Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Ngày Nảy, Ngày Nay
(Tức Trịnh Hội v. Công An – Tập 4)
Thật ra lấy tên mình để đặt tựa đề cho loạt bài blog này thì thấy cũng hơi quá đáng nhưng suy đi nghĩ lại vì hiện tại tôi không thể nào thưa mấy anh công an Việt Nam ra toà vì tội bắt người trái phép thành thử tôi đành phải lấy tựa đề Trịnh Hội v. Công An để coi như lần này mình thưa mấy ảnh ra tòa án nhân dân…trên đài VOA cho đỡ tức!
Sau khi đọc xong loạt bài này tôi mong là tất cả các bạn sẽ công bằng xét xem tôi có đáng bị trục xuất hay không và bên công an đã có đầy đủ bằng chứng để buộc tội tôi không. Dĩ nhiên nhân tiện tôi cũng có lời mời mấy anh công an bên A18 và A25 đã từng quay tôi như dế trong suốt 6 tháng trời ròng rã, nếu muốn, có thể lên tiếng bào chữa cho hành động của mình bằng cách gửi email cho tôi hoitrinh@hotmail.com. Tôi xin thề sẽ tường thuật lại đầy đủ và trung thực.
OK. Bây giờ tôi xin kể tiếp.
Cũng như bao người thất nghiệp khác, sau khi làm show ở Úc về tôi đã phải bắt đầu lên computer làm lại resume để gửi đi mọi nơi xin việc. Việc gì tôi cũng xin. Từ làm manager, làm tin tức cho các đài ở hải ngoại, cho đến việc làm luật sư cho những công ty tư vấn luật của Mỹ, Úc, Hồng Kông… Cũng may là từ lúc ra trường đến giờ tôi chưa bao giờ bị cho ở không nên chỉ vài tuần sau tôi đã được thông báo là tôi được nhận vào làm manager cho công ty kiểm toán lớn hàng đầu thế giới của Anh có tên là Ernst & Young hiện có hai văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn.
Tôi sẽ được nhận vào làm việc ở văn phòng Sài Gòn với hợp đồng đầu tiên là hai năm. Sau đó nếu thích tôi có thể ký gia hạn thêm.
Thật ra lúc ấy tôi chưa có ý định về lại hẳn Việt Nam để sinh sống vì tôi vẫn còn một số công việc riêng tư ở Mỹ, ở Úc chưa giải quyết xong. Nhưng một phần vì bản tính cố hữu thích đi của tôi, phần lớn khác vì tôi muốn tận tai, tận mắt thấy được những thay đổi trong xã hội Việt Nam đúng 10 năm kể từ ngày tôi bị đuổi đi, nên cuối cùng tôi đã quyết định ký hợp đồng trở về.
Tôi thường nghĩ để có thể nhận xét về một xã hội, một đất nước một cách chính xác và đầy đủ, điều kiện đầu tiên và cần thiết nhất là bạn phải sống và thở trong xã hội ấy trong một thời gian dài. Không phải sống và thưởng ngoạn như một du khách. Mà phải hòa đồng cùng với bao người dân khác trong thành phố hối hả với công việc mỗi ngày. Và lo lắng mỗi khi có mưa to (vì con đường Nguyễn Hữu Cảnh nơi tôi ở gần quận 1 sẽ thành sông không thể nào về nhà!).
Thành tâm mà nói những ngày đầu lúc mới trở về tôi rất thích. Vì cái chi cũng lạ nhưng rất gần, tình bằng hữu trong công việc tuy mới quen nhưng rất sâu đậm và tình cảm gia đình bên nội, ngoại luôn quấn quít bên nhau làm cho tôi có cảm giác như tôi vừa mới đi đâu rất xa nay mới được trở về sống bên cạnh những người thân trong ngôi nhà yêu quí mà mình vẫn còn nhớ từng góc cạnh, từng tiếng chào hàng trong khu chợ Bến Thành, hay tiếng bóp kèn xe inh ỏi bất kể là có cần thiết hay không.
Đúng là bực thì có bực đấy. Nóng thì có nóng đấy. Đã vậy còn thấy được bao cảnh trái ngang trong cuộc sống. Nhưng nó vẫn có một cái gì đó rất quen thuộc, rất gần gũi và vì vậy cũng rất dễ làm mình quyến luyến như thể “tình cũ không rủ cũng đến”. Nếu một ngày nào đó, một nhà cầm quyền nào đó ở Việt Nam có đủ sự tự tin để cho những người như tôi trở về để giúp đất nước thì chắc chắn tôi sẽ trở về.
Tôi sẽ trở về mà không cần được đãi ngộ. Tôi cũng không cần họ xem tôi là “khúc ruột ngàn dặm” cần được tạo điều kiện để trở về như đã được lập đi lập lại nhiều lần từ chính cửa miệng của những nhân vật chóp bu trong Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Điều duy nhất mà tôi cần là họ sẽ không làm phiền đến tôi, sẽ không hạch hỏi tôi từ ngày này qua tháng nọ. Và cuối cùng là buộc tôi phải rời khỏi Việt Nam mà không có bất kỳ một quyết định chính thức nào bằng văn bản. Hoặc cho tôi biết tại sao tôi bị cấm không cho xuất cảnh trong suốt khoảng thời gian ấy.
Thế mới tức. Vậy mới có chuyện để tuần sau kể tiếp cho các bạn nghe. Về ngày nãy, ngày nay ở Việt Nam rất dễ thương của chúng ta (nhưng thương hoàn toàn không dễ!).
Trịnh Hội ( VOA )
(Tức Trịnh Hội v. Công An – Tập 4)
Thật ra lấy tên mình để đặt tựa đề cho loạt bài blog này thì thấy cũng hơi quá đáng nhưng suy đi nghĩ lại vì hiện tại tôi không thể nào thưa mấy anh công an Việt Nam ra toà vì tội bắt người trái phép thành thử tôi đành phải lấy tựa đề Trịnh Hội v. Công An để coi như lần này mình thưa mấy ảnh ra tòa án nhân dân…trên đài VOA cho đỡ tức!
Sau khi đọc xong loạt bài này tôi mong là tất cả các bạn sẽ công bằng xét xem tôi có đáng bị trục xuất hay không và bên công an đã có đầy đủ bằng chứng để buộc tội tôi không. Dĩ nhiên nhân tiện tôi cũng có lời mời mấy anh công an bên A18 và A25 đã từng quay tôi như dế trong suốt 6 tháng trời ròng rã, nếu muốn, có thể lên tiếng bào chữa cho hành động của mình bằng cách gửi email cho tôi hoitrinh@hotmail.com. Tôi xin thề sẽ tường thuật lại đầy đủ và trung thực.
OK. Bây giờ tôi xin kể tiếp.
Cũng như bao người thất nghiệp khác, sau khi làm show ở Úc về tôi đã phải bắt đầu lên computer làm lại resume để gửi đi mọi nơi xin việc. Việc gì tôi cũng xin. Từ làm manager, làm tin tức cho các đài ở hải ngoại, cho đến việc làm luật sư cho những công ty tư vấn luật của Mỹ, Úc, Hồng Kông… Cũng may là từ lúc ra trường đến giờ tôi chưa bao giờ bị cho ở không nên chỉ vài tuần sau tôi đã được thông báo là tôi được nhận vào làm manager cho công ty kiểm toán lớn hàng đầu thế giới của Anh có tên là Ernst & Young hiện có hai văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn.
Tôi sẽ được nhận vào làm việc ở văn phòng Sài Gòn với hợp đồng đầu tiên là hai năm. Sau đó nếu thích tôi có thể ký gia hạn thêm.
Thật ra lúc ấy tôi chưa có ý định về lại hẳn Việt Nam để sinh sống vì tôi vẫn còn một số công việc riêng tư ở Mỹ, ở Úc chưa giải quyết xong. Nhưng một phần vì bản tính cố hữu thích đi của tôi, phần lớn khác vì tôi muốn tận tai, tận mắt thấy được những thay đổi trong xã hội Việt Nam đúng 10 năm kể từ ngày tôi bị đuổi đi, nên cuối cùng tôi đã quyết định ký hợp đồng trở về.
