Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Sáng kiến độc đáo phanh phui tham nhũng ở Việt Nam VIỆT NAM (NV) - Thay vì phanh phui hay chỉ ra gương mặt các quan tham, một trang web đã có sáng kiến độc đáo là cho đăng hình những căn nhà hay biệt thự của các quan chức Cộng Sản, từ trung ương đến địa phương ở khắp các tỉnh thành của Việt Nam .
Image
Biệt thự của Nguyễn Bá Thanh, bí thư thành ủy Ðà Nẵng. Ðịa chỉ: Số 189, Cách Mạng Tháng 8, quận Cẩm Lệ, thành phố Ðà Nẵng. (Hình: http://clbnokia. wordpress. com)
Trang web mang tên ‘Câu Lạc Bộ Nó Kìa’ (http://clbnokia. wordpress. com) với nhiều ngụ ý, như lời giải thích, “Nó là những ngôi biệt thự vĩ đại của các nhân vật lãnh đạo như Lê Khả Phiêu (cựu tổng bí thư), Ðinh Văn Cương (bí thư tỉnh ủy Hà Nam), Bùi Văn Hải (phó chủ tịch UBND xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội). Nó là những ngôi nhà hoành tráng, những cơ sở làm ăn to lớn của các quan chức nhà nước đầy đặc quyền, đặc lợi.”
Image
Căn biệt thự của Nguyễn Ðức Hải, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam . Ðịa chỉ: 26 Hồ Xuân Hương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam . (Hình: http://clbnokia. wordpress. com)
“Nó là hiện thân, là kết quả của những vụ tham nhũng, cướp đoạt tài sản của người dân hay ăn cắp tiền viện trợ của nước ngoài.” - Trang web nói thêm.
Image
Căn biệt thự khu Bãi Cháy, bãi Cái Răm, tỉnh Quảng Ninh của Nguyễn Duy Hưng, bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh. (Hình: http://clbnokia. wordpress. com)


Trang web giúp người ta có cái nhìn chính xác hơn về bộ mặt thật của các lãnh đạo ở Việt Nam, về cuộc sống giàu sang của cán bộ, đảng viên nhà nước Việt Nam, không như lời họ tuyên truyền là ‘đầy tớ của nhân dân’.

Trang web đã cho đăng hình ảnh của hàng chục ngôi nhà hay biệt thự của các quan chức ở 17 tỉnh thành phố của Việt Nam như Sài Gòn, Hà Nội, Thanh Hóa, Ðà Nẵng, Ðồng Tháp, Bắc Ninh, Thái Bình...

Image
Căn biệt thự của bà Ngô Thị Thanh Hằng, phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Ðịa chỉ: số 9, ngõ 15 A, Trung Yên, Hà Nội. (Hình: http://clbnokia. wordpress. com)
Ngoài căn nhà của Lê Khả Phiêu mà nhiều người biết, trang web còn cho đăng hình căn biệt thự sang trọng của Nguyễn Bá Thanh, bí thư thành ủy Ðà Nẵng, Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch thành phố Hà Nội, Ngô Thị Thanh Hằng, phó chủ tịch Hà Nội, Ngô Công Ngọ, bí thư tỉnh ủy Bắc Ninh, Nguyễn Ðức Hải, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam...
Image
Biệt thự của Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch thành phố Hà Nội. Ðịa chỉ: Khu đô thị mới hay còn gọi khu đô thị Am Huy, tỉnh Bắc Ninh. (Hình: http://clbnokia. wordpress. com)

Những người chủ trương trang mạng này nói rằng, “Nó Kìa là trang mạng của toàn dân Việt Nam tố cáo tham nhũng”.

Trang web kêu gọi, “Bạn hãy tìm hiểu ở địa phương của mình xem căn nhà, cơ sở làm ăn của quan chức đảng và nhà nước các cấp như Ủy Ban Nhân Dân, Tòa Án Nhân Dân, Sở Công An, bí thư tỉnh ủy... xem nó ra làm sao, rồi chụp một tấm ảnh, đưa lên mạng ‘Nó Kìa’ để toàn dân cùng nhìn thấy những tang chứng không thể chối cãi của những tội phạm tham nhũng, thẳng tay bòn rút của công, vơ vét của dân một cách vô lương tâm.” (K.N.)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Phải đưa những tội phạm của quốc gia ở VN ra trước tòa án quốc tế
Mạnh được yếu thua là hiện tượng của qúa khứ. Ngày nay, thế giới đang sống trong kỹ nguyên luật pháp. Luật pháp của quốc gia bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế. Nếu luật pháp không được áp dụng ở những quốc gia từ chối không nhìn nhận tiêu chuẩn văn minh của thế giới, vẫn còn có luật pháp quốc tế; hãy đem tất cả những tội phạm ở các quốc gia mà luật pháp không thi hành đươc ra trước tòa án quốc tế; Cụ thể là hành động khủng bố thông tin của ngành công an VN có liên đến ông Nguyễn Hải Triều….

Quyền tự do phát biểu

Tự Do Phát Biều là một trong những quyền căn bản và thiêng liêng của con người. Quyền Tự Do Phát Biểu của mọi công dân được ghi rõ trong điều 19 của Tuyêrn Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:

“Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.”

Mọi quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc đều cam kết tuân thủ , tôn trọng Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các công ước quốc tế, và các nghị quyết của Liên hiệp Quốc. Để được thu nhận làm quốc gia hội viên của Liên Hiệp Quốc, chính phủ CS Việt Nam đã ký công nhận mọi đều khoản của Liên Hiệp Quốc trong đó có bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền – quyền của con người – nhưng từ ngày được thu nhận làm quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc cho đến nay, nhà nước CS Việt Nam ngày càng bất chấp công lý, những điều mà họ đã cam kết!

Khủng bố thông tin

Sự kiện đã và còn đang gây xôn xao dư luận VN, trong, ngoài nước qua những bài viết tố cáo của các tác giả trong nước, và bài chất vấn của luật sư Cù Huy Hà Vủ; Sự kiện này đã được báo chí VN hải ngoại và trên hệ thống Internet phổ biến khắp nơi – về việc ngành công an VN, ông Nguyễn Hải Triều, trung tướng, trước một phiên đại hội rất đông người, đã tuyên bố rằng chính đương sự đã ra lệnh đánh sập (phá hỏng) hơn 300 tờ báo điện tử và blogs của công dân VN trong nước! Đây là hành động phá hoại thông tin có tính khủng bố, lại là khủng bố có kế hoạch trên quy mô lớn! Đây là bằng chứng hiển hiện và là cao điểm cho thấy nhà nước CS Việt Nam đã ngang nhiên vi phạm trắng trợn những cam kết mà họ đã ký với cơ quan LHQ!

Những tội ác chống lại văn minh, chống xã hội con người

Thảm sát, giết người hàng loạt, diệt chủng là những hành động tội phạm nghiêm trọng chống lại văn minh con người, chống xã hội. Tòa án Nuremberg sau đệ nhị thế chiến đã xét xử những quan chức cao cấp của Đức Quốc Xã có liên quan đến những vụ thảm sát mà Đức Quốc Xã đã thực hiện trước và trong thời chiến tranh.

Tháng 5, 2007, tòa án xét xử tội phạm quốc tế The Hague ở Netherlands đã xét xử vụ Slobodan Miloshevich và trên dưới 270 đồng lỏa, những người đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ lẫn quân đội và lực lượng công an, cảnh sát của Yugoslavia… đã phạm tội giết người hàng loạt ở Kosovo, Bosnia trong thời kỳ chiến tranh trước đó.

Tòa án quốc tế ở Argentina đã ban hành lệnh bắt giam Giang Trạch Dân, cựu lãnh tụ đảng CS Trung Hoa về tội danh đã ra lệnh sát hại những người Trung Hoa thuộc môn phái Pháp Luân Công và lấy các cơ quan nội tạng của nạn nhân để bán. Phán quyết của tòa ra lệnh một khi đương sự xuất hiện bất cứ nơi nào trên lãnh thổ của các quốc gia hội viên của Tổ chức An ninh thế giới – Interpol – đương sự sẽ phải bị bắt.

Tòa án quốc tế tại Phnom Penh, Cambodge, đang tiếp tục xét xử vụ án diệt chủng đã sát hại tổng cộng khoảng 1 triệu 700 ngàn người Cambodian của những kẻ cầm đầu Khmer Đỏ.

Trường hợp của VN xhcn

Tự do phát biểu ý kiến, tự do thông tin ảnh hưởng đến cả một dân tộc, bao gồm rất nhiều cộng đồng chủng tộc khác nhau của dân tộc ấy; Tự do phát biểu ý kiến, tự do thông tin là nhu cầu tối cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày, sự phát triển, và sự sống còn của một quốc gia, mọi quốc gia. Vì vậy, khủng bố, phá hoại thông tin – Hacking – bị luật pháp quốc tế xem là hành động khủng bố chống lại văn minh, chống xã hôi con người, một tội nghiêm trọng.

Trong trường hợp VN, sự kiện phá hoại thông tin trên đây của ngành công an VN, ông Nguyễn Hải Triều, càng đặc biệt nghiêm trọng vì VN đang trong tình trạng lãnh thổ quốc gia bị xâm chiếm, an ninh quốc gia của VN đang lâm nguy trước những hành động, kế hoạch đầy nguy hiểm của Trung cộng nhằm thôn tính VN!

Tình hình an ninh quốc gia nghiêm trọng đến như thế, đồng bào VN trên khắp nước, đảng viên CS…càng cần phải biết mọi thông tin, những thông tin trung thực, có liên quan đến tình hình an ninh quốc gia. Đảng CS, thay vì phải thông báo đầy đủ mọi thông tin cần thiết cho đồng bào cả nước…những cá nhân cầm đầu đảng này đã chủ tâm dấu diếm mọi điều để dễ dàng thông đồng với kẻ xâm lăng: Trung cộng! Những kẻ chủ tâm bán nước trong đảng CS, muốn dựa vào Trung cộng (!) để giữ vững chức vụ, tiếp tục làm giàu bất chính trên thảm họa mất nước của gần 90 triệu đồng bào VN, trong đó bao gồm mọi đảng viên CS!

Đất nước VN là của chung của mọi đồng bào VN, sự sống còn của quốc gia VN có liên quan đến sự sống hiện tại, và vận mệnh của mọi cá nhân, mọi gia đình VN, trong nước và ngoài nước. Đối với đồng bào ngoài nước, dù họ có sinh sống, làm ăn ở nước ngoài, nhưng gia đình, thân nhân, dòng tộc, thân hữu của họ vẫn còn ở trong nước. Hành động bưng bít thông tin của đảng CS dễ dàng dẫn đến thảm họa mất nước mà mọi dân tộc trên thế giới đều ám ảnh, lo sợ!

Trường hợp của VN, bưng bít thông tin, phá hoại thông tin là hành động khủng bố đối với luật pháp quốc tế. Đối với quốc gia và dân tộc VN, đây là hành động mang tính phản quốc – hổ trợ cho giặc – tác hại nặng nề, và trực tiếp đến an ninh quốc gia! Đây là hành động phản quốc, tuyệt đối không thể chấp nhận được của đảng CS, nhất là trong giờ phút hiểm nghèo hiện nay của đất nước!

Phải đưa ra trước tòa án quốc tế

1- Do tác hại quá nghiêm trọng của sự kiện, hành động khủng bố nhằm bưng bít thông tin trên đây của ông Nguyễn Hải Triều, hoặc của bất kỳ cá nhân nào, và những ai có liên quan đến sự kiện khủng bố thông tin vừa qua ở VN, đều cần phải được đưa ra xét xử ở tòa án quốc tế.

2- Bao lâu mà đảng CS còn khủng bố, tù đày người VN yêu nước, bao lâu mà đảng này còn đàn áp đồng bào, dân tộc VN của mình…mọi hành động vi phạm luật pháp, công pháp quốc tế của đảng CS cần phải được đưa ra trước tòa án quốc tế. Kỹ nguyên vô luật pháp của thế giới đã qua rồi.

3- Dù phạm tội trong vô thức hay có ý thức, cá nhân những tội phạm phải trả giá cho những hành động phạm pháp để những kẻ này biết được văn minh, công lý! Phải đặt họ vào khuôn khổ của luật pháp.

- Đảng CS đã đàn áp sinh viên biểu tình chống lại hành động xâm lăng biển, đảo thuộc chủ quyền VN của Trung cộng! Đảng CS đã khủng bố, tù đày những người bất đồng chính kiến, những người có tinh thần ái quốc cao độ như Linh mục Nguyễn Văn Lý, cô Lê Thị Công Nhân, l/s, các anh Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung, hay như cô Phạm Thanh Nghiên người đã lên tiếng chống lại hành động xâm lăng VN của Trung cộng. Vừa mới đây, đảng CS lại có hành động thô bạo đối với cô Lê Thị Công Nhân, dùng phương tiện truyền thông của nhà nước CS để bôi lọ, nhằm hạ uy tín cá nhân đối với anh Lê Trần Luật, l/s, người đã từng bào chữa cho vụ kiện đất đai của tòa Khâm sứ Hà Nội, chuẩn bị cho hành động trấn áp
nặng nề hơn trong những ngày sắp đến.

- Hiện nay, đảng CS vẫn tiếp tục thực hiện những hành động thô bạo nhằm đàn áp tôn giáo, đàn áp đồng bào hiền lương của các tôn giáo, không kể sắc tộc! Nói chung, họ đối xử với đồng bào VN trong nước như cách người ta đối xử với súc vật bằng cách tấn công, đánh đập, bắn giết! Trong khi đó, tiền lương hàng tháng họ nhận được là từ tiền thuế của nhân dân với 3 nhiệm vụ chính được trao phó mà họ phải làm cho bằng được: 1/ Bão vệ đất nước 2/ Bão vệ đồng bào 3/ Phát triển con người, đất nước VN…

Cả 3 nhiệm vụ này, đảng CS đã không làm tốt được nhiệm vụ nào!

