Quán Sinh Tố
Moderator: khieulong
Sự Quan Trọng Của Dấu Phẩy
Dấu phảy trong Việt Ngữ:
Người vợ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con, vợ chồng hạnh phúc"
Người chồng sẽ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con vợ, chồng hạnh phúc"
Dấu phảy trong Anh Van:
Woman without her Man is nothing
Người Đàn Ông sẽ đọc là:
“Woman! without her Man, is nothing.”
Còn người Đàn Bà sẽ đọc là:
“Woman! without her, Man is nothing.”
Người vợ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con, vợ chồng hạnh phúc"
Người chồng sẽ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con vợ, chồng hạnh phúc"
Dấu phảy trong Anh Van:
Woman without her Man is nothing
Người Đàn Ông sẽ đọc là:
“Woman! without her Man, is nothing.”
Còn người Đàn Bà sẽ đọc là:
“Woman! without her, Man is nothing.”
"Mail Server Report"
Đây là thông tin sáng nay vưà được Microsoft và Norton gởi trực tiếp đến khách hàng Yêu cầu ai đọc xong xin thông báo ngay cho mọi người có lên internet để biết và đề phòng!
“Rất có thể là bạn sẽ nhận được một báo cáo có vẻ như vô hại cuả máy chủ có tiêu đề viết là "Mail Server Report"
mà nếu bạn mở ra đọc thì sẽ có dòng chữ như vầy hiện ra: "Quá trễ rồi! Cuộc đời bạn hết tươi đẹp rồi!"
Hậu quả sau khi đọc là BẠN SẼ BỊ MẤT TẤT CẢ TRONG MÁY VI TÍNH CUẢ MÌNH!, và người gởi thơ cho bạn sẽ chiếm đoạt hết được tên họ, hồ sơ email, và mật khẩu cuả bạn!
Đây là con virus vưà được tung lên internet hôm Thứ Bảy vưà qua. America On Line đã xác nhận tin cực kỳ xấu này, và cho biết phần mềm chống virus không thể tiêu diệt được nó!
Tin tặc làm ra virus này xưng danh là "chủ nhân cuả cuộc sống"!
“Rất có thể là bạn sẽ nhận được một báo cáo có vẻ như vô hại cuả máy chủ có tiêu đề viết là "Mail Server Report"
mà nếu bạn mở ra đọc thì sẽ có dòng chữ như vầy hiện ra: "Quá trễ rồi! Cuộc đời bạn hết tươi đẹp rồi!"
Hậu quả sau khi đọc là BẠN SẼ BỊ MẤT TẤT CẢ TRONG MÁY VI TÍNH CUẢ MÌNH!, và người gởi thơ cho bạn sẽ chiếm đoạt hết được tên họ, hồ sơ email, và mật khẩu cuả bạn!
Đây là con virus vưà được tung lên internet hôm Thứ Bảy vưà qua. America On Line đã xác nhận tin cực kỳ xấu này, và cho biết phần mềm chống virus không thể tiêu diệt được nó!
Tin tặc làm ra virus này xưng danh là "chủ nhân cuả cuộc sống"!
Cách trị kính xe bị mờ do mưa và sương mù
Xin chuyển đến qúy vị vài mẹo vặt thấy có ích để tùy nghi.
Thưa các anh chị,
Khi lái xe mà trời mưa lớn, khi buổi sáng trời lạnh kiếng xe mịt mờ, phải vặn hơi nóng và chờ cho tan mù, và vặn "quạt hơi phá mù" tối đa, nhưng lâu mới hiệu quả. Không cần như vậy.
Các đây hơn 20 năm, tôi ở San Francisco, xứ sương mù. một hôm tôi thả bộ đi chơi buổi sáng, thấy có một ông Mỹ bôi cái gì đó vào kiếng xe. Tôi hỏi ông bôi chi vậy? Ông nói là để "phá mù" và "đi mưa".
Thứ đó có bán trong các tiệm phụ tùng xe hơi. Có tên là "RAIN-X" trong chai màu vàng, chai nhỏ bằng 3 ngón tay, chỉ có ba bốn đồng chi đó, chai lớn thì bằng bàn tay, giá đắt hơn ( Một chai 4 đồng, tôi dùng trong nhiều năm chưa hết)
Cách dùng : bôi lên kiếng như sau:
*-Chùi kiếng xe cho sạch, để khô
*-Nhỏ vài giọt RAIN-X lên kiếng và lấy khăn giấy thoa vòng tròn, thật mỏng.
Thế là khi đi mưa, khỏi dùng quạt nước, mưa viên lại thành từng hạt tròn, lăn ngược lên trên trần xe. Kiếng trong veo, thấy đường dễ dàng.
Khi mù bám vào kiếng xe buổi sáng, chỉ cần quay gạt nước 1 cái thôi, là trong veo, và mù không bám thêm trong khi xe di chuyển.
Cứ một năm bôi chừng 3 lần chứ không cần bôi nhiều.
Hơn 20 năm nay, tôi đã dùng, và thấy hiệu quả lắm.
Chúc các anh chị may mắn.
Xin chuyển đến qúy vị vài mẹo vặt thấy có ích để tùy nghi.
