Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG MỘT THỜI KHÓI LỬA
Thái Quốc Mưu
Làng quê tôi, một con giồng nằm vắt ngang những cánh đồng lúa xanh ngát bạt ngàn. Một đầu giáp mí dòng Hàm Luông cuồng cuộc sóng trào ra biển. Đầu bên kia chạm ngang hông dòng Cổ Chiêng vun đắp phù sa ngọt ngào.
Tôi rời làng quê khi chưa tròn bảy tuổi. Lớn lên ở thị xã Mỹ tho bốn mùa cây trái xanh tươi.
Anh em tôi trưởng thành trên quê hương đầy khói lửa. Hết giặc Pháp xâm lăng đến cuộc chiến tranh dân tộc tương tàn. Gia đình tôi lại dời về Chợ Lớn.
Cha tôi vốn dòng tộc Hán, Mẹ tôi cháu con dòng LạcViệt. Anh em chúng tôi mang trong người hai dòng máu Việt Hoa và nghề thương mại như là một thứ gène di truyền trong huyết thống. Ngoại trừ ông Chánh Đạo – Cha của chúng tôi, xé lẻ, viết cho tờ Hoa văn Á Châu Nhật Báo.
Vốn mang trong người năm mươi phần trăm dòng máu Trung Hoa và nghề thương mại thắm nhuần trong huyết quản từ thuở chúng tôi còn là cái phôi trong lòng Mẹ nhưng, do ảnh hưởng của phụ thân, anh em chúng tôi đều muốn tiến thân bằng con đường học vấn.
Chúng tôi lớn lên trong sự dạy dỗ nghiêm khắc của Cha chúng tôi. Mỗi khi anh em chúng tôi lỡ vi phạm điều gì ông ngăn cấm là y như rằng phải chịu những trận đòn chí tử. Tuy sự dạy dỗ có phần nghiêm khắc, nhưng chính nhờ những trận đòn hằn sâu mông đít mà anh em tôi - mười hai đứa, chẳng đứa nào bị sa ngã vào con đường ăn chơi, hư hỏng.
Từ người anh thứ Sáu trở lên đều làu làu Minh Tâm Bửu Giám, Tứ Thư, Ngũ Kinh,... Và ngày hai buổi chúng tôi đều đặn đến dưới hai mái trường Việt – Hoa.
Đến khi tôi trưởng thành, vì thất bại trong vài lần làm ăn, gia đình chúng tôi có phần sa sút! Cha má tôi quyết định đầu tư trí thức cho anh chị tôi, như ý định của ông bà: “lo xong cho mấy đứa lớn, để khi thành đạt tụi nó tiếp sức mình lo cho mấy đứa nhỏ.”
Thế là, từ tôi trở xuống các em tôi, bị tạm thời đình chỉ cắp sách đến trường Hoa.
Các nah chị tôi học hành rất chăm chỉ, lần lượt đỗ đạt, thành danh. Mấy năm sau đó, ở bệnh viện An Bình xuất hiện một bác sĩ chuyên khoa Nhi Đồng, hai trường Hoa ngữ Sùng Chính, Việt Tú có ông hiệu trưởng và một giáo sư mới. Trong giới luật sư tập sự có thêm hai người. Tất cả đều là anh chị của tôi.
Không như tôi, vừa kém thông minh, vừa biếng nhác, nên việc học hành chẳng ra hồn gì cả. Các em tôi dường như giành hết tinh anh của phụ thân tôi, đứa nào cũng thông minh, cần mẫn.
Năm 1969, khi thằng em Uùt (nó còn một đứa em gái Út) tôi vừa lấy cái BAC II thì chiến tranh bùng lên dữ dội. Lệnh Tổng Động Viên ra đời. Các anh tôi đã lớn tuổi, không bị luật nầy chi phối. Trừ đứa em gái Út, tôi với năm thằng còn lại bị “dính chấu”.
Năm ấy, năm thằng em tôi gần như cùng lúc bị đẩy vào quân trường. Hai năm sau, gia đình tôi có năm chàng sĩ quan bất đắc dĩ.
Tôi nhớ rất rõ, ngày các anh chị tôi tốt nghiệp đại học Cha tôi rất vui, trên tờ Á Châu Nhật Báo dẫy đầy những khung chúc mừng. Độc giả người Hoa của tờ báo tầm cỡ nầy được đọc những bài viết, bài thơ của văn thi sĩ Chánh Đạo hay hơn, sinh động hơn. Má tôi, trẻ hẳn ra, đôi mắt bà long lanh, ngời sáng hơn.
Đến khi nhà tôi chưa đầy hai năm có đến năm “ông quan” mặt còn non choẹt, tôi thường thấy đôi mắt của Cha tôi đăm chiêu nhiều hơn, ánh mắt của má tôi dường như lúc nào cũng có áng mây mù bao phủ và tiếng thở dài đều dặn hơn. Bà gầy trông rõ nét!
Thuở ấy, Cha chúng tôi đã ngoài bảy chục. Chẳng biết do chúng tôi đã trưởng thành hay do “người già thay đổi tính nết”, hay do giác quan thứ sáu báo hiệu điều gì đó nên sự khắc nghiệt về giáo huấn ở Cha tôi có phần lơi lỏng, cởi mở hơn. Khi nói chuyện với chung tôi ông ban tặng những nụ cười nhiều hơn nét lạnh lùng nghiêm nghị cố hữu.
Phần tôi, có lẽ do số trời đã định, bản tính lè phè, chẳng có số làm quan. Tự biết yếu điển mình, tôi chơi bài “chuồn” với luật chiến tranh. Tới đâu thì tới. Bí quá, đi lình là cùng.
Chẳng những tôi trốn luật Tổng Động Viên mà trốn cả Cha tôi về vấn đề nầy. Và, sự trốn tránh của tôi rất được sự đồng tình của má tôi, tuy nhiên trong lòng Má tôi luôn lo âu hồi hộp.
Mỗi khi có cảnh sát xét nhà, mười lần như một, lồng ngực Má tôi muốn nổ banh ra. Khi tôi ra đường, Má bảo tôi phải đem tiền theo kha khá để nếu không may bị xét hỏi thì có “tiền trà nước” với mấy thầy cảnh sát hầu được làm ngơ trở về.
Ở đời, dầu chuyện long trời lở đất đến mức nào chăng nữa, lâu dần cũng quen. Vả lại, mỗi khi “gặp chuyện”, nhờ có tiền “chung” cho các thầy đứng đường xét hỏi, nên tôi thấy mình không bị gò bó như những người “đồng bệnh”, nhưng nghèo khó hơn tôi.
Trong một dịp vui chơi, tình cờ tôi gặp, quen với cô con gái rượu của một vị “quan đại thần”. Ông ta là nhân vật thứ ba của một Bộ. Ban đầu sơ giao, lâu dần thân thiết, mãi đến một hôm nàng báo tin: “Sao tháng nầy em chẳng thấy gì cả!”
Trái bom nếu nổ ra, chẳng khác nào hũ mắm treo đầu giường. Hiểu được điều đó, vị quan đại thần bảo con gái cưng, dẫn tôi về cho ông xem mặt. Là kẻ “gây án” lại là lần đầu tiên bước vào ngôi biệt thự sang trọng của ông lớn đương thời. Vừa bước qua cánh cổng trước nhà, hai đầu gối tôi run bần bật, dường như đứng không muốn vững, chúng chực chờ khuỵu xuống bất cứ lúc nào. Thấy vậy, người đẹp đến bên tôi bảo nhỏ: “Anh đừng sợ, nếu anh có bề gì em tự vận chết liền!” Lời nói bảo chứng của nàng như là một thứ đan được cực kỳ hiếm hoi. Tôi yên tâm tiến bước.
Tôi bước vào nhà, thấy quan ngài áo quần chỉnh tề như sắp sửa ra đi, đang ngồi trên chiếc ghế sofa ba chỗ bằng mây. Đồi diện ông to là bà lớn. Trong khi tôi cúi đầu chào, thì người đẹp của tôi nói:
- Ảnh đến nè Papa!
Vị quan đưa ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào tôi, xong gật gật mái đầu, khẽ bảo:
- Ngồi xuống đi cháu!
Tôi còn đang luýnh quýnh, chần chừ chưa biết phải như thế nào. Ngay lập tức nàng ấn tôi ngồi xuống rồi nói:
- Ngồi xuống đi! Papa bao anh ngồi kìa!
Người tôi vừa chạm xuống chiếc ghế êm đềm, nàng bèn ghé mông tựa vào tay ghế, một tay choàng sau ngang vai tôi nghiêng người chống tay vào tay ghế bên kia. Phu nhân vị đại quan cũng gật gật đầu tủm tỉm cười. Tôi liếc nhìn, thấy bà tuyệt đẹp, màu da quý phái trắng ngần. Sau, vào thời đó, tôi chưa bao giờ thấy một mệnh phụ phu nhân nào đẹp như thế! Nhờ vậy, lòng tôi giảm bớt chín chục phần trăm lo lắng.
Khi tôi ra về, được tài xế lấy công xa bốn bánh đưa đến tận nhà. Lần đầu tiên trong cuộc đời, ngồi trên chiếc công xa du lịch của quan lớn tôi cảm thấy như mình đang bay bổng trên chín tầng mây.
Bữa cơm tối hôm ấy, tôi kể hết những gì vị đại quan nhắn gởi đến Cha Má tôi. Nghe tới đâu mái đầu trắng phau của Cha tôi gật gù tới đó. Cuối cùng ông nói:
- Tử vi của con, mệnh tại cung quan lộc. Mà mầy thì làm quan cái nỗi gì, cho nên ý Trời đổi thành thân cận đại thần là như vậy đó!
Nói xong, ông tâm đắc, cất giọng cười to:
- Số Trời! Đúng là số trời! Ha! Ha! Haaaa!
Sau ngày cưới, vì vợ tôi vốn là trâm anh tiểu thư, chẳng lẽ về làm dâu nhà dân giả lao động? Lại càng không thể “anh nhà anh, em nhà em”. Cho nên, tôi phải giả từ can phố ba tầng bên hông Bình Tây, từ giã hết tất cả những kỷ niệm êm đềm, ấm áp của mình để dời tên tuổi đến nhập tên vào sổ gia đình trong ngôi biệt thự. Tôi không ngờ mình đi ở rẻ. Và, khúc ngoặc đời tôi từ đó!
Thế là, từ một thằng người học hành dở dở ương ương, bản chất lè phè, trốn lính, tôi phủi chân cái rụp nhảy tót lên chỗ mà nhiều anh chàng thanh niên, nhiều vị công tử của những ông quan lớn khác chỉ sống trong mơ ước.
Mỗi lần tôi muốn làm điều gì thì có gia nhân vâng vâng, dạ dạ. Một điều cậu Hai, hai điều cậu Hai. Khi vợ chồng tôi muốn đi đâu chi cần bảo chú Mười tài xế một tiếng, là những cánh cửa của chiếc công xa du lịch rộng mở.
Thời thế đổi thay, tính tình con người cũng thay đổi. Mỗi lần ngồi trên chiếc công xa của ông lớn, thằng tôi hách ra phết, mỗi khi xe chạy ngang qua những ngả đường có các thầy Cảnh sát đứng xét bắt quân dịch – đó là những nơi mà trước kia tôi rất kiêng kỵ léng phéng đến – tự dưng cái bản mặt của tôi vác hất, nét kênh kênh phách lối trông mất dại làm sao! Khi đó trong tôi như thách thức, thầm bảo: “Có ngon thì chận xe lại xét giấy tờ ông đi! Sao đứng đó nhìn? Sợ ông rồi à?... Tôi quên bẵng lúc trước, khi cùng đường con người tôi co rún lại, vậy mà đến khi có chút hơi “cứt cọp” liền lên mặt, hợm mình. Cái khốn nạn của đời là thế và tôi cũng là một trong những kẻ khốn nạn như thế!
Tôi sống bên nhà vợ rất yên ấm, vì vợ tôi là con trưởng, rất được ông bà lớn tâng tiu chiều chuộng.
Chiều chiều, nếu không cùng vợ tôi rong xe trên đường phố, tôi lấy chiếc xe đạp thể thao chạy rong rong cho thư giản... Đến một hôm...
Thấy cảnh sát hách dịch:
- Đưa giấy tờ xem!
- Giấy tờ gì?
Thầy cảnh sát nói như gằn giọng:
- Giấy tùy thân.
Tôi đáp nhát gừng:
- Quên đem theo!
Ông ta nói như hét:
- Dẫn xe vô lề. Lên xe!
Tôi nhìn theo cánh tay của thầy Cảnh sát, thấy trên xe có năm bảy thanh niên ngồi, vẻ mặt buồn thiu. Tôi hiểu ngay họ vừa bị chận xét bắt... đưa đi nhập ngũ. Tuy trong người không có tờ giấy lộn, nhưng ỷ thế mình con rể quan to. Tôi bướng bỉnh:
- Không lên! Mầy biết tao là ai không?
Thầy Cảnh sát nghiến răng:
- Đụ mẹ! Trốn lính mà còn cương hả? Cái mửng nầy bọn tao đã gặp thường rồi...
Nói xong, thầy Cảnh sát đưa tay làm hiệu, hai thầy đứng bên kia đường ào tới, xô tôi chúi xuống xe đạp, rồi ba thầy vừa cặp nách vừa khiêng tôi đẩy lên xe.
Biết mình gặp nạn, ngồi trên xe hai cánh tai tôi tự nhiên quặp xuống, tôi thu người ngồi co ro, mặt xanh chàm như gà nuốt dây thun. Vẻ hách dịch, phách lối khi ngồi trên chiếc công xa du lịch biến mất tự lúc nào...
Cuộc hành quân bắt quân dịch, cuối cùng cũng chấm dứt. Trên xe bấy giờ có bốn, năm chục người. Họ đều nằm trong lứa tuổi bị động viên.
Chiều hôm ấy, bọn thanh niên bất hạnh trong chúng tôi được chở đến Trung Tâm 3 Nhập Ngũ. Trong bữa ăn tối, lợi dụng cơ hội nầy và với lời hứa sẽ tặng hậu hĩ một số tiền, một ông Trung sĩ trẻ đồng ý giúp nhắn tin cho vợ tôi.
Sáng hôm sau, chúng tôi, đông lắm bắt đầu làm thủ tục nhập ngũ. Tại đây, tôi phát hiện ra điều kỳ quặc – Họ bắt chúng tôi làm đơn xin đi lính. Mẹ kiếp! Thật là lếu láo. Chúng tôi trốn lính thấy mẹ chớ có tự nguyện đi lính đâu mà bắt chúng tôi phải làm đơn xin đi lính? Sau nầy, cái ngu của tôi được khai sáng ra. “Làm đơn xin đi lính”, cũng chỉ là một sự cưỡng bách mà thôi.
Khi sang Mỹ, tôi nghe một vị “mất quan” khoe rằng, “tôi là người có lý tưởng vững chắc, có tinh thần chống Cộng đầy mình, được đào tạo chính quy, tôi vào đại học... (một trong các đại học nhà binh) phải làm đơn, tôi...” Mẹ! đời sao lắm thằng lếu láo thế? Tôi là thằng trốn lính chí tử, bị bắt, bị ép buộc đi lính cũng phải làm đơn kia mà! Khi ấy, giả như tôi cắc cớ hỏi ông ta, “nếu không bị luật Tổng Động Viên chi phối, khi tốt nghiệp Tú Tài toàn phần, ông chọn các viện Đại Học dân sự hay chọn nghề lính?” Đáng tiếc, tôi đã quên, không hỏi điều ấy!
Bữa cơm trưa hôm ấy, bọn tân binh chúng tôi đứng sắp hàng quanh những bàn ăn chuẩn bị nghi thức trước khi ăn, thì...
Một ông thượng sĩ già hộc tốc chạy đến, chưa kịp đến nơi, ông ta vữa thở vừa hét trướng lên:
- Diệp Sĩ Hùng! Ai là Diệp Sĩ Hùng?
Tôi tách khỏi bàn ăn, rụt chân đứng nghiêm hét:
- Có mặt!
Người Thượng sĩ già tiến đến bên tôi, thẳng người, chào theo quân cách:
- Chào “xếp”, mời cheff trở lại phòng thu dọn đồ đạc ra về.
Tôi khoác tay đáp:
- Không cần, tôi chẳng có gì để thu dọn.
- Trả quân trang?
- Ông trả giùm tôi! – Tôi nói như ra lệnh.
Vừa theo chân người Thượng sĩ già, vừa quay đầu nhìn lại những chàng thanh niên cùng cảnh ngộ. Tôi thấy họ nhìn tôi bằng những cặp mắt cả nể, thèm thuồng. Tôi nhìn họ bằng vẻ mặt ta đây, kênh kiệu. Khốn nạn thật!
Đến văn phòng, người sĩ quan trẻ đang ngồi làm việc, thấy tôi anh ta vội vàng đứng lên niềm nở bắt tay, rồi anh ta trao tôi những giấy tờ cần thiết. Sau gió, nói mấy lời xã giao, xong anh ta rời khỏi bàn tiễn chân tôi ra tận cửa. Ngoài sân, chú Mười tài xế chẳng biết đến từ bao giờ, vừa thoáng thấy tôi vội vàng nhảy xuống mở cửa xe. Bên trong, vợ tôi đang ngồi ở ghế sau. Tôi vừa yên vị, vợ tôi cầm tay tôi xuýt xoa thương cảm. Tôi ôm đầu nàng ép chặt vào ngực mình xong, hôn mạnh một phát, nói đùa:
- Anh tưởng, kỳ nầy em có dịp làm vợ “quan” rồi.
Vợ tôi cười, đáp:
- Làm vợ quan bé sao bằng làm con quan lớn? Em thích làm con quan lớn hơn!
Câu nói vô tình của vợ tôi, khiến tôi chợt nghĩ đến sự việc vừa qua. Từ khi tôi bị các thầy Cảnh sát bắt lính, cặp nách, khiêng đẩy lên xe đến khi vào làm hồ sơ nhập ngũ, thằng người tôi chẳng khách gì con mèo ướt. Các quan ngài làm việc ở Trung Tâm 3 không một chút lòng thương cảm. Họ lớn tiến quát tháo, nạt nộ. Đến khi ông già vợ tôi gọi phòng và cho người đến đón tôi thì cách đối xử của họ với tôi hoàn toàn khác biệt. Tôi rút ra kết luận, ở đời, chẳng những người ta sợ cọp mà còn sợ cả cứt cọp. Tôi lại nghĩ, nếu mình không phải là cứt cọp thì giờ nầy, chẳng khác gì hàng hàng lớp lớp thanh niên bất hạnh từ khắp nẻo đường đất nước bị bắt lính tống vào đây. Đặc biệt, những người tuổi trẻ đang ngồi quanh những dãy bàn ăn. Tương lai họ sẽ đi về đâu?
Mấy năm sau, gia đình tôi lại làm ăn phất lên, trong một mùa Xuân, nhà tôi tràn ngập hoa mai. Những chậu mai thực vật được kẻ ăn người ở trong nhà o bế, cẩn thận đặt vào những nơi thích hợp nhất. Những đóa hoa mai bằng kim loại vàng, trắng ngời sáng lấp lánh trên cổ áo các em tôi.
Nhưng “ông quan” nầy, không ai biết rõ chúng bằng gia đình tôi. Tụi nó là hiện thân của những chàng thành niên bất hạnh, sinh ra, lớn lên trong thời chiến và bị cướp mất tất cả mọi hoài bảo. Chúng nó, bị cưỡng bách làm những điều chúng nó không bao giờ muốn. Chúng nó chẳng có lý tưởng lý tiết quốc gia hay tinh thần chống Cộng gì cả! Mộng của tụi nó là tiếp tục học để trở thành những bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo,... Nhưng người ta đã áp đặt lên đầu và bắt buộc chúng nó làm quan, đày ra chiến trường biến chúng nó thành những tên đồ tể, những công cụ giết người và để bị người giết. Sự gian lao, nguy hiểm mà chúng nó cùng những người thanh niên thời đó phải gánh chịu chỉ để cho một thiểu số nhưng đầy quyền lực buôn lậu, bán xì ke, ma túy, tham ô, tham nhũng, lộng quyền,... cho vợ con của chúng được tha hồ đi lu lịch đó đây, chơi bạc bài, trách táng,...
Trong bữa ăn tối cuối năm, tôi nhìn bông mai trắng trên cổ áo thằng em kế tôi, hỏi đùa:
- Nhân! Bây giờ có lẽ mầy đã mang lý tưởng đầy mình?
Nó trả lời giọng trầm buồn:
- Lý tưởng gì anh! Thời nầy thằng nào nói lý tưởng, thằng đó là chúa xạo! Nó dối người và dối chính bản thân nó. Thử hỏi, nếu nó không bị chi phối bởi luật Tổng Động Viên thì họ có dám lăn mình vào chỗ chết hay không? Trong đời lính, không có chỗ dựa bề thế, mồ côi như tụi em mới chẳng được làm việc ở văn phòng, phải chịu đi tác chiến mà thôi. Ai mà chẳng sợ chết? Anh nghĩ coi, thằng nào đang ở ngoài đơn vị tác chiến được rút về làm ở những nơi ngày ngày đi về hai buổi, tối nằm ôm đít vợ mà không mừng thấy mẹ hả anh?
Em nói thật, khi hành quân, ra chiến trận nếu mình không giết đối phương thì sẽ bị họ giết. Do đó, bằng mọi mưu lược mình phải diệt họ, giết càng nhiều càng tốt! Nếu không, mình chết làm sao? Nhưng khi đứng trước hàng quân, trước mọi người em phải “giương cao lý tưởng” của mình. Nếu không, sẽ bị trù dập làm sao cất đầu lên được. Phét riết rồi cũng quen, đi đâu, ở chỗ nào cũng đem lý tưởng ra hù thiên hạ.
Nghe cách nó nói, Cha tôi làm thinh. Má tôi khẽ lắc đầu ngao ngán!
Năm đó, kể từ khi các em tôi bị bắt buộc vào quân trường học làm quan rồi ra làm quan, nhà chúng tôi mới có một mùa Xuân đoàn tụ, không khí gia đình ấm cúng, vui vẻ.
Chiều hôm ấy, Má tôi bảo tôi lên sân thượng. Bà nghẹn ngào nói:
- Má không ngờ, người ta đào tạo, nhồi nhét vào đầu các em con như vậy đó! Thật là khủng khiếp, thật là kinh khủng! Toàn là sự lừa bịp dối trá!
Nói xong, Mà tôi ngồi phệt xuống ghế, ôm đầu khóc nức nở. Tôi ngồi xuống kế bên, ôm vai má tôi an ủi:
- Má đừng buồn! Thời chiến tranh gia đình ai cũng vậy! Đâu chỉ gia đình mình! Con nghĩ, gia đình mình các em con được như vậy cũng là phúc lắm rồi!
Má tôi gạt nhẹ tay tôi ra, Bà nói:
- Phúc gì con? Các em con nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa nên được làm quan nầy quan nọ. Còn những người khác thì sao? Mấy ai may mắn như tụi nó? Những kẻ thống trị chỉ là một lũ độc ác. Rất độc ác! Chúng chỉ tranh giành và nghĩ đến quyền lợi riêng tư, chớ yêu nước yêu non gì con...
Tôi lặng người, đứng lên nhìn hai bờ vai Má tôi rung rung theo nhịp nấc. Tôi chợt hiểu ra, Má tôi chẳng những lo nghĩ đến sự nguy hiểm đang đe dọa các em tôi mà còn nghĩ đến sự gian nan nguy hiểm của những người trai trẻ khác. Ôi lòng những bà Mẹ Việt Nam rộng lớn, bao dầu cả năm đại dương kết lại cũng không bằng!
Sau ba ngày tết,các em tôi chia tay gia đình trở ra mặt trận. Thằng Nhân (thứ Tám), em kế tôi, trở về đơn vị Biệt Động Quân ở tận Pléku; thằng thứ Chín, đại úy Chỉ Huy Phó Pháo Binh Diện Địa trở lại tiểu khu Bạc Liêu; thằng thứ Mười, Trung úy sĩ quan truyền tin ở Bộ Tổng Tham Mưu; thằng thứ Mười Một, Trung úy Địa Phương Quân vể tiểu khu Biên Hòa; thằng thứ Mười Hai, Trung úy Đại Đội trưởng trinh sát Sư đoàn 7 Bộ Binh vội vàng trở lại căn cứ Đồng Tâm.
Trong nhà chỉ còn lại Cha, Má chúng tôi và đứa em gái Út – Con nhỏ nầy đang học Đại học Sư Phạm. Tối hôm đó, vợ tôi lái xe đến rước, tôi về gia đình ông Nhạc.
Mùa Xuân năm ấy, là mùa Xuân đoàn tụ vui nhất và cũng là mùa Xuân đau đớn nhất của gia đình tôi.
Rằm tháng Giêng năm đó, gia đình tôi nhận được hung tin, thằng em kế tôi, Thiếu Tá Diệp Sĩ Nhân bị tử thương trong trận đáng giáp lá cà với đối phương. Năm ngày sau, thằng em trai Út, Diệp Sĩ Cường mang niềm mơ ước kỹ sư Công Chánh xuống lòng đất. Đâu tháng Hai, gia đình tôi lại nhận thêm được giấy báo Trung Úy Địa Phương Quân, Diệp Sĩ Chí (thằng thứ Mười Hai) trong khi đi trinh sát bị lọt ổ phục kích bị tử vong. Những hung tin đổ ập xuống, tràn đến gia đình tôi như thác lũ, chẳng chút xót thương. Má tôi đã già càng khô héo hơn. Cha tôi đáy mắt càng sâu thêm.
Trong mỗi lễ trang của một đứa em tôi ra đi, anh em chúng nó đều về đủ mặt. Một vài đứa nghiến răng với lời thề quyết chí báo thù. Mấy thằng ở đơn vị bộ binh, truyền tin, pháo binh có ý xin về Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến để có cơ hội diệt địch nhiều hơn.
Cha tôi nói:
- Thù gì mà trả? Thằng Nhân đã nói, ở chiến trường mình không giết đối phương thì đối phương giết mình. Đó là quy luật chiến tranh. Tao với Má tụi bây, chưa đầy một tháng phải khóc ba đước con, như vậy chưa đủ sao? Tụi bây muốn tao với bả phải khóc thêm đứa nào nữa đây? Thời súng đạn, đứa nào ở yên nơi nào thì nên giữ nơi đó!
Ngừng một chút, Cha tôi tiếp:
- Chưa đầy một tháng, mất ba đứa con, tụi bây có biết tao đau đớn dường nào không? Thế mà tao chưa hề nghĩ đến thù hận mà chỉ nghĩ do số Trời. Phải tất cả đều do số Trời!
Tôi tự nghĩ: Số Trời! Đúng không? Nhưng rồi tôi chợt hiểu đó chỉ là cách nghĩ thụ động, một cách chấp nhận để tự an ủi mình, nhưng tốt nhất, hữu hiệu nhất!
Cha tôi trầm giọng, tiếp:
- Tao nhắc lại, đứa nào đã yên thân ở chỗ nào thì cứ ở đó. Các con đừng để tao với má tụi bây phải khóc thêm. Còn nếu muốn trả thù, hãy tìm những kẻ đẩy các con vào chỗ chết mà trả thù. Chính những kẻ đó mới là tội phạm. Những kẻ đó là những tên đẩy người khác vào chỗ chết để bản thân cùng vợ con chúng vui hưởng giàu sang.
Sau khi tôi bị cảnh sát chận đường bắt lính rồi từ Trung Tâm 3 Nhập Ngũ ra về. Một hôm, Me (không có dấu nặng) vợ gọi tôi đến, bảo:
- Papa con bảo Me hỏi con, nếu muốn làm chung Bộ thì ông ấy đưa vô làm. Nếu muốn làm nơi khác Papa con sẽ gởi cho, chớ tình hình bây giờ con không thể nhong nhong như vầy hoài...
Tôi kính cẩn đáp:
- Thưa Me, vợ chồng con cũng có nghĩ đến vấn đề nầy...
Tôi chưa dút lời, vợ tôi chen vào:
- Ảnh nói với con rất thích làm ở Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Me nói với Papa nha!.
Khoản hai tháng sau, tôi lọt vào làm ở nơi mình muốn.
Điêu nầy, cho tôi thêm nguyên lý sống: Trong bất cứ thời kỳ nào hay bất cứ dưới chế độ nào, nếu muốn được sống an nhàn, yên ổn... điều tiên quyết phải là “Xê Ô Xê Xê” (CÔCC = viết tắt cụm từ Con Ông cháu Cha), nếu không phải có thề lực đầy mình, không nữa phải có rất nhiều tiền. Nếu những thứ đó đều không có cả thì phải chấp nhận số phận hẩm hiu của những cuộc đời bất hạnh nhất.
Thời đó, anh em chúng tôi hoàn toàn không hề có chút lý tưởng, không hề có tham vọng, dù rất nhỏ nhoi! Tất cả đều bị cưỡng bách và trong trường hợp bất khả kháng. Nhưng sau ngày 30/4/1975, tôi cùng mấy thằng em còn lại một lần nữa bị cưỡng bách phải chấp nhận, phục tùng một mệnh lệnh khác, Tập Trung Cải Tạo. Một lần nữa, Cha Mà chúng tôi nhỏ lệ khóc vì chúng tôi.
Tháng 11/1984, trong khi tôi được “Trả Tự Do”, thì các em tôi vẫn còn “Đền Nợ Máu” ở các nhà tù khác nhau.
Tết năm đó, tôi tìm về nơi chôn nhau cắt rốn.
Sau ba mươi năm xa cách, trở về quê cũ, tôi thật sự bàng hoàng, cảm thấy như mình đang lạc trong lòng hoang mạc. Chẳng nhận ra một người quen. Cảnh vật hoàn toàn khác biệt. Tôi hỏi thăm và cuối cùng cũng tìm được những người muốn tìm, tới được những nơi mình muốn tới.
Đến nơi thứ nhất, ấn tượng đầu tiên trong tôi là mái nhà lợp lá dừa nước, vách phên tồi tàn. Ấn tượng thứ hai là vị chủ nhà. Ông ấy là Hai Căn, người anh con Dì của tôi.
Hai Căn là con đầu của người thứ Hai, còn tôi thứ Bảy, con của người thứ Sáu. Vì thế, anh ấy lớn hơn tôi khoảng trên dưới ba chục tuổi. Nhìn Hai Căn, tôi vô cùng xúc động, cả thân người anh đen như cột nhà cháy, giả như anh là con vật thì cơ thể ấy lóc ra chưa đầy năm ký thịt.
Vốn là đảng viên cộng sản nghỉ hưu, mỗi tháng Hai Căn được lãnh bốn-trăm ngàn đồng hưu liễm. Nhưng sổ hưu anh đã đem cầm bốn trăm ngàn đồng, lấy tiền chạy thuốc cho cháu ngoại của anh. Gần năm qua, anh chưa có tiền chuộc lại.
Trong khi ngồi trò chuyện, tôi hỏi anh:
- Anh theo Cộng sản từ hồi nào?
- Từ sau ngày đồng khởi *
- Sao tự nhiên anh đi theo Cộng sản? Anh thích lý tưởng đó phải không?
Anh Hai Căn sửa lại cách ngồi rồi thở dài, nói:
- Chú mầy cũng biết, tụi tao ít học có biết lý tưởng là cái gì đâu! Đi theo cách mạng chẳng qua là có cơ hội trả thù cho con gái Út của tao.
- Trả thù? Sao lại trả thù?
- Sau ngày đồng khởi, trong một cuộc càn quét ngang đây, con nhỏ Út của tao bị một thằng Chuẩn úy cưỡng hiếp. Tao thưa lên Quận, rồi ở Tỉnh, tuốt lên cả Sàigòn, chẳng chỗ nào thèm giải quyết hết. Bất mãn, đường cùng anh em tao quyết định trả thù! Muốn trả thù chỉ còn cách là đi theo cách mạng. Thế là anh em, con cháu tao gần năm chục người quyết định vào rừng hết. Đi rồi thì có đứa chết, đứa sống. Thằng chết thì yên mồ yên mả, nhưng mối căm thù lại chất thêm lên vai thằng sống. Vì thế tụi tao cứ tiếp tục đi. Đi để tiếp tục trả hận thù...
Nghe anh kể, tôi giật mình. Tôi sống ở Sàigòn, lại là thứ “cưt cọp”, có hơi hám uy quyền, nên tôi không thể nào tưởng tượng nỗi có những trường hợp như thế xảy ra trong đời sống của người dân hiền lành ở nông thôn.
Hành vi tồi bại của tên Chuẩn úy khiến tôi chiêm nghiệm ra điều: “Trong những vườn hoa đẹp, không thể tránh khỏi những con sâu!”
Tôi tự hỏi, điều bất hạnh của gia đình người anh con Dì tôi là một rồi chấm hết hay những chuyện tương tự còn xảy ra vô vàn ở gia đình những người nông dân khác tôi chưa được biết?
Những kẻ như tên Chuẩn úy nào đó, không những làm suy sụp đạo đức, vi phạm pháp luật mà còn đánh phá kỷ cương của một quân đội hùng mạnh nhất nhì châu Á thời bấy giờ. Vậy mà vì sao chúng được bao che? Phải chăng đó cũng là một thứ cứt cọp, cứt beo? Hay là kẻ lắm bạc nhiều tiền và bạc tiền nhà nó đã đốt cháy lương tâm những thằng cấp trên của nó?
Còn tên Chuẩn úy kia, sau khi thỏa mãn dục tính, có biết chăng hắn để lại bao nhiêu căm thù ở lòng người và sự hận thù ấy biết đâu đã nhắm, trút vào thân xác các em tôi khiến chúng ngã gục?
Thời ấy, tôi không biết có bao nhiêu người bị cưỡng bách làm quan như các em tôi? Bao nhiêu người bị bắt lính đày ra trận địa? Và, bao nhiêu người dân nông thôn hiền lành, chân chất như Hai Căn khi bị đẩy vào bước đường cùng đã trở thành đảng viên Cộng sản?
Tôi thật sự đau lòng, thật sự chảy nước mắt vì quê hương khói lửa. Lỗi bởi đâu? Phải chăng do tham vọng của những kẻ đầy quyền uy, thế lực xây dựng uy quyền và làm giàu trên xương máu của người khác?
Thái Quốc Mưu
Làng quê tôi, một con giồng nằm vắt ngang những cánh đồng lúa xanh ngát bạt ngàn. Một đầu giáp mí dòng Hàm Luông cuồng cuộc sóng trào ra biển. Đầu bên kia chạm ngang hông dòng Cổ Chiêng vun đắp phù sa ngọt ngào.
Tôi rời làng quê khi chưa tròn bảy tuổi. Lớn lên ở thị xã Mỹ tho bốn mùa cây trái xanh tươi.
Anh em tôi trưởng thành trên quê hương đầy khói lửa. Hết giặc Pháp xâm lăng đến cuộc chiến tranh dân tộc tương tàn. Gia đình tôi lại dời về Chợ Lớn.
Cha tôi vốn dòng tộc Hán, Mẹ tôi cháu con dòng LạcViệt. Anh em chúng tôi mang trong người hai dòng máu Việt Hoa và nghề thương mại như là một thứ gène di truyền trong huyết thống. Ngoại trừ ông Chánh Đạo – Cha của chúng tôi, xé lẻ, viết cho tờ Hoa văn Á Châu Nhật Báo.
Vốn mang trong người năm mươi phần trăm dòng máu Trung Hoa và nghề thương mại thắm nhuần trong huyết quản từ thuở chúng tôi còn là cái phôi trong lòng Mẹ nhưng, do ảnh hưởng của phụ thân, anh em chúng tôi đều muốn tiến thân bằng con đường học vấn.
Chúng tôi lớn lên trong sự dạy dỗ nghiêm khắc của Cha chúng tôi. Mỗi khi anh em chúng tôi lỡ vi phạm điều gì ông ngăn cấm là y như rằng phải chịu những trận đòn chí tử. Tuy sự dạy dỗ có phần nghiêm khắc, nhưng chính nhờ những trận đòn hằn sâu mông đít mà anh em tôi - mười hai đứa, chẳng đứa nào bị sa ngã vào con đường ăn chơi, hư hỏng.
Từ người anh thứ Sáu trở lên đều làu làu Minh Tâm Bửu Giám, Tứ Thư, Ngũ Kinh,... Và ngày hai buổi chúng tôi đều đặn đến dưới hai mái trường Việt – Hoa.
Đến khi tôi trưởng thành, vì thất bại trong vài lần làm ăn, gia đình chúng tôi có phần sa sút! Cha má tôi quyết định đầu tư trí thức cho anh chị tôi, như ý định của ông bà: “lo xong cho mấy đứa lớn, để khi thành đạt tụi nó tiếp sức mình lo cho mấy đứa nhỏ.”
Thế là, từ tôi trở xuống các em tôi, bị tạm thời đình chỉ cắp sách đến trường Hoa.
Các nah chị tôi học hành rất chăm chỉ, lần lượt đỗ đạt, thành danh. Mấy năm sau đó, ở bệnh viện An Bình xuất hiện một bác sĩ chuyên khoa Nhi Đồng, hai trường Hoa ngữ Sùng Chính, Việt Tú có ông hiệu trưởng và một giáo sư mới. Trong giới luật sư tập sự có thêm hai người. Tất cả đều là anh chị của tôi.
Không như tôi, vừa kém thông minh, vừa biếng nhác, nên việc học hành chẳng ra hồn gì cả. Các em tôi dường như giành hết tinh anh của phụ thân tôi, đứa nào cũng thông minh, cần mẫn.
Năm 1969, khi thằng em Uùt (nó còn một đứa em gái Út) tôi vừa lấy cái BAC II thì chiến tranh bùng lên dữ dội. Lệnh Tổng Động Viên ra đời. Các anh tôi đã lớn tuổi, không bị luật nầy chi phối. Trừ đứa em gái Út, tôi với năm thằng còn lại bị “dính chấu”.
Năm ấy, năm thằng em tôi gần như cùng lúc bị đẩy vào quân trường. Hai năm sau, gia đình tôi có năm chàng sĩ quan bất đắc dĩ.
Tôi nhớ rất rõ, ngày các anh chị tôi tốt nghiệp đại học Cha tôi rất vui, trên tờ Á Châu Nhật Báo dẫy đầy những khung chúc mừng. Độc giả người Hoa của tờ báo tầm cỡ nầy được đọc những bài viết, bài thơ của văn thi sĩ Chánh Đạo hay hơn, sinh động hơn. Má tôi, trẻ hẳn ra, đôi mắt bà long lanh, ngời sáng hơn.
Đến khi nhà tôi chưa đầy hai năm có đến năm “ông quan” mặt còn non choẹt, tôi thường thấy đôi mắt của Cha tôi đăm chiêu nhiều hơn, ánh mắt của má tôi dường như lúc nào cũng có áng mây mù bao phủ và tiếng thở dài đều dặn hơn. Bà gầy trông rõ nét!
Thuở ấy, Cha chúng tôi đã ngoài bảy chục. Chẳng biết do chúng tôi đã trưởng thành hay do “người già thay đổi tính nết”, hay do giác quan thứ sáu báo hiệu điều gì đó nên sự khắc nghiệt về giáo huấn ở Cha tôi có phần lơi lỏng, cởi mở hơn. Khi nói chuyện với chung tôi ông ban tặng những nụ cười nhiều hơn nét lạnh lùng nghiêm nghị cố hữu.
Phần tôi, có lẽ do số trời đã định, bản tính lè phè, chẳng có số làm quan. Tự biết yếu điển mình, tôi chơi bài “chuồn” với luật chiến tranh. Tới đâu thì tới. Bí quá, đi lình là cùng.
Chẳng những tôi trốn luật Tổng Động Viên mà trốn cả Cha tôi về vấn đề nầy. Và, sự trốn tránh của tôi rất được sự đồng tình của má tôi, tuy nhiên trong lòng Má tôi luôn lo âu hồi hộp.
Mỗi khi có cảnh sát xét nhà, mười lần như một, lồng ngực Má tôi muốn nổ banh ra. Khi tôi ra đường, Má bảo tôi phải đem tiền theo kha khá để nếu không may bị xét hỏi thì có “tiền trà nước” với mấy thầy cảnh sát hầu được làm ngơ trở về.
Ở đời, dầu chuyện long trời lở đất đến mức nào chăng nữa, lâu dần cũng quen. Vả lại, mỗi khi “gặp chuyện”, nhờ có tiền “chung” cho các thầy đứng đường xét hỏi, nên tôi thấy mình không bị gò bó như những người “đồng bệnh”, nhưng nghèo khó hơn tôi.
Trong một dịp vui chơi, tình cờ tôi gặp, quen với cô con gái rượu của một vị “quan đại thần”. Ông ta là nhân vật thứ ba của một Bộ. Ban đầu sơ giao, lâu dần thân thiết, mãi đến một hôm nàng báo tin: “Sao tháng nầy em chẳng thấy gì cả!”
Trái bom nếu nổ ra, chẳng khác nào hũ mắm treo đầu giường. Hiểu được điều đó, vị quan đại thần bảo con gái cưng, dẫn tôi về cho ông xem mặt. Là kẻ “gây án” lại là lần đầu tiên bước vào ngôi biệt thự sang trọng của ông lớn đương thời. Vừa bước qua cánh cổng trước nhà, hai đầu gối tôi run bần bật, dường như đứng không muốn vững, chúng chực chờ khuỵu xuống bất cứ lúc nào. Thấy vậy, người đẹp đến bên tôi bảo nhỏ: “Anh đừng sợ, nếu anh có bề gì em tự vận chết liền!” Lời nói bảo chứng của nàng như là một thứ đan được cực kỳ hiếm hoi. Tôi yên tâm tiến bước.
Tôi bước vào nhà, thấy quan ngài áo quần chỉnh tề như sắp sửa ra đi, đang ngồi trên chiếc ghế sofa ba chỗ bằng mây. Đồi diện ông to là bà lớn. Trong khi tôi cúi đầu chào, thì người đẹp của tôi nói:
- Ảnh đến nè Papa!
Vị quan đưa ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào tôi, xong gật gật mái đầu, khẽ bảo:
- Ngồi xuống đi cháu!
Tôi còn đang luýnh quýnh, chần chừ chưa biết phải như thế nào. Ngay lập tức nàng ấn tôi ngồi xuống rồi nói:
- Ngồi xuống đi! Papa bao anh ngồi kìa!
Người tôi vừa chạm xuống chiếc ghế êm đềm, nàng bèn ghé mông tựa vào tay ghế, một tay choàng sau ngang vai tôi nghiêng người chống tay vào tay ghế bên kia. Phu nhân vị đại quan cũng gật gật đầu tủm tỉm cười. Tôi liếc nhìn, thấy bà tuyệt đẹp, màu da quý phái trắng ngần. Sau, vào thời đó, tôi chưa bao giờ thấy một mệnh phụ phu nhân nào đẹp như thế! Nhờ vậy, lòng tôi giảm bớt chín chục phần trăm lo lắng.
Khi tôi ra về, được tài xế lấy công xa bốn bánh đưa đến tận nhà. Lần đầu tiên trong cuộc đời, ngồi trên chiếc công xa du lịch của quan lớn tôi cảm thấy như mình đang bay bổng trên chín tầng mây.
Bữa cơm tối hôm ấy, tôi kể hết những gì vị đại quan nhắn gởi đến Cha Má tôi. Nghe tới đâu mái đầu trắng phau của Cha tôi gật gù tới đó. Cuối cùng ông nói:
- Tử vi của con, mệnh tại cung quan lộc. Mà mầy thì làm quan cái nỗi gì, cho nên ý Trời đổi thành thân cận đại thần là như vậy đó!
Nói xong, ông tâm đắc, cất giọng cười to:
- Số Trời! Đúng là số trời! Ha! Ha! Haaaa!
Sau ngày cưới, vì vợ tôi vốn là trâm anh tiểu thư, chẳng lẽ về làm dâu nhà dân giả lao động? Lại càng không thể “anh nhà anh, em nhà em”. Cho nên, tôi phải giả từ can phố ba tầng bên hông Bình Tây, từ giã hết tất cả những kỷ niệm êm đềm, ấm áp của mình để dời tên tuổi đến nhập tên vào sổ gia đình trong ngôi biệt thự. Tôi không ngờ mình đi ở rẻ. Và, khúc ngoặc đời tôi từ đó!
Thế là, từ một thằng người học hành dở dở ương ương, bản chất lè phè, trốn lính, tôi phủi chân cái rụp nhảy tót lên chỗ mà nhiều anh chàng thanh niên, nhiều vị công tử của những ông quan lớn khác chỉ sống trong mơ ước.
Mỗi lần tôi muốn làm điều gì thì có gia nhân vâng vâng, dạ dạ. Một điều cậu Hai, hai điều cậu Hai. Khi vợ chồng tôi muốn đi đâu chi cần bảo chú Mười tài xế một tiếng, là những cánh cửa của chiếc công xa du lịch rộng mở.
Thời thế đổi thay, tính tình con người cũng thay đổi. Mỗi lần ngồi trên chiếc công xa của ông lớn, thằng tôi hách ra phết, mỗi khi xe chạy ngang qua những ngả đường có các thầy Cảnh sát đứng xét bắt quân dịch – đó là những nơi mà trước kia tôi rất kiêng kỵ léng phéng đến – tự dưng cái bản mặt của tôi vác hất, nét kênh kênh phách lối trông mất dại làm sao! Khi đó trong tôi như thách thức, thầm bảo: “Có ngon thì chận xe lại xét giấy tờ ông đi! Sao đứng đó nhìn? Sợ ông rồi à?... Tôi quên bẵng lúc trước, khi cùng đường con người tôi co rún lại, vậy mà đến khi có chút hơi “cứt cọp” liền lên mặt, hợm mình. Cái khốn nạn của đời là thế và tôi cũng là một trong những kẻ khốn nạn như thế!
Tôi sống bên nhà vợ rất yên ấm, vì vợ tôi là con trưởng, rất được ông bà lớn tâng tiu chiều chuộng.
Chiều chiều, nếu không cùng vợ tôi rong xe trên đường phố, tôi lấy chiếc xe đạp thể thao chạy rong rong cho thư giản... Đến một hôm...
Thấy cảnh sát hách dịch:
- Đưa giấy tờ xem!
- Giấy tờ gì?
Thầy cảnh sát nói như gằn giọng:
- Giấy tùy thân.
Tôi đáp nhát gừng:
- Quên đem theo!
Ông ta nói như hét:
- Dẫn xe vô lề. Lên xe!
Tôi nhìn theo cánh tay của thầy Cảnh sát, thấy trên xe có năm bảy thanh niên ngồi, vẻ mặt buồn thiu. Tôi hiểu ngay họ vừa bị chận xét bắt... đưa đi nhập ngũ. Tuy trong người không có tờ giấy lộn, nhưng ỷ thế mình con rể quan to. Tôi bướng bỉnh:
- Không lên! Mầy biết tao là ai không?
Thầy Cảnh sát nghiến răng:
- Đụ mẹ! Trốn lính mà còn cương hả? Cái mửng nầy bọn tao đã gặp thường rồi...
Nói xong, thầy Cảnh sát đưa tay làm hiệu, hai thầy đứng bên kia đường ào tới, xô tôi chúi xuống xe đạp, rồi ba thầy vừa cặp nách vừa khiêng tôi đẩy lên xe.
Biết mình gặp nạn, ngồi trên xe hai cánh tai tôi tự nhiên quặp xuống, tôi thu người ngồi co ro, mặt xanh chàm như gà nuốt dây thun. Vẻ hách dịch, phách lối khi ngồi trên chiếc công xa du lịch biến mất tự lúc nào...
Cuộc hành quân bắt quân dịch, cuối cùng cũng chấm dứt. Trên xe bấy giờ có bốn, năm chục người. Họ đều nằm trong lứa tuổi bị động viên.
Chiều hôm ấy, bọn thanh niên bất hạnh trong chúng tôi được chở đến Trung Tâm 3 Nhập Ngũ. Trong bữa ăn tối, lợi dụng cơ hội nầy và với lời hứa sẽ tặng hậu hĩ một số tiền, một ông Trung sĩ trẻ đồng ý giúp nhắn tin cho vợ tôi.
Sáng hôm sau, chúng tôi, đông lắm bắt đầu làm thủ tục nhập ngũ. Tại đây, tôi phát hiện ra điều kỳ quặc – Họ bắt chúng tôi làm đơn xin đi lính. Mẹ kiếp! Thật là lếu láo. Chúng tôi trốn lính thấy mẹ chớ có tự nguyện đi lính đâu mà bắt chúng tôi phải làm đơn xin đi lính? Sau nầy, cái ngu của tôi được khai sáng ra. “Làm đơn xin đi lính”, cũng chỉ là một sự cưỡng bách mà thôi.
Khi sang Mỹ, tôi nghe một vị “mất quan” khoe rằng, “tôi là người có lý tưởng vững chắc, có tinh thần chống Cộng đầy mình, được đào tạo chính quy, tôi vào đại học... (một trong các đại học nhà binh) phải làm đơn, tôi...” Mẹ! đời sao lắm thằng lếu láo thế? Tôi là thằng trốn lính chí tử, bị bắt, bị ép buộc đi lính cũng phải làm đơn kia mà! Khi ấy, giả như tôi cắc cớ hỏi ông ta, “nếu không bị luật Tổng Động Viên chi phối, khi tốt nghiệp Tú Tài toàn phần, ông chọn các viện Đại Học dân sự hay chọn nghề lính?” Đáng tiếc, tôi đã quên, không hỏi điều ấy!
Bữa cơm trưa hôm ấy, bọn tân binh chúng tôi đứng sắp hàng quanh những bàn ăn chuẩn bị nghi thức trước khi ăn, thì...
Một ông thượng sĩ già hộc tốc chạy đến, chưa kịp đến nơi, ông ta vữa thở vừa hét trướng lên:
- Diệp Sĩ Hùng! Ai là Diệp Sĩ Hùng?
Tôi tách khỏi bàn ăn, rụt chân đứng nghiêm hét:
- Có mặt!
Người Thượng sĩ già tiến đến bên tôi, thẳng người, chào theo quân cách:
- Chào “xếp”, mời cheff trở lại phòng thu dọn đồ đạc ra về.
Tôi khoác tay đáp:
- Không cần, tôi chẳng có gì để thu dọn.
- Trả quân trang?
- Ông trả giùm tôi! – Tôi nói như ra lệnh.
Vừa theo chân người Thượng sĩ già, vừa quay đầu nhìn lại những chàng thanh niên cùng cảnh ngộ. Tôi thấy họ nhìn tôi bằng những cặp mắt cả nể, thèm thuồng. Tôi nhìn họ bằng vẻ mặt ta đây, kênh kiệu. Khốn nạn thật!
Đến văn phòng, người sĩ quan trẻ đang ngồi làm việc, thấy tôi anh ta vội vàng đứng lên niềm nở bắt tay, rồi anh ta trao tôi những giấy tờ cần thiết. Sau gió, nói mấy lời xã giao, xong anh ta rời khỏi bàn tiễn chân tôi ra tận cửa. Ngoài sân, chú Mười tài xế chẳng biết đến từ bao giờ, vừa thoáng thấy tôi vội vàng nhảy xuống mở cửa xe. Bên trong, vợ tôi đang ngồi ở ghế sau. Tôi vừa yên vị, vợ tôi cầm tay tôi xuýt xoa thương cảm. Tôi ôm đầu nàng ép chặt vào ngực mình xong, hôn mạnh một phát, nói đùa:
- Anh tưởng, kỳ nầy em có dịp làm vợ “quan” rồi.
Vợ tôi cười, đáp:
- Làm vợ quan bé sao bằng làm con quan lớn? Em thích làm con quan lớn hơn!
Câu nói vô tình của vợ tôi, khiến tôi chợt nghĩ đến sự việc vừa qua. Từ khi tôi bị các thầy Cảnh sát bắt lính, cặp nách, khiêng đẩy lên xe đến khi vào làm hồ sơ nhập ngũ, thằng người tôi chẳng khách gì con mèo ướt. Các quan ngài làm việc ở Trung Tâm 3 không một chút lòng thương cảm. Họ lớn tiến quát tháo, nạt nộ. Đến khi ông già vợ tôi gọi phòng và cho người đến đón tôi thì cách đối xử của họ với tôi hoàn toàn khác biệt. Tôi rút ra kết luận, ở đời, chẳng những người ta sợ cọp mà còn sợ cả cứt cọp. Tôi lại nghĩ, nếu mình không phải là cứt cọp thì giờ nầy, chẳng khác gì hàng hàng lớp lớp thanh niên bất hạnh từ khắp nẻo đường đất nước bị bắt lính tống vào đây. Đặc biệt, những người tuổi trẻ đang ngồi quanh những dãy bàn ăn. Tương lai họ sẽ đi về đâu?
Mấy năm sau, gia đình tôi lại làm ăn phất lên, trong một mùa Xuân, nhà tôi tràn ngập hoa mai. Những chậu mai thực vật được kẻ ăn người ở trong nhà o bế, cẩn thận đặt vào những nơi thích hợp nhất. Những đóa hoa mai bằng kim loại vàng, trắng ngời sáng lấp lánh trên cổ áo các em tôi.
Nhưng “ông quan” nầy, không ai biết rõ chúng bằng gia đình tôi. Tụi nó là hiện thân của những chàng thành niên bất hạnh, sinh ra, lớn lên trong thời chiến và bị cướp mất tất cả mọi hoài bảo. Chúng nó, bị cưỡng bách làm những điều chúng nó không bao giờ muốn. Chúng nó chẳng có lý tưởng lý tiết quốc gia hay tinh thần chống Cộng gì cả! Mộng của tụi nó là tiếp tục học để trở thành những bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo,... Nhưng người ta đã áp đặt lên đầu và bắt buộc chúng nó làm quan, đày ra chiến trường biến chúng nó thành những tên đồ tể, những công cụ giết người và để bị người giết. Sự gian lao, nguy hiểm mà chúng nó cùng những người thanh niên thời đó phải gánh chịu chỉ để cho một thiểu số nhưng đầy quyền lực buôn lậu, bán xì ke, ma túy, tham ô, tham nhũng, lộng quyền,... cho vợ con của chúng được tha hồ đi lu lịch đó đây, chơi bạc bài, trách táng,...
Trong bữa ăn tối cuối năm, tôi nhìn bông mai trắng trên cổ áo thằng em kế tôi, hỏi đùa:
- Nhân! Bây giờ có lẽ mầy đã mang lý tưởng đầy mình?
Nó trả lời giọng trầm buồn:
- Lý tưởng gì anh! Thời nầy thằng nào nói lý tưởng, thằng đó là chúa xạo! Nó dối người và dối chính bản thân nó. Thử hỏi, nếu nó không bị chi phối bởi luật Tổng Động Viên thì họ có dám lăn mình vào chỗ chết hay không? Trong đời lính, không có chỗ dựa bề thế, mồ côi như tụi em mới chẳng được làm việc ở văn phòng, phải chịu đi tác chiến mà thôi. Ai mà chẳng sợ chết? Anh nghĩ coi, thằng nào đang ở ngoài đơn vị tác chiến được rút về làm ở những nơi ngày ngày đi về hai buổi, tối nằm ôm đít vợ mà không mừng thấy mẹ hả anh?
Em nói thật, khi hành quân, ra chiến trận nếu mình không giết đối phương thì sẽ bị họ giết. Do đó, bằng mọi mưu lược mình phải diệt họ, giết càng nhiều càng tốt! Nếu không, mình chết làm sao? Nhưng khi đứng trước hàng quân, trước mọi người em phải “giương cao lý tưởng” của mình. Nếu không, sẽ bị trù dập làm sao cất đầu lên được. Phét riết rồi cũng quen, đi đâu, ở chỗ nào cũng đem lý tưởng ra hù thiên hạ.
Nghe cách nó nói, Cha tôi làm thinh. Má tôi khẽ lắc đầu ngao ngán!
Năm đó, kể từ khi các em tôi bị bắt buộc vào quân trường học làm quan rồi ra làm quan, nhà chúng tôi mới có một mùa Xuân đoàn tụ, không khí gia đình ấm cúng, vui vẻ.
Chiều hôm ấy, Má tôi bảo tôi lên sân thượng. Bà nghẹn ngào nói:
- Má không ngờ, người ta đào tạo, nhồi nhét vào đầu các em con như vậy đó! Thật là khủng khiếp, thật là kinh khủng! Toàn là sự lừa bịp dối trá!
Nói xong, Mà tôi ngồi phệt xuống ghế, ôm đầu khóc nức nở. Tôi ngồi xuống kế bên, ôm vai má tôi an ủi:
- Má đừng buồn! Thời chiến tranh gia đình ai cũng vậy! Đâu chỉ gia đình mình! Con nghĩ, gia đình mình các em con được như vậy cũng là phúc lắm rồi!
Má tôi gạt nhẹ tay tôi ra, Bà nói:
- Phúc gì con? Các em con nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa nên được làm quan nầy quan nọ. Còn những người khác thì sao? Mấy ai may mắn như tụi nó? Những kẻ thống trị chỉ là một lũ độc ác. Rất độc ác! Chúng chỉ tranh giành và nghĩ đến quyền lợi riêng tư, chớ yêu nước yêu non gì con...
Tôi lặng người, đứng lên nhìn hai bờ vai Má tôi rung rung theo nhịp nấc. Tôi chợt hiểu ra, Má tôi chẳng những lo nghĩ đến sự nguy hiểm đang đe dọa các em tôi mà còn nghĩ đến sự gian nan nguy hiểm của những người trai trẻ khác. Ôi lòng những bà Mẹ Việt Nam rộng lớn, bao dầu cả năm đại dương kết lại cũng không bằng!
Sau ba ngày tết,các em tôi chia tay gia đình trở ra mặt trận. Thằng Nhân (thứ Tám), em kế tôi, trở về đơn vị Biệt Động Quân ở tận Pléku; thằng thứ Chín, đại úy Chỉ Huy Phó Pháo Binh Diện Địa trở lại tiểu khu Bạc Liêu; thằng thứ Mười, Trung úy sĩ quan truyền tin ở Bộ Tổng Tham Mưu; thằng thứ Mười Một, Trung úy Địa Phương Quân vể tiểu khu Biên Hòa; thằng thứ Mười Hai, Trung úy Đại Đội trưởng trinh sát Sư đoàn 7 Bộ Binh vội vàng trở lại căn cứ Đồng Tâm.
Trong nhà chỉ còn lại Cha, Má chúng tôi và đứa em gái Út – Con nhỏ nầy đang học Đại học Sư Phạm. Tối hôm đó, vợ tôi lái xe đến rước, tôi về gia đình ông Nhạc.
Mùa Xuân năm ấy, là mùa Xuân đoàn tụ vui nhất và cũng là mùa Xuân đau đớn nhất của gia đình tôi.
Rằm tháng Giêng năm đó, gia đình tôi nhận được hung tin, thằng em kế tôi, Thiếu Tá Diệp Sĩ Nhân bị tử thương trong trận đáng giáp lá cà với đối phương. Năm ngày sau, thằng em trai Út, Diệp Sĩ Cường mang niềm mơ ước kỹ sư Công Chánh xuống lòng đất. Đâu tháng Hai, gia đình tôi lại nhận thêm được giấy báo Trung Úy Địa Phương Quân, Diệp Sĩ Chí (thằng thứ Mười Hai) trong khi đi trinh sát bị lọt ổ phục kích bị tử vong. Những hung tin đổ ập xuống, tràn đến gia đình tôi như thác lũ, chẳng chút xót thương. Má tôi đã già càng khô héo hơn. Cha tôi đáy mắt càng sâu thêm.
Trong mỗi lễ trang của một đứa em tôi ra đi, anh em chúng nó đều về đủ mặt. Một vài đứa nghiến răng với lời thề quyết chí báo thù. Mấy thằng ở đơn vị bộ binh, truyền tin, pháo binh có ý xin về Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến để có cơ hội diệt địch nhiều hơn.
Cha tôi nói:
- Thù gì mà trả? Thằng Nhân đã nói, ở chiến trường mình không giết đối phương thì đối phương giết mình. Đó là quy luật chiến tranh. Tao với Má tụi bây, chưa đầy một tháng phải khóc ba đước con, như vậy chưa đủ sao? Tụi bây muốn tao với bả phải khóc thêm đứa nào nữa đây? Thời súng đạn, đứa nào ở yên nơi nào thì nên giữ nơi đó!
Ngừng một chút, Cha tôi tiếp:
- Chưa đầy một tháng, mất ba đứa con, tụi bây có biết tao đau đớn dường nào không? Thế mà tao chưa hề nghĩ đến thù hận mà chỉ nghĩ do số Trời. Phải tất cả đều do số Trời!
Tôi tự nghĩ: Số Trời! Đúng không? Nhưng rồi tôi chợt hiểu đó chỉ là cách nghĩ thụ động, một cách chấp nhận để tự an ủi mình, nhưng tốt nhất, hữu hiệu nhất!
Cha tôi trầm giọng, tiếp:
- Tao nhắc lại, đứa nào đã yên thân ở chỗ nào thì cứ ở đó. Các con đừng để tao với má tụi bây phải khóc thêm. Còn nếu muốn trả thù, hãy tìm những kẻ đẩy các con vào chỗ chết mà trả thù. Chính những kẻ đó mới là tội phạm. Những kẻ đó là những tên đẩy người khác vào chỗ chết để bản thân cùng vợ con chúng vui hưởng giàu sang.
Sau khi tôi bị cảnh sát chận đường bắt lính rồi từ Trung Tâm 3 Nhập Ngũ ra về. Một hôm, Me (không có dấu nặng) vợ gọi tôi đến, bảo:
- Papa con bảo Me hỏi con, nếu muốn làm chung Bộ thì ông ấy đưa vô làm. Nếu muốn làm nơi khác Papa con sẽ gởi cho, chớ tình hình bây giờ con không thể nhong nhong như vầy hoài...
Tôi kính cẩn đáp:
- Thưa Me, vợ chồng con cũng có nghĩ đến vấn đề nầy...
Tôi chưa dút lời, vợ tôi chen vào:
- Ảnh nói với con rất thích làm ở Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Me nói với Papa nha!.
Khoản hai tháng sau, tôi lọt vào làm ở nơi mình muốn.
Điêu nầy, cho tôi thêm nguyên lý sống: Trong bất cứ thời kỳ nào hay bất cứ dưới chế độ nào, nếu muốn được sống an nhàn, yên ổn... điều tiên quyết phải là “Xê Ô Xê Xê” (CÔCC = viết tắt cụm từ Con Ông cháu Cha), nếu không phải có thề lực đầy mình, không nữa phải có rất nhiều tiền. Nếu những thứ đó đều không có cả thì phải chấp nhận số phận hẩm hiu của những cuộc đời bất hạnh nhất.
Thời đó, anh em chúng tôi hoàn toàn không hề có chút lý tưởng, không hề có tham vọng, dù rất nhỏ nhoi! Tất cả đều bị cưỡng bách và trong trường hợp bất khả kháng. Nhưng sau ngày 30/4/1975, tôi cùng mấy thằng em còn lại một lần nữa bị cưỡng bách phải chấp nhận, phục tùng một mệnh lệnh khác, Tập Trung Cải Tạo. Một lần nữa, Cha Mà chúng tôi nhỏ lệ khóc vì chúng tôi.
Tháng 11/1984, trong khi tôi được “Trả Tự Do”, thì các em tôi vẫn còn “Đền Nợ Máu” ở các nhà tù khác nhau.
Tết năm đó, tôi tìm về nơi chôn nhau cắt rốn.
Sau ba mươi năm xa cách, trở về quê cũ, tôi thật sự bàng hoàng, cảm thấy như mình đang lạc trong lòng hoang mạc. Chẳng nhận ra một người quen. Cảnh vật hoàn toàn khác biệt. Tôi hỏi thăm và cuối cùng cũng tìm được những người muốn tìm, tới được những nơi mình muốn tới.
Đến nơi thứ nhất, ấn tượng đầu tiên trong tôi là mái nhà lợp lá dừa nước, vách phên tồi tàn. Ấn tượng thứ hai là vị chủ nhà. Ông ấy là Hai Căn, người anh con Dì của tôi.
Hai Căn là con đầu của người thứ Hai, còn tôi thứ Bảy, con của người thứ Sáu. Vì thế, anh ấy lớn hơn tôi khoảng trên dưới ba chục tuổi. Nhìn Hai Căn, tôi vô cùng xúc động, cả thân người anh đen như cột nhà cháy, giả như anh là con vật thì cơ thể ấy lóc ra chưa đầy năm ký thịt.
Vốn là đảng viên cộng sản nghỉ hưu, mỗi tháng Hai Căn được lãnh bốn-trăm ngàn đồng hưu liễm. Nhưng sổ hưu anh đã đem cầm bốn trăm ngàn đồng, lấy tiền chạy thuốc cho cháu ngoại của anh. Gần năm qua, anh chưa có tiền chuộc lại.
Trong khi ngồi trò chuyện, tôi hỏi anh:
- Anh theo Cộng sản từ hồi nào?
- Từ sau ngày đồng khởi *
- Sao tự nhiên anh đi theo Cộng sản? Anh thích lý tưởng đó phải không?
Anh Hai Căn sửa lại cách ngồi rồi thở dài, nói:
- Chú mầy cũng biết, tụi tao ít học có biết lý tưởng là cái gì đâu! Đi theo cách mạng chẳng qua là có cơ hội trả thù cho con gái Út của tao.
- Trả thù? Sao lại trả thù?
- Sau ngày đồng khởi, trong một cuộc càn quét ngang đây, con nhỏ Út của tao bị một thằng Chuẩn úy cưỡng hiếp. Tao thưa lên Quận, rồi ở Tỉnh, tuốt lên cả Sàigòn, chẳng chỗ nào thèm giải quyết hết. Bất mãn, đường cùng anh em tao quyết định trả thù! Muốn trả thù chỉ còn cách là đi theo cách mạng. Thế là anh em, con cháu tao gần năm chục người quyết định vào rừng hết. Đi rồi thì có đứa chết, đứa sống. Thằng chết thì yên mồ yên mả, nhưng mối căm thù lại chất thêm lên vai thằng sống. Vì thế tụi tao cứ tiếp tục đi. Đi để tiếp tục trả hận thù...
Nghe anh kể, tôi giật mình. Tôi sống ở Sàigòn, lại là thứ “cưt cọp”, có hơi hám uy quyền, nên tôi không thể nào tưởng tượng nỗi có những trường hợp như thế xảy ra trong đời sống của người dân hiền lành ở nông thôn.
Hành vi tồi bại của tên Chuẩn úy khiến tôi chiêm nghiệm ra điều: “Trong những vườn hoa đẹp, không thể tránh khỏi những con sâu!”
Tôi tự hỏi, điều bất hạnh của gia đình người anh con Dì tôi là một rồi chấm hết hay những chuyện tương tự còn xảy ra vô vàn ở gia đình những người nông dân khác tôi chưa được biết?
Những kẻ như tên Chuẩn úy nào đó, không những làm suy sụp đạo đức, vi phạm pháp luật mà còn đánh phá kỷ cương của một quân đội hùng mạnh nhất nhì châu Á thời bấy giờ. Vậy mà vì sao chúng được bao che? Phải chăng đó cũng là một thứ cứt cọp, cứt beo? Hay là kẻ lắm bạc nhiều tiền và bạc tiền nhà nó đã đốt cháy lương tâm những thằng cấp trên của nó?
Còn tên Chuẩn úy kia, sau khi thỏa mãn dục tính, có biết chăng hắn để lại bao nhiêu căm thù ở lòng người và sự hận thù ấy biết đâu đã nhắm, trút vào thân xác các em tôi khiến chúng ngã gục?
Thời ấy, tôi không biết có bao nhiêu người bị cưỡng bách làm quan như các em tôi? Bao nhiêu người bị bắt lính đày ra trận địa? Và, bao nhiêu người dân nông thôn hiền lành, chân chất như Hai Căn khi bị đẩy vào bước đường cùng đã trở thành đảng viên Cộng sản?
Tôi thật sự đau lòng, thật sự chảy nước mắt vì quê hương khói lửa. Lỗi bởi đâu? Phải chăng do tham vọng của những kẻ đầy quyền uy, thế lực xây dựng uy quyền và làm giàu trên xương máu của người khác?
Tháng Tư Nghiệt Ngã
1975. Bể thảm mênh mông
Tháng Tư nghiệt ngã, mịt mùng tai ương. Biển nhấp nhô sóng bạc đầu. Những lượn sóng tưởng chừng vô tận, từ ngoài khơi sùng sục tới, cuốn hút tất cả, đập tan mọi thứ. Tôi ngồi trên HQ231, thượng phiên con tàu trong sóng nước chập chùng.
Vùng II duyên hải náo loạn. Dân và lính đua nhau di tản về phía nam trên những Dương Vận Hạm, Hải Vận Hạm... Không còn chỗ chen chân trên Hạm, họ dùng cả những ghe đánh cá, những ghe chở lương thực trên sông, chất đầy ắp ngườiù, nổ máy lạch tạch lùi về phía nam, như hối hả trốn chạy một cơn đại dịch đang hoành hành. Tiếng la khóc vang dội khắp mặt biển, hòa cùng với tiếng rít của gió, tiếng đập của sóng... tạo thành một khung cảnh bi thảm của tử thần. Nhiều ghe đang chạy chợt vỡ tung từng mảnh, vì không thể kham nổi sức tải quá trọng lượng. Nhiều ghe đâm vào nhau trong sương mù, người ta rớt xuống biển, lôi kéo nhau chìm nghỉm xuống lòng đại dương. Những chiếc Dương Vận Hạm đầy nghẹt người, chen chúc, giành giựt nhau từng chỗ để lọt chân. Một số người tuyệt vọng bám sau lái tàu, bị chân vịt quẫy nước cuốn hút vào, chém đứt thân thể, máu phọt lên mặt nước, đỏ lòm. Đám quân tháo chạy lơ láo, có kẻ tuyệt vọng điên cuồng tách rời khỏi hàng ngũ, rồ dại nã súng xối xả vào thường dân trên tàu, chỉ bởi lý do không ai chịu nhường chỗ cho chúng lên tàu.
HQ231 chúng tôi có nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ các Dương Vận Hạm. Trong khi các Dương Vận Hạm này làm công tác di tản dân và lính, thoát khỏi vùng địch sắp chiếm đóng. Điều đau đớn, với nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ, nhưng chúng tôi không được quyền bắn một viên đạn nào. Mọi tình huống xảy ra đều báo cáo về thượng cấp. Nhiệm sở tác chiến sẵn sàng 24/24, các ổ trọng pháo trên tàu lăm le nạp đạn, quay nòng súng trực chỉ về phía địch, rồi...cũng để làm "cảnh", cũng để "màu mè hoa lá cành". Thượng cấp không ban lệnh KHAI HỎA, chỉ ban lệnh RÚT LUI. RÚT LUI một cách kinh hoàng.
Quốc lộ 1, ban đêm, T.54 của Bắc Việt rọi đèn pha, ung dung tiến vào nam như chốn không người. Thỉnh thoảng, chúng dừng lại vài giờ, quay đại bác ra biển, khạc một hơi về phía tàu chúng tôi. Suốt ngày, MIG.21 Bắc Việt dàn đội hình quả trám, bay vần vũ trên bầu trời. Chúng lượn thật thấp quanh các chiến hạm, chầm chậm nhởn nhơ qua những ổ phòng không lạnh tanh, như khiêu khích, thách thức.
Buổi tối, biển bắt đầu hung hăng, bạo tàn hơn. Nó rầm rập tung xối xả hàng hàng cột nước ngất cao, vây phủ từng chiến hạm. Giữa những mịt mùng ghê rợn đó, một ghe dân trọng tải khá lớn đâm sầm vào chiếc Wec khổng lồ. Chiếc ghe thoáng chốc tan tành từng mảng, hàng trăm thường dân rơi lả tả xuống nước. Đoàn tàu đang đi, dừng lại, báo động. Các chiến hạm rải đều ra, khoanh vùng. Thủy thủ xôn xao chuẩn bị áo phao, cấp tốc cứu vớt.
Tờ mờ sáng, tầm nhìn xa chưa được 10 mét, đèn pha trên boong tàu soi rõ mồn một vùng biển tang thương. Công tác nhân đạo...vẫn tiếp tục. Thủy thủ đều mệt nhoài, quân phục đã sũng ướt, cứ thiết tha dầm mình trong giá lạnh để di chuyển từng thi hài lên tàu. Bây giờ, nồng độ muối đậm đặc của trùng dương mặn mòi, bắt đầu đẩy vọt những tử thi đã chìm dưới đáy biển đêm qua lên mặt nước. Họ trôi lờ đờ, dật dờ một cách đau lòng. Hình ảnh thương tâm nhất, đập vào tâm trí chúng tôi dấu ấn khó nhạt nhòa : xác người đàn bà ôm con cứng ngắt trong lòng, trôi lềnh bềnh dưới nước. Bà bị sợi dây thừng dài quấn quanh cổ, đầu dây phía kia dính vào mảnh ván ghe, kéo nhau lều bều theo sóng. Còn đứa bé như nhắm nghiền mắt vô tư, hồn nhiên ngậm bầu vú mẹ đang căng rữa , trần trụi.
Thượng sĩ nội vụ vuốt mắt, cầu nguyện siêu thoát cho mỗi linh hồn bạc phước. Ông đem bình hoa nylon từ phòng ăn sĩ quan lên đặt trước các thi hài, trịnh trọng thực hiện các nghi lễ cổ truyền. Trên boong tàu, tôi và các sĩ quan đồng nghiệp chụm đầu nhau đặt dấu hỏi, chiếc ghe xấu số có thực sự rủi ro bị tai nạn thảm khốc trong đêm tối không? Xác phụ nữ đều đồng loạt lõa lồ, trần truồng như nhộng - phải chăng bọn thảo khấu nào đó đang diễn trò cướp bóc, hãm hiếp...trên chiếc ghe oan nghiệt này?
Đoàn tàu uể oải giữ đội hình quả trám, rã rời xuôi nam. Mig.21 không gầm gừ với chúng tôi nữa, có lẽ lũ nó đã tấp xuống một phi trường vừa bỏ ngõ, uống rượu ăn mừng một chiến thắng kỳ quặc nhất lịch sử. Trên bờ, T.54 vẫn sùng sục tiến vào các thành phố, nghe hơi giặc từ xa, dân chúng nháo nhào chạy tán loạn. Họ sợ diễn lại cảnh giết người tập thể ở Huế, hồi tết Mậu Thân năm xưa.
Buổi trưa, nắng gay gắt. Mặt trời rớt những mảng sáng chói lòa trên lưng chiến hạm. Dẫu vậy, gió biển luôn gào thét từng hồi. Sóng chụm đầu nhau, quẫy nước, nâng bổng con tàu ngửa nghiêng suốt hải trình. Ngoài khơi, hai chiếc Wec đang tìm cách cặp vào nhau, tiếp tế lương thực. Lúc thủy thủ vừa chuẩn bị cột dây, hai con tàu chợt ngã ngang theo sóng, va chạm liên hồi. Tai ương lại đổ ập xuống...Cứ mỗi lượn sóng nhồi, hữu hạm chiếc này đập chát chúa vào tả hạm chiếc kia nghe rối bời gan ruột. Hạm Trưởng thét vào máy điện đàm, cố gắng chỉ huy tách hai chiếc tàu ra, nhưng chúng giống như thỏi nam châm có sức hút mãnh liệt, không thể kéo rời. Sự va chạm khủng khiếp làm tan nát một khoảng dài thành tàu. Các đồ vật trên boong, đổ văng tung toé xuống biển.
Buổi chiều, mặt biển tối đen,khắc sâu bóng dáng tử thần.. Vài xác chết đã trương sình, lững lờ trôi rải rác đó đây. Tôi chợt nhớ đến bốn câu thơ của Đoàn Nhữ Khuê:
Bể thảm mênh mông sóng lụt trời
Khách trần chèo một lá thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Coi lại cùng trong bể thảm thôi!
Tiếng đạn pháo đì đùng từ T.54 của vixi kéo tôi về thực tại. Kẻ thù đã tấn công chiếc Dương Vận Hạm nhân đạo, đang cố châu mũi vào Cam Ranh để rước dân và lính. Một quầng khói đen bốc ra dày đặc từ đài chỉ huy Dương Vận Hạm - chiến hữu của ta vừa gục ngã trên đó...
Tại phi trường Cam Ranh, đoàn trực thăng khoảng vài chục chiếc hối hả bốc lên. Họ bay thẳng ra biển, nối đuôi nhau lặng lẽ, trong tư thế rút lui.
Cuối cùng, HQ231 về tới Vũng Tàu, sau chuyến hải hành rời rã tận cùng. Chưa kịp lăn đùng ra ngủ một giấc cho đã, chúng tôi lại được lệnh ra Tạm Trú Hạm nhận lương thực và nhiên liệu gấp, rồi ngược dòng Mékongvề án ngữ tại Tân Châu.
Chợ Vàm là một trong chợ xã của Tân Châu. Nó nằm bên dòng Mékong thơ mộng, dáng dấp hiền lành như cô gái quê chất phác. Chợ chỉ lưa thưa dăm ba gian hàng nhỏ, vài quán cà phê, và ít xe giải khát lưu động. Ở đây, không khí hoàn toàn yên tĩnh. Chưa có dấu vết của chiến tranh lan tới.
Vừa tìm chỗ neo tàu an toàn, Hạm Trưởng vội vã xách hành lý, nhảy tọt xuống chiếc giang đỉnh đang chờ sẵn, hấp tấp rời tàu. Đám sĩ quan lao nhao, vài vị phóng bừa theo, xin được tháp tùng về Sài Gòn. Trong khi đó, thủy thủ ùa ta từ các phòng, đứng dài dài trên boong tàu, la ó vang rân một góc trời.
Buổi tối, vài nhóm thủy thủ lên bờ từ ban chiều, lục tục kéo về tàu. Mùi rượu bay nồng nặc, bay quanh quất lên trên các khuôn mặt đỏ gay. Họ gọi sĩ quan ra cật vấn. Họ chửi thề, giằng co, đánh nhau túi bụi, gây huyên náo toàn chiến hạm.
Sáng 30 tháng Tư, tôi đau khổ trút bỏ bộ quân phục, tháo tung cặp lon trung úy, cúi đầu xuống dòng sông, lặng lẽ rời tàu.
Đổi đời
Tháng năm, gia đình tôi thất lạc nhau. Tôi chỉ gặp lại vợ và đứa con trai 5 tháng tuổi, tá túc tạm thời trong căn nhà Bà Nội vợ. Má tôi ở trại gia binh Biên Hòa với người anh Biệt Động Quân. Khi quân đội tan hàng, không biết trôi giạt về đâu? Người anh cả thuộc sư đoàn II bộ binh đã mất tích ở Quảng Ngãi vào tháng Ba, trong trận di tản kinh hoàng.
Tôi về Sài Gòn, tìm Má tôi khắp nơi. Dò la tông tích từ những người tản cư miền đông lên, nhưng không có kết quả. Thành phố nhộn nhịp ngày xưa, nay im lìm như bãi tha ma. Lao nhao có vài đám đông bu quanh bọn cộng sản Bắc Việt, tỏ vẻ nịnh bợ, hoặc ngả ngớn cợt đùa. Ngoài đường, rác rến tràn ngập. Có chỗ, quân phục, quân trang, ba lô...chồng chất lên nhau. Giấy má rải đầy. Những đám lửa nhỏ còn bốc khói, khét lẹt. Các cơ quan hành chánh cũ trống hoác. Những tầng lầu bỏ hoang. Vợ lính, con lính, cùng dân chúng tản cư...chui nhau vào đó lánh nạn.
Tôi gặp Má tôi ở trại tạm cư trên đường Công Lý. Má ốm yếu, gầy gò như que tăm. Chiến tranh kết thúc đã để lại trong Má một nỗi đau đớn, quá khủng khiếp. Bốn đứa con đi lính, cho tới hôm nay... vẫn chưa trở về đầy đủ. Căn nhà ở khu gia binh bị cộng sản tịch thu. Tương lai tối đen trước mặt. Uất ức, Má ôm tôi khóc mùi mẫn trên chiếc chiếu rách tả tơi, trải tạm bên góc thang lầu đầy tàn thuốc.
Ngày sau, thằng em Biệt Động Quân tử thủ ở Buôn Mê Thuột trở về với bộ quần áo rách bươm, thân thể hôi như cú. Chúng tôi lại ôm nhau, khóc ròng, mừng mừng tủi tủi... Chúng tôi bàn nhau đưa Má về Chương Thiện. Vì ở đó còn người chị bà con, có thể tạm nương náu qua ngày.
Cuối cùng, các anh và các em tôi còn lại, kẻ trước người sau... khăn gói vào tù. Ngày vào tù, vợ tôi chưa đầy 21 tuổi. Nàng bồng đứa con trai duy nhất vừa được 5 tháng, tiễn tôi đến tận trại tù. Chúng không khóc được. Hình như nước mắt đã cạn khô từ những tháng trước. Đứng trước cánh cổng nhà giam âm u như địa ngục, tôi nhìn nàng, nhìn con.. .đành giao phó mình cho số Trời.
Và Đời Đổi
Chỉ không đầy 24 tiếng đồng hồ, từ Việt Nam qua Mỹ, gia đình tôi đã thay đổi một cách trọn vẹn. Túp lều ngai ngái phân trâu, mái dột cột xiêu, một thời che nắng che mưa cho vợ chồng tôi - thoáng chốc, bị đẩy lùi về quá khứ. Nó được thay thế bởi một apartment sáng sủa, đầy đủ tiện nghi - mà chúng tôi phải rón rén bước đi, khi đặt chân lên tấm thảm mềm mại.
Hành trang mang theo gồm cái túi xách cỏn con, bên trong đựng vài bộ đồ nhăn nhúm, ít cuốn anh văn lỗ chỗ dấu mọt gặm, dăm đồ dùng linh tinh làm ở trại cải tạo...Giờ đây, chỉ có nước vứt đi. Vì nhà thờ mới đem cho chúng tôi một thùng đồ to tổ bố. Trong đó, vừa có quần áo hợp thời trang, vừa có những vật dụng cần thiết, đủ phong phú cho cuộc sống hiện tại.
Cách đây không lâu, tôi còn lóc cóc bán vé số khắp hang cùng ngõ hẻm. Buổi tối, trời mưa, còn quơ đại chiếc áo rách tả tơi, lật đật đốt ngọn đèn chong mờ mờ ảo ảo, lội xuống ruộng đầy đỉa vắt, bắt từng con nhái bầu..." kiếm cơm " cho một ngày sắp tới. Vậy mà, bây giờ, ngồi chễm chệ trên xe huê kỳ của vị Giáo Sĩ ( sponsor), đi đến từng cơ quan, bắt tay từng người sang trọng.
Vợ tôi hả hê, tủm tỉm cười suốt ngày. Nàng thích nhất cái tủ lạnh đầy ắp thức ăn. Nào gà, nào thịt, tôm, cua, rau, hành, trái cây...lĩnh kĩnh - do vị sponsor đã hào phóng, khéo léo đặt vào. Mới đó, ở Việt Nam, nàng còn lui cui ra vườn hái rau cải trời, rồi nhảy đùng xuống ao vớt tép rong, mong nấu được nồi canh lõm bõm cho chồng, cho con.
Thằng con tôi dễ ghét hơn. Cậu nằm dài trên sofa, lăn qua lộn lại, khoan khoái tận hưởng những giây phút thần tiên, hiếm hoi nhất trong đời.
Năm dài tháng rộng trôi qua, tôi chưa hề thấy mặt tên cảnh sát hay công an khu vực nào quấy rầy. Cũng chưa có ai đến gõ cửa xét giấy hoặc hỏi hộ khẩu bao giờ. Nhớ lại, ở Việt Nam, hàng tuần tôi phải lặn lội lên đồn công an trình diện. Muốn ra khỏi xã, phải có giấy phép đi đường, phải cầu cạnh xin xỏ đủ điều. Mỗi ngày, các " nhóc " du kích cứ thay nhau đến nhà " thăm viếng ", cho đến khi...rượu cạn bầu, bao rỗng thuốc...mới thôi.
Vợ tôi đang apply vào một hãng điện tử Poway. Nàng vừa lấy xong bằng căn bản về Electronic Assembly. Trong khi chờ đợi công việc, nàng tạm đi cắt chỉ ở hiệu may gần nhà. Sáng làm, chiều đã rinh về một máy cassette mới toanh. Cái máy mà nàng ước mơ từ hồi còn nơi quê nhà. Mười mấy năm quần quật với ruộng đồng, cấy mướn gặt thuê, nàng vẫn chưa dư ra chút khoản tiền để mua được nó.
Điều thích thú nhất của nàng, ở đây, phụ nữ được tôn lên hàng đầu: "lady first". Thực ra, VC cũng có khẩu hiệu đưa phụ nữ lên bình đẳng với nam giới: "nam nữ bình quyền". Nhưng, đó chỉ là cớ để đẩy người đàn bà ra chiến trường: tải thương, vác đạn... Đưa người đàn bà gánh lấy trách nhiệm nặng nề hơn người đàn ông : vừa nuôi chồng trong trại cải tạo, vừa nuôi con nơi quê nhà. Vợ tôi đã sống qua những chuỗi ngày đau đớn đó. Có lần, nàng bị kiệt lực vì " làm nhiều, ăn ít " - đến nổi trụy tim, suýt chết trên đồng ruộng.
Kẻ làm băn khoăn và bận tâm nhất trong gia đình tôi, là thằng con. 12 năm học trò của cậu ngập chìm trong bóng tối. 12 năm dưới mái trường XHCN, người ta chỉ lếu láo dạy " Bác và Đảng ", lao động là vinh quang, cùng những điều " lấp biển vá trời " khác. Người ta cố bôi xóa hình ảnh CHA MẸ, một hình ảnh thiêng liêng nhất trong cuộc sống con người. Thời đó, bọn "nhóc" - trạc tuổi con tôi - thường hay ngâm nga câu này, sau mỗi lần say lúy túy:
Công cha như rượu đầy chai
Nghĩa mẹ như vịt xé phay...làm mồi.
Nền giáo dục XHCN đã làm trì độn trí tuệ, làm thui chột tài năng của đứa trẻ...nên khi sang Mỹ, thằng con tôi không đủ khả năng tiếp tục học hành. Cậu chán nản, bỏ nhà, lang thang khắp nơi. Cuối cùng, cậu chọn nghề nail, lò mò qua Chicago sinh sống.
Nếu ở xã hội ta, đạo đức là đạo lý của đức hạnh, là giềng mối, là khuôn vàng thước ngọc để hậu thế đi theo. Sau 1975, đạo đức này bị đổi ngược thành đạo đức cách mạng - lộng giả thành chân, kinh khiếp nhất trần gian...Thì ở Mỹ, đạo đức là điều phải lẽ hay bàng bạc trong chốn học đường, trong các tôn giáo. Nhà thờ, chùa chiền, đền đài...đầy dẫy trên đất Mỹ. Và dĩ nhiên, đạo nào cũng khuyên con người nên làm THIỆN, diệt ÁC. Công cha nghĩa mẹ được nhắc nhở hàng năm qua các ngày lễ: Mother's day, Father's day... Thậm chí, có cả ngày Grandparent nữa. Và ngày lễ Thanksgiving: tạ ơn Trời, tạ ơn đời, tạ ơn người, tạ ơn các bậc tiền nhân đã có công xây dựng nên nước Mỹ.
Có lẽ, Chúa đã đổi đời, đã tái sinh gia đình tôi, đã cho chúng tôi một chỗ đứng ấm áp trong xứ sở thần tiên này. Tên bán vé số hèn mọn ngày nào, mụ đàn bà lọ lem cấy thuê gặt mướn năm xưa, kể cả thằng nhỏ lang thang bụi đời - luôn tủi hổ vì cái lý lịch Ngụy Quân của ba nó... Ngày hôm nay, tất cả đều trở thành những con người hữu ích cho xã hội Mỹ.
Tục ngữ La Tinh (Latin proverb) có câu: "Where liberty is, there is my country". Ở đâu có tự do, ở đó là tổ quốc tôi. Ngày nay, gia đình thằng con tôi đã có một cơ ngơi vững vàng. Chúng tôi có thêm những đứa cháu nội kháu khỉnh: Phạm Tammy, Phạm Cindy, Phạm An Golden... Và điều đặc biệt nhất, cứ mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, chúng tôi dọn một mâm cơm, cầu nguyện và tưởng tiếc đến những chiến sĩ vị quốc vong thân, những người đã cống hiến cuộc đời, đã hy sinh một thời tuổi trẻ cho đất nước Việt Nam...
PHẠM HỒNG ÂN
Tháng Tư nghiệt ngã, mịt mùng tai ương. Biển nhấp nhô sóng bạc đầu. Những lượn sóng tưởng chừng vô tận, từ ngoài khơi sùng sục tới, cuốn hút tất cả, đập tan mọi thứ. Tôi ngồi trên HQ231, thượng phiên con tàu trong sóng nước chập chùng.
Vùng II duyên hải náo loạn. Dân và lính đua nhau di tản về phía nam trên những Dương Vận Hạm, Hải Vận Hạm... Không còn chỗ chen chân trên Hạm, họ dùng cả những ghe đánh cá, những ghe chở lương thực trên sông, chất đầy ắp ngườiù, nổ máy lạch tạch lùi về phía nam, như hối hả trốn chạy một cơn đại dịch đang hoành hành. Tiếng la khóc vang dội khắp mặt biển, hòa cùng với tiếng rít của gió, tiếng đập của sóng... tạo thành một khung cảnh bi thảm của tử thần. Nhiều ghe đang chạy chợt vỡ tung từng mảnh, vì không thể kham nổi sức tải quá trọng lượng. Nhiều ghe đâm vào nhau trong sương mù, người ta rớt xuống biển, lôi kéo nhau chìm nghỉm xuống lòng đại dương. Những chiếc Dương Vận Hạm đầy nghẹt người, chen chúc, giành giựt nhau từng chỗ để lọt chân. Một số người tuyệt vọng bám sau lái tàu, bị chân vịt quẫy nước cuốn hút vào, chém đứt thân thể, máu phọt lên mặt nước, đỏ lòm. Đám quân tháo chạy lơ láo, có kẻ tuyệt vọng điên cuồng tách rời khỏi hàng ngũ, rồ dại nã súng xối xả vào thường dân trên tàu, chỉ bởi lý do không ai chịu nhường chỗ cho chúng lên tàu.
HQ231 chúng tôi có nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ các Dương Vận Hạm. Trong khi các Dương Vận Hạm này làm công tác di tản dân và lính, thoát khỏi vùng địch sắp chiếm đóng. Điều đau đớn, với nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ, nhưng chúng tôi không được quyền bắn một viên đạn nào. Mọi tình huống xảy ra đều báo cáo về thượng cấp. Nhiệm sở tác chiến sẵn sàng 24/24, các ổ trọng pháo trên tàu lăm le nạp đạn, quay nòng súng trực chỉ về phía địch, rồi...cũng để làm "cảnh", cũng để "màu mè hoa lá cành". Thượng cấp không ban lệnh KHAI HỎA, chỉ ban lệnh RÚT LUI. RÚT LUI một cách kinh hoàng.
Quốc lộ 1, ban đêm, T.54 của Bắc Việt rọi đèn pha, ung dung tiến vào nam như chốn không người. Thỉnh thoảng, chúng dừng lại vài giờ, quay đại bác ra biển, khạc một hơi về phía tàu chúng tôi. Suốt ngày, MIG.21 Bắc Việt dàn đội hình quả trám, bay vần vũ trên bầu trời. Chúng lượn thật thấp quanh các chiến hạm, chầm chậm nhởn nhơ qua những ổ phòng không lạnh tanh, như khiêu khích, thách thức.
Buổi tối, biển bắt đầu hung hăng, bạo tàn hơn. Nó rầm rập tung xối xả hàng hàng cột nước ngất cao, vây phủ từng chiến hạm. Giữa những mịt mùng ghê rợn đó, một ghe dân trọng tải khá lớn đâm sầm vào chiếc Wec khổng lồ. Chiếc ghe thoáng chốc tan tành từng mảng, hàng trăm thường dân rơi lả tả xuống nước. Đoàn tàu đang đi, dừng lại, báo động. Các chiến hạm rải đều ra, khoanh vùng. Thủy thủ xôn xao chuẩn bị áo phao, cấp tốc cứu vớt.
Tờ mờ sáng, tầm nhìn xa chưa được 10 mét, đèn pha trên boong tàu soi rõ mồn một vùng biển tang thương. Công tác nhân đạo...vẫn tiếp tục. Thủy thủ đều mệt nhoài, quân phục đã sũng ướt, cứ thiết tha dầm mình trong giá lạnh để di chuyển từng thi hài lên tàu. Bây giờ, nồng độ muối đậm đặc của trùng dương mặn mòi, bắt đầu đẩy vọt những tử thi đã chìm dưới đáy biển đêm qua lên mặt nước. Họ trôi lờ đờ, dật dờ một cách đau lòng. Hình ảnh thương tâm nhất, đập vào tâm trí chúng tôi dấu ấn khó nhạt nhòa : xác người đàn bà ôm con cứng ngắt trong lòng, trôi lềnh bềnh dưới nước. Bà bị sợi dây thừng dài quấn quanh cổ, đầu dây phía kia dính vào mảnh ván ghe, kéo nhau lều bều theo sóng. Còn đứa bé như nhắm nghiền mắt vô tư, hồn nhiên ngậm bầu vú mẹ đang căng rữa , trần trụi.
Thượng sĩ nội vụ vuốt mắt, cầu nguyện siêu thoát cho mỗi linh hồn bạc phước. Ông đem bình hoa nylon từ phòng ăn sĩ quan lên đặt trước các thi hài, trịnh trọng thực hiện các nghi lễ cổ truyền. Trên boong tàu, tôi và các sĩ quan đồng nghiệp chụm đầu nhau đặt dấu hỏi, chiếc ghe xấu số có thực sự rủi ro bị tai nạn thảm khốc trong đêm tối không? Xác phụ nữ đều đồng loạt lõa lồ, trần truồng như nhộng - phải chăng bọn thảo khấu nào đó đang diễn trò cướp bóc, hãm hiếp...trên chiếc ghe oan nghiệt này?
Đoàn tàu uể oải giữ đội hình quả trám, rã rời xuôi nam. Mig.21 không gầm gừ với chúng tôi nữa, có lẽ lũ nó đã tấp xuống một phi trường vừa bỏ ngõ, uống rượu ăn mừng một chiến thắng kỳ quặc nhất lịch sử. Trên bờ, T.54 vẫn sùng sục tiến vào các thành phố, nghe hơi giặc từ xa, dân chúng nháo nhào chạy tán loạn. Họ sợ diễn lại cảnh giết người tập thể ở Huế, hồi tết Mậu Thân năm xưa.
Buổi trưa, nắng gay gắt. Mặt trời rớt những mảng sáng chói lòa trên lưng chiến hạm. Dẫu vậy, gió biển luôn gào thét từng hồi. Sóng chụm đầu nhau, quẫy nước, nâng bổng con tàu ngửa nghiêng suốt hải trình. Ngoài khơi, hai chiếc Wec đang tìm cách cặp vào nhau, tiếp tế lương thực. Lúc thủy thủ vừa chuẩn bị cột dây, hai con tàu chợt ngã ngang theo sóng, va chạm liên hồi. Tai ương lại đổ ập xuống...Cứ mỗi lượn sóng nhồi, hữu hạm chiếc này đập chát chúa vào tả hạm chiếc kia nghe rối bời gan ruột. Hạm Trưởng thét vào máy điện đàm, cố gắng chỉ huy tách hai chiếc tàu ra, nhưng chúng giống như thỏi nam châm có sức hút mãnh liệt, không thể kéo rời. Sự va chạm khủng khiếp làm tan nát một khoảng dài thành tàu. Các đồ vật trên boong, đổ văng tung toé xuống biển.
Buổi chiều, mặt biển tối đen,khắc sâu bóng dáng tử thần.. Vài xác chết đã trương sình, lững lờ trôi rải rác đó đây. Tôi chợt nhớ đến bốn câu thơ của Đoàn Nhữ Khuê:
Bể thảm mênh mông sóng lụt trời
Khách trần chèo một lá thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Coi lại cùng trong bể thảm thôi!
Tiếng đạn pháo đì đùng từ T.54 của vixi kéo tôi về thực tại. Kẻ thù đã tấn công chiếc Dương Vận Hạm nhân đạo, đang cố châu mũi vào Cam Ranh để rước dân và lính. Một quầng khói đen bốc ra dày đặc từ đài chỉ huy Dương Vận Hạm - chiến hữu của ta vừa gục ngã trên đó...
Tại phi trường Cam Ranh, đoàn trực thăng khoảng vài chục chiếc hối hả bốc lên. Họ bay thẳng ra biển, nối đuôi nhau lặng lẽ, trong tư thế rút lui.
Cuối cùng, HQ231 về tới Vũng Tàu, sau chuyến hải hành rời rã tận cùng. Chưa kịp lăn đùng ra ngủ một giấc cho đã, chúng tôi lại được lệnh ra Tạm Trú Hạm nhận lương thực và nhiên liệu gấp, rồi ngược dòng Mékongvề án ngữ tại Tân Châu.
Chợ Vàm là một trong chợ xã của Tân Châu. Nó nằm bên dòng Mékong thơ mộng, dáng dấp hiền lành như cô gái quê chất phác. Chợ chỉ lưa thưa dăm ba gian hàng nhỏ, vài quán cà phê, và ít xe giải khát lưu động. Ở đây, không khí hoàn toàn yên tĩnh. Chưa có dấu vết của chiến tranh lan tới.
Vừa tìm chỗ neo tàu an toàn, Hạm Trưởng vội vã xách hành lý, nhảy tọt xuống chiếc giang đỉnh đang chờ sẵn, hấp tấp rời tàu. Đám sĩ quan lao nhao, vài vị phóng bừa theo, xin được tháp tùng về Sài Gòn. Trong khi đó, thủy thủ ùa ta từ các phòng, đứng dài dài trên boong tàu, la ó vang rân một góc trời.
Buổi tối, vài nhóm thủy thủ lên bờ từ ban chiều, lục tục kéo về tàu. Mùi rượu bay nồng nặc, bay quanh quất lên trên các khuôn mặt đỏ gay. Họ gọi sĩ quan ra cật vấn. Họ chửi thề, giằng co, đánh nhau túi bụi, gây huyên náo toàn chiến hạm.
Sáng 30 tháng Tư, tôi đau khổ trút bỏ bộ quân phục, tháo tung cặp lon trung úy, cúi đầu xuống dòng sông, lặng lẽ rời tàu.
Đổi đời
Tháng năm, gia đình tôi thất lạc nhau. Tôi chỉ gặp lại vợ và đứa con trai 5 tháng tuổi, tá túc tạm thời trong căn nhà Bà Nội vợ. Má tôi ở trại gia binh Biên Hòa với người anh Biệt Động Quân. Khi quân đội tan hàng, không biết trôi giạt về đâu? Người anh cả thuộc sư đoàn II bộ binh đã mất tích ở Quảng Ngãi vào tháng Ba, trong trận di tản kinh hoàng.
Tôi về Sài Gòn, tìm Má tôi khắp nơi. Dò la tông tích từ những người tản cư miền đông lên, nhưng không có kết quả. Thành phố nhộn nhịp ngày xưa, nay im lìm như bãi tha ma. Lao nhao có vài đám đông bu quanh bọn cộng sản Bắc Việt, tỏ vẻ nịnh bợ, hoặc ngả ngớn cợt đùa. Ngoài đường, rác rến tràn ngập. Có chỗ, quân phục, quân trang, ba lô...chồng chất lên nhau. Giấy má rải đầy. Những đám lửa nhỏ còn bốc khói, khét lẹt. Các cơ quan hành chánh cũ trống hoác. Những tầng lầu bỏ hoang. Vợ lính, con lính, cùng dân chúng tản cư...chui nhau vào đó lánh nạn.
Tôi gặp Má tôi ở trại tạm cư trên đường Công Lý. Má ốm yếu, gầy gò như que tăm. Chiến tranh kết thúc đã để lại trong Má một nỗi đau đớn, quá khủng khiếp. Bốn đứa con đi lính, cho tới hôm nay... vẫn chưa trở về đầy đủ. Căn nhà ở khu gia binh bị cộng sản tịch thu. Tương lai tối đen trước mặt. Uất ức, Má ôm tôi khóc mùi mẫn trên chiếc chiếu rách tả tơi, trải tạm bên góc thang lầu đầy tàn thuốc.
Ngày sau, thằng em Biệt Động Quân tử thủ ở Buôn Mê Thuột trở về với bộ quần áo rách bươm, thân thể hôi như cú. Chúng tôi lại ôm nhau, khóc ròng, mừng mừng tủi tủi... Chúng tôi bàn nhau đưa Má về Chương Thiện. Vì ở đó còn người chị bà con, có thể tạm nương náu qua ngày.
Cuối cùng, các anh và các em tôi còn lại, kẻ trước người sau... khăn gói vào tù. Ngày vào tù, vợ tôi chưa đầy 21 tuổi. Nàng bồng đứa con trai duy nhất vừa được 5 tháng, tiễn tôi đến tận trại tù. Chúng không khóc được. Hình như nước mắt đã cạn khô từ những tháng trước. Đứng trước cánh cổng nhà giam âm u như địa ngục, tôi nhìn nàng, nhìn con.. .đành giao phó mình cho số Trời.
Và Đời Đổi
Chỉ không đầy 24 tiếng đồng hồ, từ Việt Nam qua Mỹ, gia đình tôi đã thay đổi một cách trọn vẹn. Túp lều ngai ngái phân trâu, mái dột cột xiêu, một thời che nắng che mưa cho vợ chồng tôi - thoáng chốc, bị đẩy lùi về quá khứ. Nó được thay thế bởi một apartment sáng sủa, đầy đủ tiện nghi - mà chúng tôi phải rón rén bước đi, khi đặt chân lên tấm thảm mềm mại.
Hành trang mang theo gồm cái túi xách cỏn con, bên trong đựng vài bộ đồ nhăn nhúm, ít cuốn anh văn lỗ chỗ dấu mọt gặm, dăm đồ dùng linh tinh làm ở trại cải tạo...Giờ đây, chỉ có nước vứt đi. Vì nhà thờ mới đem cho chúng tôi một thùng đồ to tổ bố. Trong đó, vừa có quần áo hợp thời trang, vừa có những vật dụng cần thiết, đủ phong phú cho cuộc sống hiện tại.
Cách đây không lâu, tôi còn lóc cóc bán vé số khắp hang cùng ngõ hẻm. Buổi tối, trời mưa, còn quơ đại chiếc áo rách tả tơi, lật đật đốt ngọn đèn chong mờ mờ ảo ảo, lội xuống ruộng đầy đỉa vắt, bắt từng con nhái bầu..." kiếm cơm " cho một ngày sắp tới. Vậy mà, bây giờ, ngồi chễm chệ trên xe huê kỳ của vị Giáo Sĩ ( sponsor), đi đến từng cơ quan, bắt tay từng người sang trọng.
Vợ tôi hả hê, tủm tỉm cười suốt ngày. Nàng thích nhất cái tủ lạnh đầy ắp thức ăn. Nào gà, nào thịt, tôm, cua, rau, hành, trái cây...lĩnh kĩnh - do vị sponsor đã hào phóng, khéo léo đặt vào. Mới đó, ở Việt Nam, nàng còn lui cui ra vườn hái rau cải trời, rồi nhảy đùng xuống ao vớt tép rong, mong nấu được nồi canh lõm bõm cho chồng, cho con.
Thằng con tôi dễ ghét hơn. Cậu nằm dài trên sofa, lăn qua lộn lại, khoan khoái tận hưởng những giây phút thần tiên, hiếm hoi nhất trong đời.
Năm dài tháng rộng trôi qua, tôi chưa hề thấy mặt tên cảnh sát hay công an khu vực nào quấy rầy. Cũng chưa có ai đến gõ cửa xét giấy hoặc hỏi hộ khẩu bao giờ. Nhớ lại, ở Việt Nam, hàng tuần tôi phải lặn lội lên đồn công an trình diện. Muốn ra khỏi xã, phải có giấy phép đi đường, phải cầu cạnh xin xỏ đủ điều. Mỗi ngày, các " nhóc " du kích cứ thay nhau đến nhà " thăm viếng ", cho đến khi...rượu cạn bầu, bao rỗng thuốc...mới thôi.
Vợ tôi đang apply vào một hãng điện tử Poway. Nàng vừa lấy xong bằng căn bản về Electronic Assembly. Trong khi chờ đợi công việc, nàng tạm đi cắt chỉ ở hiệu may gần nhà. Sáng làm, chiều đã rinh về một máy cassette mới toanh. Cái máy mà nàng ước mơ từ hồi còn nơi quê nhà. Mười mấy năm quần quật với ruộng đồng, cấy mướn gặt thuê, nàng vẫn chưa dư ra chút khoản tiền để mua được nó.
Điều thích thú nhất của nàng, ở đây, phụ nữ được tôn lên hàng đầu: "lady first". Thực ra, VC cũng có khẩu hiệu đưa phụ nữ lên bình đẳng với nam giới: "nam nữ bình quyền". Nhưng, đó chỉ là cớ để đẩy người đàn bà ra chiến trường: tải thương, vác đạn... Đưa người đàn bà gánh lấy trách nhiệm nặng nề hơn người đàn ông : vừa nuôi chồng trong trại cải tạo, vừa nuôi con nơi quê nhà. Vợ tôi đã sống qua những chuỗi ngày đau đớn đó. Có lần, nàng bị kiệt lực vì " làm nhiều, ăn ít " - đến nổi trụy tim, suýt chết trên đồng ruộng.
Kẻ làm băn khoăn và bận tâm nhất trong gia đình tôi, là thằng con. 12 năm học trò của cậu ngập chìm trong bóng tối. 12 năm dưới mái trường XHCN, người ta chỉ lếu láo dạy " Bác và Đảng ", lao động là vinh quang, cùng những điều " lấp biển vá trời " khác. Người ta cố bôi xóa hình ảnh CHA MẸ, một hình ảnh thiêng liêng nhất trong cuộc sống con người. Thời đó, bọn "nhóc" - trạc tuổi con tôi - thường hay ngâm nga câu này, sau mỗi lần say lúy túy:
Công cha như rượu đầy chai
Nghĩa mẹ như vịt xé phay...làm mồi.
Nền giáo dục XHCN đã làm trì độn trí tuệ, làm thui chột tài năng của đứa trẻ...nên khi sang Mỹ, thằng con tôi không đủ khả năng tiếp tục học hành. Cậu chán nản, bỏ nhà, lang thang khắp nơi. Cuối cùng, cậu chọn nghề nail, lò mò qua Chicago sinh sống.
Nếu ở xã hội ta, đạo đức là đạo lý của đức hạnh, là giềng mối, là khuôn vàng thước ngọc để hậu thế đi theo. Sau 1975, đạo đức này bị đổi ngược thành đạo đức cách mạng - lộng giả thành chân, kinh khiếp nhất trần gian...Thì ở Mỹ, đạo đức là điều phải lẽ hay bàng bạc trong chốn học đường, trong các tôn giáo. Nhà thờ, chùa chiền, đền đài...đầy dẫy trên đất Mỹ. Và dĩ nhiên, đạo nào cũng khuyên con người nên làm THIỆN, diệt ÁC. Công cha nghĩa mẹ được nhắc nhở hàng năm qua các ngày lễ: Mother's day, Father's day... Thậm chí, có cả ngày Grandparent nữa. Và ngày lễ Thanksgiving: tạ ơn Trời, tạ ơn đời, tạ ơn người, tạ ơn các bậc tiền nhân đã có công xây dựng nên nước Mỹ.
Có lẽ, Chúa đã đổi đời, đã tái sinh gia đình tôi, đã cho chúng tôi một chỗ đứng ấm áp trong xứ sở thần tiên này. Tên bán vé số hèn mọn ngày nào, mụ đàn bà lọ lem cấy thuê gặt mướn năm xưa, kể cả thằng nhỏ lang thang bụi đời - luôn tủi hổ vì cái lý lịch Ngụy Quân của ba nó... Ngày hôm nay, tất cả đều trở thành những con người hữu ích cho xã hội Mỹ.
Tục ngữ La Tinh (Latin proverb) có câu: "Where liberty is, there is my country". Ở đâu có tự do, ở đó là tổ quốc tôi. Ngày nay, gia đình thằng con tôi đã có một cơ ngơi vững vàng. Chúng tôi có thêm những đứa cháu nội kháu khỉnh: Phạm Tammy, Phạm Cindy, Phạm An Golden... Và điều đặc biệt nhất, cứ mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, chúng tôi dọn một mâm cơm, cầu nguyện và tưởng tiếc đến những chiến sĩ vị quốc vong thân, những người đã cống hiến cuộc đời, đã hy sinh một thời tuổi trẻ cho đất nước Việt Nam...
PHẠM HỒNG ÂN
Nhã Ca, một xuất hiện rực rỡ của văn học miền Nam,
Du Tử Lê Nói tới bối cảnh của hai mươi năm văn học, nghệ thuật miền Nam, người ta không thể không ghi nhận sự hiện diện có tính cách khởi công, vỡ đất của những tạp chí văn học. Mặc dù không phải tạp chí nào, xuất hiện trong khoảng thời gian từ phôi thai, tức trước điểm mốc 1960 tới giai đoạn chín mùi, sung mãn sau 1960 cũng đều có những đóng góp tích cực cho nỗ lực thay da, đổi thịt của dòng văn học này.
Tuy thế, người ta vẫn cần ghi lại những diễn đàn văn học chính trong giai đoạn vừa kể. Như tạp chí Sáng Tạo, ra đời năm 1956; Bách Khoa, 1957; Hiện Ðại, đầu năm 1960; Thế Kỷ 20, giữa 1960 và, Văn Nghệ 1961...

