Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

MỘT LẦN NỮA HÃY TRẢ LỜI TÔI

Hồ Thị Bích Khương
Lại một lần nữa nhà nước Cộng Sản Việt Nam tưng bừng phát động cả nước kỷ niệm 30-4-1975 ngày “Giải phóng miền Nam”

Tôi muốn lấy đầu đề bài hát “Hãy trả lời tôi” để làm chủ đề của bài viết này. Đây là bài hát tôi thường nghe và mở cho người dân quanh tôi cùng nghe trên trang đối thoại. Bởi cho đến nay chiến tranh kết thúc đã 35 năm mà người dân Việt Nam vẫn mò mẫm mãi chẳng thấy ấm no, hạnh phúc và tự do dân chủ đâu cả, mà chỉ thấy sự bất công và độc tài cai trị.
Image
Bà Hồ Thị Bích Khương sau khi ra tù ngày 26 Tháng Tư 2009
Người dân Việt Nam nhìn nhận thế nào về cuộc chiến tranh đã chấm dứt 35 năm qua. Một cuộc chiến tranh như nhiều người đã nhận xét là: “Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt”. Đây là cuộc chiến gây thảm họa đau thương cho nhân dân cả hai miền Nam Bắc. Dù ai phân tích cuộc chiến theo bất kỳ cứ hướng nào thì thực chất cuộc chiến từ 1954 đến năm 1975 tại Việt Nam là cuộc chiến xẩy ra giữa người Việt của hai miền Nam Bắc.
Image
Dân chúng Thừa Thiên Quảng Trị đi bộ lên đèo Hải Vân để di tản vào Đà Nẵng

Đối với người dân miền Nam thì đây là cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc khỏi sự xâm lược của Cộng Sản mà đứng đầu trong cuộc xâm lăng và gây thảm họa cho nhân loại trên toàn thế giới này là Liên-Xô và Trung cộng. Đối với người dân miền Bắc chúng tôi thì do bởi chính sách nhồi sọ và tuyên truyền một chiều của đảng cộng sản rằng chế độc XHCN là một chế độ chính trị ưu việt nhất của loài người, là thiên đường nơi trần thế, là nơi mọi người đều được bình đẳng, được thực sự dân chủ tự do, ấm no hạnh phúc, và là nơi tuyệt nhiên không có cảnh người bóc lột người, rằng đồng bào miền nam ruột thịt đang đói rách lầm than và đang rên xiết dưới ách thống trị bạo tàn của chế độ thực dân kiểu mới, rằng nhân dân miền nam đang vô cùng thống khổ dưới chín tầng địa ngục bởi ngày đêm phải sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ hãm”. Tất cả vì miền nam thân yêu! Vì đồng bào miền Nam ruột thịt mỗi người làm việc bằng hai! Vì miền Nam thân yêu, vì lý tưởng thống nhất nước nhà của bác Hồ vĩ đại, thanh niên hăng hái lên đường đánh Mỹ cứu nước, giải phóng quê hương! Và thế là hàng triệu thanh niên miền Bắc đã theo tiếng gọi thiêng liêng của bác đảng, rời bỏ gia đình, quê hương vào Nam xâm lược! Và đã có hàng triệu, hàng triệu người con của mẹ Việt Nam mới tuổi trăng tròn đã sinh Bắc tử Nam!

Image
Hai mươi năm nội chiến từng ngày, máu của người Việt Nam đã đổ ra trên quê hương tổ quốc mình một cách oan uổng, đau thương, chỉ vì cái thiên đường mù XHCN, chỉ vì khát vọng quyền lực cuồng điên của bác và đảng. Cho đến nay, dần dà đã có nhiều người dân Việt hiểu được rằng, cuộc nội chiến kéo dài suốt 20 năm qua hoàn toàn không phải một cuộc chiến tranh thần thánh như bác và đảng vẫn tuyên truyền, cũng không phải ước vọng của dân tộc Việt Nam, mà thực chất là cuộc chiến tranh bành trướng của Quốc Tế cộng sản với tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới mà Việt nam là tiền đồn của cộng sản ở khu vực Đông Nam Á.
Image
Những người Cộng Sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: “Tôi theo Đảng Cộng Sản khi hầu như chưa biết gì về chủ nghĩa Cộng Sản”. Họ ra sức tuyên truyền cho nhân dân về chủ nghĩa Tư Bản chỉ toàn là sự xấu xa, độc ác và bóc lột nhân dân, xấu xa, thối nát, tệ hại hơn cả chế độ Phong Kiến, “Chủ Nghĩa Tư Bản đang tự đào hố chôn mình; Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ đưa người dân tới một Thiên Đàng nơi trần thế, với chue nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mà bác và đảng đang xây dựng trên quê hương Việt nam, rồi đây con người sẽ có được cuộc sống an lạc nhất trần gian, mọi người sẽ làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu; sẽ không còn người bóc lột người, không còn giai cấp thống trị và tầng lớp bị trị, mọi người từ anh dân cày đến chủ tịch nước hay tổng bí thư đều là bình đẳng, bình quyền! ”.
Image Với chính sách bưng bít thông tin, với chính sách tuyên truyền một chiều bên lề phải, và với sự nhồi sọ từng giờ từng ngày trong đời sống, nên gần như cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ mọi người dân ai cũng mong muốn sớm xây dựng thành công thiên đường XHCN nơi trần thế trên đất nước của mình để “toàn dân ai cũng có cơm no, áo ấm, ai cũng được học hành” nên chẵng ai tiếc xương tiếc máu của mình cũng chỉ mong sơm cứu được đồng bào miền Nam sớm thoát cảnh đói rách lầm than trong cảnh “Mỹ hãm, ngụy kềm” không tự do, không dân chủ, không nhân quyền.


Kết quả là hàng triệu người Việt Nam của cả hai miền phải chết oan uổng trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn để cho ngư ông Cộng Sản Quốc Tế đắc lợi! Một nước Việt Nam điêu tàn, đổ nát, một quê hương Việt nam tang thương, tiêu điều và xơ xác và tụt hậu đến hang thế kỷ so với các quốc gia trong khu vực, một dân tộc Việt nam ly loạn, mà tôi dám đoan chắc rằng lòng hận thù giữa đồng bào Nam Bắc cho đến nay sau 35 năm thống nhất vẫn chưa thể hoàn toàn hàn gắn được! Bởi trong tâm thức của đa số đồng bào miền Nam thì chính dân “Bắc Kỳ” đã xâm lăng, đã cưỡng chiếm miền nam, để gieo họa đau thương, tang tóc, loạn lạc, đói nghèo và tù tội cho người miền Nam. Trong tư duy của nhiều người miền Nam cho đến tận bây giờ vẫn nghĩ rằng chính dân “Bắc Kỳ” đã cướp nước, đã cướp đi quyền sống, quyền làm người và các quyền tự do căn bản của người miền Nam kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đó, mà họ không hiểu rằng, ngay cả chúng tôi những người “Bắc Kỳ” cũng là nạn nhân của bác và đảng, chúng tôi đã bị đảng và bác lừa phỉnh, bịp bợm và cướp mất quyền làm người của cả miền Bắc chúng tôi 21 năm trước khi bác và đảng cướp đi những quyền đó của đồng bào miền nam!


Tôi vẫn chưa thể nào quên được ngày 30-4-1975, khi miền nam được “giải phóng”. Tất cả mọi người, mọi nơi trên miền Bắc đều say sưa trong men chiến thắng, háo hức ăn mừng chiến công trong những hy sinh mất mát, nước mắt và niềm vui. Tôi, một đứa trẻ ngây thơ, khờ dại đã từng thắc mắc với mẹ và cô giáo: “Chừ đánh hết giặc rồi lớn lên con không được đi bộ đội để được trở thành anh hùng, được hy sinh cho nước Việt thân yêu”. Bởi tất cả các trường học ở miền Bác thời bấy giờ đều rao giảng giải đến những tấm gương anh dũng dám xả thân vì đất nước, mỗi người dân Việt Nam phải biết hy sinh cho công cuộc giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Trước thắc mắc ngây ngô của tôi, mẹ tôi đã ôm hôn tôi trong nước mắt và giải thích rằng: “Chiến tranh chấm dứt rồi không ai còn phải chết vì chiến tranh, giờ hy sinh cho đất nước là học giỏi làm việc giỏi. Sau này con cũng sẽ trở thành anh hùng nhưng mà là anh hùng trong lao động để đem đất nước tiến lên giàu đẹp mọi người được vui vẻ sum vầy hạnh phúc vì có cơm no áo đẹp, chứ không phải là anh hùng để giết hại nhau giữa người với người”.

Tôi đâu biết được ngày mà tôi và nhiều người dân khác tại miền Bắc đang vui mừng chiến thắng, thì tại miền Nam thân yêu của tôi có bao nhiêu người phải chết oan uổng, có bao nhiêu gia đình phải chia ly, tan nát, bao nhiêu cô gái trẻ miền Nam bị các “Anh hùng Cộng Sản” hãm hiếp… Và còn nữa, có không biết bao nhiêu người con của đất Việt chỉ vì kiên cường bảo vệ nền tự do dân chủ cho miền nam thân yêu khỏi họa hại xâm lăng của cộng sản mà phải bị giam cầm tận chốn rừng thiên nước độc trong các trại lao cải do bác và đảng lập ra, mà không dưới 165,000 người đã vĩnh viễn gửi lại nắm xương tàn nơi chốn núi rừng hoang vu đó, bởi chế độ hà khắc của chốn lao tù và sự bạo tàn của những tên quỷ đỏ trong lốp “cán bộ quản giáo” hung tàn, và cũng dễ có đến hang triệu đồng bào tôi phải làm mồi cho cá cá mập trên đường vượt biển đi tìm tự do…

Tôi vẫn còn nhớ, không lâu sau cái ngày định mệnh 30 tháng tư năm 1975 của dân tộc đó, mỗi ngày có đến hàng trăm lượt xe ca Nam-Bắc chở “sự nghèo đói, sự đau thương” của đồng bào miền nam ra để tạo sự thịnh vượng cho miền Bắc thiên đường XHCN, mà mỗi ngày dễ có đến hàng chục ngàn chiếc xe đạp miền nam được chất đầy trên mui xe ca để xuôi về miền Bắc, bởi trong suốt nhưng năm dài quá độc lên chủ nghĩa xã hội, thì một chiếc xe đạp là cả một mơ ước ngàn đời của người dân Bắc chúng tôi, nó là cả một gia tài, mà chỉ có những cán bộ cao cấp của đảng mới được chiếu cố cấp cho một chiếc. Và cũng không lâu sau đó, những chiếc xe “bình bịch” lạ lùng cũng từ miền nam bắt đầu “xâm lược” các đường phố của miền Bắc XHCN. Đến lúc này, nhiều người “Bắc kỳ” chúng tôi mới ngộ ra một điều, có phải chúng ta đã giải phóng được miền nam hay không? Giải phóng khỏi cái gì? Hay giải phóng đồng bào miền nam khỏi sự thịnh vượng, sự phồn vinh và sự ấm no hạnh phúc?
Image
Những chàng trai quý gái yêu của miền Bắc XHCN đã bỏ mình trên đường đi xâm lược miền Nam (Hình chụp tại Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972)
Cũng vào những tháng ngày cả miền Bắc chúng tôi đang vui say trong men chiến thắng đó, không biết có bao nhiêu người vợ, người mẹ, người con ở miền Bắc hiện trông ngóng mà chẳng thấy người thân trở về từ cuộc chiến trong nỗi đau thương và mất mát vô bờ! Cũng vào những ngày tháng đó, không ít người “Bắc kỳ” chúng tôi từ một người vô sản, bỗng chốc được hóa thân thành một đại phú ông với tài sản lên đến 16 tấn vàng với niềm vui bất tận, thì cũng không ít đồng bào tôi ngộ ra được một điều họ đã bị lừa! họ đã hy sinh máu xương một cách uổng oan cho một nhóm người ăn trên ngồi trốc, mà sự mất mác của họ suốt cả cuộc đời còn lại, không thể gì bù đắp được!


Cho đến bây giờ đất nước Việt Nam đã thống nhất được 35 năm, đảng cộng sản đã đoạt được mọi quyền lực theo ý muốn thì nhân dân Việt Nam đã đạt được gì? Đảng cộng sản độc tôn cai trị đất nước, thống trị nhân dân. Người dân Việt tôi chúng đã được gì khi đất nước thống nhất? Độc lập thống nhất, nhưng tự do, ấm no, hạnh phúc ở đâu? Những điều này chỉ thể hiện trên lời nói, sách vở và trên các phương tiện truyền thông của cộng sản.

Phải chăng chế độ cộng sản vẫn còn lừa dối người dân Việt Nam hôm nay rằng sẽ có một Thiên Đàng trên trần thế này thông qua chủ nghĩa Cộng Sản? Những nhà cầm quyền cộng sản Việt nam phải trả lời thế nào khi mức độ giàu nghèo giữa nhà cầm quyền với nhân dân, giữa nông thôn thành thị càng ngày vẫn càng ngày càng lớn? Bộ sậu Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết cùng Bộ chính trị phải trả lời sao đây khi những khối tài sản khổng lồ đang nằm trong tay những lãnh đạo cộng sản? Đảng cộng sản sẽ trả lời thế nào trước nhân dân Việt Nam và toàn thế giới về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, Tây Nguyên và biên giới phía Bắc đang lần lược trở thành chủ quyền của Trung cộng? Các lãnh tụ của cộng sản sẽ trả lời thế nào về những sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng bắt bớ, bị cấm đoán, những nhà hoạt độngtôn giáo bị giam cầm, các cơ sở tôn giáo bị cướp phá bị cưỡng chiếm? Có phải chăng cộng sản vì muốn xây dựng một Thiên đàng trên trần thế này nên bắt buộc phải tìm mọi cách để triệt tiêu tất cả các tôn giáo đang có mặt tại Việt Nam (chưa bị quốc doanh hóa) để độc quyền làm những chuyện xấu xa? Biết bao nhiêu người dân mất nhà mất đất, mất người thân, mất quyền căn bản vốn có của con người phải vác đơn khắp nơi kêu cứu? Cộng Sản đã làm được những gì.


Cho đến bây giờ tôi hiểu tại sao mỗi lần các anh chị tôi được giới thiệu vào đảng đều bị mẹ tôi cản trở không cho vào. Phải chăng kiếp làm vợ của một cựu cán bộ đảng viên cộng sản, mẹ đã chứng kiến nỗi đau đớn, nhục tủi dày xéo trong lòng chồng mình, một người sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu có bị cộng sản đấu tố và hạ phóng theo chủ trương: “ Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rẽ” gia đình họ tộc phải cho vào hoạt động trong hàng ngũ đảng cộng sản để thoát chết nhằm duy trì nòi giống. Cả bố và anh trai của bố chồng của mẹ tôi đều là cán bộ cộng sản, đã hoạt động từ những năm 1930-1931, ngay từ ngày đảng mới khai sinh.


Nhưng chính anh của bố chồng bà là Hồ Duy Vinh bị những người cộng sản giết hại năm 1954. Bố của chồng bà là Hồ Duy Định cùng người cháu trai con ông Vinh là Hồ Duy Hợi phải bỏ trốn vì chế độ Cộng Sản. Khi có chủ trương "minh oan" thì Ông Định mới trở về. Cho đến nay thì ông Hồ Duy Hợi (con ông Vinh, người bị cộng sản giết hại) vẫn bị mất tích sống chết thế nào đến nay không ai hay, cả họ tộc tôi gắng công tìm kiếm vẫn không có chút tung tích nào. Trong thời gian làm việc cho cộng sản tại Hà Nội chồng bà (bố tôi) nhìn thấy anh trai nhưng chỉ kịp gọi được mấy tiếng “ Anh Hợi ơi!.. ” hình như bác tôi sợ nên không trả lời mà lẩn trốn cả em mình rồi bỏ đi biệt tích, cũng từ đó tới nay bác tôi biệt vô âm tín. Có lẽ bác tôi lúc đó chắc sợ bố tôi là một thằng “cộng sản” sẽ bắt nộp ông cho cộng sản giết hại. Nên không dám trả lời mà phải tìm đường lẩn trốn.


