Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Không thể trốn tránh vấn đề di dân lậu

Ngô Nhân Dụng

Nghị Sĩ John McCain đắc cử nghị sĩ lần đầu ở Arizona trong một cuộc bầu cử bổ túc, năm 1988, bây giờ đang tranh cử cho nhiệm kỳ thứ năm. John McCain được tiếng là người trung trực, thẳng tính, không chao đảo. Năm 1982 ra tranh cử dân biểu đơn vị 1 tiểu bang Arizona, ông bị đối thủ chỉ trích là dân “nhảy dù” mới đến đây cư ngụ, không phải là người Arizona thật sự. Ông trả lời rằng gia đình ông mấy đời là sĩ quan Hải Quân, vốn không ở đâu nhất định (ông sanh ở Panama, ra đời trong một căn cứ Hải Quân Mỹ nên vẫn được coi là công dân thứ thiệt). Ông nói, “Trong đời tôi, nơi tôi sống nhiều năm nhất là ở Hà Nội,” nơi ông bị tù ở Hỏa Lò trong 6 năm.

Nghị Sĩ John McCain không phải là người sợ áp lực. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa hiện nay, nhiều người đã chê là ông thay đổi lập trường cố hữu về vấn đề di dân, khi ông tuyên bố ủng hộ đạo luật mà Quốc Hội tiểu bang Arizona mới thông qua, đã được vị thống đốc ký ban hành. Năm 2006, ông McCain đã ủng hộ dự luật cải tổ chính sách di dân mà Tổng Thống George W. Bush đề nghị, mặc dù đa số đảng Cộng Hòa, nhất là trong trong tiểu bang ông, phản đối vì cho là ông Bush “quá dễ dãi” đối với các di dân ngụ cư bất hợp pháp. Năm nay, đạo luật về di dân của tiểu bang Arizona quả thật rất khắt khe, và gây rất nhiều phản ứng chống đối trên toàn quốc mặc dù tới Tháng Bảy này mới thi hành. Chủ Nhật vừa qua, tại Los Angeles có 60,000 người biểu tình phản đối đạo luật của Arizona, tại California có một phong trào tẩy chay tiểu bang láng giềng này.

Ðạo luật mới của Arizona cho cảnh sát viên quyền khám xét giấy tờ của bất cứ người nào bị nghi ngờ là dân ngụ cư bất hợp pháp, nếu mối nghi ngờ đó hợp lý (reasonable suspiscion). Thế nào là “nghi ngờ hợp lý?” Ðó là một từ không có nghĩa rõ ràng. Người này thấy có lý do chính đáng để nghi ngờ, người khác không thấy; ai phải, ai trái, khó lòng phán đoán được. Ðây là một điều luật rất dễ bị lạm dụng, và có thể đưa tới những hành động có tính chất kỳ thị chủng tộc. Xưa kia, một cảnh sát viên thổi còi để xét giấy một lái chiếc xe đắt tiền vì nghi ngờ người đó đã ăn cắp xe có thể chỉ vì đó là một người da đen. Ngày nay, không ai nghĩ tình trạng đó có thể xảy ra nữa, vì tâm lý đa số người Mỹ đã thay đổi về mầu da đen trắng. Nhưng nay mai nếu một cảnh sát viên ở Arizona gọi một người lại để xét giấy, chỉ vì đó là một người da nâu, thì có bị nghi là mang đầu óc phân biệt chủng tộc hay không?

Dân Mỹ rất nhạy cảm về hai vấn đề, nhân phẩm và mầu da. Chính quyền không có quyền cứ hơi nghi ngờ ai là đòi xét giấy tờ tùy thân của người ta, mà không có lý do chính đáng, thí dụ vì một hành vi có thể là phạm pháp. Dân Mỹ đã quen sống suốt đời không bao giờ bị hỏi giấy tờ cả, trừ khi chính cá nhân đó thấy cần thiết, như để chứng minh tên họ, địa chỉ của mình là có thật. Người Mỹ chống các chế độ độc tài chính vì họ vẫn coi việc cảnh sát xét giấy tờ một cách tùy tiện là xúc phạm đến phẩm giá con người. Chỉ trong các nước phát xít, cộng sản độc tài thì mới làm như thế. Cho nên đức Hồng Y Roger Mahony (da trắng), tổng giám mục giáo phận Los Angeles, đã kết án đạo luật mới ở Arizona là “giống như thời Ðức Quốc Xã” (Nazi-like!).

Mối quan tâm thứ nhì của người Mỹ là quyền hành bình đẳng của mọi chủng tộc, mọi mầu da, cũng như mọi tôn giáo, giới tính, hay bất cứ nhãn hiệu nào phân biệt con người. Kỳ thị, tức là phân biệt, là điều người Mỹ nào cũng muốn tránh. Ðiều người ta lo ngại nhất đối với đạo luật mới ở Arizona là nếu có một cảnh sát viên có óc kỳ thị thì ông hay bà ta nhìn người da mầu nào cũng có thể nghi ngờ, đòi xem giấy! Người đó có thể bị tạm câu lưu chỉ vì không mang theo giấy tờ trong mình! Nước Mỹ hiện không có một đạo luật nào bắt buộc công dân phải đem giấy tờ nào trong mình; dù người gốc da vàng, da nâu hay da đen hoặc trắng. Như vậy thì nhiều công dân Mỹ có thể bị bắt oan, bị mất thời giờ, cảm thấy mình bị xúc phạm, mà cảnh sát vẫn làm theo đúng luật! Và những người da mầu sẽ dễ bị nghi ngờ hơn người da trắng, điều này dễ hiểu.

Một đại biểu Quốc Hội tiểu bang Arizona mới lên tiếng báo động về số dân ngụ cư bất hợp pháp đến từ Trung Quốc mỗi ngày một gia tăng, để chứng tỏ rằng đạo luật mới này không nhắm kỳ thị người gốc Mexico. Nhưng, các người dân da vàng nghe thế sẽ thấy lo lắng hơn, vì chính họ có thể sẽ bị nghi ngờ và bị phiền nhiễu vô ích! (Xin chú ý là các du khách và di dân hợp pháp, theo luật, bắt buộc phải mang theo giấy tờ, khác với các công dân Mỹ).

Vậy tại sao Nghị Sĩ John McCain lại ủng hộ một đạo luật có thể gây ra những tai tiếng như vậy? Bởi vì ông đang tranh cử sơ bộ trong đảng Cộng Hòa để được đảng đưa ra tranh cử, mà đối thủ của ông, cựu Dân Biểu J.D. Hayworth đang được các người bảo thủ trong đảng ủng hộ. Ở nước Mỹ, những người hoạt động trong mỗi đảng nắm lá phiếu quyết định ai là người sẽ được đảng đề cử, chứ không phải chỉ được các cấp ủy trong đảng ủng hộ là đủ. Khi đa số những người hoạt động mạnh nhất của đảng nghiêng về phía bảo thủ, các ứng cử viên phải nghiêng theo. Tại tiểu bang Florida, ông Thống Ðốc Charlie Crist thuộc đảng Cộng Hòa nhưng đã bị đối thủ qua mặt trong cuộc vận động bỏ phiếu sơ bộ vì bị đa số bảo thủ chống; ông Crist đã phải rút lui để sẽ ra tranh cử với tính cách độc lập. Tại tiểu bang Connecticutt năm 2006, Nghị Sĩ Joseph Lieberman cũng bị đảng Dân Chủ bỏ rơi như vậy, ông đã tranh cử độc lập và đã thắng. Chắc chắn Nghị Sĩ John McCain không muốn lâm vào tình trạng của ông Crist hay ông Lieberman, cho nên ông đã chọn một lập trường rất bảo thủ trong vấn đề di dân, một vấn đề được dân chúng tiểu bang Arizona rất quan tâm. Ông McCain tuyên bố ủng hộ đạo luật mới của Arizona, khiến nhiều người ngưỡng mộ ông cảm thấy thất vọng vì ông đã thay đổi. Ông vẫn được tiếng là người ôn hòa, và năm 2006 ông đã ủng hộ dự luật về di dân của Tổng Thống Bush, một dự luật rất ôn hòa nhưng bị các thành phần bảo thủ trong đảng Cộng Hòa chống đối. Nhưng quyết định của ông McCain không thể tránh được, trong thực tế cuộc bầu cử ở Mỹ năm nay, khi vấn đề di dân bị cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ bỏ qua không giải quyết. Cùng lúc đó, các nhóm bảo thủ với khuynh hướng chống di dân lậu đang bành trướng ảnh hưởng trong công luận, đặc biệt là trong nội bộ đảng Cộng Hòa.

Dư luận dân Mỹ ngả về khuynh hướng chống di dân bất hợp pháp. Trong 10 người Mỹ thì có 8 người lo lắng rằng 12 triệu di dân lậu đang sử dụng bất hợp pháp những tài nguyên của chính phủ dành cho trường học, nhà thương, và chính họ cạnh tranh làm cho đồng lương của người lao động Mỹ bị giảm xuống. Ðạo luật chống di dân lậu của Arizona được 60% dân Mỹ trên toàn quốc ủng hộ, trong đó 51% cho là nó đúng và 9% còn cho là chưa đủ mạnh. Chỉ có 36% người Mỹ coi là đạo luật đó là quá khắc nghiệt. Dân các tiểu bang miền Nam và miền Trung Tây (Midwest) ủng hộ Arizona nhiều hơn, so với dân các miền Ðông và miền Tây, trong đó có California.

Nhưng dân Mỹ cũng muốn đối xử công bằng với mọi mầu da không phân biệt, cho nên ba phần tư người Mỹ đang lo ngại rằng đạo luật ở Arizona sẽ dẫn đến tình trạng người da mầu sẽ bị làm khó dễ một cách bất công. Cứ 2 người Mỹ thì có một người lo ngại rằng đạo luật ở Arizona sẽ dẫn đến tình trạng cảnh sát bắt oan vì nghi ngờ cư ngụ lậu chỉ vì mầu da của người ta; chỉ có 15% nghĩ rằng việc đó sẽ không xảy ra.

Ðạo luật mới ở Arizona là một phản ứng của dân tiểu bang trước tình trạng các nhà chính trị liên bang “lảng tránh” nếu không nói là “trốn tránh” không giải quyết vấn đề di dân lậu trong hàng chục năm qua.

Khác với các vấn đề như cải tổ y tế, kích thích kinh tế, hoặc cải tổ hệ thống tài chánh, ngân hàng, vấn đề di dân lậu không gây ra sự đối kháng giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Ðây là một đề tài mà cả hai đảng đồng ý là không nên đem ra bàn trong lúc này. Vì trong nội bộ mỗi đảng đều chia rẽ trong vấn đề này, và trong một năm bầu cử, không ai muốn bước vào “bãi mìn” đó. Dự luật năm 2006 của cựu Tổng Thống George W. Bush đã không được Quốc Hội đem ra bàn cũng chỉ vì sự chia rẽ ý kiến trong nội bộ cả hai đảng chính trị.

Có những người quá khích chủ trương phải đuổi hết các di dân bất hợp pháp trở về nguyên quán. Nhưng trong thực tế, muốn đi tìm được 12 triệu người này, rồi đem họ ra biên giới tống xuất thì bộ máy cảnh sát, quân đội Mỹ sẽ không đủ nhân lực làm công việc đó. Hơn nữa, nền kinh tế Mỹ không thể thiếu 12 triệu nhân công rẻ tiền đó. Bao nhiêu công việc tay chân nếu không có di dân lậu thì sẽ thiếu người làm; hoặc có người nhưng giá cả sẽ tăng lên. Thiếu di dân lậu thì người Mỹ sẽ phải ăn trái cây và rau với giá đắt hơn, đi ăn tiệm sẽ trả tiền đắt hơn vì lương công nhân cao hơn.

