Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

TEXAS RA NGHỊ QUYẾT CẤM TREO CỜ VC
Tiểu Bang Texas đã ra nghị quyết cấm các trường học treo cờ máu VC mà phải treo lá CỜ VÀNG của Việt Nam Tự Do.

Nghị Quyết HCR258 Khuyến Cáo Trường Ðại Học Houston Và Các Trường Ðại Học Tại Tiểu BangTexas Trong Việc Cấm Treo Cờ Ðỏ Tại Trường Ðã Ðược Thông Qua.

Thay Mặt Cộng Ðồng Việt Nam Tại Hoa kỳ VAC-USA, Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ tại UH và Ðại Diện gia đình phụ huynh con em đang theo học tại University of Houston xin chân thành cảm ơn Dân Biểu Hubert Võ đã sốt sắng hỗ trợ mạnh mẽ và cương quyết cho Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ của VC tại UH trong những ngày tháng qua trên quyết tâm Hạ Cờ Ðỏ cuả VC tại UH.

Vào lúc 3 giờ 15 ngày thứ năm 22 tháng 5 năm 2009, Dân biểu Hubert Võ đã cho chúng tôi biết là Ðại diện cuả UH hứa sẽ hạ cờ đỏ tại UH vào ngày thứ ba 26 tháng 5 năm năm 2009 với điều kiện là Dân Biểu Hubert Võ hãy thu hồi lại nghị quyết cấm treo cờ đỏ tại các trường Ðại Học. Dân Biểu Hubert Võ đã trả lời cho ông Ðại diện UH rằng nghị quyết này sẽ áp dụng trên toàn trường Ðại Học tại Texas chứ không riêng gì tại UH.

Khi chúng tôi xuống UH Center vào ngày thứ Ba thì cờ đỏ vẫn chưa hạ nhưng lại có cờ Vàng treo lên. Chúng tôi đã thấy ngay âm mưu cuả bọn CS nằm vùng quyết ăn thua đủ trong việc Hạ Cờ Ðỏ tại UH. Tôi gọi ngay cho Bân Biểu Hubert Võ và sau khi Dân Biểu Hubert Võ gọi cho trường UH thì Ban Giám Ðốc cho biết đã có chỉ thị hạ cờ đỏ nhưng chưa biết schedule ngày nào.

Hôm nay qua nghị quyết HCR258 của Dân Biểu Hubert Võ đệ trình và với trong một thời gian kỷ lục 7 ngày nghị quyết HCR258 đã được thông qua cả thượng viện và hạ viện.

HCR258 là nghị quyết luật pháp khuyến cáo các trường Ðại Học Houston (University of Houston) và tất cả các trường đại học tại tiểu bang Texas phải treo cờ Vàng là biểu tượng của người Việt Quốc gia đại diện cho Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn CS tại Texas chứ KHÔNG ÐƯỢC TREO CỜ ÐỎ CỦA VC nữa.

Ðược biết nghị quyết HCR258 cuả dân biểu Hubert Võ đã được thông qua vào lúc 8 giờ 05 phút tối hôm qua ngày 30 tháng 5 năm 2009.
Theo Dân biểu Hubert Võ, Cộng Ðồng VN tại Austin hiện giờ (Tối Chủ nhật) đã đem thức ăn vào cảm ơn các nghị sĩ dân biểu cuả TB Texas vừa passed nghị quyết HCR258.

Sự đấu tranh và sự quyết tâm cuả người Việt tỵ nạn CS tại Houston trong việc Hạ Cờ Ðỏ tại Ðại Học Houston là một bài học cho những ai chưa tin vào sự phẫn nộ đồng loạt của đồng hương trước những âm mưu đen tối trong những sự việc đi ngược lại nguyện vọng của người dân. Ðây cũng lại là một bài học đích đáng cho những tên Việt gian đang làm tay sai cho CS tại thành phố này.

Một lần nữa chúng tôi xin thay mặt Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ tại UH, Gia Ðình Phụ Huynh Con em đang theo học tại UH và Cộng Ðồng VN tại Hoa Kỳ xin ca ngợi Tinh Thần Phục Vụ của Dân Biểu Hubert Võ trên quyết tâm không chấp nhận Cờ Ðỏ treo chung với cờ Vàng, cũng như xin thành kính tri ân Dân Biểu Hubert Võ đã thực sự đáp ứng được nguyện Vọng của người Dân.

Thay Mặt Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ :
Ông Nguyễn Toàn Vẹn - Chủ Tịch
Ông Ðỗ Quảng - Cố Vấn
Cựu Ðại Tá Nguyễn văn Nam - Yểm Trợ
Ông Lưu Quý Tùng - Vận động.
Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa - Ngoại giao
Thay mặt Cộng Ðồng VN tại Hoa Kỳ VACUSA
Tôn Nữ Hoàng Hoa
Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành

H.C.R. No. 258 CONCURRENT RESOLUTION WHEREAS, The display of the flag of the Socialist Republic of Vietnam on the central campus of the University of Houston, as well as on other campuses of higher learning, has caused great distress to many members of the Vietnamese American community; and
WHEREAS, This flag, which features a yellow star on a red background, was first adopted by the Indochinese Communist Party in the mid-20th century; it represents a source of anguish to countless people who fled to the United States as a welcoming haven of liberty and tolerance; to these esteemed citizens, the display of this flag is interpreted as a lack of respect for their historic struggles; and
WHEREAS, In contrast, the Freedom and Heritage Flag symbolizes both the Vietnamese cultural heritage and a deeply rooted resilience and yearning for democracy; this flag, which bears three red stripes on a background of golden yellow, was flown for the first time at a ceremony marking the official recognition by France of Vietnamese unity and independence; and
WHEREAS, The University of Houston and other institutions of higher learning can express their respect for Vietnamese American culture and their support for the ideals of liberty and democracy by replacing the flag of the Socialist Republic of Vietnam with the Freedom and Heritage Flag; now, therefore, be it
RESOLVED, That the 81st Legislature of the State of Texas hereby urge the University of Houston and other institutions of higher education to cease displaying the red flag of the Socialist Republic of Vietnam and to instead fly the golden yellow Freedom and Heritage Flag that has been embraced by the Vietnamese American community; and, be it further RESOLVED, That the secretary of state forward an official copy of this resolution to the commissioner of higher education as an expression of the sentiment of the house of representatives and senate.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Lễ ra mắt sơ khởi Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Nam California
Sunday, April 25, 2010

Nguyên Huy/Người Việt
Chiều hôm qua Chủ Nhật 25 tháng 4, Hội Ðồng Liên Tôn và ban tổ chức bầu cử đã làm lễ trình diện sơ khởi Ban Ðại Diện Cộng Ðồng người Việt ở Nam California tại nhà thờ Reformation Lutheran Church trên đường Magnolia thuộc thành phố Westminster sau cuộc bầu cử vào ngày 18 tháng 4. Ban đại diện gồm bảy người được nhiều phiếu nhất trong số 16 ứng cử viên là Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, bà Ðào Bích Ty, ông Khanh Nguyễn, ông Bruce Trần, ông Trần Trọng An Sơn, ông Dương Ðại Hải và ông Trần Văn Minh.

Trên 400 quan khách gồm các dân cử tại địa phương và đồng hương đã đến tham dự buổi lễ này.
Image
Hội Ðồng Liên Tôn và Ủy Ban Bầu Cử giới thiệu các ứng cử viên đã đắc cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng.
Mục Sư Trần Thanh Vân, chủ tịch Hội Ðồng Liên Tôn trong sắc phục tôn giáo Tin Lành đã trịnh trọng ngỏ lời khai mạc sau khi Mục Sư Rusell Lackey của nhà thờ Reformation Lutheran Church chào mừng cộng đồng Việt Nam và cầu nguyện các Ðấng Thiêng Liêng. Ông nói: “Hôm nay thật là một ngày đặc biệt 35 năm qua mới có được”.

Tiếp sau đó Mục Sư Trần Thanh Vân đã lần lượt giới thiệu bảy vị đã đắc cử trong cuộc bầu cử của cộng đồng người Việt ở Nam California trong tiếng vỗ tay rền vang của mọi người tham dự.

Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đã lên tuyên đọc những lời Tuyên Thệ để bảy ứng cử viên vừa đắc cử nhắc lại. Nội dung của những lời Tuyên Thệ của Ban Ðại Diện Cộng Ðồng người Việt ở Nam California là tuyệt đối trung thành với cộng đồng dưới lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, luôn nêu cao sự đoàn kết, để phát triển cộng đồng, quyết tâm ngăn chặn Cộng Sản trong cộng đồng người Việt trong khuôn khổ Hiến Pháp và luật pháp Hoa Kỳ, hỗ trợ các cuộc tranh đấu cho tự do nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của đồng bào Việt Nam. Bẩy vị đã đồng thanh nhắc lại: “Tôi xin nhận hết trách nhiệm này”.

Trong khi Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đọc lời tuyên thệ đến đoạn “quyết tâm ngăn chặn Cộng Sản trong cộng đồng” thì toàn thể người tham dự đã nồng nhiệt vỗ tay tán trợ lời tuyên thệ này.

Sau khi ban đại diện đã tuyên thệ và được Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đại diện luật pháp chấp nhận, Linh Mục Nguyễn Uy Sỹ đã đại diện Hội Ðồng Liên Tôn có những lời nhắn rằng nay các vị đã là những người đại diện, là tiếng nói của hơn 300 ngàn người Việt ở Nam California, mong quí vị sẽ làm việc trong tinh thần hy sinh, bác ái, hiệp nhất đoàn kết, hãy gạt bỏ riêng tư, đoàn thể của mình mà cùng chung gánh vác phục vụ lợi ích chung của cộng đồng.

Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa sau đó đã đại diện cho các ứng cử viên đắc cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng, phát biểu rằng “Chúng tôi đã tuyên thệ trong ngôi Thánh Ðường này và chúng ta là những người có tín ngưỡng khác với Cộng Sản nên lời Tuyên Thệ đó rất thiêng liêng”. Luật Sư Nghĩa cũng đề cập đến lập trường chống cộng của Ban Ðại Diện và sẽ đoàn kết để phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Sau đó Luật Sư Nghĩa đã chào mừng tất cả các vị dân cử từ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa đến những đại diện của các dân cử khác có mặt để thể hiện tinh thần thân thiện của Ban Ðại Diện vừa đắc cử với các chính quyền địa phương.

Vào buổi sáng cùng ngày 25 tháng 4, ủy ban bầu cử đã thông báo kết quả sơ khởi cuộc bầu cử sau khi đã hoàn tất đếm xong 17,230 phiếu hợp lệ và 468 phiếu bất hợp lệ theo qui định của Ủy Ban Bầu Cử.

Số phiếu được loan báo cho từng ứng cử viên được chọn vào bảy người trong Ban Ðại Diện Cộng Ðồng là:

- Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa với 13,050 phiếu, đạt tỷ lệ 75.7%.

- Bà Ðào Bích Ty với 9,881 phiếu đạt tỷ lệ 57%.

- Ông Nguyễn Khanh với 9,699 phiếu đạt tỷ lệ 56%.

- Ông Bruce Trần với 8,342 phiếu đạt tỷ lệ 48.4%.

- Ông Trần Trọng An Sơn với 7,707 phiếu đạt tỷ lệ 44.7%.

- Ông Dương Ðại hải với 7,021 phiếu đạt tỷ lệ 40.7%.

- Ông Trần Văn Minh với 6,313 phiếu đạt tỷ lệ 36.6%.

Tuy nhiên theo ông Nguyễn Mạnh Chí, trưởng ban bầu cử cho biết thì đây chỉ là kết quả sơ khởi, tạm thời vì tuy cuộc đếm phiếu đã xong nhưng ủy ban đã nhận được một số khiếu nại của ứng cử viên và cử tri nên ủy ban đang xem xét lại chiếu theo những luật lệ bầu cử mà ủy ban đã qui định hoặc khía cạnh pháp lý mà Luật Sư Nguyễn Quốc Lân là cố vấn cho ủy ban sẽ diễn giải. Kết quả chính thức, theo ông Nguyễn Mạnh Chí cho biết, sẽ được loan báo sau 2 tuần nữa.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Ngày 30 Tháng Tư Nhìn Lại

Nguyên Thạch
Sau ba mươi lăm năm Việt Nam thống nhất,đất nước gom về một mối mà tập thơ “Vô Đề“ có diễn đạt “Một mối hận thù, một mối đau thương“.

Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc,từ đời các vua Hùng dựng nước cho tới thời điểm này, đất nước ta chưa bao giờ thảm bại như hôm nay. Hãy ôn lại qua từng thời kỳ và sự di hại của nó để hiểu rằng Việt nam là một đất nước cô đơn và dân tộc Việt là một dân tộc bất hạnh.

1975-1986. Giai đoạn
của sự hoang man
và tàn phá khủng khiếp


Để thực thi cái gọi là kinh tế tập trung, một trong những lý thuyết cơ bản của chủ nghĩa xã hội hoang tưởng, bọn mù quáng ngông cuồng đã cho ra đời chủ trương hợp tác xã, cho mọi ngành mọi nghề, đẩy toàn bộ xã hội gần như là thụt lùi về thời công xã, gây bao hoang man lo sợ cho cả nước. giai đoạn mà những thứ vô tri vô giác như cây cột điện cũng muốn ra đi. Một giai đoạn mà trong lịch sử chưa hề có số lượng người bỏ nước lánh nạn đông đảo, làm rung động trái tim của cả thế giới.

Một thời, mà chính người cộng sản cũng phải hổ thẹn, nhục nhã,cố tình lẫn tránh, không dám đề cập hoặc nhắc tới hình ảnh đen tối này. Nhưng với bản chất gian dối và kiêu ngạo,họ không hề có một lời xin lỗi trước quốc dân đồng bào về những sai lầm nghiêm trọng đó.

Đổi mới

Sau chuỗi dài những bài học thất bại thê thảm, để cứu vãn chế độ,nhà cầm quyền cho áp dụng nền “Kinh tế thị trường“ với cái đuôi “Theo định hướng xã hội chủ nghĩa“, một thứ lý luận lấp liếm, ngụy biện vu vơ. Điều này,đã nói lên rằng kinh tế XHCN là một nền kinh tế què quặt, thảm bại. Câu dân gian “Xuống Hố Cả Nút“, đã nói lên trọn vẹn cái ý nghĩa của nó.

Đất nước hẹp dần

Độc đảng cộng sản mà quyền lực được thu gọn trong tay chính trị bộ,15 khuôn mặt đần độn, má bỉnh da chì, sẵn sàn cúi đầu quì gối trước thiên triều đại Hán để mong được sự bao che và ban ân huệ. Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng-Trường Sa, vịnh Bắc Bộ, đất rừng các tỉnh dọc biên thùy và sâu trong nội địa, Beauxite Tây Nguyên đều bị hiến dâng cho ngoại bang để được nắm giữ quyền lợi cho cá nhân và băng đảng.

Kinh tế tụt hậu

Dưới sự lãnh đạo của một guồng máy nhà nước trì trệ, u muội, quan liêu, sau ba mươi lăm năm không chiến tranh mà nền kinh tế vẫn lẽo đẽo mò mẩm theo đuôi các nước lân bang trong khu vực, xa tít từ ba đến năm mươi năm, thì việc sánh vai với các nước tiên tiến là chuyện hoang tưởng xa vời.

Đó là chưa nói đến nguồn tài trợ lớn mà nhà nước Việt Nam không cần phải trả lại cả vốn lẫn lời. Một số tiền cho không, nhờ vậy mà đảng đã cầm được hơi cho tới hôm nay.

Chính trị độc tài

Mang trong đầu tư duy của phong kiến Tàu và tư tưởng Mác-Lê, bằng mọi cách phải cướp chính quyền, hùng cứ giang sơn mỗi nhóm một tỉnh, một huyện để chia nhau hưởng lợi hầu bù lại những tháng năm gian nan khổ nhọc. Ban tư tưởng văn hóa trung ương cùng các báo đài ra rã hằng ngày, chẳng qua chỉ là một lối mị dân, chứ chẳng phải vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Phương thức ngụy biện nhằm che dấu ý đồ của gián điệp của Trung Cộng mà ngay cả những năm tháng khởi đầu dậy binh, Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng dâng bản công hàm ngày 14 tháng 09/1958, một văn kiện công nhận Hoàng Sa ( Tây Sa )- Trường Sa ( Nam Sa ) thuộc quyền Trung Cộng. Cuộc hải chiến oai hùng của hải quân VNCH từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 01/1974 trong sự làm ngơ của Bắc Việt là những minh chứng hùng hồn nhất cho hành động bán nước. Còn nữa, chẳng phải Tố Hữu tự phát mà có những câu nô dịch như: “Bên nay biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương“, hoặc:

“Giết, giết nữa đi bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xì ta Lin bất diệt“.

Theo đuổi một nền chính trị bưng bít, hẹp hòi,sắt máu, không chấp nhận đối lập, không quan tâm đến ý kiến của dân chúng,cũng chỉ nhằm mục đích che dấu mưu lược thâm độc đó.