Tôi còn nhớ khi giảng bài tại một lớp học kinh thánh, mục sư Nguyễn Trung Tôn có trích một câu kinh thánh để mọi người suy ngẫm và lúc này tôi muốn trích câu kinh thánh này làm lời nhắn nhủ người dân Việt Nam, đặc biệt là những người cộng sản:


“Có một con đường mới trông tưởng chính đạo, nhưng cuối nẻo của nó là sự chết” Kinh thánh Châm ngôn 14:12.

Có phải chăng tôi cũng như nhiều người dân khác đã lầm tưởng khi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là chính đạo? Có chắc chắn rằng kết cục của chủ nghĩa cộng sản là diệt vong? Không cần giải thích nhiều, chúng ta cứ nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa này vào đầu thế kỷ 20 và sự tan vỡ của nó tại Đông Âu vào cuối thế kỷ đó thì chúng ta có ngay câu trả lời! Đảng Cộng Sản Việt Nam phải trả lời dân tộc Việt Nam ngay lập tức, mà hành động nên làm nhất để chuộc những sai lầm trong quá khứ là ngay lúc này, hãy trả lại quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam cho người dân Việt Nam để mọi người cùng nhau đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của Trung Cộng, một lũ “Sa Tan trá hình Cộng sản”. Hãy trả lại ngay lập tức cho người dân Việt Nam những quyền vốn có của họ! Thả ngay những người yêu nước đang bị tù đầy để họ góp sức vào công cuộc cứu nguy dân tộc!

Đức Chúa Trời sẽ cho quý vị có cơ hội ăn năn nên hãy ăn năn khi còn cơ hội.

Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin mượn lời bài hát “Hãy Trả Lời Tôi” để mong được sẻ chia cùng đồng bào tôi về những đau thương mất mác và những ly loạn tang thương mà chế độ cộng sản đã mang đến cho cả dân tộc này:

Này lũ cướp nước người giải phóng cho ai
người nói tự do sao ta bị tù đầy
Người nói ấm no sao ta bị đói rét
Người nói hạnh phúc sao ta bị khổ đau

Là kẻ nói dối sao lại bắt ta đi
Đoàn kết toàn dân sao ngươi gây hận thù
Độc đảng độc tôn sao ngươi gọi dân chủ
Người nói công lý nhưng lại chơi luật rừng

Một lần không tin, trăm lần không tin
Vạn lần không tin người ơi
Một lần nói dối, trăm lần nói dối
Vạn lần cũng thế mà thôi

Làm sao ta quên được, làm sao ta quên được
Những lời tráo trở trơn tru, những lời trót lưỡi đầu môi
Đỉnh cao trí tuệ sản sinh ra người
Này kẻ lóc lếu người đổi trắng thay đen

Người muốn loài giun chết hết hay làm người
và bắt toàn dân trở thành người câm điếc
Vì mất tự do nên liều chết ra đi
Vì mất tự do nên liều chết ra đi.


Ngày 25 Tháng 4 Năm 2010
Hồ Thị Bích KhươngĐiện thoại : 0984 - 980 - 597
Thành viên Khối đấu tranh dân chủ - 8406
Địa chỉ hiện nay : Xóm 2, xã Nam Anh,huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

‘Em chẳng còn cơ hội lấy được người đàng hoàng’

Tác giả: Andew Lam/NAM

Chuyển ngữ: Triệu Phong/Người Việt


LTS: Cô Phạm Lan, 21 tuổi, làm nghề massage trong một khách sạn ở Quận Một, Sài Gòn. Ðây là nơi mà đa số du khách ghé lại khi đến Việt Nam . Cũng như hằng triệu người trẻ khác từ vùng quê, Sài Gòn có sức thu hút mãnh liệt với hứa hẹn của những cuộc sống tốt đẹp hơn, để khỏi phải suốt ngày cong lưng trên cánh đồng lúa và nợ nần thì cứ mãi chồng chất. Lan kể lại với Andrew Lam, chủ bút của tổ chức New America Media (NAM), người trở lại thăm quê nhà vào dịp 35 năm ngày kết thúc cuộc chiến. Người Việt đăng bản chuyển ngữ của Andrew Lam, với sự đồng ý của tác giả.


Em từ quận Tân Châu, tỉnh An Giang, gia đình có sáu người, tất cả đều làm ruộng. Em lên Sài Gòn đã được bốn năm.

Anh có biết người nông dân cơ cực đến chừng nào không? Cuộc sống của người nông dân là cuộc sống mà nợ khi nào cũng ngập đầu. Ðời sống lệ thuộc vào vụ mùa. Những tháng ngồi chờ lúa chín, người nông dân cần nuôi sống gia đình nên họ phải vay nợ. Ðến mùa gặt, nợ cộng với tiền lãi, mới được trả. Nhưng những lúc bị thiên tai lụt lội hoặc mất mùa, người nông dân lại phải vay thêm để sống còn, và cứ thế, họ sống mãi trong nợ nần. Cuối cùng đành chọn làm những công việc chẳng đặng đừng để kiếm tiền.

Cha mẹ em mang nợ dài dài, họ không kiếm đủ tiền để nuôi bốn đứa con. Chị em lấy chồng năm 17 tuổi, chị cưới một ông già Ðài Loan mà chỉ lúc ổng đến hỏi xin cưới mới được thấy mặt lần đầu. Vì cần tiền mà chị phải lấy ổng. Trong một năm đầu, chị gửi tiền về đều đặn, nhưng bây giờ thì không biết chuyện gì xảy ra bên đó. Chị biệt tích như vậy đã nhiều năm rồi. Do vậy, nhà em nay phải mang nợ trở lại và đây là lúc đến lượt em phải lo cho gia đình.

Em là con thứ trong nhà. Với em, gia đình quan trọng hơn chính bản thân mình, nên vì gia đình, em sẵn sàng làm mọi thứ, bất kể công việc gì. Em có thích công việc mình đang làm không? Anh hỏi gì kỳ vậy? Dĩ nhiên là không, nó làm hỏng mất đời em rồi. Ðể em nói cho anh nghe, thà chọn lối sống này còn hơn ngồi khoanh tay nhìn gia đình chết đói, hay bị tống cổ ra khỏi mảnh đất của họ.

Than thở với ai bây giờ? Sài Gòn đầy rẫy dân tứ xứ, những người như em, những kẻ từ vùng quê đến đây để kiếm sống, để sống còn. Tết đến, đường phố vắng ngắt, người người kéo nhau về quê sum họp với gia đình. Ðó là thời gian duy nhất mà người ta có thể ngưng làm công việc nuôi sống gia đình, để về đoàn tụ.

Khi mới lên Sài Gòn lần đầu, em không thể tưởng tượng được cuộc sống ở đây có thể xa hoa đến thế. Nào là nhà cửa to lớn, xe cộ bóng láng. Nhưng người Sài Gòn coi rẻ dân ở tỉnh lên như chúng em. Họ coi thường giới nông dân. Họ cho chúng em là ngu đần. Ðúng ra em hầu như luôn luôn nằm ở gần tột đỉnh của giai cấp mình. Em đọc sách đọc báo nhưng họ vẫn nghĩ em là ngu dốt và thiếu học. Em bỏ ngang việc học vào năm lớp chín để giúp đỡ gia đình, nếu có cơ hội, ắt em sẽ tiến xa hơn.

Em đọc hiểu gì qua báo chí? Nào là người ta xây thêm nhiều sân golf. Hằng tỉ đô-la được đổ ra để đầu tư. Nhưng tiền dành ra cho những kẻ như chúng em đi đâu cả? Các đại gia xây những căn biệt thự có trần mạ vàng. Kẻ quyền thế chỉ biết lo chơi golf trong khi cầu cống ở các tỉnh cứ bị sập hoài. Người giàu có chơi tennis rồi kéo đến đây tẩm quất, rồi họ cư xử với các cô gái như đồ bỏ.

Nếu em là chủ tịch nước em sẽ lo nuôi sống dân nghèo, làm chỗ ở cho người không nhà. Em sẽ làm những gì để cho người nghèo thấy họ được quan tâm giúp đỡ. Em sẽ không đuổi người dân ra khỏi mảnh đất của họ để người giàu xây nhà cao tầng và sân golf.

Nói về khách hàng, em không thích người Mỹ, em thích người Úc hơn. Họ tử tế và vui tính. Có người muốn hỏi cưới em sau khi em làm cho họ được sung mãn, nhưng tất cả đều là giả dối. Họ trở lại vài lần rồi biệt dạng.

Nhưng em không muốn cưới người Việt. Họ quỷ quyệt lắm... Ðàn ông Việt Nam không thể tin tưởng được. Họ đối xử với đàn bà như rác, đặc biệt là hạng chúng em. Xong việc rồi là phủi tay. Họ cho “tip” một cách bủn xỉn, thậm chí họ không cho đồng nào ngoại trừ phải nhắc mãi. Có khi họ còn sỉ vả sau khi được phục vụ xong. Có lần, đang tẩm quất bằng cách bước trên lưng, em muốn đạp một cái cho gãy phứt cổ luôn.

Bây giờ em dư giả rồi. Em có đủ để nuôi sống gia đình và cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Em còn dư tiền để thỉnh thoảng được người khác đấm bóp cho mình nữa.

Em biết em không thể tiếp tục như thế này mãi được, nhưng nếu em đổi sang nghề nấu ăn hay làm công nhân nhà máy thì em không dành dụm được tiền nữa, và gia đình lâm cảnh khó khăn trở lại. Em biết em cần phải có khả năng chuyên môn mới sống còn được, nhưng biết học chuyên môn nào nếu không có tiền để đi học?

Mối lo lớn nhất của em bây giờ là khó mà có cơ hội để lập gia đình. Biết em làm nghề này em sẽ bị người ta khinh rẻ ngay. Em không còn cơ hội để lấy được người đàng hoàng. Em thấy không có lối nào để bước ra.

Nhưng phụ nữ làm nghề đấm bóp cũng mơ mộng cao xa. Em mơ một ngày nào đó tìm được người chồng tốt. Em mơ có đủ tiền để đi tìm bà chị và mang bả về với gia đình. Sau đó em sẽ xây một căn nhà đẹp để cả gia đình cùng sống chung với nhau. Có điều là không biết bao giờ điều đó mới xảy ra. (T.P.)


Nguon : http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=111382&z=248

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tản Mạn Sài Gòn



Sài Gòn đối với đa số dân Sài Gòn gạo cội không phải là "thành phố 10 mùa hoa", "thành phố mang tên Bác", hay thành phố cay cú "tôi mất người như người đã mất tên", ... Sài Gòn hiền lành hơn thế nhiều. Dân Sài Gòn vốn vẫn thờ ơ với chính trị, nhất là thứ chính trị Salon vô bổ, nhiều lời lẽ, thiếu tính thực tế. Dân Sài Gòn chính hiệu "con nai vàng" chẳng bao giờ gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh.

Không nhất thiết là vì lý do chính trị. Thằng Tí thằng Tèo trong mắt bà ngoại trăm năm vẫn là thằng Tí thằng Tèo, bất kể địa vị xã hội của nó là gì. Tôi có nói chuyện với vài bạn trẻ ở miền Bắc mới sang Mỹ, nghe họ dùng "thành phố Hồ Chí Minh" để nói đến Sài Gòn, thấy quai quái thế nào ấy, dù tôi chẳng có lý do gì chính đáng.

Sài Gòn, dù trong thời buổi khó khăn nhất, vẫn như một cô tiểu thư đài các: đỏng đảnh đôi chút mà dễ thương thiệt nhiều.
Nhắc đến Sài Gòn người ta hay nhắc đến mưa, nhưng tôi lại nhớ daidẳng cái nắng gay gắt của nó.
Nhà tôi ở một con đường nhỏ. Trưa hè đặt cái "lưng dài vai rộng" xuống nền gạch bông mát lịm, ngắm bầu trời xanh ngắt, gió nhẹ hiu hiu, thì không có nơi nào trên quả đất này cho cảm giác thanh bình hơn.

"Một ngõ vắng xôn xao
Nằm trong lòng phố lớn ..."


Khác với Hà Nội, không gian Sài Gòn rất thoáng, chí ít là cách đây hơn 15 năm. Không gian của một buổi trưa hè hiu gió còn thoáng hơn vạn lần.Tôi luôn có cảm giác mình có thể bay bổng lên, thò tay với cụm mây bồng bềnh trêu ngươi.
Tuy thoáng, không gian Sài Gòn không bao giờ làm ta cảm thấy lạc lõng.Những tiếng rao thi thoảng của người bán dạo nghe nao nao, cuộn cả buổi trưa hè thành một miếng bột bánh bèo trắng phau với ít đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm.
Từ ve chai, bánh bao chỉ, chè đậu xanh bột báng nước dừa, kẹo kéo, tàu hủ, đến mì gõ, ... đều có nguời mang đến tận cửa. Có rất nhiều tiếng rao mà đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nghĩa, nhưng nghe cái cung nhạc ấy thì biết ngay là họ bán cái gì.
Người Sài Gòn cũng thoáng như không gian Sài Gòn vậy! Không đâu có thể dễ có nhiều bạn, và bạn không tồi, như ở Sài Gòn. Không chỗ nào trên đất Việt Nam người ta sống năng động và khoáng đạt hơn ở Sài Gòn.

***
Trước khi bàn chuyện "người lớn" này, xin mạn phép quay lại chuyện thằng Tí thằng Tèo.
Ðối với một thằng Tèo Sài Gòn chính gốc con nhà nòi thì Sài Gòn dĩ nhiên là "bự" hơn một buổi trưa hè.
Sài Gòn là những chiều tụ tập bấm chuông nhà người ta, cho đến khi nghe chửi "D.M. tụi bay con cái nhà ai mất dại bấm chuông wài dzậy" thì mới chịu vắt giò lên cổ chạy.
Sài Gòn là các hồ bơi Lao Ðộng, Chi Lăng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, là mấy củ khoai mì nóng hổi với dừa nạo, là nước mía lạnh, là ốc dích ốc táng, là bắn bi ca-de với những câu đồng dao khó hiểu như thần chú: "lang cang báng dội ăn tiền". Nói sai hay nói thiếu một chữ là đánh nhau chí tử để rồi ngày mai lại càu nhàu chơi tiếp.
Sài Gòn là những buổi tối cúp điện, tụ họp ca hát hay vừa hồi hộp vừa thích thú nghe và kể chuyện ma như chính mắt mình thấy hôm qua.
Sài Gòn là những con diều làm đi làm lại, treo thêm cả vài cái lưỡi lam để cắt dây diều khác; là dế hộp quẹt thổi phù phù "đá bắt xác"; là chùm ruột chua ngọt, những cùi thơm, cóc ổi ngâm cắm que cà rem "đa năng" không biết đã được dùng lại bao nhiêu lần.

Lớn lên một tí, Sài Gòn là cô bé hồi hộp chờ thằng Tèo hái cho cả cành phượng về ép làm bướm; là hàng điệp trải thảm vàng rực ở trường phổ thông; là quán cà phê từng buổi đón em về.

