Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

NHỮNG VẦN THƠ CHUI
Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”.

Những vần thơ chui đôi khi dí dỏm khiến người nghe phải tủm tỉm cười thầm hay ôm bụng cười sằng sặc hoặc đôi khi não nùng thống thiết bày tỏ tinh thần chống đối chủ nghĩa cộng sản đem lại đói khát, khổ đau, nhục nhã cho người dân sau ngày chúng cưỡng chiếm Miền Nam.

Vào ngày 30-4-1975, khi mà những đôi dép râu giẵm nát hè phố Sài Gòn thì mây sầu cũng phủ đầy trời, khí oan kín đất. Cái chiến thắng của những kẻ đào đường, phá cầu, giật mìn xe đò, đốt trường học, pháo kích nhà dân cũng là đám mây đen bắt đầu vần vũ báo hiệu một cơn giông tố hãi hùng sắp sửa xảy ra cho quê hương và dân tộc. Cho nên khi thấy những cái nón cối xuất hiện thì đồng bào đổ xô nhau chạy, chạy toát mồ hôi trước những kẻ tự xưng là “giải phóng”. Nhìn cảnh tượng đó, một bác sĩ, cũng là một nhà thơ còn kẹt lại ở Việt Nam đã làm một bài thơ có tựa đề:

CHẠY! CHẠY!

Tự do, độc lập nhất trên đời,
Thiên hạ sao mà chạy chết thôi!
Mới thấy bóng cờ sờn tóc gáy,
Vừa nhìn ảnh bác toát mồ hôi.
Tổ cò, tổ quốc tung hê cả,
Nhân bánh nhân tình vứt bỏ rơi.
Ông Táo quên quần la cuống quýt:
“Mau lên kẻo nó tới kia rồi”.


Và vừa chạy, đồng bào vừa bảo nhau:

Đôi dép râu giẵm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai.


Công lý và tự do là hai danh từ mang nhiều ý nghĩa cao đẹp mà người dân của bất cứ quốc gia nào cũng đều ấp ủ, thậm chí có rất nhiều người còn hy sinh xương máu mình để bảo vệ công lý và tự do. Nhưng những người cộng sản vốn độc tài, ghét công lý, thù tự do nên khi vừa cưỡng chiếm Miền Nam họ liền cho thay đổi hai con đường Công Lý, Tự Do ở Sài Gòn lại thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi. Thấy vậy người dân mới mỉa mai rằng:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.


Lúc mới chiếm được Miền Nam, Việt Cộng áp dụng nhiều biện pháp khắc khe để kềm kẹp đồng bào như kiểm soát từ miếng ăn, từ lời nói, tư tưởng, sự đi lại. Người dân muốn di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác phải xin phép với nhiều thủ tục giấy tờ phức tạp, khó khăn. Di chuyển không giấy phép sẽ bị bắt giữ hay không có danh sách trong “hộ khẩu”. Người dân không còn được tự do đi lại dễ dàng như trước kia khiến họ oán ghét chế độ, từ đó trong lòng nhân dân phát sinh ra một bài thơ chui “ĐI RA . . . ĐI VÀO” khá dí dỏm, mở đầu bằng câu Kiều của Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta,
Ai ai cũng được đi ra, đi vào.
Chậm tiến như ở nước Lào,
Người dân vẫn được đi vào, đi ra.
Tiên tiến như ở nước Nga,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Xa xôi như nước Bồ-Đào,
Đồng bào vẫn được đi vào, đi ra.
Mọi rợ như Angola,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Độc tài như xứ bác Mao,
Nhân dân vẫn được đi vào, đi ra.
Chỉ riêng có tại nước ta,
Người dân cóc được đi ra, đi vào.


Chiếm được Miền Nam, cộng sản dùng mọi thủ đoạn gian manh như đổi tiền, đánh tư sản mại bản, tịch thu tài sản, sưu cao thuế nặng để bóc lột nhân dân cho đến trần trụi. Quá bần cùng, không cơm ăn áo mặc người dân phải đi ăn xin, ăn mày. Trong thời điểm này, ăn mày xuất hiện khắp đường phố và dân gian đã nhại bốn câu Chinh Phụ Ngâm để nói lên thảm cảnh ăn mày của người dân dưới sự cai trị tàn bạo của ngụy quyền tự nhận là “Đỉnh cao trí tuệ của loài người”:

Con cháu Lạc Hồng chung giống cả,
Không què đui sao rủ rê nhau.
Đảng ta bị gậy trao tay,
Nửa đêm truyền hịch đợi ngày . . . ăn xin!


Sau ngày 30-4-1975, Miền Nam như sụp xuống địa ngục, tập đoàn cộng sản đã vẽ nên bức tranh đen tối cho quê hương. Trước kia, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa người dân được sống sung túc về vật chất, thoải mái về tinh thần. Sự giàu sang, sung túc của Miền Nam bị những người cộng sản Bắc Việt gọi là “sự phồn vinh giả tạo” và sau khi “giải phóng” Miền Nam họ đã biến sự phồn vinh giả tạo này thành địa ngục của đói rách, khổ đau, nhục nhã, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, cả nước phải ăn cơm độn với khoai hay phải ăn bo bo. Các cựu sĩ quan với bằng tú tài, cử nhân, kỹ sư, giáo sư phải chạy xe ôm, đạp xích lô, bán chợ trời . . .


Nhìn những người có học, trí thức đó phải bưng những cái mẹt đi bán từng trái chanh, trái ớt, từng bó rau muống, từng tấm vé số, từng điếu thuốc lá hay sửa xe ở góc đường thấy mà chảy nước mắt cho một cuộc đổi đời. Trước cảnh quê hương bầm dập tả tơi, đồng bào lầm than khốn khổ, người dân đã nhại bài ca dao “Mười Thương” để nói lên thảm trạng của đất nước sau ngày được gọi là “giải phóng”:

Một thương phá hại xóm làng,
Hai thương bác bảo gian nan trường kỳ.
Ba thương cơm độn củ mì,
Bốn thương hội họp bất kỳ ngày đêm.
Năm thương chân cứng đá mềm,
Bắt đi đánh trận đông Miên, hạ Lào.
Sáu thương sản lượng bình cao,
Để cho mức thuế ngày nào cũng tăng.
Bảy thương sản xuất siêng năng,
Thuế rồi nhịn đói nhăn răng cả nhà.
Tám thương được hát quốc ca,
Của hai nước bạn là Nga với Tàu.
Chín thương nô lệ cúi đầu,
Chùi giày Trung Cộng, quạt hầu Nga Sô.
Mười thương có một bác Hồ,
Làm cho điêu đứng cơ đồ Việt Nam!


Cộng sản đưa ra khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” nhưng thực chất của chính sách thi đua lao động là phương cách bóc lột mồ hôi, máu lệ của người dân để đời sống của cán bộ và lãnh đạo giàu sang, “ngồi mát ăn bát vàng”. Đây, xin hãy nghe người dân nghèo khổ, lầm than gióng lên những tiếng chuông ngân dài, ai oán:

Thi đua làm một thành hai,
Để thằng cán bộ mua đài, mua xe.
Thi đua làm một thành ba,
Để thằng cán bộ xây nhà, lót sân.
Thi đua làm một thành tư,
Để thằng cán bộ tiền dư, bạc thừa.
Thi đua làm một thành năm,
Để thằng cán bộ vừa nằm, vừa ăn.


Hay:

Công nhân giai cấp tiền phong,
Ăn đói vác nặng, lưng còng mắt hoa.
Một người làm việc bằng ba,
Để cho lãnh đạo xây nhà, xây lăng.
Mọi người thi đua thật hăng,
Để cho lãnh đạo ăn nằm thảnh thơi.
Công nhân vợ ốm, con côi,
Lãnh đạo nhà đẹp, xe hơi bề bề.
Bao giờ cho hết trò hề?


Ngoài sự bóc lột người dân, chế độ cộng sản còn sinh ra tệ nạn tham nhũng. Tham nhũng ở khắp mọi nơi trong guồng máy nhà nước. Cán bộ tham nhũng đã trở thành những“tư bản đỏ” với tiền rừng, bạc biển. Theo tin tức cho biết hiện thời có rất nhiều cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản là những triệu phú hay tỷ phú Đô-la (US$). Ai cũng biết hầu hết cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản đều thuộc thành phần vô sản vì thế người dân mới hỏi nhau rằng nếu chúng không tham nhũng, không mánh mung, không ăn cắp công quỹ, không ăn cướp của dân, không bán rẻ tài nguyên quốc gia thì thử hỏi tiền đâu để chúng trở thành triệu phú hay tỷ phú Đô-la? Xin hãy nghe những lời ta thán của người dân:

Hỡi phường cán bộ gian tham,
Sao chẳng chịu làm chỉ chực ăn không?


Hoặc:

Chủ tịch nằm ngủ trong lăng,
Trung ương nghỉ mát lăng xăng nước ngoài.
Phu nhân buôn lậu dài dài,
Cô chiêu, cậu ấm nước ngoài yên thân.
Chung quy chỉ chết thằng dân!


Quá khổ dưới sự cai trị bạo tàn khiến người dân uất hận đem các lãnh tụ cộng sản ra oán trách và châm biếm. Người bị oán trách trước tiên là Hồ Chí Minh:

Trách ai sinh thứ họ Hồ,
Để cho đất nước như đồ vất đi.


Ngoài sự oán trách, người dân còn đem ông Hồ ra mà châm biếm:

Mỗi năm một mét vải sô,
Làm sao che được cụ Hồ em ơi!


Hay:

Di ảnh bác Hồ lộng kiếng treo,
Nghĩa là liệng cống, cạnh chuồng heo.
Vất mi xuống đó, loài muông cẩu,
Đừng để chúng ông giận đá bèo.


Và khi nhà nước cộng sản vừa mới dựng xong tượng Hồ Chí Minh ở Bến Ninh Kiều thuộc tỉnh Cần Thơ thì người dân cũng có liền hai câu thơ bằng thứ văn chương đối kháng mà khi đọc lên hồn ma ông Hồ cũng phải nhức nhối:

Chiều chiều trên Bến Ninh Kiều,
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân.


Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa hoang tưởng nên khi áp dụng nó sẽ đem lại những hậu quả tai hại thế mà Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa này tròng lên đầu lên cổ nhân dân với lời hứa đưa đất nước lên “thiên đàng cộng sản”. Thiên đàng đâu không thấy mà chỉ thấy đất nước bị tụt hậu, dân tình lầm than, khốn khổ cho nên, ngoài sự oán trách ông Hồ, dân Việt Nam ta còn oán trách cả Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa hoang tưởng này:

Cụ Mác ơi! Cụ là đồ chó đẻ,
Thiên đàng cụ hứa như thế kia a?


Sau ông Hồ, các lãnh tụ của tập đoàn cộng sản bị nhân dân nguyền rủa, châm biếm nhiều nhất là Tổng bí thư Lê Duẫn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tướng Võ Nguyên Giáp:

Ai sinh tên Duẫn tên Duân,
Em đã không quần, cái áo cũng không.
Ai sinh tên Sắt tên Đồng,
Em đã mất chồng, mất cả thằng Cu.
Ai sinh tên Khủ tên Khu,
Tố cha giết mẹ, bỏ tù toàn dân.


Hay:

Thằng Đồng, thằng Duẫn, thằng Chinh,
Tụi mày có biết dân tình cho không?
Rau muống nửa bó một đồng,
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân!


Hoặc:

Ông Đồng, ông Duẫn, ông Chinh,
Vì ba ông ấy dân mình lầm than.


Và:

Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,
Cả ba đồng lòng phá hại nước ta.


Khi Lê Duẫn sang Tàu, sang Nga xin viện trợ súng đạn để đem về pháo kích vào nhà dân, giết hại dân lành thì đồng bào nhại theo bài ca dao “Con Mèo Trèo Lên Cây Cau” để lên án tập đoàn CSBV:

Con mèo trèo lên cây cau,
Hỏi thăm chú Duẫn đi đâu vắng nhà?
Chú Duẫn sang Tàu, sang Nga,
Xin súng, xin đạn cúng ma bác Hồ.


Bản chất của cộng sản là gian ác, vô luân được che giấu dưới mỹ từ “Đạo đức cách mạng vô sản”. Đảng viên càng nhiều tuổi đảng bao nhiêu, giữ chức vụ đảng càng cao bao nhiêu thì mức độ vô luân càng tinh vi bấy nhiêu. Xin hãy nghe người dân chế giễu cái “Đạo đức cách mạng” của các lãnh đạo cộng sản:

Phủ Chủ tịch có con dê,
Làm bao cán bộ vỗ về mệt công.
Dê Duẫn lẩn tránh đám đông,
Tối ngày tìm húc cái lồng không “rê”. (Cái LỒNG không G).

Và khi mà Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẫn, Lê Đức Thọ làm nhục bằng cách tước hết binh quyền rồi giao cho chức vụ phụ trách “Sinh đẻ có kế hoạch” thì các chị em phái nữ che miệng cười:

Ngày xưa Võ Giáp cầm quân,
Ngày nay Võ Giáp cầm quần chị em.


Còn những chị em khác có óc hài hước, hóm hỉnh hơn một chút thì khúc khích rỉ tai nhaumà rằng:

Ngày xưa Võ Giáp bịt đồn,
Ngày nay Võ Giáp bịt l.. chị em.


Để kết luận, dưới sự cai trị của cộng sản, đồng bào đói khổ, xã hội suy đồi, truyền thống dân tộc bị chà đạp, tự do con người bị tước đoạt. Và cũng dưới sự cai trị của cộng sản mà Việt Nam ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, còn xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội nhiều tệ đoan nhất hoàn vũ. Tóm lại, Xã Hội Chủ Nghĩa của cộng sản hoàn toàn thất bại, bị phá sản toàn diện, gây ra những vết thương rỉ máu cho Mẹ Việt Nam và những vết thương rỉ máu này chỉ lành được khi quê hương không còn bóng dáng của những người cộng sản.