Tôi thường nghĩ để có thể nhận xét về một xã hội, một đất nước một cách chính xác và đầy đủ, điều kiện đầu tiên và cần thiết nhất là bạn phải sống và thở trong xã hội ấy trong một thời gian dài. Không phải sống và thưởng ngoạn như một du khách. Mà phải hòa đồng cùng với bao người dân khác trong thành phố hối hả với công việc mỗi ngày. Và lo lắng mỗi khi có mưa to (vì con đường Nguyễn Hữu Cảnh nơi tôi ở gần quận 1 sẽ thành sông không thể nào về nhà!).
Thành tâm mà nói những ngày đầu lúc mới trở về tôi rất thích. Vì cái chi cũng lạ nhưng rất gần, tình bằng hữu trong công việc tuy mới quen nhưng rất sâu đậm và tình cảm gia đình bên nội, ngoại luôn quấn quít bên nhau làm cho tôi có cảm giác như tôi vừa mới đi đâu rất xa nay mới được trở về sống bên cạnh những người thân trong ngôi nhà yêu quí mà mình vẫn còn nhớ từng góc cạnh, từng tiếng chào hàng trong khu chợ Bến Thành, hay tiếng bóp kèn xe inh ỏi bất kể là có cần thiết hay không.
Đúng là bực thì có bực đấy. Nóng thì có nóng đấy. Đã vậy còn thấy được bao cảnh trái ngang trong cuộc sống. Nhưng nó vẫn có một cái gì đó rất quen thuộc, rất gần gũi và vì vậy cũng rất dễ làm mình quyến luyến như thể “tình cũ không rủ cũng đến”. Nếu một ngày nào đó, một nhà cầm quyền nào đó ở Việt Nam có đủ sự tự tin để cho những người như tôi trở về để giúp đất nước thì chắc chắn tôi sẽ trở về.
Tôi sẽ trở về mà không cần được đãi ngộ. Tôi cũng không cần họ xem tôi là “khúc ruột ngàn dặm” cần được tạo điều kiện để trở về như đã được lập đi lập lại nhiều lần từ chính cửa miệng của những nhân vật chóp bu trong Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Điều duy nhất mà tôi cần là họ sẽ không làm phiền đến tôi, sẽ không hạch hỏi tôi từ ngày này qua tháng nọ. Và cuối cùng là buộc tôi phải rời khỏi Việt Nam mà không có bất kỳ một quyết định chính thức nào bằng văn bản. Hoặc cho tôi biết tại sao tôi bị cấm không cho xuất cảnh trong suốt khoảng thời gian ấy.
Thế mới tức. Vậy mới có chuyện để tuần sau kể tiếp cho các bạn nghe. Về ngày nãy, ngày nay ở Việt Nam rất dễ thương của chúng ta (nhưng thương hoàn toàn không dễ!).
Trịnh Hội ( VOA )
Cười cũng phải… đúng liều!
“Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” – ông bà ta từ lâu đã nói như vậy. Khoa học hiện đại cũng đã minh chứng tiếng cười lành mạnh đem lại nhiều giá trị bổ dưỡng cho sức khoẻ con người. Tuy nhiên vì là “thuốc bổ” nên việc sử dụng tiếng cười cũng cần có tính hợp lý.
Một hoạ sĩ biếm hoạ đã phát biểu: “Tôi vẽ biếm hoạ có khi châm chọc, đả kích rất sâu cay nhưng mục đích sau cùng là gây cười. Tôi chỉ mong góp phần làm mọi người cười để khỏe hơn bằng vẽ tranh biếm hoạ”. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tiếng cười rất có lợi cho sức khỏe. Nụ cười không chỉ để làm duyên, lấy lòng người đối diện mà còn là thuốc bổ giúp duy trì sức khỏe.
Một phút cười bằng 45 phút nghỉ ngơi
Con người luôn sống trong môi trường có những tác nhân xâm phạm, đặc biệt tác nhân về tinh thần, tâm lý, như: bị khủng hoảng trong làm ăn (lãnh đạo một công ty có nguy cơ phá sản), trong học tập (sắp đến ngày thi mà còn nhiều bài vở học chưa xong), trong trở nghịch tình ái… Khi đó nhờ stress – tình trạng căng thẳng của cơ thể, ta có những suy nghĩ tích cực, tìm cách làm chủ thực tế, quyết tâm giải quyết khủng hoảng và thường là thành công. Tuy nhiên nếu stress lặp đi lặp lại và ta không làm chủ, không thích ứng với những biến đổi của nó, sẽ đưa đến cơ thể bị rối loạn về mặt thể chất và tâm thần.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khi stress, cơ thể có những biến đổi và có thể trở thành nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp, nhiễm trùng, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch. Ngoài ra, stress thường xuyên cũng dễ đưa đến các rối loạn tâm thần như: mất ngủ, suy nhược, tâm thần, trầm cảm… Người bị stress cũng thường xuyên ăn uống kém, hoạt động thể chất kém và dễ tìm đến rượu, thuốc gây nghiện…
Nếu stress được ví như sự bốc hỏa thì cười được xem như ly nước mát xoa dịu sức nóng của nó. Người ta đã chứng minh cười giúp cơ thể phóng thích nhiều hơn endorphin (gọi tắt của morphin nội sinh, tức là loại ma tuý được sản xuất trong chính cơ thể).
Endorphin còn gọi là hormon hạnh phúc bởi vì nhờ nó ta cảm thấy yêu đời, tâm trạng phiền muộn được giải toả. Theo một nghiên cứu tại đại học California (Mỹ), sau khi xem một bộ phim hài, mức trầm cảm của nhóm được theo dõi giảm xuống 98%. Người ta cũng ghi nhận, một phút cười thoải mái có tác dụng bằng 45 phút nghỉ ngơi thật sự.
Giúp bồi bổ cơ thể, chống bệnh tật
Y học hiện đại đã chứng minh: “Cười là thể dục tốt cho tim mạch”. Cười có tác dụng tăng cường tim mạch, giúp đưa nhiều máu đến các cơ quan khác trong cơ thể. Những người vô tư, luôn tươi cười ít bị tăng huyết áp. Cười giúp cung cấp nhiều oxy đến tim, ngăn chặn các rối loạn về tim, đặc biệt làm giảm nguy cơ máu bị vón cục, dễ đưa đến bệnh tim mạch vành.
Cười cũng giúp máu lưu thông nhiều hơn đến não. Không những thế, cười còn kích thích hai bán cầu đại não, tăng cường tiếp thu và lưu trữ thông tin mới. Bằng chứng là khi dạy trẻ với không khí vui vẻ đầy ắp tiếng cười, sẽ thấy trẻ tiếp thu nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Y học hiện đại đã chứng minh cười có tác dụng tốt cho tim mạch, hệ tiêu hóa...tăng cường tiếp thu và lưu trữ thông tin mới ở não. Những người luôn tươi cười ít bị tăng huyết áp.
Cười giúp tăng cường chức năng hô hấp. Đặc biệt khi cười thoải mái, phổi sẽ làm việc tốt, tăng cường năng lực nạp khí, tăng lượng oxy vào máu, làm sạch đường thở, đẩy các khí độc ra khỏi cơ thể. Khi cười, các cơ bụng co bóp, tác động vào bộ máy tiêu hoá, giúp ruột tăng nhu động, vì thế còn giúp chống táo bón. Cười cũng giúp tăng cường hoạt động các tuyến tiêu hoá, làm tăng tiết dịch vị, dịch tuỵ, mật… vì thế giúp quá trình tiêu hóa và hấp thu tốt hơn các chất dinh dưỡng. Các cơ quan như gan, thận, lách… cũng nhờ cười mà chức năng của chúng hoạt động tốt hơn.
Tiêu hao năng lượng thừa, làm đẹp da mặt
Hệ miễn dịch bao gồm các loại tế bào bạch cầu có khả năng thực bào tiêu diệt mầm bệnh, đặc biệt có các kháng thể, kháng độc tố… tham gia vào cơ chế đề kháng, bảo vệ cơ thể.