- Nhiệm vụ chính phải làm, họ đã không làm được! Trung cộng xâm lăng, đảng CS chống giặc chỉ bằng sự phản kháng vu vơ, yếu ớt bằng lời nói! Trong lúc đó, họ quay lại đàn áp sinh viên, đồng bào, đàn áp người yêu nước, kể cả những cựu chiến binh đã từng hy sinh xương máu cho chế độ CS hiện nay, hay những người đã từng trực diện với quân xâm lăng trên biên giới Việt – Hoa để bão vệ quốc gia, đồng bào như anh Trần Anh Kim!

- Rõ ràng, vì quyền lợi cá nhân có liên quan đến Trung cộng, những kẻ cầm đầu đảng CS một mặt chống giặc bằng mồm, mặt khác, chính những kẻ này quay lại đàn áp đồng bào, khủng bố người yêu nước VN trên thực tế (!) nhằm hổ trợ cho Trung cộng! Nói cách khác, vì quyền lợi cá nhân, những kẻ cầm đầu đảng CS đang đàn áp đồng bào, người yêu nước VN thay cho Trung cộng! Vì đàn áp sự chống đối của nhân dân VN đối với những hành động xâm lăng của Trung cộng phải là công việc của chính Trung cộng, kẻ xâm lăng!

- Phải chấm dứt thái độ, hành động cực kỳ phản động lại đất nước, dân tộc VN, và đồng bào VN của đảng CS! Bao lâu mà đảng này còn khủng bố, tù đày người VN yêu nước, bao lâu mà đảng này còn phá hoại, đàn áp tôn giáo, đàn áp, đánh đập, bắn giết đồng bào, dân tộc VN của mình…mọi hành động vi phạm luật pháp, công pháp quốc tế của đảng CS phải bị đưa ra trước tòa án quốc tế bao gồm cá nhân kẻ đã ra lệnh và những người thừa hành có liên quan…

- Đồng bào VN trong nước, những nhà tranh đấu trong nước, các bạn đảng viên trong nước đã thức tỉnh vào chủ nghĩa CS tệ hại của Stalin, Lenin, Các Mác… hãy hợp tác chặt chẽ với đồng bào VN ở ngoài nước, trong nước – hãy liên lạc với những tổ chức bão vệ nhân quyền, những hội đoàn, tổ chức của người Việt Quốc Gia ở Pháp, Mỹ, Canada, Australia, Germany…để đưa tất cả những hành vi chống xã hội , chống lại văn minh con người của đảng CS ra trước tòa án quốc tế…cho đến khi nào những kẻ này ý thức được luật pháp quốc tế và bổn phận công dân của họ đối với quốc gia VN và dân tộc VN.

( Nguồn báo Tổ Quốc )

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Giới lao động đang thay đổi nước Trung Hoa

Ngô Nhân Dụng
Trong tuần trước, trên các mạng lưới Internet ở lục địa đều loan tin về những vụ tự tử liên tiếp tại công ty Foxconn, thành phố Thẩm Quyến. Tiếp theo, sau khi các báo bên Nhật phát giác và thông tin, báo chí Trung Quốc cũng tường thuật đầy đủ các cuộc đình công trong cơ xưởng của hãng Honda ở Phật Sơn, rồi các nhà máy Honda ở Quảng Châu và Vũ Hán đóng cửa. Thẩm Quyến, Quảng Châu và Phật Sơn đều nằm trong tỉnh Quảng Ðông, một tỉnh phát triển kinh tế nhanh nhất nước Tàu và nhận được nhiều tiền đầu tư của ngoại quốc nhất. Cuộc đình công kéo dài làm tê liệt bốn nhà máy của hãng Honda tại Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên. Tại sao công nhân Trung Hoa trong lục địa dám đòi hỏi tăng lương một cách mạnh bạo như vậy? Tại sao trong những ngày đầu báo chí Trung Quốc dám loan báo tin tức một cách ồn ào như thế?

Tại nhà máy Honda ở Phật Sơn chuyên sản xuất bộ phận đổi tốc độ (transmission), gần 2,000 công nhân đình công đòi tăng lương thêm 50%. Ðầu tuần này, hãng Honda đã đề nghị tăng 24% nhưng công nhân chưa chấp nhận. Vì thiếu bộ phận, các nhà máy khác của Honda trên toàn quốc đã phải ngưng hoạt động. Giới công nhân khám phá ra sức mạnh của họ, khi họ theo dõi tin tức trên mạng lưới Internet thấy người lao động ở các nơi khác đã tranh đấu và thành công. Phần lớn các công nhân Honda ở đây đều thuộc lớp tuổi 20, mới tốt nghiệp trường trung học hay trường dậy nghề. Từ tuần trước, các nhà báo Trung Quốc tụ tập trước cửa xưởng máy ở Phật Sơn suốt ngày đêm, nhưng hiện giờ họ đã được lệnh không được loan tin nữa.

Nhà báo trong lục địa Trung Hoa cũng giống như ở Việt Nam, càng bị chính quyền Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ thì càng uất ức, được cơ hội là họ tìm cách phá rào. Xưa nay giới truyền thông vẫn bị cấm không được loan tin về các cuộc đình công, chỉ có các nhà báo tự do trên mạng làm việc đó. Bây giờ, khi các vụ đình công mới xảy ra, họ bèn loan báo tin tức đầy đủ để khỏi hổ thẹn với các đồng nghiệp trên mạng; cho tới khi lệnh cấm được ban ra. Một lý do khiến chính quyền Trung Quốc thả lỏng lúc đầu cho loại tin “bén nhậy” này được loan báo đầy đủ, là vì đây là một công ty Nhật Bản; mà người Trung Hoa thường vẫn ghét người Nhật. Nhưng còn một lý do nữa là đảng Cộng Sản Trung Quốc phải chấp nhận một sự thật là họ không thể giúp các nhà tư bản ngoại quốc bóc lột giới lao động trong nước họ mãi được. Chính đảng Cộng Sản sẽ phải bắt đầu lo thỏa mãn những nguyện vọng của giới công nhân, không phải vì lòng nhân đạo mà vì những lý do khách quan bắt buộc, không tránh được.

Một yếu tố khách quan là lực lượng lao động ở Trung Quốc đang bắt đầu thiếu, số thanh niên bước vào tuổi làm việc thấp hơn, sẽ tạo động lực cho giới lao động tranh đấu cho quyền lợi của họ mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. Nếu các công nhân thành công, họ sẽ giúp cho nền kinh tế Trung Hoa được quân bình, xã hội sẽ hòa hài hơn, nhưng họ vẫn bị có nhóm lãnh đạo trong đảng Cộng Sản chống lại vì họ không thể tiếp tục chính sách kinh tế của đảng được nữa. Kinh tế Trung Hoa phát triển nhanh trong 30 năm qua dựa trên chính sách xuất cảng thật nhiều để thu ngoại tệ. Muốn bán hàng dễ dàng ra ngoại quốc, các xí nghiệp trả lương công nhân rất thấp. Từ 30 năm nay hàng trăm triệu thanh niên từ nông thôn tìm ra thành phố làm việc, sẵn sàng nhận bất cứ số lương nào. Lương thấp khuyến khích tư bản ngoại quốc đem tiền đầu tư, giúp cho guồng máy xuất cảng chạy mạnh hơn. Ít nước nào trên thế giới mà lương trả cho người lao động lại chiếm phần thấp như ở Việt Nam và Trung Quốc. Trong khi Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Trung Hoa tăng thêm 12% trong ba tháng đầu năm nay, lương bổng của công nhân tăng chưa được 10%. Giới lao động không có quyền tự do lập hội để đòi hỏi tăng lương, vì việc lập công đoàn là một độc quyền đảng Cộng Sản. Cũng như ở Việt Nam, công đoàn Cộng Sản đóng vai điều khiển công nhân nhưng chỉ hợp tác với giới chủ nhân ngoại quốc.

Tình trạng lương bổng thấp đã được đưa lên mặt báo ở Trung Quốc một cách rầm rộ sau khi bản tin về những vụ tự tử của công nhân ở một nhà máy của hãng Foxconn ở Thẩm Quyến làm chấn động cả Trung Quốc lẫn Ðài Loan. Công ty này chuyên sản xuất các bộ phận điện tử, tên là Hồng Hải Tinh Mật Công ty, do vốn của Ðài Loan, nhà máy ở Thẩm Quyến sử dụng 300,000 công nhân. Trên toàn quốc, Hồng Hải có 20 nhà máy, với 800,000 công nhân khắp các tỉnh, cung cấp bộ phận cho các công ty quốc tế từ Apple đến Sony, Nokia, HP và Dell. Có thể nói, Hồng Hải là một cột trụ của hầu hết kỹ nghệ điện tử thế giới, giúp các công ty ngoại quốc làm giàu và người tiêu thụ ở Mỹ và Âu Châu được mua những iPad, điện thoại di động, playstation, vân vân, rẻ tiền hơn. Nhưng cả các nhà tư bản và giới tiêu thụ nước ngoài đã được hưởng lợi trên mồ hôi nước mắt của người lao động Trung Quốc, với sự đồng tình của đảng Cộng Sản nước này. Từ đầu năm 2010 tới cuối Tháng Năm có 12 công nhân trẻ tự tử, 10 người chết khi nhảy từ lầu cao khu cư trú xuống đất. Công ty đã phải làm một hàng rào chung quanh ngôi nhà cư xá công nhân để ngăn không cho người tự tử rớt xuống đất, nhưng làn sóng tự tử vẫn tiếp tục.

Công ty Hồng Hải được điều khiển theo lối quân sự theo lối của đảng Cộng Sản Trung Hoa cai trị nước Tàu: Tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh cấp trên. Các công nhân được nuôi trong những “doanh trại” với khu nhà ngủ chen chúc, ăn cơm do công ty nấu (với một nhà bếp lớn nhất Á Châu), mỗi đợt ăn theo giờ nhất định, công nhân bị hạn chế số lần đi tiểu trong mỗi ca làm việc, nhà ngủ bị đóng cửa suốt ngày. Tuần trước, tổng giám đốc công ty, một nhà tỷ phú tự lập 60 tuổi từ Ðài Loan bay sang thăm nhà máy Thẩm Quyến để trấn an các nhà đầu tư và các công ty khách hàng. Ông ta gặp gỡ, ủy lạo và hứa hẹn với các công nhân, dẫn các nhà báo đi thăm nhà máy để chứng tỏ công ty đối xử nhân đạo; nhưng ông ta vừa đi khỏi thì một công nhân trẻ đã nhảy lầu tự tủ, mặc dầu nhiều người bạn đã đoán trước và tìm cách canh giữ anh ta ngày đêm từ mấy hôm trước.

Một sự thật khách quan là giới công nhân trẻ ở Trung Hoa đã thay đổi sau 30 năm đổi mới kinh tế. Những thanh niên từ nhà quê ra tỉnh làm việc chưa hề nhúng tay vào việc đồng áng; họ cũng không phải trải qua, không phải chứng kiến cảnh sống cơ cực của cha anh họ trong thời đảng Cộng Sản còn theo chủ nghĩa xã hội kiểu Mao Trạch Ðông. Cho nên họ mang những ước vọng cao hơn và dễ thất vọng khi sống cuộc đời quá cơ cực, mà không nhìn thấy tương lai sáng sủa nào.

Hiện tượng công nhân tự tử khiến chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh lo ngại. Ông Dương Lập Hùng, một giáo sư chuyên khảo cứu về mạng lưới an sinh xã hội trong Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh nhận xét rằng các vụ tự tử này chỉ là phần nổi bật của những vấn đề xã hội căn bản trong nước Trung Hoa. “Nước ta đang làm một cuộc chạy đua (với các nước khác) đi xuống chỗ ngày càng thấp hơn; vì lợi thế duy nhất của chúng ta là giá lao động rẻ; do đó tất cả công cuộc phát triển kinh tế đặt trên nền tảng những xưởng mồ hôi (sweatshops).” Muốn thay đổi tình trạng đó, Giáo Sư Dương Lập Hùng nói, đảng Cộng Sản phải thay đổi chính sách kinh tế, phải dựa trên nguyện vọng của tầng lớp dưới cùng của xã hội, là giới lao động, thay vì chỉ dựa trên ý muốn của tầng lớp lãnh đạo trên cùng.

Ðó cũng là điều mà các công nhân ở hãng Honda đang đòi hỏi. Trong bốn tháng đầu năm nay, số tiền thu của Honda bán xe trong thị trường Trung Hoa tăng thêm 40%, công ty dự trù sẽ mở thêm xưởng ráp xe tăng sản lượng 30% trong 2 năm tới. Trong khi công ty đang lên như vậy, các công nhân cũng nhận thấy sức mạnh tập thể của họ cũng tăng lên vì số cung cấp lao động rẻ tiền ở Trung Quốc đang xuống.

Số nhân lực làm việc ở Trung Quốc, trong lớp tuổi từ 15 đến 64 đã lên đến đỉnh cao nhất, chiếm 71% dân số; và đang bắt đầu khuynh hướng giảm dần. Vì chính sách hạn chế một con của đảng Cộng Sản nên gần đây số người bước vào tuổi lao động thấp hơn những năm trước, khi bắt bắt đầu cải tổ. Hiện nay toàn quốc có 378 triệu người dân trong lớp tuổi từ 40, 50 trở lên; nhưng lớp người từ 20 trở xuống chỉ có 273 triệu. Trong giới lao động, có 122 triệu công nhân từ 20 đến 24 tuổi, nhưng chỉ có 106 triệu công nhân từ 15 đến 19. Ngoài vấn đề số sinh giảm trong mấy chục năm gần đây, còn hai nguyên nhân nữa khiến số lượng công nhân rẻ tiền ở Trung Quốc phải xuống. Thứ nhất là nhiều thanh niên sẽ đi làm trễ hơn để đi học; thứ hai là số phụ nữ đi làm đã tăng đến tột đỉnh, với tỷ lệ 70%, tỷ lệ đó chỉ có thể xuống thấp hơn chứ không tăng.