Lê Thương

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Vũ Phương Anh - sao vẫn nặng những niềm riêng

Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Cảm nghĩ của em cũng như của những người đã vượt thoát khỏi Việt Nam. Ðó là một cảm giác rất khó tả, vừa vui mừng, vừa hồi hộp, vừa lo lắng.”

Ðó là cảm nhận của cô Vũ Phương Anh khi đặt những bước chân tị nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ dưới sự giúp đỡ của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (BP.SOS).
Image
Cô Vũ Phương Anh, hình chụp trong những ngày còn tị nạn tại Thái Lan. (Hình: Vũ Phương Anh cung cấp)
Những suy nghĩ đầu tiên

Khoảng 10 ngày sau khi làm quen với cuộc sống ở Mỹ, Phương Anh, nạn nhân của chương trình “xuất khẩu lao động” vẫn còn cảm thấy “ngỡ ngàng, ngỡ ngàng vô cùng” với những tình cảm mà cô nhận được trên mảnh đất tự do này.

“Ðầu tiên em chỉ nghĩ Hoa Kỳ là một nơi cho mình tự do, chứ không nghĩ chính phủ Hoa Kỳ, những người Việt hải ngoại, những tổ chức đã bảo trợ, giúp đỡ cho em rất tận tình, đến em không ngờ nổi luôn. Họ lo cho đủ mọi thứ.”

Phương Anh kể, sau một chặng đường bay dài hơn 30 tiếng, khi xuống sân bay Mỹ, các anh chị ở tổ chức SOS và tổ chức IOM ra đón cô, và cho cô cảm giác “cứ như bước chân về nhà, vừa đến nhà đã có hàng xóm nghe thấy có người Việt đã ra đón ngoài cổng.”

Tình cảm của những người xa xứ dành cho đồng hương mới đến đã khiến Phương Anh “không nói được câu nào hết, em nhớ em chỉ nói được câu ‘cám ơn’ và khóc không thôi.”

Theo Phương Anh, phần đông hàng xóm nơi Phương Anh ở là “các bác H.O.”

“Lúc đầu họ không biết em là ai, nhưng khi thấy các anh chị bên tổ chức SOS quay phim, nên họ hỏi. Ðến lúc biết em là nạn nhân Cộng Sản, các bác H.O. ở đó coi em như con gái luôn.”

Những điều đó đã khiến Phương Anh nghĩ rằng có lẽ cô sẽ chẳng còn mong muốn dọn đi đâu nữa, bởi “bước chân đầu tiên của em đến đất nước Hoa Kỳ mà em đã nhận được những tình cảm như vậy thì làm sao mà quên được. Em chỉ biết nói cám ơn và sẽ cố gắng sống sao cho tốt với những tình cảm mà mọi người đã dành cho em.”


Hành trình “lao động xuất khẩu”


Phương Anh cho biết, cô xuất thân trong gia đình “không có được may mắn như mọi người.”

Nhà ở Lào Cai, bố mất sớm, mẹ bị tim, chị gái sang Trung Quốc tìm việc rồi mất tích, bản thân Phương Anh cũng chỉ được học hết lớp 5, và bắt đầu lao vào cuộc bươn chải mưu sinh kiếm tiền phụ mẹ từ năm 12 tuổi.

“Do nhà ở mạn Lào Cai nên em theo chủ hàng đi lấy bia, vải rồi xách hàng thuê cho người ta bỏ xuống thuyền và đẩy qua sông cho họ. Xong, họ cho tiền, khi 10 ngàn, khi 15 ngàn, nhiều nhất là 20 ngàn.” Phương Anh nhớ lại những năm tháng tuổi thơ lăn lộn kiếm tiền.

Theo người ta buôn gỗ, buôn gạo, buôn hàng may, rồi đi may giày, rồi đi bán quần áo... “Bao nhiêu các tỉnh miền Bắc em đã đi qua gần hết rồi, đi làm hết để kiếm thêm tiền thuốc trị bệnh tim cho mẹ.” Cô kể tiếp.

Ðến năm 2008, ở xã cho biết có chương trình đi “xuất khẩu lao động” sang may giày ở Jordan dành cho người thuộc diện “xóa đói giảm nghèo,” Phương Anh cũng như nhiều cô gái khác ở quê mình cũng cầm cố nhà cửa, ruộng vườn để vay ngân hàng số tiền gần 30 triệu đồng đóng thế chân để mong kiếm được một công việc sáng sủa hơn.

Lời hứa hẹn “mức lương $220/tháng, nếu không nghỉ ngày nào thì sẽ nhận thêm $20 tiền chuyên cần, $20 tiền trợ cấp xa nhà, thêm tiền này tiền kia cũng sẽ vào khoảng $280 đến $300/tháng, với thời gian 8 tiếng/ngày” quả là một số tiền mơ ước cho những người nghèo như Phương Anh.

Thế nhưng khi đặt chân lên xứ người, thì mọi việc đã trở nên tồi tệ hơn rất nhiều so với tất cả những gì được vẽ lên trong đầu cô, từ chuyện tiếp đón đến nơi ăn chốn ở, thiếu thốn tất cả mọi thứ. “Họ thu hết tất cả hộ chiếu, giấy tờ, và yêu cầu mọi người bắt tay vào làm việc ngay.”

Có điều, Phương Anh cũng như tất cả những công nhân khác không phải làm 8 tiếng mỗi ngày như lời nói lúc còn ở Việt Nam, mà mọi người phải làm việc mười mấy tiếng. Tuy nhiên, ai cũng cảm thấy rất vui, vì nghĩ rằng mình sẽ kiếm thêm nhiều tiền.

Cô kể, “Không ngờ sau 10 làm việc, em chỉ lãnh được $10 với lý do em mới sang, và trong thời gian thử việc. Ðiều này, trước đó không ai nói cả.”

Hỏi ra, những bạn bè khác cũng đều lãnh những mức lương vô lý như Phương Anh.

Cô nhớ lại, “Sau buổi tối hôm đó, tụi em cảm thấy bực tức, buồn bã, chán nản, và thất vọng vô cùng.”

Sau khi gọi về Việt Nam hỏi cơ quan chủ quản đưa người đi lao động và nhận được những lời giải thích không thỏa đáng, “tụi em, hơn 270 công nhân, quyết định đình công yêu cầu điều chỉnh mức lương.”

Ðỉnh điểm của cuộc đình công đó, các nữ công nhân Việt Nam đã bị cảnh sát Jordan đàn áp một cách dã man bằng dùi cui, Phương Anh đã dùng điện thoại di động của mình để quay lại hình ảnh đẫm máu đó.

Phương Anh lại gọi về Việt Nam cầu cứu với nơi đã đưa những người như Phương Anh đi lao động, những họ chỉ bảo “hãy cứ đi làm và tắt máy.”

Thế nhưng khi phái đoàn đại diện phía Việt Nam sang Jordan, các công nhân cũng không nhận được bất kỳ sự trợ giúp gì.

Cuối cùng, theo yêu cầu, các nữ công nhân trở về nước.

Riêng Phương Anh đã trốn ở lại với sự giúp đỡ của tổ chức SOS bởi những lời hăm dọa: “Phương Anh sẽ bị bắt khi đặt chân xuống sân bay Việt Nam vì Phương Anh đã đứng lên vận động cuộc đình công này; tiếp tay cho bọn phi chính phủ, phá hoại tài sản công ty, đình công bất hợp pháp...”


Hành trình đến bến tự do


Trong thời gian ở lại Thái Lan, từ ngày 28 tháng 3 năm 1008, Phương Anh đã nhiều lần nhận được những cú điện thoại hăm dọa của những người xưng là đại diện cho phía nhà nước Việt Nam. “Họ mang cả gia đình, nhất là mẹ Phương Anh ra làm áp lực buộc Phương Anh trở về.”

Phương Anh tâm sự, “Khi sang đến đây em cảm thấy mình rất may mắn, và cảm thấy đau lòng khi nghĩ đến cảnh mẹ và những người thân còn kẹt lại. Em ước gì có phép màu nào để cả gia đình em được đoàn tụ ở đây thì em không còn ước mong gì hơn. Nhưng đó chỉ là ước mơ.”

Có lẽ, nhiều người Việt hải ngoại biết đến Phương Anh là biết đến một cô gái, nạn nhân của cái gọi là “xuất khẩu lao động” của nhà nước Việt Nam, người đã mạnh dạn lên tiếng tố cáo sự vô trách nhiệm của nhà nước đối với công dân của mình, như một kiểu “mang con bỏ chợ.” Nhưng, ít ai biết đến những nỗi riêng tư mà cô gái ấy phải đánh đổi cho sự lên tiếng của mình.

Ngày Phương Anh đi “xuất khẩu lao động,” cô để lại nhà người mẹ mang bệnh tim, đứa con gái lên 3 và 2 đứa con nuôi do chị cô mất tích, để lại.

Trong thời gian trốn lại ở Thái Lan chờ tổ chức BPSOS giúp sang Mỹ định cư, Phương Anh nhận được tin con gái 3 tuổi của mình “bị điện giật chết.”

“Ðó là ngày 1 tháng 8 năm 2008.” Người mẹ trẻ nghẹn ngào.

“Khi nghe tin, em không còn biết gì nữa hết. Em đã định chạy đường bộ trở về, nhưng bị mọi người chặn lại, sợ nguy hiểm cho chính em.”

Trong cơn tuyệt vọng, Phương Anh đã dùng đến thuốc ngủ để mong tìm cái chết. Tuy nhiên, người hàng xóm đã kịp thời cứu cô.

“Cảm xúc Phương Anh như thế nào trong khoảng thời gian đó?” Tôi hỏi.

Cô nhỏ giọng, “Là người theo đạo Công Giáo, em chỉ tin vào Chúa. Khi đó em chỉ biết cầu nguyện và nghĩ Chúa cho điều gì thì mình nhận, Chúa lấy đi cái gì mình cũng xin vâng. Chỉ biết như vậy thôi.”

Sau hơn một tuần vật vã, lúc tỉnh lại, cô lại nghĩ đến mẹ, đến hai đứa con nuôi, “nếu bây giờ mình chết đi thì mẹ mình sao đây, rồi 2 đứa con còn lại sao đây, mà mình chết đi thì coi như mình đầu hàng bọn Cộng Sản rồi. Do đó em lại nghĩ mình cần phải sống để cất lên tiếng nói tố cáo.”

Nghĩ vậy, và Phương Anh gắng gượng khuyên mình cần phải sống.

“Ðau lắm chị, điều đó sẽ ray rứt em cả cuộc đời. Chuyện tình cảm đã gãy đổ. Mình chỉ còn lại có đứa con. Nhưng vì cái khó, cái nghèo, mình mới phải để con lại đi làm kiếm tiền, để rồi con phải chết tức tưởi như vậy. Cả đời em sẽ không quên.” Người mẹ mất con thổn thức.

Tôi hỏi tiếp, “Biết Phương Anh sang Mỹ, mẹ có vui không?”

Giọng cô gái chùng xuống, “Mẹ em là người dân tộc, nên chẳng vui gì khi em xa quê. Suy nghĩ của một người phụ nữ dân tộc không giống đa số người Kinh đâu. Lại thêm mẹ em được người ta nói cho biết rằng, ‘Con bà là người theo bọn phi chính phủ, phản động’ thì sao mà vui được hả chị?”

Ôm ấp nỗi niềm làm “đứa con bất hiếu, mẹ ốm đau bệnh tật mà con không có bên cạnh để chăm sóc, lại để lại tất cả mọi công việc nhà cho mẹ gánh vác,” Phương Anh, sau giọng nói mạnh mẽ tố cáo những gì mà “bọn Cộng Sản đã gây ra” đã bật khóc khi nói về gia đình.

Có điều, cô gái đang được nhiều người biết đến trên các diễn đàn đấu tranh vì quyền lợi của người công nhân làm việc trên xứ người đó, lại đang mang nặng thêm nỗi đau của người mẹ không được con cái cảm thông.

“Em còn hai đứa con nuôi, một đứa 18 tuổi, một đứa 16 tuổi. Có người nói với nó là mẹ nó là ‘phản động,’ nên nó rất giận em. Em nói mãi nhưng nó vẫn không chịu hiểu, nó chuyển vào trường ở vùng sâu vùng xa đi học. Nó giận em nhiều lắm. Nó nói, “Con không muốn nói chuyện với mẹ nữa, mẹ đừng gọi cho con. Mẹ đã làm cho con xấu hổ, con thất vọng về mẹ.”

Phương Anh nói bằng giọng thảng thốt: “Em có tội gì để con mình nói với mình như thế chứ?”

Sau những khoảnh khắc bộc bạch nỗi lòng, Phương Anh cho biết, “Ai cũng bảo em đang ở thiên đường, nhưng thực lòng em vẫn chưa bao giờ vui, khi nghĩ về cảnh nhà của mình. Với Phương Anh, khi nào mẹ mình còn bên đó, khi nào con mình còn bên đó, và bao nhiêu bạn bè mình còn bên đó, sống dưới sự kềm kẹp đó thì lòng Phương Anh vẫn mãi không thanh thản.”

