Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

NHÌN SANG NƯỚC LÁNG GIỀNG THÁI LAN MÀ TỦI NHỤC CHO ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM.


Tiến Sĩ LÊ HIỂN DƯƠNG,

Image
Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp

Trong những ngày qua nhân dân Thái Lan xuống đường biểu tình đòi hỏi chính phủ của Thủ Tướng Abhisit của Thái lan phải giải tán và tiến hành bầu cử sớm, để bầu ra một Quốc Hội, một chính phủ thực sự của dân nghèo, do dân nghèo và vì dân nghèo nông thôn, bởi theo LiênMinh Chống Độc Tài tại Thái Lan tức là phe áo đỏ, thì chính phủ hiện thời của Thủ Tướng Abhisit là chính phủ của giai cấp thượng lưu trong xã hội, và vì vậy chính phủ này chỉ đại diện cho giai cấp thượng lưu quý tộc tập trung tại các đô thị lớn của Thái lan mà không hề quan tâm đến vấn đè an sinh của dân nghèo lao động… Mặc dù trên thực tế, người lao động và dân nông thôn của Thái lan không hề nghèo khổ, mà theo điều tra của Ngân Hàng Thế Giới World Bank thì phải mất 99 năm nữa người dân Việt nam mới đạt đến mức thu nhập tương đương với người dân Thái lan hiện nay.

Dẫu vậy, đảng và nhà nước ta, nhất là các cơ quan truyền thông của nhà nước đã không ngừng chuyển tải những thông tin về cuộc biểu tình ở Bangkok, các đài truyền hình từ Trung Ương cho đên địa phương cũng không ngừng đưa vào các chương trình thời sự những cảnh đốt phá của người biểu tình tại các Trung Tâm Thương Mại cũng như những cảnh xung đột giữa những người biểu tình và quân đội chính phủ. Bangkok, Thái lan những ngày qua, trong tâm thức người Việt là bạo loạn, là khói lửa, là chết chóc, là giới nghiêm…

Đó là thành công lớn của các cơ quan truyền thông nhà nước trong việc hù dọa toàn dân Việt nam về một nguy cơ bất ổn, bạo loạn và đầy đe dọa của một chính thể dân chủ, đa nguyên… Dù không trực tiếp đưa ra quan điểm này để quán triệt nhân dân, nhưng rỏ rang mục đích của đảng và nhà nước ta trong việc đưa các thông tin như thế lên báo đài từ trung ương đến địa phương thì đã quá rõ.

Buồn thay là hầu hết người Việt nam đến lúc này đây vẫn chưa thực sự hiểu cái chân giá trị của tự do dân chủ… mà vẫn mơ hồ rằng chính cái chính thể dân chủ, đa nguyên là nguồn gốc của bạo lọan và bất ổn. Có lẽ cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn kéo dài hơn 20 năm qua trên đất nước này đã khiến cho người dân Việt nam chúng ta quá sở hãi cảnh tên bay đạn lạc máu đổ đầu rơi chăng, hay do chính sách ngu dân của đảng và nhà nước áp đặt lên cả dân tộc Việt nam suốt hơn ¾ thế kỷ qua đã khiến cho cả dân tộc Việt nam sống trong u mê tăm tối mãi ?

Còn nhớ, vào những năm cuối thập niên 1980 khi hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ, đảng và nhà nước Việt nam lúc đó cũng đã hết sức hoang mang về một diễn biến hòa bình sẽ xãy ra trong nước, nên đã tăng cường các buổi quán triệt nghị quyết của đảng đối với mọi tầng lớp nhân dân, nhằm chống diễn biến hòa bình, chống đa nguyên đa đảng. Sau ba ngày học tập và quán triệt nghị quyết, để kết thúc đợt học tập chính trị và quán triệt nghị quyết này, một phóng viên của Đài Truyền Hình Cần Thơ đã tiến hành phỏng vấn một cư dân thuộc thị xã Cao Lãnh chúng tôi, là một Bác Hai Lúa, một trong những học viên tham gia đợt quán triệt đó về những suy tư cà cảm nghĩ đối với việc chống đa nguyên, đa đảng. Bác Hai Lúa quê tôi dõng dạc và hùng hổ trả lời phóng viên nhà đài rằng “Đa nguyên thì tôi không hiểu nó là cái con mẹ gì cả, nhưng đa đảng thì tôi cương quyết chống đến cùng, bởi hiện nay mới một đảng thôi, mà mỗi lần đại hội đảng bộ tại mỗi địa phương thì mỗi đảng bộ giết thịt một con trâu, con bò để nhậu nhẹt, mừng công, mai kia đa đảng rồi, mỗi lần đại hội đảng, chúng nó lại giết thịt đa trâu đa bò để nhậu nhẹt mừng công nữa thì nông dân chúng tôi lấy trâu bò đâu mà cày cấy… biểu chúng tôi không chống đa đảng đến cùng sao được ?”

Ôi buồn thay cho sự u mê của người dânViệt chúng ta đối với ý niệm đa nguyên, đa đảng và đối với cả vận mệnh của nước nhà…

Nay nhìn người dân Việt khắp nơi tỏ ra khiếp sợ khi thấy người láng giềng Thái lan đổ máu để đòi dân chủ… thì lại càng ngao ngán, càng tủi hổ cho cả dân tộc Việt u mê ám chướng này… đến bao giờ mới được thực sự dân chủ, tự do và được làm người một cách đầy đủ và trọn vẹn ???

Đồng Tháp ngày 22 tháng 5 năm 2010.

Tiến Sĩ Lê Hiển Dương.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tên lửa Patriot
lính Mỹ có mặt ở Ba Lan, một biểu tượng về tâm lý và chính



Lần đầu tiên sau khi chế độ cộng sản sụp đổ và 17 năm kể từ lúc người lính cuối cùng của quân đội Nga ra khỏi Ba Lan, trên lãnh thổ Ba Lan kể từ hôm nay chính thức có căn cứ quân sự của nước ngoài.Hôm nay, 26/05/2010, đại diện của nhà nước Ba Lan gồm Chủ tịch quốc hội kiêm Tổng thống tạm thới B. Komorowski, Thủ tướng Donald Tusk,

Bộ trưởng quốc phòng Klich và Ngoại trưởng Sikorski, cùng đại sứ Hoa Kỳ tại Ba Lan dự lễ chính thức chào đón 100 lính Mỹ và 6 dàn hoả tiễn đối không Patriot tại thành phố Mrag, nằm ở phía Bắc Ba Lan, cách Kaleningrad của nước Nga 80 km.
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng quốc phòng Ba Lan Klich hướng về phía lính Mỹ:

- Các bạn đến một đất nước tự hào có truyền thống dân chủ từ thế kỷ XV; đất nước với những chiến thắng quân sự vĩ đại: Grunwald, Kircholm, Klushino, Vienna, Trận Warsaw. Lần đầu tiên binh lính Mỹ đóng quân lâu tại Ba Lan. Không phải ở khắp mọi nơi các bạn được hoan nghênh như ở đây. Sự Hiện diện của các bạn tăng cường an ninh cho đất nước chúng tôi.

Ba Lan là quốc gia thứ 7 được Hoa Kỳ cung cấp giàn hoả tiễn Patriot sau Đức, Nhật, Hà Lan, Ai Cập, Ả Rập Saudi và Đài Loan.

Một chuyến tàu lửa xuất phát từ căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Ramstein (Đức) chở tên lửa, trang thiết bị và các phương tiện hậu cần qua Ba Lan trong 37 toa, dài tới 400 m, đã đến Ba Lan vào hôm chủ nhật (23/05/2010). Trong hai ngày tiếp theo người ta thực hiện công đoạn tiếp nhận và lắp đặp.

100 lính Mỹ, chủ yếu là các chuyên gia kỹ thuật cao cấp, sẽ cùng với các chuyên gia quân sự Ba Lan huấn luyện đào tạo lính Ba Lan sử dụng Patriot.
Lính Mỹ tại Ba Lan - Ảnh: PAP Dàn Patriot đưa tới Ba Lan thuộc thế hệ PAM 3, có tầm trung bình, là thế hệ hiện đại sau khi đã hoàn thiện, sửa chữa các khiếm khuyết của loại Patriot được dùng trong cuộc chiến tranh Iraq năm 1991. Các giàn Patriot PAM 3 sẽ có mặt ở Ba Lan theo từng giai đoạn, và đến năm 2012 sẽ đóng cố định tại Ba Lan.

Căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Ba Lan được thực hiện dựa trên hiệp ước SOFA (Supplemental Status of Forces Agreement) giữa Ba Lan và Hoa Kỳ được ký kết trong tháng 12/2009. Cũng theo hiệp ước này, trong tương lai, trên lãnh thổ Ba Lan sẽ triển khai tên lửa xuyên lục địa nằm trong hệ thống lá chắn SM3.

Trong quá trình đàm phán của hiệp ước, một trong những vấn đề khó khăn nhất được đặt ra là, khi lính Mỹ vi phạm pháp luật thì sẽ được xét xử như thế nào. Phía Hoa Kỳ muốn họ được đưa về nước và xử theo luật pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cuối cùng hai bên chấp nhận đòi hỏi của Ba Lan, đó là, phải được xét xử không có quy chế miễn trừ tại Ba Lan và theo luật Ba Lan.

Sự có mặt các giàn tên lửa Patriot và lính Mỹ ở Ba Lan mang tính biểu tượng tâm lý và chính trị quan trọng. Nó chứng tỏ Ba Lan thực sự không còn nằm trong vòng ảnh hưởng của Nga nữa, mà là một quốc gia thành viên NATO bình thường, có thể hợp tác trực tiếp với các đồng minh của mình, trên lãnh thổ mình.

Cũng nên nhắc lại rằng, sau khi nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ, Barack Obama đã quyết định huỷ bỏ kế hoạch xây dựng lá chắn chống tên lửa tại Ba Lan và CH Czech trước đây của cựu Tổng thống George W. Bush. Việc huỷ bỏ này đã gây ra những phản ứng sôi động trong dư luận Ba Lan, tới mức báo chí cho rằng, Hoa Kỳ đã phản bội Ba Lan, đã bán đứt Ba Lan cho Nga; rằng, sự ủng hộ hết lòng của Ba Lan với Hoa Kỳ trong hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan là vô nghĩa; rằng, làm ngơ các đơn đặt hàng của các đối tác châu Âu, Ba Lan đặt mua máy bay F-16 của Hoa Kỳ là sai lầm… Và Ba Lan cần phải xem xét lại toàn bộ chính sách đối ngoại với Hoa Kỳ trong vai trò đồng minh chiến lược.

Ngay lập tức phía Hoa Kỳ đã trấn an Ba Lan. Phó Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bay qua Ba Lan khẳng định quan hệ liên minh bền vững giữa Hoa Kỳ và Ba Lan, đồng thời giải thích rằng, kế hoạch huỷ bỏ hệ thống lá chắn của Tổng thống W. Bush sẽ được thay thế bằng hệ thống SM3 hữu hiệu hơn, với sự phối hợp tác chiến của các tên lửa đặt trên đất liền và tên lửa đặt trên các chiến hạm. Ba Lan đã được mời và đồng ý tham gia hệ thống này.

Từ nhiều năm nay, ngay từ đầu có thông tin về việc xây dựng lá chắn chống tên lửa, Nga là nước phản đối quyết liệt nhất. Nga cho rằng, nó sẽ làm mất thế cân bằng quân sự của châu Âu và đe doạ an ninh nước Nga, mặc dù cả Ba Lan và Hoa Kỳ đều tuyên bố kế hoạch này không hề nhắm vào Nga mà chỉ mang chức năng phòng vệ trước những nước hiếu chiến như Bắc Triều Tiên hay Iran.

Ngày hôm nay, Bộ Ngoại giao Nga ra tuyên bố “nước Nga không hiểu được logic và hướng hợp tác của Ba Lan và Hoa Kỳ” đồng thời “rất lấy làm tiếc rằng, câu trả lời vẫn bỏ ngỏ trong vấn đề các tên lửa được bố trí sát biên giới Nga”. Còn báo Nga thì mỉa mai rằng, trong khi Ba Lan đang bị lụt lội mấy ngày qua, Nga đã gửi hàng cứu trợ nhân đạo sang Ba Lan, nhưng tên lửa đặt bên cạnh Nga thì chẳng bị ngập lụt!

