Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đại hội Đảng 11:
Nguyễn Chí Vịnh, một mầm mống đại họa


Những ai theo dõi sát nội tình chính trị Việt Nam những năm gần đây hẳn không có gì xa lạ với cái tên Nguyễn Chí Vịnh, con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh,
con nuôi đại tướng Lê Đức Anh, con rể tướng Đặng Vũ Chính, Tổng cục Trưởng Tổng cục Tình báo quốc phòng (TC2) siêu quyền lực (từ 2002 đến tháng 8/2009)
và hiện là Trung tướng Thứ Trưởng quốc phòng (từ tháng 2/2009) quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh.

Image
Tướng Nguyễn Chí Vịnh - Ảnh: OnTheNet
Những ai theo dõi sát nội tình chính trị Việt Nam những năm gần đây hẳn không có gì xa lạ với cái tên Nguyễn Chí Vịnh, con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh, con nuôi đại tướng Lê Đức Anh, con rể tướng Đặng Vũ Chính, Tổng cục Trưởng Tổng cục Tình báo quốc phòng (TC2) siêu quyền lực (từ 2002 đến tháng 8/2009) và hiện là Trung tướng Thứ Trưởng quốc phòng (từ tháng 2/2009) quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh.

Nói “quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh” là kể từ khi ông Vịnh chủ trì cuộc họp báo công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam lần thứ ba hồi tháng 12/2009, và sau đó, chủ toạ một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam đầu tháng 2/2010. Đầu tháng 3/2010, trung tướng Vịnh lại cầm đầu phái đoàn bộ Quốc phòng gặp gỡ trao đổi với Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt nhân dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ song phương. Trong khi phía Việt Nam hầu như không đề cập thì Tân Hoa Xã và báo chí Trung Quốc lại làm rùm beng. Theo Tân Hoa Xã, Trung tướng Vịnh nói: Việt Nam hy vọng sẽ thu gặt nhiều lợi ích từ quan hệ hữu nghị và hiệu quả giữa hai quân đội, vì an ninh khu vực. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi mà mối nguy thật sự chỉ phát xuất từ Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông, người ta có thể hiểu rằng chiến lược quốc phòng của Việt Nam đã mất tính chất độc lập tự chủ như vẫn rêu rao, và hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc với tất cả những hệ quả tai hại của nó. Ngoài ra, với tư cách Thứ trưởng đặc trách tình báo quốc phòng bao trùm TC2 (với Trung tướng Tổng cục trưởng Lưu Đức Huy vốn là tay chân), ông Vịnh có thể cho phía Trung Quốc biết rõ nội tình các nhân vật hiện đang tranh chức Tổng bí thư và chờ phía Trung Quốc cho ý kiến. Đó đã từng là công tác của ông cách đây 5 năm (cuối 2005) trong chuyến đi bí mật sang Bắc Kinh trước khi đại hội 10 nhóm họp năm 2006.

Một chỉ dấu về khả năng can thiệp này (qua TC2 và Nguyễn Chí Vịnh) là trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng có thể đã phải chịu sức ép để rút khỏi cuộc đua chứcTổng bí thư. Cách đây không lâu, ông Dũng đã được dự đoán sẽ được bầu làm Tổng bí thư qua một số biện pháp trình diễn trên thông tấn nhà nước. Ông Dũng còn tuyên bố lấy lòng phe tham nhũng đương quyền “Trong 7 năm làm thủ tướng, tôi chưa từng kỷ luật ai !”. Đây là một câu nói “lịch sử” của một thủ tướng “quyết tâm” chống tham nhũng, phù hợp với bản chất tham tiền cố hữu của ông. Chuyện ông Dũng nhận phong bì 5, 10 triệu đồng một cách thoải mái là điều ít ai không biết. Kể cả chuyện nhận 150 triệu đô của Trung Quốc về việc khai thác bô-xít.. Tuy nhiên, việc mất điểm gần đây của ông Dũng (với Trung Quốc) liên quan đến câu trả lời có vẻ mạnh miệng của ông với một giáo sư Harvard đến phỏng vấn về mối quan hệ Hoa-Việt: “Thời đại nước lớn bắt nạt nước bé đã lỗi thời!”. Báo điện tử VietnamNet đã phải cắt đoạn này chỉ it phút sau khi đăng. Chưa kể việc yêu cầu “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền”. Nhân dịp khai mạc Hội nghị Uỷ ban Trung ương đảng lần thứ 12 để bàn về nhân sự và các văn kiện, giới thạo tin trong đó có giáo sư Carlyle Thayer đã đề cập đến 5 uỷ viên Bộ Chính trị trong tầm ngắm chức Tổng bí thư (không có tên ông Dũng) mà nổi bật làTrương Tấn Sang (nhân vật mới lên số 2 Bộ chính trị) và chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, một người có hỗn danh là “Trọng lú”, rất thân cận với Bắc Kinh.

Nguyễn Chí Vịnh là thứ trưởng Quốc phòng duy nhất không có chân trong Uỷ ban Trung ương đảng. Về cấp bậc cũng thua tất cả các thứ trưởng khác (Thượng tướng) và hiện đang được chuẩn bị để được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 cùng nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Trong thực tế, Nguyễn Chí Vịnh hiện nay là nhân vật quyền uy nhất trong bóng tối của đảng cộng sản Việt Nam chủ yếu vì đã “bỏ túi” và nắm trong tay toàn bộ hồ sơ với những tì vết của các uỷ viên Bộ chính trị. Nhân vật quyền uy nhất đó lại là tay sai của cộng sản Trung Quốc. Đó là một khẳng định tuyệt đối. Người ta không quên Báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị Quân uỷ Trung ương mở rộng ngày 24 tháng 8 năm 2004 do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo: “Cơ quan tình báo Hoa hải ngoại nhận định: Việt Nam không nên sốt sắng gia nhập WTO vì, nếu Việt Nam xem việc gia nhập WTO là một mục tiêu ưu tiên, đồng nghĩa với sự “đổi màu” của xu hướng chính trị ngày một gia tăng, do những điều kiện gia nhập WTO đưa ra về mặt cải cách”. Chúng ta đã biết hậu quả của chính sách lệ thuộc này như thế nào. Cũng không nên quên về chiến dịch bắt bớ những nhân vật đấu tranh cho dân chủ gần đây như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… có bàn tay của TC2 và Cục Tình báo Hoa Nam.

Nguyễn Chí Vịnh và vương triều Vũ Chính

Nguyễn Chí Vịnh đã được biết đến nhiều kể từ khi thành tích lưu manh (bị đuổi học Đại học kỹ thuật quân sự năm 1977 vì ăn cắp quân trang nhà kho) và bước đường làm ăn lem nhem (chiếm đoạt bất động sản, hợp đồng thương mại quân sự bi-đông và các công ty thương mại bình phong…), thủ đoạn mua chuộc, khống chế (kể cả Lê Khả Phiêu) và chỗ dựa vững chắc (nhóm G7, bố vợ, bố nuôi…), tất cả được phơi bày qua bài viết của Võ Đồng Đội và phổ biến tràn lan trên mạng qua điện thư số 41 (tháng 3/2005) của Câu lạc bộ Dân chủ (1). Điện thư số 43 của CLBDC còn đưa ra nhận xét từ một thầy giáo trực tiếp của Nguyễn Chí Vịnh: “Học sinh Vịnh học lực yếu, ý thức tổ chức xấu, tính tự do vô kỷ luật, lại hay cầm đầu các vi phạm, tư cách riêng khác là rất thích giao du với con gái, và hay thông qua sinh hoạt ca hát, ăn uống để tiếp cận họ là một gánh nặng thêm cho nhiệm vụ đào tạo và rèn luyện của nhà trường, đặc biệt của khoa quân sự”.

Chân dung của Nguyễn Chí Vịnh còn được mô tả đầy đủ hơn trong loạt bài về “Vương triều Vũ Chính” phổ biến tràn lan trên mạng. Vương triều này khởi đầu từ 1995 khi Cục 2 (Cục quân báo) được nâng lên thành Tổng cục tình báo quân đội (TC2) ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu, trực thuộc Bộ Quốc phòng . Vì được sự nâng đỡ của tướng Lê Đức Anh vốn là thượng cấp cũ tại Quân khu 9 và Campuchia, tướng Tổng cục trưởng Đặng Vũ Chính lên thay tướng Như Văn về hưu đã lợi dụng đặc quyền của Tổng cục để đưa hai con (Đặng Vũ Dũng, Đặng Thị Tuyết), vợ Nguyễn Thị Nhẫn và nhất là con rể Nguyễn Chí Vịnh thao túng, lũng đoạn, biến TC2 thành một vương triều phục vụ cho mưu đồ tư lợi và nối dõi của mình . Kể từ khi làm rể ông Chính, Nguyễn Chí Vịnh thăng cấp đều đều trước niên hạn mặc dù không thành tích hay thành tích ảo, về chức vụ cũng vậy. Nguyễn Chí Vịnh cũng lợi dụng đưa thủ túc lưu manh như Phạm Ngọc Hùng (Hùng Tút), cùng bị đuổi học Đại học Kỹ thuật quân sự vì trộm cắp như Nguyễn Chí Vịnh lên địa vị Phó Tổng Cục trưởng (ngoại giao) hiện nay. Quan trọng hơn cả, qua những trò làm ăn bất chính tham ô trong TC2, Nguyễn Chí Vịnh có một tài sản kếch sù cả nổi lẫn chìm được ước lượng nhiều trăm triệu đô, một tài liệu còn đưa ra con số 1,2 tỷ đô.

Ông Vũ Chính từng nói với người quen: “Cháu nó là con cán bộ cao cấp, phải nâng đỡ cháu… Tôi sẽ đưa cháu làm tổng cục trưởng, đại hội IX đưa cháu vào BCH TW, đến giữa nhiệm kỳ vào Bộ Chính trị, phải để cho cháu nên tướng”.

Mưu đồ này của ông Chính bị trục trặc tai đại hội IX do Đại hội đảng TC2 không tín nhiệm, vì lúc đó ông chưa gài được nhiều tay chân bộ hạ. Vả lại, lúc đó (2001) đang xảy ra vụ tai tiếng A10 doTC2 cài để nghe lén các uỷ viên BCT. Lê Khả Phiêu đã bị mất chức giữa nhiệm kỳ do cố vấn thái thượng hoàng Lê Đức Anh tung ra nội vụ. Đến thời kỷ trước Đại hội 10, thì nổi lên “Vụ án TC2” nổ tung trên mạng và trong dư luận khiến Nguyễn Chí Vịnh đành phải tạm thời “nín thở qua sông” tuy vẫn tiếp tục thăng tiến lên Trung tướng.

Vụ án TC2 và chân dung một tội phạm đích thực

Cái được coi là Vụ án Tổng Cục 2 bắt nguồn chủ yếu từ lá thư của tướng Giáp ngày 3/1/2004 tố cáo vai trò siêu quyền lực của cơ quan này đã đẻ ra vụ án siêu nghiêm trọng Sáu Sứ và T4. TC2, như đã nói, được tướng Lê Đức Anh cho phép thành lập năm 1995 từ Cục 2 (Quân báo) nhưng đã được nâng lên thành Tổng cục Tình báo quốc phòng ngang hàng Bộ Tổng tham mưu và trực thuộc Bộ quốc phòng. Tuy nhiên, với Pháp lệnh quốc phòng (tháng 12/96) do chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ban hành và Nghị định 96/CP (tháng 7/97) do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký (ông Kiệt nói là phải mất 6 tháng mới buông bút ký), TC2 đã trở thành một siêu quyền lực vượt qua Bộ quốc phòng. Bởi vì TC2 tuy thuộc Bộ quốc phòng nhưng quyền hạn bao trùm mọi lãnh vực như như chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, kỹ nghệ và môi trường, văn hóa xã hội. Đối tượng tin tức và nhất là quyền hạn của TC2 khiến cơ quan này không những vượt qua Tổng cục an ninh của Bộ Công an mà còn đi xa hơn. TC2 có quyền cài cắm nhân viên ở mọi cơ quan, quyền sử dụng con dấu của mọi cơ quan, quyền chi tiêu vượt mức (ngân sách lớn bằng nửa Bộ quốc phòng), quyền trực tiếp báo cáo Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thủ tướng, quyền được thăng cấp đến trung tá…

Thực tế, TC2 đã lợi dụng ngụy tạo tài liệu và trở thành cơ quan phục vụ quyền lợi mưu đồ cá nhân của Lê Đức Anh trong tranh chấp nội bộ đảng thay vì nhắm vào các đối tượng cơ hữu của mình. Những vụ như Lý Tống thả truyền đơn trong khi người của TC2 bán bầu trời, rồi để xảy ra vụ Tây Nguyên nổi loạn, Thái Bình nổi sóng, Năm Cam vùng vẫy, chẳng thấy TC2 báo động. Từ đó, những vụ án Sáu Sứ, T4, báo cáo mật của Quân uỷ mở rộng do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo đã được thực hiện.

Lá thư của tướng Giáp đã được sự đồng tình của rất nhiều tướng lĩnh tên tuổi, mà nổi bật là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với 4 lá thư (2), trong đó lá thư ngày 17/06/2004 là đặc biệt quan trọng. Tướng Khánh đã trình bầy rõ vụ Siêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991) của Cục 2 và chủ yếu nhấn mạnh vụ T4 do Đặng Vũ Chính (Tổng cục trưởng TC2) và Nguyễn Chí Vịnh (Tổng cục phó) dàn dựng. Vụ T4 đã được mô tả là do TC2 bịa ra một đặc tình giả tưởng đã cài cắm vào CIA và đưa tin những tin tức ngụy tạo liên quan việc liên lạc, chỉ đạo của CIA trong mưu đồ đảo chính của hàng chục nhân vật quan trọng trong đó có: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Phan Diễn, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Văn Dũng, Võ Thị Thắng…

Để có một ý niệm về tính chất nghiêm trọng của nội vụ, chúng ta thử đọc qua một số bản tin nêu trong lá thư ngày 17/6/2004 liên quan đến ông Trương Tấn Sang, nhân vật số 2 Bộ chính trị hiện nay:

“Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương.
(Bản tin số 497 ngày 24/3/99).

“Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.

“Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Đảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ”.

“Đã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội” – (Bản tin ngày 2/8/1999)

“Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm… Nội dung cuộc họp: Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.

“Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Đảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ …Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch. (Bản tin số 223 ngày 19/1/98)”

Dàn dựng kịch bản của TC2 như trên thì thật vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tình báo. Dàn dựng như thế phục vụ mưu đồ của ai? Không ai khác hơn là mưu đồ “lật án”, đảo chính của Lê Đức Anh với sự đồng tình của Trung Quốc.

Đây là một vụ án chính trị cự kỳ nghiêm trọng có liên quan đến toàn bộ cấp lãnh đạo cộng sản. Tướng Khánh đề nghị Bộ chính trị và Ban chấp hành TW nếu không muốn bao che thì phải đưa vấn đề ra giải quyết trước pháp luật về tội phá hoại đảng, chế độ và tổ quốc những người lãnh đạo TC2: Đặng Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Chưa kể cần làm rõ những kẻ đứng sau. Nguyễn Chí Vịnh chính là một tội phạm. Tướng Khánh cũng đề nghị Bộ chính trị, Quốc hội phải sửa đổi hoàn toàn hay huỷ bỏ Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP.

Trong buổi họp ngày 15/7/2004 giữa tướng Khánh và ông Phan Diễn, bí thư thường vụ, ông Diễn đã đồng ý về đề nghị sửa đổi Pháp lệnh và Nghị định 96/CP nhưng chỉ muốn xử lý nội bộ Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Sau phiên họp này, tướng Giáp quyết tâm đưa vấn đề ra trước Ban chấp hành TW. Hội nghị Trung ương 12 đành phải cho thành lập Ban điều tra liên ngành về vụ T4 và hàng chục vụ khác liên quan đến vu khống nội bộ. Nhưng sau đó Nông Đức Mạnh và Bộ chính trị đã giấu không cho đem ra thảo luận báo cáo 70 trang này trước khi đại hội đảng lần thứ 10 nhóm họp. Vụ án TC2 được coi như chìm xuồng vì sự ổn định của chế độ. Nhưng những tồn tại và hệ quả của nó liên quan đến Nguyễn Chí Vịnh và TC2 vẫn tiếp tục.

Từ bài viết “TC2: Vì ai nên nỗi?” đến quyết định kỷ luật Trung tá Vũ Minh Trí

Sau Đại hội 10, trước sự tiếp tục thao túng Tổng cục 2 (TC2) của Nguyễn Chí Vịnh và sự đồng loã- hay nói đúng ra là lo sợ- của Bộ chính trị, một làn sóng công phẫn lại nổi lên trong quân đội. Được nói nhiều và lan truyền trên mạng là hai lá thư “Thất trảm sớ” của Trung tá Vũ Minh Ngọc và nhất là lá thư ngày 16/12/2008 “TC2:Vì ai nên nỗi?” của Trung tá Vũ Minh Trí (3), một người đang làm việc tại Cục kỹ thuật TC2.

Lá thư tâm huyết 13.000 chữ của Trung tá Vũ Minh Trí là nỗi lòng của một người có tư cách, ở trong TC2 hơn 10 năm không thể làm ngơ trước những thao túng, tham ô, phe đảng, lừa gạt và bỏ túi cấp trên của Nguyễn Chí Vịnh và đồng bọn. Từ “mầm kết tinh” Nguyễn Chí Vịnh, những mạng lưới của cái xấu đã hình thành và lan rộng, những cán bộ tốt bị vô hiệu hoá, nhuộm đen, những thành phần lưu manh, vô học đã được thăng cấp vượt mức. Trong sinh hoạt, đã hình thành việc ngu hoá cán bộ một cách có hệ thống. Và với cuồng vọng nguy hiểm của Nguyễn Chí Vịnh đã đưa tới những hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt là việc thiết lập một mạng lưới lấy “tin tức nội bộ” liên quan đến các nhân vật cao cấp, hoàn toàn ngoài chức năng của TC2.

Lá thư đã nêu những chi tiết xác minh và kết luận về TC2: “Nay đang ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn diện, đang bị chuyển hóa thành khối u ác trong lòng quân đội, trong lòng Đảng, ít nhiều phát tác tới bộ óc của quân đội, của Đảng thì rõ ràng tình báo chiến lược về quân sự cần được mau chóng quét sạch, cắt bỏ, diệt trừ tận gốc những mạng lưới xấu xa, cần được mau chóng thay máu triệt để để trước hết là trong sạch về chính trị, sau đó là khỏe mạnh về nghiệp vụ chứ không phải thay màu da trên xác chết, duy trì một Tổng cục II của Nguyễn Chí Vịnh mà không có Nguyễn Chí Vịnh”. Đó là điều đã xảy ra.

Lá thư của trung tá Vũ Minh Trí đã được sự đồng tình ủng hộ của tướng Võ Nguyên Giáp. Trong lá thư ngày 10/6/2009 gửi Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp đã ca ngợi tinh thần dũng cảm của Trung tá Trí khi tố cáo Nguyễn Chí Vịnh đã “phá hoại TC2 toàn diện”. Ông cho rằng sự tố cáo minh danh nói trên là phù hợp với điều lệ đảng và pháp luật Nhà nước nên cần được Uỷ ban Kiểm tra trung ương xem xét kiểm tra. Lá thư của tướng Giáp có nêu chi tiết: “Nguyễn Chí Vịnh trước có những khuyết điểm, đồng chí Nông Đức Mạnh nói với tôi là không thể lên trung tướng và không biết đưa đi đâu để rèn luyện, nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng và hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng, và nếu không làm rõ thì sẽ còn lên nữa”. Ở đây, chính thắc mắc của tướng Giáp về Nông Đức Mạnh cho thấy ông ta đã nằm trong vòng kim cô của Nguyễn Chí Vịnh từ lâu.

Những tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí với sự ủng hộ của tướng Giáp đã không làm cho tập đoàn Nguyễn Chí Vịnh nao núng. Và chuyện phải đến đã đến như chính Trung tá Trí dự phòng. Ngày 10/02/2010, Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định tước quân hàm sĩ quan đối với Trung tá Vũ Minh Trí, Đảng uỷ TC2 cũng quyết định khai trừ ra khỏi đảng cộng sản đối với ông (4). Lý do nêu lên hoàn toàn chỉ có tính cách hình thức, che đậy: tố cáo sai (không xác định), gửi đơn đến các nơi không có chức năng giải quyết (không đúng, vì ông đã gửi 5 lá đơn tới Đảng uỷ quân sự trung ương,thủ trưởng bộ Quốc Phòng thậm chí với cả Uỷ ban kiểm tra trung ương) và tiết lộ bí mật Đảng (ngoài ý muốn).

Trong phát biểu sau khi nhận kỷ luật, Trung tá Trí xác định: Vì lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước chưa có kết luận và trả lời về các kiến nghị và bài viết “Tổng cục 2: Vì ai nên nỗi ?”, ông coi các quyết định kỷ luật nêu trên là vô giá trị, bất hợp pháp. Ông xác định sẽ tiếp tục đấu tranh. Ông cũng tin rằng “những kẻ đã nhen nhóm ngọn lửa độc hại với nhân dân, đối với đất nước, đã đổ thêm dầu hôi vào ngọn lửa ấy sẽ sớm bị chính ngọn lửa ấy thiêu huỷ, sẽ sớm bị nhân dân và đất nước đào thải”.

Vụ án Nguyễn Chí Vịnh và TC2 chưa kết thúc.

Đến đây, chúng ta có thể đưa ra một nhận định chung cục.

Chính vì vai trò siêu quyền lực nhưng lệ thuộc vào Trung Quốc của một tên lưu manh, gian ác như Nguyễn Chí Vịnh và TC2, đảng cộng sản Việt Nam đang mau chóng đi vào con đường tự huỷ diệt. Một mặt, nó cho thấy toàn bộ giới lãnh đạo hiện nay cũng như bất cứ nhân vật nào nắm giữ chức Tổng bí thư sau đai hội XI cũng chỉ là những con rối mờ nhạt, không bản lãnh, không có ao ước khác hơn là chia chác để sống còn. Những con rối đó không thể đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến quyền lợi và sự sống còn của đất nước trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt hiện nay, đặc biệt là mức lạm phát tăng rất cao. Ông Đỗ Mười, một nhân vật vẫn còn ảnh hưởng trong giới lãnh đạo cộng sản, đã tỏ ra ngao ngán về tương lai của đảng trongmột phát biểu tâm sự với người thân: “Chỉ có một nhân vật kiệt xuất mới cứu được đảng mà thôi. Nếu không nó sẽ sụp đổ không lâu nữa”.

Về một mặt khác, trong trường hợp có biến động với Trung Quốc ở Biển Đông, Nguyễn Chí Vịnh và TC2 sẽ là «con ngựa Thành Troie”. Và đó chính là đại hoạ của đất nước.

Rennes 02/04/2010

(1) Võ Đồng Đội, “Chân dung một tội phạm: Nguyễn Chí Vịnh”. Thông Luận, 30/08/2007.

(2) Nguyễn Nam Khánh, “Bốn lá thư về vấn đề Tổng cục 2 và Lê Đức Anh”. Thông Luận, 08/02/2005.

(3) Vũ Minh Trí, “Tổng Cục 2: Vì ai nên nỗi?”. Thông Luận, 02/08/2009.

(4) Hồ sơ CSVN: Kỷ luật Trung tá Vũ Minh Trí:

Nguồn: Báo Tổ Quốc

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Giọt nước mắt...Vì niềm kiêu hảnh: Người Vietnam

Tác Giả : Bùi Bảo Trúc

Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.

Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?

Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.
Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy.
Image Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.

Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.
Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.

Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Tình Người Trong Cơn Ly Loạn

Mường Giang

Những ngày cuối tháng 4-1975, Phước Tuy bổng dưng trở nên nhộn nhịp khác thường.

Thuở thanh bình, tỉnh này với hai trung tâm nghĩ mát và tắm biển nổi tiếng Long Hải, Vũng Tàu vẫn luôn có sự hiện diện của người Sài Gòn. Sở dĩ có tình trạng biến đổi này vì tin đồn các chiến hạm của Ðệ Thất Hạm Ðộ Mỹ sẽ cặp sát bờ để hốt người, nên thiên hạ bốn phương rĩ tai bảo nhau, ùn ùn kéo về đây để may ra có cơ hội “ vàng ròng “ trốn thoát được thiên đàng cộng sản sắp trở thành hiện thực.

Lúc đó trên khắp các nẽo đường đổ về quốc lộ 15, từ Long Thành tới Bà Rịa để đi Long Ðiền, Long Hải hay xuôi về Vũng Tàu.. đâu đâu cũng đầy nhóc xe cộ và người. Lính kéo về đây để làm dầy thêm vòng đai bảo vệ an ninh cho thủ đô. Còn dân theo bước lính để nhờ đùm bọc trong thời gian ngắn ngũi đợi chờ định mệnh. Ai cũng như ai từ dân tới lính ‘ nản phiền, héo hắt và tuyệt vọng ‘.

Ngày 20/4/1975 QLVNCH được lệnh rút khỏi Long Khánh, vì vị trí này đã không còn giá trị chiến lược khi cộng sản Bắc Việt đã mở một hành lang máu từ Túc Trưng, Gia Kiệm chọc thẳng vào Biên Hòa, không qua bức tường thép của Lực Lượng III Xung Kích tại Ngã Ba Dầu Giây, Hưng Long.. do tướng Trần Quang Khôi chỉ huy.Trong lúc đó Phan Thiết đã di tản ngày 19/4/1975 kế tiếp là Hoài Ðức, Tánh Linh và Hàm Tân cũng thất thủ vào những ngày sau đó.

Phước Tuy trở thành địa đầu giới tuyến, dân chúng các vùng chiến nạn miền Trung, Phan Thiết, Bình Tuy.. dùng ghe thuyền chạy về đây lánh họa. Còn đồng bào Xuân Lộc, Tân Phong, Cù My, Phước Hải, Ðất Ðỏ, Ðức Thạnh, Xuyên Mộc.. cũng theo chân SD18BB chạy về Long Ðiền. Riêng các gia đình cạo mũ cao su ở đồn điền Ông Quế và An Viễn, sau cái vụ cộng sản Bắc Việt tàn sát dã man đồng bào còn kêt lại Long Khánh, đã bất chấp bom đạn, ùn ùn chạy theo Tiểu Ðoàn 2/Trung Ðoàn 43/Sư Ðoàn 18 BB của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, là đơn vị cuối cùng của QLVNCH tại mặt trận Long Khánh, về Long Thành.

Ngày 20/4/1975 những đơn vị còn lại của Tiểu Khu Bình Thuận gồm Tiểu Ðoàn 274 ÐP của Thiếu Tá Trịnh Văn Bình, TÐ275 ÐP của Thiếu Tá Nguyễn Tư, TÐ 202 ÐP của Ðại Uý Huỳnh Văn Hoàng, TÐ 229 ÐP của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tiến, TÐ 249 ÐP của Ðại Uý Huỳnh Văn Quý, Ðại Ðội 948 ÐP của Ðại Uý Mai Xuân Cúc, Ðại Ðội 4/248 ÐP của Trung Uý Nguyễn Tấn Hợi.. và một số đơn vị thuộc TÐ 212 ÐP.. sau những này tử chiến với cộng sản Bắc Việt tại Lương Sơn, Ma Lâm, Tân Ðiền, Phú Long, Phan Thiết .. được các chiến hạm và tàu thuyền của Duyên Ðoàn 28 thuộc Bộ Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, vớt về Vũng Tàu với tổng số quân nhân các cấp hơn 3000 người. Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa cũng có mặt trong đoàn quân di tản này.

