Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

SỰ TÍCH HOA MAI
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá núi đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé mới lên năm ấy đã lấy một gáo nước to dội luôn lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt. Ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:
- Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé trong chốc lát. Một hôm thương ông, cô em hỏi:
- Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?
-Có chứ! Năm sắp hết. ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:
- Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con chép này đây!
Con cá chép vụt biến mất. Tối hăm ba Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép như cưỡi ngựa, bay ra khỏi nhà và bay cao mãi lên trời... Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:
- Còn thú ác thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Lên năm cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn, quyền và đao kiếm. Cô tuy bé người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, và về sức mạnh của đôi tay cô, người cha cũng phải kinh ngạc. Lên chín, cô đã hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé đã thưa ngay:
- Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.
Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ... Trong vùng bỗng xuất hiện một con quái đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Vì con quái vật chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:
- Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái ác là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.
Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin con quái đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:
- Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.
Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:
- Cháu thấy con quái có sợ không?
- Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

Người cha sau đó bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc. Bệnh người cha có đỡ, nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một con quái cũng đầu người nhưng mình trăn. Con quái này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó lại cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc đến mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết con quái đầu người mình báo vào diệt quái giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:
- Liệu con có nhận lời đi giúp bà con không?
Cô gái nhỏ liền đáp:
- Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!
Người cha nói:
- Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.
- Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái thì dữ ác mà con bé thì mới mười bốn tuổi, tôi sợ lắm.
- Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi.
Cô gái nhỏ liền thưa:
- Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái. Bà con đã ra nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái sẽ trở về ngay.
Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:
- Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?
Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi, rồi đáp:
- Con rất thích màu vàng!

Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:
- Diệt xong con quái lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa...
Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo đá núi và hứa:
- Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.
Ông Táo liền hiện ra nói:
- Chúc hai cha con mau trừ được quái. Ông sẽ chờ ngày trở về...
Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có con quái đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai người liền đi tìm quái để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha thì cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:
- Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ đâm một con dao găm chặt đuôi nó vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm.
Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:
- Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.
- Cha cứ yên tâm.

Ngày hôm sau theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu con quái thì cũng bị con quái quấn gẫy cả xương mềm nhũn cả người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi cả thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ.

Nhưng cô gái đâu chịu chết như vậy. Vì cô biết rằng cha mẹ chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin thần Đất giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo đá núi:
- Ông ơi! Cháu bị con quái quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì mẹ cháu, chị cháu làm sao sống nổi. Vậy đêm nay hăm ba Tết, ông có về trời ông hãy tâu với trời cho cháu sống lại...
Ông Táo đá núi liền hứa:
- Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu...
Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết giấc bên bếp lửa. ông Táo đá núi liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:
- Bà cứ yên tâm. Đêm nay về trời, tôi sẽ xin trời cho cháu sống lại.
Hai mẹ con nghe nói mừng quá liền sụp xuống lạy tạ ơn. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. ông nói với hai mẹ con:
- Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được chín ngày.

Hai mẹ con nghe nói vừa buồn nhưng cũng vừa mừng. Thôi cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi. Huống gì lại được thấy đến chín ngày. Bà mẹ liền hỏi:
- Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?
- Tùy hai mẹ con cứ cầu trời sống từ ngày nào, trời sẽ cho ngày ấy.
- Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!
- Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!
- Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!
Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Chờ mãi rồi trời cũng tối thật. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:
- Mẹ ơi! Chị ơi!
Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về. Trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau người cha cũng từ vùng trong trở về. Dọc đường thương con, thương vợ ông chưa biết sẽ nói gì cho vợ và con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng chín ngày. Trong chín ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ, giúp chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong chín ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ chín trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha, mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến chuyện Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại ôn ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi... Và năm sau, cũng vào chiều hai chín Tết, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng Bảy lại ra đi... Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái đầu người mình trăn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời. Từ đấy hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống chín ngày cuối năm, đầu Xuân với cha mẹ, với bà con vùng trong. Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

Hoa vui Tết với bà con khoảng chín mười ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và ở Nam Bộ, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.

Bài Sưu Tầm

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sứ Giả Của Tình Yêu

Truyện Nguyên Nhung
Khi đứa cháu ra đời thì sự căng thẳng giữa hai ông bà tạm thời lắng xuống, tự nhiên cả hai cùng có ý nghĩ phải giữ gìn vì đứa con dâu vừa ở cữ còn nằm trong nhà. Đã nhiều lần bà nổi cáu định hét lên với ông như mọi bận, nhưng rồi lại nén kịp khi nghe đứa cháu ọ ẹ trong phòng mẹ nó.

Dạo trước họ cãi nhau luôn, dù chả có chuyện gì quan trọng ở cái tuổi sáu mươi ấy nữa.Nhưng thật là kỳ cục, có những chuyện ngày còn trẻ họ dễ dàng tha thứ cho nhau, nay đến lúc tuổi già, ông nói một câu bà trả lời ngay một tiếng, thế là cái tức nó cứ ngùn ngụt dâng lên tận họng như ngọn núi phun lửa. Mới đầu thì ông bực lắm, nhưng sau nhờ đọc mấy cuốn sách nói về tâm sinh lý tuổi già, ông cũng tạm thời thông cảm cho vợ cái tuổi trẻ không ra trẻ, già chẳng ra già, nên ráng nhịn cho đến khi nào cái núi nó bớt phun lửa rồi thì cũng đâu vào đấy.

Nguyên nhân cũng dễ hiểu, cứ cho là “tại anh, tại ả, tại cả đôi bên” thì ông cũng có dự phần trong cái chuyện chiến tranh trong nhà. Chẳng là ông đã trải qua nhiều năm phải im lặng ở trong tù, lúc được về, vẫn cái thân “cá chậu chim lồng” nên đành nín thở qua sông” vậy. Bây giờ qua đây được dịp nói, ông nói cho hả những lúc phải "ngậm miệng cười ruồi" cho cái nhân tình thế thái đảo điên. Tuổi già thường quay trở về dĩ vãng, mỗi lúc nhàn rỗi nó lại hiện về mồn một như cuộn phim, bởi vậy trong ông bừng sống dậy một người trẻ tuổi của mấy chục năm trước, ông muốn phục hồi quyền “công dân” cho mình, bằng cách lúc nào có dịp là lại bắt đầu câu chuyện bằng hai chữ “ngày xưa”. Ngày xưa thế này, ngày xưa thế nọ, lũ con ông chỉ cười rồi bỏ đi, có đứa nào muốn nghe mãi chuyện "ngày xưa" của ông. Chỉ có mỗi mình bà lúi xúi suốt ngày ở trong nhà, cái chuyện “ngày xưa” của ông thì bà còn lạ gì nữa. Thét rồi bà cũng nhớ, cái ngon lành của ông ngày xưa thì bà nhớ ít, còn những cái kỳ cục ngày xưa của ông thì bà nhớ nhiều, bởi vậy hễ ông mở miệng là bà chẹn họng, họ cãi nhau là vậy.

Thằng con trai đầu lòng lấy vợ muộn cho nên ông bà chậm có cháu, bởi vậy sự ra đời của đứa nhỏ là niềm vui cho cả gia đình. Lúc mới đẻ nó giống mẹ như khuôn, từ đôi mắt cho đến cái miệng, bà chỉ thấy có mỗi “cái ấy” của cháu là giống bố, vì nó là con trai. Bên này, trẻ con được bọc tã suốt ngày, chứ ngày xưa thằng bố nó cứ chổng lên trời mà phun nước, có khi vọt ngược bởi cú giơ chân, mặt mũi ướt tèm lem cả.

Ðược bốn, năm tháng thằng bé bụ bẫm hẳn ra, mớ tóc tơ loăn xoăn, mượt mà phủ lấy cái đầu to, cả nhà quả quyết thằng bé thông minh như nhà bác học to đầu đã đem ánh sáng đến cho nhân loại. Càng lớn trông thằng bé lại càng dễ thương, đôi mắt to có vẻ mơ màng dưới hàng mi cong, chiếc môi cũng hơi cong tạo nên một vẻ nũng nịu rất dễ yêu, lúc này bà lại thấy cháu giống y bố nó hồi còn bé. Phân tách riêng từng phần, thằng bé có vẻ giống mẹ, nhưng cứ tổng hợp tất cả lại, thằng bé lại giống bố, bố nó lại giống ông nội nó.

Ái chà! Hễ nhắc đến ông nội thằng bé, bà không thể nào không nhớ lại hình ảnh ông những ngày còn trẻ, dạo ấy ông không lẩm cẩm và khó chịu như bây giờ. Của đáng tội, cũng chỉ lẩm cẩm và khó chịu mấy năm nay, chứ lúc còn trong tù, rồi cho đến lúc ra, tính ông vẫn xuề xòa, dễ thương sao cũng được, chứ không làm sao bà chịu nổi, để có ngày vợ chồng con cái có cơ hội dẫn nhau đi Mỹ.

Mỗi lần nhìn cháu, bà như nhìn thấy hình ảnh thằng bố nó lúc còn bé, cũng vầng trán vuông vắn, sáng rỡ, nụ cười trẻ thơ toác ra khoe mấy chiếc răng sữa, rồi cả mùi thơm trên đôi má phính, cái nào nó cũng làm bà xúc động hết. Thằng nhỏ thông minh thật, biết bà nội cưng nên cứ giẫy nẩy trong chiếc xe nôi, nó ngoác mồm la nhưng không chảy nước mắt. Bà sốt ruột bế cháu lên:

“Thằng bố mày, nặng gì mà nặng gớm, vẹo cả xương sườn bà đây.”

Nói thế thì nói, một tay bà nách cháu, một tay bà quậy “soong” bột trên bếp. Thằng bé nín khóc, nó ngửi thấy mùi bột thơm và cả mùi nước mắm nữa. Món khoái khẩu đấy, không biết Tây Mỹ nêm nếm bằng gì, chứ hễ quậy bột cho cháu bà luôn nêm vào một tị nước mắm. Thằng cháu ăn mãi đâm ghiền, hôm nào mẹ nó ở nhà cho ăn mấy hũ "baby food" bán ngoài chợ, nó vừa ăn vừa phun phèo phèo. Bà biết cháu bà mà, nó thèm ăn tỵ nước mắm thôi, và chỉ có bà nội nó biết tại sao thằng nhỏ lại chê đồ ăn Mỹ khi mẹ nó ở nhà đút cho con ăn vào ngày chủ nhật.

