Bình Luận Thời Sự
Shana Alexander và Meg Greenfield
TX2 Nguyễn Văn Sơn
Mỗi năm vào tháng Tư oan trái của đất nước, tôi lại nhớ đến muôn triệu điều thương đau của đất nước chúng ta, của hàng triệu những con người còn kẹt lại ở quê nhà, của hàng triệu con người chạy trốn một chế độ phi nhân, tàn độc, để đi tìm Tự Do. Năm nay, năm 2010, đã 35 năm trôi qua, vết thương lại tiếp tục trở về rỉ máu, bưng mủ từ những trái tim của những người Việt lưu vong trên toàn cầu, một vết thương không bao giờ có thể lành lặn lại được, của những trái tim còn nặng lòng với đất nước, của những con người còn chút liêm sĩ.
Rời bỏ quê hương đất nước, mồ mả ông bà, ruộng vườn, nhà cửa, cha mẹ, vợ con,anh em, bạn bè... để chạy trốn một chế độ man rợ….cùng với những lời thóa mạ, chửi rủa của kẻ thù xâm lược phương bắc rượt đuổi, bám theo sau lưng, đứng đầu là những lời chửi bới của tên Thủ Tướng Cộng Sản Phạm văn Đồng, hắn cho rằng ….đây là toàn những kẻ bồi bếp, là bọn bán nước chạy theo bơ thừa sữa căn của đế quốc Mỹ !!.…
Trong muôn triệu điều thương đau đó, có cả những lời của những kẻ thóa mạ ở ngay trên những vùng đất cho người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dung thân – (dù bên cạnh đó vẫn có hàng triệu trái tim nhân ái khác của những con người không cùng màu da với chúng ta, như của Tổng Thống Gerald Ford, của Tổng Thống Jimmy Carter, của biết bao người trong các tổ chức nhân đạo khác …)
Mỗi năm, đến cái ngày đau thương, oan trái nầy, tôi lại nhớ đến….Shana Alexander, nhớ đến câu nói của “ nàng ” trong một bài viết trên tờ Newsweek, số tháng 5 năm 1975, mà mổi năm vào tháng 4 buôn thảm này , tôi thương vào thư viện tìm lại để đọc…
“ Nàng ” viết …. : “ Tôi không biết….rồi những người tỵ nạn Việt Nam được chính phủ mang vào lục địa nầy sẽ sống ra sao khi cả đời họ chưa nghe, chưa thấy, chưa biết Michelanlego là ai, cũng chưa bao giờ dung đến cái máy giặt..v.v…và ..v..v ” .
Và theo “ nàng ”, đám người di tản toàn là một bọn mọi rợ, bán khai, ngu dốt… “ Nàng ” tỏ ra ….lo lắng cho đám người nầy khi họ đến sống ở nước Mỹ. Nghe thật là buồn thảm cho thân phận con người đi tìm Tự Do và tìm đất dung thân, dù những lời nói đó chỉ xuất phát từ một thiểu số người.
Bài viết nầy sẽ không đi sâu vào “ tiểu sử ” của hai nàng, nếu không sẽ là vô tình ….quảng cáo không công cho các nàng… dù rằng những điều nầy ( tiểu sử của hai nàng) cũng không có gì gọi là sáng chói và ghê gớm cho lắm.
Shana Alexander, viết những lời nầy vào năm 1975, khi đó “ nàng ”….( mới )…50 tuổi, ở tuồi nầy đàn bà Mỹ đã trở thành… “ Bà già giết giặc ”, đâu còn cái “ mơn mởn ”, “ mặn mà ”, “ mũm mĩm ” như đàn bà Việt Nam cũng vào tuổi nầy. Gọi nàng là “ nàng ” là….lịch sự…. có thừa đó chứ ! Không gọi nàng như vậy….e nàng giận - Nàng là cư dân của New York, tốt nghiệp Vassar College năm 1945, khoa Anthropology ( Nhân chủng học ), một đại học tư tại Poughkeepsie, New York. Bước vào nghề báo chí thật tình cờ, khi nàng nhận một cái job part time làm việc vào mùa hè khi nàng còn đi học ở Vassar, tại tòa báo “ Nhật báo New York ” với chân thư ký để các xếp lớn, các đàn anh đàn chị ký giả khác…. sai vặt. Sau đó làm việc cho các tờ báo nhỏ như tờ New York PM , tờ Mademoiselle rồi đến các tạp chí … Life, Mc Call’s, Newsweek. Năm 1969, nàng là chủ bút của tờ McCall’s, đến năm 1975 nàng chuyển sang chuyên viết những mục bình luận cho tờ tuần báo Newsweek, đây là tờ báo mà từ trên xuống dưới, từ Publisher , Editor, Managing, Associate Managing Editor, đến các Columnist và các nhân viên trong Staff writer đều là những người Mỹ gốc Do Thái. Sau bài viết miệt thị đó, “ nàng ”….biến mất, không còn viết gì nữa, tính đến nay đã hơn ba thập niên trôi qua. Bài viết của một kẻ kiêu ngạo qúa mức, cái Bachelor bốn năm về Anthropology ở Vassar College thì có gì là ghê gớm lắm đâu, chỉ cần nửa [ (1/2) thế hệ những người mà nàng nói là : “ không biết Michelangelo là ai ” , những người mà nàng miệt thị là mọi rợ, không biết cái máy giặc là cái gì….
Nửa thế hệ ( 10 năm ) đã có biết bao người mang những cái họ Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Trương, Trịnh, Đinh, Dương,Cao,Bùi, Vũ, Võ….và rất nhiều những cái tên họ Việt Nam đã làm biết bao nhiêu kỳ tích trong học đường và xã hội, những con số nầy không phải là con số nhỏ và con số nầy càng ngày càng không đếm xuể, từ “ trên trời xuống dưới đất ”, từ những tổ chức chính quyền đến văn hóa, xã hội qua phạm vi văn học nghệ thuật- kể cả ngành truyền thông .Thử hỏi Shana, có biết người có 7 bằng PhD một lúc của đại học MIT là ai không, có biết người phi công trưởng của phi thuyền con thoi Columbia, trong chuyến đi đầu tiên của phi thuyền nầy là người như thế nào không, có biết người phụ nữ duyên dáng đứng đầu toán chuyên gia phát minh ra bom nhiệt áp, có first name là gì không, có biết người soạn thảo Patriot Act tên là gì không, có biết rằng sĩ số sinh viên xuất sắc tại các hệ thống đại học Ivy- League và các đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ xuất thân từ đâu hay không, và….Bây giờ, cái Bachelor như cái Bachelor của…. Shana ...- ( bây giờ đối với con cháu của những người mà Shana cho rằng….họ không biết Michelagelo …là ai, đối với đám con cháu nầy…cái Bachelor đó là…chuyện nhỏ…. như con…chim (?)…như …cánh bướm (?) của họ !!! ) – So sánh như thế chắc cũng …tội nghiệp cho nàng – thôi thì lấy chuyện viết văn ( phạm vi của nàng – vì nàng cũng có viết sách…. chứ bộ !!! )– như vậy sẽ công bình với nàng hơn - cuốn sách nàng viết, có tựa đề là “ Happy days : My Mother, My Father, My Sister & Me ” .
Nói là “ truyện ”, thực sự đây chỉ là cuốn “ tự họa chân dung ” của nàng – ( một loại autobiography tự đề cao tự "đánh bóng " )- làm sao so được với các nhà văn trẻ Việt Nam viết bằng Anh Ngữ như The Unwanted ,của Kiên Nguyễn, như “Salt ” của Monique Trương, và nhiều cây viết khác nữa . Nghề báo giống như nàng ?? , cũng không ít, những cái họ như Đỗ, Nguyễn, Lâm, Trần…cũng không thiếu.
Thôi bấy nhiêu …cũng đủ với nàng, bây giờ chúng ta tiếp tục… đến….một “ em ” khác : - Em….Meg Greenfield – tên đầy đũ của “ em ” là Mary Ellen Greenfield – nhưng “em ” thích người đời gọi em là “ Meg ”, nó là chữ viết tắt của hai chữ đầu của em ( Mary và Ellen ), sinh ra tại Seattle, tốt nghiệp thủ khoa tại Smith College khoa báo chí năm 1952. Smith College là một đại học tư dành riêng cho nữ giới tại Northampton, Masschusetts. Sau đó nhờ có học bổng Fullbright, em đi học tiếp tại Cambridge University. Ra trường, em làm việc cho tờ báo “ Post ”, giữ mục “ Giải đáp tâm tình cho đàn bà, con gái Mỹ ”, chính ở đây, em nổi được nổi tiếng là người đi tiên phong trong việc “ giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự đè ép (?) của đàn ông ”. Nhờ làm bạn và quen biết với Norman Podhoretz và với sự đề bạt của Norman- một người Mỹ gốc Do Thái - một lý thuyết gia của phái Tân Bảo thủ Mỹ - một người nổi tiếng xuất sắc trong làng báo Mỹ - Sau đó, “ em ” về làm chủ bút cho tờ Washington Post và kế đó là cây viết chủ lực của tờ Newsweek. Năm 1978, em được nhận giải thưởng Pulitzer về những bài viết của em . Nhìn lại từ đầù cuộc đời em đến khi “em” viết lên những giòng chữ này trên tờ Newsweek thì ….em cũng chẵng có gì gọi sáng gía và kiêu hãnh cho lắm, để mà nói lên những lời lếu láo với những người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đang tìm chốn dung thân. Tháng 04 năm 1975, em …chỉ vừa….đúng có…45 tuổi rưỡi, lúc nầy em cũng…. còn….“chổng mông ” , hay nói một cách…nhẹ nhàng hơn là em…. chưa chồng. Gọi em bằng …“ em ” là cách gọi đầy…. tình cảm đấy chứ. Nhìn hình của Shana Alexander, đã thấy….chán đời rồi, Meg thì trẻ hơn Shana 5 tuổi, nhưng tôi cam đoan với tất cả mọi người đàn ông trên thế gian nầy rằng…. đàn ông vẫn cảm thấy….không muốn… sống nữa…. nếu có phải cùng lúc lạc trên một hoang đảo nào đó với “em”, dù… tấm hình của Meg để ở đầu bài viết đã được Meg chọn lựa và làm dáng rất nhiều.
Cái ( người ) mà em “ hẩu ” ( hão ) nhất trên đời chính là …Kít !!!. Người Việt Nam phát âm chữ Kissinger là…Kít . Một người mà nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng Ali Mc Graw ( đóng vai chính trong phim Love Story….ghét Kít như ghét…..kít !!- một người mà Kissingger vô cùng si mê ( Kiss là ngoại trưởng dưới thời của Nixon, một người Mỹ gốc Do Thái, người đã nói lên câu nguyền rủa vô lương, đúng là một bọn…. ngưu tầm ngưu, mã tầm mã !!!.…-“ Why don’t these people ( people: dân chúng Miền Nam Việt Nam ) …die fast – [ Sao chúng không chết phứt đi cho rồi ! ] và “ The worst thing that could happen would be for them to linger on ” [ Điều tệ hại là chúng cứ sống dai hoài ] - Kít phát ra câu nầy vào ngày 30/03/75 tại Washington D.C.
Bài viết của Meg Greenfield thì viết rằng….-“ Hãy để lại những người đó ( tỵ nạn Cộng Sản ) ở lại Việt Nam, vì chính phủ Cộng Sản sẽ giải quyết được những vấn đề y tế, giáo dục vì Cộng Sản luôn xuất sắc về hai lãnh vực đó .” ….
Ôi ! đúng là một bài hợp ca ngu si và thật vô lương – trong một âm mưu đen tốí . – Hôm nay, một ngày cuối tháng 03, vết thương cũ đã bắt đầu trở mình ung máu, một tháng 04 ưu buồn, sầu thảm, một tháng của biết bao bi thương của toàn thể người Việt Nam, vết thương cũ lại trở mính đau nhói, lại trở về rỉ máu, nhức nhối, quặn đau trong trái tim của người Việt Nam, vết thương không thể nào lành lặn và nguôi ngoai được, dù đã 35 năm trôi qua, nó vẫn như mới ngày hôm qua, nó vẫn như là… vừa như là… xẫy ra vào buổi sáng hôm nay khi tôi ngồi vào bàn viết và đang nhớ đến biết bao các biến cố tang thương cũ của đất nước . Nhớ cả những nhục nhằn cũ, những oan khiên của dân tộc Việt Nam, tôi nhớ cả đến những lời phát ngôn ngu si và vô lương của một bọn được gọi là….“ trí thức nhưng đầu óc chỉ chứa toàn bã đậu ” nhưng lại có những phương tiện truyền thông và những cái loa kêu thật lớn.
Shanna Alexander, “ nàng ”chết năm 2005, tại bệnh viện Hermosa Beach- California, sau một thời gian dài bị bệnh. Tức nàng sống…. dai đến 80 năm .Cuộc sống tình cảm gia đình không có gì gọi là hạnh phúc, sau hai lần đổ vỡ và đứa con gái duy nhất của nàng tự tử chết năm 1987. “ Nàng ” ra đi không một giọt nước mắt thương tiếc của người thân, bạn bè . Điều nầy cũng có nghĩa là lúc nàng còn sống, nàng sống quá …bad… và cái miệng ăn mắm ăn muối của nàng, và cái “ tâm ” của nàng…. qúa…tàn độc và qúa vô lương.
Meg Greenfield, “ Em ” chết …trẻ lúc đó em …chỉ mới….69 tuổi, lúc chết hãy còn …..“dzin” ( không có gì bảo đảm, nhưng dzin ở đây chỉ có nghĩa là ….vẫn chưa chồng cho đến nàng chết ). Điều nầy cũng có nghĩ là … khi “ em ”… ra đi không có một giọt nước mắt tiếc thương nào của gia đình và…. của cả bạn bè chung quanh, điều nầy có nghĩa là lúc “ em ” còn sinh tiền… em “sống ” ….quá cheap và cái…tâm của em, nó qúa vô lương và qúa độc ác !!!
Hai em ra đi…..mà không một lời …từ giã….“ra đi mà không …bảo gì nhau ” với những người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, những người đã bị các em….khinh rẽ, miệt thị. Thôi thì…Nghĩa tử là nghĩa tận….-Tôi muốn đến thăm mộ của các nàng ở Hermosa Beach- California và ở Seattle - Washington để đọc cho các nàng nghe những bài viết trong các cuốn …..-“ Vẻ Vang Dân Việt ”, nhưng tôi lại sợ….khi tôi đọc xong thì các nàng lại….uất khí đội mồ sống lại và lăn đùng…. ra chết một lần nữa …thì phiền lắm !!! -
Thôi thì đành phải đọc vài câu Kiều của Cụ Nguyễn Du khi đến trước mộ của các nàng vậy thôi …..
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê ( những lời của hai nàng trên Newsweek ) chắp nhặt dong dài
Mua vui cũng được một vài trống canh
Một ngày cuối tháng 03 buồn, vết thương tháng 04 đã bắt đầu ung mủ
TX2 Nguyễn văn Sơn
TX2 Nguyễn Văn Sơn
Mỗi năm vào tháng Tư oan trái của đất nước, tôi lại nhớ đến muôn triệu điều thương đau của đất nước chúng ta, của hàng triệu những con người còn kẹt lại ở quê nhà, của hàng triệu con người chạy trốn một chế độ phi nhân, tàn độc, để đi tìm Tự Do. Năm nay, năm 2010, đã 35 năm trôi qua, vết thương lại tiếp tục trở về rỉ máu, bưng mủ từ những trái tim của những người Việt lưu vong trên toàn cầu, một vết thương không bao giờ có thể lành lặn lại được, của những trái tim còn nặng lòng với đất nước, của những con người còn chút liêm sĩ.
Rời bỏ quê hương đất nước, mồ mả ông bà, ruộng vườn, nhà cửa, cha mẹ, vợ con,anh em, bạn bè... để chạy trốn một chế độ man rợ….cùng với những lời thóa mạ, chửi rủa của kẻ thù xâm lược phương bắc rượt đuổi, bám theo sau lưng, đứng đầu là những lời chửi bới của tên Thủ Tướng Cộng Sản Phạm văn Đồng, hắn cho rằng ….đây là toàn những kẻ bồi bếp, là bọn bán nước chạy theo bơ thừa sữa căn của đế quốc Mỹ !!.…
Trong muôn triệu điều thương đau đó, có cả những lời của những kẻ thóa mạ ở ngay trên những vùng đất cho người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dung thân – (dù bên cạnh đó vẫn có hàng triệu trái tim nhân ái khác của những con người không cùng màu da với chúng ta, như của Tổng Thống Gerald Ford, của Tổng Thống Jimmy Carter, của biết bao người trong các tổ chức nhân đạo khác …)
Mỗi năm, đến cái ngày đau thương, oan trái nầy, tôi lại nhớ đến….Shana Alexander, nhớ đến câu nói của “ nàng ” trong một bài viết trên tờ Newsweek, số tháng 5 năm 1975, mà mổi năm vào tháng 4 buôn thảm này , tôi thương vào thư viện tìm lại để đọc…
“ Nàng ” viết …. : “ Tôi không biết….rồi những người tỵ nạn Việt Nam được chính phủ mang vào lục địa nầy sẽ sống ra sao khi cả đời họ chưa nghe, chưa thấy, chưa biết Michelanlego là ai, cũng chưa bao giờ dung đến cái máy giặt..v.v…và ..v..v ” .