Dù sao, mức độ gay gắt sự phản ứng từ phá Nga đã giảm đi nhiều so với trước đây. Rất có thể trong bối cảnh Nga và Hoa Kỳ vừa ký kết hiệp ước giảm đầu đạn hạt nhân START và quan hệ giữa Ba Lan và Nga trong thời gian gần đây đang được đi theo chiều hướng cải thiện tốt.

Hơn nữa, các giàn tên lửa tại Ba Lan trong thực tế không đe doạ an ninh nước Nga, bởi vì chắc chắn Ba Lan không bao giờ có ý định dại dột và liều lĩnh tấn công một cường quốc hạt nhân láng giềng. Mặc khác, trên quan điểm kỹ thuật quân sự, hệ thống lá chắn chỉ khống chế được một cuộc tấn công tên lửa với quy mô hẹp chứ không thể chống đỡ một cuộc bắn phá ào ạt, ví dụ, từ Nga sang. ■

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Sự Hán hóa Biển Đông Nam Á: tình hình dầu sôi lửa bỏng_
André Menras


«‘Sự kiên nhẫn’ đầy độ lượng của các nhà lãnh đạo VN» trước mọi hành động hung hãn côn đồ của ông anh Trung Quốc, một lời bình luận cho thấy «sự kiên nhẫn đầy độ lượng» của chính ông André Menras đối với Nhà nước Việt Nam mà không cứ gì ông, đại đa số trí thức và nhiều tầng lớp nhân dân đều lấy làm khó hiểu. Nhưng kiên nhẫn nào cũng có giới hạn. Ông sẽ nói tiếp những lời hết sức thẳng thắn và mà đau rát, như trong trái tim công dân Việt Nam của mình những giọt máu đang rỏ: «Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh… ».

Tuy nhiên, khi thấy có chút dấu hiệu về sự «cựa mình» khác trước của lãnh đạo Việt Nam thì ông chứa chan hy vọng. Ông kêu gọi ngay các cường quốc phương Tây hãy nhìn vào gương Hội nghị Munich mà tỉnh táo hiệp đồng cùng nhau chống lại mọi cuồng vọng của kẻ đang thi thố dã tâm bành trướng. Ông André Menras quả là một tâm hồn rất mực Việt Nam.
như trong trái tim công dân Việt Nam của mình những giọt máu đang rỏ: «Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh… ».
Tuy nhiên, khi thấy có chút dấu hiệu về sự «cựa mình» khác trước của lãnh đạo Việt Nam thì ông chứa chan hy vọng. Ông kêu gọi ngay các cường quốc phương Tây hãy nhìn vào gương Hội nghị Munich mà tỉnh táo hiệp đồng cùng nhau chống lại mọi cuồng vọng của kẻ đang thi thố dã tâm bành trướng. Ông André Menras quả là một tâm hồn rất mực Việt Nam.

Vùng biển có tên là Biển Trung Hoa mà người TQ gọi là Biển Nam, còn người VN thì gọi là Biển Đông đang trở thành điểm nóng trên hành tinh của chúng ta.Vùng «Địa Trung Hải» Đông Nam Á này bao gồm 10 quốc gia với hàng nghìn hòn đảo, trong đó có 200 đảo được tập trung thành 2 quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa.Vùng biển và đảo này có tầm quan trọng cực kỳ về mặt chiến lược và kinh tế: đây là lộ trình bắt buộc của tất cả các tàu chở dầu và các tàu vận chuyển nguyên vật liệu và các hàng hóa khác đi từ châu Âu, châu Phi, Trung Đông thông qua eo biển Malacca, hướng về TQ, Triều Tiên, Nhật Bản.Vùng biển này vừa là nguồn tài nguyên dồi dào về thủy sản, vừa là kho báu đầy hứa hẹn về trữ lượng dầu và khí đốt thiên nhiên. Hoàng Sa nằm ở phía Đông bờ biển miền Trung VN, đang là đối tượng tranh chấp về chủ quyền giữa VN và TQ. Trường Sa, nằm ở vị trí trung tâm, đang bị tranh chấp bởi 7 nước : Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phi-lip-pin, Mã Lai, Bru-nây và In-đô-nê-xi-a.

Lịch sử, quyền lợi và sức mạnh

Nói về Hoàng Sa, trên phương diện lịch sử cũng như luật pháp quốc tế, chủ quyền chắc chắn thuộc về VN. Yêu sách mà TQ đưa ra không thể đứng vững trước xét xử của trọng tài quốc tế. Thế nhưng quần đảo này đã bị TQ nuốt chửng bằng sức mạnh quân sự. Đó là vào 2 thời kì: năm 1956, sau sự thất bại của thực dân Pháp và năm1974, khi Mỹ bắt đầu nhảy vào VN. Đối với quần đảo Trường Sa, tình hình có phức tạp hơn nhưng chủ quyền của VN trên một số lớn các hòn đảo cũng như trên các lãnh hải lân cận được xác lập một cách công bằng về mặt lịch sử cũng như về pháp lý. Những mâu thuẫn với các nước thành viên ASEAN có thể được giải quyết bằng cách thỏa thuận vì lợi ích lẫn nhau. Nhưng người «Anh Cả TQ» lại không muốn như vậy. Sau khi đột nhập vùng biển năm 1988, giết hại 74 thủy thủ VN, hải quân TQ đã không ngừng gặm nhấm các hòn đảo nhỏ.

Từ gặm nhấm đến nuốt chửng

Sau đó, TQ đi từ chính sách gặm nhấm đến nuốt chửng: ngăn cản các công ty dầu khí nước ngoài ký hơp đồng khai thác với các nước trong vùng, trong khu vực kinh tế độc quyền của họ; bắt bớ và cầm tù trong nhiều tuần các đoàn tàu đánh cá, tịch thu cá đánh bắt được cùng với thuyền chài, đánh đập dã man các ngư dân, trả tự do bằng cách đòi gia đình họ đưa tiền chuộc; đâm thủng và làm đắm các tàu thuyền, đơn phương ngăn cấm đánh cá – dĩ nhiên là chỉ đối với người VN – từ tháng 5 đến tháng 8 trong khu vực, viện cớ là khu vực sinh thái.

Trong suốt tháng 4, TQ đã phát động các cuộc diễn tâp hàng không với quy mô lớn ở Trường Sa với các thao tác như đổ bộ, thả lính nhảy dù, tập bắn súng. Về phương diện pháp lý, năm 2009 các nhà lãnh đạo TQ đã đưa ra yêu sách chính thức về chủ quyền «không thể tranh cãi» dựa trên sự ủy thác của Liên Hiệp Quốc về chủ quyền trên biển: 80% biển và toàn bộ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như để cảnh cáo, họ vừa chuyển đến các nhà ngoại giao Mỹ thông điệp : «Biển phía Nam thực chất thuộc về quyền lợi cốt lõi của Trung quốc». Có nghĩa là nơi mà họ sẵn sàng tiến hành các hoạt động quân sự như đối với Tây Tạng hoặc Đài Loan. Đồng thời , TQ cũng từ chối mọi cuộc đàm phán rõ ràng, minh bạch (và đa phương). Họ đã từ chối thẳng thừng việc áp dụng luật quốc tế của LHQ năm 1982 về chủ quyền trên biển. Nói tóm lại, Trung Quốc tự cho mình đứng ngoài vòng pháp luật, và họ thật sự đã làm như vậy, theo đúng nghĩa đen của từ này.

Tình hình VN trước sự đối mặt với TQ

Sự thiếu hụt về cán cân thương mại giữa VN và TQ thật là khổng lồ.Hơn 50% các trao đổi thương mại quốc tế của VN được thực hiện với TQ. Hàng hóa TQ tràn ngập thị trường đã bóp nghẹt nền sản xuất và nghề thủ công của VN. Các dự án lớn về khai thác mỏ chủ yếu bị các nhà thầu TQ được Bắc Kinh hỗ trợ hết mình cuỗm mất. Trong lĩnh vực xây dựng cũng bị Hán hóa sâu sắc và nhân công không lành nghề của TQ bắt đầu định cư lâu dài. Hàng trăm ngàn hec-ta đất cũng bị đem cho các doanh nghiệp lâm nghiệp TQ thuê trong vòng 50 năm…Đôi khi cả trong những vùng chiến lược. Các tổ chức lobby (vận động hành lang-chạy cò) của TQ đã len lỏi vào trong cơ chế quyết định về chính sách một cách mạnh mẽ và có thế lực.

«Sự kiên nhẫn» đầy độ lượng của các nhà lãnh đạo VN

Trong tình hình báo động cao độ vì nền độc lập của đất nước, các nhà lãnh đạo VN ngày càng lâm vào thế kẹt giữa những sự câu thúc và tham vọng ngày càng quá đáng của anh láng giềng «thân thiết» với phản ứng bền bỉ, tự hào vì sự sống còn của dân tộc. Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của chủ tịch Hồ Chí Minh…


Những dấu hiệu phản ứng « cứng rắn » của VN

Nhưng tình trạng không thể cứ kéo dài như thế mãi bởi sự nhục nhã đã trở thành quá lớn đối với một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và một tính cách vô cùng mạnh mẽ. Thực trạng kinh tế của quốc gia cũng không thể nào tránh khỏi điều đó: tương lai của đất nước, dải đất mà đôi khi chiều rộng chưa đến 100 cây số nhưng lại có bờ biển dài hơn 3000 cây số, sẽ là một tương lai chết nếu như vùng biển bị cướp đoạt. Không ai có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản VN có quyền đòi hỏi vinh quang trong quá khứ, nhưng ngày nay họ phải hết sức thận trọng để không phải trả giá cho sự nhục nhã của hiện tại và thảm kịch của tương lai.

Do đó, trước sự phô trương sức mạnh quân sự của Bắc Kinh, VN đã thành lập một vùng quân sự mới, vùng số 2, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng biển và hải đảo từ miền Trung đến miền Nam đất nước, bảo vệ các dân chài, nhà cửa, dân cư. Họ đang thử trang bị vũ trang hiện đại : tàu khu trục,tàu tuần tra, máy bay thám thính, tên lửa, trực thăng… Sự quân sư hóa cần thiết để sống còn này làm cho nền kinh tế thêm trì trệ và kìm hãm mạnh mẽ sự phát triển của đất nước.

Sự căng thẳng dâng cao

Trước quyết định kháng chiến rõ ràng của VN, các nhà lãnh đạo TQ lồng lên vì tức giận.Trong hàng trăm trang internet chịu sự kìểm soát gắt gao của Bắc Kinh, chúng ta có thể đọc được bài báo ngày 29/4/2010 với tựa đề : «Trung Quốc phải sử dụng vũ lực quân sự để tấn công bọn Việt Nam lòng lang dạ sói». Tác giả còn đề cập đến quan hệ giữa 2 nước giống như quan hệ giữa «người nông dân và con rắn»… Có đọan còn viết rằng : «cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 79 vẫn chưa đủ dạy cho Việt Nam một bài học tơi bời thì trong bài học lần này, chúng ta cần làm triệt để, để Việt Nam có được bài học nhớ đời và cũng là vì lợi ích lâu dài của Trung Quốc». Cũng trong ngày 29/4, Tr ên trang Web «Hoàn cầu thời báo» và «Ren Minh bao (tức là báo Nhân dân) », cơ quan ngôn luận Dảng Cộng Sản TQ, người ta tìm thấy một bài với lời tựa hung hồn: “Giải quyết vấn đề Biển Đông , then chốt là hành động”.

Sau khi giới thiệu TQ giống như một nạn nhân vô tội trong một vụ cướp bóc tài nguyên trong khu vực, bởi «một số nước», các tác giả đã nêu lên mối nguy hiểm : «… Nước Mỹ, dưới sự giúp đỡ của các nước đồng minh như Sin-ga-po và Phi-lip-pin đã tăng cường sự tồn tại quân sự tại Biển Đông… có kế hoạch trở lại vịnh Cam Ranh, nhằm tiến tới sát đường ráp ranh cận hải của ta». Họ thản nhiên đưa ra chiến lược lấn chiếm của TQ từ mọi phía.

Về phía Việt Nam, ngày 7/5 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội VN Nguyễn Phú Trọng, nhân vật số 4 trong Bộ chính trị của Đảng Cộng Sản VN đã kêu gọi hải quân «… sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác nhằm đánh bại mọi cuộc tiến công trên hướng biển».Cũng trong buổi lễ hôm ấy, Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, trong bài diễn văn của mình, đã nhắc lại «sứ mệnh lịch sử» của hải quân VN là «dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh».

