khẹc rồi nhảy toán loạn trên những ngọn cây. Không phải những điều này mà rừng Miếu được người Vân Kiều coi là rừng thiêng, mà đi cùng với đó là một lễ cúng được đồng bào cho là vô cùng quan trọng, cứ 3 năm diễn ra một lần, lễ vật bằng một đôi trâu mộng, một con đen một con trắng, lễ cúng kéo dài 2 ngày, đêm hôm trước khi diễn ra lễ chính, tất cả dân của làng Hoong phải có mặt tại khu Miếu làm lán đốt lửa ngủ ở đó một đêm, buộc 2 con trâu lại để thầy cúng niệm chú mời thần rừng, thần miếu về nhận lễ, rồi che chở cho làng, khi mọi nghi lễ cúng hoàn thành thì đôi trâu này được đem ra giết thịt để tất cả dân làng cùng đánh chén. Tôi hỏi già làng Hồ Vàng sao lại phải cúng rừng tốn kém thế? Thì được già làng cho biết "nếu không cúng thì làng sẽ bị hao người, gia súc chết vì đây là rừng thiêng nếu không đầy đủ lễ vật và lòng thành, các đấng tối cao sẽ nổi giận. Không biết có phải vậy không mà trong chiến tranh chống Mỹ tất cả các loại bom đạn được ném xuống khu rừng này đều không thể phát nổ được, đã có 8 quả bom tấn tịt ngòi còn nằm lại trong rừng, mới năm ngoái những người đi cưa bom phải cúng rừng một con trâu để được làng cho vào tháo lấy sắt và lấy thuốc.
Cho tới bây giờ, những dấu tích và cả những câu chuyện mà bà con Vân Kiều tại xã Hướng Linh và Hướng Sơn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị kể lại vẫn là những điều bí ẩn. Có người cho rằng trong các câu chuyện này có một phần quãng đời huyền thoại của vị vua chống thực dân Pháp để lại giữa vùng rừng thiêng của dãy Trường Sơn này. Nhưng khi trao đổi với chúng tôi cả Sở văn hóa thể thao và du lịch cũng như Bảo tàng tỉnh Quảng Trị đều thừa nhận họ chưa hay biết về những khu vườn và hiện vật lạ trên, và cũng chưa có một động thái nào để nghiên cứu và kiểm nghiệm những điều đó.
Sưu tập.
Nguồn: Diễn Đàn Trái Tim Hồng
Vì đâu nên nỗi?
Huỳnh Ngọc Tuấn
Tôi ngồi trong tiệm cắt tóc nói chuyện với mấy người khách đang đợi, bắt đầu bằng chuyện sức khỏe, với nhận xét rằng bây giờ có rất nhiều người bị bệnh hiểm nghèo, những cái chết đột ngột, rồi đến chuyện ẩm thực cũng với những lời ta thán và phẫn nộ…một người khách nói:
- Thời buổi này không biết phải ăn uống ra sao? thịt gà thịt vịt thì bị cúm gia cầm, heo bò thì bị lở mồm long móng, cá thì bị ướp hóa chất độc hại để giữ cho tươi... bây giờ thì có cảnh báo rằng trái cây, nhất là trái cây nhập từ TQ bị nhiễm thuốc trừ sâu và chất độc, rau sống bây giờ cũng thế... ăn cái gì đây?.
Không ăn thì chết mà ăn cũng chết. Tôi có thằng cháu lên 5, bây giờ chăm sóc nó thật khó, chẳng biết cho cháu ăn cái gì? ăn cái gì cũng sợ..anh ta thở dài..tận thế mất!
Tôi nhập cuộc: Tất cả đều do con người làm nên, thượng đế đã ban cho nhân loại một thiên đường nhưng con người biến nó thành địa ngục: Những dòng sống chết, những cánh rừng và núi non bị tàn phá để khai thác gỗ, làm khu công nghiệp, ở VN mình người ta đang cho khái thác Bauxite ở Tây nguyên bất chấp những lời cảnh báo của những nhà khoa học và giới trí thức.
Một người đàn ông trạc 60, ăn mặc lịch sự, anh ta có vẻ thạo tin và ăn nói “bạo miệng”:
“Mấy ông này đã làm thì ai khuyên can được..quyền ở trong tay họ muốn làm gì thì làm..việc thành thì ổng nhận hết công lao, thất bại ổng đổ lỗi cho trời hoặc cho thế lực phản động nào đó, còn mấy ổng thì không bao giờ sai”
Ở những nước dân chủ văn minh, lãnh đạo sai là phải xin lỗi và từ chức, còn ở mình sai lầm càng lớn thì càng thăng quan tiến chức (anh ta lắc đầu chán ngán)
Một anh bạn trẻ, người vạm vỡ da ngăm đen, đôi mắt rực sáng và hơi lồi..làm cho khuôn mặt anh ta dễ gây sự chú ý của người khác, anh ta vừa nói vừa làm những cử chỉ ngộ nghĩnh.
- Ở nước người ta đa đảng, ở nước mình độc đảng, người ta coi dân như cỏ rác, ai cũng biết nhưng làm gì được nhau?!
Anh ta phá lên cười chắc có lẽ anh ta khoái chí vì đặt người khác vào thế bí..thế “triệt buộc”.
Người đàn ông có vẻ ấm ức.
- Nói thế chứ bây giờ VN mình đã hội nhập quốc tế..đâu phải muốn làm gì cũng được..hơn nữa bây giờ người dân cũng đã mạnh dạn lên tiếng..đó các ông thấy vụ Thái Hà, vụ tòa Tòa khâm sứ, vụ Tam Tòa, bây giờ là vụ Đồng chiêm..người dân đã đấu tranh đòi công lý chứ không còn sợ cường quyền như trước đây.
Anh thanh niên phản bác:
- Thôi chú ơi..ai mình không biết..ở đâu mình không biết chứ như con, như chú mà lên tiếng là đi luôn.. “một đi không trở lại”
Người đàn ông không chịu:
- Bây giờ đâu có dễ rứa?!