Và theo “ nàng ”, đám người di tản toàn là một bọn mọi rợ, bán khai, ngu dốt… “ Nàng ” tỏ ra ….lo lắng cho đám người nầy khi họ đến sống ở nước Mỹ. Nghe thật là buồn thảm cho thân phận con người đi tìm Tự Do và tìm đất dung thân, dù những lời nói đó chỉ xuất phát từ một thiểu số người.
Bài viết nầy sẽ không đi sâu vào “ tiểu sử ” của hai nàng, nếu không sẽ là vô tình ….quảng cáo không công cho các nàng… dù rằng những điều nầy ( tiểu sử của hai nàng) cũng không có gì gọi là sáng chói và ghê gớm cho lắm.
Shana Alexander, viết những lời nầy vào năm 1975, khi đó “ nàng ”….( mới )…50 tuổi, ở tuồi nầy đàn bà Mỹ đã trở thành… “ Bà già giết giặc ”, đâu còn cái “ mơn mởn ”, “ mặn mà ”, “ mũm mĩm ” như đàn bà Việt Nam cũng vào tuổi nầy. Gọi nàng là “ nàng ” là….lịch sự…. có thừa đó chứ ! Không gọi nàng như vậy….e nàng giận - Nàng là cư dân của New York, tốt nghiệp Vassar College năm 1945, khoa Anthropology ( Nhân chủng học ), một đại học tư tại Poughkeepsie, New York. Bước vào nghề báo chí thật tình cờ, khi nàng nhận một cái job part time làm việc vào mùa hè khi nàng còn đi học ở Vassar, tại tòa báo “ Nhật báo New York ” với chân thư ký để các xếp lớn, các đàn anh đàn chị ký giả khác…. sai vặt. Sau đó làm việc cho các tờ báo nhỏ như tờ New York PM , tờ Mademoiselle rồi đến các tạp chí … Life, Mc Call’s, Newsweek. Năm 1969, nàng là chủ bút của tờ McCall’s, đến năm 1975 nàng chuyển sang chuyên viết những mục bình luận cho tờ tuần báo Newsweek, đây là tờ báo mà từ trên xuống dưới, từ Publisher , Editor, Managing, Associate Managing Editor, đến các Columnist và các nhân viên trong Staff writer đều là những người Mỹ gốc Do Thái. Sau bài viết miệt thị đó, “ nàng ”….biến mất, không còn viết gì nữa, tính đến nay đã hơn ba thập niên trôi qua. Bài viết của một kẻ kiêu ngạo qúa mức, cái Bachelor bốn năm về Anthropology ở Vassar College thì có gì là ghê gớm lắm đâu, chỉ cần nửa [ (1/2) thế hệ những người mà nàng nói là : “ không biết Michelangelo là ai ” , những người mà nàng miệt thị là mọi rợ, không biết cái máy giặc là cái gì….
Nửa thế hệ ( 10 năm ) đã có biết bao người mang những cái họ Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Trương, Trịnh, Đinh, Dương,Cao,Bùi, Vũ, Võ….và rất nhiều những cái tên họ Việt Nam đã làm biết bao nhiêu kỳ tích trong học đường và xã hội, những con số nầy không phải là con số nhỏ và con số nầy càng ngày càng không đếm xuể, từ “ trên trời xuống dưới đất ”, từ những tổ chức chính quyền đến văn hóa, xã hội qua phạm vi văn học nghệ thuật- kể cả ngành truyền thông .Thử hỏi Shana, có biết người có 7 bằng PhD một lúc của đại học MIT là ai không, có biết người phi công trưởng của phi thuyền con thoi Columbia, trong chuyến đi đầu tiên của phi thuyền nầy là người như thế nào không, có biết người phụ nữ duyên dáng đứng đầu toán chuyên gia phát minh ra bom nhiệt áp, có first name là gì không, có biết người soạn thảo Patriot Act tên là gì không, có biết rằng sĩ số sinh viên xuất sắc tại các hệ thống đại học Ivy- League và các đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ xuất thân từ đâu hay không, và….Bây giờ, cái Bachelor như cái Bachelor của…. Shana ...- ( bây giờ đối với con cháu của những người mà Shana cho rằng….họ không biết Michelagelo …là ai, đối với đám con cháu nầy…cái Bachelor đó là…chuyện nhỏ…. như con…chim (?)…như …cánh bướm (?) của họ !!! ) – So sánh như thế chắc cũng …tội nghiệp cho nàng – thôi thì lấy chuyện viết văn ( phạm vi của nàng – vì nàng cũng có viết sách…. chứ bộ !!! )– như vậy sẽ công bình với nàng hơn - cuốn sách nàng viết, có tựa đề là “ Happy days : My Mother, My Father, My Sister & Me ” .
Nói là “ truyện ”, thực sự đây chỉ là cuốn “ tự họa chân dung ” của nàng – ( một loại autobiography tự đề cao tự "đánh bóng " )- làm sao so được với các nhà văn trẻ Việt Nam viết bằng Anh Ngữ như The Unwanted ,của Kiên Nguyễn, như “Salt ” của Monique Trương, và nhiều cây viết khác nữa . Nghề báo giống như nàng ?? , cũng không ít, những cái họ như Đỗ, Nguyễn, Lâm, Trần…cũng không thiếu.
Thôi bấy nhiêu …cũng đủ với nàng, bây giờ chúng ta tiếp tục… đến….một “ em ” khác : - Em….Meg Greenfield – tên đầy đũ của “ em ” là Mary Ellen Greenfield – nhưng “em ” thích người đời gọi em là “ Meg ”, nó là chữ viết tắt của hai chữ đầu của em ( Mary và Ellen ), sinh ra tại Seattle, tốt nghiệp thủ khoa tại Smith College khoa báo chí năm 1952. Smith College là một đại học tư dành riêng cho nữ giới tại Northampton, Masschusetts. Sau đó nhờ có học bổng Fullbright, em đi học tiếp tại Cambridge University. Ra trường, em làm việc cho tờ báo “ Post ”, giữ mục “ Giải đáp tâm tình cho đàn bà, con gái Mỹ ”, chính ở đây, em nổi được nổi tiếng là người đi tiên phong trong việc “ giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự đè ép (?) của đàn ông ”. Nhờ làm bạn và quen biết với Norman Podhoretz và với sự đề bạt của Norman- một người Mỹ gốc Do Thái - một lý thuyết gia của phái Tân Bảo thủ Mỹ - một người nổi tiếng xuất sắc trong làng báo Mỹ - Sau đó, “ em ” về làm chủ bút cho tờ Washington Post và kế đó là cây viết chủ lực của tờ Newsweek. Năm 1978, em được nhận giải thưởng Pulitzer về những bài viết của em . Nhìn lại từ đầù cuộc đời em đến khi “em” viết lên những giòng chữ này trên tờ Newsweek thì ….em cũng chẵng có gì gọi sáng gía và kiêu hãnh cho lắm, để mà nói lên những lời lếu láo với những người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đang tìm chốn dung thân. Tháng 04 năm 1975, em …chỉ vừa….đúng có…45 tuổi rưỡi, lúc nầy em cũng…. còn….“chổng mông ” , hay nói một cách…nhẹ nhàng hơn là em…. chưa chồng. Gọi em bằng …“ em ” là cách gọi đầy…. tình cảm đấy chứ. Nhìn hình của Shana Alexander, đã thấy….chán đời rồi, Meg thì trẻ hơn Shana 5 tuổi, nhưng tôi cam đoan với tất cả mọi người đàn ông trên thế gian nầy rằng…. đàn ông vẫn cảm thấy….không muốn… sống nữa…. nếu có phải cùng lúc lạc trên một hoang đảo nào đó với “em”, dù… tấm hình của Meg để ở đầu bài viết đã được Meg chọn lựa và làm dáng rất nhiều.
Cái ( người ) mà em “ hẩu ” ( hão ) nhất trên đời chính là …Kít !!!. Người Việt Nam phát âm chữ Kissinger là…Kít . Một người mà nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng Ali Mc Graw ( đóng vai chính trong phim Love Story….ghét Kít như ghét…..kít !!- một người mà Kissingger vô cùng si mê ( Kiss là ngoại trưởng dưới thời của Nixon, một người Mỹ gốc Do Thái, người đã nói lên câu nguyền rủa vô lương, đúng là một bọn…. ngưu tầm ngưu, mã tầm mã !!!.…-“ Why don’t these people ( people: dân chúng Miền Nam Việt Nam ) …die fast – [ Sao chúng không chết phứt đi cho rồi ! ] và “ The worst thing that could happen would be for them to linger on ” [ Điều tệ hại là chúng cứ sống dai hoài ] - Kít phát ra câu nầy vào ngày 30/03/75 tại Washington D.C.
Bài viết của Meg Greenfield thì viết rằng….-“ Hãy để lại những người đó ( tỵ nạn Cộng Sản ) ở lại Việt Nam, vì chính phủ Cộng Sản sẽ giải quyết được những vấn đề y tế, giáo dục vì Cộng Sản luôn xuất sắc về hai lãnh vực đó .” ….
Ôi ! đúng là một bài hợp ca ngu si và thật vô lương – trong một âm mưu đen tốí . – Hôm nay, một ngày cuối tháng 03, vết thương cũ đã bắt đầu trở mình ung máu, một tháng 04 ưu buồn, sầu thảm, một tháng của biết bao bi thương của toàn thể người Việt Nam, vết thương cũ lại trở mính đau nhói, lại trở về rỉ máu, nhức nhối, quặn đau trong trái tim của người Việt Nam, vết thương không thể nào lành lặn và nguôi ngoai được, dù đã 35 năm trôi qua, nó vẫn như mới ngày hôm qua, nó vẫn như là… vừa như là… xẫy ra vào buổi sáng hôm nay khi tôi ngồi vào bàn viết và đang nhớ đến biết bao các biến cố tang thương cũ của đất nước . Nhớ cả những nhục nhằn cũ, những oan khiên của dân tộc Việt Nam, tôi nhớ cả đến những lời phát ngôn ngu si và vô lương của một bọn được gọi là….“ trí thức nhưng đầu óc chỉ chứa toàn bã đậu ” nhưng lại có những phương tiện truyền thông và những cái loa kêu thật lớn.
Shanna Alexander, “ nàng ”chết năm 2005, tại bệnh viện Hermosa Beach- California, sau một thời gian dài bị bệnh. Tức nàng sống…. dai đến 80 năm .Cuộc sống tình cảm gia đình không có gì gọi là hạnh phúc, sau hai lần đổ vỡ và đứa con gái duy nhất của nàng tự tử chết năm 1987. “ Nàng ” ra đi không một giọt nước mắt thương tiếc của người thân, bạn bè . Điều nầy cũng có nghĩa là lúc nàng còn sống, nàng sống quá …bad… và cái miệng ăn mắm ăn muối của nàng, và cái “ tâm ” của nàng…. qúa…tàn độc và qúa vô lương.
Meg Greenfield, “ Em ” chết …trẻ lúc đó em …chỉ mới….69 tuổi, lúc chết hãy còn …..“dzin” ( không có gì bảo đảm, nhưng dzin ở đây chỉ có nghĩa là ….vẫn chưa chồng cho đến nàng chết ). Điều nầy cũng có nghĩ là … khi “ em ”… ra đi không có một giọt nước mắt tiếc thương nào của gia đình và…. của cả bạn bè chung quanh, điều nầy có nghĩa là lúc “ em ” còn sinh tiền… em “sống ” ….quá cheap và cái…tâm của em, nó qúa vô lương và qúa độc ác !!!
Hai em ra đi…..mà không một lời …từ giã….“ra đi mà không …bảo gì nhau ” với những người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, những người đã bị các em….khinh rẽ, miệt thị. Thôi thì…Nghĩa tử là nghĩa tận….-Tôi muốn đến thăm mộ của các nàng ở Hermosa Beach- California và ở Seattle - Washington để đọc cho các nàng nghe những bài viết trong các cuốn …..-“ Vẻ Vang Dân Việt ”, nhưng tôi lại sợ….khi tôi đọc xong thì các nàng lại….uất khí đội mồ sống lại và lăn đùng…. ra chết một lần nữa …thì phiền lắm !!! -
Thôi thì đành phải đọc vài câu Kiều của Cụ Nguyễn Du khi đến trước mộ của các nàng vậy thôi …..
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê ( những lời của hai nàng trên Newsweek ) chắp nhặt dong dài
Mua vui cũng được một vài trống canh
Một ngày cuối tháng 03 buồn, vết thương tháng 04 đã bắt đầu ung mủ
TX2 Nguyễn văn Sơn
DÂN BIỂU SANCHEZ LÊN ÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TẤN CÔNG CÁC TRANG MẠNG ĐỂ BÓP NGHẸT TIẾNG NÓI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng Chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus và Chủ tịch của Subcommittee về Terrorism, Unconventional Threats and Capabilities (tạm dịch là Tiểu Ban Hạ Viện chống khủng bố và mối đe dọa về an ninh không gian mạng), lên án nhà cầm quyền Việt Nam về việc sử dụng phần mềm ác tính (malware) để kiểm duyệt hoạt động Internet của các nhà dân chủ và dân báo. Cuộc tấn công mạng được dịch vụ cung cấp Internet Google báo cáo, sau vụ công ty này phải đối đầu với chính quyền Bắc Kinh về việc tài khoản e-mail của các nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc bị tấn công.
“Tôi thấy đây là một cuộc tấn công trắng trợn mà Nhà cầm quyền Việt Nam đã dùng phương tiện Internet để đàn áp người dân của họ.” Dân Biểu Sanchez phát biểu. "Đã nhiều lần này sang lần khác, Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã chứng minh rằng nhà nước Việt Nam sẽ bất chấp tất cả để dập tắt các tiếng nói lương tâm chống lại chế độ và kiểm soát nguồn thông tin và truyền thông tại Việt Nam. Trong thời gian qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã tăng cường nhiều biện pháp kiểm duyệt và ngăn chặn các trang mạng giao lưu như Facebook và nhiều diễn đàn Internet có nội dung về chính trị qua các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (tấn công Denial of Service) hoặc tải tin tặc cải biến phần mềm của các máy tính có font tiếng Việt VPSKeys để theo dõi người sử dụng Internet. Đây là một hành động không thể chấp nhận được đối với một quốc gia muốn trở thành một thành viên chính trị quốc tế, đặc biệt là khi họ đã nhiều lần cam kết sẽ cải thiện tình trạng nhân quyền và tôn trọng luật pháp.
“Đây là thời điểm quan trọng mà Hoa Kỳ, cộng đồng quốc tế và các dịch vụ cung cấp Internet quan tâm về các cuộc tấn công tin tặc nên nói rằng ‘enough is enough!’ nghĩa là “quá đủ rồi”. Ngày hôm qua tôi vừa nộp đơn visa xin nhập cảnh vào Việt Nam và tôi hy vọng rằng sẽ có thể được gặp gỡ các nhà dân chủ để tự tai nghe những câu chuyện của họ. Các báo cáo và bản tường trình về tình hình nhân quyền chỉ có thể cho chúng ta biết phần nào thôi, đó là lý do quan trọng mà các nhà lãnh đạo của chúng ta cần phải tự họ quan sát để có thể đánh giá tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Nếu được chấp thuận visa, tôi dự định sẽ có cuộc họp với Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam để thảo luận về tầm quan trọng của tự do ngôn luận, tự do thông tin mạng và lên án các cuộc tấn công tin tặc gần đây. "
Ngoài việc xâm nhập tài khoản internet cá nhân của các nhà bất đồng chính kiến địa phương, nhà nước Việt Nam cũng đã tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo đối với nhiều giáo phái khác nhau tại Việt Nam. Đối diện với các vụ đàn áp này, Dân Biểu Sanchez đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC List) và xem xét lại quan hệ giao thương giữa hai quốc gia đến khi ông Chủ tịch Triết và nhà nước ông có những hành động cụ thể để cải thiện tình trạng nhân quyền.
Dân Biểu Loretta SanchezĐịa Hạt Liên Bang 47th, California www.house.gov/ sanchez
March 31, 2010:
Rep. Loretta Sanchez Condemns Vietnam
for Using Cyberattacks to Stifle Dissent
WASHINGTON, D.C. – Congresswoman Loretta Sanchez (CA-47), Co-Chair of the Congressional Caucus on Vietnam and Chair of the House Armed Services subcommittee with primary jurisdiction over the nation’s cybersecurity, today condemned Vietnam for using malware to illicitly monitor the internet activity of human rights and democracy activists. The cyberattacks were first reported by internet service provider Google, which recently shut down its search operations in China after the government attempted to hack into the e-mail accounts of local dissidents.
“I am outraged by new reports that Vietnam’s government has been using the internet as a weapon against its own people,” said Rep. Sanchez. “Time and time again, President Nguyen Minh Triet has proven he will stop at nothing to silence critics of his regime and shut down the free flow of information and communication in Vietnam. He and his government have taken steps to block access to a number of websites, including Facebook and other popular internet forums, in the form of denial-of-service attacks. This is unacceptable conduct from a country that wants to be an international political player, especially one that has promised to adhere to basic human rights standards and the rule of law.