Những điều kiện khách quan này sẽ là một áp lực bắt đảng Cộng Sản Trung Hoa phải thay đổi chính sách kinh tế, đồng thời sẽ là cơ hội cho giới công nhân đứng lên tranh đấu đòi các quyền tự do mới. Ðiều này đã được tiết lộ khi báo Hoàn Cầu Thời Báo (bản tiếng Anh tên là Global Times) là một tờ báo thuộc nhật báo Nhân Dân, trong tuần qua đã phải viết một bài xã luận công nhận là “Trong 30 năm đổi mới vừa qua, giới lao động nhận được phần nhỏ nhất trong công cuộc phát triển kinh tế. Các vụ ngưng sản xuất tại bốn nhà máy Honda cho thấy nhu cầu cấp bách phải tổ chức bảo vệ giới công nhân.”

Một nhà tranh đấu cho quyền lợi công nhân ở Trung Hoa là ông Hàn Ðông Phương (Han Dongfang), đang sống tại Hồng Kông cũng nhân dịp này lên tiếng kêu gọi giới lao động phải giành lấy quyền thương thuyết tập thể để tự bảo vệ quyền lợi, thay vì để cho công đoàn của đảng Cộng Sản độc quyền đại diện cho họ. Ông Hàn Ðông Phương vốn là một thợ điện tranh đấu tự do nghiệp đoàn, ông đã bị tù sau khi tham dự các cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989; sau khi ra tù phải lánh nạn ở Hương Cảng nhưng vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh cho người lao động trong lục địa.

Giới lao động ở lục địa Trung Hoa mới chỉ hạn chế các cuộc đấu tranh trong phạm vi kinh tế, không có những vận động chính trị như các công nhân Ba Lan năm 1980. Nhưng các quyền lợi kinh tế sẽ thúc đẩy người ta mạnh hơn, khi nhìn thấy những cuộc đấu tranh của công nhân ở Honda và Hồng Hải thành công. Hồng Hải nhưng đã phải tăng lương trung bình 20%, Honda xin tăng 24% nhưng chưa được chấp nhận. Các điều kiện khách quan về dân số đang gia tăng sức mạnh cho người lao động, sẽ buộc đảng Cộng Sản Trung Hoa phải nhượng bộ. Họ sẽ phải tiến tới việc công nhận quyền lập công đoàn của người lao động. Khi đảng Cộng Sản chịu mất một thứ độc quyền trong hệ thống cai quản hơn một tỷ người, xã hội Trung Quốc sẽ thay đổi.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Hiện tình Giáo Hội Công Giáo Việt Nam: Một thoáng nhìn

LM Anrê Ðỗ Xuân Quế

Từ bên ngoài

Nhìn từ bên ngoài, Giáo hội Việt Nam là một giáo hội phồn thịnh, sầm uất, từ Bắc chí Nam, với nhiều nhà thờ được xây mới hay được nâng cấp sửa chữa, nhiều trung tâm hành hương mục vụ được xây cất rầm rộ ở nhiều nơi, giáo dân đi lễ đông chật nhà thờ, các thứ Năm thánh được khai mở ở nhiều nơi, các thứ lễ lạt tưng bừng náo nhiệt, các lễ truyền chức đông đảo tiến chức và người tham dự, (như ngày 25/5 vừa qua ở nhà chung Phú Cường [Bình Dương] có 26 tân chức, buổi lễ kéo dài ba tiếng đồng hồ).

Căn cứ vào, đó ai dám báo Giáo Hội Việt Nam đang có vấn đề. Giáo hội đang “ngon lành” như thế, tại sao lại gây ra “sự cố” Tòa Khâm sứ, Nhà thờ Thái Hà v.v... Tại sao không ở yên để người ta khỏi làm khó dễ. Phải chăng vì vậy mới có câu “đồng cảm” chứ không “đồng thuận”. Có lẽ vì vậy mới xảy ra vụ “thay bậc đổi ngôi” ở Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, khiến một vị tổng Giám mục đang được giáo dân yêu mến kính nể phải đột ngột ra đi không hẹn ngày về. Chính biến cố đó đã và đang gây ra sóng gió và tình trạng “rắm rối” cho Giáo Hội Việt Nam.

Ðứng trước tình trạng này, người thì chê trách thở than, người thì buồn phiền bực bội. Người chê trách thì nói rằng tại sao lại đổ thêm dầu vào lửa bằng những bài báo tỏ rõ sự thật hay bạch hóa một nửa sự thật chưa được nói tới, tại sao “vạch áo cho người xem lưng”, tại sao gây chia rẽ bằng cách viết lách không theo “lề phải” v.v...

Thiết tưởng phải thành thật nói rằng không cần những bài báo như đã nêu trên, những người hiểu biết, bên trong cũng như bên ngoài Công Giáo, cũng thấy là giáo hội đang phân hóa. Cứ nhìn vào các biểu ngữ trong ngày lễ Ðức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn được bổ nhiệm làm tổng giám mục phó Tổng Giáo Phận Hà Nội cũng đủ biết, khỏi cần phải nói năng hay viết lách gì.

Vậy thử hỏi từ đâu có sự phân hóa ?

Rồi tiếp đến là sự ra đi âm thầm tủi nhục như một kẻ phạm pháp của Ðức Nguyên Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Nhiều người vì bức xúc đến tột độ, nên đã không cầm nổi mình mà phát ra những lời lẽ quá ư bực bội đến như lỗ mãng.

Sự phân hóa là có thật và không thể che giấu được. Vậy phải tôn trọng sự thật. Nhờ tôn trọng và giãi bày sự thật, may ra mới có thể giải gỡ cho Giáo Hội Việt Nam khỏi tình trạng rối rắm này. Mà thật là khi có sự phù hợp giữa sự việc xẩy ra với việc làm và lời nói. Phải nói sự thật thì lời nói mới đáng tin. Có thể sự thật làm cho nhức nhối và gây ra khó chịu. Nhưng một khi chấp nhận sự thật thì sự thật có sức giải thoát. Ai không nói sự thật và làm chứng cho sự thật thì lời nói của người ấy không có giá trị. Mà đã không có giá trị thì cũng không có sức thuyết phục và giải tỏa được dư luận.


Nhìn từ bên trong


Nhìn từ bên trong thì dù muốn dù không phải công nhận là có sự nứt rạn. Nhiều người không muốn nhận sự thật này, và tỏ vẻ bực mình với những ai muốn phơi bày vết nứt rạn đó ra, không phải để làm cớ gây chia rẽ cho người ngoài lợi dụng, mà chính là để tìm cách hàn gắn bằng cách đưa vết thương đó ra rửa sạch rồi bôi thuốc chữa trị. Không ai muốn cho giáo hội lâm vào tình trạng này, nhưng đã lỡ thì mọi người phải chung vai gánh vác. Người Công Giáo chúng ta không muốn cho người ngoài “xem lưng”. Nhưng người ta đã xem thấy rồi thì làm sao giấu giếm và che đậy nổi.

Chắc có người sẽ nói vết thương ở đâu mà bảo đem ra chữa trị. Thưa vết thương ở chỗ các tín hữu Bắc Nam, các vi giám mục trong HÐGM không đồng thuận với nhau. Hầu hết các vị giám mục miền Bắc đồng ý với lập luận tôn giáo là quyền chứ không phải cơ chế xin-cho, còn phần đông các vị giám mục còn lại trong Hội Ðồng Giám Mục thì chủ trương đối thoại, hiệp thông cho yên chuyện, miễn sao xây được nhà thờ, tổ chức được những buổi lễ thật linh đình ấn tượng và không bị làm khó dễ gì là được.

Mấu chốt của sự rạn nứt là ở chỗ đó và cũng từ đây đưa tới sự bất bình của người Công Giáo ở khắp nơi, làm nổ tung ra những sự phản kháng. Những sự phản kháng này dường như bột phát tựa như “tức nước vỡ bờ”.

Bây giờ làm thế nào đây? Nhiều người rất băn khoăn lo lắng. Nói ra thì sợ động chạm và bị coi như bất kính mà không nói ra thì lòng không được yên.

Vậy phải có người nói và người nghe: người nói lẽ phải và người nghe lẽ phải. Hai bên đều phải tôn trọng lẽ phải. Lẽ phải đó đặt căn cứ trên tính khách quan của sự việc và lòng tôn trọng sự thật của người nghe cũng như người nói.

(Nguồn: Ðặc San Giáo Sĩ Việt Nam, Số 120)
LM Anrê Ðỗ Xuân Quế O.P.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Trăm Lần Nghe Không Bằng Một Lần Thấy

Bùi Văn Đỗ
Ca dao tục ngữ Việt Nam là kết tinh của nền văn hóa Việt từ ngàn đời trước, nên có lẽ đến ngàn đời sau nó vẫn còn giá trị với thời gian, dù cho nền văn minh của nhân loại có thay đổi. Những câu có tính khích lệ những thế hệ sau luôn tìm tòi học hỏi, để biết người biết ta như:
“ Đi cho biết đó biết đây,
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.
Hay “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”
“Trăm lần nghe không bằng một lần thấy”.

Người xưa đã nói những câu này, hẳn là tổ tiên ta đời trước đã chịu tìm tòi học hỏi, đã chịu ra đi để học những cái mới, cái lạ mà ta chưa có, hay đã có mà chưa hoàn chỉnh.
Thật vậy, có đi ra khỏi nhà, khỏi tỉnh, khỏi quốc gia của mình, mới có cơ hội thấy được cuộc sống của nhân gian, mới thấy, ngoài gia đình ta, làng xã, tỉnh thị, quốc gia ta, còn có hàng trăm quốc gia khác trên mặt địa cầu, và có hàng trăm, hàng ngàn phong tục tập quán, nền văn minh văn hóa khác nhau (Theo con số thâu thập được thì trên thế giới hiện nay có trên 200 quốc gia lớn nhỏ).

Khi rời bến trên một con thuyền gỗ mong manh nhỏ bé, đi vào một chân trời vô định, chỉ với mục đích tìm cho được hai chữ tự do, người ra khi không thể biết trước được là mình sẽ ghé bến bờ, quốc gia nào. Hầu như ai nấy đều phó thác cuộc đời mình cho định mệnh, may nhờ, họa chịu. Nhưng nhờ cuộc ra đi phiêu lưu đó đã đưa đẩy tôi tới vùng trời Âu, nơi mà xưa nay vẫn được coi là cái nôi của văn hóa, văn minh nhân loại. Vì nhờ những bước đầu khi con người tìm cách đóng thuyền, biết căng buồm, tận dụng gió biển, biết dùng hải bàn để đi tìm những vùng đất lạ ngoài Âu Châu. Tiến đến giai đoạn nghĩ ra máy nổ, máy hơi nước, máy Diezen, để rồi từ đó người Âu Châu nghĩ đến việc đi chinh phục thế giới. Trước đây vài trăm năm, nước nào có đội thương thuyền hùng mạnh là đi chinh phục được nhiều đất đai, thuộc địa, làm bá chủ nhiều phần đất trên mặt địa cầu. Như Anh Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha, Hòa Lan.

Khi đến vùng trời Âu một vùng đất nhỏ bé so với một nước Liên Sô vĩ đại lớn nhất hành tinh, đến 9 múi giờ; đến nước Canada mênh mông đến 5 múi giờ, và nước Mỹ rộng lớn không kém Canada đến 5 múi giờ, nhưng vì tiểu bang Alaska nằm riêng rẽ nên việc di chuyển trong một quốc gia như Mỹ cũng phải mất nhiều giờ bay qua nhiều kinh độ và vĩ độ khác nhau mới đến được điểm đến dù là cũng thuộc quốc gia USA. Âu châu là một vùng đất nhỏ so với các quốc gia rộng lớn vừa kể, nhưng lại bao gồm thật nhiều nước như: Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Hòa Lan, Áo, Thụy Sĩ, Tiệp Khắc, Hungary, Romania, Bulgaria, Albania, Turkey, Athens, Anh Quốc, Ireland Đan Mạch, Nauy, Thuỵ Điển, Phần Lan, Estonia, Latvia, Belarus, Ba Lan, Ukraine. . . Một vùng đất nhỏ mà ta có thể di chuyển bằng đường bộ không còn khó khăn. Nhưng lại có nhiều nền văn hóa khác nhau, lối kiến trúc nền văn mình, tổ chức xã hội, nhất là về an sinh xã hội cũng cách biệt giữa nước này với nước khác, không đồng đều như ta tưởng.
Ở Âu Châu những nước hiện nay được coi là có nền công nghiệp và kinh tế vững mạnh, phải kể là Đức, Pháp, Anh, Ý, và các nước nhỏ có nền công nghiệp tương đối, đời sống của người dân cao như Thụy Sĩ, Hòa Lan, Đan Mạch, Na-uy, Thụy Điển, Phần Lan. Những nước nhỏ, dân số không đông nhưng lại có một đời sống rất cao, rất lý tưởng, một xã hội mà mọi người dân đều có một căn nhà để ở, mỗi tháng có một lợi tức cố định để đủ ăn no, mặc ấm, khi bệnh hoạn được chăm sóc tử tế, có bác sĩ gia đình, đủ bệnh viện để điều trị bệnh nhân. Đây là những xã hội lý tưởng, hơn cả những xã hội lý tưởng trong mộng do cộng sản vẽ ra trên lý thuyết, mà không bao giờ thể hiện được dưới ánh sáng mặt trời.