Tất cả được chuyển về Trung Tân Huấn Luyện QG Vạn Kiếp tại Bà Rịa, tái trang bị vũ khí, quân trang dụng để thành lập Trung Ðoàn Bình Thuận. Sau đó đơn vị được phối trí bảo vệ thành phố Vũng Tàu, tại căn cứ cũ của TQLC , chiến đấu cho tới lúc được lệnh đầu hàng của TT Dương Văn Minh, lúc trưa 30/4/1975 mới tan hàng.

Tại Long Hải và Phước Tĩnh, dân tị nạn VC tấn chiếm hết các cơ sơ công cộng từ trường học, chùa, nhà thờ. Những người tới sau thì cắm lều dọc theo bãi biển, dưới rặng thuỳ dương chạy dài ngun ngút từ ngã ba Long Ðiền tới Miếu Bà. Hàng quán, chợ nhỏ và bến xe được dựng lên vội vã, giúp mọi người ráng thoi thóp thở từng hơi tuyệt vọng, trong lúc bóng dáng của lũ hung thần ác quỷ đỏ còn khuất sau núi Thị Vải.

Nhưng hầu hết nạn nhân chiến cuộc lúc đó đều tập trung tại Vũng Tàu. Rừng người khốn khổ vì cộng sản từ miền Trung, cao nguyên, Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh.. như có mặt khắp các ngõ ngách trong thị xã nhỏ bé này. Gần như biến mất các bóng hồng phu nhân mệnh phụ, tiểu thư đài các.. trước đó thường nằm bất động trên bãi cát trắng phau.. để khoe da thịt. Cũng không còn nghe được những tiếng cười nức nẽ của các ả ăn sương, trong các bar bum nhạc nhụa thời Mỹ còn làm trùm, làm ứa gan thiên hạ nhất là lính tráng và dân nghèo. Tất cả đã biến mất một cách thần kỳ, chỉ còn thấy khắp các nẽo đường Vũng Tàu từ Rạch Dừa ra các bến tàu, bãi biển.. hàng hàng xe cộ đủ loại của chính quyền và quân đội, chực đón đồng bào chiến nạn cũng như các đơn vị miền Trung di tản về. Riêng dân chúng được đưa tới tạm trú tại Trung Tâm Tiếp Cư Lê Lợi và Chí Linh, cũng là TTHL Cảnh Sát Dã Chiến và Cán Bộ Phát Triển Nông Thôn.



Làm sao có thể quên được trong cuộc đời những hình ảnh đẹp, của các vị Ni-Sư mãnh mai ốm yếu, đầu trần chân đất, lễ mễ khiên từng thùng nước đã nấu chín và hàng son cháo loảng, để tiếp sức cho các nạn nhân, nhất là các cụ già và trẻ con, gần như nằm bất động giữa các khoang thuyền đông nghịt người, qua nhiều ngày chịu sóng gió trên biển.

Lúc bình thường thì ly nước hay chén cháo loảng có nghĩa gì đâu ? nhưng trong giờ phút ‘ cây cột đèn cũng muốn chạy ‘ thì những thứ đó lại trở nên trân quý, khác gì những giọt nước Cam Lồ của Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát hằng cứu khổ cứu nạn thế nhân. Nhiều giọt lệ đã tuôn ra từ khoé mắt của các nạn nhân khốn khổ, thắm vào da thịt của kẻ tu hành, trở thành thứ tình cảm thiêng liêng, miên viễn và tuyệt diệu. Tiếp theo đó là những bàn tay nâng đỡ của các anh chị Cán Bộ PTNT, giúp những người ốm yếu bệnh hoạn cũng như đồ đạc hành lý, từ thuyền lên xe về các trung tâm tạm trú.

Hơn 10.000 nạn nhân chạy giặc VC, chen chúc sống trong 20 trại của Trung Tâm Chí Linh. Tất cả phòng ốc huấn luyện, nhà xe, kho chứa.. cho tới các bãi tác xạ đều dành cho người tị nạn. Vì số lượng người lánh nạn càng lúc càng đông, nên những người tới sau được cấp lều vãi cá nhân để ở tạm. Sự cứu trợ đước áp dụng theo tiêu chuẩn ‘ nạn nhân chiến cuộc ‘ của Bộ Xã Hội, gồm có tiền, gạo và thực phẩm.

Nước tắm rữa, giặt quần áo có ngay trong trại, còn nước uống được tiếp tế hằng ngày. Nhiều mạnh thường quân và các cơ sở từ thiện, tôn giáo .. giúp trung tâm quần áo, thực phẩm tươi, đồ hộp, mì gói. Một số Ni-Sư nguyên thiền sinh của Thiền Viện Chân Không Phước Tuy tới đây làm công tác từ thiện : Ni cô đãm trách việc phát thuốc, chữa bệnh và đở đẽ. Riêng các sư lãnh phần chặt cây, dựng lều cho đồng bào. Các thầy còn đi rão khắp trại, lùng kiếm các cô cậu để hớt tóc, vì có nhiều em hai ba tháng bôn ba chạy theo cha mẹ lánh nạn, không có dịp làm gọn cái đầu.

Mọi gia đình như tạm thời xếp nổi lo âu cùng cực để chờ phép lạ do chim bồ câu hòa bình sẽ mang tới. Tuy nhiên ai cũng cãm thấy như được an ủi phần nào, trong vòng tay đùm bọc thân ái của tình người giữa cơn ly loạn. Riêng các nạn nhân chạy về Sài Gòn, nếu không có thân nhân đùm bọc hay cơ quan gốc bảo trợ, đã phải sống lây lất dưới mái hiên người, sống đầy lề đường Phan Ðình Phùng, Petrus Ký, bến xe An Ðông tại ngã bảy.

Tình hình Phước Tuy lúc đó tạm thời lắng dịu, nhờ đã giải quyết được vấn đề người tị nạn nhưng chỉ tới ngày 26/4 thì giặc bắt đầu tấn công căn cứ Nước Trong và đã bị các sinh viên sĩ quan Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Thiết Giáp và TQLC chặn đứng trong ba ngày tại đây. Quốc lộ 15 nối liền Sài Gòn-Vũng Tàu cũng như thủy lộ Sài Gòn-Ðồng Nai-Cần Giờ vẫn còn thông suốt, nhờ vậy mới giúp được một số lớn đồng bào thoát ra nước ngoài bằng tàu thuyền.

Ngày 29/4/1975 nhiều quận thuộc Phước Tuy thất thủ nhưng Vũng Tàu vẫn còn tuy vòng vây của giặc đã áp sát và hướng tất cả các nòng đại pháo vào khu dân cư để nhả đạn, bất chấp sinh mệnh của hằng ngàn đồng bào vô tội. Chết chóc, đau thương.. tiếng khóc than thấu tới trời xanh.

Phút cuối cùng mới thấy được tình người, tình đồng đội và sự hy sinh cao quý của người lính VNCH. Thật vậy, đối với Việt cộng, kẻ thù chính của chúng trước sau không phải là những đơn vị Dù, TQLC, Lọi Hổ, BÐQ.. mà là nhũng người lính Nghĩa Quân và Cán Bộ Bình Ðịnh Phát Triển Xây Dựng Nông Thôn.. những người lính thật sự đối mặt và đối diện đêm ngày với kẻ thù nơi trận địa không có ranh giới tử sinh.

Và những người chiến sĩ áo đen hiểu rõ điều ấy hơn ai hết, khi đám VC thuộc tỉnh đội Phước Tuy theo chân quân Bắc Việt tràn ngập Vũng Tàu, vào trung tâm tiếp cư Chi Linh. Chỉ có chết hay nhân lãnh đòn thù ? Họ biết rõ nhưng đã không bắt chước các cấp chỉ huy bỏ chạy, để kịp giờ leo lên máy bay hay tàu thuyền đông ra biển.

Hầu hết đã chấp nhận ở lại sống chết với trung tâm, giúp những người tị nạn bị thương vong vì đạn pháo kích, đang quằn quại trong vũng máu bằng các phương tiện ít ỏi trong giờ phút 25 tàn cuộc. Ðồng hành chấp nhận sự hiểm nguy với những người lính áo đen, còn có những vị su-sãi trẻ tuổi cũng ở lại để san sẽ nổi khổ đau chung cùng nhân thế.
Thương vong, lửa cháy, khổ đau.. tiếng người rên rĩ gào thét giữa những tiếng súng đạn vô tình. Thành phố Vũng Tàu chìm trong biển hận thù, những đơn vị còn lại như TQLC, ÐPQ Phước Tuy và nhất là Trung Ðoàn Bình Thuận.. đã đánh với giặc một trận cuối cùng, trước khi vứt súng đạn theo lệnh đầu hàng của TT Dương Văn Minh vào trưa ngày 30-4-1975.

Ba mươi lăm năm qua rồi, thời gian cũng đủ làm cho lớp sơn mặt người cộng sản VN trôi hết, bày rõ chân tướng ‘ đánh miền Nam để dành độc quyền làm tay sai nô lệ cho Tàu đỏ ‘.Ngắn gọn và lý tưởng chỉ thế thôi, chấm hết quá khứ của một cuộc chiến bi thảm tận tuyệt, lảng nhách và vô duyên nhất trong dòng sử Việt.
Và cũng nhờ sự lừa bịp có một không hai của CS, ngày nay các thế hệ VN mới nhận rõ và thắm thía về thân phận hẵm hiu của người dân nghèo và lính VNCH suốt 20 năm chinh chiến. Sông có thể cạn, đá núi lâu ngày cũng mòn nhưng miên viễn tình người VN và tình đồng đội giữa những người lính VNCH.. cho dù thời gian có bị phôi pha nhưng tuyệt đối chẳng bao giờ thay đổi.

Ngày 19 tháng 4 năm 1975, người lính già theo chân đoàn quân di tản Bình Thuận chạy vào Vũng Tàu. Sau đó đã đi khắp mọi nơi để tìm vợ và 4 đứa con nhỏ đã đi trước. Cuối cùng ngày 21 tháng 4 mới gặp được họ đang an bình trong Trung Tâm Tiếp Cư Chí Linh. Nhờ đó mới được nghe thấy tại chỗ những điều vừa ghi lại theo niềm nhớ khôn nguôi trong tâm khảm suốt hai phần ba cuộc đời.
Chỉ còn biết cám ơn tất cả .

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4 mùa Quốc Hận 2010

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ ĐẢNG VIỆT TÂN Kể từ sau sự kiện bi tráng năm 1975 của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Hàng chục, hàng trăm các tổ chức chống cộng lớn nhỏ của người Việt đã ra đời, họ tự giác tập hợp nhau lại, nhen nhóm ước mơ rửa mối quốc hận với chế độ cầm quyền toàn trị do Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm đầu. Trong số những tổ chức chống cộng tiêu biểu của nửa đầu những năm 80 thế kỷ XX phải kể đến Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, và đó cũng chính là tổ chức tiền thân của Đảng Vỉệt Tân ngày nay.

Trước hết cần khẳng định rằng, người viết bài này không hề có ý định ca ngợi Đảng Việt Tân một cách bợ đỡ, hay hơn thế nữa là tôn vinh họ một cách quá mức, không đúng thực tế (điều đó thậm chí còn có hại cho họ chứ chẳng mang lại lợi lộc gì). Và cũng vì lẽ đó, họ sẽ chẳng bao giờ cần một hành động thừa, kiểu như “khen em bé ngoan” như thế. Việc tôn vinh họ hay là ghi nhận công sức của bất kỳ một tổ chức chính trị nào, từ xưa vẫn là công việc dành riêng cho thời gian và lịch sử.

Bằng những thông tin trung thực, những phân tích khoa học và khách quan mà mình có được trong quá trình tự tìm hiểu về Việt Tân. Người viết muốn đưa ra những nhận định một cách công bằng về tổ chức đấu tranh chống cộng sản đã trải qua thời gian (tính từ khi chính thức Việt Tân ra đời) 28 năm tuổi này.
Người viết cũng đã từng đọc (có lẽ là đến hàng trăm) các bài viết của nhiều thành phần chống đối Việt Tân. với giọng văn từ thô thiển dung tục đến lý luận suy đoán văn vẹo cầu kỳ, từ bài viết của người bên ngoài đến những thành phần vốn là cựu đảng viên của Việt Tân. Tôi tự hỏi, tại sao người ta lại tấn công Việt Tân dữ dội và hết sức bền bỉ như vây? Động cơ nào và lý do gì đã tác động đến những hành vi và hành động ấy? Sự thật về những “tội trạng” mà Việt Tân bị quy kết là gì? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu nội tình một cách giản lược, nhưng có tính bao quát và biện chứng.

Thiết nghĩ, cũng cần điểm sơ qua giai đoạn đấu tranh bạo động của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam. Thời kỳ những năm 80 thế kỷ trước, đấu tranh dùng bạo lực là chuyện đương nhiên, hầu khắp các nơi trên thế giới đều áp dụng. Chỉ sau khi các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô tan rã thì cụm từ “đấu tranh bất bạo động” mới có chỗ đứng trong lý luận cách mạng dân chủ. Đặc biệt là sau vụ khủng bố ngày 11/09/2001 thì thế giới chính thức lên án và kết tội về tội tấn công khủng bố. Nếu thực sự tội khủng bố được quốc tế xác định rõ ràng rộng khắp từ trước năm 1975 thì các lực lựng vũ trang của Miền Băc cộng sản đều là quân khủng bố thứ thiệt. Nổi bật là các đơn vị Đặc Công, Biệt Động Thành, Du Kích Quân của họ.

Đối với Việt Tân, sau khi quốc tế xác định, chỉ ủng hộ những hình thức đấu tranh ôn hòa tuân theo các quyền tự do về Dân Sự và Chính Trị của công dân (theo Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền). Họ đã chuyển sang đấu tranh bất bạo động. Đây là một chủ trương thể hiện sự linh hoạt, thích ứng kịp thời với tình hình của quốc tế cũng như Việt Nam. Đó là một quyết định khôn ngoan! Tuy vậy, ngày nay chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn vin vào cớ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam để quy Viêt Tân là một tổ chức khủng bố.