“It’s time for the U.S. and international communities, and any internet service providers that are concerned by these attacks, to say ‘enough is enough!’ Yesterday, I applied for a visa to visit Vietnam in the hopes that I will be able to meet with human rights activists to get their side of the story. Press reports can only tell us so much, which is why it’s important for our leaders to assess the extent of Vietnam’s abuses for themselves. If my application is approved, I also intend to meet with Vietnam’s Ministry of Information and Communications to discuss the importance of free speech and personally condemn these recent cyberattacks.”
The need for action in Vietnam has never been greater. In addition to infiltrating the private internet accounts of local dissidents, the government has continued to crack down on religious freedoms, most recently by authorizing the desecration of a crucifix in Vietnam’s historic Dong Chiem parish cemetery. For these and other abuses, Rep. Sanchez has urged the State Department to re-designate Vietnam as a Country of Particular Concern (CPC) and reassess its trade relations until President Triet takes concrete action to improve its human rights record.
Nguồn: http://tiengnoitudo danchu.org/ modules.php? name=News&file=article&sid=8844
TẤN CÔNG CÁC TRANG MẠNG ĐỂ BÓP NGHẸT TIẾNG NÓI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng Chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus và Chủ tịch của Subcommittee về Terrorism, Unconventional Threats and Capabilities (tạm dịch là Tiểu Ban Hạ Viện chống khủng bố và mối đe dọa về an ninh không gian mạng), lên án nhà cầm quyền Việt Nam về việc sử dụng phần mềm ác tính (malware) để kiểm duyệt hoạt động Internet của các nhà dân chủ và dân báo. Cuộc tấn công mạng được dịch vụ cung cấp Internet Google báo cáo, sau vụ công ty này phải đối đầu với chính quyền Bắc Kinh về việc tài khoản e-mail của các nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc bị tấn công.
“Tôi thấy đây là một cuộc tấn công trắng trợn mà Nhà cầm quyền Việt Nam đã dùng phương tiện Internet để đàn áp người dân của họ.” Dân Biểu Sanchez phát biểu. "Đã nhiều lần này sang lần khác, Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã chứng minh rằng nhà nước Việt Nam sẽ bất chấp tất cả để dập tắt các tiếng nói lương tâm chống lại chế độ và kiểm soát nguồn thông tin và truyền thông tại Việt Nam. Trong thời gian qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã tăng cường nhiều biện pháp kiểm duyệt và ngăn chặn các trang mạng giao lưu như Facebook và nhiều diễn đàn Internet có nội dung về chính trị qua các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (tấn công Denial of Service) hoặc tải tin tặc cải biến phần mềm của các máy tính có font tiếng Việt VPSKeys để theo dõi người sử dụng Internet. Đây là một hành động không thể chấp nhận được đối với một quốc gia muốn trở thành một thành viên chính trị quốc tế, đặc biệt là khi họ đã nhiều lần cam kết sẽ cải thiện tình trạng nhân quyền và tôn trọng luật pháp.
“Đây là thời điểm quan trọng mà Hoa Kỳ, cộng đồng quốc tế và các dịch vụ cung cấp Internet quan tâm về các cuộc tấn công tin tặc nên nói rằng ‘enough is enough!’ nghĩa là “quá đủ rồi”. Ngày hôm qua tôi vừa nộp đơn visa xin nhập cảnh vào Việt Nam và tôi hy vọng rằng sẽ có thể được gặp gỡ các nhà dân chủ để tự tai nghe những câu chuyện của họ. Các báo cáo và bản tường trình về tình hình nhân quyền chỉ có thể cho chúng ta biết phần nào thôi, đó là lý do quan trọng mà các nhà lãnh đạo của chúng ta cần phải tự họ quan sát để có thể đánh giá tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Nếu được chấp thuận visa, tôi dự định sẽ có cuộc họp với Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam để thảo luận về tầm quan trọng của tự do ngôn luận, tự do thông tin mạng và lên án các cuộc tấn công tin tặc gần đây. "
Ngoài việc xâm nhập tài khoản internet cá nhân của các nhà bất đồng chính kiến địa phương, nhà nước Việt Nam cũng đã tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo đối với nhiều giáo phái khác nhau tại Việt Nam. Đối diện với các vụ đàn áp này, Dân Biểu Sanchez đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC List) và xem xét lại quan hệ giao thương giữa hai quốc gia đến khi ông Chủ tịch Triết và nhà nước ông có những hành động cụ thể để cải thiện tình trạng nhân quyền.
Dân Biểu Loretta SanchezĐịa Hạt Liên Bang 47th, California www.house.gov/ sanchez
March 31, 2010:
Rep. Loretta Sanchez Condemns Vietnam
for Using Cyberattacks to Stifle Dissent
WASHINGTON, D.C. – Congresswoman Loretta Sanchez (CA-47), Co-Chair of the Congressional Caucus on Vietnam and Chair of the House Armed Services subcommittee with primary jurisdiction over the nation’s cybersecurity, today condemned Vietnam for using malware to illicitly monitor the internet activity of human rights and democracy activists. The cyberattacks were first reported by internet service provider Google, which recently shut down its search operations in China after the government attempted to hack into the e-mail accounts of local dissidents.
“I am outraged by new reports that Vietnam’s government has been using the internet as a weapon against its own people,” said Rep. Sanchez. “Time and time again, President Nguyen Minh Triet has proven he will stop at nothing to silence critics of his regime and shut down the free flow of information and communication in Vietnam. He and his government have taken steps to block access to a number of websites, including Facebook and other popular internet forums, in the form of denial-of-service attacks. This is unacceptable conduct from a country that wants to be an international political player, especially one that has promised to adhere to basic human rights standards and the rule of law.
“It’s time for the U.S. and international communities, and any internet service providers that are concerned by these attacks, to say ‘enough is enough!’ Yesterday, I applied for a visa to visit Vietnam in the hopes that I will be able to meet with human rights activists to get their side of the story. Press reports can only tell us so much, which is why it’s important for our leaders to assess the extent of Vietnam’s abuses for themselves. If my application is approved, I also intend to meet with Vietnam’s Ministry of Information and Communications to discuss the importance of free speech and personally condemn these recent cyberattacks.”
The need for action in Vietnam has never been greater. In addition to infiltrating the private internet accounts of local dissidents, the government has continued to crack down on religious freedoms, most recently by authorizing the desecration of a crucifix in Vietnam’s historic Dong Chiem parish cemetery. For these and other abuses, Rep. Sanchez has urged the State Department to re-designate Vietnam as a Country of Particular Concern (CPC) and reassess its trade relations until President Triet takes concrete action to improve its human rights record.
Nguồn: http://tiengnoitudo danchu.org/ modules.php? name=News&file=article&sid=8844
Tại sao đảng cộng sản vẫn bảo thủ?
Ngô Nhân Dụng
Cuốn Một Trăm Chuyện Ngụ Ngôn kể chuyện có một anh chăn cừu thật thà chất phác. Một hôm có một người từ thành thị tới làm quen, rồi dần dà kết bạn với anh.
Sau khi được anh tin tưởng rồi, người bạn thành phố mới nói: “Chúng ta đã làm bạn tri kỷ với nhau, không còn gì chia rẽ ta được nữa. Tôi sẽ giới thiệu cho anh một cô gái làng bên để cưới làm vợ! Anh hãy đưa tôi sính lễ tôi sẽ cưới vợ cho anh.” Người nông dân đưa cho tên bạn nhiều con cừu làm sính lễ cưới vợ. Anh thấy mình may mắn, có người sẵn lòng đi lo chuyện cưới vợ giúp mình!
Một thời gian sau, người bạn thành phố quay trở lại báo tin: Anh đã có vợ rồi! Chị ấy may mắn đã mang thai! Anh nông dân mừng rỡ, lại đưa thêm mấy món đồ quý cho người bạn thành phố để giúp anh nuôi vợ. Một thời gian sau nữa, kẻ gian thành phố trở lại, báo tin: Vợ anh đã đẻ con trai rồi! Anh chăn cừu sung sướng quá, lại đưa thêm của cải cho người bạn đem đi giúp nuôi vợ và con anh. Tháng sau, người bạn thành phố mặt mũi buồn rầu quay trở lại báo tin: “Cháu nhỏ nó chết rồi, sinh được mấy ngày đã chết.” Anh chăn cừu nghe tin đau đớn, khóc lóc thảm thiết!
Câu chuyện Mục Dương Nhân trên, chuyện số 30 trong Bách Dụ Kinh, cốt ý răn người đời không nên sống bằng ảo ảnh. Vì trên đời nhiều người cũng sống trong ảo tưởng như anh chăn cừu này. Không thiếu người cứ tưởng mình đang có vợ có con sống ở làng bên, dù chưa bao giờ gặp mặt.
Mỗi lần đọc dự thảo cương lĩnh mới của đảng Cộng Sản, không thể nào không nhớ đến anh chăn cừu trên. Bản thông cáo sau phiên họp trung ương đảng Cộng Sản chuẩn bị cho Ðại Hội Mười Một (năm 2011) vẫn khẳng định: “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” Cũng không khác gì người bạn thành phố bảo anh chăn cừu: Anh đã có vợ rồi, vợ anh ở làng bên đó!
Ðảng Cộng Sản đã đem Chủ Nghĩa Xã Hội giới thiệu như cô vợ đẹp, gán cho anh chăn cừu kia. Người dân trong nước ta và các đảng viên cộng sản đã phải đóng vai anh chăn cừu này, tin là vợ và con này có thật mặc dù chưa bao giờ được thấy mặt. Mọi người đã chịu cho đảng Cộng Sản lừa, trước là tự nguyện nghe theo, sau thì bất đắc dĩ, trong bụng không tin nhưng không dám cãi. Vì đã lọt vào tròng rồi, không thể nào tự cởi trói cho mình được. Cộng Sản nói, “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,” thì chúng ta thách thức đảng Cộng Sản hãy tổ chức trưng cầu dân ý, xem có bao nhiêu phần trăm người dân muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội?
Nhưng trước khi làm cuộc trưng cầu ý kiến đó, người dân cũng muốn mở một cuộc phỏng vấn tất cả các đồng chí trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, xin hỏi các ông các bà rằng cái gọi là chủ nghĩa xã hội đó nó là cái gì? Muốn làm cái chủ nghĩa xã hội đó thì làm ra sao? Cứ để mỗi ông, mỗi bà trong Bộ Chính Trị ngồi một phòng riêng ngẫm nghĩ, có sách vở đầy đủ để nghiên cứu, rồi viết ra cho bà con coi họ hiểu cái chủ nghĩa xã hội nó như thế nào!
Nó là một ảo tưởng. Ðó là những ước mơ, mỗi người mơ một cách. Chỉ ở các nước sống dân chủ tự do mới có những đảng Xã Hội đưa ra các chương trình quản trị quốc gia mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng rất cụ thể và có giới hạn, để cho các cử tri lựa chọn, bỏ phiếu. Nếu thắng cử, họ sẽ đem ra thực hiện các chương trình đó trong thời gian được dân tín nhiệm. Còn ở các nước cộng sản, khẩu hiệu “tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ có nghĩa là tất cả mọi người phải cúi đầu chịu cho đảng cộng sản cai trị; và các đảng viên thì phải cúi đầu để cho các lãnh tụ quyết định thay cho mình. Riêng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ khi khối Liên Sxô và Ðông Âu sụp đổ thì khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” có hai nghĩa. Ðối với bên trong thì nghĩa là bảo vệ quyền lợi cho các đảng viên đang làm kinh tế quốc doanh, trong khi vẫn cho các đảng viên khác đi làm kinh tế thị trường để tự tư bản hóa. Ðối với bên ngoài, sau khi mất chỗ dựa vào “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn, thì từ thời Nguyễn Văn Linh Cộng Sản Việt Nam phải tiến tới gần, càng ngày càng gần Trung Quốc, gần đến mức bây giờ ngạt thở cũng không cởi bỏ ra được!
Cuộc họp của trung ương để chuẩn bị Ðại hội Ðảng vừa rồi lại nêu lên một khẩu hiệu vô cùng bảo thủ, phản tiến bộ, “chống đổi mới” đến cùng, đó là khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” Khẩu hiệu này chứng tỏ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản vẫn không dám buông khu vực quốc doanh ra. Ðối với họ, đó là nội dung có ý nghĩa nhất của những chữ “tiến tới chủ nghĩa xã hội!”
Tại sao đảng Cộng Sản vẫn bảo thủ như vậy? Vì nếu không bảo vệ kinh tế quốc doanh, họ sợ bị đa số chống đối. Vì trong số những ủy viên trung ương và cán bộ sẽ đi dự đại hội 11 sắp tới phần lớn hiện vẫn thủ lợi được nhờ hệ thống tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước, họ không thể rời tay được. Những đơn vị kinh tế nhà nước này không thể nào sống nổi nếu được trao cho cán bộ bằng cách tư nhân hóa; vì sau đó phải cạnh tranh trên thị trường ngang hàng với tư nhân, trong nước gọi là “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng.” Khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cốt để làm yên lòng những thành phần trên, hiện chiếm đa số trong đảng Cộng Sản. Chúng ta đều biết đây là thành phần ăn bám, ăn hại kinh tế quốc dân như thế nào.
Ngoài ra còn thành phần các đảng viên đi làm ăn riêng, góp vốn của mình mà kinh doanh, rồi thành công, thì họ cũng vẫn quen dựa vào uy quyền của đảng để thắng lợi. Ngay cả các tư nhân ngoài đảng, muốn làm ăn cũng phải đi mua chuộc thứ uy quyền này, mua lẻ bằng cách hối lộ, hoặc mua sỉ là gia nhập đảng. Ða số các doanh nhân tư đó cũng muốn bảo vệ chế độ cộng sản. Nếu bỏ mất chỗ dựa là uy quyền của đảng thì họ không thể cạnh tranh ngang hàng với các doanh nhân tư, thuần túy, ngoài đảng, trong đó có những người nước ngoài. Ðối với các người đang kinh doanh riêng, nhờ là đảng viên hay mua được đảng mới trở nên giàu có, chắc chắn họ đều muốn kéo dài tình trạng “sân chơi lệch” này! Ðã “đầu tư” nhiều vốn kiếng để tạo được chỗ dựa lấy uy quyền, tội tình gì mà gì họ phải chấp nhận “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng” với người ngoài, để phí mất số tiền đã đầu tư? Ngay ở một nước dân chủ tự do, tôn trọng luật pháp cũng vậy. Nếu có những doanh nhân ở Mỹ đang được lợi nhờ một đạo luật ưu đãi mình (thí dụ, dành một số vụ thầu cho người gốc thiểu số) thì các doanh nhân đó cũng chỉ muốn bảo vệ đạo luật đó mãi mãi, dù nó không còn lý do tồn tại nữa. Tình trạng này không khác gì người gốc Mã Lai đang được hưởng những đặc quyền kinh tế, ưu đãi hơn các người gốc Hoa và gốc Ấn, chính phủ Mã Lai Á không thể nào xóa bỏ những đạo luật đặc quyền đó, mặc dù chúng làm cho kinh tế toàn dân phát triển chậm hơn. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang dựa vào những thành phần bảo thủ đó để tồn tại.
Ðó là những lý do khiến đảng Cộng Sản sẽ tiếp tục giữ lập trường bảo thủ, “đến chết cũng không chừa.” Gần đây, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa đến thăm nhật báo Người Việt. Trong cuộc nói chuyện ở tòa báo, ông Ngụy nhắc lại mấy lần rằng: Không thể nào trông đợi có chuyện đảng Cộng Sản Trung Quốc tự từ bỏ độc quyền chính trị mà họ đang nắm trong tay. Thời Ngụy Kinh Sinh còn trẻ, ông nghĩ việc đó có thể xẩy ra, cứ tranh đấu giúp đảng Cộng Sản tự cải tiến và cải cách, họ có thể sẽ biến thành một đảng chính trị bình thường, chấp nhận tranh đua bình đẳng với các đảng chính trị khác.
Nhưng sau 30 năm tranh đấu, ở trong nước rồi ở nước ngoài, bây giờ Ngụy Kinh Sinh cho đó là một ảo tưởng. Chúng ta cũng có thể tin Cộng Sản Việt Nam cũng giống như vậy. Ðám lãnh tụ nắm quyền dựa vào đám đảng viên đang giàu nhất và quyền hành mạnh nhất. Tất cả đám người đó sống bám vào cơ chế hiện tại, hoặc kiếm ăn dễ dàng nhờ cơ chế hiện tại. Họ không dại gì mà tự phá bỏ các đặc quyền, đặc lợi đang hưởng. Ông Ngụy Kinh Sinh tin rằng chế độ cộng sản ở nước ông sẽ chỉ sụp đổ khi nào người dân Trung Hoa, với sự thúc đẩy của giới trí thức và thanh niên, đứng lên đòi cộng sản phải thay đổi triệt để hơn. Một cuộc cách mạng như vậy không nhất thiết gây đổ máu. Nhưng không ai còn hy vọng chế độ cộng sản sẽ tự cải tiến để chấp nhận các luật giao đấu tự do dân chủ, trong chính trị cũng như trong kinh tế.
Người dân Trung Quốc và Việt Nam đều đã được các lãnh tụ cộng sản “cưới vợ giúp” từ hơn 70 năm nay, không khác gì anh chăn cừu trong Bách Dụ Kinh. Cô vợ hiện không biết mặt mũi ra sao đó, gọi là Chủ nghĩa Xã hội! Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp, dự thảo cương lĩnh cho Ðại hội XI của đảng vào sang năm, cho biết “Khát vọng của nhân dân ta vẫn là Tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Như vậy Ðảng muốn chú chăn cừu vẫn phải tiếp tục tỏ ra mừng rỡ, vì được báo tin vợ con chú vẫn chưa chết!