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Hình ảnh mặt trái của đời sống nhân dân VN ngày nay

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Biển Ðông dậy sóng

Võ Long Triều

Mọi vật chuyển biến không ngừng. Qui luật tự nhiên trong trời đất là như vậy. Kinh tế chính trị xã hội đều phải thay đổi theo thời gian. Năm 1972, Mao Trạch Ðông tuyên bố: Kẻ thù ngày hôm trước cũng có thể biến thành bạn mình ngày hôm sau. Lập tức các bản tuyên truyền chống “con cọp giấy Mỹ quốc” đều phải bôi bỏ nội dung. Trung Quốc chuẩn bị tiếp đón long trọng Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon cùng với Ngoại Trưởng Henry Kissinger. Hậu quả, Trung Cộng tiếp sức Hà Nội đánh chiếm miền Nam Việt Nam bị Mỹ bỏ rơi.

Năm 2008 Tổng Thống Obama trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đã nhiệt tình ca ngợi sự phát triển, tiến bộ của xứ này và thẳng thừng tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối Trung Cộng trở thành một siêu cường quốc. Sự nhún nhường, thái độ hòa nhã, xã giao quá đáng của Tổng Thống Obama cho phép Trung Quốc hiểu ngầm con nợ Hoa Kỳ yếu thế, nên “thừa thắng xong lên” tuyên bố: “Biển Ðông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc cũng như Ðài Loan, Tân Cương và Tây Tạng.” Ðồng thời Trung Quốc nới rộng hải phận của mình bằng một “lưỡi bò” chiếm trọn các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước Philippines, Mã Lai Á, Brunei, Ðài Loan cũng giành quyền sở hữu một số đảo trong vùng.

Ngoài ra hải quân Trung Quốc còn quấy nhiễu, khiêu khích tàu Impecable của Mỹ di chuyển trong hải phận quốc tế. Hơn thế nữa Trung Quốc cấm công ty dầu hỏa của Mỹ không được phép khai thác trong hải phận Việt Nam.

Bất ngờ chính sách thay đổi. Ngày 27 tháng 7 năm 2010, ngoại trưởng Hoa Kỳ bà Hilary Clinton tuyên bố tại “Diễn Ðàn ASEAN-ARF” ở Hà Nôi: “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của Châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Ðông.”

Bà còn nhấn mạnh thêm: “Chúng tôi chống dùng võ lực hay đe dọa bằng võ lực của bất cứ nước nào trong sự tranh chấp chủ quyền hải đảo và ranh giới hải phận.”

Cũng tại diễn đàn này bà ngoại trưởng còn bày tỏ quan điểm của Hoa Kỳ là khuyến khích cách giải quyết bất đồng về chủ quyền hải phận, đặc biệt quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng đường lối ngoại giao đa phương. Ðiều mà Trung Quốc luôn chủ trương giải quyết bằng sự thương lượng song phương, để dễ bắt nạt, hăm dọa, mua chuộc đối phương, nhứt là với Việt Nam, nước láng giềng “hữu nghị” có thỏa thuận hợp tác toàn diện với người đồng chí “Tốt” là Trung Quốc. Tờ New York Times nhận định bà Hillary Clinton đã đặt Trung Quốc vào một tình thế “bối rối”.

Trước ngày khai mạc diễn đàn ASEAN, khi biết tin quân đội Hoa Kỳ sẽ tập trận qui mô, chung với quân Nam Hàn ngày 25 tháng 7 năm 2010 với sự tham gia của hàng không mẫu hạm và ba tàu ngầm lớn chuyên chở 154 hỏa tiễn Tomahawk, túc trực tại ba căn cứ Subic Bay Philippines, Busan Nam Hàn và Diego Garcia, có khả năng bắn chính xác vào mục tiêu cách xa 1,000 dặm. Còn có nhiều tàu chiến, phi cơ chiến đấu và trực thăng của hai nước đồng minh tham dự.

Trung Quốc lớn tiếng phản đối hành động này có tính cách đe dọa quốc gia họ và Bắc Triều Tiên. Ông Xu Guangquian, chiến lược gia quân sự Trung Quốc cảnh cáo: “Trung Quốc cương quyết bảo vệ không gian chiến lược của mình đối mặt với mọi đe dọa đến từ các nước khác.” Ngày 20 tháng 7 năm 2010 Trung Quốc diệu võ dương oai bằng một cuộc tập trận lớn phô trương sức mạnh hải quân của mình.

Sau lời phát biểu của ngoại trưởng Mỹ, Bắc Kinh lập tức phản ứng mạnh. Ngoại trưởng Trung Cộng, Dương Khiết Trì cho rằng bà Clinton nhắm vào Trung Quốc, tạo cho cộng đồng quốc tế một ấn tượng sai lầm rằng tình hình biển Ðông là do Trung Quốc gây xáo trộn, gieo lo ngại cho các nước trong khu vực. Bắc Kinh cáo buộc Hoa Kỳ âm mưu quốc tế hóa vấn đề biển Ðông.

Dương Thiết Trì còn tuyên bố ASEAN không phải là diễn đàn thích hợp để bàn thảo về biển Ðông. Cũng nên nhắc lại là tháng 4 vừa qua Trung Quốc đã thông báo cho hai viên chức cao cấp của Hoa Kỳ là ông Jeffrey A. Bader và James B. Steinberg rằng biển Ðông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Ðồng thời Trung Quốc cũng từng khẳng định huyện Tam Sa, nghĩa là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, là hải phận của Trung Quốc không chối cãi được.

Cũng trong lúc đó báo quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc loan báo một cuộc thao diễn qui mô khác, đặt dưới sự giám sát của Tổng Tham Mưu Trưởng, Tướng Trần Bình Ðức. Tướng Ðức đưa ra lời kêu gọi quân đội giải phóng Trung Quốc, thẳng thừng nói: “Phải cảnh giác, có thể sẽ có những thay đổi trong nhiệm vụ và cần phải sẵn sàng chuẩn bị cụ thể ứng phó với những đụng độ quân sự”.

Cuộc thao diễn qui mô, kết hợp hai hạm đội Bắc-Nam nhằm mục đích chứng minh cho thế giới thấy Trung Quốc sẵn sàng và có khả năng đối đầu với mọi tình huống. Cách đây không lâu Tướng Tư Lệnh không quân Trung Quốc đã tuyên bố: Không Quân Trung Quốc chẳng những đủ khả năng bảo vệ quốc gia mà còn có thể chiến đấu ra ngoài biên giới Trung Quốc.

Báo chí Mỹ và ngoại quốc cho rằng bà Clinton tuyên bố: “Biển Ðông là lợi ích quốc gia của Mỹ” có nghĩa là Hoa Kỳ trực tiếp thách thức Trung Quốc.

Tình hình chính trị và quân sự trong vùng Á Châu và biển Ðông đột nhiên trở thành căng thẳng. Việc gì sẽ xảy ra trong tương lai gần và xa?

Sự kiện không thể chối cãi được là khoảng thời gian 2008 trở đi, Trung Quốc công khai bày tỏ chủ trương bành trướng với ý đồ cướp đất chiếm biển bằng cách dùng võ lực ác chiến với hải quân Việt Nam Cộng Hòa và cướp Hoàng Sa năm 1974, dùng hải quân triệt hạ tàu chiến của nước đồng chí “láng giềng hữu nghị” năm 1978 và chiếm thêm một số đảo khác thuộc quyền kiểm soát của người anh em “tốt” là Việt Nam.

Cũng trong thời gian dài đó tàu Trung Quốc đâm chìm, bắn hư ngư thuyền Việt Nam đang lưới bắt cá trong vùng biển thuộc hải phận Việt Nam, ngoài khơi các tỉnh Quảng Ngãi và Ðà Nẵng. Ngư dân Việt Nam thường xuyên gặp tàu lạ mang cờ Trung Quốc nhưng Hà Nội cấm báo chí nêu đích danh. Bọn cướp giết hoặc bắt ngư phủ Việt Nam buộc phải nạp tiền chuộc mạng mà Hà Nội không dám can thiệp phản đối.

Sự thay đổi lập trường của Mỹ làm yên lòng, vững tâm dân chúng thuộc các nước trong vùng Châu Á. Họ bất mãn đối với bá quyền Bắc Kinh nhưng đơn phương họ không dám công khai gây hấn. Ðặc biệt Việt Nam vui mừng vì tình hình biển Ðông biến chuyển theo chiều hướng thuận lợi, nhờ sự can dự trực tiếp và mạnh mẽ của Hoa Kỳ nên Trung Quốc sẽ giảm áp lực đè nặng trên đầu Bộ Chính Trị đảng đồng thời tạo sự bất mãn tận cùng trong quần chúng. Tình thế hiện tại cho phép Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam, khua môi múa mép một cách khôi hài nói rằng: Việt Nam có đủ khả năng chống trả mọi áp lực bất cứ từ đâu đến. Thực tế Việt Nam chưa quyết tiến thoái như thế nào? Bởi vì giới quan sát cho rằng nếu theo Mỹ thì mất đảng, nghĩa là mất tất cả, còn theo Trung Quốc thì mất nước, dân nổi loạn cũng mất đảng và mất tất cả.

Người ta phải công nhận: Dù Trung Quốc có thao diễn bao nhiêu lần, sức mạnh của hải, lục, không quân và hỏa tiễn tầm xa có bắn tới đâu đi nữa cũng không thể chứng minh được sức mạnh quân sự của Trung Quốc có thể bằng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong hiện tại. Chỉ cần xem Trung Quốc có bao nhiêu hàng không mẫu hạm? Bao nhiêu tàu ngầm, nguyên tử và không nguyên tử? Bao nhiêu hỏa tiễn tầm xa? Và nếu phải đặt vấn đề đầu đạn nguyên tử thì chắc chắn Trung Quốc còn thua kém Hoa Kỳ nhiều lắm.

Những sự biểu dương lực lượng ồ ạt của Trung Quốc chỉ để trấn an dư luận trong nước cũng như vài tuần trước đây, Bác Hàn hăm dọa sẽ dùng bom nguyên tử tiêu diệt Nam Hàn nếu cuộc tập trận chung với Mỹ đe dọa an ninh xứ này. Thực tế võ mồm không hù dọa được hai nước đồng minh diễn tập y như có giặc thật, nhắm vào mục tiêu nào Bắc Triều Tiên phải biết.

Tóm lại, phải nghĩ rằng trong thế yếu ngày nay, Trung Quốc phải đành nuốt hận nhịn thua, không phải giả dại qua ải mà ngược lại phải tuyên bố hung hăng, một thứ cường điệu để qua ải chờ thời mà không mất mặt.

Vấn đề còn lại là trong tương lai gần và tương lai xa Trung Quốc sẽ làm gì? Xin phép được trình bày ở kỳ sau.

Võ Long Triều
31 tháng 7, 2010

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Di cư, tầng lớp tinh hoa mới của Trung Quốc rời bỏ đất nước.
Hệ thống pháp luật và xã hội đối với họ không đảm bảo: tầng lớp trung lưu có trình độ của Trung Quốc đã ra đi. Họ nhắm đến Hoa Kỳ và Canada.
“Đã thế thì đi ngay ra nước ngoài sống” – mới một vài năm trước đây, có thể bà He Bing (tên đã được thay đổi), một người làm nghề quản lý văn phòng ở Bắc Kinh, đã cười khi nghe câu nói như vậy. Mặc dù bà ta khi đó cũng đã có những lo lắng cho kết quả học tập của đứa con trai hiếu động của mình vì sợ rằng nó sẽ không kham nổi hệ thống thi cử cứng nhắc. Nhưng bà He đã có một công việc mà bà ưa thích, chồng của bà cũng đang bận rộn lập công ty e-learning riêng của anh ta cơ mà. Tại sao sau đó lại nghĩ đến chuyện di cư, và đặc biệt là, đi như thế nào?

Tuy nhiên gần đây bà ta ngày càng nghe thấy từ nhiều người quen luôn chỉ có một điều giống nhau: Chúng tôi muốn đầu tư vào Mỹ hoặc Canada, muốn có được một giấy phép cư trú dài hạn tại các quốc gia này và sau đó đem các cháu sang học phổ thông hoặc đại học tại đó. “Bạn bè, quảng cáo, truyền thông dường như đột nhiên tất cả đều xoay quanh chuyện di cư”, người đàn bà 44 tuổi nói, “và bây giờ chúng tôi cũng muốn bỏ thời gian để tìm hiểu chuyện này.”

Có nhiều ngưòi có bằng cấp, có đời sống phong lưu ở nước Cộng hòa Nhân dân này cũng đã nghĩ như bà He. Theo thống kê chính thức, năm ngoái đã có tới 650000 người Trung Quốc được phép thường trú tại Hoa Kỳ – bằng cỡ khoảng một phần năm số người Trung Quốc đang sống tại Hoa Kỳ. Tình hình cũng tương tự như vậy ở Canada: năm ngoái đã có thêm 250000 người Trung Quốc mới nhập cư nhập vào con số 1300000 người Canada gốc Trung quốc đang sống ở đây. Phần đông trong số đó thuộc vào tầng lớp ưu tú nhất của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo hiện tượng “chảy máu chất xám” và “tiền chảy ra nước ngoài”. “Liệu có phải đó là dấu hiệu về sự khủng hoảng của một quốc gia bị phá sản?”, thậm chí tờ báo của Chính phủ Guoji Xianqu Daobao (International Herald Leader) cũng đã phải đặt ra một câu hỏi như vậy.
Image Joe Dong (tên đã được thay đổi), người tư vấn của bà Bing thuộc văn phòng Henry Global Consulting Group của Canada tại Bắc Kinh không nhận thấy tình hình ở mức độ trầm trọng như vậy. Cho dù ông ta không phải là không nhận ra được động cơ của những người di cư tiềm năng như là một cảm giác khủng hoảng. “Nỗi lo lắng của các bậc cha mẹ đó là hệ thống giáo dục ở đây quá cứng nhắc và những lợi ích xã hội họ nhận được quá thấp”, ông Ding nói, “Những nhà kinh doanh đang lo lắng cho tính bất ổn của pháp lý và giá bất động sản cao.” Chỉ riêng viêc được cấp một giấy phép thường trú để có thể dễ dàng đi du lịch qua Mỹ, Canada hay Úc theo Dong cũng đã có một vai trò rất lớn.