Những năm sau này một số những cán bộ Việt Tân ly khai đã chính thức công kích ngược đối với các chiến hữu của mình, điển hình là Phạm Văn Liễu. Phạm Văn Liễu và một số người khác tố cáo Việt Tân làm nhiều việc bất minh, nhưng những bằng chứng của họ đưa ra đều thiếu tính khoa học. Trong giai đoạn này nổi lên việc Việt Tân buộc phải giấu tin đề đốc Hoàng Cơ Minh đã tử trận, theo ý cá nhân tôi thì có lẽ là vì lý do muốn giữ vững tinh thần đấu tranh của các chiến hữu, nên Việt Tân đã không cho loan báo tin dữ này. Nếu đặt cương vị bạn đọc hay là tôi đang trong bối cảnh ấy của trung ương đảng Việt Tân, thì cũng đều sẽ làm như vậy. Sau đó họ lại gặp phải vấn đề khó khăn hơn, khi không tìm được thời điểm và lý do nào xác đáng để công khai sự ra đi của ông Hoàng Cơ Minh. Ở đời, nói dối là việc vô cùng khó khăn, nhất là đối với những người không quen nói dối. Cho nên chuyện “giấu đầu hở… cánh tay” là chuyện tất nhiên sẽ xảy ra.

Về chuyện tiền bạc của Việt Tân. Theo tôi, tiền bạc không làm nên cuộc sống, nó chỉ duy trì sự tồn tại. Nhắc đến chuyện tiền bạc theo cách “bới bèo ra bọ” là chuyện không nên. Các cụ có câu “thấy vậy mà không phải vậy”. Nếu như Việt Tân thực sự có việc biển thủ công quỹ hay gian lận thuế thì ngày 22/04/1991 một số đảng viên phụ trách tài chính của Việt Tân bị tống đạt lệnh điều tra của tòa án Mỹ (do những địch thủ của Việt Tân tố cáo). Nhưng kết thúc điều tra thì Việt Tân vô can. Vậy họ hoàn toàn trong sạch về tài chính trước sự thanh tra (chắc chắn là gắt gao) của cơ quan hữu trách Hoa Kỳ.

Về vụ việc vợ chồng anh Lê Triết và nhà văn Kim Anh qua đời. Các cơ quan đại diện cho pháp luật của Hoa Kỳ đã truy tìm nguyên nhân. Nhưng họ không tìm được bất kỳ mối liên quan pháp lý nào giữa họ và Việt Tân (như những trình báo sai sự thật). Vì vậy một lần nữa những cái gọi là “bằng chứng” áp đặt khiên cưỡng chống đối Việt Tân đã hoàn toàn bị bác bỏ.

Tôi tự hỏi, và coi như số liệu mà các “nhân chứng” chống đối Việt Tân nêu ra con số đồng bào ta ở Hoa Kỳ quyên góp và Việt Tân thu lợi từ tổ hợp Phở Hòa khoảng 10 triệu USD là thật. Thì chỉ cần một người không mấy giỏi giang về nghiệp vụ kế toán cũng có thể ước đoán được là số tiền đó, nếu Việt Tân đem chi phí cho tất cả các công việc ăn uống, đi lại, tuyển người (nhiều người được đưa từ Mỹ, Nhật, Đức, Pháp về chiến khu), mua vũ khí, lập doanh trại, huấn luyện chiến thuật, chăm sóc sức khỏe vv… (chỉ tính cho khoảng 500 con người thôi, không cần nhiều hơn) trong hàng chục năm trời thì số tiền đó có đủ hay không?

Hiện nay Việt Tân chắc chắn là đang được những nhà mạnh thường quân người Việt hỗ trợ một nguồn tài chính đáng kể. Nếu không thì họ không thể tự lực để chi phí cho một bộ máy lớn hoạt động đa dạng ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Úc, Pháp, Đức, Mỹ, Na Uy vv…

Chúng ta đang sống trong thời đại của văn minh và khoa học, chúng ta sống vì tình người, tình yêu thương. Nhưng chúng ta cũng sống bằng khoa học và luật pháp. “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”, đó là một phong cách thể hiện sự chuẩn mực của một con người có văn hóa trong xã hội văn minh. Mọi cáo buộc cho mỗi cá nhân hay một tổ chức, nếu không có đủ bằng chứng thì đều bị pháp luật vô hiệu hóa. Nếu ta vội tin vào lời người đời “lời nói không có khuôn” thì rất dễ vô tình trở thành kẻ đồng lõa với tội ác. Người ta công kích Việt Tân thậm chí từ việc bắt bẻ cả tên gọi “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, cho dù nghĩa của cụm từ này khá là rõ ràng, dịch: “Việt Nam thay đổi từ từ tiến tới đổi mới hoàn toàn”. Và chuyện tên gọi của một đảng thì có mấy gì liên quan đến nội dung hoạt động lắm đâu? Ví dụ Đảng Dân Chủ, Đảng Tự Do, nếu hiểu theo cách đảng Dân Chủ không có tự do và đảng Tự Do không có dân chủ thì thực là buồn cười…

Bất công nhất là việc, một mặt đối với chế độ cộng sản tại Việt Nam, Việt Tân bị coi là tổ chức khủng bố. Nhưng ở hải ngoại (nhất là ở Mỹ) Việt Tân lại bị một số cây bút gọi là “cánh tay nối dài của Việt Cộng”. Họ đưa ra những bằng chứng rất ư là con trẻ ví dụ cho rằng một cán bộ của Việt Tân (Hoàng Hồ) đi vào trong một khu chợ (Chợ Tết Fairgrounds) cùng với một người bị coi là Việt Cộng nằm vùng (Huỳnh Tiểu Hương), thì tất nhiên là hai người này… có cấu kết?

Đồng bào từng là quân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa do trải qua chiến tranh đau thương, nên nghe đến hai từ “Việt Cộng” là bị dị ứng. Nắm được yếu tố tâm lý này cho nên người ta ghét ai thì cứ gán cho hai chữ “Việt Cộng” là người đó coi như “lãnh đủ”.

Gỉa sử Việt Tân là… Việt Cộng thật, và là đối tác của Việt Cộng, thì tại sao Việt Cộng lại không gỡ bỏ danh nghĩa khủng bố mà họ đã cố tình gán ghép cho Việt Tân? Nếu là quân khủng bố thứ thiệt thì làm gì Việt Tân có cơ hội đưa người về nước công khai đấu tranh được, rồi làm sao có thể là “đối tác” với cả “đối xứng” gì với Việt Cộng được đây! Nếu muốn ngụy trang thì Việt Cộng chỉ việc gọi Việt Tân là “bọn phản động” là đã quá đủ để Việt Tân có một vỏ bọc mỹ mãn.

Về một vài lời phát biểu của lãnh đạo đảng Việt Tân có lúc không hoàn toàn ăn khớp thì cũng chẳng có gì khó hiểu. Đến các vị nguyên thủ quốc gia còn mắc lỗi nhan nhản (ví dụ gần đây nhất là tổng thống Obama nói về chuyện chơi Bowling). Nếu những lời phát biểu náo đó của lãnh đạo Việt Tân vô tình đi ngược lại với chủ trương và đường lối đấu tranh của họ (tôi chưa tìm thấy bằng chứng về điều này), thì mọi người hãy tin chắc rằng họ sẽ công khai xin lỗi chứ không thể bỏ qua.

Tuy nhiên, với đặc thù của một tổ chức tình nguyện, Việt Tân chẳng thể nào có được sự chọn lựa về nhân sự theo hình thức tuyển chọn kỹ càng. Chính vì vậy cho nên có những người không cùng quan điểm (có thể có cả kẻ gian) đã lọt vào hàng ngũ của họ, để rồi sau này cả công khai và không công khai, Việt Tân đã phải khai trừ những phần tử đó. Và cũng chính vì là một tổ chức đấu tranh tình nguyện cho nên người ta đặt yếu tố tinh thần lên hàng đầu, như vậy vấn đề năng lực của các đảng viên Việt Tân trong thời gian dài, chắc chắn là sẽ bị bỏ ngỏ…

Tôi cũng lại tự hỏi, tại sao nhiều những vị trước đây từng là “tai to mặt lớn” của Việt Nam Cộng Hòa, họ có thừa nghiệp vụ điều tra (kể cả chuyên môn tình báo). Nhưng lại chưa có một ai, hay một nhóm nào dám lập một chuyên án điều tra về Việt Tân cho ra hồn. Chỉ có cách đó thì mới có bằng chứng và cơ hội “lật tẩy Việt Tân” với “chứng cớ rành rành” thì Viêt Tân có mà chạy đằng… trời. Việc gì họ phải viết báo viết sách suy diễn, gán tội lung tung choViệt Tân, để người đời đánh giá ngược lại cho chính họ. Phải chăng là họ đã từng điều tra mà chẳng thu được bằng chứng gì, hay là họ biết thừa là có điều tra cũng chỉ là vô ích, vì có gì mà điều tra!

Còn chuyện “loan tin thắng trân” và hư cấu tình hình. Tôi xin cam đoan rằng, trước năm 1975 đài Sài Gòn còn làm tốt hơn đài của Mặt Trận Quốc Gia thống Nhất Giải Phóng Việt Nam. Và đài Hà Nội còn làm tốt hơn thế nữa. Chẳng ai dại gì mà loan tin mình thua trận cả, vì nếu thua dài dài thì còn ai dám tòng quân, còn ai dám góp của góp công cho kháng chiến nữa…

Nếu chuyện ông Hoàng Cơ Minh lập căn cứ kháng chiến ở trên đất Thái- Lào là giả. Và mục đích của việc làm giả này chỉ nhằm thu tiền của đồng bào quyên góp để làm giàu cho bản thân mình (như lời nhiều người đã thêu dệt). Thì tại sao đích thân ông Minh lại phải phát động hai chiến dịch là “Đông Tiến 1” và “Đông Tiến 2”. Chuyện hành quân về Việt Nam là thật và họ anh dũng hy sinh là thật. Vậy thì có khi nào họ lại đi làm một việc ngược đời là “chuẩn bị giả và hành quân thật” như vậy? Nếu không vì mong muốn khát khao chiến đấu thì quả thật ông Hoàng Cơ Minh chắc chắn phải là một người lú lẫn (?). Còn nữa, ông Hoàng Cơ Minh hoàn toàn có thể vin vào lý do đảm bảo an toàn cho lãnh đạo để không phải hành quân, không phải cầm súng. Thậm chí Ông còn có thể chọn vài vệ sĩ cho riêng mình, nhưng Ông đã không hề làm như vậy! Chỉ có một cách giải thích, chính những người viết bài và phát biểu bôi xấu Ông mới là những kẻ lú lẫn!

Một câu chuyện bịa đặt nếu nó chỉ được nói ra một hoặc vài lần thì không có gì quan trọng lắm. Nhưng nếu câu chuyện ấy cứ lặp đi lặp lại hàng trăm lần thì nó sẽ gây nên một phản xạ tâm lý tiêu cực là, dễ chấp nhận (một cách vô thức) cho người nghe – Nó sẽ biến lời nói dối thành lời nói thật. Đây cũng chính là yếu tố đã làm cho không ít đồng bào ta ở hải ngoại có cái nhìn không chính xác về Việt Tân, do họ bị kẻ xấu (và cả người tốt vô tình tiếp tay cho kẻ xấu) tung hỏa mù có lớp lang, có hệ thống. Không nói đâu xa, chính bản thân người viết bài này cũng đã có lúc nhìn Việt Tân với con mắt nghi ngại, ngờ vực. Đấy, quý vị xem, chuyện vua Hùng Vương có thật hay không? Đã không có vua Hùng thì làm gì có ngày Ông chết? Lịch sử viết Vua Hùng chết vào ngày nào mà làm “giỗ”? Thế mà cộng sản ra rả thêu dệt từ ngày “lễ hội Đền Hùng” lên thành chuyện “giỗ tổ” rồi thành “giỗ quốc tổ” để kích vào lòng tự hào dân tộc của nhân dân, hòng dễ bề xua quân ra trận chết thay cho họ khi cần, nhưng những người ngã xuống vẫn tưởng là mình hy sinh vì lòng tự hào dân tộc(!). Người thường thì không nói gì, thế nhưng có cả hàng ngàn hàng vạn các vị giáo sư tiến sĩ, nhà khoa học, nhà sử học vv… cũng tin “sái cổ” là có “ông quốc tổ” Hùng Vương đó thôi…

Lại có chuyện ít ngày qua ông Hữu Nguyên chủ bút báo Sài Gòn Timer Úc Châu, cũng công khai đặt nghi vấn khi cho rằng Việt Tân có mặt ở khắp nơi trong cộng đồng người Việt Úc Châu. Làm như vậy ông Hữu Nguyên vô tình đã công nhận là Việt Tân đang thu hút được sự tin tưởng của đông đảo người Việt. Nói một cách khác ông Hữu nguyên có ý công kích Việt Tân nhưng lại vô tình quảng bá sức mạnh của Việt Tân.

Đối với những người nhẹ dạ cả tin thì một vài bài báo hư cấu có thể lừa được họ. Nhưng đối với những người thận trọng thì không bao giờ họ vội vàng nghe theo, nhất là nghe theo những người có nhiều “kỳ tích” viết “vặn” như Nguyễn Văn Nghiêm, Trương Minh Hòa, Việt Thường, Kim Âu, Hà Tiến Nhất, vv…

Nếu làm việc một cách có khoa học, đầu tiên, bất kỳ một ai muốn đánh giá một tổ chức hoạt động chính trị theo mô hình của một chính đảng, họ cần xem xét những điều chính yếu sau:

Đường lối của tổ chức này có sáng suốt, thực tế và khả thi hay không? Chủ trương hoạt động có nhằm mục đích chính đáng hay không ? Phương pháp hoạt động có mang tính khoa học, nhân văn và nhân đạo hay không? Mô hình tổ chức, nguồn tài chính cho hoạt động (duy trì sức chiến đấu) có đủ mạnh hay không? Chứ người ta không bao giờ lại soi mói những chuyện nhỏ nhen như chuyện quyên tiền thiện nguyện, chuyện lập quỹ đấu tranh. Vì quyên góp là tùy tâm và tự nguyện không ai có quyền ép buộc (và chẳng thể bắt buộc được) theo lối cướp của, tống tiền!