Nhưng thử nhìn vào thực tế thì thấy, còn đảng Cộng Sản là còn bảo vệ kinh tế quốc doanh, là còn bóc lột toàn dân để nuôi mãi một đám người ăn bám. Chủ trương bảo thủ của đảng Cộng Sản chỉ có nghĩa là chủ trương tiếp tục bóc lột dân để nuôi dưỡng đảng.
Khoảng gần 100 tập đoàn công ty doanh nghiệp nhà nước này mỗi năm sử dụng hơn 50% tổng số vốn đầu tư, vì được các ngân hàng thương mại của nhà nước ưu đãi; nhưng họ chỉ sản xuất ra khoảng 30% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Cứ kéo dài các đơn vị quốc doanh này tức là bắt cả nước đóng góp tiền nuôi các đảng viên cộng sản, không biết đến bao giờ mới hết nợ!
Khi nào ý thức được điều này, chú chăn cừu sẽ thức tỉnh và đặt câu hỏi: Bà vợ xã hội chủ nghĩa đâu? Mặt mũi nó thế nào? Khi đó, chú chăn cừu sẽ đứng dậy. Triệu con người không thể sống bằng ảo tưởng mãi mãi!
Ngô Nhân Dụng
Cuốn Một Trăm Chuyện Ngụ Ngôn kể chuyện có một anh chăn cừu thật thà chất phác. Một hôm có một người từ thành thị tới làm quen, rồi dần dà kết bạn với anh.
Sau khi được anh tin tưởng rồi, người bạn thành phố mới nói: “Chúng ta đã làm bạn tri kỷ với nhau, không còn gì chia rẽ ta được nữa. Tôi sẽ giới thiệu cho anh một cô gái làng bên để cưới làm vợ! Anh hãy đưa tôi sính lễ tôi sẽ cưới vợ cho anh.” Người nông dân đưa cho tên bạn nhiều con cừu làm sính lễ cưới vợ. Anh thấy mình may mắn, có người sẵn lòng đi lo chuyện cưới vợ giúp mình!
Một thời gian sau, người bạn thành phố quay trở lại báo tin: Anh đã có vợ rồi! Chị ấy may mắn đã mang thai! Anh nông dân mừng rỡ, lại đưa thêm mấy món đồ quý cho người bạn thành phố để giúp anh nuôi vợ. Một thời gian sau nữa, kẻ gian thành phố trở lại, báo tin: Vợ anh đã đẻ con trai rồi! Anh chăn cừu sung sướng quá, lại đưa thêm của cải cho người bạn đem đi giúp nuôi vợ và con anh. Tháng sau, người bạn thành phố mặt mũi buồn rầu quay trở lại báo tin: “Cháu nhỏ nó chết rồi, sinh được mấy ngày đã chết.” Anh chăn cừu nghe tin đau đớn, khóc lóc thảm thiết!
Câu chuyện Mục Dương Nhân trên, chuyện số 30 trong Bách Dụ Kinh, cốt ý răn người đời không nên sống bằng ảo ảnh. Vì trên đời nhiều người cũng sống trong ảo tưởng như anh chăn cừu này. Không thiếu người cứ tưởng mình đang có vợ có con sống ở làng bên, dù chưa bao giờ gặp mặt.
Mỗi lần đọc dự thảo cương lĩnh mới của đảng Cộng Sản, không thể nào không nhớ đến anh chăn cừu trên. Bản thông cáo sau phiên họp trung ương đảng Cộng Sản chuẩn bị cho Ðại Hội Mười Một (năm 2011) vẫn khẳng định: “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” Cũng không khác gì người bạn thành phố bảo anh chăn cừu: Anh đã có vợ rồi, vợ anh ở làng bên đó!
Ðảng Cộng Sản đã đem Chủ Nghĩa Xã Hội giới thiệu như cô vợ đẹp, gán cho anh chăn cừu kia. Người dân trong nước ta và các đảng viên cộng sản đã phải đóng vai anh chăn cừu này, tin là vợ và con này có thật mặc dù chưa bao giờ được thấy mặt. Mọi người đã chịu cho đảng Cộng Sản lừa, trước là tự nguyện nghe theo, sau thì bất đắc dĩ, trong bụng không tin nhưng không dám cãi. Vì đã lọt vào tròng rồi, không thể nào tự cởi trói cho mình được. Cộng Sản nói, “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,” thì chúng ta thách thức đảng Cộng Sản hãy tổ chức trưng cầu dân ý, xem có bao nhiêu phần trăm người dân muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội?
Nhưng trước khi làm cuộc trưng cầu ý kiến đó, người dân cũng muốn mở một cuộc phỏng vấn tất cả các đồng chí trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, xin hỏi các ông các bà rằng cái gọi là chủ nghĩa xã hội đó nó là cái gì? Muốn làm cái chủ nghĩa xã hội đó thì làm ra sao? Cứ để mỗi ông, mỗi bà trong Bộ Chính Trị ngồi một phòng riêng ngẫm nghĩ, có sách vở đầy đủ để nghiên cứu, rồi viết ra cho bà con coi họ hiểu cái chủ nghĩa xã hội nó như thế nào!
Nó là một ảo tưởng. Ðó là những ước mơ, mỗi người mơ một cách. Chỉ ở các nước sống dân chủ tự do mới có những đảng Xã Hội đưa ra các chương trình quản trị quốc gia mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng rất cụ thể và có giới hạn, để cho các cử tri lựa chọn, bỏ phiếu. Nếu thắng cử, họ sẽ đem ra thực hiện các chương trình đó trong thời gian được dân tín nhiệm. Còn ở các nước cộng sản, khẩu hiệu “tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ có nghĩa là tất cả mọi người phải cúi đầu chịu cho đảng cộng sản cai trị; và các đảng viên thì phải cúi đầu để cho các lãnh tụ quyết định thay cho mình. Riêng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ khi khối Liên Sxô và Ðông Âu sụp đổ thì khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” có hai nghĩa. Ðối với bên trong thì nghĩa là bảo vệ quyền lợi cho các đảng viên đang làm kinh tế quốc doanh, trong khi vẫn cho các đảng viên khác đi làm kinh tế thị trường để tự tư bản hóa. Ðối với bên ngoài, sau khi mất chỗ dựa vào “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn, thì từ thời Nguyễn Văn Linh Cộng Sản Việt Nam phải tiến tới gần, càng ngày càng gần Trung Quốc, gần đến mức bây giờ ngạt thở cũng không cởi bỏ ra được!
Cuộc họp của trung ương để chuẩn bị Ðại hội Ðảng vừa rồi lại nêu lên một khẩu hiệu vô cùng bảo thủ, phản tiến bộ, “chống đổi mới” đến cùng, đó là khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” Khẩu hiệu này chứng tỏ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản vẫn không dám buông khu vực quốc doanh ra. Ðối với họ, đó là nội dung có ý nghĩa nhất của những chữ “tiến tới chủ nghĩa xã hội!”
Tại sao đảng Cộng Sản vẫn bảo thủ như vậy? Vì nếu không bảo vệ kinh tế quốc doanh, họ sợ bị đa số chống đối. Vì trong số những ủy viên trung ương và cán bộ sẽ đi dự đại hội 11 sắp tới phần lớn hiện vẫn thủ lợi được nhờ hệ thống tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước, họ không thể rời tay được. Những đơn vị kinh tế nhà nước này không thể nào sống nổi nếu được trao cho cán bộ bằng cách tư nhân hóa; vì sau đó phải cạnh tranh trên thị trường ngang hàng với tư nhân, trong nước gọi là “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng.” Khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cốt để làm yên lòng những thành phần trên, hiện chiếm đa số trong đảng Cộng Sản. Chúng ta đều biết đây là thành phần ăn bám, ăn hại kinh tế quốc dân như thế nào.
Ngoài ra còn thành phần các đảng viên đi làm ăn riêng, góp vốn của mình mà kinh doanh, rồi thành công, thì họ cũng vẫn quen dựa vào uy quyền của đảng để thắng lợi. Ngay cả các tư nhân ngoài đảng, muốn làm ăn cũng phải đi mua chuộc thứ uy quyền này, mua lẻ bằng cách hối lộ, hoặc mua sỉ là gia nhập đảng. Ða số các doanh nhân tư đó cũng muốn bảo vệ chế độ cộng sản. Nếu bỏ mất chỗ dựa là uy quyền của đảng thì họ không thể cạnh tranh ngang hàng với các doanh nhân tư, thuần túy, ngoài đảng, trong đó có những người nước ngoài. Ðối với các người đang kinh doanh riêng, nhờ là đảng viên hay mua được đảng mới trở nên giàu có, chắc chắn họ đều muốn kéo dài tình trạng “sân chơi lệch” này! Ðã “đầu tư” nhiều vốn kiếng để tạo được chỗ dựa lấy uy quyền, tội tình gì mà gì họ phải chấp nhận “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng” với người ngoài, để phí mất số tiền đã đầu tư? Ngay ở một nước dân chủ tự do, tôn trọng luật pháp cũng vậy. Nếu có những doanh nhân ở Mỹ đang được lợi nhờ một đạo luật ưu đãi mình (thí dụ, dành một số vụ thầu cho người gốc thiểu số) thì các doanh nhân đó cũng chỉ muốn bảo vệ đạo luật đó mãi mãi, dù nó không còn lý do tồn tại nữa. Tình trạng này không khác gì người gốc Mã Lai đang được hưởng những đặc quyền kinh tế, ưu đãi hơn các người gốc Hoa và gốc Ấn, chính phủ Mã Lai Á không thể nào xóa bỏ những đạo luật đặc quyền đó, mặc dù chúng làm cho kinh tế toàn dân phát triển chậm hơn. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang dựa vào những thành phần bảo thủ đó để tồn tại.
Ðó là những lý do khiến đảng Cộng Sản sẽ tiếp tục giữ lập trường bảo thủ, “đến chết cũng không chừa.” Gần đây, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa đến thăm nhật báo Người Việt. Trong cuộc nói chuyện ở tòa báo, ông Ngụy nhắc lại mấy lần rằng: Không thể nào trông đợi có chuyện đảng Cộng Sản Trung Quốc tự từ bỏ độc quyền chính trị mà họ đang nắm trong tay. Thời Ngụy Kinh Sinh còn trẻ, ông nghĩ việc đó có thể xẩy ra, cứ tranh đấu giúp đảng Cộng Sản tự cải tiến và cải cách, họ có thể sẽ biến thành một đảng chính trị bình thường, chấp nhận tranh đua bình đẳng với các đảng chính trị khác.
Nhưng sau 30 năm tranh đấu, ở trong nước rồi ở nước ngoài, bây giờ Ngụy Kinh Sinh cho đó là một ảo tưởng. Chúng ta cũng có thể tin Cộng Sản Việt Nam cũng giống như vậy. Ðám lãnh tụ nắm quyền dựa vào đám đảng viên đang giàu nhất và quyền hành mạnh nhất. Tất cả đám người đó sống bám vào cơ chế hiện tại, hoặc kiếm ăn dễ dàng nhờ cơ chế hiện tại. Họ không dại gì mà tự phá bỏ các đặc quyền, đặc lợi đang hưởng. Ông Ngụy Kinh Sinh tin rằng chế độ cộng sản ở nước ông sẽ chỉ sụp đổ khi nào người dân Trung Hoa, với sự thúc đẩy của giới trí thức và thanh niên, đứng lên đòi cộng sản phải thay đổi triệt để hơn. Một cuộc cách mạng như vậy không nhất thiết gây đổ máu. Nhưng không ai còn hy vọng chế độ cộng sản sẽ tự cải tiến để chấp nhận các luật giao đấu tự do dân chủ, trong chính trị cũng như trong kinh tế.
Người dân Trung Quốc và Việt Nam đều đã được các lãnh tụ cộng sản “cưới vợ giúp” từ hơn 70 năm nay, không khác gì anh chăn cừu trong Bách Dụ Kinh. Cô vợ hiện không biết mặt mũi ra sao đó, gọi là Chủ nghĩa Xã hội! Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp, dự thảo cương lĩnh cho Ðại hội XI của đảng vào sang năm, cho biết “Khát vọng của nhân dân ta vẫn là Tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Như vậy Ðảng muốn chú chăn cừu vẫn phải tiếp tục tỏ ra mừng rỡ, vì được báo tin vợ con chú vẫn chưa chết!
Nhưng thử nhìn vào thực tế thì thấy, còn đảng Cộng Sản là còn bảo vệ kinh tế quốc doanh, là còn bóc lột toàn dân để nuôi mãi một đám người ăn bám. Chủ trương bảo thủ của đảng Cộng Sản chỉ có nghĩa là chủ trương tiếp tục bóc lột dân để nuôi dưỡng đảng.
Khoảng gần 100 tập đoàn công ty doanh nghiệp nhà nước này mỗi năm sử dụng hơn 50% tổng số vốn đầu tư, vì được các ngân hàng thương mại của nhà nước ưu đãi; nhưng họ chỉ sản xuất ra khoảng 30% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Cứ kéo dài các đơn vị quốc doanh này tức là bắt cả nước đóng góp tiền nuôi các đảng viên cộng sản, không biết đến bao giờ mới hết nợ!
Khi nào ý thức được điều này, chú chăn cừu sẽ thức tỉnh và đặt câu hỏi: Bà vợ xã hội chủ nghĩa đâu? Mặt mũi nó thế nào? Khi đó, chú chăn cừu sẽ đứng dậy. Triệu con người không thể sống bằng ảo tưởng mãi mãi!

Cho Thuê Dài Hạn Chứ Có Bán Đâu Mà Sợ Mất Nước !
Trần Việt Trình Hiện tình đất nước
Thời gian gần đây, một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước là việc một số địa phương cho nước ngoài thuê đất dài hạn. Dư luận đặc biệt quan tâm đến việc 10 tỉnh cho các công ty của Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê hơn ba trăm ngàn hecta rừng đầu nguồn để trồng rừng. Đó là các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Kon Tum, Khánh Hòa, Quảng Nam và Bình Dương.
Từ đầu tháng 2, dư luận bắt đầu xôn xao khi 2 ông tướng VC gióng lên tiếng chuông báo động. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết thư kiến nghị lên Trung ương Đảng cảnh báo mạnh mẽ việc một số tỉnh cho doanh nghiệp nước ngoài thuê dài hạn một diện tích lớn đất rừng đầu nguồn để trồng rừng nguyên liệu. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị và cũng nguyên là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có thư gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thường vụ Quốc hội cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tiếp nối tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, ngày 27 tháng 02 Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh viết thư phản đối gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông cho biết “… trên địa bàn 10 tỉnh, miền Bắc có, miền Trung – Tây Nguyên có, miền Nam có, có cả những địa bàn hiểm yếu về quốc phòng, an ninh, kinh tế, 10 tỉnh đã cho trên 10 doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê dài hạn (50 năm) đất rừng có cả rừng đầu nguồn để họ kinh doanh rừng, với diện tích trên 305.000 hecta = 3050 cây số vuông tương đương diện tích đất một tỉnh như Hà Nam”.
Theo một nguồn tin từ trong nước thì trong số các dự án mà doanh nghiệp nước ngoài đã ký với 10 tỉnh, Công ty Innov Green chiếm đa số. Báo cáo của công ty này cho biết các tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho công ty như sau: Quảng Ninh 100.000ha, Nghệ An 70.000ha, Kon Tum 65.000ha, Lạng Sơn 36.000ha, Quảng Nam 30.000ha và Thanh Hóa 21.000ha. Tổng cộng là 349.000ha.
Một việc làm động trời như vậy mà các ông Chánh văn phòng UBND và Giám đốc sở kế hoạch đầu tư Lạng Sơn dám cao giọng cho là “Không có gì đáng lo ngại! Đã thẩm định kỹ càng! Đã cân nhắc lợi hại! Không vi phạm gì chủ trương chính sách chung”. Một vị lãnh đạo cao nhất của một thành phố trực thuộc Trung ương khi bị dân thắc mắc về việc thành phố cho nước ngoài thuê 50 năm quá nhiều đất ven biển, ông ta không ngại ngùng chống chế “Chúng ta chẳng phải làm gì cả mà lại có tiền thu được từ việc cho thuê đất và từ các dịch vụ kinh doanh của họ thì sướng quá chứ còn kêu ca, thắc mắc cái gì?”. Ông ta còn dám ngang nhiên tuyên bố “Thành phố chỉ cho thuê có 50 năm chứ có bán đâu mà sợ mất Nước!”. Trời đất! Nói vậy mà nói được!? Bán rừng bán đất cho người nước ngoài một cách trắng trợn như vậy, lại còn ngang nhiên như không có chuyện gì đáng quan tâm. Huống hồ các vị ấy lại là những người thay mặt dân, đại diện cho dân và đang ngồi trên đầu dân.
Cho thuê dài hạn là không thể được! 50 năm là quá lâu! Cho thuê dài hạn ai mà kiểm soát được! Họ không kiểm soát nổi mà có khi cũng chẳng buồn kiểm soát! Việc cho nước ngoài thuê đất rừng, nhất là rừng đầu nguồn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ và hiểm họa. Vậy nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ. Đất đâu phải đất của họ, rừng cũng đâu phải rừng của họ nên người nước ngoài có thể chặt phá, khai thác bừa bãi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nước VN chiều dài rất dài và chiều ngang rất hẹp. Núi và biển rất gần nhau. Độ dốc lớn. Cho nên khi có thiên tai lũ lụt thì hậu quả thật nguy hại.