Một thể chế chính trị cấm người dân nêu cao tinh thần yêu nước, cấm phê phán những tiêu cực của nhà cầm quyền, bởi cho đó là “ bí mật quốc gia “!. Thử hỏi,có quốc gia nào trên thế giới lại đi cầm tù hoặc đánh đập, ngăn cấm sinh viên học sinh cùng những nhà tranh đấu thể hiện lòng ái quốc, chống kẻ thù nghìn năm phương Bắc?. Ngoại trừ Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Nam. Ngày nào còn sự hiện hữu của đảng cộng sản, ngày ấy Trung Cộng còn có nhiều cơ hội tốt để thực thi mưu định chiếm cứ Việt Nam.

Xã hội lừa lọc và tham nhũng

Người ta thường ví rằng “Nhà nước nào, dân chúng nấy“ hoặc “Cha nào con nấy“. Bắt nguồn từ sự gian dối của đảng cộng sản, qua những cuộc đấu tố 1953-1956, người dân bị tiêm nhiễm rằng phải thủ đoạn,phải gian dối mới được tồn tại. Ở Việt Nam, rất nhiều người nói dối tài tình y như nói thật mà không hề biết chớp mắt ngượng miệng.

Một xã hội mà sự hối lộ, tham nhũng dường như bất trị. Các quan chức từ trung ương cho đến địa phương, mọi ngành, mọi cấp, đa số đều có dính líu đến tham nhũng. Tham ô một cách có hệ thống và có bao che, nếu có chăng những vụ án thì chỉ là dơ cao đánh khẽ, rồi cuối cùng cũng được “hạ cánh an toàn“.

Đạo lý suy đồi

Là những người còn lương tri,không ai không tránh khỏi đau lòng khi nhìn thấy bao tinh hoa quí báo, tình tự tốt đẹp của khối dân tộc, được truyền giữ qua bao ngàn năm, nay đã bị đảng cộng sản hủy hoại một cách vô tâm oan uổng. Vì tranh giành với nhau để được sinh tồn, vì miếng cơm manh áo, vì tư lợi cá nhân trong một bối cảnh nghèo đói mà người ta sẵn sàng tố giác, đạp đổ lên nhau để tiến thân.Trong một xã hội mà con người chỉ biết giành giựt, thu ghém cho riêng mình, vô cảm, thờ ơ trước bao cảnh đời khốn khổ hoạn nạn khác. Một xã hội mà lương tâm không giá trị bằng “lương thực“.

Dưới sự làm ngơ của nhà nước hoặc tiếp tay chia chát với những tên tội phạm buôn người, tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam qua Trung Cộng, Campuchia cùng các nước khác đầy ải thanh niên đi lao nô khắp thế giới để bòn rút ngoại tệ là những câu chuyện, những hình ảnh nhức nhối, đau thương cho cả một dân tộc. Chưa bao giờ người con gái Việt Nam phải bỏ xứ, xa cha mẹ,người thân để đi lấy chồng nước ngoài Đài Loan, Nam Hàn, Singapore… và bị ngược đãi nhiều như thế. Rồi đây Việt Nam sẽ là Bò Tèn ( Botel City ) thứ hai. Người dân bản xứ sẽ là những đám nô lệ trên chính quê hương mình để phục tùng cho những chủ nhân ngoại quốc.

Đối diện với những sự thật

Trong hiện tình của đất nước, đây là một thời kỳ đen tối nhất của Tổ Quốc,15 tên thái thú đã và đang sẵn sàn bán đứng Quê Hương. Và đây cũng là cơ hội thuận tiện nhất cho ngoại bang Hán phiệt thôn tính Việt Nam. Tất cả người Việt chúng ta hãy sớm nhận thức nguy cơ và hãy sớm hành động trước khi quá muộn.

Chúng ta sẽ không chấp nhận và cũng không muốn nhìn thấy Việt Nam là Tây Tạng thứ hai. Còn gì ghê rợn, đau đớn bằng khi chứng kiến phụ nữ Việt Nam và con cháu của chúng ta lâm vào hoàn cảnh khủng khiếp như thế.

Trung cộng sẽ nhân cơ hội thuận tiện do đảng csVN nối giáo mà có những bước tiến nhanh, rõ nét nhất là mới đây, nhà nước công bộc chuẩn bị thỏa hiệp cho quân đội sát nhập với lực lượng vũ trang của Trung Cộng trong cái gọi là hiệp tác toàn diện, song phương quốc phòng. Thử tưởng tượng, hai binh đội, ngoại công nội đàn áp thì người dân sao gánh chịu nổi,khi trong tay không một tất sắt.

Quân đội nhân dân Việt Nam

Các anh chị mau thức tỉnh. Tổ quốc đã lâm nguy. Khi mà nền trật tự của thế giới vẫn còn hiệu lực thì việc xua hàng triệu quân đánh chiếm, tiêu diệt đội quân của quốc gia khác là điều khó mà thực hiện, nhưng việc giết từ từ, giết dần mòn cho đến hết sạch các anh chị là hành vi có thể xảy ra. Tuy nhiên,trong tương lai, cuộc tiến quân để quét sạch đối phương trong cùng một lúc thì không ai dám hứa hẹn và bảo đảm.

Có lợi thế dân số đông đảo nhất thế giới, và đường hải giới lưỡi bò, cùng lực lượng đặc công Tây Nguyên, cộng với đạo quân thứ năm trên khắp hang cùng ngõ tận của ba miền đất nước, đạo quân này với tiền bạc và uy lực,chúng sẽ nắm toàn bộ nền kinh tế và là lực lượng nội gián nồng cốt cho người anh em đồng chủng, viêc thôn tính toàn bộ Việt Nam là chuyện thời gian. Với con số khổng lồ, gần 1.500.000.000 người thì vấn đề thí vài triệu quân để hốt sạch các anh chị để bù vào đó là quân đội mẫu quốc, đó không là chuyện lạ. Họ mơ ước được di dời 50 triệu thanh niên sang mảnh đất này, lấy vợ Việt để gây giống và thuần hóa giòng máu đại Hán. Như nêu trên, thế thì đàng nào cũng sẽ chết, nếu được chết cho quê hương sinh tồn, hẳn là có ý nghĩa hơn là chết trong vô nghĩa, tủi nhục.

Công an

Các anh chị hãy sống cho tròn đạo nghĩa, là con dân thì không bao giờ quay lại bắt bớ đánh đập cha mẹ, anh em, đồng bào ruột thịt của mình. Bảo vệ trật tự an toàn xã hội là việc phải làm, nhưng quay mũi súng vào nhân dân vô tội là hành động phi luân lý. Các anh chị nên biết ơn những người hy sinh bản thân để kêu gọi toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, sự độc lập của dân tộc mà các anh chị là những thành viên trong lòng dân tộc ấy.

Sau ba mươi lăm năm, đất nước vẫn hiện hữu một đảng vong nô, phản quốc. Một nhà nước ươn hèn quì gối. Một quốc hội bù nhìn, đốn mạt. Một nền luật pháp độc đoán, tùy tiện. Mười lăm tên ở bắc bộ phủ chỉ là một khối thịt rữa tanh hôi, chúng không mạnh như ta lầm tưởng, nếu chúng ta, tất cả đều đồng lòng đứng dậy đạp đổ chúng ra khỏi quyền lực.

Nhìn lại đất nước sau ba mươi lăm năm, giờ Tổ Quốc đang đứng bên bờ vực thẳm. Lòng người tan tác với bao nỗi hoang man lo sợ, một cuộc sống với tương lai bấp bênh vô định. Trước hiện trạng dường như vô vọng ấy, 85 triệu người Việt quốc nội cùng hơn 3 triệu người Việt hải ngoại, chúng ta phải làm gì ?. Đó là câu hỏi cho những ai còn có tấm lòng cho quê hương Việt Nam thân yêu.

Tuy ba mươi lăm năm trôi qua, một chuỗi thời gian dài đầy bi đát và oan nghiệt, nhưng không vì thế mà chúng ta đánh mất niềm tin. Cả thế giới văn minh, hiện đang tập trung cô lập Trung Cộng mà Mỹ là quốc gia có chiến lược dẫn đầu. Bởi Trung Cộng là hiểm họa, là mối đe dọa cho sự ổn định của toàn thế giới. Hãy nung nấu ý chí quật cường, khi cơ hội đến, chúng ta sẽ đứng lên giành lại những gì đã mất. Ngày quang phục Quê Hương không còn xa nữa.

Nguyên Thạch

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

35 Năm Nhìn Lại Con Người Việt Nam

Nam Dao
Mẹ tôi đã ngoài 90 tuổi. Ở cái tuổi gần đất xa trời, giống như tất cả mọi người, trí nhớ của mẹ tôi rất kém. Dẫu quên rất nhiều nhưng chỉ có 3 điều mà cụ bà đã kể cho tôi cách đây 40 năm vẫn còn như in trong óc cụ. Mới cách đây một tuần sự lập lại ba câu chuyện nọ cho tôi nghe là một chỉ dấu cho thấy ảnh hưởng của nó trong cuộc đời cụ sâu đậm đến nỗi thời gian vẫn chưa xóa nhòa được trong tâm người.

Trong ngày tưởng niệm 35 năm Quốc Hận 30/4/2010 năm nay, trước biết bao đổi thay về xã hội lẫn con người VN thời nay, ba câu chuyện mẹ vừa kể đã giúp tôi mường tượng được phần nào bức tranh xã hội VN và con người VN thời trước để suy ngẫm về nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thoái hóa của xã hội và con người VN thời nay, về chính sách 100 năm trồng người của Hồ Chí Minh và những hậu qủa của nó trên quê hương VN.

Câu chuyện đầu tiên nói về nạn đói năm Ất Dậu đưa đến hơn triệu cái chết. Tại làng mẹ tôi, sáng nào cũng có ít nhất hai chiếc xe thổ mộ đi nhặt xác người chết đói dọc đường. Mẹ tôi không bao giờ quên được hình ảnh một bà mẹ sáng nào cũng nấu sẵn một nồi cháo trắng để múc cho những người đói khát đi ngang qua nhà bà. Đoàn người tuần tự xếp hàng, không giành giật, không cãi vã, nối đuôi nhau kiên nhẫn chờ tới phiên mình để nhận được một muôi cháo trắng. Và điểm đặc thù của dân làng này là cho dù cả làng đang ở trong tình trạng đói khát, nhưng dân làng không nỡ quay mặt làm ngơ trước những trẻ thơ nằm lả trên vỉa hè bên cạnh xác mẹ cha vừa mới chết vì đói.

Câu chuyện trên cho tôi nhìn thấy một điều là, dẫu dân làng đang ở trong hoàn cảnh đói khát sống qua ngày nhưng trái tim nhân bản của người dân Việt thời đó vẫn còn đầy, còn biết động lòng thương người nên mới nhịn chút phần ăn của mình để cứu vớt các em bé vừa mồ côi đang hấp hối dọc đường. Giờ đây, trong bối cảnh xa hoa phù phiếm của xã hội VN thời nay, lại xảy ra hiện tượng những con người VN đi lùng các trẻ mồ côi sống lây lất đầu đường xó chợ đem về làm “con nuôi”. Họ nhẫn tâm bẻ tay chân hay đâm mù mắt các em rồi bắt các em đi ăn mày đem tiền về nuôi họ sống trên sự tàn phế về xác thân lẫn tương lai đời các em! Đó là còn chưa kể tới những dịch vụ ăn mày mà trong đó những người mẹ ăn mày chuyên nghiệp tìm mướn những trẻ thơ con nhà nghèo, thản nhiên đày đọa các em trong mưa gió để khơi dậy lòng trắc ẩn du khách qua đường hầu xin được nhiều tiền. Đã có những bé bị chết vì sưng phổi sau vài ngày bị “mẹ hờ” địu trên lưng dầm mưa dãi nắng. Trẻ nào may mắn sống sót khi lớn lên nếu hên hơn thì sẽ tìm được công ăn việc làm nơi các hãng xưởng. Đa số thường bị các chủ nhân ông bóc lột sức lao động, hành hạ như nô lệ trước sự im lặng đồng lõa cuả nhà nước Cộng sản Việt Nam . Tuy nhiên thân phận những trẻ nói trên còn tốt số hơn những em khác bị các dịch vụ buôn người đem các em đi bán làm nô lệ tình dục nơi xứ người. Những hiện tượng dùng trẻ thơ như một phương tiện làm giàu phải chăng là kết qủa của chính sách 100 năm trồng người của Hồ Chí Minh mà qua đó nền giáo dục Xã hội Chủ nghiã Việt Nam đã hủy diệt lần mòn những mầm thiện và tình bác ái trong con người VN?

Câu chuyện thứ hai liên quan đến cung cách sống của người dân nghèo dưới thời bị trị hà khắc của thực dân Pháp. Có những người dân trong làng nghèo đến độ cả gia đình đều phải đóng khố chuối và chỉ mua được một chiếc quần để dành cho cả gia đình dùng chung khi có ai cần ra tỉnh hay lên huyện. Cho dù nghèo đến mấy đi chăng nữa nhưng lại ít xảy ra cảnh cha mẹ bán con, hoặc con gái tự bán mình để đổi lấy vật chất xa hoa phù phiếm.

Phong cách con người VN thời chưa bị Cộng sản nhuộm đỏ như thế đó. Dẫu sống trong hoàn cảnh túng quẫn thiếu vải che thân như “Trần Minh khố chuối”, nhưng dân làng vẫn cố “giấy rách phải giữ lấy lề”. Thời nay, những từ như “ tư cách, tự trọng” có lẽ ngày càng trở nên xa lạ nơi "thiên đường Xã hội Chủ nghiã VN" đầy rẫy những lừa lọc, bon chen đua đòi hưởng thụ vật chất. Hiện tượng hàng trăm cô dâu VN đứng trần như nhộng để cho đàn ông ngoại quốc sờ ngắm mua về vừa làm vợ và con ở đã trở thành chuyện bình thường. Sau khi xài thử nếu không vừa ý thì khách được quyền đổi lấy cô khác. Món hàng phụ nữ Việt qủa rẽ mạt và thua xa giá trị của cái tủ lạnh bán ngoài cửa hàng mà người mua dù không thích cũng không được quyền trả lại sau khi đã dùng nó. Khi phụ nữ VN thời nay chấp nhận làm món hàng đem rao bán, khi người chồng coi chuyện chở vợ mình đi làm nghề bia ôm, cũng như khi các nữ sinh, sinh viên hành nghề gái gọi, v.v... thì hẳn nhiên đạo đức sẽ không còn chỗ đứng để nhường bước cho sự sa đọa đang đẩy xã hội VN ngày càng chìm sâu dưới vực thẳm tội lỗi.

Câu chuyện thứ ba là câu chuyện duy nhất mỗi lần kể lại giọng mẹ tôi run lên vì xúc động: Khi cuộc chiến giữa Pháp và các đảng phái quốc gia diễn ra ác liệt ở Hà thành, bố mẹ tôi đã trốn về quê lánh nạn và tạm trú ở nhà một đứa cháu trai. Trong suốt thời gian ở đó, ban ngày cậu ta uống rượu say mèm chờ mỗi khi chiều xuống thì xách mã tấu ra khỏi nhà và chỉ trở về lúc trời tờ mờ sáng. Thấy hành động quái dị của đứa cháu kéo dài liên tục cả tháng, ba tôi thắc mắc gạn hỏi mãi nhưng cậu ta vẫn không chịu mở miệng. Cho tới một hôm có lẽ vì men say nên đứa cháu mới khóc tiết lộ cho biết là bọn Việt Minh (tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam) đã ra lệnh cho cậu ta nếu muốn cha mẹ vợ con sống, thì khi màn đêm xuống phải đem những đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng ra giữa dòng sông chém đầu rồi vứt xác xuống sông để phi tang. Mỗi đêm ít nhất có khoảng một chục đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng bị hành quyết trên dòng sông. Và đó là lý do tại sao tên “đao phủ bất đắc dĩ” phải uống rượu cho say mèm trước khi đi . Đứa cháu nói với ba tôi rằng bọn Việt Minh rất tàn ác dã man không thể ở được với bọn chúng. Ba mẹ tôi nên tìm đường trốn vào Nam. Đứa cháu không trốn được vì sợ Việt Minh chặt đầu cả gia đình. Chỉ nội trong vòng một tháng kể từ ngày được cháu tiết lộ bí mật về tội ác tầy trời của Cộng sản Việt Nam (CSVN), bố mẹ tôi đã lấy quyết định “bỏ của chạy lấy người” di cư vào Nam năm 1954, bỏ lại sau lưng tài sản, quê hương và hình ảnh những cuộc đấu tố cải cách ruộng đất hãi hùng đã xảy ra cho người quen của mình ...