Nhã Ca - Tranh NguyễnTrung
Ở hai thời điểm trước và sau 1960, một số người cho rằng, chúng ta cũng không nên gạt bỏ phần đóng góp của hai đài phát thanh chính là Ðài Phát Thanh Quốc Gia, tức Ðài Phát Thanh Saigon, và đài Quân Ðội. Hai cơ quan truyền thông này không chỉ là nỗ lực chính đưa dòng tân nhạc của miền Nam tới với quảng đại quần chúng, mà còn góp phần quảng bá sáng tác thơ văn của một số nhà thơ nhà văn miền Nam nữa.
Ở Ðài Phát Thanh Saigon, ngoài chương trình Tao Ðàn nổi tiếng của cố thi sĩ Ðinh Hùng, những nhà văn, nhà thơ như Mai Thảo, Nguyễn Ðình Toàn, Phan Lạc Phúc, Trần Dạ Từ,... hàng tuần cũng có những chương trình phát thanh nhằm giới thiệu sinh hoạt văn nghệ và, sáng tác mới của bằng hữu.
Tôi gọi giai đoạn đầu từ 1955 tới 1960 là giai đoạn khởi công, vỡ đất mà tiêu biểu là tạp chí Sáng Tạo. Tạp chí cổ suý dòng văn chương mới. Một dòng văn chương chủ trương đoạn tuyệt hẳn dòng văn chương tiền chiến.
Nhưng ngoài những lời lẽ, đi kèm những lên tiếng chung một cách mạnh mẽ, của những thành viên nhóm Sáng Tạo, người đọc vẫn không thấy nhóm này đưa ra những tiêu chí, hay những chuẩn mực để có được sự phân biệt cụ thể giữa “văn chương tiền chiến” và “văn chương hôm nay” (theo cách gọi của nhóm Sáng Tạo).
Nhóm Sáng Tạo không vạch rõ đâu là đặc tính của dòng nền văn chương cũ và, đâu là đặc tính của dòng văn chương mới.
Về văn xuôi, ngoài một Mai Thảo làm mới hình thức câu văn, bằng chủ tâm không đặt nặng nhu cầu tuân thủ văn phạm như vai trò chủ từ, động từ, bổ túc từ một mệnh đề, mà ông lại chú trọng tới phần hình ảnh, sử dụng nhiều tính từ để tạo làm thành một câu văn óng ả, đối xứng, nhịp nhàng... Nó có thể chảy dài lướt thướt hay ngắn ngủn. Cách viết của ông, sớm được một số người trẻ bắt chước.
Trong khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một trụ cột khác của nhóm Sáng Tạo vẫn trung thành với lối viết cũ. Truyện của ông vẫn được xây dựng trên những yếu tố căn bản như cốt truyện, tâm lý nhân vật. Thí dụ truyện dài “Dòng Sông Ðịnh Mệnh.”
Người thực sự bước cả hai chân vào thế giới văn chương mới lại là họa sĩ DuyThanh với những truyện ngắn của ông. Mặc dù nỗ lực của ông không được dư luận thời đó chú ý đúng mức.
Về thơ, ngoài những bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, những tác giả khác vẫn tiếp tục dòng thơ tiền chiến hiểu theo nghĩa vẫn áp dụng âm luật một cách chặt chẽ, vững chắc cho những bài thơ bảy, tám hay, năm chữ của họ. Ðiển hình như đa số thơ của Tô Thùy Yên.
Ngay cả những bài thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, từng gây xôn xao văn giới một thời, khi ông đem nhiều hình ảnh đậm tính chất tây phương vào thơ. Nhưng lục bát Cung Trầm Tưởng vẫn tạo dựng trên nhịp chẵn hay nhịp đều và, căn bản là khai triển, đi nốt con đường lục bát do Huy Cận, Hồ Dzếnh khai phá từ thập 1940.
Ðó là khuynh hướng đoạn tuyệt loại lục bát được dùng như một phương tiện kể chuyện dễ dàng nhất. Hoặc hình thức chuyển tải tâm sự riêng của tác giả, dễ tìm được sự đồng cảm nơi người đọc.
Lục bát thời Huy Cận, Hồ Dzếnh là loại lục bất tiêu trừ chủ thể “tôi.” Chí ít cũng đẩy lui chủ thể “tôi” xuống hàng thứ yếu - Ðể tự thân hình ảnh, ngôn ngữ, không gian của bài thơ chiếm giữ ngôi vị hàng đầu. Tự thân bài thơ là xương sống, là máu huyết, là sức sống rực rỡ, chói lòa của chính nó.
Sự xuất hiện của lục bát Cung Trầm Tưởng trên Sáng Tạo, từng được cố nhà văn Mai Thảo gọi một cách thân yêu là “Bà Huyện Thanh Quan... Mới”!
Chưa một lần tôi hỏi tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội” nguyên nhân sâu xa của ví von này. Nhưng hiển nhiên, theo tôi, khó có thể có một biểu lộ nào khác về lòng yêu mến lục bát Cung Trầm Tưởng nồng nàn hơn thế.
Tới đây, tôi cũng thấy cần ghi lại một sự kiện mang tính văn học miền Nam, 20 năm. Ðó là sự xuất hiện của dòng thơ Nguyên Sa, từ đầu mùa Sáng Tạo. Tiếc rằng, sự cộng tác của tác giả này, với Sáng Tạo không được dài lâu vì sự ngộ nhận hay xung khắc giữa Nguyên Sa và Thanh Tâm Tuyền. (Tương lai, có thể tôi sẽ có một bài viết riêng về ngộ nhận đáng tiếc giữa hai nhà thơ tên tuổi đó.)
Ngay tự những số đầu tiên của Sáng Tạo, thơ Nguyên Sa dù là thơ vần điệu, thơ tự do hay, thơ xuôi, đã như cơn địa chấn, có sức quyến rũ dữ dội, đẩy xô những người làm thơ đang/còn ngập ngừng, e ngại trước phong trào thơ Tự Do, lao mình vào phong trào thơ tự do với niềm tin và, lòng hăm hở phơi phới.
Thí dụ “Tiễn Biệt” một trong những bài thơ của Nguyên Sa, in trong Sáng Tạo, có những câu như:
“...Sao người không đi vào không gian trong - Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông - Và sao lòng tôi không là vô tận - Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song...” (1)
Hay bài “Paris,” hình dung những phản ứng của tác giả, sau khi rời bỏ nơi chốn này. Ông viết:
“...và có lẽ tôi sẽ kể chuyện Paris - để khói thuốc xám trên môi dăm người bạn - và trên môi tôi - điếu thuốc sẽ run trên những đường cong lận đận - điếu thuốc sẽ run như chân người vũ nữ vừa quen - đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên - còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc...” (1)
Hay bài “Tôi Sẽ Sang Thăm Em”:
“Tôi sẽ sang thăm em - Ðể những mớ tóc màu củi chưa đun - Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền - Lùa vào nhau nhóm lửa...” (1)
Hoặc nữa, một bài thơ xuôi nhan đề “Mời”:
“...Tôi mời em vứt bỏ lại đàng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ tú tài.
“Tôi muốn mời em đi ngay. Không cần lấy vé. Không phải đợi chờ vì điều kiện du hành là những ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đơn chiếc.
“Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé. Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu để không ai được dự phần vào câu chuyện đôi ta...” (1)
Ðó là một số bài thơ Nguyên Sa, xuất hiện trên Sáng Tạo. Lùi lại thời điểm trước 1960, tôi chưa thấy ai đem vào trong thơ, những hình ảnh, những liên tưởng, ẩn dụ... như thế.
Một số người có thể không thích thơ Nguyên Sa, vì nó không đáp ứng được những thắc mắc, những đòi hỏi siêu hình; hoặc vì thơ Nguyên Sa không thỏa mãn những tư duy triết lý trầm trọng của họ. Nhưng khó ai có thể phủ nhận những cái mới của thơ Nguyên Sa.
Trở lại với nhóm Sáng Tạo (không có Nguyên Sa), sự kiện trên diễn đàn này đã có cùng lúc hai dòng chảy cũ và mới. Tôi cho, cũng dễ hiểu. Thời gian đó, đa phần các nhà văn, nhà thơ của miền Nam vẫn tiếp tục đi tiếp con đường của dòng văn chương tiền chiến. Khác chăng, họ đào sâu hơn, tâm lý nhân vật. Những bối cảnh xã hội cũng mở rộng hơn và, không nhất thiết phải quy kết, tập chú vào một chủ đề. Chẳng hạn chủ đề giầu nghèo, chủ đề đả phá nếp phong kiến, ao tù hủ tục v.v...
Nói cách khác, ngay trên diễn đàn Sáng Tạo và, qua những bài lai cảo, được chọn đăng, người đọc thấy dường có song song, hai dòng chảy: Dòng thơ văn nỗ lực hướng về cái mới và, dòng thơ văn tiền chiến nối tiếp.
Với những nhận định trên, tôi muốn được gọi giai đoạn này là giai đoạn “dò đường” hay “mở đường.”
Phải đợi tới đầu thập niên 1960, khi lớp người mới, những cây bút sung mãn khát khao đi tới, thực sự nhập cuộc, lúc đó dòng văn chương miền Nam mới thực sự tách thoát và, từ đó, định hình.
Ðó là giai đoạn xuất hiện những tên tuổi như Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Dạ Từ, Mai Trung Tĩnh, Ðỗ Quý Toàn, Sao Trên Rừng (Nguyễn Ðức Sơn), Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng, Diễm Châu v.v... Hàng ngũ đông đảo những cây bút tiêu biểu này, dứt khoát tiến về phía trước, đã giúp cho con tầu văn học, nghệ thuật miền Nam vừa rời bến, còn dùng giằng, lưu luyến bờ cũ, thẳng ra biển khơi.
Trong bối cảnh này, thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện.
Du Tử Lê
Du Tử Lê Nói tới bối cảnh của hai mươi năm văn học, nghệ thuật miền Nam, người ta không thể không ghi nhận sự hiện diện có tính cách khởi công, vỡ đất của những tạp chí văn học. Mặc dù không phải tạp chí nào, xuất hiện trong khoảng thời gian từ phôi thai, tức trước điểm mốc 1960 tới giai đoạn chín mùi, sung mãn sau 1960 cũng đều có những đóng góp tích cực cho nỗ lực thay da, đổi thịt của dòng văn học này.
Tuy thế, người ta vẫn cần ghi lại những diễn đàn văn học chính trong giai đoạn vừa kể. Như tạp chí Sáng Tạo, ra đời năm 1956; Bách Khoa, 1957; Hiện Ðại, đầu năm 1960; Thế Kỷ 20, giữa 1960 và, Văn Nghệ 1961...