Thưa các anh chị,
Khi lái xe mà trời mưa lớn, khi buổi sáng trời lạnh kiếng xe mịt mờ, phải vặn hơi nóng và chờ cho tan mù, và vặn "quạt hơi phá mù" tối đa, nhưng lâu mới hiệu quả. Không cần như vậy.
Các đây hơn 20 năm, tôi ở San Francisco, xứ sương mù. một hôm tôi thả bộ đi chơi buổi sáng, thấy có một ông Mỹ bôi cái gì đó vào kiếng xe. Tôi hỏi ông bôi chi vậy? Ông nói là để "phá mù" và "đi mưa".
Thứ đó có bán trong các tiệm phụ tùng xe hơi. Có tên là "RAIN-X" trong chai màu vàng, chai nhỏ bằng 3 ngón tay, chỉ có ba bốn đồng chi đó, chai lớn thì bằng bàn tay, giá đắt hơn ( Một chai 4 đồng, tôi dùng trong nhiều năm chưa hết)
Cách dùng : bôi lên kiếng như sau:
*-Chùi kiếng xe cho sạch, để khô
*-Nhỏ vài giọt RAIN-X lên kiếng và lấy khăn giấy thoa vòng tròn, thật mỏng.
Thế là khi đi mưa, khỏi dùng quạt nước, mưa viên lại thành từng hạt tròn, lăn ngược lên trên trần xe. Kiếng trong veo, thấy đường dễ dàng.
Khi mù bám vào kiếng xe buổi sáng, chỉ cần quay gạt nước 1 cái thôi, là trong veo, và mù không bám thêm trong khi xe di chuyển.
Cứ một năm bôi chừng 3 lần chứ không cần bôi nhiều.
Hơn 20 năm nay, tôi đã dùng, và thấy hiệu quả lắm.
Chúc các anh chị may mắn.
Dời bến
Bà con của một người bà con dẫn cô lên giúp việc nhà họ vào một bữa trời mưa. Cô vắt đôi tà áo ướt đẫm nước, tròn con mắt phân trần, “xứ gì ngộ quá, đâu cũng có nhà mà không có chỗ đụt mưa. Ở đâu cũng tường rào kín mít, kiếm đỏ con mắt mới gặp được mái hiên, tui mới đứng chút xíu đã bị kêu tránh ra cho người ta buôn bán. Phải ở dưới quê bà con còn đem ghế cho ngồi…”
Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê…”.
Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẩn thờ, trời ơi, phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước dữ lắm
. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, “phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng lắm…”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo…”.
Cả nhà chủ vừa buồn cười, vừa khó chịu. Họ đã sống một cuộc sống được xem là hiện đại, đầy đủ, họ hài lòng với những gì mình có. Nhưng cô giúp việc tỏ ra không mấy hài lòng, suốt ngày đi so sánh, mà so sánh với nếp quê mới kỳ cục.
Phải ở dưới quê, ra vườn chút xíu là kiếm được rổ rau rồi, đâu phải mua chi cho uổng tiền. Phải ở dưới quê, mùa này gió chướng thả cửa, ở trong cái nhà hả họng đón gió sông, mặc sức mà… run, mở máy lạnh làm chi, ngộp quá chừng.
Phải ở dưới quê, chặt cây chuối ra ao tập lội, khỏi mắc công đi hồ bơi. Phải ở dưới quê…
Mỗi ngày qua, cô lại đưa ra một vài kiểu so sánh mới, chi tiết và tinh tế đến mức cô đặt cả bụi và cỏ lên bàn cân. Cỏ ở thị thành cũng vô duyên, phải ở quê, cỏ phơi khô, đem đốt, lấy tro trồng đậu, trồng dưa.
Chủ nhà quen dần, thấy mến cái cách nói thẳng thừng, gọn lỏn, ngỏn ngoẻn, tỉnh bơ như thể cái xóm nhỏ heo hút kia mới chính là thiên đường.
Và cô, dù đã xa mảnh thiên đường đó mà lòng còn cắm sào ở bến sông, níu mãi bụi ô rô, đọt nhãn lồng, hàng lơn nước xanh rêu, con gà mái quýnh quáng gọi đàn con đến bên ổ mối.
Cô hòa nhập chậm, bởi bước chân cô kéo theo hàng hàng ký ức, lớp lớp nỗi nhớ. Dễ gì…
Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường.
Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ương bướng, bởi cô không nghĩ vậy, gì chớ, quê cô là nhất.
Cô là người không dễ bị thuyết phục, kể cả lúc buộc phải đồng tình, ừ cái bếp này không khói, khỏi bị chảy nước mắt, nhưng không khói thì không thơm mùi củi ướt, mùi những con mối nhỏ, trứng kiến bị cháy vàng, mùi khoai lang vùi trong than.
Mỗi khi cô “nhưng” nhà chủ thót tim, vì thấy mình thua là cái chắc. Nhiều lúc nằm nhìn cái máy điều hòa thấy mặc cảm dễ sợ, mặc cảm với những ngọn gió phóng khoáng thổi nước chảy tràn lên những bờ sông quê cô.