Câu chuyện trên vẫn chỉ là một trong hàng nghìn bằng chứng khác xác nhận sự thật lịch sử tội ác CSVN, lột trần bản chất gian xảo thâm độc của những con người ác đã tiêu diệt hầu hết các đảng phái quốc gia đã từng là đồng minh của họ, cũng như dân tộc VN sẽ không bao giờ tha thứ tội ác tầy trời của Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm bán đứng nhà ái quốc Phan Bội Châu cho Pháp để cướp công kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi lương tâm không có chỗ đứng trong con tim lãnh đạo CSVN, những hành động bán nước buôn dân để thủ lợi tất không tránh khỏi. Đất đai, hải đảo của tổ tiên, Ải Nam Quan - niềm hãnh diện của lịch sử Tiên Rồng - lãnh đạo CSVN còn dám đem dâng cho Tầu cộng để trả ơn cho đàn anh đã giúp họ có được ngày 30/4/1975 thì sá gì mạng dân đối với họ chỉ là một món hàng nô lệ béo bở tha hồ khai thác làm giàu trên sự khổ đau nhục nhã của dân tộc. Một quốc gia được điều hành bởi những kẻ lãnh đạo gian ác sẽ là môi trường lý tưởng cho sự phát triển ác tính trong con người dẫn đến bao thảm nạn cho quê hương dân tộc.

35 năm! Một phần ba đoạn đường “100 năm Trồng Người” của Hồ Chí Minh! CSVN đã trồng được những con người nào trên quê hương VN ? Chỉ cần nghe ngôn ngữ thời nay là hiểu ngay thực tại đất nước và đạo đức con người VN thời nay đang đi về đâu: Nhìn đểu, khóc đểu, hàng đểu, đá đểu, yêu đểu, chơi đểu, xin đểu, bằng đểu, rượu đểu, người đểu, nhà trường đểu, v.v... Và khi những từ như “Nhà cầm quyền đểu, nhà nước đểu, lãnh đạo đểu, dân chủ đểu...” đã trở thành câu chuyện đầu môi lưu truyền trong dân gian thì lời nhận xét đất nước VN đang ở trong thời kỳ Đồ Đểu quả thật không ngoa chút nào ! Ôi! Nghe qua ngậm ngùi cay đắng làm sao!!

Trong ngày tưởng niệm 35 năm Quốc Hận 30/4/2010 năm nay, nhìn lại đất nước và con người Việt Nam đang ngụp lặn trong thế giới Đồ Đểu với thòng lọng Trung Cộng ngày càng “xiết đểu” họng dân tộc, là con dân nước Việt tất phải đau lòng uất hận. Muốn chấm dứt nền “dân chủ đểu” thì “lãnh đạo đểu” phải ra đi. Những nỗ lực đấu tranh theo kiểu hòa giải hòa hợp với “chế độ đểu” cũng vẫn chỉ là “đấu tranh đểu” mà thôi. Trong cuộc chiến chống lại cái ác ngày càng lan rộng trên quê hương VN, vũ khí duy nhất để chiến thắng cái ác là vung gươm trí tuệ nhân bản và hành động thánh thiện làm gương mở đường cho lương tâm và lòng nhân ái bừng tỉnh trong mỗi con người VN. Khi nào người biết thương người thì những dòng nước mắt nhục nhằn khổ đau sẽ ngưng chảy trên những tuổi đời bất hạnh VN. Thời kỳ Đồ Đểu rồi sẽ qua nhanh, nhường bước cho thời đại hoàng kim ấm áp tình người và niềm tự hào dân tộc.

Adelaide 27/4/2010
Nam Dao

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ai được giải phóng?

Ngô Nhân Dụng
Một bức hình mới được truyền tay trên Internet trong ngày hôm qua; hình chụp một tấm biểu ngữ đỏ treo trên bao lơn một tòa nhà ở Hà Nội theo kiến trúc mới mẻ; phía dưới thấy tấm biển quảng cáo của một “Công ty Bảo hiểm Nhân thọ lớn nhất...” Biểu ngữ này có hai hàng chữ mầu vàng, nói về hai ngày kỷ niệm, 30 tháng 4 và mùng 1 tháng 5. Lý do khiến tấm hình được mọi người gửi cho nhau qua mạng lưới là nội dung của nó không bình thường. Hàng dưới chào mừng ngày quốc tế lao động, còn hàng trên của tấm biểu ngữ viết: “Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Ðô 30-4”.

Chắc tấm biểu ngữ này được treo ở Hà Nội, và người viết biểu ngữ đã viết nhầm. Bình thường thì bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản vẫn gọi 30 Tháng Tư là Ngày Giải Phóng, nhưng nơi được giải phóng là Sài Gòn chứ không phải Hà Nội. Mà hiện nay thì Sài Gòn không được coi là thủ đô của nữa. Giờ này ai muốn biến Sài Gòn thành thủ đô thì khó sống!

Chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi nhận được bức hình trên, mọi người lại nhận được bức hình thứ hai qua email. Hình này chụp cảnh hai thanh niên đứng trong bao lơn kéo tấm biểu ngữ trên, đang gấp lại được gần một nửa, vẫn còn nhìn thấy các chữ “Ngày giải phóng thủ đô 30-4”.

Coi hai bức hình, phải đoán là cùng một người chụp! Tức là một người nào đó ở Hà Nội biết tấm biểu ngữ sắp bị tháo gỡ, vội vã lấy máy đi chụp, trước và trong khi đang tháo! Và, cũng người Hà Nội này, đã gửi hình lên mạng lưới làm trò giải trí cho người Việt Nam khắp thế giới!

Phải tự hỏi tại sao người viết tấm biểu ngữ này lại nhầm, đổi Sài Gòn thành ra Hà Nội? Bà con có thể đoán người viết biểu ngữ cố ý chống Cộng, nói “Ngày 30 Tháng Tư chính là người Hà Nội được giải phóng, chứ không phải Sài Gòn.” Nhưng trò chơi chữ này rất nguy hiểm, khó giấu diếm và hình phạt sẽ rất nặng, chắc không ai dám chơi!

Cho nên, có thể giả thiết là người viết tấm biểu ngữ này chẳng còn nhớ ngày 30 Tháng Tư xẩy ra chuyện gì nữa! Lệnh trên bảo: “Ði trương biểu ngữ chào mừng ngày giải phóng 30 Tháng Tư nhé!” Cấp dưới, một bạn trẻ dưới 40, bèn viết đúng theo ý đó, nhưng viết đủ 4 chữ “giải phóng thủ đô.” Vì mấy chữ này nghe nó quen quen!

Nhưng 2 tấm hình được truyền đi là cơ hội cho nhiều người bàn luận. Một nhà báo cho là tấm biểu ngữ đó viết đúng sự thật. Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, chính người dân Hà Nội được giải phóng! Người Hà Nội được giải phóng khỏi một tấn tuồng gian dối! Vì sau ngày 30 Tháng Tư đồng bào miền Bắc bắt đầu thấy được sự thực xã hội miền Nam đã sống như thế nào; bộ mặt gian trá của đảng Cộng Sản càng lộ rõ hơn.

Nói như vậy không phải là coi thường khả năng phán đoán chính trị của bà con miền Bắc. Thật ra, không cần phải chờ đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975 đồng bào ta mới biết cả chế độ Cộng Sản là “Một quả lừa vĩ đại trong lịch sử!”

Nhưng ngày 30 Tháng Tư năm 1975 vẫn đánh dấu một khúc quanh lịch sử, bởi vì sau ngày đó thì rất nhiều sự thật hiện rõ ra, hiện ra một cách tự nhiên, không cần ai xếp đặt cả. Những sự thật đó lớn quá, không thể che giấu được. Chúng khiến cho đảng Cộng Sản mất chủ động, lâm vào thế phải chống đỡ, ngày càng yếu đi.

Cảnh suy yếu của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra chậm chạp, tới nay vẫn chưa kết thúc; nhưng quá trình tàn lụi không có cách nào quay ngược lại được. Ai có thể bảo vệ một cái chủ nghĩa viển vông, không tưởng mà chính tại quê hương của nó người ta đã đem chôn? Ai có thể che đậy những tội ác trồng chất lâu hàng thế kỷ bằng cách cấm người ta nói? Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tình trạng suy nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam bắt đầu, vì môi trường khách quan ở Việt Nam và trên thế giới đã thay đổi mà họ không đủ sức ứng biến mà đối phó với đời sống phức tạp trong thời bình.

Khung cảnh khách quan đã thay đổi như thế nào? Ðất nước hòa bình và thống nhất khiến đảng Cộng Sản không còn sử dụng được các chiêu bài “yêu nước, cứu nước” mà ông Hồ Chí Minh và đồng đảng của ông vẫn sử dụng để khích động dân Việt Nam trong 30 năm trước đó. Nhiều thanh niên tin chiêu bài đó, cho nên chịu chết cho họ củng cố quyền hành. Nói như nhà văn Dương Thu Hương, đảng Cộng Sản Việt Nam đã “khai thác được cả một mỏ vàng ròng” là lòng yêu nước của người Việt Nam. Nhưng sau ngày 30 Tháng Tư 1975, chiêu bài “yêu nước, cứu nước” đó không còn hiệu nghiệm nữa.

Chính Dương Thu Hương, khi vào thăm Sài Gòn lần thứ nhất, đã ngạc nhiên khi thấy trong chế độ “tay sai tư bản Mỹ” ở đó người ta vẫn dịch Lev Tolstoi. Tchekov, Pasternak, những tác giả Nga, nước đứng đầu khối Cộng Sản - trong khi ở miền Bắc tất cả mọi thứ về nước Mỹ đều bị cấm đoán hoặc bị bôi nhọ. Cô cũng thấy những cuốn sách nghiên cứu chủ nghĩa Mác xít của các tác giả Hung, Tiệp được bầy bán trong tiệm sách và ngoài lề đường. Nhà văn đã chạm tay vào, đã được nếm hương vị một thứ mới lạ, là Suy Nghĩ Tự Do. Tất cả những người quen dùng đầu óc để suy nghĩ, quen sống với trái tim rung động, khi từ Bắc vào Nam sau năm 1975 đều trải qua một kinh nghiệm mới. Họ phải cảm thấy cuộc chiến tranh có một mầu sắc khác, một nguyên nhân khác. Cuộc chiến chấm dứt năm 1975 không phải là “Chống Mỹ Cứu Nước” như đảng Cộng Sản vẫn hô hoán. Ðó còn là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Cuộc nội chiến biểu hiện cuộc tranh chấp giữa hai chủ trương quản trị xã hội loài người; hai hệ thống kinh tế, hai trào lưu triết học; hai đường lối liên minh ngoại giao của các dân tộc Á Phi, hoặc theo phe Cộng Sản, hoặc theo khối tư bản. Mối nghi ngờ đã nẩy mầm.

Năm 1975 mở đầu một giai đoạn mới trong cuộc chiến ý thức hệ, đã bắt đầu từ những năm 1930, nổ bùng lên năm 1945 và trở thành đẫm máu nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc từ năm 1960 đến 1975, khi những đoàn bộ đội mở đường phía Tây Trường Sơn tiến vào miền Nam. Sau năm 1975, trên đồng bằng phía Ðông Trường Sơn một dòng lưu chuyển mới chạy từ Nam ra Bắc. Không những nhiều người mang về Bắc các xe gắn máy, radio, tủ lạnh, đồng hồ, có những anh bộ đội chỉ mang về cho con một hình búp bê nhựa rẻ triền; mà trong năm, mười năm sau đó đoàn người Bắc tiến này còn mang theo những mốt quần áo mới, những băng nhạc, sách vở, cách nói năng, nếp sống hàng ngày; họ đem về Bắc cả những tập tục, phong hóa thuần hậu của người miền Nam. Người miền Bắc bắt đầu tập nói giọng miền Nam, nhất là câu: “Nói dzậy mà không phải dzậy!” Các huyền thoại tan rã dần. Nhà văn bắt đầu ý thức mình và dân tộc mình là nạn nhân của một vụ lừa đảo quốc tế.

“Quả bịp vĩ đại của Ðảng” bắt đầu nứt vỡ.

Không phải người dân miền Bắc nào vào Sài Gòn cũng bén nhậy như Dương Thu Hương. Phải đợi thời gian trôi qua, dần dần mọi người đều nhìn thấy những sự thật được phơi bầy. Chiến tranh chấm dứt, đảng Cộng Sản phải đóng vai trò quản lý một quốc gia trong thời bình. Và họ đã thất bại. Thất bại về kinh tế khiến hàng triệu người đói rách thiếu ăn. Những quyết định dại dột về ngoại giao đưa tới 2 cuộc chiến tranh ở Cam Pu Chia và biên giới Trung Quốc làm chết thêm hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam một cách vô ích. Chế độ độc tài chuyên chế khiến hàng triệu người liều mình bỏ nước ra đi, kể cả những người dân đã sống bao nhiêu năm trong chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Xã hội ngày càng bất công, dân oan kêu khóc khắp nước. Những thất bại trên buộc đảng Cộng Sản lộ nguyên hình là một nhóm người không xứng đáng lãnh đạo một quốc gia trong thời đại mới.

Các “thiên đường mù” ở Nga và Ðông Âu tan vỡ năm 1990 là những cái đinh sau cùng đóng trên chiếc quan tài ý thức hệ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản bây giờ chỉ còn là một cái xác không hồn, được nhóm người lãnh đạo sử dụng để “chia quả thực” với nhau, trước khi giải tán. Mà sớm muộn thế nào rồi cũng sẽ giải tán.

Cho nên ngày 30 Tháng Tư năm 1975 đảng Cộng Sản Việt Nam “đại thắng” trên mặt trận quân sự nhưng bắt đầu thua trên tất cả các mặt khác. Nhiều người Việt Nam bây giờ vẫn tranh đấu đòi xây dựng một chế độ dân chủ, đòi cho nước ta được sống tự do, kinh tế thị trường được phát triển và chủ quyền quốc gia được tôn trọng. Họ đang tiếp tục cuộc đấu tranh của những Nhượng Tống, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ, Phan Văn Hùm thời 1945, những người đã bị Cộng Sản sát hại. Ðảng Cộng Sản sẽ phải lùi bước để dân Việt Nam được sống tự do như các dân tộc văn minh khác.

Cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho nước Việt Nam bây giờ cũng chính là một hình thức tiếp tục cuộc chiến đấu của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ phải buông súng ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Nhờ sự hy sinh của các chiến sĩ đó suốt thời chiến, miền Nam Việt Nam tồn tại được cho đến 1975, thay vì bị đảng Cộng Sản nuốt gọn từ 15 năm trước. Mười lăm năm lúc nào cũng bị Cộng Sản phá phách ám sát, phá hoại rồi gây chiến, tổng tấn công! Trong thời gian ngắn ngủi này người dân miền Nam chưa đủ thời giờ xây dựng một chế độ tự do dân chủ như lòng mong muốn. Nhưng cuộc sống ở miền Nam cũng đủ không khí tự do, đủ tinh thần nhân bản. Ðồng bào miền Nam đã bảo vệ được truyền thống đạo lý của tổ tiên, đồng thời biết tập thói quen tôn trọng luật pháp và tôn trọng nhân quyền của văn minh nhân loại. Chính nếp sống thuần hậu đó đã tạo được những nhân lành, những hạt giống chôn lấp dưới bề sâu xã hội miền Nam sau năm 1975. Chúng chỉ chờ ngày gặp mưa thuận gió hòa sẽ nẩy mầm rồi sinh hoa, kết trái. Khi đồng bào miền Bắc tiếp xúc được với nếp sống thuần hậu đó, những luống đất lành đã mở ra tiếp nhận. Nếu nói rằng đồng bào miền Bắc được “giải phóng” nhờ có ngày 30 Tháng Tư, điều này cũng đúng. Còn đối với những chiến sĩ Cộng Hòa đã hy sinh, phải khẳng định: Họ đã không hy sinh vô ích. Chính họ đã bảo vệ những hạt giống lành đó trong suốt những năm chiến tranh, để các thế hệ người Việt mai sau sẽ vun trồng. Nhờ thế, dân tộc Việt Nam sẽ được giải phóng!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thế hệ những người 35 tuổi

Ngô Nhân Dụng

Image
Năm 1922, Phan Châu Trinh viết một lá thư cho Nguyễn Tất Thành, khuyên ông ta nên theo chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như cụ Tây Hồ vẫn cổ võ. Cụ Phan viết, “đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống...” Trong bức thư viết ngày 12 tháng 2, 1922, Phan Châu Trinh khuyên Nguyễn Tất Thành không nên theo đường lối cầu ngoại, vì nếu có thành công, “thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.” Nhưng Nguyễn Tất Thành, sau đổi tên là Hồ Chí Minh, đã chọn Quốc tế Cộng sản, đã chọn Nga Xô và Trung Cộng làm chỗ dựa.