- Nhà ở.
Người Việt Nam ta vẫn có câu: “ sống một nhà, chết một mồ”. Khi một người đã đến tuổi trưởng thành, cần một chỗ ở, có nghĩa là một căn nhà, với những tiện ghi tối thiểu để ở như: có lò sửa ấm về mùa đông, có nước sạch để dùng, có điện, có gas, có nhà vệ sinh, có ít là một phòng ngủ cho một người hay một cặp vợ chồng, và một phòng khách; còn nhà ở của những hộ đông hơn thì phải có cho mỗi người một phòng ngủ nếu đã trên 18 tuổi. Đường dây điện thoại và truyền hình đương nhiên đã có sẵn cho mỗi hộ.

Nhà ở trong một khu vực đông dân cư còn phải có những môi trường xã hội như: trung tâm buôn bán các thứ thực phẩm và đồ dùng cần thiết cho mỗi gia đình; trường học cho người trẻ ở nhiều cấp bậc, bưu điện, bệnh viện, đội cứu hỏa hòng khi có hoả hoạn hoặc tai nạn; phải có đồn cảnh sát để giữ gìn trận tự an ninh, và can thiệp khi có tranh chấp, tranh tụng nhỏ với nhau ở điạ phương; và có toà án ở cấp cao hơn để xử lý các vụ kiện tụng. Mỗi một khu dân cư lại còn cần có những trung tâm để sinh họat văn hóa, xã hội, cố vấn, điền đơn xin trợ cấp với những người có thu nhập thấp, vì có những người chỉ có trình độ văn hóa thấp, không đủ hiểu biết để điền cho đúng các mẫu đơn, hoặc những người mới nhập cư, và họ không đủ khả năng tài chánh để chạy đến các văn phòng luật sư. Phải có những trung tâm để sinh họat thể thao cho nhiều giới như: sân đá banh, sân bóng chuyền, nơi chơi tenis. Các phòng thể thao lớn để sinh họat vào mùa đông. Lại còn phải có nơi thờ tự cho những người có tín ngưỡng đến cầu nguyện vào các ngày cuối tuần hay ngững ngày lễ của mỗi tôn giáo. Nhà hưu dưỡng cho những người cao niên. Tổ chức nơi an táng cho những người qúa cố.

Một thị xã, quận huyện hay thành phố, còn cần có hệ thống cầu đường, trường trung học phổ thông hay chuyên nghiệp các bộ môn, hay trường đại học. Phải dành khu vực cho sinh thái, chỗ cho người dân đi tản bộ để thư giãn. Hệ thống thoát nước phải luôn ở trong tình trạnh tốt, để tránh ngập lụt khi mưa nhiều, hoặc lúc thủy triều lên. Phương tiện giữ rác thải và đổ rác hàng tuần hay hàng tháng, phải được tổ chức chu đáo và đúng hạn kỳ, để trong thành phố không có mùi hôi thối, và những đống rác thải cao ngất nằm rải rác trong các khu đông dân.

“Nhàn cư vi bất thiện”.
Một quốc gia giầu mạnh là một quốc gia trong đó mỗi người công dân đều ý thức về trách nhiệm của mình, mọi người đều xăn tay áo và làm việc. Ở các nước đã phát triển, những người trong tuổi lao động đều đi làm việc, những người bị thất nghiệp đều có lãnh trợ cấp thất nghiệp, và được một cơ quan phụ trách tìm cho những việc làm tạm thời, hoặc lâu dài. Phụ nữ trong tuổi lao động, không vướng mắc con thơ đều cũng đi làm, thường là làm thêm, làm ít giờ trong một ngày, số giờ còn lại lo cho gia đình và săn sóc con đã trên tuổi phải bồng bế. Do đó, từ người có việc làm, đến người thất nghiệp, hay những người phụ nữ phải nuôi con thơ mà không có chồng cũng đều có một nguồn tài chánh cố định hàng tháng để sinh sống. Những trẻ em có cha, mẹ, hay những trẻ em ở với cha hay mẹ, dưới 18 tuổi đều được xã hội trợ cấp mỗi ba tháng một lần.

Việc cắp sách đến trường từ cấp tiểu học đến hết trung học phổng thông cấp I là cưỡng bách và hoàn toàn miễn phí; từ trung học phổ thông cấp II cấp III phải đóng góp chút đỉnh, nếu số thu nhập của cha hay mẹ cao, nếu thu nhập thấp thì số tiền này cũng được bồi hoàn trở lại qua qũy học bổng hay do khai thuế lợi tức hàng năm. Học xong trung học phổ thông cấp I, nếu không đủ khả năng học tiếp lên, phải chuyển sang học nghề thì cũng được hoàn toàn miễn phí. Khi tốt nghiệp phổ thông cấp II hay cấp III, sẽ được chuyển vào học cao đảng hay đại học, sinh viên phải đóng một số tiền mỗi tam cá nguyệt. Nhưng mỗi sinh viên lại nhận học bổng mỗi tháng, nhiều ít tùy theo nhu cầu, và hoàn cảnh gia đình giầu có hay có lợi tức thấp. Nói chung, con muốn vươn lên và học tới nơi tới chốn, cha mẹ cũng không phải vất vả chạy tiền cho con học, mà do nhà nước hầu như giúp đỡ toàn bộ. Khi đã có bằng chuyên nghiệp ở cấp độ nào thì đều phải đi xin việc để có việc làm, không có cảnh ở không, tụ năm tụ ba, ăn nhậu, trộm cắp hay xì ke ma túy, ăn bám theo gia đình hay xã hội như ở các quốc gia chậm tiến khác.

Từ tổ chức xã hội có qui củ, dựa theo luật pháp có nền tảng dân chủ. Mỗi người đều có việc làm, nhà ở, người trẻ phải đến trường và được hướng nghiệp, mỗi người đều có lợi tức hàng tháng để sống. Tuy xã hội có những người giầu, nhưng những người coi là nghèo nhất trong xã hội cũng có đủ ăn no, mặc ấm, nơi ở tử tế, có bảo hiểm sức khoẻ nên khi bệnh họan được chăm sóc tử tế, khi lâm tử cũng được an táng theo qui cách của xã hội. Không có cảnh sống vô gia cư, tử vô địa táng như ở một số quốc gia hiện nay trên thế giới.

Khi viết về đời sống xã hội tại Hòa lan, một quốc gia nhỏ ở vùng Bắc Âu, tôi không có tham vọng giới thiệu với thế giới về một quốc gia kiểu mẫu. Nhưng sau khi có dịp đến tận nơi, ở nhiều nước Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, và nước có nền kinh tế thứ hai trên thế giới là Nhật Bản, nhìn tận mắt, nghe tận tai (chưa kể nghe, đọc và nhìn qua hình ảnh hàng ngày ở màn hình của internet), thì ở thực nhiều quốc gia, kể cả một số quốc gia đã tiên tiến, việc tổ chức an sinh xã hội còn thật kém cỏi. Người giầu có, qủa tình ăn không thể hết, người nghèo khó không đủ ăn mỗi ngày, lúc bệnh hoạn không có thuốc để chữa trị, vào bệnh viện không có chỗ cho nằm, chết không có tiền để chôn, phải xin bố thí, thân nhân hay người quen mới chôn cất nổi.

Khi được ngư ông Hòa Lan vớt lên khỏi biển khơi, tôi chưa biết ông thuyền trưởng và con tàu thuộc quốc gia nào, trên đường tàu chạy về trại tỵ nạn Singapore, mới biết được thêm ông thuyền trưởng và chủ con tàu thuộc nước Netherland. Nhưng chưa biết rõ nước Netherland nằm ở nơi nào trên bản đồ thế giới. Khi ở trại ít ngày mới biết ra con tàu cứu mình trên biển khơi nằm ở khu vực Âu Châu, cạnh nước Đức, nước Bỉ, nước Đan Mạch, cách một eo biển là nước Anh. Một đất nước nhỏ bé có 16 triệu dân (vào năm 1983), có những vùng trũng, sâu dưới mặt nước biển đến 4 mét, nên đã có những con đập ngăn biển để giành đất cho dân lập nghiệp và sinh sống.

Nghịch cảnh của đất nước này thật thua xa với đất nước Việt Nam của tôi, có rừng vàng biển bạc nhưng chỉ vì không có tự do và dân chủ, nên qúa nghèo nàn và lạc hậu. Bao nhiêu tiền viện trợ của thế giới tự do, bao nhiêu ngân khoản của các nước gầu có đổ vào để cứu đói giảm nghèo, và khoảng 7 tỷ đô la mỗi năm của những người tỵ nạn chế độ CS gởi về, và của bao người trẻ Việt Nam đi làm lao nô, bán sức lao động để tìm kế sinh nhai cho gia đình đưa vào Việt Nam, thì lại lọt vào tay những người lãnh đạo đất nước tham ô và hối lộ. Vì họ là những người cộng sản, con tim đã thiếu tình người, mà cái đầu thì còn ngu dốt, càng ngu càng dốt thì càng bảo thủ. Tìm hiểu, đọc và biết ra, rồi so sánh thì quả không phải kẻ chín lạng người mười cân, mà hai quốc gia Hòa Lan và Việt Nam là hai nơi có đời sống An Sinh Xã Hội thật tương phản, khác nào Thiên Đường và hỏa ngục./-

BÙI VĂN ĐỖ

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Arizona, Biên Cương Khổ

Vi Anh
Giả sử bạn là một cư dân của một quận hạt nào đó, như Quận Cam chẳng hạn, một năm có 500,000 người nước khác nhập cư vào mà không giấy tờ, thì bạn nghĩ sao. Nhứt định có nhiều xáo trộn, nhiều khó khổ trong cuộc sống lắm. Khổ cho nhân viên công lực lo bảo vệ an ninh trật tự; khổ cho chánh quyền với bao nhiêu vấn đề phát sinh thành phố, khổ cho cá nhân, gia đình chòm xóm, xã hội của bạn về công ăn việc làm, và về cả chục thứ khác trong cuộc sống, Cứ hình dung như vậy để thấy cái khốn khổ của một quận ven biên của Tiểu bang Arizona, như Quận Tucson, mỗi năm biên phòng Mỹ bắt 500,000 người vượt biên bất hợp lệ vào quận này. Nửa triệu người bị bắt, còn số nguời thoát được là bao nhiêu khó biết được nhưng ắt phải nhiều hơn số người bị bắt. Một hành động trái luật quán hành liên tục, một nỗi khốn khổ triền miên ngày đêm vì lúc nào cũng có người vượt biên của chánh quyền và người dân các thành phố ven biên. Nhưng ví lý do chánh trị, truyền thông Mỹ và chánh quyền Mỹ sợ mang tiếng kỳ thị nên chế ra chữ không phạm húy kỳ thị chủng tộc - nên gọi là “nhập cư không giấy tờ” .

Trong bài phân tích nỗi khốn khổ của Arizona, xin lấy một phóng sự điều tra của một nhà báo Pháp Laure Mandeville viết cho tờ báo cũng của Pháp là le Figaro làm dẩn dụ là đỡ nhậy cảm, đỡ dị ứng trong vấn đề nhập cư ở Mỹ. Nhập cư là một vấn đề mỗi lần tới mùa bầu cử ở Mỹ là mâu thuẫn, tranh luận tái sinh, một vấn đề chưa vị tổng thống Mỹ nào dám cải tổ dứt khoát. Phóng sự bắt đầu với một người chủ điền ven biên, John Ladd đội nón cao bồi, hàm râu bạc xám, cỡi ngựa, mắt nhìn về hướng Nam là Mễ tây cơ, bực bội nói, “mỗi ngày hai ba trăm người leo tường rào, vượt cánh đồng của tôi. Cứ như thế kéo dài muời lăm năm rồi. Mười lăm năm nay làm tôi điên lên”. Điền sản này tổ tiên gia đình Ông tạo dựng từ 1896, lúc bấy giờ chưa có biên giới giữa Mỹ và Mể. Biên giới mới có hồi năm 1912, nhưng chỉ chiếu lệ thôi, người Mỹ và Mể lúc bấy giờ qua lại bỉnh thường. Thời kinh tế khủng khoảng như những năm 1929, thì Mỹ bắt trục xuất người Mễ về; thời cần nhơn công rẻ thì cho nguời Mể qua làm những công việc ìt tiền, nặng nhọc. Trong thập niên 1960, người Mỹ và Mể ven biên sống như thân bằng quyến thuộc, có người giúp cho công nhân nhập quốc tịch Mỹ nữa.

Nhưng tình lân lý thành thân bằng quyến thuộc đó bị những đại gia buôn lậu ma túy và một số chánh trị gia biến thành xung đột quyền lợi. Một cuộc “đổi đời” thê thảm xảy ra khi Hiệp ước NAFTA ra đời vào năm 1994. Mậu dịch tự do giữa Mỹ và Mề tàn phá ruộng vườn của nước Mể. Hàng chục ngàn nhà nông Mễ tán gia bại sản di tản về biên giới Mỹ trước sư cạnh tranh của những nhà nông Mỹ giàu có hơn, nhiều phương tiện sản xuất và phân phối hơn. Làn sóng di cư, tỵ nạn kinh tế đó bây giờ cũng còn, họ đem sức lao động ra bán rẻ cho những chủ điền Mỹ để nuôi thân và nuôi gia đình còn kẹt ở Mể.