Xin trích đoạn một bài hát tôi viết đã lâu, đặt tên (rất tự nhiên) là "Lâu Lâu":

"Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Buổi trưa thường hái trộm me
Thằng leo, thằng đứng làm thang ...
...
Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Phượng cao mấy cũng trèo lên
Chỉ vì cô bé mắt tròn xoe, ... mắt tròn xoe"


Dĩ nhiên, cô bé mắt tròn xoe của tôi vẫn đang ở ... Sài Gòn.
Sài Gòn đáng yêu lắm! Nó đơn giản và khoáng đạt, không bao giờ cần cái văn vẻ "màu mè ba lá hẹ", không cần các suy nghĩ tự tôn ra vẻ triết gia hướng nội, để phải miệt thị kẻ khác quan điểm.
***
Sài Gòn còn là thành phố của sự đối lập: giữa những biệt thự kín cổng cao tường và đám nhà ổ chuột trên kênh hôi hám; giữa văn minh đô thị và những tiếng chửi thề; giữa sự ồn ào bụi bặm và không gian im lắng thanh tao. Nổi bật hơn tất cả là sự đa dạng vô cùng của con người Sài Gòn. Ðặc biệt là họ không sống "như đã từng được sống", mà luôn "sống như chưa được sống bao giờ".
***
Ân mình sau các hàng bông giấy, dây thủy tiên chói đỏ, là những ngôi biệt thự lúc nào cũng kín cổng. Không ai biết những người sống trong đó làm gì, là ai, và cũng chẳng ai thật sự quan tâm ... ngoại trừ bọn thằng Tí thằng Tèo.
Bọn nhóc chúng tôi thường có rất nhiều các truyền thuyết về những người sống trong mấy ngôi nhà ấy.
Ơ đầu ngõ nhà tôi cách đây khoảng 20 năm có một ngôi nhà như thế, chỉ hơi khác là hai cánh cửa sắt to đùng lại thấp lè tè. Mỗi chiều có một anh chàng vác ghế đẩu cao ngồi tì tay lên cửa trông ra đường. Gã chẳng bao giờ cạo râu cắt tóc. Mặc dù nắng chiều rạng rỡ xóa bớt phần nào sự ma quái, bọn tôi vẫn chẳng dám đến gần gã. Người ta có rất nhiều "lý thuyết" khác nhau về gã: nào là người yêu bỏ đi Mỹ, bị công an lấy mất gia tài, vân vân và vân vân. Cuối cùng hình như hắn chỉ giả điên để trốn nghĩa vụ quân sự . Ðến khi hết tuổi người ta thấy hắn cạo râu, cắt tóc ngắn chờ ngày xuất cảnh.

Dù gì thì gì, những ngôi biệt thự vẫn là nguồn cảm hứng vô tận cho hàng tỉ câu chuyện mê li rùng rợn bọn tôi truyền miệng mỗi tối cúp điện.
Chỉ cách những tòa lâu đài ấy vài trăm mét là một xóm lao động nghèo với những "truyền thuyết" kiểu khác hẳn: truyền thuyết về các "anh hùng" du đãng như trong tiểu thuyết Duyên Anh. Có lần một trong những anh hùng nổi tiếng nhất "xóm Chùa" mang dao đứng giữa ngã Năm thách đấu công an phường. Cuối cùng một anh công an nhảy vào đánh tay đôi với hắn và buộc phải dùng súng hạ gã.

Ði thêm khoảng trăm mét nữa là đến con rạch thúi hơn cầu tiêu công cộng ở Ðại Học Bách Khoa tỉ lần. Vậy mà tôi vẫn từng đi câu cá bống, vớt trùng chỉ với lũ bạn. Câu cả ngày được 2 con cá nhỏ hơn ngón tay út. Chỉ có trùng chỉ là lần nào cũng vớt được rất nhiều, làm mấy con cá Tàu nhà tôi ăn sình bụng bơi lặc lè kéo theo dây phân dài cả thước.
"Xóm" tôi có khá nhiều nhà có piano. Chiều chiều nghe lũ nhỏ tập từ Methode Rose, Hannon đến Classic 3, từ sòn đô sòn đến Tempest. Lẫn vào trong đó luôn là tiếng chửi thề của bà Tư nhà bên cạnh. Có lẽ chẳng có món "xí quách" nào ... xí quách hơn sự pha tạp của hai loại âm thanh ấy.

Buổi chiều ở Sài Gòn đối lập hẳn với buổi trưa yên tĩnh. Dường như cái dìu dịu của nắng ấm làm người ta có nhiều năng lượng hơn. Chí ít là bà Tư lúc nào cũng có thừa năng lượng vào buổi chiều. Bà chửi từ ông Tư tới thằng con mất dạy. Ỏng Tư thì chẳng nói lại nhiều lời trừ khi mới nhậu xong. Chai rượu đế gò đen (chứ hổng phải ổng) vác dao bửa củi gí vào cổ bà vợ to béo, gã con trai thì vừa can vừa ... đục luôn ông già, trong lúc đó tiếng Tempest vẫn vang vang ngắt quãng.
Ðiểm lạ (!?) nhất là tiếng Tempest vài năm sau biến mất, còn vợ chồng ông bà Tư vẫn sống "vui vẻ" với nhau như thế ...
***

Tính đối lập của Sài Gòn rõ nét nhất là vào buổi tối . Người ta đã viết rất nhiều về "Hòn Ngọc Viễn Ðông" và tính phân chia giai cấp khắc nghiệt của nó. Ðó là trước 75. Sau giải phóng cái danh hiệu Hòn Ngọc Viễn Ðông bị Bangkok cướp mất, nhưng tính đối lập của Sài Gòn chẳng ai cướp nổi.
Sài Gòn không bao giờ ngủ. Khoảng 9, 10 giờ đêm là các vũ trường bắt đầu hoạt động. Bọn con nhà giàu tí tởn hẹn hò dream, LA, su 100, quần xẻ, váy cao, phóng vù vù qua các đường Nguyễn Huệ, Ðồng Khởi, Hàm Nghị ... sau đó vọt đi mấy cái Discoteques vang bóng một thời như Thái Sơn, Cadillac, Queen Bees, ...
Phong trào đua xe thì Sài Gòn luôn đi đầu. Thủa chưa có nhiều xe gắn máy thì bọn choai choai đã biểu diễn đi xe đạp một bánh xoay mòng mòng hàng đêm trước nhà hát lớn. Ðến khi có xe gắn máy nhiều rồi thì cả đội "Bồ Câu Trắng" cũng chẳng bị ai ngán. Hơn nữa bị giam xe thì một bữa chân gà rút xương ở Hàm Nghi là lấy xe ra cái rụp.
Khuya hơn nữa thì gái "Ca Ve" tràn về các quán cơm tấm, mì xe để "đá đèn" (ăn đêm). Bọn "dân quậy" bao gồm lũ nhóc mới lớn lẫn dân giang hồ thứ thiệt cũng tham gia đá đèn la hét đến 3, 4 giờ sáng.
Cùng khi đó các em nhỏ bán vé số cũng hoạt động cật lực. May mà vớ phải dân chơi trúng quả nó mua cả cọc thì ngày mai không phải lo tiền ăn. Cựu chiến binh, thương phế binh thì vác đàn hát "Phố Ðêm", cay đắng xin từng đồng của lũ nhỏ mặt búng ra sữa chưa bao giờ hiểu hai chữ "mất mát" nghĩa là gì.
Ðến 3, 4 giờ sáng, khi lũ dân chơi đã hoàn toàn mệt lử lũ lượt ra về, thì dân lao động bắt đầu một ngày mới. Xích lô, ba gác chở rau thịt ra chợ bán. Các lò bánh mì bắt đầu xay bột trét bơ nướng bánh thơm lừng. Mấy chị bán cà phê vỉa hè cũng bắt đầu đun nước, pha cà phê vợt cho gã xích lô mới tỉnh ngủ mắt vừa nhắm vừa mở vừa tán tỉnh.
Mùi mồ hôi lẫn với mùi bơ, mùi men, mùi khói SU-100 dần biến, quyện với mùi không khí ẩm mát tinh sương tạo ra "mùi Sài Gòn" buổi sáng ở các khu phố chợ rất đặc trưng.
***
Dân Sài Gòn "quái chiêu" lắm, lúc nào cũng than thiếu tiền, nhưng không sống tằn tiện bao giờ! Họ hào hiệp với bản thân và bè bạn; và họ luôn tìm được cách kiếm tiền.
Nhiều người bảo tôi rằng dân Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi, sống hôm nay khỏi lo ngày mai, nên họ sống rộng rãi hơn dân miền Trung và miền Bắc.
Có lẽ đúng. Nhưng còn cái gì đó hơn thế nữa! Kiểu ăn xài "xả láng sáng dậy sớm", dù nghèo rớt mồng tơi, dường như ăn vào máu của dân Sài Gòn, ăn vào không khí họ thở hàng ngày, ăn cả vào cái văn hóa hổ lốn cẩu xực của họ. Dĩ nhiên để ăn xài thì đầu tiên phải kiếm ra tiền.
Kiếm tiền thì có lẽ không đâu có nhiều cách như Sài Gòn.
Trong thời còn ăn bo bo, gạo tổ đỏ lòm, thời dân Hà Nội còn ganh nhau từng cái khung Chiến Thắng, lốp Phượng Hoàng, hộp sữa cân đường tiêu chuẩn, thì dân Sài Gòn đã bắt đầu nuôi heo lậu, quấn thuốc lá Lạng Sơn pha lá dừa, làm pháo giả, bán thuốc Tây "bột năng" đầy ngoài chợ ... Hiển nhiên một phần là do ưu thế xa "trung ương", nhưng phần chính là do dân Sài Gòn sống rất "năng động".


Những năm 79, 80 mà thấy anh nào bị cối kẹp nách, mặt mũi lấm lét ở chợ Nguyễn Hữu Cầu thì biết ngay là hắn buôn thuốc Tâỵ Sau khi chợ thuốc Tây bị dẹp thì đường Nguyễn Hữu Cầu biến thành cái chợ trời đầu tiên của Sài Gòn sau 75. Ỏi thôi thì quần zin áo pun, đồ Mỹ lẫn đồ chợ Lớn, bếp điện Liên Xô dây Gò Vấp, ... Ơ Sài Gòn cái gì bán được là có người bán. Ðừng hòng mà mua được đồ xịn nếu mà không quen biết hay hiểu biết. Nhiều người tự thị là "rành" nhất bị lừa mà vẫn còn hí hửng.Ðó là chưa nói đến giá cả trời ơi. Tôi thường tự hỏi ai cũng bán hết thì lấy ai ra mà mua? Tiền đâu ra mà mua? Thế mà chợ lúc nào cũng đông.Ðúng là Sài Gòn!

Nếu không thích cảnh chợ búa "gần mực" thì người ta quấn thuốc lá, nuôi heo với cơm thừa canh cặn pha cám lậu ở ngay trong nhà. Chuồng heo phải lau rửa ít nhất hai lần một ngày, sợ hôi thì ít, mà sợ công an phát hiện thì nhiều . Lái heo bốn rưỡi sáng đã mang xe ba gác đến chở. Bọn lái heo lậu giết heo còn giỏi hơn công nhân chuyên giết-mổ heo ở xí nghiệp Cầu Tre sau nàỵ Chích điện con heo chỉ kêu cái "éc" là chết ngoẻo tò te, xẻ làm bốn mất độ mươi phút, sáng hôm sau bà con có thịt heo tươi bán ở chợ
Khi xí nghiệp nước đá Sài Gòn chưa ra đời thì nhà nhà làm đá, người người bán nước đá. "Cho con 2 cục đi dì ơi!" là câu cửa miệng trưa hè của dân Sài Gòn. Tiền điện thì vừa đắt cứa cổ vừa phải có tiêu chuẩn.Mua cả cái tủ lạnh chuyên làm đá bỏ mối tháng cho các quán cà phê vỉa hè cũng chỉ đủ tiền ăn trưa cho gia đình là giỏi.

Người ta còn buôn cả những thứ tưởng chừng như chẳng có người mua vào thời đó như pho mai Liên Xô thúi hoắc, bánh kẹo Vinabico, rượu XO pha rượu lúa, nước lã và cồn ...
Ðến giữa và cuối thập niên 80 thì cơ hội kiếm tiền còn nhiều gấp bội. Sinh viên học sinh nghèo thì đi dạy thêm, quen biết hơn tí nữa thì đánh hàng Viễn Dương, hàng Ðông Ảu, buôn thuốc lá Campuchia, mua bán xe gắn máy kiếm vài chỉ dẫn "ghệ" đi chơi dễ như bỡn. Bọn Tèo kinh doanh còn buôn cả đất đai, làm xây dựng kiến tiền tỉ khi còn chưa ra trường.Không nhất thiết phải chúi đầu vào học kiếm suất đi Tây. Sống cái đã, ngày mai là chuyện của tương lai!

Kể cả các thầy dạy luyện thi đại học cũng biết làm ăn ra trò: xây thêm nhà mở lớp học, có cả lớp học máy lạnh cho con nhà giàu học riêng một lớp năm bảy đứa. Các thầy nổi tiếng rất biết marketing, dạy cả lớp giỏi lấy tiền ít để bọn nó thi thủ khoa mang danh tiếng cho thầy, chia lớp ra làm cả chục tầng tùy trình độ.
Các chị các cô khéo tay thì làm bánh, làm hoa giả, pha nước hoa bán đầy đường Ðồng Khởi, làm kem dừa, kem chuối tăng thu nhập gia đình.
Ðừng tưởng dân Sài Gòn chỉ lo làm ăn không đọc sách. Sài Gòn có vài trăm tiệm sách cũ mà dân nghiền sách nhẵn mặt. Từ sách Giải Tích Hàm của Lê Hải Châu, sách Tuổi Hoa trước giải phóng, chưởng Kim Dung, đến hình ảnh sách báo khiêu dâm của Mỹ, HongKong hay báo Toán Học Tuổi Trẻ, Kvant, và mọi loại truyện ngắn, dài, tiểu thuyết nội ngoại, đều có cả.
Nhân chuyện buôn thuốc, tôi có thằng bạn đi Tây Ninh buôn hai cây thuốc Zet bị bắt tịch thu luôn cả cái xe dream. Rõ là ngu! Thằng cu phá phách kinh khủng, nhưng cũng vui tính ra phết. Có lần ngồi uống cà phê hắn bảo cô bán hàng: "Liên ơi cho anh mượn sợi dây thung." - "Chi dzậy anh?", Liên hỏị Nó bảo: "để anh thắt ống dẫn tinh". Cô bé mặt đỏ lừ không biết có bỏ cái gì vào ly cà phê của nó không.

***
Sài Gòn là thế đấy, muôn người muôn mặt, đa dạng vô cùng!
Dù phần nào bị cuộc sống sôi nổi cuốn trôi, Sài Gòn vẫn có nhiều thằng Tèo mộng mơ làm thơ viết truyện dễ thương khôn tả: làm ăn tay phải, văn nghệ tay trái. Hình ảnh con Thơm cái Thắm hàng me gốc điệp không bao giờ phai nhạt trong mắt bọn Tèo Sài Gòn.
Tôi vẫn còn nhớ Tèo Nguyễn Nhật A'nh với "cô gái đến từ hôm qua", "còn chút gì để nhớ", "truyện cổ tích dành cho người lớn" ...

"Lòng em như chiếc lá khoai
Ðổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu ..."


Hay Tèo Bùi Chí Vinh:

"Cô gái ơi anh nhớ em,
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa,
Lâu lâu lại nhớ quê nhà gáy chơi
Con dế thường gáy một hơi,
Còn anh gáy hết ... một thời con trai, ..."



Ðến đây tôi chợt nhận ra rằng viết về "một thời để nhớ", về những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ thì rất dễ, dễ đến mức cái thằng văn dốt chữ nát như tôi cũng "xổ nho" được vài dòng.
Khi viết cái gì ít vô thưởng vô phạt hơn một chút thì phải bắt đầu nhìn trước ngó sau, câu chữ trúc trắc, ý vẫn tràn nhưng sợ hiểu sai hiểu lệch, lại phải tránh chính trị chính em ...
Tôi đã định dừng ở đây vì câu chuyện đã nhạt dần đi, cái hào hứng ban đầu của bạn đọc, nếu có, chắc cũng không còn nồng nhiệt nữa. Thế nhưng chẳng thể để lại trong lòng bạn đọc ấn tượng về một Sài Gòn với hai cây thuốc Zet, tôi lại phải tìm cách khác để kết thúc. Chỉ sợ rằng cũng chẳng khá hơn 2 cây thuốc Zet là mấy.