Em bé ngồi trầm tư trên bước đường chạy giặc, năm nay chắc em đã gần 40 tuổi. Năm 1975, các em tuổi đó làm sao biết được trong 35 năm sắp tới mình sẽ sống thế nào? Những em sinh đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975, hôm nay vừa đủ 35 tuổi. Trong 5 người Việt Nam bây giờ, 4 người thuộc lớp 35 tuổi trở xuống. Đó là nước Việt Nam, trong hiện tại và tương lai. Tại một quốc gia bình thường, những người trên dưới 30, 40 tuổi là lực lượng thúc đẩy đất nước vươn lên về đủ các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa. Nếu lớp người tuổi đó có kiến thức cao, có chí phấn đấu, có lòng yêu nước, thì cả dân tộc hưng thịnh. Thế hệ đó gánh trách nhiệm đối với các em nhỏ tuổi hơn mình. Làm sao để những em bé hôm nay mới lên 4, lên 5 không phải mang bộ mặt đăm chiêu, lo lắng như các em cùng tuổi hồi 35 năm trước?

Trong 35 năm nữa kinh tế nươc ta sẽ vượt lên bằng Hàn quốc, bằng Đài Loan bây giờ hay không? Dân ta sẽ được sống tự do hạnh phúc hay không? Lãnh thổ quốc gia có toàn vẹn hay không? Chính thế hệ 20, 40 tuổi hôm nay sẽ phải lo cho chính mình cũng như các lớp đàn em.

Trong lớp tuổi 35 trở xuống hiện nay có nhiều người đang suy nghĩ, lo âu và hành động xây dựng tương lai dân tộc. Phạm Thanh Nghiên, 33 tuổi; Lê Thị Công Nhân, 31 tuổi; Nguyễn Tiến Trung, Ngô Quỳnh,... chưa tới 30. Những bạn trẻ này biết nếu dân tộc Việt Nam còn chưa được tự do, còn tiếp tục chậm tiến so với thế giới chung quanh, thì đến cuối cuộc đời họ người Việt Nam sẽ vẫn còn thua kém.

Thế hệ 35 tuổi chắc đều biết ngày 30 tháng Tư đánh dấu một khúc quanh trong lịch sử. Nhưng họ không mang trong lòng những ám ảnh về cuộc chiến huynh đệ tương tàn gọi là 'tranh chấp quốc cộng' 'mà nhiều người thuộc thế hệ cha anh họ đến nay vẫn chưa quên được. Nhưng khi bắt đầu suy nghĩ về cuộc sống chung quanh mình, về tương lai dân tộc, thì những người 35 tuổi sẽ không tránh khỏi phải đặt ra một số câu hỏi mà các thế hệ cha anh đã tranh luận với nhau, những ý kiến bất đồng gây ra cuộc xung đột đẫm máu giữa những người cùng một giòng giống Việt.

Khi hiểu rõ nguyên nhân gây nên cuộc chiến chấm dứt ngày 30 tháng 4, thì những người ở lớp tuổi 35 sẽ ý thức được là những câu hỏi được đặt ra từ thời 1930, 1945 tới hôm nay vẫn chưa được trả lời thỏa đáng.

Trước đây một thế kỷ, người Việt chỉ quan tâm đến việc đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập. Nhưng nhiều người yêu nước đã đặt ra câu hỏi: 'Chúng ta muốn xây dựng một nước Việt Nam như thế nào, sau khi đánh đuổi thực dân Pháp?' Đầu thế kỷ 20 Phan Bội Châu muốn dùng vũ lực, cầu viện ngoại bang, rồi xây dựng đất nước dưới chế độ quân chủ lập hiến. Sau đó, cụ đổi ý kiến, ủng hộ chế độ dân chủ theo chủ nghĩa Tam Dân và cổ động dân tộc tự cường. Từ đó, mọi người đều đồng ý đó là đường lối tốt nhất. Nhưng sống dân chủ như thế nào? Đây là câu hỏi đã gây ra bao nhiêu mâu thuẫn.

Thời 1930 đã nhiều người ý kiến khác nhau, thời 1945 các mâu thuẫn càng gay gắt khiến cho lịch sử diễn ra những cuộc tương tàn, kéo dài cho tới ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Mâu thuẫn chính yếu là hai ý kiến: Một số người muốn xây dựng nước Việt Nam theo chủ nghĩa Mác Lê nin của cộng sản quốc tế; bên kia là những người khác muốn lấy quốc gia, dân tộc làm trọng tâm, và muốn trong xã hội dân chủ các chủ thuyết chính trị được tôn trọng như nhau. Những tranh chấp từ 1945 đến 1975 là do hai tư tưởng đối chọi đó. Năm 1975, phe Mác xít đã thắng trận. Nhưng câu hỏi căn bản trên vẫn đặt ra, vì nhiều người dân Việt Nam không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Nhất là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Âu châu thì càng nhiều người muốn lên tiếng đặt lại các câu hỏi này.

Ngày nay Đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục hông bỏ tín điều Mác xít; nhưng nhiều bạn trẻ ở lớp tuổi 35 đang đặt câu hỏi: Ngoài chủ nghĩa Mác Lê nin, loài người có cách nào sống với nhau cho tử tế hơn không?

Gần một thế kỷ trước đây, người Việt Nam đã đặt câu hỏi đó rồi. Năm 1922, Phan Châu Trinh đã viết một lá thư cho Nguyễn Tất Thành, khuyên ông ta nên theo chủ trương 'khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh' như cụ vẫn cổ võ. Cụ Tây Hồ viết: 'đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống....' Nhưng lúc đó thì Nguyễn tất Thành vừa mới 'khám phá ra chủ nghĩa Lê Nin' và đã quyết định đi Nga học Stalin. Chính trong bức thư viết ngày 12 tháng Hai năm 1922 này, Phan Châu Trinh đã khuyên Nguyễn Tất Thành không nên theo đường lối cầu ngoại như Phan Bội Châu từng làm, vì, 'Thảng như cái phương pháp của ông Phan (Bội Châu) mà thành công thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.' Nhưng Nguyễn Tất Thành, sau đổi tên là Hồ Chí Minh, đã chọn Quốc tế Cộng sản. Ông đã chọn Nga Xô và Trung Cộng làm chỗ dựa, học các kỹ thuật cướp chính quyền, học chiến lược, chiến thuật, nhận các vũ khí của hai nước đàn anh cộng sản đó. Năm 1975, các đệ tử của ông Hồ đã thành công.

Hậu quả là đến ngày nay, trên cái lưng con ngựa Việt Nam là một Đảng Cộng Sản do ông lập ra. Đảng Cộng Sản vẫn còn chưa chấp nhận tụt xuống khỏi cái lưng dân tộc Việt, chưa chịu thay đổi độc quyền cai trị của họ mặc dù chính dân Nga đã tự cởi bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi. Đảng Cộng Sản vẫn giữ nguyên chủ thuyết của Lê Nin. Vẫn ngăn cấm không cho thông tin tự do, không cho hội họp và bầu cử, tranh cử tự do; vẫn muốn chỉ có một đảng chuyên chế theo một chủ nghĩa lạc hậu lỗi thời.

Trong lúc đó, những người trẻ tuổi đang truyền bá tư tưởng tự do dân chủ, họ theo đuổi những công việc mà Phan Châu Trinh đã làm là 'khai dân trí, chấn dân khí,' chính họ đang bị ngăn cấm.

Cho nên những vấn đề chính trị căn bản đặt ra từ thời 1930, tới giờ vẫn còn là mối bận tâm day dứt của nhiều người trẻ tuổi thuộc thế hệ trên dưới 35 tuổi ở nước ta. Các vụ đấu tranh và đàn áp trong năm 2010 này trong bản chất không khác gì những vụ tranh chấp giữa hai chủ trương xây dựng đất nước khác nhau thời 1930, bùng nổ năm 1945 rồi kéo dài đến 1975. Đó là mâu thuẫn cơ bản của lịch sử nước ta từ 1920 đến 1975.

Khi những mâu thuẫn về chủ trương trị quốc của người Việt Nam lại trùng hợp với mối mâu thuẫn lớn trên thế giới, là cuộc đấu tranh giữa hai khối tư bản và cộng sản quốc tế, thì nước Việt Nam đã không may bị chọn làm bãi chiến trường, dân tộc Việt Nam bị đem làm vật thí nghiệm, cho những cuộc thử thách bom đạn, vũ khí, chiến thuật và kỹ thuật trong cuộc tranh chấp quốc tế đó. Bao nhiêu nước cựu thuộc địa trong thế giới Á Phi đã tránh khỏi vòng lửa đạn này, là nhờ ở nước họ không có một đảng cộng sản như ở nước ta.

Cuộc tranh chấp tư bản, cộng sản trên thế giới đã kết thúc được 20 năm rồi. Loài người đã đồng ý với nhau muốn tiến bộ và hạnh phúc thì phải sống tự do, về chính trị cũng như về kinh tế. Nhưng ở nước ta, Đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục cưỡi trên lưng dân tộc Việt. Mâu thuẫn về phương cách xây dựng đất nước vẫn còn nguyên, mặc dù đã biến dạng. Những bất đồng ý kiến từ thời 1930 đến giờ vẫn còn đó nhưng bây giờ là mâu thuẫn giữa một đảng độc quyền thống trị và nhân dân. Cuộc nội chiến kết thúc năm 1975 còn tiếp tục trong cuộc đấu tranh dai dẳng giữa những người cộng sản cầm quyền và những người dân không đồng ý kiến với họ. Hôm nay, những người như các cô Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, các anh Nguyễn Văn Đài, Điếu Cầy, vân vân, đang vận động tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ và một xã hội công bằng, trong sạch hơn. Họ dùng phương pháp bất bạo động, họ đấu tranh bằng cách phổ biến thông tin cho đồng bào biết thế giới đang thay đổi như thế nào và người Việt Nam nên sống với nhau ra sao. Họ đang theo chủ trương 'khai dân trí, chấn dân chí,' của Phan Tây Hồ. Họ đang bị chế độ cộng sản đàn áp. Khi đứng lên đòi tự do cho dân tộc Việt Nam; những bạn trẻ đó đang tiếp tục cuộc đấu tranh ý thức hệ dưới hình thức mới.

Cuối cùng, nước Việt Nam vẫn phải chọn một câu trả lời cho câu hỏi mà thế hệ 1930 đã đặt ra. Phải dứt khoát giã từ chủ nghĩa Mác xít để dân tộc được hòa mình vào gióng sống của lịch sử loài người. Như một nhà thơ ở Sài Gòn viết: 'Chủ nghĩa chết đi, quê hương vẫn sống!' Phải chọn sống tự do dân chủ thay vì độc tài đảng trị, chọn công bằng xã hội thay vì độc đảng độc quyền. Đó là trách nhiệm của những người Việt Nam thuộc thế hệ 35 tuổi.

--------------------------------------------------------------------------------
CHÚ THÍCH: Những câu trong lá thư của Phan Châu Trinh trích dẫn từ trang 40, sách 'Việt Nam 1920 -1945' của Ngô Văn, xuất bản tại Montreuil, Pháp và tại Texas, Hoa Kỳ, năm 2000.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Bảo Vệ CĐ Mỹ Gốc Việt

Vi Anh
Đối với người Việt không sống được với độc tài CS, phải bỏ nước ra đi, Hoa kỳ là nơi lý tưởng để làm lại cuộc đời. Muốn hay không muốn Hoa kỳ vẫn là đất địa của những người yêu tự do, cái nhà của những người dũng cảm. Nhưng từ ngày Bộ Chánh Trị của Đảng CS Việt Nam ban hành Nghị Quyết 36, với “ý đồ” thần dân hóa người Mỹ gốc Việt ở Mỹ, đại đa số có nguồn gốc và căn cước tỵ nạn CS, chiếm hơn phân nửa tổng số người Việt ở hải ngoại, thì cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Mỹ không yên tĩnh nữa. Người Mỹ gốc Việt chỉ còn một mảnh đất tự do này đây. Người Mỹ gốc Việt không còn một sự chọn lựa nào khác. Chỉ còn có cách đấu tranh sinh tồn, đấu tranh không khoang nhượng, bảo vệ với bất cứ giá nào để bảo vệ cộng đồng sắc tộc Việt ở Mỹ và bảo vệ nước Mỹ trước mưu đồ xích hóa của CS Hà nội.

Ngày Ô Nguyễn minh Triết, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa VN, công du Mỹ là ngày CS Hà nội phát pháo lịnh bắt đầu một chiến dịch tấn công qui mô. Kể cả những ngày Tết thường là ngày người Việt hay kiêng cữ để an hưởng ba ngày xuân nhựt, CS Hà nội cũng không tha, không hưu chiến để yên cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Từ Tết đến giờ, tin Việt Cộng xâm nhập vào vùng trời, vùng đất tự do của người Mỹ gốc Việt coi bộ hơi nhiều.

Thứ nhứt trên trời,Truyền hình của CS Hà nội dùng để “thuần diệt” lối sống của người Việt Quốc gia yêu tự do, dân chủ là lý do người Mỹ gốc Việt phải bỏ xứ ra đi tỵ nạn CS. Như đã biết truyền hình VTV4 trực thuộc Đài Truyền hình trung ương của CS Hà nội lâu nay phát hình trên nước Mỹ, tuyên truyền quốc ngoại lâu nay không ai coi. Bây giờ đổi chiến thuật, CS dùng trực thuộc Đài Truyền Hình Thành Phố Saigon CS gọi là Thành Phố Hồ chí Minh.

Rút kinh nghiệm sự thất bại của đài VTV 4 với chương trình, tin tức, nghị luận nực mùi CS, một ngày chào cớ CS ba lần, dùng toàn “từ CS”, coi miển phí mà chẳng ai coi. CS Hà nội dùng Đài truyền hình TPHCM vì biết rõ đại đa số người Mỹ gốc Việt là dân của VN Cộng Hòa, từ Bến Hải trở vô có lối suy nghĩ, cách hành động, lời nói, lối sống khác với CS Hà nội. Vì lối suy nghĩ, cách hành động, lời nói và lối sống khác với CS Hà nội, nên người Mỹ gốc Việt cảm thấy, chói tai, gai mắt, dị ứng với VTV4. Do vậy CS phải dùng Đài Truyền hình của Saigon. CS không để trực tiếp tuyên truyền trắng trợn như Đài VTV4, mà lồng tuyên truyền qua lời ca, tiếng nhạc, kịch nghệ, phong cảnh dàn dựng v.v. Hình thức tuyên truyền xám này nếu không kinh nghiệm CS, không có kháng thể chống vi trùng CS thì sẽ dễ bị nhiểm độc lắm. Thế hệ hậu duệ của người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS sanh sau Chiến tranh VN, sanh ở Mỹ hay đến Mỹ vào tuổi học trò, ăn học ở Mỹ, hưởng tự do, dân chủ tưởng đâu tự do, dân chủ đương nhiên có, là mặt trận dễ thủng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Và gần đây khi Mỹ chuyển truyền hình từ analog sang digital, CS lại phủ sóng ở vùng Hoa thịnh đốn.

Thứ hai, dưới đất, mới đây CS tổ chức đoàn ngũ hoá sinh viên du học, lập ra hội Lưu Học Snh và Sinh viên VN do Đại sứ CS Hà nội bảo trợ và một cán bộ cao cấp làm Chủ Tịch. để từ đó móc nối biến du học sinh thành đội quân thứ 5 trong công tác trí vận như các bài “hỏa mù quốc tế” trên làn sóng quốc tế và móc nối sinh viên Mỹ gốc Việt tại chỗ.

Từ lâu CS Hà nội xâm nhập, chỉa mũi dùi vào cộng đồng người Mỹ gốc Việt bằng nhiều hình thức, mà hình thức chánh yếu là công tác gián điệp chánh trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Tại thủ đô nước Mỹ, ngay tòa đại sứ của CS Hà nội, theo tập tục ngoại giao được xem là lãnh thổ của CS Hà nội, Tân Đại sứ CS Hà nội mời một số người Mỹ gốc Việt, trong đó có nhà báo. Ngoài miệng thì Tân Đại sứ nói họp báo. Nhưng bên trong y dùng kỹ thuật chánh trị có mặt của một số người Mỹ gốc Việt để tuyên truyền cộng đồng người Việt nghênh đón tân đại sứ. Nhưng cũng có người và nhà báo lén đi, không dám hỏi một câu, mà tường thuật giọng điệu đọc thấy không khác tuyên truyền cho CS vậy.

Little Saigon cũng rất gần cửa ngõ Á châu thứ hai của Mỹ là Los Angeles, nơi có tin CS Hà nội đang vận động đưa Toà Tổng Lãnh sự về đây sau khi đã mở lãnh sự quán ở TB Texas nơi có người Việt định cư đông hạng nhì Mỹ, sau Cali.
Trong khi đó ở vùng cửa ngõ Á châu thứ nhứt, là vùng San Francisco, nơi có tòa Tổng Lãnh sự Việt Cộng được người Mỹ gốc Việt xem là hang ổ của những gián điệp trá hình đội lốt ngoại giao CS, Cơ Quan Điều Tra Liên Bang Hoa kỳ, Tất nhiên là có những hoạt động của cơ quan tình báo, gián điệp của CSVN len lỏi gài cán bộ hoạt động gây rối và phá hoại an ninh trong cộng đồng người Việt tị nạn CS tại Hoa kỳ. Ai biết rõ những hoạt động của cán bộ CS nằm vùng hoặc những người đã được nhà cầm quyền CSVN yêu cầu khuyến dụ, dọa nạt, cưỡng bách, chỉ thị để thi hành bất cứ công tác nào trong lãnh thổ Hoa kỳ, thì liên lạc với các văn phòng FBI, có người nói tiếng Việt. Nguồn tin được tuyệt đối giữ bí mật và bảo vệ đúng luật bảo vệ nguồn tin.