Và việc có nhiều tiền cũng đôi khi làm nhà chủ bẽn lẽn, họ không bao giờ mua được cái chốn nhớ cho mình, với khói đốt đồng, bông khế rụng, mấy con ong bầu vo ve đục kèo nhà làm tổ.
Sáu tháng, cô chỉ có cái lý duy nhất “phải ở dưới quê…” mà xiêu lạc cả nhà chủ. Họ bắt đầu cảm thấy cái nơi mà họ chưa từng đặt chân đến mới là thiên đường.
Bữa cô về quê dự đám giỗ, họ nôn nao như chính mình trở về, đám trẻ con dậy sớm, lăng xăng dặn, chị Hai về nhớ đi câu thác lác, bứt bông súng, hái chùm ruột đem lên cho tụi em ăn nghen.
Người lớn rảo qua rảo lại, ngó cô giúp việc nháo nhác bên cái giỏ, chỉ mấy hộp bánh tây, trà lài mà cô nhét vào, xổ ra, rồi lại nhét vào, mắc tức.
Chút nữa thôi, chuyến tàu trưa sẽ đưa cô về lại thiên đường riêng mình. Nhà chủ ngó cái lưng cô giúp việc khuất dần và nghĩ thầm, mình đã từng có thiên đường, nhưng nó đã không còn nữa.
Cô trở lại nhà chủ cũng một bữa mưa rào.
Dường như mưa cuối mùa. Lui cui rửa đôi dép, cô cằn nhằn, “rầu quá, dưới quê bước ra là gặp sình lầy, dơ muốn chết, phải ở thành phố…”.
Chủ nhà hơi khựng lại, ngỡ ngàng. Cô vẫn hồn nhiên, “đám giỗ làm bánh lủ khủ, phải ở thành phố, chạy ra chợ mua cho gọn…”
. Lòng cô đã không còn buộc dây nơi bến cũ, thiên đường của cô cũng tan biến mất rồi.
Rốt cuộc không có thiên đường nào hết.
Chuyện bình thường thôi, cô đã được tiện nghi thành thị nuông chiều, nhận ra một chuẩn mực mới.
Một trò chơi nhỏ của thời gian, nhưng mà chơi ác.
Biết vậy, nhưng nhà chủ vẫn buồn, vì lòng họ đã neo vào một cô giúp việc quê mùa, hồn nhiên, chân chất của mưa xưa.
Nguyễn Ngọc Tư
Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê…”.
Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẩn thờ, trời ơi, phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước dữ lắm
. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, “phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng lắm…”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo…”.
Cả nhà chủ vừa buồn cười, vừa khó chịu. Họ đã sống một cuộc sống được xem là hiện đại, đầy đủ, họ hài lòng với những gì mình có. Nhưng cô giúp việc tỏ ra không mấy hài lòng, suốt ngày đi so sánh, mà so sánh với nếp quê mới kỳ cục.
Phải ở dưới quê, ra vườn chút xíu là kiếm được rổ rau rồi, đâu phải mua chi cho uổng tiền. Phải ở dưới quê, mùa này gió chướng thả cửa, ở trong cái nhà hả họng đón gió sông, mặc sức mà… run, mở máy lạnh làm chi, ngộp quá chừng.
Phải ở dưới quê, chặt cây chuối ra ao tập lội, khỏi mắc công đi hồ bơi. Phải ở dưới quê…
Mỗi ngày qua, cô lại đưa ra một vài kiểu so sánh mới, chi tiết và tinh tế đến mức cô đặt cả bụi và cỏ lên bàn cân. Cỏ ở thị thành cũng vô duyên, phải ở quê, cỏ phơi khô, đem đốt, lấy tro trồng đậu, trồng dưa.
Chủ nhà quen dần, thấy mến cái cách nói thẳng thừng, gọn lỏn, ngỏn ngoẻn, tỉnh bơ như thể cái xóm nhỏ heo hút kia mới chính là thiên đường.
Và cô, dù đã xa mảnh thiên đường đó mà lòng còn cắm sào ở bến sông, níu mãi bụi ô rô, đọt nhãn lồng, hàng lơn nước xanh rêu, con gà mái quýnh quáng gọi đàn con đến bên ổ mối.
Cô hòa nhập chậm, bởi bước chân cô kéo theo hàng hàng ký ức, lớp lớp nỗi nhớ. Dễ gì…
Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường.
Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ương bướng, bởi cô không nghĩ vậy, gì chớ, quê cô là nhất.
Cô là người không dễ bị thuyết phục, kể cả lúc buộc phải đồng tình, ừ cái bếp này không khói, khỏi bị chảy nước mắt, nhưng không khói thì không thơm mùi củi ướt, mùi những con mối nhỏ, trứng kiến bị cháy vàng, mùi khoai lang vùi trong than.
Mỗi khi cô “nhưng” nhà chủ thót tim, vì thấy mình thua là cái chắc. Nhiều lúc nằm nhìn cái máy điều hòa thấy mặc cảm dễ sợ, mặc cảm với những ngọn gió phóng khoáng thổi nước chảy tràn lên những bờ sông quê cô.