Đặc biệt những ai được đào tạo tốt và có trình độ nhưng không có cơ hội thì họ thử tìm vận may trong cái gọi là “nhập cư kiểu đầu tư”. Năm ngoái, số lượng đơn xin đầu tư vào Mỹ đã tăng lên 1000, gấp đôi so với năm 2008. Để làm như vậy họ phải chi $500,000 vào một dự án được chỉ định hoặc vào một công ty mới thành lập. Canada năm qua đã có kế hoạch tạo 2055 địa điểm nhập cư đầu tư. Một nửa trong số đó theo số liệu thống kê của Canada do người Trung Quốc tham gia. Cuối tháng sáu, chính phủ ở Ottawa đã nâng giới hạn tổng tài sản và giới hạn đầu tư lên thêm 50% nghĩa là lên đến 1.200.000USD hay 600.000 đô la Canada.

Mặc dù có làn sóng di cư nhưng hiện nay việc quyết định ra đi vẫn phải xem xét kỹ càng, ông Dong nói. Ngày xưa phần đông những người nhập cư có tay nghề thấp, chủ yếu là trong thập niên tám mươi và chín mươi, do sự kỳ vọng quá cao vào “miền đất hứa”, họ đã leo lên một con tàu hoặc một xe tải nào đó để thực hiện một cuộc hành trình gian khổ đến Mỹ hoặc châu Âu. Ngày nay bên cạnh thông tin trên Internet nhiều khách hàng của ông ta cũng đã từng ra nước ngoài và có người thân hay có các mối liên hệ kinh doanh. Trong khi tư vấn Đong cũng chỉ ra cho khách hàng của mình thấy những khó khăn về mặt ngôn ngữ hay văn hóa. “Không phải đối với ai việc di cư cũng là một sự lựa chọn đúng”, ông nói.

Tuy nhiên, đặc biệt là nhiều thành viên của tầng lớp trung lưu họ cảm thấy, họ không có sự lựa chọn nào khác, nhà triết học Xu Youyu đã nói như vậy. Hệ thống luật pháp lỏng lẻo của Trung Quốc không thể đảm bảo cho tài sản của họ, không thể tạo cho họ một cuộc sống bình yên, Xu viết trong một bài tiểu luận gần đây, “một xã hội công bằng có thể đảo ngược dòng chảy của sự di cư”. Ở Trung Quốc người ta quá bị phụ thuộc vào việc hối lộ và các mối quan hệ. “Công lý là cội nguồn của niềm tin”, nhà tư tưởng cảnh báo, “chỉ có một xã hội công bằng, người ta mới có cảm giác gắn bó.”

Nhà xã hội học Yu Jianrong, cùng làm việc với Xu tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cũng có cái nhìn tương tự. Ông cũng cho rằng việc tìm kiếm thẻ xanh gần đây (Green Card)là lối thoát hiểm khi cần thiết đối rất nhiều người. “Xã hội Trung Quốc không có luật pháp”, ông Yu nói, “và vì vậy nhiều người cảm thấy không an toàn, họ lo sợ cho tương lai”. Người ta không thể nào biết được cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Điều này, mỉa mai thay cũng đúng cho tầng lớp quyền lực của Trung Quốc. Những cán bộ đã vơ vét tích lũy được một đống tài sản thông qua việc lạm dụng quyền lực, họ lo lắng rằng một ngày nào đó họ sẽ phải bị quy trách nhiệm. “Do đó, tốt nhất họ chuyển tiền của họ ra nước ngoài và cho con cái của họ ra nước ngoài định cư”, ông Yu nói.

Chính ngay cả ông Dong cũng đã không bác bỏ nhận xét này. Nhưng đó chỉ là một số ít, ông ta nói. Số đông hầu hết vẫn còn tiếp tục quan tâm đến việc gìn giữ hoặc gia tăng các nguồn thu nhập hợp pháp của họ. Ý nghĩa của thẻ xanh, vì vậy về trung hạn sẽ không còn lớn đối với nhiều người. Trung Quốc sẽ tiếp tục mở cửa và do đó hệ thống giáo dục và pháp luật sẽ tiếp tục được cải tạo về cơ bản, Dong quả quyết. Kiểu gì thì di cư cũng không bao giờ là con đường một chiều: “Ngay cả khi ở nước ngoài, người Trung Quốc vẫn luôn luôn gắn bó với Trung Quốc lục địa, và như vậy kiến thức và vốn sẽ chảy quay trở lại.”

Bums, X-Cafe chuyển ngữ
Nguồn: Kristin Kupfer, Zeit Online

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bịt miệng nạn nhân

Một trong những phương pháp hữu hiệu để kẻ ác che giấu tội phạm họ là bịt miệng nạn nhân. Khi không thể bịt miệng nạn nhân được thì kẻ ác sẽ dùng biện pháp tâm lý để trấn áp tinh thần, làm cho nạn nhân có cảm giác mình nhúng tay một phần trong tội ác. Sau đó, nạn nhân vì nhục nhã mà không dám lên tiếng tố cáo. Nếu cả hai biện pháp trên không có tác dụng thì kẻ ác sẽ sử dụng mọi phương tiện, dùng địa vị, quyền lực, tiền bạc để một mặt bao biện và đánh bóng nhân thân và chối bỏ tội ác, còn mặt kia thì bôi nhọ nạn nhân là người vu khống xấu xa.

Khi việc bịt miệng đã xảy ra thì nào có ai biết được tội ác và nạn nhân trở thành những bóng ma vất vưởng ở trần gian. Các nạn nhận bị cưỡng bức tình dục trong gia đình thường sống vất vưởng với ám ảnh mình là tội phạm nhiều năm, có khi suốt cuộc đời. Chỉ khi họ có thể nào nói ra hết, nhận diện kẻ tội phạm, và từ bi với cả kẻ tội phạm lẫn với mình thì họ mới có thể bắt đầu tẩy rửa vết thương lòng và hồi phục lại.

Mấy ai biết được có một Trương Văn Sương đã ở trong lao tù, biệt giam của cộng sản Việt Nam hơn 33 năm. Khi ông được tại ngoại tạm thời vì lý do sức khỏe, có cơ hội lên tiếng thì người ta mới ngỡ ngàng biết rằng ông đã sống/chết trong địa ngục lao tù cộng sản như thế nào. Ông đã chịu sự đày đọa này không vì việc gì khác hơn là không nhận tội, và làm đúng phận sự của một công dân bảo vệ tự do trước kẻ gây tội ác với đồng bào ông.

Những nạn nhân của tội ác cộng sản thường luôn luôn bị bịt miệng. Những nạn nhân cộng sản người Nga thời Liên bang Xô-viết đã bị bịt miệng gần 100 năm (1918-2010) đến nay mới được Tổng thống Nga lên tiếng xác nhận là tội ác của Stalin. Khoảng 22.000 sĩ quan ưu tú Ba Lan đã bị tàn sát tập thể tại rừng Katyn bởi mật vụ Nga và bị bịt miệng đúng 70 năm. Chỉ mới đây, trong năm nay, chính phủ Nga mới thừa nhận tội ác này.

Tương tự, gần 50.000 người dân Việt vô tội bị giết và khoảng 500.000 chết lần mòn trong các trại cải tạo lao động hoặc vì đói trong cuộc Cải cách Ruộng đất năm 1953-1956. Sau 30-4-1975, 65.000 công dân miền Nam bị xử tử. Một triệu quân nhân, nhân viên bị bắt giam cầm trong các trại lao động cải tạo và 165.000 người chết trong tù. Rồi kế đó thì lại gần một triệu người vượt biên tìm được bến bờ tự do và 250.000 bỏ mình trên đường tìm tự do và trên biển cả. Một tập thể người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân cộng sản, đã bị bịt miệng đúng 35 năm. Cho đến nay chính quyền cộng sản Việt Nam chưa nhận tội. Và ký ức tập thể về tội ác đó đã dần dà bị tẩy xoá bởi những hoạt động trong và ngoài nước Việt Nam qua Nghị quyết 36.

Nạn nhân càng bị bịt miệng thì họ tự nhiên càng muốn được nói ra hết những uẩn ức trong lòng. Bằng cách này hay cách khác họ muốn kẻ phạm tội thú nhận tội. Khi không được bày tỏ bằng ngôn từ thì họ mong được lên tiếng qua cử chỉ hoặc dùng “ngôn ngữ” chợ búa. Một phóng viên người Iraq ném giày vào Tổng thống Bush để phản đối Hoa Kỳ đóng quân trên đất nước ông. Một bà dân oan đi kiện tụt quần tại văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng CSVN để phản kháng sự hiếp áp của công an nơi thưa kiện và việc chiếm đất ở địa phương. Bà thách thức bạo quyền thà cứ “hiếp” bà trước mặt công chúng còn hơn là bản thân và gia đình bị công an địa phương hà hiếp lén lút ở góc tối. Một gia đình ở Bắc Giang có con chết oan ức vì bị công an đánh, buộc phải đem quan tài diễu hành trên phố để đòi lại “công bằng cho con trai tôi”. Còn thêm bao nạn nhân chết tương tự dưới tay công an cộng sản như ông Nguyễn Năm (3-7-10), anh Nguyễn Phú Trung (8-6-10), Nguyễn Quốc Bảo (22-1-10), nhưng đa số tất cả đã bị bịt miệng.

Ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mà ông cho là một cán bộ văn hoá đang ru ngủ và tẩy xoá tội ác CSVN trong cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản. Những hành vi trên được xem là “tục tằn”, “thô bạo”, “thiếu văn hóa”. Cách ứng xử có văn hoá giữa hai đối tượng chỉ có thể xảy ra khi hai bên có quyền lực tương xứng và cơ chế đối thoại phân minh. Một khi “miệng nhà quan có gang có thép” thì những kẻ bị hiếp đáp chỉ biết dùng “đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” để đáp lại. Nếu một bên có quyền lực tuyệt đối, có quyền sinh sát, nắm tất cả các cơ chế hành pháp, lập pháp, tư pháp – như nhà nước Việt Nam đang nằm trong tay Đảng CSVN – để áp đảo tiếng nói của đối tượng thì mọi việc cũng như “con kiến mà kiện củ khoai”. Các luật sư còn bị họ vu khống, bỏ tù, cưỡng chế, quấy nhiễu chỉ vì dám lên tiếng bảo vệ công lý thì nhằm nhò gì đám dân đen bé cổ thấp họng. Kẻ bị đàn áp không có một cách thức nào khác hơn để lên tiếng. Những hình thức ngôn ngữ dung tục này là phản xạ hoàn toàn hợp lý cho những người nạn nhân bị ức hiếp, đàn áp.

Thế nào là có văn hoá? Ai định đoạt tiêu chuẩn văn hoá? Văn hóa “xin-cho” chăng? Nạn nhân lại phải đi xin công lý ư và chờ cường quyền cho lại nhân phẩm à? Những phê phán trên vị trí đặc ân, quyền lực và những so sánh khập khiễng của một số cá nhân trong sự kiện Lý Tống – Đàm Vĩnh Hưng này đã cho thấy chứng mất trí nhớ tập thể trong tâm thức của cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản ở nhiều tầng lớp và thế hệ.

Kẻ thống trị và người hiếp áp luôn sử dụng và áp đặt những cơ chế để nạn nhân mất trí nhớ/quên đi tội ác mà kẻ bạo quyền đã và sẽ gây ra. Một thí dụ điển hình là có nhiều người từng là nạn nhân lạm dụng tình dục lại trở thành người hiếp áp trong chu kỳ kế. Một trong những nhân tố gây ra điều đó là vì họ không có cơ hội lên tiếng tố cáo kẻ phạm tội và tự mình hay bị ảnh hưởng một cách vô thức trạng thái đồng hoá cá nhân mình với bản thân tội phạm. Khi một nạn nhân bị mất trí nhớ về tội phạm thì họ sẽ tự chối mình là nạn nhân và có lúc quay trở lại tấn công những ai vẫn tiếp tục cố gắng lên tiếng NẾU còn nhớ bản thân họ chính là nạn nhân.

Ta đã thấy dàn đồng xướng khởi từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ sơ đến thân bắt đầu bôi nhọ nạn nhân. Lý Tống (một trong tất cả người tỵ nạn cộng sản hải ngoại) là nạn nhân cộng sản đã bị gài khung là “bất lương”, “khủng bố”, “côn đồ”, “ngớ ngẩn, tai hại”[ii], “kiếm tiền”, và “phi văn hoá Mỹ”[iii] … Gài khung (framing[iv]) là một phương pháp rất hiệu quả để hướng dẫn dư luận, định hướng kết cuộc. Khi đã được cho vào khung thì mọi đối thoại đều lẩn quẩn trong khung với sức thuyết phục hấp dẫn, hầu dẫn đến một kết quả có chủ ý. Để có một nhận định tỉnh táo trước vô số tin tức tràn lan nhiễu động thì việc xem xét người viết định khung vấn đề như thế nào rất quan trọng. Nếu không chúng ta sẽ bị dẫn dắt vào ngụy biện và đưa ra một kết luận phán đoán sai lầm.