Giải pháp tốt nhất là hợp pháp hóa những di dân lậu với các điều kiện công bằng và nghiêm khắc. Nhưng hợp thức hóa như thế nào? Hợp pháp hóa những người đang ở lậu có thể khuyến khích những người khác tìm cách nhập cư bất hợp pháp, làm sao để ngăn chặn? Canh phòng biên giới cẩn mật hơn sẽ ngăn không còn di dân lậu nữa, nhưng dân Mỹ có đồng ý đóng thêm thuế cho công việc đó hay không? Dự luật của Tổng Thống Bush cũng dự trù một quy chế cho những di dân đóng vai công nhân tạm thời, công nhân khách, được làm việc hợp pháp ở Mỹ khi hết hợp đồng phải về quê cũ, nếu không sẽ bị phạt nặng. Vẫn chủ trương phải phạt những chủ nhân thuê mướn công nhân ngụ cư bất hợp pháp, nhưng giới chủ nhân chống đối; vì việc kiểm soát ai cư ngụ hợp pháp, ai không, là việc của chính phủ, không phải của tư nhân!

Trên đây là một vài nỗi khó khăn gây bất đồng ý kiến giữa các nhà chính trị, khiến cho họ không thể thỏa thuận về giải pháp cho vấn đề di dân bất hợp pháp. Nhưng khi các nhà chính trị liên bang lảng tránh không giải quyết thì các tiểu bang phải tự lo! Ðó là lý do tiểu bang Arizona đã làm. Có thể nói đây là một hồi chuông báo động để buộc các nhà chính trị phải đối diện với một vấn đề hóc búa. Trong một năm bầu cử như năm nay, khó hy vọng Tòa Bạch Ốc và Quốc Hội Mỹ sẽ đủ can đảm giải quyết vấn đề này. Nhưng tiếng chuông cảnh tỉnh của Arizona hy vọng sẽ khiến cho sang năm 2011 Quốc Hội mới sẽ bàn về một giải pháp toàn diện và lâu dài cho 12 triệu người di dân lậu ở Mỹ. Nếu Nghị Sĩ John McCain được tái cử trong năm nay, hy vọng ông sẽ là một người xướng xuất một dự luật được cả 2 đảng ủng hộ để tìm giải pháp toàn diện như vậy. Bởi vì ông vẫn được tiếng là người ôn hòa và đủ can đảm để đưa ra những ý kiến đúng, dù làm mất lòng những người ủng hộ mình.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Dân biểu Cao Quang Ánh bác yêu cầu của Thứ trưởng Việt Cộng.
May 3, 2010
Contact: Taylor Henry (202) 821-5063 or (504) 274-7903
Cao Rejects Vietnam's Request for Help Arranging Meeting with Vietnamese-American Community
WASHINGTON, DC - Today, Congressman Anh “Joseph” Cao (LA-02) rejected the Vietnamese government's request for help arranging a meeting with the Vietnamese-American community.

Cao's decision came in a letter to Deputy Minister Nguyen Thanh Son. Deputy Minister Son had written Cao, requesting the Congressman's help facilitating the meeting so the Vietnamese government can provide "correct information" about Vietnam. Son said he believed that miscommunication is the cause for the Vietnamese-American community's condemnation of the Vietnamese government. (Click here to read Cao's response to Son in Vietnamese.)
In his reply letter, Congressman Cao says the premise for the proposed meeting is misguided. Cao affirmed that the Vietnamese-American s left their homeland not because of "misunderstanding" but because they rejected the tyranny of communism. Congressman Cao also stressed that until the government of Vietnam has demonstrated real changes related to freedom and human rights, calls for reconciliation will not be taken seriously by the Vietnamese-American community.

Congressman Cao outlines the specific steps the government of Vietnam can take to demonstrate its goodwill, such as: release all prisoners of conscience, respect for religious freedom, termination of oppression of democracy activists and demonstration of respect for the rule of law by paying the victims of the Daewoosa American Samoa human trafficking case as adjudicated by law.



Tôi đã nhận văn thư của Ông Thứ Trưởng yêu cầu tôi triệu tập buổi gặp gỡ với phái đoàn của Ông nhằm xoá tan những “ngộ nhận” giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt và chính phủ Việt Nam. Ở thời điểm này, tôi phải từ khước.

Tiền đề cho buổi gặp gỡ nhằm giải toả những điều được gọi là “thiếu thông tin đúng đắn” là tiền đề sai lầm và chắc chắn không phải là khởi điểm mang tính cách xây dựng cho việc đối thoại. Những người Việt quyết định đánh đổi mạng sống để rời bỏ quê hương không hề hiểu lầm về chính phủ Việt Nam. Họ ra đi vì đã không thể sống dưới một chế độ toàn trị vốn xem thường quyền con người và tự do tôn giáo, và trừng phạt những công dân can đảm lên tiếng.

Lịch sử của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam hãy còn in sâu trong ký ức của nhiều người đã đau khổ vì cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu trong thập niên 1950 và gần đây hơn là chính sách “trại cải tạo”. Đó là chưa nói đến những người bất đồng chính kiến mà chính phủ của Ông tiếp tục giam cầm vì họ kêu gọi dân chủ và tự do. Người Mỹ gốc Việt đã chọn lựa không sống trong một đất nước công an trị nơi mà người dân không có tiếng nói đối với việc điều hành quốc gia. Quả vậy, phần lớn những người Việt đến đây đã quyết định trở thành công dân Hoa Kỳ chính vì Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo đảm một cách rõ ràng quyền tự quyết và tự do thiên phú của mỗi con người.

Tôi, giống như đa số người Mỹ gốc Việt, mong muốn một Việt Nam giàu mạnh. Chỉ là điều tự nhiên khi người ta có thiện ý đối với quê hương. Tuy nhiên, tôi tin rằng khi con người được hành xử quyền suy nghĩ cho chính mình và nói lên những điều mình nghĩ, thì mới bắt đầu có những phát kiến thực sự và một Việt Nam tự do sẽ càng hùng mạnh và thêm phồn thịnh. Trong môi trường ấy, nhiều người Mỹ gốc Việt tài giỏi sẽ hăng hái tìm cách đóng góp để làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia tốt đẹp hơn.

Có một số bước mà chính phủ Việt Nam có thể thực hiện để đáp ứng những quan tâm của người Mỹ gốc Việt, bao gồm:

Trả tự do cho những tù nhân lương tâm như Nguyễn Văn Đài, Vũ Hùng, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, và nhiều nữa;
Trả tự do cho những tù nhân đang bị bắt bớ vì những lý do nguỵ tạo, như tác giả Trần Khải Thanh Thuỷ;
Ngưng sách nhiễu những nhà vận động cho dân chủ như Ts. Nguyễn Thanh Giang và Bs. Phạm Hồng Sơn;
Hoàn trả tài sản cho các tổ chức tôn giáo và cho phép các tôn giáo thực hành tín ngưỡng của họ;
Ngưng mọi hành động phá huỷ các biểu tượng và tài sản tôn giáo, và những hành động lạm dụng về thể xác và tinh thần đối với các tín đồ;
Trả tự do cho tất cả các nhà lãnh đạo tôn giáo thuộc các sắc dân thiểu số đã từng bị giam cầm trong nhiều năm;
Hơn nữa, bồi thường cho các nạn nhân trong vụ Daewoosa American Samoa theo phán quyết của Toà Thượng Thẩm American Samoa đối với chính phủ của Ông sẽ chứng minh rằng Việt Nam sẽ tuân thủ nguyên tắc pháp trị.

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Kim Chính Nhật, con người lạ thường của một chế độ bệnh hoạn

Lê Quốc Tuấn

Sau những vụ ồn ào về thử nghiệm vũ khí hạt nhân năm ngoái, tuần này, hình ảnh đặc thù của Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) lại xuất hiện trên trang nhất của báo chí truyền hình, truyền thông thế giới qua chuyến xuôi nam đi thăm Trung Quốc của ông.

Mục đích chuyến đi này là để nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên 68 tuổi tìm kiếm hỗ trợ từ Trung Quốc về tài chính và một chỗ dựa cho chế độ quá suy sụp của mình. Đồng thời, có lẽ cũng nhằm cố gắng tìm sự đồng thuận, đỡ đầu của nước bảo trợ cho Kim Chính Vân (Kim Jong Un), đứa con trai đang được tích cực “xức dầu thánh” để đăng quang kế nhiệm mình vì tình trạng sức khỏe ngày càng tệ hơn của Kim Chính Nhật.

Có thể nói, chế độ của Kim Chính Nhật ở Bắc Triều Tiên là một sự bất thường ngay cả khi đem so sánh với những nước cộng sản độc tài ít ỏi còn lại trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba. Chế độ này là sự kết hợp nỗi ám ảnh bí mật của chế độ độc tài cộng sản với chủ nghĩa biệt lập kinh điển mà điển hình rõ rệt nhất chính là đất nước Bắc Triều Tiên khép kín lâu nay.

Còn về phương diện cá nhân, tối thiểu là Kim Chính Nhật đã thực hiện được cho mình hình ảnh của một con người hết sức cá biệt ở những tiêu chuẩn tiêu cực nhất khiến có thể gọi là một kẻ lạ thường, điên khùng trước cái nhìn của cả thế giới.

Người Bắc Triều Tiên phải gọi Kim Chính Nhật là vị “Lãnh tụ Kính yêu”, họ phải “sẵn lòng chết cho lãnh tụ Kim”; hệ thông truyền thông Bắc Triều Tiên gọi Kim Chính Nhật là một nhà lãnh đạo tài ba không ai có thể so sánh bằng. Trong khi Hàn Quốc và giới truyền thông Hoa Kỳ gọi Kim Chính Nhật là thằng dở hơi (wacko); Tổng thống Mỹ George W. Bush từng gọi Kim Chính Nhật là một đứa trẻ hư đốn (spoiled child).

Ngoài tài năng cai trị, “chính sử” của Bắc Triều Tiên còn ghi lại rằng, năm 1964, sau khi tốt nghiệp đại học, Kim Chính Nhật đã viết 1.500 cuốn sách, tất cả đều được lưu trữ trong thư viện nhà nước. Ngoài ra ông còn đã từng viết sáu vở opera, tất cả đều hay hơn bất cứ vở nhạc kịch nào trong lịch sử âm nhạc và là người đã thiết kế Tháp Juche, một ngọn tháp cao 150 mét để kỷ niệm người cha của mình.

Sự thật là con người ngạo nghễ, bất cần dư luận này có đủ trí tuệ khôn ngoan để được giữ vững được vị trí của mình bất chấp thực tế của một đất nước khánh kiệt, một nền kinh tế trống rỗng, một guồng máy cai trị quan liêu, tham nhũng và một quân đội “hùng mạnh” nhưng chưa từng được thử thách bao giờ. Kim Chính Nhật đã đánh lừa được một số người giỏi và sáng giá nhất như đã từng được cựu bộ trưởng ngoại giao hoa Kỳ Madeline Albright ca ngợi trong chuyến thăm chính thức của bà. Kim Chính Nhật từng đe dọa sẽ từ bỏ cuộc đình chiến được ký kết hồi năm 1953 trong Chiến tranh Triều Tiên, bắn một tên lửa vào Biển Nhật Bản và chặn một máy bay trinh sát Mỹ trong không phận quốc tế. Kim Chính Nhật cũng đã từng đồng ý tháo dỡ khả năng hạt nhân của nước mình để đổi lấy viện trợ năng lượng quốc tế và các lợi ích khác. Ngoài ra, Kim Chính Nhật dám xúc phạm đến chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong cuộc họp báo riêng của mình. Và mặc dù chống Kim Chính Nhật, tất cả các nước lớn, các nguồn thông tin, từng liệt chế độ của Kim vào thành phần của Trục Ma Quỷ (Axis of Evil) nhưng ông ta vẫn còn đầy đủ quyền lực và không hề có dấu hiệu suy yếu nào.

Làm thế nào để ông có thể quản lý để đánh lừa được cả một dân tộc và nhiều người khác trên thế giới như thế?

Những điều tra của Nam Hàn và thế giới phương Tây về chế độ và chính con người của Kim Chính Nhật phần nào đã trả lời được câu hỏi ấy. Tất cả sức mạnh của Kim và chế độ khởi đi và nằm trong hai nguyên tắc: Tàn ác và Bí ẩn. Và có lẽ, hai nguyên tắc ấy chỉ có thể thực hiện được ở một con người luôn cố tạo cho mình dáng vẻ kỳ bí nhưng đằng sau là cả một cá tính bệnh hoạn, tâm lý thất thường, trong một đời sống cá nhân xa hoa và thác loạn.