Và việc có nhiều tiền cũng đôi khi làm nhà chủ bẽn lẽn, họ không bao giờ mua được cái chốn nhớ cho mình, với khói đốt đồng, bông khế rụng, mấy con ong bầu vo ve đục kèo nhà làm tổ.
Sáu tháng, cô chỉ có cái lý duy nhất “phải ở dưới quê…” mà xiêu lạc cả nhà chủ. Họ bắt đầu cảm thấy cái nơi mà họ chưa từng đặt chân đến mới là thiên đường.
Bữa cô về quê dự đám giỗ, họ nôn nao như chính mình trở về, đám trẻ con dậy sớm, lăng xăng dặn, chị Hai về nhớ đi câu thác lác, bứt bông súng, hái chùm ruột đem lên cho tụi em ăn nghen.
Người lớn rảo qua rảo lại, ngó cô giúp việc nháo nhác bên cái giỏ, chỉ mấy hộp bánh tây, trà lài mà cô nhét vào, xổ ra, rồi lại nhét vào, mắc tức.
Chút nữa thôi, chuyến tàu trưa sẽ đưa cô về lại thiên đường riêng mình. Nhà chủ ngó cái lưng cô giúp việc khuất dần và nghĩ thầm, mình đã từng có thiên đường, nhưng nó đã không còn nữa.
Cô trở lại nhà chủ cũng một bữa mưa rào.
Dường như mưa cuối mùa. Lui cui rửa đôi dép, cô cằn nhằn, “rầu quá, dưới quê bước ra là gặp sình lầy, dơ muốn chết, phải ở thành phố…”.
Chủ nhà hơi khựng lại, ngỡ ngàng. Cô vẫn hồn nhiên, “đám giỗ làm bánh lủ khủ, phải ở thành phố, chạy ra chợ mua cho gọn…”
. Lòng cô đã không còn buộc dây nơi bến cũ, thiên đường của cô cũng tan biến mất rồi.
Rốt cuộc không có thiên đường nào hết.
Chuyện bình thường thôi, cô đã được tiện nghi thành thị nuông chiều, nhận ra một chuẩn mực mới.
Một trò chơi nhỏ của thời gian, nhưng mà chơi ác.
Biết vậy, nhưng nhà chủ vẫn buồn, vì lòng họ đã neo vào một cô giúp việc quê mùa, hồn nhiên, chân chất của mưa xưa.
Nguyễn Ngọc Tư

10 dieu cam ky khi an CUA !
.1. Kỵ ăn cua chết
Trong cơ thể cua có chứa nhiều thành phần hóa học mang tên histidine (có công thức phân tử C3H3N2CH2 (NH2)CO2H).
Cua sau khi bị chết, các loại vi khuẩn liền phồn thực rất mạnh trong cơ thể cua, khiến histidine nhanh chóng chuyển hóa thành histamine (công thức phân tử C3H3N2H4 NH2) gây độc đối với cơ thể người.
Đặc biệt là cua chết càng lâu thì lượng histamine sinh ra càng nhiều, khi ta ăn vào càng dễ bị ngộ độc. Bởi vậy, một khi cua đã chết (dù là cua bể to rất đắt) phải kiên quyết loại bỏ, không tiếc rẻ!
2. Kỵ ăn cua đã luộc, nấu chín nhưng để đã lâu
Thịt cua để lâu rất dễ bị ôi thiu, ô nhiễm do vi khuẩn xâm nhập vì vậy, với cua nên chế biến đến đâu ăn hết đến đó.
Nếu thực sự xài không hết, phần dư nên bảo quản trong tủ lạnh, hoặc để nơi thoáng đãng, sạch sẽ, và nên nhớ trước khi ăn phải đun nấu lại thật kỹ.
3. Kỵ ăn cua sống
Bởi trong thịt cua sống có chứa nang trùng “lungfluke” (trùng hút máu phổi, còn gọi là đỉa phổi), nếu không qua khử trùng tiêu độc ở nhiệt độ cao mà ăn sống ăn tái kiểu “gỏi cua” sẽ rất dễ mắc bệnh “đỉa phổi”.
Loại lungfluke ký sinh trong phổi, không những kích thích hoặc phá hoại các tổ chức phổi, dẫn tới ho, khạc ra máu, mà còn có thể xâm nhập lên não, dẫn tới chứng co giật, thậm chí gây bại liệt.
Nếu lungfluke xâm nhập các khí quan như mắt, thận, gan, tim, tủy sống vv…, còn dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng hơn. Bởi vậy cua phải nấu thật chín mới được ăn, phải qua đun sôi tối thiểu 20-30 phút.
4. Không ăn “bọng hoi” (dạ dầy) của cua
Bởi trong có chứa nhiều loài vi khuẩn gây bệnh và tạp chất có độc.