Anh bạn trẻ vẫn tiếp tục cách nói làm cho người khác bối rối:
- Không dễ hả, chỉ cần bắt chú lên vài ngày tiêm cho chú một mũi thuốc rồi thả về..một tuần sau là chú đi lang thang ngoài đường, hát nghêu ngao và đếm chuồn chuồn..con nói thiệt luôn đó!!.
Người đàn ông phản ứng yếu ớt:
- Làm như vậy dư luận sẽ biết..quốc tế sẽ biết.
Anh thanh niên vừa nghiêm túc vừa bỡn cợt:
- Còn một cách nữa, đuổi việc vợ chú, dàn cảnh để con chú bị tai nạn, họ không cần phải đụng đến chú mà chú cũng phải “tắt tiếng ca” luôn… Ông Cách mạng này ổng giỏi lắm…cái đầu của ổng đa hệ mà…con nói thiệt luôn đó!!...Chú thấy không trong những vụ đàn áp giáo dân Công giáo như vụ Thái Hà, Tam Tòa, con là người Công giáo con biết ổng dùng bọn lưu manh và nói là do “quần chúng tự phát”. Vừa mới đây vụ tăng đoàn Làng Mai ở chùa Bát nhã, ông Cách mạng này dùng bọn lưu manh côn đồ tấn công các vị tu sĩ rồi nói đó là tranh chấp nội bộ còn những phần tử lưu manh hành hung tu sĩ là ”quần chúng tự phát”….không biết trong tương lai ổng còn có độc chiêu nào nữa …đúng là ông Cách mạng này giỏi thật, đa hệ thật.
Lần này thì người đàn ông im bặt không phản ứng gì, ông giống như một người thất bại, anh thanh niên phá lên cười. Tôi vào cuộc để gỡ cho ông ta:
- Nếu có cái đầu đa hệ thì dùng nó để phục vụ đất nước, sáng tạo khoa học cho dân nhờ chứ ai lại đi làm việc thất đức hạ cấp như thế.
Người thanh niên:
- Vậy đó, làm gì được nhau?
Cách nói chuyện của anh chàng này làm người khác tức ách bụng!
Tôi nhớ lại khi mới mãn tù từ trại Nam Hà trở về, một người anh em họ xa hỏi tôi:
- Hồi ở trong tù, anh có bị người ta tiêm thuốc không?
Tôi nói:
- Trong 10 năm làm gì tránh được đau ốm, phải tiêm thuốc chứ..thậm chí rất nhiều.
Anh ta vỗ đùi cái bộp.
- Chết rồi.. vậy là anh không ổn rồi, anh không thọ được lâu đâu!
Một thời gian yên lặng trôi qua..căn phòng cắt tóc nhỏ hẹp, không khí u uất, lát sau người đàn ông lên tiếng:
- Tôi cũng biết ông cách mạng này đa hệ lắm, trong thời gian chiến tranh, ổng dùng vũ khí thu được của VNCH trong những trận đánh, bắn vào nhà dân rồi đổ lỗi cho Mỹ-Ngụy. Tôi nhớ năm 1972 học sinh trường Trưng nữ cắm trại ở sân vận động, bây giờ là chỗ cây xăng phường Hòa Hương. Đêm diễn văn nghệ mấy ổng cho du kích ném lựu đạn vào trại, nhiều người chết và bị thương toàn là nữ sinh..trong đó có con gái ông Mạnh úy (ông nhìn tôi và quay sang cậu thanh niên). Có biết tiệm thuốc tây Mạnh úy không?
Tôi trả lời:
- Tôi biết.. Cậu thanh niên thì không biết vì bây giờ tiệm thuốc tây đó không còn nữa mà gia đình họ giờ đi đâu cũng không rõ.
Ông nói tiếp:
- Sau năm 1975, người ném quả lựu đạn đó kể lại cho nhiều người nghe…bây giờ anh ta còn đó..làm bí thư xã đã nhiều năm.
Câu chuyện dần dần chuyển qua những đề tài khác.
Tôi nói về biển Đông, về Trường sa Hoàng sa, về việc Trung cộng bắn giết ngư dân, bắt cóc và đòi tiền chuộc..anh thanh niên có vẻ bực tức..
- Mấy ông cách mạng này đâu có lo bảo vệ đất nước, chỉ lo làm giàu, nếu mất nước thì ổng cùng gia đình vẫn hưởng đặc quyền, đặc lợi cho dù phải mang thân phận làm tay sai, chỉ có dân mình chết thôi!!
Người đàn ông nói rất khẽ:
- Nghe người ta nói ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyên Minh Triết, nhất là Nông Đức Mạnh được Trung quốc ủng hộ..đưa lên lãnh đạo cho nên mấy ổng phải phục vụ cho quan thầy đỡ đầu.
Đến lúc này thì anh thợ cắt tóc và vợ lên tiếng:
“Thôi thôi, em lạy mấy anh, mấy chú đừng nói chuyện chính trị ở đây, họ nghe được thì chết em, để cho em kiếm gạo nuôi con, thương vợ chồng và các con em, mấy anh mấy chú đến cắt tóc em rất cảm ơn nhưng em chỉ mong đừng nói chuyện chính trị!!!
Một người khách ngồi đợi nãy giờ im lặng cũng nói như thế.
- Công an hắn nghe được là chết cả đám.
Vậy là chúng tôi phải tạm gác câu chuyện đang nói dở, tôi rất thông cảm với vợ chồng người thợ cắt tóc, họ cũng như nhiều người VN khác nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh nặng nề trong tâm thức và nó được duy trì bởi chính sách đàn áp có khi tinh vi có khi thô thiển.
Khi sắp đứng lên nhìn vào gương tôi thấy một người đàn ông cao lớn, béo tốt đi vào, hơi ngỡ ngàng một chút tôi nhận ra anh LN, một người bạn cũ, anh là thầy truyền đạo thuộc giáo hội Tin Lành Việt nam…. Anh L N cũng nhận ra tôi sau một hồi bối rối, anh ta à lên một tiếng, giọng anh to khỏe oang oang, anh vỗ nhẹ vai tôi: T phải không?