Ngày 1/4/2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, trong chuyến viếng thăm đảo Bạch Long Vĩ của VN, cách Hải Phòng 70 hải lý, đã tuyên bố rõ ràng, không còn gì rõ hơn được nữa : «Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hưũ nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta… Làm việc này trên cơ sở thương lượng, trao đổi, vận động, thuyết phục… Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng».

Cuối ngày 11/5, tại Hà Nội, nhân Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (mà TQ không phải là thành viên), bộ trưởng VN, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã tuyên bố rằng sự hiện đại hóa quân sự là chuyện bình thường, nhằm để bảo vệ đất nước tốt hơn và cũng để

«tạo sự răn đe». Răn đe: lần đầu tiên từ này được tuyên bố công khai bởi một vị lãnh đạo của VN. Nhưng răn đe ai? Chắc chắn không phải là các nước khác trong ASEAN.

Kết luận:

Mối đe dọa bùng nổ quân sự trong khu vực là có thật. Đó không phải là việc của các nước «nhỏ» ASEAN, bởi vì không ai trong số họ đe dọa TQ và họ cũng không hề quan tâm đến việc ấy. Dĩ nhiên càng không phải là VN. Tuy nhiên, có những giới hạn đối với các cuộc tấn công lấn chiếm gây ảnh hưởng đến sự sống còn của các nạn nhân. Chúng ta cũng có thể chờ xem phản ứng của các lực lượng có liên quan đến vấn đề an ninh trong khu vực.

Liệu rằng triều đại TQ hiện nay có dám coi thường quyền lợi của các dân tộc và luật pháp quốc tế bằng cách đem 1 tỉ 3 người TQ cùng với bom nguyên tử và các đòn trả đũa về kinh tế ra đe dọa hay không? Liệu TQ có thể khôi phục được quy luật cũ rích ngày xưa, quy luật chiến tranh của kẻ mạnh, với sự thông đồng của các bạn hàng quốc tế và các chính khách đại biểu hay không? Tuy nhiên, không ai trong số các nhà quan sát, các chuyên viên và các nhà phân tích lỗi lạc có thể nói rằng họ không hay biết điều đó bởi vì TQ đã tự lột mặt nạ của mình rồi!

Chẳng sớm thì muộn, càng không nói, càng lùi bước trong sự ích kỷ, tham lam và hèn nhát thì rồi đây chúng ta sẽ phải gánh chịu những thảm kịch đang xảy ra ở nơi khác mà chúng ta có thể ngăn chặn được. Munich(3) ở cách đây không xa và thế giới thì ngày càng nhỏ lại. Nếu chúng ta không hành động vì dân tộc VN và các dân tộc lân cận thì ít ra hãy hành động vì chính mình.

André Menras

Chú thích :

(1) Tác giả của bài báo về đề tài này – đã được phát hành trên báo l’ Humanité số ra ngày 14/5/2009 với tựa đề : «Việt Nam và Trung Quốc: ràng buộc hay trói buộc ?» – đồng thời cũng là tác giả tài liệu được đăng trong số 86 về các Nghiên cứu quốc tế, tháng 4- 6/2009 : «Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam, những quân cờ đô-mi-nô đầu tiên của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc?»
(2) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(3) Munich: Thành phố của Đức, nơi mà vào năm
1938, các đại diện của Chính phủ Pháp và Anh đã bật đèn xanh cho Hitler tấn công Ba-lan và Sét-xlô-va –kia vì họ muốn tránh chiến tranh xảy ra ở nước họ. Chỉ hai năm sau, Hitler đã tuyên chiến với Anh và Pháp.

Bản tiếng Pháp của tác giả vừa đăng trên La Marseillaise. Bản tiếng Việt cũng do tác giả chuyển ngữ và gửi trực tiếp cho BVN.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cái gì giúp loài người tiến bộ?

Ngô Nhân Dụng

Loài người rõ ràng tiến bộ hơn loài khỉ. So sánh với một chủng loại giống chúng ta nhất, là những “người neandertal” thì hiển nhiên là chúng ta đã qua mặt họ, vì giống người neanderthal này, dù còn đông đảo mặt trên trái đất trước đây 30,000 năm, nay đã hoàn toàn tuyệt chủng. (Tên giống “người người neandertal” là do năm 1856 lần đầu tiên được xác định khác với loài người chúng ta, căn cứ vào bộ xương sọ tìm thấy ở thung lũng Neander, nước Ðức).

Yếu tố nào giúp cho loài người tiến bộ hơn các sinh vật khác? Trước đây, người ta hay đi tìm câu trả lời trong bộ óc. Óc loài người to hơn, hoạt động phức tạp hơn, vân vân. Nhưng giống người neandertal có bộ óc còn to hơn tổ tiên chúng ta; cho nên lối giải thích như vậy không ổn. Có những giả thuyết khác coi tiếng nói, khả năng bắt chước, vân vân, là động lực tạo ra văn minh nhân loại.

Sau cùng, phải tìm câu trả lời ở bên ngoài bộ óc. Loài người là giống động vật “duy nhất” biết chế ra khí cụ để gia tăng khả năng của tay chân mình (gần đây người ta đã thí nghiệm, thấy nhiều giống vật cũng biết sử dụng khí cụ để kiếm thức ăn). Nhưng loài người đã chế ra dụng cụ từ 300,000 năm trước đây, và có thể từ hàng triệu năm; nhưng trong hơn nửa triệu năm trời các dụng cụ không thay đổi. Sự tiến bộ khiến loài người vượt lên trên hàng cầm thú mới bắt đầu từ 50 ngàn năm, khi các dụng cụ được cải thiện, càng ngày càng có những thứ “hữu dụng” hơn. Cho nên việc sáng chế ra dụng cụ không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa tới tiến bộ (Tuy vậy, ý tưởng thô sơ này đã đưa ông Karl Marx đến lý thuyết cho rằng “khí cụ sản xuất quyết định lịch sử nhân loại” mà nhiều người bây giờ vẫn còn tin theo, chưa tỉnh ngộ).

Khí cụ không phải là yếu tố quyết định, nhưng sự phát minh, sự cải thiện các khí cụ, giúp cho loài người tiến bộ! Con người phát minh như thế nào? Một cuốn sách xuất bản năm ngoái của Brian Arthur, tên là Bản chất của Kỹ thuật (The Nature of Technology) cho thấy những phát minh, sáng chế đem lại cho loài người các dụng cụ mới, từ cái bóng đèn, máy nổ, cho tới Internet, không phải là do các thiên tài đột nhiên nghĩ ra. Mọi sáng chế đều dựa trên các sáng chế có từ trước đó. Ông Arthur, người đặt nền tảng cho Lý thuyết Phức hợp (Complexity theory) và sáng lập Santa Fe Institute nhận xét. Thí dụ, cái máy tìm đường GPS khi quý vị lái xe, là tổng hợp của việc sáng chế máy vi tính, với kỹ thuật phóng vệ tinh viễn thông, cái đồng hồ điện tử, hệ thống phát luồng sóng và máy nhận sóng, vân vân. Người ta phát minh (innovation) và sáng chế (invention) vì đã có những phát minh và sáng chế trước đó. Số phát minh, sáng chế sẽ càng ngày càng nhiều vì chúng ta thừa hưởng một gia tài bao gồm các phát minh, sáng chế có sẵn ngày càng lớn hơn.

Tiến bộ, là một hiện tượng tập thể, do nhiều người đóng góp qua nhiều thế hệ. Nhưng không phải khi nào loài người tụ tập đông hơn thì số dụng cụ và kỹ thuật phải gia tăng, và tinh xảo hơn. Từ thế kỷ 17, nước Trung Hoa đã đông dân nhất thế giới; nền văn minh của họ cao bậc nhất, nhưng sau đó đã ngưng trệ suốt ba, bốn thế kỷ trong khi các nước Âu Châu đi những bước nhanh vọt lên phía trước.

Tới đây, chúng ta đoán được yếu tố nào đã tạo nên sự tiến bộ, tạo ra nền văn minh của nhân loại. Nhà động vật học Matt Ridley mới in một cuốn sách mới, “The Rational Optimist: How Prosperity Evolves” (Người Lạc quan Thuần lý: Sự Thịnh vượng Tiến hóa ra sao) giới thiệu yếu tố quan trọng nhất đưa tới sự tiến bộ của loài người, mà kết quả là đời sống kinh tế ngày càng phồn thịnh hơn. Theo Ridley chúng ta tiến bộ là nhờ trao đổi, thương mại.

Hiện tượng trao đổi dẫn tới sự phân công. Từ trăm ngàn năm trước, loài người ở Phi Châu đã bắt đầu chế độ phân công: đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm, sau đó chia sẻ ăn chung. Rồi các phẩm vật trao đổi ngày càng gia tăng. Nhờ thế, nhiều người chuyên làm một thứ để trao đổi lấy mọi món khác mình cần dùng. Phân công đẻ ra hiện tượng chuyên môn hóa. Nếu ai cũng đẽo đá làm rìu cho mình dùng, thì còn lâu mới sáng chế ra một khí cụ mới. Nếu một người chỉ lo làm rìu thôi thì hắn sẽ đủ thời tìm cách cải thiện cái rìu cho hữu hiệu hơn, đem đổi được nhiều khoai hay thịt để ăn hơn. Loài Neandertal có sáng chế các dụng cụ, nhưng cho tới nay chưa ai thấy di tích những dụng cụ của họ được đưa tới các vùng xa xôi. Chắc là họ không có trao đổi, do đó không tiến bộ được.

Ridley giả thiết nhờ trao đổi thương mại cho nên mới đưa tới sự phát triển nông nghiệp. Như ở tại các hòn đảo Hy Lạp trước đây 9,000 năm; nông dân mua khí cụ từ các nơi khác mang tới, và họ xuất cảng nông phẩm.

Nhưng khi loài người bắt đầu việc thương mại, người ta không phải chỉ trao đổi các sản phẩm, vật dụng. Ðối với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại thì thứ quan trọng nhất được trao đổi với nhau là các Ý Tưởng. Các cuộc gặp gỡ đưa tới sự giao thoa giữa các ý kiến. Con người có dịp so sánh, chọn lựa và học hỏi các tư tưởng mới, lạ, các phát minh, sáng chế. Các ý tưởng gặp nhau sinh ra những ý tưởng mới, như sự tiến bộ về kỹ thuật đã đưa tới kinh tế phồn thịnh. Matt Ridley thấy trong nền văn minh nhân loại, thương mại có vai trò như giống như tính dục trong sinh học. Qua tính dục, các sinh vật trong mỗi loài pha giống, tạo ra sự tiến hóa tập thể và di truyền tới các thế hệ sau. Trong nền văn minh cũng có hiện tượng mà Ridley gọi là “các ý tưởng giao hợp với nhau” (ideas having sex). Loài người tiến bộ vì sử dụng được những “bộ não tập thể” (collective brains) được cấu thành.

Chúng ta học lịch sử Á Ðông thì biết cuối đời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc ở Trung Hoa nền thương mại phát triển, các thương gia làm giầu xuyên qua biên giới các “nước chư hầu;” đồng thời các trào lưu tư tưởng khác nhau cũng bộc phát với cả một phong trào những người đi “du thuyết.” Chế độ trung ương tập quyền của Tần Thủy Hoàng, rồi các triều đại sau của nước Tàu theo khuôn mẫu đó suốt hai ngàn năm, đã giết chết động lực tiến bộ xuất hiện trong thời Chiến Quốc. Người Trung Hoa kính trọng những người học chữ, tức là đề cao giới thư lại, ngồi bàn giấy; mà lại khinh miệt các thương gia. Xã hội trở thành khô cứng, giết chết dần dần óc phát minh, sáng kiến. Các ý tưởng không có dịp gặp nhau để phối hợp sinh ra các ý tưởng mới. Nước Trung Hoa bỏ lỡ cơ hội, chậm chân mất năm, bảy thế kỷ. Ðó là một bài học đáng suy nghĩ cho người Việt Nam bây giờ.