Việc cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, thuê đất ven biển mang lại lợi nhuận khổng lồ (cho các tỉnh, thành phố và cho túi tiền riêng của các “quan”) cho nên các địa phương đã coi nhẹ vấn đề an ninh quốc gia.
Ý đồ nào khác?
Có thật là trồng rừng hay còn có ý đồ gì khác nữa? Đất rừng của VN được xem là rất giàu các loại quặng thiên nhiên mà nước ngoài luôn thèm muốn. Theo các tài liệu địa chất từ xưa, theo những nhà địa chất uy tín của người Pháp làm việc ở Đông Dương lúc trước cho tới các nhà địa chất VN sau này, tất cả đều khẳng định những tỉnh biên giới của Kom Tum, Việt Bắc và Tây Bắc của Sơn La Điện Biên là những vùng có rất nhiều loại khoáng sản thuộc kim loại màu cũng như vàng bạc. Thậm chí có cả phóng xạ nữa.
Theo ông Vũ Ngọc Tiến, một nhà địa chất của CSVN thì “Huyện Trảng Định và huyện Văn Lạng ở Lạng Sơn là hai huyện có rất nhiều những giải quặng bauxite, thế mà cho thuê rừng đầu nguồn thuộc 14 xã của huyện Tràng Đình, chắc chắn có cả bauxite trong đó. Đi sâu vào những vùng khác như Lào Cai thì có mỏ Nậm Sa, Hà Giang thì có mỏ sắt Đồng Bá đặc biệt Sơn La thì có nhiều mỏ phóng xạ và cả Uranium nữa”.
Cũng theo ông Vũ Ngọc Tiến, ở các vùng rừng núi già như Việt Bắc hay Tây Bắc thì cách tạo quặng có nhiều loại mỏ thuộc dạng biến chất trên mặt đất rất cạn cho nên họ chỉ cần dùng máy ủi đất với danh nghĩa là trồng rừng thì họ có thể đào bới lên được.
Từ trước tới nay những khu vực có mỏ kim loại quý được xem là tuyệt mật và nhà nước chưa cho phép bất cứ cơ quan nào được phép khai thác hay bán cho nước ngoài nhưng từ ngày đổi mới trung ương thả lỏng cho địa phương nên địa phương tự tung tự tác, thuê các chuyên gia địa chất vẽ lại bản đồ rồi họ dấm dúi ăn chia với nhau. Họ tổ chức khai thác rồi cho nước ngoài thuê thì đố ai mà biết được!?
Đối với VN, một nước vốn chật hẹp và người đông, việc cho thuê hơn 300 ngàn hecta đất rừng trong 50 năm là một sự điên rồ, không thể chấp nhận được. VN vốn đã có mật độ dân số rất cao, cao hơn nhiều so với cả Trung Quốc (TQ). Theo thống kê trong nước thì với mức sinh đẻ như hiện nay, cứ mỗi một năm VN sinh sôi nảy nở thêm gần 2 triệu dân, tương đương với dân số của cả tỉnh Thái Bình. Điều đó nói lên VN thiếu đất trầm trọng.
Vốn đang bị đe dọa nghiêm trọng từ việc TQ ngăn sông xây đập ở thượng nguồn nhằm khống chế các nước ở vùng hạ lưu mà trong đó VN bị ảnh hưởng nhiều nhất, nay lại cho thuê và dâng đất thuộc vị trí chiến lược và lâu dài như vậy thì thật là điên rồ và là một hành động tự sát.
Đó là chưa kể đến những yếu tố khác như tàn phá môi trường, lợi dụng quyền sử dụng để khai thác ăn cắp tài nguyên nằm sâu dưới lòng đất, đồng hoá chủng tộc (sau 50 năm sẽ có ít nhất 3 thế hệ bám rễ sinh sống ở VN), ... Trong bối cảnh hiện nay, công nhân TQ gây rối, uy hiếp an ninh xã hội khắp nơi, đặc biệt là những hành động ngang ngược của hải quân TQ như bắn giết, đánh đập cầm tù ngư dân VN ngay trên biển thuộc chủ quyền của ta thì chuyện cắt xén đất cho thuê là việc làm vô trách nhiệm đối với tương lai của dân tộc, là mối đe dọa đến độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN.
Quả thật, lãnh thổ và từng thước đất biên giới mà chúng ta đã đổ bao nhiêu xương máu để gìn giữ thực sự không hề được các “ông” xem là cần phải gìn giữ!
Mối đe dọa về an ninh quốc phòng
Việc các “quan” ngang nhiên cho TQ thuê những khu vực nhạy cảm, những khu vực rừng núi có vị trí chiến lược, dọc các tỉnh biên giới phía Bắc cũng như cửa ngõ từ Nghệ An sang Lào thật đáng lo ngại! Rừng thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc và rừng Thanh Hóa, Nghệ An là những khu rừng hiểm yếu nhất mà kẻ thù từ lâu vẫn hăm he ngắm nghé. Điều ngạc nhiên và đáng quan tâm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng. Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Ở Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Ở Quảng Nam, họ thuê những nơi có đường thuận tiện lên Tây Nguyên và qua Campuchia. Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của VN.
Đó là hiện tình về đất, còn nước thì sao? Trong cuộc tranh chấp biển Đông hiện nay, có ai biết được phần lãnh hải nào của VN đang được lặng lẽ cho thuê không? Chúng ta chưa có chứng cớ nhà nước CSVN cho thuê đảo và lãnh hải nhưng chúng ta ai cũng biết rằng nhiều bờ biển đẹp và thơ mộng đang được cho thuê dài hạn. Hiện nay, vô số đất ven biển Đà Nẵng cũng đã cho nước ngoài (có cả TQ và Đài loan) thuê 50 năm.
Rừng đã bị bán rồi, đất ven biển cũng bị bán luôn thì cả nước rõ ràng như có hai gọng kìm xiết chặt. Nếu rồi đây giặc trên rừng nổi dậy đánh xuống, giặc ven biển nổi dậy đánh lên và những hạm đội ngoài biển đánh vào thì dân ta còn đường nào mà rút chạy? CSVN dù có huênh hoang với tài du kích chiến của mình tới đó cũng không còn đâu căn cứ địa để mà thi thố!
Do vậy, nói gì thì nói, các quan chức CSVN có ngây ngô, có tầm nhìn hạn hẹp hay tham lam ngu xuẩn thì mối nguy cho độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, uy hiếp đến an ninh của VN là có thật và càng ngày càng hiện ra rõ rệt. Chỉ có những kẻ không bao giờ đọc một trang sử, những kẻ mưu lợi cho riêng mình, đặt quyền lợi cá nhân và gia đình trên tổ quốc, dân tộc và đất nước mới làm công việc ngu xuẩn và đưa dân tộc tới chỗ chết này.
Phản ứng của nhà cầm quyền
Trước những phản đối liên tục của người dân trong nước, nhà cầm quyền CSVN buộc lòng phải tuyên bố tạm dừng việc cho nước ngoài thuê rừng, không cấp giấy chứng nhận mới, không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong lãnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Ngày 9 tháng 3, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, ban hành công văn 405/TTg-KTN, truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, chỉ thị cho các bộ các ngành liên hệ lập đoàn công tác để kiểm tra, đánh giá việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Quốc hội cũng đã đề cử Ủy ban Quốc phòng An ninh đi giám sát các tỉnh biên giới bị lấy cho TQ thuê rừng và chỉ định ông Lê Quang Bình làm Chủ nhiệm cầm đầu Ủy ban.
Có tin được không?
Tuy nhiên dư luận trong và ngoài nước vẫn không khỏi nghi ngờ vì Hà Nội cũng từng bị phản đối về vụ cho các công ty Trung cộng khai thác bauxite ở Tây nguyên nhưng vẫn tiếp tục tiến hành vì sợ làm mất lòng quan thày ở Bắc Kinh. Nhiều người cho rằng đây chỉ là hành động câu giờ của các lãnh tụ Hà Nội để tìm cách hoãn binh và cũng để xoa dịu sự bất mãn của người dân trong nước. Luận điệu và miệng lưỡi của Cộng Sản thì ai cũng thừa biết rồi, lịch sử mấy mươi năm nay đã chứng minh rõ ràng điều này. Chỉ còn chờ nhìn vào việc họ làm. Hãy chờ xem ...
Trần Việt Trình
Tiếp tục thần phục Trung Cộng
Ngô Nhân Dụng Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”
Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!
Ngô Nhân Dụng Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”
Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!
Thùng thuốc súng Á Châu
Nguyễn Ðạt Thịnh Thùng thuốc súng Á Châu đầy ứ, với hàng chục ngòi nổ trong thế sẵn sàng, khiến chiến tranh có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, không cần một lời tuyên chiến.
Giáo sư Zhu Feng, trường đại học Bắc Kinh, nói, “Các nước Á Châu đang chi tiêu nhiều khoản tiền khổng lồ để mua sắm vũ khí vì lo ngại trước súc lớn mạnh của Trung Quốc. Niềm lo ngại thái quá của họ không những không cần thiết mà còn tốn kém, vì họ đang chi tiêu về quốc phòng quá nhiều, nhiều hơn cả Trung Quốc.”
Câu nói này đúng một phần: nếu tính tổng cộng số tiền Việt Nam, Ðài Loan, Nam Hàn, Nhật, Ấn, Úc, Mã Lai, … đang chi tiêu để tăng cường quốc phòng, thì con số này nhiều hơn ngân sách quân sự của Trung Cộng.
Tôi dùng 4 chữ “ngân sách quân sự” vì những chữ “ngân sách quốc phòng”, mặc dù thông dụng, nhưng lại tạo ra ý niệm lầm lẫn là ngân sách 70 tỉ mỹ kim của Trung Cộng năm 2009 là để phòng thủ quốc gia, trong lúc sức mạnh quân sự của Trung Cộng đang thực sự đe dọa nền hòa bình Á Châu và thế giới.
Mặc dù các quốc gia Á Châu, trong đó có Việt Nam nghèo và đói, phải chi tiêu quá đáng vào việc mua sắm vũ khí, Trung Cộng vẫn có thể nuốt từng nước, nếu Ðông Á và Ðông Nam Á không tìm được một phương thức liên kết quân sự. Họ có nhu cầu liên kết để bài toán cộng khả năng tự vệ của họ trở thành một sự thật, như giáo sự Zhu Feng cộng số tiền nhiều chục tỉ họ đang đổ ra để mua sắm khu trục cơ, tiềm thủy đĩnh, và hệ thống hoả tiễn phòng không.
Phần sai trong câu nói của ông giáo sư Bắc Kinh là 4 chữ “lo ngại thái quá”. Chỉ cần nhìn cảnh ngư dân Việt Nam đang mất nghiệp trên Biển Ðông, và nhìn những hãng dầu ngoại quốc cúp đuôi rút khỏi những vùng biển Việt Nam mà họ đã ký khế ước với nhà nước Việt Cộng, đã đưa chuyên viên, và đã bỏ vốn ra để sẵn sàng khui giếng dầu, cũng đủ thấy là con số 4 tỉ rưỡi mỹ kim Việt Cộng bỏ ra mua tầu ngầm kilo, chiến hạm Gepart 3.9 và khu trục cơ Sukhoi 30 là cần thiết.
Toàn bộ số vũ khí mới này đều mua của Nga; nga còn cam kết giúp Việt Cộng xây dựng cơ sở quân sự cần thiết cho những lực lượng hải quân, không quân mới.
Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov hiện đang ở Hà Nội trong chuyến thăm chính thức nhằm tăng cường quan hệ song phương và thúc đẩy các hợp đồng mua vũ khí mới.
Việt Nam nay đã trở thành một trong các nước mua vũ khí nhiều nhất của Nga. Trị giá các hợp đồng quân sự giữa hai bên trong năm 2008 là vào khoảng hơn 1 tỷ đôla, năm 2009 là trên 4,5 tỷ, và trị giá hợp đồng ký đầu năm nay là gần 1 tỷ đôla.
Trong các hợp đồng ký năm 2009, Việt Cộng đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo Project 636 trị giá 4 tỷ đôla, 8 chiến đấu cơ Su-30MK2 Flanker-C trị giá 400 triệu đôla, tháng Hai 2010, họ cũng đặt mua thêm 12 chiếc Su-30MK2.
Tác giả Stephen Blank của Jamestown Foundation nhận định việc Việt Nam trở thành khách hàng lớn nhất của Nga trong lĩnh vực mua bán vũ khí đã làm nhiều người ngạc nhiên.
Bài báo nhận: định đối với Hà Nội, việc mua vũ khí không chỉ đơn giản để tăng số máy bay và tàu ngầm, mà còn đi kèm với việc xây dựng quân cảng, cơ sở bảo trì, hệ thống liên lạc và huấn luyện quân nhân...
Đây là một phần trong kế hoạch phát triển khả năng quốc phòng của Việt Nam, nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm cho thấy Hà Nội đang muốn củng cố lại quan hệ với Moscow để đối trọng với Trung Quốc.
Việt Nam đang muốn Nga tham gia một loạt dự án quan trọng của nước này và đang thúc đẩy việc ký kết một Hiệp định Tự do Thương mại song phương.
Còn có tin Việt Nam đang đề xuất cho tập đoàn khổng lồ Gazprom của Nga cổ phần trong công ty Petrovietnam.
Hà Nội cũng thiết tha muốn Nga tăng đầu tư vào Việt Nam, nhất là tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở tỉnh Ninh Thuận.
Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn.
Stephen Blank viết là từ lâu nay Nga đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này.
Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga.
Phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực Ðông và Ðông Nam Á Châu trước sức mạnh của Trung Cộng, việc cung cấp vũ khí cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn trở lại vị trí siêu cường quốc tế.
Nga cũng đang muốn tìm khách hàng thay thế cho Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì Bắc Kinh không còn là khách hàng xộp nữa: họ chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất, và bắt chước kỹ thuật để tự chế tạo những vũ khí còn phải mua của Nga.
Năm 2010 Nga giao hàng bốn chiếc chiến đấu cơ Sukhoi - 30MK2 cho Việt Nam, và bốn chiếc nữa vào năm sau. Đông Nam Á là thị trường tiềm năng của các loại chiến đấu cơ Sukhoi, mà các nước này đánh giá là hiện đại, dễ vận hành và lại rẻ hơn so với sản phẩm Âu Mỹ cùng loại. Malaysia đã mua 18 chiếc Su-30 của Nga và đang cân nhắc mua thêm chừng ấy chiến đấu cơ nữa trong tương lai. Singapore và Ấn Độ cũng bày tỏ quan tâm, Ấn Độ có thể mua tới 50 chiếc.
Trung Cộng và những học giả người Hoa nỗ lực thuyết phục thế giới tin rằng họ không có ý đồ lấn chiếm bằng võ lực. Ông Dean Cheng, thuộc Heritage Foundation, nói, “Quân đội của các nước Á châu đang phát triển vì nhiều lý do, trước nhất vì các nước này giàu có hơn xưa nhiều. Phú quý sinh ra trách nhiệm.
Họ nói họ e ngại mưu đồ của Trung Quốc? Hiện chưa ai rõ mưu đồ đó như thế nào, nhưng Trung quốc được ví như một con đười ươi nặng 800 cân, do đó, dù nó có đứng, có chạy lung tung hay thậm chí chỉ gãi lưng đi chăng nữa, thì nó cũng làm cho thế giới quan tâm".
Con đười ươi Trung Cộng không gãi lưng trên Biển Ðông, nó đang khống chế vùng biển này, tạo thiệt thòi và lo ngại cho nhiều nước, nhất là cho Việt Nam. Mua sắm vũ khí là thái độ Việt Cộng chuẩn bị chấp nhận chiến tranh, và từ chối (bằng bạch thư) không tham gia một liên minh phòng thủ Ðông Nam Á, là việc Việt Cộng khuyến khích Trung Cộng lấn ép Việt Nam.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Thùng thuốc súng Á Châu đầy ứ, với hàng chục ngòi nổ trong thế sẵn sàng, khiến chiến tranh có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, không cần một lời tuyên chiến.
Giáo sư Zhu Feng, trường đại học Bắc Kinh, nói, “Các nước Á Châu đang chi tiêu nhiều khoản tiền khổng lồ để mua sắm vũ khí vì lo ngại trước súc lớn mạnh của Trung Quốc. Niềm lo ngại thái quá của họ không những không cần thiết mà còn tốn kém, vì họ đang chi tiêu về quốc phòng quá nhiều, nhiều hơn cả Trung Quốc.”
Câu nói này đúng một phần: nếu tính tổng cộng số tiền Việt Nam, Ðài Loan, Nam Hàn, Nhật, Ấn, Úc, Mã Lai, … đang chi tiêu để tăng cường quốc phòng, thì con số này nhiều hơn ngân sách quân sự của Trung Cộng.
Tôi dùng 4 chữ “ngân sách quân sự” vì những chữ “ngân sách quốc phòng”, mặc dù thông dụng, nhưng lại tạo ra ý niệm lầm lẫn là ngân sách 70 tỉ mỹ kim của Trung Cộng năm 2009 là để phòng thủ quốc gia, trong lúc sức mạnh quân sự của Trung Cộng đang thực sự đe dọa nền hòa bình Á Châu và thế giới.