Một nghiên cứu của đại học Indiana (Mỹ) cho thấy xem phim hài hước, cười thoải mái có thể tăng cường 40% hệ miễn dịch của con người. Muốn ngừa cảm, viêm họng hãy cười thật nhiều vì cơ thể sẽ sinh ra bạch cầu, kháng thể tại mũi và đường hô hấp nhiều hơn để chống lại sự xâm nhập vi khuẩn và vi rút.
Cười to thoải mái còn được xem không khác gì tập thể dục. Một phút cười sảng khoái không khác đã bỏ ra 10 phút tập bơi, 15 phút đạp xe đạp. Người muốn giảm cân, ngoài ăn uống kiêng khem, vận động tích cực, cũng không nên bỏ qua “liều thuốc bổ” vừa kể.
Khi cười, các cơ mặt co dãn nhịp nhàng nên giúp làm mờ các vết nhăn và tăng cường lưu thông khí huyết, góp phần làm tươi tắn làn da. Người có tính tình vui vẻ, luôn tươi cười sẽ giữ được nét mặt trẻ lâu. Tại sao ta không chăm sóc da mặt bằng loại “mỹ phẩm” miễn phí và hiệu nghiệm là sự tươi cười? Hãy luôn luôn tươi cười để sống khỏe.
Một hoạ sĩ biếm hoạ đã phát biểu: “Tôi vẽ biếm hoạ có khi châm chọc, đả kích rất sâu cay nhưng mục đích sau cùng là gây cười. Tôi chỉ mong góp phần làm mọi người cười để khỏe hơn bằng vẽ tranh biếm hoạ”. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tiếng cười rất có lợi cho sức khỏe. Nụ cười không chỉ để làm duyên, lấy lòng người đối diện mà còn là thuốc bổ giúp duy trì sức khỏe.
Một phút cười bằng 45 phút nghỉ ngơi
Con người luôn sống trong môi trường có những tác nhân xâm phạm, đặc biệt tác nhân về tinh thần, tâm lý, như: bị khủng hoảng trong làm ăn (lãnh đạo một công ty có nguy cơ phá sản), trong học tập (sắp đến ngày thi mà còn nhiều bài vở học chưa xong), trong trở nghịch tình ái… Khi đó nhờ stress – tình trạng căng thẳng của cơ thể, ta có những suy nghĩ tích cực, tìm cách làm chủ thực tế, quyết tâm giải quyết khủng hoảng và thường là thành công. Tuy nhiên nếu stress lặp đi lặp lại và ta không làm chủ, không thích ứng với những biến đổi của nó, sẽ đưa đến cơ thể bị rối loạn về mặt thể chất và tâm thần.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khi stress, cơ thể có những biến đổi và có thể trở thành nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp, nhiễm trùng, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch. Ngoài ra, stress thường xuyên cũng dễ đưa đến các rối loạn tâm thần như: mất ngủ, suy nhược, tâm thần, trầm cảm… Người bị stress cũng thường xuyên ăn uống kém, hoạt động thể chất kém và dễ tìm đến rượu, thuốc gây nghiện…
Nếu stress được ví như sự bốc hỏa thì cười được xem như ly nước mát xoa dịu sức nóng của nó. Người ta đã chứng minh cười giúp cơ thể phóng thích nhiều hơn endorphin (gọi tắt của morphin nội sinh, tức là loại ma tuý được sản xuất trong chính cơ thể).
Endorphin còn gọi là hormon hạnh phúc bởi vì nhờ nó ta cảm thấy yêu đời, tâm trạng phiền muộn được giải toả. Theo một nghiên cứu tại đại học California (Mỹ), sau khi xem một bộ phim hài, mức trầm cảm của nhóm được theo dõi giảm xuống 98%. Người ta cũng ghi nhận, một phút cười thoải mái có tác dụng bằng 45 phút nghỉ ngơi thật sự.
Giúp bồi bổ cơ thể, chống bệnh tật
Y học hiện đại đã chứng minh: “Cười là thể dục tốt cho tim mạch”. Cười có tác dụng tăng cường tim mạch, giúp đưa nhiều máu đến các cơ quan khác trong cơ thể. Những người vô tư, luôn tươi cười ít bị tăng huyết áp. Cười giúp cung cấp nhiều oxy đến tim, ngăn chặn các rối loạn về tim, đặc biệt làm giảm nguy cơ máu bị vón cục, dễ đưa đến bệnh tim mạch vành.
Cười cũng giúp máu lưu thông nhiều hơn đến não. Không những thế, cười còn kích thích hai bán cầu đại não, tăng cường tiếp thu và lưu trữ thông tin mới. Bằng chứng là khi dạy trẻ với không khí vui vẻ đầy ắp tiếng cười, sẽ thấy trẻ tiếp thu nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Y học hiện đại đã chứng minh cười có tác dụng tốt cho tim mạch, hệ tiêu hóa...tăng cường tiếp thu và lưu trữ thông tin mới ở não. Những người luôn tươi cười ít bị tăng huyết áp.
Cười giúp tăng cường chức năng hô hấp. Đặc biệt khi cười thoải mái, phổi sẽ làm việc tốt, tăng cường năng lực nạp khí, tăng lượng oxy vào máu, làm sạch đường thở, đẩy các khí độc ra khỏi cơ thể. Khi cười, các cơ bụng co bóp, tác động vào bộ máy tiêu hoá, giúp ruột tăng nhu động, vì thế còn giúp chống táo bón. Cười cũng giúp tăng cường hoạt động các tuyến tiêu hoá, làm tăng tiết dịch vị, dịch tuỵ, mật… vì thế giúp quá trình tiêu hóa và hấp thu tốt hơn các chất dinh dưỡng. Các cơ quan như gan, thận, lách… cũng nhờ cười mà chức năng của chúng hoạt động tốt hơn.
Tiêu hao năng lượng thừa, làm đẹp da mặt
Hệ miễn dịch bao gồm các loại tế bào bạch cầu có khả năng thực bào tiêu diệt mầm bệnh, đặc biệt có các kháng thể, kháng độc tố… tham gia vào cơ chế đề kháng, bảo vệ cơ thể.
Một nghiên cứu của đại học Indiana (Mỹ) cho thấy xem phim hài hước, cười thoải mái có thể tăng cường 40% hệ miễn dịch của con người. Muốn ngừa cảm, viêm họng hãy cười thật nhiều vì cơ thể sẽ sinh ra bạch cầu, kháng thể tại mũi và đường hô hấp nhiều hơn để chống lại sự xâm nhập vi khuẩn và vi rút.
Cười to thoải mái còn được xem không khác gì tập thể dục. Một phút cười sảng khoái không khác đã bỏ ra 10 phút tập bơi, 15 phút đạp xe đạp. Người muốn giảm cân, ngoài ăn uống kiêng khem, vận động tích cực, cũng không nên bỏ qua “liều thuốc bổ” vừa kể.
Khi cười, các cơ mặt co dãn nhịp nhàng nên giúp làm mờ các vết nhăn và tăng cường lưu thông khí huyết, góp phần làm tươi tắn làn da. Người có tính tình vui vẻ, luôn tươi cười sẽ giữ được nét mặt trẻ lâu. Tại sao ta không chăm sóc da mặt bằng loại “mỹ phẩm” miễn phí và hiệu nghiệm là sự tươi cười? Hãy luôn luôn tươi cười để sống khỏe.
PHÓNG SỰ ÐẶC BIỆT TỪ VIỆT NAM:
ASIA 66 XUẤT HIỆN TRONG NƯỚC VỚI GIÁ CHÉP LẬU RẺ MẠT Hôm nay trong tiết mục phóng sự đặc biệt từ trong nước, thông tín viên SB-TN gửi ra bản tin về dĩa DVD Asia 66 đã xuất hiện nhưng bị bán với giá chép lậu rẻ mạt.
