Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hòa hợp hòa giải dân tộc: Với ai? Ðể làm gì?

Lê Quốc Trinh
Tự dưng mấy hôm nay nổi lên những loạt bài nói về “hòa hợp hòa giải dân tộc” tràn lan trong thế giới mạng Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại. Bắt đầu bằng bài phỏng vấn ông Võ Văn Sung, cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp trên chủ đề “Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai,” trên báo TuanVietNam (24 tháng 4, 2010), tiếp theo là bà Nguyễn Thị Bình, cựu phó chủ tịch nước với câu nói, “Cùng một dân tộc, hà cớ gì không thể hòa hợp?” Phản hồi trên TuanVietNam sau đó là tiếng nói của GS Cao Huy Thuần (Một dân tộc không có sông Ngân), rồi bài viết của nhà giáo Phạm Toàn hôm nay (Ba điều ước về ngày 30 tháng 4).
Image
Không có hòa hợp hòa giải dân tộc sau 1975, thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi. (Hình: AFP/Getty Images)

Qua bài viết này tôi xin góp ý với hai nhà cách mạng lão thành đến tuổi “gần đất xa trời,” ông Võ Văn Sung và bà Nguyễn Thị Bình cũng trên chủ đề “hòa hợp hòa giải dân tộc.” Tôi là Việt kiều Canada, năm nay cũng qua lứa tuổi lục tuần, xin phép được đối thoại với với quý vị về những chuyện cũ xa xưa, chắc không gọi là lạc đề cho lắm.


Kính thưa quý vị,

Thực tế, 35 năm trôi qua, tôi nghĩ rằng đất nước đã thật sự hòa bình, mọi người đang mơ ước làm ăn xây dựng, mà ngày nay hãy còn nghe nhắc đến cụm từ “hòa hợp hòa giải dân tộc” sao mà cảm thấy đắng cay, chua chát. Ðiều này hiển nhiên chứng tỏ tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước tự thú nhận đã thất bại trong chính sách an dân, có nghĩa là “lòng dân không an.” Tôi thắc mắc không hiểu tại sao chỉ có nhà nước hay tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới hay kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc”? Hòa hợp với ai đây? Ðể làm gì nhỉ?

Theo lời các cụ nói “ai có tật thì hay giật mình,” phải chăng tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã làm điều gì sai trái trong quá khứ khiến cho hận thù dân tộc còn âm ỷ không thôi, để rồi sau 35 năm qua, quý vị lãnh đạo lại cứ bị ám ảnh mãi? Phải chăng vì thế mà quý vị cán bộ cao cấp trong Ðảng thường hay đi lễ Phật, xây chùa hoành tráng, đúc tượng vĩ đại, bày trò cầu an, cầu siêu rầm rộ, say mê đồng bóng, điển hình là Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, người cộng sản đầu tiên trong lịch sử, xung phong xin quy y Tam Bảo và đăng đàn tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản Thế Giới 2008?

Nếu đúng thế thật, vậy thì theo giáo lý nhà Phật chính thống, tôi trân trọng đề nghị quý vị lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam hãy cùng nhau tổ chức một buổi lễ hoành tráng gọi là “Thành Tâm Sám Hối” trước tiên, hãy lấy hết can đảm tự làm một bản kiểm thảo tự phê bình trước toàn dân. Ðức Phật đã từng nói rằng, “buông dao mổ trâu xuống, tức khắc thành Phật,” ở đây phải nói chính xác là buông xả hết những tâm địa đen tối, dẹp bỏ những thủ đoạn gian trá, lừa lọc còn tiếp tục gây hoang mang nghi ngờ trong quần chúng.

Chưa hết, đó mới chỉ là bước đi đầu tiên để tái lập lòng tin sơ khởi, bước kế tiếp là đề nghị tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Quốc Hội Việt Nam hãy có can đảm tu chỉnh Hiến Pháp, xóa bỏ Ðiều 4 (*), chấp nhận mọi chính kiến trái chiều, công nhận đa nguyên đa đảng, từ bỏ cương vị độc quyền độc đảng, và từng bước tiến hành một cuộc tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu dân chủ và tự do để cho toàn thể dân tộc Việt Nam, đến tuổi trưởng thành, tự tay cầm lá phiếu bầu lên một chính phủ đại diện dân “danh chính ngôn thuận.” Ðó mới đúng là hòa hợp hòa giải dân tộc, hãy để dân tộc Việt Nam nói lên tiếng nói của họ, vì hơn nửa thế kỷ qua họ đã phải âm thầm ngậm miệng cay đắng chịu đựng. Hãy thử học tập theo gương đất nước Căm-Pu-Chia bên cạnh, họ đã có can đảm dám chấp nhận đa nguyên đa đảng và tổ chức bầu cử dân chủ sau một thời kỳ đen tối suýt bị “diệt chủng.”

Ngày nào mà tư cách đại diện của tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước chưa thực sự “danh chính ngôn thuận” thì những lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc” của quý vị chỉ là những câu tuyên truyền rỗng tuếch, vô nghĩa, không khác gì những ngọn đèn nhỏ xanh đỏ nhấp nháy dùng để trang hoàng cho một thân cây Noel mục nát, trong mùa lễ Giáng Sinh. Ngày nào đất nước Việt Nam có được một chính phủ đại diện chính thức do toàn dân tín nhiệm bầu lên trong bầu không khí tự do, dân chủ thì tức khắc quý vị sẽ thấy ba triệu người con thân yêu ở hải ngoại lần lượt khăn gói kéo về chung vai sát cánh xây dựng tổ quốc hùng cường, và lương tâm quý vị lãnh đạo sẽ không còn bị cắn rứt ám ảnh nữa. Quý vị tin tôi đi!

Kính chào quý vị,
Lê Quốc Trinh
Canada

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Tập sống tự do dân chủ mất bao lâu?

Ngô Nhân Dụng

Ðầu thế kỷ trước, Phan Bội Châu đang ở Ðông Kinh viết thư cho Phan Châu Trinh ở Quảng Nam trong nước để khuyên không nên đề xướng các học thuyết tự do dân chủ, “Dân chi bất tồn, chủ ư hà hữu?” Phan Bội Châu cho rằng người dân Việt Nam chưa đủ khả năng sống theo lối tự do dân chủ. Cụ ví “quốc dân ta còn đang măng sữa” như đứa trẻ con răng chưa chắc mà cho ăn xương thì sẽ bị hóc, chân chưa vững mạnh mà bắt chạy thì sẽ ngã, què chân. Các học thuyết của Montesquieu và Rousseau thì ngay cả các nhà Nho nước ta cũng chưa biết đến. Ðem những học thuyết dân chủ ra cổ động, người ta không hiểu đầu đuôi gì thì sẽ không được mấy người tán thành!

Cụ Phan Hà Tĩnh có lý do riêng để phản đối cụ Phan Quảng Nam: Ông đang phò tá Cường Ðể, hy vọng sẽ lập lên làm vua sau này, khi đuổi được người Pháp. Lập một người hoàng tộc làm minh chủ thì dễ vận động dân chúng hơn. Ngoài ra, muốn cầu viện Nhật Bản thì chọn thể chế quân chủ lập hiến giống như họ.

Lá thư của cụ Sào Nam viết năm 1907. Bốn năm sau, cách mạng bùng lên ở Trung Hoa, lật đổ ông vua, thiết lập “dân quốc.” Rồi cụ Sào Nam không được phép ở lại Nhật Bản nữa. Và tư tưởng cụ cũng biến đổi, năm 1912 lập Việt Nam Quang Phục hội, chuyển sang tư tưởng tự do dân chủ.

Khi can ngăn Phan Tây Hồ đừng vận động dân chủ, Phan Sào Nam chỉ muốn xin hoãn lại công việc đó thôi chứ không phải muốn bác bỏ hoàn toàn. Cụ viết: “Rồi đây, mươi, mười lăm năm nữa, huynh ông sẽ đưa cái thuyết đó ra, thì người đầu tiên đứng cạnh huynh ông mà vỗ tay hoan hô sẽ là tôi vậy. Huynh ông nghĩ xem, mặt tôi có thể đi làm tôi đòi, làm chó săn đâu!”

Nếu lấy con số 15 năm mà Phan Bội Châu đưa ra mà tính từ năm 1907, thì cụ tin rằng tới năm 1922 người Việt Nam đã đuổi được người Pháp, giành được độc lập rồi. Mà chắc cụ cũng tin rằng đến năm đó dân Việt Nam sẽ đủ trưởng thành để học hỏi các lý thuyết về thể chế dân chủ. Phan Bội Châu là người tánh sôi nổi, quả quyết, nóng nẩy, rất bi quan khi nói đến tinh thần nô lệ còn trong đầu đồng bào nhưng lại rất lạc quan về triển vọng sẽ thay đổi được tinh thần hủ lậu bằng tư tưởng tự do dân chủ. Năm 1907 cụ đã tin rằng trong 10 đến 15 năm dân Việt Nam có đủ khả năng hấp thụ các học thuyết dân chủ.

Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21. Nhưng ở Việt Nam có nhiều người bị bắt giam, chỉ vì muốn truyền bá các tư tưởng tự do dân chủ. Có người chỉ dịch một tài liệu “Dân Chủ là gì?” mà cũng bị chính quyền cộng sản kết tội. Ông Hà Sĩ Phu mới bị công an Ðà Lạt cắt điện thoại, để cắt đứt liên lạc qua internet. Họ nêu ra “sự cố kỹ thuật” nhưng ai cũng biết Hà Sĩ Phu bị “bịt tai, bịt miệng” chỉ vì ông cổ động cho tự do dân chủ; không những thế, nhóm ông còn phổ biến tư tưởng Dân Chủ Xã Hội nữa.

Nghĩa là gần một trăm năm sau khi Phan Bội Châu tiên đoán dân Việt Nam có đủ khả năng học tập về tinh thần dân chủ và thể chế tự do thì Ðảng Cộng Sản vẫn chưa cho phép các nhà trí thức Việt Nam được tự do tìm hiểu và không được tự do phổ biến cho đồng bào hiểu chế độ tự do dân chủ là thế nào!

Cứ như vậy, thì biết đến bao giờ người Việt Nam mới thấm nhuần tinh thần tự do dân chủ?

Bởi vì tự do dân chủ không phải chỉ là những tư tưởng, những học thuyết để học thuộc rồi đem ra bàn cãi, thảo luận với nhau trước khi dùng, như các lý thuyết về kinh tế hay lý thuyết vật lý học. Dân Chủ là một nếp sống. Một quốc gia chỉ đáng gọi là có lối sống tự do dân chủ khi nào người dân đã “thấm nhuần” tinh thần đó. Người dân thấm rồi, sẽ thể hiện tự do dân chủ một cách tự nhiên, trong nếp sống, nếp suy nghĩ, trong cách ăn ở, cách đối xử của mình với mọi người, với từng cá nhân một hay là với cả tập thể xã hội chung quanh.

Muốn tập nếp sống đó, cần thời gian rất lâu dài. Thời Phan Bội Châu theo chủ nghĩa Tam Dân chắc cụ cũng theo con tính ước đoán của Tôn Trung Sơn, cho là thời gian “giáo dục dân chủ” cho quốc dân phải mất một thế hệ. Nhưng trong một thế hệ, chắc cũng chỉ tập cho dân quen sử dụng các thủ tục dân chủ thôi. Như người dân tập sống cho quen để dám tự do bỏ phiếu chọn người đại biểu, dám ra ứng cử, dám nói, dám làm theo ước vọng của mình, dám phê phán người cầm quyền, vân vân. Còn tập cho người dân một nước cách suy nghĩ tự nhiên theo tinh thần dân chủ, tự do, ngay trong đời sống hàng ngày, thì có thể cần thời gian lâu hơn nữa.