Nhã Ca - Tranh NguyễnTrung
Ở hai thời điểm trước và sau 1960, một số người cho rằng, chúng ta cũng không nên gạt bỏ phần đóng góp của hai đài phát thanh chính là Ðài Phát Thanh Quốc Gia, tức Ðài Phát Thanh Saigon, và đài Quân Ðội. Hai cơ quan truyền thông này không chỉ là nỗ lực chính đưa dòng tân nhạc của miền Nam tới với quảng đại quần chúng, mà còn góp phần quảng bá sáng tác thơ văn của một số nhà thơ nhà văn miền Nam nữa.
Ở Ðài Phát Thanh Saigon, ngoài chương trình Tao Ðàn nổi tiếng của cố thi sĩ Ðinh Hùng, những nhà văn, nhà thơ như Mai Thảo, Nguyễn Ðình Toàn, Phan Lạc Phúc, Trần Dạ Từ,... hàng tuần cũng có những chương trình phát thanh nhằm giới thiệu sinh hoạt văn nghệ và, sáng tác mới của bằng hữu.
Tôi gọi giai đoạn đầu từ 1955 tới 1960 là giai đoạn khởi công, vỡ đất mà tiêu biểu là tạp chí Sáng Tạo. Tạp chí cổ suý dòng văn chương mới. Một dòng văn chương chủ trương đoạn tuyệt hẳn dòng văn chương tiền chiến.
Nhưng ngoài những lời lẽ, đi kèm những lên tiếng chung một cách mạnh mẽ, của những thành viên nhóm Sáng Tạo, người đọc vẫn không thấy nhóm này đưa ra những tiêu chí, hay những chuẩn mực để có được sự phân biệt cụ thể giữa “văn chương tiền chiến” và “văn chương hôm nay” (theo cách gọi của nhóm Sáng Tạo).
Nhóm Sáng Tạo không vạch rõ đâu là đặc tính của dòng nền văn chương cũ và, đâu là đặc tính của dòng văn chương mới.
Về văn xuôi, ngoài một Mai Thảo làm mới hình thức câu văn, bằng chủ tâm không đặt nặng nhu cầu tuân thủ văn phạm như vai trò chủ từ, động từ, bổ túc từ một mệnh đề, mà ông lại chú trọng tới phần hình ảnh, sử dụng nhiều tính từ để tạo làm thành một câu văn óng ả, đối xứng, nhịp nhàng... Nó có thể chảy dài lướt thướt hay ngắn ngủn. Cách viết của ông, sớm được một số người trẻ bắt chước.
Trong khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một trụ cột khác của nhóm Sáng Tạo vẫn trung thành với lối viết cũ. Truyện của ông vẫn được xây dựng trên những yếu tố căn bản như cốt truyện, tâm lý nhân vật. Thí dụ truyện dài “Dòng Sông Ðịnh Mệnh.”
Người thực sự bước cả hai chân vào thế giới văn chương mới lại là họa sĩ DuyThanh với những truyện ngắn của ông. Mặc dù nỗ lực của ông không được dư luận thời đó chú ý đúng mức.
Về thơ, ngoài những bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, những tác giả khác vẫn tiếp tục dòng thơ tiền chiến hiểu theo nghĩa vẫn áp dụng âm luật một cách chặt chẽ, vững chắc cho những bài thơ bảy, tám hay, năm chữ của họ. Ðiển hình như đa số thơ của Tô Thùy Yên.
Ngay cả những bài thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, từng gây xôn xao văn giới một thời, khi ông đem nhiều hình ảnh đậm tính chất tây phương vào thơ. Nhưng lục bát Cung Trầm Tưởng vẫn tạo dựng trên nhịp chẵn hay nhịp đều và, căn bản là khai triển, đi nốt con đường lục bát do Huy Cận, Hồ Dzếnh khai phá từ thập 1940.
Ðó là khuynh hướng đoạn tuyệt loại lục bát được dùng như một phương tiện kể chuyện dễ dàng nhất. Hoặc hình thức chuyển tải tâm sự riêng của tác giả, dễ tìm được sự đồng cảm nơi người đọc.
Lục bát thời Huy Cận, Hồ Dzếnh là loại lục bất tiêu trừ chủ thể “tôi.” Chí ít cũng đẩy lui chủ thể “tôi” xuống hàng thứ yếu - Ðể tự thân hình ảnh, ngôn ngữ, không gian của bài thơ chiếm giữ ngôi vị hàng đầu. Tự thân bài thơ là xương sống, là máu huyết, là sức sống rực rỡ, chói lòa của chính nó.
Sự xuất hiện của lục bát Cung Trầm Tưởng trên Sáng Tạo, từng được cố nhà văn Mai Thảo gọi một cách thân yêu là “Bà Huyện Thanh Quan... Mới”!
Chưa một lần tôi hỏi tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội” nguyên nhân sâu xa của ví von này. Nhưng hiển nhiên, theo tôi, khó có thể có một biểu lộ nào khác về lòng yêu mến lục bát Cung Trầm Tưởng nồng nàn hơn thế.
Tới đây, tôi cũng thấy cần ghi lại một sự kiện mang tính văn học miền Nam, 20 năm. Ðó là sự xuất hiện của dòng thơ Nguyên Sa, từ đầu mùa Sáng Tạo. Tiếc rằng, sự cộng tác của tác giả này, với Sáng Tạo không được dài lâu vì sự ngộ nhận hay xung khắc giữa Nguyên Sa và Thanh Tâm Tuyền. (Tương lai, có thể tôi sẽ có một bài viết riêng về ngộ nhận đáng tiếc giữa hai nhà thơ tên tuổi đó.)
Ngay tự những số đầu tiên của Sáng Tạo, thơ Nguyên Sa dù là thơ vần điệu, thơ tự do hay, thơ xuôi, đã như cơn địa chấn, có sức quyến rũ dữ dội, đẩy xô những người làm thơ đang/còn ngập ngừng, e ngại trước phong trào thơ Tự Do, lao mình vào phong trào thơ tự do với niềm tin và, lòng hăm hở phơi phới.
Thí dụ “Tiễn Biệt” một trong những bài thơ của Nguyên Sa, in trong Sáng Tạo, có những câu như:
“...Sao người không đi vào không gian trong - Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông - Và sao lòng tôi không là vô tận - Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song...” (1)
Hay bài “Paris,” hình dung những phản ứng của tác giả, sau khi rời bỏ nơi chốn này. Ông viết:
“...và có lẽ tôi sẽ kể chuyện Paris - để khói thuốc xám trên môi dăm người bạn - và trên môi tôi - điếu thuốc sẽ run trên những đường cong lận đận - điếu thuốc sẽ run như chân người vũ nữ vừa quen - đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên - còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc...” (1)
Hay bài “Tôi Sẽ Sang Thăm Em”:
“Tôi sẽ sang thăm em - Ðể những mớ tóc màu củi chưa đun - Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền - Lùa vào nhau nhóm lửa...” (1)
Hoặc nữa, một bài thơ xuôi nhan đề “Mời”:
“...Tôi mời em vứt bỏ lại đàng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ tú tài.
“Tôi muốn mời em đi ngay. Không cần lấy vé. Không phải đợi chờ vì điều kiện du hành là những ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đơn chiếc.
“Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé. Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu để không ai được dự phần vào câu chuyện đôi ta...” (1)
Ðó là một số bài thơ Nguyên Sa, xuất hiện trên Sáng Tạo. Lùi lại thời điểm trước 1960, tôi chưa thấy ai đem vào trong thơ, những hình ảnh, những liên tưởng, ẩn dụ... như thế.
Một số người có thể không thích thơ Nguyên Sa, vì nó không đáp ứng được những thắc mắc, những đòi hỏi siêu hình; hoặc vì thơ Nguyên Sa không thỏa mãn những tư duy triết lý trầm trọng của họ. Nhưng khó ai có thể phủ nhận những cái mới của thơ Nguyên Sa.
Trở lại với nhóm Sáng Tạo (không có Nguyên Sa), sự kiện trên diễn đàn này đã có cùng lúc hai dòng chảy cũ và mới. Tôi cho, cũng dễ hiểu. Thời gian đó, đa phần các nhà văn, nhà thơ của miền Nam vẫn tiếp tục đi tiếp con đường của dòng văn chương tiền chiến. Khác chăng, họ đào sâu hơn, tâm lý nhân vật. Những bối cảnh xã hội cũng mở rộng hơn và, không nhất thiết phải quy kết, tập chú vào một chủ đề. Chẳng hạn chủ đề giầu nghèo, chủ đề đả phá nếp phong kiến, ao tù hủ tục v.v...
Nói cách khác, ngay trên diễn đàn Sáng Tạo và, qua những bài lai cảo, được chọn đăng, người đọc thấy dường có song song, hai dòng chảy: Dòng thơ văn nỗ lực hướng về cái mới và, dòng thơ văn tiền chiến nối tiếp.
Với những nhận định trên, tôi muốn được gọi giai đoạn này là giai đoạn “dò đường” hay “mở đường.”
Phải đợi tới đầu thập niên 1960, khi lớp người mới, những cây bút sung mãn khát khao đi tới, thực sự nhập cuộc, lúc đó dòng văn chương miền Nam mới thực sự tách thoát và, từ đó, định hình.
Ðó là giai đoạn xuất hiện những tên tuổi như Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Dạ Từ, Mai Trung Tĩnh, Ðỗ Quý Toàn, Sao Trên Rừng (Nguyễn Ðức Sơn), Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng, Diễm Châu v.v... Hàng ngũ đông đảo những cây bút tiêu biểu này, dứt khoát tiến về phía trước, đã giúp cho con tầu văn học, nghệ thuật miền Nam vừa rời bến, còn dùng giằng, lưu luyến bờ cũ, thẳng ra biển khơi.
Trong bối cảnh này, thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện.
Du Tử Lê