5. Người bị dị ứng phải hết sức cẩn trọng khi ăn cua
6. Tuyệt đối không ăn cua kèm quả hồng
Bởi chất tannin chứa trong quả hồng sẽ kết hợp với chất protein trong thịt cua, sẽ gây nên các triệu chứng như lợm giọng, nôn ói, đau bụng, tiêu chảy vv…
7. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn cua
Cua tính hàn, dễ gây đau bụng, tiêu chảy. Bởi vậy, với người tỳ vị hư hàn không nên ăn nhiều cua, nếu ăn mà xuất hiện các triệu chứng trên, có thể dùng bài thuốc tía tô (15g) phối hợp với sinh khương (gừng tươi) 5-6 lát, đổ nước ninh kỹ, uống nóng ấm sẽ “cầm” ngay.
8. Với người đang mắc các chứng bệnh như sỏi mật, viêm túi mật, viêm dạ dầy mạn tính, viêm loét hành tá tràng, viêm gan không nên ăn cua.
9. Với người bệnh tim (động mạch vành), cao huyết áp, xơ vữa động mạch, mỡ máu cao… kỵ ăn gạch cua, vì trong gạch cua có hàm lượng cholesterol cực cao, ăn vào sẽ làm bệnh càng trầm trọng.
10. Với người mắc chứng thương phong (cảm cúm), phát sốt, đau dạ dầy… cũng kiêng ăn cua.

MẮT XANH TRONG TÌNH CA VIỆT NAM Trong nhạc tình tân nhạc của Việt Nam thường hay có “mắt xanh”.
Thực tế làm gì có người Việt Nam nào có mắt mầu xanh trừ khi đeo contact lenses mầu xanh hay là mắt của “con lai” hoặc là mắt của “con ma” !
Mắt xanh chắc chỉ là ám chỉ người đàn bà còn trẻ và dĩ nhiên có mắt đẹp.
Sau đây là vài bản tình ca Việt Nam có “mắt xanh”:
"...Ai nhớ mắt xanh năm nào
Chiều thu soi bóng nắng chưa phai mầu..."
(Chiều Tím/nhạc Đan Thọ, lời Đinh Hùng)
"...Huyền, mắt xanh đêm ngàn sao
Luyến thương dâng sầu ngút, cánh uyên lên ngời cao, không vợi niềm đau..."
(Huyền/nhạc và lời Thanh Trang)
“…A haha, suối in hình chiếc xe tàn đêm nao
Đập vỡ cây đàn, giận đời nào ai mắt xanh…”
(Bánh Xe Lãng Tử/nhạc và lời Trọng Khương)
“…Nhớ người em xưa , màu mắt xanh, tình thơ ngây
Thường men lối ven sông tìm nhặt cánh hoa tàn …”
(Biết Đâu Tìm/nhạc và lời Hoàng Thi Thơ)
"...Trìu mến mắt xanh dâng hương tình
làm ngất ngây khách đa tình... thầm ước duyên mơ... "
(Chiều Vào Thu/nhạc và lời Hiếu Anh)
Mắt xanh ... xanh:
"Cho mắt em trong mầu xanh xanh, cho tiếng em ru thần thánh
Dáng em dịu hiền, cánh môi em hồn nhiên..."
(Thì Thầm/nhạc và lời Lại Quốc Hùng)
Mắt xanh … xao:
“…Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao …”
(Diễm Xưa, nhạc và lời Trịnh Công Sơn)
Mắt xanh ... mờ:
“…Hẹn mãi, cho biết đến bao giờ
cho đôi mắt xanh mờ, tím như không gian đợi chờ…”
(Vườn Tàn Phai, nhạc và lời Hoàng Quốc Bảo)
Mắt ...mơ xanh mờ:
"...Và tóc rối bời hồn đang lạnh trống
Đôi mắt mơ xanh mờ theo ánh tà dương..."
(Sao Đêm, nhạc và lời Lê Trọng Nguyễn)
Cuối cùng là một bản nhạc với mắt hết mầu …xanh:
“Nếu anh về môi em phai mầu thắm
Nắng ngoài sân vàng lỡ tuổi xuân qua
Nếu anh về mắt em hết mầu xanh
Lệ tràn mi nhìn nhau đau tiếc nuối …”
(Nếu Mai Anh Về, nhạc và lời Phạm Anh Dũng)
Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California , USA
Pha.m Anh Du~ng
http://www.youtube. com/phamanhdung1 #g/u

Sự tích Hoa Xương Rồng
Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi, khi ấy còn chưa có loài người, trái đất còn hoang vu lắm, thấy vậy Ngọc Hoàng bèn lấy một nắm đât nhỏ vào đó một giọt nước thần để tạo ra một chàng trai. Ngọc Hoàng dạy người đó biết săn bắn, biết làm nhà rồi đưa chàng trai xuống trần gian. Thế nhưng chàng trai chỉ biết có săn bắn mà không hề biết gì về trồng trọt nên không thể phủ màu xanh lên trái đất. Thấy vậy Ngọc Hoàng bèn sai một tiên nữ chuyên trông coi việc đồng áng - vốn là con gái của thần Mưa và thần Gió - xuống trần để giúp đỡ chàng trai. Nhưng không ngờ khi xuồng trần họ lại mải mê yêu nhau nên làm Ngọc Hoàng vô cùng tức giận. Người bắt tiên nữ kia về trời, nhưng nàng nhất quyết không rời chàng trai. Tức giận quá, Ngọc Hoàng liền vung tay, biến chàng trai thành trăm nghìn hạt nhỏ, mà ngày nay nguời ta gọi là Cát. Còn cô gái cứ ôm lấy chàng trai mà nay chỉ còn là những hạt cát nhỏ mà khóc lóc, dù cho Mẹ nàng là thần Mưa hết lòng khuyên giải, mặc cho Cha nàng là thần Gió hết sức tức giận.