Ngay sau sự việc xảy ra, lập tức có một cuộc họp báo được thực hiện chóng vánh để ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng có cơ hội lên tiếng và so sánh: “Đàm Vĩnh Hưng đặt vấn đề là có rất nhiều ca sĩ hải ngọai từng hát những bài ca ngợi vinh quang, những chiến công hào hùng của những người ‘trước đây’ (Việt Nam Cộng hòa), ‘nhưng những ca sĩ đó về Việt Nam hát thì bên đó đâu có ai chống đối’”. Rõ ràng một sự so sánh khập khiễng trong tương quan quyền lực. Các ca sĩ hải ngoại về Việt Nam hát với tư cách cá nhân. Mọi bài hát đều phải được “duyệt” dưới quyền kiểm soát của Ban Văn hoá Tư tưởng. Vui thì cho hát, cho visa ngắn hạn, còn không vui thì tống cổ ra khỏi nước một cách “nhẹ nhàng”[v]. Muốn được “vui vẻ” thì phải nhắm mắt và ngậm miệng, chớ mà “phát biểu lung tung”. Đàm Vĩnh Hưng đi lưu diễn ở hải ngoại với tư cách cá nhân ca sĩ hay là cán bộ văn hoá? Cái nhập nhằng (và cái gian manh) ở đây là thế. Chẳng lẽ ở Việt Nam thì Đàm Vĩnh Hưng tham gia Thành đoàn TP HCM, khi nhót lên máy bay sang nước ngoài trình diễn thì bỏ lại căn cước đó ở nhà? Tóm lại, Đàm Vĩnh Hưng được cả bộ máy quyền lực (ủy ban nước ngoài và các cơ quan truyền thông) đứng phía sau/trước “tiền hô, hậu ủng”, nào ai đả động được. Những anh chạy màn và những kẻ cầm cờ đã phát biểu trước dọn đường cho cuộc gài khung bôi nhọ. Những người chân chưa sạch mùi phèn đã dùng luận điệu che bôi, dè bỉu “phi văn hoá Mỹ”. Đáng thương thay cho họ là kẻ “mất trí nhớ”.

Lại có người phát biểu quan điểm là “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu”. Cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phe chiến thắng, phía bại trận đã rõ ràng. Tuy nhiên, anh ta đã không (muốn) hiểu rằng cái diễn ngôn “tị nạn cộng sản” và diễn ngôn “chống cộng” là diễn ngôn thuộc về nạn nhân. Chống cộng ở đây nằm trong nội hàm lên tiếng tố cáo tội ác gây ra bởi Đảng CSVN đối với các nạn nhân ấy và cho cả dân tộc đang phải tiếp tục cam chịu. Nạn nhân sẽ lên tiếng cho đến khi nào kẻ gây ra tội ác nhận tội. Chừng nào nào kẻ gây ra tội ác vẫn chối và còn tiếp tục bịt miệng nạn nhân, gây thêm tội ác thì chừng đó nạn nhân vẫn tìm mọi cách mọi phương tiện kêu gào đòi lại công lý và nhân phẩm cho họ. Họ không thể để cho ký ức tập thể bị xóa nhòa và biến dạng để trở thành chứng lãng quên. Ba mươi lăm năm không phải là ngắn nhưng cũng chưa phải là dài để cho thế hệ thứ nhất bị chứng mất trí nhớ tập thể. Thế nhưng thế hệ 1.5 và thứ 2 đã và đang bị điều kiện môi trường dòng chính và tuyên vận cộng sản tìm chỗ yếu, kẽ hở, để xoá nhoà ký ức tị nạn của họ.

Hoa Kỳ tất nhiên có mặc cảm nhục nhã với cuộc chiến Việt Nam. Vì thế, họ muốn quên và cố gắng vượt qua mối nhục đó: Hoa Kỳ đã gỡ gạc phần nào, bắt đầu từ khi có sự kiện bức tường Bá Linh bị sụp đổ và khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô tan rã. Họ không muốn nhắc, nhớ đến vết nhơ đó. Họ muốn xoá nhoà lịch sử thua trận và không muốn bị nhắc nhở bởi những người “đồng minh” cũ đang tỵ nạn trên đất nước này. Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ ngoại giao và khuyến khích trao đổi thương mại giữa hai quốc gia. Cộng vào đó là những giao lưu văn hoá, hoạt động thiện nguyện, và du lịch giúp Hoa Kỳ viết lại trang sử chiến bại thành chiến thắng trong tư thế tư bản thống lĩnh thị trường Việt Nam. Thông điệp từ cuộc sống dòng chính của Hoa Kỳ là “Hãy quên đi cuộc chiến Việt Nam”. Thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt học hỏi trong nhà trường và giao tiếp thường xuyên với người bản địa nên nhập tâm câu “thần chú” này. Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với người Việt đồng nghiệp là “chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.” Chị bạn tôi trả lời “chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam” (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời “khi nào ông nói với thân chủ là nạn nhân lạm dụng tình dục hãy câm lặng và sống cuộc đời phía trước thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào” (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)

Đã đến lúc nạn nhân được lên tiếng và kẻ tội phạm thú tội.

© 2010 Vi Nhân

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài

Nguyễn Xuân Nghĩa

Tình báo ISI của Pakistan và sở trường của Hoa Kỳ

Lâu lắm rồi, trong một bữa tiệc có vẻ thanh lịch, người viết được nghe gia chủ yêu cầu một dương cầm thủ trình bày... bản giao hưởng số bảy của Beethoven. Mọi người chết lặng. Nếu có một cỗ đàn điện keyboard thì may ra còn gõ lên vài giai điệu. Chứ một cây đàn piano không thể trình tấu một bản giao hưởng được viết cho mấy chục nhạc cụ.

Cây chuyện vui ấy lại trở về khi theo dõi tin tức về việc WikiLeaks tiết lộ hơn 91,000 tài liệu mật về cuộc chiến tại A Phú Hãn.

Thành lập và chủ trương trang điện tử là Julian Assange, một người Úc 39 tuổi. Nghi can đang bị điều tra vì có thể đã cung cấp tin mật cho Wikileaks là một binh nhất người Mỹ, 22 tuổi. Cậu Bradley Manning bị truy tố từ tháng 5 vì chuyển tài liệu mật vào máy điện toán riêng và có thể tiết lộ nhiều bí mật cho báo chí khi phục vụ ngành quân báo tại Iraq.

Sở dĩ ta nghĩ đến chuyện đòi dương cầm đánh một bản giao hưởng vì anh lính này và cả Julian Assange chỉ thuộc loại “one man band”, nhạc trưởng kiêm nhạc công trong một dàn nhạc điện tử... cá thể. Một loại “vạn lý độc hành” đầy bất mãn và khật khùng như chú Bradley Manning hay kỹ sư điện toán cực tả và phản chiến như Julian Assange thì chỉ là diễn viên thôi.

Họ không thể là đạo diễn của vụ tiết lộ quân sự được coi là nghiêm trọng nhất lịch sử nước Mỹ. Còn hơn Daniel Ellsberg và vụ Pentagon Papers thời chiến tranh Việt Nam rất xa, ít ra về số lượng tài liệu mật đã bị công khai hóa.

Xin hãy ngẫm lại mà xem: Dù có là phân tách viên về quân báo, làm sao một binh nhất có thể sao chép và chuyển tải một khối lượng tài liệu lớn lao như vậy của nhiều phần vụ khác nhau từ một hệ thống điện toán cũng tuyệt mật, rồi phóng ra cho WikiLeaks tung lên không gian điện toán?

Những ai là đạo diễn của vụ tiết lộ và làm như vậy cho mục tiêu gì? Câu hỏi này có thể không có giải đáp sau rất nhiều cuộc điều tra điều trần của các cơ quan liên hệ. Hoặc sự thật sẽ không thể được trình bày cho trung thực vì nhiều lý do bí hiểm khác. Mà cũng chẳng sao!

Nhìn từ bên ngoài, vụ WikiLeaks này đáng chú ý ở nhiều khía cạnh khác. Ðôi khi những khía cạnh ấy sẽ gián tiếp trả lời cho câu hỏi.

Thứ nhất, WiliLeaks chẳng tiết lộ chuyện gì ghê gớm ngoài vài chi tiết ghê tởm về chiến tranh và mặc nhiên trình bày tính chất phi chính nghĩa của cuộc chiến. Mọi cuộc chiến đều có điều ghê tởm cùng vơi một số lầm lẫn chiến thuật của những người trong cuộc. Nhưng cách tiết lộ có chọn lọc rất dễ đưa tới kết luận đó - là phần vụ còn lại của truyền thông báo chí.

Thứ hai, khi phanh phui mặt trái của chiến tranh, nó cung cấp tên tuổi và hình ảnh phương hại cho sự an toàn của dân A Phú Hãn và các binh lính phải phục vụ trong chiến trường này. Ðấy là điều đáng kết án về luân lý. Người ta có thể phản chiến mà vẫn can tội giết người được. Chuyện ấy cũng hợp lý như những kẻ điên trong phong trào bảo vệ súc vật mà gài bom vào một xưởng thuộc da, khiến nhân viên tử nạn! Những chuyện kỳ lạ như vậy quả thật là đáng chú ý.

Nhưng đáng chú ý hơn cả không thuộc về nội dung chẳng có gì là bí mật của vụ tiết lộ. Ðáng chú ý là cách báo chí Hoa Kỳ khai thác tin này.

Trước hết, WikiLeaks khéo dùng ba nhật báo đều thiên tả, là tờ The New York Times của Mỹ, The Guardian của Anh và Der Spiegel của Ðức, để trình bày có chọn lọc rồi diễn giải một cách mạch lạc sự phi lý của cuộc chiến. Sau khi tin tức được tiết lộ, trong mấy ngày liền, các bình luận gia thuộc cánh tả của Hoa Kỳ đều nhấn mạnh đến một sự thật khác là chính quyền Barack Obama không liên hệ gì tới những tội ác của chiến tranh A Phú Hãn. Rồi bắt đầu lý luận thêm về mục tiêu đích thực của cuộc chiến: vấn đề không nằm tại A Phú Hãn mà tại Pakistan. Kết luận hàm chứa ở dưới là Hoa Kỳ nên rút khỏi A Phú Hãn và quan niệm lại đối sách với Pakistan.

Nếu hiểu không lầm thì sau khi rút khỏi Iraq, Hoa Kỳ nên sớm rút khỏi A Phú Hãn. Quả là phù hợp với chủ trương của ông Obama!

Nhưng sau đó Hoa Kỳ sẽ phải chuẩn bị rọi đèn vào Pakistan!... Vì sao như vậy?

Vì xuyên qua tin tức và cách bình luận về vụ WikiLeaks, một sự thật mà ai cũng biết nay được xác nhận. Ðó là vai trò của cơ quan Tình báo Liên quân ISI Pakistan (Inter-Service Intelligence). Lần mò vào ngôi rừng bí hiểm đó, người ta bỗng lại thấy... “bàn tay lông lá” của Mỹ.

Cơ quan ISI được một thiếu tướng... Anh thành lập trong quân đội Pakistan từ năm 1948 - khi quốc gia vừa độc lập này còn nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung của Ðế quốc Anh - nhằm khắc phục nhược điểm của Cục Quân Báo trong cuộc chiến giữa Pakistan và Ấn Ðộ vào năm đó. Trong 10 năm liền, ISI được bình yên và vô tích sự cho tới vụ đảo chánh năm 1958 của Tướng Ayhub Khan. Trong 10 năm sau đó, ông ta dùng cơ quan này củng cố chế độ của mình, ISI trở thành mật vụ về nội chính, và rất kém khả năng về tình báo đối ngoại.

Sau khi Ayhub Khan bị truất phế năm 1969, Tướng Yahya Khan lên cầm quyền thì ISI bị trôi vào tranh chấp nội bộ. Nhưng khi nội chiến bùng nổ giữa hai phe Ðông Hồi (Liên minh Awami) và Tây Hồi, và Ðông Hồi tách riêng thành xứ Bangladesh năm 1971 thì ISI trở thành công cụ đàn áp dân Bengali đòi ly khai. Sự can thiệp của Ấn Ðộ vào cuộc nội chiến giữa hai phần Ðông và Tây của Pakistan khiến vai trò của ISI bắt đầu được quan niệm lại, nhưng phải mất cả chục năm mới trở thành cơ quan tình báo đối ngoại, và chuyên trị về các lực lượng Hồi Giáo.

Ðấy là lúc Hoa Kỳ nhảy vào giúp sức. Lý do là sự can thiệp của Liên Xô vào A Phú Hãn năm 1979. Cơ quan ISI được tình báo Hoa Kỳ và Saudi Arabia yểm trợ để tiếp tế và huấn luyện các lực lượng kháng chiến Hồi Giáo chống lại chính quyền của đảng Cộng Sản Á Phú Hãn do Liên Xô dựng lên tại Kabul.

Và hiện tượng thẩm thấu đã xảy ra: ISI hỗ trợ kháng chiến Hồi Giáo A Phú Hãn nhưng kháng chiến Hồi Giáo đã thành “Thánh chiến” khủng bố và xâm nhập ngược vào bộ máy ISI. Hai bên sống chung và nhờ cậy lẫn nhau!

Ðộng lực của các tướng lãnh chỉ huy tổ chức này là dùng Thánh chiến Hồi Giáo tấn công các nhóm ky khai của sắc tộc Pashtun, nằm tại vùng biên giới giữa hai nước. Kết quả là phe Pashtun thiên tả bị đánh bại, và Thánh chiến Hồi Giáo thắng lớn! Khi chuyện ấy xảy ra, Hoa Kỳ không thể không biết: ISI được cơ quan CIA và tình báo Saudi Arabia giúp sức để yểm trợ hạt nhân đầu tiên của lực lượng Al-Qaeda - và lãnh tụ Osama bin Laden!