THỜI ĐIỂM CHỜ ĐÓN MÙA HOA "Hope For the Flowers" tạm dịch là Chờ Đón Mùa Hoa. Đó là tên một cuốn sách tâm linh khá nổi tiếng, bán chạy nhất trong nhiều năm liền của tác giả Trina Paulus. Cái đặc biệt của cuốn sách này là rất ít chữ mà chỉ có hình vẽ thôi. Mà lại toàn là hình sâu róm, sợ quá!
Con sâu róm sinh ra trên một cành cây trong một ”gia đình êm ấm”. Một hôm nó nhận ra mình đã trưởng thành, cần ”đi xuống cuộc đời”. Và nó đã bò xuống. Nó lấy làm lạ là tại sao nó toàn gặp những con sâu đang đi hối hả về phía trước. Nó hỏi đi đâu, thì những chú sâu không có giờ trả lời, chỉ ngoắc đầu thật nghiêm trọng. Nó cũng sinh tò mò đi theo. Một lúc lâu thì nó thấy một cái cột thật cao, ngọn chạm tới trời. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra đó là một cái cột toàn sâu lúc nhúc đang chen nhau bò lên. Nó hỏi trên đó có gì thì không đứa nào trả lời. Thấy đông đứa hăm hở như thế chắc là phải có gì hồ hởi lắm. Vậy là nó cũng hòa mình vào đám đông ”ai sao tôi dzậy” mà cố sức leo lên, đạp văng nhiều thằng khác mà đạt mục tiêu. Lên đến lưng chừng thì nó ”thấm mệt cuộc đời”, ”ngựa nản chân bon”, bèn nghĩ chuyện bỏ cuộc. Chắc là chả có gì đâu. Và nó bò được xuống đất. Hú hồn.
Nhưng rồi nó đâm hồ nghi chính nó. Hay là mình chẳng giống ai. Nó quan sát thấy ”người ta” miệt mài tranh nhau bò lên thế kia, ắt là phải có cái gì chứ. Thế là nó lại ra sức trèo lên một lần nữa. Lần này nó hung hãn hơn trước. Đấm đá kỹ hơn. La hét kỹ hơn. Tỏ ra ta đây lắm. Và cuối cùng nó đã leo lên được đỉnh cao chót vót. Nhưng cũng chính là lúc nó thất vọng nhất. Chẳng có gì cả. Thì ra cái cột giầu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặt ra tiêu chuẩn giá trị. Nhìn sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nhìn kỹ để phát giác một điều lạ là ở cành cây đang đeo lủng lẳng những cái tổ kén. Đó là những cái mồ chôn để sâu có thể chui vào mà lột xác thành bướm. Con đường thật là kham khổ đầu tắt mặt tối "chân lấm tay bùn", ai mà chẳng sợ! Nhưng có con đường nào khác nữa đâu?!
TIN VUI TÌM ĐỘNG HOA VÀNG
Mặc dù đang thấy hiện trạng là con sâu, nhưng con sâu biết bản chất của nó là có thể mọc cánh thành bướm bay lên được. Này nhé: Sâu có thể trở thành bướm, những mô đất đá cằn cỗi hai bên đường bỗng bật lên những mầm nụ mới vào buổi sang xuân, chẳng phải là sửng sốt lắm sao?!
Cao điểm của năm phụng vụ trong Đạo Chúa là Lễ Phục Sinh. Kể cũng lạ đấy, Tuần Thánh bao giờ cũng trùng vào đầu mùa xuân hoa nở. Hằng ngày đi đến nhà thờ, tôi thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans, bang Louisiana. Nhưng đẹp nhất phải kể là những ngày đầu xuân. Bãi cỏ xơ xác hai bên đường mùa đông nay bỗng trải dài một thảm hoa vàng mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao theo kiểu Phạm Thiên Thư với nhạc Phạm Duy:
Rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say.
Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng, mà cũng thật gần tầm tay với. Con đường này chắc cũng nhiều người qua lại mỗi ngày. Không biết được mấy người lái xe chậm lại một chút để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật lên lời thơ của Tô Thùy Yên:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cảm ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.
NHỊP ĐIỆU LUÂN VŨ
Chắc là Tô Thùy Yên đã bị đầy đọa vùi dập mười năm chứ gì. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài dệt bằng những tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp.
Vậy mà mình bỗng bắt lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Nó nở để cho hoa mình nở. Mọi phiền muộn bỗng dưng thành hòa khúc dịu êm. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng “big bang”.
Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có điệu ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như tia nắng vừa lên, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi khoảnh khắc. Thì ra vạn vật đều đi theo một vũ khúc bao la đất trời, gồm ba giai đoạn, tức là nhịp ba, nhịp luân vũ. Đây cũng là tiến trình chết đi và phục sinh, niềm tin gốc của đạo Chúa, nơi Đức Giêsu, và nơi mỗi người.
Nhận ra hiện trạng mình là một hạt cây hay con sâu với hướng vọng thành lá hoa với đàn bướm tung tăng.
Dám chấp nhận bị vùi giập thối rữa hay chui vào tổ kén, chấp nhận được những trở ngại, những khổ đau. Mình đâu có dễ tự mình lột xác được. Thì đây mình được gửi đến những thập giá giúp mình lột xác biến thể. Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ vẫn trơ trọi một mình (Gioan 12:24). Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết đi sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25).
Mọc cánh thành bướm vươn lên một cuộc sống mới thênh thang thảnh thơi, không còn gì có thể chế ngự kềm tỏa ràng buộc được nữa.
PHÚT TỊNH TÂM
Nhưng con người nhiều khi lại không khôn ngoan được như thế, mà cứ cố bám lấy lớp vỏ dầy cứng khiến đời sống mỗi ngày mỗi tàn tạ?! Nhà thơ Luân Hoán thấy cảnh đáng thương như vậy liền cất lời tự tình:
Cảm ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài.
Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây thập tự như “ỷ thiên kiếm” được gửi đến để chém chặt khai quang cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã làm ta nên người. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Ngày lễ Phục sinh thể hiện đúng tiết nhịp hoa nở. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.
Mồ Trống và Phục Sinh: sức đột biến từ cơn giẫy giụa.
Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng đến gần thì nhận ra đó chỉ là một cái xác, có một kẽ nứt phía sau lưng. Đúng là mồ trống rồi. “Nó” đi đâu mất? Bên cạnh là một nụ hoa chớm nở đầy sức sống. Không thấy “nó”, nhưng trông thấy biểu hiện của “nó” nơi một nụ hoa mới thì chẳng phải mất công tìm ở đâu nữa. Nó đã lột xác và đã phục sinh mang một dạng hình khác đầy hoạt lực tươi trẻ. Với cảm hứng này, tôi đã lấy máy chụp ra mà chộp được cái nét hồn của chính mình đang chuyển biến qua biểu tượng đời sống, và đặt tên là "Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh."
Hạt cây không phục sinh trở lại hạt cây, nhưng đã là hoa lá mới. Con sâu không rụng lông sống lại với kiếp sâu róm, nhưng đã lột xác thành con bướm bay. Đó mới là cảm nghiệm phục sinh cho tôi lúc này như thánh Phaolô tuyên sấm một cuộc tạo dựng mới:
“Ai ở trong Đức Ki-tô đều là tạo vật mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” (2Cor 5:17)
Liệu tôi đã bắt đầu dám lột xác vươn mình lên hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bặm phù du, tự đầy đọa mình và làm khổ nhiều người? Những gì tôi đang cần xả bỏ để bắt đầu sống thảnh thơi hơn? Và lời thơ vang vọng trở thành lời phản tỉnh:
Cảm ơn đất đá trổ hoa
U mê hạt bụi lòng ta bám hoài.
Trần Cao Tường, Lm.
Đọc sách “Tu Tại Gia” của GS. Lê Thái Ất
Miền Nam trước đây, vào thập niên 1960, quý bạn nào ở lớp Đệ Nhị (Lớp 11 bây giờ) chắc chẳn phải học cuốn Công Dân Giáo Dục của Lê Thái Ất. Dĩ nhiên không phải học chơi (nhiệm ý) mà còn phải đi thi nữa. Rớt môn Công Dân Giáo Dục, thì lơ mơ bạn có thể rớt Tú Tài I như không. Tiểu sử vắn tắt cho biết sau đó GS Lê Thái Ất giảng dạy tại Đại Học Vạn Hạnh và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh với môn Sọan Thảo Công Văn. Ít ai biết GS Lê Thái Ất là một nhà học Phật uyên thâm, một vị cư sĩ lấy “nhà làm Chùa” cần mẫn tiến tu, lấy Niệm Phât Thập Yếu làm bản mệnh, phát huy hết tinh hoa của Phật học, làm tròn bổn phận của người chồng, người cha, tâm linh hướng thượng, mà vẫn chu tòan trách nhiệm của một công dân trong tinh thần ““Cư trần lạc đạo” của Tuệ Trung Thượng Sĩ và Phật Hòang Trần Nhân Tông. Đầu năm nay 2010, Cát Tiên (www.cattien. us ) cho xuất bản cuốn Tu Tại Gia của ông. Sách được ra mắt vào lúc 2 giờ chiều ngày 17-4-2010 tại trụ sở Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ 1612 N. Spurgeon St. Santa Ana , CA 92701 ĐT: (714) 878-3739
Mới thọat nhìn hoặc nghe nói về tựa đề chúng ta tưởng đó là một cuốn booklet (sách bỏ túi) mong mỏng, phát không ở các chùa, dạy Tam Quy, Ngũ Giới, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật…cho hàng Phật tử sơ cơ. Thế nhưng không phải vậy. Sách dày 527 trang, khổ 17cm x 24.5 cm, bìa láng, in trên mấy mỏng tiêu chuẩn in sách của Hoa Kỳ, dày cộm như một cuốn tự điển Webster.
Đây là một cuốn sách tổng hợp hầu hết giáo lý của Đức Phật, giải thích tường tận, vừa trích dẫn lời của Chư Tổ để mọi người, mọi giới có thể thực hành tiến tu. Sách luận giải theo sự chứng ngộ của bản thân chứ không phải chỉ là chuyện “biên sọan” của một nhà nghiên cứu. Chỉ nội chuyện lễ Phật không thôi, tác giả diễn giải như sau “ Thiếu động tác tâm linh, không thể gọi người đang hành lễ là đang lễ Phật được. Đó chỉ là hành động cơ bắp của người đang lễ cái tượng gỗ, tượng đất có tạc nặn lên hình Phật, lễ tờ giấy có in vẽ hình Phật. Trong khúc gỗ, khối đất hay tờ giấy làm gì có Phật, đó chỉ là biểu tượng pháp thân vô tướng của Phật, tương trưng cho đức tính của Phật mà người hành lễ đang nhiếp tâm cung kính niệm tưởng” (tr. 14). Đây chính là tinh thần “lễ kính chư Phật” của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát trong Pháp Hội Hoa Nghiêm.
Dưới đây tôi xin liệt kê phần Mục Lục để quy bạn thấy nội dung phong phú của sách Tu Tại Gia: Sách gồm 56 Chương: 1) Tu Phật 2) Thờ Phật 3) Học Phật 4) Năm Điều Khác Thường Ở Đức Phật 5) Phật Độ 6) Ma Sự 7) Sám Hối 8 ) Tự Tứ 9) Cư Sĩ Phật Giáo 10) Tam Quy Ngũ Giới 11) Thiền Định 12) Nam Mô A Di Đà Phật 13) Niệm Phật Thập Yếu. 14) Tam Pháp Ấn 15) Quán Một Chữ 16) Hoa Với Ông Già Quét Rác. 17) Từ Lời Kinh Đến Ý Kinh 18 ) Ly Tướng 19) Vô Tự Chân Kinh 20) Chân Ngã và Vọng Ngã 21) Vô Ngã 22) Tịnh Tâm 23) Niềm Tin 24) Đi Hành Hương 25) Tu Là Chuyển Nghiệp 26) Thệ Nguyện và Nhân Quả 27) Quả Báo 28 ) Người Tu Thành Phật 29) Tiến Tu Làm Người 30) Cuộc Sống Tâm Linh và Sinh Họat Tôn Giáo 31) Cúng Dường Tam Bảo 32) Hộ Niệm 33) Hộ Niệm 34) Nhất Tâm Niệm Phật 35) Quay Lại Cái Đầu 36) Làm Việc Thiện Có Đúng Có Sai 37) Thập Bát Giới 38 ) Chính Trị Trong Đạo Phật 39) Thời Gian Tu Tập Hành Trì 40) Chúng Ngộ 41) Tây Phương Cực Lạc và Đông Phương Diệu Hỉ 42) Thập Như Thị 43) Pháp Thân 44) Quán Niệm Như Lai 45) Quán Thân Bất Tịnh 46) Dĩ Hòa Vi Quý 47) Tùy Duyên 48 ) Trung Đạo 49) Cây Hồng Rụng Lá 50) Đạo Vợ Chồng 51) Đạo Làm Người 52) Ngẫm Xem Chính Mình 53) Bảy Hạng Vợ 54) Phương Đông 55) Giải Thóat và Phần Tổng Kết: Rủ Nhau Cùng Tu.
Tôi chỉ có thể điểm qua một vài mục trong cuốn sách:
a) Năm Điều Khác Thường Ở Đức Phật: Không ít người hiểu lầm Đức Phật là một Ông Thần (God) với quyền năng ban phúc giáng họa, có thể tạo ra con người thánh thiện nhất, nhưng cùng lúc lại tạo ra những con người hung ác, ghê tởm, có thể biến cát thành cơm, có thể gây ra động đất, cuồng phong, sóng thần, tạo ra chiến tranh, dịch họa chết cả triệu người v.v..để trần thế sợ hãi mà lập đền đài thờ phượng, kính ngưỡng, van vái. Đức Phật là một con người bằng xương bằng thịt, cũng chịu sự chi phối của luật Sinh, Già, Bịnh, Chết. Tuy nhiên Đức Phật lại là con người khác thường. Theo tác giả, năm điều khác thường ở Đức Phât gồm có: 1) Có hành động khác thường: Dám bỏ tất cả. 2) Có nhãn quan khác thường: Không tin ở Thượng Đế mà chỉ tin ở Con Người. 3) Có tình thương khác thường: Thương khắp cả muôn lòai. 4) Có nhận thức khác thường: Thấy cái Ta không thực. 5) Có sự sáng suốt khác thường: Vượt không gian và thời gian.(tr. 45). Những cái “khác thường” này ngay bậc đại trí thức không thể có, bậc vương giả không thể có, thậm chí tất cả các nhà đạo đức cũng không thể có…mà chỉ có được ở nơi “Bậc Đại Giác” tức Các Đức Phật mà thôi.
b/ Ma Sự: Ma ở đây không phải là Con Ma sống vất vưởng ở nghĩa trang hay trong các căn nhà cổ hoặc lâu đài hoang phế. Và chắc chắn cũng không phải các hành động của Ma Giáo trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, mà “ trong Phật Học từ ngữ Ma chỉ kẻ nào, điều nào, pháp nào có tác động làm náo lọan tâm thần, ngăn trở pháp lành, cướp của cái nền công đức và phá mạng vận nền trí tuệ.” (tr. 58 ) Do đó danh từ Bố Ma dùng để chỉ bậc tu hành đã đọan trừ phiền não, ẩn dụ Ma Chướng cũng phải sợ mà lánh xa. Đó là các bậc A La Hán. Vậy thì quý ông bà nào không hiểu Đạo Phật xin chớ có suy diễn bậy bạ để nói rằng Đạo Phật sao bàn chuyện Ma nhiều quá. Ngày nay do xã hội phát triển quá nhanh, xì ke ma túy, cờ bạc, rượu chè, nhậu nhẹt say sưa là Ma Chướng làm khổ con người đã đành mà… ngay chính Internet cũng trở thành “Ma Chướng” làm náo lọan tâm trí con người. Một ngày không biết bao thứ rác rưởi tràn ngập vào nhà rồi chui vào đầu, khiến “tẩu hỏa nhập ma” rồi phát cuồng, viết bậy, chửi bậy. Thậm chí bóng đá, football cũng đang trở thành “Ma Chướng” khi người ta tán gia bại sản chỉ vì cá độ, thậm chí thanh niên gây bạo lọan, đập phá khi đội bóng của quốc gia mình thua v.v…
c) Tam Pháp Ấn: Đây là sinh mạng, là cốt tủy, là kính chiếu yêu để “ để chứng nhận đích thực là chánh pháp. Đạo Phật có Tam Pháp Ấn: Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn. Giáo lý nào không mang ba dấu chứng đó thì không phải là chánh pháp của Đạo Phật, không đúng với ý Phật truyền dạy đạo giải thóat cứu độ chúng sinh.” (tr.155). Nhận biết về Tam Pháp Ấn rất quan trọng cho hàng Phật tử vì ngày nay ma mặc áo Phật nổi lên khắp nơi. Hạng ma này miệng nói Phật nhưng hành tà đạo. Họ kiến trúc Tự Ngã, tô bồi cho Cái Tôi, phá giới hoặc không giữ giới, tham lam tiền bạc của cải, sống buông thả nhưng lại nói là phá chấp, không câu nệ v..v..
d) Hoa Với Ông Già Quét Rác: Đây là một bài thơ Thiền 5 chữ, gồm bảy đọan của tác giả đối thọai với hoa nhưng thực chất là “tự thức, tự giác trong khi nội quán” (tr.168) trong đó có những đọan như sau:
Đang nở hoa là hoa
Lúc tàn hoa là rác
Khi cánh rơi lác đác
Theo gió bay gần xa
* * *
Hoa đẹp? Tại người khen
Hoa tàn? Tại người tiếc
Tự Hoa, Hoa không biết
Kiêu hãnh lẫn ưu phiền
Ý thơ giống như một bài kệ tụng.
e) Hành Hương: Tác giả ca ngợi sự hành hương của người Phật tử, chẳng hạn như chảy Chùa Hương (Nam Thiên Đệ Nhất Động). Tuy nhiên theo tác giả “ Kẻ hành hương hư giả chỉ đi du ngọan cảnh chùa, nhìn thấy tượng Phật ở phương vị khách du lịch, đến thăm chùa, viếng Phật như đến thăm viện bảo tàng, viện khảo cổ, đến thăm phòng triển lãm tài liệu, di tích văn hóa tôn giáo …” mà tâm tình hành hương phải là “ như người con từ xa trở về nhà ở của cha mình để thăm đấng phụ thân.” (tr. 232). Hành hương với Tâm Ý thành kính như thế này thì chỉ cần một chuyến không thôi cũng bằng tu cả đời.
f) Chính trị trong Đạo Phật: Người Phật tử tại gia có thể là Vua, tổng thống, thủ tướng, đại biểu quốc hội, binh sĩ, nhân viên cảnh sát, giám thị trại cải huấn, có thể là thương buôn, thể tháo gia, văn nghệ sĩ, giáo sư đại học, lãnh tụ một đảng phái v.v…Dĩ nhiên họ cần phải sống và có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ Quốc. Họ có thể phải tham gia chính trị để đưa ra những chính sách tốt đẹp cho đất nước. Theo tác giả và cũng là luận điểm của Trung Dung, Khổng Tử thì “Chánh trị là xếp đặt việc điều hành trong nước hay tại một địa phương cho cuộc sống của người dân hợp với lẽ phải, có an ninh trật tự và đem lại ấm no hạnh phúc cho người dân.” (tr.345) Vậy thì người Phật tử phải quan niệm “làm chính trị” như thế nào? Theo tác giả thì “ cứu cánh của Phật giáo là cứu khổ độ sanh, chính trị chỉ là phương tiện phục vụ tất cả mọi người. Đây chính là Chánh Nghiệp (trong Bát Chánh Đạo), đó cũng là đề tài Vương Đạo Trong Đạo Phật.” (tr.346) Tác giả cũng hài ra 10 Phương Châm Phật Dạy Trong Việc Trị Quốc An Dân gọi là Mahàsammato.
g) Tây Phương Cực Lạc và Đông Phương Diệu Hỉ: Tây Phương Cực Lạc là thế giới của Phật A Di Đà là Cõi Tịnh Độ không còn ô uế, phiền não, không còn phải kham nhẫn chịu đựng như cõi Ta Bà. Cõi Đông Phương Diệu Hỉ là cõi Vô Động, diễn ý không còn vọng động của Phật A Súc. Chúng sinh cõi Ta Bà (cõi thế này) nên phát nguyện sanh về hai cõi trên khi mệnh chung. (tr. 377)
h) Đạo Vợ Chồng: Đây là một chủ đề hết sức quan trọng. Ngày nay, do chủ nghĩa cá nhân phóng túng bành trướng, do cơ khí, kỹ nghệ điện tử phát triển quá mức, cái gì cũng “ tòan cầu hóa” cho nên những gương xấu, do phim ảnh, truyền hình, báo chí, Internet, điện thọai viễn liên đã truyền đi rất nhanh. Nền tảng cổ truyền của tiểu gia đình bao gồm vợ chồng và con cái đang có nguy cơ đổ vỡ trầm trọng. Gia đình không còn là sự kết hợp giữa Nam và Nữ với thiên chức xây dựng một tế bào quan trọng của xã hội, sinh con đẻ cái để duy trì sự tồn tại của con người và tiếp nối nhu cầu thăng hoa rồi tiến tới hòan thiện. Hôn nhân ngày hôm nay còn là sự kết hợp giữa người cùng phái. Và ngay cả đối với một cặp nam-nữ nó cũng đã trở thành một phương tiện để thỏa mãn dục tính, chán rồi lại bỏ chứ không còn keo sơn gắn bó, thắm đượm tình nghĩa, chia ngọt xẻ bùi, sướng khổ có nhau cùng dìu nhau đi hết đọan đường đời, cho đến răng long đầu bạc. Vậy thì chúng ta phải làm sao đây? Là một người học Luật tác giả đã tổng hợp quan niệm chính yếu của hôn nhân như sau “ Hôn nhân là một Khế Ước, hôn nhân là một Định Chế Xã Hội và hôn nhân là một lẽ đương nhiên của Đạo Lý. “ (tr. 471 & 472). Cùng lúc, là người học Phật, tác giả đã trích dẫn lời Phật dạy để nói về đạo vợ chồng, nghĩa phu thê như sau “ Chồng đối với vợ có bổn phận: Tôn trọng, yêu thương và trung thành, giao cho vợ và giúp vợ mọi cách để làm tròn chức năng tề gia như cung ứng đầy đủ phương tiện và quyền hạn tương xứng với chức năng đảm nhiệm, thỉnh thoảng nên tặng quà hay nữ trang. Còn vợ đối với chồng có bổn phận: Tận tụy lo tề gia, yêu thương và trung thành, can đảm và khéo léo trong cách cư xử giao dịch với họ hàng bên chồng, bạn bè chồng, bảo vệ tài sản của gia đình.” ( tr. 472) Vậy thì rõ ràng Đức Phật là một lương y tùy bệnh cho thuốc. Đối với hàng Phật tử tại gia - tức Ưu Bà Di và Ưu Bà Tắc, Đức Phật dạy về các bổn phận để vợ chồng sống hòa thuận, tốt đẹp và vun bồi cho cuộc sống và tương lai. Còn đối với các bậc Thượng Sĩ muốn theo Thánh Đạo, Phật mới khuyên từ bỏ Ái-Dục để đạt cảnh giới siêu thóat. Vì Đạo Phật bị Thực Dân, Đế Quốc xuyên tạc, bóp méo trong nhiều thế kỷ cho nên không ít người hiểu lầm Đạo Phật chủ trương tiêu diệt cuộc sống và hủy bỏ nền tảng gia đình.
i) Ngẫm Xem Chính Mình: Đây là dòng sinh mệnh của Đạo Phật. Đạo Phật không hướng ngọai mà hướng nội. Đạo Phật không nhìn lên Trời mà nhìn vào Tâm mình. Đạo Phật không cầu xin Thần Linh (God) ban bố cho sự sáng suốt, sự thanh tịnh và giải thóat. Là Phật tử mà cứ lăng xăng tìm kiếm ở bên ngòai là đang tu một đạo khác chứ không phải tu Phật. Tinh hoa của Đạo Phật là ở chỗ đó. Sự độc đáo của Phật Giáo là ở chỗ đó. Nếu cứ lăng xăng dựa vào Thần Linh thì lỡ thần linh buồn ta cũng phải buồn theo sao? Nếu Thần Linh phẫn nộ ta cũng phải phẫn nộ à? Giả sử Thần Linh đi ngủ thì chúng ta phải làm sao đây? Cái Chân Tâm có sẵn ở trong người, chẳng phải tìm đâu xa. Điều này chư Tổ đã nói qua rất nhiều thuật ngữ như: Trực Chỉ Nhân Tâm, Phản Quang Hồi Chiếu, Thiền Quán v.v..Chính vì quán triệt điều này cho nên tác giả viết “ Ở cương vị người con Phật tu tại gia, chúng ta tự chọn cho mình một phương thức thực hành bài học Ngẫm Xem Chính Mình: Mỗi ngày hãy tự xét cả Ba Nghiệp (Thân-Khâu-Ý) mình, làm những gì, nói những gì và nghĩ những gì, nhằm làm điều lành, tránh điều dữ.” (tr. 503) Để nói rõ thêm đọan này chúng ta có thể đọc bài kệ tụng của Hương Hải Thiền Sư đời Vua Lê Dụ Tông: (*) Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan
Dịch nghĩa:
Mỗi ngày đều xem xét lại chính mình
Suy nghĩ cho thật kỹ
Đừng tìm tri thức (đạo) trong mơ mộng
Sẽ thấy một ngày nào đó ông thầy hiện ngay trên đầu mình.
Lời Kết: Dĩ nhiên tôi không thể giới thiệu hết từng chi tiết, từng cái hay, cái đẹp của cuốn sách dày 527 trang mà chỉ có thể nói rằng đây là một cuốn sách biên sọan bởi một nhà trí thức kiên trì tu hành tại gia, nay đã ở lứa tuổi ngòai 80, không ngòai mục đích để “báo đáp hồng ân Chư Phật”. Nó là cuốn cẩm nang mà hàng Phật tử tại gia cần có, cần đọc và khi từ giã Cõi Ta Bà này có thể để lại cho con cháu tiếp tục lưu giữ và tiến tu. Nếu “ Bố thí pháp là cúng dường chư Phật” thì với cuốn sách này, GS Lê Thái Ất đã góp phần không nhỏ vào việc hoằng dương Chánh Pháp và giúp chúng ta một lần nữa củng cố niềm tin nơi Chư Phật, Chư Tổ và hiểu một cách rõ ràng, minh bạch Đạo Phật như thế nào. Rất nhiều người, nhiều tổ chức đã nói xấu và bóp méo Đạo Phật cho nên chúng ta một lần nữa cần mượn lời của Hương Hải Thiền Sư nói rằng “Chúng sinh mê mờ Đạo Phật chứ Đạo Phật không bao giờ mê mờ chúng sinh.” Trên cương vị khiêm tốn của hàng cư sĩ, vẫn phải gắn chặt với cuộc đời, chúng ta cố gắng phấn đấu để trở thành một người chồng, người vợ tốt, một đứa con hiếu thảo, một người bạn tốt, một láng giềng tốt, một lãnh đạo nhân đức, một chính trị gia lương hảo, một nhà báo ngay thẳng, một thương gia làm ăn buôn bán thật thà, một công dân gương mẫu, một bậc thày tận tụy, một học sinh ngoan ngõan. Để rồi khi đã thành công với đời thì giúp người nghèo khó và bớt chút của cải cúng dường chư Tăng/Ni, hộ pháp…thì đất nước này, thế giới này tốt lành và an vui biết là bao nhiêu. Lời giáo hóa của Đức Phật, của chư vị Bồ Tát cho hàng Đại Sĩ thì bao la nhưng dành cho hàng cư sĩ tu tại gia chỉ có vậy.
Quý vị, quý bạn nào muốn mua sách có thể vào website: http://www.cattien. us hoặc gửi thư về địa chỉ: Cát Tiên P.O.Box 10156 Westminster , CA 92685 , Email: tutaigia@cattien. us. Sách đề giá 25 Mỹ Kim.
Đào Văn Bình
(California ngày 08-4-2010)
(*) Vua Lê Dụ Tông là vị vua thuấn nhuần Đạo Phật, ngài thường xuyên vấn hỏi đạo nơi Hương Hải Thiền Sư. Hài cốt của Vua vừa mới được di chuyển từ Viện Bảo Tàng Hà Nội về an táng tại Thanh Hóa, quê cha đất tổ của dòng họ Lê vào ngày 25-1-2010.
Mới thọat nhìn hoặc nghe nói về tựa đề chúng ta tưởng đó là một cuốn booklet (sách bỏ túi) mong mỏng, phát không ở các chùa, dạy Tam Quy, Ngũ Giới, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật…cho hàng Phật tử sơ cơ. Thế nhưng không phải vậy. Sách dày 527 trang, khổ 17cm x 24.5 cm, bìa láng, in trên mấy mỏng tiêu chuẩn in sách của Hoa Kỳ, dày cộm như một cuốn tự điển Webster.
Đây là một cuốn sách tổng hợp hầu hết giáo lý của Đức Phật, giải thích tường tận, vừa trích dẫn lời của Chư Tổ để mọi người, mọi giới có thể thực hành tiến tu. Sách luận giải theo sự chứng ngộ của bản thân chứ không phải chỉ là chuyện “biên sọan” của một nhà nghiên cứu. Chỉ nội chuyện lễ Phật không thôi, tác giả diễn giải như sau “ Thiếu động tác tâm linh, không thể gọi người đang hành lễ là đang lễ Phật được. Đó chỉ là hành động cơ bắp của người đang lễ cái tượng gỗ, tượng đất có tạc nặn lên hình Phật, lễ tờ giấy có in vẽ hình Phật. Trong khúc gỗ, khối đất hay tờ giấy làm gì có Phật, đó chỉ là biểu tượng pháp thân vô tướng của Phật, tương trưng cho đức tính của Phật mà người hành lễ đang nhiếp tâm cung kính niệm tưởng” (tr. 14). Đây chính là tinh thần “lễ kính chư Phật” của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát trong Pháp Hội Hoa Nghiêm.
Dưới đây tôi xin liệt kê phần Mục Lục để quy bạn thấy nội dung phong phú của sách Tu Tại Gia: Sách gồm 56 Chương: 1) Tu Phật 2) Thờ Phật 3) Học Phật 4) Năm Điều Khác Thường Ở Đức Phật 5) Phật Độ 6) Ma Sự 7) Sám Hối 8 ) Tự Tứ 9) Cư Sĩ Phật Giáo 10) Tam Quy Ngũ Giới 11) Thiền Định 12) Nam Mô A Di Đà Phật 13) Niệm Phật Thập Yếu. 14) Tam Pháp Ấn 15) Quán Một Chữ 16) Hoa Với Ông Già Quét Rác. 17) Từ Lời Kinh Đến Ý Kinh 18 ) Ly Tướng 19) Vô Tự Chân Kinh 20) Chân Ngã và Vọng Ngã 21) Vô Ngã 22) Tịnh Tâm 23) Niềm Tin 24) Đi Hành Hương 25) Tu Là Chuyển Nghiệp 26) Thệ Nguyện và Nhân Quả 27) Quả Báo 28 ) Người Tu Thành Phật 29) Tiến Tu Làm Người 30) Cuộc Sống Tâm Linh và Sinh Họat Tôn Giáo 31) Cúng Dường Tam Bảo 32) Hộ Niệm 33) Hộ Niệm 34) Nhất Tâm Niệm Phật 35) Quay Lại Cái Đầu 36) Làm Việc Thiện Có Đúng Có Sai 37) Thập Bát Giới 38 ) Chính Trị Trong Đạo Phật 39) Thời Gian Tu Tập Hành Trì 40) Chúng Ngộ 41) Tây Phương Cực Lạc và Đông Phương Diệu Hỉ 42) Thập Như Thị 43) Pháp Thân 44) Quán Niệm Như Lai 45) Quán Thân Bất Tịnh 46) Dĩ Hòa Vi Quý 47) Tùy Duyên 48 ) Trung Đạo 49) Cây Hồng Rụng Lá 50) Đạo Vợ Chồng 51) Đạo Làm Người 52) Ngẫm Xem Chính Mình 53) Bảy Hạng Vợ 54) Phương Đông 55) Giải Thóat và Phần Tổng Kết: Rủ Nhau Cùng Tu.
Tôi chỉ có thể điểm qua một vài mục trong cuốn sách:
a) Năm Điều Khác Thường Ở Đức Phật: Không ít người hiểu lầm Đức Phật là một Ông Thần (God) với quyền năng ban phúc giáng họa, có thể tạo ra con người thánh thiện nhất, nhưng cùng lúc lại tạo ra những con người hung ác, ghê tởm, có thể biến cát thành cơm, có thể gây ra động đất, cuồng phong, sóng thần, tạo ra chiến tranh, dịch họa chết cả triệu người v.v..để trần thế sợ hãi mà lập đền đài thờ phượng, kính ngưỡng, van vái. Đức Phật là một con người bằng xương bằng thịt, cũng chịu sự chi phối của luật Sinh, Già, Bịnh, Chết. Tuy nhiên Đức Phật lại là con người khác thường. Theo tác giả, năm điều khác thường ở Đức Phât gồm có: 1) Có hành động khác thường: Dám bỏ tất cả. 2) Có nhãn quan khác thường: Không tin ở Thượng Đế mà chỉ tin ở Con Người. 3) Có tình thương khác thường: Thương khắp cả muôn lòai. 4) Có nhận thức khác thường: Thấy cái Ta không thực. 5) Có sự sáng suốt khác thường: Vượt không gian và thời gian.(tr. 45). Những cái “khác thường” này ngay bậc đại trí thức không thể có, bậc vương giả không thể có, thậm chí tất cả các nhà đạo đức cũng không thể có…mà chỉ có được ở nơi “Bậc Đại Giác” tức Các Đức Phật mà thôi.
b/ Ma Sự: Ma ở đây không phải là Con Ma sống vất vưởng ở nghĩa trang hay trong các căn nhà cổ hoặc lâu đài hoang phế. Và chắc chắn cũng không phải các hành động của Ma Giáo trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, mà “ trong Phật Học từ ngữ Ma chỉ kẻ nào, điều nào, pháp nào có tác động làm náo lọan tâm thần, ngăn trở pháp lành, cướp của cái nền công đức và phá mạng vận nền trí tuệ.” (tr. 58 ) Do đó danh từ Bố Ma dùng để chỉ bậc tu hành đã đọan trừ phiền não, ẩn dụ Ma Chướng cũng phải sợ mà lánh xa. Đó là các bậc A La Hán. Vậy thì quý ông bà nào không hiểu Đạo Phật xin chớ có suy diễn bậy bạ để nói rằng Đạo Phật sao bàn chuyện Ma nhiều quá. Ngày nay do xã hội phát triển quá nhanh, xì ke ma túy, cờ bạc, rượu chè, nhậu nhẹt say sưa là Ma Chướng làm khổ con người đã đành mà… ngay chính Internet cũng trở thành “Ma Chướng” làm náo lọan tâm trí con người. Một ngày không biết bao thứ rác rưởi tràn ngập vào nhà rồi chui vào đầu, khiến “tẩu hỏa nhập ma” rồi phát cuồng, viết bậy, chửi bậy. Thậm chí bóng đá, football cũng đang trở thành “Ma Chướng” khi người ta tán gia bại sản chỉ vì cá độ, thậm chí thanh niên gây bạo lọan, đập phá khi đội bóng của quốc gia mình thua v.v…
c) Tam Pháp Ấn: Đây là sinh mạng, là cốt tủy, là kính chiếu yêu để “ để chứng nhận đích thực là chánh pháp. Đạo Phật có Tam Pháp Ấn: Vô Thường, Vô Ngã và Niết Bàn. Giáo lý nào không mang ba dấu chứng đó thì không phải là chánh pháp của Đạo Phật, không đúng với ý Phật truyền dạy đạo giải thóat cứu độ chúng sinh.” (tr.155). Nhận biết về Tam Pháp Ấn rất quan trọng cho hàng Phật tử vì ngày nay ma mặc áo Phật nổi lên khắp nơi. Hạng ma này miệng nói Phật nhưng hành tà đạo. Họ kiến trúc Tự Ngã, tô bồi cho Cái Tôi, phá giới hoặc không giữ giới, tham lam tiền bạc của cải, sống buông thả nhưng lại nói là phá chấp, không câu nệ v..v..
d) Hoa Với Ông Già Quét Rác: Đây là một bài thơ Thiền 5 chữ, gồm bảy đọan của tác giả đối thọai với hoa nhưng thực chất là “tự thức, tự giác trong khi nội quán” (tr.168) trong đó có những đọan như sau:
Đang nở hoa là hoa
Lúc tàn hoa là rác
Khi cánh rơi lác đác
Theo gió bay gần xa
* * *
Hoa đẹp? Tại người khen
Hoa tàn? Tại người tiếc
Tự Hoa, Hoa không biết
Kiêu hãnh lẫn ưu phiền
Ý thơ giống như một bài kệ tụng.
e) Hành Hương: Tác giả ca ngợi sự hành hương của người Phật tử, chẳng hạn như chảy Chùa Hương (Nam Thiên Đệ Nhất Động). Tuy nhiên theo tác giả “ Kẻ hành hương hư giả chỉ đi du ngọan cảnh chùa, nhìn thấy tượng Phật ở phương vị khách du lịch, đến thăm chùa, viếng Phật như đến thăm viện bảo tàng, viện khảo cổ, đến thăm phòng triển lãm tài liệu, di tích văn hóa tôn giáo …” mà tâm tình hành hương phải là “ như người con từ xa trở về nhà ở của cha mình để thăm đấng phụ thân.” (tr. 232). Hành hương với Tâm Ý thành kính như thế này thì chỉ cần một chuyến không thôi cũng bằng tu cả đời.
f) Chính trị trong Đạo Phật: Người Phật tử tại gia có thể là Vua, tổng thống, thủ tướng, đại biểu quốc hội, binh sĩ, nhân viên cảnh sát, giám thị trại cải huấn, có thể là thương buôn, thể tháo gia, văn nghệ sĩ, giáo sư đại học, lãnh tụ một đảng phái v.v…Dĩ nhiên họ cần phải sống và có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ Quốc. Họ có thể phải tham gia chính trị để đưa ra những chính sách tốt đẹp cho đất nước. Theo tác giả và cũng là luận điểm của Trung Dung, Khổng Tử thì “Chánh trị là xếp đặt việc điều hành trong nước hay tại một địa phương cho cuộc sống của người dân hợp với lẽ phải, có an ninh trật tự và đem lại ấm no hạnh phúc cho người dân.” (tr.345) Vậy thì người Phật tử phải quan niệm “làm chính trị” như thế nào? Theo tác giả thì “ cứu cánh của Phật giáo là cứu khổ độ sanh, chính trị chỉ là phương tiện phục vụ tất cả mọi người. Đây chính là Chánh Nghiệp (trong Bát Chánh Đạo), đó cũng là đề tài Vương Đạo Trong Đạo Phật.” (tr.346) Tác giả cũng hài ra 10 Phương Châm Phật Dạy Trong Việc Trị Quốc An Dân gọi là Mahàsammato.
g) Tây Phương Cực Lạc và Đông Phương Diệu Hỉ: Tây Phương Cực Lạc là thế giới của Phật A Di Đà là Cõi Tịnh Độ không còn ô uế, phiền não, không còn phải kham nhẫn chịu đựng như cõi Ta Bà. Cõi Đông Phương Diệu Hỉ là cõi Vô Động, diễn ý không còn vọng động của Phật A Súc. Chúng sinh cõi Ta Bà (cõi thế này) nên phát nguyện sanh về hai cõi trên khi mệnh chung. (tr. 377)
h) Đạo Vợ Chồng: Đây là một chủ đề hết sức quan trọng. Ngày nay, do chủ nghĩa cá nhân phóng túng bành trướng, do cơ khí, kỹ nghệ điện tử phát triển quá mức, cái gì cũng “ tòan cầu hóa” cho nên những gương xấu, do phim ảnh, truyền hình, báo chí, Internet, điện thọai viễn liên đã truyền đi rất nhanh. Nền tảng cổ truyền của tiểu gia đình bao gồm vợ chồng và con cái đang có nguy cơ đổ vỡ trầm trọng. Gia đình không còn là sự kết hợp giữa Nam và Nữ với thiên chức xây dựng một tế bào quan trọng của xã hội, sinh con đẻ cái để duy trì sự tồn tại của con người và tiếp nối nhu cầu thăng hoa rồi tiến tới hòan thiện. Hôn nhân ngày hôm nay còn là sự kết hợp giữa người cùng phái. Và ngay cả đối với một cặp nam-nữ nó cũng đã trở thành một phương tiện để thỏa mãn dục tính, chán rồi lại bỏ chứ không còn keo sơn gắn bó, thắm đượm tình nghĩa, chia ngọt xẻ bùi, sướng khổ có nhau cùng dìu nhau đi hết đọan đường đời, cho đến răng long đầu bạc. Vậy thì chúng ta phải làm sao đây? Là một người học Luật tác giả đã tổng hợp quan niệm chính yếu của hôn nhân như sau “ Hôn nhân là một Khế Ước, hôn nhân là một Định Chế Xã Hội và hôn nhân là một lẽ đương nhiên của Đạo Lý. “ (tr. 471 & 472). Cùng lúc, là người học Phật, tác giả đã trích dẫn lời Phật dạy để nói về đạo vợ chồng, nghĩa phu thê như sau “ Chồng đối với vợ có bổn phận: Tôn trọng, yêu thương và trung thành, giao cho vợ và giúp vợ mọi cách để làm tròn chức năng tề gia như cung ứng đầy đủ phương tiện và quyền hạn tương xứng với chức năng đảm nhiệm, thỉnh thoảng nên tặng quà hay nữ trang. Còn vợ đối với chồng có bổn phận: Tận tụy lo tề gia, yêu thương và trung thành, can đảm và khéo léo trong cách cư xử giao dịch với họ hàng bên chồng, bạn bè chồng, bảo vệ tài sản của gia đình.” ( tr. 472) Vậy thì rõ ràng Đức Phật là một lương y tùy bệnh cho thuốc. Đối với hàng Phật tử tại gia - tức Ưu Bà Di và Ưu Bà Tắc, Đức Phật dạy về các bổn phận để vợ chồng sống hòa thuận, tốt đẹp và vun bồi cho cuộc sống và tương lai. Còn đối với các bậc Thượng Sĩ muốn theo Thánh Đạo, Phật mới khuyên từ bỏ Ái-Dục để đạt cảnh giới siêu thóat. Vì Đạo Phật bị Thực Dân, Đế Quốc xuyên tạc, bóp méo trong nhiều thế kỷ cho nên không ít người hiểu lầm Đạo Phật chủ trương tiêu diệt cuộc sống và hủy bỏ nền tảng gia đình.
i) Ngẫm Xem Chính Mình: Đây là dòng sinh mệnh của Đạo Phật. Đạo Phật không hướng ngọai mà hướng nội. Đạo Phật không nhìn lên Trời mà nhìn vào Tâm mình. Đạo Phật không cầu xin Thần Linh (God) ban bố cho sự sáng suốt, sự thanh tịnh và giải thóat. Là Phật tử mà cứ lăng xăng tìm kiếm ở bên ngòai là đang tu một đạo khác chứ không phải tu Phật. Tinh hoa của Đạo Phật là ở chỗ đó. Sự độc đáo của Phật Giáo là ở chỗ đó. Nếu cứ lăng xăng dựa vào Thần Linh thì lỡ thần linh buồn ta cũng phải buồn theo sao? Nếu Thần Linh phẫn nộ ta cũng phải phẫn nộ à? Giả sử Thần Linh đi ngủ thì chúng ta phải làm sao đây? Cái Chân Tâm có sẵn ở trong người, chẳng phải tìm đâu xa. Điều này chư Tổ đã nói qua rất nhiều thuật ngữ như: Trực Chỉ Nhân Tâm, Phản Quang Hồi Chiếu, Thiền Quán v.v..Chính vì quán triệt điều này cho nên tác giả viết “ Ở cương vị người con Phật tu tại gia, chúng ta tự chọn cho mình một phương thức thực hành bài học Ngẫm Xem Chính Mình: Mỗi ngày hãy tự xét cả Ba Nghiệp (Thân-Khâu-Ý) mình, làm những gì, nói những gì và nghĩ những gì, nhằm làm điều lành, tránh điều dữ.” (tr. 503) Để nói rõ thêm đọan này chúng ta có thể đọc bài kệ tụng của Hương Hải Thiền Sư đời Vua Lê Dụ Tông: (*) Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan
Dịch nghĩa:
Mỗi ngày đều xem xét lại chính mình
Suy nghĩ cho thật kỹ
Đừng tìm tri thức (đạo) trong mơ mộng
Sẽ thấy một ngày nào đó ông thầy hiện ngay trên đầu mình.
Lời Kết: Dĩ nhiên tôi không thể giới thiệu hết từng chi tiết, từng cái hay, cái đẹp của cuốn sách dày 527 trang mà chỉ có thể nói rằng đây là một cuốn sách biên sọan bởi một nhà trí thức kiên trì tu hành tại gia, nay đã ở lứa tuổi ngòai 80, không ngòai mục đích để “báo đáp hồng ân Chư Phật”. Nó là cuốn cẩm nang mà hàng Phật tử tại gia cần có, cần đọc và khi từ giã Cõi Ta Bà này có thể để lại cho con cháu tiếp tục lưu giữ và tiến tu. Nếu “ Bố thí pháp là cúng dường chư Phật” thì với cuốn sách này, GS Lê Thái Ất đã góp phần không nhỏ vào việc hoằng dương Chánh Pháp và giúp chúng ta một lần nữa củng cố niềm tin nơi Chư Phật, Chư Tổ và hiểu một cách rõ ràng, minh bạch Đạo Phật như thế nào. Rất nhiều người, nhiều tổ chức đã nói xấu và bóp méo Đạo Phật cho nên chúng ta một lần nữa cần mượn lời của Hương Hải Thiền Sư nói rằng “Chúng sinh mê mờ Đạo Phật chứ Đạo Phật không bao giờ mê mờ chúng sinh.” Trên cương vị khiêm tốn của hàng cư sĩ, vẫn phải gắn chặt với cuộc đời, chúng ta cố gắng phấn đấu để trở thành một người chồng, người vợ tốt, một đứa con hiếu thảo, một người bạn tốt, một láng giềng tốt, một lãnh đạo nhân đức, một chính trị gia lương hảo, một nhà báo ngay thẳng, một thương gia làm ăn buôn bán thật thà, một công dân gương mẫu, một bậc thày tận tụy, một học sinh ngoan ngõan. Để rồi khi đã thành công với đời thì giúp người nghèo khó và bớt chút của cải cúng dường chư Tăng/Ni, hộ pháp…thì đất nước này, thế giới này tốt lành và an vui biết là bao nhiêu. Lời giáo hóa của Đức Phật, của chư vị Bồ Tát cho hàng Đại Sĩ thì bao la nhưng dành cho hàng cư sĩ tu tại gia chỉ có vậy.
Quý vị, quý bạn nào muốn mua sách có thể vào website: http://www.cattien. us hoặc gửi thư về địa chỉ: Cát Tiên P.O.Box 10156 Westminster , CA 92685 , Email: tutaigia@cattien. us. Sách đề giá 25 Mỹ Kim.
Đào Văn Bình
(California ngày 08-4-2010)
(*) Vua Lê Dụ Tông là vị vua thuấn nhuần Đạo Phật, ngài thường xuyên vấn hỏi đạo nơi Hương Hải Thiền Sư. Hài cốt của Vua vừa mới được di chuyển từ Viện Bảo Tàng Hà Nội về an táng tại Thanh Hóa, quê cha đất tổ của dòng họ Lê vào ngày 25-1-2010.
Hoàng Quốc Bảo,
dòng nhạc như chiếc cầu tâm linh nối liền đời thường và nẻo đạo
Du Tử Lê Cùng với sự rộ, nở của sinh hoạt văn chương, qua những diễn đàn văn học, hiện diện từ giữa thập niên 50, khởi đầu với những tạp chí như Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Bách Khoa, sinh hoạt âm nhạc miền Nam với hàng trăm trung tâm, nhà xuất bản, thu băng, đĩa, tất cả đem lại cho người nghe những dòng nhạc tiêu biểu của một Phạm Ðình Chương, Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Cung Tiến, Lê Trọng Nguyễn, Ðan Thọ, Nguyễn Hiền, Tuấn Khanh, Y Vân, Lâm Tuyền, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Nguyễn Văn Ðông, Trúc Phương,v.v... đó là cột mốc thứ nhất.

Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo Ở cột mốc văn học thứ hai, song song với sự hiện diện của những tạp chí như Hiện Ðại, Văn Nghệ, Văn, Văn Học, Nghệ Thuật... xuất hiện những năm đầu thập niên, một số kéo dài tới giữa thập niên 70, sinh hoạt âm nhạc cụng mang tới người nghe, những đời nhạc tươi, mới khác. Ðó là sự lên đường, rồi định hình của những dòng nhạc mang tên Trịnh Công Sơn, Nguyễn Ánh 9, Trần Thiện Thanh, Anh Việt Thu, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ðức Quang, Phạm Trọng Cầu, Ngô Minh Thu, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên v.v...
Xuất hiện sau những Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên một vài năm, và, sau Trịnh Công Sơn khoảng sáu, bảy năm; nhưng nếu lấy con số 10 năm làm thước đo, đếm một thế hệ, thì Hoàng Quốc Bảo là người cuối cùng, lấy được chiếc vé lên chuyến tầu âm nhạc, chung với những tên tuổi vừa kể. Khi chuyến tầu âm nhạc đi khắp cùng đất nước kia, chỉ còn một vài ghế trống.
Tuy nhiên, nếu Trịnh Công Sơn rướn mình, giơ cao ngọn cờ kêu đòi chấm dứt chiến tranh; Vũ Thành An với những bài không tên viết cho một (hay những) cuộc tình tuyệt vọng, Từ Công Phụng với nỗ lực đi tìm vàng son, thuở trước... thì, Hoàng Quốc Bảo, tự những nhát cuốc vỡ đất sáng tác đầu tay, đã cho thấy khuynh hướng xới sâu cõi hư không. Ðời giả tạm.
Ngay với những tình khúc rực rỡ chia ly, nát nhàu thống khổ, ở đâu đó, giữa những hợp âm được nối kết bởi Hoàng Quốc Bảo, vẫn mang tới cho người nghe, cảm nhận muốn vươn, thoát khỏi những trói buộc hạn hẹp của kiếp người. Tham vọng xóa bỏ sự phân biệt hình/tướng. Ðem nhị nguyên đúng/sai, thành/bại, phải/trái... về nhất thể.

