Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Đi Đâu Cũng Bị Phản Đối Trong năm nay (2010), sẽ có hai Hội nghị thượng đỉnh G20. Canada được uỷ nhiệm tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất năm 2010 vào hai ngày 26 và 27 tháng 6 tại Toronto. Hội nghị thượng đỉnh G20 lần thứ hai trong năm 2010 sẽ diễn ra vào tháng 11 tại Seoul, Đại Hàn.

Tổ chức G20 là diễn đàn của đại biểu 19 nước có nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu và đại biểu Liên hiệp Âu Châu (European Union hay EU). Mười chín nước đó là (theo thứ tự ABC): Argentina, Australia, Brazil, Canada, China, France, Germany, India, Indonesia, Italy, Japan, Mexico, Republic of Korea, Russia, Saudi Arabia, South Africa, Turkey, United Kingdom, United States of America. Đại biểu 19 nước nầy cùng vớp đại biểu EU họp thành G20.

Hội nghị G20 đầu tiên được tổ chức tại Berlin trong hai ngày 15 và 16-12-1999 do hai bộ trưởng Tài chánh Cộng Hòa Liên Bang Đức và Canada chủ trì. Tổ chức G20 hiện gồm hai hội nghị: Hội nghị thường niên cấp bộ trưởng tài chánh và thống đốc ngân hàng trung ương, và Hội nghị thượng đỉnh gồm nguyên thủ các quốc gia trong G20. Tổ chức G20 không có uỷ ban thường trực mà chỉ có chủ tịch luân phiên hàng năm. Chủ tịch G20 đầu tiên (1999-2001) là Canada, sau đó là Ấn Độ (2002), Mexico (2003), Đức (2004), Trung Quốc (2005), Australia (2006), Nam Phi (2007), Brazil (2008), Anh (2009). Năm nay (2010), chủ tịch G20 là Cộng Hòa Hàn Quốc (Đại Hàn hay Nam Hàn) và năm 2011 sẽ là Pháp.

Ngoài 20 thành viên thường trực, ngày 8-5-2010, Văn phòng thủ tướng Canada là Stephen Harper thông báo sẽ mời thủ tướng năm nước đến dự thính Hội nghị G20 trong hai ngày 26 và 27-6-2010 với tư cách là quan sát viên. Đó là các nước (theo thứ tự ABC): Ethiopia, Malawi, Netherland (Hòa Lan), Spain (Tây Ban Nha) và Việt Nam. Việt Nam được mời vì năm nay (từ 01-01-2010 đến 31-12-2010) Việt Nam là chủ tịch luân phiên của Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) tức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á.

Chắc chắn sẽ có nhiều cuộc biểu tình của cộng đồng các sắc dân tại Canada và trên thế giới chống đối Hội nghị thượng đỉnh G20. Rút kinh ngiệm từ việc bảo vệ an ninh Thế vận hội mùa đông Vancouver vừa qua, chính quyền Canada đã lo chuẩn bị những biện pháp an ninh cần thiết từ đầu tháng 6 để bảo vệ Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Toronto.

Những cuộc biểu tình nầy có nhiều mục đích khác nhau. Tựu trung có thể có hai nhóm chính: Biểu tình vì kinh tế, chống chủ trương toàn cầu hóa; và biểu tình vì chính trị, chống các chế độ độc tài đàn áp.

Riêng trường hợp Việt Nam, trước đây, nhân hội nghị APEC tại Việt Nam tháng 11-2006, thủ tướng Stephen Harper đã tuyên bố ở Hà Nội rằng: "Canada muốn phát triển giao thương với thế giới. Nhưng tôi không tin rằng người Canada chúng tôi muốn bán khoán các giá trị Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để lấy đồng đô la.” (DCVOnline.net ngày 19-11-2006.)

Cũng theo nguồn tin nầy, trong cuộc gặp tay đôi tại Hà Nội với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 17-11-2006, thủ tướng Canada đã đề cập đến các vấn đề nhân quyền, tự do báo chí và ông Harper đã đưa ra 10 trường hợp tiêu biểu về những người bị bắt giam vì bất đồng chính kiến, vì vận động dân chủ hay hoạt động tôn giáo…

Không phải tại nơi nào khác, mà ngay tại Hà Nội ông Stephen Harper công khai tuyên bố như thế, đồng thời đề cập đến những tù nhân lương tâm với Nguyễn Tấn Dũng, chứng tỏ rõ ràng rằng trong việc tổ chức Hội nghị G20 tại Toronto, người mời (Stephen Harper) đã biết rõ khách mời (thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng) là kẻ đứng đầu một bộ máy cai trị đàn áp nhân quyền và không có tự do dân chủ, nhưng vì thủ tục của G20, Canada vẫn phải mời chủ tịch luân phiên của tổ chức ASEAN, chứ không phải vì Việt Nam là một nước kinh tế phát triển.

Cần chú ý mục đích của Hội nghị G20 là tìm kiếm những phương sách phát triển kinh tế toàn cầu một cách bền vững lâu dài. Muốn phát triển kinh tế, không phải nước nào muốn là được, mà còn cần phải có nhiều điều kiện kinh tế và môi trường chính trị thuận lợi cho sự phát triển.

Trong thời gian chiến tranh, Hoa Kỳ quyết định cấm vận Bắc Việt Nam từ năm 1964. Hoa Kỳ cấm vận trong thời gian nầy ít ảnh hưởng đối với BắcViệt vì Bắc Việt theo nền kinh tế cộng sản chỉ huy và Bắc Việt chỉ giao dịch và xin viện trợ các nước trong khối cộng sản. Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Hoa Kỳ tiếp tục cấm vận Việt Nam. Việc cấm vận nầy khiến cộng sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn kinh tế, nhất là từ khi khối Liên Xô sụp đổ vào đầu thập niên 90.

Sau những cuộc thương lượng lâu dài, ngày 3-2-1994, tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận chế độ Việt Nam. Năm sau, ngày 11-7-1995, cũng tổng thống Bill Clinton quyết định tái lập bang giao với Việt Nam. Ngày 7-11-2006, Việt Nam được chấp nhận gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization = WTO), và chính thức trở thành hội viên thứ 150 của WTO kể từ 11-1-2007.

Trở thành hội viên WTO, bước vào dòng sinh hoạt thế giới, đáng lẽ Việt Nam phải dần dần thay đổi chính sách, mở rộng tự do dân chủ, tạo điều kiện để phát triển chẳng những về kinh tế mà cả mở rộng chính trị, nhằm hỗ trợ cho sự thăng tiến kinh tế.

Trong khi đó, từ năm 1994 (Hoa Kỳ bỏ cấm vận) hay 2007 (vào WTO), tuy Việt Nam đã nới rộng phần nào những hoạt động kinh tế, nhưng vẫn không buông lỏng sự kiểm soát chính trị, vẫn đàn áp những nhà bất đồng chính kiến, vẫn mở thêm nhà tù.

Trước hết, điều 4 hiến pháp năm 1992 hiện vẫn đang còn áp dụng tại Việt Nam ghi rằng: "Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, có nghĩa là đảng Cộng Sản vẫn độc tôn quyền lực, độc đảng, độc tài toàn trị. Về kinh tế, bên bờ suy sụp toàn diện sau 10 năm thực hiện kinh tế chỉ huy theo đường lối CS từ năm 1975 trên toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN bắt buộc phải “đổi mới” từ năm 1985 để tự cứu mình, phần nào mở rộng hơn trước, nhưng vẫn chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là vẫn do đảng CSVN chỉ huy theo đường lối cộng sản. Như thế, về chính trị và kinh tế, Việt Nam hiện nay trước sau vẫn là một nước cộng sản.

Vì chủ trương độc đảng, độc tài toàn trị nên hiện nay ở trong nước không có tự do dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, không có tự do thông tin, không có tự do giáo dục. Cho đến hôm nay, đã 10 năm qua thế kỷ 21, mà ở Việt Nam vẫn chưa có báo tư nhân. Khoảng 100 tờ báo ở trong nước hoàn toàn do các cơ quan nhà nước kiểm soát, chỉ là cái loa với nhiều âm lượng khác nhau phát ra từ Bộ chính trị đảng CSVN. Dù là báo của nhà nước, những ai viết báo ra ngoài chỉ thị của nhà nước đều bị bắt giam.

Tất cả những điều trên không cần phải chứng minh dài dòng; chỉ cần nhìn hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng hoặc đọc tin các nhà văn, các ký giả , các nhà nhà hoạt động dân chủ trong nước bị bắt giam là đủ rồi. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có tự do ăn chơi, tự do đàng điếm, tự do tham nhũng. Không có tự do dân chủ thì không thể có thảo luận tranh cãi, không thể có sáng kiến, không thể có cạnh tranh, thì làm sao có tiến bộ? Không có tự do thông tin, không có tự do báo chí thì lấy ai để theo dõi, thông tin, nhận xét, phê bình hoạt động kinh tế?

Ngành giáo dục Việt Nam hiện nay sa sút trầm trọng. Sa sút về mọi mặt. Chương trình học tập, phương pháp giảng dạy, trình độ giáo sư, kết quả học sinh, tất cả đều sa sút. Ở đại học, phải là đảng viên mới được phong hàm giáo sư. Những người học vị cao, chuyên môn giỏi, nhưng không vào đảng, thì không bao giờ được phong hàm giáo sư. Đó là chưa kể cảnh bán bằng cấp, bán bài vở, bán đề thi xảy ra khắp nơi, từ đại học xuống trung học. Với một nền giáo dục như thế, làm sao đào tạo được nhân tài để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh?

Nhiều người du lịch Việt Nam nhận thấy hiện nay, các thành phố được mở mang, sinh hoạt tấp nập, nên vội cho rằng Việt Nam bắt đầu thay da đổi thịt. Tuy nhiên xin lưu ý là sau 35 năm hòa bình với bao nhiêu viện trợ quốc tế, mà Việt Nam chỉ đạt được chừng đó tiến bộ hay sao? Trong thời gian chiến tranh, miền Nam Việt Nam đã đứng trên những nước Đông Nam Á. Ba mươi lăm năm hòa bình, Việt Nam tụt hậu và thua xa cả hàng vài chục năm các nước lân bang. Và cũng xin lưu ý là những phồn vinh giả tạo hiện nay chỉ diễn ra ở thành phố, cho tầng lớp đảng viên CSVN và những thành phần chung quanh đảng hưởng thụ, trong khi đại đa số nông dân vẫn phải lầm than cơ cực ở miền nông thôn nghèo đói. Sự cách biệt lợi tức đồng niên giữa thành phố và nông thôn càng ngày càng lớn rộng.

Một điều hết sức tệ hại là đảng CSVN đã lợi dụng những cải cách kinh tế để tham nhũng, mang lại lợi lộc riêng cho giới đảng viên cầm quyền. Chuyện ép dân, cướp đất bán cho người nước ngoài, nói là để mở mang thương mại là chuyện “thường ngày ở huyện”. Nguy hiểm hơn nữa là đảng CSVN vốn tùng phục Trung Quốc nhằm củng cố quyền lực, nay núp dưới chiêu bài gọi là phát triển kinh tế, đã không ngại thực hiện những dự án kinh tế rất nguy hiểm về môi trường và an ninh cho các thế hệ tương lai. Điển hình nhất là chương trình giao cho người Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây nguyên, kế hoạch cho người Trung Quốc thuê dài hạn vùng núi đồi miền biên giới…

Muốn phát triển kinh tế, thì điều kiện căn bản tiên quyết là phải có tự do dân chủ. Chưa có tự do dân chủ, mà vẫn độc đảng, độc tài toàn trị, đàn áp nhân quyền và dân quyền, tùy tiện bắt giam những người bất đồng chính kiến, kể cả những người yêu nước, phản đối Trung Quốc xâm lược, thì không thể nói đến chuyện phát triển, và nếu có phát triển thì phát triển lệch hướng, nhằm phục vụ cho đảng CSVN và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN, chứ không phục vụ lợi ích chung cho dân tộc, cho đất nước.

Hình ảnh Việt Nam ngày nay đúng như sự mô tả của điều 9 Nghị quyết 1481 của Quốc hội châu Âu tại Strasbourg ngày 25-1-2006: "Các chế độ toàn trị cộng sản vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và vẫn tiếp tục gây ra tội ác.” (Bản Anh ngữ: “Totalitarian communist regimes are still active in some countries of the world and crimes continue to be committed.”)

Trong hoàn cảnh như thế, Việt Nam làm thế nào có thể phát triển kinh tế bền vững đúng hướng được. Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Toronto dự thính Hội nghị G20 chẳng ích lợi gì cho sự phát triển kinh tế Việt Nam vì guồng máy kềm kẹp của đảng CSVN vẫn không thay đổi, tiếp nghiền nát tất cả những cải cách, những sáng kiến nào có hại cho quyền lợi của tập đoàn lãnh đạo CSVN. Muốn phát triển kinh tế, trước tiên phải dẹp bỏ guồng máy nầy đi.