Theo thiển ý của cá nhân tôi, tôi hoàn toàn nhất trí và ủng hộ phương pháp đấu tranh ôn hòa bất bạo động của Việt Tân. Cách đấu tranh này hoàn toàn phù hợp với xu hướng chung của nhân loại tiến bộ. Để công khai quan điểm của mình, tháng 09/2005 họ đã cho biên dich và phát hành cuốn “Từ Độc Tài Đến Dân Chủ” của Gene Sharp. Đây là một việc làm biểu lộ tư tưởng kiên quyết đấu tranh ôn hòa chống cộng sản.

Sự việc nhóm đảng viên cao cấp của Việt Tân gồm tiến sỹ Nguyễn Quốc Quân, chị Nguyễn Thị Thanh Vân, anh Somsak Khumi vv… bí mật về nước đem tài liệu và truyền đơn dân chủ phát hành và bị bắt, sau đó có một số đảng viên Việt Tân công khai về nước thăm nuôi. Gần đây là việc họ phân phát áo in chữ Hoàng Sa Trường Sa – Việt Nam (tuy riêng tôi chưa đánh giá cao về mặt thành công từ việc làm này) cũng đã cho thấy quyết tâm đấu tranh bất bạo động của họ.

Theo như thông tin nội bộ của anh em đấu tranh trong nước, trong nhiều năm qua, dưới danh nghĩa các cá nhân và tổ chức khác nhau. Việt Tân đã gửi tiền bạc trợ giúp các nhà đấu tranh, và gia đình của các nhà đấu tranh trong nước những khoản tiền cần thiết. Bản thân luật sư Lê Công Định cũng đã khai trước tòa án của cộng sản là, anh ta được Việt Tân giúp đỡ huấn luyện về phương thức đấu tranh bất bạo động, mặc dù Lê Công Định và nhóm của anh ta không phải là người của Việt Tân.

Và cũng cần nhấn mạnh một điều rằng, từ trước đến nay cả trong và ngoài nước, không có một tổ chức, đảng phái chống Cộng Sản nào, mà tiếng nói của họ có uy tín với các chính khách và quốc hội của các nước Dân Chủ như Việt Tân. Ngày 19/03/2009 ông Đỗ Hoàng Điềm – Chủ tịch Đảng Việt Tân – Đã có một buổi điều trần với đại diện Quốc Hội Úc về vấn đề nhân quyền của Việt Nam. Hiện nay bà Laura Sanchez dân biểu Hoa Kỳ cũng rất quan tâm đến Việt Tân, và Bà đã công khai lên tiếng bảo vệ quyền được tôn trọng nhân quyền của người Việt trong nước…

Sẽ có người hỏi tôi là; “Tại sao anh thấy Việt Tân có nhiều điểm ưu việt như vậy mà chính anh lại không gia nhập Việt Tân?”. Xin được trả lời rằng: “Tổ chức, đảng phái chỉ giống như là một phương tiện đấu tranh, mà tôi thì đã có “phương tiện” ấy rồi (hiện tôi đang là thành viên chính thức của Khối 8406). Và theo như “Cương Lĩnh của Khối 8406” thì chúng tôi sẽ giải tán tổ chức này, trả lại quyền lực cho các chính đảng xây dựng nhà nước pháp quyền, sau khi chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam bị gỡ bỏ. Bản thân tôi không có ý định tham gia vào chính trường vì tôi không hề làm chính trị. Tôi chỉ đơn thuần là một người đấu tranh mà thôi”.

Trở lại vấn đề về Việt Tân. Tôi cho rằng người ta đánh phá Việt Tân vì một vài lý do sau:

Một là, dựa vào những sai lầm nhỏ do một vài cá nhân của Đảng Việt Tân trong quá khứ gây nên, người ta cố ý suy diễn theo lối bắc cầu “nếu A thì B”.

Hai là, một vài người có tư tưởng đố kỵ, tị hiềm với danh tiếng và sự phát triển của Việt Tân, họ đã trực tiếp hoặc đứng đằng sau những bài viết, bài phát biểu tấn công Việt Tân.

Ba là, một số cây bút viết vì muốn gây “shock” cho độc giả để bán báo và bán sách kiếm tiền, thu lời (thực ra là bất mính).

Bốn là, những tên cộng sản văn nô trong vỏ bọc người tị nạn hoặc vỏ bọc là cựu quân, cán, chính, của chế độ Việt Nam Cộng Hòa hành động theo chỉ đạo từ Hà Nội…

Chẳng có ai, chẳng có đảng phái nào là không mắc sai lầm, không có mâu thuẫn nào đó về nội bộ và hoàn hảo tuyệt đối. Những người có kinh nghiệm và giàu lòng nhân ái sẽ nhìn xem thực tế hôm nay Việt Tân đang làm những gì, ngày mai họ sẽ làm được gì cho sự nghiệp dân chủ hóa Việt Nam. Nhưng Việt Tân muốn đấu tranh có hiệu quả hơn nữa, thì họ phải không ngừng nâng cao năng lực làm việc của các cán bộ của họ. Và nếu không luôn tự nhìn nhận và kiện toàn mình một cách khách quan, thì họ chưa thể đạt được thành công như mong muốn.

Nhưng có lẽ Đảng Việt Tân cũng sẽ phải cảm ơn (…) những nhân vật đã bền bỉ công kích họ trong nhiều năm qua. Tại sao lại thế nhỉ? Vì theo tôi nghĩ, phần nào của những trò đánh phá rẻ tiền chống Việt Tân, dù đã gây thiệt hại nhiều về lòng tin và uy tín của tổ chức này. Nhưng vô tình nó đã góp phần nhắc nhở cho các đảng viên Việt Tân nên cẩn thận giữ mình hơn, và họ cần thận trọng hơn trong mỗi hành động đấu tranh. Điều này hóa ra lại có những bổ ích nhất định nào đó…

Tôi tin rằng để bịt miệng những kẻ điên khùng, cực đoan bảo thủ bằng cách cãi nhau theo kiểu “phường chèo” với họ là điều không thể đối với những người chân chính. Nhưng tôi rất tin tưởng vào sự công tâm của người đọc, người nghe. Chính người đọc, người nghe mới là những quan tòa đích thực cho công lý của truyền thông đai chúng trong một xã hội văn minh hiện đại.

Lê Nguyên Hồng.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Dư luận quanh vụ biểu tình Hồng Y Mẫn:
Vắng người vì 'nhiễu thông tin'?

Monday, April 12, 2010

Nguyên Huy/Người Việt
LONG BEACH (NV) - Với trên 5,000 giáo dân tham dự Thánh lễ Lòng Chúa Thương Xót tại Long Beach do Hồng Y Phạm Minh Mẫn chủ tế hôm Chủ Nhật, và một con số rất nhỏ người biểu tình bên ngoài sân, dư luận đưa ra nhiều câu giải thích khác nhau cho việc biểu tình ít oi.

Hồng Y Phạm Minh Mẫn gặp sự chống đối do một bức thư ông viết năm 2008 trong đó ông khuyên thanh niên đi dự Ðại Hội Giới Trẻ Công Giáo ở Sydney, Úc, đừng mang cờ vàng ba sọc đỏ.
Image
Quang cảnh buổi Thánh Lễ tại Long Beach.
Trước ngày Ðại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót diễn ra, một Ủy Ban Phản Kháng đã hình thành và ra lời kêu gọi chống lại sự hiện diện của Hồng Y tại Nam California. Ngoài ra, một bức thư kêu gọi biểu tình ký tên ông Trần Thế Cung và ông Rambo Phạm được loan truyền rộng rãi.

Tuy nhiên, trong ngày lễ, con số biểu tình chỉ có một ít người. Ông Rambo Phạm nói số người tham gia biểu tình, theo ông, là “trên hai chục người.” Nói với Người Việt, ông Rambo Phạm cho rằng số người không đông là vì người ta không biết có lời kêu gọi biểu tình:

“Ở Nam California này có hàng chục tổ chức đấu tranh chống cộng sản, bảo vệ lá cờ Vàng, nhưng sở dĩ người đến biểu tình ít là vì lời kêu gọi biểu tình không được các cơ quan truyền thông báo chí hỗ trợ ngoài việc chúng tôi cho lên Net. Ða số giới cao niên thì có mấy ai đọc Net nên tin tức không được phổ biến rộng. Vả lại nhiều người đã tin rằng Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ không có mặt vì biết có sự phản đối trong cộng đồng người Việt. Với chúng tôi thì chúng tôi coi là đã chiến thắng oanh liệt chứ không hề thất bại.”

Một thành viên Ủy Ban Phản Kháng, không tham gia biểu tình hôm Chủ Nhật, là ông Trần Trọng An Sơn. Ông cho rằng người biểu tình không đông là vì người ta không biết sẽ có sự hiện diện của Hồng Y Mẫn.

Trong những tuần trước Ðại Hội Lòng Chúa Thương Xót, đài phát thanh Mẹ Hằng Cứu Giúp do dòng Chúa Cứu Thế phụ trách đọc chương trình chi tiết đại hội. Chương trình này, vẫn còn lưu trữ trên trang web Mehangcuugiup.org, chỉ liệt kê “Thánh Lễ Ðại Trào do Ðức Cha Oscar Solis, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Los Angeles với Ðức Cha Alexander Salazar.” Bản thông báo không nhắc đến Hồng Y Phạm Minh Mẫn.

Ông Trần Trọng An Sơn nói với Người Việt:

“Mặc dù chúng tôi qua nhiều cuộc tiếp xúc thăm dò trong và ngoài nước để tìm hiểu xem Hồng Y có đến Hoa Kỳ dự lễ không nhưng kết quả không nhận được tin gì chính xác. Một thân hữu công giáo thân cận với các cha ở trong nước cho biết là nếu ngài đi thì đi trong chính thức chứ ngài đâu có đi trong lén lút. Thêm nữa qua các thông cáo cho đến giờ phút chót của các đoàn thể Công Giáo thay mặt Ban Tổ Chức cũng không nhắc nhở gì tới sự có mặt của Hồng Y nên anh em trong Ủy Ban Phản Kháng đã tạm tin lời trong các thông cáo nên không có phản ứng gì thêm ngoài một Thư Phản Kháng trong Thông Báo số 1 của chúng tôi.”

Một luồng dư luận thứ ba, tuy không đồng ý về sự có mặt của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, cũng không phản đối. Ông Ngô Chí Thiềng, một nhân vật hoạt động nhiều trong cộng đồng, cho rằng ít ai còn quan tâm đến lời tuyên bố của Hồng Y trước đây. Ông nói:

“Cuộc biểu tình chống Hồng Y Mẫn không đông, theo tôi là vì không có mấy người quan tâm đến lời nói của Hồng Y trước đây. Ông là một người chân tu nên phải khéo léo và làm bất cứ việc gì để có thể cho một nhà tu làm việc của mình trong chế độ cộng sản. Phân tích kỹ lời phát biểu của ông thì thấy Hồng Y cũng chẳng thù ghét gì người Việt hải ngoại, cũng không cố tâm gây chiến nên vì thế mà nhiều người bỏ qua không lý tới nữa. Nhưng, giả thử ông mà tới Orange Caounty, Little Saigon xem, vấn đề sẽ lại khác ạ.”

Riêng ông Rambo Phạm, người đã kêu gọi biểu tình, thì so sánh việc làm của ông với chiến tranh chống cộng sản thời trước 1975:

“Dù chỉ với vài chục người chưa đủ quân số cho một trung đội chúng tôi giống như quân lực VNCH trước đây đã đánh thắng được cả đoàn quân đông đúc có mặt trong buổi lễ có thể từ 8 đến 10 ngàn người. Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã phải đi vào nơi hành lễ bằng cửa sau và phải nhìn thấy lá cờ Vàng mà chúng tôi luôn giương cao trước nơi hành lễ.”

Ðại Hội Lòng Thương Xót Chúa năm nay là kỳ thứ 10, do Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại tổ chức. Trong các năm trước, đại hội này thu hút khoảng trên 3,000 người đến dự. Năm nay, số người tham dự đứng chật tòa nhà Walter Pyramid, một sân vận động có sức chứa 5,000 người chưa kể ghế đặt trên sân đấu.

Vào năm 2008, trước khi lên đường dự Ðại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới tại Sydney, Hồng Y Phạm Minh Mẫn viết một bức thư gởi một số giám mục Việt Nam, trong đó Hồng Y viết về cờ vàng, cờ đỏ, có đoạn: “Một lá cờ biểu tượng cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi là biểu tượng cho một đất nước, lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc gia... Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng. Giám mục của tôi, cách đây hơn 30 năm, lúc còn sinh thời, đã để lại cho các tín hữu và cho bản thân tôi bài học lịch sử này: người mẹ Việt Nam, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dầy công sinh thành dưỡng dục con dân Việt Nam, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản vô giá.”

Cũng bức thư trên gọi việc “lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được dương lên” là một “sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam.”

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

‘BÀI HỌC NẶNG KÝ’ TỪ VIỆT NAM

Anderson Thai Quang
Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Việt Báo trân trọng giới thiệu những "bài học nặng ký" của ông.

Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đèn rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhưng nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miền Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.
Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số ấn tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG

Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh và bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.

Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách 'Ho Chi Minh: A Life' bởi William Duiker và cuốn 'Đỉnh Cao Chói Lọi' của Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của Bác Hồ".

Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách 'China and the Vietnam wars' của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, Hồ Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao vì chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suốt 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

Anderson Thai Quang

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Tự thú của một người tù “cải tạo” Chiều 30 tháng 4 năm 1975, tôi và T. đứng trên lầu 9 cao ốc ở đường Nguyễn Huệ nhìn xuống đường Tự Do. Bộ đội miền Bắc - những người vừa chiến thắng trong cuộc nội chiến, ngoại khiển, đang diễn hành trên đường phố Sàigòn với chiến xa bọc thép của Liên Sô dẫn đầu. Những người lính miền Bắc ốm yếu, xanh xao, ngụy trang sơ sài cho có lệ. Bánh xích xe tăng Liên Sô và dép râu bộ đội miền Bắc đang cán và giẫm lên đường Tự Do.

Phía dãy nhà đối diện, dân chúng túa ra xem mỗi lúc một đông. Những người Việt gốc Hoa cầm cờ Trung Cộng và cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫy vẫy chào mừng đoàn quân chiến thắng.

Tôi bỗng ứa nước mắt!

T. cầm tay tôi, nói:

“Thôi mình đi xuống, anh.”

Tôi và T. đi xuống.

Tôi biết mình đang bước xuống tầng đầu địa ngục.

*

Tôi và T. trở về Vĩnh Long trên một chiếc xe cam-nhông trước kia dùng để chở heo, vì mùi phân heo còn nồng nặc. Mụ chủ xe tham tiền đã rước khách không còn có chỗ để ngồi. Ai cũng muốn trở về quê quán sau cuộc binh đao để xem gia đình còn mất ra sao. Trước đó mấy ngày, tôi đã thờ ơ nhìn những người tất tưởi, lũ lượt đi về phía bến Bạch Đằng. Sau này tôi mới biết, ở đó, có một chuyến tàu cuối cùng đưa hàng ngàn người rời khỏi Việt Nam, đó là chiếc tàu Trường Xuân do thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy điều khiển.

Những ngày ở Vĩnh Long tôi như người bị ốm đứng. Buổi trưa, có tiếng lựu đạn nổ ở Cầu Lầu: một nghĩa quân đã rút chốt lựu đạn tự sát. Buổi tối, có tiếng những bước chân chạy đuổi sau nhà: “cách mạng” đang truy đuổi bọn phản động.

Tin từ Khám Lớn: một Đại tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa tự sát vì bị bạc đãi.

Một tháng để tất cả các quân nhân, công chức “ngụy” trình diện học tập đã hết.

Tôi trở lên Sàigòn, về Biên Hòa để gặp lại ông nội tôi trước khi đi trình diện học tập cải tạo 10 ngày theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh là tên mới của Sàigòn.( Sàigòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên!) Ông nội tôi đã nhìn tôi, rồi thở dài: “Vậy mà nội tưởng vợ chồng con đã đi…” Đó là câu nói cuối cùng của ông nội tôi - người đàn ông vợ chết từ năm 40 tuổi vẫn ở vậy nuôi con, nuôi cháu cho nên người.

*

Trại cải tạo đầu tiên trên đường bước xuống tầng đầu địa ngục là thành Ông Năm ở Hốc Môn. Cùng với những người tù khác, tôi đã phải học những bài học: “Đế quốc Mỹ, tên sen-đầm quốc tế - Ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ.” Và nhiều bài học khác mà tôi đã quên tên. Tôi đã cặm cụi chép vào quyển tập học trò những câu khẩu hiệu: “Sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại - Học, học nữa, học mãi – Lao động là vinh quang…” Và còn nhiều câu khẩu hiệu mà tôi không còn nhớ, cũng như không dám nhớ!

Như đa số các tù binh, tôi thuộc loại “ngậm miệng qua sông.” Để chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng, vào những ngày 19 tháng 5, ngày 2 tháng 9, ngày Tết Âm lịch, tôi đã sáng tác thơ ca tụng “cách mạng” gửi đăng “báo tường”.

Chính ở nơi đây, tôi đã cay đắng nghe viên thiếu úy bộ đội miền Bắc mà các “cải tạo viên” thường gọi là “anh hai thơ” (vì lúc nào anh ta cũng ngâm nga thơ của Tố Hữu), đọc cho nghe câu thơ mà anh ta bảo là của một chị phụ nữ miền Nam . Câu thơ như sau:

“Có chồng bộ đội là tiên

Có chồng quân ngụy đảo điên cửa nhà!”

Cũng chính nơi đây, chúng tôi đã dở khóc, dở cười khi được các “đỉnh cao trí tuệ” dạy dỗ. Chuyện mới nghe tưởng chừng như chuyện tiếu lâm mà lại là sự thật, tôi xin được kể lại như sau:

Sau một thời gian học tập, chúng tôi được phát giấy để làm bản tự kiểm. Thôi thì đủ thứ tội tình phải cố nhớ ra để mà “tự kiểm”: Trong thời gian phục vụ trong hàng ngũ ngụy quân đã đốt bao nhiêu cái nhà? Đã hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ? Đã giết bao nhiêu “cách mạng”?

Viết xong phải thông qua tổ, đội rồi nộp lên Ban Chỉ huy trại.

Sau đó, tất cả các tù binh được lệnh xếp hàng ngồi dưới đất để nghe Ban Chỉ huy trại gọi vào hạch sách về những điều mình đã tự khai.

Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”.

Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét:

“Me bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.”

Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”.

Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh:

“Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù.

Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”.

Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của - Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau:

“Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh - Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.”

Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ!

Cùng với những tù binh khác, sau đó chúng tôi được đưa đến Long Giao, rồi về trại cải tạo Suối Máu ở Biên Hòa. Tôi vẫn tiếp tục “ngậm miệng qua sông” và làm thơ ca tụng “cách mạng” vào những ngày lễ lạc của những người thắng trận , với hy vọng là được “cách mạng” biết là mình đã “học tập, lao động tốt và đã có tiến bộ về mặt tư tưởng!”

Năm 1977, cùng với những người tù khác, tôi đã lênh đênh trên tàu Sông Hương lưu đày ra miền Bắc.

Tầng địa ngục thứ tư mà tôi phải đi qua là trại Nghĩa Lộ nằm trong một thung lũng là trại cải tạo đầu tiên tôi đặt bước chân lưu đày ra miền Bắc. Đêm đầu tiên mặc bộ đồ tù màu xanh có sọc trắng, các tù nhân trông giống như những đạo tì đi khiêng quan tài người chết.

Chính nơi đây, những người tù miền Nam mới thực sự biết đến cái đói. Mỗi bữa ăn chỉ được một miếng bột mì đen khuấy chín để đặc lại với vài cọng rau muống luộc chấm mắm tôm khuấy lỏng.

Mỗi ngày tù nhân phải leo lên núi chặt giang, đốn củi.

Ở đây, tôi cũng lại tiếp tục “ngậm miệng qua sông” để mà sống. Có ai đó đã vô cùng có lý khi nói rằng: “Thà làm con chó sống hơn là làm con sư tử chết!”

Cái đói là đòn cân não tàn phá nhân phẩm của những người tù. Người ta giành nhau từng phần chia lớn, nhỏ. Tù nhân đã phải tìm bắt tất cả những con vật động đậy có thể ăn được. Bỏ cấp bậc, lon lá xuống, mặc vào bộ quần áo tù, rất dễ nhận ra nhân cách của mỗi người. Có những người để lập công chuộc tội đã lén lút báo cáo người này có tư tưởng phản động, kẻ kia có âm mưu chống đối.

Ở trại Nghĩa Lộ, người nằm cạnh tôi là anh Trương Văn Tuyên (hiện định cư tại Canada ), là người bị cấm thăm nuôi ở trại Suối Máu. Theo lời anh ta thì anh ta tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh,cấp bậc Trung úy, cựu Quận trưởng quận Hoài Nhơn, Bình Định.

Chuyện anh ta bị cấm thăm nuôi thì có nhiều chuyện lắm. Như chuyện anh ta “khoe” là “có quen với cán bộ quản giáo, nhưng chỉ quen cái lưng vì lúc đánh nhau anh ta đã rượt mấy ông bộ đội chạy có cờ.” Chuyện anh ta kể với tôi nguyên nhân chính là do lần anh ta kể chuyện chính quyền Việt Cộng gửi công hàm đòi chính phủ Thái Lan phải trao trả các phi cơ mà các phi công của miền Nam lấy và bay qua Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã gửi công hàm trả lời và trong công hàm chỉ vỏn vẹn có ba chữ viết tắt “B.C.T.”. Anh ta đố mọi người có biết ba chữ viết tắt này nghĩa gì không. Người thì cắt nghĩa ba chữ “B.C.T.” là “Bộ Chính Trị”, kẻ thì bảo là “Ban Cải Tạo”. Cuối cùng, khi mọi người chịu thua, Tuyên cười khì khì bảo ba chữ B.C.T. là viết tắt của ba chữ “Bú C. Trừ.” Sau đó, có người đi báo cáo để lập công nên anh ta bị cấm thăm nuôi.

Ở đây, anh ta lại tiếp tục chống đối. Khi viên Trại phó tên Điền, cấp bậc Đại úy ra lệnh tập họp các tù nhân ở hội trường và phổ biến quy định các trại viên khi gặp các cán bộ phải nói: “Kính thưa Ngài Trại Trưởng, Kính thưa Ngài Trại phó, Kính thưa Ngài cán bộ quản giáo…” Khi trại phó Điền ra lệnh giải tán lớp học, gặp tôi trên đường về lán trại, Tuyên khoanh tay, cúi đầu, nói lớn:

“Kính thưa Ngài trại viên”

rồi cười lớn làm tôi hoảng quá.

Buổi chiều, nhân lúc rửa chén ở dưới suối, tôi có nói với anh ta không nên chống đối ra mặt chỉ thiệt cho thân mình. Tôi nói xa, nói gần với anh ta về chuyện Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, về chuyện “mang thiên quá hải”. Từ đó, anh ta thân với tôi hơn và anh ta thay đổi rõ rệt.

Trong thời gian này, trại phát động làm báo tường. Những trại viên có bài vở đóng góp sẽ được nghỉ lao động một ngày. Mỗi ngày lên rừng chặt, cột, vác về trại 15 cây giang rất là nặng nhọc đối với một người ốm yếu như tôi; do đó, tôi đã làm bài thơ “Đại dương trong lòng con sóng nhỏ” ca tụng công đức của ông Hồ Chí Minh để được nghỉ lao động một ngày

Bài thơ như sau:

“Con chưa khóc Bác một lần

Để nghe biển lớn vỗ nâng tâm hồn

Con chưa hát bản Kết Đoàn

Bác đưa tay bắt nhịp tràn yêu thương

Kiếp xưa đã lỡ cung đường

Nên con sóng nhỏ đau thương lạc loài

Trên cao Bác vẫn vẫy tay

Gọi con sóng nhỏ về đây nhập nguồn

Xa rồi thung lũng đau thương

Hạt mưa sa đã về nguồn yêu thương

Muôn vàn cảm tạ công ơn

Tấm lòng biển lớn bao dung ngất trời

(quên mất 2 câu)

Bác ơi! Ơn Bác tái sinh

Trên đường sống lại, trăm năm ghi lòng!”

Trương Văn Tuyên là người biết về âm nhạc, anh ta đã đem bài thơ phổ nhạc và đem hát trong buổi lễ sinh nhật của ông Hồ Chí Minh.

Hôm sau, lúc xuống suối rửa chén, gặp đại úy Hồ Bác Ái là người làm việc chung Phòng với tôi ở Bộ Tổng Tham Mưu, anh ta đã hỏi tôi một cách mỉa mai:

“Ông anh đổi họ hồi nào vậy, ông anh?”

làm tôi ngượng chín người. Từ lúc đó, tôi cố ý tránh gặp mặt anh ta. Tôi là người tham sống, sợ chết. Tôi là kẻ ngậm miệng qua sông. Tôi đã muối mặt ca tụng Bác, Đảng với mục đích duy nhất là chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng để được Đảng và Nhà Nước khoan hồng, để được sớm đoàn tụ với gia đình, theo như lời phủ dụ của các cán bộ quản giáo. Có điều tôi đã không bước trên xác đồng đội mà đi, tôi chưa làm cái việc đốn mạt là làm “ăng-ten” báo cáo người này, người nọ để lập công.

Cuối năm 1977, trong đêm, chúng tôi, những tù nhân thuộc các diện Chiến Tranh Chính Trị, Cảnh Sát, Tình Báo tức các loại được Việt Cộng gọi là ác ôn được chất lên những chiếc molotova có mui che bằng lá gồi chuyển trại.

Tầng địa ngục thứ năm của chúng tôi là trại cải tạo Tân Lập ở Lào Kai. Ở đây tôi ở đội 4 rồi sau đó được đưa qua đội 5 của phân trại K.4 phụ trách việc làm gạch.

Mỗi ngày chỉ tiêu được giao cho 3 tù nhân là đạp nhuyển đất để làm thành một cối đất để đóng thành 200 viên gạch.

Cái đói ở đây thật khủng khiếp. Ăn ít như tôi mà đêm nào tôi cũng phải uống thêm nửa “gô” nước cho đầy bụng để cố dỗ giấc ngủ.

Mỗi ngày ra hiện trường lao động, tôi được hai anh em cùng cối đất giao công tác là lén bứt rau tàu bay rửa sạch, bỏ vào ống vầu (một loại giống như tre ở miền Nam), lén đặt vào đống lửa, sau đó lấy ra chia nhau ăn cho đầy bụng để mà đạp đất giữa trời.

Dù đã được các cảnh vệ cảnh cáo là ăn rau tàu bay sẽ bị mất máu, các tù nhân vẫn lén lút ăn rau tàu bay để có đủ sức mà hoàn tất chỉ tiêu, để khỏi bị phê bình là chây lười lao động.

Ở đây có một số anh em tù ở trại K.1 chuyển vào. Có người đã dè bĩu chuyện một ông Tướng, khi anh em chia thức ăn làm rớt một cọng rau muống xuống đất, ông này đã nhặt lên, không cần phủi bụi, đưa vào miệng ăn. Tôi thì tôi chỉ thấy chua xót.

Ở đây tới Tết, tôi có làm bài thơ để tặng T. Bài thơ có cái tựa dài thoòng như sau:

Thơ cổ đề tranh bốn mùa
trong phòng người vợ cô đơn

Mai:

Gió đông nói với mai vàng

Xuân này thiếp đã vắng chàng ba xuân.