Hai vợ chồng bận đi làm cả, sợ phiền ông bà nên muốn đem thằng bé gửi Day Care, nhưng ông bà nhất định không chịu. Già rồi, ở nhà làm gì không giữ cháu, nhất là buổi sáng bố mẹ nó đi làm sớm quá, những ngày Ðông trời rét căm căm, nhìn thằng bé trong chiếc khăn to xù đi nhà trẻ mà cứ thương đứt ruột. Quan niệm “nước mắt chảy xuống” của cha mẹ Việt Nam đã không cho người già những giây phút nghỉ ngơi riêng tư, đám trẻ ngày nay mấy đứa đã hiểu cho sự hy sinh ấy, cứ cho là chuyện tự nhiên. Có “thức lâu mới biết đêm dài”, cha mẹ càng ngày càng già, thời gian đã cướp đi gần hết sinh lực để héo queo như một quả cam kiệt nước, còn lại cái vỏ không muốn rụng lúc nào chả được.

Từ dạo có cháu ông đã bớt nói nhiều, mấy lần định ca cẩm chuyện gì, thằng cháu lại tưởng ông nói chuyện với nó nên toét miệng cười, ông lo ầu ơ với cháu nên quên ngay những cái bực mình. Sự ra đời của đứa cháu như mở màn cho một thế hệ tiếp nối bằng tiếng khóc, tiếng cười của trẻ thơ, nó khiến lòng ông vui vẻ để bớt ngậm ngùi dĩ vãng. Ông như cây thông già, thỉnh thoảng có gió thổi qua lại reo lên với đất trời, để rồi lại làm cái bóng lặng lẽ che cho người lữ khách ven đường. Ðứa cháu ông như cái bóng của ông ngày nào, nó đã được sinh ra để thắt lại tình cảm có vẻ đã rời rã, cằn cỗi theo tuổi đời của ông bà nó, vun đắp tình yêu của bố mẹ nó thêm bền chặt, và là cái mầm non sẽ nẩy thành lá, thành hoa cho gia đình ông.

Lòng yêu cháu đã khiến ông phải hy sinh nhiều thứ, dù nhỏ nhặt nhưng khi phải từ bỏ một thói quen đã lâu, quả ông cũng phải tranh đấu với bản thân dữ dội lắm. Dạo trong tù, không có thuốc lá để hút, ông và các bạn đã phải thay thế bằng những “bi” thuốc lào hiếm như vàng. Mùa Ðông lạnh, nhớ vợ con không ngủ được, bên đống củi sưởi ấm của nhà tù miền Bắc, ông và bạn tù say lâng lâng hơi thuốc lào để quên đi phần nào nỗi đớn đau, nhục nhằn nơi sơn lâm, chướng khí, cái rét buốt của tâm hồn âm ỉ nhưng mãnh liệt, tàn khốc hơn cả cái rét buốt của mùa đông miền Bắc.

Nay nghe cả nhà nói xa, nói gần về mùi khói thuốc luẩn quẩn trong căn nhà hẹp, ảnh hưởng không tốt đến cơ thể đứa cháu yêu, cũng như chính cơ thể ông. Không ai bảo ông bỏ thuốc nhưng tự ông thấy mình phải bỏ, khi nhìn đứa cháu bụ bẫm, dễ yêu thế kia, mà lúc nào ông cũng muốn đặt lên đôi má phúng phính ấy những nụ hôn, đã phải thở hít mùi khói thuốc không lấy gì thơm tho , trong diện tích chật chội cuả căn nhà khiến ông phải suy nghĩ. Ông bỏ thuốc thật, cả nhà ai cũng ngạc nhiên, lúc đầu thật khó chịu, lạt mồm, lạt miệng, lơ ngơ, bần thần như người mất hồn. Dân ghiền thuốc có câu:

“ Nhớ ai như nhớ thuốc lào,
Ðã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Ông vứt điếu vào thùng rác, rồi có lúc tưởng phải đi mua ngay một chiếc khác, nhưng chỉ cần nhìn thằng cháu bi bô gọi ông, gọi bà, giụi mái tóc tơ vào ngực ông là ông có đủ can đảm bỏ tất cả, kể cả phù vân ảo ảnh cuộc đời , cũng vì sức khỏe của cháu. Ôi! Những “giọt nước mắt chảy xuống” có ông là người tiêu biểu, để thấy lòng yêu thương của ông bà như giòng suối róc rách từ trên đỉnh núi chảy xuống.

Những ngày cháu mọc răng, những lúc cháu ấm đầu khóc cả ngày, bố mẹ nó mệt ít mà ông bà mệt nhiều. Suốt ngày bà băn khoăn sờ đầu cháu, hôn lên vầng trán phẳng phiu của đứa bé để ước định nhiệt độ trong cơ thể nó. Thằng bé cự nự vì khó chịu trong người, có lúc bà ao ước được ốm thay cho cháu, để biết được nó đau ở chỗ nào và đau làm sao, vì thằng bé chưa biết nói. Nói thế thôi, chứ bà mà lăn ra ốm là nguy to, lấy ai cơm nước, lấy ai vỗ về thằng bé, công việc của bà tuy không làm ra tiền, nhưng linh tinh suốt ngày chưa chắc ai đã làm nổi.

Thời trẻ tuổi, cũng như bao nhiêu người đàn ông khác, thành công của họ được đánh giá bằng sự ngưỡng mộ của phụ nữ, cho nên ông cũng thích thú với những mối tình văn nghệ của mình, để bà cứ ấm ức mãi đến tận bây giờ. May cho ông, lúc tù tội bà không bỏ rơi, vẫn thăm nuôi đầy đủ, con cái ăn học đàng hoàng, chứ còn đám “mèo mả gà đồng” kia, nó biến ngay từ lúc ông rũ áo phong sương với mai vàng, mai bạc, để trở thành người không chỗ đứng trong xã hội. Bây giờ ông mới càng thương vợ, vì ngày còn trẻ, ông chưa thấy thích thú lắm để lúc nào cũng quấn quýt bên vợ con, ông mặc kệ bà với lũ con, như đấy là bổn phận của bà, cho nên ông không nhìn thấy cái vất vả của người phụ nữ trong trách nhiệm làm vợ và làm mẹ.

Từ lúc có cháu ông mới thấy thương bà hơn, mới thấy cần phải đỡ đần công việc nhà cho vợ. Dạo trước, cứ ăn xong là ông “khểnh” ra đọc báo, xem Tivi, uống trà để rồi lại bắt đầu e hèm câu chuyện “ngày xưa”. Nhiều lần cãi nhau cũng chỉ vì chuyện ấy, mặt sưng mày xỉa với nhau đôi ngày rồi thì vẫn cơm chung một niêu, ngủ chung một giường để tha hồ "đồng sàng mà dị mộng". Bây giờ thì ông đã hiểu tại sao bà hay chẹn họng ông, chống lại ông vì không thể nghe nổi một câu chuyện nói đi nói lại hằng trăm lần.

Năm nay, tết lại trùng vào ngày Valentine, nên thiên hạ nhốn nháo lên chuyện mua hoa hồng tặng nhau. Trời lạnh ghê gớm, hoa nào cũng rũ xuống rồi héo như dưa cải. Ông thầm nghĩ: “Lại phú quý sinh lễ nghĩa”, xứ này chả thiếu gì cảnh tặng nhau một ôm hoa hồng, tíu tít những lời yêu đương mật ngọt như chè thưng, nhưng ba bảy hăm mốt ngày đã rã đám. Ông hè hụi ra “patio” khênh vào nhà hai chậu hồng tiểu muội nở hoa be bé xinh xinh, rồi hì hục ra vườn lựa thêm vài nhánh đào, đang hé nụ sau khi giành giật sinh tử với gió rét mùa Đông, cả cái vườn cũng chỉ còn có thế. Nghe động tĩnh ngoài cửa, chỉ sợ làm dở giấc ngủ cuả cháu chưa gì bà đã trợn mắt lên với ông:

“ Cháu nó đang ngủ, ông làm gì ồn thế?”

Ông chép miệng:

“Úi chà! Bà quý cháu bà hơn vàng. Năm nay kinh tế eo hẹp, chả gì bằng đem hoa mình trồng vào nhà mà chưng tết.Với lại (ông cười mỉm trêu vợ), ngày Valentine tôi tặng bà luôn hai chậu hoa, chả có ông chồng nào hào sảng bằng tôi, hoa trồng trong chậu thì không lo sớm nở tối tàn, tình yêu chắp cánh bay đi.”

Bà cũng thinh thích trong bụng, nhưng vẫn không quên hấm hứ như thói quen hằng ngày vẫn hay ăn hiếp ông chồng già. Thằng cháu nghe lục đục đã mở mắt nhìn ông bà rồi toét miệng ra cười.

Tối nay, ông phải đi dự cái tiệc Tất Niên với mấy người bạn học, tuy già đầu rồi nhưng hễ xuân về vẫn không thể thiếu những buổi họp mặt để mà “ôn cố tri tân”. Quỹ thời gian chẳng còn bao nhiêu nên mỗi lần gặp nhau ai cũng thấy quý, nhất là tất cả đều đang ngoài độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận”, coi chuyện đời nhẹ như bóng mây. Đặt xong mấy chậu hoa, ông loay hoay tìm đôi giày mà không thấy đâu, hôm nọ, thằng cháu mới lẫm chẫm biết đi cứ xỏ chân nghịch đôi giày vía của ông nội, bà sợ hỏng đã cất đi chỗ khác, rồi quên. Tìm không được, ông đâm bực mình:

“Lạ thật, nhà có đàn bà mà cái gì cũng mất.”