Nhưng mục tiêu của ISI và các tướng lãnh Pakistan lại hơi khác với những tính toán của Hoa Kỳ. Lãnh đạo Pakistan muốn đánh bại phe tả tại A Phú Hãn và lập ra một chính quyền thân Pakistan tại Kabul. Chưa mấy thành công trong mục tiêu đó, ISI lại lâm vào một cuộc chiến giấu tên khác: phong trào nổi dậy của dân Hồi giáo trong khu vực do Ấn Ðộ kiểm soát tại Kashmir vào năm 1989 khiến ISI nhìn từ hướng Tây qua hướng Ðông. Họ yểm trợ các lực lượng Hồi Giáo quá khích tại Kashmir để gây khó cho Ấn Ðộ.

Mà chuyện này cũng không qua mắt được Hoa Kỳ. Năm 1992, bộ Ngoại Giao Mỹ quyết định đưa Pakistan vào danh sách các quốc gia xuất cảng khủng bố và ISI bèn lột xác để khỏi bị trừng phạt.

Lột xác là thay đổi cái vỏ bên ngoài. Thực chất bên trong vẫn còn mục tiêu xây dựng lực lượng Hồi Giáo thân Pakistan tại Kabul. Vì mục tiêu đó, ISI giúp một nhóm Hồi Giáo của dân Pashtun lớn mạnh thành phong trào. Ðó là lực lượng Taliban - theo tiếng Pashtun là “sinh viên.” Sau khi giúp Taliban cướp chính quyền tại Kabul năm 1996, nhiều viên chức ISI còn đưa Osama bin Laden và các lãnh tụ Al-Qaeda từ Sudan về lập hậu cứ tại A Phú Hãn. Chuyện này, Hoa Kỳ thời Tổng Thống Bill Clinton cũng không thể không biết. Chính ông Clinton ra lệnh tấn công một cơ sở Al-Qaeda tại Sudan sau khi bin Laden tổ chức việc tấn công hai sứ quán Mỹ tại Phi Châu!

Nhớ lại vậy, người ta phải thấy bàn tay ISI trong các nhóm khủng bố Hồi Giáo tại cả A Phú Hãn ở hướng Tây lẫn Kashmir ở hướng Ðông. Một viên tướng phụ trách hồ sơ Kashmir này chinh là Pervez Musharraf, người sẽ đảo chánh và nắm chính quyền tại Pakistan vào cuối năm 1999.

Vụ khủng bố 9-11 tại Hoa Kỳ đảo lộn trò chơi kỳ lạ ấy.

Tướng Musharraf khi đó vừa lên làm tổng thống được tối hậu thư của Thứ Trưởng Ngoại giao Richard Armitage: Pakistan sẽ trở về thời đồ đá nếu không sát cánh tấn công Al-Qaeda và lực lượng Taliban. Mối quan hệ được xây dựng mấy chục năm giữa ISI và Taliban bị tạm gián đoạn. Tạm thôi, chứ không đảo ngược. Lãnh đạo ISI chọn giải pháp nước đôi: giúp Hoa Kỳ truy lùng đặc công khủng bố của Al-Qaeda nhưng tiếp tục yểm trợ để kiểm soát lực lượng Taliban lẫn các nhóm Hồi Giáo cực đoan khác, kể cả khủng bố Hồi Giáo tại Kashmir, thủ phạm vụ tấn công trụ sở Quốc Hội Ấn Ðộ vào cuối năm 2001.

Hoa Kỳ không thể không biết chuyện này vì gây áp lực rất mạnh với Islamabad. Musharraf chỉ thực sự thay đổi lãnh đạo của ISI khi chính ông bị ám sát hụt vào cuối năm 2003. Nhưng rồi đâu vẫn vào đấy. Ðầu lãnh của ISI có thay đổi, các sĩ quan cấp dưới vẫn giữ liên lạc và yểm trợ Taliban.

Lần thứ ba mà Hoa Kỳ gây sức ép nữa là đầu năm 2004, khi Pakistan phải xua quân vào vùng cấm địa Waziristan tại biên giới để truy lùng các tộc trưởng đang yểm trợ Al-Qaeda. Cơ quan ISI bị nhiều lãnh tụ Taliban nghi ngờ. Nhưng, hậu quả bất lường cho mọi người trong cuộc là sự hình thành của một phong trào Taliban tại Pakistan. Lãnh đạo Pakistan bỗng có hai lực lượng Taliban. Tại A Phú Hãn là loại Taliban “tốt” và tại Pakistan là bọn “xấu”... Trong khi ấy, Hoa Kỳ khỏi cần phân biệt và tiếp tục không tập khu vực tự trị của các sắc tộc tại biên giới giữa hai nước để tiêu diệt bộ phận đầu não của Al-Qaeda đang lẩn trốn ở nơi đó và gặp ác cảm không che giấu của ISI....

Chuyện chưa đủ nhức đầu! Quốc Hội Hoa Kỳ không hài lòng với chế độ độc tài của Musharraf và gây áp lực để ông ta phải rút lui. Chính quyền dân sự được bầu lên thay thế vào đầu năm 2008 là một chính quyền yếu. Và không thể kiểm soát được cơ quan ISI. Bên trong ISI, nhiều sĩ quan tiếp tục liên lạc và đỡ đầu cho Taliban tại A Phú Hãn. Họ là ai thì không ai biết rõ.

Cơ quan này do một sĩ quan cấp trung tướng là chỉ huy trưởng. Bên dưới là sáu viên tướng ở cấp thiếu tướng, rồi vài chục chuẩn tướng và cả trăm đại tá... Họ có nhiệm vụ rất rộng lớn, từ tình báo đến phản gián, an ninh nội chính lẫn “Hồi Giáo Vụ” và là thế lực mà lãnh đạo chính trị không thể coi thường, và phải thỏa hiệp để cầm quyền. Thực tế thì cơ quan này là một quân đội trong quân đội và lấy những quyết định có khi đi ngược với quyền lợi của Pakistan, gây ra nhiều vụ khủng hoảng chính trị trong một xứ Hồi Giáo duy nhất có võ khí hạch tâm.

Vì vậy, việc ISI yểm trợ Taliban và cản trở nỗ lực của Hoa Kỳ không là sự lạ, hoặc một bí mật vừa mới được WikiLeaks phanh phui. Khi điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện, một chuyên gia về chiến tranh chống nổi dậy và cố vấn của Ðại Tướng David Petraeus đã cho biết như vậy và khuyên các nghị sĩ nên tham khảo một phúc trình của Giáo Sư Matt Waldman thuộc Ðại Học Harvard đã soạn thảo cho trường London School of Economics. Chẳng thể nào công khai và quốc tế hơn!

Quan hệ giữa ISI và Taliban đã có từ lâu rồi. Nó manh nha ít ra đã ba chục năm nay khi chính quyền Jimmy Carter cho can thiệp vào A Phú Hãn để cản trở Liên Xô.

Kết quả ngày nay không phải là nước Mỹ đang sa lầy tại A Phú Hãn. Kết quả ngày nay là Pakistan đang lâm khủng hoảng vì có cái vỏ dân chủ ở trên, bên dưới là một ổ rắn độc. Lãnh đạo xứ này thường xuyên bị ám ảnh bởi mối nguy Ấn Ðộ nên ISI càng yểm trợ Taliban mạnh mẽ hơn vì e ngại Ấn Ðộ sẽ can thiệp vào Kabul và gây thêm sức ép cho Pakistan từ hướng Tây.

Hậu quả? Không phải ngẫu nhiên mà sau vụ WikiLeaks, các khuynh hướng phản chiến đều lên tiếng khuyên chính quyền Obama nên xét lại ưu tiên và sớm rút khỏi A Phú Hãn. Ðấy là mục tiêu của các đạo diễn giấu mặt sau vụ WikiLeaks chăng? Làm sao biết được! Nhưng hậu quả bất lường - như rất nhiều hậu quả bất lường người ta vừa thấy ở trên - là Pakistan sẽ thành ưu tiên! Xứ này mà lâm đại họa thì quân khủng bố sẽ tiến gần tới võ khí tuyệt đối.

Vì những mục tiêu nhất thời, nhiều khi Hoa Kỳ đã nuôi ong tay áo. Nhưng yên tâm là trong tay áo người khác. Lần này, có khi đàn ong sẽ vỡ tổ và bay tứ tung từ Trung Á qua Nam Á, hay Trung Ðông và xuống tới Phi Châu. Sở trường của nước Mỹ chăng?

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Việt Nam:
Các Nhà văn được Vinh danh vì Dấn thân cho Tự do Ngôn luận



(New York, ngày 4 tháng Tám, 2010) – Sáu nhà văn Việt Nam nằm trong nhóm 42 nhà văn từ 20 quốc gia giành được giải thưởng uy tín Hellman/Hammett, ghi nhận sự dũng cảm đối mặt với khủng bố chính trị, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố hôm nay.Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền – tổ chức quản lý giải thưởng thường niên Hellman/Hammett, tuyên bố, “Các nhà văn Việt Nam thường xuyên bị sách nhiễu, thậm chí bị bỏ tù, chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.” “Qua việc vinh danh các nhà văn dũng cảm phải chịu đựng sự khủng bố chính trị, mất việc làm, và thậm chí hy sinh cả tự do, chúng tôi hy vọng sẽ hướng sự chú ý của quốc tế tới những tiếng nói mà chính phủ Việt Nam đang cố gắng bắt phải câm lặng.”

Tất cả những người được giải năm nay từ Việt Nam đều là các nhà văn mà tác phẩm và hoạt động của họ bị chính phủ đàn áp trong nỗ lực nhằm hạn chế tự do ngôn luận, kiểm soát các phương tiện truyền thông độc lập, giới hạn việc truy cập và sử dụng internet.

Các hành động của chính phủ Việt Nam nhằm đối phó với những người được giải bao gồm việc sách nhiễu đời sống cá nhân và việc làm của họ, tấn công các trang web, cắt điện thoại và gây áp lực với gia đình để thúc giục họ chấm dứt các hoạt động của mình. Một vài người thậm chí còn bị côn đồ được hợp thức hóa tấn công và đả thương, hoặc bị đấu tố và làm nhục tại các cuộc họp quần chúng đã được dàn xếp sẵn. Cả 6 người đều từng bị bắt và tạm giữ; bốn người hiện đang ở tù.


Những người đoạt giải năm nay từ Việt Nam gồm có Bùi Thanh Hiếu, người viết blog với bút danh Người Buôn Gió; Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, blogger được biết trên internet với bút danh Mẹ Nấm; nhà hoạt động vì nhân quyền Phạm Văn Trội; nhà thơ cựu chiến binh Trần Đức Thạch; nhà giáo Vũ Văn Hùng, và tiểu thuyết gia Trần Khải Thanh Thủy. Phạm Văn Trội, Trần Đức Thạch, Vũ Hùng và Trần Khải Thanh Thủy hiện đang ở tù. (Xem tiểu sử chi tiết bên dưới).


Giải thưởng thường niên Hellman/Hammett được trao cho các nhà văn trên khắp thế giới từng là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc lạm dụng về nhân quyền. Giải thưởng này bắt đầu vào năm 1989, khi nhà biên kịch người Mỹ Lillian Hellman để lại di chúc dành bất động sản của bà vào việc giúp đỡ các nhà văn đang gặp khó khăn về tài chính vì đã bày tỏ quan điểm của mình.


Ý tưởng của Hellman tạo ra chương trình trợ giúp các nhà văn bắt nguồn từ sự khủng bố mà chính bà và bạn đồng hành lâu năm của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett, từng phải gánh chịu trong thời kỳ săn lùng cộng sản ở Mỹ vào thập niên 1950, khi mà cả hai bị các ủy ban quốc hội truy vấn về niềm tin chính trị và liên hệ với các nhóm phái. Hellman chịu thiệt thòi về nghề nghiệp và gặp khó khăn khi kiếm việc làm. Hammet phải vào tù một thời gian.


Năm 1989, những người chịu trách nhiệm điều hành bất động sản của Hellman đề nghị Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thiết lập một chương trình nhằm giúp đỡ các nhà văn bị đàn áp vì bày tỏ những quan điểm mà chính phủ của họ phản đối, vì chỉ trích các quan chức hoặc các hành động của chính phủ, hoặc vì viết về những đề tài mà chính phủ của họ không muốn đưa ra trước ánh sáng. Trong 21 năm qua, hơn 700 nhà văn từ 92 nước đã nhận giải Hellman/Hammett với giá trị có thể lên tới $10,000 một người, tổng cộng hơn 3 triệu đô la. Chương trình này cũng trao những khoản tài trợ khẩn cấp nhỏ cho những nhà văn đang cần cấp tốc rời khỏi đất nước của họ, hoặc những người cần được điều trị y tế ngay sau khi ra tù hoặc bị tra tấn. “Giải Hellman/Hammett nhằm mục đích giúp đỡ những nhà văn đã dũng cảm bày tỏ ý kiến chỉ trích các chính sách công khai chính thức hoặc những người cầm quyền,” Marcia Allina, điều phối viên của chương trình, tuyên bố. “Nhiều nhà văn chia sẻ mục đích chung với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: Bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương bằng cách đưa ra trước ánh sáng những vụ lạm dụng và xây dựng áp lực công chúng để thúc đẩy những thay đổi tích cực và lâu dài.”