Lan:

Mùa hè hoa lựu đỏ cành

Như lan vương giả thiếp đành cô đơn.

Cúc:

Mây mùa thu biếc tủi hờn

Cúc hiu quạnh nở trong vườn nhà ai.

Trúc:

Mùa đông xám vẫn còn đây

Ngựa qua rừng trúc lưu đày mù sương.

Viên trung sĩ công an phụ trách đội nhà bếp là một tay sính thơ văn. Không biết ai giới thiệu với anh ta là tôi biết làm thơ, anh ta cho gọi tôi lên văn phòng, chỉ mấy bức tranh mai, lan, cúc trúc và ra lệnh cho tôi làm mấy câu thơ và hứa sẽ “bồi dưỡng” cho tôi một ký mật. Đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Tôi lại cố chứng tỏ mình đã được:

“Đảng cho sáng mắt, sáng lòng

Xin làm một giọt máu hồng về tim!”

bằng cách sửa bốn câu lục bát viết cho T. thành những vần thơ ca tụng công ơn trời biển của Bác, Đảng và nhân dân, như sau:

“Mai:

Mai vàng nở khắp muôn phương

Đảng đưa ta tới một vườn đầy Xuân

Lan:

Nhờ ơn Bác với nhân dân

Mùa Hè thơm nức hương lan đại đồng.

Cúc:

Mùa Thu cách mạng thành công

Cúc vàng khoe sắc, muôn lòng nở hoa.

Trúc:

Đông về, Bác bận đi xa

Trúc rừng Pắc Bó thiết tha ơn Người!”

Dù đã tìm mọi cách để chứng tỏ mình đã “sáng mắt, sáng lòng” tới như vậy, nhưng lúc Trung Cộng và Việt Cộng đánh nhau, tôi cũng như những người tù khác bị còng chung chiếc còng “made in Vietnam xã hội chủ nghĩa” làm bằng kẽm gai, leo lên xe molotova của Liên Sô, giã từ Phố Lu:

“Đoạn đường ta đã kinh qua

Mùa Đông buốt giá thịt da ngỡ ngàng.”

về trại cải tạo Cây Dừa ở Hạ Hòa thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Hạ Hòa nổi tiếng với câu ca dao:

“Thương nhau cho thịt, cho xôi

Ghét nhau đem đến Mai Côi, Hạ Hòa.”

Ở đây, may mắn tôi được biên chế vào đội nhà bếp. Ngày ngày “đốt lửa lên em” để nấu bo bo, bắp xay, sắn duôi, sắn khúc. Chứng bệnh hiểm ác: tràn dịch màn tinh hoàn bắt đầu hành hạ tôi. Ngày nào, tôi cũng xách cái bìu dái sưng đỏ lên phòng y tế xin thuốc, mà thuốc ở phòng y tế thì có gì đâu ngoài thuốc xuyên tâm liên.

Tôi càng khủng hoảng hơn khi mượn quyển Tự Điển về y học của anh Lê Đình Ái mà người nhà đã đem vào cho anh khi còn ở trại Suối Máu ở trong miền Nam . Quyển sách ghi rõ về bịnh tình của tôi như sau: “Tràn dịch màn tinh hoàn: do bị thương ở hòn tinh lúc nhỏ, bị phát ra khi cơ thể suy nhược. Đông y không có cách chữa. Chỉ có thể chữa bằng cách giải phẩu. Nếu để lâu sẽ tuyệt tự.” Cái kiểu này là “chết ngộ dồi!” Tôi mới cưới vợ có sáu tháng, chưa có con cái là phải khăn gói gió đưa lên đường… cải tạo. Bây giờ lại bị cái bệnh có nguy cơ tuyệt tự thì còn biết nói thế nào.

Ở phân trại K.4 còn gọi là trại Cây Dừa có thằng tù hình sự tên Hùng-lợn vì bị tội ăn cắp một con lợn mà bị tù đã 7 năm, từ trại tù thiếu nhi đến trại tù người lớn, tối ngày vừa vác củi, gánh rau vừa ư ử ngâm nga câu thơ của ông Thiếu tá công an Bùi Văn Chiếu. Sở dỉ tôi biết được tên họ của ông giám thị trại giam này vì thấy có đóng dấu, ký tên trong “Giấy Ra Trại” mà tôi được cấp vào tháng 4 năm 1980:

K 4 đó rộn ràng biết mấy…”

Một bữa, nó vừa đặt gánh rau muống xuống bếp trại, ngồi bệch xuống đất, vê một “bi” thuốc lào vừa ư ử: “K.4 đó rộn ràng biết mấy…”. Tôi, lúc đó, mặt mày đầy mồ hôi, mồ kê vì đang chụm lửa để nấu nước, bèn thêm vào:

“Chỉ thấy người vào, chẳng thấy người ra.”

Hùng-lợn trố mắt nhìn tôi:

“Ông anh này… kinh nhỉ! Chỉ thấy người vào chẳng thấy người ra!”

Thực tình lúc đó tôi chỉ muốn chết. Đêm mùa Đông bệnh nó lại hành hạ tôi không sao ngủ được. Cả trại đặt cho tôi cái tên tục tĩu chịu không nỗi: Thằng Dái Bò!

Lúc Trung Cộng đánh nhau với Việt Cộng, anh đội trưởng đội nhà bếp là anh Trần Hòa Bình và các anh Lâm Đại Tòng (hiện định cư tại Canada), Đỗ Tài (hiện định cư tại San Jose) là những người Việt gốc Hoa bị đưa ra khỏi đội nhà bếp. Tôi được chỉ định làm đội trưởng đội nhà bếp.

Tháng 4 năm 1980, tôi có tên trong danh sách được xét tha theo diện “quan tha, ma bắt.” Trong số 120 người tù được tha, tôi lại là người mạnh khoẻ nhất, chỉ có kẹt một nỗi là cái bìu dái sưng đỏ, đau nhức chịu không nỗi. Những người khác, kẻ thì bị bệnh teo cơ, kẻ thì bại xuội, người thì bị ho lao, phải chống những cây gậy “tự biên, tự diễn” tức là tự mình “sáng chế” ra mà lếch trở về với đời.

May mắn khi tôi trở về, T., vợ tôi, vẫn còn:

“Ngày anh xa vắng, em không trang điểm đợi chờ

Nửa đêm đốt ngọn đèn mờ

Khuê phòng thổn thức cô liêu…”

Chúng tôi lại cùng nhau nhắc chuyện ngày xưa:

“… Giữa Sàigòn bỗng tình cờ gặp em

Lầu cao mỉm nụ cười duyên

Nhìn lên anh bỗng nghe thèm yêu đương

Anh - đời dạn gió phong sương

Em – hoa khuê các dậy hương xuân thì…”

(trích trong “Tiếng hát từ hố thẳm nhân gian” thơ Nguyễn Thiếu Nhẫn)

để cùng ngâm lại những câu thơ cổ nói về hôn lễ của nhà thơ Viên Linh:

“Hôm nay ngày của hai người

Có khung cửa nhỏ khép đời chung quanh

Có ơn cha mẹ sinh thành

Có anh em đến chúc mình bền lâu

Tim hồng, ý biếc ơn nhau

Ngón tay ơn nhẫn, đêm thâu ơn đèn…”

Bệnh tôi được chữa khỏi nhờ người anh bà con bên vợ là bác sĩ Dương Minh Trí, chủ nhiệm khoa Niệu của bệnh viện Bình Dân. Tôi có hai đứa con trai. Khi vợ tôi mang thai đứa thứ hai thì tôi bị tiếp tục đi tù vì tội “hoạt động tình báo kinh tế, móc ngoặc cán bộ, lũng đoạn tài sản xã hội chủ nghĩa” chỉ vì tôi mua xà phòng bán đi, bán lại kiếm lời để nuôi sống gia đình. Ở phòng hỏi cung, viên công an điều tra lật qua, lật lại tờ khai lý lịch mà tôi đã nộp theo lệnh khi xin về địa phương cư trú, vỗ bàn hét lớn:

“Mày là Đại úy Tổng Tham Mưu Trưởng?”

Tôi đã nhỏ nhẹ trả lời:

“Thưa tôi chỉ là đại úy làm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Còn Tổng Tham Mưu Trưởng là đại tướng Cao Văn Viên.”

Viên công an hỏi cung đập bàn, đứng dậy và trong lúc bất ngờ nhất y tống vào mặt tôi một cú đấm. Tôi đưa hai tay bị còng chùi máu ứa ra ở khoé miệng. Viên công an gầm gừ:

“Tao không cần biết mày là cái gì. Tao sẽ đưa mày trở lại mấy cái chỗ mà mày đã cải tạo để cho mày biết thân.”

Viên công an đã không thực hiện được lời nói là đưa tôi trở lại sáu tầng địa ngục mà tôi đã đi qua. Tôi được đưa tới hai tầng địa ngục khác còn cay đắng hơn nhiều là trung tâm tạm giam huyện Long Hồ và sau đó là trung tâm tạm giam tỉnh Cửu Long, tức Khám lớn của tỉnh Vĩnh Long ngày trước.

Tôi lại phải đánh những sợi lát thành dây bính, nghe nói là để xuất khẩu qua Liên Sô, vẹo cả hai ngón tay trỏ trong hai năm. Sau đó, được thả ra vì “xét thấy là không cần thiết phải truy tố.”

Lúc tôi được ra tù, đứa con thứ hai đang bị sốt xuất huyết đang nằm ở nhà thương. Rời nhà giam, tôi lại tới nhà thương để nuôi con.

Sau đó, tôi tìm mọi cách để ra đi, vì biết mình không thể nào sống cùng những người cộng sản. Họ có chịu cho mình “hòa hợp, hòa giải” với họ đâu. Trăm thứ tội tình cứ đổ trên đầu thằng “ngụy.”

May mắn mà tôi và đứa con trai 5 tuổi được tới đảo Bidong sau khi chiếc tàu vượt biển bị cướp hai lần.

Tháng 3 năm 1987, tôi và đứa con tới định cư ở Des Moines , thủ phủ của tiểu bang Iowa thuộc miền Trung Tây nước Mỹ.

Ở đảo tỵ nạn tôi bắt đầu viết quyển hồi ký “Những Trại Biến Hình” với những câu lục bát mở đầu như sau:

“Hốc Môn nhát cuốc bắt đầu

Long Giao đất đỏ lệ trào chứa chan

Đường về Suối Máu gian truân

Đường ra Nghĩa Lộ muôn phần đắng cay

Lạnh lùng sương trắng Lào Kai

Đường về Vĩnh Phú tương lai mịt mù

Ra tù rồi lại vào tù

Long Hồ, Khám Lớn mịt mờ tương lai.”

với ý định “tố cáo chế độ Hà Nội giết người chậm nhưng hữu hiệu.”

Phần đầu quyển hồi ký đã đăng tải trên tạp chí Sóng ở Canda và tuần báo Sáng ở Nam California.

Quyển hồi ký, sau đó, đã được đăng tải trên bán tuần báo Quê Hương ở San Jose với cái tựa “Hồi Ký Tù, Viết Ngoài Đời”.

Quyển hồi ký đã hoàn tất, nhưng tôi không có ý định xuất bản vì tôi nghĩ rằng những người Mỹ có thẩm quyền đều biết những điều đó - nhưng những đau thương đó không phải là của họ! Những người Việt tỵ nạn đi trước thì đang lo gầy dựng lại tương lai ở xứ người.

Sau này, tôi có tìm đọc những quyển hồi ký về tù cải tạo thì thấy những người này không viết về chính mình mà lại viết về những người khác mà lại nghe qua những lời kể lại.

Anh em tù cải tạo qua Mỹ theo diện H.O. ngày một nhiều. Cảnh đời của mỗi người còn bi đát hơn tôi nhiều. Thôi hãy để đau thương được lắng im!

Tôi viết “tự thú của một người tù cải tạo” chỉ có mục đích trình bày những yếu đuối của bản thân trong thời gian cải tạo. Với tôi, sống bình thường trong các trại cải tạo đã là … “anh hùng” lắm rồi! Phần khác, cũng để trình bày vì sao đã không thể có sự hòa hợp hòa giải giữa những người miền Nam bại trận và những người miền Bắc thắng trận; Bởi, những người thắng trận có bao giờ chịu đưa bàn tay ra bắt với những người miền Nam như những người anh em, đồng bào của họ. Lúc nào, đối với họ, những người bại trận miền Nam cũng là những “thằng nguỵ”!

San Jose, cuối Đông 1992
NGUYỄN THIẾU NHẪN

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

35 năm nhìn lại

Lê Duy Nhân

Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử dân tộc thì chỉ là một cái chớp mắt, nhưng 35 năm lạc hâu, 35 năm mất nhân quyền, 35 năm sống dưới sự thống trị của một tập đoàn độc tài toàn trị là một quãng thời gian dài như một thế kỷ. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.

Ðảng CSVN chiếm độc quyền lãnh đạo, đối với miền Bắc là 65 năm và đối với toàn bộ đất nước là 35 năm, họ đã làm được gì cho đất nước và dân tộc?

Sau 35 năm hòa bình, thống nhất đất nước, kinh tế Việt Nam vẫn không ra khỏi tình trạng lạc hậu, chưa nói so với các nước tiến bộ, so với các nước trong vùng, Việt Nam chỉ hơn được một hai nước?

Giáo dục hầu như không tiến lên được một bước nào, vẫn luẩn quẩn ở thời kỳ tiền kỹ nghệ điện toán, không tạo nổi một đội ngũ kỹ thuật có khả năng nâng cao kỹ nghệ sản xuất lên ngang tầm với các nước tiến bộ trong vùng như Thái Lan, Singapore, v.v...