Những người dân trong nước đã bắt đầu tìm thấy bộ DVD Asia 66 với chủ đề Cánh Hoa Thời Loạn, được sao chép và chuyền tay nhau. Ðặc biệt lần này bộ DVD của Trung tâm Asia với chủ đề độc đáo này đã đem lại một cảm nhận khác lạ về cuộc chiến tranh Việt Nam tàn khốc, cũng như hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến này. Asia 66 với giá bán của chợ đĩa lậu trong nước, hiện nay chỉ với 20,000 đồng, tức thấp hơn khoảng 200 lần của giá bán chính thức, đã đánh bại mọi sản phẩm văn nghệ khác trong tháng và được tìm mua, dù bị công an văn hóa kiểm tra và đe dọa người mua lẫn người bán. Ðiều trớ trêu của các sản phẩm văn nghệ của người Việt hải ngoại, cụ thể như các sản phẩm của trung tâm Asia rất nổi tiếng trong nước, nhưng cũng là những nạn nhân hàng đầu của nạn sao chép lậu tại Việt Nam. Trong bản báo cáo công bố ngày 25 tháng 8, Văn phòng Tham vấn về các Rủi ro Chính trị và Kinh tế gọi tắt tiếng Anh là PERC, trụ sở tại Hồng Kông đã nêu tên Nam Dương là nước tệ hại nhất trong vấn đề sao chép trái phép, vi phạm bản quyền tác giả, theo sau là Việt Nam, và thứ ba là Trung Cộng.
Tuy nhiên, cũng theo bản báo cáo này, dù Trung Cộng chỉ đứng thứ ba, nhưng tình hình tại nước này đáng quan ngại hơn cả. Trong bản xếp hạng 12 nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương, theo thứ tự từ tốt nhất đến xấu nhất trong lãnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Nam Dương bị xếp cuối bảng với số điểm tệ nhất là 8.5 trên 10. Ðứng kế chót là Việt Nam, bị 8.4 điểm, ngay dưới Trung Cộng được 7.9 điểm. Còn ở đầu kia của bảng xếp hạng, Singapore được đánh giá là nước bảo vệ tác quyền chặt chẽ nhất, theo sau là Nhật Bản và kế đến là Hồng Kông. Nghiên cứu của PERC dựa trên kết quả cuộc thăm dò ý kiến của gần 1300 nhà quản lý ngoại quốc hiện làm việc tại 12 quốc gia và lãnh thổ châu Á Thái Bình Dương.
Kết quả bảng xếp hạng của PERC nhìn chung trùng hợp với các công trình nghiên cứu do ngành công nghiệp nhu liệu (software) đưa ra trong thời gian gần đây, theo đó tại các đô thị châu Á, các bộ phim và nhu liệu sao chép trái phép được bán đầy rẫy ngoài đường, dù cho nhà cầm quyền sở tại không ngừng cam kết là sẽ triệt để bài trừ tệ nạn này. Ðặc biệt, PERC quan tâm đến các nước gọi là đang lên ở châu Á trong đó có Việt Nam. Bản báo cáo ghi nhận trong số các nước châu Á đang nổi lên, Việt Nam, Nam Dương và Phi Luật Tân bị cho điểm xấu, không chỉ vì yếu kém trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, mà còn về một số tiêu chuẩn khác như cơ sở hạ tầng vật chất, tệ nạn quan liêu kém hiệu quả và năng lực lao động hạn chế.
(SBTN)
ASIA 66 XUẤT HIỆN TRONG NƯỚC VỚI GIÁ CHÉP LẬU RẺ MẠT Hôm nay trong tiết mục phóng sự đặc biệt từ trong nước, thông tín viên SB-TN gửi ra bản tin về dĩa DVD Asia 66 đã xuất hiện nhưng bị bán với giá chép lậu rẻ mạt.
Những người dân trong nước đã bắt đầu tìm thấy bộ DVD Asia 66 với chủ đề Cánh Hoa Thời Loạn, được sao chép và chuyền tay nhau. Ðặc biệt lần này bộ DVD của Trung tâm Asia với chủ đề độc đáo này đã đem lại một cảm nhận khác lạ về cuộc chiến tranh Việt Nam tàn khốc, cũng như hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến này. Asia 66 với giá bán của chợ đĩa lậu trong nước, hiện nay chỉ với 20,000 đồng, tức thấp hơn khoảng 200 lần của giá bán chính thức, đã đánh bại mọi sản phẩm văn nghệ khác trong tháng và được tìm mua, dù bị công an văn hóa kiểm tra và đe dọa người mua lẫn người bán. Ðiều trớ trêu của các sản phẩm văn nghệ của người Việt hải ngoại, cụ thể như các sản phẩm của trung tâm Asia rất nổi tiếng trong nước, nhưng cũng là những nạn nhân hàng đầu của nạn sao chép lậu tại Việt Nam. Trong bản báo cáo công bố ngày 25 tháng 8, Văn phòng Tham vấn về các Rủi ro Chính trị và Kinh tế gọi tắt tiếng Anh là PERC, trụ sở tại Hồng Kông đã nêu tên Nam Dương là nước tệ hại nhất trong vấn đề sao chép trái phép, vi phạm bản quyền tác giả, theo sau là Việt Nam, và thứ ba là Trung Cộng.
Tuy nhiên, cũng theo bản báo cáo này, dù Trung Cộng chỉ đứng thứ ba, nhưng tình hình tại nước này đáng quan ngại hơn cả. Trong bản xếp hạng 12 nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương, theo thứ tự từ tốt nhất đến xấu nhất trong lãnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Nam Dương bị xếp cuối bảng với số điểm tệ nhất là 8.5 trên 10. Ðứng kế chót là Việt Nam, bị 8.4 điểm, ngay dưới Trung Cộng được 7.9 điểm. Còn ở đầu kia của bảng xếp hạng, Singapore được đánh giá là nước bảo vệ tác quyền chặt chẽ nhất, theo sau là Nhật Bản và kế đến là Hồng Kông. Nghiên cứu của PERC dựa trên kết quả cuộc thăm dò ý kiến của gần 1300 nhà quản lý ngoại quốc hiện làm việc tại 12 quốc gia và lãnh thổ châu Á Thái Bình Dương.
Kết quả bảng xếp hạng của PERC nhìn chung trùng hợp với các công trình nghiên cứu do ngành công nghiệp nhu liệu (software) đưa ra trong thời gian gần đây, theo đó tại các đô thị châu Á, các bộ phim và nhu liệu sao chép trái phép được bán đầy rẫy ngoài đường, dù cho nhà cầm quyền sở tại không ngừng cam kết là sẽ triệt để bài trừ tệ nạn này. Ðặc biệt, PERC quan tâm đến các nước gọi là đang lên ở châu Á trong đó có Việt Nam. Bản báo cáo ghi nhận trong số các nước châu Á đang nổi lên, Việt Nam, Nam Dương và Phi Luật Tân bị cho điểm xấu, không chỉ vì yếu kém trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, mà còn về một số tiêu chuẩn khác như cơ sở hạ tầng vật chất, tệ nạn quan liêu kém hiệu quả và năng lực lao động hạn chế.
(SBTN)

Văn hóa Facebook: Mạng lưới kết bạn mới
Cách đây mấy năm, một số sinh viên của tôi rủ rê: “Thầy vào facebook đi để bọn em dễ nói chuyện, thầy!”. Tôi ngần ngừ: “Tôi dốt về kỹ thuật lắm!” Họ động viên: “Dễ ợt mà thầy! Để bọn em chỉ cho.” Thế là chỉ mấy phút sau, trong danh sách mấy trăm triệu “Facebook users” trên thế giới, có thêm tên của tôi. Thú thực, đến nay, trong thế giới facebook, tôi không phải là một thành viên tích cực. Tôi chẳng đăng bất cứ lời nhắn hay gửi bất cứ một bức ảnh nào trên đó cả. Chỉ lâu lâu, hoạ hoằn lắm, vài ba tuần một lần, tôi mới vào “dòm” thiên hạ tám chuyện với nhau. Tuy nhiên, từ đó, tôi học được khá nhiều điều bất ngờ.