- Dạ đúng rồi chào anh LN.
Anh bắt tay tôi thật chặc và nói.
- Tuấn ngồi đây đợi mình cắt tóc rồi về nhà nói chuyện…lâu quá mới gặp nhau.
Tôi nhìn những người khách còn ngồi đợi 1,2,3,4 tôi nói với anh:
- Thôi hẹn anh khi khác, em còn về Tam phú, chờ anh thì tối mất.
Một người khách nói vào:
- Còn lâu đấy, những 4 người nữa.
Vậy là anh L mời tôi về nhà anh, trên đường đi anh hỏi tôi:
- Lâu quá Tuấn hỉ, bao nhiêu năm rồi hỉ??
- Cũng gần 20 năm, chính xác là 18 năm.
Anh à lên một tiếng.
Nhà anh vẫn ở nguyên chỗ cũ, bây giờ xây dựng lại khang trang và tiện nghi.
Tôi ngồi ở phòng khách đợi anh pha trà, nhà vắng và rộng quá tạo nên một cảm giác trống trải. Tôi biết các cháu nhà anh đã lớn, có gia đình, hoặc đi làm xa nhưng tôi vẫn hỏi khi anh từ dưới nhà đi lên với ấm trà trên tay:
- Nhà vắng quá anh! Chị và các cháu đâu?
Anh ngồi xuống vừa rót trà vừa kể chuyện:
- Chị vẫn bán ngoài chợ, các cháu có gia đình cả rồi.
Sau 18 năm gặp lại câu đầu tiên anh nói với tôi:
- Chúa sắp trở lại. Tuấn nên tin Chúa để được cứu.
Tôi là một Phật tử nên luôn kính trọng niềm tin của người khác, tôi chỉ cười và đánh trống lãng.
- Trà ngon quá
Anh L cười rất to và nói một cách hãnh diện
- Quà của con gái anh ở “Thành phố” gửi về. Nó đi làm và có chồng trong đó…giàu lắm…tí nữa anh dắt em đi thăm các phòng, tiền của nó gởi cho anh đó, từ bàn ghế tủ giường TV, tủ lạnh, máy giặt…tiền của nó cả. Lương của nó hiện nay là 10 triệu một tháng, tiền thưởng ngày Tết, ngày Lễ chưa nói.
Tôi bị sốc bởi từ “thành phố” (gọi tắt Thành phố HCM) bây giờ có khá nhiều người dùng từ này để chỉ Sài gòn, nó như một chỉ dấu cho ta biết quan điểm của người đó. Nếu không phải là VC cũng là thành phần ăn theo.
Cũng như 18 năm trước anh không cho tôi cơ hội để nói với anh điều tôi muốn nói. Anh nói về những lời Chúa dạy…về những câu chuyện nhiệm màu…trong kinh sách và trong đời thường…có những câu chuyện rất cảm động…Rồi 30 phút nửa trôi qua anh vẫn thao thao bất tuyệt…vì anh là Thầy truyền đạo nên anh quên mất tôi là bạn anh…tôi cần sự trao đổi giữa 2 người bạn.
Trời mùa đông nhanh tối mới hơn 5 giờ mà đã chập choạng…chờ một cơ hội để chào anh nhưng phải mất 30 phút sau mới có cơ hội đó.
- Bây giờ tối rồi tôi phải về anh ạ…hẹn anh khi khác có thời gian mình sẽ trao đổi nhiều hơn
Anh tiễn tôi ra đến cửa.
Tuần sau anh đến nhà tôi, chúng tôi ngồi uống trà trong không khí ấm cúng của một chiều mùa đông nắng đẹp. Tôi mong rằng lần này anh sẽ nói về những người bạn để tôi biết thêm một chút về đời sống của họ…nhưng tôi thất vọng vì anh lại nói với tôi y chang những gì anh nói lần trước…Vạn bất đắc dĩ tôi phải ngắt lời anh.
- Anh L à, niềm tin Tôn giáo là điều đáng quý trọng nhưng cũng phải biết là mình đang sống giữa đời thường với những vấn đề thiết thực cho mình cho cộng đồng như giáo dục, môi trường, đạo đức và sự công bằng xã hội, tương lai của đất nước và dân tộc, vì mình là một bộ phận của dân tộc và đất nước này, mình không thể tồn tại một cách biệt lập với quê hương đất nước được…
Tôi tranh thủ nói với anh về Hoàng sa, Trường sa và lãnh thổ, lãnh hải Việt nam đang bị TC xâm thực từng ngày và nguy cơ mất nước là nhãn tiền, vấn đề khai thác Bô xít và ô nhiễm môi trường, tôi nói vội vàng vì sợ anh cắt lời.
- Sự hung hăng, tham tàn của TC với những vụ bắn giết, bắt bớ, tống tiền, sỉ nhục, ngược đãi ngư dân VN, danh dự quốc gia bị chà đạp và sự sinh tồn của đất nước bị đe dọa, nếu mất nước thì tôn giáo còn đâu chỗ nương tựa và sẽ tiêu vong.
Anh trả lời tôi: Tôi không quan tâm đến vấn đề chính trị!
Tôi cố trấn tĩnh hỏi anh: Anh có đi bầu cử không?
- Có chứ
- Như vậy là anh đã có một quyết định chính trị rồi, cũng như anh gọi Sài gòn là thành phố Hồ chí Minh, đó là thái độ chính trị đó anh ạ!
Anh L lặng thinh có vẻ khó chịu, nhưng tôi quyết định nói với anh một lần rồi chấm dứt…để không bị làm phiền.