Nếu phải so sánh Sài Gòn với Hà Nội chẳng hạn, thì ta có thể so sánh ngay hai loại ổi của hai xứ. Ôi đào Hà Nội thơm lừng, ngọt ngay, ruột đỏ tươi rất đẹp, nhưng cùi mỏng, hột to, vừa khó nhá vừa chỉ nhắm được tí là hết. Ôi Sài Gòn to hơn nắm tay, cùi dày, không ngọt và thơm như ổi đào nhưng giòn tan, cắn một miếng là mát lịm, lại có thể chia cho nhiều người ăn, chấm muối ớt nghe qua là chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn cũng vậy, nghe qua là … chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn dễ thương lắm! Họ có cái nhìn trong trẻo về cuộc sống, lại chẳng giận dai vùng vằng vô lý bao giờ . Ði đón trễ thì: "anh để em chờ nãy giờ đó coi có được hông? Ghét dễ sợ luôn hà!" Cộng với một cái lườm, hai cái nguýt thì bọn Tèo Sài Gòn hối hận quá cả 2 tháng sau mới ... trễ lần nữa.
Con gái Sài Gòn rất biết ăn mặc, đi đứng. Tiền có thể thiếu chứ phong cách tiểu thư thì chẳng thiếu bao giờ. Tiểu thư Sài Gòn không ưỡn ẹo mè nheo, mà phóng xe vèo vèo đứng tim Tèo.
Giọng gái Sài Gòn thì ngọt hơn mía lùi. Cái câu "hổng chịu đâu" mà nghe dân xứ khác nói thì ngứa lỗ nhĩ, nghe con gái Sài Gòn nói thì bọn Tèo Sài Gòn như bong bóng xì hơi, biểu cái gì cũng nghe ráo trọi. Con gái Sài Gòn lãng mạn chẳng kém ai, nhưng cũng rất thực tế. "Ðược thì được hổng được thì thôi, làm chi mà dzữ dzậy!"
Sài Gòn là vậy đó, ít nhất là từ cái nhìn của Tèo tôi . Còn ti tỉ nhiều đề tài thú vị về Sài Gòn mà tôi không muốn đề cập vì lười là chính: cuộc sống sinh viên học sinh Sài Gòn, các trò ma mãnh "cua ghệ" của bọn Tèo Sài Gòn, con trai Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, ...
Tôi đã nghe rất nhiều những lời nhận xét kiểu vơ đũa cả nắm: con trai Sài Gòn thế này, con gái Sài Gòn thế kia, dân Sài Gòn thế nọ ... Càng nghe càng thấy buồn cười vì đa số những người nói mấy câu đó chưa bao giờ thật sự sống ở Sài Gòn. Không hiểu có ai đó đọc bài này xong thì có thay đổi cái nọ cái kia trong nhận thức của họ không? Hy vọng nhỏ nhoi của tôi là những thay đổi, nếu có, là theo hướng tốt hơn.
Riêng tôi thì tôi vẫn nhớ day dứt cái ngõ nhỏ xôn xao ấy ...

Ngô Quang Hưng

Xem series ảnh về SÀI GÒN
http://www.flickr.com/photos/9854423@N08/page5/

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

VIÊN GẠCH LÓT ÐƯỜNG
Giao Chỉ, San Jose


Ngày xưa, thi sĩ Nguyên Sa gọi ông là Kinh Kha. Trên báo Ðời số đặc biệt năm 1982 xuất bản ở quận Cam, nhà văn Hư Trúc gọi ông là Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn. Ðồng bào Việt ở Úc Châu gọi ông là Chiến Sĩ. Báo chí Hoa Kỳ gọi ông là Người Tù Anh Hùng. Trên tờ báo lớn ở miền Tây Úc, ký giả nổi tiếng Norman Aisbett gọi ông là Ðại Tá Cô Ðơn. Trong quân đội tên ông là Võ Ðại Tôn, với bí danh Wòng-A-Lìn. Ngoài văn giới ông mang bút hiệu Hoàng Phong Linh. Và sau cùng, khi tìm đường gai góc mà đi, ông tự coi mình là Viên Gạch Lót Ðường.
Với chuyến trở về vào đầu thập niên 80, viên gạch quý của chúng ta được sản xuất tại miền đất Quảng anh hùng đã làm nên lịch sử. Khi tin tức về cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 13-07-1982 được loan báo trên hầu hết các hệ thống truyền thông thế giới, đồng bào Việt Nam hải ngoại lập tức coi Võ Ðại Tôn như là một biểu tượng chung của người quốc gia đang tìm đường quang phục quê hương.

Ðoạn phim ngắn của truyền hình Nhật Bản đã làm nhỏ lệ biết bao khán giả xen lẫn niềm hãnh diện vốn đã vắng bóng từ lâu. Từ màn ảnh nhỏ, Võ Ðại Tôn xuất hiện vĩ đại, bất khuất. Một trận thư hùng đã mở màn. Một bên là toàn thể bộ máy cầm quyền, cao ngạo, hùng mạnh, khốc liệt và vô cùng hiểm độc. Một bên là người tù biệt giam, cô đơn, đói khát, tuyệt vọng. Ðây là cuộc chiến của một người chống một chế độ trước ống kính của truyền hình, máy ảnh và những cây bút ghi chép đại diện cho hàng trăm cơ sở truyền thông trong và ngoài nước. Trong số này có trên 10 phóng viên ngoại quốc đã được Hà Nội triệu tập khẩn cấp từ Vọng Các qua. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trong khi đó, nhà cầm quyền Hà Nội úp mở nói rằng sẽ cho trình diện một gián điệp của Hoa Kỳ và của tình báo Thái, xâm nhập vào làm công tác phá hoại Việt Nam.

Từ loa phóng thanh, tiếng viên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Cộng Sản Hà Nội, Lê Thành Công, chủ tọa và điều hợp buổi họp báo vang lên: Ðây là tên tay sai của trung ương tình báo Hoa Kỳ CIA.
Với gương mặt khắc khổ và cặp mắt cương nghị, người đàn ông họ Võ, sinh năm 1936 tại Ðà Nẵng cúi đầu chào cử tọa. Tiếp theo ông đứng lên phía sau một chiếc bàn gỗ ghé đầu xuống micro: Tôi, Võ Ðại Tôn, chỉ huy trưởng Chí Nguyện Ðoàn Phục Quốc, tôi xác nhận hoàn toàn chịu trách nhiện về dự mưu xâm nhập Việt Nam...Tôi xin các nhà báo vì lương tâm chức nghiệp của người cầm bút, xin hãy tường thuật trung thực.
Một cách gián tiếp, Võ đại Tôn bác bỏ vai trò của trung ương tình báo Hoa Kỳ. Ông xác nhận đã là người chủ dộng và chấp nhận tất cả mọi hậu quả. Như chúng ta đã thấy, hậu quả tàn khốc nhất là ông đã làm mất mặt toàn thể guồng máy công an và tình báo Hà Nội. Sau khi thấy Võ đại Tôn nói không đúng bài bản dự trù là sẽ thành khẩn thú nhận tội lỗi, lập tức cộng sản cúp điện, và lôi ông vào.

Sau đó khán giả không được thấy hình ảnh tiếp theo. Bình luận gia của đài truyền hình cho biết là người ta đã đem ông Võ đi và cuộc họp báo chấm dứt. Cuộc chiến đã ngưng ở đây. Một người đã thắng một chế độ. Kinh Kha của Việt Nam đã hoàn tất sứ mạng và không ai nghĩ rằng người tráng sĩ đó lại có ngày trở về.
Trần Bình Trọng của lịch sử Việt Nam, lúc sa cơ trong tay giặc đã bày tỏ tâm nguyện không làm vương đất Bắc. Người chiến sĩ họ Võ ra đi năm 1975, trở về năm 1981 vỏn vẹn với hai chiến hữu, sa cơ ở miền biên giới, đã đành quyết một lòng làm quỷ nước Nam. Sau này, khi đã xin tỵ nạn tại Pháp, nguyên đại tá cộng sản Bùi Tín kể lại rằng năm 82 Võ đại Tôn đã đem chính thân xác ra hy sinh để đánh lừa cả bộ chính trị Hà Nội một quả vô tiền khoáng hậu. Ai cũng biết rằng ông đã phải trả giá cho cuộc họp báo quốc tế phi thường như thế nào.
Tại San Jose, những thước phim ngắn trên truyền hình Nhật Bản được in ra phổ biến trong cộng đồng và một cuộc biểu dương hàng ngàn người đã được tổ chức tại công viên St James
Từ đó đến nay, giữa ngục tù Cộng Sản, ông Tôn đã đếm được 10 năm 1 tháng và 17 ngày. Báo chí ở Úc nói rằng: Mr. Võ có một trí nhớ sắc bén như lưỡi dao cạo. Ông nhớ rằng với trọn năm tù đầu tiên ông bị đánh suốt 45 ngày. Biệt giam trong một xà lim 3 thước và 2 thước rưỡi. Suốt 10 năm ông đã bị đánh đập 96 lần.
Sau ngày 13-7-1982, khắp thế giới nói đến Võ Ðại Tôn, nhưng cũng từ ngày ấy không một ai biết thêm tin tức gì về viên gạch lót đường yêu quý đó nữa.


Tại Úc châu, tiểu bang New South Wales, nơi cộng đồng Việt Nam thân yêu mà ông từ giã, vẫn mòn mỏi chờ đợi là một người vợ trẻ và đứa con trai 3 tuổi.

Năm 1990, khi có cơ hội qua Úc châu thăm bà Võ Ðại Tôn, chúng tôi đã tìm thấy một gia đình rất bình thường như bất cứ một gia đình tỵ nạn nào của cộng đồng Việt Nam. Bà Tuyết Mai, vợ Võ Ðại Tôn đi làm công chức và thay chồng nuôi con. Trong căn nhà nhỏ bé, có treo một tấm chân dung vĩ đại của người chồng và người cha ngàn trùng xa cách. Trở về Hoa Kỳ, chúng tôi đã bắt đầu công cuộc vận động với các giới lập pháp Hoa Kỳ, kể cả việc gửi người trong phái đoàn về đấu tranh với Hà Nội.

Cuối thập niên 80, các hội đoàn tại San Jose hòa nhịp với người Việt toàn thế giới cùng lên tiếng đấu tranh cho tù tập trung “Lao Cải”. Tên của Phan nhật Nam và Võ đại Tôn dược nhắc nhở nhiều lần. Sau đó, đại diện cơ quan IRCC là ông phó giám đốc Nguyễn đức Lâm trong phái đoàn quốc hội California đã về Sài gòn trong sứ mạng thăm dò với cùng muc đích của bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng vào thời gian đó, Phan Nhật Nam vừa được tự do và IRCC đã có dịp phỏng vấn trực tiếp ông tại Sài Gòn đem về phát lại trên radio San Jose. Nhưng trường hợp Võ đại Tôn hy vọng rất mong manh.
Ðối với gia đình của ông Tôn, tin tức ghi nhận được ngày 13-7-1982 cũng là tin tức chính thức cuối cùng. Ít nhất cho đến 9 năm sau, với sự vận động rất tích cực của chính phủ Úc Ðại Lợi, Hà Nội đã cho phép ông nhận quà và gửi thư về. Rồi đến áp lực chung của toàn thế giới và sự lưu tâm đặc biệt của Úc châu. Sau cùng Cộng Sản Việt Nam quyết định trả tự do cho ông Võ Ðại Tôn ngày 10-12-1991.

Ông trở về Úc châu với cả một cộng đồng thân yêu chào đón. Với người vợ đỏ mắt chờ mong và đứa con trai mà người cha như là một huyền thoại. Hà Nội đã giam giữ ông trên 10 năm, từ 72 kg xuống còn 48 kg. Thân hình tiều tụy trông già hơn 20 tuổi. Tuy nhiên, trí óc sắc bén còn nhớ hàng trăm bài thơ dài ngắn và 3 cuốn sách mà ông đã viết bằng ký ức trong thời gian biệt giam, vì không có ánh đèn và giấy bút. Ngay như cuốn hồi ký Tắm Máu Đen (đường về quê hương và cuộc chiến cô đơn trong lao tù Hà Nội) dày hơn 500 trang, ngay sau khi ra khỏi tù trở về Sydney, đã được đánh máy trong vòng một tuần lễ và phát hành ngay tại Úc, 1992. Tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000. Như vậy là, sau cùng người chiến sĩ xuất thân từ biệt kích đã có nhiều lần đảm nhận nhiều công tác tình báo đặc biệt, nay đã trở về. Lần cuối cùng ông đi vào lòng địch không hề có lệnh công tác mà cũng không có được một tiểu đội xung kích. Nếu không kể toán lính kháng chiến Lào hộ tống đã tan hàng, thì thầy trò chỉ vỏn vẹn có 3 người. Một người là Vũ Ðình Khoa đã hy sinh tại chỗ, một người thứ hai đã bị bắt cùng một lượt với Võ Ðại Tôn và được thả năm 1987.

Năm 1981, khi ông Võ Ðại Tôn lên tiếng với toàn thế giới là ông đang tìm đường trở về quang phục quê hương, trong chúng ta đã có nhiều người bày tỏ sự hoài nghi rất hợp lý.
Dứt bỏ cuộc sống ổn định, bỏ gia đình vợ con đơn chiếc để tìm con đường về mịt mù vô vọng. Quyết định này không dễ gì thực hiện. Mở cuộc thánh chiến cô đơn để chống chế độ Hà Nội lúc đó còn đầy đủ sắt máu và phong độ vào thập niên 80, rõ ràng đối với nhiều người thì đây là một hành động không khôn ngoan và thiếu thực tế.
Nhưng chúng ta không thể lấy tri thức của mọi người mà đo lòng của một người. Không thể lấy bụng dạ của thường nhân mà đo lòng chiến sĩ. Và không thể lấy đất mà đo với gạch. Vì vậy mới có Võ Ðại Tôn. Con người này khi đi làm anh hùng thể hiện sứ mạng lịch sử, quả thực đã thiếu sự khôn ngoan của đa số bình thường. Chúng ta đâu có biết ông đã nghĩ gì khi quyết “Tìm đường gai góc mà đi”.

Tháng 4 năm 1992, miền đất ấm California đã có dịp chào đón Võ Ðại Tôn trên đường từ Úc Châu qua Hoa Kỳ. Lúc đó phong độ vẫn quả cảm quyết liệt, nhưng già dặn chín chắn hơn. Chúng ta thường có thói quen dành hết lòng thương yêu thành kính cho những người liệt sĩ ra đi vĩnh viễn vào cõi vô cùng. Trong khi đó cộng đồng và quê hương thực sự rất cần những anh hùng còn tồn tại.
Hai mươi năm trước San Jose đã lên tiếng cảm ơn đất Quảng đã sản xuất ra một Võ Ðại Tôn trước sau như một. Chúng ta đã ca ngợi cộng đồng Việt tại Úc châu có được một Võ Ðại Tôn hơn một lần bước chân đi, lẫm liệt đường hoàng.
Con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn luôn mở rộng trong một cuộc chiến mới đầy hy vọng cho quê hương và dân tộc.
Trên con đường đó vẫn cần rất nhiều viên gạch lót đường. Trong đó, chúng ta đã có sẵn một viên gạch bất khuất. Viên gạch lót đường mang họ Võ.Tháng 4 năm nay, chúng tôi lại mời ông Võ Ðại Tôn qua Mỹ.Ngày thứ bẩy 15 tháng 5-2010 lúc 1 giờ trưa ông sẽ có dịp gặp gỡ đồng hương và chiến hữu tại San Jose. Tại hội trường Santa Clara County số 90 W. Hedding. Ông sẽ giới thiệu những cuốn sách mới viết xong, trong đó có cuốn hồi ký “Tuổi thơ và chiến tranh” và quan trọng hơn hết là ông sẽ trải rộng tâm tình với bà con San Jose, nơi cũng đã trải tấm lòng ra với ông suốt 30 năm qua.
Rồi một tuần sau, đến ngày chủ nhật 23 tháng 5-2010 trong chương trình văn nghệ 35 năm nhìn lại tại đại hí viện CPA, nhà thơ Hoàng Phong Linh, bút hiệu văn nghệ của Võ Ðại Tôn sẽ cất tiếng hát lời thơ do chính ông sáng tác (Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc) :” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây...
Tháng tư 1975, cách đây 35 năm miền Nam đã có biết bao nhiêu anh hùng tuẫn tiết. Tình cờ chúng tôi ghi nhận được tướng Nguyễn Khoa Nam của đất Thần kinh, Trung Việt. Tướng Lê Nguyên Vỹ, quê Sơn Tây, Bắc Việt và tướng Lê văn Hưng, Nam Việt. Quả thực anh hùng ở khắp mọi nơi và hào kiệt thời nào cũng có.