Tuy nhiên, vì “vẫn tiếp tục gây ra tội ác”, người ta không lấy làm lạ bất cứ viên chức CSVN nào ra nước ngoài cũng đều bị đồng hương phản đối. Viên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đứng đầu một guồng máy cai trị “vẫn tiếp tục gây ra tội ác” ở Việt Nam, đến dự thính với tư cách quan sát viên trong Hội nghị thượng đỉnh G20 ngày 26 và 27-6-2010 lần nầy tại Toronto, chắc chắn sẽ bị đồng hương phản đối. Thật là nhục! ĐI ĐÂU CŨNG BỊ PHẢN ĐỐI.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nam Phi, tự do và hy vọng

Ngô Nhân Dụng
Dân chúng Cộng Hòa Nam Phi, 49 triệu người, có quyền hãnh diện khi một nửa nhân loại đang chăm chú theo dõi những trận đá trong Giải Bóng Tròn Thế Giới tổ chức ở nước họ, lần đầu tiên một quốc gia Phi Châu đứng ra tổ chức giải này. Nhưng đằng sau không khí lễ hội nhộn nhịp, khi cả thế giới nhìn về Nam Phi với lòng kính phục, người ta vẫn tự hỏi nước này đang thành công hay thất bại.

Nam Phi khác hẳn Việt Nam. Nước ta do một khối dân tộc cùng ngôn ngữ, cùng màu da lập nên, do nhu cầu tự nhiên phải đoàn kết chống lại một cường quốc phương Bắc. Nam Phi là một quốc gia rất “nhân tạo,” gồm nhiều bộ lạc da đen ngôn ngữ khác nhau, bên cạnh còn những “bộ lạc” khác gồm người da trắng, người Á Châu (Ấn Ðộ), người lai được gọi là “da màu.” Cách đây hơn ba thế kỷ, người Hòa Lan, Ðức, và người Anh Quốc tới đây khai khẩn thuộc địa, dần dần mảnh đất này thuộc quyền Ðế Quốc Anh. Nam Phi chỉ được thành lập 100 năm trước đây, khi những người gốc Hòa Lan thắng các toán lính thuộc địa. Ðó là những người Boers, sau này gọi là Afrikaners, với ngôn ngữ Afrikaan giống tiếng Hòa Lan thế kỷ 17, bây giờ cùng với tiếng Anh là hai trong 11 ngôn ngữ chính thức của quốc gia! Cùng lúc đó những người da đen cũng đứng lên đòi độc lập, do bộ lạc đa số Zulu khởi xướng, quy tụ trong Nghị Hội Quốc Gia Nam Phi (ANC).

Trong hơn ba thế kỷ, người da trắng coi dân da đen như một giống người thấp kém, không được hưởng những quyền bình đẳng với họ. Trong nửa thế kỷ sau cùng, người da trắng đã chính thức hóa độc quyền cai trị với chế độ phân biệt chủng tộc gọi là Apartheid. Cả thế giới phản đối chính sách đó, các cường quốc cùng nhau cấm vận Nam Phi, dần dần đưa kinh tế đến tình trạng suy sụp. Năm 1994, trong một cuộc trưng cầu dân ý dành riêng cho người da trắng thống trị, hai phần ba đã bỏ phiếu đồng ý bãi bỏ chế độ apartheid (một hành động ngoạn mục không khác gì bây giờ các đảng viên Cộng Sản ở Việt Nam bỏ phiếu xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp!)

Người da đen được tham dự một cuộc bỏ phiếu đầu tiên trong lịch sử của họ, và phong trào ANC đại thắng. Hai năm sau, Quốc Hội đã ban hành một bản hiến pháp mới, lúc đó có thể coi là một Cộng Hòa Nam Phi mới được khai sinh.

Bản hiến pháp Nam Phi có thể coi là tiến bộ nhất thế giới. Những quyền tự do và bình đẳng về chính trị, kinh tế, xã hội được công nhận và thể hiện trong luật pháp. Hiến pháp cấm mọi chủ trương phân biệt chủng tộc, bảo đảm quyền lợi của người da trắng, người Châu Á và da màu. Không những thế, mọi hành động kỳ thị về phái tính (nam, nữ), tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, tình trạng hôn nhân, cũng như kỳ thị người đồng tính luyến ái đều bị cấm. Mọi công dân đều bình đẳng và được pháp luật bảo vệ. Tổ chức quốc tế Nhà Tự Do (Freedom House) đánh giá Nam Phi là quốc gia có chỉ số tự do bằng 2, trong bậc thang từ 1 (tự do nhất) đến 7 (không tự do). Ðây là một điều đáng hãnh diện.

Từ năm 1994 đến nay, Nam Phi đã sống theo tinh thần bản hiến pháp mới. Người da trắng (9% trong dân số 49 triệu), người da màu (9%), người Á Châu (3%), được sống yên ổn cùng khối đa số da đen. Có những chính sách nhằm nâng đỡ người da đen, như giành ưu tiên chia cho họ một tỷ số công việc làm ở công sở và tại các công ty tư nhân; cũng giống như một chính sách áp dụng ở Mã Lai Á nhằm nâng đỡ người gốc Mã Lai vì họ khó cạnh tranh với người gốc Trung Hoa. Từ năm 1969, phong trào ANC đã thâu nhận cả người da trắng, để chứng tỏ họ không kỳ thị. Hiện trong chính phủ Nam Phi của Tổng Thống Jacob Zuma (mới đắc cử năm ngoái) có 4 người da trắng trong số 35 bộ trưởng. Có 9 người da trắng cầm quyền trong số 99 thủ tướng và bộ trưởng ở các tỉnh.

Phải công nhận tình trạng hòa hài trong cuộc sống Nam Phi đạt được là nhờ giới lãnh đạo phong trào trào ANC, đặc biệt là công của vị tổng thống đầu tiên, ông Nelson Mandela. Ông Mandela đã bị chính quyền Apartheid cầm tù nhiều năm, cho đến khi họ chịu xóa bỏ chính sách kỳ thị. Ông được cả thế giới ngưỡng mộ, đắc cử chức tổng thống, và giữ đúng chủ trương không kỳ thị, không thù hận người da trắng. Ông bảo vệ hệ thống hành chánh và nền tư pháp độc lập mà người da trắng đã thiết lập, sử dụng những người da trắng theo khả năng của họ. Nam Phi đã không rơi vào tình trạng rối loạn và suy sụp như nước láng giềng, xứ Zimbabwe. Ở Zimbabwe, sau khi người da đen giành được chính quyền năm 1980, ông Mugabe đã cai trị theo lối độc tài, theo những chính sách mị dân, gây thù hận người da trắng và giành mọi quyền lợi cho đàn em trong đảng ZANU dù đó là những người bất lực. Kinh tế Zimbabwe đã suy đồi, giai cấp thống trị mới là một guồng máy tham nhũng, lạm quyền trong khi dân chết đói. Ông Mandela đã rời bỏ chính quyền sau một nhiệm kỳ tổng thống, nêu tấm gương không tham quyền cố vị cho các nhà chính trị khác. Từ 16 năm nay, bốn vị tổng thống đều thuộc đảng ANC. Họ đều không bị quyến rũ bởi khuynh hướng độc tài mà lãnh tụ các nước Á Phi thường hay sa ngã. Các chính sách lớn của quốc gia thường được tham khảo với các nhà chính trị và chuyên gia ngoài đảng cầm quyền. Nhiều định chế kiểm soát lẫn nhau giúp ngăn chặn những hành động lạm quyền. Nam Phi có thể coi là một ngọn đuốc dân chủ cho một tỷ người ở Phi Châu trông vào.

Có một bản hiến pháp tiến bộ, một di sản chính trị tốt với các chính sách đứng đắn do Mandela để lại, nhưng nước Nam Phi vẫn chưa thực hiện được những ước mơ tự do và bình đẳng.

Một bản hiếp pháp dù tiến bộ đến đâu cũng không bảo đảm được là mọi người sẽ thay đổi tánh tình để sống đúng tinh thần bản hiến pháp đó. Những người cầm quyền rất dễ bị quyền hành làm hư hỏng. Nam Phi đang bị nạn tham nhũng thao túng không khác gì nhiều nước chậm tiến khác. Nạn tham nhũng bắt đầu từ chính những người “cách mạng” trong ANC. Ông Snuts Ngoyama, từng là phát ngôn viên của đảng cầm quyền vào năm 2007, đã nói: “Tôi không tham gia tranh đấu để sống nghèo mãi được!” Câu nói này cũng giống như lời cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt giải thích với một nhà kinh tế mà ông đang tham khảo ý kiến khi ông này than phiền về tình trạng đảng viên Cộng Sản tham nhũng. Ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc Ngân Hàng Trung Ương miền Nam, kể lại trong cuốn hồi ký của ông lời ông Kiệt giải thích rằng các cán bộ Cộng Sản đã chịu đựng gian khổ nhiều rồi, cũng nên cho họ cơ hội được hưởng thụ để đền bù lại!

Nhưng tại Nam Phi, đảng ANC không nắm tất cả mọi quyền lực như đảng Cộng Sản tại Việt Nam. Ngoài báo chí tự do, các đảng đối lập với chính quyền, còn có các cơ quan trừ tham nhũng độc lập trong guồng máy nhà nước.

Tổng TZuma công nhận tình trạng tham nhũng ở nước ông tệ hại hạng nhất thế giới. Ông hứa sẽ chấm dứt chế độ ban tổ chức cán bộ của ANC phân phối các đảng viên trung thành vào các cơ quan công quyền, bất chấp khả năng. Người đứng đầu cơ quan gọi thầu của Bộ Quốc Phòng, người cầm đầu hệ thống hỏa xa, người chỉ huy công ty hàng không đã bị cách chức. Chỉ huy trưởng cảnh sát toàn quốc đang bị đưa ra tòa về tội tham nhũng. Người đứng đầu Ủy ban Ðiều tra Tham nhũng tại Nam Phi, ông Willie Hofmeyr, cho biết có 400 ngàn công chức Nam Phi đã thụ hưởng những quyền lợi mà đáng lẽ họ không được hưởng. Có 6,000 công chức đã trốn không khai những việc góp vốn của họ vào các công ty tư nhân, mặc dù luật lệ bắt buộc phải khai báo. Nạn tham nhũng nặng nề nhất là trong ngành công chánh, khi giá thầu xây dựng được nâng lên để thâm lạm tiền công quỹ. Tham nhũng khó trị nhất là ở cấp chính quyền địa phương, nơi người dân ít có dịp lên tiếng qua báo chí. Nhiều cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra tại các tỉnh, chống tình trạng ‘con ông cháu cha,” quản lý sai lầm, và chính quyền không có khả năng.

Với một guồng máy chính quyền còn đầy tham nhũng như vậy, tình trạng giáo dục, y tế và xã hội không thể tiến bộ được, dù chính sách của chính phủ đứng đắn. Nam Phi chi hơn 6.4% tổng sản lượng nội địa vào việc giáo dục, một tỷ số cao nhất thế giới, chứng tỏ họ rất quan tâm tới tương lai quốc gia (tỷ lệ ở Việt Nam thấp hơn, khoảng 5.6% GDP vào năm 2006). Nhưng tình trạng giáo dục không tiến được vì nhân viên tham nhũng và kém khả năng. Chỉ có 10% các trường trung học có thư viện và phòng thí nghiệm khoa học. Có 800,000 sinh viên đại học nhưng cả nước chỉ có một đại học Cape Town được xếp hạng trong số 200 đại học tốt nhất thế giới (đại học tốt nhất Việt Nam ở Sài Gòn được xếp hàng 500 đến 600, theo báo chí ở trong nước). Tổng Thống Zuma đã đặt vấn đề cải tổ giáo dục là ưu tiên số một của chính phủ ông. Một biện pháp ông sẽ thi hành là tái lập hệ thống thanh tra giáo dục, như thời Apartheid vẫn có.

Tình trạng y tế ở Nam Phi cũng không tiến bộ được cũng vì thiếu người và tham nhũng. Một phần ba các chức vụ về y tế không tuyển được người làm, mặc dù chính phủ giành gần 9% cho y tế. Nạn AIDS (Sida) ở Nam Phi trầm trọng nhất thế giới. Tỷ số thất nghiệp ở Nam Phi cũng cao nhất trong số các nước đang lên. Nhiều người da đen đã bước vào tầng lớp trung lưu trong 16 năm qua, nhưng số người nghèo ở các vùng xa vẫn đông và ngày càng thua kém những người ở thành phố. Nam Phi đứng hàng thứ 24 về kinh tế trên thế giới, là thành viên của nhóm G20 gồm 20 quốc gia kinh tế cao, với lợi tức bình quân 10,000 đô la một năm cho mỗi người dân. Nhưng có tới 40% dân chúng sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày. Ða số là những người da đen sống ở các vùng thôn quê, ở một xứ mà chỉ có 12% đất đai là trồng trọt được. Với tình trạng bất công xã hội như vậy, nạn ma túy, trộm cắp và tội phạm lên cao.