Nửa triệu người vượt biên bị bắt ở quận Tucson một năm. Theo thống kê của cảnh sát và biên phòng Mỹ, cứ 5 người vượt biên thì 2 bị bắt. Vậy mỗi năm chỉ quận Tucson đã có cả triệu người vượt biên và trên cánh đồng của điển chủ John Ladd, mỗi năm phải có mấy trăm ngàn người trốn chạy. Hư hại, thiệt hại cho các điền trang dọc biên giới thật là lớn: đập nước bị lở, vườn tược, đổng cỏ,, rẩy hoa màu bị dẫm nát, kinh dẩn nước, ống dẫn nước sụp lở và gảy đổ. Mỗi lân Ô. John Ladd kêu gọi biên phòng, thiệt hại và hư hại tài sản của Ông càng lớn với sức càn quét bằng xe pháo, bằng chó đánh hơi của biên phòng. Đó là chưa nói việc người báo tin, người nhờ biên phòng can thiệp cho biên phòng bị trả thù. Hai tháng trước, Robert Krenz, một diền chủ thân quen với Ông bị ám sát chết sau khi gọi biên phòng.

Người ám sát trả thù không phải là dân vượt biên, mà là bọn tội phạm có tổ chức, chuyên buôn lậu và tổ chức và chứa chấp người vượt biên. Đó là những cường hào ác bá chuyên mua bán ma túy lậu và tổ chức vượt biên lậu. Theo cảnh sát trưởng Clarence Dupnik cho biết đường dây buôn lậu ma túy đã kết hợp vớøi vượt biên. Người vượt biên phải trả 2000 Đô để được đưa đi. Đường dây kinh tài lậu đó đáng giá hàng chục tỷ Mỹ kim, lưu hành ở thủ đô, là Phoenix.

Đường dây những người tổ chức vượt biên và buôn lậu ma túy này không có Tổ Quốc, Tổ Quốc họ là Đô la. Mỗi năm biên phòng bắt được không ít những nghi can dính líu với al Qaeda xâm nhập vào Mỹ qua con đường vượt biên giới này. Và đường dây đó có quá nhiều tiền và bộ hạ nên cũng cần một số người trong chánh quyền để bao che họ. Ho móc nối và dính líu với một số người trong chánh quyền và các cộng đồng gốc Latinh. Họ chống đối luật của TB Arizona cho phép cảnh sát hỏi giấy tờ người bị nghi là vượt biên bất hợp pháp. Họ cáo giác luật đó là kỳ thị chủng tộc. Họ cho luật đó là vi phạm nhân quyền.

Những người Arizona cố cựu, gốc gác ở vùng ven biên không thể hiểu tại sao một nhân viên công lực, một cảnh sát hỏi giấy tờ một người nài đó thì việc làm đó và người cảnh sát đó bị coi là kỳ thị chủng tộc, vi phạm nhân quyền. Giới nông dân và cảnh sát nhận thấy hai thế lực kinh tế và chánh trị đã làm đạo luật rất cần thiềt của TB Arizona thành rối lên. Những chánh khách của đảng Dân Chủ muốn o bề người gốc Latinos để kiếm phiếu. Và những chính khách của đảng Cộng Hoà cũng chẳng hiền gì, họ muốn có nhân công giá rẻ từ người Latinos lợi cho việc kinh doanh của họ.
Và người dân cũng thấy như vậy nên thăm dò cho biết có từ 60 đến 70% người Mỹ ủng hộ những đạo luật của Arizona. Như lời bà Eileen Klein thuộc một gia đình nhập cư từ Pháp hiện là Chánh văn phòng của Thống Đốc Arizona Brewer, nói, “đúng, chúng ta là một đất nước của những người nhập cư. Nhưng luật pháp phải được tôn trọng để đất nước này có thể được trung thành”. Dù hai thành phố lớn của Cali và San Fran phản ứng mạnh, chống Arizona quyết liệt, nhưng hai thành phố này vẫn là hai thành phố có vẻ cô đơn trên bình diện tiểu bang Cali và trên bình diện liên bang. Thống kê vào cuối tháng tư cho biết, 60% người Mỹ nói chung đồng ý luật siết chặt nhập cư của Arizona. Còn các hàng thử biểu chánh trị trong mùa bầu cử ,những ứng cử viên thống đốc đơn vị bầu cử là cả tiểu bang, nhứt là quí vị ứng cử viên thuộc đảng Cộng Hoà cũng ủng hộ những biện pháp của TB Arizona. Như Bill McCollum ở Florida. Và Steve Poizner ở Cali .
Trong một đất nước rộng lớn, hiệp chủng, dân số Latinh chiếm 30%, nỗi lo ngại và dè dặt với người gốc Latinh tăng nhanh như vậy sẽ dễ lan truyền, làm người dân lo ngại. Tin tổng hợp cho thấy có 10 tiểu bang khác đang chuẩn bị siết chặt nhập cư như Arizona. Ứng cử viên thống đốc Colorado Scott McInnis nói mạnh “chúng ta không rút lui, nếu không vận động được toàn nước Mỹ chống nhập cư lậu, thì Ông sẽ làm ở Colorado. TB Oklahoma đang dự trù những hình phạt gắt gao hơn đối với những người nhập cư lậu khi nhân viên công lực phải nổ súng khi bắt họ. TB South Carolina coi là trái luật muớn người nhập cư lậu làm việc. Và các TB Idaho, Utah, Missouri, Texas, North Carolina, Maryland, Minnesota, và Colorado, cơ quan lập pháp cũng dự trù đưa ra những biện pháp siết việc nhập cư lậu. Arizona là TB tiên phuông đưa ra những biện pháp siết nhập cư. Như chấp nhận dự luật không cho người nhập cư lậu nhận những phúc lợi của TB và các TB khác cũng noi theo.

TT Mexico có đến Toà Bạch Ốc Mỹ, gặp TT Barack Obama về luật của TB Arizona. Nhưng những thái độ của các tiểu bang làm cho liên bang phải chú ý cần có một bộ luật nhập cư. Nhiều webs và youtube loan tải, nhắc lại việc TT Obama cười ngạo TB Arizona trong một bữa ăn tại Toà Bạch Ốc và nói móc TT Obama, “TT Obama, xâm phạm biên giới không phải là chuyện đùa. Nhiệm vụ của Ông là bảo vệ an ninh biên giới”. TT Obama tuyên bố không thể có luật cải tổ nhập cư khả thi trong thời gian ngắn. Điều này khiến phản ứng của các TB muốn noi gương Arizona mạnh thêm.


VI ANH

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Giá trị đích thực việc linh mục Phan Văn Lợi xin lỗi Đức Ông Cao Minh Dung Ngày 3 tháng 6 năm 2010 Giáo Hội bắt đầu vào ngày thứ ba tháng Kính Thánh Tâm Chúa, từ nên đã miệt mài phóng lên net suốt cả ngày không biết mệt, nhưng có người chắc cũnthành phố Huế, nơi làng Phủ Cam hiện nay còn được gọi là phường Phước Vĩnh, linh mục được liệt kê vào loại linh mục“CHUI” lang thang(sic)
Phêrô Phan Văn Lợi lại phóng lên bức thư làm ngạc nhiên cho những ai thường theo dõi tin tức trên các diễn đàn. Đó là “Thư xin lỗi của linh mục Phan Văn Lợi”. Có người khi đọc được “Thư Xin Lỗi “này thì vui mừng vô kể g ngồi suy tư thấm thía về chuyện đời thuộc dạng thâm cung bí sử, và cũng có người thở dài nhẹ nhỏm: thì ra chuyện cha Lợi nói trên video clip hôm rồi là vậy à, cha đâu có tự mình bịa chuyện bậy bạ nhỉ.

Người viết khi nhận được thư này thì vội đọc nhanh để biết Linh mục Phan Văn Lợi đã viết bức thư “xin lỗi” như thế nào. Đọc xong bức thư, người viết cảm thấy vô cùng lý thú. Lý thú vì nhận ra ở đây là niềm hảnh diện về một linh mục can trường nơi xứ Huế lại đang sống trên phần đất giáo xứ Chnáh Toà Phủ Cam, phần đất của vị anh hùng tử đạo Việt Nam Tống Viết Bường. Nên nhớ rằng người dân Phủ Cam không bao giờ chịu khuất phục bọn VC, bằng chứng là những người thanh niên Phủ Cam đã anh dũng chiến đấu chống lại cộng quân khi cộng quân tiến vào Phủ Cam trong biến cố Tết Mậu Thân. Chiến đấu đến khi hết đạn, họ mới chịu tìm cách trốn thoát để lánh nạn, nhiều giáo dân Phủ Cam đa số bị giết thê thảm tại Khe Đá Mài. Bà ngoại của ĐÔ Cao Minh Dung cũng bị chết khi đi lánh nạn trong dịp Mậu Thân. Nhắc lại một chút về thiên hùng ca xuất phát nơi Phủ Cam để nhắc nhở với Đức Ông Dung, kẻo sợ ngài quên mất chuyện đau thương thuở nào.

Tôi đọc kỹ bức thư ngắn gọn này, và nhận ra đây là một sự tuyệt vời, quả thật bức thư xin lỗi đã trở thành : Giá trị đích thực của một câu chuyện, đó là Giá Trị Sự Thật về chuyện linh mục Phan Văn Lợi xin lỗi Đức Ông Cao Minh Dung. Để rộng đường dư luận, xin trích nguyên văn toàn bộ bức thư của LM Phan Văn Lợi, viết tại Huế ngày 03 tháng 06 năm 2010( những chữ màu xanh là sự chú ý của người viết) :

Kính thưa Đức Ông P.X Cao Minh Dung thuộc Bộ Ngoại Giao Toà Thánh Vatican.
Tôi là linh mục Phêrô Phan Văn Lợi đang ở tại Huế Việt Nam xin có mấy lời với Đức Ông.
Ngày 23-05-2010 trên một video clip, tôi có nói động đến đời tư của Đức Ông, dựa theo những bằng chứng dư luận bà con thân thuộc của Đức Ông. Từ đấy đã gây nhiều xôn xao, làm mất thanh danh của Đức Ông.
Nay tôi xin lỗi Đức Ông, nhân cơ hội này tôi cũng xin lỗi những người liên quan đã mất thanh danh vì các lời nói của tôi.
Cuối cùng những ai đang khai thác đoạn video clip, xin vui lòng dừng lại.
Tôi xin cám ơn Đức Ông và xin Đức Ông cầu nguyện cho tôi.
Huế ngày 03-06-2010.
Ký tên: Lm Phan Van Lợi.

Qua lời lẽ trong thư xin lỗi, chắc chắn ai cũng nhận ra đây quả là một linh mục khiêm nhường, một linh mục luôn biết trăn trở để cùng chia xẻ những ưu tư của người khác, nhất là trong hàng ngũ anh em linh mục với nhau. Tuy nhiên trong cái thế chẳng đặng đừng nên cha Lợi đã phải tung lên đoạn video clip về chuyện bí mật có liên quan đến đời tư ĐÔ Dung như đã nêu trên

Trên thực tế, những bàn tán xôn xao về chuyện thâm cung bí sử đã xẩy ra tại Phủ Cam từ cả nửa thế kỷ nay rồi chứ chẳng phải chuyệnmới lạ gì đâu. Đây chẳng qua, là lời nhắc lại như một sự báo động: báo động cho Toà Thánh, báo động cho HHĐGMVN, và báo động ngay cả Đức Ông Dung…để trong một lúc nào đó ĐÔ Dung hồi tưởng lại chút gì cho cuộc đời hư hư ảo ảo của mình để trở về thực tại và sống đúng với Thiên chức của mình.Đọc bức thư xin lỗi này tôi thấy có nhiều điều lý thú :

Điều lý thú thứ nhất là cách trả lời của linh mục Phan Văn Lợi ngắn gọn và đầy ý nghĩa để nói thẳng với linh mục Đỗ Quang Châu rằng: không phải tôi đặt điều, đặt chuyện dối trá mà nói công khai huỵch toẹt về câu chuyện thâm cung bí sử này đâu. Tôi lại nhớ, ngày 31-05-2010, Lm Châu có viết lời minh xác và nhờ ông Nguyễn Lý Tưởng phổ biến . Tiện đây cũng xin trích nguyên văn thư minh xác của LM Châu, để mọi người cùng biết cho vui:

Kính gởi anh Nguyễn Lý Tưởng.
Nhờ anh phổ biến lời minh xác của tôi sau đây:
“Tôi linh mục Phêrô Đỗ Quang Châu minh xác rằng những lời Phan Văn Lợi nói về tôi là những lời dối trá và vu cáo một cách trắng trợn. Tôi thấy không còn gì phải nói thêm nữa.
Linh mục Phêrô Đỗ Quang Châu
Ashland City Tennesee…”

Chắc cha Châu đã đọc lời xác minh của Cha Lợi trong đoạn thư xin lỗi ĐÔ Dung này rồi, chuyện rõ như ban ngày rồi còn gì nữa? Chẳng lẻ những người bà con thân thuộc của ĐÔ Dung lại đi phịa chuyện tào lao này sao? Hiện có em gái của ĐÔ Dung cũng đang ở Mỹ đấy.

Đây là lời xác minh của linh mục Phêrô Phan Văn Lợi thật vô cùng ý nghĩa: “…tôi có nói động đến đời tư của Đức Ông dựa theo những bằng chứng dư luận bà con thân thuộc của Đức Ông...”

Lý thú thứ hai mà người viết nhận ra cách dùng chữ trong thư xin lỗi của Cha Lợi vừa tế nhị, lại vừa để lại cho đời sự suy nghĩ thực tế, đó là câu nói nhẹ nhàng bao hàm nhiều ý nghĩa như : “…làm mất thanh danh của Đức Ông” và “…những người liên quan đã mất thanh danh..”