Tàn ác

Về đối nội: Kim Chính Nhật đã cai trị bằng một chế độ tệ hại nhất trên hành tinh. Tàn ác lớn nhất là Kim luôn luôn sử dụng gần 24 triệu dân mình làm con tin trong các mặc cả với phương Tây. Ông đã dùng các tù nhân để thử nghiệm các vũ khí chất độc và sinh học, sử dụng tù nhân trong các lao động nô lệ và xử phạt nặng nề những người muốn chạy trốn khỏi “thiên đường của công nhân và nông dân”. Kim chủ trương bắt cóc hàng trăm người vô tội từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc tiếp tục cầm giữ họ để đào tạo gián điệp phá hoại cho mình.

Như Hwang Jang Yop, một nhân vật cao cấp trong chính phủ trước đây, đã đào thoát khỏi Bắc Hàn, nói “Chắc chắn chế độ độc tài của Kim Chính Nhật là khắc nghiệt nhất và khả năng lãnh đạo của Kim là tuyệt vời. Với khả năng siêu việt này, Kim đã hủy hoại chính công lao cha mình, cả xã hội của Bắc Triều Tiên và nhiều người ngây thơ phục tòng ông”.

Về đối ngoại: Kim Chính Nhật chủ trương đóng cửa, rút cầu, bế quan tỏa cảng. Trước khi kế vị ngai vàng trụy lạc của cha, ông luôn luôn được nhắc đến chính thức trong báo chí trong tất cả các mánh lới xiên xẹo có thể có được để đánh bóng mình. Kim Chính Nhật là Trung tâm của Đảng, Tổng thủ lĩnh Thanh Niên. Bởi vì trước đó, không một ai biết gì về Kim. Kim đã chưa từng bao giờ đi du lịch qua phương Tây. Khi Kim cầm quyền, ít ai nghĩ rằng ông ta có thể giữ được quyền lực, nhưng Kim đã củng cố được cơ chế cha mình ban cho và khai triển những kỹ thuật khác để tăng sức mạnh của mình, và quan trọng hơn cả là Kim đủ độc ác để thi hành.

Trước giới quan sát quốc tế, Kim Chính Nhật đã thực hiện một quá trình chuyển đổi có chủ ý từ tính cách ẩn dật và lập dị khi ông đã ngày càng vững vàng trên sân khấu công cộng. Trong khi đó, Kim đã học để chơi các ván bài ti tiện mà ông ta nắm giữ được với kỹ năng của một người có nhiều tay tại cuộc cờ quốc tế.

Để chắc ăn, Kim Chính Nhật phô trương mối nguy hiểm cho các láng giềng mình để qua đó gián tiếp đe dọa Hoa Kỳ bằng Taepdong, một tên lửa loại mới có thể bắn đến bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ. Kim còn cho thấy, mình sẽ có thể gắn thêm một thiết bị hạt nhân trên những tên lửa chết người đó. Tóm lại, hiện nay Kim cho thấy rõ ràng có đủ sức mạnh trong tầm tay của mình để khuấy động xung đột trong khu vực. Những xung đột vốn có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh mà ông ta không thể thắng, nhưng những thiệt hại tương tàn – thường dân bị sát hại, tài nguyên bị hủy hoại cùng những tác động xấu đến kinh tế – sẽ tức khắc làm rúng động khu vực và cả Hoa Kỳ.

Đồng thời, Kim Chính Nhật xuất khẩu các sản phẩm thấp hèn của mình như tên lửa, vũ khí hóa học, sinh học, công nghệ hạt nhân, ma túy, nô lệ tình dục và tiền giả ra khắp thế giới. Những đất nước ngỗ ngịch từng có chiến tranh với Mỹ và xung đột với các nước khác đã mua được các vũ khí nguy hiểm từ Bắc Triều Tiên. Trong vai trò gián tiếp, Kim Chính Nhật hỗ trợ các radar thám thính cho Iran, Syria, Venezuela và những phong trào khủng bố. Thực tế Kim đã đóng một vai trò đe dọa hơn nhiều so với thách thức trực tiếp tới Mỹ của mình.

Bí ẩn

Duy trì bí ẩn về chế độ và cá nhân mình là một trong những kỹ thuật để bảo vệ quyền lực mà Kim Chính Nhật đã khai thác đến mức khác thường. Bằng tất cả quyền lực, guồng máy cai trị bạo tàn trong tay, Kim luôn tăng cường gìn giữ bí mật về đời sống cá nhân. Ông ta thường tránh xuất hiện trước công chúng. Người dân thường trong nước không có cách nào để hiểu được về tâm lý và tính cách của Kim. Bất cứ ai có cơ hội gần gũi với Kim, nhận ra điều gì tiêu cực về Kim cũng phải giữ gìn che đậy hoặc là lập tức bị “biến mất” nếu để lộ ra công chúng. Cá tính của Kim Chính Nhật có thể giải thích đưọc phần nào qua tiết lộ của Lee Young Kuk, một trong những vệ sĩ cũ của Kim; Lee mô tả Kim như một con người “dễ mất kiên nhẫn do hậu quả uống quá nhiều rượu và do các vấn đề gia đình khi ông còn ấu thơ, đó là lý do tại sao ông có thói quen quyết định công việc đột ngột, bất ngờ và vội vàng”.

Những người viết sử của Bắc Triều Tiên còn thêu dệt thêm những bí ẩn xung quanh ngày và nơi sinh của Kim. Theo các quan chức nhà nước, ông được sinh ra trong tháng 2 năm 1942 tại căn cứ du kích của cha mình trên núi Paektu, ngọn núi cao nhất của Bắc Triều Tiên. Khi ông sinh ra, “có các lằn chớp và sấm sét, những tảng băng trôi trong hồ giữa rặng núi Paektu phát ra loại âm thanh huyền bí và có một vầng cầu vồng sáng rực rỡ xuất hiện”. Tuy nhiên, các sử gia đúng đắn nói rằng sự thực là Kim sinh ra một năm trước đó trong thời gian cha ông sống lưu vong ở Siberia.

Người ta tin rằng ông đã kết hôn một lần, có một đứa con từ cuộc hôn nhân này, song song đó ông cũng đã có ba tình nhân và hai đứa con khác. Một trong những con trai của Kim Chính Nhật là Kim Chính Nam (Kim Jong-nam), nhân vật lẽ ra thừa kế quyền lực của Kim, đã bị thất sủng sau một vụ bắt giữ hồi năm 2001 tại Tokyo khi sử dụng hộ chiếu giả để đi du lịch.

Giống như bất kỳ nhà độc tài khôn ngoan nào trong quá khứ lịch sử con người. Kim Chính Nhật không ngừng xây dựng một sự sùng bái nhân cách cho cá nhân và gia đình mình. Hình ảnh của ông ta và người cha quá cố Kim Nhật Thành được trang hoàng ở tất cả các công trình công cộng, và hình phạt cho bất cứ lời chỉ trích phê bình nào đến lãnh tụ “kính yêu” là phạt tù trong trại tập trung. Sinh nhật của cả hai cha con Kim là hai ngày lễ quan trọng của quốc gia. Tất cả các phương tiện truyền thông của Nhà nước, tất nhiên, liên tục khen ngợi hết lời vị “Lãnh tụ kính mến”.

Cá tính bệnh hoạn, đời sống thác loạn xa hoa

Nói đến cá tính lạ thường của con người này, có thể bắt đầu bằng một nhận xét của Sam Harris trong tác phẩm Thư gởi một quốc gia Kitô giáo cho thấy tính khí của con người này bệnh hoạn ra sao: “Kim Chính Nhật đòi hỏi là giường ngủ của y ở nhiều nơi cư ngụ khác nhau phải được đặt chính xác năm trăm mét trên mức nước biển. Nệm giường của y phải được nhồi bởi các thứ lông vũ mềm mại nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Các thứ lông vũ đó chính là các lông măng dưới cằm của giống chim sẻ. Phải cần đến bảy trăm ngàn con chim sẻ để dồn đủ lông cho một tấm chăn như thế“.

Kim Chính Nhật nổi tiếng với thị hiếu lập dị và ngông cuồng của mình. Ông nhập khẩu hàng năm một lượng rượu cognac Hennessy trị giá đến 700,000 mỹ kim, thích phim ảnh Hollywood như “Rambo” và loạt phim kinh hoàng “Thứ Sáu ngày 13″. Kim cũng rất thích đua xe, và có bộ sưu tập xe hơi phong phú, bao gồm tất cả các loại đắt tiền nhất từ Mercedes, Fords, Cadillac, Ferrai, Lambroghini, Lincolns…

Kim Jong Ryul, 75 tuổi, nguyên là một đại tá của Bắc Triều Tiên đã trốn khỏi Bắc Hàn, sống lưu vong hơn 16 năm ở Áo, viết một cuốn sách để ông “có thể chết đi mà không bị lương tâm cắn rứt”. Trong cuốn sách này, Kim Jong Ryul tiết lộ hai thập kỷ chuyên truy lùng mua sắm những thứ xa hoa ở châu Âu cho nhà lãnh đạo của đất nước ông, trong khi đất nước thì nghèo khó và những người dân thường phải chết đói. Sử dụng tên giả là Emil, ông Kim J.Ryul thường xuyên đi qua châu Âu bằng một hộ chiếu ngoại giao và một vali đầy tiền mặt để mua sắm xe hơi, máy bay, súng và các thực phẩm đặc biệt cho cả Kim Nhật Thành và con trai ông, Kim Chính Nhật. Các hàng hóa mua được và tiền sẽ được giao dịch thanh toán qua ngả Vienna, lợi dụng lợi thế của các trương mục ẩn danh, quy tắc thương mại lỏng lẻo và những kiểm tra tối thiểu trên máy bay dành cho hàng ngoại giao.

Ông nhận xét rằng mặc dù công khai tố cáo chủ nghĩa đế quốc và văn hóa đồi trụy phương Tây nhưng thực chất gia đình cầm quyền của Kim Chính Nhật có đời sống điển hình nhất của một thứ đời sống sa đọa, bệnh hoạn. Ông Kim Ryul cho biết các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên có hàng chục biệt thự, một số trong đó được xây dựng dưới lòng đất, được trang hoàng với các chùm đèn xa hoa, thảm Ba Tư quý hiếm và tất cả các loại đồ nội thất đắt tiền. Ông cho biết một số các biệt thự còn được trang bị hệ thống thông gió đặc biệt để đề phòng một cuộc tấn công bằng hạt nhân.

Ông cho biết Kim Chính Nhật “chỉ ăn thức ăn nước ngoài”. Khẩi vị của Kim là tôm hùm, trứng cá muối, sushi hảo hạng và thịt lừa rang. Ông nói thêm: “Tại Vienna, có một tùy viên đặc biệt, bạn của tôi, một người chỉ chuyên mua sắm đặc sản nước ngoài cho nhà độc tài”. Hàng đoàn đầu bếp giỏi được gửi từ Bắc Triều Tiên đến Áo để nghiên cứu học hỏi các cách nấu ăn tinh xảo ngon miệng phục vụ lãnh tụ kính yêu.

Trong tuần lễ này, nhà lãnh đạo “kính yêu” đang ở Trung Quốc trong một chuyến đi lạ thường, ly kỳ như tiểu thuyết giả tưởng. Vì mắc một chứng bệnh tâm lý sợ máy bay rớt, ngài không bao giờ đi máy bay. Trong các chuyến công du trước đây đến Trung Quốc và Nga, ngài luôn sử dụng phương tiện an toàn nhất : xe hỏa. Lần này, ngài đã đi trên một đoàn xe lửa bọc thép dài 17 toa, chạy kèm theo hai bên là những chiếc limousine và đoàn xe bus của đoàn nhân viên tùy tùng phục dịch. Đoàn xe “bí mật” này chạy qua thành phố Đan Đông biên giới Hàn/Trung vào hôm 3 tháng Năm, nghỉ lại qua đêm ở Đại Liên, sau đó viếng thăm một nhà máy, khu công nghiệp ở đó để cuối cùng đến thủ đô Bắc kinh ngày 5 tháng Năm để vị lãnh tụ Kim lạ thường này gặp gỡ các quan thầy cao cấp nhất của nước bảo hộ Trung Quốc. Ra khỏi chiếc xe hỏa bọc thép, Kim tiến vào Nhà khách Quốc gia Trung Quốc Điếu Ngư Đài (Diaoyutai) trong một đoàn xe 40 chiếc. Nơi đây, cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon từng lưu lại trong chuyến viếng thăm 40 năm trước của ông đến Trung Quốc.