Chân dung Hoàng Quốc Bảo. (Tranh: Họa Sĩ Võ Ðình) Bằng âm nhạc, tự những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, họ Hoàng đã thiết lập cho mình (hay cho người), những chiếc cầu tâm linh, bắc qua đôi bờ nhân gian và, lẽ đạo.
Dù không một chỉ dấu, chẳng một tận khai cố tình, bằng cõi tâm tĩnh, lặng, Hoàng Quốc Bảo, với cõi nhạc của mình, đã mặc nhiên mang đến người nghe, những hồi chuông lai tỉnh. Những thời kinh, những câu kệ nhắc gọi chúng sinh, hồi hướng bến giác.
Tính thiền hay lời gọi kêu chúng sinh rời bỏ bờ mê trong đời nhạc Hoàng Quốc Bảo, mỗi lúc, một thêm nồng nàn sở nguyện, bằng vào bản thân, qua những năm luân lạc, quê người, họ Hoàng càng thực chứng lẽ vô thường. Ðời hữu hạn.
Nơi cõi tạm, tôi nhớ cuối năm 1975, đầu năm 1976, Hoàng Quốc bảo, đưa thân mẫu từ tiểu bang Illinoise về quận hạt Orange County, ở miền Nam California.
Một buổi tối, nơi căn apartment ở thành phố Costa Mesa, trong căn phòng không đồ đạc, Hoàng Quốc Bảo ôm đàn, hát cho chúng tôi nghe một số nhạc cũ, mới của ông.
Trong số đó, có ca khúc nhan đề “Hồ Như”, với những câu như:
“Có lẽ ta về ai biết đâu - Trồng vàng hoa trên núi sương hào - có lẽ trăm rừng xanh trở lại - gọi đàn chim xa mãi về phương nào - có lẽ ta về như giấc mơ - làm dòng sông bôi xóa đôi bờ - có lẽ người hồi sinh trở lại - nhìn cuộc chơi quên bấy lâu nay.”
Khi nghe lần thứ hai câu “...làm dòng sông bôi xóa đôi bờ...” tôi rất muốn hỏi ông, “Hồ Như” là ca khúc được viết thời gian nào? Trước hay sau 30 tháng 4? Nhưng cuối cùng, tôi im lặng. Tôi im lặng vì trong một thoáng mơ hồ, người thanh niên ngồi bệt trên thảm, trước mặt tôi, người thanh niên lúc nào cũng như ngơ ngác, lạc lõng, dường không còn là Hoàng Quốc Bảo. Ông là một người khác. Với tôi, ông không “làm” (tôi nhấn mạnh) “dòng sông bôi xóa đôi bờ” mà ông chính “là” (tôi nhấn mạnh) dòng sông. Và, dòng sông ấy đã “bôi xóa đôi bờ.”