Với những vấn đề xã hội còn nặng nề như vậy, Nam Phi còn phải cố gắng nhiều hơn. Nhưng sau 16 năm giành được quyền tự do tham gia việc chính trị, vào năm 1994 là lúc kinh tế đang suy kiệt, quốc gia này có thể hãnh diện về những thành quả họ đã đạt được. Tương lai của họ có vẻ lạc quan. Ðây là nước được thiên nhiên ưu đãi. Họ chiếm 90% quặng mỏ platinium của thế giới, 80% quặng manganese, 70% crôm, và 40% quặng vàng. Chế độ chính trị ổn định không phải nhờ guồng máy đàn áp của công an, mà do sự trưởng thành của các định chế chính trị. Ðiều đáng khen ngợi nhất trong xã hội Nam Phi là một xã hội công dân đã thành hình và rất năng động. Mặc dù guồng máy cai trị bị hoen ố vì tình trạng bè phái tham nhũng, nhưng nền tư pháp của Nam Phi vẫn giữ được tư cách tương đối độc lập. Các công đoàn độc lập hoạt động mạnh, với những người lãnh đạo có kiến thức và đại diện thật của công nhân. Ðáng kể nhất là hệ thống truyền thông, báo chí Nam Phi hoạt động rất mạnh và độc lập với nhà nước, cùng với các đảng chính trị tạo nên những thế lực ngoài chính quyền và ngăn cản cảnh lạm quyền có hiệu quả. Ðây cũng là một quốc gia có rất nhiều hội đoàn tư ngoài chính phủ (NGO), họ hoạt động rất mạnh, tạo thành một xã hội công dân năng động. Xã hội công dân đó là nền tảng giúp chế độ tự do dân chủ được vững bền.

Trong khi theo dõi các trận đá banh trong Giải Bóng Ðá Thế Giới, quý vị độc giả có thể sẽ tìm hiểu thêm và suy nghĩ về nước chủ nhà Nam Phi; hy vọng sẽ rút ra những bài học cho nước ta. Ngày hôm nay mở màn World Cup, Tổng Thống Jacob Zuma sẽ được sống những giờ phút “quang vinh” ngay trong lễ khai mạc và những dạ tiệc đi kèm. Nhiều khán giả đang thắc mắc ai sẽ đóng vai đệ nhất phu nhân chia sẻ những sinh hoạt đó với ông; mỗi lần ông sẽ phải chọn một trong số ba bà vợ chính thức hiện nay - nhưng chắc không phải là hai cô vị hôn thê chưa làm đám cưới. Nhưng sau những giờ phút hưởng vinh quang trong địa vị tổng thống một nước đương cai, ông phải nhớ chính phủ ông còn rất nhiều việc cần làm để 40 triệu người da đen, một nửa còn sống nghèo khổ, được ngẩng đầu lên!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Phục Hưng

Nguyễn Vĩnh Huy
Việt Nam thân yêu của tôi. Than ôi, còn đâu nữa nền đạo đức xưa. Nhân, lễ, nghiã, trí, tín đã rời xa giống con Hồng, cháu Lạc .

Từ ngày CSVN nắm quyền cai trị nước nhà, áp dụng chính sách độc tài, ngu dốt, phi nhân tính, đã làm quốc gia suy vi, đất nước băng hoại, xã hội suy đồi, luân thường đảo lộn, nhân tâm thay đổi. Thật là một đại họa.

Lo âu cho tương lai dân tộc, có quá nhiều vấn đề cần thảo luận. Phạm vi bài này, tôi chỉ bàn về vấn đề luân lý, đạo đức xã hội, giáo dục học đường. Vì trong một nước, mọi người được giáo dục tốt, sẽ tạo thành một dân tộc tốt, đương nhiên sẽ tạo thành một quốc gia hoàn thiện, phát triển. Đã 35 năm, kể từ ngày 30 - 4 - 1975 : xã hội nhiễu nhương, nhân dân nghèo khổ, trộm cướp, mãi dâm, giết người, xảy ra hàng ngày, và xảy ra khắp nơi. Đến nỗi báo chí trong nước của CS cũng phải lên tiếng, tuy rằng truyền thống của CS là bưng bít mọi tin tức xấu, để tuyên truyền chế độ.

Ngoài những vụ cướp của, giết người man rợ, thậm chí còn nhiều vụ chồng giết vợ, con đánh cha, trò đánh thày, chỉ vì chút ít tiền bạc hay vì những lý do nhỏ nhặt, cho thấy xã hội ta đã xuống dốc như thế nào. Tôi xin đan cử vài trường hợp xảy ra gần đây, để suy ngẫm thế sự, và truy xét nguyên nhân.

Ngày 15-3-2010, một video clip phát tán trên you tube, đã làm xôn xao dư luận : tại ngay trung tâm thủ đô Hà Nội, một cô nữ sinh 17 tuổi, đã bi nắm tóc, kéo lê trên đường và bị đấm đá vào mặt, vào ngực rất dã man trước mắt nhiều người đứng xem chung quanh mà không một ai can thiệp. Hình ảnh một cô nữ sinh ngây thơ, nhỏ bé bị đánh đập, xé quần áo nơi công cộng, mà chỉ có một phản ứng duy nhất là che mật, che ngực, trước những cặp mắt thờ ơ, vô cảm của nhiều người chung quanh đả làm cho tôi đau đớn, xót xa. Lòng nhân ái, tình nhân loại, nghĩa đồng bào đã không còn tồn tại nữa sao? xã hội Việt Nam đã suy đồi thê thảm vậy sao ? tại sao vậy ? Nguyên nhân vì sao ? Dễ hiểu thôi, tất cả mọi tệ nạn, hỗn loạn, suy thoái hiện nay của quốc gia, dân tộc VN, đều do đảng CSVN gây nên. Dưới sự lãnh đạo và cai trị ngu dốt, độc đoán, hà khắc, với một nền giáo dục ngu dân, hồng hơn chuyên, dạy dân ngay từ thuở còn thơ là mù quáng tin tưởng và trung thành với đảng , sẵn sàng xử dụng bạo lực sắt máu tiêu diệt bất cứ thành phần nhân dân nào không tùng phục đảng. Tiêu chuẩn luân thường, đạo lý của chế độ là : chỉ cần tuyệt đối, tuân lệnh và trung thành với đảng là đủ phẩm chất đạo đức cần thiết rồi. Cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè tố cáo, hãm hại lẫn nhau là đạo đức xã hội chủ nghiã yêu cầu, để nhà nước dễ dàng cai trị. Với một nền giáo dục phi nhân tính như vậy, làm sao mà xã hội có thể sinh hoạt lành mạnh và nhân bản được.

Nếu CSVN còn nắm quyền cai trị, VN sẽ càng ngày càng suy thoái, đen tối hơn . Chỉ khi nào đảng CSVN bị tiêu diệt thì quốc gia VN mới có thể phát triển hưng thịnh, và mọi tệ nạn xã hội mới bị triệt tiêu .

Để minh chứng tình trạng xã hội nhiễu nhương bi thảm hiện nay, tôi xin đan cử thêm vài trường hợp điển hình nữa :

1- Video clip cảnh nữ sinh bị đánh đập tương tự trên, hiện còn nhiều vụ khác trên youtube, qúy vị chỉ cần vào youtube, gõ từ khoá: ' nữ sinh đánh nhau ' , là qúy vị thấy ngay .

2- Tin VNexpress ngày 20-5-2010 : Tên nguyễn đức Nghĩa 26 tuổi, sinh viên đại học Ngoại thương Hà Nội. Gia đình ở quận Kiến An, Hải phòng. Có người yêu tên Linh, bạn cùng trường. Sau hắn lại có người yêu mới tên là Yến. Một hôm , Yến bận việc, nhờ Nghiã coi hộ căn nhà của một người thân. Nghĩa điện thoại nhắn cô Linh, người yêu cũ tới tâm tình. Sau vài câu chuyện, tự nhiên bất ngờ Nghĩa đâm cô Linh chết tại chỗ. Rồi cắt đầu, và 10 ngón tay. Rất bình tĩnh, hắn chia xác cô Linh thành 3 phần, bỏ vào 3 cái bao lớn, rồi mang tới Sông Cấm , Quảng Ninh, liệng bỏ xuống sông phi tang. Tên Nghĩa đã bị bắt.

Tiến sĩ Trịnh hòa Bình, giáo sư Viện khoa học xã hội Hà Nội đã nhận xét vụ án kinh tởm này : Tội ác của Nghiã thể hiện lối sống vị kỷ binh hoạn, xảy ra trong nhóm có học đàng hoàng. Hành vi của Nghĩa thể hiện tính chất của một sát thủ máu lạnh, vì sau khi gây án anh ta hoàn toàn tỉnh táo, xoá dấu vết hiện trường, vứt xác phi tang.

3- tin VNexpress ngày 3-10-2009 : Tại trường tiểu học huyện Ký Anh , Hà Tĩnh. Thày giáo chủ nhiệm, lừa em nữ sinh 9 tuổi của mình vào phòng và hãm hiếp em. Hăm doạ em. Về nhà em không dám nói gì. Nhưng cha mẹ em nghi ngờ gặng hỏi, mới biết sự việc, bèn tố cáo, tên này đã bị bắt.

4- Còn nhiều tin tức tương tự xảy ra hàng ngày : Chồng giết vợ, con chém cha, giết người yêu, nữ sinh bị đánh đập nơi công cộng, thày hãm hiếp nữ sinh nhỏ, trộm cướp giết người tàn bạo, chánh án ăn hối lộ xử án bất công ...v...v... nhiều không kể xiết. Qúy vị chỉ cần xem báo Công An, Vnexpress, Tuổi trẻ ...v...v... là qúy vị biết ngay, dù báo đã ém nhẹm rất nhiều tin xấu theo chỉ thị của đảng CSVN để làm đẹp mặt chế độ Xã hội chũ nghiã.

Để kết luận, tôi xin trả lời câu hỏi : Tại sao xã hội VN lại suy đồi, băng hoại như vậy ? Đó là hậu quả của chính sách cai trị độc tài, ngu si, và của một nền giáo dục ngu dân, phi nhân tính phù hợp với nhu cầu của đảng CSVN. Muốn phục hưng đạo đức, luân thường truyền thống, phải loại bỏ chế độ, và đảng CSVN.

Nguyễn Vĩnh Huy

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị hành hạ trong tù
(FreeLeCongDinh) Tin từ Hải Phòng cho hay, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa hiện đang bị biệt giam và kỷ luật trong điều kiện hết sức tồi tệ.Công an không cho gia đình ông Nghĩa thăm nuôi và cũng không nói rõ lý do bị kỷ luật. Được biết, hiện nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị nhiều căn bệnh khá nặng như: đau dạ dày, sỏi thận…

Gia đình nhiều lần đề nghị quản lý trại giam đưa ông đến cơ sở y tế chữa trị, nhưng đều bị từ chối.

Hôm 6/6, gia đình ông Nghĩa đến trại giam K3, Nam Hà thăm nuôi định kỳ hàng tháng. Sau khi chờ từ sáng đến 2 giờ chiều, công an trại giam tuyên bố không cho phép gia đình được gặp, đồng thời cũng không cho gửi thuốc men.

Hành động này đã gây quan ngại nghiêm trọng đến tình hình sức khỏe ngày một tồi tệ của ông.

Nguồn tin riêng cho biết, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị kỷ luật bởi vì ông đã “tuyên truyền chính trị, Dân chủ với những phạm nhân khác, trong đó có người là cựu chiến binh”.

Hình thức kỷ luật biệt giam nhằm cách ly sự ảnh hưởng của ông đối với người khác, đồng thời cũng là hành động trả thù nhằm làm kiệt quệ tinh thần và thể xác ông.

Luật sư Lê Thị Công Nhân cho hay, hình thức kỷ luật đối với ông Nghĩa được ví như “ở tù trong tù”. Theo lời chị, đây là biện pháp hành hạ “hết sức ghê rợn” của trại giam, phạm nhân bị cùm chân, một ngày chỉ được ăn một bát cơm với muối, một ít nước đủ sống…

Trước đó, linh mục Nguyễn Văn Lý đã làm đơn khởi kiện nhà cầm quyền VN ra Liên Hợp Quốc, trong đó, ông nêu lên những bằng chứng về sự dã man, vô nhân tính trong

http://freelecongdinh.wordpress.com/201 ... -trong-tu/

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Xin hãy cứu lấy Tổ Quốc! -

Chu Tất Tiến

Lịch sử của dân Việt là một chuỗi những biến cố vừa hùng tráng, oai phong, vừa phẫn nộ và đau đớn chập chùng. Những giai đoạn hùng cứ biển Ðông xen lẫn với những thời gian chịu áp bức của ngoại nhân. Nhưng nổi bật lên trên tất cả và kéo dài hơn 4000 năm là cuộc đối kháng với Bắc Phương, cho đến ngày nay, vẫn chưa ngừng nghỉ. Tùy theo tinh thần và khả năng của giới lãnh đạo mà có lúc dân tộc ta hiên ngang đánh đuổi được quân xâm lược tràn từ phía Bắc xuống, làm kinh động cả thế giới, hay đành chấp nhận tủi nhục làm nô lệ, dù tạm thời, cho các lực luợng Thanh, Minh, Nguyên, hay Mông Cổ. Ðiều kinh sợ nhất là trong khi đất nước ta không thiếu những danh tướng lừng lẫy được toàn thể thế giới ngưỡng mộ từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến các đời Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, với Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, theo sau là Quang Trung Ðại Ðế, rồi các vị Vua anh hùng như Hàm Nghi, Duy Tân, cũng có những kẻ hèn hạ, rước voi về dầy mồ tổ tiên, bán nước cho giặc. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và cả họ Mạc cũng tỏ ra khiếp nhược, dâng nước cho Tầu. Và, một nhân vật, tuy có tài quản lý, nhưng cũng là một kẻ, cuối cùng, cũng hiện nguyên hình là làm hại đất nước: Hồ quý Ly. Từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết bài hịch hùng tráng “Bình Ngô Ðại Cáo”, vạch tội họ HỒ: “Nhân họ HỒ chính sự phiền hà. Ðể trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn. Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...”