- Anh L à, tôi và anh đều là những người có niềm tin tôn giáo, anh Tin Lành, tôi Phật giáo, nhưng mình cũng là công dân VN, đang sống trên mãnh đất này. Tôi yêu đất nước này vì tôi là một phần trong đó, hơn nữa ở đó có cha mẹ, anh em, các con tôi, vợ tôi, bạn bè và những người thân yêu của tôi, ông bà và Tổ tiên của tôi, dân tộc tôi. Tôi yêu đất nước này vì tôi yêu các con tôi, vợ tôi những người thân của tôi, bạn bè tôi, những kỷ niệm của tôi. Tôi yêu đất nước này cũng như tôi yêu chính tôi và những gì thuộc về tôi cho nên tôi phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra cho đất nước tôi, dân tộc tôi.
Anh chận tôi lại:
- Đối với tôi Nước Chúa mới là đất nước của tôi, còn đất nước này tôi không quan tâm, ngày Thiên Chúa trở lại đã đến rất gần tôi không cần gì ở đất nước này.
Đến đây thì tôi không thể chịu đựng nổi, tôi chất vấn anh:
- Anh có đồng ý với tôi rằng cái tên LN của anh, thân hình cao lớn tốt đẹp của anh, một người vợ hiền thục và các con rất ngoan, rất giỏi của anh là ơn phước mà Thiên chúa ban cho anh không?!
Anh ta lặng thinh
- Anh được làm người VN, sống trên đất nước VN đó là ý Chúa, là ơn phước Ngài dành cho anh, anh nói anh không cần đất nước này, nói như vậy anh có thấy là đã phụ ơn Thiên chúa không? Là người vô ơn không?...Tất cả những gì anh có đều là ơn phước Thiên chúa dành cho anh đó, cả cái tên LN nữa…đáng lẽ anh phải cảm tạ ơn phước của Ngài bằng cách giữ gìn, bảo vệ, xây dựng cho tốt đẹp hơn những gì anh được hưởng …gia đình, con cái, đất nước, dân tộc này….đó là cách để đền ơn và vinh danh Thiên chúa…nói như anh thì vô ơn quá, là xúc phạm Thiên chúa!!!
Anh ta đứng lên ra về không buồn chào tôi một tiếng.
Tôi có những người bạn là tín hữu đạo Tin lành VN, họ là Mục sư, Thầy truyền đạo, họ vẫn nói với tôi và mọi người rằng họ không màng đến Chính trị, ngày Thiên Chúa trở lại đã rất gần, họ không cần gì cả, không cần đất nước này, nước của họ là nước Chúa.
Tôi kính trọng và cảm động trước niềm tin của họ, nhưng cảm thấy họ là những người dối trá. Họ nói không cần đất nước này, không cần gì cả vì ngày Chúa trở lại đã rất gần, nhưng họ tìm mọi cơ hội để thăng tiến, họ cho con cái đi du học, kết hôn với người ngoại quốc, Việt kiều, tích lũy tài sản (để làm gì?!)..Họ dối gạt mình, dối gạt người khác và dối gạt Thiên Chúa!!! Vì sao?...theo tôi vì sợ hãi và vị kỷ…sợ hãi và vị kỷ nên tránh né sự thật không dám gánh vác trách nhiệm.
Tôi thấy buồn và lấy làm lạ: Những người Công giáo cũng là con cái Thiên Chúa nhưng họ lại dấn thân đấu tranh cho tự tự do Tôn giáo, cho công lý, họ coi đất nước này là tặng phẩm thiêng liêng của Thiên Chúa mà họ phải có trách nhiệm giữ gìn.
Vì đâu nên nỗi??!!
Tôi mạo muội quay về quá khứ để tìm câu trả lời.
Trước năm 1975 người dân được tự do bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình. Bất cứ ở nơi đâu, ở tầng lớp nào trong xã hội cũng bàn luận về chính trị về tình hình đất nước mà không sợ ai cấm đoán hay bỏ tù…Từ những vị Linh Mục, Mục sư, Tu sĩ Phật giáo, Cao Đài, từ nhà giáo đến anh xích lô, từ bác nông dân cho đến các bà bán cá bán tôm bán rau ngoài chợ, ai ai cũng nói chuyện chính trị, chuyện quốc gia đại sự.
Miền nam lúc đó có những cuộc xuống đường đấu tranh thường xuyên và liên tục (nhiều khi quá khích)…Huế , Sài gòn, Đà nẵng, Tam kỳ…Học sinh, sinh viên, nông dân, Thương phế binh, các Tôn giáo…Mỗi người, mỗi đoàn thể xuống đường đấu tranh với những mục đích khác nhau…Báo chí thì lên án, chỉ trích Chính quyền.
Chưa luận đến những cuộc đấu tranh xuống đường đó là đúng hay sai, nhưng ít nhất đó là cái quyền chính đáng của người dân trong chế độ Dân chủ…thể hiện chính kiến và quyền làm chủ vận mệnh của mình. Việt nam Cộng hòa lúc đó là một nhà nước Dân chủ, sinh động và đầy sức sống.
Sau khi Hoa Kỳ rút quân và cắt hoàn toàn viện trợ, Việt nam Cộng hòa một mình đối đầu với 3 thế lực lớn: Miền Bắc CS, Trung Cộng, và Liên Xô. Tương quan lực lượng chênh lệch quá lớn nên VNCH bị bức tử, xóa sổ một nhà nước tiên tiến nhất khu vực Đông nam Á lúc đó.
Sau 1975 chính quyền “Cách mạng” thường hay răn đe người dân là không được bàn luận chuyện chính trị nếu không sẽ bị nghiêm trị, một không khí sợ hãi bao trùm. Lúc đó không ai bảo ai đều phải biết giữ mồm giữ miệng vì nhìn thấy hàng trăm ngàn người thuộc chế độ cũ phải đi “Học tập cải tạo” không biết ngày về, rồi những vụ án Chính trị nổ ra khắp nước với rất nhiều bản án tử hình, chung thân, 20 năm làm người dân khiếp đảm…(riêng người viết bài này chỉ vì một tập truyện “Di tản” và một số truyện ngắn khác mà phải chịu bản án 10 năm tù, 4 năm quản chế, lúc đó các con tôi còn rất nhỏ: 4 tuổi, 6 tuổi và 8 tuổi, các cháu lại mồ côi mẹ, nỗi bất hạnh và đau đớn này không gì bù đắp nỗi, không bao giờ nguôi ngoai được)… cộng với chế độ Hộ khẩu, tem phiếu và một chính quyền chuyên chính vô sản nghiệt ngã làm cho người dân co rút lại sống trong bóng tối và sự yên lặng…lâu dần thành quen…không ai còn dám bày tỏ quan điểm và chính kiến của mình, họ sợ hãi chính suy nghĩ của họ, họ phải luôn luôn tự "kiểm duyệt”.