Nàng cứ ở đó khóc mãi, khóc mãi cho đến một ngày toàn thân biến thành một thứ cây toàn thân là gai góc, như để chống cự không muốn bị bắt về trời, còn rễ thì ăn sâu vào trong lòng cát nóng bỏng như cánh tay cô gái ôm chặt lấy chàng trai không muốn rời, và nếu như vô tình bạn chạm vào thân cây sẽ thấy một dòng nhựa trắng chảy ra, như dòng nước mắt chất chứa cả ngàn năm của cô gái.
Và loài cây đó được gọi là Xương Rồng.
Thần Mưa do quá buồn bã mà từ cô con gái, thế nên ở sa mạc nóng bỏng, nơi chỉ có Cát và Xương Rồng cả năm chẳng hề có một giọt mưa. Còn thần Gió dù đã ngàn năm trôi qua nhưng vẫn còn tức giận, vẫn còn muốn cướp lại con gái của mình nên thỉnh thoảng lại tạo nên những cơn bão khổng lồ cuốn tung những hạt cát nhỏ bé, thế nhưng vẫn chẳng thể nào chia rẽ được tình yêu của họ bởi vì... tình yêu thực sự sẽ chiến thắng tất cả.
Tình yêu đẹp với thành công lớn luôn gắn rất nhiều với những thử thách khó khăn !
(ST)
Đổi tông
Anh chồng say xỉn về nhà, gọi cửa mãi mà không có ai ra mở. Cuối cùng, anh nghĩ ra một kế và gọi thật to:
- Tôi mang bó hoa đẹp nhất về tặng cho người phụ nữ đẹp nhất trần gian đây!
Lập tức, cánh cửa mở toang, cô vợ sung sướng chạy ra và hỏi:
- Đâu, bó hoa đẹp nhất đâu?
Anh chồng liền bảo:
- Thế người phụ nữ đẹp nhất trần gian đâu?
Anh chồng say xỉn về nhà, gọi cửa mãi mà không có ai ra mở. Cuối cùng, anh nghĩ ra một kế và gọi thật to:
- Tôi mang bó hoa đẹp nhất về tặng cho người phụ nữ đẹp nhất trần gian đây!
Lập tức, cánh cửa mở toang, cô vợ sung sướng chạy ra và hỏi:
- Đâu, bó hoa đẹp nhất đâu?
Anh chồng liền bảo:
- Thế người phụ nữ đẹp nhất trần gian đâu?
Sự tích đàn ông đeo dây chuyền
Ngày xưa, đàn ông không đeo dây chuyền, và nói chung, họ chả đeo gì cả. Chỉ cần đeo cái kiếp đàn ông cũng đủ khổ lắm rồi.
Cũng ngày xưa, giữa đàn ông và đàn bà rất ít có tình yêu. Chỉ có sự chiếm đoạt. Đàn bà đi trên đường phố, thấy chàng trai nào trẻ đẹp hoặc khỏe mạnh thì bắt về ép phải làm chồng.
Nhưng bắt bằng gì? Đầu tiên là bằng lưới. Đàn bà đi đâu cũng thủ sẵn một cái lưới bên mình, thấy đàn ông nào ngon là quăng ra chụp lấy.
Phương pháp này hay, chắc chắn vì hầu như lưới đã tung ra là đàn ông hết cách vẫy vùng. Nhưng có nhiều nỗi bất tiện vì đàn ông có nhiều loại, loại nhỏ quá thì dễ chui lọt lưới, còn loại to quá thì lưới không vừa. Hậu quả là có nhiều đàn ông trốn thoát.
Phương pháp thứ hai là dùng mồi nhử. Đàn bà nấu những mâm cơm ngon, rượu thịt ê hề bày ra vỉa hè. Đàn ông ham nhậu, sà vào ăn uống đến khi say là đàn bà ung dung ra nhặt lấy, mang về.
Phương pháp này có lợi là có thể bắt được nhiều đàn ông một lúc, nhưng chi phí rất tốn kém. Đó là chưa kể một vài đàn ông uống mãi không say, hoặc một số đàn ông cực tốt chả khi nào chịu uống, đàn bà chả khi nào tóm được.
Phương pháp thứ ba là dùng nghệ thuật. Đàn bà bỏ công sức ra tập hát, tập múa biểu diễn khiến đàn ông nô nức kéo đến xem. Đang xem thì đàn bà khóa cổng lại, dùng xe tải tới vây bắt. Cách này tuyệt vời là bắt được cả đàn. Nhưng đàn bà quá lạm dụng nó. Họ tập múa qua loa hoặc tập hát sơ sài, đàn ông không tới mà toàn đàn bà và trẻ con tới coi, nên năng suất và sản lượng đánh bắt đều giảm.