Ðau đớn thay, hơn năm trăm năm sau, một người tự xưng họ HỒ lại tái diễn trò bán nước, buôn dân, cống nộp giang sơn ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương. Cũng dưới sự cai trị của họ HỒ, dân đen cũng bị tiếp tục “nướng trên ngọn lửa hung tàn”, con đỏ cũng bị “vùi xuống dưới hầm tai vạ”. Ðau đớn hơn nữa là mặc dù ngày nay, dưới ánh sáng của văn minh đầu thế kỷ 21, khi việc thông tin đã lan tràn trên khắp mọi miền thế giới, khi trình độ hiểu biết của dân ta gấp trăm lần các thế kỷ cu,õ nước ta vẫn tiếp tục bị bán đứng một cách ngang nhiên, trơ trẽn, khốn khổ khốn nạn, bởi những tay lãnh đạo, là con cháu của họ HỒ. Nếu không có biện pháp gì ngăn chặn, thì chỉ trong một thập niên nữa, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước nô lệ dưới sự quản lý của Trung Cộng. Nhiều sự việc liên tiếp, công khai, đã chứng minh nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục BÁN NƯỚC, để đổi lấy sự vinh thân phì gia của họ, mặc kệ cho danh dự Tổ Tiên bị chà đạp nhục nhã; mặc kệ vong linh của hàng trăm triệu dân Việt, qua bốn ngàn năm, đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất giang sơn; mặc kệ cho những thế hệ sau hứng chịu hậu quả cay nghiệt của đời làm tôi mọi cho Tầu Cộng. Sau việc dâng Hoàng Sa, Trường Sa, và dải đất cực Bắc cho Tầu Cộng, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn đang tiến hành một chương trình bán luôn miền Nam cho giặc, qua kế hoạch khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông.

Tất cả mọi chiến lược gia từ xưa đến nay đều biết rằng miền Cao Nguyên Trung Phần là điểm chiến lược nhìn bao quát toàn bộ ba xứ Ðông Dương: Việt, Miên, Lào. Người Pháp cũng từng đồng ý: “Ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần là chiếm được toàn bộ bán đảo Ðông Dương”. Vậy mà bây giờ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, và Ðảng Cộng Sản đang âm mưu bán đứt miền này cho Trung Cộng, dưới nhãn hiệu “khai thác mỏ Bauxít”.

Thử nhìn về các vấn đề liên quan đến việc khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông:

1-Về tính chất kinh tế và khoa học

Bauxít là loại quặng, nằm ngay trên mặt đất, hay ở một độ nông, có mầu đỏ nâu (brown mud), lẫn trong đất và đất sét, được sử dụng từ rất lâu trước khi được chế biến thành Aluminum (nhôm). Ở Guana, từ nhiều thế kỷ trước, người ta dùng loại đất này để làm nhà. Sau khi biết được đặc tính “nhôm” trong bauxít, thì nhiều nước trên thế giới đã khai thác bauxít, và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới đầu tư, vì nhôm hầu như hiện diện trong khắp mọi đồ dùng, vật dụng, từ thìa, nĩa đến máy xe hơi hay vỏ máy bay. Tùy theo đất đai, trung bình cứ 4 tấn quặng, lấy ra được 2 tấn “alumina”, từ 2 tấn “alumina”, người ta lấy ra được 1 tấn nhôm ròng. Theo ước tính của các “chuyên viên” khoa học của Ðảng Cộng Sản, thì bauxit có nhiều tại miền Bắc, và Cao Nguyên Trung Phần. Riêng tại Ðắc Nông, trữ lượng nhôm có từ 1 đến 2 triệu tấn. Trên thế giới, nơi nhiều Bauxit nhất là Guinê, với hơn 8 triệu tấn, Úc hơn 7 triệu tấn, Hoa Kỳ chỉ có chừng 40,000 tấn. Nhu cầu về nhôm rất cao, tuy nhiên vì tác hại môi trường của nó, nhiều nước đã giảm sự khai thác bauxít và chỉ khai thác bauxít ở những miền sa mạc hoang vắng. Gần đây, chính Trung Cộng đã đóng cửa trên 150 địa điểm khai thác bauxít vì bị các nhà khoa học và dân chúng phản đối kịch liệt. Ðể tiếp tục khai thác lợi nhuận này, Trung Cộng tỏa đi khắp nơi trên thế giới để tìm nhôm. Một trong những nơi mà Trung Cộng đang tiến hành khai thác là Việt Nam.

2-Về lợi ích kinh tế

Một khi đã ký nhượng đất cho Trung Cộng sử dụng, lợi nhuận dĩ nhiên là về phía Trung Cộng. Nhà cầm quyền Cộng Sản có thể chỉ được chia phần trăm và tiền thuế. Mà cho dù được chia lãi và tiền thuế, người dân Việt Nam cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì. Dưới chế độ được liệt kê vào những nước tham nhũng nhất thế giới, tiền chia này nhất định vào túi lãnh đạo đến 9/10, và chỉ vào quỹ quốc gia một chút xíu. Nếu chia đầu người, chắc không đến chục đô la một năm. Kinh nghiệm Tết năm vừa qua, quỹ xóa đói giảm nghèo của Liên Hiệp Quốc chui gần hết vào túi cán bộ. (Tại sao lại có quỹ xóa đói giảm nghèo khi mà Việt Nam có những sân golf, khách sạn 5 sao, nơi giải trí, ăn chơi vào bậc nhất thế giới? Những lãnh đạo Cộng Sản, từ giai cấp công nông năm 1975, nay ai cũng có tài sản khổng lồ. Nếu công khai tài sản, chắc có nhiều lãnh đạo được kê tên vào danh sách những kẻ giầu nhất thế giới của Forbes. )

3-Về tác hại của môi trường

Theo những nhà khoa học, trong đó có Tiến Sĩ Richard Yokel của University of Kentucky School of Pharmacology, nhôm là một chất độc hại gây tổn thương cho óc não và hệ thần kinh. Nhôm gây nên chứng “encephalopathy”, làm hủy mô não, làm mềm xương và gây nên bệnh thiếu máu (anemia), giảm thọ, và có thể gây nên bệnh Parkinson. Nhôm không chỉ hại đến não bộ của con người mà cũng là một vấn nạn lớn trong nông nghiệp ở chỗ làm suy đồi đất đai. Chất nhôm được dẫn qua nước chẩy vào sông ngòi sẽ tiêu diệt tất cả mọi thủy sản. Tôm cá đều chết hết. Với súc vật, nhôm có thể gây ra triệu chứng run rẩy giống như Parkinson, và chết sớm. Sau khi mỏ nhôm được khai thác, đất đai biến thành hàng dẫy những lỗ hố khổng lồ không thể lấp nổi, nước đọng ao tù đỏ quạch, không có sinh vật gì sống sót. Ðiều quan trọng là muốn rửa quặng, kẻ khai thác phải cần đến nước. Với chỉ tiêu khai thác 1 triệu tấn nhôm ở Ðắc Nông, người ta cần đến cả chục đập nước. Như thế toàn bộ nguồn nước tiêu dùng, nước uống cho cao nguyên sẽ bị trưng dụng. Dân Cao Nguyên rồi uống nước ở đâu? Mực nước Sông Cửu Long hiện nay đang bị thấp vì Trung Cộng xây quá nhiều đập nước ở thượng nguồn, nay lại bị trưng dụng để rửa nhôm, thì đất đai hạ nguồn sẽ dần thành sa mạc. Hơn nữa, sau khi rửa quặng xong, nước lại chẩy xuống chỗ đất thấp và ra biển. Toàn bộ dân sử dụng nước để tưới ruộng vườn, sẽ bị ảnh hưởng. Ðời sống nông dân rồi khốn khổ. Cửa biển nơi nước nhôm chẩy ra sẽ không còn cá, vì sẽ chết hết cả. Ðời sống ngư dân rồi cũng khốn khổ.

Thêm vào đó, khi sử dụng máy để đào xới, độ rung chuyển của những cái máy cạp khổng lồ hoạt động suốt ngày đêm, sẽ làm chấn động địa chất. Cao Nguyên Trung Phần vốn có những núi lửa đang ngủ, nay bị kích thích, có thể hoạt động lại. Riêng phạm vi tiếng ồn phát ra 24 giờ một ngày có thể làm cho những cư dân trong vùng bị điếc tai, hoặc nhức óc kinh niên. Bệnh tật có thể phát ra mà không thể chữa trị. Bụi nhôm cũng là một vấn đề lớn. Người ta chỉ cần hít thở bụi nhôm, cũng bị nhiễm bệnh khó thở, nghẹt phổi và các bệnh về phổi khác. Khi thành phẩm đã xong, kẻ khai thác phải dùng đường bộ và đường biển để chuyển về nước họ. Trên đường đi, các thành phẩm ấy sẽ tiêu diệt nhiều loại côn trùng có ích, đồng thời rải ra rất nhiều vi khuẩn gây nên các sự nhiễm trùng và nhiều căn bệnh quái dị, trong khi giết tôm cá chết hàng loạt.

Ở Jamaica, các mỏ nhôm đã tàn phá đất đai, biến rừng thành sa mạc. Miền Nam Jamaica, 3 triệu tấn chất thải từ bauxit vẫn còn ảnh hưởng lâu dài đến sông ngòi và đất đai chung quanh. (http://www.jamaicao bserver.com/ columns/html/ ) Ðiều kinh hoàng là trong cuộc nghiên cứu gần đây, các khoa học gia thấy đa số trẻ em sống gần nơi đó, đều bị uể oải và thích tự tử hàng loạt.

4-Về tác hại xã hội

Muốn khai thác 1 triệu tấn nhôm, người ta phải cần một diện tích mênh mông. Tùy theo địa chất, có thể từ vài chục ngàn, trăm ngàn, đến cả triệu mẫu rừng tương đương với hàng chục thành phố phải khoanh lại. Như thế, phải đuổi dân đi. Dân chúng quanh vùng sẽ phải di tản. Ði đâu? Vào thành phố lân cận? Có chỗ ở không? Những thành phố lân cận sẽ bị xáo trộn về tài chánh, về xã hội, về kinh tế. Những người bị đuổi có được bồi thường thỏa đáng không? Hay lại như ở Móng Cáy, Hưng Yên, Ðồng Nai, Cần Thơ.. những nơi đầy dẫy Dân Oan bị cướp nhà, cướp đất cho sân Golf, Khách Sạn, Sân Chơi của lãnh đạo? Nếu có bồi thường thì ai bồi thường cho sự rối loạn sinh hoạt của gia đình? Bao nhiêu thanh thiếu niên phải rời xa cha mẹ, đi làm phu mỏ, nô lệ cho Tầu Cộng? Bao nhiêu vợ chồng tan rã? Bao nhiêu oan trái, thương đau với những cô gái phải bán thân, nuôi miệng? Khi chiếm được Cao Nguyên rồi, bọn Trung Cộng sẽ mang văn hóa người Hoa, dụng cụ Hoa, phương tiện Hoa, ngôn ngữ Hoa lấn chiếm những vùng đất chung quanh, tiêu diệt văn hóa người Thượng, người Nam. Trung Cộng sẽ hủ hóa các thiếu nữ quanh vùng, hoặc hãm hiếp, hoặc cho tiền, biến họ thành nô lệ tình dục, rồi đẻ con mang tên Trung Hoa. Có thể một loại thẻ căn cước được cấp riêng cho những người làm việc cho mỏ, và những ai có quan hệ với mỏ, biến họ thành công dân Trung Cộng.

Ðể giao thông và chuyên chở thuận tiện, nhất định bọn bán nước và quân xâm lược sẽ thực hiện những xa lộ xuyên suốt từ Trung Hoa qua Việt. Cạnh đường đi, sẽ có văn hóa và nhạc Trung Hoa đón tiếp. Dần dần rồi đất nước chỉ còn nghe nhạc Hoa từ Bắc vào Nam. Việt Nam rồi thành thuộc địa của Tầu như ngàn năm trước.