Bà đang ngồi trông cháu, nghe được đứng phắt dậy, lâu lắm rồi ông bà không cãi nhau:

“Ðàn bà, cái gì mà đàn bà, không có đàn bà đã chả được thế.”

Cuộc đấu khẩu sắp có phần dữ dội thì “huỵch” một phát, thằng nhỏ ngồi trên xa lông ngã chúi đầu xuống đất, khóc ré lên. Cả ông lẫn bà cùng đổ xô đến, sót sa ôm lấy cháu, ông cũng quên mà bà cũng quên, không nghĩ đến chuyện cãi nhau.

Nguyên Nhung

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Sợ cưới năm Hổ

Image
Chen Xiaoqi (phải) cùng bạn bè và một chú nộm hổ đi mua sắm ở quảng trường Xidan ở Bắc Kinh hôm qua, chuẩn bị cho Tết Nguyên đán.
Ảnh: ChinaDaily.
Người Trung Quốc lạc quan rằng năm con Hổ sẽ mang đến sức mạnh cho đất nước, tuy nhiên những đôi yêu nhau thì được khuyên nên đợi đến năm Mèo hẵng cưới.


Cung hoàng đạo của người Trung Quốc gồm 12 con giáp với mỗi năm có một đặc tính riêng, ví dụ như năm thì tốt cho sinh con, năm thì tốt cho khởi sự kinh doanh. Năm con Hổ được cho là chứa đựng những sức mạnh khác thường, tuy nhiên lại là năm xấu để nên bề gia thất.

“Nếu bạn lập gia đình năm nay, chồng bạn có thể sẽ chết sớm”, Joyce Lin, một cử nhân 25 tuổi nói với Reuters. “Bố mẹ tôi không mê tín, và tôi cũng vậy. Nhưng theo chúng tôi thì đây không phải là thời điểm tốt để kết hôn”.

Người dân ở tỉnh An Huy cũng nói rằng những đứa trẻ sinh năm Hổ thường rất hung dữ. Đặc biệt, những đứa trẻ sinh vào buổi trưa được gọi là “những con hổ đói” và người ta cho rằng chúng sẽ gặp khó khăn trong việc kiếm ăn sau này.

Nhiều bạn trẻ Trung Quốc hiện đại vẫn chọn cách sống theo truyền thống. Huo Yuan, 20 tuổi, cho biết cô dự định làm bánh bao hấp với gia đình vào đêm giao thừa và kiêng cắt tóc. “Trong tháng giêng, bạn không nên cắt tóc. Nếu bạn cắt, bạn sẽ chết sớm hơn”, Yuan nói khi đang đi mua sắm với bạn bè ở Bắc Kinh.

Năm con Hổ được kỳ vọng sẽ mở ra một sự hồi phục mạnh mẽ hơn nữa cho nền kinh tế của Trung Quốc.

“Con vật này chứa đầy năng lượng và sức mạnh”, Reuters dẫn lời Raymond Lo, một thầy phong thủy của Hong Kong nói. “Hổ là cội nguồn của lửa, nó sản sinh ra sự lạc quan ở thị trường chứng khoán. Chúng ta mong rằng ngọn lửa này sẽ trở nên mạnh hơn và thị trường sẽ rất sôi động vào mùa hè”.

Tuy Trung Quốc đã có một năm Trâu thành công khi đạt được sự phát triển kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, các nhà phân tích cho rằng quốc gia này vẫn phải đối mặt với những thách thức, trong đó có một số phải giải quyết trong năm tới.

Nhiệm vụ quan trọng nhất với chính quyền là phải tăng cơ hội việc làm cho người Trung Quốc, đặc biệt là với các cử nhân và dân lao động nhập cư. Thị trường việc làm ở nước này đang từ từ hồi phục sau khi sụt giảm mạnh do suy thoái toàn cầu, tuy nhiên việc tạo thêm việc làm là sống còn không chỉ cho nền kinh tế mà còn nhằm ổn định xã hội.

“Những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự tuyệt vọng ở những cử nhân đại học bị bỏ rơi bên lề xã hội đang tăng lên. Họ không thấy tương lai và cảm thấy không có khả năng tham dự vào dòng chảy của xã hội”, China Daily dẫn lời Yu Jianrong, thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc.

Hu Xingdou, giáo sư kinh tế Học viện công nghệ Bắc Kinh cho biết sự tăng cao lạm phát cũng là một mối lo ngại lớn. “Nếu tỷ lệ lạm phát không thể giữ dưới 5% thì sẽ không chỉ có một bộ phận của xã hội bị ảnh hưởng”, ông nói. “Những nhóm thiệt thòi sẽ chịu tác động mạnh nhất. Thu nhập vốn chỉ đủ để sống và tồn tại sẽ trở thành vấn đề với họ nếu lạm phát trở nên nghiêm trọng”.

Xiao Shuwen, 80 tuổi, một giáo viên nghỉ hưu ở Bắc Kinh, thổ lộ hy vọng rằng đất nước ông sẽ gia tăng vị thế hơn nữa trên trường quốc tế trong năm con Hổ.

“Mỗi năm lại một tốt hơn. Chúng ta trao đổi buôn bán và thịnh vượng hơn. Chúng ta cố gắng hiểu về hoàn cảnh mỗi quốc gia, năm nay sẽ là năm tốt để đối thoại và giao lưu quốc tế”, Shuwen nói.

Trong những ngày này, hầu hết người Trung Quốc đều tập trung vào những lễ lạt trong gia đình và đang đổ xô mua những thứ cuối cùng cho ngày lễ năm mới. Nhiều cửa hiệu quần áo phương Tây ở Bắc Kinh và Thượng Hải trưng ra những bức hình con hổ trên mặt những ma nơ canh của họ, giữa khung cảnh tất cả những con đường đều ngập tràn biểu tượng con vật này.

“Tại sao? Vì đây là năm con Hổ”, một người bán hàng ở Bắc Kinh nói.

“Và đó là truyền thống”.

Hải Minh

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image

Khí công hồi xuân

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Mùa xuân này qua đi, mùa xuân khác lại tới. Đời người cũng có mùa xuân. ngay từ xa xưa, cổ nhân đã nhận thấy rằng: trong cuộc đời mỗi người đến khi về già đều có một giai đoạn cảm thấy như mình trẻ lại cả về thể xác và tâm hồn, cũng rạo rực yêu đương, cũng tràn trề sức sống.... Giai đoạn đó được gọi là tuổi "hồi xuân".
Thuật “hồi xuân” Con người, tự cổ chí kim, đã không hoàn toàn chịu khuất phục tạo hóa, cam chịu mỗi sự "hồi xuân" mang tính tự nhiên do tạo hóa ban phát cho. Trải qua quá trình lao động, tìm tòi, thể nghiệm và đúc rút từ thực tế hàng ngày, con người đã chắt lọc và tích lũy từ thế này sang thế hệ khác những tri thức, kinh nghiệm và nâng chúng lên thành "thuật", tức là một hệ thống những cách thức, những phương pháp nhằm mục đích khôi phục và duy trì "sức xuân", chủ động “hồi xuân" một cách tích cực, hệ thống đó được gọi là "thuật hồi xuân". Một trong những biện pháp quan trọng của thuật hồi xuân là tập luyện khí công dưỡng sinh.

Khí công dưỡng sinh là một phương pháp rèn luyện thân tâm hết sức độc đáo của y học cổ truyền. Thông qua việc tập luyện các công pháp khí công có thể khiến "Tinh, Khí, Thần" hòa thành một thể, âm dương điều hòa, khí huyết lưu thông, nguyên khí sung mãn, làm chậm quá trình lão hóa, giúp con người sống lâu, sống khỏe, duy trì và kéo dài thêm "sức xuân". Trong đó, phải kể đến các phương pháp có công năng "hồi xuân" độc đáo như Nội dưỡng công, Cường tráng công, Cố tinh công, Hồi xuân công, Bảo kiện công, Tráng lưng kiện thận công... Dưới đây, xin được giới thiệu cùng độc giả 3 công pháp "hồi xuân" điển hình.

Hồi xuân công Hồi xuân công là phương pháp luyện khí công độc đáo nhất của môn phái Hoa Sơn (Trung Quốc) có lịch sử tồn tại cả vài nghìn năm. Công pháp này có tác dụng làm lưu thông kinh mạch, điều hòa khí huyết, nâng cao năng lực hoạt động của các tạng phủ, trong đó đặc biệt là hai tạng can và thận, những tạng phủ có liên quan mật thiết đến hệ thống nội tiết trong cơ thể theo y học hiện đại. Phương pháp luyện tập như sau:

+ Tư thế: Thường chọn tư thế đứng thẳng người, hai bàn chân dang rộng bằng khoảng cách hai vai, hai tay buông thẳng theo thân người, hai vai hạ thấp, toàn thân thả lỏng. Mắt nhìn thẳng về phía trước, miệng khép, hàm thả lỏng, lưỡi cong lên chạm vào lợi hàm răng trên. Thở nhẹ nhàng và điều hòa, tâm trí lạc quan và tập trung vào việc tập luyện.

+ Thực hành động tác: Thở ra cho hết rồi nhẹ nhàng hít vào, đồng thời từ từ đưa thẳng hai tay ra phía trước cho tới khi ngang tầm vai, lòng bàn tay úp xuống. Khi bắt đầu thở ra thì khuỵu đầu gối xuống trong khi vẫn giữ thân người thẳng, đồng thời từ từ hạ hai tay xuống buông lỏng tự nhiên theo thân người rồi lại tiếp tục đưa cánh tay về phía sau hết cỡ. Chú ý thả lỏng toàn thân và đầu gối khuỵu xuống chỉ bằng 1/3 khoảng cách tính từ khi đầu gối thẳng đến khi gập hẳn trong tư thế ngồi xổm. Khi khuỵu đầu gối xuống và đưa đầu gối trở về vị trí ban đầu, thân người phải nhịp nhàng trong động tác quả lắc lên xuống, bàn chân phải bám sát mặt đất ở tư thế đứng vững, vai để tự nhiên, không nhô hoặc so vai. Động tác khuỵu gối và đưa gối trở về vị trí ban đầu cần làm hết sức thong thả, nhịp nhàng với hơi thở, không vội vã hấp tấp. Sức nặng của thân người phải dồn vào gót chân để giữ cho lưng được thẳng khi đầu gối khuỵu xuống. Đầu lưỡi chạm vào lợi hàm trên sẽ kích thích tiết nhiều nước bọt, nên giữ nước miếng đầy miệng thì nuốt, không nhổ đi và đây là thứ dịch rất có lợi cho sức khỏe.