Tiểu sử tóm tắt của những người đoạt giải từ Việt Nam năm nay: Image Bùi Thanh Hiếu , viết blog dưới bút danh “Người Buôn Gió”, là một trong những blogger nổi tiếng nhất ở Việt Nam. Trang blog của anh chỉ trích chính phủ về chính sách đối với Trung Quốc, về việc chấp thuận cho khai thác bauxite gây nhiều tranh cãi, và về đối sách bất hợp lý về những buổi cầu nguyện của những người Công giáo. Hiếu bị bắt vào tháng Tám năm 2009 và bị giam giữ hơn một tuần vì tội “lạm dụng tự do dân chủ.” Nhà anh bị khám và máy tính bị thu giữ. Vào tháng Ba năm 2010, Hiếu bị công an triệu tập và thẩm vấn suốt mấy ngày. Hiện giờ anh luôn bị theo dõi và có thể bị bắt và tống giam bất kỳ lúc nào.
Image Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người viết blog với bút danh Mẹ Nấm, bị tạm giữ và thẩm vấn vào năm 2009 sau khi bị chụp ảnh mặc chiếc áo với khẩu hiệu “Không Bô Xít, Không Trung Quốc: Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam.” Vào tháng Chín năm 2009, cô bị công an bắt giải khỏi nhà vào nửa đêm và bị thẩm vấn về những bài viết trên trang blog chỉ trích chính sách của chính phủ liên quan đến Trung Quốc và những tranh chấp về Quần đảo Trường Sa. Cô được thả sau 10 ngày bị giam giữ, nhưng vẫn bị theo dõi; công an tiếp tục gây áp lực nhằm buộc cô đóng cửa trang blog. Đơn đề nghị cấp hộ chiếu của cô bị bác bỏ.
Image
Phạm Văn Trội sử dụng nhiều bút danh khác nhau để viết về nhân quyền, dân chủ, quyền sử dụng đất đai, tự do tôn giáo và những tranh chấp về lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông là thành viên tích cực trong Ủy ban Nhân quyền Việt Nam. Ông cũng viết cho tập san bất đồng chính kiến Tổ Quốc. Kể từ năm 2006, ông bị công an sách nhiễu và triệu tập nhiều lần. Ông bị bắt vào tháng Chín năm 2008 và bị truy tố với tội danh phát tán tài liệu tuyên truyền chống chính phủ. Vào tháng Năm năm 2009, Nhóm Công tác Liên hợp quốc chuyên Giám sát việc Giam giữ Tùy tiện (the UN Working Group on Arbitrary Detention) xác định rằng Phạm Văn Trội đã bị giam giữ một cách sai trái. Bất chấp kết luận của nhóm này, vào tháng Mười năm 2009, ông bị kết án bốn năm tù giam và bốn năm quản chế.
Image Trần Đức Thạch là tác giả của một tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, bài báo và các báo cáo lên án tham nhũng, bất công và các vụ lạm dụng nhân quyền. Là cựu chiến binh Quân đội Nhân dân, ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Nghệ An. Tiểu thuyết Đôi Bạn Tù hoàn thành năm 1988 mô tả bản chất tùy tiện của hệ thống pháp lý và tình trạng phi nhân của nhà tù ở Việt Nam. Các bài thơ xuất bản với tiêu đề Những Điều Chưa Thấy viết về cuộc sống không có tự do và công lý. Trần Đức Thạch thường xuyên bị sách nhiễu kể từ năm 1975. Vào năm 1978, áp lực trở nên thô bạo tới mức ông phải tự thiêu và bị bỏng nặng. Kể từ đó, ông đã bị bắt 10 lần và bị đưa ra tòa bốn lần, lần nào tòa cũng phải thả vì thiếu chứng cứ. Năm 2009, Nhóm Công tác Liên hợp quốc chuyên Giám sát việc Giam giữ Tùy tiện xác nhận rằng ông bị giam giữ sai trái và tùy tiện vào lần bị bắt sau cùng hồi tháng Chín năm 2008. Bất chấp điều đó, ông bị kết án ba năm tù giam và ba năm quản chế.
Image Trần Khải Thanh Thủy là một tiểu thuyết gia và một nhà báo nổi tiếng; bà viết về quyền sử dụng đất của nông dân, nhân quyền, nạn tham nhũng, và đa nguyên chính trị. Bà thường chỉ trích chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào tháng Mười năm 2006, bà bị đấu tố tại một phiên tòa dàn dựng trước hàng trăm người. Tháng sau, bà bị đuổi việc và bị quản chế tại gia. Vào tháng Tư năm 2007, bà bị bắt tại nhà và bị biệt giam tại trại giam B14 ở Hà Nội trong chín tháng. Vào năm 2008 và năm 2009, bà thường xuyên phải chịu sự sách nhiễu của công an và của các băng nhóm khu phố được sắp đặt, bao gồm ít nhất là 14 lần bị côn đồ ném phân và chuột chết vào nhà. Tháng Mười năm 2009, bà bị bắt sau khi cố gắng tới dự phiên tòa xử các nhà bất đồng chính kiến khác và bị kết án 42 tháng tù giam. Bà bị bệnh lao và bị tiểu đường, nhưng không được nhận chăm sóc y tế trong tù.

Image
Vũ Văn Hùng là một nhà giáo và cộng tác viên của tập san bất đồng chính kiến Tổ Quốc. Ông bị cơ quan sa thải vì có quan hệ với các nhà hoạt động dân chủ và các nhà văn bất đồng chính kiến. Ông bị tạm giữ chín ngày vào ngăm 2007 và sau đó bị quản chế tại gia. Ông viết Chín Ngày trong Tù, kể lại việc mình bị thẩm vấn. Vào tháng Tư năm 2008, ông bị bắt và bị đánh đập thậm tệ vì tham gia cuộc biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc trong thời gian rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng Chín năm 2008, ông lại bị bắt vì đã treo khẩu hiệu trên cầu kêu gọi dân chủ đa đảng. Hiện ông đang chịu án tù giam ba năm, và sau khi ra tù sẽ chịu thêm ba năm quản chế tại gia. Phiên tòa xử ông vào năm 2009 diễn ra chỉ vài tháng sau khi Nhóm Công tác Liên hợp quốc chuyên Giám sát việc Giam giữ Tùy tiện xác nhận rằng ông là nạn nhân của việc giam giữ sai trái và tùy tiện. Có tin rằng ông hiện đang bị giam tại Trại giam Hỏa Lò 2 ở Hà Nội; ông gặp nhiều vấn đề về sức khỏe sau khi bị đánh đập thậm tệ trong khi thẩm vấn và sau một tháng tuyệt thực.

Để biết thêm thông tin, đề nghị liên hệ: Tại New York, Marcia Allina (tiếng Anh): +1-212-216-1246
Tại Bangkok, Phil Robertson (tiếng Anh, tiếng Thái): +66-85-060-8406 (di động)
Tại Washington, DC, Sophie Richardson (tiếng Anh, tiếng Hoa phổ thông): +1-202-612-4341; or +1-917-721-7473 (di động)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Máy bay B-2 của Mỹ sẽ "làm cỏ" các cơ sở hạt nhân của Iran
Cuộc tấn công của Lầu Năm Góc chống lại Iran sẽ dựa chủ yếu vào máy bay ném bom B-2 và tên lửa hành trình nhằm triệt tiêu khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân của Tehran. Nhận định này được giới phân tích đưa ra sau khi sĩ quan quân sự cấp cao của Mỹ thừa nhận có kế hoạch tấn công Iran.


Những tên lửa hành trình, được bắn từ tàu nổi, tàu ngầm và máy bay ném bom B-2 sẽ xóa sạch các cơ sở phòng không và các cơ sở liên quan đến hạt nhân của Iran.
Image Máy bay ném bom B-2 sẽ ném hàng tấn bom vào các căn cứ vững chắc và căn cứ dưới lòng đất – nơi Tehran bị nghi ngờ làm giàu uranium phục vụ cho hoạt động chế tạo vũ khí và đầu đạn.

Tướng không quân nghỉ hưu Thomas McInerney, cựu phi công lái máy bay chiến đấu, cho biết, máy bay B-2 sẽ bay trên bầu trời Iran trong khi các tên lửa hành trình sẽ được bắn ngoài khơi bờ biển. Hoạt động này sẽ kéo dài vài ngày.

John Pike, một nhà phân tích quân sự - người điều hành trang Global Security.org, khẳng định mặc dù Iran có nhiều mục tiêu tiềm tàng, nhưng chỉ có 6 cơ sở quan trọng. Nếu những căn cứ này bị phá hủy thì chương trình vũ khí của Tehran sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

“Hầu như tất cả các căn cứ này đều ở những khu vực bị cô lập – nơi thương vong dân sự sẽ không phải là vấn đề lớn”, ông cho biết thêm.

Theo kịch bản trên website của ông: “Các cuộc không kích của người Mỹ nhằm vào Iran sẽ vượt quá phạm vi cuộc tấn công của Israel vào năm 1981 nhằm vào trung tâm hạt nhân Osiraq tại Iraq, và sẽ tương tự như chiến dịch không kích Iraq những ngày đầu năm 2003. Việc sử dụng sức mạnh của máy bay ném bom tàng hình B-2, bắt đầu từ Diego Garcia hoặc bay trực tiếp từ Mỹ, sẽ khiến hai chục cơ sở hạt nhân tình nghi bị đặt trong “tầm ngắm”.

Trong mùa hè này, chính quyền Obama đã giành được sự ủng hộ của Liên Hợp Quốc về việc áp đặt lệnh trừng phạt khác về kinh tế đối với Tehran, nhưng nhiều người nghi ngờ liệu những giới hạn về trao đổi thương mại sẽ thuyết phục được quốc gia Hồi giáo này từ bỏ kế hoạch trở thành cường quốc hạt nhân hay không.

“Kế hoạch sử dụng vũ lực với Iran đã có và vẫn đang là một trong những phương án được đệ trình lên Tổng thống xét duyệt. Hy vọng, chúng tôi sẽ không phải sử dụng đến phương án được nghiên cứu và chuẩn bị rất chu đáo, tỷ mỉ này”, đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, trả lời phỏng vấn kênh truyền hình NBC.

Tại Tehran hôm 01/8, Yadollah Javani, Chỉ huy phó Lực Lượng Vệ binh Cách mạng Iran tuyên bố, Iran sẽ phản ứng một cách cứng rắn, nếu Mỹ tấn công chương trình hạt nhân Iran.

Hãng thông tấn IRNA của nhà nước Iran dẫn lời ông Javani nói với rằng nước ông sẽ tự vệ nếu Mỹ hoặc Israel dùng đến "các biện pháp thù nghịch" tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran.

Với việc cho F-117 Nighthawk – loại máy bay tham gia cuộc xâm lược Iraq năm 2003 - “nghỉ hưu”, lực lượng không quân Mỹ hiện chỉ có 2 máy bay tấn công tàng hình là B-2 và F-22 Raptor. F-22 không được triển khai trong cuộc chiến Iraq và Afghanistan. Lầu Năm Góc đã phái chiến đấu cơ tối tân này tới châu Á hồi tháng trước để phô diễn sức mạnh chống lại Triều Tiên.

NM (Theo Washington Times)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Còn Đâu Tiếng Hát Dân Chài?
Cái khôn ngoan của Bắc Kinh trong việc
người nước ngoài đầu tư trên đất TQ.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
Đôi khi nằm trong căn nhà nhỏ trên bãi biển St Pete Florida tôi thường hay có những cảm giác hồi tưởng về mùi nước mặn và những con sóng dồn đập vào bờ bằng những âm ào ào vang quen thuộc.

Bãi biển đầu tiên trong cuộc đời cho tôi tung tăng với sóng và đợi chờ những đợt nước tấp vào bờ như không ngừng của từng con sóng bạc đầu ngoài xa, chúng tiếp nối nhau vào miền đất cát. Đó là kỹ niệm của những ngày còn thơ theo ba me tôi đi biển . Thật tình cho đến hôm nay tôi cũng không biết tên của biển đó là tên gì nhưng mỗi lần ra biển là mỗi lần tôi nghe tiếng gọi thân quen của Bầu Tró hay Bàu Tró gì đó. Nhưng đặc tình ở đó là tắm biển xong, chúng tôi ở Bầu Tró, nơi đã có ngay dòng nước ngọt

Cứ mỗi lần đi biển là mỗi lần tôi được ăn cá luột từ những cái trách bằng đất chấm nước mắm với rau tươi. Cái cảm giác ngon miệng đó cho đến hôm nay trên nửa thế kỷ thời gian, mỗi lần nhớ đến là mỗi lần mang cái cảm giác thèm thuồng.

Trong trí nhớ thơ ngây tôi còn có những dấu ấn về những làng chài lưới ở ven biển Đồng Hới bằng những hàng lưới giăng mắc treo trên những dọc hàng cây để sửa soạn cho một ngày ra khơi tới.

Hôm nay bãi biển thơ ngây đầu đời không còn trong khoảng không gian tôi đang ở mà chỉ nhìn ra bằng thứ thị giác hồi tưởng ở một nơi xa cho kỹ niệm trong từng ngăn ký ức được phục hồi.

Sau hiệp định Geneve chúng tôi vào Huế. Đến khi chập chững bước vào ngưỡng cửa thành niên tôi vào QuiNhơn. Nhà tôi ở trên con đường Cường Để, đi qua Ty cảnh sát đến Toà Thị Chính, đi hết con đường là chúng tôi có thể tới biển.

Không biết Biển Quinhơn có tên gì khác không nhưng chúng tôi thường ám hiệu cho nhau là đi biển Khu Hai. Có nghĩa là đám tụi tôi thường hay xuống biển vào buổi trưa sau dãy nhà lá của dân chài lưới Trên bãi biển nào cũng có những màng lưới đánh cá trang hoàng cho dung nhan bờ biển . Có những em bé mình trần đen nhánh chạy chơi dưới nắng trưa và những tiếng hát trong Xóm chài thường văng vẳng ra trên bờ biển

Tiếng hát ấy những khuôn mặt trẻ thơ đen nhánh ấy chắc giờ đây không còn nữa. Có chăng chỉ còn lại là những khuôn mặt lặng lẽ nhìn nhau trong mối lo âu sợ mai ra biển có còn có ngày về. Nỗi lo âu đó lớn dần lớn dần trong đầu óc của các ngư phủ Việt Nam ngày nay.