Hơn 30 năm không được bày tỏ quan điểm chính kiến của mình một cách tự do, người dân dần mất đi khả năng tư duy, mất đi chính kiến. Vì không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do nên nhu cầu có chính kiến cũng không còn, một khi người dân không có chính kiến thì lấy gì trình bày (nó như một vòng luân chuyển hổ tương cái này có thì cái kia có).
Nhà cầm quyền muốn cho người dân cúi đầu lặng thinh để đất nước được ”ổn định”.
Một dân tộc không có chính kiến hoặc không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do là một dân tộc chết, một xã hội không có tự do phản biện là xã hội chết.
Tam kỳ 15/1/2010
Huỳnh Ngọc Tuấn
Huỳnh Ngọc Tuấn
Tôi ngồi trong tiệm cắt tóc nói chuyện với mấy người khách đang đợi, bắt đầu bằng chuyện sức khỏe, với nhận xét rằng bây giờ có rất nhiều người bị bệnh hiểm nghèo, những cái chết đột ngột, rồi đến chuyện ẩm thực cũng với những lời ta thán và phẫn nộ…một người khách nói:
- Thời buổi này không biết phải ăn uống ra sao? thịt gà thịt vịt thì bị cúm gia cầm, heo bò thì bị lở mồm long móng, cá thì bị ướp hóa chất độc hại để giữ cho tươi... bây giờ thì có cảnh báo rằng trái cây, nhất là trái cây nhập từ TQ bị nhiễm thuốc trừ sâu và chất độc, rau sống bây giờ cũng thế... ăn cái gì đây?.
Không ăn thì chết mà ăn cũng chết. Tôi có thằng cháu lên 5, bây giờ chăm sóc nó thật khó, chẳng biết cho cháu ăn cái gì? ăn cái gì cũng sợ..anh ta thở dài..tận thế mất!
Tôi nhập cuộc: Tất cả đều do con người làm nên, thượng đế đã ban cho nhân loại một thiên đường nhưng con người biến nó thành địa ngục: Những dòng sống chết, những cánh rừng và núi non bị tàn phá để khai thác gỗ, làm khu công nghiệp, ở VN mình người ta đang cho khái thác Bauxite ở Tây nguyên bất chấp những lời cảnh báo của những nhà khoa học và giới trí thức.
Một người đàn ông trạc 60, ăn mặc lịch sự, anh ta có vẻ thạo tin và ăn nói “bạo miệng”:
“Mấy ông này đã làm thì ai khuyên can được..quyền ở trong tay họ muốn làm gì thì làm..việc thành thì ổng nhận hết công lao, thất bại ổng đổ lỗi cho trời hoặc cho thế lực phản động nào đó, còn mấy ổng thì không bao giờ sai”
Ở những nước dân chủ văn minh, lãnh đạo sai là phải xin lỗi và từ chức, còn ở mình sai lầm càng lớn thì càng thăng quan tiến chức (anh ta lắc đầu chán ngán)
Một anh bạn trẻ, người vạm vỡ da ngăm đen, đôi mắt rực sáng và hơi lồi..làm cho khuôn mặt anh ta dễ gây sự chú ý của người khác, anh ta vừa nói vừa làm những cử chỉ ngộ nghĩnh.
- Ở nước người ta đa đảng, ở nước mình độc đảng, người ta coi dân như cỏ rác, ai cũng biết nhưng làm gì được nhau?!
Anh ta phá lên cười chắc có lẽ anh ta khoái chí vì đặt người khác vào thế bí..thế “triệt buộc”.
Người đàn ông có vẻ ấm ức.
- Nói thế chứ bây giờ VN mình đã hội nhập quốc tế..đâu phải muốn làm gì cũng được..hơn nữa bây giờ người dân cũng đã mạnh dạn lên tiếng..đó các ông thấy vụ Thái Hà, vụ tòa Tòa khâm sứ, vụ Tam Tòa, bây giờ là vụ Đồng chiêm..người dân đã đấu tranh đòi công lý chứ không còn sợ cường quyền như trước đây.
Anh thanh niên phản bác:
- Thôi chú ơi..ai mình không biết..ở đâu mình không biết chứ như con, như chú mà lên tiếng là đi luôn.. “một đi không trở lại”
Người đàn ông không chịu:
- Bây giờ đâu có dễ rứa?!
Anh bạn trẻ vẫn tiếp tục cách nói làm cho người khác bối rối:
- Không dễ hả, chỉ cần bắt chú lên vài ngày tiêm cho chú một mũi thuốc rồi thả về..một tuần sau là chú đi lang thang ngoài đường, hát nghêu ngao và đếm chuồn chuồn..con nói thiệt luôn đó!!.
Người đàn ông phản ứng yếu ớt:
- Làm như vậy dư luận sẽ biết..quốc tế sẽ biết.
Anh thanh niên vừa nghiêm túc vừa bỡn cợt:
- Còn một cách nữa, đuổi việc vợ chú, dàn cảnh để con chú bị tai nạn, họ không cần phải đụng đến chú mà chú cũng phải “tắt tiếng ca” luôn… Ông Cách mạng này ổng giỏi lắm…cái đầu của ổng đa hệ mà…con nói thiệt luôn đó!!...Chú thấy không trong những vụ đàn áp giáo dân Công giáo như vụ Thái Hà, Tam Tòa, con là người Công giáo con biết ổng dùng bọn lưu manh và nói là do “quần chúng tự phát”. Vừa mới đây vụ tăng đoàn Làng Mai ở chùa Bát nhã, ông Cách mạng này dùng bọn lưu manh côn đồ tấn công các vị tu sĩ rồi nói đó là tranh chấp nội bộ còn những phần tử lưu manh hành hung tu sĩ là ”quần chúng tự phát”….không biết trong tương lai ổng còn có độc chiêu nào nữa …đúng là ông Cách mạng này giỏi thật, đa hệ thật.