Trước hết, thoạt đầu, tôi cứ tưởng vào facebook là chỉ để nói chuyện với đám sinh viên. Không ngờ người ngoài cũng biết. Chỉ một, hai ngày sau khi tôi đang ký vào facebook, tôi nhận được email của một người bạn làm thơ ở xa: “Trời, không ngờ anh cũng có facebook. Đúng là chuyện động trời!” Một người bạn khác email diễu: “Hồi xuân hả?”
Từ đó, ai hỏi đến chuyện facebook, tôi cũng đều có chút ngượng nghịu. Gần đây, tôi mới phát hiện là thành kiến cho facebook chỉ là mạng lưới kết bạn của bọn nhí là không đúng sự thật. Thực tế, càng ngày càng có nhiều người lớn tuổi tham gia vào mạng lưới xã hội này.
Nhưng, trước hết, nên lưu ý một điểm: Nếu blog là hiện tượng nổi bật nhất trong lãnh vực truyền thông thì facebook chắc chắn là hiện tượng nổi bật nhất trong mạng lưới xã hội trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ này.
Xin nêu vài con số để chứng minh: Theo thống kê mới nhất, vào ngày 22 tháng 7 vừa qua, con số thành viên tham gia facebook đã lên đến con số 500 triệu, nghĩa là, tính trung bình, trên thế giới cứ 14 người thì có một người tham gia vào mạng lưới xã hội này. Nên nhớ mấy tháng trước đó, con số này chỉ mới khoảng 400 triệu; 15 tháng trước đó nữa, chỉ mới có 200 triệu. Sự phát triển của facebook nhanh đến độ nhiều người than là “phát chóng mặt”. Nó chiếm 20% tổng số những người sử dụng internet và tăng trung bình 5% mỗi tháng.
Trên facebook, mỗi tháng người ta đăng tải và chia sẻ với bạn bè ba tỉ bức ảnh, năm tỉ mẩu tin hay lời nhắn; mỗi người trung bình có 130 người bạn; họ gửi lời đề nghị kết bạn mỗi tháng khoảng 8 lần; bỏ ra ít nhất 55 phút mỗi ngày để đọc và viết trên facebook.
Thoạt đầu facebook được xem là trò chơi của giới thanh thiếu niên, của các học sinh trung học. Tuy nhiên, càng ngày nó càng quyến rũ những người lớn tuổi hơn. Riêng tại Mỹ, vào mấy tháng đầu năm 2009, số người sử dụng facebook trên 35 tuổi tăng gấp đôi, trong đó nhiều nhất là các phụ nữ trên 55 tuổi: ở Mỹ mỗi tháng có gấn một triệu ruỡi người thuộc lứa tuổi này đăng ký vào facebook. Do sự nhảy vọt ấy, sự phân bố về tuổi tác của những người sử dụng facebook thay đổi đáng kể. Theo bảng đồ biểu dưới đây, tại Mỹ hiện nay, số người sử dụng facebook ở lứa tuổi từ 13 đến 17 là 6 triệu; ở lứa tuổi 18-25 là 19.5 triệu; ở lứa tuổi 26-34 là 13.4 triệu; ở lứa tuổi 35-44 là 9.7 triệu; ở lứa tuổi 45-54 là 4.6 triệu; ở lứa tuổi trên 55 là 2.8 triệu. Như vậy số người từ 26 đến 44 tuổi sử dụng facebook nhiều hơn hẳn lứa từ 18 đến 25
Các quốc gia có nhiều người sử dụng facebook nhất theo thứ tự là:
Mỹ: 102.6 triệu
Thổ Nhĩ Kỳ: 16.9 triệu
Indonesia: 15.3 triệu
Ý: 13.5 triệu
Philippines: 8.8 triệu
Tây Ban Nha: 7.8 triệu
Argentina: 7.5 triệu
Mexico: 6.6 triệu
Ấn Độ: 5.6 triệu
Malaysia: 4.2 triệu
http://techcrunchies.com/number-of-face ... y-country/
Trong danh sách ở trên, tôi không thấy có tên nước Úc, nhưng đọc bài “Aussie love affair with the web leads to info overload” của Jennifer Dudley-Nicholson trên News Limited newspapers ngày 24 tháng 3, 2010, tôi thấy Úc được xem là một trong 20 quốc gia sử dụng internet nhiều nhất và là một trong mười quốc gia đứng đầu thế giới về việc tham gia vào mạng lưới kết bạn facebook. Cụ thể hơn: trong mười người Úc thì có ba người sử dụng facebook, hai người sử dụng Twitter và một người sử dụng MySpace. Tính trung bình, hằng tuần mỗi người Úc bỏ ra hai ngày làm việc (“working day”, khoảng 17.6 tiếng) la cà trên internet; với giới trẻ, con số này còn cao hơn: khoảng 22 tiếng mỗi tuần.
Một câu hỏi có thể đặt ra là: Tại sao người ta lại mê Facebook như vậy?
Trong bài “Why India Loves Facebook”, Tunku Varadarajan dẫn một ý kiến của Scree Screenivasan, trong đó Screenivasan nêu lên hai lý do chính: Thứ nhất, ai cũng thích tán chuyện; và thứ hai, ai cũng thích dí mũi vào chuyện của người khác.
Nói cách khác, Facebook là một cách buôn dưa lê trên mạng.
Mà thật, chỉ cần liếc mắt trên các trang facebook, chúng ta cũng có thể thấy ngay được điều đó. Một người trằn trọc không ngủ được bèn ngồi dậy, gõ mấy chữ gửi bạn bè: “Hơn 2 giờ sáng rồi mà vẫn không ngủ được. Mệt quá!”. Một người khác: “Mới đọc được bài này thích quá!” Rồi kèm theo cái link. Một người khác nữa: “Hôm qua ăn tô bún bò ở tiệm…. thật ngon!”. Một người khác nữa nữa: “Sáng dậy tự nhiên thấy thèm giai quá. Hehe!”
Vậy đó. Rồi bạn bè ở khắp nơi xúm vào bàn tán rối rít. “Thèm giai hả? Thiếu giống gì!” “Ủa, sao tự nhiên lãng mạn gớm!” “Tui đây nè! Haha!” v.v… và v.v…
Cũng nên bàn một chút về cái gọi là bạn bè trên facebook.
Trước hết là về số lượng. Xưa, cả đời có được năm bảy người bạn là đã mừng húm. Có người, kém may mắn hơn, đến già vẫn không tìm được một người bạn thân. Bạn, thường là bạn học, hàng xóm, đồng nghiệp; có khi chỉ để nói chuyện tào lao chứ không bao giờ có thể tâm sự được những chuyện riêng tư và thầm kín. Còn bây giờ, trên facebook, nhiều người có đến năm bảy trăm người “bạn”. Thảng hoặc cũng có tình trạng lên đến vài ngàn. Còn bình thường thì vài ba trăm; ít lắm cũng năm bảy chục. Nghe thế, tôi đoán, những người lớn tuổi, xa lạ với văn hoá facebook, sẽ trố mắt: “Trời, bạn đâu mà lắm thế?”
Nói đến số lượng, không thể không bàn đến khía cạnh thứ hai: cách thức kết bạn. Xưa, chuyện kết bạn bao giờ cũng ngẫu nhiên và gắn liền với một không gian nào đó. Vào một lớp học mới, ngồi cạnh ai đó, thoạt đầu rụt rè nói chuyện vài câu, sau, hợp dần, thành bạn. Nhận nhiệm sở mới, thoạt đầu ngượng nghịu chào hỏi đồng nghiệp cùng phòng; trưa, rủ đi ăn chung, sau, thấy hợp, thành bạn. Bây giờ, trên facebook, thì khác. Người ta tự động mời làm bạn. Thích ai, người ta liền gửi lời yêu cầu kết bạn. Lời yêu cầu ấy sẽ chạy thẳng đến email của người ấy. Và người ấy sẽ có hai lựa chọn: Đồng ý hay từ chối. Nếu đồng ý, chỉ cầm bấm nút, trong tích tắc, người ta trở thành “bạn” của nhau, từ đó, có quyền nhìn ngắm hình ảnh của nhau, nghe tâm tình của nhau, tham gia tám chuyện với nhau.