Mặc dù các quốc gia Á Châu, trong đó có Việt Nam nghèo và đói, phải chi tiêu quá đáng vào việc mua sắm vũ khí, Trung Cộng vẫn có thể nuốt từng nước, nếu Ðông Á và Ðông Nam Á không tìm được một phương thức liên kết quân sự. Họ có nhu cầu liên kết để bài toán cộng khả năng tự vệ của họ trở thành một sự thật, như giáo sự Zhu Feng cộng số tiền nhiều chục tỉ họ đang đổ ra để mua sắm khu trục cơ, tiềm thủy đĩnh, và hệ thống hoả tiễn phòng không.
Phần sai trong câu nói của ông giáo sư Bắc Kinh là 4 chữ “lo ngại thái quá”. Chỉ cần nhìn cảnh ngư dân Việt Nam đang mất nghiệp trên Biển Ðông, và nhìn những hãng dầu ngoại quốc cúp đuôi rút khỏi những vùng biển Việt Nam mà họ đã ký khế ước với nhà nước Việt Cộng, đã đưa chuyên viên, và đã bỏ vốn ra để sẵn sàng khui giếng dầu, cũng đủ thấy là con số 4 tỉ rưỡi mỹ kim Việt Cộng bỏ ra mua tầu ngầm kilo, chiến hạm Gepart 3.9 và khu trục cơ Sukhoi 30 là cần thiết.
Toàn bộ số vũ khí mới này đều mua của Nga; nga còn cam kết giúp Việt Cộng xây dựng cơ sở quân sự cần thiết cho những lực lượng hải quân, không quân mới.
Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov hiện đang ở Hà Nội trong chuyến thăm chính thức nhằm tăng cường quan hệ song phương và thúc đẩy các hợp đồng mua vũ khí mới.
Việt Nam nay đã trở thành một trong các nước mua vũ khí nhiều nhất của Nga. Trị giá các hợp đồng quân sự giữa hai bên trong năm 2008 là vào khoảng hơn 1 tỷ đôla, năm 2009 là trên 4,5 tỷ, và trị giá hợp đồng ký đầu năm nay là gần 1 tỷ đôla.
Trong các hợp đồng ký năm 2009, Việt Cộng đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo Project 636 trị giá 4 tỷ đôla, 8 chiến đấu cơ Su-30MK2 Flanker-C trị giá 400 triệu đôla, tháng Hai 2010, họ cũng đặt mua thêm 12 chiếc Su-30MK2.
Tác giả Stephen Blank của Jamestown Foundation nhận định việc Việt Nam trở thành khách hàng lớn nhất của Nga trong lĩnh vực mua bán vũ khí đã làm nhiều người ngạc nhiên.
Bài báo nhận: định đối với Hà Nội, việc mua vũ khí không chỉ đơn giản để tăng số máy bay và tàu ngầm, mà còn đi kèm với việc xây dựng quân cảng, cơ sở bảo trì, hệ thống liên lạc và huấn luyện quân nhân...
Đây là một phần trong kế hoạch phát triển khả năng quốc phòng của Việt Nam, nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm cho thấy Hà Nội đang muốn củng cố lại quan hệ với Moscow để đối trọng với Trung Quốc.
Việt Nam đang muốn Nga tham gia một loạt dự án quan trọng của nước này và đang thúc đẩy việc ký kết một Hiệp định Tự do Thương mại song phương.
Còn có tin Việt Nam đang đề xuất cho tập đoàn khổng lồ Gazprom của Nga cổ phần trong công ty Petrovietnam.
Hà Nội cũng thiết tha muốn Nga tăng đầu tư vào Việt Nam, nhất là tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở tỉnh Ninh Thuận.
Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn.
Stephen Blank viết là từ lâu nay Nga đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này.
Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga.
Phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực Ðông và Ðông Nam Á Châu trước sức mạnh của Trung Cộng, việc cung cấp vũ khí cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn trở lại vị trí siêu cường quốc tế.
Nga cũng đang muốn tìm khách hàng thay thế cho Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì Bắc Kinh không còn là khách hàng xộp nữa: họ chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất, và bắt chước kỹ thuật để tự chế tạo những vũ khí còn phải mua của Nga.
Năm 2010 Nga giao hàng bốn chiếc chiến đấu cơ Sukhoi - 30MK2 cho Việt Nam, và bốn chiếc nữa vào năm sau. Đông Nam Á là thị trường tiềm năng của các loại chiến đấu cơ Sukhoi, mà các nước này đánh giá là hiện đại, dễ vận hành và lại rẻ hơn so với sản phẩm Âu Mỹ cùng loại. Malaysia đã mua 18 chiếc Su-30 của Nga và đang cân nhắc mua thêm chừng ấy chiến đấu cơ nữa trong tương lai. Singapore và Ấn Độ cũng bày tỏ quan tâm, Ấn Độ có thể mua tới 50 chiếc.
Trung Cộng và những học giả người Hoa nỗ lực thuyết phục thế giới tin rằng họ không có ý đồ lấn chiếm bằng võ lực. Ông Dean Cheng, thuộc Heritage Foundation, nói, “Quân đội của các nước Á châu đang phát triển vì nhiều lý do, trước nhất vì các nước này giàu có hơn xưa nhiều. Phú quý sinh ra trách nhiệm.
Họ nói họ e ngại mưu đồ của Trung Quốc? Hiện chưa ai rõ mưu đồ đó như thế nào, nhưng Trung quốc được ví như một con đười ươi nặng 800 cân, do đó, dù nó có đứng, có chạy lung tung hay thậm chí chỉ gãi lưng đi chăng nữa, thì nó cũng làm cho thế giới quan tâm".
Con đười ươi Trung Cộng không gãi lưng trên Biển Ðông, nó đang khống chế vùng biển này, tạo thiệt thòi và lo ngại cho nhiều nước, nhất là cho Việt Nam. Mua sắm vũ khí là thái độ Việt Cộng chuẩn bị chấp nhận chiến tranh, và từ chối (bằng bạch thư) không tham gia một liên minh phòng thủ Ðông Nam Á, là việc Việt Cộng khuyến khích Trung Cộng lấn ép Việt Nam.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Tiếp tục thần phục Trung Cộng
Ngô Nhân Dụng Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”
Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!
Ngô Nhân Dụng Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”
Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!
DIỄN VĂN KHAI MẠC PHIÊN HỌP TỐI CAO
CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐĨNH AN NINH NGUYÊN TỬ
Tại Washington Convention Center, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Tổng Thống Obma : Xin chào buổi sáng, tất cả quý vị. Tôi xin bắt đầu. Cho phép tôi cám ơn tất cả quý vị đã tham dự tối hôm qua. Tôi nghĩ đó đã là cuộc thảo luận rất quan trọng.
Trước khi tôi bắt đầu, tôi xin nhân giây phút nầy một lần nữa nói tới thảm kịch khủng khiếp đã tấn công vào nhân dân Ba-Lan vào cuối tuần rồi. Chúng ta họp nhau hôm nay có một phái đoàn đặc biệt từ Ba-Lan, hướng dẫn bởi ngài Đại Sứ Kupiecki. Thưa ngài Dại Sứ, tất cả chúng tôi đều sửng sốt và buồn thương tận cùng bởi sự mất mát lớn lao của ngài Tổng Thống Kaczynski, cùng Đệ I Phu Nhân, và nhiều nhà lãnh đạo dân sự cũng như quân sự đặc biệt của quý Quốc. Sự mất mát đó không chỉ là của riêng Ba-Lan, mà của toàn Thế Giới.
Với tư cách là bạn thân và là đồng minh, Hoa Kỳ luôn đứng bên cạnh đất nước Ba-Lan và nhân dân Ba-Lan bất cứ nơi đâu trong những ngày vô cùng khó khăn nầy. Là một cộng đồng quốc tế, tôi hiểu rằng chúng ta cùng tập hợp quanh nhân dân Ba-Lan là dân tộc chứng tỏ sức mạnh phi thường và đức tính kiên cường trong suốt lịch sử của họ. Vì vậy tất cả con tim chúng tôi xin hướng về nhân dân quý Quốc. Mọi suy tưởng và lời cầu nguyện của chúng tôi xin đến với họ. Chúng ta cùng với họ trong thời gian đau buồn nầy. Và nếu quý vị cùng đồng ý, tôi xin quý vị dành giây lát im lặng để tỏ ra tình đoàn kết và vinh danh những người đã mất.
(Nghỉ giây phút in lặng mặc niệm).
Xin cám ơn. Tôi xin đặc biệt chào mừng quý vị đến Hoa Thịnh Đốn và chính thức tham dự Hội Nghị Thượng Đĩnh lịch sử nầy. Chúng ta đại diện cho 47 Quốc Gia từ mọi miền Thế Giới, và tôi xin cám ơn mỗi quý vị hiện diện nơi đây. Đây quả là một cuộc tập hợp chưa từng thấy để cảnh báo một sự đe dọa đặc biệt.
Hai thập niên sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh, chúng ta đối diện với sự tàn ác ghê gớm của lịch sử -- đó là sự rủi ro của nạn đối đầu nguyên tử giữa các Quốc Gia nay đã qua rồi, nhưng sự rủi ro của nạn tấn công nguyên tử hiện đang nổi lên.
Các nguyên liệu nguyên tử có thể được buôn bán và trộm cắp và được dùng vào số lượng vũ khí nguyên tử hiện tồn tại ở hằng chục Quốc Gia. Chỉ một số lượng nhỏ chất Plutonium - khoảng kích cỡ của một trái táo - có thể giết và làm bị thương hằng trăm nghìn người dân vô tội. Các mạng lưới khủng bố như al Qaeda đang cố gắng tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất vũ khí nguyên tử, và nếu họ thành công, họ chắc chắn sẽ dùng nguyên tử. Nếu như họ làm thế, đó sẽ là tai họa khôn lường cho cả Thế Giới -- làm cho vô số sinh mạng sẽ mất, và tấn công tàn phá hòa bình và ổn định toàn cầu.
Nói tóm lại, xin nhấn mạnh rõ ràng rằng sự nguy hiểm của khủng bố nguyên tử là một trong những đe dọa lớn nhất cho an ninh toàn cầu -- theo như các tin tức an ninh chúng tôi thu nhận được.
Và đó là tại sao, đã một năm trước đây cho đến hôm nay -- một năm trước đây tại Prague, tôi đã kêu gọi một nổ lực quốc tế mới nhằm bảo đảm an toàn tất cả nguyên liệu nguyên tử có thể bị chiếm đoạt trên khắp thế giới trong 4 năm. Đây là một phần của kế hoạch rộng lớn, toàn diện mà Hoa Kỳ đang theo đuổi -- kể cả giảm bớt kho vũ khí nguyên tử của chúng tôi và chấm dứt việc phát tán vũ khí nguyên tử -- một chương trình sẽ đưa chúng ta gần lại với nhau vì mục đích chung là một Thế Giới không vũ khí nguyên tử.
Hơn một năm qua, chúng tôi đã tạo được sự tiến bộ. Tại cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Liên Liệp Quốc khóa mùa thu vừa qua, chúng tôi đồng lòng thông qua Nghị Quyết 1887 chấp thuận chương trình toàn diện nầy, kể cả mục tiêu bảo đản an ninh tất cả nguyên liệu nguyên tử. Đêm qua, kết thúc phiên họp, tôi tin là chúng ta đã tạo thêm được sự tiến bộ nữa, đó là theo đuổi việc chia sẻ cho nhau cùng hiểu biết về sự chết chóc khủng khiếp đang đe dọa nhân dân của chúng ta.
Và hôm nay, tôi có được cơ hội để tiến lên những bước kế tiếp.
Chúng ta có được cơ hội, từng mỗi Quốc Gia một, nên hành động vững chắc và cụ thể nhằm bảo đản an toàn cho các nguyên liệu nguyên tử trong các quốc gia của chúng ta và ngăn ngừa nạn buôn bán bất hợp pháp và buôn lậu nguyên tử. Đó là vấn đề chúng ta nhắm tới trong buổi sáng nay.
Chúng ta có cơ hội tạo sức mạnh cho Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế, gọi là IAEA, với nguồn tài nguyên và thẩm quyền mà cơ quan nầy cần để đạt được trách nhiệm của họ. Đây là điều chúng ta nhắm tới tại buổi ăn trưa làm việc hôm nay.
Chúng ta có cơ hội, là một cộng đồng quốc tế, phải hợp tác chặt chẽ và tạo sức mạnh cho các tổ chức và các hợp tác nhằm giúp ngăn chặn các nguyên liệu nguyên tử từ những nơi bị suy sụp để không rơi vào tay bọn khủng bố. Đó là điều chúng ta nhắm tới vào chiều hôm nay.
Và chúng ta có cơ hội, là những bên hợp tác, cam chắc rằng những tiến bộ không phải là một chốc lát lướt qua, mà là phần quan trọng và nổ lực phải được duy trì. Và đó là lý do tại sao tôi rất hài lòng để công bố rằng Tổng Thống Lee (Lee, Mung-pak) đã đồng ý tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử tại Cộng Hòa Hàn Quốc trong hai năm tới. Điều nầy cho thấy sự lãnh đạo của Nam Hàn, trong khu vực và toàn cầu, và tôi xin cám ơn Tổng Thống Lee và nhân dân Hàn Quốc về sự tự nguyện của họ chấp nhận trách nhiệm nầy.
Tôi xin mời Tổng Thống Lee nói một vài lời.
Tổng Thống Lee : Cám ơn đã mời chúng tôi, về việc Hàn Quốc đăng cai tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh sắp tới vào năm 2012.
Tôi xin cam kết với quý vị rằng tôi sẽ hành động tốt nhất để cho Hội Nghị Thượng Đĩnh thành công. Tôi hy vọng được chào đón tất cả quý vị tại Hàn Quốc. Xin cám ơn. (tiếng vỗ tay).

Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế COEX lớn nhất của Hàn Quốc giữa trung tâm Thủ Đô Seoul, sẽ là nơi họp Thương Đĩnh Khối G-20
vào tháng 11-2010 và chắc sẽ là nơi họp Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử năm 2012 do TT Lee, Myung-Pak bảo trợ (ảnh của COEX).
Tổng Thống Obama: Xin cám ơn rất nhiều.
Vậy hôm nay là một cơ hội - không chỉ đơn giản để nói, nhưng để hành động. Không chỉ đơn giảm để hứa, mà phải đạt được các tiến bộ thực sự cho an ninh của nhân dân chúng ta. Tất cả những vấn đề nầy, lần lượt, còn đòi hỏi những điều khác nữa, đó là những điều căn bản hơn. Đó là đòi hỏi sự nhất trí mới - rằng chúng ta bày tỏ quyết chí, là các Quốc Gia hay các bên hợp tác, thực hiện những gì của giây phút nầy theo đòi hỏi của lịch sử.
Tôi vững tin rằng các vấn đề rắc rối của Thế Kỷ 21 không thể một quốc gia nào đơn lẻ tự giải quyết được. Các nan đề đó phải được giải quyết bởi tất cả chúng ta cùng họp lại với nhau.
Trong buổi hừng đông của kỷ nguyên nguyên tử mà ông đã giúp tìm ra, Albert Einstein đã nói rằng: “Nay tất cả mọi thứ được thay đổi…”. Và ông cũng cảnh báo rằng: “Chúng ta đang trôi về đại thảm họa không gì so sánh được. Chúng ta cần đòi hỏi tính cách suy nghĩ mới thực sự nếu nhân loại cần tồn tại”.
Sự thực đó kéo dài cho đến hôm nay. Vì an ninh chung của tất cả chúng ta, vì sự tồn tại cuộc sống của chúng ta, chúng ta không thể bỏ mặc buông trôi. Chúng ta cần một cách suy nghĩ mới - và hành động. Đó là mọi thách thức đặt ra trước chúng ta. Và tôi xin cám ơn tất cả quý vị đã có mặt nơi đây để cùng nhau đương đầu sự thách thức bằng sự hợp tác.
Và nay, tôi đề nghị chúng ta dành khoảng thời gian cho báo chí ra ngoài trước khi chúng ta đi vào phiên họp đầu tiên.
(Diễn văn của TT Barack Obama kết thúc lúc 9:52AN - EDT)
CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐĨNH AN NINH NGUYÊN TỬ
Tại Washington Convention Center, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Tổng Thống Obma : Xin chào buổi sáng, tất cả quý vị. Tôi xin bắt đầu. Cho phép tôi cám ơn tất cả quý vị đã tham dự tối hôm qua. Tôi nghĩ đó đã là cuộc thảo luận rất quan trọng.
Trước khi tôi bắt đầu, tôi xin nhân giây phút nầy một lần nữa nói tới thảm kịch khủng khiếp đã tấn công vào nhân dân Ba-Lan vào cuối tuần rồi. Chúng ta họp nhau hôm nay có một phái đoàn đặc biệt từ Ba-Lan, hướng dẫn bởi ngài Đại Sứ Kupiecki. Thưa ngài Dại Sứ, tất cả chúng tôi đều sửng sốt và buồn thương tận cùng bởi sự mất mát lớn lao của ngài Tổng Thống Kaczynski, cùng Đệ I Phu Nhân, và nhiều nhà lãnh đạo dân sự cũng như quân sự đặc biệt của quý Quốc. Sự mất mát đó không chỉ là của riêng Ba-Lan, mà của toàn Thế Giới.