Lần này thì người đàn ông im bặt không phản ứng gì, ông giống như một người thất bại, anh thanh niên phá lên cười. Tôi vào cuộc để gỡ cho ông ta:
- Nếu có cái đầu đa hệ thì dùng nó để phục vụ đất nước, sáng tạo khoa học cho dân nhờ chứ ai lại đi làm việc thất đức hạ cấp như thế.
Người thanh niên:
- Vậy đó, làm gì được nhau?
Cách nói chuyện của anh chàng này làm người khác tức ách bụng!
Tôi nhớ lại khi mới mãn tù từ trại Nam Hà trở về, một người anh em họ xa hỏi tôi:
- Hồi ở trong tù, anh có bị người ta tiêm thuốc không?
Tôi nói:
- Trong 10 năm làm gì tránh được đau ốm, phải tiêm thuốc chứ..thậm chí rất nhiều.
Anh ta vỗ đùi cái bộp.
- Chết rồi.. vậy là anh không ổn rồi, anh không thọ được lâu đâu!
Một thời gian yên lặng trôi qua..căn phòng cắt tóc nhỏ hẹp, không khí u uất, lát sau người đàn ông lên tiếng:
- Tôi cũng biết ông cách mạng này đa hệ lắm, trong thời gian chiến tranh, ổng dùng vũ khí thu được của VNCH trong những trận đánh, bắn vào nhà dân rồi đổ lỗi cho Mỹ-Ngụy. Tôi nhớ năm 1972 học sinh trường Trưng nữ cắm trại ở sân vận động, bây giờ là chỗ cây xăng phường Hòa Hương. Đêm diễn văn nghệ mấy ổng cho du kích ném lựu đạn vào trại, nhiều người chết và bị thương toàn là nữ sinh..trong đó có con gái ông Mạnh úy (ông nhìn tôi và quay sang cậu thanh niên). Có biết tiệm thuốc tây Mạnh úy không?
Tôi trả lời:
- Tôi biết.. Cậu thanh niên thì không biết vì bây giờ tiệm thuốc tây đó không còn nữa mà gia đình họ giờ đi đâu cũng không rõ.
Ông nói tiếp:
- Sau năm 1975, người ném quả lựu đạn đó kể lại cho nhiều người nghe…bây giờ anh ta còn đó..làm bí thư xã đã nhiều năm.
Câu chuyện dần dần chuyển qua những đề tài khác.
Tôi nói về biển Đông, về Trường sa Hoàng sa, về việc Trung cộng bắn giết ngư dân, bắt cóc và đòi tiền chuộc..anh thanh niên có vẻ bực tức..
- Mấy ông cách mạng này đâu có lo bảo vệ đất nước, chỉ lo làm giàu, nếu mất nước thì ổng cùng gia đình vẫn hưởng đặc quyền, đặc lợi cho dù phải mang thân phận làm tay sai, chỉ có dân mình chết thôi!!
Người đàn ông nói rất khẽ:
- Nghe người ta nói ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyên Minh Triết, nhất là Nông Đức Mạnh được Trung quốc ủng hộ..đưa lên lãnh đạo cho nên mấy ổng phải phục vụ cho quan thầy đỡ đầu.
Đến lúc này thì anh thợ cắt tóc và vợ lên tiếng:
“Thôi thôi, em lạy mấy anh, mấy chú đừng nói chuyện chính trị ở đây, họ nghe được thì chết em, để cho em kiếm gạo nuôi con, thương vợ chồng và các con em, mấy anh mấy chú đến cắt tóc em rất cảm ơn nhưng em chỉ mong đừng nói chuyện chính trị!!!
Một người khách ngồi đợi nãy giờ im lặng cũng nói như thế.
- Công an hắn nghe được là chết cả đám.
Vậy là chúng tôi phải tạm gác câu chuyện đang nói dở, tôi rất thông cảm với vợ chồng người thợ cắt tóc, họ cũng như nhiều người VN khác nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh nặng nề trong tâm thức và nó được duy trì bởi chính sách đàn áp có khi tinh vi có khi thô thiển.
Khi sắp đứng lên nhìn vào gương tôi thấy một người đàn ông cao lớn, béo tốt đi vào, hơi ngỡ ngàng một chút tôi nhận ra anh LN, một người bạn cũ, anh là thầy truyền đạo thuộc giáo hội Tin Lành Việt nam…. Anh L N cũng nhận ra tôi sau một hồi bối rối, anh ta à lên một tiếng, giọng anh to khỏe oang oang, anh vỗ nhẹ vai tôi: T phải không?
- Dạ đúng rồi chào anh LN.
Anh bắt tay tôi thật chặc và nói.
- Tuấn ngồi đây đợi mình cắt tóc rồi về nhà nói chuyện…lâu quá mới gặp nhau.
Tôi nhìn những người khách còn ngồi đợi 1,2,3,4 tôi nói với anh:
- Thôi hẹn anh khi khác, em còn về Tam phú, chờ anh thì tối mất.
Một người khách nói vào:
- Còn lâu đấy, những 4 người nữa.
Vậy là anh L mời tôi về nhà anh, trên đường đi anh hỏi tôi:
- Lâu quá Tuấn hỉ, bao nhiêu năm rồi hỉ??
- Cũng gần 20 năm, chính xác là 18 năm.
Anh à lên một tiếng.
Nhà anh vẫn ở nguyên chỗ cũ, bây giờ xây dựng lại khang trang và tiện nghi.
Tôi ngồi ở phòng khách đợi anh pha trà, nhà vắng và rộng quá tạo nên một cảm giác trống trải. Tôi biết các cháu nhà anh đã lớn, có gia đình, hoặc đi làm xa nhưng tôi vẫn hỏi khi anh từ dưới nhà đi lên với ấm trà trên tay:
- Nhà vắng quá anh! Chị và các cháu đâu?