Chuyến đi ồn ào đông đảo mà lại lặng lẽ này quả là một biểu tượng quái gở nền ngoại giao thế kỷ hai mươi mốt. Trong khi các hãng truyền thông phương Tây, báo chí, đài truyền hình Nam Hàn và Nhật Bản đưa tin từng giờ về chuyến đi “bí mật” này, sự kiện hệ thống truyền thông Trung Quốc giữ im lặng, không hề chính thức loan báo gì về cuộc viếng thăm cấp quốc gia của Kim cũng đã cho thấy phần nào tính quái gở của ngành truyền thông và trong công việc ngoại giao của phía Trung Quốc.

Quả là những chuyện chỉ có thể xảy ra ở những xứ “lạ”! Và quả là nhân loại chung quanh, đặc biệt là những nước có ảnh hưởng trực tiếp đến các xứ “lạ” này cần phải suy nghĩ về mối quan hệ của mình với những con người, chế độ như thế này.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn.)
Tháng Năm 2010
Lê Quốc Tuấn

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thánh Lễ Tạ Ơn Và Chào Đón
Đức Tổng Giám Mục Phó
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

http://www.tgphanoi .org
07.05.2010


Hà Nội, ngày 07/05/2010, Tổng Giáo Phận Hà Nội long trọng cử hành thánh lễ Tạ Ơn và chào đón Đức Tân Tổng Giám Mục Phó Phêrô tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội. Đức Tổng Giám Mục Giuse đã chủ sự thánh lễ với sự tham dự của các Đức Giám mục thuộc giáo tỉnh Hà nội, linh mục đoàn TGP Hà Nội, các linh mục đại diện Giáo phận Đà Lạt, một số linh mục từ các Giáo phận trong giáo tỉnh cùng đông đảo nam nữ tu sỹ, chủng sinh và anh chị em giáo dân.

9h30 đoàn đồng tế tiến vào cung thánh. Trước khi vào Thánh lễ, cha chánh văn phòng TTGM Hà nội đã đọc Sắc chỉ bổ nhiệm Đức TGM Phó Hà Nội của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI và Nghị định bổ nhiệm Đức TGM Phó Hà nội của Thánh Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc. Tiếp đó, Đức Tổng Giám Mục Giuse đã ngỏ lời với cộng đoàn và giới thiệu Đức TGM Phó Phêrô với cộng đoàn.

Thánh lễ đã diễn tiến trong sự trang nghiêm của bầu không khí phụng vụ. Đức Tân TGM Phó đã chia sẻ Tin Mừng trong Thánh lễ.

Trước khi kết thúc Thánh lễ, Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã thay mặt HĐGM Việt Nam ngỏ lời chúc mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô.

Cha Giuse Nguyễn Khắc Quế, Quản hạt Thanh Oai, thay mặt toàn thể cộng đoàn dân Chúa TGP Hà Nội ngỏ lời chúc mừng Đức Tân TGM Phó.

Đáp lại, Đức Tân TGM Phó Phêrô đã ngỏ lời với toàn thể cộng đoàn.
Image

Image
Đức TGM Giuse giới thiệu Đức Tân TGM Phó Phêrô

Image

Image
Bên hông nhà thờ

Image

Đức Tổng Giám Mục Giuse Giới Thiệu Đức TGM Phó Phêrô Với Cộng Đoàn


Thưa anh chị em,

Tôi xin trân trọng giới thiệu với anh chị em: Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN, vừa được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị tại tòa TGM Hà Nội.

Anh chị em đã biết từ mấy năm qua sức khỏe của tôi không được tốt. Suốt năm vừa qua, tôi nghỉ nhiều hơn làm việc. Với lương tâm trách nhiệm, tôi đã đệ trình Tòa Thánh. Và hôm nay, Tòa Thánh đã cử Đức cha Phêrô đến giúp đỡ giáo phận chúng ta.

Khi cử Đức cha Chủ tịch HĐGM đến, Tòa Thánh đã có ý trân trọng Tổng Giáo phận Hà Nội. Được có ngài làm Phó đó là niềm vinh dự cho cá nhân tôi.

Có lẽ anh chị em đang băn khoăn tự hỏi: “Không biết Đức cha Phêrô có hiểu chúng ta không”. Anh chị em băn khoăn là có lý. Trong quá khứ, Giáo hội Miền Bắc đã chịu quá nhiều đau khổ. Tổng Giáo Phận Hà Nội đã chịu quá nhiều thiệt thòi. Về phương diện con người sau khi đã trải qua nhiều đau khổ thì cảnh giác là tự nhiên và cần thiết.

Nhưng về phương diện Giáo hội thì khác. Khi nhận một giáo phận, vị giám mục phải suốt đời gắn bó yêu thương giáo phận đó. Vì thế, từ hôm nay, TGP Hà nội trở thành quê hương của ngài. Anh chị em trở thành gia đình của ngài. Vui buồn của anh chị em là vui buồn của ngài. Nguyện vọng của anh chị em là nguyện vọng của ngài. Từ nay ngài không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận. Vì thế anh chị em hãy chào mừng ngài.

Ngài đã trở thành người ở trong gia đình giáo phận, anh chị em hãy yêu mến ngài như đã yêu mến tôi. Vì tôi đau yếu, ngài sẽ thay mặt tôi đảm trách những công việc của giáo phận, anh chị em hãy vâng phục ngài như đã vâng phục tôi.

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta cùng dâng thánh lễ cầu nguyện cho Giáo phận, đặc biệt cho Đức cha Phêrô, thành viên mới của gia đình Giáo phận chúng ta.

Đức TGM Giuse Ng. Q. Kiệt

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Lú như Trọng

Ngô Nhân Dụng

Dân Hà Nội có câu tục ngữ nói về 4 nhân vật từng giữ các chức quan trọng nhất thành phố, là các ông Phùng Hữu Phú, chủ tịch; Nguyễn Phú Trọng, bí thư; Hoàng Văn Nghiên, phó chủ tịch và Nguyễn Quốc Triệu, phó bí thư. Câu tục ngữ là: “Giàu như Phú - Lú như Trọng - Lật lọng như Nghiên - Tiêu tiền như Triệu.’’ Lú, hay lú lẫn, tiếng miền Bắc, có nghĩa là không được thông minh lắm.

Ba ông kia không biết đã lên tiếng xác nhận hoặc cải chính lời đồn của người dân hay chưa. Riêng ông Nguyễn Phú Trọng mới đây đã tìm cách chứng tỏ rằng ông không “lú;” qua một bài viết mới xuất hiện vào đầu tháng 5, 2010, nhan đề “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay.” Trong bài này ông Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ ông rất thông minh, sáng suốt, ít nhất, ông sáng hơn hẳn “Hồ chủ tịch” của đảng ông.

Hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng đang làm chủ tịch Quốc Hội, nhưng nhiều người đoán sang năm ông sẽ leo lên làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Muốn chứng tỏ mình xứng đáng được nối nghiệp Nông Ðức Mạnh, ông Trọng viết bài trên để cho thiên hạ thấy ông rất thông thái.

Bài viết của ông Trọng nhắm đề cao bản Cương Lĩnh 1991 của Ðảng đưa ra “quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội.” Mới, tức là không còn là thứ chủ nghĩa xã hội của mấy thế hệ cộng sản cũ nữa. Nếu quý vị độc giả chưa biết chủ nghĩa xã hội là cái gì, thì xin giới thiệu đó là kim chỉ nam của Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ gần một thế kỷ nay, qua ba bốn thế hệ rồi. Nhưng muốn đề cao cái cương lĩnh mới năm 1991 thì trước hết ông Nguyễn Phú Trọng phải vạch rõ là trước khi có cương lĩnh này, đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhầm lẫn như thế nào.

Ông Trọng bèn kể tội các thế hệ lãnh đạo đảng ông trước năm 1991. Ông bảo trước đấy đảng của ông đã mang “những quan niệm đơn giản, ấu trĩ.” Ít người khấn vái tổ tiên đời trước của mình bằng hai chữ “ấu trĩ,” tức là con nít; hoặc “đầu óc đơn giản” ý nói là ngu ngốc, suy nghĩ nông cạn, hẹp hòi!

Bản kể tội của Nguyễn Phú Trọng rất dài, nhưng ai đã theo dõi lịch sử nước ta đều có thể thấy nhiều chuyện chứng tỏ trước đây Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ, hành động đơn giản và ấu trĩ thật. Thí dụ, theo ông Nguyễn Phú Trọng kể, trước đây đảng Cộng Sản đã “không phân biệt được mục tiêu sau cùng với nhiệm vụ trước mắt.” Ông không nói gì cụ thể, nhưng mọi người có thể thấy từ 1955, Ðảng Cộng Sản đã tìm cách tiêu diệt “địa chủ,” đánh tư sản, tính xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay tại miền Bắc Việt Nam, mà không biết, như ông Nguyễn Phú Trọng bây giờ mới biết, rằng chủ nghĩa xã hội là một mục tiêu xa, rất xa. Trong bài viết kể trên, ông Nguyễn Phú Trọng nói là hiện nay đảng ông chỉ mới tính đi qua “thời kỳ quá độ,” tức là giai đoạn chuyển tiếp trước khi tới chủ nghĩa xã hội thôi. Mà ông lại khẳng định rằng, “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp!” Bởi vì, ông mô tả: “Lịch sử thế giới đang trải qua nhưng bước quanh co!” Ở nước ta, ông nói thêm, công việc tiến tới chủ nghĩa đó “lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi,” vân vân.

Ông Nguyễn Phú Trọng không chịu tiết lộ cái “thời kỳ quá độ” này nó lâu dài tức là lâu đến bao nhiêu năm, 10 năm, 20 năm hay là phải 100 năm người dân mới thoát cái nợ quá độ? Nhưng đọc bài ông viết thì người đọc cũng thấy ông phê phán các lãnh tụ cộng sản trước năm 1991 là rõ ràng họ không biết gì hết, mà vẫn cứ đòi “xây dựng chủ nghĩa xã hội” ngay từ những năm 1950 cho đến những năm 1980 không chịu cho ai nghỉ mệt!

Những sai lầm ấu trĩ khác mà ông Trọng vạch ra, tóm gọn trong một ý là đảng ông đã không biết kính trọng chủ nghĩa tư bản! Ông viết, Ðảng đã “đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; coi nhẹ những thành tựu, giá trị mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản.” Vì lối nhìn một chiều hẹp hòi “ấu trĩ” đó cho nên, trước Cương Lĩnh 1991 Ðảng Cộng Sản đã “muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư bản;” vân vân. Tóm lại ông Nguyễn Phú Trọng vạch rõ, Ðảng Ta đã sai lầm, toàn những sai lầm căn bản, làm cho cả nước chậm tiến lệt bệt đi sau các nước khác hàng nửa thế kỷ. Sai lầm lớn nhất, như ông Trọng nhấn mạnh, là Ðảng Cộng Sản đã “coi nhẹ các thành quả của chủ nghĩa tư bản!” Ðảng không chịu học tư bản, chỉ vì đầu óc “ấu trĩ” coi những định chế trong xã hội tư bản đều là xấu xa cả; thí dụ như “thị trường,” như guồng máy nhà nước tôn trọng luật pháp và “cai trị bằng luật pháp.”