Sau cùng, CS Hà nội tuy có bang giao, giao thương với Mỹ nhưng phải hoạt động trong phạm vi hiệp ước hai bên đã qui định, giải nghĩa chặt chẽ từng chữ, chớ không phải muốn làm gì thì làm ở Mỹ. Hoạt động mua chuộc, móc nối, kết nạp đảng viên CS hay làm lũng đoạn cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt là trái luật. Hoạt động thu thuế ngầm, như thu thuế Hoa kiều ở Chợ lớn khi xưa; ăn cắp tài liệu kinh tế, chánh trị, khoa học kỹ thuật mà luật pháp Mỹ đánh giá là mật hay kín là phạm pháp. Luật pháp Mỹ vẫn xem gia nhập đảng Quốc xã và đảng CS là trái luật nhập tịch Mỹ không khai trước khi vào quốc tịch Mỹ, phát giác ra là bội thệ; gia nhập sau khi thành công dân là trái luật.

Muốn hay không muốn Mỹ là quê hương thứ hai của người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS. Quê hương đất nước dân tộc Mỹ này đã cứu khổn phò nguy, dang tay ra đón, giúp định cư, và đem lại cuộc đời mới, tự do, dân chủ, và phồn thịnh cho người Việt tỵ nạn CS, kể cả ân tứ quyền công dân Mỹ. Nhiệm vụ bảo vệ quê hương là một nhiệm vụ thiêng liêng và luật định đối với công dân một đất nước. Ai thích CS thì cứ về VNCS mà ở với CS, Mỹ không cấm cản. Nhưng làm gián điệp ở Mỹ thì khó mà qua mắt và lưỡi gươm của Thần Công Lý Mỹ.

VI ANH

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

TÔN TRỌNG QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI KHÁC
Bất đồng ý kiến là điều tất nhiên phải có, vì người ta thường nói: chín người mười ý. Vậy mà trong thực tế, nhiều người không chịu chấp nhận thực tế nầy, bắt buộc người khác phải thương như mình, phải ghét như mình, phải đồng quan điểm với mình trong mọi chuyện. Nhiều người tự cho rằng ý kiến của mình bao giờ cũng đúng, quan điểm của mình lúc nào cũng tốt nhất; có người còn tuyệt đối hoá quan điểm của mình và không chấp nhận những quan điểm khác, cho dù đó là quan điểm của ai.

Từ chỗ bất đồng quan điểm, người ta tìm đủ cách phỉ báng, lăng mạ hoặc loại trừ những cá nhân hay tổ chức không cùng quan điểm với mình.

CÁI NHÌN PHIẾN DIỆN

Xưa kia ở Ấn-độ có một ông vua đang lúc nhàn rỗi muốn tìm một trò tiêu khiển, nảy ra một sáng kiến hay:

Vua cho mời năm anh mù từ lúc mới sinh đến sân rồng rồi truyền đem vào một con voi lớn. Năm anh mù nầy chưa hề biết voi là gì. Nhà vua ra lệnh cho họ đến sờ voi một lát rồi mô tả lại hình dáng con vật cho vua và triều thần nghe. Ai mô tả đúng sẽ được trọng thưởng.

Lát sau, vua quay lại hỏi người thứ nhất:

- Nhà ngươi hãy mô tả con voi!

Anh này đắc ý tâu:

- Tâu hoàng thượng, voi là một con vật giống y như cột đình (vì anh sờ trúng chân voi).

Anh thứ hai cãi lại:

- Tâu hoàng thượng, không phải thế, con voi có hình thu ngoằn ngoèo như một khúc rễ cây. Chính hạ thần đã tận tay sờ thấy y chang như vậy (vì anh này sờ trúng cái vòi).

Anh thứ ba lên tiếng:

- Đâu phải, voi giống chiếc quạt lớn (anh sờ trúng tai voi)

Anh thứ tư bác lại:

- Tâu đức vua, cả ba anh kia đều sai bét. Chính hạ thần mới là người biết được sự thật. Nó y như một tảng đá lớn, tròn tròn (vì anh này sờ nhằm cái bụng).

Anh thứ năm chen vào:

- Các anh là những người khoác lác và trả lời theo óc tưởng tượng chứ không dựa vào thực tế. Rồi quay qua đức vua, anh tiếp:

- Thưa hoàng thượng, xưa nay hạ thần cứ tưởng voi là một con vật khổng lồ. Nào ngờ, hôm nay, nhờ công đức của hoàng thượng, hạ thần mới biết được sự thật: voi là một con vật nhỏ bé, phe qua phẩy lại như chiếc chổi cùn (anh này lại sờ trúng khúc đuôi).

Thế rồi năm anh đều cho ý kiến mình là tuyệt đối đúng, và người khác là hoàn toàn sai, không ai chấp nhận ý kiến người khác, nên tranh cãi nhau kịch liệt rồi quay ra đấm đá nhau dữ dội, người thì bị gãy răng, kẻ bị dập mũi, lòi mắt… máu me lai láng trông rất thảm hại. Trong khi đó, nhà vua và đám cận thần ôm bụng cười ngặt nghẽo. (Viết theo truyện cổ Ấn- Độ)

Năm người mù tiếp cận con voi từ năm khía cạnh khác nhau nên có năm ý kiến (năm quan điểm) khác nhau. Con người thường tiếp cận thực tại dưới nhiều góc độ khác nhau nên cũng có những quan điểm khác nhau như vậy.

Nhưng điều đáng tiếc là có lắm người cũng giống như năm anh mù trên đây, cho rằng quan điểm của mình, ý kiến của mình, lập trường của mình là tuyệt đối đúng và không chấp nhận những quan điểm khác. Chẳng những không chấp nhận ý kiến đối lập mà người ta còn triệt hạ nó. Thế là tấn kịch bi hài “sờ voi” vẫn tiếp diễn không ngừng.

Nơi một số người, căn bệnh “sờ voi” nầy hầu như trở thành mãn tính và bất trị. Một khi người ta có một ý kiến, một quan điểm nào đó rồi thì không ai có thể giúp họ nhìn theo quan điểm khác được.


ĐỪNG VỘI TIN VÀO LÝ LUẬN

Chúng ta hãy nghe Giáp và Ất tranh luận:

Giáp lý luận : “Ban sáng, mặt trời ở gần trái đất; ban trưa, mặt trời ở xa; vì vào ban sáng ta thấy mặt trời to, ban trưa, ta thấy mặt trời nhỏ.”

Giáp lý luận rất đúng. Thế nhưng Ất lại không tán thành. Anh chứng minh ngược lại.

Ất nói: “Không đúng. Ban sáng, mặt trời ở xa, vì ta cảm thấy nóng ít; ban trưa mặt trời ở gần, vì ta cảm thấy nóng nhiều. Càng gần lò lửa thì càng nóng, đúng không?”

Hai người đưa ra những luận chứng rất thuyết phục để bảo vệ cho quan điểm của mình, nhưng chẳng có người nào đúng.

Vậy thì đừng vội tin vào lý luận, vì lý luận không nhất thiết đưa người ta đến gần chân lý.

ĐỪNG TUYỆT ĐỐI HOÁ QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH

Đừng bao giờ tuyệt đối hoá quan điểm của mình, tức cho rằng quan điểm của mình là duy nhất đúng; quan điểm của người khác đã xưa, đã lỗi thời, không thích hợp, không đúng. Không ai nắm gọn chân lý trong tay. Như năm người mù sờ voi, mỗi người chỉ đúng về một khía cạnh, về một phương diện. Điều đáng trách là người ta cứ cho rằng mình đúng toàn diện, nên không thể chấp nhận người khác quan điểm cũng đúng (về một khía cạnh nào đó) như mình.

TRƯỚC HẾT, CẦN CHẤP NHẬN QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI KHÁC

Trong một tập thể, trong một cuộc thảo luận, thường có những quan điểm khác nhau. Đó là điều tất nhiên không tránh được (nhưng đó lại là điều đáng mừng)

Điều đáng tiếc là có nhiều người không bao giờ chấp nhận quan điểm của người khác, phản đối người khác kịch liệt khi họ có quan điểm khác mình hay trái ngược với mình.

Thế là vở tuồng ‘mù sờ voi’ không ngừng tiếp diễn khắp nơi trên thế giới trong nhiều lãnh vực khác nhau suốt chiều dài lịch sử loài người!

Hãy nhớ rằng chân lý thì đa diện trong khi tâm trí con người hạn hẹp. Muốn biết rõ một ngôi nhà, cần quan sát nó từ nhiều điểm nhìn khác nhau; muốn luận tội một phạm nhân, quan toà phải nghe lý lẽ từ hai ba phía; muốn biết rõ một sự thật nào đó, chúng ta cũng cần phải xem xét vấn đề dưới nhiều khía cạnh, nhiều quan điểm khác nhau.

Bởi thế, ta rất cần lắng nghe người khác bày tỏ quan điểm của họ để mở rộng nhận thức của mình.

YÊU THÍCH VÀ TÔN TRỌNG QUAN ĐIỂM KHÁC BIỆT

Nếu anh màu đỏ, tôi cũng là màu đỏ như anh, thì sự kết hợp giữa hai người cũng chỉ là màu đỏ, không có gì mới mẻ. Nếu anh màu đỏ nhưng tôi không đồng màu với anh mà là màu trắng, thì sự phối hợp giữa hai người sẽ phát sinh màu hồng, mới mẻ hơn, dịu dàng hơn.

Nếu anh là nốt nhạc mi, tôi cũng là nốt nhạc mi, người bạn thứ ba cũng là nốt mi, thì sự phối hợp giữa ba người khá buồn tẻ. Nhưng nếu anh là nốt mi, tôi là sol, người bạn thứ ba là đô, thì sự phối hợp giữa ba chúng ta sẽ tạo nên một hợp âm vui tươi, sống động.

Sự phối hợp nhiều quan điểm khác nhau sẽ làm cho các tổ chức hoạt động hiệu quả hơn; sự phối hợp giữa hai đảng phái đối lập sẽ làm cho đất nước được dân chủ tiến bộ hơn.

ÁNH SÁNG SẼ LOÉ LÊN TỪ NHỮNG Ý TƯỞNG KHÁC BIỆT


“Du choc des idées, jaillit la lumière” (ngạn ngữ Pháp)

“Từ những ý kiến trái nghịch va chạm nhau, ánh sáng sẽ loé lên”. Hai cục đá va chạm mạnh vào nhau, lửa loé lên. Hai ý tưởng trái nghịch va chạm nhau, sẽ làm phát sinh sự thật, phát sinh ánh sáng.

Tôi đưa ra một ý kiến, anh đưa ra một ý kiến trái nghịch tôi, thế rồi cả hai ý kiến được dung hoà và nảy sinh ý kiến thứ ba tốt hơn cả hai ý kiến trước.

Một cuộc thảo luận không có những ý kiến trái nghịch là thảo luận một chiều, nghèo nàn, vô bổ và có thể đưa đến những kết luận sai lầm. Một cuộc thảo luận đa chiều, bao gồm nhiều ý kiến trái nghịch sẽ đem lại một kết luận đúng đắn, một giải pháp tốt.

CẦN CÁI NHÌN TỔNG HỢP

Khi nhìn một đối tượng nào, chúng ta thường chỉ đứng ở một vị trí, một góc độ nào đó để nhìn, nên chúng ta thường chỉ thấy được một mặt, một khía cạnh nào đó của đối tượng mà thôi. Vì thế, cái nhìn của chúng ta thường có tính cách phiến diện, một mặt, một chiều. Trong khi đó, đối tượng ta nhìn thì đa diện, muôn hình muôn vẻ.

Nếu chúng ta chỉ nhìn mặt sau của một ngôi nhà rồi lên tiếng bình phẩm về giá trị của ngôi nhà đó, chúng ta sẽ phạm phải sai lầm tai hại. Cần phải nhìn đủ tứ phía, rồi nhìn từ trên xuống, quan sát bên ngoài, xem xét bên trong… chúng ta mới có thể đưa ra một nhận định xác đáng về giá trị của ngôi nhà đó.

Đứng trước một sự vật, mỗi người có một hướng nhìn khác nhau, nên thấy được những mặt khác nhau. Đứng trước một vấn đề, mỗi người có một quan điểm khác nhau, nên có những nhận định khác nhau.

Vì thế, đừng vội cho rằng quan điểm của mình thì đúng còn quan điểm của bạn thì sai.

Phê bình, công kích người khác khi họ có một hướng nhìn, một quan điểm khác với hướng nhìn, quan điểm của mình thì thật là chủ quan, thiếu sáng suốt và thiếu óc khoa học.

Tốt hơn, sau khi đã quan sát một đối tượng, một vấn đề dưới góc độ này, dưới quan điểm này, chúng ta hãy đứng sang những vị trí khác, những quan điểm khác để nhìn đối tượng theo những chiều hướng khác.

Biết phối hợp những hướng nhìn khác nhau, nhiều ý kiến trái ngược, nhiều quan điểm đối lập… sẽ giúp chúng ta đến gần sự thật hơn và nhất là khỏi phải xung khắc, bất hoà với nhau vì bất đồng quan điểm.

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Lằn Ranh Quốc Cộng Cần Ðược Tô Ðậm Hơn

Sơn Hà
Trên các phương tiện truyền thông, bỗng có những người tránh nói chuyện chống cộng. Càng ngày, có thêm người Việt ở hải ngoại tỏ ra ngại ngùng khi nói đến những chữ lằn ranh quốc cộng. Ðã vậy, họ còn cùng với tập đoàn cộng sản Hà Nội, hò hát đong đưa, đòi "xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, hướng đến tương lai...". Một thứ ca kệ lả lướt, bay bổng nhẹ nhàng như tiếng lá thu rơi, như đêm trăng thanh gió mát! Nó như một thứ tà thuật thôi miên, du "Việt kiều" vào chốn mê muội, đem tiền về ăn chơi, du hí,... gọi là góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội, để quên đi cái căn gốc người Việt Nam tỵ nạn cộng sản; quên mất bổn phận đối với tổ quốc Việt Nam! Trong khi đó, rất nhiều người dân Việt Nam ở trong nước thì tối mặt tối mày với cuộc sống cơ cực, chẳng còn biết thế nào là bảo vệ quốc gia, thế nào là tiếp tay với bọn gian tà cộng sản tàn phá đất nước.

Phải chăng công việc chống cộng sản không còn cần thiết nữa? Phải chăng đảng cộng sản ngày nay bỗng trở thành những người tử tế, yêu thương hết thảy mọi người? Những câu hỏi này tự nó trở thành câu trả lời cho mỗi người.

Dù sao, từ phía đảng cộng sản nắm quyền cai trị, thường xuyên tung ra các đợt tuyên truyền cùng với đám tay sai lên gân cổ rằng đảng cộng sản ngày nay đã cởi mở và không còn gian ác như ngày xưa nữa. Phía bên kia, người ta vẫn còn tin rằng bản chất của đảng cộng sản là độc ác, gian tà,... từ ngày đầu mới thành lập cho đến ngày hôm nay. Họ vẫn lên án bọn cộng sản cầm quyền đang bóc lột nhân dân, tàn phá con người và xã hội, bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Ðiều ấy hiển nhiên rằng, trong xã hội Việt Nam có hai khối người, mang hai khuynh hướng đối nghịch nhau rõ rệt: một bên là thiểu số theo cộng sản dùng bạo lực khống chế bên kia là đại đa số nhân dân là những người chống cộng sản. Dù nhìn từ góc cạnh trong nước hay ngoài nước, hai phe ấy là: cộng sản và quốc gia. Chính giữa là lằn ranh. Lằn ranh này không phải chỉ để phân chia đất đứng của hai phe. Nó là ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng; giữa chánh trực và gian tà; giữa thiện và ác!

Nhiều thế hệ Việt Nam đã sống trong từng thời kỳ đảng cộng sản cai trị nước Việt Nam , đã chứng kiến những cảnh tượng đảng cộng sản tiêu diệt đối thủ bằng những phương tiện rất dã man. Các chứng tích được ghi trong sách và tài liệu phim ảnh, được xác nhận bởi nhiều nhân chứng và vật chứng qua các cuộc tiêu diệt những người bị xem là tư sản, tiểu tư sản và trí thức Việt Nam . Các cuộc tiêu diệt này được lồng dưới những danh từ đẹp đẽ như "cải tạo nông nghiệp, cải cách điền địa, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh", đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc,... rồi cho đến các cuộc cuồng sát năm 1962, Tết Mậu Thân 1968, 1972, 1975,… xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Mục tiêu của đảng cộng sản là chiếm cả nước để đưa Việt Nam vào quỹ đạo cộng sản quốc tế.