Thí dụ như thói quen sợ hãi trước những người nắm quyền hành, đó là tinh thần nô lệ đã bám rễ trong tâm lý người Việt cũng như người Trung Hoa trong bao nhiêu thế kỷ trước. Trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (viết năm 1903), Phan Bội Châu mô tả những người “bình dân, bách tính” nước ta thấy bọn lại thuộc (công chức) thì sợ như hùm sói; “đến chốn nha môn khiếp sợ hơn cả con rệp ở khe giường!” Trong cùng thời gian đó, Lương Khải Siêu ở bên Tàu cũng than, “Quốc dân chúng ta quá quen với chính thể chuyên chế nô lệ, coi quốc gia là tài sản riêng của vua chúa, không phải của hạng chúng mình.”

Một thói quen của người dân những nước tự do dân chủ là họ coi cả guồng máy nhà nước là dụng cụ chung để phục vụ cho mình. Dân đến công sở làm giấy tờ có quyền yêu cầu nhân viên nhà nước làm cho mình, chỉ dẫn cho mình cách làm cho đúng luật lệ. Ngược lại, những công chức trong một nước tự do dân chủ thì tự nhiễm thói quen coi mình có bổn phận phục vụ cho người dân khi họ đến công sở; có bổn phận giúp dân làm đúng thủ tục, luật lệ. Không bao giờ một nhân viên nhà nước nhìn người dân đến sở mình như là họ đến xin ân huệ, nhờ vả mình. Guồng máy nhà nước là một nơi làm dịch vụ hành chánh giúp dân làm đúng luật lệ, công chức được trả lương để làm dịch vụ đó; chứ không được làm khó dễ dân khi họ không biết rõ luật lệ.

Người dân sống trong chế độ chuyên chế thì có những thói quen khác hẳn. Họ đến công sở mà rụt rè, lo sợ. Sợ, vì các công chức là những “chuyên gia” về thủ tục hành chánh, độc quyền sử dụng các thủ tục đó, giống như các pháp sư Ai Cập thời Thượng cổ độc quyền biết các bùa, chú, đóng vai trung gian giữa thế giới loài người với các thần thánh ở trên cao! Người dân trong chế độ chuyên chế muốn biết các bùa phép hành chánh thì phải xin các quan lại dậy bảo, giống như xin ân huệ các thần linh. Sợ sệt như con rệp nép trong khe giường, Phan Bội Châu ví không ngoa!

Xin kể một câu chuyện có thật. Một người Việt ở nước ngoài về thăm Hà Nội vào khoảng năm 1995, thời điện thoại di động chưa thịnh hành. Cô ở nhà người cháu, gia đình thuộc loại có chức vị, trong nhà có máy điện thoại. Cô muốn gọi ra ngoại quốc, nên quay số nhà Bưu Ðiện, đổi mấy số rồi cũng có người trả lời. Cô xin cho biết số của bộ phận phụ trách điện thoại ra nước ngoài, nhờ một người tìm được nhân viên phụ trách có thể hỏi về cước phí. Gặp được nhân viên đó rồi mới hỏi giờ nào được hưởng giá rẻ nhất, vân vân. Sau cuộc điện đàm kéo dài, mấy người cháu trầm trồ nói: “Cô hách quá!”

Bà cô ngạc nhiên: “Hách cái gì?” “Cô nói chuyện với mấy nhân viên Bưu Ðiện, bắt họ phải đi tìm người có thể trả lời cô, thế mà họ cũng phải chiều! Rồi giọng cô nói cũng thản nhiên y như cô nói với chúng cháu vậy!” Bà cô lại ngạc nhiên! Bà đã thưa, hỏi rất lễ độ, lúc nào cũng nói “xin làm ơn, xin cảm ơn,” vân vân. Cái gì đã khiến cho mấy người cháu, tuổi từ 40 đến 50, nghe mà nghĩ rằng bà cô “hách?” Tất cả chỉ vì bà cô đã quen coi nhân viên công sở cũng là người cung cấp dịch vụ cho mình, mình không biết thì có quyền hỏi, họ tất nhiên sẽ lễ phép trả lời! Bà không có thói quen nhìn nhân viên nhà nước như các đấng bề trên nắm quyền ban phát ân huệ khi trả lời câu hỏi của dân chúng.

So sanh thói quen của những người dân sống trong chế độ khác nhau, dân chủ khác với độc tài, chúng ta phải tự hỏi, sau khi thể chế thay đổi thực rồi, cần phải mất bao nhiêu năm thì những người sống trong một nước độc tài chuyên chế mới tập được thói quen suy nghĩ, tập được những hành vi của người dân sống trong xã hội tự do dân chủ?

Nếu người dân một nước vẫn sợ công chức như hùm, như sói; đến công sở thì nhút nhát như con rệp trong khe giường, thì dù có ban hành một bản hiến pháp “dân chủ tuyệt vời” chăng nữa, làm sao quốc gia đó gọi là sống dân chủ được?

Một cách tập thói quen sống tự do dân chủ, là tập sinh hoạt tập thể. Vào những năm 1964 đến 1968 ở miền Nam Việt Nam có những phong trào thanh niên rất sống động. Phong trào sinh hoạt học đường đã tạo cơ hội cho các học sinh tập sống tập thể. Các hội đoàn thanh niên được tự do thành lập đã phát triển rất nhanh, trong đó phần lớn nhắm mục đích phục vụ xã hội, sinh hoạt văn nghệ, tôn giáo, vân vân. Nhưng chính khi tập họp lại để hoạt động với nhau, các thanh niên, học sinh thời đó đã tập sống các quy tắc dân chủ ngay trong tập hợp của mình. Ðó là những hạt giống gieo rắc tinh thần tự do dân chủ, nếu tiếp tục trong một thế hệ sẽ đào tạo được một xã hội công dân sống động. Chính xã hội công dân là nền tảng của chế độ dân chủ. Bởi vì chỉ khi nào người công dân trong nước tự mình tập quản trị những tổ chức, tập thể của mình, bên ngoài lãnh vực do guồng máy nhà nước lo, thì lúc đó dân mới tập sống theo tinh thần dân chủ. Chỉ khi nào xã hội công dân phát triển thì dần dần cả xã hội mới bắt đầu thấm nhuần tinh thần dân chủ tự do!

Phan Bội Châu tin rằng năm 1922 dân Việt Nam đủ trưởng thành để bắt đầu học nếp sống tự do dân chủ. Nếu bây giờ dân tộc Việt Nam mới bắt đầu, thì trong một vài thế hệ, nếp sống đó mới hy vọng thành hình. Muốn người dân tập nếp sống, nếp suy nghĩ tự do dân chủ thì phải phát triển xã hội công dân. Muốn vậy, phải trả lại ngay cho người dân các quyền như hội họp tự do, phát biểu tự do. Ðể chậm ngày nào là mang tội với tổ tiên ngày đó.


Chú thích: Bản dịch lá thư Phan Bội Châu “gửi Hy Mã tiên sinh” in trong Phan Bội Châu Toàn Tập, tập 2, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1990, trang 22. Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư in trong Tập 1, trang 143-149.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Hà nội Mở Chiến Dịch Dùng Việc Từ Chức của
Đức Cha Kiệt Nhằm Triệt Hạ Uy Tín Tòa Thánh


Emily Nguyễn (Asia-News)
Các phương tiện truyền thông của chính phủ Hà nội hiện đang cố gắng vẽ vời về việc từ chức vì lý do sức khỏe của Đức Cha Kiệt như là một chiến thắng của nhà nước, tự phô trương chính mình như là một thứ quyền lực tuyệt đối trong đời sống tôn giáo ở quốc gia này, coi mình là người mà ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng phải tuân lệnh.

Hà Nội (Asia-News) - Một chiến dịch đang được giới báo chí trong nước tiến hành nhằm mô tả việc từ chức đang diễn ra của Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt như là một chiến thắng của nhà nước Việt Nam, qua đó thuyết phục người Công giáo rằng bất kỳ quyết định nào liên quan đến đời sống tôn giáo ở trong nước đều phải phụ thuộc vào đảng Cộng sản. Ngay cả Đức Giáo Hoàng, trong bối cảnh này, cũng phải được sự chấp thuận của họ.

Về tình trạng của Đức TGM Kiệt, hôm qua, tổng giáo phận nói rằng ngài đã rời Hà Nội để tiếp tục cuộc điều trị đã được khởi sự từ hồi tháng Ba - ban đầu là ở Rome và sau đó là Paris - sau khi ngài đã đến dưỡng bệnh hai tháng tại tu viện Châu Sơn cũng cùng một lý do. Ngài đã bị mất ngủ mãn tính và căng thẳng, một tình trạng được cho là xuất phát từ các cuộc tấn công của nhà nước chống lại ngài. Trong gần hai năm, ngài đã không thể ngủ yên giấc. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Đức Cha Kiệt nói rất rõ rằng ngài đã xin Toà Thánh cho phép mình được từ chức vì lý do sức khỏe. Nhưng cả Toà Thánh lẫn Hội Đồng Giám Mục đều không chấp nhận yêu cầu. Đức Tổng Giám mục Kiệt đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng ngay cả trong những giây phút khó khăn nhất của mối quan hệ của ngài với nhà cầm quyền Việt Nam, "Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục luôn ở bên cạnh tôi".

Dưới đây là vài sự kiện về vấn đề này. Ngày 8 tháng Năm, tại Hà Nội và Saigon, báo chí nhà nước đã tiến hành một chiến dịch nhằm tường thuật về buổi lễ nhậm chức của Đức Tổng Giám Mục Phó mới, Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, trong đó nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại một câu của Thông Tấn Xã VNA, rằng "được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Đức Giáo Hoàng đã tiến hành việc bổ nhiệm này”. Các cụm từ, được lập đi lập lại trong tất cả mọi bản tin, nhằm mục đích thuyết phục người Công giáo rằng tất cả các hoạt động tôn giáo trong nước cần phải có "sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ."

Trong những ngày sau đó, truyền thông nhà nước đã tuyên bố rằng việc từ chức của Đức TGM Kiệt sẽ diễn ra trong khoảng ngày 13 và 18 tháng năm. Họ đã nhận được chỉ thị để mô tả sự rút lui này như là một chiến thắng của nhà nước đối với vị tổng giám mục, và là một thành công trong việc ép buộc Vatican phải chấp nhận một "lộ trình", trong đó việc nghỉ hưu của vị Tổng giám mục Hà Nội là một điều kiện cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao và (có thể là) cuộc ghé thăm của Đức Giáo Hoàng nữa. Theo những nhà báo này, nhà cầm quyền địa phương đang chuẩn bị một bữa tiệc để ăn mừng "chiến thắng " này của họ.

Việc phổ biến rộng rãi những tin đồn này đang tạo ra khó chịu và nghi ngờ giữa những giáo dân Công Giáo Việt Nam. Các chiến dịch của nhà nước, nói vắn tắt, đã khiến cho các tín hữu rơi vào não trạng cho rằng Tòa Thánh sẵn sàng hy sinh đổi một vị giám mục, người được những giáo dân Công giáo yêu quý nhưng bị chính quyền ghét bỏ để đạt được những mục tiêu "ngoại giao".