Trên con đướng đấu tranh phục quốc Trần văn Bá về từ Âu Châu, Hoàng cơ Minh về từ Mỹ Châu và Võ Ðại Tôn về từ Úc Châu. Trên sân khấu lịch sử 35 năm nhìn lại ngày 23 tháng 5-2010, chúng tôi ước mong có đại diện sinh viên Trần Văn Bá, có người con trai của tướng Hoàng cơ Minh. Liệt sĩ Trần văn Bá đã bị cộng sản xử tử hình tại Sài Gòn. Ðề đốc Hoàng cơ Minh đã hy sinh miền biên giới. Ta nỡ lòng nào đề một mình viên gạch lót đường cô đơn Võ Đại Tôn đứng đó mà hát rằng:” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây...

Giao Chỉ - San Jose.
4.2010

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Dân biểu Sanchez: "Chính quyền Việt Nam sợ tôi"


Nữ dân biểu liên bang Hoa Kỳ Loretta Sanchez thông báo chính phủ Hà Nội một lần nữa phớt lờ đơn xin thị thực nhập cảnh của bà vào Việt Nam. Bà Sanchez dự định ghé Việt Nam trong chuyến công du mới đây tới Đông Nam Á thảo luận về an ninh và tệ nạn buôn người. Đây là lần thứ tư vị nữ dân biểu đại diện cho cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ được nhiều người biết đến
nhất kiêm đồng Chủ tịch Nhóm Vietnam Caucus ở Hạ Viện Mỹ bị giới chức trách Việt Nam từ chối cấp visa nhập cảnh. Trong cuộc trao đổi với Trà Mi VOA Việt Ngữ, dân biểu liên bang Loretta Sanchez cho biết như sau.

Trà Mi - VOA | Washington D.C Thứ Ba, 20 tháng 4 2010
Image
Nữ dân biểu Hoa Kỳ Loretta Sanchez
Bà Loretta Sanchez: Đáng tiếc là ngay khi một giới chức hàng đầu của Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ đón tiếp tại thủ đô Washington để tham dự cuộc họp thượng đỉnh về an ninh hạt nhân và hội kiến với Tổng thống Mỹ thì giới chức Việt Nam lại từ chối cấp visa cho tôi đến Việt Nam để thảo luận với họ về tình trạng buôn người và vấn đề tự do internet. Tôi rất buồn nhìn vào thực tế này.

VOA: Thưa bà, báo chí trích lời các giới chức tòa đại sứ Việt Nam nói rằng họ không hề chính thức từ chối đơn xin visa của bà, mà chỉ muốn biết thêm thông tin về việc bà muốn gặp những ai khi đến Việt Nam và lý do thực sự của chuyến đi là gì. Họ có báo cho bà biết về các thắc mắc đó không và bà có đáp ứng yêu cầu của họ không?

Bà Loretta Sanchez: Khi tôi nộp đơn xin visa ngay từ đầu tôi đã cho họ biết mục đích chuyến đi của tôi và những người mà tôi muốn gặp trong chuyến đi này. Bây giờ họ nói rằng họ không có đủ thông tin thì hoàn toàn không đúng.

VOA: Mục đích của ý định ghé Việt Nam có thật sự liên quan chặt chẽ đến chuyến công du của bà tới Đông Nam Á về vấn đề an ninh và tệ nạn buôn người không?

Bà Loretta Sanchez: Đương nhiên rồi. Tôi muốn thảo luận với chính quyền Việt Nam về vấn đề buôn người đang diễn ra mà cụ thể là có liên quan tới Đài Loan và một số khu vực nóng khác, nơi đang diễn ra các tệ nạn mà những phụ nữ Việt Nam bị đưa sang làm nô lệ. Đồng thời tôi cũng muốn gặp một số tù nhân chính trị tại Việt Nam vì những gì đang diễn ra liên quan đến hoạt động viết blog tại đây. Tôi đã làm việc hết mình trong tư cách là Chủ tịch của tiểu ban đặc trách về An ninh mạng tại Quốc hội Hoa Kỳ và tôi muốn thảo luận với giới chức Việt Nam về vấn đề tự do internet.

VOA: Vì sao bà vẫn tiếp tục cố gắng xin visa vào Việt Nam sau khi đã bị từ chối 3 lần trong quá khứ?

Bà Loretta Sanchez: Bởi vì tôi nghĩ rằng họ cần phải lắng nghe một giới chức Hoa Kỳ đang làm việc về các vấn đề này nhân danh người dân Mỹ trong những gì chúng tôi muốn nhìn thấy và tìm ra các phương thức có thể cùng làm việc chung hầu loại trừ các hình thức nô lệ đang diễn ra cũng như cố gắng mở rộng tự do internet.

VOA: Bà là một trong số ít các chính trị gia nước ngoài bị từ chối visa vào Việt Nam. Bà diễn giải điều này như thế nào?

Bà Loretta Sanchez: Tôi cho là họ sợ tôi.

VOA: Vì sao thưa bà?

Bà Loretta Sanchez: Tôi cũng chẳng hiểu lý do vì sao.

VOA: Nếu có người tin là bà bị cấm vào Việt Nam vì Hà Nội cho rằng chuyến thăm của bà không mang lại điều gì tốt đẹp cho mối quan hệ song phương Việt-Mỹ bởi họ xem bà như “một vị khách thiếu thiện chí”. Bà sẽ hồi đáp ra sao?

Bà Loretta Sanchez: Đơn giản tôi chưa hề làm một điều gì bất hợp pháp tại Việt Nam. Tôi luôn thông báo rõ ràng về các chuyến đi của tôi và những lý do tôi muốn đến Việt Nam. Tôi luôn báo cho họ biết tất cả mọi vấn đề mà tôi muốn đề cập trước chuyến đi. Mọi việc luôn thông qua sự hỗ trợ của đại sứ quán Hoa Kỳ của chúng tôi. Vì vậy, đây là một nỗ lực ngoại giao và tôi thật sự không hiểu nổi họ sợ điều gì đến như thế.

VOA: Bà cho rằng họ sợ bà. Điều gì khiến bà nghĩ như thế? Bà đã làm gì khiến họ sợ?

Bà Loretta Sanchez: Theo tôi, đó là vì họ sợ sự thật, đôi khi khó nói lắm.

VOA: Khi tới Đài Loan trong chuyến công du Đông Nam Á vừa rồi, bà đã gặp một số thành viên trong Văn phòng trợ giúp các cô dâu và công nhân Việt Nam tại Đài Loan. Có điều gì bà muốn chia sẻ thêm về việc này không?

Bà Loretta Sanchez: Tôi muốn quý thính giả biết rằng có nhiều phụ nữ bị lừa gạt ký vào các văn kiện đi lao động tại Đài Loan nhưng cơ bản là những giấy tờ đó là do một nhóm người mà thậm chí có thể là do chính quyền Việt Nam ngụy tạo, và rằng hình thức nô lệ không nên được chấp nhận tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tôi hy vọng là mọi người sẽ bắt đầu nhận thức rõ điều gì đang diễn ra và giúp chúng tôi ngăn chặn việc này.

VOA: Theo bà, cần phải làm gì hơn nữa để giúp giải quyết vấn đề này?

Bà Loretta Sanchez: Theo tôi có một nhóm người làm môi giới tại Việt Nam đang đe dọa các phụ nữ nhẹ dạ. Họ biết rõ là các phụ nữ này không thể nào có đủ khả năng trả lại các khoản tiền vay mượn để sang Đài Loan. Vì vậy, tôi thiết nghĩ nhà nước Việt Nam phải có thêm luật lệ kiểm soát việc này và bảo đảm rằng những người ấy không được phép hành nghề.

VOA: Về phương diện cá nhân, bà có thể làm gì giúp cải thiện tình trạng phụ nữ Việt Nam bị buôn bán ra nước ngoài không?

Bà Loretta Sanchez: Dĩ nhiên rồi. Hiện Đài Loan đã tạm ngưng bất cứ hợp đồng mới nào thuê mướn lao động nữ từ Việt Nam cho tới khi nào cùng với chính phủ Việt Nam đạt được một giải pháp đảm bảo rằng tệ trạng này không diễn ra. Thứ nhất là nữ công nhân Việt Nam không bị đưa sang Đài Loan nữa và thứ hai là chúng tôi đã có thể giúp chính quyền Đài Loan nhận thức rõ những gì đang diễn ra. Đài Loan sẽ tiến hành thêm một cuộc điều tra nữa để truy ra các cảnh sát cấp địa phương không tuân thủ những luật lệ mà chính phủ nước này đặt ra hầu đáp ứng vấn đề quan tâm của Quốc hội Hoa Kỳ.

VOA: Xin chân thành cảm ơn dân biểu Loretta Sanchez đã dành cho Ban Việt Ngữ đài VOA cuộc trao đổi này.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image


Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả !
Bùi Tín (viết riêng cho VOA Thứ Ba, 20 tháng 4 2010)
Ngày 30 tháng 4 lại đến. Tuần trước, tại cuộc họp Đông Nam Á (ASEAN), ông Nguyễn Tấn Dũng nhân danh chủ tịch luân lưu của khối này đã lên tiếng yêu cầu nhóm quân phiệt cầm quyền ở Miến Điện cần thực hiện ngay hòa hợp dân tộc và để cho mọi đảng chính trị tham gia cuộc bầu cử sắp đến.

Ở hải ngoại và trong nước, nhiều bà con ta kháo nhau theo câu nói dân gian: ông Nguyễn Tấn Dũng và nhóm cầm quyền hãy sờ lên gáy mình đã! Nói người hãy nghĩ đến ta.

Vì trong những năm từ 1968 đến 1973, tại cuộc hội đàm Paris, đại diện đảng CS không ngừng nói đến “hòa hợp hòa giải dân tộc“, “hóa giải thù hận”, “Bắc Nam là con dân một nước, sẽ sát cánh dựng xây đất nước”. Dân ta nghe bùi tai, hy vọng.

35 năm nay, lời hứa hòa hợp hòa giải dân tộc ấy vẫn còn là món nợ lưu cữu, món nợ toàn dân, dân ta ở miền Nam cũng như dân ta ở miền Bắc.

Mà đâu chỉ có một món quịt “hòa hợp và hòa giải dân tộc”. Còn món nợ đày đọa người thua trận, bỏ tù hàng chục vạn sỹ quan viên chức cũ không hề xét xử, làm cho biết bao người bị chết oan uổng trong tù, bao nhiêu gia đình tan vỡ, ly tán, dẫn đến 2 triệu dân bỏ nước do bị phân biệt đối xử, bao nhiêu sinh mạng chết trên biển cả, mà vẫn cứ ba hoa lấy được là chính sách sau 30 tháng tư của họ là khoan hồng và nhân đạo!

Món nợ gây chết chóc, đau thương tang tóc cho hàng triệu gia đình, hàng triệu con người như vậy là không sao làm sống lại, hồi phục được. Mọi người yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản công khai thành khẩn xin lỗi toàn dân, và từ đó làm một số việc cần thiết phải đạo nhằm xoa dịu những đau thương chồng chất của đồng bào ta, như cùng toàn dân tổ chức một cuộc cầu nguyện, cầu siêu trong toàn quốc để tưởng nhớ chiến sỹ và đồng bào cả nước đả bỏ mình trong thời chiến, không phân biệt thuộc phiá nào; sửa sang mọi nghĩa trang, không phân biệt người chết từng thuộc bên nào; từ nay chủ trương không dung từ “ngụy quân, ngụy quyền”trong các văn kiện, sách giáo khoa; quan tâm đến nạn nhân chiến tranh, thương binh thuộc cả các bên tham chiến…

Lẽ ra những việc này được đưa ra ngay sau khi chiến tranh kết thúc thì đẹp đẽ, xúc động bao nhiêu, nhưng chậm còn hơn không. Cuộc họp Quốc hội sắp tới có ai nêu lên được vấn đề này không ?
Đã đến lúc cần làm rồi. Một lời xin lỗi quá ư là cần rồi, không thể để chậm thêm một tháng, thêm một năm nữa.

Nhật Hoàng đã xin lỗi nhân dân Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á về tội ác chiến tranh của quân Nhật trong Thế chiến II. Giáo Hoàng đã xin lỗi toàn thế giới vì đã cộng tác với tên phát xít Hitler. Tổng thống Nga đã xin lỗi nhân dân Balan về cuộc tàn sát hơn 20 ngàn sỹ quan Ba Lan trong khu rừng Katyn năm 1939 theo lệnh của Stalin.

Xin lỗi là một nếp xử sự văn minh. Đi đường đụng phải người khác đã cần xin lỗi, huống gì là gây chết, đau thương cho hàng triệu triệu con người. Huống gì xin lỗi ở nước ta lúc này là đạo lý, là hàn gắn chia rẽ dân tộc, là kêu gọi, đề xướng thương yêu thật lòng trên tình anh chị em ruột thịt, bỏ qua cho nhau những sai lầm trong quá khứ, để cùng nhau cố kết dân tộc trước đại họa của kẻ bành trướng ngoại xâm. Hòa hợp dân tộc là nước cờ chính trị thông minh, tuyệt vời để nhân lên nội lực dân tộc về sức người, sức của, kiến thức, kinh nghiệm… nhằm xây dựng Tổ quốc phồn vinh cho toàn dân mau chung hưởng.

Tình hình quả đã chín, vì lòng dân đang đòi hỏi cấp bách. Có bao nhiêu là chỉ dấu cho thấy lòng dân trong nước đã động, và động mạnh. Luật sư Cù Huy Hà Vũ lên tiếng yêu cầu toàn dân ghi công hơn 70 binh sỹ hải quân Việt nam Cộng Hòa đã hy sinh cuối năm 1974 để bảo vệ đảo Trường Sa trước quân xâm lược Trung quốc, sau khi ông đưa đơn kiện thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về sai lầm ra quyết định khai thác quy mô lớn mỏ bôxít khi chưa có ý kiến của quốc hội, theo dụ dỗ của bọn bành trướng, gây thảm họa cho đất nước.

Về quần đảo Hoàng Sa bị đánh chiếm 36 năm trước, không còn người Việt chân chính nào có thể chấp nhận lời giải thích hồi ấy của cơ quan tuyên giáo trung ương Cộng sản: “Các đồng chí yên tâm. Hoàng Sa trong tay Quân Giải Phóng Trung quốc anh em của ta là tin đáng mừng. Còn hơn là nằm trong tay bọn Mỹ - Ngụy, kẻ thù không đội trời chung của chúng ta”. Não trạng của lãnh đạo CS hồi ấy là thế! Lãnh đạo thời nay vẫn như thế. Nhưng nhân dân lúc này đã mở mắt không còn chịu nổi nữa.

Hồi ấy, ở mọi cơ quan chính quyền, từ xã lên huyện tỉnh, lên đến trung ương đều phải treo ảnh Mác, Lênin, Stalin, Mao to đùng, trên cao nhất. Hàng dưới, nhỏ hơn mới là ảnh ông Hồ.

Cán bộ đi Moscow, Bắc Kinh được lãnh đạo, tuyên huấn đảng huênh hoang bảo là được đi “Thủ đô phe ta » đấy! Một thời ấu trĩ, lầm lẫn. Nay lãnh đạo vẫn giữ kiểu não trạng ấy đối với Bắc Kinh, nhưng người dân và cả đảng viên CS ở cơ sở bịt mũi, không ngửi được!

Nhận thức của người dân thường thời mở cửa hội nhập thay đổi nhanh, mạnh, sâu, trước cả lãnh đạo. Đó là cái linh tính bén nhạy tinh tế của quần chúng, không diễn giải được mà sâu đậm vô cùng.

Nhân dịp 30-4 năm nay, nhà thơ - chiến sỹ Nguyễn Thái Sơn đưa ra một trường ca bi hùng « Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm » nói lên số phận bi đát của dân ta, phụ nữ ta, trai tráng ta ở cả 2 miền bị xô đẩy vào cuộc nội chiến đẫm máu dai dẳng. Anh em ruột thịt mà giết nhau hăng say, có khi thích thú « như mở hội », bên kia chết càng nhiều thì bên này được phong anh hùng, khoe trên mặt báo, tới tấp được huân chương. Nhìn lại cả một thời lầm lỡ, ngu dại, bị một học thuyết bất nhân thúc đầy, sùng bái bạo lực, kích động căm thù giai cấp, cổ vũ nội chiến dân tộc.