Anh ngồi xuống vừa rót trà vừa kể chuyện:
- Chị vẫn bán ngoài chợ, các cháu có gia đình cả rồi.
Sau 18 năm gặp lại câu đầu tiên anh nói với tôi:
- Chúa sắp trở lại. Tuấn nên tin Chúa để được cứu.
Tôi là một Phật tử nên luôn kính trọng niềm tin của người khác, tôi chỉ cười và đánh trống lãng.
- Trà ngon quá
Anh L cười rất to và nói một cách hãnh diện
- Quà của con gái anh ở “Thành phố” gửi về. Nó đi làm và có chồng trong đó…giàu lắm…tí nữa anh dắt em đi thăm các phòng, tiền của nó gởi cho anh đó, từ bàn ghế tủ giường TV, tủ lạnh, máy giặt…tiền của nó cả. Lương của nó hiện nay là 10 triệu một tháng, tiền thưởng ngày Tết, ngày Lễ chưa nói.
Tôi bị sốc bởi từ “thành phố” (gọi tắt Thành phố HCM) bây giờ có khá nhiều người dùng từ này để chỉ Sài gòn, nó như một chỉ dấu cho ta biết quan điểm của người đó. Nếu không phải là VC cũng là thành phần ăn theo.
Cũng như 18 năm trước anh không cho tôi cơ hội để nói với anh điều tôi muốn nói. Anh nói về những lời Chúa dạy…về những câu chuyện nhiệm màu…trong kinh sách và trong đời thường…có những câu chuyện rất cảm động…Rồi 30 phút nửa trôi qua anh vẫn thao thao bất tuyệt…vì anh là Thầy truyền đạo nên anh quên mất tôi là bạn anh…tôi cần sự trao đổi giữa 2 người bạn.
Trời mùa đông nhanh tối mới hơn 5 giờ mà đã chập choạng…chờ một cơ hội để chào anh nhưng phải mất 30 phút sau mới có cơ hội đó.
- Bây giờ tối rồi tôi phải về anh ạ…hẹn anh khi khác có thời gian mình sẽ trao đổi nhiều hơn
Anh tiễn tôi ra đến cửa.
Tuần sau anh đến nhà tôi, chúng tôi ngồi uống trà trong không khí ấm cúng của một chiều mùa đông nắng đẹp. Tôi mong rằng lần này anh sẽ nói về những người bạn để tôi biết thêm một chút về đời sống của họ…nhưng tôi thất vọng vì anh lại nói với tôi y chang những gì anh nói lần trước…Vạn bất đắc dĩ tôi phải ngắt lời anh.
- Anh L à, niềm tin Tôn giáo là điều đáng quý trọng nhưng cũng phải biết là mình đang sống giữa đời thường với những vấn đề thiết thực cho mình cho cộng đồng như giáo dục, môi trường, đạo đức và sự công bằng xã hội, tương lai của đất nước và dân tộc, vì mình là một bộ phận của dân tộc và đất nước này, mình không thể tồn tại một cách biệt lập với quê hương đất nước được…
Tôi tranh thủ nói với anh về Hoàng sa, Trường sa và lãnh thổ, lãnh hải Việt nam đang bị TC xâm thực từng ngày và nguy cơ mất nước là nhãn tiền, vấn đề khai thác Bô xít và ô nhiễm môi trường, tôi nói vội vàng vì sợ anh cắt lời.
- Sự hung hăng, tham tàn của TC với những vụ bắn giết, bắt bớ, tống tiền, sỉ nhục, ngược đãi ngư dân VN, danh dự quốc gia bị chà đạp và sự sinh tồn của đất nước bị đe dọa, nếu mất nước thì tôn giáo còn đâu chỗ nương tựa và sẽ tiêu vong.
Anh trả lời tôi: Tôi không quan tâm đến vấn đề chính trị!
Tôi cố trấn tĩnh hỏi anh: Anh có đi bầu cử không?
- Có chứ
- Như vậy là anh đã có một quyết định chính trị rồi, cũng như anh gọi Sài gòn là thành phố Hồ chí Minh, đó là thái độ chính trị đó anh ạ!
Anh L lặng thinh có vẻ khó chịu, nhưng tôi quyết định nói với anh một lần rồi chấm dứt…để không bị làm phiền.
- Anh L à, tôi và anh đều là những người có niềm tin tôn giáo, anh Tin Lành, tôi Phật giáo, nhưng mình cũng là công dân VN, đang sống trên mãnh đất này. Tôi yêu đất nước này vì tôi là một phần trong đó, hơn nữa ở đó có cha mẹ, anh em, các con tôi, vợ tôi, bạn bè và những người thân yêu của tôi, ông bà và Tổ tiên của tôi, dân tộc tôi. Tôi yêu đất nước này vì tôi yêu các con tôi, vợ tôi những người thân của tôi, bạn bè tôi, những kỷ niệm của tôi. Tôi yêu đất nước này cũng như tôi yêu chính tôi và những gì thuộc về tôi cho nên tôi phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra cho đất nước tôi, dân tộc tôi.
Anh chận tôi lại:
- Đối với tôi Nước Chúa mới là đất nước của tôi, còn đất nước này tôi không quan tâm, ngày Thiên Chúa trở lại đã đến rất gần tôi không cần gì ở đất nước này.
Đến đây thì tôi không thể chịu đựng nổi, tôi chất vấn anh:
- Anh có đồng ý với tôi rằng cái tên LN của anh, thân hình cao lớn tốt đẹp của anh, một người vợ hiền thục và các con rất ngoan, rất giỏi của anh là ơn phước mà Thiên chúa ban cho anh không?!