Linh mục Dòng Đa Minh Nguyễn Xuân Quế [có lẽ là Đỗ Xuân Quế - chú thích của người dịch] viết như sau "Người Công Giáo Việt Nam đã mất rất nhiều niềm tin nơi chính sách ngoại giao của Vatican và Hội Đồng Giám Mục. Họ không tin vào con đường này, và tin là Vatican không thông hiểu Giáo Hội Việt Nam và không biết gì về thực trạng của Giáo Hội này". "Vatican chẳng biết gì về Việt Nam ngày nay hết", một nhà truyền giáo từng sống tại Việt Nam bao nhiêu năm đã lập lại như thế...

Niềm tin này còn được tăng lên bởi những người lo sợ rằng một kỷ nguyên mới - được xem là tiêu cực - đang được nảy sinh trong quan hệ giữa Vatican và chính phủ Việt Nam, rồi lại được bồi thêm bởi những tin đồn rằng cùng với việc từ chức của Đức TGM. Kiệt, việc từ chức của Đức Giám mục Vinh Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, cũng sẽ được công bố. Cả hai vị đều có một lịch sử phản kháng và chống đối kiên cường trong bất kỳ nỗ lực nào của nhà nước nhằm hạn chế tự do tôn giáo hay việc trưng thu sai trái những tài sản của giáo hội.

Emily Nguyễn (Asia-News)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

TRUNG CỘNG CHƠI TRÒ QUA MẶT MỸ
Ở BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC NƯỚC CHÂU Á


Lý Đại Nguyên


Tổng thống Mỹ, Barack Obama và tổng thống Nga, Dmitri Medvedev ký hiệp ước cắt giảm võ khí hạt nhân của 2 nước, tại thủ đô Czech, hôm 08/04/2010, nhằm lật qua một trang sử mới về một thế giới “không có chiến tranh nguyên tử”. Tổng thống Mỹ, Obama tuyên bố: “Hiệp ước này là một bước quan trọng cho an ninh thế giới: Ngày hôm nay là một dấu mốc quan trọng cho an ninh hạt nhân, cho thỏa thuận không phổ biến vũ khí hạt nhân, cũng như cho mối quan hệ Mỹ-Nga”. Tổng thống Nga, Medvedev nói: “Vì có hiệp ước này, toàn thể cộng đồng thế giới đã đạt được thắng lợi”. Sau đó một hội nghị quốc tế gồm 40 nước, được triệu tập tại Washington để cùng cam kết không phổ biến loại vũ khí hủy diệt này nữa. Thực ra trong thời đại kinh tế thị trường toàn cầu hôm nay, các nước có vũ khí nguyên tử, dù khác chế độ, dù có căm ghét nhau cách mấy, cũng không thể xử dụng bom nguyên tử để tiêu diệt nhau được nữa, vì các nước lớn nhỏ đều đã đan kết quyền lợi đầu tư, thương mại với nhau. “Tiêu diệt người, cũng là tiêu diệt chính nguồn sống của mình”. Chỉ trừ 2 nước tự cô lập là Bắc Hàn, Iran và bọn Khủng Bố Quốc Tế, nếu họ có vũ khí nguyên tử trong tay thì đó mới là mối họa cho thế giới.


Chính vì vậy, mà vấn để nguyên tử của Bắc Hàn và Iran luôn là đề tài nóng đối với quốc tế. Bắc Hàn đã có vài ba quả bom nguyên tử, nhưng nước này nghèo đói mạt rệp và là đàn em của Trungcộng, mà ông anh tham lam sẵn sàng hy sinh đàn em để đổi lấy quyền lợi của mình trên trường quốc tế, nên Mỹ và quốc tế không mấy lo ngại. Trước sau gì rồi vấn đề Bắc Hàn cũng phải ngã giá thôi. Riêng Iran là một nước Hồi Giáo toàn thống có tham vọng thực hiện cuộc cách mạng Hồigiáo trên thế giới. Trực tiếp đe dọa nền hoà bình mong manh tại Trung Đông. 5 nước Thường Trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Tầu, cộng với Đức, đã thường dùng LHQ làm áp lực với Iran, nhưng đều thất bại, vì trước đây Nga và Tầu không cho làm mạnh. Nay Nga đã tỏ dấu cứng rắn hơn với Iran, vì Iran không chịu để Nga tinh luyện nguyên tử cho Iran dùng vào mục đích hoà bình. Chỉ còn có Tầu là kỳ đà cản mũi. Thực ra Tầucộng cũng chỉ muốn dùng vấn đề nguyên tử của Iran để cầm chân Mỹ tại phía Tây, vì nơi đây ngoài sự đe dọa của chương trình nguyên tử Iran, và mối nguy Khủng Bố Quốc Tế, còn là lò lửa chiến tranh Do Thái- Palestine, Iraq, Afghanistan, Pakistan, nên Mỹ chưa thể dồn toàn lực triển khai chiến lược “trở lại Á châu”, để Trungcộng có thời gian bành trướng thế lực ở phía Đông, nhất là làm chủ toàn vùng Biển Đông và khống chế Đông Nam Á.


Hiện nay, Trungcộng đã có Miến Điện trong tay, họ chủ trương hợp pháp hoá Miến Điện, nên đang thực hiện kế hoạch ‘dân sự hoá’ chế độ Quân Phiệt, qua cuộc tổng tuyển cử ‘tiền chế’. Gạt bỏ lãnh tụ Aung San Suu Kyi và tổ chức Liên Minh Dân Tộc vì Dân Chủ của bà ra khỏi cuộc bầu cử. Thay vào đó một số tướng lãnh có thực quyền, tự giải ngũ để thành lập chính đảng ra ứng cử và hẳn nhiên là thắng cử. Tại Tháilan, qua lá bài cựu thủ tướng tham nhũng Thaksin bị truất phế, được HunSen Campuchia nhận làm cố vấn kinh tế. Được Trungcộng hậu thuẫn, rồi thọc tay vào quậy tung tình thế Vươngquốc này, qua phong trào dân nghèo ‘Áo đỏ’ biểu tình bám trụ tại Bangkok, chống thủ tướng Abhisit và thế lực ‘Áo vàng’. Chính vì vậy, mà đa số thủ lãnh áo đỏ có muốn làm hòa với thiện chí của ông Abhisit cũng không xong. Tháilan loạn ly là một thắng lợi lớn cho Trungcộng.


Còn tại Việtnam thì Trungcộng hoàn toàn khống chế Tổng Bí Thư, Bộ Chính Trị, Trung Ương Khóa X, và tiếp tục âm mưu dàn dựng lớp lãnh đạo cộng đảng Khóa XI, nhằm thực hiện kế hoạch ‘tàm thực’ lâu dài tại Việtnam. Nếu, đảng Việtcộng, chính phủ Hànội còn nằm trong tay Trungcộng ngày nào thì toàn Dân, toàn Quân Việtnam dù có tinh thần quyết liệt chống Bành Trướng Trungcộng cũng khó lòng phát tiết ra được. Nắm được Việtcộng là nắm được nước Lào và Campuchia. Hiện nay Trungcộng đang đồng hoá nước Lào. Hứa cung cấp cho Campuchia 256 quân xa, và 50.000 bộ quân phục. Trám vào chỗ của Mỹ, hồi đầu tháng 04/2010, vừa ngưng viện trợ quân sự cho Campuchia, vì nước này đã trục xuất 20 người tỵ nạn Uighur từ Trungcộng. Xem vậy, 5 nước nằm ở lục điạ Asean, đều trong tầm tay của Trungcộng thao túng. 5 nước Asean nằm ngoài đảo thì vẫn còn lỏng chỏng, không cảm nhận được mối nguy bành trướng của Bắckinh. Nên chưa thể tìm được đồng thuận về Biển Đông.


Chính vì vậy mà Trungcộng mặc sức tung hoành trên biển Đông. Nuốt Hoàngsa, chiếm Trườngsa của Việtnam, vẽ thành hình ‘lưỡi bò’ chiếm trên 80 phần trăm diện tích biển Đông. Đưa tầu chiến xuống kiểm soát toàn vùng Trườngsa trong đó Việtnam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đàiloan đều có nhận chủ quyền. Nhưng mỗi nước không đủ sức đương đầu với Trungcộng. Nên Trungcộng chỉ muốn thương thuyết song phương với từng nước. Chống lại chủ trương ‘quốc tế hoá’ biển đông. Nhất là không để cho hạm đội Hoakỳ có mặt trong vùng. Mới đây Trungcộng tung ra một cuộc tập trận quy mô lớn ở vùng biển đảo chiến lược gần Nhậtbản. Hạm đội Đông Hải của Trungcộng đã tiến về chuỗi đảo chiến lược tiền tiêu giữa Nhậtbản, Đàiloan, Philippines., mà xưa nay hạm đội Mỹ vẫn hoạt động tích cực thường xuyên tại đó. Có lẽ dịp này, Mỹ cố làm ngơ để cho thủ tướng Nhật, Hatoyama phải bỏ kế hoạch dời căn cứ quân sự Mỹ trên đảo Okinawa, mà ông đã hứa khi tranh cử. Đây cũng là áp lực khiến cho các nước trong vùng Đông Nam Á dễ dàng chấp nhận đứng chung trong chiến tuyến ngăn bành trướng Trungcộng của Mỹ.


Thực ra Hoakỳ có trong tay, bản Hiệp Ước Thượng Hải 1972 ký giữa tổng thống Mỹ, Nixon với Chu Ân Lai, thủ tướng Trungcộng. Trong đó Mỹ hứa chấm dứt can dự vào chiến tranh Việtnam. Trungcộng long trọng cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ, phải được đối xử bình đẳng; những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ. Trungquốc sẽ không bao giờ là một siêu cường, và Trungquốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền lực chính trị dưới bất cứ hình thức nào…tất cả mọi quốc gia có quyền lựa chọn hệ thống xã hội của họ, như sự mong muốn của họ, và quyền bảo vệ nền độc lập, quyền tối thượng và quyền toàn vẹn lãnh thổ của những quốc gia riêng họ, và chống lại mọi hình thức hiếu chiến của ngoại bang, chống lại sự can thiệp, kiểm soát và sự phá hoại. Tất cả lực lượng quân sự phải rút về lãnh thổ riêng họ”. Nhưng hành động bá quyền nước lớn đối với các quốc gia nhỏ trong vùng, và cuộc công khai xâm chiếm biến Đông của Trungcộng hiện nay, rõ ràng Trungcộng đã tự tay xé bỏ bản Hiệp Ước 1972 giữa Mỹ vả Tầu. Đến lúc, Mỹ đã danh chính ngôn thuận, hợp tình, hợp pháp có quyền ‘trở lại Á Châu’ rồi vậy.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Phoenix: Bùng Nổ Lớn Vụ Triệt Cờ Vàng
Lý Văn Hợp
Kính gửi quý ông bà anh chị em,

Theo tiểu sử thánh Ða Minh, đấng sáng lập dòng Anh Em Thuyết Giáo, thì khi hiền mẫu thánh Ða Minh mang thai ngài, bà đã nằm mơ thấy mình mang thai một con chó đang ngậm một bó đuốc và khi bà sinh, con chó đã đốt sáng bó đuốc đang ngậm trong miệng và chạy khắp cả thế gian.