Tại sao lại nhấn mạnh sai lầm cơ bản của đảng là không biết kính trọng “những thành tựu của chủ nghĩa tư bản” như vậy? Vì ông Nguyễn Phú Trọng muốn biện minh cho những “đổi mới” của đảng ông; thí dụ, bây giờ các đảng viên được đi kinh doanh kiếm lời, thuê mướn và sử dụng sức lao động của giai cấp công nhân. Họ làm giống hệt các nhà tư bản mà thế hệ lãnh tụ cộng sản trước đây, từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn tới Ðỗ Mười vẫn tìm cách tiêu diệt!

Ðọc xong bản kể tội của ông Nguyễn Phú Trọng như trên, bất cứ một đảng viên cộng sản nào, bất cứ người Việt Nam nào (nếu không lú), cũng phải đặt câu hỏi: “Ðảng Ta” đã sai lầm như vậy trong bao nhiêu lâu? Ai là cái đám người “lú lẫn” đưa Ðảng đến chỗ phạm những sai lầm như thế? Và, hậu quả của lú lẫn sai lầm như vậy đưa dân tộc tới đâu rồi?

Ông Trọng không nêu ra những câu hỏi trên. Bởi vì khi suy nghĩ về câu trả lời thì cả lịch sử Ðảng sẽ chỉ là một Quả Lừa vĩ đại!

Vì người đầu têu ra tất cả những quan niệm sai lầm, ấu trĩ đó; người hăng hái cổ xúy, biện minh cho những quan niệm ấu trĩ đó chính là ông Hồ Chí Minh! Cứ đọc các bài trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập,” các đảng viên cộng sản sẽ thấy đúng như thế! Hồ Chí Minh đã “chửi bới” xã hội các nước tư bản không hết lời; đã hô hào người Việt Nam theo ông xây dựng chủ nghĩa xã hội “tốt đẹp gấp trăm ngàn lần xã hội tư bản” từ trước khi ông Nguyễn Phú Trọng ra đời năm 1944! Những người được ông Hồ chọn đưa lên kế nghiệp như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Lê Ðức Thọ, vân vân, chỉ răm rắp đi theo những quan niệm “ấu trĩ, sai lầm” đó mà thôi, chứ có ai bày ra cái gì mới đâu!

Cho nên, khi ông Nguyễn Phú Trọng vạch ra những quan niệm đơn giản, ấu trĩ của Ðảng Cộng Sản trước năm 1991, ông đã chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh và cả Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ đơn giản, ấu trĩ, sai lầm nghiêm trọng trong hơn nửa thế kỷ. Ai bảo “Lú như Trọng” là nói oan! Nguyễn Phú Trọng có lú thì cũng không đến nỗi lú như nhiều thằng “ấu trĩ” đời trước! Ðảng viên cộng sản nào vẫn nói với nhau câu “Lú như Trọng” bây giờ nên tỉnh lại.

Nhưng, sau khi nhìn thấy Ðảng Cộng Sản đã phạm các sai lầm tệ hại suốt 70 năm, vẫn không có gì bảo đảm là sau năm 1991 thì Ðảng Cộng Sản bắt đầu đúng! Cứ đọc bài văn của ông Nguyễn Phú Trọng thì rõ khi ông nêu ra và trả lời các câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào?” Bởi vì câu trả lời của ông chỉ gồm toàn những khẩu hiệu y như cũ: xây dựng dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc, vân vân. Những khẩu hiệu trống rỗng như thế thì đứa bé con đứng ngoài đường cũng hô to lên được! Muốn cho nó giống Mỹ, cương lĩnh mới của đảng còn dùng những chữ của Tổng Thống Lincoln: “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” nhưng ông Trọng không quên thòng thêm cái đuôi “dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản!”

Tới đây ta lại nhìn thấy một sai lầm cốt lõi của Ðảng Cộng Sản, gây nên bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Ðó là chế độ độc quyền toàn trị mà Hồ Chí Minh đã học của Stalin, Mao Trạch Ðông, đem về áp đặt trên dân tộc ta.

Cứ suy nghĩ về 60 năm lãnh đạo cộng sản sai lầm, người đảng viên nào cũng phải tự hỏi: Tại sao những sai lầm căn bản đó mà suốt bấy nhiêu năm không ai biết và không ai sửa cả? Lý do chính là chế độ độc tài chuyên chế.

Trong một chế độ tự do dân chủ thì nếu một đảng chính trị theo đuổi những tư tưởng chỉ đạo sai lầm, dẫn đất nước vào con đường tai hại, họ cũng chỉ có thể phạm tội trong một, hai nhiệm kỳ, tức là từ 4 đến 8 năm, 10 năm là cùng. Dân sẽ dùng lá phiếu lật đổ một cách hòa bình. Nhưng khi một đảng chiếm độc quyền cai trị hết năm này sang năm khác, suốt thế hệ này sang thế hệ khác, thì họ có thể đưa cả dân tộc xuống vực sâu mà chính họ cũng không ngờ! Vì chế độ chuyên chế không cho phép ai phê phán cả. Ai đã đọc những bài phê bình cuộc cải cách ruộng đất của cố Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường vào thời 1956 đều thấy rằng ông Tường đã nêu ra những hệ quả tai hại khi nhà nước cộng sản coi thường các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, những nguyên tắc pháp lý thành hình trong lịch sử nhân loại và đã được áp dụng trong các nước tư bản từ hàng thế kỷ trước. Những Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, vân vân, đã bị chế độ Hồ Chí Minh vùi dập, đầy đọa, chỉ vì không cúi đầu tuân phục các “quan niệm đơn giản, ấu trĩ” của những kẻ cầm quyền thời đó. Ngay cả những đảng viên cộng sản biết suy nghĩ, dám có ý muốn thay đổi như Hoàng Minh Chính, Lê Liêm; hoặc dám có sáng kiến làm khác với chính sách của bọn giáo điều ngu tối, như ủy viên Kim Ngọc, cũng đều bị trù dập hết cả. Cả nước Việt Nam bị Ðảng Cộng Sản đem dùng làm vật thí nghiệm cho những quan niệm sai lầm như thế trong hơn nửa thế kỷ mà cả dân tộc cứ phải cúi đầu chịu đựng. Chỉ vì chế độ độc tài đảng trị!

Nếu còn duy trì chế độ độc tài toàn trị của Ðảng Cộng Sản thì không có gì bảo đảm là những sai lầm của chính quyền bây giờ và mai sau có cơ hội được phơi bày ra và người dân được quyền thay đổi chính quyền bằng lá phiếu tự do!

Trong khi vạch ra các sai lầm của Ðảng Cộng Sản từ những ngày đầu năm 1930 đến năm 1991, ông Nguyễn Phú Trọng đã làm một bảng kết tội Ðảng Cộng Sản rất đáng suy nghĩ. Nhưng ông vẫn còn lú! Ðiều lú lẫn quan trọng nhất của ông là: Muốn duy trì chế độ chuyên chế độc quyền của Ðảng Cộng Sản! Dưới chế độ độc tài như thế, làm sao bảo đảm nhóm người cộng sản cầm quyền bây giờ không phạm những sai lầm nghiêm trọng khác, tiếp tục đưa đất nước vào con đường tối tăm lạc hậu thêm 10 năm, 20, 30 năm nữa?

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Khi Người Dân Ý Thức Vi Anh

Phải nói thành công lớn nhứt của Mỹ trong cuộc chống khủng bố là làm cho người dân ý thức được nguy cơ khủng bố và việc bảo quốc an dân là nhiệm vụ chung của nhân dân và chánh quyền. Có thể vì khiêm tốn Thị Trưởng Bloomberg của Thành Phố New York là người dân cử đang cầm quyền, nói nhờ may mắn mà New York thoát qua cuộc khủng bố ở Times Square. Nhưng thực tế cho thấy, chính người dân đã làm cho cuộc khủng bố này bất thành khi nhanh nhẹn và kịp thời báo cho chánh quyền, nhơn viên công lực đến tháo gỡ chất nổ.

Thực vậy, như mọi người biết bất cứ cuộc hành quân – quân sự, bán quân sự, tình báo, gián điệp, trận địa chiến, du kích chiến, đột kích hay phản công, hành động che dấu của gián điệp – tin tức tình báo là yếu tố vô cùng quan trong cho sự thành công. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng mà. Trên phương diện tình báo, không có phương tiện tình báo nào hơn tình báo nhân dân. Dân là thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, không có vệ tinh nào, không có camera nào sánh kịp vì hai dụng cụ quan sát này là máy, không thể chọn lọc, giải đoán, vận dụng tin tức được như bộ óc của người.

Trong cuộc chiến tranh chống khủng bố, hơn bất cứ loại hình tình báo nào, tình báo nhân dân đóng vai trò số một. Vai trò đó trở nên tối ưu khi người dân ý thức được quan niệm hành quân chống khủng bố, ý thức được nhiệm vụ bảo quốc an dân, trong đó mình là một chiến sĩ vì an nguy của mình, của gia đình mình, bè bạn, khu xóm mình sống, xã hội mình sống mà chiến đấu. Và chánh quyền không phải tốn kém để kiếm tin, mua tin, để trả lương nhân viên tình báo chuyên nghiệp, điềm chỉ viên, cảm tình viên cũng như không cần phải tổ chức một hệ thống tình báo hạ tầng cơ sở (điều mà nhà nước và các cơ quan tình báo quốc gia không thể làm được vì không chánh quyền nào có đủ phương tiện vật chất để làm một hệ thống tình báo gồm toàn dân nhập cuộc). Nhưng người dân làm rất dễ khi coi đó là nhiệm vụ của mình, khi người dân ủng hộ đường lối của chánh quyền.

Nhìn lại hai âm mưu khủng bố gẩn đây bị phá vỡ, đều thấy do người dân khởi động trước. Vụ thứ nhứt, vào Giáng Sinh năm ngoái, trên chuyến bay 253 của hãng Northwest từ Hòa Lan về Detroit, chính một hành khách người Mỹ ngồi dãy ghế phía bên kia là người đầu tiên lập tức nhảy qua một dãy ghế, đè khống chế tên khủng bố khi y kích nổ khối chất nổ dấu trong quần lót mới vừa cháy khói trắng bốc ra. Sau đó nhân viên an ninh trên chuyến bay cùng hành khách mới nhào tới áp chế và bắt y. Vụ thứ hai, lúc 6:30 chiếu Thứ Bảy, tại Công trường Times Square, New York, người cựu chiến binh từng chiến đấu ở Việt Nam đang bán áo thun gần đó tức khắc báo cho cảnh sát khi thấy khói trắng bốc ra từ khoảng ghế sau của một chiếc xe SUV Nissan Pathfinder không có chủ đậu. Nhờ thế Cảnh sát tới ngay, cô lập toàn khu phố và các toán chuyên môn gỡ bom mìn cùng dụng cụ, rô-bô, xe bọc thép lập tức hành động. Dùng rô-bô phá cửa kính xe đem ra ba thùng khí đốt propane, hai thùng xăng, pháo bông loại hàng tiêu thụ để gây nổ và pin cùng dây điện với hai đồng hồ định giờ dùng làm phương tiện gây vụ nổ khủng bố bị bất động hoá. New York, công trường Times Square, nơi nhiểu người qua lại vào chiều thứ bảy thoát khỏi cơn khủng bố.

Với guồng máy an ninh tình báo, nhân viên công lực nhiều phương tiện và chuyên nghiệp việc giải toả khu vực để sinh hoạt trở lại bình thường chỉ trong vài giờ sau bắt và lôi đương sự ra trước ánh sáng công lý. Phải nói trong việc bảo quốc an dân, từ người cựu chiến binh nay đã thành thường dân đi bán dạo để kiếm sống đến những cảnh sát, FBI, chuyên viên tháo gỡ, TT Obama, chánh văn phòng Phủ Tổng Thống, Bà Bộ trưởng Nội an Janet Napolitano bận bịu trăm công ngàn việc nước, nhưng không người nào không làm tất cả những gì có thể làm được, không từ bỏ cơ hội nào để làm tròn nhiệm vụ mình. Nên, phát giác Thư Bảy thì khuya thứ hai, nhân viên công lực đã bắt giữ được thủ phạm của vụ đánh bom bất thành ở New York, khi tên khủng bố sửa soạn lên máy bay rời Mỹ tại phi trường John F. Kennedy. Và nghi can là một thanh niên Mỹ gốc Pakistan tên Faisal Shahzad, 30 tuổi, sẽ bị cáo buộc tội lái chiếc xe bom đậu ở New York với mục đích giết người. Tin tức sơ khởi nói rằng bị can mới từ Pakistan trở lại Mỹ cách đây chẳng bao lâu, và hắn bị nhân viên điều tra Hoa Kỳ bắt giữ ở phi trường John F. Kennedy lúc hắn đang sửa soạn lên máy bay đi Dubai. Y sẽ bị đưa ra toà theo đúng thủ tục pháp lý.