Anh ta lặng thinh
- Anh được làm người VN, sống trên đất nước VN đó là ý Chúa, là ơn phước Ngài dành cho anh, anh nói anh không cần đất nước này, nói như vậy anh có thấy là đã phụ ơn Thiên chúa không? Là người vô ơn không?...Tất cả những gì anh có đều là ơn phước Thiên chúa dành cho anh đó, cả cái tên LN nữa…đáng lẽ anh phải cảm tạ ơn phước của Ngài bằng cách giữ gìn, bảo vệ, xây dựng cho tốt đẹp hơn những gì anh được hưởng …gia đình, con cái, đất nước, dân tộc này….đó là cách để đền ơn và vinh danh Thiên chúa…nói như anh thì vô ơn quá, là xúc phạm Thiên chúa!!!
Anh ta đứng lên ra về không buồn chào tôi một tiếng.
Tôi có những người bạn là tín hữu đạo Tin lành VN, họ là Mục sư, Thầy truyền đạo, họ vẫn nói với tôi và mọi người rằng họ không màng đến Chính trị, ngày Thiên Chúa trở lại đã rất gần, họ không cần gì cả, không cần đất nước này, nước của họ là nước Chúa.
Tôi kính trọng và cảm động trước niềm tin của họ, nhưng cảm thấy họ là những người dối trá. Họ nói không cần đất nước này, không cần gì cả vì ngày Chúa trở lại đã rất gần, nhưng họ tìm mọi cơ hội để thăng tiến, họ cho con cái đi du học, kết hôn với người ngoại quốc, Việt kiều, tích lũy tài sản (để làm gì?!)..Họ dối gạt mình, dối gạt người khác và dối gạt Thiên Chúa!!! Vì sao?...theo tôi vì sợ hãi và vị kỷ…sợ hãi và vị kỷ nên tránh né sự thật không dám gánh vác trách nhiệm.
Tôi thấy buồn và lấy làm lạ: Những người Công giáo cũng là con cái Thiên Chúa nhưng họ lại dấn thân đấu tranh cho tự tự do Tôn giáo, cho công lý, họ coi đất nước này là tặng phẩm thiêng liêng của Thiên Chúa mà họ phải có trách nhiệm giữ gìn.
Vì đâu nên nỗi??!!
Tôi mạo muội quay về quá khứ để tìm câu trả lời.
Trước năm 1975 người dân được tự do bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình. Bất cứ ở nơi đâu, ở tầng lớp nào trong xã hội cũng bàn luận về chính trị về tình hình đất nước mà không sợ ai cấm đoán hay bỏ tù…Từ những vị Linh Mục, Mục sư, Tu sĩ Phật giáo, Cao Đài, từ nhà giáo đến anh xích lô, từ bác nông dân cho đến các bà bán cá bán tôm bán rau ngoài chợ, ai ai cũng nói chuyện chính trị, chuyện quốc gia đại sự.
Miền nam lúc đó có những cuộc xuống đường đấu tranh thường xuyên và liên tục (nhiều khi quá khích)…Huế , Sài gòn, Đà nẵng, Tam kỳ…Học sinh, sinh viên, nông dân, Thương phế binh, các Tôn giáo…Mỗi người, mỗi đoàn thể xuống đường đấu tranh với những mục đích khác nhau…Báo chí thì lên án, chỉ trích Chính quyền.
Chưa luận đến những cuộc đấu tranh xuống đường đó là đúng hay sai, nhưng ít nhất đó là cái quyền chính đáng của người dân trong chế độ Dân chủ…thể hiện chính kiến và quyền làm chủ vận mệnh của mình. Việt nam Cộng hòa lúc đó là một nhà nước Dân chủ, sinh động và đầy sức sống.
Sau khi Hoa Kỳ rút quân và cắt hoàn toàn viện trợ, Việt nam Cộng hòa một mình đối đầu với 3 thế lực lớn: Miền Bắc CS, Trung Cộng, và Liên Xô. Tương quan lực lượng chênh lệch quá lớn nên VNCH bị bức tử, xóa sổ một nhà nước tiên tiến nhất khu vực Đông nam Á lúc đó.
Sau 1975 chính quyền “Cách mạng” thường hay răn đe người dân là không được bàn luận chuyện chính trị nếu không sẽ bị nghiêm trị, một không khí sợ hãi bao trùm. Lúc đó không ai bảo ai đều phải biết giữ mồm giữ miệng vì nhìn thấy hàng trăm ngàn người thuộc chế độ cũ phải đi “Học tập cải tạo” không biết ngày về, rồi những vụ án Chính trị nổ ra khắp nước với rất nhiều bản án tử hình, chung thân, 20 năm làm người dân khiếp đảm…(riêng người viết bài này chỉ vì một tập truyện “Di tản” và một số truyện ngắn khác mà phải chịu bản án 10 năm tù, 4 năm quản chế, lúc đó các con tôi còn rất nhỏ: 4 tuổi, 6 tuổi và 8 tuổi, các cháu lại mồ côi mẹ, nỗi bất hạnh và đau đớn này không gì bù đắp nỗi, không bao giờ nguôi ngoai được)… cộng với chế độ Hộ khẩu, tem phiếu và một chính quyền chuyên chính vô sản nghiệt ngã làm cho người dân co rút lại sống trong bóng tối và sự yên lặng…lâu dần thành quen…không ai còn dám bày tỏ quan điểm và chính kiến của mình, họ sợ hãi chính suy nghĩ của họ, họ phải luôn luôn tự "kiểm duyệt”.
Hơn 30 năm không được bày tỏ quan điểm chính kiến của mình một cách tự do, người dân dần mất đi khả năng tư duy, mất đi chính kiến. Vì không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do nên nhu cầu có chính kiến cũng không còn, một khi người dân không có chính kiến thì lấy gì trình bày (nó như một vòng luân chuyển hổ tương cái này có thì cái kia có).
Nhà cầm quyền muốn cho người dân cúi đầu lặng thinh để đất nước được ”ổn định”.
Một dân tộc không có chính kiến hoặc không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do là một dân tộc chết, một xã hội không có tự do phản biện là xã hội chết.
Tam kỳ 15/1/2010
Huỳnh Ngọc Tuấn