Hiện nay nền văn minh nhân loại hứa hẹn sẽ tiến bộ nhanh hơn và đa dạng hơn nữa, nhờ các phương tiện trao đổi tốt hơn. Ridley nêu thí dụ: Internet, các dịch vụ tìm tòi (search engine như của Google, của Baidu bành trướng bộ não tập thể, cho nhiều người có thể dùng được), các máy điện thoại di động. Nhờ thông tin tự do, các Ý Tưởng sẽ có cơ hội gặp gỡ và giao thoa với nhau hơn, sẽ sinh sản nhiều hơn, với tốc độ nhanh hơn. Loài người sẽ có cơ hội lựa chọn những sáng chế, phát minh mới. Thứ nào tốt nhất, thích hợp nhất để giải quyết các nhu cầu của nhân loại, sẽ được chọn, cho tới khi có những thứ khác ra đời thay thế. Những xã hội nào không tham dự vào “bộ não tập thể của loài người” sẽ bị tụt lại đằng sau.

Ðứng trước viễn tượng đó, chúng ta phải lo lắng cho tương lai nước mình. Chế độ độc đảng và chuyên chế đã và đang ngăn cản việc trao đổi tư tưởng và ý kiến. Sau khi “đổi mới” để trở về như đời xưa, chịu “mở cửa” cho hàng hóa và dịch vụ được trao đổi tự do hơn, đảng Cộng Sản vẫn khép chặt không cho người dân được tự do thông tin, trao đổi ý kiến, tư tưởng. Báo chí, đài phát thanh, đều bị kiểm soát chặt chẽ. Các hoạt động trên mạng lưới bị ngăn cản, Mạng Bô Xít, XCafe, vân vân, bị phá nhiều lần. Một viên tướng công an còn khoe đã phá được hàng trăm mạng, coi đó là một thành tích vẻ vang để “dâng lên Ðảng.”

Ðảng Cộng Sản đang ngăn cản không cho người Việt Nam được bước chân vào sống trong “bộ não tập thể của nhân loại.” Trong khi đó, các nước Á Ðông khác, từ Hàn Quốc đến Singapore đang đẩy con em của họ hòa mình vào “bộ não tập thể” của thế kỷ 21. Cứ tiếp tục như thế, dân Việt sẽ lại lụp ngụp đi sau chân các nước láng giềng không biết bao giờ mới đuổi theo kịp. Chắc chắn là dân tộc Việt Nam không chấp nhận như vậy.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Về những văn kiện Ðại Hội XI

‘Giải đáp trúng những vấn đề xã hội’ hay là quay lưng lại cuộc sống?

Bùi Tín


Bộ máy tuyên truyền trong nước không ngừng quảng cáo cho những văn kiện chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ XI của đảng CS Việt Nam sẽ diễn ra vào đầu năm 2011. Báo chí luôn nhấn mạnh rằng “các văn kiện được chuẩn bị rất công phu,” rằng đã “qua góp ý, thảo luận của 2 lần họp Ban Chấp Hành Trung Ương.”
Image
Không có tự do báo chí, nhà báo Ðiếu Cày bị công an CSVN bắt giam vì phản đối Trung Quốc
cưỡng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. (Hình: wordpress.com)

Trước khi công bố công khai các văn kiện gồm có: Bản báo cáo chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ương khóa X, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2010-2015, Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội 10 năm 2010-2020, Báo cáo xây dựng đảng, Sửa đổi, bổ sung điều lệ đảng..., lãnh đạo đảng CS vừa công bố một bài viết tổng hợp nêu lên những vấn đề lý luận cốt lõi nhất, có tựa đề là: “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay.” Bài viết ký tên ông Nguyễn Phú Trọng, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ tịch Quốc Hội.

Ai cũng biết đây là công trình tập thể của nhóm thảo văn kiện được chọn lọc trong Học Viện Chính Trị Quốc Gia mang tên Hồ Chí Minh, có nhiều giáo sư - tiến sĩ, lương cao nhất nước, mỗi kỳ đại hội đảng lại được chia chác, thu nhập những khoản tiền khổng lồ lấy từ ngân sách nhà nước.

Một đội ngũ báo cáo viên của Trung Ương Ðảng đang được phái đi khắp 63 tỉnh thành cả nước để dọn ra “món ăn tinh thần tổng hợp này,” với mục đích tối hậu là chuẩn bị tinh thần để tất cả đại hội đảng các cấp diễn ra từ tháng 6 đến tháng 12 tới sẽ thông qua trôi chảy, “nhất trí rất cao” tất cả một lô các văn kiện dài thòng kể trên.

Cũng như các đại hội đảng trước đây, hệ thống báo cáo viên cùng đội ngũ cán bộ tuyên giáo đang huênh hoang rằng các văn kiện được chuẩn bị rất kỹ trong suốt 2 năm qua sẽ đáp ứng trúng tâm tư nguyện vọng của đông đảo nhân dân (!),sẽ giải đáp đầy đủ mọi vấn đề của cuộc sống xã hội (!),với mục tiêu là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trong một xã hội phát triển hài hòa, bình đẳng, tự do, công bằng, văn minh.

Có thật đúng vậy hay không?

Trước hết hãy xem bà con nông dân ta mong muốn và chờ đợi điều gì? Nước ta vẫn còn là nước nặng về Nông nghiệp. Nông dân vẫn chiếm gần 70% số dân. Hầu hết nông dân ta đang làm nghề nông đều mong đảng và nhà nước trả lại cho họ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, như từ xưa vốn có, cả thời phong kiến và thuộc Pháp, bị đảng tịch thu một cách độc đoán hơn nửa thế kỷ nay. Không có lý do gì khi đảng đã trả lại cho nhà tư sản thương nghiệp, nhà tư sản công nghiệp quyền sở hữu cá nhân về nhà máy, cửa hàng, công cụ, kho hàng, tài sản riêng từng bị họ tịch thu..., còn cho đảng viên cộng sản kinh doanh tư bản chủ nghĩa, cho thuê nhân công không hạn chế ... mà sao vẫn không trả lại sòng phẳng cho nông dân quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất? Như thế là công bằng, bình đẳng ư?

Như thế là coi trọng nông dân, là coi trọng công nông liên minh, là đánh giá cao sự đóng góp về người và của cho chiến tranh, là đền ơn đáp nghĩa đối với nông dân ư?

Vì vậy vấn đề nông dân bị mất đất, bị cướp đất ngày càng nhiều, không sao kể hết, với những kiểu “thu hồi” và “đền bù” cực kỳ phi lý, nghe rất chướng tai nông dân ta.

Trong thời hội nhập quốc tế, đảng phải trả lại cho nông dân quyền sở hữu vốn có, không thể trì hoãn nữa, như nông dân Thái Lan, Mã Lai, Philippin ở gần ta, không hơn không kém.

Các văn kiện Ðại Hội XI “quên” không đề cập gì đến vấn đề sinh tử này của nông dân, tức là đảng đã phản bội liên minh công nông, không thể có chữ gì khác. Do đó nông nghiệp vẫn bị trì trệ. Một khi nông dân có quyền sở hữu chính đáng, họ sẽ chăm sóc đồng ruộng của mình như chăm bẵm con cái yêu thương, sẽ có những mùa bội thu, họ sẽ đầu tư cho đồng ruộng được trù phú, sẽ thành những hợp tác xã tư nhân giàu mạnh.

Rõ ràng các văn kiện Ðại Hội XI là xa lạ, là quay lưng lại với nông dân. Nông dân trông chờ một sự trình bày cặn kẽ về chính sách của đảng CS đối với nông dân hiện tại ra sao, có đổi mới gì không? Hay vẫn cứ như cũ, nghĩa là không tình, không nghĩa, vẫn độc đoán quy định ruộng đất là của “toàn dân” một cách vu vơ, rồi đảng nắm tất cả, để rồi tùy hứng mà “thu hồi,” mà “đền bù.” Có gì phi lý hơn là móc túi lấy chiếc ví của người ta, lại nhăn răng ra cười xòa rằng: tao thu hồi, cần thì tao đền cho mày vài xu. Không lịch sự, cũng không lương thiện chút nào, không giống một nước nào cả!

Ðảng vẫn quay lưng lại nông dân. Nông dân ta sẽ lắc đầu. Và sẽ phẫn nộ xung thiên đấy!

Ðông đảo anh chị em trí thức có tâm huyết trông mong kỳ này, thái độ của đảng đối với trí thức sẽ thay đổi. Không thể như hiện tại. Vừa qua vụ góp ý, can ngăn khai thác bauxít là một sự kiện nổi bật. Một bên là tâm huyết, hiểu biết, kinh nghiệm của một số trí thức dân tộc lấy lợi ích quốc gia dân tộc lâu bền làm mục đích, với lời lẽ ôn tồn, cố thuyết phục bằng nhiều kinh nghiệm thực tế sinh động, một bên là lãnh đạo và bộ máy quan liêu duy ý chí cực kỳ chủ quan, quyết đâm lao là theo lao, coi thường cả hiểm họa ngoại xâm và hiểm họa tàn phá môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa trên một địa bàn chiến lược xung yếu nhất.

Anh em trí thức trông mong rằng đại hội các cấp cho đến Ðại Hội Toàn Quốc sẽ nhận ra lẽ phải, bàn kỹ việc khai thác tài nguyên quốc gia sao cho có lợi nhất, có quyết định cuối cùng về khai thác bauxit ở nước ta, đồng thời qua đó đảng và xã hội đánh giá đúng vai trò của trí thức, của kiến thức chính trị, kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật tiền tiến của thời đại, quyết đưa nền giáo dục và nền khoa học lên tầm cao thời đại.

Trong các văn kiện chuẩn bị cho Ðại Hội XI, không thấy vấn đề khai thác tài nguyên, khai thác bauxít được trình bày rõ ràng minh bạch, thái độ với giới trí thức vẫn lờ mờ như cũ, làm sao tinh hoa của đất nước có thể yên lòng! Ðảng vẫn trên thực tế là quay lưng lại với trí thức, khoa học, công nghệ, giáo dục ...

17 ngàn nhà báo trong nước, báo viết, báo nói, báo ảnh, báo mạng, bloggers... Tất cả hiện đều như bị mất hồn. Vì đảng cấm tư nhân ra báo, còn cấm không cho một ai viết tự do. Chỉ được viết những gì đảng muốn đọc.

Không có gì mang tính sở hữu cá nhân hơn một bài báo. Một bài báo là kết tinh trí tuệ, tình cảm, chính kiến riêng của người viết, mang tên tác giả ở dưới bài.

Không có nghề nào đòi hỏi tự do hơn là nghề báo. Vị trí xã hội của nhà báo là ở nét riêng.

Tự do báo chí là linh hồn của mọi tự do khác trong xã hội, theo ý kiến của Voltaire, nhà tư tưởng dân chủ Pháp. Không có tự do báo chí thì không có tự do chính trị, tự do kinh doanh, tự do tôn giáo, tự do văn hóa, sáng tạo.

Hai năm nay, đảng hứa sẽ bàn lại về Luật Báo Chí, nhưng cứ lần lữa hoài, để chưa bao giờ số nhà báo lại bị tra vấn, xét hỏi, bắt giữ, tù giam, kết án tù, bị tịch thu thẻ nhà báo, cảnh cáo, mất chức như 2 năm qua, từ các báo Du Lịch, Pháp Luật, đến Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Vietnam Net, rồi đến Người Ðại Biểu Nhân Dân, Lao Ðộng, Tia Sáng, Kinh Tế Thị Trường... Có thể nói lãnh đạo đảng đã tuyên chiến với cả làng báo nước ta. Có nhà báo trẻ trong nước cho rằng phải chăng cả 15 ủy viên bộ chính trị hiện nay không một ai viết nổi một bài báo có thể đọc được, khác hẳn với lớp lãnh đạo thời trước, nên họ mới ghét bỏ, lườm nguýt, bạc đãi nhà báo đến thế. Do đó mà các văn kiện chuẩn bị cho Ðại Hội XI im re về tự do báo chí ở nước ta? Không những 17 ngàn nhà báo chờ đợi, mà toàn xã hội mỏi mắt mong chờ. Tại đại hội, rồi sẽ có ai dám nêu lên tự do báo chí ở nước ta, sự tai hại cho toàn xã hội khi không có báo chí của tư nhân, của người công dân, khi nhà báo mất tự do hành nghề, không được tự do lao vào điều tra các vụ tham nhũng, các vụ án kinh tế, dân sự, chính trị, như ở Thái Lan, Philippines, Malaysia... ở quanh ta, còn kém cả thời phong kiến và thời thuộc Pháp!