Với tư cách là bạn thân và là đồng minh, Hoa Kỳ luôn đứng bên cạnh đất nước Ba-Lan và nhân dân Ba-Lan bất cứ nơi đâu trong những ngày vô cùng khó khăn nầy. Là một cộng đồng quốc tế, tôi hiểu rằng chúng ta cùng tập hợp quanh nhân dân Ba-Lan là dân tộc chứng tỏ sức mạnh phi thường và đức tính kiên cường trong suốt lịch sử của họ. Vì vậy tất cả con tim chúng tôi xin hướng về nhân dân quý Quốc. Mọi suy tưởng và lời cầu nguyện của chúng tôi xin đến với họ. Chúng ta cùng với họ trong thời gian đau buồn nầy. Và nếu quý vị cùng đồng ý, tôi xin quý vị dành giây lát im lặng để tỏ ra tình đoàn kết và vinh danh những người đã mất.
(Nghỉ giây phút in lặng mặc niệm).
Xin cám ơn. Tôi xin đặc biệt chào mừng quý vị đến Hoa Thịnh Đốn và chính thức tham dự Hội Nghị Thượng Đĩnh lịch sử nầy. Chúng ta đại diện cho 47 Quốc Gia từ mọi miền Thế Giới, và tôi xin cám ơn mỗi quý vị hiện diện nơi đây. Đây quả là một cuộc tập hợp chưa từng thấy để cảnh báo một sự đe dọa đặc biệt.
Hai thập niên sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh, chúng ta đối diện với sự tàn ác ghê gớm của lịch sử -- đó là sự rủi ro của nạn đối đầu nguyên tử giữa các Quốc Gia nay đã qua rồi, nhưng sự rủi ro của nạn tấn công nguyên tử hiện đang nổi lên.
Các nguyên liệu nguyên tử có thể được buôn bán và trộm cắp và được dùng vào số lượng vũ khí nguyên tử hiện tồn tại ở hằng chục Quốc Gia. Chỉ một số lượng nhỏ chất Plutonium - khoảng kích cỡ của một trái táo - có thể giết và làm bị thương hằng trăm nghìn người dân vô tội. Các mạng lưới khủng bố như al Qaeda đang cố gắng tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất vũ khí nguyên tử, và nếu họ thành công, họ chắc chắn sẽ dùng nguyên tử. Nếu như họ làm thế, đó sẽ là tai họa khôn lường cho cả Thế Giới -- làm cho vô số sinh mạng sẽ mất, và tấn công tàn phá hòa bình và ổn định toàn cầu.
Nói tóm lại, xin nhấn mạnh rõ ràng rằng sự nguy hiểm của khủng bố nguyên tử là một trong những đe dọa lớn nhất cho an ninh toàn cầu -- theo như các tin tức an ninh chúng tôi thu nhận được.
Và đó là tại sao, đã một năm trước đây cho đến hôm nay -- một năm trước đây tại Prague, tôi đã kêu gọi một nổ lực quốc tế mới nhằm bảo đảm an toàn tất cả nguyên liệu nguyên tử có thể bị chiếm đoạt trên khắp thế giới trong 4 năm. Đây là một phần của kế hoạch rộng lớn, toàn diện mà Hoa Kỳ đang theo đuổi -- kể cả giảm bớt kho vũ khí nguyên tử của chúng tôi và chấm dứt việc phát tán vũ khí nguyên tử -- một chương trình sẽ đưa chúng ta gần lại với nhau vì mục đích chung là một Thế Giới không vũ khí nguyên tử.
Hơn một năm qua, chúng tôi đã tạo được sự tiến bộ. Tại cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Liên Liệp Quốc khóa mùa thu vừa qua, chúng tôi đồng lòng thông qua Nghị Quyết 1887 chấp thuận chương trình toàn diện nầy, kể cả mục tiêu bảo đản an ninh tất cả nguyên liệu nguyên tử. Đêm qua, kết thúc phiên họp, tôi tin là chúng ta đã tạo thêm được sự tiến bộ nữa, đó là theo đuổi việc chia sẻ cho nhau cùng hiểu biết về sự chết chóc khủng khiếp đang đe dọa nhân dân của chúng ta.
Và hôm nay, tôi có được cơ hội để tiến lên những bước kế tiếp.
Chúng ta có được cơ hội, từng mỗi Quốc Gia một, nên hành động vững chắc và cụ thể nhằm bảo đản an toàn cho các nguyên liệu nguyên tử trong các quốc gia của chúng ta và ngăn ngừa nạn buôn bán bất hợp pháp và buôn lậu nguyên tử. Đó là vấn đề chúng ta nhắm tới trong buổi sáng nay.
Chúng ta có cơ hội tạo sức mạnh cho Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế, gọi là IAEA, với nguồn tài nguyên và thẩm quyền mà cơ quan nầy cần để đạt được trách nhiệm của họ. Đây là điều chúng ta nhắm tới tại buổi ăn trưa làm việc hôm nay.
Chúng ta có cơ hội, là một cộng đồng quốc tế, phải hợp tác chặt chẽ và tạo sức mạnh cho các tổ chức và các hợp tác nhằm giúp ngăn chặn các nguyên liệu nguyên tử từ những nơi bị suy sụp để không rơi vào tay bọn khủng bố. Đó là điều chúng ta nhắm tới vào chiều hôm nay.
Và chúng ta có cơ hội, là những bên hợp tác, cam chắc rằng những tiến bộ không phải là một chốc lát lướt qua, mà là phần quan trọng và nổ lực phải được duy trì. Và đó là lý do tại sao tôi rất hài lòng để công bố rằng Tổng Thống Lee (Lee, Mung-pak) đã đồng ý tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử tại Cộng Hòa Hàn Quốc trong hai năm tới. Điều nầy cho thấy sự lãnh đạo của Nam Hàn, trong khu vực và toàn cầu, và tôi xin cám ơn Tổng Thống Lee và nhân dân Hàn Quốc về sự tự nguyện của họ chấp nhận trách nhiệm nầy.
Tôi xin mời Tổng Thống Lee nói một vài lời.
Tổng Thống Lee : Cám ơn đã mời chúng tôi, về việc Hàn Quốc đăng cai tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh sắp tới vào năm 2012.
Tôi xin cam kết với quý vị rằng tôi sẽ hành động tốt nhất để cho Hội Nghị Thượng Đĩnh thành công. Tôi hy vọng được chào đón tất cả quý vị tại Hàn Quốc. Xin cám ơn. (tiếng vỗ tay).

Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế COEX lớn nhất của Hàn Quốc giữa trung tâm Thủ Đô Seoul, sẽ là nơi họp Thương Đĩnh Khối G-20
vào tháng 11-2010 và chắc sẽ là nơi họp Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử năm 2012 do TT Lee, Myung-Pak bảo trợ (ảnh của COEX).
Tổng Thống Obama: Xin cám ơn rất nhiều.
Vậy hôm nay là một cơ hội - không chỉ đơn giản để nói, nhưng để hành động. Không chỉ đơn giảm để hứa, mà phải đạt được các tiến bộ thực sự cho an ninh của nhân dân chúng ta. Tất cả những vấn đề nầy, lần lượt, còn đòi hỏi những điều khác nữa, đó là những điều căn bản hơn. Đó là đòi hỏi sự nhất trí mới - rằng chúng ta bày tỏ quyết chí, là các Quốc Gia hay các bên hợp tác, thực hiện những gì của giây phút nầy theo đòi hỏi của lịch sử.
Tôi vững tin rằng các vấn đề rắc rối của Thế Kỷ 21 không thể một quốc gia nào đơn lẻ tự giải quyết được. Các nan đề đó phải được giải quyết bởi tất cả chúng ta cùng họp lại với nhau.
Trong buổi hừng đông của kỷ nguyên nguyên tử mà ông đã giúp tìm ra, Albert Einstein đã nói rằng: “Nay tất cả mọi thứ được thay đổi…”. Và ông cũng cảnh báo rằng: “Chúng ta đang trôi về đại thảm họa không gì so sánh được. Chúng ta cần đòi hỏi tính cách suy nghĩ mới thực sự nếu nhân loại cần tồn tại”.
Sự thực đó kéo dài cho đến hôm nay. Vì an ninh chung của tất cả chúng ta, vì sự tồn tại cuộc sống của chúng ta, chúng ta không thể bỏ mặc buông trôi. Chúng ta cần một cách suy nghĩ mới - và hành động. Đó là mọi thách thức đặt ra trước chúng ta. Và tôi xin cám ơn tất cả quý vị đã có mặt nơi đây để cùng nhau đương đầu sự thách thức bằng sự hợp tác.
Và nay, tôi đề nghị chúng ta dành khoảng thời gian cho báo chí ra ngoài trước khi chúng ta đi vào phiên họp đầu tiên.
(Diễn văn của TT Barack Obama kết thúc lúc 9:52AN - EDT)
Những vụ án không thể nằm im để bị dập tắt!
Bùi Tín.
Trước hết là vụ án vốn gọi là ‘mua bán dâm’ ở Hà Giang. Tòa án tỉnh trong cuộc xử phúc thẩm 1-2-2010 đã buộc phải xóa bỏ bản án sơ thẩm tháng 11-2009 xử 2 em học sinh Nguyễn Thúy Hằng(18 tuổi) 6 năm tù giam và em Nguyễn Thị Thanh Thúy(17 tuổi) 5 năm tù giam về tội danh ‘bán dâm’ (!), để mở lại cuộc điều tra từ đầu. Công lao của việc hủy vụ án oan này thuộc về gia đình 2 em nữ sinh, dư luận thị xã Hà Giang và đặc biệt là của luật sư Trần Đình Khiển từ Hà Nội lên tham dự phiên phúc thẩm.
Luật sư Khiển nêu lên nhiều yếu tố mới, chỉ ra phiên sơ thẩm không có luật sư bào chữa cho bị cáo, xử vội vã, sai luật, sự việc xảy ra khi các em đều là vị thành niên.
Đây là một vụ bê bối xấu xa bậc nhất của một các quan chức cộng sản đầu tỉnh, trong Tỉnh ủy, trong Ủy ban nhân dân tỉnh, trong sở Công an, sở Giáo dục, chủ Ngân hàng nhà nước, Hải quan tỉnh…cùng chung âm mưu dùng viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm ma cô đầu sỏ, biến 15 em nữ sinh trung học xinh đẹp nhất, chưa đến tuổi trưởng thành, thành một nhóm nô lệ tình dục rẻ tiền và không mất tiền cho bọn chúng, trong mấy năm liền.
Khi vụ này vỡ lở, nhóm lãnh đạo tỉnh, bí thư tỉnh ủy Hà Minh Nhất (là ủy viên TW đảng CS) liền ra lệnh xử án ngay, đổ hết tội cho viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương là kẻ ‘mua dâm’ (bị 10 năm tù giam), các em nữ sinh là tự nguyện bán dâm, kết án cả 3 người, coi như là xong, hết chuyện, bọn tội phạm đầu xỏ an toàn, vô sự.
Nay vụ án được hiện ra dần cái thực chất thật mà nhóm đương quyền ở trung ương cố bịt kín. Nhưng càng bịt, sự việc càng thêm bùng nổ trong dư luận, nhất là ở Hà Giang và trong giới luật sư tôn trọng luật pháp.
Cốt lõi vụ án là một nhóm quan chức chóp bu tỉnh sống phè phỡn trác táng, lên cơn dâm ô thác loạn, thèm khát các nữ sinh ngây thơ trinh trắng để thỏa mãn nhục dục và cầu may trong những vụ kiếm chác - tham nhũng tội lỗi.
Họ tận dụng tâm lý nhút nhát, thơ ngây của các em nữ sinh, nhất là tâm lý sợ điểm kém, thi trượt, bị gia đình rầy la, để mua chuộc và khống chế các em. Hai em Hằng và Thúy còn nhớ và ghi rõ số điện thoại của hơn 10 quan chức thường gọi cho các em, khai rõ rằng viên hiệu trưởng Sầm luôn dọa là không đến gặp các vị trên thì ‘sẽ bị hạnh kiểm đạo đức kém, khó mà lên lớp được’. Hắn dọa các em nếu để lộ sẽ bị đuổi học. Em Thúy kể có lần cán bộ đầu tỉnh đòi gặp em ngay lúc em sắp vào một buổi thi, em không chịu đi, viên hiệu trưởng vừa dọa vừa dử rằng: Phải đi, nếu chịu đi không thi cũng sẽ có điểm cao, không chịu đi thì có thi cũng sẽ bị điểm xấu! Và em đã hé ra rằng đó chính là ông quan to nhất, đầu tỉnh (là ngài chủ tịch Nguyễn Trường Tô). Ông này đang được ông bí thư tỉnh uỷ hết lòng che chở, vì sợ trách nhiệm, hoặc cũng có thể là thành viên của nhóm đầu sỏ tội phạm. Luật sư Triển cho biết, theo ông đây là một hành động cưỡng dâm, một tội rất nặng, đối với các em vị thành niên càng nặng, đối với quan chức cao vào tuổi bố, tuổi ông các em, có trách nhiệm bảo vệ giáo dục các em, thì tội tăng nặng đến bao nhiêu lần.
Tại sao hàng chục ngàn nhà báo trong nước vẫn dửng dưng trước vụ án nghiêm trọng về đạo lý học đường và xã hội này? Họ làm gì? Họ có động lòng trước một vụ án làm xúc động xã hội, họ có còn ý thức trách nhiệm về thông tin trung thực, bênh vực công lý, lẽ phải, đạo đức, lao vào cuộc điều tra, tìm hiểu tại chỗ để soi sáng công luận, như các đồng nghiệp ở nước khác luôn đua nhau lao vào hay không?
Ở các nước, nếu có một vụ như thế là báo chí sẽ đua nhau lao đi tìm hiểu, nô nức lên Hà Giang lấy tài liệu từ gia đình, phụ huynh, bạn học, láng giềng, thầy cô giáo, người dân, hội thanh niên, hội phụ nữ…có bao nhiêu chuyện để nói, để phanh phui, nhận định, và yêu cầu trung ương, Bộ Giáo dục, Toà án, Viện kiểm sát, Bộ Công an phải vào cuộc theo chức năng, phải làm sớm, làm ngay, không được trì hoãn, không thể cứ im lìm, buông trôi như hiện nay để vụ án chìm trong vô cảm. Báo chí không tạo nên công luận là báo chết!
Đâu phải chỉ có riêng một vụ án ở Hà Giang. Đất nước mà ngài tổng thanh tra Chính phủ than thở: sờ vào đâu cũng có tội phạm, còn ngài thủ tướng lại khoe: tôi chưa kỷ luật ai!
Thật trớ trêu, chỉ khổ cho dân đói khổ, oan ức, bất công kêu trời không thấu, chỉ khổ cho đất nước, ngân sách, tài nguyên bị cướp bóc chia chác công khai vô tội vạ giữa kẻ đương quyền với nhau. Rồi họ rửng mỡ, ăn chơi phá của, đến đổ đốn biến các nữ sinh ngây thơ thành nô lệ tình dục cho họ, mà vẫn cứ nhởn nhơ trâng tráo vì đinh ninh đã có ô dù, phe cánh từ trên cao.
Công luận xã hội yêu cầu một loạt vụ án mà nhân dân, dư luận trong nước và quốc tế quan tâm đặc biệt phải được xét xử công khai, đúng luật, đúng người, đúng tội ngay trước khi Đại hội XI khai mạc. Đó là các vụ hối lộ quan chức đương quyền VN của PCI – Pacific Consultant Institute (Nhật bản), vụ hối lộ của Securency(Úc) cho các quan chức VN, vụ hối lộ của công ty Nexus Technologies (Hoa kỳ) cũng cho các quan chức ở các Bộ Công Thương, Kế hoạch - Đầu tư, Quốc phòng, Công an ở Việt nam. Phía Nhật Bản, Úc, Mỹ đã khẩn trương điều tra và đã mở phiên tòa xét xử, đã sớm chuyển cho phía VN mọi tài liệu điều tra cần thiết, mà sao phía VN vẫn không nhúc nhích.
Trước hết là Vụ án Hà Giang ở trong nước. Luật sư Trần Đình Triển yêu cầu khẩn cấp chính phủ, quốc hội, viện kiểm sát, tòa án tối cao, bộ tư pháp phải ra lệnh ngay cho tỉnh Hà Giang trả tự do lập tức cho 2 em Hằng và Thúy, là kẻ bị oan, là nạn nhân thê thảm thật sự trong vụ án này, để các em về nhà chữa bệnh vì 2 em đang ốm yếu do sống cảnh tù đầy oan trái, còn bị cấm thăm nuôi. Mong các luật sư tôn trọng luật pháp và có tình người hướng dẫn cho gia đình các em phát đơn kiện lại bọn tội phạm súc vật trên đây.
Luật sư Triển cho biết ông cũng bị nhiều sức ép, tính mạng 2 em và chính ông cũng bị đe dọa, nhưng ông quyết vì công lý, vì xã hội, vì các em bị vu oan, ông quyết thúc đẩy và làm rõ vụ án này.