Cuối cùng, trước nguy cơ không tóm được những đàn ông cần thiết, chính quyền (lúc ấy toàn do đàn bà nắm giữ) ban bố một điều luật kinh khủng: hễ đàn bà gặp đàn ông ở đâu, là có thể túm lấy bất kỳ một chỗ nào trên cơ thể để lôi về.
Luật ban ra, đàn bà reo hò và xông tới các vỉa hè, các trụ sở công ty. Gặp anh có tay dài họ nắm tay, gặp ông có chân dài họ lôi chân, gặp chàng có tai to họ kéo tai, gặp chàng có tóc họ sợ gì mà không kéo tóc. Vì thế mới có câu “Nắm chàng có tóc chứ không nắm chàng trọc đầu”.
Phương pháp này rất hiệu quả, tuy nhiên số đàn ông bị thương vong quá nhiều. Kẻ thì sứt tai, kẻ thì rách mũi, kẻ thì bị vặn tréo cả tay. Thậm chí, đã có trường hợp một anh đẹp trai bị hai cô gái cùng lôi mạnh đến nỗi rách đôi người.
Một vài đàn ông khôn ngoan, thà chết chứ không lấy vợ, thà bị thương chứ không chịu làm nô lệ, bèn đeo vào người nhiều phụ kiện như găng tay, mũ, áo khoác... Khi bị đàn bà lôi, các thứ này rời ra và họ trốn thoát.
Tỷ lệ đàn ông trốn thoát ngày càng nhiều khiến chính quyền (xin nhắc lại là lúc ấy toàn do đàn bà cai quản) ra một chỉ thị: Tất cả đàn ông đều phải đeo một dây chuyền vào cổ.
Đây là một quyết định rất độc đáo, rất sáng tạo, dựa trên nhiều nghiên cứu khoa học và trên kết quả của hàng trăm cuộc hội thảo, nó khiến đàn ông không cách gì trốn khỏi số phận được.
Ở bất cứ đâu, ở bất kỳ lúc nào, phụ nữ thấy đàn ông vừa mắt là chỉ việc tiến tới, nắm sợi dây chuyền mà lôi. Có nhà nghiên cứu nói rằng phương pháp này xuất phát từ dây cương ngựa nhưng đàn ông hoàn toàn bác bỏ điều này.
Thời gian qua đi. Phụ nữ ngày càng trở nên xinh đẹp và quý hiếm, còn đàn ông ngày càng thừa thải.
Đàn ông lúc này chỉ mong được đàn bà tóm nhưng cơ hội trở nên ít ỏi. Có nhiều anh cả đời lang thang ngoài vỉa hè, vươn cổ ra mong được cô nào túm lấy nhưng vẫn mãi mãi cô đơn.
Một số anh chợt nảy ra sáng kiến. Thay vì đeo dây cổ là dây thừng, họ bèn đeo dây chuyền vàng. Thậm chí vàng có khảm kim cương. Một vài cô chả ham anh ta, nhưng lại ham sợi dây, thế là mắc mưu, tóm lấy lôi đi.
Nhưng cũng có vài cô kinh dị, lôi ra chỗ vắng hoặc chỗ tối, tháo cướp lấy dây chuyền rồi vứt đàn ông đấy, bỏ chạy. Cũng may số ấy không nhiều.
Nếu các bạn để ý, các bạn sẽ thấy đàn ông càng xấu trai thì càng đeo dây chuyền lớn. Họ cần phải có mồi to!
Siu tầm trên Net
Ngày xưa, đàn ông không đeo dây chuyền, và nói chung, họ chả đeo gì cả. Chỉ cần đeo cái kiếp đàn ông cũng đủ khổ lắm rồi.
Cũng ngày xưa, giữa đàn ông và đàn bà rất ít có tình yêu. Chỉ có sự chiếm đoạt. Đàn bà đi trên đường phố, thấy chàng trai nào trẻ đẹp hoặc khỏe mạnh thì bắt về ép phải làm chồng.
Nhưng bắt bằng gì? Đầu tiên là bằng lưới. Đàn bà đi đâu cũng thủ sẵn một cái lưới bên mình, thấy đàn ông nào ngon là quăng ra chụp lấy.
Phương pháp này hay, chắc chắn vì hầu như lưới đã tung ra là đàn ông hết cách vẫy vùng. Nhưng có nhiều nỗi bất tiện vì đàn ông có nhiều loại, loại nhỏ quá thì dễ chui lọt lưới, còn loại to quá thì lưới không vừa. Hậu quả là có nhiều đàn ông trốn thoát.
Phương pháp thứ hai là dùng mồi nhử. Đàn bà nấu những mâm cơm ngon, rượu thịt ê hề bày ra vỉa hè. Đàn ông ham nhậu, sà vào ăn uống đến khi say là đàn bà ung dung ra nhặt lấy, mang về.
Phương pháp này có lợi là có thể bắt được nhiều đàn ông một lúc, nhưng chi phí rất tốn kém. Đó là chưa kể một vài đàn ông uống mãi không say, hoặc một số đàn ông cực tốt chả khi nào chịu uống, đàn bà chả khi nào tóm được.