Dân chúng Mỹ cũng được thông báo qua truyền thông đại chúng qua lời Tổng Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ Eric Holder nói rằng cuộc điều tra không ngừng ở đó. Chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng cuộc điều tra để truy lùng những kẻ có liên quan đến vụ này và đưa chúng ra trước pháp luật. Và lời của phát ngôn viên FBI, rằng nhân viên công lực Mỹ vẫn đang lục soát nhà riêng của Shahzad ở Bridgeport thuộc bang Connecticut.

Cuối cùng, tinh thần công dân, ý thức cộng đồng cao của người dân Mỹ đã chứng tỏ từ khi có cuộc khủng bố 911, nhiều biện pháp hạn chế quyền công dân được công dân chấp nhận, như qua cổng phi trường bị soi rọi cả thân thể, khám xét chặt chẽ hơn, chánh quyền Bush của Đảng Cộng Hoà và Obama của Đảng Dân Chủ đưa ra mà người dân không chống đối. Có lý để nói Mỹ là một trước thiên tai, địch họa, trong mặt trận quân sự và ngoại giao. Một thể chế tự do, một nền dân chủ rất có trách nhiệm.

VI ANH

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Giấc mơ Ðại Việt

Ðoàn Viết Hoạt

Image
Mặt trống đồng. Hình minh họa (Hình: Wikipedia)

Mỗi cá nhân đều có một ước mơ. Một dân tộc lại càng phải có một ước mơ chung. Một cá nhân không có ước mơ là một cá nhân không có sinh mệnh, như cây cỏ nổi trôi theo dòng nước chảy. Một dân tộc không có ước mơ là một dân tộc không có tương lai, là một dân tộc mất bản sắc, mất độc lập từ cỗi gốc. Riêng với dân tộc Việt, đó là một nỗi sỉ nhục không thể chấp nhận được.

Một ngàn năm trước, khi mà nhiều quốc gia Á Châu và Âu Châu chưa hình thành, Tổ tiên chúng ta đã xây dựng nên một Ðại Việt 1000 hùng mạnh, thanh bình, với hai triều đại Lý Trần hưng thịnh gần 500 năm.

Trong những ngày đầu năm Canh Dần 2010, thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, để chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, thủ đô của nước Ðại Việt 1000, mỗi con dân Việt cần phải có chung một Ước Mơ Lớn: Giấc Mơ Ðại Việt 2000. Những ước mơ nhỏ khó thể thực hiện nếu không cùng nhau ước mơ và cùng nhau xây dựng một đất nước hưng thịnh, thanh bình trong đó mọi người Việt đều có cơ hội đồng đều để được sống và phát triển trong hạnh phúc, tự do, công bằng và có nhân phẩm. Nước Việt hiện nay không đáp ứng được ước mơ đơn giản này của mỗi người Việt. Nước Việt hiện nay đang làm tủi hổ anh linh Tổ Tiên nước Việt, hoàn toàn không xứng đáng với những gì cha anh để lại.

Mục đích của mọi người Việt yêu nước hiện nay do đó là: phải xây dựng cho được một nước Việt Nam Mới.

Việt Nam Mới không những nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng hèn kém, lạc hậu hiện nay, mà còn xây dựng được một mô hình xã hội nhân bản tiến bộ, vừa tăng tiến tiện nghi đời sống, vừa phát huy tiềm năng tinh thần vô tận của mỗi người Việt, đồng thời hòa nhập vào cuộc sống nhân loại toàn cầu.

Việt Nam Mới là Giấc Mơ Việt Thời Ðại 2000, là Ðại Việt 2000, phải lớn lao và kỳ vĩ hơn Ðại Việt Lý Trần thời đại 1000 trước đây. Việt Nam Mới là Việt Nam của thời đại toàn cầu.

Bước đầu tiên trong tiến trình xây dựng Việt Nam Mới là xây dựng một Xã Hội Mới với những Người Việt Mới.

Người Việt Mới là những con người tự giác, tự chủ và tự động, những con người nhân chủ, những con người luôn tích cực, luôn hướng về phía trước, luôn ngày một mới, “tri hành đồng tiến,” luôn “cùng sống giúp tiến” với mọi người chung quanh. Người Việt Mới vừa phát huy bản sắc Việt vừa hòa nhịp vào sinh hoạt cộng đồng nhân loại toàn cầu.

Xã Hội Mới là một xã hội được tổ chức khoa học nhưng nhân bản trong đó sự hợp lý và hữu hiệu cao độ tương thuận và hòa nhịp với sự hợp tình và hợp cảnh của mỗi con người; trong đó cơ chế chính trị-xã hội và công việc phải được tổ chức và quản lý thế nào để hiệu năng không chỉ là những sản phẩm vật thể mà chính là bản thân mỗi người làm việc, luôn được phát huy và mở rộng ra với thiên nhiên và trong xã hội; trong đó mỗi người vừa là cứu cánh vừa là động lực của phát triển, có cơ hội đồng đều để phát huy và tận dụng đúng sở năng và hưởng thụ đủ nhu cầu của mình.

Hai mục tiêu này không thể tách biệt. Ðể đào tạo được những con người Việt Mới phải xây dựng một Xã Hội Mới vì con người không thể sinh tồn và phát triển mà không có môi trường xã hội và thiên nhiên bảo vệ và nuôi dưỡng. Nhưng xã hội và thiên nhiên lại do con người xây dựng lên và vun bồi săn sóc. Do đó, con người vừa là động lực vừa là cứu cánh của xã hội. Không thể xây dựng một xã hội mới bằng những con người vong thân, với những suy tư và hành động rập theo quán tính, với một tầm nhìn hạn hẹp, đóng cõi trong những lồng cũi dành cho những sinh vật bị điều kiện hóa.

Thách đố lớn nhất của mỗi chúng ta, nhất là của mỗi thanh niên Việt đầu thế kỷ 21, là có dám chấp nhận dấn thân vào một công cuộc lớn lao kỹ vĩ nhất trong lịch sử dân tộc: mở đường cho dân tộc bước vào thời đại mới, thời đại của một nước Việt nhân bản tiến bộ toàn cầu. Dám vì chúng ta sẽ là những con người Việt Mới, tiên phong đầu tiên, số lượng sẽ rất ít ỏi và với tất cả những khó khăn bất trắc không lường trước được đang chờ đón chúng ta. Dám vì chúng ta có thể thất bại, có thể bị hủy diệt, chỉ để mở đường cho người sau có thể tiếp bước. Dám còn vì chúng ta phải vừa làm vừa học, học trong khi làm và làm để có thể biết thêm được nữa và làm thêm được nữa.

Dám nhưng cũng sẽ đầy hưng phấn vì những gì chúng ta sẽ khám phá ra được, và thực sự chỉ khám phá ra được ngay trong quá trình dám làm dám dấn thân này, sẽ mở ra cho chúng ta, và chỉ cho chúng ta, những người dấn thân, một bình minh mới - bình minh của một nước Việt Mới - cũng là bình minh của một Xã Hội Người Mới, Xã Hội Nhân Chủ. Chúng ta, những người Việt Mới tiên phong của thời đại 2000, sẽ mở cánh cửa để đón chào bình mình mới bằng chính sự dấn thân của mình. Chính qua công việc tạo dựng một trào lưu tư tưởng và một phong trào hành động mới mà chúng ta trở thành Con Người Mới và Con Người Việt Mới để mở đường cho những người Việt Mới khác xuất hiện tiếp tục đấy nhanh việc xây dựng nước Việt Nam Mới cho đến thành công.

Nhưng những con người Việt Mới phải bắt đầu một công việc khó khăn: tạo dựng một phong trào dấn thân mới, một phong trào xã hội Việt mới, nhằm chuyển hóa xã hội giáo điều độc đoán hiện nay để mở đường cho một xã hội khai phóng tự do, một nước Việt Mới, ra đời. Một phong trào xã hội như thế phải và chỉ có thể bắt đầu bằng một số lượng ít, nhưng với quyết tâm, năng lực và phẩm chất cao, những người Việt Mới.

Hỡi những người Việt Mới, dù bạn đang ở đâu và trong hoàn cảnh nào. Hãy xuất hiện, đứng dậy, tìm đến với nhau và cùng tiến bước. Ðừng trông đợi một thời cơ nào. Thời cơ nằm ngay trong tay các bạn. Ðừng chờ đợi một lãnh tụ nào. Lãnh tụ chỉ xuất hiện trong đám đông những người hành động. Mỗi hành động là mỗi điểm sáng để lãnh đạo hiển hiện. Bóng tối sẽ tan dần khi ánh sáng xuất hiện. Và bình minh của Ðại Việt 2000 sẽ chói lòa.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tăng cường bảo vệ Trường Sa: Việt Nam mua hỏa tiễn của Israel
Monday, May 10, 2010

SINGAPORE (TH) - Với tầm nhìn vào nhu cầu tăng cường khả năng phòng thủ khu vực quần đảo Trường sa, Việt Nam đang trong giai đoạn thương thuyết chót để mua của Israel một hệ thống hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn (Short-Range Ballistic Missile System), theo bản tin của ký giả chuyên về tin tức quốc phòng Robert Karniol viết trên báo The Straits Times ở Singapore hôm Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010.
Image
Hỏa tiền tầm ngắn gọi tắt là Extra của Israel chế tạo mà Việt Nam đang điều đình để mua phòng thủ biển đảo. (Hình: IAI)
Hỏa tiễn tầm ngắn SRBM đang được hai bên thương thuyết do Kỹ Nghệ Quốc Phòng Israel phối hợp với công ty MLM Systems thuộc công ty Israel Aircraft Industries (IAI) hợp tác chế tạo, từng được đem trình diễn trong cuộc triển lãm máy bay ở Paris năm 2005.

Hệ thống SRBM nói trên còn được gọi rõ hơn là đạn pháo tầm hoạt động nới rộng (Extended Range Artillery Munition) hay gọi tắt là EXTRA, có tầm hoạt động hơn 150 km và mang đầu đạn nặng 125 kg, công ty IAI công bố chi tiết này trên website của họ và cho biết khả năng trệch mục tiêu của nó chỉ trong vòng bán kính 10 mét. Một trái đạn đại bác tầm trung 155 ly được coi là có độ chính xác cao có độ sai lệch mục tiêu từ 200m đến 300m ở mục tiêu tác xạ trung bình.

“Hỏa tiễn Extra có thể được phóng đi từ nhiều bệ phóng (platforms) khác nhau và có thể được xếp đặt 4 hỏa tiễn trong một dàn nếu là giàn phóng đặt trên mặt đất. Nó có thể được thiết trí trên xe tải hoặc ở một vị trí cố định nào đó.” IAI cho hay.

Hải Quân Việt Nam đang muốn có một hệ thống đặt ở vị trí cố định có thể nhắm đến các mục tiêu là tàu chiến di chuyển đến gần. Ðiều này cần thiết cho nhu cầu tối tân hóa khả năng tác chiến pháo binh vào lúc đang có những chuyển biến xấu thêm trong vấn đề tranh chấp biển Ðông.

Một số cải tiến của kỹ thuật nghiên cứu quân sự ở Singapore đem một đạn đại bác 155 ly từ tầm xa 19 km lên 30km đến 40 km. Nhưng Extra là một khả năng ở một mức vượt trội so với đại bác.

Giá bán một hệ thống Extra cho Việt Nam là bao nhiêu chưa ai biết nhưng khả năng tiêu diệt của nó lớn hơn hệ thống hỏa tiễn Himars do Mỹ chế tạo (High Mobility Artillery Rocket System) mà Singapore đang sở hữu. Ðầu đạn của Extra nặng 125 kg trong khi đầu đạn của Himars nặng 90 kg nếu đó là kiểu đạn tối tân nhất M31.