Vậy thì trông mong được gì ở cái Ðại Hội XI này? Làng báo chán ngán, cả xã hội thất vọng.

Tóm lại lãnh đạo kêu gọi mọi công dân góp ý với đảng, góp ý vào các văn kiện của đảng.

Nhưng đảng vẫn cứ độc thoại với chính mình, không nêu lên các vấn đề xã hội thiết thân nhất, quay lưng lại với các vấn đề nóng bỏng nhất của nông dân, của trí thức, của làng báo tiêu biểu cho công luận xã hội, thì làm sao mà góp ý cho sát được.

Hay là chỉ có một cách còn lại là yêu cầu đảng làm lại từ đầu, viết lại các văn kiện mang thật sự hơi thở của cuộc sống, giải đáp trúng vào những vấn đề then chốt nhất về phát triển bền vững, thật sự xây dựng một xã hội hài hòa công bằng, tự do, bình đẳng, văn minh trong thực tế chứ không phải nằm chết dí trên các văn kiện.

Bùi Tín

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

‘Giải phóng mặt bằng’ và máu dân nghèo (*)
Friday, May 28, 2010

LTS: Nhân sự kiện công an bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi; và bắn bị thương hai người khác trong vụ phản đối cướp đất đai tại khu mặt bằng Nhà máy Lọc hóa dầu Khu kinh tế Nghi Sơn (thuộc địa bàn xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa vào hôm 25/5/2010), Blogger Người Buôn Gió đã có bài viết trên blog của mình về cái gọi là ‘giải phóng mặt bằng’ ở Việt Nam.

Blog Người Buôn Gió

Nhiều năm sau cụm từ '' giải phóng mặt bằng'' chắc chắn sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như một điển tích đau thương. Cụm từ này sẽ khắc sâu trong lòng người dân nghèo Việt Nam không khác gì những cụm từ trong quá khứ khiến nhiều người còn sống phải lạnh mình khi nhớ lại như '' cải cách ruộng đất , cải tạo tư sản, tập trung cải tạo,hợp tác xã, bao cấp, xếp hàng, tem phiếu..''
Image
Vũng máu còn lại tại hiện trường vụ công an bắn chết người ở Nghi Sơn, Thanh Hóa. (Hình: Bee.net.vn
)

Giải Phóng Mặt Bằng là một nét đặc trưng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam ở những năm gần đây. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam phải dành một số diện tích đất đai để làm hạ tầng cơ sở cho các nhà máy, khu công nghiệp, khu du lịch sinh thái, khu đô thị mới, đường sá, cầu cống... Trong công cuộc đổi mới, phát triển hiện đại thì việc thu hồi quyền sử dụng đất để tập trung cho mục đích khác hiệu quả hơn là điều tất yếu. Đó là một việc làm đúng đắn mà bất kỳ quốc gia phát triển nào cũng phải trải qua. Ở Việt Nam cũng vậy. Có điều khi thu hồi quyền sử dụng đất chưa nơi nào trên thế giới này cụm từ '' GPMB '' lại gây nhức nhối . nhiều nước mắt như Việt Nam.

Trước tiên phải nói những khó khăn trong việc GPMB là do tâm lý của người dân Việt Nam từ ngàn đời để lại, đó là tâm lý nông dân, làng xã. Một tâm lý coi trọng đất đai là máu thịt, nơi gắn bó, chôn rau cắt rốn, nơi trở về. Hàng bao đời nay mảnh ruộng, cánh cò, lũy tre, bờ đê, thảm cỏ đi sâu vào đời sống người Việt, được khắc họa bằng đủ loại hình văn hóa, nghệ thuật như ca dao, thơ, hò, vè , kịch...đất đai với người Việt vốn thuần nông gắn bó như máu thịt, như bộ phận trên cơ thể. Sâu xa hơn nữa trong tiềm thức, tâm linh đó là một sự thiêng liêng đã nuôi nấng, sinh ra người nông dân. Phải xa quê hương, thoát ly, rời khỏi mảnh đất của mình đối với người nông dân là một điều bất đắc dĩ. Có những người đi xa quê hương gần hết đời người bên xứ lạ, khi chết vẫn thầm ước mong được chôn cất tại quê nhà. Với những trạng thái tâm lý, tình cảm ăn sâu từ đời này sang đời khác với đất đai, việc buộc phải chuyển đi nơi khác hay buộc phải từ giã canh tác, di chuyển nhà ở nhất là mồ mả là điều tối kỵ đối với người nông dân.
Image
Xác em Lê Xuân Dũng tại bệnh viện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. (Hình: Bauxite Việt Nam)
Khó khăn nữa lại thuộc về những người thực hiện dự án, từ những thiếu sót trong việc tuyên truyền, đền bù khiến người dân vốn đang bị tổn thương càng thêm phẫn uất. Một anh bạn từng làm công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai, đền bù đã buồn bã nói với tôi

- 80% dân khiếu kiện là đúng, chỉ có số ít chày bửa hay do thế lực bên ngoài kích động.

Phải nhìn thực sự rằng có nhiều kẻ đã lợi dụng công cuộc hiện đại hóa, thu hồi đất, GPMB để toan tính trục lợi. Đó là điều hiển nhiên, con số này không những ít mà còn đông đảo. Nhiều khu đất dùng làm nhà máy không sử dụng hết diện tích. Khi lập dự án những kẻ đầu tư cố tình vẽ cho thật rộng ra, rồi xây rào khoanh lại, một cái nhà xưởng vài chục công nhân sản xuất giấy ăn cùng lắm dùng đến vài ngàn mét vuông là quá đủ. Nhưng vẫn cứ khoanh cả một diện tích bao la chủ yếu với mục đích chiếm giữ đất, sau này chia bớt, nhượng lại ăn chênh lệch cao gấp mấy lần vốn ban đầu bỏ ra. Việc đền bù 24 triệu 1 sào ruộng, san lấp rồi bán trao tay cho đầu tư Đài Loan 300 triệu 1 sào ở Mao Điền, Hải Dương khiến người dân phẫn nộ, những bà mẹ liệt sĩ phải cắn răng bê di ảnh của con mình đi khiếu kiện, phản đối trước hàng hàng, lớp lớp đủ các loại cảnh sát trang bị hầm hố như đánh trận. Chúng ta thường thấy những hình ảnh quân đội, cảnh sát dàn quân như vậy chỉ có trong chiến tranh, trên phim ảnh. Thế mà ngày nay trên đất nước của mình đã sạch bóng quân xâm lược. Cớ sao súng ống, dùi cui, hơi cay , quân đặc nhiệm vẫn hàng ngày dàn trận trên khắp các vùng đất quê hương, chiến tranh đang xảy ra ư, chiến tranh với kẻ thù nào. Kẻ thù là những người đàn bà bê di ảnh con trai trong bộ quân phục, loang lổ vết ố của thời gian sao. Là những ông cụ , bà cụ già từng nuôi dấu cán bộ, là những người treo trong nhà hàng hà đa số những tấm bằng khen, ghi công trạng vì hy sinh cho đất nước có chủ quyền đó sao?
Image
Em Lê Xuân Dũng chết vì đạn bắn vào bụng. (Hình: Bauxite Việt Nam)
Có câu chuyện tôi nghe kể, không rõ có phải thật hay chuyện đùa. Một trợ lý của một quan chức địa phương hiến kế lấy khu đất của dân làm khu biệt thự bán kiếm doanh thu cho địa phương (tất nhiên là có phần riêng cho những người tham gia và quyết định).

Quan chức nói
- Làm thế dân nó kêu

Trợ lý
- Mình đền bù theo giá quy định của nhà nước, đứa nào kêu được.

Quan chức.
- Giá quy định có sát thực tế đâu, đền thế nó kéo nhau cả lũ biểu tình thì rách việc.

Trợ lý
- Chúng mà kéo đông định gây áp lực, cứ khoác cho bọn thế lực thù địch đứng đằng sau xui dục chống phá, mưu hại đất nước. Cho quân đến dẹp hết là xong. Làm đúng quy định, biểu tình, khiếu kiện cái gì.

Câu chuyện nghe còn chua chát hơn cả thời thực dân, thời mà bọn lý trưởng, cường hào chôn rượu lậu để cướp đất người lương thiện. Có lẽ câu chuyện trên chỉ là một chuyện đùa trong dân gian, thế nhưng nghe vẫn chua xót vì thực tế không xa câu chuyện bao nhiêu.

Chúng ta thử điểm xem có bao vụ chống đối đền bù GPMB, bao người dân phải ra tòa vì tội ''chống đối, phá hoại đường lối chính sách, gây rối trậ tự cộng cộng, chống người thi hành công vụ''. Xin thưa có quá nhiều, hầu như tỉnh thành nào cũng có. Cá biệt có những dự án ban đầu định lấy đất để chia lô xây biệt thự, xây nhà hàng kinh doanh, dân phản ứng thì thay đổi làm thành vườn hoa công cộng, di tích này nọ. Xử sự như thế sao mà dân tin tưởng được. Sao mà không gây hoài nghi, ức chế trong lòng dân.

Vì chuyện GPMB mà nhân dân và cảnh sát đụng độ với nhau như kẻ thù. Bạo loạn cũng có, dân đi tù cũng có, dân thương tích cũng có, giờ cả trẻ em chết nữa như vụ Nghi Sơn này thử hỏi đến lúc cần phải nhìn nhận nghiêm khắc về những ẩn số đằng sau việc GPMB hay chưa.?

Người dân thường nghe những luận điệu của đài, báo là do dân thiếu thông tin, do dân không hiểu biết, do dân bị xúi dục, dân thế này, thế nọ. Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi là tại sao chính sách đúng của chính quyền mà hết năm này sang năm khác, nơi này sang nơi khác tình trạng chống đối, phản ứng, khiếu kiện việc GPMB vẫn xảy ra ngày càng gia tăng với mức độ trầm trọng. Phải chăng do chính quyền quá mềm mỏng, chính quyền thiếu công cụ hỗ trợ thông tin ..? Vô lý, nhìn những vụ việc khi xảy ra mà xem. Chính quyền huy động đầy cảnh sát, quân đội vũ trang có vũ khí, công cụ đông gấp mấy lần dân khiếu kiện, đài báo lâu nhâu vào lên án, phê phán dân..

Hôm trước ở Cồn Dầu một cụ già chết, vì chuyện GPMB mà quan tài cụ thành vật tranh giành giữa chính quyền và nhân dân. Hôm nay cũng vì GPMB ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa mà máu người dân phải đổ do súng đạn, một trẻ em thiệt mạng. Đó là chưa kể bao người vì uất ức mà thành đổ bệnh. Đã có bài học nào rút ra một cách công khai, thẳng thắn để rút kinh nghiệm GPMB giữa dân và chính quyền chưa. Hay cứ để một bên ỷ vào con bài ''thế lực thù đich'' để quy kết lấy cớ dùng bạo lực, một bên thì cứ đơn sơ theo cảm tính ông cha ngàn đời mà xông ra ngăn cản để hứng dùi cui, đạn nhận lấy nhà tù, thương vong, chết chóc.

Đất nước không còn bóng ngoại xâm mà máu người dân vẫn nhuộm đỏ đất quê hương để giành giữ. Đau đớn là chết do súng đạn, những thứ chỉ được dùng trong chiến tranh, cho kẻ thù.

Bỗng nhiên tôi cảm giác rằng các thế lực thù địch mà nhà nước ta hay nói không xa xôi bên tận phương trời nào, không mơ hồ như cái tên nhóm nào đó tận đâu. Mà nó rõ ràng, hiện hiển ngay quanh tôi, ngay trước mặt mọi người dân.

Khuôn mặt chúng mỡ màng mà ta hay thấy đâu đó hàng ngày trên báo chí, trên truyền hình.