Thời gian đầu, làm nhanh hay chậm là tùy thuộc vào hơi thở. Dần dần hơi thở dài ra thì động tác tiến hành chậm lại. Hết sức chú tâm theo dõi hơi thở và đếm mỗi lần khuỵu đầu gối. Chú ý cần thở bằng bụng, khi hít vào bụng phình ra và khi thở ra bụng thót lại. Đây là động tác có tác dụng bồi bổ chân khí. Sau khi tập chừng 3 - 4 tháng, kỹ năng thở bằng bụng đã thuần thục thì không cần theo dõi hơi thở nữa mà tâm trí cần tập trung vào đan điền. Người trưởng thành, khi mới tập chỉ cần làm vài chục lần, mỗi tuần tăng thêm năm, bảy lượt cho đến khi làm đủ 164 lần. Mỗi ngày nên tiến hành 2 lần vào buổi sáng khi mới thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.


Cố tinh công

Cố tinh công có nhiều cách thức khác nhau, trong đó có một phương pháp rất phổ thông, dễ tập có tên gọi là thổ nạp cố tinh pháp. Công pháp này có tác dụng bổ thận cố tinh, tăng cường sinh lực giúp cho người tập có thể duy trì "sức xuân" và kéo dài tuổi thọ, phòng và chữa các chứng bệnh như hoạt tinh, mộng tinh, di tinh, phụ nữ bị âm lãnh... Phương pháp luyện tập như sau:

+ Tư thế: Chọn tư thế đứng tự nhiên, toàn thân thả lỏng thoải mái, tâm trí yên tĩnh thư thái, tập trung sự chú ý vào bài tập.

+ Thực hành động tác: Hít vào nhẹ nhàng và từ từ bằng đường mũi, bụng phình ra cho đến khi cảm thấy đầy ở ổ bụng thì nín thở trong giây lát rồi từ từ thở ra cho thật hết. Tiếp tục tập lần thứ hai, dùng ý niệm dẫn khí nhập vào đan điền (đây là vị trí tương ứng với huyệt khí hải, nằm ở trên đường trục giữa cơ thể, dưới rốn 1,5 thốn đồng thân. Khi luyện tập chỉ cần tưởng tượng đan điền là một vùng tròn to hay một quả cầu bé nằm ở giữa vùng bụng dưới. Theo y học cổ truyền, đan điền là "sinh khí chi hải" (biển của sinh khí) có vai trò rất quan trọng trong nhân thể). Tập liền từ 3 - 5 lần. Chú ý không nên nín thở quá lâu, tránh vội vàng nôn nóng trong khi tập luyện, khi có những biểu hiện bất thường thì cần điều chỉnh lại số lần và cách thức tập luyện.
Tráng lưng kiện thận công Đây là phương pháp tập luyện kết hợp những tinh hoa của một số công pháp cổ với những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn hiện đại, có công dụng bổ thận, tăng cường sinh lực, phòng chống tích cực các bệnh lý do thận hư, đặc biệt là chứng "yêu thống" (đau lưng).

+ Tư thế: Sáng sớm, khi thức giấc, cởi bỏ bớt và nới rộng quần áo, ngồi bằng, hai bàn tay đặt trên đùi, các ngón tay xòe ra, hai chân song song mở rộng bằng vai, miệng khép tự nhiên, lưỡi chạm hàm ếch, mắt nhắm hờ, tư tưởng tập trung vào huyệt bách hội (là điểm giao nhau giữa đường trục giữa cơ thể và đường nối đỉnh hai vành tai) và hội âm (nằm ở phía trước hậu môn), toàn thân thả lỏng, tâm trí yên tĩnh thư thái.

+ Thực hành động tác: Trước hết, tay trái đặt lên huyệt thần khuyết (chính giữ rốn), tay phải đặt trên huyệt mệnh môn (nằm ở chính giữa cột sống, ngay dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 3). Chân phải đặt bên mũi chân trái, hai chân so le, mũi chân phải hướng ra ngoài và đối lập với mũi chân trái. Tay trái từ trong hướng ra ngoài và và xoay sang trái, đồng thời xoay tay phải, sau đó đổi tay, từ ngoài vào trong. Cùng lúc đó đồng thời xoay chân phải, khi hai tay sát nhau thì hai chân cũng sát nhau. Tiếp đó, dùng tay phải xoa vùng bụng trên rốn theo chiều kim đồng hồ rồi xát xuống giữa xương mu, sau đó đổi sang làm bằng tay trái. Dùng lòng hai lòng bàn tay, một đặt trên rốn và một đặt trên huyệt mệnh môn rồi xoay một vòng, dùng ý thả lỏng toàn thân từ đầu đến chân.

Xát hai bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi đặt hai tay lên hai bên má, ngón út ở cạnh sống mũi rồi xoa từ dưới lên trên đến huyệt ấn đường (điểm giữa đường nối bờ trong hai lông mày), làm 3 lần như vậy. Hai ngón tay giữa đặt ở sơn căn, xoa nhẹ tới ấn đường, qua thái dương rồi trở về sơn căn. Tiếp đó, xát hai bên sống mũi rồi dùng ngón tay giữa xoa từ nhân trung (điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh nhân trung) đến hai bên cạnh khoé miệng, làm 3 lần như vậy. Mỗi lần tập từ 10 - 20 phút, mỗi ngày 2 lần.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

HỔ NHỚ RỪNG
(lời của Hổ trong chuồng sắt)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

THẾ LỮ - 1936

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Luận về 2 chữ TỰ DO

(Hoàng Phước Tân)

Em hỏi tôi về ý nghĩa của câu "không có gì quí hơn độc lập tự do" là gì, mà lâu lắm rồi, khi mới chào đời, em đã nghe, đã thấy... Thế nhưng,cho đến nay, em đã trưởng thành mà vẫn chưa hiểu được cái kỳ quái của nó ?
Em hỏi tôi, tức là em đã trả lời rồi đó ! Bây giờ chúng ta thử đi sâu vào, theo lối "chiết tự diễn nghĩa" để hiểu cái dụng ý hàm chứa những chỉ đạo khắc nghiệt và tàn nhẫn của nó, nên bất cứ cơ quan nào của nhà nước, dù nhỏ hay lớn, dù cao hay thấp,cũng đều có 9 chữ nầy phía trước ! ? ...
"Không có gì..."Tức là không có khách thể, mà chỉ có chủ thể tuyệt đối
"Quí hơn..." Đúng, không đổi được bằng cái tâm bình thường của lương tri, đạo đức..., mà muốn có cái tuyệt đối của lối hành xử bạo lực, cường quyền độc ác, để nắm giữ thế độc tôn ! ! !
"Độc lập..." Là hãy độc tài toàn trị, độc đảng, độc ác, hiểm độc... Hãy đứng biệt lập một mình - không giống ai với những qui định được áp đặt bằng sắt và máu, bằng luật lệ rừng rú... vô cùng hiểm ác...
"Tự do..." Nghĩa 2 chữ Tự do thì có vẻ rộng hơn... - nào là tự do áp đặt một thể chế chính trị ngoại lai vô tưởng dưới sự lãnh đạo hà khắc độc đảng, tự do cai trị, tự do tấn phong nhau lên cầm quyền, lãnh đạo, tự do quản lý đất nước... không thông qua sự đồng thuận của toàn dân, tự do áp dụng một thứ hiến pháp giả tạo, nặng phần hình thức mà thực chất chúng tự do điều hành đất nước bằng pháp lệnh, nghị định... của một nhóm người tự cho mình cái quyền đặt ra... để bảo vệ, để giữ lấy các đặc quyền đặc lợi phi lý của chủ nghĩa vô thần mà từ đó phát sinh ra vô vàn cái tự do quái thai khác, đầy những sự bẩn thỉu và hèn hạ: tự do quan liêu, tự do đàn áp, bắt bớ, bỏ tù, lưu đày những ai không đồng ý để họ tự do ăn cướp, tham ô, móc ngoặc, giết người... nhất là tự do khoe khoang, khoác lác. Hình thức giả dối của cái gọi là kinh tế vĩ mô, phát triển..., mà thực chất chỉ là một nền kinh-tế, thương mại nặng tính xuất khẩu thô, nhập khẩu tế, gia công cho các nước tư bản khác là chủ yếu... Một nền kinh tế què quặt, kỳ quái... Một nền thương mại độc quyền của bè đảng ăn cướp, của giai câp thống trị cho nên càng ngày cái hố sâu phân chia giai cấp giàu nghèo giữa nhóm người cai trị và đại đa số người dân bị trị mỗi lúc một cách xa thêm... Họ còn tự do bao che, bưng bít, bảo vệ, bênh vực nhau một cách lố bịch và ngổ ngược... cho nên mỗi khi những người cai trị gây ra những tội lỗi tày trời, thì họ luôn luôn cố che dấu, lấp liếm ...thành nhỏ, để rồi triệt tiêu... Còn người dân, mỗi khi có lỗi nhỏ, thì họ làm cho lớn chuyện ra, không có thì ép buộc làm cho có để lừa đảo dư luận, đánh lạc hướng mọi người...