Trước sự kiện linh mục dòng Đa Minh Giuse Nguyễn Thuận - bất chấp nguyện vọng của giáo dân - đã luôn cấm đoán, ngăn chặn biểu tượng của người Việt không cộng sản: lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại giáo xứ Các Thánh Tử Đạo VN tại Phoenix, mà cao điểm là sự ngăn cấm và triệt hạ cờ Vàng vào ngày lễ khánh thành nhà thờ, linh mục Giuse Trần Trung Liêm, Bề trên miền của phụ tỉnh dòng Đa Minh thay vì đốt đuốc cho sự thật, thay vì làm chứng nhân cho tình yêu theo gương thánh phụ Đa Minh, đã bất chấp lẽ phải, theo cung cách "phủ bênh phủ, huyện bênh huyện", công khai khuyến khích, cổ võ linh mục Nguyễn Thuận và cái gọi là Hội Đồng Mục Vụ kiện giáo dân.
Image Hầu hết mọi người trong giáo xứ đều biết linh mục Nguyễn Thuận đã luôn tìm cách và đã thành công trong việc triệt hạ lá Cờ Vàng tại giáo xứ CTTĐ/VN, Phoenix. Sự rắp tâm triệt hạ Cờ Vàng này đã kéo dài từ nhiều năm nay, khởi đầu từ ngày linh mục Nguyễn Thuận về làm chính xứ. Các cha dòng Đa Minh thường xuyên được giáo dân gửi điện thư đến thông báo sự việc trên với hy vọng trong tình anh em dòng, các cha Đa Minh có thể khuyên nhủ linh mục Nguyễn Thuận trở về với chính nghĩa quốc gia, xây dựng giáo xứ trong tình thần công giáo, đoàn kết, yêu thương (thật sự chứ không phải chỉ môi mép) như trước ngày cha đến.
Image Riêng việc ngăn cấm, triệt hạ cờ Vàng ngày khánh thành nhà thờ, mọi người tham dự kể cả linh mục Giuse Trần Trung Liêm cũng như các cha dòng Đa Minh khác đến từ Canada đều chứng kiến, có cả hình ảnh ghi lại, vậy mà linh mục Liêm - bất chấp sự thật hiển nhiên, trước mắt hàng ngàn người và máy chụp hình, quay phim - đã lưỡi gỗ làm chứng gian: “Xin xác định với anh em đây là một chuyện vu khống“.
http://take2tango.com/MyFiles/image/New ... ona-04.jpg Chúng tôi xin nhắn nhủ đến linh mục Liêm: nếu ngài không noi gương thánh phụ Đa Minh, thì cũng không được phép quên mình là một linh mục công giáo và điều răn thứ chín trong mười điều răn Đức Chúa Trời "chớ làm chứng gian hại người" được áp dụng cho mọi người, giáo dân cũng như linh mục, kể cả linh mục Bề Trên.
Image Xin linh mục Trần Trung Liêm đừng quên, Phoenix là một tỉnh của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ một đất nước có luật pháp công minh. Trò "lưỡi gỗ" chỉ thành công khi luật rừng và bạo lực được triệt để sử dụng nhằm đánh tráo sự thật như tại nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thư,

Phoenix, 16.05.2010
Lý Văn Hợp
hopvly@yahoo.com

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tại sao không sợ Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng
Một quốc gia tiến quân vào lãnh thổ hay hải phận của nước khác mà ăn cướp, hoặc bắt cóc dân chúng người ta đem về tức là muốn khiêu khích, hoặc cố tình hạ nhục nước láng giềng. Việt Nam hiện đang bị Trung Quốc khiêu khích, có thể nói là đang bị gây hấn. Từ mấy năm nay ngư dân Việt Nam đi đánh cá trong hải phận nước mình đã bị Hải Quân Trung Quốc bắt cóc, cướp của, hành hạ, họ phải nộp tiền chuộc mới được thả về. Ðây không phải là những hành động lẻ tẻ mà được sử dụng đều đặn một cách có hệ thống, có chính sách. Người Việt Nam tiếp tục tỏ ý hòa hoãn, nhún nhường là chịu nhục. Nhịn nhục thì không làm cho Trung Quốc thay đổi, trái lại, chỉ khiến họ hung hãn hơn mà thôi.

Ông Tiêu Viết Là, 49 tuổi, ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đã bị Hải Quân Trung Quốc bắt cóc 4 lần kể từ năm 2007 đến nay. Lần nào họ cũng cướp đoạt dụng cụ đánh cá, đánh đập, sau cùng đòi tiền chuộc mới thả về. Lần sau cùng ông Ngà bị bắt ngày 21 tháng 3, năm 2010: “Mười hai người đang ngủ, nó tới, nó lôi mình dậy, nó thu hết đồ đạc rồi nó dắt về Phú Lâm. Nó trói tay bịt mắt lại, rồi dắt về Phú Lâm,” ông Là nói với đài Á Châu Tự Do.

Ngày 29 tháng 4 ông Tiêu Viết Là được trả tự do cùng với 22 ngư dân khác. Trong thời gian bị giam giữ họ bị bỏ đói, bữa ăn chỉ có muối và đu đủ sống, cơm đủ tạm cầm hơi. Riêng ông trước khi được thả còn bị quân Trung Quốc đem ra ngoài hành hạ, đánh, đá. Chúng chỉ cốt khủng bố tinh thần; vì cứ đánh mà không cho biết lý do. Ông Tiêu Viết Là phải nuôi gia đình, với vợ và bốn con, cho nên ông sẽ lại trở về với nghiệp đánh cá. Và ông nói sẽ tiếp tục ra xa bờ đánh cá, trong vùng biển xa thuộc chủ quyền của nước mình, vì ven bờ biển không đủ cá bắt. Chính quyền Việt Nam cũng vẫn nói đó là hải phận Việt Nam, vì quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhưng cả guồng máy nhà nước hầu như tê liệt không ngăn chặn được quân Trung Quốc lộng hành suốt mấy năm qua.

Theo thống kê của nhà nước, chỉ riêng năm 2009, quân Trung Quốc đã bắt giữ 33 chiếc tầu 17 tàu đánh cá và bắt cóc 433 ngư phủ Việt Nam, trong số đó khoảng 210 ngư dân thuộc đảo Lý sơn và huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 4 tháng 5 năm nay, ông Ðặng Tầm và ngư dân Quảng Ngãi đã bị lính Trung Cộng bắt cóc, mười ngày sau họ được thả về sau khi chịu nộp tiền phạt 200 triệu đồng Việt Nam, tiền chuyển qua một ngân hàng ngoại quốc ở Trung Quốc. Chiếc tàu của họ, chỉ còn vỏ tàu với máy tầu, còn mọi máy móc trang bị khác, cùng với hải sản, xăng dầu, lương thực dự trữ đã bị cướp sạch, chỉ chừa lại ít dầu để cho họ trở về.

Tuần này, dư luận trong nước đã được khuấy động sau khi Trung Cộng đơn phương ra lệnh cấm tất cả mọi người không được đánh cá trên Biển Ðông, trong vùng chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa mà họ coi là “ao nhà” của họ. Lệnh đưa ra từ đầu tháng 4, Chủ Nhật 16 tháng 5 được thi hành, sau đó mới có một ít báo, đài ở miền Nam đưa ra những lời phản đối của người dân. Những năm trước đây Trung Cộng đã từng ban ra những lệnh tương tự, nhưng năm nay là lần đầu tiên dư luận dân Việt mới được đưa ra trên báo chí.

Về phía chính quyền, mới nghe tỉnh Quảng Ngãi lên tiếng khuyến khích ngư dân cứ tiếp tục đánh cá ngoài khơi, không cần tuân theo lệnh cấm của Trung Cộng. Họ còn hứa sẽ cho “bộ đội biên phòng” hỗ trợ các ngư phủ. Nói “hỗ trợ” chứ không nói “bảo vệ!” Ông Trương Ngọc Nhi, phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi nói với một mạng lưới trong nước: “Tỉnh Quảng Ngãi kêu gọi ngư dân đoàn kết thành lập tổ, đội tự quản tàu thuyền hỗ trợ lẫn nhau tiếp tục vươn ra khơi đánh bắt thủy sản.” “Vươn ra,” nói thì dễ, trẻ con cũng nói được.

Ðây là một thái độ vô trách nhiệm của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trước hết, lệnh cấm của Trung Cộng là một chính sách quốc gia của họ; Việt Nam phải trả lời trên bình diện quốc gia ngang hàng; không thể để cho chính quyền một tỉnh lên tiếng. Một tỉnh đó không thể đứng ra nói chuyện với quốc gia khác, cho nên chỉ biết tỏ thái độ bằng cách ra lệnh cho dân chúng của mình mà thôi. Nhưng nếu các ngư phủ Việt Nam cứ nghe theo lời khuyến khích trên mà khi họ ra khơi lại bị bộ đội Trung Quốc bắt giam, cướp bóc và đánh đập thì sao? Ngân hàng của nhà nước lại tiếp tục chuyển tiền của dân nộp cho bọn “cướp biển” đó hay sao?

Lời hứa “cho bộ đội biên phòng hỗ trợ” là một câu nói vô giá trị. Làm sao người dân Quảng Ngãi và toàn dân Việt Nam có thể tin vào lời hứa đó được? Vì bổn phận thường xuyên của “bộ đội biên phòng” một nước lúc nào cũng phải bảo vệ người dân nước mình, không phải đợi đến khi bị ngang nhiên khiêu khích mới lên tiếng hứa hẹn. Nhưng từ bao nhiêu năm nay, ngay trong năm 2010 và ngay đầu tháng này, các ngư dân Việt Nam bị bắt cóc, bị đánh đập, bị đòi tiền chuộc, có thấy “bộ đội biên phòng” nào cứu họ, giúp họ không? Những lúc đó “bộ đội biên phòng” đang ngủ ở đâu?

Nước Mã Lai Á nhỏ hơn Việt Nam, dân ít hơn Việt Nam, nhưng chính quyền nước họ có thái độ khác hẳn. Ðầu tháng 4 vừa qua, Trung Quốc đã điều hai tàu Ngư Chính đến tuần tra trong khu vực Trường Sa, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc gần 1,200 km. Khi tới phía Bắc đảo Borneo, chiếc tàu Trung Cộng đã bị tàu chiến Malaysia bám theo sát trong khoảng thời gian 17 tiếng đồng hồ, trong hai ngày 29 và 30 tháng 4. Có lúc tàu Malaysia theo sát chỉ cách tàu Trung Quốc khoảng 300 mét. Báo chí Trung Quốc nói các binh sĩ trên tàu Mã Lai đầu đội mũ sắt với tư thế sẵn sàng chiến đấu, 4 binh sĩ tiến vào sau các khẩu pháo để chờ bắn, có nòng pháo chĩa thẳng vào tàu Trung Cộng. Một phi cơ chiến đấu của Malaysia xuất hiện bay phía trên tàu Trung Quốc, bay lượn liên tục, hai lần trong một ngày. Cuối cùng chiếc tầu Trung Cộng phải rút lui.

Người Việt Nam có cần phải sợ hãi trước Trung Quốc hơn người Mã Lai hay không? Nhà cầm quyền cộng sản phải trả lời.

Malaysia chắc chắn không muốn gây chiến tranh, mà chắc Bắc Kinh cũng phải biết như vậy. Chính phủ Mã Lai cương quyết đuổi tầu Trung Cộng đi chỉ vì bất đắc dĩ, phải bảo vệ thể diện quốc gia và gìn giữ các quyền lợi kinh tế của dân.