Thanh danh của Đ.Ô Dung đã được nhiều người quan trọng hoá là một nhân vật đang làm việc tại Toà Thánh nên khi về Việt Nam phải được VC đón rước nồng hậu, thanh danh của ĐÔ Dung là mộng ước đang trên đường tiến nhanh tiến mạnh lên địa vị cao sang nhất làng Phủ Cam và cả Giáo Hội Việt Nam nữa. Bởi vì trên thực tế thanh danh của ĐÔ Dung đang lừng lẫy đến nổi những người em trai của ĐÔ Dung cũng dựa hơi thanh danh này để sống một cách phè phởn nơi xứ Huế, vì được công an giúp đỡ. Có dịp sẽ bàn tiếp chuyện hơi hưởng thanh danh từ Đức Ông Dung mà những người em trai của ĐÔ Dung đang ở VN đã thể hiện như thế nào. Thanh danh của ĐÔ Dung là khi về thăm quê hương xóm làng thì cố tránh mặt ngay cả người cậu của Đức Ông, vì người này là linh mục chui, mà lại tiếp xúc thân mật với những tay công an gộc nơi xứ Huế, nên nhớ đây không phải là lúc thi hành nhiệm vụ ngoại giao của Toà Thánh nha.

Nhìn lại thực tế, đây là một câu chuyện thật quá đau lòng, khi nói lên sự thật này, người nêu vụ việc cũng đã có nhiều trăn trở vì cảm thấy đôi lúc còn thiếu đức ái nữa, nhưng qua suy nghĩ thì cảm thấy khi nêu sự thật là một vấn đề quan trọng, cần phải huỵch toẹt nói ra để phòng hậu hoạn cho một sự việc, nếu có thì quả nguy hại cho Giáo Hội bội phần, cho nên phải công bố sự thật là vậy theo suy nghĩ của người viết.

Đọc lời xin lỗi Đức Ông Dung của linh mục Phan Văn Lợi rồi lại đọc lời minh xác của linh mục Đỗ Quang Châu, người viết cảm thấy linh mục Đỗ Quang Châu là một vị linh mục còn mang đầu óc cả quyền như một ông cha nhà thờ thời xa xưa, đã tỏ ra bất lịch sự, coi thường người khác mà người đó lại là một linh mục, dù linh mục chui. Không biết ông linh mục này đã dùng quyền gì để lột chức linh mục của linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, (tôi biết VC chưa bao giờ công nhận linh mục Phêrô Phan Văn Lợi là một linh mục) khi viết lời minh xác như sau: Tôi linh mục Phêrô Đỗ Quang Châu, minh xác rằng những lời Phan Văn Lợi nói về tôi là những lời dối trá…” Qua cách viết và cách xử sự như thế với nhau trong hàng linh mục thì rõ đây là vị linh mục thế nào rồi đấy.

Tóm lại nhân chuyện bức thư xin lỗi Đức Ông Cao Minh Dung của linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, người viết sực nhớ chuyện xa xưa nên trước khi dứt lời, xin hỏi nhỏ linh mục Phêrô Đỗ Quang Châu: tại sao linh mục đang là một thầy thuộc Dòng Thánh Tâm Huế, mà sau đó lại chuyển ngành để trở thành linh mục triều, có phải linh mục tự ý bỏ Dòng Thánh Tâm hay bị cha Bề Trên Laurent Trần Văn Đàng đuổi khỏi nhà Dòng?

Nguyễn An Quý

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bản tuyên bố của công dân, kỹ sư Trần Văn Huy
tham gia Phong trào đấu tranh đòi dân chủ, tự do, nhân quyền cho dân tộc và đất nước Việt Nam, đồng thời gia nhập chính thức Khối 8406

Thành phố Hà Nội, ngày 04 Tháng 6 năm 2010

Kỹ sư chuyên ngành vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc -Trần Văn Huy
- Kính gởi toàn thể các quý vị, những người đã đi trước trong Phong trào đấu tranh dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam.
- Đồng kính gởi các vị trong ban điều hành khối 8406.
- Đồng kính gởi đến tất cả các thành viên đấu tranh dân chủ khác trong và ngoài nước. Cũng như những thành viên đang sống kiếp lao tù của ĐCSVN và các thành viên vừa mới được tạm thả ra khỏi ngục tù.
- Cuối cùng kính gởi các bậc tiền bối, những người đã vì công cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc đã ngã xuống hy sinh anh dũng, hay đã qua đời trong thời gian mấy chục năm qua... Nhân đây tôi xin kính cẩn gởi tới các vị nén nhang tâm hồn thành kính nhất.

Kính thưa toàn thể quý vị !
Xuất phát từ thái độ, nhận thức chính trị bức xúc của bản thân mình do đã nhìn thấy rõ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội tại Việt Nam không có tương lai tươi sáng. Do tôi đã nhìn thấy bản chất thực sự của đảng cộng sản VN- lực lượng đã, đang tiếp tục nắm vận mệnh của cả dân tộc Việt Nam một cách vô trách nhiệm từ nhiều chục năm qua. Thế nên, sau một thời gian suy nghĩ, tìm hiểu cặn kẽ, tôi đã tìm ra được đâu là con đường đúng đắn, chính nghĩa và đó cũng là ước nguyện của đại đa số người dân Việt Nam ở quốc nội và hải ngoại hiện nay. Do vậy, nên tôi đã nhận ra đâu là con đường sống còn cho các dân tộc Anh Em trong đại gia đình Việt Nam cùng nhau tạo thành nước Việt mới có các quyền tự do, dân chủ. Hôm nay tôi quyết định công bố danh tính, tên tuổi, địa chỉ cư trú cụ thể để công luận khắp nơi trên toàn cầu biết và yểm trợ cho tiếng nói tranh đấu ôn hòa của cá nhân mình với nội dung như sau :

Tôi tên là: Trần Văn Huy- ngoài ra không có tên gọi nào khác
Sinh ngày 14 tháng 03 năm 1977
Tôi có hộ khẩu thường trú tại xã Đức Minh – huyện Dakmil – tỉnh Daknong ( dưới chế độ Việt Nam cộng hòa cũ trước năm 1975 nơi đây gọi là thuộc tỉnh Quảng Đức).
Nguyên Quán trước đây: xã Nghi Phương – huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An . Gia đình tôi thuộc diện Bắc di cư năm 1954.
Tôn giáo : Tôi cùng gia đinh theo đạo Thiên Chúa Giáo.
Hiện nay tôi đang sống và làm việc tự do tại Hà Nội.
Trình độ văn hóa : Tốt nghiệp trường đại học giao thông vận tải Hà Nội chuyên ngành vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc khóa 38 năm 1997-2002
Bằng cấp : Kỹ sư vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc.
Cha đẻ tên là : Trần Văn Mừng năm nay 71 tuổi, trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 là cảnh sát thuộc nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, cả gia đình cha mẹ tôi đã di cư hồi cuối tháng 7 năm 1954 để vào miền Nam theo Linh mục Hoàng mà trước Ngài đã cai quản địa phận giáo hội thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Cha tôi sau ngày đất nước kết thúc cuộc chiến tranh Nam – Bắc giai đoạn năm 1954-1975 đã bị chế độ mới “giải phóng“ ưu tiên đưa đi cải tạo nhiều năm. Hiện nay Cha tôi già yếu còn sống tại quê hương di cư thuộc tỉnh Đăknông – Tây Nguyên
Mẹ tôi là Phạm Thị Bính sinh năm 1942 đã mất năm 2005- cũng theo đạo Công giáo

Tôi chân thành và thực tâm, trung kính gởi tới các vị bản tuyên bố tình nguyện gia nhập Phong trào đấu tranh dân chủ và khối 8046 vì các lý do sau:

Xét thấy:
1. Tinh thần hiến pháp hiện nay đang có hiệu lực pháp lý trên toàn cõi đất nước:

- Trên tinh thần hiến pháp nước CHXHCN VN năm 1992 đến nay đã và đang không được sử dụng thực thi, hoặc đã được áp dụng một cách sai trái. Đảng cộng sản Việt Nam đã xa rời quần chúng, họ đã chỉ biết đặt lợi ích của các thành viên đảng cộng sản cao và trung cấp trên lợi ích của đất nước, dân tộc và ra khỏi lợi ích chung của toàn thể đại khối nhân dân Việt Nam.

- Nước Việt Nam hiện nay đã không còn tính “độc lập” như ý nghĩa của hai từ đó, mà hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng như đang hiện nay.
_ Nước Việt Nam không còn là một giang sơn thống nhất - Khi chúng ta đã bị mất từng phần đất đai, hải đảo thậm chí mất cả biển Đông. Trong đó nổi bật, tiêu biểu nhất là các hải đảo trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã rơi vào tay bon Trung Quốc đại hán bành trướng xâm lược…
- Tính lãnh đạo một đảng CSVN là trái với nguyên tắc tự nhiên, không những chà đạp hiến pháp, điều lệ đảng mà còn dẫm đạp thô bạo các điều khoản của công ước quốc tế về các quyền con người do chính họ đặt bút ký tên.
- Quyền sinh hoạt tự do của các tôn giáo trong xã hội đã không được thực thi và tôn trọng một cách đầy đủ. Tài sản của các giáo hội vẫn bị chiếm đoạt trái pháp luật và vô đạo lý thách thức lương tri con người và cộng đồng các tôn giáo.
- Các quyền tự do, dân chủ căn bản có tính phổ quát của toàn nhân loại mà lẽ ra nhân dân Việt Nam được hưởng thụ như quyền Con người một cách tự nhiên không được đảng CSVN và nhà nước XHCN thực thi và tôn trọng đầy đủ. Chính vì thế nên đại đa số nhân dân trong nước mưu cầu có cuộc sống hạnh phúc, có nhân quyền theo đúng nghĩa không được nhà nước CSVN đáp ứng trọn vẹn, toàn diện.
- Sự bình đẳng giữa các vùng miền trong nước, giữa các dân tộc anh em trong cộng động toàn xã hội không được chú trọng. Công bằng xã hội bị vùi dập không thương xót.
-Các vấn nạn như áp bức, bóc lột, hiếp đáp quần chúng nhân dân nhất là nông dân, công nhân, người nghèo khổ không chức quyền lan tràn trong xã hội, nạn bất công đầy rẫy và có ở hầu hết các nơi…

Và còn nhiều điều nữa đã không được áp dụng hay áp dụng sai lầm và đi ngược với tinh thần nhân quyền trong bản hiến pháp cũng như với công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà nhà nước CHXHCNVN của đảng CS đã long trọng ký tên để xin cam kết với cộng đồng quốc tế thực thi cho nhân dân trong nước ....

2. Về học thuyết Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh :

Xét thấy :
- Học thuyết Mác xít cộng sản chỉ chú trọng về sản xuất của cải vật chất, không chú ý đến con người, xem con người trong một công thức sản xuất chỉ như một cỗ máy sản xuất vô hồn và vô tri vô giác. Ví dụ như xe máy đổ xăng thì chạy được, nhưng con người ngoài tái sức lao động còn có tinh thần, tín ngưởng và đạo đức, giống nòi ... Đây là sai lầm cơ bản về mặt tiền đề. Điều đó tạo ra những hệ tư tưởng vô nhân, phi đạo đức, hết sức phản khoa học, mang đầy tính thủ đoạn, lừa lọc. Điều đó đã tàn phá thiên nhiên, môi trường và huỷ hoại sự sống rất nghiêm trọng....

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là không có như chính bản thân ông ấy cũng đã tự thừa nhận trong nhiều lần phát biểu với cán bộ, chiến sĩ đảng viên ĐCSVN. Trước đây, khi còn hoạt động chính trị tại Pháp lúc còn đứng trong nhóm Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ Chí Minh cũng không có một tư tưởng nào ngoài việc giúp sức cho những sĩ phu nổi tiếng trong nhóm này như Cụ Phan Chu Trinh, các luật sư Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, nhân sĩ ái quốc Nguyễn An Ninh. Những gì ông ta viết đều do những người khác đã viết từ nhiều năm trước rồi. Ông Nguyễn Ái Quốc mà sau là Hồ Chí minh cũng không có đạo đức lớn, mang tính mẫu mực khi ngày ngay dựa trên khảo cứu và những tư liệu lịch sử có thật ở cả trong và ngoài nước đã chứng minh được điều đó.

- Xét thấy lịch sử mãi vẫn là lịch sử. Lịch sử không thể che đậy, lấp liếm hay làm lệch hướng chảy như một con sông có tự ngàn xưa. Lịch sử luôn mãi mãi là sự thật, mặc cho sự che dấu có tinh vi quỷ quyệt, thủ đoạn gian manh đến mấy đi chăng nữa... Lịch sử và công lý sẽ phơi bày công và tội của bất cứ ai, hành động nào trong bất cứ giai đoạn nào kể cả ông Mác, Ăng ghen, Lê nin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Pôl pôt, Phiđen catrô, Satđam Hunsen và kể cả ông Hồ Chí Minh của Việt Nam…. Xét thấy lịch sử nhất định cần được làm trong sạch, minh bạch và chính xác tại Việt Nam cùng tất cả các quốc gia độc tài.

3. Về xã hội:

Xét thấy: Con người theo xu hướng chung luôn luôn tìm đến cuộc sống tốt đẹp hơn, tự do và hạnh phúc hơn. Nhưng đảng CSVN ngày nay không cho người dân Việt Nam làm việc đàng hoàng đó.
Xét thấy: Tinh thần dân tộc đang ngày càng lụn bại dần mòn, người Việt đang ngày càng trở nên nhu nhược hèn kém vì đường lối Giáo Dục - Văn Hoá - Thông Tin của nhà nước độc tài toàn trị cộng sản hiện nay.