Thủ bút của Hoàng Quốc Bảo. Tôi không hỏi “đôi bờ” trong ca khúc “Hồ Như” của Hoàng Quốc bảo là đôi bờ nào. Tôi không hỏi bởi tôi nghĩ, nếu hỏi, chưa chắc giải thích của ông và cảm nhận riêng của tôi, đã gặp gỡ nhau. Với tôi, đó là “đôi bờ” của biến cố kinh hoàng, điếng tê mới xẩy ra. Còn tưa máu. “Ðôi bờ” với tôi là trong/ngoài một tổ quốc. “Ðôi bờ” với tôi là hai miền tử/sinh mà, con người bị phanh thây, đứng giữa...
Ðó cũng là thời gian chúng tôi cùng làm việc ở hãng Rockwell International, chi nhánh Newport Beach, trên đường Jamboree. Một năm sau, ông cho tôi biết, đã xin nghỉ việc để nhận công việc mới là thảo chương viên, cho công ty nước ngoài ở thành phố Los Angeles. Từ đó, chúng tôi ít có dịp gặp nhau.
Nhưng, tôi vẫn dõi theo bước đi của người “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ”! Như dõi theo những mơ ước bất toàn của chính mình.
Và, thời gian cho tôi hiểu, những thực chứng, những sở nguyện khởi tự khá nhiều nghịch cũng như thuận duyên, đã mang lại cho Hoàng Quốc Bảo (hay cho chúng ta) nhiều số tác phẩm mới. Những tác phẩm càng lúc càng cho thấy tính “bôi xóa đôi bờ” nơi ông.
Mười ca khúc phổ từ thi kệ, thiền thi của của các thiền sư như Nhất Hạnh, Huyền Không, Tịnh Từ, trong đĩa nhạc mang tên “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không,” Hoàng Quốc Bảo một lần nữa, thống thiết trải rộng tấm lòng yêu người, trái tim thương đời của mình, tới người nghe, như một lời cảm ơn những ơn phước (mà, ông đã nhận được từ cảnh đời. Cảnh đời, hiểu theo một nghĩa nào, là phản quang hay, ảo hóa của ngục A Tỳ.)
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một ký giả của đài Little Saigon Radio ở miền Nam California, từ nhiều năm trước, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo cho biết, kể từ đĩa nhạc mang tên “Tịnh Tâm Khúc” cách đây nhiều chục năm, thì “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” là đĩa nhạc thứ hai của ông. Phần lớn những ca khúc trong đĩa nhạc vừa kể, được họ Hoàng sáng tác đầu thập niên 80. Nhạc sĩ Hồ Ðăng Tín đã bỏ ra 5 năm, cho phần soạn hòa âm.
“Rồi nhiều thiện duyên đến, nhất là với tâm ý hân hoan và, thôi thúc trong việc kỷ niệm mùa Ðản Sinh đầu thiên niên kỷ, chúng tôi nguyện đem lòng thực hiện,” tác giả “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” tâm sự.
Khi được hỏi quan điểm riêng về những ca khúc và những băng nhạc Phật Giáo ra đời trong những năm tháng gần đây, Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo nói:
“Tôi là người Cư sĩ Phật tử, lại trong giới sáng tác âm nhạc, thấy việc làm nào cũng có mặt tốt của nó. Nhạc mình như một đóa hoa nhỏ, trong vườn hoa nghệ thuật đầy mầu sắc. Có người thưởng ngoạn chỉ vì màu sắc sặc sỡ, lại có kẻ trang trọng với dị thảo, kỳ hương. Trong công tác nghệ thuật, tôi chỉ nguyện chính mình trân trọng hết sức với nghệ phẩm của mình. Không để bị chi phối vì bất cứ mục đích gì khi sáng tác, quyền lợi hay danh vị. Nhất là khi thực hiện, lấy nghệ thuật làm mục đích chính. Thứ đến mới nhượng bộ những điều kiện khác. Ðã làm hết sức mình rồi, kết quả ra sao, lúc ấy mới hoan hỉ chấp nhận...”
Câu trả lời của họ Hoàng, cho thấy quan điểm cũng như cung cách ứng xử của ông, không chỉ với nghệ thuật, mà còn với cả cuộc sống hàng ngày nữa.
Vẫn theo lời giới thiệu của ký giả phỏng vấn nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, thì họ Hoàng chính thức sáng tác ca khúc kể từ năm 1969, thời còn ở Việt Nam.
Ông từng là người chủ trương những chương trình âm nhạc cho các đài phát thanh ở Thủ đô Saigòn, trước tháng 4, 1975, như đài Tiếng Nói Tự Do, đài Phát Thanh Saigon, đài Tiếng Nói Quân Ðội, nhưng ông không hề lợi dụng vị trí của mình, để phổ cập tên tuổi ông.
Ðề cặp tới đĩa nhạc “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” của Hoàng Quốc Bảo, một nhà báo khác, trong một bài viết trên nhật báo Việt Báo, cho biết nhan đề ấy, vốn là một câu thơ của Không Lộ Thiền Sư đời nhà Lý. Ðó là câu: “Có khi lên thẳng non hề/hú dài một tiếng lạnh về hư không.”
Cũng trên nhật báo Việt Báo, số cuối năm 2005 loan tin nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo... xuất gia. Xuống tóc. Ði tu. Tôi chia sẻ với người viết bản tin, khi nhấn mạnh rằng, sự việc vừa kể, không làm nhiều người ngạc nhiên. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn ghi lại bản tin này, như một ghi chú quan trọng ở những năm cuối đời của họ Hoàng. Với cá nhân tôi, nó cũng là một hình thức “bôi xóa đôi bờ” mà thôi. Nguyên văn bản tin đó, như sau:
“Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã rời bỏ California để về xuất gia ở một Thiền Viện tại Việt Nam trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Ðược biết, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã tham dự lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 27 tháng 11, 2005 và rồi vài ngày sau đã trở về Thiền Viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt và xuống tóc xuất gia với Thiền Sư Thích Thanh Từ trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Việc nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo xuống tóc đi tu không làm bao nhiêu người bất ngờ, vì nhạc sĩ đã nói ý nguyện này từ lâu, từ những ngày làm việc trong ngành Tin Học ở Sở Cấp Nước Los Angeles. “Mới vài năm trước, trong chuyến Hòa Thượng Thanh Từ lần cuối viếng thăm California, nhạc sĩ đã có tên trong danh sách xuống tóc đi tu trong buổi lễ ở Thiền Viện Ðại Ðăng, Nam Calif., nhưng khi xướng tên trên danh sách, tới khi đọc tên Hoàng Quốc Bảo, thì nhạc sĩ không có mặt - trước đó, nhạc sĩ đã lẳng lặng bước ra ngoài và chờ dịp khác.” Và lần này là một cơ duyên lớn. Nhân dịp lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, một thiền viện tuy là mới tân trang cho Trúc Lâm Thiền Phái của HT Thanh Từ, nhưng theo sử thì chính nơi đây là dấu tích Phật Giáo xưa cổ nhất, chính nơi đây là chỗ các nhà sư do Vua Asoka của Ấn Ðộ cổ thời đặt chân vào Việt Nam làm trú xứ. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên còn là một thắng cảnh lớn với núi rừng nguyên sơ, cao 300 mét trên mặt biển...

Hoàng Quốc Bảo sau khi ngày thế phát xuất gia, ảnh chụp 2007
“Sau khi dự lễ, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã về Trúc Lâm Thiền Viện ở Ðà Lạt, và xuất gia với HT Thanh Từ, vị Thiền Sư nổi tiếng nhất tại quê nhà và đang hoằng pháp Thiền Tông Trúc Lâm tại cả trong và ngoài nước.
“California tuy mất đi một nghệ sĩ tài hoa, nhưng Thiền Tông VN ở quê nhà lại đang có thêm một người gánh vác mới...”
Cách đây không lâu, nhân tang lễ một người thân trong gia tộc, tại một nhà quàn quận hạt Orange County, một số thân hữu đã được gặp lại tu sĩ Hoàng Quốc Bảo.
Ông không hát nữa. Dĩ nhiên. Có thể ông cũng không nữa “hồ như”...
Riêng tôi, gặp lại ông, tôi lại tự hỏi:
- Phải chăng, ông đã “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ” tự một xa xưa, tiền kiếp nào.
Du Tử Lê
(Tháng 3, 2010)
dòng nhạc như chiếc cầu tâm linh nối liền đời thường và nẻo đạo
Du Tử Lê Cùng với sự rộ, nở của sinh hoạt văn chương, qua những diễn đàn văn học, hiện diện từ giữa thập niên 50, khởi đầu với những tạp chí như Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Bách Khoa, sinh hoạt âm nhạc miền Nam với hàng trăm trung tâm, nhà xuất bản, thu băng, đĩa, tất cả đem lại cho người nghe những dòng nhạc tiêu biểu của một Phạm Ðình Chương, Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Cung Tiến, Lê Trọng Nguyễn, Ðan Thọ, Nguyễn Hiền, Tuấn Khanh, Y Vân, Lâm Tuyền, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Nguyễn Văn Ðông, Trúc Phương,v.v... đó là cột mốc thứ nhất.

Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo Ở cột mốc văn học thứ hai, song song với sự hiện diện của những tạp chí như Hiện Ðại, Văn Nghệ, Văn, Văn Học, Nghệ Thuật... xuất hiện những năm đầu thập niên, một số kéo dài tới giữa thập niên 70, sinh hoạt âm nhạc cụng mang tới người nghe, những đời nhạc tươi, mới khác. Ðó là sự lên đường, rồi định hình của những dòng nhạc mang tên Trịnh Công Sơn, Nguyễn Ánh 9, Trần Thiện Thanh, Anh Việt Thu, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ðức Quang, Phạm Trọng Cầu, Ngô Minh Thu, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên v.v...
Xuất hiện sau những Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên một vài năm, và, sau Trịnh Công Sơn khoảng sáu, bảy năm; nhưng nếu lấy con số 10 năm làm thước đo, đếm một thế hệ, thì Hoàng Quốc Bảo là người cuối cùng, lấy được chiếc vé lên chuyến tầu âm nhạc, chung với những tên tuổi vừa kể. Khi chuyến tầu âm nhạc đi khắp cùng đất nước kia, chỉ còn một vài ghế trống.
Tuy nhiên, nếu Trịnh Công Sơn rướn mình, giơ cao ngọn cờ kêu đòi chấm dứt chiến tranh; Vũ Thành An với những bài không tên viết cho một (hay những) cuộc tình tuyệt vọng, Từ Công Phụng với nỗ lực đi tìm vàng son, thuở trước... thì, Hoàng Quốc Bảo, tự những nhát cuốc vỡ đất sáng tác đầu tay, đã cho thấy khuynh hướng xới sâu cõi hư không. Ðời giả tạm.
Ngay với những tình khúc rực rỡ chia ly, nát nhàu thống khổ, ở đâu đó, giữa những hợp âm được nối kết bởi Hoàng Quốc Bảo, vẫn mang tới cho người nghe, cảm nhận muốn vươn, thoát khỏi những trói buộc hạn hẹp của kiếp người. Tham vọng xóa bỏ sự phân biệt hình/tướng. Ðem nhị nguyên đúng/sai, thành/bại, phải/trái... về nhất thể.

Chân dung Hoàng Quốc Bảo. (Tranh: Họa Sĩ Võ Ðình) Bằng âm nhạc, tự những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, họ Hoàng đã thiết lập cho mình (hay cho người), những chiếc cầu tâm linh, bắc qua đôi bờ nhân gian và, lẽ đạo.
Dù không một chỉ dấu, chẳng một tận khai cố tình, bằng cõi tâm tĩnh, lặng, Hoàng Quốc Bảo, với cõi nhạc của mình, đã mặc nhiên mang đến người nghe, những hồi chuông lai tỉnh. Những thời kinh, những câu kệ nhắc gọi chúng sinh, hồi hướng bến giác.
Tính thiền hay lời gọi kêu chúng sinh rời bỏ bờ mê trong đời nhạc Hoàng Quốc Bảo, mỗi lúc, một thêm nồng nàn sở nguyện, bằng vào bản thân, qua những năm luân lạc, quê người, họ Hoàng càng thực chứng lẽ vô thường. Ðời hữu hạn.
Nơi cõi tạm, tôi nhớ cuối năm 1975, đầu năm 1976, Hoàng Quốc bảo, đưa thân mẫu từ tiểu bang Illinoise về quận hạt Orange County, ở miền Nam California.
Một buổi tối, nơi căn apartment ở thành phố Costa Mesa, trong căn phòng không đồ đạc, Hoàng Quốc Bảo ôm đàn, hát cho chúng tôi nghe một số nhạc cũ, mới của ông.
Trong số đó, có ca khúc nhan đề “Hồ Như”, với những câu như:
“Có lẽ ta về ai biết đâu - Trồng vàng hoa trên núi sương hào - có lẽ trăm rừng xanh trở lại - gọi đàn chim xa mãi về phương nào - có lẽ ta về như giấc mơ - làm dòng sông bôi xóa đôi bờ - có lẽ người hồi sinh trở lại - nhìn cuộc chơi quên bấy lâu nay.”
Khi nghe lần thứ hai câu “...làm dòng sông bôi xóa đôi bờ...” tôi rất muốn hỏi ông, “Hồ Như” là ca khúc được viết thời gian nào? Trước hay sau 30 tháng 4? Nhưng cuối cùng, tôi im lặng. Tôi im lặng vì trong một thoáng mơ hồ, người thanh niên ngồi bệt trên thảm, trước mặt tôi, người thanh niên lúc nào cũng như ngơ ngác, lạc lõng, dường không còn là Hoàng Quốc Bảo. Ông là một người khác. Với tôi, ông không “làm” (tôi nhấn mạnh) “dòng sông bôi xóa đôi bờ” mà ông chính “là” (tôi nhấn mạnh) dòng sông. Và, dòng sông ấy đã “bôi xóa đôi bờ.”

Thủ bút của Hoàng Quốc Bảo. Tôi không hỏi “đôi bờ” trong ca khúc “Hồ Như” của Hoàng Quốc bảo là đôi bờ nào. Tôi không hỏi bởi tôi nghĩ, nếu hỏi, chưa chắc giải thích của ông và cảm nhận riêng của tôi, đã gặp gỡ nhau. Với tôi, đó là “đôi bờ” của biến cố kinh hoàng, điếng tê mới xẩy ra. Còn tưa máu. “Ðôi bờ” với tôi là trong/ngoài một tổ quốc. “Ðôi bờ” với tôi là hai miền tử/sinh mà, con người bị phanh thây, đứng giữa...
Ðó cũng là thời gian chúng tôi cùng làm việc ở hãng Rockwell International, chi nhánh Newport Beach, trên đường Jamboree. Một năm sau, ông cho tôi biết, đã xin nghỉ việc để nhận công việc mới là thảo chương viên, cho công ty nước ngoài ở thành phố Los Angeles. Từ đó, chúng tôi ít có dịp gặp nhau.
Nhưng, tôi vẫn dõi theo bước đi của người “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ”! Như dõi theo những mơ ước bất toàn của chính mình.
Và, thời gian cho tôi hiểu, những thực chứng, những sở nguyện khởi tự khá nhiều nghịch cũng như thuận duyên, đã mang lại cho Hoàng Quốc Bảo (hay cho chúng ta) nhiều số tác phẩm mới. Những tác phẩm càng lúc càng cho thấy tính “bôi xóa đôi bờ” nơi ông.
Mười ca khúc phổ từ thi kệ, thiền thi của của các thiền sư như Nhất Hạnh, Huyền Không, Tịnh Từ, trong đĩa nhạc mang tên “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không,” Hoàng Quốc Bảo một lần nữa, thống thiết trải rộng tấm lòng yêu người, trái tim thương đời của mình, tới người nghe, như một lời cảm ơn những ơn phước (mà, ông đã nhận được từ cảnh đời. Cảnh đời, hiểu theo một nghĩa nào, là phản quang hay, ảo hóa của ngục A Tỳ.)
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một ký giả của đài Little Saigon Radio ở miền Nam California, từ nhiều năm trước, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo cho biết, kể từ đĩa nhạc mang tên “Tịnh Tâm Khúc” cách đây nhiều chục năm, thì “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” là đĩa nhạc thứ hai của ông. Phần lớn những ca khúc trong đĩa nhạc vừa kể, được họ Hoàng sáng tác đầu thập niên 80. Nhạc sĩ Hồ Ðăng Tín đã bỏ ra 5 năm, cho phần soạn hòa âm.
“Rồi nhiều thiện duyên đến, nhất là với tâm ý hân hoan và, thôi thúc trong việc kỷ niệm mùa Ðản Sinh đầu thiên niên kỷ, chúng tôi nguyện đem lòng thực hiện,” tác giả “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” tâm sự.
Khi được hỏi quan điểm riêng về những ca khúc và những băng nhạc Phật Giáo ra đời trong những năm tháng gần đây, Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo nói:
“Tôi là người Cư sĩ Phật tử, lại trong giới sáng tác âm nhạc, thấy việc làm nào cũng có mặt tốt của nó. Nhạc mình như một đóa hoa nhỏ, trong vườn hoa nghệ thuật đầy mầu sắc. Có người thưởng ngoạn chỉ vì màu sắc sặc sỡ, lại có kẻ trang trọng với dị thảo, kỳ hương. Trong công tác nghệ thuật, tôi chỉ nguyện chính mình trân trọng hết sức với nghệ phẩm của mình. Không để bị chi phối vì bất cứ mục đích gì khi sáng tác, quyền lợi hay danh vị. Nhất là khi thực hiện, lấy nghệ thuật làm mục đích chính. Thứ đến mới nhượng bộ những điều kiện khác. Ðã làm hết sức mình rồi, kết quả ra sao, lúc ấy mới hoan hỉ chấp nhận...”
Câu trả lời của họ Hoàng, cho thấy quan điểm cũng như cung cách ứng xử của ông, không chỉ với nghệ thuật, mà còn với cả cuộc sống hàng ngày nữa.
Vẫn theo lời giới thiệu của ký giả phỏng vấn nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, thì họ Hoàng chính thức sáng tác ca khúc kể từ năm 1969, thời còn ở Việt Nam.
Ông từng là người chủ trương những chương trình âm nhạc cho các đài phát thanh ở Thủ đô Saigòn, trước tháng 4, 1975, như đài Tiếng Nói Tự Do, đài Phát Thanh Saigon, đài Tiếng Nói Quân Ðội, nhưng ông không hề lợi dụng vị trí của mình, để phổ cập tên tuổi ông.
Ðề cặp tới đĩa nhạc “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” của Hoàng Quốc Bảo, một nhà báo khác, trong một bài viết trên nhật báo Việt Báo, cho biết nhan đề ấy, vốn là một câu thơ của Không Lộ Thiền Sư đời nhà Lý. Ðó là câu: “Có khi lên thẳng non hề/hú dài một tiếng lạnh về hư không.”
Cũng trên nhật báo Việt Báo, số cuối năm 2005 loan tin nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo... xuất gia. Xuống tóc. Ði tu. Tôi chia sẻ với người viết bản tin, khi nhấn mạnh rằng, sự việc vừa kể, không làm nhiều người ngạc nhiên. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn ghi lại bản tin này, như một ghi chú quan trọng ở những năm cuối đời của họ Hoàng. Với cá nhân tôi, nó cũng là một hình thức “bôi xóa đôi bờ” mà thôi. Nguyên văn bản tin đó, như sau:
“Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã rời bỏ California để về xuất gia ở một Thiền Viện tại Việt Nam trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Ðược biết, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã tham dự lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 27 tháng 11, 2005 và rồi vài ngày sau đã trở về Thiền Viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt và xuống tóc xuất gia với Thiền Sư Thích Thanh Từ trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Việc nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo xuống tóc đi tu không làm bao nhiêu người bất ngờ, vì nhạc sĩ đã nói ý nguyện này từ lâu, từ những ngày làm việc trong ngành Tin Học ở Sở Cấp Nước Los Angeles. “Mới vài năm trước, trong chuyến Hòa Thượng Thanh Từ lần cuối viếng thăm California, nhạc sĩ đã có tên trong danh sách xuống tóc đi tu trong buổi lễ ở Thiền Viện Ðại Ðăng, Nam Calif., nhưng khi xướng tên trên danh sách, tới khi đọc tên Hoàng Quốc Bảo, thì nhạc sĩ không có mặt - trước đó, nhạc sĩ đã lẳng lặng bước ra ngoài và chờ dịp khác.” Và lần này là một cơ duyên lớn. Nhân dịp lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, một thiền viện tuy là mới tân trang cho Trúc Lâm Thiền Phái của HT Thanh Từ, nhưng theo sử thì chính nơi đây là dấu tích Phật Giáo xưa cổ nhất, chính nơi đây là chỗ các nhà sư do Vua Asoka của Ấn Ðộ cổ thời đặt chân vào Việt Nam làm trú xứ. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên còn là một thắng cảnh lớn với núi rừng nguyên sơ, cao 300 mét trên mặt biển...

Hoàng Quốc Bảo sau khi ngày thế phát xuất gia, ảnh chụp 2007
“Sau khi dự lễ, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã về Trúc Lâm Thiền Viện ở Ðà Lạt, và xuất gia với HT Thanh Từ, vị Thiền Sư nổi tiếng nhất tại quê nhà và đang hoằng pháp Thiền Tông Trúc Lâm tại cả trong và ngoài nước.
“California tuy mất đi một nghệ sĩ tài hoa, nhưng Thiền Tông VN ở quê nhà lại đang có thêm một người gánh vác mới...”
Cách đây không lâu, nhân tang lễ một người thân trong gia tộc, tại một nhà quàn quận hạt Orange County, một số thân hữu đã được gặp lại tu sĩ Hoàng Quốc Bảo.
Ông không hát nữa. Dĩ nhiên. Có thể ông cũng không nữa “hồ như”...
Riêng tôi, gặp lại ông, tôi lại tự hỏi:
- Phải chăng, ông đã “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ” tự một xa xưa, tiền kiếp nào.
Du Tử Lê
(Tháng 3, 2010)
Một phần hồn của Sài Gòn lại ra đi…
Tiệm cafe Givral- một "nhân chứng" sống đã qua đời
Mới sáng nay nghe bà vợ nói: "Anh ơi, họ đập quán café Givral rồi!". Tôi bàng hoàng. Vậy là một phần hồn của thành phố lại ra đi. Như nhiều người dân Sài Gòn cũ, tôi cũng đã từng đến đây với bạn bè, gia đình, người thân để nhìn đường phố thân yêu. Nhiều người dân lấy vội chiếc điện thoại di động để chụp những bức ảnh cuối cùng trước khi tiệm Givral đi vào dĩ vãng.
Cảm giác ấy cũng tiếc nuối như nhìn cột đồng hồ Orient trên đường Nguyễn Huệ, bao nhiêu năm là trung tâm để chụp hình cho đường hoa của thành phố, nay thay vào đó là con mắt thao láo mang nhãn hiệu ngân hàng ANZ. Nhiều người dân đã viết bài phản đối, đòi xây lại cột đồng hồ Orient như cũ. Thế nhưng mong ước đó biết bao giờ mới được thực hiện...

Tiệm cafe Givral góc đường Tự Do - Nguyễn Thiệp trước khi bị tháo dỡ. Biết được tin này qua 1 bài viết trên TuầnVietnam.Net bỗng thoáng chút xót xa. Tiệm kem Pôle Nord góc thương xá Tax, cột đồng hồ Orient trên đường Nguyễn Huệ đã đi vào dĩ vãng nay thì đến lượt Cafe Givral, hiệu sách Xuân Thu cũng nối gót. Ôi Sài Gòn Hòn ngọc Viễn đông đã lùi sâu vào quá khứ

Quán Givral, nhà sách Xuân Thu... các công trình nổi tiếng của cư xá Eden, là văn hoá của người Sài Gòn.
Mới sáng nay nghe bà vợ nói: "Anh ơi, họ đập quán café Givral rồi!". Tôi bàng hoàng. Vậy là một phần hồn của thành phố lại ra đi. Như nhiều người dân Sài Gòn cũ, tôi cũng đã từng đến đây với bạn bè, gia đình, người thân để nhìn đường phố thân yêu. Nhiều người dân lấy vội chiếc điện thoại di động để chụp những bức ảnh cuối cùng trước khi tiệm Givral đi vào dĩ vãng.
Cảm giác ấy cũng tiếc nuối như nhìn cột đồng hồ Orient trên đường Nguyễn Huệ, bao nhiêu năm là trung tâm để chụp hình cho đường hoa của thành phố, nay thay vào đó là con mắt thao láo mang nhãn hiệu ngân hàng ANZ. Nhiều người dân đã viết bài phản đối, đòi xây lại cột đồng hồ Orient như cũ. Thế nhưng mong ước đó biết bao giờ mới được thực hiện...

Tiệm cafe Givral góc đường Tự Do - Nguyễn Thiệp trước khi bị tháo dỡ. Biết được tin này qua 1 bài viết trên TuầnVietnam.Net bỗng thoáng chút xót xa. Tiệm kem Pôle Nord góc thương xá Tax, cột đồng hồ Orient trên đường Nguyễn Huệ đã đi vào dĩ vãng nay thì đến lượt Cafe Givral, hiệu sách Xuân Thu cũng nối gót. Ôi Sài Gòn Hòn ngọc Viễn đông đã lùi sâu vào quá khứ

Quán Givral, nhà sách Xuân Thu... các công trình nổi tiếng của cư xá Eden, là văn hoá của người Sài Gòn.