Nhưng tại sao Malaysia không sợ Trung Quốc? Vì ai cũng biết rằng trong thế giới hiện nay một nước mới đang muốn ngoi lên hàng cường quốc như Trung Quốc không thể nào tấn công, xâm chiếm một nước nhỏ mà sống yên ổn được. Tất cả thế giới, nhất là các nước trong vùng Ðông Nam Á sẽ đứng về phía nước nhỏ bị bắt nạt mà chống lại Bắc Kinh; giống như các nước đã tẩy chay Nga khi Putin muốn lấn áp các chư hầu cũ ở Ðông Âu. Nếu Trung Quốc đánh một nước nhỏ láng giềng, cả thế giới sẽ tẩy chay ngoại giao, nhưng miếng đòn đáng sợ nhất sẽ là bao vây kinh tế. Trung Quốc không thể nào chịu đựng được sự trừng phạt đó. Nước Tầu hiện đang sống nhờ ngoại thương. Ðạo quân kinh tế của họ đang đi khắp Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh để chinh phục cảm tình. Họ sẽ bị cả thế giới nghi ngờ nếu gây chiến với một quốc gia khác.

Chính phủ Bắc Kinh không bao giờ muốn hy sinh bỏ đi tất cả những thành tựu kinh tế trong 30 năm qua nhờ biết hòa hiếu với các nước khác, chỉ để thỏa mãn một tham vọng lãnh hải trong một vùng còn nhiều tranh chấp. Mặt khác, Trung Quốc vẫn có thể được hưởng nhiều quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Ðông dù phải nhượng bộ một phần nào về chủ quyền trên các đảo đang bị tranh chấp. Từ năm 1950 Bắc Kinh mới tham dự một cuộc chiến tranh ở bán đảo Hàn Quốc; mà đáng lẽ họ phải tấn công Ðài Loan từ 60 năm trước đây, nhưng không bao giờ hành động. Ðó là một con chó sủa rất to nhưng không cắn.

Cho nên không có lý do nào để Malaysia phải khiếp sợ Trung Quốc. Ðối với Việt Nam cũng vậy. Tất cả những luận điệu tỏ ý run sợ trước sức mạnh quân sự của nước Tầu chỉ nói ra để che giấu thái độ khiếp nhược của một nhóm người cầm quyền mà thôi. Lịch sử cho ta thêm nhiều lý do để người Việt Nam không cần sợ Trung Quốc hơn người Mã Lai.

Chính quyền Malaysia chỉ chống Trung Cộng trong thời gian Bắc Kinh khuyến khích và yểm trợ đám cộng quân nổi loạn trong xứ họ thời 1950, dẹp yên cộng sản thì thôi. Người Việt Nam thì có quá khứ khác hẳn. Dân ta đã có nhiều kinh nghiệm chiến tranh với Trung Quốc; mà chính quyền Trung Hoa đã nhận được nhiều bài học đáng giá khi gây hấn và xâm chiếm Việt Nam trong 2 ngàn năm qua. Cho nên người Việt Nam lại càng không cần khiếp sợ trước thế lực quân sự của Trung Quốc. Ngày xưa các đạo quân của Toa Ðô, của Liễu Thăng cũng mạnh hơn quân Việt Nam. Mà trong thời gian đó toàn thể lực lượng quân sự, tài nguyên kinh tế của nước Trung Hoa thì vẫn mạnh gấp hàng ngàn lần sức lực của nước ta. Nhưng tổ tiên chúng ta không khiếp sợ. Trung Cộng chỉ đem quân đánh Việt Nam gần đây, năm 1979 khi chính quyền cộng sản để cho nước ta bị cả thế giới tẩy chay vì chiếm đóng Cam Pu Chia. Ðặng Tiểu Bình dám “cho cộng sản Việt Nam một bài học vì vô ơn bạc nghĩa” khi hầu hết các cường quốc và các nước vùng Ðông Nam Á cũng muốn cho Cộng Sản Việt Nam một bài học!

Nói những điều trên đây không có nghĩa là chúng ta muốn có một cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Không muốn chiến tranh, nhưng phải làm mọi cách bảo vệ quyền lợi của người dân nước mình, phải làm mọi cách giữ gìn danh dự, thể diện dân tộc. Trước hết, chính quyền Việt Nam không thể bỏ rơi dân chúng của mình cho “hải tặc nhà nước” Trung Cộng bắt bớ, cướp bóc mãi được. Phải bảo vệ người dân, chứng tỏ hải quân nước Việt Nam không sợ chết mà chỉ sợ nhục. Khi bày tỏ thái độ cứng rắn đó, phải kêu gọi các nước khác hỗ trợ, đặc biệt là trong vùng Ðông Nam Á.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hệ thống radar 900 triệu USD của Mỹ.


Image
Hệ thống radar X-Band (SBX - Sea-Based X-band Radar system) là một trong những hệ thống ra đa cảnh báo sớm tối tân nhất trên thế giới, nhiệm vụ phát hiện và cảnh báo hoả tiễn đạn đạo của đối phương nhắm vào lãnh thổ Mỹ.

Hệ thống có thể phát giác các hoả tiễn đạn đạo ngay sau khi rời bệ phóng 10 giây. nhằm giúp các phi đạn đánh chặn khai hỏa kịp thời cùng vạch ra hành trình đạn đạo dựa trên dữ liệu từ hỏa tiễn đối phương để tiêu diệt nó sớm ngay trên phần đất địch
Công ty Raytheon chế tạo hệ thống radar trên cho biết, nó có thể phát hiện ra một vật thể chỉ bằng quả bóng chày từ cách xa 4.700km.

Về tạo dựng, một hệ thống ra đa X-band được tạo dựng trên một chiếc tàu nổi tự điều động có hình dáng như một dàn khoan dầu trên biển. Hệ thống radar cảnh báo X-band có thể dễ dàng di chuyển trên mặt biển khi được lệnh điều động đến bất kỳ vị trí nào
Giàn máy chyên chở X-Band Radar System di chuyển trên biển để radar có thể định vị, kiểm soát bất kỳ khu vực nào trên toàn cầu, cung cấp thông tin cảnh báo trước cho hệ thống phòng thủ hỏa tiễn đạn đạo.

Giàn máy chuyên chở hay giàn bán ngầm có khả năng gần như một chiếc tàu biển, được tạo dựng dựa trên kỹ thuật của giàn khoan dầu khí bán ngầm thế hệ thứ 5, được kết cấu bởi 02 thân chính, sử dụng động cơ tự khiển, giàn bán ngầm này có tính cân bằng cao ít bị tác động trước sức gió và sóng biển lớn.
Image

Image

Với khả năng vận hành của giàn bán ngầm sẽ cho phép radar hoạt động hiệu quả hơn trong việc định vị và phát hiện các mục tiêu, hỗ trợ hiệu quả cho hệ thống phi đạn phòng thủ. Xác định, phân biệt rõ giữa hoả tiễn đạn đạo thật và giả của đối phương, cung cấp các dữ kiện cho phi đạn đánh chặn, nhằm phá huỷ các hoả tiễn lửa đạn đạo của đối phương trước khi nó tiến gần đến mục tiêu.

Image Tàu chở radar X-band của quân đội Mỹ được chế tạo tại xưởng đóng tàu AmFELS yard ở Brownsville, bang Texas. Riêng hệ thống ra đa X-band được lắp ráp trên thân tàu tại nhà máy nhà máy đóng tàu Kiewit, Ingleside cũng thuộc bang Texas, Mỹ

Toàn bộ hệ thống ra đa X-band của quân đội Mỹ có chiều dài 116 mét, cao 85 mét, mực nước 10m khi di chuyển. Một trạm ra đa cảnh báo hỏa tiễn đạn đạo trên biển có giá thành khoảng 900 triệu USD.
Tầm hoạt động tối đa của trạm cảnh báo di động này khoảng 2.000 km, lượng giãn nước 50.000 tấn. Mỗi hệ thống có X-band có từ 75 đến 85 chuyên gia kỹ thuật tham gia điều hành.
Image Theo tạp chí Defense News, hệ thống radar X-band sẽ được kết nối với trạm chiến thuật hỗn hợp mặt đất của Mỹ (JTAGS) - nơi chuyên thu nhận và phân tích những dữ liệu báo trước nguy hiểm được truyền từ các vệ tinh thuộc hệ thống hỗ trợ quốc phòng của Mỹ. (ngv tổng hợp)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ðổ máu cho tự do dân chủ
Thursday, May 20, 2010

Ngô Nhân Dụng
Nhiều người Thái Lan lại chết vì khát vọng dân chủ. Lần sau cùng dân Thái Lan đổ máu là trong những cuộc biểu tình năm 1992. Những người đã chết vì tự do dân chủ đó không chết uổng. Sau đó, đời sống chính trị đã thay đổi và đạt được nhiều tiến bộ. Một bản Hiến Pháp mới được ban hành. Nhiều định chế được thiết lập để kiểm soát chính quyền, ngăn chặn tham nhũng, không cho quân đội can thiệp vào việc chính trị như trước đó nữa. Từ 1992 đến năm 2006, Thái Lan là một quốc gia tự do dân chủ nhất Á Châu.

Năm 2006, quân đội lại đảo chính để lật đổ ông Thủ Tướng Thaksin Sinawatra, nhưng các tướng lãnh đã trao trả quyền hành cho các chính phủ dân sự. Những người ủng hộ ông Thaksin tiếp tục chống chính phủ, mặc dù chính ông ta đã lưu vong, và bị kết án về tội tham nhũng, lạm quyền. Hai phe chống và thân Thaksin thay phiên nhau biểu tình. Có lúc phe chống Thaksin mặc Áo Vàng chiếm phi trường, cho đến khi một thủ tướng thân Thaksin phải từ chức. Quốc gia từ từ rơi vào tình trạng hỗn loạn, cho tới những cuộc biểu tình Áo Ðỏ kéo dài trong 2 tháng qua, kết thúc vào sáng Thứ Năm, 20 Tháng Năm, 2010, khi quân đội bắn chết nhiều người và các lãnh tụ biểu tình chịu đầu hàng để tránh đổ máu thêm.

Những cuộc biểu tình năm 1992 quy tụ dân trung lưu thành phố, rất nhiều sinh viên, học sinh, đông đảo hơn năm nay và ôn hòa hơn. Có lúc 200 ngàn người đi biểu tình tiến tới trụ sở Quốc Hội. Khi bị quân đội ngăn không cho qua cầu, các thanh niên biểu tình chống lại bằng cách nổ xe gắn máy, quay ống phun khói về phía những người lính cầm súng đứng dàn hàng. Năm nay, số người biểu tình chỉ dưới 10 ngàn, đa số từ nông thôn miền Bắc và Ðông nước Thái Lan cùng với một số dân nghèo ở Bangkok; nhiều người có võ trang súng, lựu đạn, có lúc họ đã bắn cả vào những người lính cứu hỏa. Trong đám biểu tình cũng len lỏi nhiều phần tử bất hảo, lợi dụng để trộm cướp.

Tuy những cuộc biểu tình năm nay khác lần trước, nhưng ý nghĩa và hậu quả sẽ không kém quan trọng. Nhiều người dân Áo Ðỏ biểu tình vì bất mãn với chính quyền và họ có những quyền lợi chính đáng phải đòi hỏi, không khác gì năm 1992. Những người Thái đã chết trong những ngày qua sẽ được hậu thế ghi nhận là họ đã chết vì khát vọng tự do dân chủ. Các cuộc biểu tình còn tiếp tục ở các tỉnh, miền Ðông và Bắc Thái Lan cho thấy các khát vọng tự do dân chủ có thật. Nước Thái Lan sẽ phải thay đổi. Ðời sống chính trị sẽ phải cởi mở hơn, chế độ dân chủ cần tạo ra những thành quả cụ thể hơn đối với nhiều nông dân, những người đã bị bỏ quên trong những thập niên qua. Nhờ những người bị đổ máu mấy hôm nay, đa số nông dân sẽ được hưởng những quyền lợi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế, mà trước đây dân thành thị đã phải tranh đấu cho họ.