Nhà thơ viết về cái chết của người lính của cả 2 bên:

không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
dễ như người lính
nhanh như người lính
nhiều như người lính
đương nhiên
mặc nhiên
tất nhiên
hồn nhiên như lính
từ nòng súng người lính bên kia sang trái tim người lính bên này
đạn bay chỉ mấy phần nghìn giây

Nhà thơ đau xót trước thảm cảnh hai bên đều là người Việt, nói tiếng Việt:


Người Việt thắng trận huy hoàng
bại trận
cũng là người Việt
Người chết dù phía nào Mẹ Việt nam vẫn phải nhận nỗi đau chết chóc!
Năm Nhâm Tý bảy hai
máu binh sỹ Sài Gòn
máu quân Giải phóng
đỏ sông Thạch Hãn
ướt sũng gạch vụn cổ thành


Trường ca Chín Khúc Tưởng Niệm là lời kêu gọi tha thiết hãy nhận ra bi kịch của chiến tranh quân ta giết quân mình, nội bộ anh em chém giết nhau, nội bộ dân tộc hận thù nhau, mãi không hòa giải, vậy để đến bao giờ nữa mới nhìn nhận ra nhau là anh em ruột thịt?

Người lãnh đạo phải nhìn xa trông rộng, có viễn kiến, việc tốt mà khó cũng quyết tâm vượt khó mà làm, thuyết phục người chưa thông suốt. Kẻ không chịu thông suốt chỉ vì vị kỷ lại càng cần thuyết phục.

Cần thấy cái đạo lý gắn bó dân tộc là thiêng liêng, cái lợi ích hòa hợp dân tộc là lợi ích cực kỳ lớn lao bền vững, toàn xã hội được lợi về mọi mặt, là một cuộc thay đổi tận gốc lịch sử, nội lực dân tộc trong ngoài nước bật dậy, sỹ nông công thương binh khoác vai nhau, kinh thượng chan hòa, lương Giáo, Phật, Cao đài, Hòa hảo chung lòng yêu nước làm việc thiện, đẩy lùi điều ác, lòng tham, thói vị kỷ, tệ tham nhũng.

Lãnh đạo hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ, bàn luận cho sâu, đắn đo cho chín, cân nhắc cho đến nơi đến chốn. Đừng vội chủ quan, chớ theo nếp bịt tai, bịt mắt, vội chụp mũ là những ý xây dựng trên đây là do động cơ bất mãn, bị kẻ phản động xui dại, bị đế quốc lợi dụng…

Hãy chịu nghe Ts Đỗ Xuân Thọ đề nghị từ bỏ học thuyết Mác Lênin, trong khi mấy hôm nay ông Tô Huy Rứa cầm đầu cơ quan Tuyên giáo của đảng lại tỏ quyết tâm theo và bảo vệ tư tưởng Lênin đến cùng.

Lãnh đạo là có tư tưởng chiến lược, như ông Đặng Quốc Bảo từng chỉ ra, phải có tư duy đột phá, có ý chí đổi thay, xoay chuyển thời cuộc. Hãy chọn mặt gửi vàng, hỏi ý kiến những người cao kiến, vô tư, mà xã hội đang lắng nghe, quý trọng, tạo nên một Diên Hồng mới. Tôi xin đề xuất:

Các ông Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Hữu An, Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Văn Cương, Đặng Quốc Bảo, Hoàng Minh Thảo, Nguyên Ngọc, Đỗ Xuân Thọ, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Đông Hải, Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Thái Sơn, Trần Lâm, Trần Đình Triển, Phạm Viết Đào, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Trung, Hà Văn Thịnh.

Xin đề xuất chỉ nên trao đổi trước hết 2 vấn đề then chốt:

1-/ Có nên thực hiện Hòa giải và Hòa hợp dân tộc một cách trọn vẹn không ? Sẽ có lợi những gì? Lãnh đạo, nhà nước nên làm những việc gì? Cộng đồng trong và ngoài nước nên làm những việc gì? Cứ để như hiện nay có nên không?

2-/ Có nên thực hiện đa nguyên đa đảng không ? cứ duy trì độc đảng như hiện nay là tốt? Nên chuyển từ độc đảng lên đa đảng sao cho ổn định, có trật tự, trong luật pháp, không rơi vào hỗn loạn hay nội chiến. Nên lập đảng mới ra sao? Vị thế của đảng CS? Kinh nghiệm của các nước đã chuyển từ một đảng lên nhiều đảng, ta nên học những điều gì?

Mở đầu mọi sự là yêu cầu lãnh đạo hãy cố gắng, thay mặt cho các lớp lãnh đạo cũ tỏ một lời xin lỗi chân thành đến nhân dân cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam, các thành viên của chính quyền, đảng phái và quân đội Việt Nam Cộng Hòa về sự đối xử quá đáng 35 năm trước.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Nhớ Về Việt Nam - Ký Ức 35 Năm Trước

Giáo sư Robert F. Turner
...những người công kích chế độ này đã bị Hà Nội đánh lừa...

Giáo sư Robert F. Turner tốt nghiệp tiến sĩ về cả sư phạm lẫn chuyên môn về luật khoa từ Đại học Luật khoa Virginia School of Law, là nơi mà ông thành lập Trung tâm Nghiên cứu An ninh Luật pháp vào năm 1981. Ông chú ý đến Việt Nam từ khi học Cao học tại Đại học Indiana, với một luận văn dài 450 trang - đoạt giải danh dự - về cuộc chiến Việt Nam và từ khi thường xuyên tranh luận với các lãnh tụ phản chiến trên đất Mỹ. Được động viên vào Lục quân Hoa Kỳ năm 1968, tức là sau trận Mậu Thân, ông Turner tình nguyện qua Việt Nam. Dù là sĩ quan bộ binh, trong hai chuyến phục vụ tại đây, ông làm việc bên toà Đại sứ Hoa Kỳ với nhiệm vụ là Sĩ quan Phụ tá các Chương trình Đặc biệt của Phòng "Bắc Việt và Việt Cộng" trong cơ quan JUSPAO. Từ 1968 đến 1975, ông đã năm lần qua Đông Dương, hoạt động nhiều nơi ở miền Nam Việt Nam và cả Lào cùng Cam Bốt. Ông đang thuyết giảng cho cấp cử nhân đến tiến sĩ về chiến tranh tại Đại học Virginia và Trường Hải quân Hoa Kỳ, nơi ông là Giáo sư Danh dự về Luật pháp Quốc tế. Giáo sư Robert Turner là tác giả hoặc đã biên tập của hơn một chục cuốn sách, kể cả những cuốn nổi tiếng như "Vietnamese Communism", "The Real Lessons of the Vietnam War" và "To Oppose Any Foe".

Ngày 28 tháng Tư tới đây, cùng ba học giả khác của Hoa Kỳ, Giáo sư Robert Turner sẽ là thuyết trình viên trong cuộc Hội luận Quốc tế về cuộc chiến Việt Nam - "The Century Old Vietnam War Puzzle - What are the Missing Pieces?" do Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại tổ chức tại Rose Center của thành phố Westminster. Đề tài tham luận của ông là "Hậu quả của việc Hoa Kỳ bỏ rơi Đông Dương". Để chuẩn bị, ông đã liên lạc với ban tổ chức từ nhiều tháng nay. Trong một điện thư rất dài, Giáo sư Turner có nhắc tới một số kỷ niệm của 35 năm trước... Chúng ta hãy cùng nhau chia sẻ kỷ niệm này, với lời tri ân dành cho nhiều người Mỹ có lòng.

Theo ý tôi, Việt Nam là một cuộc chiến tranh cần thiết.
Tôi có thể bắt đầu bằng mấy lời "amen", ủng hộ quan điểm nhiều người đã đưa ra và có lẽ trình bày câu chuyện tôi đã nói với Bùi Công Tường trên chuyến xe đi từ Bến Tre về Sàigon vào một buổi tối đó khi tôi hỏi anh ta về ông Diệm. Anh ta trả lời là các đảng viên cao cấp (của Đảng Cộng Sản Việt Nam) coi ông Diệm là nhà ái quốc lớn - tương tự như Hồ Chí Minh - nhưng họ phải xuyên tạc với dư luận quần chúng vì ông Diệm không chấp nhận quyền lãnh đạo của Đảng.

Tất nhiên là tôi thấy thoải mái khi trình bày về những gì mình biết.
Tôi đã mất nhiều thời giờ tìm hiểu về những lời cáo buộc chế độ của ông Thiệu là vi phạm nhân quyền (quyền tự do báo chí, bầu cử, chế độ lao tù, v.v...) và có nhiều tấm hình cho thấy là những người công kích chế độ này đã bị Hà Nội đánh lừa. (Tôi có phỏng vấn Linh mục Chân Tín và bà Ngô Bá Thành tại Sàigon vào tháng Năm năm 1974. Đại sứ Graham Martin đã trích dẫn ít nhất một cuộc phỏng vấn này trong buổi điều trần trước Ủy ban Ngoại giao của Quốc hội vào cuối năm đó. Và đấy là một lần hiếm hoi trong hai năm cuối của cuộc chiến mà tôi được thấy ông Martin thật sự mỉm cười).

Cuối Tháng Tư năm 1975, tôi đang ở trong Toà Đại sứ khi ông Graham Martin bước ra khỏi văn phòng. Thấy tôi ở ngoài, ông mời tôi vào bàn giấy. Ông Đại sứ đóng cửa lại và trong 20-30 phút ông đã "xả ra" những uất ức - phê phán hầu hết mọi người tại thủ đô Washington và nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ phải có trách nhiệm tinh thần với người dân miền Nam Việt Nam. Tôi đồng cảm với sự giận dữ của ông, nhưng cũng vui là mình lắng tai cho ông có dịp trút bớt những dồn nén mà cả hai đều cùng chia sẻ. Nhiều người đã đả kích ông, nhưng trong các cuốn sách của tôi, Đại sứ Martin là một vị anh hùng tương đối hiếm hoi của nước Mỹ trong mấy tuần cuối cùng đó.

Nhìn bất cứ nơi nào, tôi thấy Hoa Kỳ đã bội phản những đối tác hay viên chức Việt Nam.
Cơ quan USIA (Thông tin của Toà Đại sứ) đã nói với những người Việt Nam quan trọng nhất về các điểm bốc ở một số nơi nhất định trong những ngày cuối cùng, và bảo đảm là sẽ có trực thăng đưa họ và gia đình tới nơi an toàn. Nhưng trực thăng lại tới nơi khác để bốc người Mỹ.

Đồng nghiệp và thông dịch viên của tôi trong hai chuyến phục vụ là Nguyễn Van Qui (không có bỏ dấu) đang ở trong Bệnh viện Seventh Day Adventist Hospital (Bệnh viện 3 Dã chiến) để tuyệt vọng chiến đấu với bệnh ung thư khi các bác sĩ (Mỹ) tới thăm và cho thuốc vào một buổi chiều. Họ nói với ông ta là sáng sau sẽ quay lại - rồi lên máy bay đi Dodge City.

Tôi ở đó với một nhóm người Mỹ từ Tiểu bang Michigan đã nhận trẻ Việt lai Mỹ làm con nuôi. Họ cần người biết rõ về Việt Nam để vượt qua các trở ngại hành chánh mà kịp cứu lấy bầy trẻ. (Thống đốc Miliken đã ban bố chánh sách "cửa ngỏ", rằng tiểu bang Michigan của ông sẽ tìm nơi định cư cho bất cứ trẻ mồ côi nào mà chúng tôi đem về được). Phần lớn công việc của tôi khi ấy là giúp họ tiếp xúc với Toà Đại sứ và Chính phủ Việt Nam và dường như là mỗi khi mình sẵn sàng đi thì lại thấy một người Mỹ hay một người Việt khác đang muốn bay tới bến bờ tự do như nhóm người vừa thoát hôm trước.
Tôi ở lại chứng kiến những người Mỹ mà tôi đưa đi đã tới hết cô nhi viện này tới viện dục anh khác với lời hứa hẹn cấp cứu. "Đừng lo, chúng tôi sẽ bốc mọi trẻ qua Mỹ, đưa chúng vào các gia đình tử tế". Nhiều bậc phụ huynh người Việt tìm gặp những người Mỹ này, van xin họ đưa dùm con cái tới Mỹ trước khi Cộng sản vào. Ngay giờ này - 35 năm sau - tôi còn ứa lệ khi nhớ tới sự xúc động của những người đã phải mất những gì họ quý nhất - con cái - trong niềm hy vọng là chúng sẽ có một cuộc sống khá hơn ở ngoài vòng chiến tranh và cộng sản.

Thế rồi một buổi tối, những người Mỹ "anh hùng" ấy nghe đồn rằng người Việt sẽ bắt đầu giết họ vì bị bội phản. Ngày hôm sau, họ bảo tôi là họ sẽ bay đi Hong Kong và đợi... đợi gì? Đợi tình hình Sàigòn sẽ sáng sủa hơn? Tôi không còn nghe thấy gì về họ nữa, và những đứa trẻ đã được hứa hẹn cứu vớt đành ở lại đó - mà lo lấy thân.

Năm trước đó, tôi đã qua lại Cam Bốt nhiều lần và biết rằng tình hình nơi đó còn tệ hơn tại Việt Nam. Vì vậy, trong khi dân Michigan đang phối hợp việc cứu trẻ tại Saigon thì tôi dành ngày nghỉ qua phối hợp việc cứu trẻ tại Nam Vang. Tôi có một nhóm mà tụi tôi thời đó gọi là "chiêu đãi viên" (với loại nghiệp vụ mà tôi không biết, như cho trẻ ăn hoặc thay tã lót) đã tình nguyện giúp đỡ trong các phi vụ C-130 chở gạo tới và hôm sau bốc về Sàigon một máy bay đầy nhóc trẻ em, thay vì bay về không. Nhưng Quốc hội ở nhà đã hạn chế số nhân viên được tới Cam Bốt nên tôi muốn vào là có người ở đó phải ra để nhường chỗ! Và cả chuyện ấy chỉ là ưu tiên rất nhỏ.
Trước khi tôi xin được giải tỏa sự hạn chế này thì mọi chuyện đều tan tành. Ông George Jacobson, do Đại sứ Graham Martin yêu cầu bố trí chuyến bay đầu tiên của tôi vào Nam Vang, có lần gửi công văn tới khách sạn của tôi, rằng phải chấm dứt. Trên đường tới Sứ quán để nói chuyện với ông ta về vụ này thì tôi thấy tựa đề in trên trang nhất của tờ Saigon Post.

Vài ngày sau, tờ Post loan tiếp những chuyện mà tôi biết trước là sẽ xảy ra....
Mỗi khi thấy một sinh viên Cam Bốt, Việt Nam hay Á Châu bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp, tôi lại cố ghìm nước mắt. Vì biết rằng nếu mình khéo hơn và sớm hơn, hàng trăm đứa trẻ Cam Bốt bé tí xíu đã có cơ hội tới Hoa Kỳ và có thể được giáo dục và có cuộc sống tươi vui. Thay vào đó và nhờ "phong trào hòa bình" và Quốc hội Mỹ, chúng ta đã bội ước lời hứa long trọng của mình và nhiều triệu người bị tàn sát.

Tôi thật ân hận. Đã có lúc tôi hy vọng rằng những kỷ niệm này - cảnh cha mẹ hốt hoảng, lạy van ai đó cứu lấy con mình trước khi cộng sản vào, những đứa trẻ mồ côi bất lực, và mấy triệu người mà Hoa Kỳ đã cam kết bảo vệ - cũng sẽ phai mờ cùng năm tháng. Chuyện ấy không xảy ra, và tôi biết là sẽ đem theo những hình ảnh đó xuống huyệt.