Như em biết đó, họ còn tự cho họ cái quyền tự do thỏa hiệp, bán đứng tài nguyên khoáng sản của Tổ quốc, tự do cắt đất biên giới, hải đảo biển Đông dâng cho bọn quan thầy phương Bắc để giữ vững ngôi vị độc tôn toàn trị của bè đảng - Thật là một bọn tội đồ thiên cổ -Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... cũng đầu hàng quân Nguyên, quân Thanh, nhưng không cắt đất bán nước.. Ngược lại CSVN lại quá hèn - chẳng những đầu hàng, mà còn cắt đất biên giới, biển đảo của Tổ tiên dâng cho bọn bành trướng Bắc phương làm lễ vật... Thế mà họ còn tự cho họ cái quyền tự do đàn áp, bắt bớ, bỏ tù những ai lên tiếng bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc ! ! ! Ngoài ra họ cũng tự cho họ cái quyền bắt buộc các tôn giáo phải đăng ký xin phép hoạt động, nếu không, họ tự do đàn áp, đập phá các nơi thờ tự, các biểu tượng tín ngưỡng, các cơ sở tu học của Phật giáo, Thiên chúa, Tin lành ,Cao đài, Hòa hảo... Rồi họ lại dựng lên một số sự kiện lạ lùng vô cảm dưới hình thức lễ hội ở các cơ sở tôn giáo quốc doanh để đánh lừa những người lạc lòng, nhẹ dạ, cả tin trong và ngoài nước...

Và em biết đó, tất cả những việc làm vô nhân đạo, độc ác mà từ 60 năm nay họ đã áp đặt lên nhân dân VN, đều từ lời dạy độc ác của 9 chữ "không có gì quí hơn độc lập tự do ", chỉ dành cho chủ thể độc tài CS mà thôi ! Còn khách thể là trên 80 triệu nhân dân VN khốn khổ vẫn sống trong tăm tối nghèo đói ! ! ! Còn giả sử có ai đó muốn được hưởng chút ít... thì phải khom lưng, cúi đầu làm tay sai cho họ ... Nên từ thập kỷ 50 thế kỷ trước... họ đă dập tắt phong trào " 100 hoa đua nở " của những người trí thức không cam chịu cúi lòn,bợ đỡ... Rồi họ tự do bắt tất cả những nông dân khá giả đem ra đấu tố, giết chết, dưới chiêu bài "cải cách ruộng đất" theo lệnh của bọn đồ tể mang chủ thuyết họ Mao, chẳng những ở miền Băc VN mà ngay các tỉnh Nam-Nghĩa-Bình-Phú của miền Trung VN, bao nhiêu ngàn người VN vô tội bị họ đem ra chôn xuống đất, chỉ chừa mỗi cái đầu rồi cho trâu bò cày qua, hay đem trói giữa sân đình bắt mọi người ném đá, hoặc thẻo từng miếng thịt cho tới chết trong đau đớn... Song song với những tội ác dã man trên, họ còn lùa hàng triệu thanh niên VN vào cuộc tương tàn nội chiến với danh nghĩa là giải phóng dân tộc ! Mà thực chất là nhằm mục đích bành trướng chủ nghĩa vô thần khát máu dưới sự chỉ đạo của bọn đế quốc đỏ... Nhất là sau biến cố 1975 họ đã mặc sức tự do ăn cướp tất cả tài sản của cải mà người dân Miền Nam đã chắt chiu từ mồ hôi, nước mắt dành dụm được và lùa tất cả dân tộc vào cảnh bần cùng nghèo đói, dốt nát để chúng tự do cai trị.

Và em cũng đừng thắc mắc là tại sao cách mạng giải phóng đỏ từ năm1917 đến cuối thập kỷ 50 của thế kỷ trước ở Nga, các nước Đông Âu, Trung quốc, VN...có đến hàng mấy trăm triệu người dân vô tội bị giết chết, bị tù đày... khi chủ nghĩa CS lên cai trị !... Rồi cũng chính những nơi này vào cuối thập kỷ 80, đầu 90 của thế kỷ 20, nhân dân của họ lại đứng lên làm một cuộc Cách mạng giải phóng để chôn vùi chủ nghĩa CS khát máu mà không hề có một giọt máu nào đổ ra ? ! !

Đó là sự khác nhau của tự do giả tạo vô đạo với Tự do Vương đạo chân chính được thực thi bằng lương tri của con người đích thực đó em...!

Thôi nhé, chúng ta tạm chia nơi đây, hẹn dịp khác sẽ trao đổi chi tiết hơn...

Chào thân ái ...!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

CẶP RẮN TU Ở CHÙA TRÀ AM (HUẾ)

LÝ TRƯỜNG TRÂN


Năm 1940 là năm mà Việt Nam và toàn cõi Đông Dương bắt đầu nếm mùi khói lửa của cuộc chiến tranh Mỹ Nhật tại Thái Bình Dương lan rộng, và năm ấy tôi đang học tại trường Khải Định Huế. Con nhà nghèo xứ Quảng ra chốn Thần Kinh để học một trường lớn có danh tiếng là một may mắn nhất của thời ấy. Được vậy là nhờ sự cố gắng vượt mức của bản thân, và nhờ sự giúp đỡ của một người anh bà con về mặt tài chánh. Ông này thỉnh thoảng từ Quảng Nam ra Huế để thăm viếng một người bà con đang xuất gia và đang tu tập tại Chùa Trà Am Huế.

Chùa Trà Am, sau đổi tên Mật Sơn Tự, là một ngôi chùa nhỏ, nằm sau lưng núi Ngự Bình. Muốn đến chùa, phải đi theo con đường đất đỏ, chạy sau lưng núi từ phía An Cựu, rẽ qua trái, băng qua một giòng suối, đi ngang trước nghĩa trang của gia đình họ Nguyễn Khoa, nép theo các hàng tre xanh dẫn đến cổng chùa. Ngôi chùa này cũng như bao nhiêu ngôi chùa ở Huế, có vườn mít, chuối, chè xanh, có một hàng trúc cao bao bọc. Chùa này thuộc loại chùa nghèo, vách xây, mái lợp ngói âm dương, sân chùa lát gạch, bên trong chánh điện lát xi măng, cách xa phía sau chùa khoảng 100m, có ba ngôi tháp mộ của các vị trụ trì đã viên tịch. Mỗi lần anh tôi ra thăm người bà con tại chùa là mỗi lần tôi tháp tùng anh tôi để viếng chùa, lễ Phật, và nếu gặp dịp nghỉ lễ vài ngày,
thì tôi ở lại chùa với anh tôi trước khi trở về đất Quảng.

Điểm sâu đậm đặc biệt ám ảnh mãi trong tôi, mỗi khi nhớ Huế là nhớ đến cặp rắn tu ở chùa này. Trong chuyến viếng chùa lần đầu tiên, khi sương chiều buông xuống sau sườn núi Ngự Bình, và sau khi tiếng chuông công phu chiều vừa chấm dứt thì người bà con của anh tôi cho biết là trong chùa này có cặp rắn khổng lồ dưới đất của các ngôi tháp, vào đợt công phu lúc 3 giờ sáng thường hay bò vào chánh điện để nghe kinh, và xong thời kinh, thì bò lại về hang dưới tháp. Theo lời người ấy cho biết thì cặp rắn này ở chùa này đã lâu, rất hiền, không nguy hiểm, không đáng sợ, vì trong mấy năm tu ở đây, ông ta chưa bao giờ thấy hay nghe nói cặp mãng xà này làm hại ai cả, mặc dù ngoại hình dễ làm cho người nào gặp lần đầu cũng phải khiếp đảm vì sự to lớn của thân hình bởi những khoang rằn ri màu vàng và đen sọc trên các vảy dày sắp lớn trên mình. Chúng tôi đang nghe kể lại về chuyện cặp rắn tu thì Thượng Tọa Viện Chủ Chùa bước đến. Với nụ cười hồn nhiên và đôn hậu của một vị chân tu, ông ta nói thêm rằng đừng sợ sệt hay lo lắng chi cả, nhưng lúc đầu chưa quen, thì cứ ngồi yên trên giương, rút chân lên, để xem cặp rắn bò vào nghe kinh. Với sự ngạc nhiên pha lẫn niềm lo sợ, tôi đánh bạo hỏi T.T. Viện Chủ sao không đuổi cặp rắn ấy vào núi, mà để ở gần chùa như vậy, có thể làm hại đến tánh mạng của các vị tu hành, hay các Phật Tử hành hương, thì Thượng Tọa trả lời rằng: “Chùa chiền là nơi thanh tịnh để chúng sinh tìm đến tu tập, nay chúng sinh đã đến đây tu hành nghe kinh thính pháp, mà đuổi họ (chỉ cặp rắn) đi thì không hợp đạo lý, hơn nữa, họ không làm gì hại đến ai cả, vả chăng muốn đuổi họ đi, thì không ai có đủ sức đuổi họ, hãy chờ thời công phu sáng, thì quý vị sẽ thấy họ, và chứng kiến sự hiền hòa của họ.