(*) Tựa bài do Người Việt Online đặt
http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/466

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Một chế độ điên khùng

Ngô Nhân Dụng
Mỹ và Nam Hàn đang tổ chức thao diễn quân sự gần biên giới Bắc Nam và tập luyện chiến thuật chống tàu ngầm gần đường giới tuyến, để chứng tỏ Mỹ vẫn đứng bên cạnh đồng minh Hàn Quốc. Ngoại Trưởng Hillary Clinton hứa với Ngoại Trưởng Nam Hàn Yu Myung Hwan (Lưu Minh Hoàn) hoàn toàn ủng hộ các biện pháp trừng phạt Bắc Hàn; sau khi một ủy ban điều tra quốc tế cho biết chính Bắc Hàn gây ra vụ đánh đắm chiến hạm Cheonan khiến 46 thủy thủ thiệt mạng. Chính phủ Nam Hàn quyết định chấm dứt các công tác viện trợ kinh tế và nhân đạo cho miền Bắc. Ðể đáp lại, Bắc Hàn cũng ngưng mọi cuộc tiếp xúc với chính phủ miền Nam, đuổi các nhân viên Nam Hàn trong ủy ban liên lạc, và ra lệnh quân và dân miền Bắc chuẩn bị chiến tranh toàn diện nếu bị Liên Hiệp Quốc phong tỏa kinh tế. Mỹ sẽ tham khảo Nam Hàn và các nước trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc về các biện pháp trừng phạt đối với chế độ Cộng Sản ở Bình Nhưỡng.

Ðây không phải là một cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa hai mảnh đất Hàn Quốc, miền Nam tự do dân chủ và miền Bắc độc tài Cộng Sản. Sau thỏa hiệp “đình chiến” chấm dứt cuộc chiến tranh Cao Ly 1950-1953, hai nước vẫn chưa ký hòa ước, trên nguyên tắc lúc nào họ cũng ở tình trạng chiến tranh. Ðường ranh giới trên biển mà chính phủ Nam Hàn vạch ra chưa bao giờ được Bắc Hàn công nhận. Cho nên, lâu lâu một chiến thuyền Bắc Hàn vượt qua lằn ranh, hải quân Nam Hàn yêu cầu rút đi không nghe, và hai bên nổ súng. Năm 1999, một cuộc hải chiến đã xảy ra, khiến 17 thủy thủ Bắc Hàn chết trên một chiếc tầu tuần duyên. Từ đó tới nay đã có 10 lần hai bên bắn nhau trên mặt biển. Tháng Hai năm 2002, một vụ chạm súng trên biển làm 4 thủy thủ Nam Hàn chết và 18 người bị thương. Sau biến cố này, Kim Chính Nhật đã bầy tỏ thiện chí bằng cách gửi đội đá bóng Bắc Hàn tham dự vào Á Vận Hội, do Nam Hàn đóng vai tổ chức. Giới ngoại giao giải thích đó là một cử chỉ ngụ ý “xin lỗi” của “Lãnh tụ Kính yêu” miền Bắc.

Tại sao Bắc Hàn gây ra vụ đánh đắm chiếc tầu Cheonan vào ngày 24 Tháng Ba vừa qua?

Một giả thuyết cho rằng Kim Chính Nhật muốn gây sự để ảnh hưởng tới cuộc bỏ phiếu ở Nam Hàn vào tháng tới. Gây ra tình trạng căng thẳng có thể khiến dân chúng Nam Hàn sợ và không ủng hộ đảng cầm quyền, vì Tổng Thống Lee Myung-bak (Lý Minh Bác) đã chấm dứt nhiều chương trình viện trợ cho miền Bắc mà hai đời tổng thống trước đã bắt đầu. Kim Chính Nhật có thể tín toán rằng có gây căng thẳng thêm cũng chẳng mất gì, nhưng có thể thúc đẩy các đảng đối lập ở miền Nam tỏ ra ôn hòa hơn để tranh cử. Nhưng nếu tính toán như vậy thì Kim Chính Nhật không thành công. Dân chúng Nam Hàn đã quá mệt mỏi với những cố gắng hòa giải và “hàn gắn” của các vị tổng thống cũ, và họ sẽ ủng hộ đường lối cứng rắn của đương kim tổng thống.

Một nguyên nhân khác, có thể là do chính trị nội bộ của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn. Từ khi có tin ông Kim Chính Nhật bị bệnh nặng, cuối năm 2008, Bắc Hàn đã tỏ ra có thái độ gây hấn nhiều lần; chỉ cốt cho thế giới bên ngoài không để ý tới tình trạng suy yếu của ông ta. Ðồng thời, họ muốn cho thế giới thấy không ai có khả năng tiên đoán các hành động của lãnh tụ Cộng Sản này. Trong mấy tuần lễ, Tháng Tư và Tháng Năm năm 2009, Bình Nhưỡng đã phóng hỏa tiễn tầm xa và cho thử một vụ nổ nguyên tử lần thứ nhì. Sau khi Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc làm nghị quyết lên án, Bắc Hàn tìm cách xoa dịu dư luận, bằng việc trả tự do cho hai người Mỹ gốc Hàn Quốc và một người Nam Hàn. Sau đó, họ lại khiêu khích ngay lập tức bằng quyết định tịch thu tài sản của công ty du lịch tại vùng núi Kim Cương (Geum Gang), vốn là một vụ đầu tư nhắm mở cánh cửa thân thiện do chính phủ Nam Hàn khởi xướng. Chính phủ Bình Nhưỡng vừa mới ngỏ ý sẽ tham dự một cuộc đàm phán về năng lượng nguyên tử, thì vụ đánh tàu Cheonan xẩy ra. Vào Tháng Mười Một 2009, một chiếc tàu Bắc Hàn vượt qua lằn ranh giới trên biển, hải quân Nam Hàn ngăn chặn, gây ra một cuộc hải chiến; sau đó tàu Bắc Hàn phải bỏ chạy, một thủy thủ bị chết.

Sau nhiều năm ngoại giao lúc nóng, lúc lạnh chế độ Bắc Hàn đã làm cho thế giới nghĩ rằng các lãnh tụ họ Kim, từ đời bố Kim Nhật Thành, đến đời con Kim Chính Nhật có thể hành động điên rồ, khó hiểu, thậm chí phi lý. Họ không cần quan tâm đến cuộc sống kinh tế cũng như sinh mạng của nhân dân, cho nên không thể đoán trước họ sẽ làm gì.

Chính quyền Cộng Sản Bắc Hàn có thể gây hấn qua vụ Cheonan chỉ để làm cho thế giới chấn động, gây tiếng vang và các phản ứng đối nghịch, rồi tuyên truyền với dân chúng rằng họ đang bị Nam Hàn và Mỹ đe dọa. Trong một chế độ Cộng Sản bưng bít tin tức, họ sẽ thành công. Ðấy là một cách làm cho dân quên đói. Tháng trước, đã có tin nạn đói đang đe dọa nông dân Bắc Hàn; vì chính sách quản lý nông nghiệp theo lối xã hội chủ nghĩa vẫn thất bại như xưa. Bao nhiêu tài nguyên được chế độ Cộng Sản đổ hết vào việc chế vũ khí và nuôi quân đội, cho nên những nông dân làm ra lúa gạo là những người đầu tiên bị đói, trong khi đó dân thành thị lại nếm mùi thiếu thốn nhu yếu phẩm. Không khí chiến tranh là một phương tiện để điều khiển dư luận dân chúng, như Bắc Hàn đã từng sử dụng nhiều lần.

Một giả thuyết khác là các hành động gây hấn nhắm tạo uy tín cho người kế vị mà Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) chỉ định là Kim Chính Vân (Kim Jong Un), đang được bố chuyển giao quyền hành. Trong khi bố đang chờ chết, ông con thứ ba mới 26 tuổi muốn tỏ ra là người cứng rắn hơn hai người anh lớn tuổi hơn. Cậu Chính Vân là con một người thiếp yêu của bố, hồi nhỏ đã được đưa qua Thụy Sĩ sống, giả làm con một nhân viên ngoại giao Bắc Hàn để mỗi ngày được xe đưa đi học trong trường Thụy Sĩ. Kim Chính Vân có thể chủ trương đánh đắm chiếc tàu Cheonan của Nam Hàn để trả thù cuộc đụng độ vào cuối năm ngoái. Chính cậu ta có thể đặt kế hoạch đánh chìm một tàu thủy Nam Hàn để trả thù vụ thất bại năm ngoái. Cầu muốn chứng tỏ mình có khả năng điều khiển lực lượng quân sự một triệu người, thử đặt các tướng lãnh già nua trong bàn tay kiểm soát của mình. Trong chế độ Cộng Sản, các lãnh tụ muốn ngoi lên hàng đầu vẫn phải tìm cách kiểm soát quân đội. Chức vụ duy nhất trong những năm sau cùng của Ðặng Tiểu Bình chỉ là chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Những giả thuyết trên có thể đều đúng một phần. Nhưng đó là một điều đáng lo ngại cho cả thế giới. Vì chế độ Cộng Sản Bắc Hàn sẽ còn tiếp tục để cho dân bị đói, và phải tiếp tục làm sao cho dân quên đói. Vấn đề kế vị sẽ còn kéo dài, ngay cả khi Kim Chính Nhật chết và Kim Chính Vân lên nối ngôi rồi, thì cũng phải mất nhiều năm mới yên vị được. Và chế độ Bắc Hàn sẽ còn gây không khí chiến tranh để có lý do chế tạo thêm vũ khí. Bắc Hàn đã thí nghiệm bom nguyên tử 2 lần và không ai biết họ có trái bom nào nữa hay không! Nhưng hàng ngàn hỏa tiễn vẫn sẵn sàng bắn tới Hán Thành (Seoul) trong vài phút và các hỏa tiễn tầm xa có thể phóng sang tới Nhật Bản. Với đóng vũ khí lớn lao đó, các thế hệ lãnh tụ Bắc Hàn sẽ tiếp tục đóng vai trò điên khùng của họ để làm ông “Ngáo ộp” đe dọa các nước chung quanh.

Trung Quốc là nước có khả năng làm áp lực với Bắc Hàn. Ba phần tư nhiên liệu và gần nửa số thực phẩm của Bắc Hàn là do Trung Quốc cung cấp. Gần 40% số ngoại thương của Bắc Hàn là với Trung Quốc (1.60 tỷ Mỹ kim). Có gần nửa triệu người Bắc Hàn sống ở Mãn Châu, trong đó hơn 100 ngàn là những người tị nạn, có thể tuyển được một đạo quân gián điệp và phá hoại. Nhưng bề ngoài, Bắc Kinh vẫn không bao giờ tỏ ý hăm dọa ông Kim. Vì các chế độ Cộng Sản Á Châu có cách nói chuyện khác với thế giới bên ngoài!

Ngày 5 Tháng Năm, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã khuyên chính quyền Cộng Sản Bắc Hàn nên cải tổ kinh tế và mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Theo kinh nghiệm Bắc Kinh, đây là con đường duy nhất để “cải tổ chế độ” ở Bình Nhưỡng. Một khi con cháu các lãnh tụ Cộng Sản được tư bản hóa thì họ sẽ bớt hiếu chiến. Và họ sẽ tỏ ra bình thường hơn, không còn những cử chỉ và hành động điên rồ, khó hiểu nữa! Kim Chính Vân đã thấy cuộc sống thịnh vượng ở Thụy Sĩ, chắc sẽ được thuyết phục dễ hơn ông bố nhà quê!