Xin Thượng Đế cứu vớt linh hồn của các nạn nhân - kể cả 58.196 người Mỹ đã hy sinh đến tuyệt đối cho một lý tưởng cao đẹp. Xin Thượng Đế hãy ban phước lành cho những người bị bỏ lại để sống dưới ách độc tài, và trong nhiều trường hợp, dưới nạn diệt chủng. Và xin Ngài độ trì những người đã đến được xứ này, cùng con cháu của họ, để trả lại món nợ bội ước bằng cách làm Hoa Kỳ là một nơi đáng sống hơn cho mọi người trong chúng ta.

Nhưng, nếu có một chút công lý thì những kẻ như John Kerry, Ted Kennedy, Franck Church, Clifford Case, J. William Fulbright và một lũ khác nữa, sẽ phải mục nát dưới Địa Ngục. (Tôi xin lỗi. Có lẽ vì quên mất lời nguyện của mình).

GIÁO SƯ ROBERT F. TURNER

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

CỨ TÌNH TRẠNG NÀY...
HÌNH ẢNH VIỆT NAM NGÀY MAI SẼ KHÔNG XA LẮM ĐÂU :



"BÒ TÈN - 1 tỉnh của Laos - đang dần biến mất... phải chăng là số phận của Việt Nam ???

BÒ TÈN - nằm sát biên giới Lào-Hoa - là một thành phố của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân LÀO, vì nó rõ ràng nằm trên đất Lào. Nhưng hiện nay ra đường người ta không thể tìm ra một người dân Lào nào cả. Tất cả các chủ nhân hay công nhân viên trong tỉnh đều là người Hoa, ngôn ngữ trao đổi rặt là tiếng Tàu, tên hiệu các cửa tiệm được viết bằng chữ Hán, tiền tệ mua bán là đồng Yuan của Tầu và giờ giấc trên đồng hồ công cộng là theo giờ Bắc Kinh, chứ không phải là giờ Vạn Tượng, thủ đô của Lào nữa. Các nhân viên cảnh sát trong thành phố - đi xe không bảng số - là người Hoa, cũng như các đầu bếp trong những quán ăn, các cô trẻ tiếp tân trong các khách sạn, các đoàn phụ nữ lau chùi dọn dẹp… tất cả đều đến từ mọi miền của TQ. Cả một vùng kinh tế đặc biệt BòTèn với 21km2 nằm gọn lõn trong tay TQ (1)

Nguyên trước đây chỉ mới vài năm thôi, một công ty TQ tên là Golden Boten City Co. Ltd. đến liên hệ với các quan chức địa phương Lào, xin thuê đất với hợp đồng dài hạn 30 năm, trong đó có một điều khoản quan trọng là ghi nhận khả năng gia hạn hợp đồng này 2 lần nữa, mỗi lần thêm 30 năm ! Sau khi có giấy phép thuê đất trong tay, công ty Golden Boten City Co. Ltd. đã không để mất một giây phút nào, ồ ạt bay vào làm ăn: Trong một thời gian kỷ lục, người Hoa đã xây xong một khách sạn hạng sang 700 giường, đặt tên rất kêu là Royal Jinlun Hotel, sát bên đó là một sòng bài Casino khổng lồ với 11 phòng sát phạt. Một khách sạn 5 sao khác, 700 giường, sẽ được khánh thành nay mai trong mùa xuân này, cùng với một sân chơi Golf, một trường đua ngựa, một sân bắn súng thể thao và một sân vận động đua xe Go-Kart. Trong thời gian sắp tới, hàng loạt nhà cửa, chợ búa, phố xá được xây cất trong một dự án phát triển kinh tế rất tham vọng, muốn nâng dân số của Bò Tèn từ 7000 hiện nay lên 60.000 cư dân người Hoa. Còn người dân Lào??? Họ nổi tiếng hiền lành chất phác, sống xa lánh những nơi ăn chơi truỵ lạc, bài bạc và đĩ điếm. Cho nên dân Lào tại Bò Tèn đã từng đợt, từng gia đình, âm thầm rút đi khỏi nơi chôn nhau cắt rún mà họ không còn cảm nhận được là quê hương của mình nữa. Họ trở thành những người tị nạn trên chính quê hương của mình.

Ai cho rằng Bò Tèn chỉ là một trường hợp đơn lẻ, thì nên đọc bản báo cáo của cơ quan GTZ (một cơ quan viện trợ kỹ thuật lớn của Đức), theo đó người Hoa hiện đã thuê dài hạn đến 10.000km2 (!) đất của Lào để làm ăn, tương đương với 4% diện tích nước Lào. Báo mạng Asia Times cho hay hiện nay Trung Quốc thống trị hoàn toàn kinh tế nước Lào, từ kỹ nghệ quặng mỏ, thuỷ lợi, trồng cây cao su hay thương mại,…

Và ai cho rằng Lào chỉ là một trường hợp ngoại lệ thì cũng nên đọc lại bức thư ngày 22 tháng 1 năm 2010 của 2 cựu Tướng VC Quân đội Nhân dân là Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh. Họ đã gửi thư tới Bộ Chính trị ĐCSVN và Thủ tướng VC về việc có đến 10 tỉnh (!) trong nước đã cho doanh nghiệp nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan) thuê rừng để khai thác dài hạn trong vòng 50 năm, tổng số diện tích rừng cho thuê lên đến 3053 km2, tương đương với 1% diện tích nước ta.

Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh không phải những tay mơ: Tướng Nguyên đã từng là Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Cũng là người từng phụ trách Chương trình 327 - một chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, gọi tắt 327 (khai trương ngày 3-2-1997). Còn Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh là người đã 13 năm làm Đại sứ VC tại Tầu trong những năm mối quan hệ giữa 2 nước đang từ đồng chí anh em, môi hở răng lạnh trở thành "kẻ thù bá quyền" dạy nhau bài học. Vĩnh mới đây đã có bài viết sâu sắc về các Thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc“ (2).
Từ cái nhìn chiến lược của những nhà QS, 2 Tướng này đã cảnh báo "một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia" trong vụ lãnh đạo 10 tỉnh Việt Nam cho doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng dài hạn :

* Thứ nhất là nguy cơ rừng đầu nguồn (nơi xuất phát các dòng sông) bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp.

* Thứ hai là mối nguy di dân, nhập cư lén lút vào nước ta, khi các công ty TQ đem người ào ạt sang làm việc và an cư lập nghiệp hằng nửa thế kỷ (!) trong những vùng rừng núi mà họ được thuê dài hạn, ngoài vòng kiểm soát của chính phủ VN. Việc di dân lén lút này đang được chứng kiến tại các công trường bô-xít trên Tây Nguyên hiện nay hay công trường xây cất nhà máy nhiệt điện ở Hải Phòng vừa qua.

* Thứ ba là nguy cơ gây xung đột xã hội, phá hoại đời sống vật chất và tinh thần nhân dân miền núi. Tướng Nguyên rút kinh nghiệm hồi làm dự án 327 người dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, vậy mà nay một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê. Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân tộc thiểu số coi như bị cướp mất đất sống. Họ có thể phải di dân qua phá rừng những khu vực khác để mưu sinh. Như vậy, nguy cơ mất rừng chỗ khác rất cao. Báo mạng tuanvietnam. net đã kể lại tình cảnh khó khăn của nhiều người dân ở xã Đông Quan (huyện Lộc Bình, Lạng Sơn): Khi nghe Công ti InnovGreen (HồngKông-TrungHoa) hứa hẹn đền bù đất, mở đường sá, đưa điện vào thôn và tạo công ăn việc làm, nên người dân đã đồng ý giao đất rừng cho họ. Thế nhưng sau đó người dân vừa bị mất đất, vừa phải trở thành người làm thuê vất vả ngay trên đất của mình, mà tiền công còn bị nợ, nói gì đến tiền bồi thường từ đất rừng, những lợi ích khác thì không thấy.

* Thứ tư – nghiêm trọng nhất - là đe doạ an ninh quốc phòng. Nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa lý chính trị trọng yếu. Trong tổng số diện tích rừng cho thuê có đến 87% là những khu rừng sát biên giới, nơi mà vấn đề chủ quyền và an ninh giữa 2 nước vẫn còn nóng bỏng trong bối cảnh những tranh chấp liên tục trên Biển Đông. Riêng trong tỉnh Lạng Sơn, sẽ cho thuê hơn 70 ngàn mẫu tây (héc-ta) rừng, bằng 1/4 tổng số rừng cho thuê khắp nước. Lạng Sơn là nơi lính TC đã phá thị xã thành bình địa trong cuộc chiến Việt-Trung 1979. Bên cạnh LạngSơn có 2 tỉnh cho thuê rừng nữa là Quảng Ninh và Cao Bằng cũng tiếp giáp biên giới TQ. Bảy tỉnh còn lại cho thuê rừng là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Đặc biệt Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình là nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, và Quảng Nam thì có đường lên Tây Nguyên, sang Campuchia!
Từ 2005 đến 2008, InnovGreen đã được cấp giấy phép trồng rừng và khai thác gỗ dài hạn 50 năm trên 6 tỉnh biên giới : Thanh Hoá, Quảng Ninh, Nghệ An, Lạng Sơn, Kontum và Quảng Nam. Tổng số diện tích khai thác lên đến 3500 km2, với tổng số vốn đầu tư dự trù ban đầu 284,2 triệu USD Như đánh giá của phân tích gia Nguyễn Văn Huy, thì "thật đáng buồn cho đất nước" với một số tiền khiêm nhường bỏ ra, người nước ngoài đã có thể mua được cả một khu vực quốc phòng rộng lớn mà trước đó cha ông của chúng ta đã đổ nhiều xương máu bảo vệ“. (3)

Đáng buồn hơn nữa cho đất nước, vì hành động phản bội tiền nhân và phản bội tổ quốc này của đám lãnh đạo CS trong cả 10 tỉnh VN sẽ không hề bị bất cứ pháp luật nào trừng trị cả và trong tương lai vẫn có thể tái diễn nhiều lần, dù có hay không những Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh. Nguyễn Tấn Dũng - mang danh Thủ tướng chính phủ và đứng hàng thứ ba trong bộ đầu nậu CSVN - cũng sẽ không dám bày tỏ bất cứ một chút uy quyền nào đối với nhóm lãnh chúa cầm đầu tỉnh có trách nhiệm nói trên, ngoài lời trách cứ kiểu phủi bụi, như việc quyết định cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất ở một số địa phương có biểu hiện chưa đúng với những quy định hiện hành của Nhà nước: Mọi người chúng ta nên ghi nhận, đó chỉ là biểu hiện chưa đúng mà thôi, chứ không phải bản chất nó đã là sai trái quá rõ rệt và hậu quả nghiêm trọng khôn lường được!

Trong khi các Bí thư Tỉnh uỷ và Chủ tịch UBND tỉnh vẫn sẽ vô tư đi họp hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN trong tuần qua tại Hà Nội, mà điểm chính chương trình là chia chác các ghế ngồi trong những cơ quan cầm đầu đảng và chính phủ nhiệm kỳ tới (sẽ quyết định chính thức trong Đại hội Đảng lần thứ 11đầu năm tới), thì hàng loạt những người yêu nước vẫn ngồi tù một cách uất ức hay thường xuyên bị công an CS sách nhiễu một cách đê tiện, chỉ vì họ đã lên tiếng cảnh báo trước các thủ đoạn bành trướng "cứng và mềm" của Bắc phương.
Với một hệ thống chính trị tồi bại và một đội ngũ lãnh đạo vừa ngu xuẩn vừa tham lam, tham nhũng như ĐCSVN hiện nay, thì VN khó tránh khỏi số phận của Bò Tèn.

Nguyễn Bặc

Ghi chú:
(1) Zocken beim Nachbarn: Thielke, Thilo. Tuần báo Der Spiegel, số 2/2010, tr.93.
(2) Cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc: Nguyễn Trọng Vĩnh
(3) Có còn là một chính quyền nữa hay không?
guyễn Văn Huy. Nguyệt san Thông Luận, số 245-------- Original-Nachricht

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Viết cho con những ngày cuối tháng 4:
‘Ðứng thẳng làm người, con nhé!’


Wednesday, April 21, 2010

LTS: Blogger Mẹ Nấm, bút danh của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 31 tuổi, hiện sống ở Nha Trang, trong sự khống chế của công an CSVN.

Chị bị bắt hồi tháng 9, 2009 cùng một khoảng thời gian gần nhau với một số bloggers có tiếng khác như Người Buôn Gió, Trang Ridiculous. Một trong những mẫu số chung của vụ bị bắt là họ đều mặc áo thun màu vàng lá mạ phía ngực có hàng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” còn mặt lưng có bản đồ Việt Nam với bảng hiệu ám chỉ cấm trong đó có chữ bauxit và Trung Quốc. Họ cũng là những người viết báo mạng cá nhân (blogs) bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm họa bắc thuộc và nguy cơ mất dần biển đảo do tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Quốc.

Tuy không phản là tội phạm, nhưng Như Quỳnh đã không được cấp hộ chiếu xuất cảnh hồi tháng 2 vừa qua, lý do chính thức không được xác nhận.

Dù bị theo dõi, gia đình bị áp lực của công an CSVN, Blogger Mẹ Nấm bị xóa Blog Mẹ Nấm vẫn viết trên “Blog Bạn của Mẹ Nấm.”

Bài viết dưới đây qua hình thức một bức thư gửi cho con khi gần tới ngày 30 tháng 4, ngày miền Nam tự do bị Cộng Sản nhuộm đỏ, đưa cả nước vào guồng máy độc tài đảng trị. Mẹ Nấm dặn con, khi lớn lên “hãy đứng thẳng làm người.”

19 tháng 4, 2010

Nấm thân yêu,

Mẹ viết cho con những dòng này, sau khi cân nhắc và tẩy xóa khá nhiều lần.

Lá thư cuối tháng 4 này được mẹ viết giữa những bộn bề suy nghĩ, đắn đo.

Những tưởng, chúng ta có thể bỏ lại sau lưng khoảng thời gian khốn khó, những tưởng mọi thứ lại trở nên bình thường sau bao nhiêu cố gắng của mẹ, những tưởng...

Mọi thứ không hề bình yên chút nào con ạ, bởi mái nhà của chúng ta, khoảng sân con thường chơi, góc nhà con nằm ngủ, chỉ cần có một chữ ký xác nhận là nó sẽ chẳng thuộc về chúng ta nữa.
Image
Blogger Mẹ Nấm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và con gái.
(Hình của Mẹ Nấm's Blog)
Mẹ nghĩ mãi mà không ra, căn nhà đó, nếu vì bất cứ lý do nào mà mẹ không quay về, thì cũng không ai có quyền xác nhận là mẹ không tạm trú ở đó, bởi ngoài mớ giấy tờ chi chít dấu đỏ hợp thức hóa sự hiện diện của mẹ, thì vẫn còn có một mối dây liên kết vô hình phải không con?

Huống hồ chi, vì lý do an toàn cá nhân, và cả an toàn trong tinh thần của mình, và để chấm dứt cái cảnh nay ông trưởng thôn đến hỏi, mai lại có nhiều cặp tình nhân lảng vảng quanh nhà, để tránh cái cảnh căng thẳng và những bức xúc không cần có, mẹ muốn tịnh tâm, muốn con yên bình.

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 04 năm 2010 - mẹ muốn con nhớ ngày này, cái ngày mà những người nhân danh luật pháp, vì muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình mình, đã “nhờ” ba con ký giấy xác nhận rằng: mẹ con ta không còn ở trong căn nhà của mình nữa.

Lý do và động cơ nào khiến họ làm việc đó thì mẹ không biết, thực lòng mẹ cũng không muốn biết, bởi ở đất nước này, sẽ có 1001 lý do được đưa ra bất cứ khi nào, bất cứ lúc nào người ta muốn.

Mẹ viết lại những chuyện này, không phải để trách móc ai. Mẹ chỉ muốn con biết rằng, đã từng có một thời điểm khó khăn để ba mình quyết định nên làm thế nào cho đúng và cho phải.

Mẹ ghi lại những điều này không phải để điểm mặt chỉ tên ai, mà mẹ muốn con biết rằng, mai này, có những loại công việc, nó sẽ quyết định nhân cách của mình. Người chọn nghề, hay nghề chọn người, điều đó không quan trọng, mà điều quan trọng nhất của một con người, là biết tự mình phân biệt đúng sai, và lựa chọn cách hành xử làm sao cho nên “người” nhất. Tuyệt đối, không được phép nhân danh nghề nghiệp, mà quên đi nhân cách của mình, con à.