Nghe T.T. Viện Chủ giải thích như trên, chúng tôi cũng tạm yên tâm, song chưa hết thắc mắc, nằm trên giường nghĩ miên man, mà ngủ hồi nào không hay, đến khi nghe các tiếng chuông của đại hồng chung ngân vang, chúng tôi mới thức giấc, bèn ngồi xổm dậy, xem đồng hồ thì đã 3g30 sáng, và buổi công phu sáng bắt đầu. Tiếng chuông đại hồng kèm theo tiếng niệm danh hiệu các vị Phật của chú tiểu sa di vừa chấm dứt, các đèn dầu và nến được thắp sáng thì T.T. Viện Chủ, đắp y hậu chỉnh tề, bước lên chính điện để niệm hương thỉnh Phật. Xong phần này, Thượng Tọa ngồi trên tọa cụ, một tay chuông, một tay mõ bắt đầu tụng kinh. Độ 5 phút sau, khi chúng tôi còn ngồi xổm trên giường tre, thì bỗng nghe những tiếng đập bạch bạch dưới nền chánh điện, và qua ánh đèn dầu và đèn nến, chúng tôi thấy rõ ràng một con rắn to, dài độ lm50, thân hình tròn, óng ánh xanh như một ống tre luồng cỡ bằng trái chân người, trên đầu có một cái mồng đỏ như mồng gà trống, nhưng mồng không đứng thẳng mà ngả sang một bên, giống như đội một mũ ca-lô trên đầu. Tiếng đập bạch bạch dưới đất là do cái đuôi rắn đập xuống nền, khi di chuyển, vì hình như có phần cuối của đuôi bị cụt. Tiếp theo sau là một con rắn khác thân hình đen nhánh, vẽ từng khoang, dài độ 2m50, nhưng cái mồng đỏ trên đầu thì nhỏ hơn và đứng thẳng đang bò vào, nhẹ nhàng ít tiếng động hơn. Bò qua cửa xong, thì 2 con chia làm 2 hướng, bò thẳng về phía bàn thờ, leo lên bàn thờ, và quấn tròn mỗi con một bên, gác đầu lên mình, nằm nghe kinh. Đứng xa ngó vào bàn thờ, người ta có cảm tưởng như 2 chồng vỏ xe hơi, sắp lên nhau, thấy mà lạnh gáy. Sau này khi hỏi tại sao một cặp rắn mà con ngắn con dài, 2 mồng trên đầu lại khác nhau, thì người bà con, tu trong chùa, giải thích rất trịnh trọng, bằng cách gọi 2 con rắn ấy là "ông dài" và "ông cụt". Ông cụt là có rắn đực, có mồng lớn, ông dài là con cái, có mồng ngắn. Cách đây mấy năm, cặp rắn này có thân hình bằng nhau, sau vắng bóng một thời gian mấy tháng, khi trở về lại đây, thì con rắn đực bị cụt đuôi, có lẽ qua một cuộc hành trình nguy hiểm trong rừng sâu, hay sau một cuộc chiến đấu sinh tử với một con thú khác trong rừng, nên bị trọng thương, mình mẩy bị đầy thương tích, phải dưỡng thương trong hang dưới tháp mộ mấy tháng. Và trong lúc ấy chỉ có con cái vào chánh điện nghe kinh mà thôi, mỗi buổi sáng. ông ta cho biết thêm, ban đêm vào khoảng khuya, lúc 12 giờ đến 1 giờ sáng, trong chùa nghe những tiếng gà gáy xa xa như tiếng gáy của gà tre, thì đó là tiếng gáy của ông cụt, nhất là trong những đêm trăng sáng..., còn ông dài thì không bao giờ nghe gáy cả.

Buổi kinh mai tụng vừa xong, chuông được một hồi, mõ chấm dứt, trong khi T.T. Viện Chủ quỳ lạy để rút lui, thì cặp rần từ từ bò xuống, và trườn ra khỏi cửa như khi mới vào, và tiếng động của ông cụt mỗi lúc xa lần, về hướng các tháp mộ. Trong tuần trà buổi sáng, khi gặp lại Thượng Tọa Viện Chủ, ngài mỉm cười hỏi chúng tôi đã thấy cặp rắn ấy chưa, và giảng thêm: “Trong các kinh Phật, quý vị thường nghe nói đến 4 chữ THIÊN LONG BÁT BỘ. Là 8 loại chúng sánh nguyện phát tâm bảo vệ chánh pháp, hộ trì Tam Bảo, mà rắn là một bộ môn trong bát bộ, vì họ cũng biết nghe kinh, thính pháp, tu tập hành trì, nên tâm linh của họ cũng thăng tiến. Và qua một thời kỳ tu tập lâu dài vài nghìn năm cũng có thể tiến hóa từ ngoại vật, súc sánh đến quả vị loài người, và từ cõi người lên các cõi chư Thiên, hay các vị giác ngộ và thành Phật. Quý vị còn nhớ, ngày trước, khi đức Thích Ca đang tu khổ hạnh, ngồi dưới cội Bồ Đề, trong dãy Tuyết Sơn, có nhiều ngày bị mưa lũ hoành hành các thần rắn đến quấn quanh mình Ngài, dùng 7 đầu xòe ra che cho Phật khỏi mưa ướt, cũng như trong các chuyện Tàu, các mỹ nữ Thanh Xà, Bạch Xà cũng là các con rắn tu lâu năm, Đắc Kỷ hay Nguyệt Cô đều do những con hồ ly tu lâu năm thành người v.v…”
Được hỏi về lối sống của cặp rắn tu, thì Thượng Tọa Viện Chủ cho biết họ không ăn thịt, chỉ ăn những bó hoa tàn, cúng thải ra, các vỏ bầu bí, dưa, mướp đặt dưới chân các tháp mộ. Từ ấy đến nay, sau khi người bà con chuyển tu đến một chùa khác, chúng tôi không có dịp trở lại Chùa Trà Am nữa, cho đến 30 năm sau, có dịp đến Chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài Gòn, để vấn an Hòa Thượng TRÍ THỦ vì lúc trước Ngài có một thời gian dài tu tại chùa Trà Am, khi nhắc đến cặp rắn tu ở chùa này, thì Ngài cho biết là sau ngày rằm tháng 7 năm 1945, trong mùa thu, người trong chùa không còn thấy cặp rắn vào nghe kinh ở chùa Trà Am nữa.

Về các cặp rắn tu, tôi có duyên hội kiến với Thượng Tọa THIÊN TÂM tu ở ngôi chùa sau lưng Vĩnh Minh Thiền Viện ở xã ĐẠI MINH, thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ngài cho biết có làm lễ quy y cho mấy cặp vợ chồng rắn trong rừng Bảo Lộc, ra quỳ xin ngài quy y dưới dạng hình người, và nhiều cặp rắn khổng lồ đã vào khoanh tròn trên giường trong thiền thất của Ngài, mặc dù Ngài đã khóa cửa rất kỹ, vì khi Ngài ngồi thiền, nhiều cặp rắn đã nằm sát sau lưng Ngài. Các đệ tử của Ngài kể lại, trong tang lễ của Ngài, khi kim quan của Ngài sắp đưa nhập pháp, kim quan được quan lộ thiên để các đệ tử đến đánh lễ, thì một cặp rắn, toàn thân màu vàng, có tỏa ánh sáng, bò đến trước kim quan ngẩng đầu bái 3 bái, và sau đó biến lẹ vào rừng cây xanh ngắt.

Trong đời tôi, thấy rắn và nghe chuyện rắn cũng nhiều như hang rần tu ở trong núi Sập trong dãy Thất Sơn, con rắn thần khổng lồ Buông Ay Riêng, giữa huyện Cống Sơn giáp ranh tỉnh Phú Yên và Darlac ở Rừng Lào về, nhưng không có hình ảnh nào khiếp đảm và sống động bằng cặp rắn tu ở Chùa Trà Am, mà đã 50 năm qua, hình ảnh cặp rắn ấy không bao giờ phai lợt, và câu nói nhẹ nhàng của Thượng Tọa Viện Chủ Chùa Trà Am vẫn còn văng vẳng bên tai: "Phật dạy: tất cả chúng sinh đều có Phật lánh, 4 loài bò, bay, máy, cựa, đều có Phật lánh cả, nếu biết tu hành, không chóng thì chầy, đều sẽ đạt Phật tánh ấy?"

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Nền Tư Pháp "Biến" Nạn Nhân Thành Tội Phạm
Dư luận trong nước đang xôn xao bàn tán về một vụ án chưa từng thấy, một hiệu trưởng trường trung học lợi dụng quyền lực của mình ép buộc các nữ sinh vị thành niên dưới quyền nhiều lần phục vụ sinh lý, bằng cách dọa các em "đánh tụt điểm" về các môn học và cho điểm xấu về đạo đức .

Bà con ta gọi là vụ án "ép dâm ở Hà Giang", vụ án "con heo Sầm Đức Xương" , theo tên của viên hiệu trưởng dâm ô này.

Vụ án bị tiết lộ từ đầu năm 2009, gây nên dư luận rộng lớn, toà án nhân dân tỉnh Hà giang mở phiên toà sơ thẩm ngày 6/11/2009, xử rất qua loa, vội vã, không có luật sư bào chữa, tuyên án Sầm Đức Xương 53 tuổi, 10 năm tù giam về tội "mua dâm" và nữ sinh Nguyễn Thuý Hằng 19 tuổi 6 năm tù giam, nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thuý 18 tuổi 5 năm tù giam về tội "môi giới mãi dâm".

Gia đình 2 em Hằng và Thuý cực kỳ ngạc nhiên và phẫn nộ, các thày cô giáo và bạn học của 2 em hết sức bực bội yêu cầu phải xem xét lại vụ án này; Sầm Đức Xương cũng kêu oan, viện lẽ bị liệt dương nặng từ 4 năm nay !

Từ trong nhà tù, 2 em Hằng và Thúy liên tiếp viết đơn kêu cứu, những lá đơn đầy nước mắt, gửi gia đình, bạn bè, các cấp chính quyền, các báo... tha thiết đòi có luật sư bênh vực các em, bênh vực sự thật, trong đó 2 em tố cáo cơ quan điều tra của công an tỉnh Hà Giang đã bắt các em "ký khống" dưới những trang giấy trắng để họ viết sau nội dung ở bên trên, coi đó là lời khai của bị cáo.

Thế là toà án Hà giang buộc phải để cho luật sư gặp các bị cáo, chuẩn bị cho phiên xử phúc thẩm vì các bị cáo đều kháng án.

Luật sư Trần Đình Triển thuộc đoàn luật sư Hànội được cử lên Hà Giang cãi cho hai em Hằng và Thuý. Ngày 1/2/2010 Toà án tỉnh Hà giang mở phiên toà phúc thẩm, những tưởng sẽ lại chóng vánh y án sơ thẩm, như mong muốn và tính toán của chính quyền và tỉnh uỷ Hà giang .

Nhưng thời thế đã thay đổi. Đã đến lúc mong muốn của các quan chức trong đảng, chính quyền và công cụ công an, toà án của họ không còn khống chế được dư luận và lòng dân. Và " khủng hoảng " đã nổ ra giữa phiên tòa.

Theo tin từ trong nước luật sư Trần Đình Triển với công tâm và bản lĩnh của mình đã đóng góp phần quyết định vào cuộc "phá án" ngoạn mục này.