Từ 80 năm qua, Cộng Sản Trước Sau Vẫn Tàn Ác
Vào giai đoạn ban đầu của đảng cộng sản, tài liệu "Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp tại Miền Bắc" của giáo sư Vũ Quý Kỳ, trích lời một hồi chánh viên tên Nguyễn Văn Thân, Kỹ sư Thủy Lợi, thuộc Bộ Thủy Lợi Bắc Việt, trước kia đã tham gia cải cách ruộng đất tại Xóm Chuối tỉnh Ninh Bình, tóm tắt quan niệm chiến lược của Việt cộng (VC) như sau:

"Theo tài liệu của Ðại hội Ðảng chuẩn bị cho cải cách ruộng đất thì việc đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nông dân đã được đặt ra ngay từ khi thành lập Ðảng Cộng Sản Việt Nam . Họ nhận xét rằng từ 90% đến 95% dân chúng Việt Nam là nông gia chuyên nghiệp, và trong số này thì chỉ có khoảng 5% là địa chủ phú nông, còn đa số đều là kẻ làm thuê, làm mướn, tá canh, tá điền; do đó, nếu muốn làm cách mạng xã hội, họ phải lôi cuốn được khối đa số đó, phải thỏa mãn khối đa số đó bằng quyền lợi để sau này nắm chặt khối đa số đó bằng sắt máu...".
...
"Chiến lược là toàn bộ một kế hoạch nhằm vận dụng sức mạnh căn bản để đánh trúng địch bằng những đòn chí tử cho tới khi nó gục ngã...".

Từ nông thôn cho đến thành thị, trước tiên, những người có tài sản đều là kẻ thù của đảng cộng sản. Có vốn trí thức cũng bị xem là tư sản trí thức và bị xem kẻ thù giai cấp. Ðảng cộng sản thường trực tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp để tiêu diệt kẻ thù. Ở bất cứ nơi nào, cộng sản đánh những người trí thức bằng "những đòn chí tử cho tới khi gục ngã".

Bởi vì, những người không theo cộng sản là kẻ thù của đảng và phải bị tiêu diệt!

Cũng vào giai đoạn đầu, khi đảng cộng sản mới thành lập và hoạt động ở Việt Nam , chiến dịch tiêu thổ kháng chiến để làm gì? Có phải để Tây và những người theo Tây không có cơ sở đặt chân, hay đó chỉ là cái cớ để đảng cộng sản tiêu diệt sức đề kháng của dân chúng. Trong hồi ký Chứng Từ của một Giám Mục, của Ðức Giám Mục Lê Ðắc Trọng mới được tái bản tại hải ngoại, ÐGM Lê Ðắc Trọng viết: "Họ phát động chiến tranh chống Pháp, và để thế giới và các giới có cảm tình, dễ đồng tình hơn. Cuộc chiến được khoác danh nghĩa 'kháng chiến'".

"...Tôi biết được điều ấy nhờ vào các tài liệu mà em rể tôi là Ban cho xem. Tôi biết một nửa đó là thế nào. Ðây, các nhà giàu, tư sản ở thành phố, họ phải bỏ nhà cửa, đồ đạt, tay không mà chạy. Thế là họ mất một nửa (họ đây lại là đối tượng cuộc chiến đấu). Thế rồi, họ ra ngoài. Ta không để họ yên một chỗ, họ mang vàng bạc, tiền của đi. Thực ra cũng khó mà mang đi hết, vì phải đi vội vàng, cấp bách để tránh đạn, và có người chắc chắn khâu tiền vào áo ba-đờ-suy. Rồi tủ, bàn ghế, các đồ quý, có người cố gắng đem đi. Bây giờ ta đưa họ đến chỗ an toàn. Tiền tiêu cũng như núi lở, rồi hết, đồ đạt cồng kềnh phải bán đi. Thế là chẳng mấy chốc họ trắng tay...

...Cái "chiến lược vườn không nhà trống" không phải chỉ để đối phương không còn chỗ đặt chân, mà nhất là dân cư của vườn của nhà không còn gì!" (trang 307)

Ngay từ khởi đầu, đảng cộng sản đã vạch rõ ta và thù. Ðối với đảng cộng sản, những ai theo đảng cộng sản là ta, còn lại là kẻ thù, bất kể là nông dân, trí thức, giàu hay nghèo. Mà đã là kẻ thù của đảng thì đảng làm cho trắng tay và không còn sức đề kháng.

Trong tài liệu "Trăm Hoa Ðua Nở Trên Ðất Bắc" của cụ Hoàng Văn Chí có kể về chuyện Thượng Thư Lý Tư của Tần Thủy Hoàng làm sớ tâu rằng: "Từ trước tới nay, thiên hạ sống trong cảnh phân chia, nên tư tưởng bị hỗn loạn… Ngày nay Bệ hạ đã thống nhất sơn hà mà vẫn còn nhiều người ngang nhiên mở trường dạy học, mang ý kiến riêng của mình ra chê bai luật pháp và chính sách của triều đình… Nếu Bệ hạ không mau ngăn cấm thì kỷ cương sẽ sụp đổ từ trên xuống dưới và đảng phái sẽ mọc từ dưới lên trên".

Theo cụ Hoàng Văn Chí, khi cộng sản chiếm trọn nước Trung Hoa thì Mao Trạch Ðông đã rập khuôn Tần Thủy Hoàng tiến hành cuộc "cách mạng văn hóa", đốt sách, bắt giam trí thức vì sợ giới trí thức này đòi tự do báo chí, đòi tự do ngôn luận và cho mọc lên những thứ "cỏ độc" trong dân gian. Rồi "cải cách ruộng đất" và "cải tạo công thương nghiệp" để chiếm đất ruộng và tài sản của nhân dân. Hồ Chí Minh và cộng sản Việt Nam bắt chước rập khuôn Mao Trạch Ðông, cũng dùng những thủ đoạn gian tà, cũng "cải cách ruộng đất", cũng "cách mạng văn hóa", để cướp nhà cướp đất của nhân dân, để tiêu diệt tầng lớp tư bản và trí thức Việt Nam. Bọn cộng sản dùng bạo lực để ăn cướp và đàn áp những người không theo cộng sản.

Thật vậy, đảng cộng sản không chấp nhận bất cứ ai xây trường học, in sách; không ai được quyền lập đảng, lập hội. Chỉ có đảng cộng sản mới có quyền làm báo, in báo, kiểm soát truyền thông báo chí. Chỉ có đảng cộng sản mới có quyền xây trường học, lập ra mặt trận và lập ra các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản. Vì đảng cộng sản không muốn thấy hoa dân chủ mọc "từ dưới lên trên", sẽ làm "sụp đổ từ trên xuống dưới".

Trải gần 80 năm qua, biết bao nhiêu cuộc truy quét cũng với mục tiêu duy nhất là làm cho nhân dân trắng tay, không còn sức đề kháng. Ai không theo đảng cộng sản thì vẫn là kẻ thù của đảng. Không thay đổi!

Cuối năm 2007, trong dịp sinh hoạt với Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng VC, chủ tịch VC Nguyễn Minh Triết nói rằng: "Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp gì đó thì không có chuyện đó, bỏ cái đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát". Tập đoàn cầm quyền VC khi lập ra Hiến Pháp, ghi điều 4 vào đó để bảo đảm độc quyền cai trị đất nước. Cho nên, nếu chấp nhận dân chủ thì giống như đảng tự sát. Ðến nay, bản chất của cộng sản vẫn còn y nguyên, vừa được chủ tịch nước VC khẳng định như thế.

Gần 80 năm qua, đảng cộng sản vẫn tiếp tục theo đuổi con đường độc tài và độc quyền cai trị đất nước Việt Nam , không hề thay đổi. Ðầu năm 2010, trong "Ðề cương tuyên truyền Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam", đảng cộng sản vẫn còn xác quyết con đường này:

"Là Ðảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua...

- Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không đa nguyên, đa đảng..."

Còn Cộng Sản Là Còn Oan Khiên
Chuyện xảy ra mới đây không quá ba tháng, là những cuộc đàn áp tôn giáo tại nhiều nơi trên cả nước: tại Ðồng Chiêm, Thái Hà, Loan Lý, Lâm Ðồng, Long An, Cần Thơ, Quảng Nam , Quảng Ngãi,... Ðảng cộng sản thuê mướn bọn côn đồ ném bùn và cứt trâu vào những nhà tu và Phật tử ở Chùa Bát Nhã tại Lâm Ðồng. Trói gô, đánh đập, bắt đem đi các tu sinh với những lý do vu vơ. Ở các giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa cũng là cảnh dựng đứng để vu oan giá họa cho giáo dân để bắt nhốt tù. Ở Ðồng Chiêm, cộng sản đem công an và chó săn đến bao vây và dùng chất nổ phá sập Thánh Giá trên Núi Thờ! Ở Long An, An Xuyên, công an VC xông vào nhà tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tịch thu ảnh thờ Ðức Huỳnh Giáo Chủ, tịch thu băng thu âm bài giảng của Ðức Thầy. Ở Quảng Nam tín đồ của đạo Cao Ðài cũng bị giải tán trong lúc đang cử hành cuộc lễ. Ở Kontum, và các nơi khác ở cao nguyên, VC đã giật sập nhà nguyện và giải tán bà con theo đạo Tin Lành và bắt giam các giáo sĩ và kết tội họ làm gián điệp cho đế quốc Mỹ. VC không cho nhân dân Việt Nam có quyền tự do tôn giáo.

Kể tội ác của cộng sản sao lại bảo là kể chuyện cũ? Chuyện vẫn còn đang xảy ra hôm nay thì sao bảo là chuyện cũ được? Ðảng cộng sản Việt Nam mới vừa tống giam hàng loạt những người bất đồng chính kiến dù chỉ hành động ôn hòa. Những người còn rất trẻ, không thù hận cá nhân, không ân oán với đảng cộng sản như luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà giáo nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, các luật sư, các nhà trí thức Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Lê Trần Luật, Lê Thăng Long, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, ... các nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phạm Toàn,... Họ là những người ôn hòa đòi hỏi nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam tôn trọng quyền làm người của nhân dân Việt Nam . Họ bày tỏ lòng yêu nước và không chấp nhận hành động bán nước của đảng cộng sản, dâng cho Trung cộng những phần lãnh thổ Việt Nam ; đã bị đảng cộng sản trả thù bằng cách bắt giam. Các vị lãnh đạo các tôn giáo như linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Ðộ và vô số các nhà tu hành còn ở trong nhà tù cộng sản hay bị cầm tù tại gia cho đến ngày hôm nay, với tội danh "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị".

Hành động bạo ngược của bọn cộng sản bất lương đang cầm quyền tại Việt Nam vẫn diễn ra mỗi ngày. Ðảng cộng sản là mầm móng của bao tang tóc, lầm than ở Việt Nam . Không ai có thể chờ đợi ở bọn bất lương này trở thành người tử tế. Bởi vì ai không theo đảng cộng sản sẽ bị xem là kẻ thù và lãnh những đòn thù "chí tử cho tới khi gục ngã".

Trong tài liệu "Nhận Ðịnh Về Những Sai Lầm Tai Hại Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Ðối Với Dân Tộc Và Phật Giáo Việt Nam" của Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, có đoạn viết rằng:

Một người ở xã Vũ Ðoài ra chùa, xin tôi mấy chữ Hán về treo trước bàn thờ tổ tiên trong ba ngày tết. Tôi nghĩ treo trước bàn thờ tổ tiên thì không có chữ nào hợp tình hợp cảnh bằng bốn chữ xưa nay rất thông dụng, đó là bốn chữ ... Ẩm Thủy Tư Nguyên, nghĩa là uống nước nhớ nguồn. Vậy mà công an đến hỏi người chủ nhà những chữ gì, vì anh ta không biết chữ Hán. Sau khi nghe chủ nhà giải nghĩa, anh công an nói : "Coi chừng hắn (tức là tôi) định nói chính trị trong đó đấy !". Sống trong một xã hội luôn luôn bị rình rập và nghi kỵ như vậy, đến mấy chữ uống nước nhớ nguồn mà cũng nghi là chính trị, cũng như tôi bị quản thúc lưu đày đã mười năm nay (1982-1992) chỉ vì cái tội "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị", thì tôi thiết nghĩ dù có ngồi trên đống vàng cũng chẳng cảm thấy hạnh phúc. Bởi vậy bất cứ lúc nào có cơ hội là người Việt Nam sẵn sàng bỏ nước ra đi, chứ không phải vì nguyên do nghèo khó, kinh tế thiếu thốn đâu. Tôi xin kể một câu truyện cổ để chứng minh. Ðức Khổng Tử sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc ở ngoài đồng, nghe thảm thiết lắm. Ngài nói với đoàn tùy tùng : "Người đàn bà kia hình như trong nhà có trùng tang". Rồi sai Tử cống đến hỏi. Người đàn bà nói : "Ở đây lắm hổ (cọp), bố chồng tôi chết vì hổ, chồng tôi chết vì hổ, bây giờ đến lượt con tôi cũng lại chết vì hổ. Thảm lắm ông ơi !". Tử cống bảo : "Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác ?". Người đàn bà trả lời : "Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc như ở các nơi khác".

Tử cống đem chuyện thưa lại với đức Khổng Tử. Ngài nói : "Các ngươi nhớ đấy: chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ !".

Cũng thế, hàng triệu người Việt Nam ngày nay bỏ nước ra đi là vì sợ một chế độ chính trị hà khắc chứ không phải vì sợ đói khổ, như tôi đã trình bày ở trên, có những người ăn đến mấy đời không hết của mà vẫn bỏ nước ra đi và có chết ngoài biển cũng vui lòng, như vậy chứng tỏ họ sợ chính trị hà khắc còn hơn cả sợ chết, cho nên ngài Khổng Tử mới nói "chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ" là thế."

Ðến ngày hôm nay, đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ vẫn còn bị giam giữ, không cho ra khỏi Thanh Minh Thiền Viện ở Sài Gòn và bị buộc tội "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị". Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ là Viện trưởng Viện Hóa Ðạo của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Vì không cho đảng cộng sản kiểm soát nên Giáo hội này đã bị cộng sản Việt Nam cấm hoạt động. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ đã liệt chế độ cộng sản vào thứ "Chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ" và cộng sản đã xem những vị lãnh đạo bất cứ tôn giáo nào, đều là những người "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị", chống lại đảng cộng sản.

Linh mục Nguyễn Văn Lý đòi tự do tôn giáo đã bị bắt và đưa ra tòa cộng sản với bản án nặng nề vì Ngài quyết tâm "Tự Do hay là Chết". Chính ngay tại phiên tòa, linh mục Nguyễn Văn Lý tố cáo bọn cộng sản gian tà và lên án tòa án căng-ku-ru vi phạm công pháp quốc tế. Công an bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý rồi kéo đi trước ống kính của các nhà báo thế giới. Hình ảnh này được phổ biến khắp thế giới. Linh mục Nguyễn Văn Lý bị cộng sản trả thù bằng khủng bố tinh thần và đầy đọa thân xác đói lạnh, khiến ông phải bị ba lần tai biến mạnh máu não tưởng đã bỏ mạng trong nhà tù. Mới đây, cộng sản đã yêu cầu gia đình ông tạm thời đem về để chữa bệnh trong vòng một năm.

Lằn ranh rõ rệt, một bên là cộng sản gian tà, một bên là quốc gia không chấp nhận cộng sản. Không theo cộng sản thì trở thành kẻ thù của đảng, không có ngoại lệ!

Còn Việt cộng Là Còn Khốn Khổ
Việt cộng còn cai trị Việt Nam ngày nào thì nhân dân còn khốn khổ ngày đó. Chế độ cộng sản Việt Nam ở ngôi vị thống trị trở thành cơ hội tốt nhất cho Trung cộng xâm chiếm đất nước Việt Nam . Sự việc cộng sản Bắc Việt đứng về phe Trung cộng để cùng xâm lăng và chiếm trọn cả nước Việt Nam , mở ra những trang sử đen tối nhất của dân tộc Việt Nam. Việt cộng dâng một phần đất ở biên giới, những vùng hải đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa và biển Ðông. Việt cộng mời Trung cộng sang Việt Nam khai thác bô-xít và chiếm hữu đất đai xem như đất của Tàu. Trung cộng ngang nhiên ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên vùng biển của mình. Ngày nay đã quá rõ ràng: Việt cộng ở ngôi vị cai trị đang rước Trung cộng về dày xéo đất nước Việt Nam.