5-Về tác hại chính trị và quân sự

Ðắc Nông và những vùng chung quanh vốn là nơi định cư của nhiều sắc tộc Thượng. Trong số những người Thượng hòa bình, cũng có những người Thượng luôn mong ước có một tiểu quốc cho riêng họ. Phong trào đòi Tự Trị đã nhiều lần được châm lửa. Nay, nếu Trung Cộng mang miếng mồi ngon ra chiêu dụ, có thể phong trào đòi ly khai sẽ nổ lên nữa. Một khi phong trào được hỗ trợ của quan thầy Trung Cộng, thì đệ tử Việt Cộng chỉ có khoanh tay đứng nhìn, không dám càn quét như hồi tiêu diệt phong trào đòi tự do tôn giáo của người Tin Lành. Một điều dễ sợ hơn tất cả là lực luợng gọi là “công nhân, kỹ thuật viên” người Hoa đến làm việc, có thể toàn là Công An hay quân nhân Trung Cộng. Với số lượng từ 7,000 người đến 10,000 người Hoa Cộng, tương đương với 2 Sư Ðoàn chiếm đóng ở đây, cộng thêm số thân nhân vợ con đến thăm nuôi đều đặn, và số gián điệp giả dạng báo chí, truyền thanh, truyền hình đến phục vụ cho khu mỏ độc lập này, ước tính thêm cả ngàn người nữa, sẽ không có lực luợng người Việt nào có thể chống cự lại hoặc đuổi chúng đi. Một hệ thống Rada phòng không sẽ được thiết lập. Nhiều cơ quan ngầm dưới đất để làm những chuyện ma quỷ gì đó sẽ được xây dựng trong vòng đai Nội Bất Xuất, Ngoại Bất Nhập này. Chúng có thể nghe lén toàn bộ các cuộc điện đàm tư tình, kiếm “gái gọi”, hoặc buôn bán lậu của các lãnh đạo mà “black mail”, nghĩa là gửi thư hăm dọa, thì các lãnh đạo sẽ phải im như hến, mặc cho Trung Cộng muốn làm gì thì làm. Như thế, MIỀN CAO NGUYÊN VIỆT NAM SẼ MẤT vào tay Trung Cộng một cách rất hòa bình. NƯỚC VIỆT NAM SẼ BỊ CẮT LÀM HAI MẢNH, Ở GIỮA LÀ TRÁI ÐỘN TRUNG CỘNG. Nếu có sự xâu xé, giành ăn giữa các lãnh tụ nẩy ra, Trung Cộng có thể đưa người của chúng vào Ban Lãnh Tụ, từ đó, khống chế toàn bộ Việt Nam. Lúc đó, Việt Nam đương nhiên trở thành tiểu quốc của Trung Cộng, mà không phải tốn phí một viên đạn!

6-Tính chất cực kỳ lì lợm của Ðảng Cộng Sản Việt Nam

Gần đây, nhiều nhà khoa học trong nước, nhiều cựu chiến sĩ, tướng lãnh, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả Võ Nguyên Giáp và một cựu đại sứ Cộng Sản đã lên tiếng chống đối lại dự án khai thác Bauxit này. Nhưng mặc cho các người này kêu gọi, Nguyễn Tấn Dũng và Nông Ðức Mạnh vẫn cứ chứng tỏ rằng mình là những tên cực kỳ lì lợm, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn của dân chúng, và tiếp tục cho Trung cộng khai thác khu mỏ. Dũng và Mạnh dư biết rằng tên tuổi và dòng họ của họ sẽ bị phỉ nhổ, khinh miệt, nhưng họ vẫn ngoan cố tuyên bố lếu láo về kế hoạch này, cố tình làm ngơ trước mọi chỉ trích của thế giới và người dân Việt về mọi hành động bán nước, buôn dân của họ. Dũng, Mạnh và Lãnh Tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính là tội đồ của dân tộc. Họ đã theo chân Tầu Cộng gây ra cuộc chiến Nam Bắc, làm chết trên 4 triệu người cả hai miền, rồi ký kết dâng đất, dâng biển, nay lại bán đứng Cao Nguyên. Ngày 13 tháng 5 năm 2009, hạn kỳ cuối cùng để Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển đã qua, mà Dũng, Mạnh vẫn khoanh tay làm ngơ, mặc cho Trung cộng làm chủ lãnh hải, có nơi vào sát gần bờ, mặc cho ngư dân rồi sẽ bỏ thuyền vì hết chỗ đánh cá. Nếu “xâm nhập vào lãnh hải Trung Cộng sẽ bị bắn chết!” Người Việt rồi sẽ hết cá để ăn!

7-Việc làm của chúng ta

Bởi vậy, tất cả những ai có lòng nghĩ đến đất nước phải đồng loạt bắt tay nhau, lên tiếng, hò la, chuyển tin đến mọi miền đất nước, đến những ngõ ngách của thế giới, mong họ cùng giúp chúng ta đòi lại đất tổ đã bao đời gầy dựng với sinh mạng của bao triệu chiến sĩ.

- Nhân dân Ðắc Nông: xin hãy xuống đường, chống đối việc khai thác mỏ đến cùng. Nhất định không di chuyển, không bỏ đi, và không làm tôi mọi cho Tầu Cộng.

- Những ai từng ở Tây Nguyên và vùng cao nguyên như Ðà Lạt, Pleiku, KonTum, Ðắc Lắc, Di Linh, Buôn Mê Thuột: Xin hãy cất lên tiếng nói đòi lại đất đai thân yêu đang bị Dũng, Mạnh bán cho Trung Cộng.

- Sinh viên, học sinh, giới trẻ trong nước: Hãy xuống đường! Xuống Ðường! Ðòi lại danh dự cho dân tộc đang bị bôi nhục bởi một nhóm lãnh tụ hèn nhát, khiếp nhược, công khai làm nô lệ cho kẻ thù! Ðừng sợ bắt bớ, mà nên sợ không dám nhìn vào mặt con cái, phải cúi đầu không trả lời được câu hỏi: “Tại sao cha ông lại hèn nhát để kẻ thù chiếm mất đất ta?” Hãy để “quê hương là chùm khế ngọt” mãi, đừng để quê hương biến thành trái chua của Bắc Phương!

- Ðồng bào hải ngoại: Xin hãy đoàn kết cùng nắm tay nhau, phổ biến tin tức Bán Nước này đến cùng trời cuối đất, đồng thời lật mặt nạ Bán Nước, buôn dân của Dũng, Mạnh và lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam. Kêu gọi công lý nơi những người bạn ngoại quốc có tình cảm với dân Việt, xin họ tiếp tay chận đứng việc bán nước công khai này. Xin phối hợp với những người ở trong nước đang cất lên tiếng nói chống lại Ðảng Bán Nước, bảo vệ họ cho khỏi bị trù dập. Lập những chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí liên tục chống lãnh tụ đảng Cộng Sản bán nước. Kêu gọi sự thức tỉnh lương tâm của các đảng viên Cộng Sản, chống lại Dũng, Mạnh, đang vì quyền lợi riêng tư mà tàn hại quê hương.

Tha thiết mong tiếng kêu đau thương, uất hận này được sự đón nhận và tiếp tay của toàn thể dân Việt, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo, giai cấp, dân thường, cán bộ hay đảng viên, tư thương hay công nhân viên chức, để cho đất nước được vẹn toàn, để cho lịch sử không ghi lại một khúc quanh nhục nhã, để cho thế hệ sau không đau khổ sống trong sự nô lệ Tầu Cộng.

Hãy vùng lên, VIỆT NAM ƠI!

Ðả đảo Dũng, Mạnh, bán nước cầu vinh! Ðả đảo Dũng, Mạnh hèn nhát, khiếp nhược, dâng đất nước cho kẻ thù. Ðả đảo Dũng, Mạnh tiêu diệt nguồn sống của nông dân và ngư dân! Ðả đảo Dũng, Mạnh tàn hại sinh hoạt và đời sống của trăm thế hệ tương lai! Ðả đảo Dũng, Mạnh PHẢN BỘI TỔ QUỐC!


Chu Tất Tiến

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Yêu nước lén lút buôn người công khai

Ngô Nhân Dụng

Image
Hình minh họa. (Hình: tumasic.tk)

Trên diễn đàn Bô Xít Việt Nam (boxitvn) một bạn trẻ than rằng anh đang phải “yêu nước lén lút.” Yêu nước, vì anh tham gia một phong trào nhắc nhở đồng bào về chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lén lút, vì yêu nước mà không dám đứng dậy công khai bầy tỏ lòng yêu nước trước mặt mọi người!

Các bạn trẻ trong phong trào lén lút yêu nước đi viết khẩu hiệu trên tường, ở rất nhiều nơi trong nước Việt Nam. Khẩu hiệu chỉ có sáu chữ viết tắt, “HS - TS - VN!” Ai cũng hiểu 6 chữ đó nói gì: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Khi viết khẩu hiệu là muốn hô hào cho người khác nghe hoặc thấy ý kiến của mình. Và muốn kêu gọi mọi người đồng ý đồng tình với mình, cùng phổ biến lại ý kiến đó cho nhiêu người biết! Khẩu hiệu mà phải viết tắt, không dám viết đầy đủ, cũng giống như muốn nói một điều gì nhưng miệng câm, hoặc bị bịt miệng, không nói lên được. Do đó, phải khua tay chân, làm dáng điệu, nháy mắt, lúc lắc cái đầu, cho người khác hiểu. Cả nước Việt Nam đang bị bịt miệng không được nói lớn tiếng một câu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của nước chúng ta!” Vì vậy, các bạn trẻ Việt Nam phải viết tắt, phải dùng ngôn ngữ của những người câm!

Người viết đưa tin lên mạng boxitvn tên là Trịnh Hưng. Anh gửi lên mạng nhiều tấm hình chụp các bức tường, những cây cột chân cầu đã viết khẩu hiệu “HS - TS - VN!” bằng chữ lớn, xuất hiện ở thành phố Nam Ðịnh. Anh hãnh diện báo tin người dân trong tỉnh anh đã nhập cuộc, tham dự phong trào viết khẩu hiệu này. Nhờ các thanh niên yêu nước lén lút đó, từ nay, Nam Ðịnh có thể đứng ngang với các tỉnh đi trước như Ðồng Nai, Bình Dương, Sa Ðéc, Trà Vinh, Cần Thơ, Bình Thuận, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, và Ninh Bình.

Nhưng các bạn trẻ ở thành phố Nam Ðịnh, cũng như nơi khác, đều phải đi viết các khẩu hiệu “HS - TS - VN!” vào ban đêm! Tại sao không dám viết công khai giữa ban ngày? Ðúng là muốn yêu nước cũng phải yêu lén lút; giống như các cô cậu nhân tình trẻ đang bị cha mẹ cấm đoán! Cha mẹ nào cấm đoán không cho các thanh niên được tỏ lòng yêu nước?

Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam! Vì bản chất của các chế độ Cộng Sản là độc quyền. Ngay khi cướp được chính quyền, đảng đã nắm giữ các độc quyền kinh tế, độc quyền chính trị, viết vào hiến pháp rằng đảng độc quyền lãnh đạo cả nhà nước lẫn xã hội. Cho nên đảng cũng chiếm độc quyền yêu nước. Thời 1945 bao nhiêu người Việt Nam yêu nước đã bị đảng Cộng Sản giết, vì họ sợ mất độc quyền! Các thanh niên Việt Nam bây giờ không dám yêu nước, cũng vì sợ vi phạm độc quyền của đảng, nếu không mất mạng thì cũng mất việc làm! Trịnh Hưng thú nhận ai cũng bị con “vi rút sợ hãi” nó nhập trong người, yêu nước cũng không dám nói công khai “nếu không được nhà nước cho phép!” Trịnh Hưng viết: “...Phần lớn mọi người còn ngần ngại nếu không nói là e sợ, không dám bày tỏ lòng yêu nước của mình vì những mối đe dọa lúc nào cũng quanh quẩn ở bên ta.”

Ai đe dọa? Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đang nắm toàn quyền cai trị! Tại sao đảng Cộng Sản lại cấm người ta bầy tỏ lòng yêu nước? Vì họ sợ dụng tới Trung Cộng, một chế độ “vừa là đồng chí lại là anh em” của đảng Cộng Sản!

Trong cuốn tự truyện Ðêm Giữa Ban Ngày, nhà văn Vũ Thư Hiên kể chuyện thi sĩ Chế Lan Viên làm thơ lúc nào cũng đúng lập trường mà các lãnh tụ đảng đã phát biểu. Ông nêu thí dụ một câu nói của Lê Duẩn, trong một bài học tập nội bộ: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa...” (Văn Nghệ xuất bản, năm 1997 trang 422). Các thanh niên Việt Nam bây giờ không nhớ bài học đó, quên mất rằng cha, mẹ, anh, chị họ đã từng đổ máu cho Liên Xô, Trung Quốc. Nay nước Cộng Sản Liên Xô biến mất trên bản đồ thế giới, chỉ còn lại nước Cộng Hòa Nga. Nhưng Trung Quốc thì vẫn còn chế độ Cộng Sản, vẫn là đồng chí, anh em với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam! Cho nên, họ cấm người Việt Nam không được hô lớn công khai khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!”

Các bạn thanh niên Việt Nam phải bày tỏ lòng yêu nước một cách lén lút; nhưng nhà nước Cộng Sản thì lại công khai làm một công việc khác mà đáng lẽ ai biết liêm sỉ thì cũng tránh không làm. Ðó là việc buôn người.

Bộ Ngoại Giao Mỹ mới công bố bản phúc trình về nạn buôn người trên thế giới, vẫn xếp nhà nước Việt Nam vào “loại 2” tức là thuộc loại những nước cần được theo dõi. Nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã được xếp trong danh sách này từ 4 năm qua. Bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ xác nhận nhiều người lao động Việt Nam được các công ty môi giới đưa ra nước ngoài đã phải làm việc như các nô lệ. Nhiều phụ nữ Việt Nam, trong đó có cả các em gái vị thành niên vẫn được đưa qua các ổ mãi dâm ở các nước như Cam Phu Chia, Trung Quốc và Lào; sau đó nhiều người lại bị bán lại lần nữa qua Mã lai Á, Thái Lan, vân vân.