Luật sư Triển nêu rõ trước toà: vụ án xảy ra khi 2 em Hằng, Thúy còn vị thành niên (dưới 18 tuổi), nên việc tuyên án không tính đến điều đó là phi pháp.

Quan trọng hơn, việc cơ quan điều tra của công an tỉnh bắt 2 em ký khống những trang giấy trắng cần làm rõ, nếu vậy thì cuộc điều tra đã phạm pháp từ khi mở đầu. Hai em còn tố cáo cơ quan điều tra bắt 2 em ký tuyên bố tự nguyện từ chối luật sư . Ông đòi phải mở lại cuộc điều tra từ đầu.

Quan trọng hơn nhiều nữa, trong nhà tù 2 em Hằng và Thúy đã ghi lại tên, địa chỉ, chức vụ, cả số điện thoại của một số quan chức cao nhất tỉnh, từ chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô đến ông Bích trưởng ban tổ chức Công an tỉnh, ông Tiến, ông Minh, 2 cán bộ công an tỉnh, ông Tấn, em ruột giám đốc công an tỉnh, ông Đinh Xuân Hùng giám đốc Ngân hàng tỉnh, ông Hướng giám đốc hải quan cửa khẩu Thanh Thủy ... đều là những kẻ đã ép các em làm tình với họ nhiều lần qua môi giới của Sầm Đức Xương.

Các em nói rõ là một số bạn cùng lớp đã bị ép buộc như 2 em, và các em cực nhục chịu đựng chỉ vì sợ bị đánh tụt điểm, sợ bị đuổi học, sợ bị gia đình mắng, sợ cha mẹ buồn lòng, các em không hề vì tiền. " Thày Xương dặn họ cho tiền thì nhận, không cho thì thôi, luôn phải vui cười với họ ".

Toà án buộc phải ngừng xử phúc thẩm, huỷ án sơ thẩm, để xem xét lại từ đầu.

Nhưng vẫn với ông quan đầu tỉnh Nguyễn Trường Tô bỉ ổi đến vậy, vẫn với bí thư tỉnh ủy Hoàng Minh Nhất chỉ đạo trực tiếp vụ xử sơ thẩm đầy bê bối, vẫn những bộ xậu công an và toà án mục nát đến tận cùng như thế, cuộc điều tra và xét xử lại sẽ được tiến hành ra sao ?

Khi tất cả các báo trong nước đều êm re, chỉ đưa tin xét lại từ đầu vụ án, nhưng không có một lời bình luận, thì vụ án vẫn có nguy cơ bị "khoanh lại" và bị ỉm.

Ở một nước dân chủ có tự do báo chí đầy đủ, lập tức các Ban biện tập sẽ cử lên tại chỗ những cây bút lão luyện nhất chuyên về điều tra, về phá án, những mũi nhọn về viết phóng sự, tin nhanh, phỏng vấn, phóng thẳng đến gia đình, nhà trường, gặp thày cô giáo, bạn thân của 2 em Hằng và Thuý, đóng góp bằng tài năng, tâm huyết, ngòi bút sắc sảo của mình vào sự nghiệp công bằng xã hội. Hứng khởi, thích thú bao nhiêu!

Theo tôi cảm nghĩ, đầu têu vụ án này chính là các quan chức CS đầu tỉnh cùng tay chân thân tín ngành công an, cậy quyền thế, thừa tiền, dửng mỡ, thèm thuồng hưởng lạc những gái tơ, xem chán phim con heo nhập từ Bắc kinh, Đại Hàn, Hồng Kông, Chicagô... nảy ra sáng kiến dùng hiệu trưởng Sầm làm tên ma cô đầu sỏ để dử 15 em học sinh ngây thơ trong trắng làm lũ nô lệ tình dục. [ Sầm khai thường huy động nhóm 15 em học sinh từ 13 đến 17 tuổi vào dinh tỉnh uỷ để múa hát, mua vui cho các quan chức cao cấp cùng các nhà doanh nghiệp lớn Ngân hàng, Hải quan, Xuất nhập khẩu có máu mặt trong tỉnh ].

Khi bị lộ, họ đưa tên trùm ma cô Sầm Đức Xương ra hy sinh, tuyên án tù 10 năm về tội "mua dâm", còn độc ác nhẫn tâm tuyên án 2 em nạn nhân của chính họ 6 năm và 5 năm tù giam, vu cho tội " môi giới mãi dâm ".

Những tên tội phạm tự tung tự tác, nắm trọn quyền hành chính, điều tra, công an, xử án, đổi trắng thay đen, biến nạn nhân thành tội phạm như trở bàn tay. Mà chính họ là tội phạm chủ mưu. Nhưng nào có phải riêng ở Hà Giang đâu !

Cũng như thế, 16 nhà dân chủ yêu nước thương dân, xót xa vì mất đất, mất đảo, vì ngư dân ta bị tàn sát thì vào tù, còn những kẻ ươn hèn quỳ gối trước kẻ bành trướng thì đóng vai quan toà !

Vụ án Hà Giang được xử công khai, minh bạch, công bằng, đúng luật, đúng người, đúng tội sẽ là một dấu hiệu lành mạnh của đất nước vào Xuân Canh Dần.

Trong và ngoài nước, bà con ta hãy truyền tin, bàn tán, bình luận, góp ý, động viên an ủi 2 em Hằng, Thúy và gia đình, động viên luật sư Trần Đình Triển, lập những nhóm "cô thày giáo, học sinh, sinh viên, phụ nữ bảo vệ 2 em Hằng, Thúy", đòi trả tự do ngay cho 2 em khi chờ xét xử công minh từ đầu.

Trong thời đại thông tin nhanh nhậy, công luận có sức mạnh khôn lường !

Bùi Tín (Paris 18-2-2010)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

NGUY CƠ TRUNG CỘNG XÂM THỰC VIỆT NAM

Chu Tất Tiến


Trong cuộc phỏng vấn được thực hiện đầu tháng 2 năm 2010 với người viết bài này, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, người đâm đơn kiện Thủ Tướng Cộng Sản Nguyễn Tấn Dũng đã vi phạm luật pháp khi quyết định cho phép Trung Cộng được khai thác Bâu xít tại Tây Nguyên, đã nhấn mạnh đến "nguy cơ xâm lăng của Trung Cộng." Bà Trần Thị Lệ, thân mẫu của Luật Sư Lê Thị Công Nhân đã trình bầy thảm họa của dân Việt khi mất nước vào tay Trung Cộng. Các nhà "phản kháng bất bạo động" như Thầy Giáo Vũ Hùng, Nhà Báo Nguyễn Văn Tính, Nhà Văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Sinh Viên Ngô Quỳnh, Kỹ Sư Phạm Văn Trội, nhiều nhà Dân Chủ khác và đặc biệt là "blogger" Điếu Cầy tức Nguyễn Văn Hải đều không phạm tội gì ngoài việc trương biểu ngữ và kêu gọi "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam". Một số người tình nguyện giăng biểu ngữ trên cầu, nơi mọi người đi qua đi lại. Một số vị khác căng tấm biểu ngữ trên tay, ngay tại trung tâm của Thủ Đô. Người khác lại phổ biến trên Internet những tin tức về việc Trung Cộng lấn chiếm đất đai của Tổ Quốc. Cô Phạm Thanh Nghiên, một công nhân chưa đầy 40 tuổi, sau khi không xin được phép ra Hà Nội biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng Việt Nam, đã tọa kháng ngay tại nhà với các tấm biểu ngữ dán chung quanh nhà: "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam" và "Thủ Tướng Phạm Văn Đồng bán nước". Hầu như mọi nhà tranh đấu cho Dân Chủ, Tự Do, và Nhân Quyền đều lo âu về tương lai nước nhà trước các dữ kiện cho thấy Trung Cộng đang muốn nuốt sống Việt Nam.

Từ năm 1979, khi Trung Cộng tung vào miền Bắc Việt Nam gần 100,000 người để "dậy cho Việt Nam một bài học", dư luận quốc tế đã thấy rõ âm mưu của Trung Cộng muốn lấn chiếm Việt Nam, làm bàn đạp ra biển Đông. Thật sự, âm mưu này đã được khôn khéo thi hành ngay từ khi Cố Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không quân Mỹ bỏ bom Bắc Việt. Lợi dụng sự yếu kém của quân đội Bắc Việt, Trung Cộng đã cho thiết lập các dàn rađa và súng phòng không bên trong nội địa Việt Nam, sâu hơn về phía Nam của biên giới Hoa-Việt, cách ải Nam Quan cả cây số. Lẽ ra, sau khi Hiệp Định đình chiến 1973 được ký kết, chiến tranh chấm dứt, Trung Cộng phải kéo quân về, trả lại đất đai cho Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy, Trung Cộng làm ngơ, không chịu rút khỏi các cứ điểm chiếm đóng của họ, vì biết chắc rằng Cộng Sản Ba Đình không dám lên tiếng đòi lại. Tiếp theo, Trung Cộng cho vẽ bản đồ mới với cái "lưỡi bò" liếm dài xuống cực Nam, nhiều nơi sát ngay vào cửa biển Việt Nam. Chưa đủ thỏa mãn mưu đồ thông báo với thế giới về địa lý chính trị mới của mình, Trung Cộng cho làm những quả cầu thế giới để bán khắp nơi, với hình thể Việt Nam mất luôn cái mỏm nhọn cực Bắc có từ ngàn năm trước.

Từ đó, Trung Cộng ngang ngược cho tầu thuyền đi rà soát biển Đông, cấm cản ngư dân Việt Nam không được đánh cá trong những thời gian mà Trung Cộng ấn định. Để thi hành luật biển riêng do họ vẽ ra, Trung Cộng đã bắt cóc ngư dân, phá tầu, cướp cá, và thậm chí giết ngư dân Việt, mặc dầu chính Ngoại Trưởng Trung Cộng vẫn tuyên bố một cách trịnh trọng:"Chính phủ Trung Hoa vẫn luôn chủ trương thương thảo để giải quyết các cuộc tranh luận quốc tế một cách hòa bình. Theo tinh thần này, Trung Hoa đã trả lời nhiều câu hỏi liên quan đến đất đai và ranh giới với vài quốc gia lân bang qua các cuộc tham vấn giữa hai bên và thảo luận trong một phương thức công bình, hữu lý và hữu hảo"(*).