Có thể mai này lớn lên, con sẽ thắc mắc rằng, tại sao mẹ lại “hân hạnh được chiếu cố” đến vậy? Lẽ ra, mẹ có thể lựa chọn khác đi, để ba con vui lòng, để mọi người được an nhàn, nhưng tại sao mẹ không làm thế?

Mẹ sẽ chỉ im lặng, bởi mẹ không trả lời con được.

Bởi vì, mẹ cảm nhận được dòng máu đang chảy trong người mẹ, buộc mẹ phải suy nghĩ và hành động như vậy. Mẹ đã từng suy nghĩ, tại sao mình không làm khác đi được?

Và, mẹ không tìm được câu trả lời.

Những ngày cuối tháng 4, khi viết những dòng này cho con, mẹ nhớ đến lá thư mà bác P. viết cho con trai mình năm ngoái. Một lá thư xúc động, và cũng làm khá nhiều người khó chịu, bởi nó là lời trần tình của một người cha dành cho con trai mình về quê hương thân yêu.

Mai này con lớn lên, sẽ phải học nhiều thứ về lịch sử, mẹ đã hứa với lòng mình, sẽ dạy con đánh vần hai tiếng “quê hương” thật trọn vẹn, sẽ chỉ cho con xem những dấu tích đớn đau trên thân xác đất nước mình. Tháng 4 mà mai này con được học, sẽ không chỉ có cờ hoa rực rỡ, mà nó còn là nước mắt và máu của rất nhiều người.

Tháng 4 là tháng mà mẹ sẽ dạy con, là biết nhìn nhận, biết lắng nghe và biết suy nghĩ trước những gì lịch sử đã trải qua. Ðó thực sự không phải là chiến thắng, mà chỉ là một cuộc chuyển giao quyền lực đầy đau đớn của dân tộc mình.

Quê hương này là của mẹ, của con, của mọi người Việt Nam.Làm gì có ai thắng cuộc, khi cả dân tộc này bị chậm tiến so với các nước bạn phải không con?

Mẹ sẽ không dạy con những điều cao siêu đầy lý tưởng, không dạy con yêu kính những giá trị không hề có thật được tô vẽ.

Mẹ sẽ chỉ dạy con rằng ngoài việc yêu bản thân mình ra, yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng mình, yêu những người xung quanh mình, yêu cả nơi mà con sinh ra và lớn lên - là Việt Nam. Nơi sản sinh một dân tộc da vàng, thấp bé, nhưng thông minh và can đảm chẳng kém ai.

Có thể rồi con sẽ “được” học, được nghe, được xem và bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa mang tên Trung Quốc, rõ ràng là điều này sẽ xảy ra, bởi chúng ta đang phải sống chung với nó, phải đối mặt với nó trong cuộc sống hàng ngày mà không có sự chọn lựa nào khác.

Nên vì thế, mẹ viết những dòng này để con nhớ rằng, dù sự đô hộ của Trung Hoa cách đây 1000 năm đã trở thành nỗi ám ảnh trong lòng nhiều người Việt, thì giấc mơ “Hán” hóa nước Việt Nam bằng nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn cũng sẽ chỉ là giấc mơ của tên láng giềng đầy lòng dã tâm.

Bởi lịch sử đã và sẽ đang viết tiếp tinh thần No China từ 1000 năm trước con à!

Một mai con khôn lớn, đọc lại những dòng này, mẹ hy vọng con sẽ hiểu hơn những gì mẹ đã nghĩ, đã làm chỉ vì muốn con có thể học được bài học đứng thẳng làm người, con nhé!

Mẹ yêu con!

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Phỏng vấn Đức TGM Ngô Quang Kiệt
http://hdgmvietnam.org/
Ngày 22.4.2010

Đức TGM Ngô Quang Kiệt:

“Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, đương kim Chủ tịch HĐGMVN là bậc đáng kính hoàn toàn xứng đáng nhiệm vụ Tổng giám mục”
“Nếu đã không có sự thật mà lại thiếu bác ái thì truyền thông trở thành dụng cụ gieo rắc nọc độc tàn phá ghê gớm.”

WHĐ (22.04.2010) – Như tin đã đưa, Tòa Thánh vừa công bố việc bổ nhiệm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn vào chức vụ Tổng giám mục phó của Tổng giáo phận Hà Nội.

Phóng viên WHĐ đã liên lạc với Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, TGM Hà Nội, xin được phỏng vấn ngài.

Và như mọi người quan tâm thời sự Giáo Hội tại Việt Nam đã biết, gần đây trên một số trang mạng xuất hiện các thông tin, bình luận về “vị trí Tổng giám mục giáo phận Hà Nội” cũng như về điều gọi là “sự can thiệp, tác động của HĐGM vào tiến trình thay thế Đức TGM đương nhiệm.”

ooo



WHĐ: Xin chúc mừng Đức Tổng đã trở về Hà Nội bình an. Hiện sức khỏe của Đức Tổng ra sao?

Đức TGM Giuse NQK: Cám ơn Ban Biên Tập đã có sự quan tâm. Tôi đã được Bộ Loan báo Tin mừng sắp xếp vào bệnh viện Gemelli và được Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum sắp xếp vào Universita Campus Bio-Medico di Roma. Vì giấy của Cor Unum đến trước nên tôi vào bệnh viên mới, rất tối tân. Vì trong bệnh viện có phân khoa Y của đại học Roma nên có nhiều giáo sư bác sĩ tận tâm khám chữa với sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại. Nhưng sau một tháng theo dõi và chữa trị, bệnh của tôi không thuyên giảm bao nhiêu. Các giáo sư bác sĩ kết luận là phải nghỉ ngơi lâu dài thì mới có hi vọng hồi phục.

WHĐ: Đức Tổng và chúng con vừa được tin: Tòa Thánh vừa công bố việc bổ nhiệm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN, làm Tổng giám mục phó Hà Nội. Xin chúc mừng Đức Tổng và giáo phận Hà Nội vừa có Đức Tổng giám mục phó.

Có nguồn tin cho rằng Tòa Thánh đã định bổ nhiệm Đức cha Phêrô làm Tổng giám mục, nhưng sau đó, do áp lực của dư luận, nên phải thay đổi quyết định. Sự thật ra sao, thưa Đức Tổng?

Đức TGM Giuse NQK: Đức cha đương kim Chủ tịch HĐGMVN là bậc đáng kính hoàn toàn xứng đáng nhiệm vụ Tổng giám mục. Không ai biết được sự thật như thế nào. Vì đó là việc của Đức Thánh Cha. Tuy nhiên chúng ta đã biết quá trình bổ nhiệm một giám mục khá phức tạp phải thông qua nhiều bước. Hồ sơ một giám mục khá dầy và phải mất nhiều thời gian. Dư luận có thể là một ý kiến tham khảo. Nhưng nên biết với cơ chế làm việc như thế, Tòa Thánh không thể trong một ngày mà thay đổi ý kiến được. Một điều khá dễ hiểu, Tòa Thánh không thể nào làm một việc vô lý là bổ nhiệm TGM trong khi TGM đương nhiệm vẫn còn đó.

WHĐ: Gắn liền với việc bổ nhiệm vị tổng giám mục phó Hà Nội, có dư luận cho rằng Đức Tổng phải rời khỏi Hà Nội do sức ép của Tòa Thánh, của chính quyền Việt Nam, và của cả HĐGMVN. Xin Đức Tổng soi sáng cho chúng con về vấn đề này.

Đức TGM Giuse NQK: Bản thân tôi không bị áp lực nào hết. Tòa Thánh và HĐGM luôn ở bên cạnh tôi và bênh vực khi tôi bị công kích. Các ngài không bao giờ bảo tôi, dù là gợi ý xa xôi nhẹ nhàng, phải từ chức. Tôi chỉ bị áp lực của lương tâm trách nhiệm. Từ hai năm nay sức khỏe tôi sa sút không thể làm việc trí óc có hiệu quả. Tôi đã trình bày với Tòa Thánh để xin nghỉ vì lợi ích của Giáo hội, riêng của Tổng giáo phận Hà Nội. Khi đi Ad limina các Đức cha biết điều đó đã phản đối. Thậm chí các Đức cha trong giáo tỉnh Hà Nội còn viết đơn khiếu nại với Tòa Thánh. Nhưng khi hiểu hoàn toàn không có áp lực từ phía Nhà Nước hay Tòa Thánh, các ngài đã tôn trọng ý kiến của cá nhân tôi.

WHĐ: Đức Tổng đã từng chia sẻ với WHĐ: “Hiện đang có nhiều phát biểu không chính xác về chuyện nhân sự liên quan đến Tòa Hà Nội”.

Đức Tổng có thể cho độc giả biết thêm ý kiến về vấn đề truyền thông, đặc biệt về truyền thông công giáo?

Đức TGM Giuse NQK: Tòa Hà Nội trong giai đoạn hiện nay được sự quan tâm của nhiều người. Sự quan tâm vấp phải tiến trình bổ nhiệm giám mục luôn thực hiện trong âm thầm kín đáo, nên càng thu hút sự tò mò. Vì tò mò nên thường hay suy đoán. Mới chỉ suy đoán mà đã cho là sự thật thì đã vượt qua một khoảng cách thiếu an toàn. Nhất là dùng suy đoán đó để đi đến những kết luận mang tính kết án thì thật là tai hại.

Nếu các phương tiện truyền thông ngoài đời cần tôn trọng sự thật thì truyền thông công giáo còn cần phải có bác ái nữa. Để có sự thật, trước hết truyền thông công giáo phải hiểu biết Giáo hội và những hoạt động trong Giáo hội, ví dụ như tiến trình bổ nhiệm giám mục. Để có bác ái thông tin phải có tính cách xây dựng. Tất nhiên không phải che giấu những yếu kém, xấu xa trong Giáo hội. Nếu đã không có sự thật mà lại thiếu bác ái thì truyền thông trở thành dụng cụ gieo rắc nọc độc tàn phá ghê gớm.

Image
Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt và Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
trong chuyến viếng thăm Ad Limina 2009
WHĐ: Nhân đây xin Đức Tổng cho độc giả hiểu về tiến trình bổ nhiệm giám mục của Tòa Thánh. Các HĐGM, trong đó có hàng giáo phẩm Việt Nam, có vai trò gì trong tiến trình bổ nhiệm này?

Đức TGM Giuse NQK: Thông thường việc bổ nhiệm giám mục gồm những bước cơ bản như sau. Bước thứ nhất: Khi có nhu cầu, giám mục địa phương đệ trình lên Tòa Thánh kèm với một danh sách các ứng viên thích hợp. Bước thứ hai: Tòa Thánh cứu xét bằng tham khảo ý kiến của nhiều người có uy tín về các ứng viên. Bước thứ ba: các cơ quan hữu trách (khá nhiều) cùng với các vị cố vấn họp lại, căn cứ vào các thông tin thu lượm được để duyệt xét và quyết định chọn vị xứng đáng và thích hợp nhất trong số các ứng viên. Trường hợp không tìm được ứng viên xứng đáng, sẽ trả lời và yêu cầu vị Bản quyền địa phương làm lại danh sách và tiến hành lại từ bước thứ nhất. Bước thứ tư: Nếu tìm được ứng viên thích hợp, sẽ phải hỏi ý kiến đương sự có đồng ý chấp nhận hay không. Bước thứ năm: Đức Thánh Cha chính thức bổ nhiệm và chọn ngày công bố. Như thế HĐGM không có vai trò gì chính thức. Tòa Thánh chỉ tham khảo ý kiến của một số vị liên quan.

WHĐ: Xin phép Đức Tổng cho chúng con trở lại sự kiện cách nay đúng hai tuần: Hội nghị kỳ I năm 2010 của HĐGM, diễn ra tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu (Vũng Tàu) từ ngày 05-04 đến ngày 09-04-2010.

Mặc dù đi vắng, không tham dự Hội nghị kỳ I của HĐGM năm 2010, nhưng có lẽ Đức Tổng vẫn theo dõi tin tức về Hội nghị, vẫn hướng về Hội nghị qua lời cầu nguyện và sự hiệp thông?

Đức TGM Giuse NQK: Tuy không thể tham dự Hội nghị HĐGM nhưng tôi luôn theo dõi và biết tình hình. Hội nghị lần này chắc chắn bận rộn vì bàn về việc cử hành Năm Thánh là việc thời sự và quan trọng đối với Giáo hội Việt nam. Nhưng có lẽ những tin tức bên lề còn sôi động hơn, nên tôi không ngừng theo dõi và cầu nguyện thật nhiều cho Hội nghị.

WHĐ: Hội nghị của HĐGM kết thúc và ngay sau đó Đức cha Phó Tổng Thư ký đã công bố Biên bản của Hội nghị. Văn kiện này giúp toàn thể Dân Chúa tại VN và mọi người quan tâm biết được nội dung nghị sự của các Đức giám mục.

Tuy nhiên lại có thông tin cho rằng HĐGMVN cũng đã bàn trong Hội nghị về vấn đề nhân sự của Tòa Tổng giám mục Hà Nội. Đức Tổng nghĩ gì về thông tin này?

Đức TGM Giuse NQK: Những thông tin đó tỏ ra không am hiểu cơ chế hoạt động trong Giáo hội, hoặc cố tình lái dư luận vào chiều hướng khác. Phải nói ngay rằng bổ nhiệm giám mục là quyền của Đức Thánh Cha chứ không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Giám mục. Hội đồng Giám mục chắc chắn không dám lạm bàn vấn đề này. Đàng khác tiến trình bổ nhiệm giám mục là bí mật của Toà Thánh (secret pontifical) mà mọi người phải nghiêm cẩn tuân giữ. Có thể có những thăm dò. Nhưng thăm dò chỉ là tham khảo và không hề có tính quyết định. Cho nên chắc chắn các Đức Cha không bàn về những vấn đề không thuộc thẩm quyền.

WHĐ: Nhân dịp được hân hạnh phỏng vấn Đức Tổng, WHĐ muốn mời Đức Tổng chia sẻ thêm đôi điều với cộng đồng Dân Chúa, nhất là lúc này, trong khung cảnh Giáo Hội tại VN đang cử hành Năm Thánh 2010, hướng vào chủ đề “Giáo Hội mầu nhiệm – hiệp thông – sứ vụ”, đặc biệt đang tích cực chuẩn bị Đại Hội Dân Chúa dự trù sẽ diễn ra tại Sài Gòn vào tháng 11 – 2010.

Đức TGM Giuse NQK: Hiệp thông là rất quý nhưng rất khó. Hiệp thông không tự có nhưng phải xây dựng. Lý thuyết thì ai cũng đã biết. Nhưng hiệp thông thực sự chỉ có thật khi thực hành. Chúng ta đã được sống kinh nghiệm hiệp thông trong lễ Khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện. Có sự hiện diện của mọi thành phần Dân Chúa từ trung ương đến địa phương. Có sự cộng tác của mọi tầng lớp, ngành nghề, khả năng. Rất đa dạng phong phú nhưng lại rất đồng tâm nhất trí. Mọi khác biệt đều được tôn trọng và trân trọng. Đó thật là một chứng từ sống động có sức thuyết phục. Đó là một bài giảng hùng hồn về đức tin sống động. Tôi mong ước và cầu chúc mọi thành phần Dân Chúa tiếp tục tinh thần này một cách cụ thể trong Đại Hội Dân Chúa và thánh lễ Bế Mạc Năm Thánh cũng như trong mọi sinh hoạt của Giáo hội sắp tới. Được như thế hai công cuộc quan trọng trong Năm Thánh này sẽ thành công xây dựng tình hiệp thông trong Giáo hội và nhờ thế thành công trong sứ vụ của Giáo hội tại Việt nam.

WHĐ: Chúng con chân thành cảm ơn Đức Tổng. Một lần nữa xin chúc mừng và chung vui với Đức Tổng và TGP Hà Nội vừa có Đức Tổng giám mục phó, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.

Post Reply