Theo tác giả bài viết, việc Việt Nam đề nghị mua hệ thống Extra rất đáng kể để tăng cường khả năng phòng thủ cho lực lượng Hải Quân 27,000 người mà nhiệm vụ phải bảo vệ những hải đảo ở xa. Sự mua sắm này cộng với việc đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo, 12 khu trục đa năng Sukhoi SU 30 MK2 từ Nga hồi cuối năm ngoái và mới đây mua của Canada 6 chiếc thủy phi cơ (Otter DHC-6 series 600) để tuần tiễu biển, giúp hiện đại hóa, tăng cường khả năng quốc phòng cho Việt Nam.

Hơn 10 năm nay, chưa có cuộc chạm súng nào liên quan đến chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, nhưng những cuộc tập trận qui mô, lớn lao của Trung Quốc ở khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm ngoái đến nay, báo động cho dư luận biết, Trung Quốc đang vươn sức mạnh quân sự xa hơn ra các vùng biển.

Khi tuyên bố một vùng biển Ðông rộng lớn hình lưỡi bò chiếm đến 80% và các nước có biển tiếp giáp chỉ còn một rẻo sát bờ rồi biểu diễn sức mạnh quân sự đe dọa các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, Bắc Kinh không che giấu tham vọng bá quyền bành trướng được với ai.

Hồi tháng 4, Trung Quốc đưa hạm đội Bắc Hải đóng căn cứ ở Thanh Ðảo tỉnh Sơn Ðông xuống phối hợp tập trận với hạm đội Nam Hải đóng ở Tam Á (đảo Hải Nam) ở khu vực quần đảo Trường Sa. Lần đầu tiên, có một cuộc trập trận của Trung Quốc qui tụ những chiến hạm, tàu ngầm tối tân nhất của hai hạm đội như một sự biểu dương sức mạnh với Việt Nam và các nước khu vực đang tranh chấp chủ quyền quần đảo này. Bộ chỉ huy của cuộc tập trận đặt ở đảo Fiery Cross Reef mà Trung Quốc đã đánh chiếm của Việt Nam năm 1988, (Trong trận này, Hải Quân Việt Nam mất 3 tàu và hơn 70 lính thiệt mạng). Ðảo Fiery Cross Reef nay là một căn cứ được trang bị cả hệ thống phá sóng radar.

Cùng với hai hạm đội, Trung Quốc còn đưa nhiều phi đội của các căn cứ khác nhau trên lục địa ra tập tấn công trên biển Ðông gồm nhiều trách nhiệm tác chiến và thử nghiệm từ khả năng vượt hàng rào radar, tác chiến đêm, tiếp nhiên liệu trên không, phá sóng radar địch v.v...

Trung Quốc loan báo luân phiên đưa các tàu tuần kiểm soát đánh cá trên biển Ðông nói rằng để bảo vệ ngư dân của họ nhưng thật sự là để cấm ngư dân Việt Nam và các nước khác đánh cá trong các vùng biển tranh chấp và cũng là coi quần đảo Trường Sa là của họ.

Mới đây, ngay khi Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng tới Thượng Hải gặp Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào, thì Bắc Kinh loan báo lệnh cấm đánh cá trên biển Ðông từ giữa tháng 6 đến 1 tháng 8, 2010 cũng như năm ngoái. Bản tin chính thức TTXVN ngày 30 thấng 4, 2010 viết, “Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về việc hai bên đã hoàn thành phân định Vịnh Bắc Bộ và phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước và nhất trí cho rằng hai bên cần tiếp tục kiên trì đàm phán trên tinh thần láng giềng hữu nghị, cùng quan tâm đến lợi ích của nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, thông qua đối thoại và hợp tác, nỗ lực tìm kiếm giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề liên quan đến Biển Ðông, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.”

Chỉ ít ngày trước khi Nguyễn Tấn Dũng tới Thượng Hải, tàu tuần Trung Quốc lại bắt một tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi hoạt động ở khu vực Hoàng Sa và đòi tiền chuộc 70,000 nhân dân tệ. Thời gian hơn một tháng trước đó, đã bắt 2 tàu kéo về đảo Phú Lâm rồi chỉ trả một tàu và ngư dân, còn tịch thu một tàu và toàn thể ngư cự, trang bị hải hành của hai tàu.

Trong khi đó, báo chí trong nước cho hay từ cuối năm ngoái đến nay, hàng đoàn tàu đánh cá của Trung Quốc đã vào sâu trong hải phận Việt Nam đánh cá mà chỉ bị “nhắc nhở” mà không bị bắt giữ hay phạt vạ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

QUỐC KỲ VIỆT NAM

1. Theo lịch sử quôc kỳ có lâu đời nhât thế giới là quôc kỳ nuoc Đanmạch có từ năm 1219; Hoakỳ 1776; Pháp 1789; Anh 1801; Nhật 1858... Quốc kỳ của Việtnam theo nghiên cứu sử liệu của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Kỷ sư Nguyễn Đình Sài và Ông Trương Thúy Hậu, thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, do họa sĩ nổi tiếng Lê Văn Miến (1873-1943) vẽ, và được Vua Thành Thái, nhà Vua yêu nuoc chống Pháp, ban hành bằng chỉ dụ vào năm 1890. Cờ Vàng Ba Sọc đỏ là lá cờ đầu tiên, chính thống và di sản của toàn dân Việtnam từ ngày đó.

2. Ý nghiã của Quôc Kỳ:
- Mầu vàng và mầu đỏ là biểu tượng cho da vàng và máu đỏ.
- Ba sọc đỏ, là biểu tượng cho Thiên, Nhân, Địa. Có nghiã là trên có TRỜI, dưới có đât, và giữa có con người. Con người cần phải sống hoà thuận với TRỜI, với đât, và với nhau. Một dân tộc biêt hoà thuận với TRỜI, với đât, và với nhau thì có hạnh phuc và vững mạnh.

Về hình thức, Quôc kỳ Việtnam đơn giản, đẹp khi đứng một mình, và nổi bật bên cạnh quốc kỳ của các quôc gia bạn.

3. Nguọc lại, cờ của đảng cộng sản không do một họa sĩ nào trong nuoc vẽ ra. Năm 1930 Hồ chí Minh đã băt chươc cờ của đảng cộng sản Nga xô là dùng màu đỏ làm nền, và đưa búa và liềm vào giữa cờ để làm cờ đảng cướp.

Năm 1945, Hồ chí Minh cóp-py cờ của Tầucộng, là cũng lấy nền đỏ và sao vàng, nhưng chỉ khac là đưa một sao vàng vào giữa lá cờ.

4. Mao Trạch Đông thich xem phim dã thú. Một hôm hắn xem phim thấy con cọp vồ con nai ăn thịt, hắn thich thú và cho rằng con ngưòi cũng chẳng khac gì loài vật. Và từ đó hắn chủ trương đấu Trời, đấu đât và đấu người làm niềm vui. Hắn nói, "Lẽ phải ở đầu súng". Vì chủ truong độc ác và ngang ngược như thế, cho nên nhân dân sống dưới chế độ cộng sản là sống trong cõi địa ngục trần gian. Chế độ Cộng sản đào tạo những con người mât nhân tánh. Những năm gần đây, ai xử dụng máy vi tính có thể đã nhìn thấy cảnh: Tàucộng lấy bào thai con nguòi nấu cháo, và một làng ăn thịt một cô gái 17-20 tuổi.

5. Thật bât hạnh cho nhân dân Việtnam, có tên Hồ chí minh, vừa ngu vừa ác, lại hay băt chươc. Vì ngu nên băt chươc những điều làm hại dân hại nước. Hồ chí Minh có để lại một câu bộc lộ "đỉnh cao trí tuệ" của hắn: "Tôi có tư tưởng gì đâu, vì đã có bác Mao suy nghĩ rồi".

Nhìn vào thực trạng đạo đức xuống dốc thảm hại của xã hội Việtnam hôm nay, ai có lương tri, có nhân tánh mà không đau lòng?

6. Nói tóm lại, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là di sản của tiền nhân Việtnam, là cờ chính thức của Quốc Gia Việtnam. Nguọc lại cờ của đảng cộng sản là cờ của kẻ chỉ biêt cóp py và làm nô lệ cho cộng sản Ngaxô và Tàucộng. Lịch sử của đảng cộng sản Việtnam, từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay, đã minh chứng rât rõ điều này.

Nhân dân Việtnam tin chăc chắn: QUỐC KỲ VIỆT NAM sẽ lại tung trên toàn cõi đât nuoc thân yêu của chúng ta, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Còn số phận đảng cướp cộng sản và lá cờ uống máu nhân dân làm lẽ sống của chúng, sẽ phải xuống hố như số phận của đảng cộng sản Ngaxô và cờ búa liềm; vì "THIÊN bât dung gian", TRỜI không tha thứ cho kẻ gian ac cứ tiếp tục mãi con đường gian ác của chúng.

NguyễnHyVọng

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Hy Lạp: xã hội bao cấp tai hại
Tuesday, May 11, 2010
Ngô Nhân Dụng

Nói đến kinh tế bao cấp, ở Việt Nam ai cũng biết là nó tai hại. Khi các xí nghiệp và ngân hàng nằm trong tay nhà nước, nhà nước do một đảng kiểm soát từ trên xuống dưới, đời sống kinh tế đã suy sụp suốt mấy chục năm trước khi “đổi mới” để trở về với cái cũ. Nhưng sau khi “đổi mới,” đã gỡ bỏ nhiều rào cản để cho một số tư doanh được tự do làm ăn hơn trước, thì mối hại của kinh tế bao cấp đã hết chưa? Bài học của cuộc khủng hoảng nợ nần ở Hy Lạp, tác động tới thị trường tài chánh từ Âu Châu qua Mỹ, sang cả các nước Á Châu, cho thấy hai chữ “bao cấp” có thể được hiểu theo một nghĩa rộng hơn. Từ kinh tế bao cấp chuyển thành xã hội bao cấp, các tai hại vẫn còn đó.

Bao cấp không phải chỉ có nghĩa là có quá nhiều doanh nghiệp nhà nước, hay số xí nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng quá lớn trong nền kinh tế, như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Sở dĩ kinh tế quốc doanh tai hại, không phải chỉ vì các xí nghiệp hoặc ngân hàng quốc doanh kém hiệu năng, mà còn vì nó gây ra tình trạng bất bình đẳng trong xã hội làm giảm hiệu năng chung của cả xã hội. Những người điều khiển và làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước được chế độ ưu đãi; trong khi những người làm việc bên ngoài khu vực đó phải chịu thiệt thòi, đó là một cảnh bất công được nhà nước bảo vệ. Thí dụ, ở Trung Quốc hoặc Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước đóng góp vào Tổng Sản lượng Nội Ðịa ít hơn lãnh vực tư; họ không cung cấp nhiều việc làm cho người dân bằng các xí nghiệp trong lãnh vực tư; nhưng họ lại được vay tiền từ các ngân hàng thương mại của nhà nước nhiều hơn, với lãi suất thấp hơn các nhà tư doanh. Ðó là chưa kể những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ dù đã được ưu đãi, lại phải được ngân sách quốc gia trợ cấp. Ðó là một mối bất công do chủ trương của nhà nước.

Nói chung, đặc điểm của nền kinh tế bao cấp là có một số người mà phần đóng góp cho tài sản của quốc gia thì thấp mà họ lại được hưởng thụ nhiều hơn những thành phần đóng góp nhiều. Ðó là một tình trạng bất bình đẳng được “định chế hóa” bằng chính sách, bằng luật lệ, và có khi bằng cả bản hiến pháp; các định chế đó do lối tổ chức kinh tế gọi là xã hội chủ nghĩa tạo ra. Giả thử chúng ta bỏ qua tính chất bất công xã hội của chế độ này, vì có người làm ít hưởng nhiều, còn người thì làm nhiều hưởng ít; thì trên mặt kinh tế thuần túy cách tổ chức xã hội theo lối bao cấp này cũng gây tai hại, làm cho tất cả mọi người bị thiệt, kể cả những người được bao cấp. Bởi khi tình trạng bất công được định chế hóa thành chính sách, luật lệ rồi thì rất nhiều tài nguyên của xã hội sẽ bị đem sử dụng theo cách phí phạm.