Người ta không những mời, đồng ý hay từ chối lời mời, kết bạn mà, trên facebook, người ta còn loại trừ bạn nữa. Chuyện trò, tâm sự và khoe khoang hình ảnh với nhau chán, một lúc nào đó, người ta, có thể trong một cơn buồn tình, “delete” một số bạn. Những người bị “delete” không còn được coi là bạn nữa.
Ngoài số lượng, bạn bè trên facebook cũng khác trước về nhiều thứ khác. Trước, trong xã hội nông nghiệp, tình bạn chủ yếu gắn liền với yếu tố địa lý: bạn, thường là bạn láng giềng hay bạn đồng hương. Sau, như là hậu quả của quá trình kỹ nghệ hoá và đô thị hoá, tình bạn được xây dựng trên một cơ sở khác: tình đồng nghiệp. Bây giờ, trên facebook, nổi lên một yếu tố chung khác: sở thích. Cùng sở thích, người ta mời làm bạn với nhau, bất kể nơi sinh sống hay nghề nghiệp. Xưa, sở thích thường có tính cá nhân; nay, nó trở thành yếu tố nối kết xã hội.
Chính vì dựa trên sở thích, facebook được giới làm chính trị quan tâm: nó trở thành một thứ vũ khí trong các cuộc tranh cử hay tranh giành quyền lực.
Tuy nhiên, chuyện đó thì dài quá.
Để sau tính
Nguyễn Hưng Quốc ( VOA )
Chuyện Dài Ca Sĩ Hải Ngoại về Việt Nam Hát Hò
Phạm Phong Dinh Gần đây có nhiều thân hữu và độc giả đề nghị chúng tôi viết một vài bài về hiện tượng ca sĩ Việt Nam ở hải ngoại về nước và ca sĩ từ Việt Nam ra hải ngoại trình diễn. Ðây là một vấn đề khá nhạy cảm, vì nó động chạm đến nỗi niềm ấp ủ riêng trong lòng của từng người.
Hầu như bất cứ một người nào trở về Việt Nam đều trang bị sẵn cho mình 1001 lý do chính đáng nhất không chê vào đâu được, để khi có người nào chạm vào thì có cái để mà trưng ra làm bằng cớ và phản… pháo. Nào là “quê hương là chùm khế ngọt, quê hương là con diều biếc”, “ta” về Việt Nam ăn khế ngọt (bởi khế Mỹ chua thấy bà) và thả diều thì có gì sai? “Ta” về Việt Nam là “ta” thực hiện cái nhân quyền thiêng liêng của nước Mỹ ban bố cho ta, còn ai bẻ vào đâu được.
Chính những kẻ nói này nói nọ, phê bình “ta” chuyện về Việt Nam để hoàn thành những hoài bão và tâm nguyện, những kẻ ấy mới là những kẻ không chịu “thực thi” nhân quyền. Ðất nước này, tức ở hải ngoại, là nơi tự do, là những free countries, “ta” muốn làm gì thì ta làm, ai làm gì được nhau thì cứ bảo.
Vấn đề đi đi về về giữa hải ngoại và Việt Nam của ca sĩ xoành xoạch như đi chợ, đã trở thành một cuốn truyện dài với nhiều tình tiết hấp dẫn, đại khái giống như cái mục Xe Cán Chó-Chó đụng Xe, tuy tầm phào bá láp nhưng độc giả rất thích tìm hiểu. Người ta muốn biết những khuôn mặt nào đã xé rào nhảy về Việt Nam kiếm ăn, những người ca sĩ nào vẫn còn nuôi trong tim lý tưởng quốc gia chân chính. Trong thời gian qua chúng tôi có nhặt nhạnh được chút ít tin tức về chuyện dài ca sĩ, xin được viết ra đây mấy hàng cho quý độc giả thân mến, coi như mua vui cũng được một vài trống canh.
Nhưng càng viết thì càng thấy buồn, vì những nhân vật trong bài viết này đa số đều là những tai to mặt lớn trong vườn hoa văn nghệ Việt Nam hải ngoại, với những cái tên từ lâu nhận được rất nhiều sự thương mến của người Việt tị nạn lưu vong.
Sự đời nghĩ cũng có nhiều chuyện buồn cười. Ngày xưa, cũng chính rất nhiều trong số này, trong lúc chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn đang đổ máu xương chống ngăn làn sóng cộng sản xâm lược cho đến giờ thứ hai lăm, thậm chí sang đến giờ thứ bốn mươi tám, tức vài ngày sau ngày 30.4.1975, chính những con người vô loại này đã xách đít chạy trước rất sớm. Lúc ấy thê thảm lắm, quý độc giả cứ xem lại những cuốn phim tài liệu về di tản thì rõ, nước mắt nước mũi cứ là chàm ngoàm, đu bám trên những sợi dây thừng bên hông tàu trông rất rùng rợn, hay tranh nhau leo lên những bức tường vào tòa đại sứ Mỹ với những hàng dây thép gai nhìn vô cùng lạnh gáy. Ôi, cái tình yêu nước của những con người ấy sao mà nó cao cả và thiêng liêng lắm vậy. Thà chết ở xứ người, thà chịu không có cà pháo mắm tôm ăn, chứ không chịu đội chung bầu trời với vẹm cộng.
Giờ đây, sau hơn ba mươi năm, những con người này xênh xang áo gấm về làng cũng trước nhất hơn ai hết, sẵn lòng qụy lụy nâng bi vẹm với bất cứ giá nào để được về chúng ban cho mấy trái khế ngọt mà xơi. Ô là là, bây giờ thì tha hồ xơi cà pháo với mắm tôm chính gốc Việt Nam bằng thích nhé.
Hai trong số những ca sĩ quốc gia hải ngoại về đầu quân cho vẹm cộng sớm nhất là Hương Lan và Elvis Phương hơn một thập niên qua thì ai cũng đã biết hết rồi. Công cuộc làm ăn của Hương Lan và Elvis Phương ở “quê hương” coi bộ rất khấm khá, nên cô cậu phải giữ rịt lấy, như những con thú nhà ôm chặt lấy khúc xương của chủ quẳng cho.
Theo Elvis Phương, thì nếu những ca sĩ về Việt Nam chịu chăm chỉ đi hát ở các phòng trà thì sẽ có cuộc sống dư dả. Nguồn tin quốc nội cho biết rằng cứ mỗi một phùa hát ở phòng trà, mỗi ca sĩ bợ nhẹ một ngàn đô la. Nếu hát trên live show, thì cứ hai bản cũng được một nghìn. Bản thân Elvis Phương luôn có một lịch trình đi hát đầy kín, đến nỗi bà vợ của Phương cũng kêu trời, có lẽ sợ chồng đi hát nhiều quá có ngày ngã lăn đùng ra bất đắc kỳ tử chăng, bởi anh ta đã một lần đi mổ tim rồi. Lần này tim vỡ như xác hoa tigone là chết chắc. Elvis Phương đang cư ngụ trong một ngôi biệt thự ở làng “Việt Kiều” trong khu vực An Phú Ðông, thuộc tỉnh Gia Ðịnh ngày trước thì phải. Hàng xóm của Phương có ca sĩ Anh Quý, Hương Lan và Ái Vân.
Hương Lan vừa đi hát vừa trông coi một nhà hàng ở quận Bình Thạnh. Ngoài ra nàng còn mở thêm trại nuôi cá, vườn cây ăn trái ở tỉnh Bình Phước (tức Bình Long và Phước Long). Có tin cho rằng, khi về già, Hương Lan sẽ về sống ở đấy.
Trường hợp Ái Vân, ngày xưa, năm 1989 khi bức tường Bá Linh sụp đổ, nàng đang là cán bộ văn nghệ thuộc tầm cỡ nghệ sĩ nhân dân của Hà Nội ở Ðông Ðức, đã chạy sang xin tị nạn chính trị bên Tây Ðức. Ðối với vẹm, đó là cái tội phản đảng, có lẽ sẽ bị tru di tam tộc. Nhưng giờ đây nàng vẫn cứ ung dung sinh sống tại Việt Nam, thế là thế nào. Câu trả lời thì đến một đứa bé cũng biết.