Ðối với Trung Quốc, con đường tư bản hóa Cộng Sản Bắc Hàn sẽ có lợi hơn là hiểm họa chiến tranh. Nếu Bắc Hàn gây chiến, khi bộ đội của gia đình họ Kim tiến vào miền Nam, thấy cảnh sống trù phú ở đó, chắc chắn họ sẽ đào ngũ hết. Và quân Mỹ và Nam Hàn sẽ tiến đến gần sông Áp Lục, điều mà Mao Trạch Ðông ngày xưa đã lo sợ và hàng triệu lính Trung Cộng được gửi sang Hàn Quốc chết để ngăn cản. Nhưng hiểm họa lớn nhất đối với Trung Quốc là khi chiến tranh xảy ra hàng trăm ngàn dân Bắc Hàn tị nạn sẽ tràn qua biên giới vào nước Tàu. Ðó là cảnh tượng nhất định Bắc Kinh không cho xẩy ra!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trang sử bi thương phủ trên Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Nhị Long – Nhị Lang sơn

Trong suốt mấy tuần qua, những tin tức về Giáo hội Công giáo Việt Nam dồn dập diễn biến, khiến những tín hữu Công giáo, dù vô tư bàng quan đến mấy cũng không khỏi dao động và đặc biệt quan tâm.
Image
Đức TGM Ngô Quang Kiệt và ĐGM Cao Đình Thuyên

Sự việc khởi đầu khi hàng ngàn giáo dân Hà Nội thắp nến cầu nguyện tại khuôn viên Toà Khâm sứ mà Nhà Cầm quyền cộng sản đã chiếm giữ từ năm 1959. Trải qua các đời Hồng y Trịnh Như Khuê, Trịnh Văn Căn, Phạm Đình Tụng đã làm dơn nhiều lần, yêu cầu Nhà Cầm quyền trả lại cho Toà Tổng Giám mục Hà Nội để xử dụng cho các sinh hoạt tôn giáo; vì cơ sở này, nguyên thủy là của Toà Giám mục, đã cho Đức Khâm sứ John Dooley mượn xử dụng từ năm 1951.
Trải qua trên năm thập niên (1959-2010) tức là nửa thế kỉ, Nhà Cầm quyền Cộng sản Hà Nội chiếm Toà Khâm sứ chỉ xử dụng vào những chuyện làm ăn cá thể như mở quán Phở, Câu Lạc Bộ, dạy Thể dục Thẩm Mỹ, nơi giữ xe… và cuối cùng là chuẩn bị bán cho một Công ty tư nhân, lấy tiền chia chác...
Kể từ tháng 12.2007, những buổi cầu nguyện của giáo dân như đã nói ở trên, tạo một làn sóng Hiệp thông trên khắp Năm Châu thì bọn đầu gấu Cộng sản Hà Nội mang một bộ mặt nhân từ giả hình: Chúng cho đào bới trồng cây tạo vẻ xanh mát cho thủ đô (?).
Trong bầu khí sôi sục này, Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt là “cái đinh” mà bọn đầu gấu Bắc Bộ phủ cần phải bứng. Vì thế, ngày 23.9.2008, Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội gởi văn thư cho Hội đồng Giám mục Việt Nam, yêu cầu thuyên chuyển Đức Tổng Kiệt và các Linh mục liên hệ ra khỏi Hà Nội. Ngày 15.10.2008, Nguyễn Thế Thảo tuyên bố: Không để ông Ngô quang Kiệt giữ chức vụ Tổng Giám mục Hà Nội.
Để thực hiện ý định này, một mặt, Nhà Cầm quyền Cộng sản bắt đầu giao tiếp, o bế một số Giám mục, trong đó, Đức cha Nguyễn Văn Nhơn đang là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bên cạnh phương án đó, nhóm đầu não Hà Nội ra lệnh cho Đại Sứ quán VN tại Rome (Italia) phải móc nối với Giáo sĩ người Việt đang phục vụ tại các cơ sở đầu não của Vatican: Đức ông Cao Minh Dung (Đặc trách Đông Nam Á sự vụ thuộc Bộ Ngoai giao Vatican) là con bài mà nhóm đầu não Bắc Bộ phủ cần đến.


Biết được Vatican mong muốn thiết lập bang giao với Việt Nam, Cộng sản Hà Nội đặt điều kiện tiên quyết: Phải thay đổi nhân sự tại Tổng Giáo phận Hà Nội. Sau đây là những mốc điểm thời gian quanh sự kiện Toà Tổng Giám mục Hà Nội:
- Ngày 22.4.2010: Vatican công bố quyết định bổ nhiệm Đức cha Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục phó Hà Nội.
- Ngày 4.5.2010: Đức cha Nhơn chủ sự lễ chia tay Giáo phận Đà Lạt rất linh đình.
- Ngày 6.5.2010: Đức cha Nhơn tới Hà Nội nhận nhiệm vụ mới.
- Ngày 7.5.2010: Thánh lễ nhận nhiệm vụ mới tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội. Không khí nặng nề, oi bức.
- Ngày 9.5.2010: Đức Tổng Kiệt vô Toà Giám mục Xã Đoài (Vinh) mừng Kim Khánh Linh mục của Đức cha P. Cao Đình Thuyên.
- Ngày 12.5.2010: Buổi tối, Đức Tổng Kiệt gặp gỡ và từ giã các Linh mục tại Nhà nguyện Toà Giám mục. Sau đó, Ngài ra phi trường Nội Bài đi Hoa Kỳ ngay đêm đó.
- Ngày 13.5.2010: Vatican công bố quyết định chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Kiệt, đồng thời bổ nhiệm Đức cha Nhơn vào nhiệm vụ Tổng Giám mục Hà Nội. Cùng lúc, công bố bổ nhiệm Linh mục Nguyễn Thái Hợp, dòng Đa Minh làm Giám mục Giáo phận Vinh, thay Đức cha Cao Đình Thuyên, từ chức vì tuổi tác.

Đại đa số người Việt tị nạn Cộng sản (trừ một số rất nhỏ trở cờ) lúc ra đi với hai bàn tay trắng nhưng vẫn canh cánh bên lòng những băn khoan, những thao thức, những trăn trở… về Quê hương, về Giáo hội (dù là Giáo hội Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo…). Và ba thập niên qua, hàng trăm tỉ Mỹ kim đã được trân trọng chuyển về quê nhà để góp phần xây dựng Nhà thờ, Thánh Thất, Thiền viện, trường học, cô nhi viện… Nhưng sau biến cố Tu viện Bát Nhã và hôm nay đây, sự kiện Toà Tổng Giám mục Hà Nội… khiến hàng triệu tín hữu bất kể Tôn giáo nào cũng lâm vào ngõ cụt hụt hẫng, chao đảo…

Ai đã từng sống dưới chế độ Cộng sản, chịu lao tù và vẫn kiên vững, dù đã bị “no đòn” mới hiểu thấm thía cái cay độc, cái nham hiểm đê hèn, trăm phương ngàn kế của Cộng sản. Xuyên suốt chiều dài cuộc chiến ba mươi năm máu lửa (1945-1975) rút ra cho chúng ta một bài học: Tập đoàn Cộng sản có hàng ngàn chiêu thức để bịp bợm. Chúng đã đánh lừa được cả Thế giới. Tín điều của Cộng sản là “dùng bạo lực để trấn áp kẻ thù”. Nguyên tắc côn đồ này chúng đã hành xử không khoan nhượng trên sáu thập niên qua (1945-2010).

Ai cũng biết Đức Thánh Cha Benedict XVI cũng như Hồng y Quốc Vụ khanh Tarcisio Bertone, Tổng Giám mục Dominique Mamberti, đặc trách Bộ Ngoại giao Vatican không thể am tường các Giáo hội địa phương mà phải cậy dựa vào những viên chức phụ trách các vấn đề liên hệ.
Nếu những viên chức này làm việc ngay thẳng, công tâm và hoàn toàn vì lợi ích của Giáo hội thì không có gì đáng quan ngại, nhưng... nếu chỉ vì lợi ích, tham vọng cá nhân và bè phái thì kết quả, dĩ nhiên vô cùng tai hại…
Điều hiển nhiên, không phải tất cả các Giám mục Việt Nam đều thuần hoá (chữ dùng của Đức cha Nguyễn Quang Tuyến, Giám mục Bắc Ninh) nhưng một số vị đã cao tuổi, muốn yên phận lo cho Giáo phận chờ đến tuổi an dưỡng tuổi già. Hy vọng rằng Đức cha Nguyễn Chí Linh sẽ qui tụ được một số vị Giám mục can đảm trực diện với những xảo quyệt của Nhà Cầm quyền CSVN.

Image
Đức cha Paul Léon Seitz
Viết đến đây, chúng tôi nhớ đến Đức cha Paul Léon Seitz (tên Việt là Kim). Ngài là Linh mục Hội Thừa Sai Paris (MEP) đến truyền giáo tại Việt Nam năm 1937 và thành lập Cô Nhi viện tại Hà Nội. Được bổ nhiệm Giám mục Kontum ngày 15.6.1952.
Giáo phận Kontum bị thảm hại nhất vì cuộc chiến, nhất là từ Tết Mậu Thân 1968 đến 1975. Thành phố Kontum đã bị Cộng quân tàn sát nhiều lần.
Ngày 17.3.1975, Cộng quân chiếm Kontum và Pleiku. Tất cả dân quân cán chính đều bị thanh lọc và trả thù. Đức Cha Seitz rất đau lòng khi phải chứng kiến những đòn thù thâm độc của Cộng sản Bắc Việt.
Ngày 15.8.1975, Đức cha Paul Seitz Kim cùng với các Linh mục, Nữ tu người Pháp và 2 Bác sĩ (1 Pháp, 1 Mỹ) bị cộng sản trục xuất.
Quá đau lòng vì phải rời đất nước Việt Nam thân yêu mà Ngài nhận là quê hương thứ hai, sau 38 năm tận tình phục vụ từ các trẻ em cô nhi đến bệnh nhân Phong cùi.


Về tới Pháp, Ngài nhận thấy giới ký giả báo chí, truyền thanh, truyền hình Âu Mỹ, trước kia chỉ biết cúi đầu ca tụng Cộng sản, mạt sát Việt Nam Cộng Hoà… nay trước những cảnh Cộng sản đàn áp bất nhân, khiến cả một dân tộc quằn quại trong điêu linh tang tóc, thì bọn ký giả kia chỉ biết ngậm miệng nhìn những nỗi thống khổ của người dân Việt Nam. Ngài ám chỉ bọn này là một “lũ chó câm”.
Năm 1977, Ngài ấn hành 2 cuốn sách do Ngài viết:
* NHỮNG NGƯỜI ĐỨNG THẲNG (LES HOMMES DEBOUT)
* THỜI CHÓ CÂM (LE TEMPS DES CHIENS MUETS)
Do nhà xuất bản Flammarion, Paris 1977.
Image
Bìa cuốn sách Thời Chó Câm
Cuốn sách Thời Chó Câm, Đức cha Seitz lấy từ những câu nguyền rủa các Tư tế, các nhà Lãnh đạo Israel của Tiên tri Isaia (56:10) trong Thánh kinh Cựu ước:


… Quân canh của Dân tôi là một lũ đui mù, ngu xuẩn,
Bọn chúng là đàn chó câm, không biết sủa,
Chỉ biết nằm xó, mộng mơ, lại thích ngủ,
Chúng là đàn chó háu ăn, không hề biết chán,
Chúng là những mục tử mà không lo chăn dắt,
Mỗi người một ngả, chúng chỉ biết đi tìm lợi riêng…

Sau này, Linh mục Giáo sư Trần Phúc Long (Chủ biên tác phẩm 25 Giáo phận Công giáo Việt Nam) đã giới thiệu cuốn sách “Thời Chó Câm” của Đức cha Paul Seitz trên nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ số 54, tháng 6.1982 do Dòng Đồng Công phát hành.

Trong hoàn cảnh bi thương, câm nín của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, những câu nguyền rủa của Tiên tri Isaia đáng cho chúng ta suy nghĩ, rồi từ đó, rút ra một bài học...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Những Đồng Tiền Nhơ Bẩn

Lê Minh
Tối hôm 24/5 lúc 8.30g, đài truyền hình ABC1 đã cho trình chiếu loạt phóng sự “Dirty Money” (Đồng tiền dơ bẩn) trên chương trình phóng sự nổi tiếng “4 Corner”. Đây là thiên phóng sự kéo dài của phóng viên Nick MacKenzie, chú tâm điều tra những vụ tham nhũng có liên quan đến các hợp đồng in tiền nhựa Polymer, giữa công ty Securency với Ngân hàng Trung ương của nhiều quốc gia.

Nói đến tiền nhựa Polymer thì phải nói đó là công đầu của RBA. Sau khi thử nghiệm và cho lưu hành thành công tờ giấy bạc nhựa $5 đô la vào năm 1988, RBA đã tiến hành thay đổi lần lượt tất cả các loại tiền giấy còn lại sang tiền nhựa Polymer, và hoàn tất công việc này vào năm 1996. Thừa thắng xông lên, RBA cho thành lập công ty con Securency International, một liên doanh giữa RBA (50%) và Innovia Films (50%) một công ty Anh Quốc, để tiếp thị kỹ thuật in loại tiền nhựa Polymer này.

Tuy là loại tiền nhựa Polymer chứng tỏ được ưu thế vượt trội hơn hẳn tiền giấy, mà một trong những ưu điểm là khả năng chống giả cao lên đến 98%, nhưng vấn đề đặt ra là làm sao Securency có thể tiếp cận và thuyết phục quan chức ngân hàng các nước khách hàng chịu thay đổi tiền giấy sang tiền nhựa Polymer. “Cái khó đẻ cái khôn”, thế là các quan chức Securency bèn nghĩ ra cách thuê mướn, lập ra một mạng lưới chân rết các “trung gian” để tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với các quan chức ngân hàng từ Đông sang Tây, từ Á sang Phi.