35 năm trồng người XHCN đã làm đạo đức xã hội băng hoại mỗi ngày mỗi nhanh, mỗi mạnh và lan tỏa ra khắp đất nước, phá hủy hoại mọi giá trị tinh thần truyền thống dân tộc. Thế hệ trẻ đua nhau chạy theo xa hoa, phù phiếm, mất lý tưởng, mất tính hướng thượng và càng ngày càng lún sâu xuống vũng bùn sa đọa.

Guồng máy chính quyền thối nát, tham nhũng, dựa vào quyền lực để bóc lột, cướp đất của nông dân, vơ vét tài nguyên quốc gia để làm giàu cho bản thân khiến hố cách biệt giàu nghèo giữa giới lao động và quan chức mỗi ngày một sâu rộng hơn.

Tập đoàn lãnh đạo vừa bất tài, vừa bạc nhược lại dựa vào kẻ thù ngàn đời của dân tộc để bảo vệ ngôi báu, cam tâm nhượng đất, hải đảo, rước cả bọn cướp đất, cướp biển của ta, chặn nước đầu nguồn của sông Hồng, sông Cửu Long, vào phá hoại cao nguyên và rừng đầu nguồn của nước. Ta đã mất đất biên giới, mất Hoàng-Trường Sa, mất Biển Ðông và ngày mai không biết còn mất bao nhiêu nữa. Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu không mất đất, mất biển và chịu nhục quỳ gối trước phương Bắc như ngày nay. Cả dân tộc lo âu chờ ngày người Việt trở thành dân tộc thiểu số trên đất Việt?

Nếu miền Nam không rơi vào tay chính quyền CS thì có thể, rất có thể Việt Nam sẽ là Ðại Hàn của ngày nay. Miền Nam nếu không được như Nam Hàn thì cũng không thua kém bao nhiêu, cho dù miền Nam không có những lãnh tụ tài giỏi. Sự mất miền Nam tự do không chỉ là thảm kịch của nhân dân miền Nam mà còn là nỗi tuyệt vọng của nhân dân miền Bắc. Chẳng thà không thống nhất đất nước còn hơn thống nhất dưới ách thống trị chuyên chế tàn ác. Nhìn nước Ðức thống nhất trong tự do, dân chủ ai cũng cảm thấy đau xót, nhục nhã và uất hận.

Không phải chỉ có người dân trong nước uất hận mà trên ba triệu người Việt phải bỏ nước ra đi cũng uất hận vì cái tình tự “nhiễu điều phủ lấy giá gương.”

Ba mươi lăm năm qua người Việt hải ngoại đã làm được gì?

Sau 35 năm ta đã có 3 thế hệ trên quê hương mới. Người Việt đã xây dựng thành công cuộc sống mới cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ đã có những đóng góp to lớn cho quê hương mới mà người Việt ở đâu cũng có thể tự hào. Nhưng họ đã làm được gì cho cố hương?

Nơi nào có người Việt sinh sống là ở đó có tổ chức, đoàn thể chống Cộng. Mỗi đoàn thể, đảng phái có một đường lối hành động riêng nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu là tranh đấu cho quyền sống có nhân phẩm của đồng bào trong nước. 35 năm tranh đấu cho Việt Nam dân chủ, ta đã làm được gì? Mỗi người có một đánh giá khác nhau: Có những đánh giá bi quan bên những đánh giá lạc quan. Nhưng không ai có thể phủ nhận được những đóng góp tuy còn khiêm tốn cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

- Nếu người Việt hải ngoại không lên tiếng, không hỗ trợ các nhà tranh đấu dân chủ trong nước thì liệu có phong trào dân chủ trong nước hay không?

- Nếu các cơ quan truyền thông hải ngoại không tiếp sức các phong trào dân chủ trong nước thì tiếng nói của các nhà dân chủ trong nước có đến được nhân dân trong nước rộng rãi như ngày nay không?

- Nếu các tổ chức chống Cộng hải ngoại không tích cực hành động thì CSVN sẽ xâm nhập phá hoại cộng đồng người Việt như thế nào? CSVN ra nghị quyết 36 là nỗ lực làm suy yếu sức mạnh của các cộng đồng người Việt hải ngoại và nhằm lôi kéo người Việt hải ngoại về phía chính quyền Việt Nam. Nếu các cộng đồng người Việt hải ngoại không chống Cộng thì các sứ quán của Việt Nam đâu có bị cô lập và vô hiệu như ngày nay.

-Nếu các tổ chức chống Cộng không vận động chính quyền nơi họ sinh sống thì quốc tế có bênh vực nhân quyền cho nhân dân Việt Nam không?

Chúng ta chưa có thực lực ở trong nước. Ðúng. Nhưng không có tiếp sức của người Việt hải ngoại thì phong trào dân chủ trong nước sẽ khó có cơ hội thành công.

Hãy nhìn vào lịch sử đấu tranh của Ba Lan để thấy người Ba Lan hải ngoại đã đóng góp cho cuộc cách mạng dân chủ ở Ba Lan như thế nào.

Ba mươi lăm năm nhìn lại để tiến về phía trước.

Làm gì cho người Việt trong nước trút bỏ được gông cùm của độc tài toàn trị. Làm gì giúp được dân tộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bẻ gẫy được âm mưu Hán hóa của Bắc Kinh?

Việt Nam đang ở trên bờ vực tiêu vong.

Sẽ không có một cuộc di tản mới cho cả dân tộc đâu. Vì ta không còn biển cho thuyền nhân, không còn đất cho bộ nhân. Vì biên giới và biển của ta lúc đó đã thành đất Trung Quốc.

Tưởng niệm ngày 30 tháng 4 không phải để khơi lại cái đau xót của mất mát mà để ghi nhớ những thảm cảnh vượt biển của thuyền nhân, để tưởng niệm hàng trăm ngàn thuyền nhân bỏ mình trên Biển Ðông và nhất là để các thế hệ sau hiểu được tại sao cha anh họ bỏ nước ra đi, để tự hào về lịch sử tìm tự do của thế hệ trước.

(Nguồn: Thông Luận 2010)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tổng thống Nga Medvedev tuyên bố tại Washington:
Stalin là tên giết người!


Lê Diễn Đức
"Các sĩ quan Ba Lan bị sát hại ở Katyn năm 1940, đã bị giết theo lệnh của chính quyền Liên Xô, trong đó có Joseph Stalin" – Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cho biết trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình tiếng Anh, "Russia Today".Các nhà sử học Ba Lan và các chính trị gia xem tuyên bố này như là một bước tiến tới sự thật về sự kiện cách đây 70 năm.
Cuộc phỏng vấn được ghi âm trong phòng thu của đài truyền hình "Russia Today" tại Washington, nơi Tổng thống Nga Medvedev tham dự Hội nghị thượng đỉnh về an toàn hạt nhân và nội dung của nó cũng đã được đăng trên trang Web của Kremlin.

Stalin – Tên giết người

- "Nếu nói về Stalin và những người làm việc theo chỉ đạo của ông ta, tức là những người lãnh đạo của Liên Xô bấy giờ, thì họ đã thực hiện tội ác giết người. Điều này dễ hiểu và rõ ràng cho tất cả. Họ đã gây tội ác chống lại chính nhân dân của mình trước hết, và trong phạm trù nào đó đối với lịch sử" – Medvedev nói.
Tổng thống Medvedev không đồng ý với ý kiến cho rằng, ở Nga đang có một sự phục hưng chủ nghĩa Stalin. Ngoài ra ông phản đối sự so sánh nước Nga với Liên Xô. – "Có những người thích Stalin và mọi thứ liên đới với ông ta. Thượng đế sẽ phán xét họ. Nhưng trong xã hội trong sự đánh giá Stalin và khoảng thời gian đó, không có sự thay đổi nào được thực hiện" – Tổng thống Nga nhận định.
- "Nga không phải là Liên Xô và đứng đầu nhà nước Nga là những người mà tôi hy vọng, khác hẳn với Stalin và cộng sự của ông ta" – Medvedev nhấn mạnh..

Thảm kịch cho trật tự thế giới
Tổng thống Nga lại một lần nữa tuyên bố rằng, bi kịch tại sân bay Smolensk là "một thảm kịch nghiêm trọng với dân tộc Ba Lan, không những với các gia đình nạn nhân, mà còn là với trật tự thế giới" – "Khi tổng thống chết trong vụ tai nạn, cùng với một phần quan trọng các nhà lãnh đạo, đó là thử thách lớn cho công chúng, cũng như cho quan hệ quốc tế" – Ông nhấn mạnh.
Dmitry Medvedev khẳng định rằng, "chính vì như vậy đã có sự phản ứng của toàn bộ cộng đồng thế giới và của xã hội Nga và đối với thảm kịch này" – "Đây là một tai nạn đau buồn. Có một cái gì đó bí ẩn. Nhưng có những lý do hợp lý, mà phải điều tra và giải thích những gì xảy ra. Vì vậy, nó rất quan trọng" – Ông nói.

Kết thúc chủ nghĩa toàn trị không tên
Theo Giáo sư Ba Lan Jerzy Pomianowski, những lời nói của Tổng thống Nga là "một bước hướng tới sự thật" – "Tuyên bố của Tổng thống Medvedev là một sự phát triển tư tưởng của Thủ tướng Putin, người thừa nhận nhưng đã không đề cập đến tên Stalin, mà nói rằng, tội lỗi về thảm sát Katyn thuộc về Bộ Chính trị Xô viết" – Sử gia cho biết.
- "Những ghi nhận này cho thấy rằng, việc giải trình và làm rõ các tội ác của Stalin và Liên Xô đối với các vụ thảm sát sĩ quan Ba Lan tại Katyn và những nơi khác mà chúng ta vẫn chưa được biết đến, là sự xác nhận các vụ giết người không phải là của của "chủ nghĩa toàn trị" trừu tượng nào đó, mà cụ thể, Stalin và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô" – Giáo sư Pomianowski nhấn mạnh.
- "Điều này có nghĩa rằng người Nga đang đi xa hơn về hướng giải thích một vấn đề nhạy cảm mà các nhà sử học, chính trị gia và các nhà lãnh đạo của chúng ta đã phải chiến đấu rất lâu dài. Tôi vui mừng, vì những lời của Thủ tướng Putin và Tổng thống Medvedev đã không phải là bước lùi, mà thêm một bước về phía trước, chắc chắn sẽ giúp chúng ta đối thoại trong các vấn đề hết sức quan trọng về kinh tế cũng như chính trị" – Giáo sư kết luận.

Việc chuyển đổi ý thức
- "Các nhà lãnh đạo Nga đã nói bấy nhiêu nhưng sẽ bao nhiêu cho phép chuyển đổi nhận thức của xã hội Nga. Có vẻ như nhận thức này đang chuyển đổi nhanh chóng trước mắt của chúng ta" – Phó Trưởng Ban đối ngoại quốc hội Ba Lan Robert Tyszkiewicz nhận xét.
- "Các nhà chức trách Nga đang chịu áp lực từ công chúng Nga muốn biết sự thật về Katyn. (…) Tôi nghĩ rằng, Medvedev cảm thấy không còn có thể phủ nhận sự thật về Katyn được nữa" – Ông nói.
Theo ông Tyszkiewicz, sự kiện bi thảm gây nên cái chết của Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski trong tai nạn máy bay gần Smolensk, đã làm vang lên tiếng nói đòi công khai lịch sử về cuộc thảm sát Katyn ở Nga. – "Chắc chắn sự hy sinh của giới ưu tú Ba Lan trong thảm kịch này không phải là vô ích" – Ông kết luận.

Mở khóa bi kịch?
- "Tôi hy vọng rằng, các nhà chức trách Nga sẽ mở khóa thảm kịch lớn này sau tai nạn máy bay của tổng thống gần Smolensk" – Dân biểu quốc hội Ba Lan Karol Karski nói sau khi nghe Medvedev phát biểu.
Khi được hỏi, nên chăng những lời của Tổng thống Nga phải được phát ra từ Thủ tướng Vladimir Putin trong buổi lễ tại Katyn với sự tham dự của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk (hôm 7/04, hai ngày trước khi tai nạn xảy ra), ông Karski nói: "Chúng ta cần vui mừng trước những điều tốt đẹp và không cần nhấn mạnh tại sao những điều tốt đẹp đó lại không xảy ra sớm hơn".
Theo ông Karski, Tổng thống Medvedev nói "lớn và rõ ràng" về cái điều mà từ lâu mọi người đã biết và chính quyền Nga và cũng như Liên Xô đã nói tới. – "Thực tế là cuộc thảm sát Katyn được thực hiện bởi Stalin, đã được Liên Xô xác nhận vài tháng trước khi sụp đổ. Tổng thống Nga Boris Yeltsin cũng đã cho biết. Yeltsin đã cung cấp một số tài liệu liên quan đến vụ thảm sát Katyn" – Vị dân biểu nói.
Báo chí Kremlin công bố trong ngày thứ Tư rằng, Tổng thống Dmitry Medvedev sẽ tham dự tang lễ của Tổng thống Lech Kaczynski và Phu nhân Maria vào Chủ nhật.

Nguồn: TVN24 ngày 14/04/2010
© Ledienduc’s Blog

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bước đầu trả lại danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa

Hội Thảo 'Việt Nam , 35 Năm Nhìn Lại' tại Washington D.C:
'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'
•Hà Giang/Người Việt (từ Washington D.C. )

WASHINGTON D.C. - Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.

Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).

Họ đến từ nhiều nơi, từ California, Canada, Florida, Texas... để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).
Image
Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)
Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.

Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?

Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”

“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”
Image
Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam - 35 Năm Nhìn Lại:
“Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.”
(Hình: Hà Giang)
Tiến sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Nixon biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”

Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Nixon lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.

Cuối cùng, Tổng Thống Nixon quyết định làm lơ với tin tình báo này.

“Tổng thống (Nixon) sợ là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”


Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).

Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”

Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.

Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (lieutenant colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”

“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”

Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.

“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”

Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”

Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”

Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”

“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”

Ông kết luận.

Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.

Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”

Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Nixon.”

Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.

Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”

“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”

Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung...

Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.

(Người Việt sẽ lần lượt giới thiệu chi tiết nội dung hội thảo trong các số báo tới).

Post Reply