Những ca sĩ hải ngoại chạy về Việt Nam đa số thuộc về thế hệ “già”, cái thế hệ bôn tẩu ra nước ngoài trong những ngày lửa loạn cuối cùng ở Sài Gòn, hay trong những lần vượt biển sóng gió đi tìm tự do. Thời gian trôi qua, những nếp nhăn dần hằn đậm trên mặt, giọng hát đã dần tàn tạ, không nhanh chân về nước kiếm chác chút ít trước khi vĩnh viễn lùi vào bóng tối của sự lãng quên, thì còn đợi lúc nào nữa. Những giọng ca gọi là hàng đầu, những gì gọi là vượt không gian và thời gian như Lệ Thu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Lê Uyên, Thái Châu, Julie, Giao Linh, v.v.. đều đã có mặt ở quê nhà.
Ðó là chưa nói đến ông cụ Phạm Duy, bởi nhiều người đã nói nhiều về cụ rồi. Một trong vài danh ngôn xanh dờn mà cụ để lại cho đời là “Tôi có chống cộng đâu, tôi chỉ chống gậy”. Có lẽ đó là lá bùa hộ mệnh giúp cụ được thung dung về lại Việt Nam và khiến cho Hà Nội hài lòng. Ngoài ra cụ còn cấm những người chống cộng hải ngoại không được hát nhạc của cụ nữa, chắc không muốn vẹm nghe lại những điệu nhạc hùng tráng và những lời lẽ “chống gậy” rất đanh thép của cụ dành cho chúng, làm chúng ngứa ngáy, không khéo chúng tống xuất cha con cụ trở ra ngoại quốc thì khốn cả lũ. Cụ Phạm Duy đi về đã đành, cụ còn kéo theo cả một lô một lốc con cái nhà cụ theo. Nào là Duy Quang, Duy Cường, rồi Duy Minh. Nào Thái Thảo, Thái Hiền. Thậm chí cô cựu dâu nhà họ Phạm là Julie cũng xách gói về.
Ôi, người người cùng về, nhà nhà cùng về. Duy Quang đã tìm thấy hạnh phúc với một người vợ trẻ ở quê nhà. Trông tấm hình Duy Quang đứng bên cô dâu, làm gợi nhớ đến kép lão Michael Douglas bên nàng Catherine Zeta-Jones, còn nước nôi gì nữa.
Một nhân vật thuộc dạng quái chiêu không thể không nhắc đến là Chế Linh. Anh ta đã về Việt Nam cùng phái đoàn văn hóa UNICEF trong chương trình văn hóa thế giới và trình diễn ở Hà Nội. Danh chính ngôn thuận như thế, Chế Linh sợ đếch gì vẹm cộng. Thế mà anh ta đã xun xoe nói những lời bợ đỡ chúng, khiến cho những tên nói láo nhất cũng phải đỏ mặt xấu hổ.
Lúc mới sang định cư ở Toronto, Gia Nã Ðại, trong dạng tị nạn cộng sản được mấy năm, tình yêu nước còn bồng bột, Chế Linh đã tình nguyện đóng vai một người tù của chế độ nằm trong một cái cũi giam diễn hành trên đường phố Toronto, để tố cáo chế độ tàn bạo của Hà Nội vẹm. Theo phái đoàn UNICEF vào Việt Nam, Chế Linh cứ hát hò cho người dân Hà Nội nghe trong tư cách một sứ giả của Liên Hiệp Quốc, anh không có điều gì phải sợ cộng sản hết. Anh không cần phải nịnh bợ chúng, để chúng quên đi cái cũi tù của anh. Cùng lắm, nếu vẹm có nhốt anh trở vào cũi, thì anh sẽ trở thành anh hùng dân tộc. Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt toàn thế giới sẽ tích cực tranh đấu đòi vẹm thả anh ra. Lúc đó, Chế Linh sẽ trở về hải ngoại trong ánh vinh quang. Thật đáng tiếc, Chế Linh không có được tầm vóc đó.
Lê Uyên, cái tên gợi đến cuộc tình thơ mộng và lãng mạn của đôi tài danh Lê Uyên-Phương cũng đã về hát trong chương trình Duyên Dáng Việt Nam. Ngày xưa đôi uyên ương này rất thích trầm mình trong những cõi tình ái rong rêu. Lê Uyên đã cho biết rằng nàng sẽ về nước sinh sống luôn, sẽ mua nhà ở Ðà Lạt, một nơi chốn gợi nhiều kỷ niệm êm đềm của một thời vang bóng. Lê Uyên cũng dự định mở một nhà hàng, là sở trường làm ăn của nàng.
Nói đến nhà hàng ăn với uống thì không thể nhắc đến “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh. Nàng vốn là dân Gia Nã Ðại cư ngụ ở thành phố Toronto, như trường hợp Chế Linh. Chẳng rõ ngày xưa, Giao Linh đã mang cái biệt hiệu kỳ dị này là từ cái chuyện gì, quý độc giả kính mến có biết thì xin nói cho, thật cảm tạ.
Nó cũng tương đương với cái danh hiệu “sầu nữ” của bà Út Bạch Lan, bởi giọng ca thê thiết nức nở và cuộc đời tình ái đầy tan vỡ của nàng. Về Việt Nam, Giao Linh thường theo các đoàn lưu diễn hát ở những tỉnh, và cũng có góp mặt trong những chương trình Bước Chân Hoàn Vũ. Hiện nay thì Giao Linh đang làm chủ nhân của một quán cơm tấm kiêm luôn quán phở ở đường Lê Văn Duyệt cũ, công việc làm ăn cũng phát đạt. Có lẽ nên cải danh cho nàng thành “nữ hoàng hớn hở” chăng. Cũng chuyện ăn uống, Duy Quang đang trông coi quán Phở 24, chẳng rõ 24 tượng trưng cho cái gì và hách xì xằng mở luôn phòng trà Tình Ca. Ngoài ra, Duy Quang cũng là một trong những cột trụ của những buổi nhạc hội Duyên Dáng Việt Nam.
Lệ Thu, tiếng hát cùng thời với những Giao Linh, Thanh Thúy, một giọng hát quý còn hơn cả vàng, thường làm chúng ta ngất ngây với những bài nhạc nhắc nhớ về Hà Nội và Miền Bắc thời tiền chiến, thời gian qua nàng đã có mặt trong những nhạc hội Bước Chân Hoàn Vũ ở Việt Nam. Ðức Huy có một phòng thu âm và hài lòng với những show trình diễn người ta mời.
Những giọng ca hàng đầu vượt thời gian như Khánh Hà và Tuấn Ngọc cũng tìm thấy những cơ hội làm ăn ở Việt Nam, nên cũng nhanh chân xách gói chạy hộc tốc về. Kẻo thôi bọn đi trước chúng nó cười vào mũi, rằng trâu chậm uống nước đục. Hai con người thuộc một gia đình dòng dõi văn nghệ gộc này năm 2007 đã xuất hiện trong một đại nhạc hội, mẹ ơi, mang cái tên chỉ nghe thôi đã ớn lạnh, là Nối Vòng Tay Lớn. Những tay ký giả kịch tràng quốc nội đã viết những hàng bốc thơm Khánh Hà như sau: “Không ai nghĩ, sau ngần ấy năm Khánh Hà vẫn còn có nhiều khán giả, đặc biệt là những khán giả trẻ. Sức hút giọng ca đã thực sự chinh phục khán giả bỏ tiền ra mua vé xem cô diễn”.
Trông thấy những con trâu về trước đang nhai cỏ non và húp nước béo tưng bừng, nhộn nhịp không thể tả nổi, những con trâu còn chưa về Việt Nam nôn nao xốn xang quá đi.