Phương pháp thứ ba là dùng nghệ thuật. Đàn bà bỏ công sức ra tập hát, tập múa biểu diễn khiến đàn ông nô nức kéo đến xem. Đang xem thì đàn bà khóa cổng lại, dùng xe tải tới vây bắt. Cách này tuyệt vời là bắt được cả đàn. Nhưng đàn bà quá lạm dụng nó. Họ tập múa qua loa hoặc tập hát sơ sài, đàn ông không tới mà toàn đàn bà và trẻ con tới coi, nên năng suất và sản lượng đánh bắt đều giảm.
Cuối cùng, trước nguy cơ không tóm được những đàn ông cần thiết, chính quyền (lúc ấy toàn do đàn bà nắm giữ) ban bố một điều luật kinh khủng: hễ đàn bà gặp đàn ông ở đâu, là có thể túm lấy bất kỳ một chỗ nào trên cơ thể để lôi về.
Luật ban ra, đàn bà reo hò và xông tới các vỉa hè, các trụ sở công ty. Gặp anh có tay dài họ nắm tay, gặp ông có chân dài họ lôi chân, gặp chàng có tai to họ kéo tai, gặp chàng có tóc họ sợ gì mà không kéo tóc. Vì thế mới có câu “Nắm chàng có tóc chứ không nắm chàng trọc đầu”.
Phương pháp này rất hiệu quả, tuy nhiên số đàn ông bị thương vong quá nhiều. Kẻ thì sứt tai, kẻ thì rách mũi, kẻ thì bị vặn tréo cả tay. Thậm chí, đã có trường hợp một anh đẹp trai bị hai cô gái cùng lôi mạnh đến nỗi rách đôi người.
Một vài đàn ông khôn ngoan, thà chết chứ không lấy vợ, thà bị thương chứ không chịu làm nô lệ, bèn đeo vào người nhiều phụ kiện như găng tay, mũ, áo khoác... Khi bị đàn bà lôi, các thứ này rời ra và họ trốn thoát.
Tỷ lệ đàn ông trốn thoát ngày càng nhiều khiến chính quyền (xin nhắc lại là lúc ấy toàn do đàn bà cai quản) ra một chỉ thị: Tất cả đàn ông đều phải đeo một dây chuyền vào cổ.
Đây là một quyết định rất độc đáo, rất sáng tạo, dựa trên nhiều nghiên cứu khoa học và trên kết quả của hàng trăm cuộc hội thảo, nó khiến đàn ông không cách gì trốn khỏi số phận được.
Ở bất cứ đâu, ở bất kỳ lúc nào, phụ nữ thấy đàn ông vừa mắt là chỉ việc tiến tới, nắm sợi dây chuyền mà lôi. Có nhà nghiên cứu nói rằng phương pháp này xuất phát từ dây cương ngựa nhưng đàn ông hoàn toàn bác bỏ điều này.
Thời gian qua đi. Phụ nữ ngày càng trở nên xinh đẹp và quý hiếm, còn đàn ông ngày càng thừa thải.
Đàn ông lúc này chỉ mong được đàn bà tóm nhưng cơ hội trở nên ít ỏi. Có nhiều anh cả đời lang thang ngoài vỉa hè, vươn cổ ra mong được cô nào túm lấy nhưng vẫn mãi mãi cô đơn.
Một số anh chợt nảy ra sáng kiến. Thay vì đeo dây cổ là dây thừng, họ bèn đeo dây chuyền vàng. Thậm chí vàng có khảm kim cương. Một vài cô chả ham anh ta, nhưng lại ham sợi dây, thế là mắc mưu, tóm lấy lôi đi.
Nhưng cũng có vài cô kinh dị, lôi ra chỗ vắng hoặc chỗ tối, tháo cướp lấy dây chuyền rồi vứt đàn ông đấy, bỏ chạy. Cũng may số ấy không nhiều.
Nếu các bạn để ý, các bạn sẽ thấy đàn ông càng xấu trai thì càng đeo dây chuyền lớn. Họ cần phải có mồi to!
Siu tầm trên Net
cuoigia wrote:Cách trị kính xe bị mờ do mưa và sương mù ....
Cách dùng : bôi lên kiếng như sau:
*-Chùi kiếng xe cho sạch, để khô
*-Nhỏ vài giọt RAIN-X lên kiếng và lấy khăn giấy thoa vòng tròn, thật mỏng.
Thế là khi đi mưa, khỏi dùng quạt nước, mưa viên lại thành từng hạt tròn, lăn ngược lên trên trần xe. Kiếng trong veo, thấy đường dễ dàng.
Khi mù bám vào kiếng xe buổi sáng, chỉ cần quay gạt nước 1 cái thôi, là trong veo, và mù không bám thêm trong khi xe di chuyển.
Cứ một năm bôi chừng 3 lần chứ không cần bôi nhiều.
Hơn 20 năm nay, tôi đã dùng, và thấy hiệu quả lắm.
Chúc các anh chị may mắn.
Kiếng mờ bên trong chứ đâu có mờ bên ngoài !!!