Phải có sức ép mạnh từ xã hội mới mong công bằng được thực hiện. Nhà đương quyền cộng sản vẫn ù lỳ, chây ỳ nếu dân cứ cúi đầu mãi. Như vậy mà văn kiện đảng vẫn cứ ghi: xây dựng xã hội công bằng, văn minh, xây dựng nền pháp lý xã hội chủ nghĩa, khẩn trương chống tham nhũng …
Mong rằng bà con ta trong và ngoài nước quan tâm thiết thực đến 2 em Hằng và Thúy cùng 13 em nữ sinh khác trong nhóm 15 em bị 'cưỡng dâm' khi tất cả các em đều ở tuổi vị thành niên. Thật là đau xót, thương tâm, oan trái.
Xin hãy an ủi, hỏi thăm, giúp đỡ, động viên các em, gia đình, bạn hữu các em, động viên luật sư cương trực Trần Đình Khiển, với niềm tin rồi các em sẽ có dịp ngồi trên ghế nạn nhân để kể tội, hỏi tội những dã thú đội lốt người.
Xin đa tạ.
Bùi Tín.
Trước hết là vụ án vốn gọi là ‘mua bán dâm’ ở Hà Giang. Tòa án tỉnh trong cuộc xử phúc thẩm 1-2-2010 đã buộc phải xóa bỏ bản án sơ thẩm tháng 11-2009 xử 2 em học sinh Nguyễn Thúy Hằng(18 tuổi) 6 năm tù giam và em Nguyễn Thị Thanh Thúy(17 tuổi) 5 năm tù giam về tội danh ‘bán dâm’ (!), để mở lại cuộc điều tra từ đầu. Công lao của việc hủy vụ án oan này thuộc về gia đình 2 em nữ sinh, dư luận thị xã Hà Giang và đặc biệt là của luật sư Trần Đình Khiển từ Hà Nội lên tham dự phiên phúc thẩm.
Luật sư Khiển nêu lên nhiều yếu tố mới, chỉ ra phiên sơ thẩm không có luật sư bào chữa cho bị cáo, xử vội vã, sai luật, sự việc xảy ra khi các em đều là vị thành niên.
Đây là một vụ bê bối xấu xa bậc nhất của một các quan chức cộng sản đầu tỉnh, trong Tỉnh ủy, trong Ủy ban nhân dân tỉnh, trong sở Công an, sở Giáo dục, chủ Ngân hàng nhà nước, Hải quan tỉnh…cùng chung âm mưu dùng viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm ma cô đầu sỏ, biến 15 em nữ sinh trung học xinh đẹp nhất, chưa đến tuổi trưởng thành, thành một nhóm nô lệ tình dục rẻ tiền và không mất tiền cho bọn chúng, trong mấy năm liền.
Khi vụ này vỡ lở, nhóm lãnh đạo tỉnh, bí thư tỉnh ủy Hà Minh Nhất (là ủy viên TW đảng CS) liền ra lệnh xử án ngay, đổ hết tội cho viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương là kẻ ‘mua dâm’ (bị 10 năm tù giam), các em nữ sinh là tự nguyện bán dâm, kết án cả 3 người, coi như là xong, hết chuyện, bọn tội phạm đầu xỏ an toàn, vô sự.
Nay vụ án được hiện ra dần cái thực chất thật mà nhóm đương quyền ở trung ương cố bịt kín. Nhưng càng bịt, sự việc càng thêm bùng nổ trong dư luận, nhất là ở Hà Giang và trong giới luật sư tôn trọng luật pháp.
Cốt lõi vụ án là một nhóm quan chức chóp bu tỉnh sống phè phỡn trác táng, lên cơn dâm ô thác loạn, thèm khát các nữ sinh ngây thơ trinh trắng để thỏa mãn nhục dục và cầu may trong những vụ kiếm chác - tham nhũng tội lỗi.
Họ tận dụng tâm lý nhút nhát, thơ ngây của các em nữ sinh, nhất là tâm lý sợ điểm kém, thi trượt, bị gia đình rầy la, để mua chuộc và khống chế các em. Hai em Hằng và Thúy còn nhớ và ghi rõ số điện thoại của hơn 10 quan chức thường gọi cho các em, khai rõ rằng viên hiệu trưởng Sầm luôn dọa là không đến gặp các vị trên thì ‘sẽ bị hạnh kiểm đạo đức kém, khó mà lên lớp được’. Hắn dọa các em nếu để lộ sẽ bị đuổi học. Em Thúy kể có lần cán bộ đầu tỉnh đòi gặp em ngay lúc em sắp vào một buổi thi, em không chịu đi, viên hiệu trưởng vừa dọa vừa dử rằng: Phải đi, nếu chịu đi không thi cũng sẽ có điểm cao, không chịu đi thì có thi cũng sẽ bị điểm xấu! Và em đã hé ra rằng đó chính là ông quan to nhất, đầu tỉnh (là ngài chủ tịch Nguyễn Trường Tô). Ông này đang được ông bí thư tỉnh uỷ hết lòng che chở, vì sợ trách nhiệm, hoặc cũng có thể là thành viên của nhóm đầu sỏ tội phạm. Luật sư Triển cho biết, theo ông đây là một hành động cưỡng dâm, một tội rất nặng, đối với các em vị thành niên càng nặng, đối với quan chức cao vào tuổi bố, tuổi ông các em, có trách nhiệm bảo vệ giáo dục các em, thì tội tăng nặng đến bao nhiêu lần.
Tại sao hàng chục ngàn nhà báo trong nước vẫn dửng dưng trước vụ án nghiêm trọng về đạo lý học đường và xã hội này? Họ làm gì? Họ có động lòng trước một vụ án làm xúc động xã hội, họ có còn ý thức trách nhiệm về thông tin trung thực, bênh vực công lý, lẽ phải, đạo đức, lao vào cuộc điều tra, tìm hiểu tại chỗ để soi sáng công luận, như các đồng nghiệp ở nước khác luôn đua nhau lao vào hay không?
Ở các nước, nếu có một vụ như thế là báo chí sẽ đua nhau lao đi tìm hiểu, nô nức lên Hà Giang lấy tài liệu từ gia đình, phụ huynh, bạn học, láng giềng, thầy cô giáo, người dân, hội thanh niên, hội phụ nữ…có bao nhiêu chuyện để nói, để phanh phui, nhận định, và yêu cầu trung ương, Bộ Giáo dục, Toà án, Viện kiểm sát, Bộ Công an phải vào cuộc theo chức năng, phải làm sớm, làm ngay, không được trì hoãn, không thể cứ im lìm, buông trôi như hiện nay để vụ án chìm trong vô cảm. Báo chí không tạo nên công luận là báo chết!
Đâu phải chỉ có riêng một vụ án ở Hà Giang. Đất nước mà ngài tổng thanh tra Chính phủ than thở: sờ vào đâu cũng có tội phạm, còn ngài thủ tướng lại khoe: tôi chưa kỷ luật ai!
Thật trớ trêu, chỉ khổ cho dân đói khổ, oan ức, bất công kêu trời không thấu, chỉ khổ cho đất nước, ngân sách, tài nguyên bị cướp bóc chia chác công khai vô tội vạ giữa kẻ đương quyền với nhau. Rồi họ rửng mỡ, ăn chơi phá của, đến đổ đốn biến các nữ sinh ngây thơ thành nô lệ tình dục cho họ, mà vẫn cứ nhởn nhơ trâng tráo vì đinh ninh đã có ô dù, phe cánh từ trên cao.
Công luận xã hội yêu cầu một loạt vụ án mà nhân dân, dư luận trong nước và quốc tế quan tâm đặc biệt phải được xét xử công khai, đúng luật, đúng người, đúng tội ngay trước khi Đại hội XI khai mạc. Đó là các vụ hối lộ quan chức đương quyền VN của PCI – Pacific Consultant Institute (Nhật bản), vụ hối lộ của Securency(Úc) cho các quan chức VN, vụ hối lộ của công ty Nexus Technologies (Hoa kỳ) cũng cho các quan chức ở các Bộ Công Thương, Kế hoạch - Đầu tư, Quốc phòng, Công an ở Việt nam. Phía Nhật Bản, Úc, Mỹ đã khẩn trương điều tra và đã mở phiên tòa xét xử, đã sớm chuyển cho phía VN mọi tài liệu điều tra cần thiết, mà sao phía VN vẫn không nhúc nhích.
Trước hết là Vụ án Hà Giang ở trong nước. Luật sư Trần Đình Triển yêu cầu khẩn cấp chính phủ, quốc hội, viện kiểm sát, tòa án tối cao, bộ tư pháp phải ra lệnh ngay cho tỉnh Hà Giang trả tự do lập tức cho 2 em Hằng và Thúy, là kẻ bị oan, là nạn nhân thê thảm thật sự trong vụ án này, để các em về nhà chữa bệnh vì 2 em đang ốm yếu do sống cảnh tù đầy oan trái, còn bị cấm thăm nuôi. Mong các luật sư tôn trọng luật pháp và có tình người hướng dẫn cho gia đình các em phát đơn kiện lại bọn tội phạm súc vật trên đây.
Luật sư Triển cho biết ông cũng bị nhiều sức ép, tính mạng 2 em và chính ông cũng bị đe dọa, nhưng ông quyết vì công lý, vì xã hội, vì các em bị vu oan, ông quyết thúc đẩy và làm rõ vụ án này.
Phải có sức ép mạnh từ xã hội mới mong công bằng được thực hiện. Nhà đương quyền cộng sản vẫn ù lỳ, chây ỳ nếu dân cứ cúi đầu mãi. Như vậy mà văn kiện đảng vẫn cứ ghi: xây dựng xã hội công bằng, văn minh, xây dựng nền pháp lý xã hội chủ nghĩa, khẩn trương chống tham nhũng …
Mong rằng bà con ta trong và ngoài nước quan tâm thiết thực đến 2 em Hằng và Thúy cùng 13 em nữ sinh khác trong nhóm 15 em bị 'cưỡng dâm' khi tất cả các em đều ở tuổi vị thành niên. Thật là đau xót, thương tâm, oan trái.
Xin hãy an ủi, hỏi thăm, giúp đỡ, động viên các em, gia đình, bạn hữu các em, động viên luật sư cương trực Trần Đình Khiển, với niềm tin rồi các em sẽ có dịp ngồi trên ghế nạn nhân để kể tội, hỏi tội những dã thú đội lốt người.
Xin đa tạ.
Thông Cáo Báo Chí
Dân Biểu Loretta Sanchez
Địa Hạt Liên Bang 47th của California www.house.gov/sanchez
NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM TỪ CHỐI CẤP VISA CHO DÂN BIỀU SANCHEZ
Dân Biểu Sanchez bị từ chối vào Việt Nam trong chuyến đi công tác
về vấn đề an ninh và chống tệ nạn buôn người tại vùng Đông Nam Á WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus thông báo đơn xin visa của bà đã bị nhà cầm quyền Việt Nam “quên lãng”. Phái đoàn Quốc Hội và Dân Biểu Sanchez vừa kết thúc chuyến đi công tác vùng Đông Nam Á với nhiều hy vọng được cấp visa vào Việt Nam để thảo luận về tình trạng nhân quyền với nhà cầm quyền Việt Nam cũng như gặp gỡ các nhà dân chủ trong chuyến viếng thăm. Trong thời gian phục vụ tại Quốc Hội Hoa Kỳ, Dân Biểu Sanchez đã nhiều lần bị nhà cầm quyền Việt Nam từ chối cấp visa, không cho bà vào Việt Nam.
"Tôi vô cùng thất vọng với nhà cầm quyền Việt Nam đã quyết định làm ngơ đơn visa vào Việt Nam của tôi,” Dân Biểu Sanchez, người đại diện một trong những cộng đồng Việt Nam lớn nhất hải ngoại phát biểu. “Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã hứa sẽ cải thiện quyền dân sự, chính trị, và quyền tự do tôn giáo cho người dân để có thể đóng một vai trò lớn hơn trong chính trị quốc tế. Tôi tin rằng chính quyền Hoa Kỳ và các quốc gia yêu chuộn nền dân chủ khác sẽ có cơ hội đánh giá sự tiến bộ hoặc lùi của Việt Nam, về những vấn đề vừa nêu ra.
"Hành động của Việt Nam ngày nay đã chứng minh cho chúng ta thấy là họ không xem trọng lời cam kết tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của chính quyền,” Dân Biểu Sanchez nói. "Chúng ta thường được báo cáo về việc nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp, bỏ tù người dân và những ai công khai chỉ trích chính sách của đảng cộng sản Việt Nam. Tôi e rằng sẽ không có gì thay đổi trừ khi chính quyền Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế có hành động cụ thể để buộc Việt Nam chịu trách nhiệm về hành vi đàn áp của họ."
Dân Biểu Sanchez, nữ thành viên cao cấp của Ủy ban Quân Sự Hạ Viện cùng phái đoàn Quốc Hội giám sát các trạm quân sự và bàn thảo về vấn đề an ninh tại các quốc gia vùng Đông Nam Á như Campuchia, Singapore, và Đài Loan. Trong chuyến công tác này, Dân biểu Sanchez đã có cơ hội gặp gỡ các nạn nhân của tệ nạn buôn người và lắng nghe mối quan tâm của thành viên nhóm MENT (Migrants Empowerment Network in Taiwan) tại Đài Loan. Một buổi họp ngắn nguổi do văn phòng Trợ Giúp Pháp Lý Công Nhân Và Cô Dâu Việt Nam tổ chức để bàn về vấn đề tệ nạn buôn người tại Việt Nam. Thành viên Nhóm MENT kêu gọi Dân Biểu Sanchez vận động và tạo áp lực với chính phủ Đài Loan để các công nhân lao động làm việc được Luật Lao Động bảo vệ. Dân Biểu Sanchez cũng đã được Tổng thống Đài Loan, ông Ma Ying-jeou đón tiếp để để thảo luận về tầm quan trọng của thương mại song phương và quan hệ an ninh giữa Hoa Kỳ và Đài Loan.
Dân Biểu Loretta Sanchez
Địa Hạt Liên Bang 47th của California www.house.gov/sanchez
NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM TỪ CHỐI CẤP VISA CHO DÂN BIỀU SANCHEZ
Dân Biểu Sanchez bị từ chối vào Việt Nam trong chuyến đi công tác
về vấn đề an ninh và chống tệ nạn buôn người tại vùng Đông Nam Á WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus thông báo đơn xin visa của bà đã bị nhà cầm quyền Việt Nam “quên lãng”. Phái đoàn Quốc Hội và Dân Biểu Sanchez vừa kết thúc chuyến đi công tác vùng Đông Nam Á với nhiều hy vọng được cấp visa vào Việt Nam để thảo luận về tình trạng nhân quyền với nhà cầm quyền Việt Nam cũng như gặp gỡ các nhà dân chủ trong chuyến viếng thăm. Trong thời gian phục vụ tại Quốc Hội Hoa Kỳ, Dân Biểu Sanchez đã nhiều lần bị nhà cầm quyền Việt Nam từ chối cấp visa, không cho bà vào Việt Nam.
"Tôi vô cùng thất vọng với nhà cầm quyền Việt Nam đã quyết định làm ngơ đơn visa vào Việt Nam của tôi,” Dân Biểu Sanchez, người đại diện một trong những cộng đồng Việt Nam lớn nhất hải ngoại phát biểu. “Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã hứa sẽ cải thiện quyền dân sự, chính trị, và quyền tự do tôn giáo cho người dân để có thể đóng một vai trò lớn hơn trong chính trị quốc tế. Tôi tin rằng chính quyền Hoa Kỳ và các quốc gia yêu chuộn nền dân chủ khác sẽ có cơ hội đánh giá sự tiến bộ hoặc lùi của Việt Nam, về những vấn đề vừa nêu ra.
"Hành động của Việt Nam ngày nay đã chứng minh cho chúng ta thấy là họ không xem trọng lời cam kết tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của chính quyền,” Dân Biểu Sanchez nói. "Chúng ta thường được báo cáo về việc nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp, bỏ tù người dân và những ai công khai chỉ trích chính sách của đảng cộng sản Việt Nam. Tôi e rằng sẽ không có gì thay đổi trừ khi chính quyền Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế có hành động cụ thể để buộc Việt Nam chịu trách nhiệm về hành vi đàn áp của họ."
Dân Biểu Sanchez, nữ thành viên cao cấp của Ủy ban Quân Sự Hạ Viện cùng phái đoàn Quốc Hội giám sát các trạm quân sự và bàn thảo về vấn đề an ninh tại các quốc gia vùng Đông Nam Á như Campuchia, Singapore, và Đài Loan. Trong chuyến công tác này, Dân biểu Sanchez đã có cơ hội gặp gỡ các nạn nhân của tệ nạn buôn người và lắng nghe mối quan tâm của thành viên nhóm MENT (Migrants Empowerment Network in Taiwan) tại Đài Loan. Một buổi họp ngắn nguổi do văn phòng Trợ Giúp Pháp Lý Công Nhân Và Cô Dâu Việt Nam tổ chức để bàn về vấn đề tệ nạn buôn người tại Việt Nam. Thành viên Nhóm MENT kêu gọi Dân Biểu Sanchez vận động và tạo áp lực với chính phủ Đài Loan để các công nhân lao động làm việc được Luật Lao Động bảo vệ. Dân Biểu Sanchez cũng đã được Tổng thống Đài Loan, ông Ma Ying-jeou đón tiếp để để thảo luận về tầm quan trọng của thương mại song phương và quan hệ an ninh giữa Hoa Kỳ và Đài Loan.