Thứ tài nguyên dễ thấy nhất là đồng tiền. Trong xã hội, mọi người gửi tiền vào ngân hàng, tích lũy chung lại để được đem dùng làm vốn đầu tư. Nếu những người được quyền sử dụng tài nguyên đó là những người có tài kinh doanh, tạo ra nhiều của cải nhất cho nhiều người dùng nhất, thì cả xã hội đã sử dụng tối ưu các tài nguyên chung đó. Trong một nền kinh tế tự do, các ngân hàng theo tiêu chuẩn tối ưu mà cho vay, tức là xí nghiệp nào có khả năng sinh lời cao nhất thì vay được nhiều nhất. Ngược lại, trong nền kinh tế bao cấp, tiền gửi ngân hàng được nhà nước đem trao cho các xí nghiệp quốc doanh, không theo tiêu chuẩn tối ưu đó. Vì vậy, một thứ tài nguyên chung của xã hội đã bị cố ý sử dụng sai, tức là phí phạm.

Nhưng tiền vốn không phải là thứ tài nguyên quan trọng duy nhất bị kinh tế bao cấp xài phí. Một thứ tài nguyên quý giá hơn nữa là sức làm việc của con người. Trong một nền kinh tế tự do thì mọi công nhân đi tìm chỗ làm nào trả lương cao nhất; xí nghiệp tuyển người sẽ “đấu giá” thu hút người giỏi nhất bằng lương bổng tương xứng. Khi vào một xí nghiệp, cơ quan rồi thì nhân viên tìm cách tăng năng suất của chính mình để được tăng lương. Trái lại, trong một nền kinh tế bao cấp thì dù một người có khả năng cao cũng không chắc được trả lương bằng một người thua kém mình; vì người kém khả năng làm cho một doanh nghiệp nhà nước có thể vẫn được hưởng lương cao nhờ tiền nhà nước trợ giúp; trong khi đó bạn đồng nghiệp trong lãnh vực tư phải chật vật mới đạt được mức lương ngang bằng. Cả hệ thống đó làm nản lòng người làm việc, kể cả những người có khả năng mà làm trong lãnh vực quốc doanh. Một hệ thống kinh tế làm nản lòng, chứ không khích lệ người làm việc, thì sẽ không tiến bộ mạnh bằng những xã hội có khích lệ phù hợp. Khi đó, cả xã hội cùng chịu thiệt thòi chứ không riêng gì những người làm ở lãnh vực tư.

Bài học rất rõ ràng: Cũng bấy nhiêu tiền vốn do dân chúng để dành tích lũy lại, cũng bấy nhiêu con người làm việc, một nước theo kinh tế bao cấp sẽ tiến chậm hơn một nước theo kinh tế tự do. Vì chế độ bao cấp mà nền kinh tế có hiệu năng thấp.

Mối tai hại của lối tổ chức kinh tế bao cấp đã thấy rõ rồi. Nhưng ngay trong một xứ kinh tế tổ chức theo lối tư bản, xã hội vẫn có thể mang tính chất bao cấp nếu có những người đóng góp ít vào nền kinh tế mà lại được hưởng nhiều hơn tỷ lệ đóng góp của họ.

Ngay trong một nước theo kinh tế thị trường từ lâu, nhưng xã hội vẫn được tổ chức theo tinh thần bao cấp, thì nguồn gốc tác hại vẫn còn đó, dù bệnh nhẹ hơn và phát tác chậm hơn. Tìm hiểu câu chuyện Hy Lạp lâm nguy là một bài học cho các nước khác, đặc biệt là cho Việt Nam.

Khi chúng ta nhìn vào những khó khăn của kinh tế Hy Lạp, hai nguyên do hiển nhiên nhất là ngân sách khiếm hụt trầm trọng và số nợ của quốc gia (chính phủ và tư nhân nợ các nguồn tài trợ ngoại quốc) quá lớn so với tài sản tạo ra mỗi năm gọi là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP). Khiếm hụt ngân sách năm 2009 của chính phủ Hy Lạp lên tới hơn 13% GDP, còn số nợ ngoại quốc là 115% GDP. Sai lầm của cả nước Hy Lạp là họ chi tiêu nhiều hơn là số tiền kiếm được. Số tiền chi tiêu nhiều hơn đó, chính yếu là tiền mà chính phủ trả cho một số người hoặc không còn làm việc hoặc làm việc với hiệu năng thấp, tức là đóng góp ít vào nền kinh tế mà vẫn được hưởng nhiều. Sau khi được các nước Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đồng ý cứu giúp, Quốc Hội và chính phủ Hy Lạp đã phải đưa ra chính sách giảm bớt tiền hưu bổng (giảm 11%) và thay đổi hệ thống trợ cấp thất nghiệp (hiện nay người thất nghiệp được lãnh trợ cấp gần như không có giới hạn thời gian); đồng thời sẽ cắt bớt lương của công chức (cắt 14%), và giảm bớt số công chức, tức là tiết giảm cả bộ máy hành chánh làm việc kém hiệu năng. Chính số tiền chi cho những người không còn sản xuất và những người làm việc kém hiệu năng này là nguồn gốc chính gây ra cơn khủng hoảng ở Hy Lạp. Cả thế giới lo ngại Hy Lạp sẽ không còn khả năng đi vay nợ mới để trả các món nợ cũ - nói cách khác, chỉ có thể đi vay thêm nếu chịu trả lãi suất rất cao, mà kinh tế quốc gia suy yếu không còn khả năng trả lãi suất như vậy nữa.

Trong các nước gọi là tư bản, từ thời 1870 đã có luật lệ bảo đảm cho những người về hưu, những người bị tai nạn nên không thể làm việc hoặc thất nghiệp, ai cũng có tạm đủ tiền sống. Chế độ này được gọi là nhà nước an sinh xã hội (welfare state) rất thịnh hành ở Âu Châu và cũng được áp dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ Châu. Nhưng trải qua thời gian, chế độ an sinh xã hội này đã bám rễ với số trợ cấp ngày càng cao hơn. Và nhiều người được hưởng các trợ cấp an sinh đó ngày càng đông hơn, chính họ tạo áp lực chính trị để bảo vệ các quyền lợi thủ đắc của họ, không còn nghĩ tới ảnh hưởng tai hại trên nền kinh tế chung. Ðó là khi nhà nước an sinh xã hội biến thành nhà nước “xã hội bao cấp.” Những người đóng góp ít mà được hưởng thụ nhiều trong nền kinh tế trở thành một gánh nặng cho cả quốc gia. Nếu những người đang hưởng lợi đó lại tự lập thành những thế lực chính trị lớn thì họ có thể “định chế hóa” việc hưởng thụ các lợi lộc của họ, bằng những chính sách, luật lệ, kéo dài tình trạng bất bình đẳng và gây tai hại cho hiệu năng của cả nền kinh tế.

Hy Lạp chỉ là một trường hợp mà cơn khủng hoảng xuất hiện sớm nhất, tiếng chuông báo động lớn nhất. Nhiều nước trong khối tư bản tiên tiến về kinh tế cũng có thể mắc vào nỗi khó khăn tương tự. Tại Âu Châu, các nước Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha đã được báo động kịp thời và đã tiến hành những biện pháp “giảm chi” cần thiết, để khỏi đi theo Hy Lạp. Ngay tại nước Mỹ, những tiểu bang như California đã được báo động là sẽ có ngày lâm vào tình trạng giống như Hy Lạp. Vì California cũng chi tiêu nhiều quá, rộng rãi quá, cho một số người được hưởng nhiều hơn phần đóng góp của họ vào nền kinh tế. Tại tiểu bang này, một số thế lực chính trị đã kéo dài tình trạng “bao cấp” cho một số người như vậy. Những nghiệp đoàn công chức lo bảo vệ quyền lợi của mình. Các chủ nhà mua nhà trước khi giá lên không muốn bãi bỏ đạo luật cấm tăng thuế thổ trạch cũ, vì họ có khi chỉ đóng thuế nhà đất thấp bằng 5% hay 10% tiền thuế mà người hàng xóm mới mua nhà phải trả. Ðó là những quyền lợi được hưởng nhờ một chính sách không công bằng, mặc dù đúng luật lệ. Luật lệ đã định chế hóa tình trạng bất công đó. (Ðể minh bạch với quý vị độc giả, xin nói rõ hiện ký giả này cư ngụ ở California, tiền thuế nhà mỗi năm đóng gấp 6, 7 lần nhà hàng xóm bên trái nhưng lại chỉ bằng một nửa nhà bên phải).

Tình trạng xã hội bao cấp ở Việt Nam hiện nay còn nặng nề và nghiêm trọng hơn Hy Lạp rất nhiều, mặc dù cuộc đổi mới kinh tế được coi là đã xóa bỏ nhiều định chế bao cấp. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước đang được chính quyền phát triển, che chở và trợ giúp bằng đủ mọi cách, có tính chất bao cấp hiển nhiên. Chính sách của Ðảng Cộng Sản vẫn đề cao khu vực quốc doanh, cho thấy chủ trương này sẽ còn được thực hiện trong hàng chục năm hay nhiều hơn nữa. Nhưng tính chất bất công nặng nề nhất là ngay trong bản Hiến Pháp đã dành quyền lãnh đạo quốc gia cho một đảng là Ðảng Cộng Sản. Ðiều 4 trong Hiến Pháp Việt Nam hiện nay giành ưu quyền cho các đảng viên cộng sản, trong thực tế là cho một số người lãnh đạo trong đảng. Ðó là một sự bất công hiển nhiên. Sau 5 năm sống dưới chế độ cộng sản, nhà văn Nguyễn Hiến Lê (một người tự nhận đã từng có cảm tình với cộng sản) đã phải nhận xét rằng chính quyền cộng sản đối xử với người dân miền Nam giống như chế độ Apartheid mà người da trắng áp đặt trên người da đen ở Nam Phi (Hồi Ký, tập III, Văn Nghệ xuất bản, 1988, trang 36). Ông viết thẳng về tình trạng bất công đã được định chế hóa này: “Giai cấp được trọng nhất là giai cấp đảng viên; giống như giai cấp quý tộc đời nhà Chu (bên Tầu) ba ngàn năm trước” (trang 85). Tình trạng xã hội bao cấp đã được định chế hóa đến mức cao nhất vì được ghi ngay trong bản Hiến Pháp!

Chế độ xã hội bao cấp dành cho một số người đó sẽ không thể đưa kinh tế quốc dân tiến lên được theo đúng tiềm năng của hơn 80 triệu người dân Việt Nam. Việt Nam, khiếm hụt ngân sách năm ngoái là 9% GDP và nợ ngoại quốc bằng 35%, thấp hơn Hy Lạp vì mức sống của người dân còn thấp hơn rất nhiều (Lợi tức bình quân của Hy Lạp cao gấp hơn 20 lần dân Việt Nam). Cán cân thương mại của Việt Nam cũng khiếm hụt không khác gì Hy Lạp. Với một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chỉ có hơn 3% trong quý thứ nhất năm 2010, ở một nước còn nghèo như nước ta, thì rõ ràng là nền kinh tế đang tiến lên rất chậm. Những quốc gia khác ở Á Ðông như Hàn Quốc, Ðài Loan, trong những thập niên 1970 đang ở tình trạng phát triển ngang với Việt Nam bây giờ, lúc đó tỷ lệ phát triển của họ đã tới 7 hay 9%, nhờ thế họ mới vượt tiến lên được. Nếu cứ tiếp tục duy trì một xã hội bao cấp thì không biết bao giờ nước nhà mới đuổi kịp các nước trong khu vực. Mối lo lớn nhất, là sẽ bị kinh tế Trung Quốc qua mặt rất nhanh, càng ngày càng cách xa, sức nặng đó sẽ đè trên cả nước Việt Nam ta trong suốt thế kỷ 21 này!

Post Reply