Nhưng nói như vậy không phải để đổ hết tội lỗi cho chính phủ Thái Lan hiện nay. Họ chỉ làm những việc không thể tránh được; sử dụng quân đội khi không thể thỏa hiệp với những người biểu tình bạo động. Trong quá trình xây dựng Dân Chủ ở một quốc gia, tại những khúc quanh thường gây ra đổ máu, lịch sử các quốc gia tự do dân chủ phần lớn đều cho thấy như thế. Trên thế giới chỉ có nước Mỹ là sau khi chế độ dân chủ được thiết lập, không có một cuộc đảo chính nào xóa bỏ Hiến Pháp, thay bằng Hiến Pháp mới. Có lẽ vì dân Mỹ trong 200 năm qua được thừa hưởng một lục địa giàu tài nguyên. Các vụ tranh chấp quyền lợi ở Mỹ không gay go, nặng nề, như ở các nước mà dân số đông, phải sống chen chúc hàng ngàn năm, chia nhau những tài nguyên có giới hạn. Tuy vậy, ở nước Mỹ vẫn xảy ra một cuộc nội chiến đẫm máu vì những xung đột quyền lợi kinh tế.

Vậy nguyên nhân nào gây ra những biến cố gần đẫm máu ở Thái Lan trong thời gian qua?

Cựu Thủ Tướng Thaksin Sinawatra chịu trách nhiệm lớn nhất. Có thể tin lời tố cáo của chính phủ Thái rằng chính ông Thaksin đã thúc đẩy những người ủng hộ ông tổ chức biểu tình, chính một lãnh tụ biểu tình cho biết họ được ông ta tài trợ. Ông Thaksin lại ngăn cản không cho các người điều khiển cuộc biểu tình Áo Ðỏ thỏa hiệp sau khi Thủ Tướng Abhisit Vejjajiva đã đồng ý sẽ giải tán Quốc Hội và bầu cử lại vào Tháng Mười Một năm nay.

Nhưng ông Thaksin không phải là nguyên nhân duy nhất khiến cho nhiều người dân Thái đi xa hàng ngàn cây số về thủ đô biểu tình đòi chính phủ từ chức. Người dân vùng Ðông Bắc có nhiều lý do đích thực khi ủng hộ ông Thaksin. Bởi vì từ nhiều thập niên qua, nông dân đã bị giới lãnh đạo chính trị trong nước bỏ quên. Nhiều người Áo Ðỏ biểu tình cũng công nhận ông Thaksin có tham nhũng, lạm quyền, khi làm thủ tướng. Nhưng chính ông ta, một chính trị gia xuất thân từ miền Bắc Thái Lan, đã là vị thủ tướng đầu tiên đem lại những lợi ích thiết thực cho nông dân. Ông đã mở rộng hệ thống bảo hiểm y tế cho toàn thể dân chúng, lần đầu tiên các nông dân chỉ phải trả mấy đô la Mỹ cũng được khám bệnh. Ông cũng tổ chức mạng lưới tín dụng nhỏ, cho nông dân được vay vốn ngân hàng, do chính phủ cung cấp. Ðó là những thứ “xa xỉ” mà trước đó chỉ dân thành phố được hưởng.

Có thể nói ông Thaksin đã “đánh thức” nông dân Thái Lan dậy, để họ thấy có quyền được hưởng những thành quả của chế độ dân chủ và sự phát triển kinh tế của nước Thái Lan. Nếu không có ông, chắc nông dân Thái Lan phải chờ nhiều năm để nuôi ý thức về các quyền lợi của họ. Sau khi ông ta bị lật đổ, các chính phủ sau đều tiếp tục các chính sách đó, nhưng người dân nông thôn đã coi Thaksin là người hùng của họ, và họ thấy những lợi ích ông ta mang lại quan trọng hơn là những mánh khoé làm giầu mang lại cho gia đình ông hàng tỷ Mỹ kim trong thời gian ông nắm quyền. Các chính trị gia khác có thể trong sạch hơn, nhưng không làm được như ông Thaksin.

Ông Thaksin là người được hưởng những thành quả của các cuộc tranh đấu đòi dân chủ trước kia, đặc biệt là những cuộc biểu tình năm 1992 và năm 1997, đưa tới các bản Hiến Pháp mới. Chính nhờ xã hội trở thành dân chủ hơn mà ông Thaksin leo lên được ghế thủ tướng. Nhưng các cuộc tranh đấu trước, nhiều lần cũng đổ máu, chỉ mang lại lợi ích cho dân thành phố, nơi người ta có trình độ học vấn cao và được thông tin đầy đủ hơn vùng thôn quê. Một lớp trung lưu thành hình ở thủ đô và các tỉnh, họ tranh đấu thiết lập và bảo vệ các định chế dân chủ nhưng họ không quan tâm đến việc chia sẻ các thành quả của quá trình dân chủ hóa đó cũng như sự tiến bộ về kinh tế với các đồng bào của họ ở các vùng thôn quê xa xôi. Thaksin đã sử dụng các định chế chính trị và kinh tế mà chế độ dân chủ thiết lập để mang lại những ích lợi mới cho nông dân; đó là điều mà các chính phủ Thái Lan trước kia không làm.

Cho nên, không thể nói các cuộc biểu tình Áo Ðỏ gần đây chỉ do một cá nhân ông Thaksin Sinawatra gây ra. Vì vậy, muốn tránh những cuộc biểu tình khác diễn ra tại các thành phố lớn ở Thái Lan, nhất là vùng phía Bắc và phía Ðông, để tránh không rơi vào một cuộc nội chiến, thì chính phủ Thái Lan phải tìm các giải đáp chính trị để yên lòng những người đang bất mãn

Từ trước đến nay, mỗi khi nước Thái Lan có biến loạn thì người ta lại trông vào Vua Bhumibol Adulyadej ra tay can thiệp. Năm 1992, sau khi người biểu tình bị bắn chết, Vua Thái Lan đã lên tiếng chỉ trích cả các lãnh tụ biểu tình và chính phủ quân nhân. Họ đều nhận lỗi, và các tướng lãnh từ chức, một chính phủ dân sự ra đời, tổ chức bầu cử và soạn một bản Hiến Pháp mới. Vua Thái Lan được mọi người kính trọng, cho nên dù theo Hiến Pháp ông đứng ngoài chính trị nhưng vẫn có một địa vị rất quan trọng.

Nhưng năm nay, Ðức Vua Bhumibol đã 82 tuổi và nằm bệnh viện từ nhiều tháng qua. Ðiều khó khăn nhất cho ông năm nay là chính những người thân cận của ông lại ra mặt chống Cựu Thủ Tướng Thaksin từ lâu. Những cuộc biểu tình chống Thaksin trước đây đều mặc Áo Vàng, mầu của hoàng gia, và được mặc nhiên công nhận.

Chính vai trò của vị vua quá mạnh, trong một chế độ quân chủ lập hiến, là một nhược điểm của hệ thống chính trị tại Thái Lan. Người ta không thể đổ lỗi ở nhà vua, ngược lại, chính ông đã sử dụng vai trò đó để giúp nước nhiều lần khi cần giải quyết các xung đột chính trị phe đảng. Nhưng một quốc gia dân chủ không thể để cho một cá nhân (ông vua) hay một định chế (hoàng gia) đóng vai trò quan trọng vượt lên trên các định chế khác như vậy. Ðó không phải là một hiện tượng lành mạnh. Nhất là trong thời gian này, khi hoàng gia còn đang lo vấn đề kế vị nhà vua. Con đường thoát của Thái Lan hiện nay nằm trong tay các nhà chính trị. Nếu họ biết bày tỏ thái độ hòa giải đối với những người chống đối, và tìm được các biện pháp cụ thể, thì nước Thái Lan sẽ thoát nạn.

Thái Lan phải có một bản Hiến Pháp mới, Hiến Pháp thứ 18 kể từ năm 1932 khi thành lập chế độ quân chủ lập hiến. Trong Hiến Pháp đó phải củng cố vai trò của các định chế do pháp luật quy định, và hợp lý hóa vai trò của nhà vua trong đời sống chính trị.

Nhưng dù Hiến Pháp được soạn thảo ra sao, chế độ dân chủ ở Thái Lan sắp bước qua một quãng đường mới. Chế độ dân chủ không thể chỉ quan tâm đến hình thức mà phải thể hiện qua các chương trình cụ thể của người cầm quyền, để mọi người dân được tham dự. Chính sách quốc gia phải tạo bình đẳng về cơ hội cho toàn dân và mang lại những lợi ích tốt nhất cho những người yếu kém nhất trong xã hội.

Ðược như vậy, thì những người dân đã chết trong những cuộc biểu tình vừa qua không chết uổng. Người ta không thể chờ sống tự do dân chủ như nằm chờ sung rụng. Muốn hưởng các thành quả chế độ dân chủ mọi người phải tranh đấu.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Việt Nam gia tăng hiện đại hoá quân sự
& Việt Nam sắm thêm vũ khí, Biển Đông sẽ ra sao?


Ngọc Trân, thông tín viên RFA
Liên quan tới việc mua sắm vũ khí của Việt Nam trong thời gian gần đây, giới quan sát cho rằng Việt Nam đang hiện đại hoá quân sự để đối phó với việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Để tìm hiểu thêm Việt Nam đã mua sắm các loại vũ khí nào trong thời gian qua, ý kiến của các chuyên gia và các nước láng giềng liên quan đến vấn đề này ra sao, cũng như việc mua sắm vũ khí đó liệu có giúp gì cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông hay không, Ngọc Trân điểm qua các sự kiện có liên quan.
Chiến đấu cơ của Nga

Trước các diễn biến càng ngày càng phức tạp ở biển Đông, Việt Nam đã và đang thực hiện các hợp đồng mua sắm vũ khí và thiết bị quân sự của một số nước trên thế giới.

Đầu năm 2009, Việt Nam ký hợp đồng với Cục Xuất khẩu Vũ khí Nga, mua 8 chiến đấu cơ hiện đại loại SU 30-MK2 (MKK: Mnogofunktzionniy Kommercheskiy Kitayski - Multifunctional Commercial for China - Máy bay chiến đấu đa năng thương mại cho Trung Quốc). Đầu năm nay, Việt Nam đặt mua tiếp 12 chiến đấu cơ loại này, trị giá hơn 500 triệu đô la. Đây là loại máy báy quân sự do công ty hàng không Sukhoi của Nga sản xuất và đưa vào hoạt động kể từ năm 2000.

SU 30-MK2 là loại máy bay chiến đấu đa chức năng, vừa có khả năng dò tìm, tuần tra và bảo vệ, vừa có khả năng tấn công và tiêu diệt các mục tiêu của đối phương trên không, trên bộ và trên biển. Ngoài ra, máy bay này còn có thể tiêu diệt các trạm tên lứa phòng không và làm tê liệt các hoạt động của đối phương từ trên không.

Máy bay chiến đấu này có hai chỗ ngồi, được trang bị một hệ thống điều khiển hoả lực và hệ thống ngắm mục tiêu gắn trên mũ bay, giúp phi công phát hiện mục tiêu trên không, trên biển và trên bộ, cũng như tiêu diệt các mục tiêu đó trong mọi điều kiện về thời tiết và thời gian.