Cho đến hôm nay những tin tức của ngư phủ VN bị Trung Cộng tàn sát trên biển đông khi họ đang đánh cá trên phần biển thuộc quốc gia của họ. Tin tức đau thương của người dân chài VN từng ngày như quặng thắc vào nỗi trắc ẩn của người dân Việt trên toàn thế giới. Thậm chí bị bão tố trên đường biển nhưng ngư phủ VN cũng không dám trú ẩn trong phần đảo Hoàng Sa của họ vì đã bị Trung Cộng chiêm giữ sau khi Đảng CSVN dâng nhượng cho chúng

Nói đến CSVN mà không nói đến sở trường tuyên truyền và lừa bịp của chúng là một điều thiếu sót.

CSVN qua VC Phạm Văn Đồng đã ký bản nhượng biển cho Tầu vào năm 1958 và Nguyễn tấn Dũng đã hợp thức hoá văn kiện đó vào năm 2000. Ấy thế mà CSVN vẫn che dấu đẫy ngư dân vào cõi chết hằng ngày.

Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì vào năm 2000 giữa Trung Cộng và Mỹ có một cuộc mâu thuẩn trên vấn đề về 200 hải lý bìa biển. Chính sự gian lận chủ quyền của Trung Cộng trên biển đông đã như một tình cờ cho người dân Việt tại hải ngoại khám phá ra Việt Gian Cộng Sản đã bí mật dâng đất nhượng biển VN cho Tầu. CSVN hốt hoảng sợ dân chúng nỗi loạn sau hằng loạt sự phản đối của các đảng viên trung kiên và của ngư phủ VN. Đảng CSVN vẫn tiếp tục ngụy biện bằng những văn thư, nghị quyết kêu gọi quân đội nhân dân bảo vệ ngư phủ. Sự chồng đối CSVN dâng biển cho Tầu càng lúc càng đồng loạt cất cao. Mạnh mẽ nhất là người dân Việt ở hải ngoại.

Như chúng ta đã trôi qua trên dòng sông cận đại của vận mệnh Nam Việt Nam. Khi Mỹ vì sự diễn tiến của Hoà Đàm Ba Lê để rút quân ra khỏi chiến tranh VN trong danh dự. Sau khi chiến thắng kỹ thuật đầu đạn bom nguyên tử tầu ngầm trong cuộc chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ thì sự hiện diện tại VN trong cuộc chiến tranh trực diện đã không còn cần thiết. Do đó Mỹ tìm đường “tháo chạy” bỏ đồng minh VNCH chiến đấu lẽ loi trước đầu đạn pháo kích xe tăng tân kỳ của Nga của Trung Cộng.

Để cuộc tháo chạy thuận buồm xuôi gió Mỹ đã giúp Tầu cộng vào chiếm Hoàng Sa. đó chính là mấu chốt của sự tuyên truyền của VGCS ngày nay.
Trong việc để Trung Cộng xâm chiếm biển đông. Những tin tức từ VN cho hay Trung Cộng trong ngày 2/22 có 30 tàu Trung Quốc vào tận kinh độ 109, vĩ độ 16, cách bờ biển Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế khoảng 45 hải lý.

Ngày 29/01, tại vĩ độ 17, kinh độ 108’30, sát bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, đã có tới 100 tàu cá Trung Cộng đang đánh cá trên biển . Hôm 1/3/2010 tại bờ biển Đànẳng đã phát hiện hơn 20 tầu đánh cá. Cũng như cuối năm 2009 đã có trên 36 lần đánh cá trái phép của Trung Cộng trên các bờ biển Miền Trung.

Việc tàu cá Trung Quốc xâm nhập trái phép vào vùng biển miền Trung Việt Nam để đánh bắt hải sản hiện diễn ra hầu như hàng ngày.

Trong khi đó, Trung Cộng đã bắt ngư dân VN rất nhiều lần tại các vùng biển trong năm qua.

Mới đây nhất, hôm 07-08/12/2009, Trung Cộng đã bắt giữ ba tàu cá cùng hơn 40 ngư dân ở Lý Sơn, Quảng Ngãi, một vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đến ngày 12/12, họ trả về toàn bộ số ngư dân này trên một chiếc tàu, nhưng vẫn giữ lại hai tàu mới hơn.

Hồi tháng 6/2009, gần 40 ngư dân bị bắt vì "vi phạm lãnh phận đánh cá` của Trung Cộng" và bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa cho tới tận tháng Tám. Họ còn bị đòi tiền chuộc với tổng số tiền lên tới gần 30.000 đôla Mỹ.

Cuối tháng Chín, ngư dân Quảng Ngãi vào tránh bão tại Hoàng Sa còn bị lính Trung Cộng bắn súng đuổi ra và đã có những hành động tàn bạo với ngư dân VN.

Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao ở VN có đảng CSVN có Quân Đội Nhân Dân ấy thế mà Trung Cộng lại ngang nhiên xâm nhập vào những lãnh hải của VN như đi trên biển nhà của họ.?

Ai đã cho họ cái quyền đó? Nếu không, nó là đảng CSVN.

Rõ ràng cho dù trong mộng hay trong thực người dân cũng đã thấy rõ hiểm hoạ CSVN đang biến đất nước VN từ vùng biển mặn thành thuộc địa của Tầu? Nếu không thì Quân Đội Nhân Dân ở đâu mà không bảo quốc an dân.

Mới đây trong một tin ngắn cho biết CSVN đã tuyên truyền trong dân chúng cho rằng Hoàng Sa đã bị VNCH đánh mất vào tay Trung Cộng năm 1974.

Thật ra khi chúng tôi trình bày về kế hoạch rút lui của Mỹ tại VN đã bắt đầu vào cuối năm 1968 nhưng vì Nga không chịu cho VC ngồi vào bàn hoà đàm do đó Mỹ mới để TC vào đánh Hoàng Sa. Đây là một trận hải chiến quyết liệt đã đưa Hải Quân VNCH đi vào lịch sử hải chiến oai hùng nhất thế giới. Cho dù bị đồng Minh cúp viện trợ, cho dù khí giới và quân đội nhỏ nhoi trước nanh vuốt hùng hậu của Trung Cộng, và cho dù hải quân Mỹ cũng đang hiện diện trên biển nhưng quay mặt làm ngơ cho Trung Cộng tấn công Hoàng Sa. Nhưng Hải Quân VNCH đã không tổn thất thương vong như Trung Cộng và đã giữ được con đường biển vùng Hoàng Sa cho ngư dân lúc bấy giờ vẫn tự tại ra khơi và hoan cá trên từng khoan cá đầy sau những ngày mệt nhọc.

Nhưng hôm nay còn đâu tiêng hoan ca của đoàn ngư phủ ra khơi? Còn đâu hình ảnh " Đêm dâng với ngọn triều . Dô à dô - kéo thuyền nhổ neo. Vi vu buồm lên cao . Dô à dô sóng reo dạt dào" (bài hát Tiếng Dân Chài của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương)

Trong khi đó CSVN vẫn lẻo mép, giảo hoạt trước những phiên họp quốc tế vẫn liên tục đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa. Có phải Việt Gian Cộng Sản đang sợ dân chúng yêu tổ quốc của tiền nhân đã khổ công gầy dựng mà đứng lên đánh đổ VGCS trong việc dâng đất nhương biển cho Tầu?

Cuối năm 2007 khi Quốc hội Trung Quốc đã thông qua những quy định quản trị hành chính khu vực Biển Đông. Chính điều này đã dấy lên những phản ứng mạnh mẽ trong giới trẻ, sinh viên Việt Nam. Phản ứng này càng ngày càng phát triển mạnh trong quần chúng.

Mới đây những tin tức từ các cuộc tranh cãi ở vùng biển Đông càng ngày càng sôi nỗi. Trong khi đó VGCS vẫn chơi trò ngụy biện, thẳng tay bắt và hành hạ các thanh niên tỏ lòng yêu nước và chống Trung quốc để trấn an quần chúng VN tronng việc VGCS đã biển cho Tầu Cộng.

Để công cuộc tranh cãi không thể kéo dài dai dẳng, Liên Hiệp Quốc đã theo qui định của bản văn UNCLOS (United Nations Convention on the Law of the Sea) Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển yêu cầu các quốc gia đang tranh chấp vẽ lại đường biên giới của các chủ quyền.

Việt gian CS tuy đã tỏ ra tranh cãi rất mạnh mẽ về đòi hỏi chủ quyền của Hoàng Sa Trường Sa trước đây. Nhưng khi VGCS vẽ lại đường biên giới chủ quyền, họ VGCS đã vẽ ra con đường biên giới nằm trong vị trí không có Hoàng Sa Trường Sa.

Có phải VGCS không dám vuốt mặt Trung Cộng khi đã mắc nghẹn cục xương ngang cổ của bản văn của VC Phạm Văn Đồng viết, thư đề ngày 14/09/1958 trong đó, VC Phạm Văn Đồng đại diện cho Việt Nam ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng trong vùng hải phận 12 hải lý. Ngoài ra VGCS còn đeo lá bùa 16 chữ vàng và tinh thần bốn tốt do Bắc Kinh tặng để đảng ta yên tâm thủ lợi trên xương máu và giọt mồ hôi của nhân dân hai miền Nam Bắc.

Như vậy có phải VGCS đã không bao giờ dám đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa khi đã vẽ lại đường biên giới.?

CSVN có thể chơi trò lừa phỉnh dân tộc VN qua cái trò bỉ ổi vẽ lại đường biên giới. Nhưng Hoàng Sa và Trường Sa là những địa thế rất quan trọng trên chiến lược quân sự Thái Bình Dương của Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ không thể nào để Trung Cộng làm chủ quyền của Hoàng Sa. Cuối cùng Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông dân tộc VN dựng lên biến thành ao nhà của Trung quốc và cho các cường quốc có khả năng vào khai thác dầu khí, làm hưng phấn Trung quốc như một nhà máy sản xuất hàng cho thế giới.

Trong khi đó ngoài các công ty và hãng xưởng của nước ngoài có mặt và đấu tư tại Trung quốc, Bắc Kinh đã cho mở nhái các công ty và hãng xưởng nước ngoài và tạo ra các cổ phần hùn. Các cổ phần hùn trong các công ty nhái được chia ra thành nhiều hạng, hạng cho người đầu tư nước ngoài, hạng cho các doanh gia Trung quốc và hạng cho người dân Trung quốc có tiền tiết kiệm 25% trong số thu nhập hàng năm.

Cổ phần hùn cho dân Trung quốc chính là cồ phần của hai hạng trên xé nhỏ ra. Những nhà đầu tư Tây phương ăn chắc , mặc bền, họ lại đầu tư bằng cách mua các cổ phẩn thường dành cho người dân Trung quốc.

Bắc Kinh khôn ngoan nên cho phép người nước ngoài được quyền mua theo cỏ phần dành cho người dân Trung quốc và tạo ra cái vốn tư bản rất lớn.
Nhân danh các công ty nhái do Bắc Kinh kiểm soát, các công ty này đánh cắp các kỹ thuật Tây phương và đem vốn do người nước ngoài mua cổ phần để bành trướng khai thác vùng Đông Nam Á vốn có sẵng lao động rẻ tiền và thiếu kỹ thuật như Việt Nam, Lào, Kampuchia – Bắc Kinh còn thúc đầy các công ty này bành trướng sang tận Phi châu, nơi đã có tinh thần bài Tây phương sau thế chiến II vẫn tiềm tàng.

Chỉ tội cho ngư phủ VN từ đây những lần ra khơi sẽ vô cùng lo sợ. Những mẹ già vợ dại con thơ sẽ rưng rưng chờ mong ngưồi ra biển trở về chứ không còn mơ ước những khoan cá đầy tươi tắn.

Những hình ảnh thương tâm của ngư phủ VN đã không được nhà nước CSVN bảo vệ thì những kế sách bảo vệ người Việt tại nước ngoài hay những kế hoạch giao thương canh tân đất nước hôm nay có phải là những luận điệu tuyên truyền trên chiêu bài làm lợi cho CSVN trên âm mưu thôn tính Cộng Đồng VN tại hải ngoại để củng cố sự tồn tại lâu dài của những kẽ bán nước buôn dân do những tên thân Cộng đang thi hành. Những hành động này đâu cần phải đợi mới biết đúng hay sai mà chỉ cần nhìn vào sự sống lây lất đau khổ của dân chài VN để thấy rõ bản chất lưu manh của Đang CSVN chỉ biết bảo vệ quyền lợi của chúng mà thôi.
Ôi dân VN nước tôi! Còn bất hạnh đau thương nào khi ngư phủ phải đi vào chỗ chết để tìm sự sống cho gia đình. Lòng họ sẽ không còn hân hoan cho những buổi ra đi mà ở đó mỗi lần ra khơi là mỗi lần quặng thắt đau thương vì không biết mỗi một lần ra đi còn có một ngày về. Biển xôn xao sóng ầm ầm xô xát vào bờ và những tiếng hát : " Trăng lên vừa nhô xa, con thuyền trôi trong trời bao la..mái chèo này chèo xa tắp bên bờ" Hay là " Đây tay chài tay lưới ấy đời nhọc nhằn mà vui".

Họ còn có vui được không hỡi những người đang gìn giữ quê hương hay từ đây tiếng hát dân chài sẽ bị những âm quen hung tợn trên từng cơn sóng dữ dằn của Tầu phù chôn vùi trong biển cả.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
Ngày đầu tháng 8/2010

Post Reply