Nhưng Dân Biểu Chris Smith, Cộng Hòa, tiểu bang New Jersey, đã lên tiếng chỉ trích Bộ Ngoại Giao Mỹ còn sai lầm, khi xếp ba nước Việt Nam, Ấn Ðộ và Trung Quốc vào “loại 2” (Tier 2) trong khi đáng lẽ phải xếp các nước này vào Loại 3 (Tier 3), vì chính quyền ở các nước đó chưa có những luật lệ nghiêm ngặt để đề phòng, ngăn chặn nạn buôn người và bảo vệ các nạn nhân.

Ông Chris Smith là một tác giả của đạo Luật Chống Nạn Buôn Người mà Quốc Hội Mỹ thông qua năm năm 2000, sau đó ông lại đề nghị thêm 2 đạo luật khác để thi hành đạo luật trên. Hai đạo luật này nhắm giúp thúc đẩy việc truy tố các thủ phạm buôn người, và nhắm bảo vệ các nạn nhân không bị trả thù khi họ đứng ra tố cáo. Vị dân biểu nổi tiếng về các đạo luật dân quyền và nhân quyền này nói rằng chính quyền cộng sản Việt Nam đáng thuộc “Loại 2” để “theo dõi đặc biệt” vì “Chúng ta có chứng cớ vững chắc cho thấy xứ này là một nguồn gốc của công việc buôn người.”

Ông Smith tố cáo chính quyền Cộng Sản Việt Nam là chủ nhân chính thức hoặc bán chính thức các công ty đưa người Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài, mà trong đó có những người bị bắt làm việc như nô lệ, cũng như các phụ nữ bị buộc phải làm nghề bán thân. Ngoài ra, ông tố cáo chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã bị tòa án ở nhiều nước kết tội trong nhiều vụ kiện do các nạn nhân bị buôn người khởi xướng, hoặc do các tổ chức vô vị lợi giúp họ; nhưng chính quyền Cộng Sản không bao giờ chịu nộp tiền phạt. Trong số những tổ chức đó có Boat People SOS và tổ chức Bảo Vệ Người Lao Ðộng Việt Nam; đã hoạt động có hiệu quả trong nhiều vụ ở Trung Ðông và Malaysia, để bênh vực và bảo vệ các nạn nhân bị Cộng Sản Việt Nam đem bán cho các chủ nhân nước ngoài.

Ông Smith nói cho công chúng và báo chí Mỹ nghe những điều mà người Việt Nam đã biết từ lâu. Ðằng sau các tổ chức gọi là xuất khẩu lao động, đằng sau các công ty làm môi giới cho phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, đều là những cán bộ Cộng Sản. Có thể nói công việc “buôn người” để lấy vàng và đô la Mỹ đã bắt đầu từ ngay sau năm 1975! Khi đó, các cán bộ Cộng Sản tổ chức cho nhiều người vượt biên, đặc biệt là các người Việt gốc Hoa giàu có. Mỗi một mạng người muốn trốn thoát chế độ Cộng Sản phải chịu một cái giá trả bằng vàng, sau trả bằng đô la vì đồng tiền Mỹ nhẹ, dễ cất giấu hơn! Cả một phong trào vượt biên bán chính thức là một chiến dịch buôn người khổng lồ! Chính ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm nên tài sản lớn đầu tiên nhờ các dịch vụ buôn người đó. Ðảng Cộng Sản tiếp tục tổ chức cho người Việt ra ngoài làm lao động hay lấy chồng ngoại quốc để kiếm lời, đó cũng chỉ là tiếp nối công tác kinh doanh người vượt biển ngày xưa.

Công việc kinh doanh buôn người của đảng Cộng Sản thực hiện được, kiếm tiền đáng kể, từ năm 1975 đến nay đều nhờ vào chế độ giành độc quyền chính trị cho đảng Cộng Sản. Nếu không chiếm “độc quyền lãnh đạo” thì không chính quyền nào trên thế giới có thể kinh doanh buôn người kiếm lợi trên quy mô to lớn trong nhiều năm trời như vậy. Cho nên dù ông Dân Biểu Smith hoặc Bộ Ngoại Giao Mỹ có chỉ trích mạnh mẽ tới đâu, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thể nhả món lời to lớn đó ra khỏi miệng được! Trừ khi chính người Việt Nam đứng lên gây một phong trào chống nạn buôn người ngay trong đất nước mình. Nếu một phong trào như thế được gây nên, chắc chắn cả thế giới sẽ hỗ trợ, và người Việt Nam ở nước ngoài sẽ hết lòng hỗ trợ. Vì tình máu mủ đồng bào, không ai không cảm thấy xấu hổ trước cảnh các công nhân Việt Nam bị bạc đãi ở Mã Lai Á, Ðài Loan; hay các phụ nữ Việt Nam bị đem bầy hàng bán ở Thái Lan, Singapore!

Khi nào rất nhiều người dân Việt Nam ý thức được nỗi tủi hổ đó, chính chúng ta sẽ cùng nhau chấm dứt nạn buôn người ở nước ta. Cũng như khi các bạn thanh niên cảm thấy tủi hổ vì không được bầy tỏ lòng yêu nước. Trên mạng lưới boxit.vn, Trịnh Hưng bấy tỏ lòng thán phục với những người bạn trẻ khác đã lén lút viết những chữ “HS - TS - VN” trên khắp nước. Anh vinh dự báo tin tỉnh Nam Ðịnh đã tham gia phong trào này, nhưng anh thú nhận: “Tôi nghe các bạn nói là phải ‘yêu nước lén lút’ mà cảm thấy tủi hổ!”

Không lẽ dân tộc Việt Nam cứ chấp nhận chịu sống trong tủi hổ mãi như vậy?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Mỹ tiếp tục chỉ trích hải quân TQ


Bài báo mang tựa đề "Chỉ huy Hoa Kỳ công kích thái độ của hải quân Trung Quốc" lược thuật lại cuộc phỏng vấn với ông Walsh thực hiện tại đại bản doanh của hạm đội ở Trân châu Cảng, Hawaii. Đô đốc Walsh cho rằng các chuyến bay trực thăng của hải quân Trung Quốc lại gần tàu chiến của Nhật Bản ở Đông Hải và Tây Thái Bình Dương hồi tháng Tư là "vô trách nhiệm". Ông cũng bày tỏ quan ngại về thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông.
Image
Hoa Kỳ đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về hải quân Trung Quốc
Hoa Kỳ lại một lần nữa lên tiếng chỉ trích cách hành xử của Trung Quốc tại các vùng Đông Hải và Biển Đông.

Trong phỏng vấn dành cho Asahi Shimbun, tờ báo hàng đầu của Nhật Bản, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ - Đô đốc Partick Walsh nói các hoạt động của hải quân Trung Quốc "gây quan ngại cho tất cả các bên hiện đang có mặt ở Thái Bình Dương".

Bài báo mang tựa đề "Chỉ huy Hoa Kỳ công kích thái độ của hải quân Trung Quốc" lược thuật lại cuộc phỏng vấn với ông Walsh thực hiện tại đại bản doanh của hạm đội ở Trân châu Cảng, Hawaii.

Đô đốc Walsh cho rằng các chuyến bay trực thăng của hải quân Trung Quốc lại gần tàu chiến của Nhật Bản ở Đông Hải và Tây Thái Bình Dương hồi tháng Tư là "vô trách nhiệm".

Ông cũng bày tỏ quan ngại về thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông.

Ông đô đốc chỉ ra rằng riêng trong năm 2009, Trung Quốc đã bắt 433 ngư phủ Việt Nam trong các vùng biển mà hai bên còn đang tranh chấp chủ quyền.

Mới đây Trung Quốc cũng bắt đầu mô tả Biển Đông như một trong các "quan tâm chủ đạo" (core interest) bên cạnh Đài Loan và Tây Tạng.

Đô đốc Walsh nói" "Đây là vấn đề khiến chúng tôi hết sức quan ngại bởi vì, trên nguyên tắc, việc can thiệp vào quyền lưu thông hàng hải tự do trong hải phận quốc tế là quan tâm chủ đạo của tất cả các nước cùng sử dụng."

"Động mạch kinh tế chạy qua Biển Đông này đang bị người ta gây đe dọa vì các tranh chấp chủ quyền, đảo đá và bãi cạn."

Ông nói trong khi Hoa Kỳ cố gắng duy trì quan hệ với Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, "thể hiện quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nơi hai bên không có quan hệ phát triển và cũng là nơi rất dễ xảy ra hiểu lầm".

Mới đây Trung Quốc đã quyết định hoãn chuyến thăm nước này của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates.

Bắc Kinh chỉ giải thích một cách ngắn gọn là "thời điểm không thích hợp".

Vấn đề gia tăng

Đô đốc Patrick Walsh nói rằng để phản ứng trước thái độ gây lo lắng của Trung Quốc tại Biển Đông, một số quốc gia liên quan như Việt Nam và Singapore đã quyết định mua tàu ngầm "như một hình thức để bảo vệ chủ quyền".

Ông không bình luận rằng đây là cuộc chạy đua vũ trang nhưng nói điều này cho thấy "vấn đề đang gia tăng trong khu vực".

Kể từ khi nhậm chức hồi năm ngoái, ông Walsh đã tới thăm các nước Việt Nam, Singapore, Malaysia và Indonesia.

"Các nước này quan tâm tới việc thiết lập quan hệ chặt chẽ với hải quân Hoa Kỳ và tôi sẽ tiếp tục thực hiện điều này."

Ông cho rằng những gì đang xảy ra tại các vùng biển gần Nhật Bản và Biển Đông cho thấy các vấn đề rộng lớn hơn. Đó là cách hành xử của Trung Quốc và quân đội Trung Quốc tại các hải phận không thuộc chủ quyền của họ.

Ông nói hoạt động của hải quân Trung Quốc ở các nơi đều liên quan với nhau và có chung một mục tiêu chiến lược.

Khi được hỏi về đe dọa mà hỏa tiễn đạn đạo chống tàu chiến (ASBMs) của Trung Quốc có thể gây ra cho hải quân Hoa Kỳ, đô đốc Walsh chỉ nói: "Tôi nghĩ điều này cho thấy Trung Quốc đang tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ".

Dường như ông Walsh cho rằng chương trình tên lửa đạn đạo chống tàu chiến của Bắc Kinh, tuy chưa hoàn chỉnh, đang tiến nhanh tới thời điểm mang ra triển khai.

ASBMs là một trong các hệ thống vũ khí quan trọng, cùng với các tàu ngầm, có thể giúp Trung Quốc nâng cao khả năng ngăn chặn tàu chiến Mỹ đi lại và hoạt động tại Tây Thái Bình Dương.


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2 ... navy.shtml

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Hãy Biết Im Miệng

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
Quyển sách “Tâm tư tổng thống Thiệu” của ông Nguyễn Tiến Hưng mới ra mắt được ít ngày thì đã khiến cho ông Châu Kim Nhân gửi thư phản đối và yêu cầu tác giả cải chính những chuyện sai lầm bịa đặt về mình. Ông Nguyễn Tiến Hưng là một người có bằng cấp ở Mỹ và từng là một tổng trưởng kể hoạch trẻ của cố tổng thống Thiệu. Ông Châu Kim Nhân cũng là một người bằng cấp nhưng già hơn, và nguyên là tổng trưởng kinh tế cũng thời ông Thiệu. Ông Hưng đã nhanh chóng viết thư giải thích. Cả hai vị là thuộc thành phần “đạo cao đức trọng”, vì cả hai đều làm lớn. Và như thế thì không biết tin ai.Vì ngay cả người thông minh như ông Cao Bá Quát ngày xưa khi đi điều tra cuộc tranh cãi giữa hai vị đại thần cũng chỉ có thể về trình lại với vua rằng bỉ (người này) thế này, thử (người kia) thế nọ, chứ không kết luận được.

Thực thế, ông Hưng đã trả lời rằng ông không biạ đặt về ông Nhân, mà đã chỉ “trích dịch nguyên ý” từ quyển sách “There to the bitter end” của Anne Blair viết theo lời kể của một ông tướng Úc tên là Sarong nay đã chết rồi. Bằng trả lời này, ông Nguyễn Tiến Hưng đã tránh được cái tội biạ đặt, nhưng không khẳng định được rằng những lời nói về ông Châu Kim Nhân là đúng hay sai, dù rằng đó là từ hai người ngoại quốc, mà một người đã chết. Còn người kia tuy là đàn bà và còn sống, nhưng cũng không thể tin là đã nói thật. Ông Hưng đã bào chữa rằng ông “nói có sách, mách có chứng”. Nhất là sách và chứng đây lại là sách và chứng ngoại quốc!