Mua tàu ngầm hiện đại

Ngoài việc mua chiến đấu cơ của Nga, Việt Nam cũng đã ký hợp đồng mua tàu ngầm của nước này. Cuối tháng 4 năm ngoái, Việt Nam đã đặt mua 6 tầu ngầm loại kilo 636, trị giá khoảng 1,8 tỷ đô la, hợp đồng được cho là chiếm toàn bộ ngân sách quốc phòng của Việt Nam trong năm 2009. Với sáu chiếc tàu ngầm này, Việt Nam sẽ sở hữu nhiều tàu ngầm hiện đại nhất trong khu vực, chỉ đứng sau Trung Quốc.

Đây là loại tàu ngầm chạy bằng dầu diesel trên mặt nước và chạy bằng điện khi lặn dưới nước. Tàu ngầm này được sử dụng với mục đích chống tàu chiến và tàu ngầm của đối phương, nó có khả năng vận hành rất êm vì khả năng "tàng hình" của nó, nên được Hải quân Hoa Kỳ gọi là "Hố Đen" (Black Holes).
Tàu ngầm kilo 636 nặng khoảng 2.300 tấn, được trang bị 8 tên lửa phòng không, cùng 18 quả ngư lôi, với thủy thủ đoàn tối đa là 52 người. Tàu ngầm này có thể lặn dưới nước ở độ sâu tối đa 300 m, và độ sâu tác chiến từ 240 - 250m, khi ở dưới nước, nó có thể di chuyển với vận tốc nhanh nhất là 40 km/ giờ và nó có thể đi trên biển khoảng 45 ngày mà không cần tiếp nhiên liệu.

Ngoài các trang thiết bị hiện đại khác, tàu ngầm này còn được trang bị một loại sonar giúp phát hiện sóng âm, mà tàu nổi cũng như các loại tàu ngầm khác phát ra ở khoảng cách rất xa. Do đó, tàu ngầm này có khả năng tránh được radar dò tìm, cũng như khả năng phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm và tàu chiến của đối phương trên mặt biển.

Thủy phi cơ của Canada

Ngoài các hợp đồng mua tàu ngầm và chiến đấu cơ kể trên, Việt Nam còn mua thuỷ phi cơ của Canada. Công ty Viking Air của Canada vừa đưa tin, đã ký hợp đồng bán cho Việt Nam sáu chiếc thủy phi cơ DHC-6 Twin Otter Series 400, trị giá mỗi chiếc là 5 triệu đô la Canada. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đặt mua phi cơ do phương Tây sản xuất.

Loại phi cơ này dành cho phi hành đoàn không quá 2 người và có thể chở 19 hành khách, tốc độ bay tối đa khoảng 340 km/giờ và có thể bay ở độ cao khoảng 1.700 km. Phi cơ này vừa đáp được cả trên bộ lẫn dưới nước, thích hợp cho những nước mới bắt đầu sử dụng máy bay hải quân như Việt Nam, trong vai trò tuần tra trên biển.

Phi cơ này được thiết kế để phục vụ các hoạt động trên biển như: vận chuyển, tiếp liệu, tuần tra trên biển, tìm kiếm và cứu hộ, và sẽ trở thành lực lượng không quân đầu tiên của hải quân Việt Nam.

Ba trong số 6 phi cơ kể trên là loại "Guardian 400", đây là model mới nhất, vừa được hãng Viking Air đưa ra thị trường giữa năm 2009. Theo Viking, máy bay loại "Guardian 400" là máy bay hiệu quả nhất cho hoạt động tuần tra, bảo vệ an ninh trên biển cũng như thực hiện các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong thế kỷ này.
Sáu chiếc phi cơ trên, dự kiến sẽ được giao cho Việt Nam trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2014 và Công ty Pacific Sky Aviation, thuộc tập đoàn Viking Air, sẽ chịu trách nhiệm đào tạo kỹ thuật và huấn luyện bay cho phi công Việt Nam.

Và tên lửa đạn đạo của Israel

Một hoạt động mới nhất liên quan đến việc mua sắm vũ khí của Việt Nam là đầu tuần qua, Việt Nam đàm phán với Israel để mua một hệ thống tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) của nước này.

Loại tên lửa này đã từng được Israel giới thiệu hồi năm 2005, trong một cuộc triển lãm vũ khí phòng không tại Paris. Tên lửa này có mang một đầu đạn nặng khoảng 125 kg, tầm bắn khoảng 150 km và được cho là khá chính xác. Tên lửa này có thể đặt trên mặt đất hoặc di chuyển bằng xe vận tải, được sử dụng để chống tàu chiến và được xem như một phương thức hữu hiệu trong việc tăng cường hoả lực cho lực lượng phòng vệ của hải quân.

Báo Straits Times cho biết, Việt Nam mua loại tên lửa này nhằm hiện đại hoá quân sự và tăng cường khả năng phòng thủ, để bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

Ngoài các thoả thuận mua vũ khí nói trên, Việt Nam còn muốn mua máy bay quốc phòng của Pháp. Giữa tháng 12 năm ngoái, trong chuyến viếng thăm ba ngày, tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc phòng Việt Nam đã yêu cầu Pháp cung cấp cho Việt Nam “trực thăng và máy bay vận tải”.

Trước khi tới Pháp, Tướng Phùng Quang Thanh cũng đã ghé thăm Hoa Kỳ và cho biết, Việt Nam muốn Hoa Kỳ giảm bớt các hạn chế về việc bán các mặt hàng quân sự cho Việt Nam. Các quan chức cao cấp quốc phòng Hoa Kỳ nói rằng, Mỹ sẽ cân nhắc việc bán vũ khí phi hủy diệt cho Việt Nam, khi quan hệ an ninh song phương giữa hai nước phát triển tốt hơn.

Trên đây là các hoạt động mua sắm vũ khí nhằm mục đích hiện đại hoá quân sự của Việt Nam trong thời gian gần đây. Trong bài tới, mời quý vị xem các ý kiến liên quan đến vấn đề này, cũng như việc mua sắm vũ khí đó, giúp gì cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông.

♦
Báo chí nước ngoài nói gì?

Liên quan tới việc mua sắm vũ khí của Việt Nam, báo Bangkok Post của Thái Lan, số ra ngày 21 tháng 12 năm ngoái, có tựa đề “Hãy cân nhắc việc gia tăng vũ trang này” (Rethink This Arms Buildup). Bài báo cho rằng, việc mua sắm vũ khí của Việt Nam sẽ không có lợi cho các nước trong vùng vì có khả năng “gia tăng căng thẳng trong khu vực và tái khởi động một cuộc chạy đua vũ trang hơn là thúc đẩy hòa bình”.

Bài báo nhấn mạnh, Việt Nam bỏ ra hàng tỷ đô la mua tàu ngầm loại kilo và chiến đấu cơ Su-30, là điều làm cho các nước trong khu vực lo ngại, vì chiến đấu cơ mà Việt Nam mua là quá hiện đại so với không lực của các nước khác trong khu vực, và việc mua tàu ngầm “mang lại cho Việt Nam loại vũ khí mà các đối tác của Hà Nội trong khối Asean không hề có”.

Bài báo đưa ra khuyến cáo cho lãnh đạo Asean, nên thảo luận trực tiếp với Việt Nam về việc gia tăng vũ trang này, và rằng "không có lý do gì để Việt Nam bắt đầu một chương trình tái vũ trang". Việt Nam cần nghĩ lại kế hoạch "tái khởi động cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực Đông Nam Á. Nếu không, Việt Nam cần công khai toàn bộ các chi tiết của các hợp đồng mua vũ khí và giải thích rõ lý do".

Đầu năm nay, báo Straits Times của Singapore cũng có bài viết liên quan đến việc mua vũ khí của Việt Nam. Bài báo cho rằng, Việt Nam mua sắm vũ khí ồ ạt trong thời gian qua là quá nhiều và quá sớm, do Việt Nam bị hạn chế trong việc phối hợp các loại vũ khí trong không gian hai, ba chiều. Điều quan trọng mà Việt Nam cần làm là học cách phối hợp các loại vũ khí hoạt động với nhau, cũng như học cách duy trì và bảo dưỡng để các loại vũ khí này phát huy hết khả năng chiến đấu.

Ý kiến chuyên gia quốc phòng

Liên quan tới việc mua vũ khí và hiện đại hóa quân sự, trả lời phóng vấn đài Á châu Tự do, GS Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, cho biết: “Thứ nhất là chi phí, tiếp đến là sự cân bằng. Bằng cách mua trực thăng của Pháp mà vẫn còn các máy bay từ thời Xô Viết, hay cố gắng lấy các phụ tùng thay thế cho các máy bay Mỹ mà Việt nam có được từ thời chiến tranh, có thể tạo nên một rắc rối khủng khiếp về hậu cần cho quân đội Việt Nam. Việt nam không thể trộn lẫn mọi thứ với nhau bằng cách mua mỗi nơi một ít vì nó sẽ tạo nên khó khăn lâu dài.
Việc bảo vệ chủ quyền biển tất nhiên là ưu tiên hàng đầu, rồi bảo vệ biên giới. Thế nhưng trong tất cả những rủi ro thì Việt Nam phải tính đến, trong khi lên kế hoạch đưa vào một thế hệ thiết bị mới cho một thập kỷ tới hoặc lâu hơn nữa, thì đâu là những rủi ro chính trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là một điều khó khăn cho người lên kế hoạch. Việt nam phải cân nhắc việc các vũ khí có phù hợp với nhau không, rồi kể cả khi có vũ khí rồi thì làm thế nào để phối hợp nó trong cả một tổng thể để giúp quân đội hoạt động hiệu quả”.

Khi được hỏi đến những rủi ro và thách thức đi kèm, liên quan đến việc mua sắm vũ khí của Việt Nam, GS Carlyle Thayer nói: “Rủi ro đầu tiên là vấn đề chi phí. Sách trắng của Việt nam vừa công bố với các số liệu quốc phòng cho thấy không cách nào mà có thể dùng toàn bộ ngân sách năm ngoái để mua 6 tàu ngầm. Mà 6 tàu ngầm này chưa bao gồm cả việc huấn luyện, trang bị hạ tầng. Vì vậy tăng trưởng kinh tế của Việt nam cần phải rất cao để có tiền chi tiêu quốc phòng. Đây là một trò mèo vờn chuột.

Rủi ro thứ hai nữa là vấn đề vũ khí không tương thích với nhau. Họ mua tàu ngầm ở đây, nhưng họ không biết làm thế nào để phối hợp nó với các vũ khí khác và như thế thì tốn kém. Rồi còn vấn đề về chỉ huy điều khiển. Trong tình huống có xung đột, liệu Việt Nam có thể bảo đảm tất cả các lực lượng quân đội được sử dụng một cách hợp lý, và tránh việc người điều khiển sử dụng vũ khí vào kẻ thù hoặc ví dụ là Trung quốc hay bất cứ nước nào khác, khi họ cảm thấy bị nguy hiểm, thay vì tuân theo lệnh một cách nghiêm ngặt. Vì thế chi phí, rồi việc phối hợp các vũ khí với nhau và có được sự chỉ huy điều khiển đúng, đều là những vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt khi hiện đại hóa quân đội”.

Biển Đông vẫn…dậy sóng

Ngay sau khi các tin tức đầu tiên về mua sắm vũ khí đưa ra, dư luận trong và ngoài nước rất phấn khởi, cho rằng Việt Nam mua tàu ngầm và chiến đấu cơ để đối phó với mối đe dọa đến từ Trung Quốc. Thế nhưng, quan sát tình hình trên Biển Đông, vẫn không thấy có gì là sáng sủa.
Từ đó đến nay, Trung Quốc vẫn thường xuyên tập trận trong khu vực, ngang nhiên đưa các tàu ngư chính đến tuần tra trên vùng biển Việt Nam, bất chấp những lời phản đối.