Hình ảnh Việt Nam thời xa xưa.
Rất nhiều hình ảnh Việt Nam thời xa xưa , đến mấy trăm hình giữ để xem lại cho biết về quê hương ta.
http://www.flickr.com/photos/13476480@N ... 4514239546
Em-xi tiệc cưới ơi ! Nhờ quý vị tí !
Chu Tất Tiến
Từ xưa, cái lễ nghĩa cuả nguời Việt Nam ta, rất đuợc coi trọng, nhất là trong đám cuới (hôn lễ) hay nghi lễ tiễn đưa nguời chết đến chỗ an nghỉ (tang lễ). Từng lời nói, từng việc làm đều đuợc tính toán kỹ lưỡng. Nguời nào trách nhiệm xướng ngôn, đọc diễn từ hay giới thiệu quan khách, giới thiệu chương trình... đều phải cẩn trọng, tìm chữ cho xứng đáng. Lạng quạng nói thứ tự sau thành truớc, nói trên thành duới là bị bà con chê cuời mệt... không nghỉ. Vậy mà thiên hạ vẫn cứ tỉnh bơ làm hư chuyện, nhất là các ông các bà Điều Khiển Chương Trình tiệc cưới, mà người ta hay tự mệnh danh là EM-XI, (MC) viết tắt của chữ Mát-tờ óp Xêrêmôni.
Ai cũng biết nhân vật Em-Xi trong tiệc cuới là nguời làm cho đám cuới thành tựu tốt đẹp. Người Em-xi này có thể là chú bác cuả cô dâu, chú rể, hay chỉ là nguời bạn cuả gia đình. Mở đầu bằng lúc đón dâu ở nhà, giới thiệu họ hàng hai bên, giới thiệu cô dâu cho chú rể, rồi phù dâu phù rể, rồi thắp nến, thắp nhang, khấn vái, trao quà... nguời MC đứng mũi chịu xào hết trơn. Bố mẹ hai bên chỉ đứng “nhìn” hay “phát ngôn” thì tuỳ theo nguời MC muốn sắp đặt sao cho hợp lý thì thôi. Giai đoạn này thì chỉ gồm những nguời thân nhất cuả hai bên, nên nghi lễ cũng nhanh, và có sơ hở chút chút cũng đuợc thông qua. Nhưng đến khi ăn tiệc cuới, tiệc tân hôn, thì lại có rất nhiều điều phải cẩn trọng vì có ít nhất là trên trăm cặp mắt ngồi duới nhìn lên, có nguời thân, có nguời không thân, có bạn mới quen, hay có vài nguời đồng sự Mỹ trắng, Mễ trắng, Mỹ ngăm ngăm... “Quan trên trông xuống, người ta trông vào”, nếu MC mà “lý lắc, làm lấy le, làm lếu láo” thì ô hô, ai tai! Con nguời ta lớn lên chỉ có một đám cuới là quan trọng nhất, kỷ niệm lâu bền nhất, hãnh diện nhất, sung sướng nhất, hồi hộp nhất, mệt mỏi nhất, gặp nhiều nguời quen nhất, mừng vui nhất, trang phục đẹp nhất, và... thua lỗ một cách êm ái nhất, vậy mà ông hay bà MC nổi hứng lên làm tầm bậy, hỏng luôn đám cuới nguời ta thì thật đáng đánh đòn!
Truớc hết là vấn đề ăn mặc của các cô Em-xi. Các ông thì khỏi cần nói vì ai cũng chỉ có mỗi bộ vét, còn các cô thì thay đổi “tếch ních cô lo”. Dĩ nhiên mặc đẹp thì đám cuới huy hoàng hơn, nhưng mặc dở thì làm cho cô dâu, chú rể mất mặt. Bởi có những cô Em-xi “cây nhà lá vườn”, ít có dịp xuất hiện le lói truớc công chúng nên khi gặp cơ hội là cô biểu diễn đủ kiểu quần áo. Kiểu thứ nhất: “Như cánh vạc bay” : “Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi”. Vì muốn phô cặp vai “cánh vạc”, nên cô để hở nguyên cái lưng, tuốt tuột từ trên xuống dưới, không thấy gì hết ngoài hai cục xương sau vai nhô lên. Đôi khi gầy quá, nên “cánh vạc” của cô trông giống “cánh gà rô ti”, chưa kể những lấm tấm mụn đo đỏ chạy dài trên lưng, làm khách nhai món “gà chiên bơ” cứ thấy như có cái gì vướng vướng trong miệng! Kiểu thứ hai: “Thiên Thai, chúng em xin dâng cho các chàng trái đào tiên...”: cô có mặc áo đầy đủ nhưng lại mỏng te, có chi thì cô bầy ra hết khiến cho các chàng, các ông, các cụ cứ xì xào, suỵt suỵt, đút cả miếng tôm càng vào mũi mà không hay và làm cho các cô, các bà, các mợ cứ phải dấu tay duới gầm bàn để ngắt véo mấy ông chồng liên tục, dù ổng đã suýt soát bẩy mươi rồi. Kiểu thứ ba: “Áo em sứt chỉ đường tà”: Sứt tí chỉ thì đâu có sao, nhưng mà sứt chỉ đường tà giữa áo thì khác, áo của cô biến thành áo hai mảnh, mà hai mảnh lại cách xa nhau gần hai gang tay nên khán thính giả cứ nín thở, thắc mắc không biết em có xoa dầu cù là vào.. rốn không mà bóng quá! Một cô Em-xi khác lại mặc kiểu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”, người Việt mà mặc áo xường xám, xẻ hai bên lên tuốt tới chỗ không lên được nữa thì ngừng, nên mỗi khi cô nhún nhẩy đi qua đi lại thì thính giả lại hít hà “lạy trời, gió nữa lên, lạy trời, gió mạnh nữa lên...”
Sau nữa là màn nói. Có những MC nói như cái máy, nói không kịp thở, nói nhiều chưa đã, lại pha trò diễu dở, ngâm thơ hay tự giới thiệu mình hát nữa. Hát chuyên nghiệp như những nguời vừa là MC ban nhạc vừa chơi luôn tiệc cuới thì không nói chi, nhưng MC “cây nhà lá vuờn” hát dở ẹt mà lợi dụng cơ hội biến đám cuới thành chỗ tập hát truớc đám đông, bắt mọi nguời tham dự phải giuơng tai lên mà nghe âm điệu rèn rẹt cuả mình, nghe những câu hát trật nhịp, vừa hát vừa đọc bài nhạc trên giá, thì khổ cho cô dâu chú rể lắm! Nói chung thì quan khách rất ớn cái màn “Kính thưa quý vị, để tiếp tục chuơng trình, tôi xin đuợc giới thiệu.. tôi hát một bài để tặng cô dâu, chú rể..” rồi trịnh trọng mở bài nhạc ra, nhìn vào máy Karaôkê, chân giật giật bắt vô nhịp y như bị Páckinsôn... Nhất là khi trong đám cuới nguời ta đang vui vẻ, mà vì ông hay bà có mỗi cái bài tủ hát Karaôkê ở nhà với cái tựa không lấy gì làm “dzui” lắm, ông bà mang ra xài luôn, chẳng khác nào trù ẻo cho cuộc hôn nhân mà họ đang làm MC đó. Nào là “Anh đưa em sang sông, bằng xe tang hay con thuyền...”, nào là “đời một nguời con gái, uớc mơ đã nhiều, trời không cho đuợc mấy, đến khi lấy chồng, chỉ còn “cái bầu” mang theo!” Một ông MC hát bài “Lệ đá” rất khoái chí đến nỗi xuýt rơi nước mắt. Một cô MC chưa đi lính bao giờ lại lên oang oang ca bài “đi quân dịch là thương nòi giống!”
Cách đây không lâu, một ông không phải MC chính, chỉ là MC phụ, nghiã là đuợc mời lên ngâm thơ truớc khi hôn lễ bắt đầu, đã lợi dụng sự nghiêm trang theo dõi cuả quan khách mà chơi luôn một hơi bốn bài thơ! Bài thứ nhất tặng cho toàn gia, bài thứ hai cho quan khách, bài thứ ba cho cô dâu, bài thứ tư cho chú rể. Bà con hãi hùng qúa, nghe tới bài thứ hai đã sợ, ông lại bình tĩnh gíơi thiệu bài thứ ba, rồi bài cuối cùng. Mỗi một bài là có một đoạn diễn văn ngắn, giải thích ý nghiã bài thơ và lý do làm bài thơ, ngại khán thính giả không hiểu nổi văn chuơng ông! Hình như bốn bài vàng ngọc cuả ông mất gần hai muơi phút! Mấy thính giả bất đắc dĩ rầu rĩ hết nhìn đồng hồ đeo tay cuả mình lại nhìn đồng hồ nguời khác, làm như không tin nổi cái đồng hồ mình chạy bậy. Khi ông vừa ngâm dứt câu, là bà con sợ quá, chắp tay vái lia lại: “Lạy giời, xin cấm ông đừng tặng tôi thơ nữa...”
Một ông MC khác thì biến bài “Mộng duới hoa” thành “Hoạ dưới mông” vì ông sửa lời lung tung. Cuối bài, để chấm dứt, ông dịch luôn một câu thành tiếng Mẽo: “Ai lô vờ du!” May là tác giả đã không còn hiện diện để nghe ông hát loạn bài hát của mình mà không xin phép! Chắc đứt cả ruột!
Ngoài việc tự hát, tự ngâm thơ, nhiều ông bà EmXi còn trổ tài đóng kịch, hay làm xiếc chọc cuời bà con chơi. Bắt cô dâu chú rể hôn nhau rồi bắt gõ đũa thì cũng tạm tha tào, tuy chẳng hay ho gì, nhưng còn mấy trò nham nhở thì ôi thôi ai tai! Trong một đám cưới ở San Jose, ông Em-xi bắt chú rể đứng lên một chiếc ghế cao trên sân khấu, rồi ông bỏ một quả “trứng chim cu”, theo lời ông dẫn giải, vào trong ống quần chú rể. Đoạn ông bắt cô dâu lấy tay đẩy quả trứng lên cao rồi hỏi xem có mấy “trứng” ở “ngã ba” ấy? Chưa hết, ông hỏi xem khi “trứng chim cu đã nở ra rồi, có vòi không?” Khi chú rể khui ruợu, ông còn làm thêm một cú nữa bằng câu nói oang oang: “thử xem công lực cuả chú rể có xịt ra mạnh không?” Trời đất thiên địa ơi! Đám cuới nguời ta là một thể hiện phong tục, tập quán cuả dân tộc, mà ông lại đem ra làm trò diễu dở, phàm phu tục tử như vậy, thì có đáng trách không? Các bà thì cúi mặt xuống, các ông thì quay đi. Ai cũng xấu hổ lây cho cô dâu chú rể vừa phải thi hành mà mặt mày tái ngắt. Cả phòng tiệc đều thở dài... dài...
Nghĩ ra thật tức cuời, không biết tại sao và từ đâu có mục Em-xi đưa cô dâu chú rể ra làm trò cuời cho thiên hạ? Một cô Em-xi tuyên bố tỉnh bơ: “Không dễ mấy khi, chúng ta đuợc dịp hành hạ cô dâu, chú rể, nên hôm nay, chúng tôi đã nghĩ ra đuợc mấy trò này, mong làm cho quý vị cuời chơi!” Tại sao lại phải hành hạ cô dâu, chú rể? Để làm chi dzậy hả, cô? Có thể là vì cô không gặp may mắn trong tình truờng nên trả thù nguời ta cho hả cơn buồn? Những nguời đưa nhau ra trình diện truớc hai họ, chỉ hồi hộp mong chờ giây phút nghi lễ ra mắt mọi nguời, mời mọi nguời chứng kiến, xong rồi thì nhậu cho dzui dzui, kỷ niệm, chứ có ai mong lên làm trò xiếc đâu mà bắt cô dâu đi tìm chiếc đuã trong quần chú rể, bắt chú rể mò quả cam trong ngực cô dâu, bắt hai nguời cọ chung quả cam đặt trên ngực, rồi uống nuớc... Sao không bắt chước Mẽo (không phải Mỹ) cho cô dâu không mặc áo, ở trần luôn, chú rể chỉ mặc cái quần boxer, khoác áo vét... để họ vỗ tay hố hố há há với nhau? Nguời Việt ta, có phong tục đàng hoàng, cũng như những nguời Mỹ đứng đắn, đều làm lễ cuới một cách trang nghiêm, không mấy ai thích mấy trò xiếc dỏm ấy và mấy câu tuyên bố nhảm nhí kia đâu.
Con nguời ta, sau giai đoạn đuợc sinh ra, có hai giai đoạn đuợc mọi nguời chăm lo đến nhất, đó là lúc làm chú rể, hay cô dâu và lúc “ra đi không mang vali”. Tất cả mọi niềm thương mến, mọi xôn xao, bình phẩm, hay tâng bốc... đều phủ lên con nguời “chú rể” hay “cô dâu”, hay “nguời nằm xuống” kia. Vì thế, những ai có trách nhiệm lo toan cho những con nguời đặc biệt ấy nên lưu ý, đã không nhận lời thì thôi, mà nếu nhận trách nhiệm, xin làm cho đứng đắn, đừng mượn chỗ mà “làm lấy le, lý lắc, làm lếu láo” như thế chả hay ho gì, chả đuợc ai khen ngợi gì, mà chỉ hổ ngươi cái miệng “ăn mắm, húp giòi” nói tầm bậy tầm bạ, làm hỏng một cơ hội gặp gỡ tốt đẹp, một kỷ niệm huy hoàng, một dịp thể hiện phong tục tốt đẹp cuả dân tộc mà thôi.
Chu Tất Tiến
Chu Tất Tiến
Từ xưa, cái lễ nghĩa cuả nguời Việt Nam ta, rất đuợc coi trọng, nhất là trong đám cuới (hôn lễ) hay nghi lễ tiễn đưa nguời chết đến chỗ an nghỉ (tang lễ). Từng lời nói, từng việc làm đều đuợc tính toán kỹ lưỡng. Nguời nào trách nhiệm xướng ngôn, đọc diễn từ hay giới thiệu quan khách, giới thiệu chương trình... đều phải cẩn trọng, tìm chữ cho xứng đáng. Lạng quạng nói thứ tự sau thành truớc, nói trên thành duới là bị bà con chê cuời mệt... không nghỉ. Vậy mà thiên hạ vẫn cứ tỉnh bơ làm hư chuyện, nhất là các ông các bà Điều Khiển Chương Trình tiệc cưới, mà người ta hay tự mệnh danh là EM-XI, (MC) viết tắt của chữ Mát-tờ óp Xêrêmôni.
Ai cũng biết nhân vật Em-Xi trong tiệc cuới là nguời làm cho đám cuới thành tựu tốt đẹp. Người Em-xi này có thể là chú bác cuả cô dâu, chú rể, hay chỉ là nguời bạn cuả gia đình. Mở đầu bằng lúc đón dâu ở nhà, giới thiệu họ hàng hai bên, giới thiệu cô dâu cho chú rể, rồi phù dâu phù rể, rồi thắp nến, thắp nhang, khấn vái, trao quà... nguời MC đứng mũi chịu xào hết trơn. Bố mẹ hai bên chỉ đứng “nhìn” hay “phát ngôn” thì tuỳ theo nguời MC muốn sắp đặt sao cho hợp lý thì thôi. Giai đoạn này thì chỉ gồm những nguời thân nhất cuả hai bên, nên nghi lễ cũng nhanh, và có sơ hở chút chút cũng đuợc thông qua. Nhưng đến khi ăn tiệc cuới, tiệc tân hôn, thì lại có rất nhiều điều phải cẩn trọng vì có ít nhất là trên trăm cặp mắt ngồi duới nhìn lên, có nguời thân, có nguời không thân, có bạn mới quen, hay có vài nguời đồng sự Mỹ trắng, Mễ trắng, Mỹ ngăm ngăm... “Quan trên trông xuống, người ta trông vào”, nếu MC mà “lý lắc, làm lấy le, làm lếu láo” thì ô hô, ai tai! Con nguời ta lớn lên chỉ có một đám cuới là quan trọng nhất, kỷ niệm lâu bền nhất, hãnh diện nhất, sung sướng nhất, hồi hộp nhất, mệt mỏi nhất, gặp nhiều nguời quen nhất, mừng vui nhất, trang phục đẹp nhất, và... thua lỗ một cách êm ái nhất, vậy mà ông hay bà MC nổi hứng lên làm tầm bậy, hỏng luôn đám cuới nguời ta thì thật đáng đánh đòn!
Truớc hết là vấn đề ăn mặc của các cô Em-xi. Các ông thì khỏi cần nói vì ai cũng chỉ có mỗi bộ vét, còn các cô thì thay đổi “tếch ních cô lo”. Dĩ nhiên mặc đẹp thì đám cuới huy hoàng hơn, nhưng mặc dở thì làm cho cô dâu, chú rể mất mặt. Bởi có những cô Em-xi “cây nhà lá vườn”, ít có dịp xuất hiện le lói truớc công chúng nên khi gặp cơ hội là cô biểu diễn đủ kiểu quần áo. Kiểu thứ nhất: “Như cánh vạc bay” : “Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi”. Vì muốn phô cặp vai “cánh vạc”, nên cô để hở nguyên cái lưng, tuốt tuột từ trên xuống dưới, không thấy gì hết ngoài hai cục xương sau vai nhô lên. Đôi khi gầy quá, nên “cánh vạc” của cô trông giống “cánh gà rô ti”, chưa kể những lấm tấm mụn đo đỏ chạy dài trên lưng, làm khách nhai món “gà chiên bơ” cứ thấy như có cái gì vướng vướng trong miệng! Kiểu thứ hai: “Thiên Thai, chúng em xin dâng cho các chàng trái đào tiên...”: cô có mặc áo đầy đủ nhưng lại mỏng te, có chi thì cô bầy ra hết khiến cho các chàng, các ông, các cụ cứ xì xào, suỵt suỵt, đút cả miếng tôm càng vào mũi mà không hay và làm cho các cô, các bà, các mợ cứ phải dấu tay duới gầm bàn để ngắt véo mấy ông chồng liên tục, dù ổng đã suýt soát bẩy mươi rồi. Kiểu thứ ba: “Áo em sứt chỉ đường tà”: Sứt tí chỉ thì đâu có sao, nhưng mà sứt chỉ đường tà giữa áo thì khác, áo của cô biến thành áo hai mảnh, mà hai mảnh lại cách xa nhau gần hai gang tay nên khán thính giả cứ nín thở, thắc mắc không biết em có xoa dầu cù là vào.. rốn không mà bóng quá! Một cô Em-xi khác lại mặc kiểu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”, người Việt mà mặc áo xường xám, xẻ hai bên lên tuốt tới chỗ không lên được nữa thì ngừng, nên mỗi khi cô nhún nhẩy đi qua đi lại thì thính giả lại hít hà “lạy trời, gió nữa lên, lạy trời, gió mạnh nữa lên...”
Sau nữa là màn nói. Có những MC nói như cái máy, nói không kịp thở, nói nhiều chưa đã, lại pha trò diễu dở, ngâm thơ hay tự giới thiệu mình hát nữa. Hát chuyên nghiệp như những nguời vừa là MC ban nhạc vừa chơi luôn tiệc cuới thì không nói chi, nhưng MC “cây nhà lá vuờn” hát dở ẹt mà lợi dụng cơ hội biến đám cuới thành chỗ tập hát truớc đám đông, bắt mọi nguời tham dự phải giuơng tai lên mà nghe âm điệu rèn rẹt cuả mình, nghe những câu hát trật nhịp, vừa hát vừa đọc bài nhạc trên giá, thì khổ cho cô dâu chú rể lắm! Nói chung thì quan khách rất ớn cái màn “Kính thưa quý vị, để tiếp tục chuơng trình, tôi xin đuợc giới thiệu.. tôi hát một bài để tặng cô dâu, chú rể..” rồi trịnh trọng mở bài nhạc ra, nhìn vào máy Karaôkê, chân giật giật bắt vô nhịp y như bị Páckinsôn... Nhất là khi trong đám cuới nguời ta đang vui vẻ, mà vì ông hay bà có mỗi cái bài tủ hát Karaôkê ở nhà với cái tựa không lấy gì làm “dzui” lắm, ông bà mang ra xài luôn, chẳng khác nào trù ẻo cho cuộc hôn nhân mà họ đang làm MC đó. Nào là “Anh đưa em sang sông, bằng xe tang hay con thuyền...”, nào là “đời một nguời con gái, uớc mơ đã nhiều, trời không cho đuợc mấy, đến khi lấy chồng, chỉ còn “cái bầu” mang theo!” Một ông MC hát bài “Lệ đá” rất khoái chí đến nỗi xuýt rơi nước mắt. Một cô MC chưa đi lính bao giờ lại lên oang oang ca bài “đi quân dịch là thương nòi giống!”
Cách đây không lâu, một ông không phải MC chính, chỉ là MC phụ, nghiã là đuợc mời lên ngâm thơ truớc khi hôn lễ bắt đầu, đã lợi dụng sự nghiêm trang theo dõi cuả quan khách mà chơi luôn một hơi bốn bài thơ! Bài thứ nhất tặng cho toàn gia, bài thứ hai cho quan khách, bài thứ ba cho cô dâu, bài thứ tư cho chú rể. Bà con hãi hùng qúa, nghe tới bài thứ hai đã sợ, ông lại bình tĩnh gíơi thiệu bài thứ ba, rồi bài cuối cùng. Mỗi một bài là có một đoạn diễn văn ngắn, giải thích ý nghiã bài thơ và lý do làm bài thơ, ngại khán thính giả không hiểu nổi văn chuơng ông! Hình như bốn bài vàng ngọc cuả ông mất gần hai muơi phút! Mấy thính giả bất đắc dĩ rầu rĩ hết nhìn đồng hồ đeo tay cuả mình lại nhìn đồng hồ nguời khác, làm như không tin nổi cái đồng hồ mình chạy bậy. Khi ông vừa ngâm dứt câu, là bà con sợ quá, chắp tay vái lia lại: “Lạy giời, xin cấm ông đừng tặng tôi thơ nữa...”
Một ông MC khác thì biến bài “Mộng duới hoa” thành “Hoạ dưới mông” vì ông sửa lời lung tung. Cuối bài, để chấm dứt, ông dịch luôn một câu thành tiếng Mẽo: “Ai lô vờ du!” May là tác giả đã không còn hiện diện để nghe ông hát loạn bài hát của mình mà không xin phép! Chắc đứt cả ruột!
Ngoài việc tự hát, tự ngâm thơ, nhiều ông bà EmXi còn trổ tài đóng kịch, hay làm xiếc chọc cuời bà con chơi. Bắt cô dâu chú rể hôn nhau rồi bắt gõ đũa thì cũng tạm tha tào, tuy chẳng hay ho gì, nhưng còn mấy trò nham nhở thì ôi thôi ai tai! Trong một đám cưới ở San Jose, ông Em-xi bắt chú rể đứng lên một chiếc ghế cao trên sân khấu, rồi ông bỏ một quả “trứng chim cu”, theo lời ông dẫn giải, vào trong ống quần chú rể. Đoạn ông bắt cô dâu lấy tay đẩy quả trứng lên cao rồi hỏi xem có mấy “trứng” ở “ngã ba” ấy? Chưa hết, ông hỏi xem khi “trứng chim cu đã nở ra rồi, có vòi không?” Khi chú rể khui ruợu, ông còn làm thêm một cú nữa bằng câu nói oang oang: “thử xem công lực cuả chú rể có xịt ra mạnh không?” Trời đất thiên địa ơi! Đám cuới nguời ta là một thể hiện phong tục, tập quán cuả dân tộc, mà ông lại đem ra làm trò diễu dở, phàm phu tục tử như vậy, thì có đáng trách không? Các bà thì cúi mặt xuống, các ông thì quay đi. Ai cũng xấu hổ lây cho cô dâu chú rể vừa phải thi hành mà mặt mày tái ngắt. Cả phòng tiệc đều thở dài... dài...
Nghĩ ra thật tức cuời, không biết tại sao và từ đâu có mục Em-xi đưa cô dâu chú rể ra làm trò cuời cho thiên hạ? Một cô Em-xi tuyên bố tỉnh bơ: “Không dễ mấy khi, chúng ta đuợc dịp hành hạ cô dâu, chú rể, nên hôm nay, chúng tôi đã nghĩ ra đuợc mấy trò này, mong làm cho quý vị cuời chơi!” Tại sao lại phải hành hạ cô dâu, chú rể? Để làm chi dzậy hả, cô? Có thể là vì cô không gặp may mắn trong tình truờng nên trả thù nguời ta cho hả cơn buồn? Những nguời đưa nhau ra trình diện truớc hai họ, chỉ hồi hộp mong chờ giây phút nghi lễ ra mắt mọi nguời, mời mọi nguời chứng kiến, xong rồi thì nhậu cho dzui dzui, kỷ niệm, chứ có ai mong lên làm trò xiếc đâu mà bắt cô dâu đi tìm chiếc đuã trong quần chú rể, bắt chú rể mò quả cam trong ngực cô dâu, bắt hai nguời cọ chung quả cam đặt trên ngực, rồi uống nuớc... Sao không bắt chước Mẽo (không phải Mỹ) cho cô dâu không mặc áo, ở trần luôn, chú rể chỉ mặc cái quần boxer, khoác áo vét... để họ vỗ tay hố hố há há với nhau? Nguời Việt ta, có phong tục đàng hoàng, cũng như những nguời Mỹ đứng đắn, đều làm lễ cuới một cách trang nghiêm, không mấy ai thích mấy trò xiếc dỏm ấy và mấy câu tuyên bố nhảm nhí kia đâu.
Con nguời ta, sau giai đoạn đuợc sinh ra, có hai giai đoạn đuợc mọi nguời chăm lo đến nhất, đó là lúc làm chú rể, hay cô dâu và lúc “ra đi không mang vali”. Tất cả mọi niềm thương mến, mọi xôn xao, bình phẩm, hay tâng bốc... đều phủ lên con nguời “chú rể” hay “cô dâu”, hay “nguời nằm xuống” kia. Vì thế, những ai có trách nhiệm lo toan cho những con nguời đặc biệt ấy nên lưu ý, đã không nhận lời thì thôi, mà nếu nhận trách nhiệm, xin làm cho đứng đắn, đừng mượn chỗ mà “làm lấy le, lý lắc, làm lếu láo” như thế chả hay ho gì, chả đuợc ai khen ngợi gì, mà chỉ hổ ngươi cái miệng “ăn mắm, húp giòi” nói tầm bậy tầm bạ, làm hỏng một cơ hội gặp gỡ tốt đẹp, một kỷ niệm huy hoàng, một dịp thể hiện phong tục tốt đẹp cuả dân tộc mà thôi.
Chu Tất Tiến
THIÊNG LIÊNG NHƯ NHỮNG LINH HỒN
(Nguyễn Kiến Việt) Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ quốc gia mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được.
Mẹ tôi nói: “Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng !”
Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của Việt cộng. Hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cãi tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, “chính sách kinh tế mới”,.. và nhiều nữa không kể hết. Ai nói Việt cộng ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy họ chỉ vô đạo đức và kém văn hóa, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật cao thâm ! Chính sách nào của Việt cộng cũng làm cho người dân miền Nam khốn đốn, dìm sâu con người đến tận bùn đen.
Đầu tiên là “chiến dịch đổi tiền”, họ phát cho mổi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mổi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai đươc. Họ tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của Nhà Nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là “chính sách hộ khẩu”, tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mổi người (mà họ gọi là “nhân khẩu”) được 13 kg lương thực mổi tháng.
Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, Việt cộng sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm, …
Như vậy là họ đã hình thành một cái chuồng gia súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói. Chính sách này còn cao thâm ở chổ mà miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc “các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà” như Việt cộng đã đĩ miệng, phỉnh phờ người dân trước đây.
Ba tôi rồi cũng đi tù “cãi tạo” như bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam khác, mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn trãi một mình để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi một đàn con dại như vậy không ? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho mẹ tôi và những phụ nữ như mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.
Từ một công chức cạo giấy mẹ tôi trở thành “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một “bà bán vé số, thuốc lá lẻ” đầu đường. Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có “chiến dịch làm sạch lòng, lề đường”, công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn. Thời bấy giờ, do chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của Việt cộng đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả !
Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một anh bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá. Hồi đó, bộ đội Việt cộng giấu, không mang quân hàm nên chẳng biết là cấp nào, chỉ đoán là anh nào trẻ, mặt mày ngố ngố là bộ đội thường, cấp nhỏ, anh nào người lùn tẹt, mặt mày thâm hiểm, quắt queo như mặt chuột thì có thể là công an hay chính trị viên,… Anh bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói: “Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn.” Anh bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng : “Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được !” À, thì ra những thằng oắt con Việt cộng này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng, giọng của kẻ nhân danh một chính quyền ! Lúc này tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà hắn đang mặc được may bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc. Khi hắn đã đi xa, mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe: “Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt…. Hắn mặc cái quần …, làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa !?, con hí ?”. Thì ra mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá cờ quốc gia và điều mà mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách !
Khi Việt cộng mới chiếm miền Nam, nhiều người vẫn tưởng Việt cộng cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hiểu ra rằng Việt cộng xem dân miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, họ tự cho họ là phe chiến thắng “vẻ vang” và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.
Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể: “Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo cờ quốc gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là cờ quốc gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi !” Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình.
Thời gian trôi mãi không ngừng … cuối cùng rồi ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù cộng sản, mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình !? “Mọi người sinh ra đều bình đẳng .. và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc …” câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.
Một ngày khoãng đầu năm 1990, công an phường đến đưa cho ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của Công An Thành Phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông “sĩ quan học tập” về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại ? Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tùy ý ?
Rồi ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, công an thành phố kêu ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi được Nhà Nước “nhân đạo” cho đi định cư ở Hoa Kỳ ! Thật không sao kể xiết nổi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới ! Những ngày sau đó lại cũng là mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”, … để làm thủ tục xuất cảnh.
Chỉ khoãng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nửa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm ! Tôi quay lại nhìn thấy ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, mẹ tôi mới nói: “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi !” Sau khoãng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, Hoa Kỳ.
Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam bay phất phới trên mái nhà, mẹ tôi nói: “Ui chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái cờ quốc gia của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí ?”. Rồi mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá cờ quốc gia bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ.
Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn). Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là “Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn” thì mẹ tôi lại viết về lá cờ quốc gia. Ý mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời đại này ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Việt cộng. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ cộng sản). Tôi cầm bài luận của mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: “interesting !”, “Narrative”, “I can‘t believe it !”, … và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì … lạc đề !
Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng của Việt cộng trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận, đồng bào đem cả ngàn lá cờ quốc gia, nền vàng ba sọc đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi: “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết !” Ý mẹ tôi nói là sau này khi không còn cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng cờ quốc gia chớ không phải chỉ chừng này đâu.
Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở mẹ tôi đi học ESL nữa nên mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, mẹ tôi nói: “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hòa bình rồi thì mẹ mới về !” Ý mẹ nói “hòa bình” nghĩa là khi không còn cộng sản nữa.
Rồi mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.
Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tùy thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước,.. trong một ngăn ví là lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra mẹ tôi vẫn giữ mãi lá cờ quốc gia bên mình, có lẽ lá cờ vàng hiền lành này đối với mẹ tôi cũng thiêng liêng như những linh hồn của người đã khuất.
(Nguyễn Kiến Việt) Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ quốc gia mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được.
Mẹ tôi nói: “Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng !”
Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của Việt cộng. Hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cãi tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, “chính sách kinh tế mới”,.. và nhiều nữa không kể hết. Ai nói Việt cộng ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy họ chỉ vô đạo đức và kém văn hóa, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật cao thâm ! Chính sách nào của Việt cộng cũng làm cho người dân miền Nam khốn đốn, dìm sâu con người đến tận bùn đen.
Đầu tiên là “chiến dịch đổi tiền”, họ phát cho mổi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mổi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai đươc. Họ tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của Nhà Nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là “chính sách hộ khẩu”, tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mổi người (mà họ gọi là “nhân khẩu”) được 13 kg lương thực mổi tháng.
Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, Việt cộng sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm, …
Như vậy là họ đã hình thành một cái chuồng gia súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói. Chính sách này còn cao thâm ở chổ mà miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc “các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà” như Việt cộng đã đĩ miệng, phỉnh phờ người dân trước đây.
Ba tôi rồi cũng đi tù “cãi tạo” như bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam khác, mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn trãi một mình để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi một đàn con dại như vậy không ? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho mẹ tôi và những phụ nữ như mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.
Từ một công chức cạo giấy mẹ tôi trở thành “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một “bà bán vé số, thuốc lá lẻ” đầu đường. Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có “chiến dịch làm sạch lòng, lề đường”, công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn. Thời bấy giờ, do chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của Việt cộng đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả !
Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một anh bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá. Hồi đó, bộ đội Việt cộng giấu, không mang quân hàm nên chẳng biết là cấp nào, chỉ đoán là anh nào trẻ, mặt mày ngố ngố là bộ đội thường, cấp nhỏ, anh nào người lùn tẹt, mặt mày thâm hiểm, quắt queo như mặt chuột thì có thể là công an hay chính trị viên,… Anh bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói: “Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn.” Anh bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng : “Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được !” À, thì ra những thằng oắt con Việt cộng này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng, giọng của kẻ nhân danh một chính quyền ! Lúc này tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà hắn đang mặc được may bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc. Khi hắn đã đi xa, mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe: “Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt…. Hắn mặc cái quần …, làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa !?, con hí ?”. Thì ra mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá cờ quốc gia và điều mà mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách !
Khi Việt cộng mới chiếm miền Nam, nhiều người vẫn tưởng Việt cộng cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hiểu ra rằng Việt cộng xem dân miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, họ tự cho họ là phe chiến thắng “vẻ vang” và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.
Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể: “Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo cờ quốc gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là cờ quốc gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi !” Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình.
Thời gian trôi mãi không ngừng … cuối cùng rồi ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù cộng sản, mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình !? “Mọi người sinh ra đều bình đẳng .. và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc …” câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.
Một ngày khoãng đầu năm 1990, công an phường đến đưa cho ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của Công An Thành Phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông “sĩ quan học tập” về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại ? Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tùy ý ?
Rồi ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, công an thành phố kêu ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi được Nhà Nước “nhân đạo” cho đi định cư ở Hoa Kỳ ! Thật không sao kể xiết nổi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới ! Những ngày sau đó lại cũng là mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”, … để làm thủ tục xuất cảnh.
Chỉ khoãng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nửa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm ! Tôi quay lại nhìn thấy ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, mẹ tôi mới nói: “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi !” Sau khoãng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, Hoa Kỳ.
Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam bay phất phới trên mái nhà, mẹ tôi nói: “Ui chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái cờ quốc gia của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí ?”. Rồi mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá cờ quốc gia bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ.
Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn). Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là “Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn” thì mẹ tôi lại viết về lá cờ quốc gia. Ý mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời đại này ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Việt cộng. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ cộng sản). Tôi cầm bài luận của mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: “interesting !”, “Narrative”, “I can‘t believe it !”, … và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì … lạc đề !
Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng của Việt cộng trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận, đồng bào đem cả ngàn lá cờ quốc gia, nền vàng ba sọc đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi: “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết !” Ý mẹ tôi nói là sau này khi không còn cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng cờ quốc gia chớ không phải chỉ chừng này đâu.
Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở mẹ tôi đi học ESL nữa nên mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, mẹ tôi nói: “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hòa bình rồi thì mẹ mới về !” Ý mẹ nói “hòa bình” nghĩa là khi không còn cộng sản nữa.
Rồi mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.
Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tùy thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước,.. trong một ngăn ví là lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra mẹ tôi vẫn giữ mãi lá cờ quốc gia bên mình, có lẽ lá cờ vàng hiền lành này đối với mẹ tôi cũng thiêng liêng như những linh hồn của người đã khuất.