Chúng ta vẫn còn may mắn. Bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có gần 3 triệu người Việt sống rải rác khắp nơi trên hoàn cầu, tiếp thu nhiều tinh hoa của thế giới làm thành tiềm năng của dân tộc Việt Nam. Tập thể người Việt hải ngoại là những người không chấp nhận cộng sản, không những tránh được hiểm họa bị tàn phá bởi chế độ mà còn là cơ hội duy trì văn hóa truyền thống của tổ tiên, trở thành tinh hoa của dân tộc. Chính tập thể này hàng năm gửi về đất nước 9, 10 tỷ Ðô La, giúp thân nhân sống còn. VC cũng lợi dụng đồng tiền này để kéo dài sự thống trị của chế độ. Một mặt VC ra sức lủng đoạn, tạo nhiều mâu thuẫn trong cộng đồng để tiêu diệt tiềm năng chống đối. Từ khi các phương tiện truyền thông điện tử được phát triển, đảng cộng sản mất dần sự kiểm soát và nhìn thấy "cỏ độc" mọc lan từ hải ngoại vào trong nước, rồi sẽ kéo đảng "sụp đổ từ trên xuống dưới".

Ngày nay, ai muốn đong đưa với cộng sản, đòi "xóa bỏ hận thù, xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, quên quá khứ, hướng đến tương lai,...", chỉ là hành động mỵ dân, tiếp tay với kẻ thù cộng sản gian tà hãm hại đồng bào ruột thịt. Ngày nay, ai còn à ới ru ngủ người ta bằng những thủ thuật thôi miên, dụ người theo những chương trình "về nguồn, nối vòng tay lớn, xây dựng quê hương,...", là góp phần nuôi dưỡng bọn gian tà xã hội chủ nghĩa. Những ai cố tình làm hại tập thể người Việt hải ngoại thì chẳng khác nào tiếp tay với kẻ thù, phá hoại gia tài cuối cùng của dân tộc Việt Nam .

Giữ gìn tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản là điều kiện sinh tử của dân tộc. Chống cộng sản là việc làm chính đáng, để ghi ơn những người đã hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản và để sống còn Yểm trợ những người tiếp tục chống cộng sản là điều cần thiết để giúp họ vững tinh thần theo đuổi mục đích cao thượng, và đáp ứng khát vọng chính đáng của toàn dân: giành lại quyền làm người Việt Nam trên đất nước Việt Nam.

Chúng ta hãy đòi lại cho lịch sử những điều chính đáng ấy. Những ai theo cộng sản thì hãy đứng hẳn về phía bên kia. Những ai bỏ cộng sản về với quốc gia thì hãy mạnh dạn bước qua bên này. Không ai có thể nhập nhằng đứng giữa hoặc đòi xóa bỏ lằn ranh!

Dù ở nơi nào trên thế giới, với bất cứ phương tiện nào, chúng ta phải kiên trì và tiếp tục phơi bày cho cả thế giới biết về tội ác của cộng sản. Trên mặt trận truyền thông và quốc tế vận, chúng ta phải làm chủ tình hình để ngăn chặn móng vuốt của cộng sản đang cố vươn đến vùng đất tự do, nơi chúng ta đang cư ngụ. Làm được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ tiếp tay hữu hiệu cho các chiến sĩ chống cộng sản đang hoạt động trong nước. Chúng ta cần phải tô đậm lằn ranh phân biệt thật rõ đâu là gian tà, đâu là chính nghĩa. Người Việt tỵ nạn cộng sản nhất quyết cô lập và đẩy bọn cộng sản vào xó tối lịch sử, để cùng với toàn dân vĩnh viễn tái lập hòa bình trên quê hương Việt Nam .

Sơn Hà

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Tại Sao Người Mỹ Lại Chiến Đấu Ở Việt-Nam?

GS MARK MOYAR
(Lời Việt Báo. Cuộc Hội Luận Kỷ Niệm 35 Năm Lưu Vong đã thực hiện hôm Thứ Tư 28-4-2010 tại Westminster, Calif. Sau đây là bài thuyết trình của Giáo sư Mark Moyar đã được dịch ra Việt ngữ. Giáo sư Tiến sĩ Mark Moyar là giáo sư bộ môn An Ninh Quốc Gia tại đại học quân sự Marine Corps University, là chuyên gia về chính sách ngoại giao và lịch sử quân sự. Ông cũng là tác giả nhiều sách về Chiến Tranh VN.)

Đây quả là một vinh-dự và cũng là một niềm vui đối với tôi khi được nói chuyện trước một số đông đảo cử-tọa cựu-chiến-binh, những người đã tham-dự vào cuộc chiến đấu chống lại Cộng-sản ở Việt-Nam trước đây. Tôi tin chắc là phần-đông quý-vị lúc ấy đều có cùng một quyết-tâm là chống lại cộng-sản và đã phải hy-sinh rất nhiều trong khi thực hiện quyết tâm này. Riêng tôi cũng đang theo đuổi một cuộc chiến nhằm trả lại sự-thật cho lịch-sử của Chiến-Tranh Việt-Nam (CTVN).
Cuộc chiến của tôi đang phải đương đầu chống lại những quan-điểm xuyên-tạc về CTVN của một số người Mỹ. Vì trong rất nhiều trường hợp, những người Mỹ này đã đưa ra các quan-điểm hoàn-toàn sai lạc, không khác gì luận-điệu tuyên-truyền của Cộng-sản Việt-Nam. Trong cuộc chiến này, họ không dùng đến súng-đạn mà chỉ xử-dụng sách vở và tài-nguyên của các trường Đại-Học.

Cho nên dù Chiến-Tranh Việt-Nam đã thật-sự chấm dứt hơn 35 năm rồi, đối với chúng tôi nó vẫn còn tiếp-diễn. Dĩ nhiên chúng tôi biết lúc đó quý-vị đã bị bắt buộc phải lìa bỏ quê cha đất tổ. Nhưng đối với chúng tôi CTVN vẫn còn đây khi nhìn vào cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan hiện nay, ở đó những chàng trai-trẻ Hoa-Kỳ, bao gồm cả những chàng thanh-niên mang giòng máu Việt-Nam, đang hăng say tích-cực chiến đấu. Tướng David Petraeus, người đã dẫn đầu cuộc tấn-công Iraq, hiện nay là Tư-lệnh Bộ Chỉ-Huy Trung Ương của quân-đội Hoa-Kỳ, đã viết một luận-án tiến-sĩ về CTVN. Tướng George Casey, một vị Tư-lệnh thâm-niên của quân-đội Hoa-Kỳ tại Iraq từ 2004 đến 2006, là con trai của một sĩ-quan Hoa-Kỳ có nhiều thâm niên quân-vụ nhất đã tử trận tại Việt-Nam. Tướng Stanley McChrystal, hiện-thời là Tư-lệnh của quân-đội Hoa-Kỳ tại Afghanistan, là con của một cựu chiến-binh Hoa-Kỳ trong CTVN, tôi được biết rằng Ông này vẫn ao-ước tìm hiểu thêm về CTVN. Những vị Tư-lệnh quân-đội này đều muốn tìm hiểu để học hỏi từ CTVN, nhằm phát-triển thêm các ưu-điểm và tránh né những lỗi-lầm mà họ đã mắc phải.

Hiện nay hầu hết dân-chúng Mỹ đều tỏ ra nghi-ngờ cái lý do đã thúc đẩy Hoa-Kỳ tấn công Iraq hồi năm 2003. Bởi vì người ta đã không tìm đươc bất cứ một loại vũ-khí giết người tập-thể nào ở Iraq. Mặt khác, hầu hết dân chúng Mỹ đều cho rằng lý-do mà Hoa-Kỳ chiến-đấu tại Afghanistan rất chính-đáng. Bởi vì Afghanistan nuôi-dưỡng các tên khủng-bố đã tham dự vào biến-cố Ngày 11 Tháng 9. Còn đối với CTVN, dư-luận của dân-chúng Hoa-Kỳ lúc đó chia làm đôi. Những người theo Phe Hữu đều tin rằng CTVN là một cuộc chiến cần-thiết và với lý-do rất chính-đáng. Trong khi đó những người Mỹ theo Phe Tả thì cho rằng CTVN là một cuộc chiến không cần-thiết và không chính-đáng. Với tư cách là một người đã nhiều năm nghiên cứu về CTVN, hôm nay tôi muốn trình bầy với quý-vị câu hỏi, là “Thật-sự là có cần thiết và chính đáng để Chính-phủ Hoa-Kỳ phải sát cánh với Chính-phủ Ngô Đình Diệm và những người Việt quốc-gia chống lại Đảng Cộng-Sản Việt-Nam không?

Vì phần đông những người Mỹ và Việt-Nam thuộc các thế-hệ trẻ không hiểu biết nhiều về đề-tài này, nên tôi đề-nghị chúng ta hãy bắt đầu bài tham luận với vài nhận định về Phong-trào quốc-tế Cộng-sản trong hai thập-niên 40 và 50. Sau Thế-Chiến Thứ II, Liên-bang Xô-viết đã trở-thành một trong hai Siêu-Cường của thế-giới. Nhân danh Chủ-nghĩa Marxist – Leninist, Lãnh-tụ Joseph Stalin đã tiêu-diệt hàng chục triệu người dân Nga. Và sau khi Thế-Chiến II chấm dứt, Ông ta còn nuôi tham-vọng bành-trướng ý thức hệ Cộng-sản này trên toàn cầu. Trong giai-đoạn từ giữa thập niên 40 đến những năm cuối thập niên, Ông Stalin bắt đầu ủng-hộ quân-đôi Cộng-sản của Mao-Trạch-Đông trong cuộc nội-chiến ở Trung-Hoa trong khi siêu-cường Hoa-Kỳ ủng-hộ phe Trung-Hoa Quốc-Gia do Tưởng-Giới-Thạch lãnh-đạo. Nhưng đến năm 1947 Hoa-Kỳ lại quyết-định cắt-giảm viện-trợ cho Tưởng-Giới-Thạch vì sự thối-nát và tham-nhũng đang lan tràn trong hàng-ngũ quân-đội quốc-gia. Nhờ vậy mà Cộng-sản Trung-Hoa toàn thắng vào năm 1949.

Dù đã biết có phải giết hại hàng chục triệu mạng người đi nữa, nhưng Mao cũng nhất-định đi theo bước chân của Stalin, là bành-trướng Chủ-Nghĩa Cộng-Sản đến khắp nơi trên thế-giới. Cho nên sau khi củng-cố được quyền-lực tại Trung-quốc Mao liền gởi viện-trợ quân-sự và cố-vấn đến các đảng Cộng-sản Á-Châu, trong đó có đảng Cộng-sản Việt-Nam do Hồ-Chí-Minh lãnh-đạo. Bắt đầu từ năm 1946, đảng Cộng-sản Việt-Nam phát-động cuộc chiến-tranh chống Pháp.

Có rất nhiều sử-liệu của Tây-phương cho rằng Hồ-Chí-Minh quả thực là một người quốc-gia chân-chính, lúc nào cũng đặt quyền-lợi của dân tộc lên trên hết. Họ phủ-nhận quan-điểm của các nhà lãnh-đạo Tây-phương cáo buộc Hồ-Chí-Minh là một phần-tử của Tổ-chức Quốc-Tế Cộng-sản. Các sử-gia này tin rằng nếu Hoa-Kỳ đã thỏa-mãn yêu-cầu của Hồ-Chí-Minh, cho Ông ta lên nắm quyền cai-trị Việt-Nam thì Hồ-Chí-Minh chắc đã trở thành một Tito của Á-Châu rồi và chắc hẳn Ông ta đã không hợp tác với Trung-cộng và Liên-bang Xô-viết.

Luận-điệu này của các sử-gia Tây-phương thật ra xuất-phát từ chính miệng lưỡi của Hồ-Chí-Minh.
Ông Hồ lúc nào cũng lớn tiếng cho rằng mình và các đồng-chí của Ông ta đều là những người quốc-gia chứ không phải là cộng-sản. Tuy nhiên khi điều-tra một cách tỉ-mỉ hơn thì mới biết rõ ràng là những lời tuyên bố này của Hồ-Chí-Minh đều là những lời tuyên-truyền lừa bịp nhằm mục-đích dụ-dỗ những người Việt yêu-nước, nhưng lại “rất-dễ-tin”, gia-nhập vào hàng ngũ của mình đồng thời ngăn-ngừa những phản ứng bất lợi mà Hoa-Kỳ có-thể gây ra cho tổ-chức của mình. Rất tiếc là đã có rất nhiều trí-thức, Việt có, Mỹ có, tin vào những lời lừa bịp này của Hồ-Chí-Minh, mà không hề có một thắc mắc nhỏ nào.

Hồ-Chí-Minh và những cán-bộ trong tổ-chức của Ông ta lúc nào cũng là cộng-sản. Vì họ luôn luôn tin-tưởng triệt-để rằng công-cuộc “Cách-mạng của Quốc-tế Cộng-sản” phải đứng trước mọi quyền-lợi của quốc-gia dân-tộc. Niềm tin này đã được nhắc đi nhắc lại trong sách vở, trong các bài diễn văn, và ngay cả trong hành-động của Ông Hồ. Hồ-Chí-Minh và những người Cộng-sản Việt-Nam khác đồng nhất ủng hộ hành-động của Liên-bang Xô-viết đối với Ông Tito ở Yugoslavia. Họ còn ca-ngợi những người Xô-viết đã thẳng tay diệt-trừ Đảng Cộng-sản Hung-ga-ri khi đảng này đòi độc-lập vào năm 1956. Ông Hồ đã có một thời gian làm việc cho Cộng-sản Quốc-tế, một tổ-chức do người Xô-viết dựng lên để tiến-hành cuộc cách-mạng thế-giới. Ông Hồ còn phục-vụ trong quân-đội của Trung-Hoa Cộng-sản hồi Thế-Chiến Thứ Hai. Cuối cùng, chính quyền mà Ông Hồ dựng lên ở Miền Bắc Việt-Nam giống hệt như các chế-độ cộng-sản đã được thiết lập tại các quốc-gia khác trên thế-giới. Chính-quyền của Ông Hồ cũng rất tích-cực trong việc tiêu-diệt những tổ-chức chính-trị đối-lập và những phần-tử họ gọi là phản-động nằm trong các tầng lớp xã-hội.

Có một điều chắc chắn là Hồ-Chí-Minh đã không thể nào nắm được chính-quyền, nếu Ông ta không có một mối quan hệ mật thiết với đảng Cộng-sản Trung Quốc. Chiến-thắng của Cộng-sản Việt-Nam tại Điện Biên-Phủ vào năm 1954 là nhờ vào sự hiện diện của các cố-vấn quân-sự Tầu, nhờ vào một lực-lượng khổng lồ quân tiếp-vận Trung-cộng, và vô-số các chuyến hàng chở đầy vũ-khí và tiếp-liệu từ Trung-Hoa đến Điện-Biên-Phủ. Sau năm 1954, các cô-vấn Tầu còn giúp đảng Cộng-sản Việt-Nam thiết-lập cơ-cấu của chế-độ và họ đã đóng một vai trò then chốt trong việc tổ chức và thực hiện chương-trình Cải-cách Ruộng-đất tại miền Bắc, giết hại khoảng 32,000 người Việt-Nam. Trung-Cộng còn điều-động bảy sư-đoàn đến miền Bắc vào năm 1965 để giúp đảng Cộng-sản có thể rảnh tay, gởi thêm một số lớn bộ-đội chính-quy vào chiến đấu tại Miền Nam Việt-Nam.
Chính-phủ Hoa-Kỳ bắt đầu can thiệp mạnh mẽ vào Việt-Nam ngay khi Trung-Hoa bị rơi vào tay Cộng-sản. Người Mỹ lo ngại Cộng-sản sẽ bành trướng và Trung-cộng sẽ kiểm soát toàn bộ Á-châu. Tổng-thống Harry S. Truman, và các vị Tổng-thống Mỹ kế tiếp, đều ủng-hộ Lý-Thuyết Domino. Lý-thuyết này cho rằng “Nếu Việt-Nam rơi vào tay Cộng-sản thì những nước Á-Châu khác cũng sẽ bị rơi vào tay Cộng-sản. Trung-Cộng đã hỗ-trợ cho các lực-lượng Cộng-sản phiến-loạn tại Mã-lai, Miến-Điện, và Nam-Dương, cũng như Đông-Dương, và sự sụp-đổ của một quốc-gia sẽ trở thành cái bàn-đạp để Cộng-sản tiến chiếm các quốc-gia lân-cận.”
Ở vào cao-điểm của cuộc chiến giữa Pháp và Cộng-Sản Việt-Nam tại mặt-trận Điện-Biên-Phủ năm 1954, Tổng-Thống Eisenhower hy-vọng có thể ngăn chận không cho Cộng-sản Việt-Nam chiến-thắng vì tin tưởng vào Lý-Thuyết Domino. Ông đã cố gắng lôi kéo Anh-quốc nhập cuộc để giải-cứu Pháp tại Điện-Biên-Phủ. Nhưng khi Anh-quốc từ-chối thì TT Eisenhower quyết-định không can-thiệp nữa. Rốt cuộc Cộng-sản đã thắng. TT Eisenhower phải chọn-lựa giải-pháp chia đôi Việt-Nam, để Cộng-sản cai-trị ở miền Bắc và phe không Cộng-sản ở Miền Nam. Vì TT Eisenhower tin rằng chỉ có chủ-nghĩa quốc-gia mới có thể đương đầu được với Cộng-sản nên Ông muốn hỗ-trợ chính-quyền Nam Việt-Nam, một chính-quyền quốc-gia thuần-túy. Tuy nhiên Tổng-thống Eisenhower không chắc-chắn là mình sẽ có thể tìm được một chính-phủ như ý hay không.