Không những thế, ngư dân Việt Nam liên tục bị bắt bớ, đánh đập và hành hạ, trong khi đánh cá trên vùng biển nước ta mà Trung Quốc tự cho là cái ao nhà của họ. Các hành động này của Trung Quốc đi ngược lại cách ứng xử văn minh của một nước lớn, mà mới đây, đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố đã so sánh hành động của "một bộ phận quan chức Trung Quốc khi bắt giữ tàu và đòi tiền chuộc" với hành động của “hải tặc Somali”.

Theo tin từ đài này, trong vòng một năm, từ năm đầu năm 2009 đến đầu năm nay, Trung Quốc đã bắt 36 tàu đánh cá với 473 ngư dân Việt Nam, tịch thu hết tàu thuyền, ngư cụ, hải sản của ngư dân, riêng ngư dân thì bị giữ lại để đòi tiền chuộc từ thân nhân của họ. Tin từ đài này cho biết, Trung Quốc đã “không từ thủ đoạn hèn mạt nào” kể cả việc “gắp lửa bỏ tay người” như, đem chất nổ xuống tàu đánh cá Việt Nam để quay phim, chụp ảnh, buộc ngư dân Việt Nam phải ký tên vào biên bản có mang theo vũ khí.

Thêm một hành động mới xảy ra trong khu vực, ngày 29 tháng 4, Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. Lệnh này cấm tất cả các ngư dân trong khu vực không được đánh bắt cá kể từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 năm nay.

Đây là lần thứ hai trong hai năm qua, Trung Quốc ban hành lệnh cấm bắt đánh cả trên lãnh hải Việt Nam. Theo ông Chu Tiến Vĩnh, Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết, từ năm 1995, Trung Quốc bắt đầu đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá trên biển Đông trong khoảng thời gian nêu trên, với mục đích bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thế nhưng, từ năm 2009, Trung Quốc bắt đầu mở rộng việc áp dụng lệnh cấm này ra cả những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Một diễn biến mới nhất trên biển Đông, sáng ngày 8 tháng 5, hai tàu Hải quân Việt Nam, HQ 261 và HQ 263, đã tham gia diễn tập với hai tàu 754 và 756 thuộc Hạm đội Nam Hải của Hải quân Trung Quốc. Ngoài ra, bốn tàu kể trên đã cùng nhau tuần tra liên hợp trên một chặng đường dài hơn 280 hải lý từ cửa vịnh Bắc Bộ. Theo Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam cho biết: “Các chuyến tuần tra liên hợp giữa hải quân hai nước đã thể hiện tinh thần láng giềng hữu nghị, góp phần tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.”

Như vậy, việc mua sắm vũ khí trong thời gian qua, mà nhiều người cho rằng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, có thật sự như thế hay không? Vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hoà Hợp - Hòa Giải? Không Bao Giờ! Nếu...
Tác giả: Tô Hải


Nhân ngày 30 tháng tư thứ 35 đến, tớ nằm đọc cả trăm bài viết rất chi là chân
thành của nhiều nhà chính trị, trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo của "phe thắng",
đề xuất với "phe thua"... Tớ cũng chẳng còn muốn nhắc lại những lời nói hay ho
và rất... "chính trị" của ông Trần văn Trà là "Người Việt nam không có ai thắng,
ai thua. Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua", (được ông Nguyễn Thành Tài, phó chủ tịch
UBND t/p HCM thận trọng nhắc lại nguyên xi vế một, nhưng bỏ vế hai, trên HTV tối
qua).


Tớ chỉ thương cho mấy hạt muối bỏ biển (ý của thi-nhạc sỹ N.T.T) đã không nói
hết được những gì là gan ruột của mình về giấc mơ hòa hợp không bao giờ thanh
hiện thực,.... mà khăng định rứt khoát về 4 cái chữ hòa giải- hòa hợp như sau:
KHÔNG! KHÔNG BAO GIỜ CHUYỆN ĐÓ TRỞ THÀNH HIỆN THỰC! NẾU... Lý do:

- Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với hàng vạn gia đình, con cháu họ khi cha ông
họ bị cướp sạch ruộng đất, nhà cửa, bị đấu tố rồi giết hại bằng đủ kiểu dã man
như thời Trung Cổ bởi những Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất cơ chứ?

- Làm sao có thể hòa giải với cả triệu người vì quá sợ cải cách mà bỏ cả quê
hương bản quán mồ mả cha ông, mà bồng bế nhau chay vô Nam ? rồi còn bị người ta
tuyên truyền là bị "cưỡng ép, theo Chúa vào Nam"? (trong đó có toàn bộ gia đình,
bố, mẹ, anh em, họ hàng tớ, không ai theo Đạo Công Giáo cả!)

- Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình, sau chiến thắng Điện Biên,
phải bỏ hết của cải, nhà cửa , xưởng máy "di cư" vô Nam để tìm tự do. Những
người ở lại, thì mất hết sau các đợt cải tạo tư sản, cải tạo nhà đất, bị tịch
thu từ cái máy may đến cửa hàng không quá 3 mét ở các phố hàng Đào, hàng Ngang,
hàng Trống... và nhiều nhà hơi cao, cửa hơi rộng cũng bị tịch thu hoặc bố trí
cho thành phần cốt cán vào ở cho đến nay cũng "cấm đòi lại!". (Giới văn nghệ
cũng có hàng trăm người hoặc mất béng nhà cửa, hoặc "chiếm đóng" tọa hưởng kỳ
thành trong nhà người khác cho tới hôm nay). Cứ hỏi xem vợ NSND Đặng nhật Minh
xem vợ ông, pianist Phương Nghi, có cái nhà to đùng ở phố hàng Chuối bị trưng
thu làm trụ sở Hội L H P N V N nay đã đòi được hay chưa? Hỏi hàng vạn người bị
kiểm tra hành chính (sau 75) chỉ vì có nhà cao hơn 2 tầng (!?) nên bị tịch thu
chỉ bằng một "lệnh mồm" xem có ai được xin lỗi và trả lại cùng với tủ lạnh, tivi
có sẵn trong nhà, mà người ta khuân từ vùng mới "giải phóng" ra , chứ chẳng
chiếm đoạt, bóc lột của ai xem. Có ai đuợc trả lại chưa? Tớ tin là chưa vì tớ có
ông anh họ, Tô Ninh, chẳng phải tư sản, chẳng phải địa chủ mà còn là cựu chiến
binh -cựu nhà báo nữa cũng bị "đánh" một cách bất hợp pháp như thế, đến nay gần
chết vẫn... chưa được trả lại ngôi nhà Hàng Bông Nhuộm! Làm sao hòa giải với ông
ấy chứ?

- Làm sao hòa giải với con cháu những người văn nghệ sỹ, trí thức bị đi tù không
án, không thời hạn, thậm chí ra tù cũng chết dần chết mòn cả thể xác lẫn sự
nghiệp, dù hôm nay có đền bù một cái giải thưởng này nọ kèm theo tí tiền còm
nhưng không một lời xin lỗi!! Tớ không tin con cái, cháu chắt họ thôi căm thù
đâu!

- Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình có cha, ông là sỹ quan phía
"bên kia" bị đánh lừa bằng những lời hứa hẹn kiểu ông Trần văn Trà "Người Việt
Nam không ai thắng ai thua, Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua thôi!", đã hồ hởi (?) đi
"học tập mang theo lương thực 10- 20" ngày để rồi bị đi mút mùa ở các trại cải
tạo nơi rừng sâu nước độc, để ở nhà vợ con bị xua đi kinh tế mới... và không ít
người đã mất xác cho đến nay, bao gia đình vẫn phải về tìm hài cốt ở những nơi
chồng, cha họ đã từng bị "học tập", dưới danh nghĩa "khúc ruột ngàn dặm" một
cách đắng cay và mai mỉa...

- Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với những người phải bỏ nước ra đi, sống ở quê
người, những người bị làm mồi cho cá mập đại dương, cho lũ cướp biển, bỏ lại tất
cả của cải, nhà cửa, xe cộ cho mấy ông cán bộ lấy làm chiến lợi phẩm ? Cho đến
tận hôm nay, mỗi lần về "du lịch thăm quê" nhìn ngôi nhà mình, cửa hàng mình,
xưởng máy mình nay đã trở thành "của riêng" của mấy ông cán bộ cs đang làm chủ
hợp pháp có đầy đủ giấy đỏ, giấy hồng mà chỉ dám đi qua mà chửi đổng? (Riêng
giới văn nghệ sỹ, cho tới hôm nay cũng được làm chủ ít nhất cả trăm villa của
những "kẻ thua phải bỏ chay", có vị do "bán đi kiếm cái nhà ngoại ô" nay đã có
trong tay cả mấy ngàn cây vàng. Các vị này muốn hòa giải bằng cách trả lại cho
các khổ chủ hợp pháp của các tài sản kia để tiến tới hòa giải-hòa hợp không?
Chắc chắn là KHÔNG !

Và còn hàng ngàn, hàng vạn thứ chủ trương, hành động gây thù, gây oán ngàn đời
không rửa sạch, xảy ra suốt hơn 60 năm tớ sống và làm việc trong "kinh hoàng và
sợ hãi thường trực" nữa... Cho nên tớ mới nghĩ rằng:

CHỈ KHI NÀO, NHỮNG KẺ GÂY NÊN THÙ HẬN NHÌN RA LÀ MÌNH CÓ TỘI THÌ MAY RA SỰ HẬN
THÙ MỚI ĐƯỢC DẦN DẦN ĐƯỢC NGUÔI NGOAI. (Tớ xin phép nhấn mạnh hai chữ "dần dần"
chứ không thể là ngày một ngày hai).

Cụ thể giấc mơ của tớ là: Có một ngày nào đó nước ta có một vài ông to dám nói
ra những gì các ông Goóc-Ba-Chốp, En-Xin, Putin và gần đây cả Medvedev nữa ĐÃ
NÓI VÀ LÀM thì chẳng cần hô hào, mọi người sẽ lại gần nhau để tìm ra cách hòa
hợp hòa giải... Bằng không thì... không bao giờ có, với cái kiểu CHO PHÉP ĐƯỢC
HÒA GIẢI cả!

Tớ cũng mong ước các vị nào đó có vai trò nặng kí trong "Đảng- Chính- Phủ" hãy
tuyên bố đột phá (như Khơ-rút-xốp ở Đai Hội XX ấy)

"ĐẢNG của chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhệm vụ giải phóng dân tộc, nay trước
nhiệm vụ xây dựng đất nước, đưa cuộc cách mạng kinh tế, khoa học, xã hội và nhân
văn lên tầm cao mới, chúng tôi thấy không đủ tài năng và trí tuệ. Vậy xin nhường
quyền lãnh đạo đất nước cho mọi nhân tài không phân biệt chính kiến, tôn giáo,
đảng phái... ra lãnh đạo đất nước bằng một cuộc tuyển cử thật sự công bằng, văn
minh"..

Chỉ lúc ấy,mọi giấc mơ về hòa giải-hòa hợp mới thực sự bắt đầu. Bằng không thì
đúng như anh Nguyễn Trọng Tạo, "Làm sao để không còn 30 tháng 4" CHỈ LÀ NHỮNG
HẠT MUỐI BỎ BỂ MÀ THÔI!

Post Reply