4. Về Kinh Tế:

Xét thấy : Nhũng nạn các quan chức trong hàng ngũ là đảng viên CS Việt Nam tham nhũng, hối lộ đang trở thành quốc nạn, quốc nhục và trở thành gánh nặng cho cả dân tộc Việt Nam và đất nước chúng ta.

5. Xét thấy trên tinh thần của cả nhân tôi và là xu thế chung của những con người mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn. Vì chúng ta, vì thanh niên Việt Nam, vì các thế hệ tiếp nối .... Tôi xét thấy là nên tham gia Phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam như các quý vị, anh chị, em đi trước. Tôi nghĩ đấy cũng là bổn phận, là trách nhiệm và nghĩa vụ nặng nề đầy vinh quang và cũng rất nguy hiểm của mỗi công dân Việt Nam, nhất là giới thanh niên thế hệ trẻ như tôi.

Chúng ta cần phải đòi cho được quyền được sống trong tự do, dân chủ, được tôn trọng nhân quyền cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Quyền tự do, nhân quyền và dân quyền phải đến vì tương lai nước Việt sáng lạn. Một xã hội dân sự phải được dựng lên, một xã hội mà các quyền công dân chân chính được đảm bảo .... Để cùng thực hiện những điều đó tôi viết bản thỉnh nguyện thư với lý do:

- Mong muốn góp chút công sức vì ích lợi chung của cả đất nước và dân tộc Việt.
- Mong muốn làm việc có ích, có ý nghĩa cho chính mình và cho tương lai con cháu mình hôm nay và mãi mãi sau này.
- Mong muốn cuộc đời mình đã đóng góp làm một việc có ý nghĩa cho vận mệnh chung của nước nhà.
Vì rằng một khi đất nước chúng ta còn có, điều đó nói lên rằng con cái chúng ta còn có thể tồn tại mà không bị lệ thuộc, không bị nô lệ, được sống ngẩng cao đầu với đầy đủ các quyền làm người tối thiểu và căn bản nhất như nhiều dân tộc trên địa cầu đang được thụ hưởng. Tình trạng nước Việt Nam hiện nay cũng giống với tình huống trên, tức là nhân dân đang phải ngắc ngoải tồn tại như thời đế quốc, thực dân, phong kiến cai trị xưa kia. Một khối, hay một tổ chức đấu tranh với những cương lĩnh thíêt thực là điều cần phải có và hết sức cần thiết. Chúng nói lên rằng tinh thần người Việt ta không thể bị đồng hoá, bị khuất phục bởi một sức mạnh ngoại bang nào. Có thể chúng ta đang yếu dần tinh thần đó, dân khí đó ...Thế nhưng một khi tinh thần đấu tranh nêu ra trong cương lĩnh của khối 8406 hay của Phong trào dân chủ Việt Nam sẽ lại là động lực để tinh thần đó dâng lên, cao thêm ....

Thực tế cho thấy chân lý sau đây vẫn hoàn toàn đúng đắn trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử và ở bất cứ quốc gia nào :

Nơi nào có bất công
Ở đó còn có đấu tranh
Hay : có áp bức thì có đấu tranh


Đảng cộng sản càng đàn áp thì người dân càng thức tỉnh và tinh thần đấu tranh sẻ tăng thêm. Đó là chính dấu hiệu đầu tiên của sự chín mùi về chính trị, nó biểu hiện sự đánh giá đâu là thời cơ chính trị và cho phép hành động ra sao. Đảng CSVN đã, đang áp bức cả dân tộc Việt thì cả dân tộc này phải đứng lên đấu tranh chống đảng CS độc tài áp bức !!!

Trên tinh thần các điều khoản đã đề ra của khối 8406, nên tôi nhận thấy phù hợp với tình hình bi thảm của xã hội Việt Nam. Vì thế nay tôi tình nguyện tham gia vào Phong trào đấu tranh dân chủ tự do và khối 8406 này kể từ hôm nay sau khi tôi đã đọc, nghiên cứu kỹ các văn kiện của tổ chức đấu tranh này như các văn bản sau đây :

- Mục tiêu đấu tranh là thay thế triệt để thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, phi dân chủ, phản dân tộc, không chấp nhận sự cạnh tranh của các chính đảng khác trên chính trường hiện nay bằng thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ.

- Phương pháp đấu tranh là mọi phương pháp mà các cá nhân, tập thể, tổ chức bất bạo động đã sử dụng kiến hiệu từ lâu nay trên thế giới, đặc biệt nơi thánh Gandhi, luật sư Martin Luther King, phong trào dân chủ tại Đông Âu các năm 1989-1991 và phong trào dân chủ tại Việt Nam hiện giờ.

- Lực lượng của cuộc đấu tranh là đại bộ phận dân tộc Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước, bao gồm mọi giới : trí thức, viên chức, văn nghệ sĩ, thương nhân, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, sinh viên, học sinh… và cả 2 lực lượng quân đội lẫn công an mà hiện nay cũng thuộc tầng lớp bị trị. Ngoài ra còn có cộng đồng thế giới dân chủ tiến bộ. Tất cả làm thành sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

- Động lực đồng thời là khối tiên phong của cuộc đấu tranh là tầng lớp sĩ phu chân chính trong giới trí thức và giới tu hành vốn không chịu thờ ơ, vô cảm trước khổ đau của đồng bào và đồng loại để chỉ chăm lo cho bản thân hay cộng đồng mình.

- Đối tượng của cuộc đấu tranh là các thế lực độc tài, phản dân chủ đang nắm thực quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay và những thành phần cấu kết với họ để chia chác quyền lực và quyền lợi. Thế lực này đang thiết lập và duy trì ách thống trị của họ một cách hết sức bất lương và tàn ác lên đầu lên cổ dân tộc, đang vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn mình mà chà đạp thô bạo quyền lợi chính đáng của tuyệt đại đa số nhân dân! Chính họ đang bất chấp sự tụt hậu của quốc gia, sự suy vong của giống nòi mà phớt lờ ý chí và nguyện vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam hôm nay là thực sự dân chủ hoá đất nước! Vì vậy, trong lòng dân tộc hiện thời, đang có mâu thuẫn lớn lao và cơ bản giữa giai cấp thống trị thiểu số cực kỳ tham lam, tàn ác, sống xa hoa phè phỡn, với giai cấp bị trị chiếm đại đa số đang sống rên xiết lầm than như nô lệ.

- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh là chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, tiến bộ nhất định thắng lạc hậu và chí nhân nhất định thắng bạo tàn !

Sau cùng khi được tham gia vào Phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam như hiện nay và cũng là thành viên chính thức của Khối 8406, tôi xin tự nguyện tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc tranh đấu vì ích lợi dân tộc mà tổ chức đã đề ra. Tôi nguyện cống hiến hy sinh hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ vì tinh thần dân tộc và vì đất nước Việt Nam thân yêu. ....

Sau cùng tôi có lời trân trọng cám ơn nhà báo tự do Nguyễn Khắc Toàn – Tổng biên tập Tập san Tự Do Dân Chủ, ông cũng là một trong những thành viên tham gia sáng lập khối 8406 đã hướng dẫn, chỉ bảo cá nhân tôi đi vào Phong trào tranh đấu đòi dân chủ, tự do trong mấy tháng qua. Đặc biệt là, chính nhà bất đồng chính kiến này đã góp ý, sửa chữa cho bản tuyên bố gia nhập Cao trào đấu tranh vì mục tiêu ngời sáng chính nghĩa của đại khối dân tộc Việt Nam thêm hoàn chỉnh. Cuối cùng một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý vị đã quan tâm đọc nội dung tuyên bố này của tôi.

Tôi cũng trân trọng cám ơn các nhà tu hành góp phần dấn thân đấu tranh bất khuất cho dân chủ tự do, nhân quyền của dân tộc, và quyền tự do tôn giáo rất nổi tiếng, như các linh mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Không Tánh đã chia sẻ, động viên tôi rất tận tình khi có dịp vào thăm các vị này tại thành phố Huế mới đây hồi tháng 4 năm 2010.

Viết nhân kỷ niệm ngày nhà nước độc tài cộng sản Trung Quốc đã huy động quân đội, xe tăng, cảnh sát, công an tiến hành đàn áp đẫm máu giết hại hàng ngàn sinh viên, thanh niên tuổi trẻ biểu tình tay không đòi dân chủ, tự do trên Quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh đêm rạng sáng ngày 4/6/1989

Hà Nội ngày 4 tháng 6 năm 2010
Người viết : Trần Văn Huy
Địa chỉ : số nhà 25, ngõ 553/14 đường Nguyễn Khoái, quận Hoàng Mai, TP – Hà Nội.
Điện thoại liên lạc : 0917-512-863
Email hiện nay : tranvanhuy1977@gmail.com
Blogg cá nhân : well come to viet nam blog
Diễn đàn: hội ngộ ly tao – http:// hoingo.aimoo.com

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Mỹ tính gì ở Biển Ðông?

Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Nhật báo Người Việt viết thư nêu ý kiến rằng nước Mỹ sẽ chẳng đời nào để tâm đến những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc; lý do là vì Mỹ đã “nhường Việt Nam cho Trung Cộng” từ khi ông Nixon đi Tầu năm 1972 rồi. Vị độc giả nêu thêm một bằng cớ: Năm 1974 quân Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa; trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị tàn sát thì Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ đứng ngoài không can thiệp mặc dù lúc đó nước Mỹ vẫn là đồng minh. Không những thế, khi tầu Việt Nam bị đánh chìm các sĩ quan đã điện xin chiến hạm Mỹ đến vớt các thủy thủ lênh đênh trên mặt biển, họ hoàn toàn bất động.

Ai cũng phải tức giận trước thái độ làm ngơ vô tình của Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ khi không cho tầu đi cứu vớt các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam. Không biết họ có lý do kỹ thuật nào để từ chối hay không; nhưng thái độ đó không thể nào tha thứ được.

Nhưng về mặt chính trị thì chúng ta hiểu tại sao chính phủ Mỹ quyết định đứng ngoài không can thiệp vào vụ Hoàng Sa năm 1974. Về mặt ngoại giao cũng như trên mặt chiến lược, nước Mỹ không thấy lý do nào đủ mạnh để can thiệp vào vụ Hoàng Sa.

Lúc đó chính phủ Nixon đã quyết định rút khỏi Việt Nam rồi. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống, ông Richard Nixon đã cho cố vấn Henri Kissinger đến gặp riêng đại sứ Nga tại Washington, yêu cầu chính phủ Nga đừng làm gì ảnh hưởng tới cuộc bầu cử năm đó. Ông Kissinger nói với Ðại Sứ Dobrynin rằng ông Nixon chắc chắn sẽ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Và ông nhấn mạnh: Sau đó chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam ra sao, Mỹ cũng không quan tâm, “dù đó là một chế độ cộng sản.” Ðại Sứ Anatoliy F. Dobrynin đã nhắc đến những lời Kissinger cam kết như vậy 2 lần trong cuốn hồi ký của ông ta in năm 1995; ông kể đủ chuyện về 24 năm làm đại sứ, qua sáu đời tổng thống Mỹ từ 1962 đến 1986 (ông mới qua đời năm 2010).

Năm 1974, sau khi Kissinger đã ký hiệp định Paris để rút quân, chính phủ Mỹ coi những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng không dính líu đến họ. Vào năm 1974, chính phủ Mỹ có thể đã nhìn trước thấy trước sau miền Nam sẽ bị cộng sản chiếm. Họ không thể vì bênh vực một quốc gia sắp rơi hoàn toàn vào tay một chính quyền cộng sản mà đi gây thêm rắc rối với Trung Quốc, một nước mà họ đang ve vãn để cùng hợp tác chống Nga Xô!

Từ thời gian đó cho tới gần đây, nước Mỹ vẫn giữ thái độ đứng ngoài mọi tranh chấp giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Vùng Biển Ðông là địa bàn tranh chấp giữa hai nước cộng sản đó, nước Mỹ không dính vào, trừ khi có chuyện nào liên hệ tới quyền lợi của các nước Ðông Nam Á và các nước đồng minh của Mỹ như Ðài Loan, Nhật Bản hoặc Nam Hàn. Ngay cả sau khi chính phủ Mỹ đã mở bang giao với cộng sản Việt Nam, các vị tổng thống Mỹ như Clinton, Bush, đã đến thăm Việt Nam và giúp Việt Nam vào tổ chức Thương Mại Thế Giới, chính phủ Mỹ luôn công khai đứng ngoài trước các tranh chấp giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Nhưng trong tuần qua, có những dấu hiệu cho thấy chính sách của Mỹ đang thay đổi, qua các hành động và lời tuyên bố của ông bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông Robert Gates đã nhân cuộc họp mặt ở Singapore về các vấn đề an ninh khu vực để gặp riêng bộ trưởng quốc phòng của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Hành động này có thể chỉ được coi là một cử chỉ xã giao bình thường nếu không có những lời tuyên bố của ông Gates, rõ ràng nhắm vào Trung Quốc.

Ông Gates nói thẳng đến vùng Biển Ðông (thường gọi là Nam Hải của Trung Quốc). Ông nhấn mạnh rằng Biển Ðông là một vùng đang căng thẳng. Nước Mỹ tỏ ra không phải chỉ quan tâm đến phía Ðông Bắc Á Châu, nơi Bắc Hàn đang gây hấn, mà vẫn ngó về phía Nam. Nhưng ông Gates nói rõ: “Biển Ðông không phải chỉ là mối lo của các nước chung quanh,” mà còn đáng quan tâm đối với “các nước có quyền lợi kinh tế liên can” đến vùng này. Không nói ai cũng hiểu: Nước Mỹ nằm trong các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng này. Nước Mỹ phải có mặt trong vùng Biển Ðông để bảo vệ các quyền lợi đó.