Mặc-dầu guồng máy tuyên-truyền của Cộng-sản và những người Tây-phương cả-tin luôn cho rằng Hoa-Kỳ đã chọn lựa Ngô-Đình-Diệm để lãnh-đạo một chính-phủ mới ở Nam Việt-Nam hồi năm 1954, sự-thật là chính Bảo-Đại đã bổ-nhiệm Ngô-Đình-Diệm vào chức vị Thủ-Tướng chỉ vì uy-tín của Ông Diệm nổi bật trong hàng-ngũ những người quốc-gia. Lúc ấy người Mỹ không biết gì nhiều về Ông Diệm. Nhưng buồn cười là trong số này lại có những người tin rằng Diệm không phải là người thích-hợp cho trọng-trách lãnh-đạo một chính-quyền theo ý của Tổng-thống Eisenhower. Các viên-chức thâm-niên trong Bộ Ngoại-giao, bao gồm cả hai vị Đại-sứ Mỹ tại Nam Việt-Nam đều kịch-liệt phản-đối các biện-pháp cai-tri mà Ông Diệm đã sử-dụng, đặc biệt đối-với các giáo-phái trong cuộc khủng-hoảng 1955. Nhưng Tổng-thống Eisenhower và Ngoại-trưởng Foster Dulles lại cho rằng Ông Diệm là người có một lòng yêu-nước bất khoan nhượng. Nên họ đã đi đến quyết định ủng hộ Ông Diệm nhưng chỉ sau khi Ông ta chiến thắng Mặt-Trận Quốc-gia Thống-Nhất các Giáo-Phái.

Chỉ có bốn năm ngắn ngủi, từ năm 1955 đến năm 1959, mà lực-lượng an-ninh của Nam Việt-Nam đã tiêu-diệt hầu hết những tên cộng-sản nằm vùng được cài lại ở Miền Nam sau ngày ký-kết Hiệp-Định Đình-chiến Geneve 1954. Hà-Nội lo-lắng các cơ-sở cài lại đã bị phá vỡ, nên từ 1959, đã bắt đầu cho xâm-nhập vào Nam hàng ngàn lính du-kích võ-trang. Sau đó, vào năm 1960 họ bắt đầu xúi-giục các cuộc nổi loạn tại nông-thôn Miền-Nam. Quân-đội Việt-Nam Cộng-Hòa đã cắt đứt đường chuyển vận vũ-khi và lương-thực của Cộng-sản Bắc-việt, xuyên qua vùng Phi Quân-Sự ngăn cách hai miền Nam Bắc. Vì thế vào cuối năm 1960 bộ-đội chính-quy Bắc Việt phài xây-dựng những đường tiếp vận mới nằm trong lãnh thổ Lào. Đó chính là Đường Mòn Hồ-Chi-Minh. Năm 1961, nhiệm kỳ của Tổng-thống Eisenhower chấm dứt và Ông đã khuyến cáo Ông John F. Kenndy, vị Tổng-Thống kế-nhiệm, rằng can-thiệp vào Lào là một điều bắt buộc và nên làm, kể cả bằng quân-sự nếu cần. Nếu không thì toàn bộ Viễn Đông sẽ mất vào tay Cộng-sản.

Nhưng TT Kennedy đã không nghe theo lời khuyên của Eisenhower.
Tổng thống Kennedy chủ trương rằng khi Hoa-Kỳ can-thiệp vào nơi nào thì ở đó cần phải có một đồng-minh mạnh, chứ không phải đám quân trói gà không chặt của Lào-quốc. TT Kennedy chủ-trương giữ vững phòng tuyến Nam Việt-Nam, Ông tuyên bố: “Nếu chúng ta cần phải chiến-đấu ở Đông-Nam-Á vậy thì hãy chiến-đấu ngay ở Việt-Nam. Ít ra ở đó người Việt-Nam còn có quyết-tâm và ý-chí chiến đấu để tiêu diệt cộng-sản. Có đến một triệu người tị-nạn Cộng-sản đang ở tại miền Nam. Việt-Nam chính là nơi mà chúng ta muốn.” TT Kennedy lập tức gởi viện-trợ ào-ạt đến Nam Việt-Nam và tăng thêm số lượng cố-vấn từ khoảng gần1.000 lên đến 16.000 người. Kennedy còn nhờ Nga làm áp-lực buộc bộ-đội chính-quy Bắc-Việt phải rút khỏi Lào; đổi lại Hoa-Kỳ sẽ rút hết cố-vấn của họ ra khỏi Lào. Rồi TT Kennedy đơn phương rút hết cố vấn Mỹ ra khỏi Lào. Trong khi đó các lực lượng chính-quy Bắc-Việt vẫn án-binh bất động.

Mặc dù các lực lượng phiến-loạn Cộng-sản vào năm 1960 có gây được một số tiếng vang, nhưng vào năm 1962 Tổng-thống Diệm cũng đã thành-công chấn-chỉnh và làm hồi sinh lại tổ-chức quân lực Việt-Nam Cộng-Hòa; đồng thời ban-hành Quốc-sách Ấp-Chiến-Lược và cũng đạt được nhiều kết-qủa khả quan. Trong khi sưu-tầm tài-liệu để viết cuốn Triumph Forsaken, tôi đã phát-giác một tài liệu của Cộng-sản xác-nhận rằng Chính-phủ Ngô-Đình-Diệm liên-tục chiến thắng cộng-sản trong các năm 1962 và năm 1963, cho đến khi Tổng-Thống Diệm bị ám-sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Cái thảm họa lật đổ chính-quyền của Tổng-Thống Diệm là lỗi lầm của một nhóm nhỏ người Mỹ có thể bắt đầu với ba tác-gỉa viết về Chiến-Tranh Việt-Nam, đó là David Halberstam, Neil Sheehan và Stanley Karnow. Là những ký-gỉa trẻ làm việc ở Sài-gòn vào năm 1963, ba người này đều cho rằng Diệm phải được thay thế vì lý do là đã nặng tay đàn áp đối-lập chính-trị, nhất là khi đối-xử với những người Phật-giáo đối lập. Những ký gỉa này hoàn toàn sai lầm khi nhận định rằng chính-trị của Việt-Nam cũng giống của Hoa-Kỳ. Và vì ba người này đã căn cứ vào những nguồn tin sai lạc do hai gián-điệp Cộng-sản và các lãnh-đạo trong phong-trào Phật-Giáo Đấu-tranh. Sự thật là trong nhóm Phật-giáo chống-đối có rất nhiều cán-bộ Cộng-sản và những nhân-vật thời-cơ. Những người này chủ-trương kéo dài các cuộc biểu-tình và tung ra những lời cáo buộc vô căn-cứ cho đến khi Diệm bị lật đổ. Báo-chí Mỹ đã thuyết-phục được Đại-sứ Hoa-Kỳ Henry Cabot Lodge khiến Ông này phải xúi-dục các tướng lãnh trong quân-đội VNCH đứng ra làm đảo chánh.

Gỉa sử Tổng-Thống Diệm không bị đảo chánh và sát hại, tôi tin rằng hầu hết các thính-gỉa ngồi đây đều đang ngồi ở Việt-Nam ngay lúc này chứ không phải ngồi trên đất Mỹ.
Và chẳng có ai phải đặt câu hỏi là tại sao Hoa-Kỳ phải gởi nửa triệu binh-sĩ sang chiến đấu ở Việt-Nam. Nếu không có cuộc ám-sát phản-phúc và cái hậu-quả thảm-khốc do cuộc đảo-chánh đem lại, thì chắc-chắn Bắc-Việt sẽ không bao gìơ dám leo-thang cuộc chiến một cách vũ-bão giống như họ đã làm, hồi năm 1965 và những năm sau đó. Và chắc cũng không có nhu cầu cấp thiết phải cần đến một số lượng khổng lồ binh-sĩ Hoa-Kỳ. Lý do đơn giản là vì dưới sự lãnh-đạo của TT Diệm, Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa tỏ ra mạnh-mẽ và hữu-hiệu hơn là lúc quân Mỹ bắt đầu vào tham chiến năm 1965.

Tiếp theo sau cuộc lật-đổ TT Diệm, lãnh-đạo miền Nam chẳng làm được gì ngoài việc thanh trừng những viên-chức và sĩ-quan tài giỏi. Guồng máy của chính-phủ chống lại âm-mưu nổi-dậy của Cộng-sản cũng bị sụp-đổ hoàn toàn. Trong năm 1964, sự yếu kém của các chính-phủ mới trong miền Nam và sự nhút nhát của TT Lyndon B. Johnson đã khuyến khích Hà-Nội đi đến quyết định mở cuộc tổng công kích xâm chiếm Miền Nam. Một sư-đoàn Bắc-Việt với trang-bị đầy-đủ đã xâm-nhập vào Miền Nam hồi đầu năm 1965, và đến giữa năm thì tình hình quân-sự đã trở nên nghiêm-trọng đến nỗi Tổng-Thống Lyndon Johnson phải chọn lựa giữa việc gởi quân tác-chiến vào chiến-trường hoặc là để Nam Việt-Nam rơi vào tay Cộng-sản. Vì TT Johnson tin vào Lý-Thuyết Domino nên Ông đã quyết định chọn giải-pháp đem quân vào Nam Việt-Nam.

Có vô-số các giáo-sư và ký-giả lập luận rằng Lý-Thuyết Domino hoàn-toàn sai lầm vào năm 1965. Họ cho rằng cộng sản Tầu và Việt-Nam không có tham vọng nhuộm đỏ toàn bộ các quốc-gia Á-Châu, và các quốc-gia Á-châu khác cũng không muốn người Mỹ can thiệp vào Việt-Nam. Nhưng những tiết-lộ mới đây cho thấy Mao và Hồ-Chí-Minh đã coi việc chiếm-đóng miền Nam sẽ là bàn-đạp để tiến chiếm toàn vùng Đông-Nam-Á. Trong quá trình nghiên-cứu, tôi cũng tìm thấy chứng cớ cụ-thể là các chính-phủ không cộng-sản của các quốc-gia trong vùng, vì lo sợ sự bành-trướng của Cộng-sản, đều muốn Hoa-Kỳ can-thiệp vào Việt-Nam. Rất nhiều chính-phủ trong vùng mong mỏi được Hoa-Kỳ yêu cầu đem quân vào giúp đồng minh. Một số nước như Nam-Hàn, Úc Đại Lợi, và Thái-Lan, đã gởi quân đến tham chiến tại Việt-Nam. Những nước khác như Đài-Loan và Phi-Luật-Tân, có đề-nghị gởi quân nhưng Hoa-Kỳ đã từ chối. Ngoài ra trong năm 1965, lãnh-đạo quân-sự Nam-Dương đã khẩn-khoản yêu-cầu Hoa-Kỳ tấn công mạnh-mẽ Bắc-Việt. Họ tin rằng khi Hoa-Kỳ làm như vậy thì cán cân quyền-lực trong quân-lực Nam-Dương sẽ nghiêng hẳn về phe chống cộng-sản, vào đúng lúc Tổng-Thống Sukarno của Nam-Dương muốn đưa đất-nước vào tay Cộng-sản. Nhờ Hoa-Kỳ cứu-vãn Nam Việt-Nam vào năm 1965, mà các vị tướng lãnh chống Cộng-sản đã tiêu-diệt được toàn bộ Đảng Cộng-sản Nam-Dương vào cuối năm 1965 và dần dần đẩy Tổng-thống Sukarno ra ngoài chính-quyền.

Nhưng thật không may mắn, vì Tổng-Thống Johnson quá mềm yếu, không chịu chấp-nhận một chiến-lược quân-sự mạnh mẽ đã được các tướng lãnh Hoa-Kỳ đề-nghị. Trong số các khuyến cáo tối quan-trọng, TT Johnson từ chối can thiệp vào Lào để chận đứng các hoạt động của Bắc-Việt trên đường mòn Hồ-Chí-Minh. Các tài-liệu của Cộng-sản thời hậu-chiến xác nhận rằng Việt-cộng (MTGPMN) và quân chính-quy Bắc-việt không thể sống-sót ở trong Miền Nam nếu không có tiếp-liệu đến từ đường mòn Hồ-Chí-Minh. Các nguồn tài-liệu của Nga-sô, Bắc-Việt và Hoa-Kỳ đều đồng ý với nhau rằng Hoa-Kỳ chỉ cần từ ba đến năm sư-đoàn là có thể ngăn chặn mọi con đường xâm nhập vào Nam - một số lượng quân quá nhỏ nhoi so với số-lượng quân-đội mà cuối cùng Hoa-Kỳ đã phải gởi đến Việt-Nam.
Mặc dầu các ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ nắm được chính-quyền vào tháng Năm năm 1965 và chấm dứt được các cuộc tranh-giành quyền lực giữa các lãnh-tụ của Nam-Việt-Nam, chính-phủ của Nam-Việt-Nam không thể tìm lại sức mạnh của nó như những năm trước kia cho đến những năm cuối của thập niên 60. Từ 1969 đến 1971, chính-phủ Nam Việt-Nam đã giành lại được quyền kiểm-soát hầu-hết miền quê và quét sạch phiến-loạn Việt-cộng. Vào năm 1972, quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã đẩy lui đợt tấn-công qui-mô của Bắc-Việt vào mùa Phục-sinh với sự trợ-giúp của không-lực Hoa-Kỳ. Nhưng vào lúc đó một số chính-trị-gia thiển-cận của Hoa-Kỳ đã cắt đứt viện-trợ cho Nam Việt-Nam vào đúng lúc mà tình-hình có nhiều hứa-hẹn nhất. Tôi và hàng triệu người Mỹ khác coi đây là một nỗi tủi-nhục khi chính-phủ của chúng tôi đã cắt đứt viện-trợ quân-sự và yểm-trợ không lực cho Nam Việt-Nam trong năm 1974 và 1975. Việc này vi-phạm những gì mà TT Nixon đã hứa hẹn và cũng chính vì thế đã cướp đi cái cơ hội giúp Nam Việt-Nam đẩy lui cuộc tổng tấn công xâm lược của Cộng-sản Bắc-Việt vào năm 1975.

Trong những năm gần đây Việt-Nam đã đi theo nền kinh-tế thị-trường. Vì thế, có một số người Mỹ sáng-giá đã lập-luận rằng việc Việt-Nam đi theo nền kinh-tế tư-bản là một cái “duyên tiền-định” dù đang bị cai-trị bởi cộng-sản. Như vậy cuộc chiến tranh trong những năm của thập niên 1960 rõ rang là không cần thiết. Lập-luận này đã bỏ quên thực tế là chính cuộc chiến-tranh đã làm cho Việt-Nam dễ-dàng lôi cuốn vào nền kinh-tế tư-bản vì chiến tranh Việt-Nam đã ngăn chận cộng-sản chiếm đóng các nước láng-giềng và phá-vỡ liên-minh giữa Trung-Quốc với Việt-Nam.

Lập -luận này cũng quên cả những tội phạm và sự nghèo đói do Cộng-sản Việt-Nam gây ra, và hàng trăm ngàn thường dân cũng đã bị sát-hại bởi chính-quyền Cộng-sản. Cuối cùng, lập-luận này còn bỏ qua tất cả những bất-công xã-hội do chế-độ Cộng-sản hiện thời gây ra. Nếu so với các chính-phủ Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu trước đó thì chế-độ này đàn-áp dân-chúng hơn nhiều và về mặt nhân đạo cũng không thể sánh kịp.
Không phải Hoa-Kỳ cũng không phải Nam Việt-Nam mà chính là Bắc Việt-Nam đã khởi đầu cuộc chiến-tranh không cần thiết này. Người Cộng-sản Bắc-việt đã xâm lăng miền Nam Việt-Nam với mục đích diệt-trừ chủ-nghĩa tư-bản để áp-đặt chủ-nghĩa cộng-sản, một loại ý-thức-hệ phi-nhân. Vào thời đó, họ đã giết hại hàng triêu người. Nam Việt-Nam và Hoa-Kỳ đã hành-động rất chính đáng khi đứng lên chống lại bạo-quyền chuyên-chế. Cho nên hôm nay chúng ta long-trọng vinh-danh nhưng người chiến binh trong cuộc chiến này. Đây là một nghĩa-cử không những hoàn toàn đúng đắn mà còn cao-đẹp nữa.

GS MARK MOYAR

Post Reply