Cũng có người cho rằng ông Hưng là giáo sư đại học, và là người trong cuộc, cho nên có thể tin. Nhưng nghĩ thế cũng là vì không biết rằng trong cái nghề giáo sư và nghiên cứu ngay cả ở Mỹ này có nhiều loại người, và đa số cũng chỉ là sao tẩm chép sách, vì bị đòi hỏi bởi cái yêu cầu nghề nghiệp là publish or perish (viết sách hay là tiêu). Nói riêng trong lãnh vực chính trị xã hội, nhiều sách được viết ra không hẳn là sự thực, hay là nguyên lý, mà là để quảng bá những ý kiến phục vụ cho một chủ trương cần ảnh hưởng vào quần chúng. Ngoài ra thì ở nước Mỹ còn có những giảng sư hay giáo sư thỉnh giảng là những người từng giữ chức vụ ở các chính quyền ngoại quốc mà có thành tích hợp tác với Mỹ, hay nếu không thì cũng là những người chủ trương những quan niệm chính trị Mỹ, rồi vì thế mà phải lưu vong. Nói khác đi, cái chức giáo sư là một đãi ngộ chính trị. Vì những lý do trên nên mới có những nghiên cứu sinh như Độ Ngọc Bích ở đại học Hawai, rồi được thuê dạy tiếng Việt tại trung tâm ngôn ngữ đại học Yale và dịch tài liệu lịch sử, mà có người ba chớp ba nhoáng gọi là giáo sư ở Yale và hô hào gửi thư phản đối đại học Yale sau bài viết tào lao của đương sự, nhan đề “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” được phổ biến đi bởi chương trình Việt ngữ đài BBC.

Chuyện hai ông Châu Kim Nhân và Nguyễn Tiến Hưng do đó không thể biết đúng sai, và nếu có quan trọng thì chỉ quan trọng với ông Nhân, mà cá nhân bị xúc phạm, và hữu ích cho ông Hưng. Hữu ích để bán sách, vì câu chuyện ông Nhân dù sai hay đúng cũng là một trong nhiều mẩu chuyện kể là loại hậu trường chính trị có sức hấp dẫn ít nhiều đối với những người rảnh thì giờ, không có việc gì để làm hơn là đọc những “chuyện gẫu hậu trường chính trị” mà nhân vật là những quân nhân làm chính trị với những người cộng tác đủ hạng, trong đó có cả hai ông Hưng và Nhân, đã dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam

Cuốn sách này của ông Hưng, cũng như nhiều tác phẩm khác của những cấp chức chính quyền VNCH trước đây, đã chỉ có chung một mục đích là đổ tội sự sụp đổ miền Nam cho Mỹ, cho sự phản bội của Mỹ, để mà chạy tội cho mình. Chẳng ai không biết cái vai trò này của Mỹ. Cũng như không ai không biết rằng chỉ vì Gorbachev ngưng chính sách ủng hộ vô điều kiện các chư hầu cho mục tiêu bành trướng chủ nghĩa CS, và vì Liên sô sụp đổ, mà Cộng sản Việt Nam phải quay sang đổi mới, mở cửa ra ngoài. Bài học cho người Việt nam chỉ là nhìn cho ra bản chất những kế hoạch giúp đỡ hay phát triển, của ngoại quốc từ Tây sang Đông chẳng phải vì lòng thương xót, chẳng phải vì lý tưởng tự do dân chủ hay là tạo công bằng xã hội cho VN. Tiếc thay, cho tới nay, ít người làm chính trị thấy như thế và hành sử từ trên căn bản đó, nghĩa là lấy sức minh làm chính trong việc giải quyết những vấn đề của mình. Đa số những người này đã chỉ biết dưạ theo ngoại quốc, để mà gọi là “dùng” hay là “nương” sức người, nhưng thực sự là tay sai,vì nhắm mắt theo những chủ trương ngoại quốc hay dâng nạp tài nguyên nhân lực quốc gia cho ngoại bang như những lãnh đạo CS Việt nam, để được sự ủng hộ chính trị nhằm giữ quyền hành hay mong chiếm quyền hành.

Xem ra thì dù sao ông Nguyễn Văn Thiệu vẫn là người đáng mặt tổng thống nhất, vì biết lì, biết ngậm miệng cho nên tội nặng để mất miền Nam, nhưng cũng không ai bới ra làm gì. Còn như đại quan Nguyễn Tiến Hưng tuy là giáo sư đại học và là tiến sĩ, đã chỉ làm được có một việc mà người bình dân Việt nam không biết văn hoa kiểu cách, nói là “bới phân ra mà ngửi”.

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
Ngày 14 tháng 6/2010

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Khi phó thủ tướng... nói thật

Thiên Văn

Image
Một khóa họp của Quốc Hội CSVN. (Hình: Getty Images)

Ai dám nói quan chức Việt Nam không biết nói thật, họ nói rất thật, người có lương tâm nghe sự thật mà rất đau lòng. Có vị than thở trước bàn dân thiên hạ: “Trên nói dưới không nghe,” cũng có vị ra giọng nhân ái bảo rằng gần hết một nhiệm kỳ làm thủ tướng “tôi chưa kỷ luật một đồng chí nào.” Lý do chắc cũng đơn giản: sợ “kiến ăn cá rồi cá ăn kiến,” tốt nhất là “dĩ hòa vi quý,” thân Tàu, thân Tây không bằng chúng mình thân nhau.

Và gần đây lại thêm Phó TT Nguyễn Sinh Hùng bổ sung vào danh sách các quan nói thật với giọng điệu tự tin và kiêu ngạo đến... phát hãi. Khi trả lời chất vấn trước Quốc hội (QH) được truyền hình trực tiếp ông này đã nói một sự thật hết sức tệ hại dù người nghe có ngao ngán thì cũng chẳng làm gì được ông. Ông nói: “Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là ‘chặt chém’ ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm. Thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây, bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn, có khi sai nhỏ, nhưng mà các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp?”

Phải nói ngay rằng ở Việt Nam đừng nói là “chặt chém” ngay, mà cứ “chặt chém” từ từ cũng chẳng xảy ra và nếu xảy ra thì đúng không còn người để làm việc trong bộ máy chính quyền. Cứ xét theo điều ông Hùng nói thì chẳng có vị nào là miễn nhiễm trước tiêu cực, là không đáng phải “chặt chém,” và ông cũng không ngoại lệ, cũng không phải “chỗ này, chỗ kia” mà tất cả không thiếu chỗ nào, sờ đâu trúng đó. Trong bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương còn ai “chí công vô tư,” còn ai là “đầy tớ của dân”? Hình như chẳng còn ai. Ông nói: “thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây” câu này chắc ông áp dụng Thánh Kinh, có thể được hiểu đầy đủ như sau: (ai trong số các đại biểu Quốc Hội ngồi đây thấy mình trong sạch thì cứ ném đá chúng tôi). Ông tự tin vì phần lớn ngồi dưới là các “đồng chí” của ông nên họ hiểu mình hơn ai hết.

Và ông nói một câu như kết lại vấn đề: “Bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn có khi sai nhỏ, nhưng các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp?” Ðây được xem là phát biểu ấn tượng nhất trong tuần, là thật nhất trong năm. Ðừng nói là QH bầu thành viên chính phủ không kịp, mà tất cả các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, các cơ quan xí nghiệp quốc doanh, thậm chí chức trưởng thôn cũng không thể nào bầu kịp. Vì dẹp thì chẳng có ai tồn tại và không có ai tồn tại thì lấy đâu mà tổ chức bầu với cử, nói chi đến chuyện kịp hay không? Ðiều ông nêu ra đang tồn tại một cách phi lý, một sự thực rất đau lòng nhưng tại sao vẫn không được thay đổi? Chỉ bởi vì chất vấn xong, phát biểu trả lời xong, nghe xong thì... đâu lại vào đấy. Sự thật có phải là dân ta không còn ai có thể thay thế những người đương nhiệm với chỉ số AQ ngất ngưởng như các ông không? Các ông cứ tỉnh ra một chút, một chút thôi là nghiệm thấy ngay.

Xin hỏi thật, hiện nay những thành phần ưu tú của xã hội có tài có tâm được bao nhiêu người trong bộ máy chính quyền các cấp? Những con người ấy họ không muốn tham gia vào bộ máy vì sợ làm hoen ố thanh danh họ, hay họ không biết bước vào bộ máy đó bằng con đường nào? Nếu có ai lọt được vào thì một mặt họ luôn nhận được câu hỏi của các đồng nghiệp: “Anh vào đây bằng con đường nào?” mặt khác, điều họ nghe đầu tiên từ cấp trên của mình là lời chỉ thị, có thể chỉ là lời vô ngôn, rằng phải biết im lặng nếu muốn tồn tại. Và nếu có muốn nói cũng chỉ nên là những câu “ý em giống ý anh...”

Khi sự thực được nói ra trước cơ quan quyền lực cao nhất (QH), được truyền hình trực tiếp đến toàn dân, những đại biểu QH và người dân biết ưu tư với vận nước đều rất đau lòng. Người đại diện chính phủ đã dám nói lên sự thật đấy, nhưng là nói lên một cách vô cảm, nói sự thực không phải vì trung thực mà là để ngạo nghễ thách thức QH, cử tri và công luận.

Khi nào thì cử tri trên quê hương Việt Nam có quyền lực đích thực được thể hiện ý mình thông qua lá phiếu do mình tự nguyện, để những lời nói thật đầy ngạo mạn kia không còn?

Mong là không còn lâu lắm. Mong lắm thay!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ông tướng, ông tổng thống, và nhà báo

Ngô Nhân Dụng
Nhầm lẫn lớn nhất của Tướng Stanley McChrystal là ông nhận lời cho một ký giả phản chiến, của tờ báo phản chiến Rolling Stone, đi theo ông và trò chuyện thân mật với bộ Tham Mưu của ông cả tháng trời. Ký giả Michael Hastings được thấy và nghe đủ mọi chuyện, để viết một bài dài gần 8000 chữ có tính cách “duyệt xét tiến trình hình quân sự” ở Afghanistan. Người ta có thể đoán trước nhà báo đó sẽ nhìn bằng con mắt mầu xám và sẽ đưa ra các cảnh tượng không đẹp đẽ, để chứng tỏ mình đã khám phá ra những điều mà các nhà báo khác không thấy. Cả bài báo của McChrystal hầu như chỉ cốt chứng tỏ chính sách Mỹ ở Afghanistan đang thất bại, hầu như không lối thoát.

Muốn bôi đen cũng khó. Quân Mỹ và 40 nước đồng minh tấn công vào Afghanistan từ tháng 10 năm 2001, đến nay đã dài hơn thời gian tham chiến ở Việt Nam. Nhưng cho tới gần đây số tử vong của quân đội Mỹ mới lên tới 1,000 người. Nhà báo không tìm được hình ảnh những tử thi của binh sĩ hay thường dân để tả cảnh đen tối. Cho nên, ông ta đã nhấn mạnh đến những khó khăn nội bộ: Mối nghi ngờ của binh sĩ đối với chiến lược và chiến thuật của cấp chỉ huy chiếm một phần lớn bài báo. Phần nhỏ hơn là thái độ khinh thường do bộ tham mưu của ông tướng biểu lộ khi họ nói về các nhà chính trị ở thủ đô. Trong lúc vui đùa, họ còn nói những lời nhục mạ chính khách một nước đồng minh.

Bài của Hastings trong Rolling Stone số tháng 7, 2010 mở đầu với cảnh Tướng McChrystal bực bội vì phải ngồi chờ đợi trong căn trong phòng sang trọng ở khách sạn Westminster, Paris, với đám tùy viên hàng chục người, bận rộn nghe báo cáo thành phố Kandahar vẫn bị quân khủng bố đánh bom. Ông đang chờ đi ăn tối với một đại diện của chính phủ Pháp. Tướng McChrystal có nhiệm vụ ngoại giao, ve vuốt các nhà chính trị, thuyết phục họ để quân đội Pháp tiếp tục tham chiến ở Afghanistan. Nước Pháp đã hy sinh 40 binh sĩ ở Afghanistan. Năm nay chính phủ các nước Canada, Hòa Lan đã báo trước sẽ rút 4,500 quân về, theo ý muốn của dân chúng nước họ. Tướng McChrystal sẽ gặp ai? Một sĩ quan phụ tá (không nêu tên) trả lời nhà báo: Một anh bộ trưởng Pháp nào ấy mà, một thằng cha đồng tính (gay... kèm với một tiếng thô tục nhà báo tự ý đục bỏ).

Nghĩ tới bữa ăn sắp dự với một chính khách Pháp, ông tướng hỏi: Tại sao tôi bắt buộc phải đi ăn như thế này? (Ông dùng một chữ tục khó dịch). Vị sĩ quan chánh văn phòng trả lời: Thưa ngài vì cương vị của ngài đấy ạ! Ông tướng quay ghế: Ê, Charlie, vì cương vị thật à? Ðại Tá Charlie Flynn đưa ngón tay giữa lên để trả lời!