Ông Gates nhắc lại chính sách của Mỹ là “ổn định, bảo đảm quyền tự do đi lại và quyền phát triển kinh tế của các nước trong vùng Biển Ðông không bị ngăn cản.” Ðó chỉ là những nguyên tắc chung chung, không đủ để khiến cho Trung Quốc coi là có thái độ khiêu khích họ. Hai điều ai cũng có thể nói và ai cũng đồng ý: Cần ổn định và tự do sử dụng đường biển nối liền vùng Ðông và Nam Á Châu với Âu Châu và thế giới dầu lửa Á Rập.

Nhưng có một điều mới mẻ: Ðây là lần đầu tiên một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhấn mạnh thêm đến “quyền phát triển kinh tế không bị ngăn cản” của các quốc gia trong vùng Biển Ðông. Và ông ta nói trong một hội nghị về an ninh trong vùng.

Tại sao nhắc đến quyền lợi kinh tế? Vì, cũng trong câu chuyện ngày Thứ Bẩy vừa qua, ông Robert Gates nhắc đến chính sách Mỹ là phản đối tất cả mọi hăm dọa đối với các công ty năng lượng dầu khí của Mỹ hay của bất cứ nước nào khác, đang hoạt động trong khu vực này. Ðiều này rõ ràng không thể nào hiểu lầm được: Ông Gates ám chỉ việc Trung Cộng ngăn cấm các công ty Mỹ dò tìm dầu khí ở trong vùng biển mà Việt Nam coi là thuộc hải phận của mình.

Năm 2007, Bắc Kinh đã làm áp lực đối với công ty British Petrolium Anh Quốc, buộc họ ngưng hợp đồng khai thác dầu khí với Việt Nam. Năm 2008, công ty Mỹ Exxon Mobil cũng phải rút lui không tìm mỏ dầu ở thềm lục địa Việt Nam nữa. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bó tay và kín miệng trước các hành động áp bức đó. Các công ty dầu khí quốc tế thì phải tự lo quyền lợi kinh tế của chính họ: Nếu không nghe lệnh Bắc Kinh, họ sẽ mất các hợp đồng với Trung Quốc, là một thị trường nhiều triển vọng tốt hơn gấp bội. Nhưng chính phủ Mỹ không thể làm ngơ, vì họ chịu trách nhiệm với Quốc Hội Mỹ, nơi các công ty dầu lửa không ngừng vận động hành lang. Năm ngoái, nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ đã bị các đại biểu Quốc Hội chất vấn về hiện tượng Trung Cộng ngăn cản các công ty Mỹ khi khai thác trong vùng Biển Ðông của Việt Nam.

Bây giờ, chính một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã đề cập tới vấn đề này, tại một hội nghị quốc tế về vấn đề an ninh trong vùng Ðông Nam Á. Cho nên, chúng ta có thể thấy một bước chuyển biến mới trong chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ. Họ xác định quyền lợi kinh tế của nước Mỹ trong vùng biển mà trước đây họ coi như các tranh chấp ở đó hoàn toàn là vấn đề của các nước chung quanh, nước Mỹ đứng xa không can thiệp. Ông Robert Gates xác định: Nước Mỹ có những quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Ðông. Và người đại diện chính phủ Mỹ nói thẳng điều này với đại diện của chính phủ Bắc Kinh. Thử nhớ lại, năm 1974 chính phủ Nixon bỏ rơi các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam cho quân Trung Cộng tàn sát, 7 tháng trước khi ông Nixon từ chức. Ba mươi sáu năm sau, một chính phủ Mỹ khác xác định họ sẽ bảo vệ quyền lợi của các công ty dầu khí Mỹ trong vùng Biển Ðông, không cho Trung Cộng ngăn cản. Ðây là một bước rẽ mới. và cũng là một cơ hội mà bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng nên bắt lấy, nếu họ thực sự lo cho quyền lợi của nước Việt Nam chứ không quá hèn nhát chỉ lắng nghe theo những ý kiến từ Bắc Kinh.

Ðể tạo thêm sức nặng cho những lời nói trên đây, ông Robert Gates còn nói thêm rằng chính phủ Mỹ khẳng định lại các cam kết lâu dài của họ tại Châu Á. Hơn nữa, họ tiếp tục gia tăng và mở rộng các liên minh cũng như các quan hệ trong khu vực này. Nhắc lại: gia tăng và mở rộng các liên minh ở Á Châu. Bài nói chuyện của ông Gates còn nhấn mạnh rằng chính sách an ninh của chính phủ Mỹ đang “mở rộng về mặt địa lý,” cứng rắn hơn về lập trường, và bền chắc hơn về chính trị (một câu nói khá mơ hồ cho mọi người tự tìm cách diễn giải).

Những lời tuyên bố của ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ không chỉ nhắm riêng vào mối xung đột giữa Trung Cộng với Việt Nam, mà còn nhắn nhủ chung cho các nước Ðông Nam Á khác. Từ nửa thế kỷ nay, nước Mỹ vẫn đánh lá bài “mối đe dọa của Trung Cộng” đối với các nước trong vùng này. Ðến nay, lá bài đó vẫn còn có giá trị trong việc khích động các chính phủ và người dân Á Châu. Họ vẫn thấy phải có lá dù che chở của nước Mỹ. Nếu không, các nước từ Nhật Bản, Nam Hàn, đến Indonesia, Phi Luật Tân sẽ phải tốn rất nhiều tiền để vũ trang, có nước sẽ làm bom nguyên tử!

Các nước Ðông và Nam Á đã được hưởng một thời gian kéo dài một thế hệ, từ 1955 đến 1985, khi Trung Cộng và Việt Cộng bị cầm chân trong cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh giữa các nước cộng sản Việt, Hoa và Campuchia. Trong thời gian đó các chế độ cộng sản không thể thúc đẩy mạnh các phong trào nổi loạn ở các nước trong vùng Ðông Nam Á. Chính nhờ 30 năm đó mà các quốc gia, từ Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, vân vân, có thời gian để phát triển kinh tế; nối gót Ðài Loan, Nam Hàn, và Hồng Kông. Một khi kinh tế đã phồn thịnh cho người dân đủ sống thì họ được bình yên vì chủ nghĩa cộng sản hết hấp dẫn.

Thêm một thế hệ nữa đã qua, đến năm 2010 này, ông Robert Gates nhắc lại sự có mặt của nước Mỹ trong vùng Biển Ðông. Trong lúc đó, mối đe dọa của chính sách bành trướng của Trung Cộng còn lộ liễu hơn, mặc dù đã chuyển từ chính sách gây bạo loạn cách mạng vô sản sang chủ trương liên kết kinh tế trong hòa bình. Nhưng đối với các nước Ðông Nam Á, đây là những lời cam kết mới của chính phủ Mỹ, chứng tỏ họ sẵn sàng giúp các nước vùng Biển Ðông đứng vững trước áp lực của Trung Cộng. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước phải nhìn thấy đây là một cơ hội phải bắt lấy. Nước Việt Nam không bao giờ nên liên kết với một cường quốc ở xa để khiêu khích hoặc gây hấn với nước láng giềng to lớn phương Bắc. Nhưng Việt Nam phải lợi dụng ngay bất cứ cường quốc nào, khi thấy họ có quyền lợi giống như mình vì phải cùng đối phó với chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Khủng hoảng kinh tế: Liên đới giữa Hoa Kỳ-Âu Châu-Trung Quốc

Ðoàn Hưng Quốc

Việc đơn vị tiền tệ Euro bị chao đảo cho thấy hệ thống tài chánh thế giới còn lệ thuộc vào đồng đô-la và sức kéo của nền kinh tế Mỹ trong tương lai lâu dài.

Nói như vậy không có nghĩa là Hoa Kỳ không có nhiều khuyết điểm: Nạn lạm chi trong ngân sách liên bang và ngân quỹ gia đình lên quá cao; tổ chức kiểm soát hệ thống tài chánh và ngân hàng mang nhiều sơ hở và bị lạm dụng.
Image
Hình minh họa. (Hình: Getty Images)
Nhưng khi Âu Châu rơi vào khủng hoảng và sa lầy trong cách thức giải quyết thì thế giới không còn nơi nào khác để nương tựa ngoại trừ đồng đô-la. Nếu nền kinh tế Hoa Kỳ chưa đủ hồi phục và bị kéo vào suy thoái bởi Âu Châu thì thế giới có cơ nguy rơi vào Ðại Khủng Hoảng.

Cho đến nay điểm tựa cuối cùng của hệ thống thương mại và tài chánh thế giới vẫn là đồng đô-la, bên sau đó là sự bảo đảm của chính quyền Hoa Kỳ và công khố phiếu do Mỹ ấn hành. Cho dù thịnh hay suy lúc nào cũng có người cho vay tiền vì đây là chốn tin cậy duy nhất sẽ không bị xóa nợ - nhưng bao giờ nợ được trả lại là việc khác!

Hai khối làm tiền hàng đầu là Trung Quốc và Trung Ðông tin Hoa Kỳ hơn là vào chính họ, nên thặng dư thì đầu tư và mua công phiếu của Mỹ chớ không giữ hết tiền trong nước, dù biết rằng cho vay càng nhiều càng khó rút lại!

Riêng Trung Quốc thặng dư thương mại khoảng 2,400 tỉ lại không dùng để nâng cao đời sống của 800 triệu người dân dưới ngưỡng nghèo khó. Ngược lại Bắc Kinh cho Hoa Kỳ vay 900 tỉ, ít nhất đây là tài khoản mà nhà nước còn kiểm soát được. Theo vài tín toán thì trên dưới 1,000 tỉ nằm trong tay các xí nghiệp hay giới tài phiệt hiện đang bơm các quả bóng địa ốc và đầu cơ cổ phiếu, số còn lại vài trăm triệu để Bắc Kinh xoay sở khi có khủng hoảng. Trong khi đó hàng trăm triệu công nhân bị trả lương giá rẻ mạt và không có bảo hiểm tai nạn hay thất nghiệp, người già phụ nữ không có phụ trợ sức khỏe xã hội.

Vì Trung Quốc không mở cửa thị trường tiêu thụ và nâng cao đời sống dân chúng nên hàng hóa sản xuất chủ yếu bán sang Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản. Nhưng giờ đây nền kinh tế của Nhật Bản giậm chân một chỗ; Âu Châu bị khủng hoảng, Hoa Kỳ chập chững ra khỏi suy thoái, xuất cảng từ Trung Quốc không khỏi bị ảnh hưởng.

Tiền Euro sụt giá khiến hàng Trung Quốc và Hoa Kỳ trở nên mắc mỏ so với Âu Châu. Mỹ lại cần tăng sản xuất để tạo công ăn việc làm cho 10% dân chúng bị thất nghiệp, nếu không áp lực được Bắc Kinh lên giá đồng Nhân Dân Tệ thì sẽ phải tăng thuế nhập cảng. Nhưng nếu Bắc Kinh tăng giá tiền 20% cũng bằng xóa sổ 480 tỉ trong khoản thặng dư 20 năm nay (vì tiền dư tính bằng đô-la), đồng thời hàng hóa lại càng khó xuất cảng ra Hoa Kỳ, Âu Châu, Nhật Bản. Quả bóng địa ốc tại Trung Quốc hiện căng phòng, dân chúng đang bất mãn nên dễ châm ngòi cho khủng hoảng.

Không ai biết liệu các khu vực kinh tế chủ động có nhân nhượng và hợp tác để giả quyết bài toán cực kỳ khó khăn này hay không? Nhiều biện pháp phải xảy ra đồng loạt:

1. Âu Châu, mà chủ yếu là Ðức, vừa phải bỏ ngân quỹ hỗ trợ cho các xứ phía Nam (cứu vãn đồng Euro) vừa phải chịu lạm chi để duy trì sức tiêu thụ (tạo công ăn việc làm).

2. Mỹ phải gánh con số thất nghiệp cao trong nhiều năm nữa, bằng không khu vực xuất cảng toàn cầu sẽ bị sức ép cạnh tranh quá mạnh từ cả ba khối Âu Châu-Trung Quốc-Hoa Kỳ.

3. Trung Quốc cần mở rộng thị trường nội địa và nâng cao đời sống dân chúng, mặc khác Bắc Kinh phải thận trọng cho gói kích cầu không rơi vào thiểu số đầu cơ bơm vào bóng địa ốc và cổ phiếu vốn đã căng phòng.

Mỗi giải đáp cho bài toán kinh tế đều có những hệ lụy xã hội: Liệu dân Ðức có phản đối điều mà họ cho là bất công khi phải giúp đỡ các nước Nam Âu tiêu xài phung phí? Liệu người Hy Lạp, Tây Ban Nha v.v... có chấp nhận được các biện pháp khắc khổ ngặt nghèo? Liệu dân Mỹ có đòi thay đổi khi phải thất nghiệp quá lâu? Liệu Bắc Kinh và giới tài phiệt Trung Quốc có chấp nhận chia sẻ phúc lợi xã hội với dân chúng thay vì phục vụ thiểu số?

Trong những ngày gần đây công nhân Trung Quốc đình công, sau đó được các hãng Honda, Foxconn cho tăng lương; Bắc Kinh nâng mức lương tối thiếu lên 20%; đây là những bước nhỏ để hỗ trợ tiêu thụ. Trong khi đó Ðức sẽ giảm chi 80 tỉ Euro trong ba năm. Hai cường quốc kinh tế Âu-Á chọn các bước trái ngược dưới áp lực của quần chúng trong nước. Bài toán kinh tế và xã hội dính liền và rất khó giải quyết.

(Nguồn: Thông Luận 2010)

Post Reply