Trong khi những loạt bài phóng sự trước đây chỉ nói đến “vòng ngoài”, thì trong chương trình phóng sự TV “Đồng tiền dơ bẩn”, Nick Mackenzie đã phỏng vấn một nhân vật từng là nhân viên của Securency, nay là nhân chứng cho cuộc điều tra của Cảnh sát Liên bang (xin gọi tắt là “nhân chứng của cuộc điều tra”). Ngoài ra, Nick Mackenzie cũng phỏng vấn trực tiếp một số nhà báo, ký giả, cựu đại sứ Úc tại VN, nhân viên ngoại giao, thống đốc ngân hàng của một số quốc gia.

Những tay trung gian “hạng gộc” nhất được nhắc đến trong phóng sự “Đồng tiền dơ bẩn” có liên quan đến hợp đồng in tiền nhựa Polymer cho Nigeria, Mã Lai và Việt Nam. Đây cũng là trọng tâm cuộc điều tra hiện nay của Cảnh sát Liên Bang Úc.

Nhân chứng của cuộc điều tra này còn cho biết, có lần vị quan chức cao cấp của Securency đã yêu cầu anh ta giúp sắp xếp “mấy em chân dài người Á Châu” cho một vị Phó Thống đốc Ngân hàng của một quốc gia Á Châu sắp đến thăm Melbourne. Anh này còn kể rõ nguyên văn một mẫu đối thoại khi anh được vị xếp của Securency yêu cầu giúp: “Lần tới khi vị khách này đến đây thì tôi cần anh giúp tìm cho ông ta một nữ bảo vệ (vừa nói vừa nháy mắt ra hiệu), loại bảo vệ đặc biệt ấy mà,… anh hiểu chứ. Phải là người Á Châu nhé”.

Tuy rằng nhân chứng này không giúp tìm “nữ bảo vệ” dùm xếp lớn của Securency, nhưng anh ta tin chắc rằng các đồng nghiệp của mình cũng đã được yêu cầu giúp tìm gái gọi (escorts) cho các vị khách và cũng đã làm tốt các công việc này.

Chưa hết, vị nhân chứng này còn ghi rõ trong quyển sổ tay nhật ký của mình rằng có một tay trung gian đã nói với anh ta rằng “Ông Thống đốc Ngân hàng sẽ vui hơn nữa nếu quý vị chịu chi (trả) thêm tiền huê hồng”.

Có phải tay trung gian này là Lương Ngọc Anh không? Và vị Thống đốc kia có phải là Lê Đức Thúy không? (Thúy là thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ 12/1999 – 7/2007). Phải hay không thì người ta đã biết rõ mươi mười rằng Securency đã chi trả tất cả là $12 triệu đô la Úc vào các tài khoản khác nhau của Lương Ngọc Anh tại Thụy Sỹ. Số tiền này cũng tương ứng với 10% tiền huê hồng từ hợp đồng đáng giá $125 triệu mà Securency có được từ Ngân hàng Nhà nước VN.

Bản kiểm toán do KPMG do thực hiện được công bố hồi tháng 11 năm ngoái cho biết tổng số tiền mà Securency đã chi trả để hối lộ quan chức ngân hàng các nước lên đến $50 triệu đô la Úc, chỉ trong vòng 6 năm từ 2003 đến 2009. Riêng các quan chức Việt Nam đã hưởng $12.5 triệu, tức là 1/4 trên tổng số $50 triệu đã được chi ra để hối lộ quan chức ngân hàng của gần 20 quốc gia. Một vụ “lại quả” đậm vô tiền khoáng hậu!

Bản báo cáo của KPMG đề ngày 30/03/2010 cũng chỉ ra nhiều điều khuất tất trong việc thuê mướn các trung gian, cũng như các mức huê hồng phi lý.

Giải thích cho vụ “lại quả” đậm cho phía Việt Nam, nhà báo Bill Hayton (BBC) cho rằng sở dĩ món tiền phải trả cho các quan chức Việt Nam cao hơn các nơi khác là “vì mối quan hệ (của Lương Ngọc Anh) thuộc loại ... cao cấp mà có lẽ các mối làm ăn khác không thể bì được”. Nhận định này cũng phù hợp với các dư luận trước đây từng cho rằng Lương Ngọc Anh là người của Bộ Công An, và có mối quan hệ rộng rãi với nhiều cơ quan nhà nước, từ trung ương đến các tỉnh thành.

Cũng qua những mối quan hệ “đặc biệt” này mà Lương Ngọc Anh đã cử Lê Đức Minh, con trai của Thống đốc Lê Đức Thúy làm giám đốc công ty BankTech, một công ty con của CFTD (của Lương Ngọc Anh) để dễ bề ... quản lý sổ sách. Vậy mà khi bị chất vấn trước quốc hội vào tháng 6/2006, Lê Đức Thuý vẫn chối bai bải rằng “Đã có một số cơ quan tìm hiểu nhưng không tìm ra căn cứ nào cho thấy con trai tôi tham gia môi giới cho hoạt động in ấn tiền”.

Theo ước đoán của nhân chứng, thì anh này cho rằng có những tay trung gian ăn chận đến 20-25% tiền huê hồng. Như vậy thì trong trường hợp của VN, Lương Ngọc Anh đã ẳm gọn ngon ơ khoảng 4 triệu đô la tiền “dịch vụ phí” cho các công việc nhẹ nhàng như đưa đón, sắp xếp khách sạn và họp hành, và dịch thuật.

Được hỏi ý kiến về vụ RBA, ông Anwar Ibrahim, vị cựu thủ tướng Mã Lai nói rằng “Securency không thể nào nhân danh chuyện huê hồng để chi trả những khoản tiền khổng lồ như vậy,... Thật không thể hình dung được tại sao một hệ thống tốt như Úc lại có thể để xảy ra chuyện như vậy”. Cả ông Anwar Ibrahim và Lamido Sanusi, vị thống đốc ngân hàng trung ương Nigeria đều thúc giục chính phủ Úc phải điều tra tới nơi tới chốn.

Trong khi một số chính trị gia Úc như ông Bob Brown của Đảng Xanh lên tiếng xấu hổ dùm cho hình ảnh nước Úc qua vụ “đồng tiền dơ bẩn” của RBA và mạnh mẽ lên án các quan chức Securency đã phí phạm đồng tiền thuế của người dân Úc, thì một nhà đấu tranh chống tham nhũng nối tiếng ở Nigeria đã đau xót nói rằng “nói cho cùng, đó là đồng tiền đóng thuế của người dân nghèo chúng tôi, và người ta lấy tiền của chúng tôi để hối lộ cho chúng tôi”.

Dưới nhãn quan của bên nào thì đều là “tiền thuế của dân” cả, không một cá nhân nào có thể tự tiện chi tiêu trái luật. Tiền “lại quả” $12.5 triệu đô la trích từ hợp đồng $125 triệu đô la in tiền nhựa Polymer cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền đóng thuế của người dân Việt Nam được Lương Ngọc Anh và bè lũ mượn tay các quan chức Securency bòn rút dùm.

Với những bằng chứng rõ rệt mà cơ quan Cảnh sát Liên bang Úc đang có được thì có lẽ vụ RBA sẽ là vụ án tham nhũng lớn nhất của Úc ở hải ngoại. Theo đà điều tra thuận lợi này thì không lâu nữa các quan chức chủ chốt của Securency sẽ bị truy tố trước pháp luật.

Không biết rồi mai đây ông Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền có còn khăng khăng “Thông tin từ Úc về tiền polymer có tính chất tham khảo” nữa hay không nhỉ? Không biết các vị có biết xấu hổ tí nào không khi “chợt” nghĩ ra rằng mình đã mượn tay mấy ông tư bản nước ngoài để bòn rút tiền thuế của dân mình.

Lê Minh (Sydney, ngày 24/05/2010)

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Tội “chống nhà nước” và nỗi đau của Khổng tử
Phạm Hồng Sơn

Nguồn: Đàn Chim Việt

Nhà nước hay triều đình thì thời nào cũng có thể là một trong hai loại, hoặc là công minh, thương dân hoặc là bất chính, hại dân. Ấy vậy mà thời nào khi một người đã bị khép vào tội “chống nhà nước” hay “chống triều đình” thì coi như mạng sống đã nằm trong tay kẻ khác. Tội ấy luôn là một tội chết. Nhưng lại hầu như thời nào cũng vẫn có người dám cả gan chống lại Triều đình, Chính phủ hay Nhà nước.

Những người cả gan ấy, chắc phải quá mải mê chạy theo chữ Nhân, chữ Nghĩa lắm, nên mới quên khuấy mất chữ Chết. Vì nào có ai lại không sợ chết? Người nào dám khinh cốt nhục bản thân và gia quyến? Lại còn có kẻ nào dại dột đến mức đi chạy theo chữ Lợi đang có chữ Chết lủng lẳng ngay phía trước? Ngay Khổng tử, “vạn thế sư biểu” (người thầy mẫu mực cho muôn đời), người đã răn người ta phải sống theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, còn phải sợ cái hà khắc của triều đình đương thời đến mức lại đi khuyên người ta phải “Chính danh” trong mọi chuyện, nhất là trong những việc “chính trị”. Đã làm vì Nhân, vì Nghĩa thì còn xá gì Danh? Nếu đây không phải là nỗi đau đời không nói ra của Khổng tử thì chắc chắn là một mâu thuẫn, một khiếm khuyết lớn trong tư tưởng của “vạn thế sư biểu”.

Chắc lúc đó Khổng tử không biết (hoặc biết mà chưa kịp nói với các môn đệ) rằng loài người sau ông sẽ giải quyết được mâu thuẫn đương thời của ông- mâu thuẫn giữa thân phận bé nhỏ của kẻ Tiện dân với khao khát làm những việc Nhân, Nghĩa to lớn cho Xã hội. Các hệ thống chính trị dân chủ tự do ngày nay đã không chỉ thừa nhận mà còn đảm bảo để người dân được tự do thực hiện quyền chống (phản đối) sự đồi bại của chính phủ, chống chính sách sai lầm, ác độc của nhà nước hay chống bất cứ cái gì một cách hòa bình và được tự do tham gia, tác động vào mọi công việc điều hành đất nước, quản lý xã hội, bất chấp vị thế hay thân phận. Những điều đó đã được toàn thế giới công nhận là một Quyền đương nhiên của loại động vật có tên là Người. Nói cách khác, loài người nói chung đã đi đến chỗ coi chuyện công khai bày tỏ sự yêu, ghét, ủng hộ hay phản đối bất kỳ cái gì một cách ôn hòa là chuyện thường tình, hữu ích cho loài người và không thể cấm được. Ngay các chính thể hà khắc nhất, bất nhân nhất cũng đâu có ngăn được “bia miệng” và các loại “bia” để đời khác vẫn cứ sừng sững dựng lên dành cho chúng.

Khổng tử chắc phải đang ngậm cười khi thấy mâu thuẫn, khiếm khuyết của ông đã được hậu thế ở nhiều nước hóa giải bằng lý luận và thực tiễn. Ở những nước đó lý tưởng “dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi.” đã được thực hiện rất dễ dàng đúng như mơ ước của Khổng tử. Chỉ có khác, ở những nước đó, người dân không chỉ ước mong hay cầu xin như ông mà họ đã lập được những thiết chế buộc kẻ làm “vua” phải biết “hiếu chi” và “ố chi”, bằng không kẻ đó phải “về vườn” ngay tức khắc.

Nhưng Khổng tử chắc cũng đang đau xót lắm khi “triều đình” trên chính quê hương ông và “triều đình” chư hầu của vài nước lân bang vẫn không chịu hóa giải nỗi đau đời cho ông. Những “triều đình” đó vẫn muốn khép tội chết cho người dám vạch trần sự đồi bại của “triều đình” hay chỉ đơn giản bày tỏ hộ nỗi lòng dân muốn có một “triều đình” khác bớt tham tàn hơn, bớt đớn hèn hơn. Nhưng chết thì ai mà cuối cùng chả phải chết. Chỉ thật thương cho vong linh của Khổng tử và kiếp người tại những nước đó, vẫn chưa thoát được sự đọa đày, trói buộc vì lòng tham của một số kẻ có quyền, mà thôi.

Post Reply