Thực tế gần đây cho thấy, tính hữu hảo đó đã được thể hiện bằng hơn trăm lần xâm phạm lãnh hãi Việt Nam từ đầu năm dương lịch đến nay. Theo Bộ Chỉ Huy Biên Phòng, thì cũng từ tháng giêng, có hơn 130 tầu giả dạng đánh cá đã ngang nhiên chiếm hữu vùng biển Đông như ao nhà của mình. Ban Tác Chiến thuộc Bộ Chỉ Huy Biên Phòng còn cho biết là tầu Trung Cộng hoạt động gần sát bờ biển thuộc các tỉnh Quảng Trị và Đà Nẵng. Theo báo Cộng Sản, "cụ thể, ngày 2/ 2, có 30 tầu Trung Quốc vào tận kinh độ 109, vĩ độ 16, cách bờ biển Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế khoảng 45 hải lý. Ngày 29/1. tại vĩ độ 17, kinh độ 108' 30, sát bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, bô đội biên phòng cũng phát hiện tới 100 tầu Trung công đang đánh bắt cá". Cũng theo báo chí Cộng sản, "vụ tầu Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng nhất lãnh hải Việt Nam là hồi tháng 11/2009, khi 17 tầu Trung Quốc vào rất sâu trong vùng biển vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, cách đường cơ sở 8 hải lý và chỉ cách bờ biển Thuận An có 24 hải lý."

Người ta còn nhớ đã nhiều lần Trung Quốc bắn tầu đánh cá của ngư dân Việt ngay tại lãnh hải của mình. Nhiều ngư dân bị bắt cóc và bị đòi tiền chuộc mạng. Cuối năm ngoái, khi tránh bão vào đảo Hoàng Sa, ngư dân Việt đã bị xua đuổi bằng nhiều phát súng, khiến cho nhiều tầu bị hư hỏng, có tầu bị chìm vì bão.

Trong khi ấy, trên đất liền, Trung Cộng cũng có nhiều hành vi ngang ngược không kém. Họ đánh người Việt trên đất Việt một cách khinh bỉ. Hai người Trung Cộng đã đánh chết một người Việt Nam rồi tỉnh bơ bỏ đi, trước cặp mắt hãi sợ của dân chúng.

Chung quanh vùng đất mà Trung Cộng thầu, tất cả những người dân nghèo nào bén mảng đến khu đất tự trị ấy, liền bị hành hạ. Có người vi đói quá, đi ăn trộm vặt bị treo cổ ngay tại cổng hãng xưởng của Trung Cộng. Một lần, khi có xung đột lớn với dân làng, hàng trăm công nhân Trung Cộng vác gậy gộc ra đánh cả làng chạy re. Ngay cả Bí Thư, Công An, Chủ Tịch cũng phải bỏ chạy, vì đã nhận được lệnh của cấp trên là "giải quyết theo tình hữu nghị, tránh xung đột với những công nhân Trung Quốc!"

Điều nghịch lý là đối với các hành vi ngang ngược, hiếp đáp dân chúng, chiếm đóng lãnh hải và lãnh thổ như thế, nhà cầm quyền Cộng Sản lại tỏ ra nhu nhược quá đáng. Vì không muốn để "đàn anh Trung Cộng" xài xể, Việt Cộng lại bắt giam những người yêu nước, chống Trung Cộng xâm lăng và bạo ngược. Nhiều sinh viên khi biểu tình chống bắc phương liền bị bắt giam. Nhà báo Nguyễn Văn Tính sau khi chứng kiến sự việc hai tay Trung cộng đánh chết người dân, đã viết bài về "tính Vô cảm" của người Cộng Sản Việt. Sau đó, ông bị bắt vì tội làm "xáo trộn trật tự xã hội"!

Như đã trình bầy ở trên, nhiều nhà Dân Chủ đã bị kết án tù nhiều năm chỉ vì dám nói tiếng chống lại Trung Cộng. Lý do mà nhà cầm quyền đưa ra là "hãy để cho cấp trên xử lý, nhân dân không được tự quyền giải quyết". Do đó, nhà cầm quyền phải phạt nặng các người yêu nước đó để làm gương cho những người khác không còn dám có ý tưởng vọng động.

Hiện nay, vì chính sách nhu nhược như thế, các nghĩa địa mới viêt toàn bằng chữ Hoa đang mọc lên khắp nơi. Cứ theo tình hình ấy, thì chẳng bao lâu, đất nước Việt Nam sẽ thành một bộ tộc của Trung Cộng, cũng như Tân Cương, Tây Tạng và Mông Cổ.

Chu tất Tiến
(*) Theo lời Ngoại Trưởng Trung Cộng.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Chỉ trong 8 ngày, cụ bà "Thân Cò 76 Tuổi" nghèo khổ ở Nha Trang đã trở thành "Thiên Nga"
California, Feb. 20, 2010

- Kính gởi quý Diễn Đàn Internet và bà con người Việt khắp nơi;
- Đồng kính gởi Nhóm Ái Hữu KITCHENER WATERIOO tại Canada.

Thưa quý vị,

Rất cám ơn quý vị giàu lòng từ tâm đã hưởng ứng lời kêu gọi của VietPress USA để gởi tiền
giúp cho cụ bà "Thân Cò 76 tuổi" PHẠM THỊ ĐỜN tại Khánh Hòa (Nha Trang).

Sr. Lucia Nguyễn Thị KIM QUY (số Điện thoại +84-58-361-2861) đã nhận được số tiền quý vị
thuộc Nhóm Ái Hữu KITCHENER WATERIOO tại Canada gởi là $150.00 Canada Dollars (Một trăn năm mươi) và đã tận tay chuyển cho cụ bà PHẠM THỊ ĐỜN.

Thể theo yêu cầu của quý vị rằng nếu nhận được số tiền trên thì gởi Email báo tin cho quý vị biết về địa chỉ Email givral2003@yahoo.ca, nhưng tiếc rằng "Xơ" Lucia Nguyễn Thị KIM QUY ở trong một xứ đạo quá nghèo chưa có khả năng mua được một máy PC để gởi Email. Thế nên Sr. Lucia Nguyễn Thị Kim-Quy có nhờ chúng tôi thông báo đến quý vị ân nhân trong Nhóm Ái Hữu tại Canada được biết rằng Sr. Kim Quy đã nhận đủ số tiền nói trên và đã chuyển tận tay cho cụ bà "Thân Cò 76 tuổi" PHẠM THỊ ĐỜN.

VietPress USA sẽ có một bản tin cập nhật về tình trạng của cụ bà Phạm Thị Đờn; nhưng trước mắt, chúng tôi vui mừng báo tin với quý vị rằng, kể từ khi VietPress USA tìm ra địa chỉ và tên thật của cụ bà "Thân Cò 76 tuổi" và gởi tin tức lên các Diễn Đàn Internet để truyền đi cho bà con người Việt khắp thế giới vào ngày 11-2-2010 (nhằm ngày 28 Tết Canh Dần), thì cho đến ngày hôm qua 19-2-2010 (nhằm ngày 6 Tết Canh Dần) là đúng 8 ngày, cuộc đời của cụ bà "Thân Cò 76 tuổi" đã hoàn toàn thay đổi. Có thể nói rằng bà đã trở thành "THIÊN NGA" rồi, chứ không còn là "Thân Cò" vàng võ mò cua bắt ốc nữa. Tất cả là nhờ tình thương của quý vị.

Mỗi người một chút từ tâm, chúng ta đã thay đổi được một cuộc đời đen tối trở thành sáng lạn mà quý vị sẽ không ngờ. Quý vị có biết rằng nhờ các Diễn Đàn chuyển tin đi khắp thế giới, bà con cộng đồng người Việt Hải Ngoại đã gởi về cho cụ "Thân Cò 76 tuổi" Phạm Thị Đờn bao nhiêu tiền không?

Quý vị cứ đoán thử và xin đọc bản tin cập nhật hôm nay của VietPress USA sẽ thấy rằng chúng ta đã gởi một tín hiệu tình thương về Việt Nam rằng cộng đồng người Việt hải ngoại luôn sẵn sàng đóng góp xây dựng đất nước, nâng cao đời sống người dân, với điều kiện Đảng và Nhà Nước CSVN phải tận diệt tham nhũng, ưu tiên lo cho dân hơn là cướp đất đai tài sản của dân oan và của các tôn giáo để biến đa số người dân thành những cụ bà "Thân Cò" đói khổ; hãy để cho dân có tự do dân chủ; hãy cùng với dân bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam hơn là bán đất dâng biển cho Tàu Cộng. Người Việt hải ngoại làm sao về xây dựng được tổ quốc Việt Nam khi mà giang sơn gấm vóc do tiền nhân bao đời xây dựng và con cháu hằng nghìn năm ra sức bảo vệ thì nay đã bị Đảng và Nhà Nước CSVN bán dâng cho Tàu Cộng. Thử hỏi người dân trong nước và bà con hải ngoại có ai đến được để xây dựng Hoàng Sa, Trường Sa hay Thác Bản Dốc vào giờ nầy hay không?

Là Đảng cai trị và là nhà cầm quyền tại Việt Nam, hãy bảo vệ dân được no ấm và có tự do dân chủ nhân quyền; hãy bảo vệ tổ quốc được toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải. Những người chống giặc Bắc Phương xâm lăng cướp nước là những nhà ái quốc, họ như những con "chim báo bão", không nên bắt bớ giam cầm họ, mà phải nên tỉnh thức vì chắc chắn cơn bão "giặc Tàu xâm lược" sẽ ập đến !

Xin cám ơn quý vị.

HANH DUONG
VietPress USA
Cell. 408-591-6574
Cell. 714-602-1535
VietPressUSA@yahoo.com

Post Reply