Phu nhân ông tướng được chồng gọi từ Mỹ qua để dự bữa ăn tối. Bà rất mừng, vì kể từ năm 2003 khi Tướng McChrystal bắt đầu đi đánh nhau ở Iraq, tới nay mỗi năm bà được gặp ông chưa tới 30 ngày. Ông tướng sống rất giản dị. Mới 55 tuổi, chạy bộ 7 miles mỗi sáng, ăn ngày một bữa, đêm chỉ ngủ 4 tiếng. Nhà báo kể trong một tháng chỉ gặp ông một lần lúc ông đang ăn. Ông rất ghét các quán ăn sang trọng. Ghét nhất là bàn ăn có thắp nến. Ông thích uống bia Bud Light hơn là uống rượu Bordeaux. Paris là chỗ rất “không thích hợp,” rất anti- McChrystal! Ông nói: Tôi thà bị cả bọn trong phòng này chúng đá đít còn hơn phải đi dự bữa ăn tối hôm nay. Tiếc rằng, chúng nó không đứa nào đá tôi cả! Bà vợ ông thì vui vẻ tâm sự với nhà báo: Có lúc ở Mỹ ông chồng dẫn bà vào ăn ở quán hăm bớc gơ Jack in The Box mặc dù hôm đó bà đã chuẩn bị mặc bộ đồ dạ hội khi được chồng rủ đi ăn tối!

Trong một tháng trời đi theo ông tướng và các sĩ quan cận vệ của ông, nhà báo chiếm được cảm tình của họ, được nghe họ kể những chuyện riêng tư. Nhà báo mô tả lối sống, hành động và tính tình của ông tướng được lòng thuộc cấp. Lối cư xử thân mật giữa ông và các sĩ quan bộ tham mưu, với các binh sĩ ngoài mặt trận, tính khí rất “nhà binh” của cả bộ tham mưu. Họ chỉ gọi ông tướng là “Boss.” Boss nói thế này, Boss nói thế kia. Nhà báo nhận xét: Các sĩ quan tham mưu tỏ ra coi thường hệ cấp chỉ huy. Và tất nhiên, họ thích thú chế nhạo, phê bình các nhà chính trị “sa lông” vẫn lâu lâu tạt qua mặt trận đòi nghe thuyết trình! Bộ tham mưu của Tướng McChrystal chê Tướng James Jones, cố vấn an ninh của Tòa Bạch Ốc là một thằng hề. Họ thuật lại những lời ông tướng nói trong nội bộ, phê bình các nhà chính trị bất đồng ý kiến với ông về chiến thuật, chiến lược. Ðặc biệt là Phó Tổng Thống Biden và đại sứ Mỹ ở Afghanistan. Chỉ có một chính trị gia được ông tướng khen, theo lời các cận vệ, là bà ngoại trưởng, vì bà Hillary Clinton ủng hộ chiến lược chống nổi dậy của ông ngay từ đầu. Thuộc hạ của ông tướng kể lời bà nói: “Stan cần cái gì, cứ cho ông ta hết!” Người chống lại, cũng chống ngay từ đầu, là Phó Tổng Thống Joe Biden. Phó tổng thống Mỹ không muốn chiến tranh kéo dài, chậm chạp, tốn tiền nước Mỹ quá! McChrystal coi Biden không ra gì cả. Những Nghị Sĩ John Kerry, John McCain, đã đi thăm mặt trận nhiều lần, cũng bị chế nhạo.

Một sĩ quan kể có lần ông tướng chuẩn bị một họp báo, đoán trước sẽ phải trả lời các câu hỏi về những lời ông chê Phó Tổng Thống Joe Biden. Năm ngoái trong lúc thuyết trình ở London, Tướng McChrystal chỉ trích ý kiến của của Phó Biden về chính sách chống nổi dậy là “thiển cận.” Nó sẽ gây hỗn độn, Afghanistan sẽ biến thành xứ Hỗn Ðộn, Chaos-istan. Sau đó, Tổng Thống Obama đã gọi McChrystal tới gặp riêng, trong phi cơ Air Force 1, để yêu cầu ông giữ miệng. Trong khi chuẩn bị cuộc họp báo mới, theo lời một cận vệ kể lại với nhà báo, McChrystal nói đùa rằng nếu có người thắc mắc chuyện đó, ông sẽ hỏi lại: Chuyện ông Biden hả? Ông ấy là ai vậy?

Tướng McChrystal được Tổng Thống Obama đưa lên thay thế Tướng David McKiernan vào tháng 6 năm ngoái, như ông bộ trưởng quốc phòng đề nghị; trước đó ông tướng không hề quen biết ông tổng thống. Ông là con của một vị tướng 2 sao đã từng tham chiến ở Cao Ly và ở Việt Nam. Bốn anh em trai cùng ở trong quân đội. Khi theo học Ðại Học Quân Sự Westpoint, ông đã bị 100 giờ phạt, một kỷ lục, vì nhiều lỗi trong đó có tội say rượu. Ở Afghanistan ông cấm rượu trong doanh trại. Khi còn chỉ huy ở Iraq, McChrystal nổi tiếng đánh giặc giỏi. Nhưng ông cũng bị mang tiếng vì viết báo cáo láo về cái chết của Trung Sĩ Pat Tillman, đề nghị huy chương cho người cầu thủ nổi tiếng tình nguyện tòng quân này. Báo cáo đã khai gian là Tillman bị quân địch giết! Sự thật là Tillman bị trúng đạn do đồng đội bắn lạc. Sau Iraq, McChrystal làm 5 năm ở bộ quốc phòng, chỉ huy các chiến dịch bí mật, trong đó đã bắt được Abu Musab al-Zarqawi, người cầm đầu al-Qaeda tại Iraq.

Sau khi nhậm chức ở Afghanistan, McChrystal muốn tăng thêm 40,000 quân, ý kiến đó được tiết lộ, nhiều người cho là ông cố ý ép ông Obama! Quốc Hội chỉ muốn cho thêm 20,000 quân thôi, nhưng sau đó ông Obama đã chịu con số 30,000! Từ khi nhậm chức McChrystal đã tăng số lực lượng đặc biệt ở Afghanistan từ 4 lên 19 đơn vị. Chiến cuộc tăng mạnh vì trong bảy tám năm trước đây quân Taliban đã phục hồi trong lúc Mỹ bận đánh nhau ở Iraq. Số thường dân chết trong 4 tháng đầu năm nay lên tới 90 người, tăng 76% so với năm ngoái. Dân oán thán, Tổng Thống Karzai công khai phản đối, Tướng McChrystal đã tới tận dinh tổng thống xin lỗi. Tổng Thống Karzai rất thích Tướng McChrystal, đã lên tiếng ủng hộ ông trước khi ông từ chức. Trong khi đó thì Ðại Sứ Karl Eikenberry luôn chỉ trích chính quyền Karzai tham nhũng, bầu cử gian lận, bị cả Karzai và McChrystal ghét.

Từ năm ngoái, Tổng Thống Obama đã ủng hộ chiến lược bình định của McChrystal. Tướng David Petraeus, người chỉ huy và mới được bổ nhiệm thay thế McChrystal ở Afghanistan, cũng chấp nhận chiến lược đó. Ông Petraeus đã từng đề nghị tăng quân ở Iraq 3 năm trước đây. Ông rất thân cận Tổng Thống Bush, có người tính mời ông sau này ra ứng cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa. Theo chiến lược mới, chính phủ Mỹ đã tăng quân số và tập trung vào việc bảo vệ sinh mạng thường dân chứng không phải chỉ lo giết quân địch. Theo chiến lược bình định này, McChrystal ra lệnh bớt pháo kích, bớt thả bom. Tránh không được bắn vào nhà cửa thường dân, không được phá nhà cửa làng xóm. Lính bất mãn vì họ bị nguy hiểm nhiều hơn.

Binh sĩ than phiền với các nhà báo. Gần một nửa bài báo của Michael Hastings thuật lại những khó khăn của binh sĩ, tìm ra những khe hở trong chính sách bình định của Tướng McChrystal. Lính oán thán vì bị hạn chế sử dụng hỏa lực. Cũng như đa số dân chúng Mỹ hay nóng ruột, không hiểu nhu cầu chiếm lòng dân quan trọng hơn là giết quân địch, nhà báo Hastings chê cuộc chiến tiến hành quá chậm chạp, đánh ba tháng vẫn chưa yên một thành phố,đánh mãi chưa thấy kết quả! Ðọc xong bài báo, cảm thấy báo động cuộc chiến sẽ sa lầy!

Một trung sĩ, Israel Arroyo đã email cho McChrystal than bị cấm đoán không được dùng hỏa lực tối đa. Nói thẳng: “Ông không lo cho lính!” Ngày hôm sau McChrystal tới tận tiền đồn, đi bộ cùng hành quân với lính, ai cũng phải vui lòng. Nhưng mấy tuần sau, một đồng đội của họ bị bắn chết, đạn bắn từ căn nhà mà trước đó cấp trên đã cấm họ không được tấn công, không được pháo kích, lúc đó thì ai cũng oán giận cấp chỉ huy. Tướng McChrystal lại phải tới tận nơi. Ông trực tiếp giải thích chiến lược bình định của mình: Tại sao phải tôn trọng tính mạng thường dân Afghanistan dù có khi vì thế mà lính mình bị nguy hiểm. Ông nói: Quân đội Nga tới Afghanistan trước đây, họ đã giết một triệu người. Nhưng Nga vẫn thất bại.

Trong bài báo của Michael Hastings chỉ có hai điều phê phán ông Obama. Một sĩ quan cận vệ (không nêu tên) kể rằng ông tướng bất mãn vì, trong lần gặp đầu tiên cùng các vị tướng khác, riêng ông chỉ được gặp tổng thống có 10 phút! Và McChrystal nhận xét là ông tổng thống có vẻ không thoải mái khi gặp mặt giới tướng lãnh. Nói chung thì những lời chỉ trích các nhà chính trị cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong bài báo, người bị chê bai nhất là Joe Biden.

Nhưng Tướng McChrystal không tránh được rắc rối. Các sĩ quan cận vệ của ông đã vi phạm một quy tắc quan trọng nhất trong chế độ dân chủ của Mỹ, là giới chính trị do dân bầu lên nắm quyền điều khiển quân đội. Các tướng lãnh và chuyên gia quân sự phải tuân lệnh chính quyền dân sự. McChrystal đã vi phạm quy tắc thiêng liêng này, khi để cho cấp dưới chỉ trích và chế nhạo những người như phó tổng thống, và cả ông Ðại Sứ Eikenberry, là người đại diện của chính phủ Mỹ tại Afghanistan.

Tuy nhiên, những lời chỉ trích của họ, và những điều họ thuật lại lời ông tướng, phần lớn nhắm vào cá nhân chứ không phải bàn về chính sách của chính phủ. Hồi xưa Tướng Douglas MacArthur đã chỉ trích ngay cả chính sách của Tổng Thống Harry Truman cho nên bị cách chức. Trước đây, Tướng William Fallon chỉ huy Khu Vực Trung, coi toàn bộ vùng Trung Ðông, Ấn Ðộ Dương và Phi Châu, đã chỉ trích chính sách của chính phủ Bush đối với Iran, rồi bị cất chức. Một vị tướng khác tại Iraq cũng đã công khai chỉ trích ông Rumsfeld trong lúc ông còn làm bộ trưởng Quốc Phòng.

Trong thực tế, Tổng Thống Obama vẫn theo chiến lược bình định của Tướng McChrystal, và Tướng David Petraeus, đang cầm đầu chỉ huy Khu Vực Trung, chính là người đã vẽ ra chiến lược đó cùng với McChrystal. Chính sách và chiến lược của Mỹ ở Afghanistan không lo bị gián đoạn, nhưng tinh thần quân đội Mỹ ở Afghanistan có thể ảnh hưởng. Biến cố này cho thấy trong chính phủ Obama có những bất đồng ý kiến về chiến lược, chiến thuật, đôi lúc đã bị tiết lộ công khai.

Những lời phê phán các chính khách, toàn là những câu nghe thuật lại, ông tướng không bao giờ nói với nhà báo nào cả. Và nhà báo cũng không nêu tên một sĩ quan cận về nào của ông tướng khi kể lại những lời họ nói. Nhưng tất cả mọi người đều tin đó là những lời nói thật. Mà chỉ vì những lời “thuật lại” đó, Tướng McChrystal đã bị gọi về Washington và nộp đơn từ chức. Ðiều này cho thấy trong xã hội Mỹ các nhà báo rất được người ta tin, tin rằng họ không bịa đặt vì ác ý. Những sai lầm của nhà báo là do họ cũng nóng ruột như đa số dân Mỹ, không hiểu rằng chiến tranh ở Afghanistan, Iraq hay ở Việt Nam khác với các cuộc chiến lớn trước kia. Họ cứ muốn thấy quân đội đã đến chiếm thành phố nào là chỗ đó phải yên ổn ngay! Họ chú ý tới những bất mãn của binh lính khi bị hạn chế hỏa lực, không hiểu rằng cứ giết oan một người dân là có thể cung cấp thêm một người cho lực lượng chống đối. Nhà báo cứ muốn chứng tỏ mình thông minh, hiểu biết tình hình hơn các nhà quân sự và các nhà chính trị. Nhầm lẫn lớn của Tướng McChrystal là để cho nhà báo phản chiến đi theo sát suốt một tháng trời, mà không báo động trước cho bộ tham mưu phải giữ gìn lời ăn tiếng nói! Những người quen sống trong một xã hội tự do dân chủ, sống minh bạch công khai, thường dễ rơi vào lầm lẫn tai hại này!

Post Reply