Nguyễn Hưng, một khuôn mặt thuộc thế hệ trước 1975 được bà Thu Dung, giám đốc trung tâm băng nhạc Rạng Ðông ở Việt Nam thực hiện một chương trình live show trong tháng 12.2007 vừa qua. Nguyễn Hưng, một nghệ sĩ thuộc lò Thúy Nga, chỉ chuyên nhảy nhót và hát những bản tình ca vô thưởng vô phạt, nên vẹm cộng chẳng làm khó dễ gì anh, sẵn lòng cho anh về nước nhảy nhót cho công chúng xem. Thuộc dạng nhảy nhót, đôi vợ chồng Linda Trang Ðài-Tommy Ngô đã về nước từ khuya. Nhạc nhảy và gào ở trong nước hiện nay khá nhiều, nên Trang Ðài và Tommy Ngô tha hồ mà nhảy và gào. Dường như để cảnh cáo những nghệ sĩ xuất hiện trong những chương trình nhạc hội chống cộng, mà những người viết trong nước gọi là “nhạy cảm về chính trị”, bà Rạng Ðộng đã nhắn nhe với những ai đang ôm mộng về ăn khế, thả diều và hát hò, rằng những ca sĩ muốn về Việt Nam, rất đơn giản, là đừng tham gia đến những nhạc hội chống đối lại vẹm cộng. Có phải chăng vẹm cộng muốn dần tách rời nghệ sĩ với những chương trình nhạc hội có tinh thần quốc gia dân tộc và chống cộng cương quyết như của Trung Tâm Asia chẳng hạn.
Người nghệ sĩ hải ngoại nên xem đó là những lời đe dọa và khủng bố tinh thần, nó nằm trong chính sách trấn áp tư tưởng của chúng.
Hà Nội, thông qua bọn nô bút và cai thầu văn nghệ đã coi thường trình độ chính trị của nghệ sĩ hải ngoại quá đi. Chỉ mới có hơn một tá lớp nghệ sĩ già xun xoe về nước, mà chúng cứ tưởng giới nghệ sĩ hải ngoại sẽ sẵn sàng chạy theo và chịu quy hàng. Tình hình hoạt động nghệ thuật ở hải ngoại đang có chiều hướng khả quan, các nghệ sĩ bận rộn đi trình diễn ở khắp tiểu bang, sang đến Canada, Úc, Nhật, châu Âu, thậm chí có trường hợp “xù show” vì nhiều lý do. Nhiều phòng trà lớn vẫn là nơi đón nhận những tài năng ca nhạc. Ca sĩ hải ngoại muốn hát nhạc gì thì hát, phần nhiều là những bài nhạc tình, nhạc lính cũ của ngày xưa. Sự thắng thế của nhạc Miền Nam ở toàn cõi Việt Nam ngày nay đang là một vấn đề xốn nhức của ngành văn hóa cộng sản. Công chúng thích nghe nhạc Miền Nam, thường được biết là Nhạc Vàng, thậm chí thế hệ trẻ ở Miền Bắc cũng nghe và nghêu ngao hát Nhạc Vàng. Những người về nước cho biết, hiện nay ở bất cứ đâu, ở những nơi công cộng, hàng quán, tiệm cà phê, trên xe đò liên tỉnh, người ta mở nhạc Miền Nam công khai, luôn cả nhạc lính của Trần Thiện Thanh. Thời gian là một sàng lọc và là một bằng chứng hùng hồn nhất trả lời cho câu hỏi Ai Thắng Ai trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và cả trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Anh khoe anh giỏi anh tài, thì anh cứ bảo bọn nhạc nô đặt nhạc cho nó hay hay lên, âm điệu bổng trầm du dương nhiều vào, lời nhạc trau chuốt lên như những vầng thơ, như những áng văn thêu hoa dệt gấm đi, thì công chúng sẽ lắng nghe nhạc của các anh. Anh mà làm được như thế thì chúng tôi xin tình nguyện đi bằng haià tay cho anh coi.
Trong chiều hướng gọi là phi chính trị đó, những nghệ sĩ không hay ít có những hoạt động ca hát chống cộng như Kim Anh, Carol Kim được cho về nước. Kim Anh đi vào lòng khán giả hải ngoại với những bản tình ca lãng mạn Trung Hoa, đặc biệt tên nàng gắn liền với Mùa Thu Lá Bay. Carol Kim, một ca sĩ nhạc tình cảm kiêm nhạc kích động quen thuộc của thập niên 1960, 1970, một cái tên cùng thời với những Phương Tâm, Mai Lệ Huyền trong thể loại nhạc vui và kích động. Liệu nàng có sánh nổi với những ca sĩ trẻ hơ hớ trong cùng dạng nhạc này ở trong nước hay không, hoặc nàng sẽ chỉ tìm về với những bài tình ca nhẹ nhàng? Những cái tên quen thuộc như Phương Dung, Trang Thanh Lan, Phương Hồng Ngọc và cả nhạc sĩ Từ Công Phụng đang xin giấy phép hoạt động từ Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn ở Việt Nam. Ðây là một nguồn tin do các thợ viết vẹm tung ra trên các diễn đàn internet trong bản tin nhạc Việt, mức độ khả tín còn đang trong vòng được nghiên cứu và phối… kiểm.
Tuy nhiên, đối với Phương Dung nếu quả đúng như thế thì có phiền phức đấy, vì nàng chuyên hát nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa, nàng rất hãnh diện khoe cái thành tích ấy mỗi lần lên sân khấu. Cho về bên nớ, có lẽ vẹm nên buộc nàng hát những nhạc “bộ đội”, đại khái như Cô Gái Sài Gòn Ði Tải Ðạn, Tiếng Chày Trên Sóc Bombo bụp bùm bum, ô hô, nên chăng. Các ông bà bầu show ở Việt Nam đang khuyên những nghệ sĩ lỡ vướng vào chuyện chính trị hãy sớm làm đơn giải trình cho ngành văn hóa, thì vẫn được vẹm cứu xét cho về Việt Nam theo nguyện vọng.
Nói giải trình cho nhẹ một chút, chứ tình thực nó ở dạng những tờ tự thú trước bình minh, rằng chúng em lỡ dại, mong quý anh tha cho, chúng em xin cắn cỏ ngậm vành.
Thế hệ nghệ sĩ sau thời điểm 1975 mà đã thành danh ở hải ngoại nhờ vào lòng thương mến của công chúng như Hoài Linh, Mạnh Ðình, Gia Huy, Phi Nhung, Thành Lễ, Nhật Hạ cũng đã về Việt Nam trong nhiều năm qua. Rồi đây, có lẽ cái danh sách những con vẹt về nước hót sẽ được bổ sung thêm, tuy không nhiều. Với những người nghệ sĩ đã quay lưng lại với chính cái nhãn hiệu tị nạn chính trị của mình để khoác lên chiếc mặt nạ che giấu cảm xúc thật của họ trước cặp mắt cú diều của vẹm cộng, từ giây phút ấy tiếng hát của họ đã trở nên những âm thanh vô hồn. Cứ mỗi lần nhìn tất cả những con người đó hát trên sân khấu, dẫu là loại nhạc gì, tình ca hay tình lính, hẳn công chúng sẽ không còn tìm thấy được cảm xúc thật của mình hòa theo cùng được nữa.
Bởi những tiếng hát ấy không xuất phát từ con tim thổn thức của mình mà chỉ là những chiếc máy hát, những chiếc máy có những cái khe để người ta bỏ những đồng tiền vào.
Ðối với những người nghệ sĩ Việt Nam chân chính ở hải ngoại mà cho đến thời điểm này vẫn còn khẳng khái ấp ủ tấm lòng son với chính nghĩa quốc gia, gìn giữ những giá trị nhân bản và truyền thống văn hóa của dân tộc, vẫn giữ lòng cương cường không chịu khuất phục trước bạo quyền Hà Nội, chúng ta xin được nghiêng mình cúi đầu giở nón trân trọng bày tỏ sự kính phục và yêu mến.
Những tiếng hát này mới là những sợi dây tơ rung lên những cảm xúc thực sự, và chính là những giọng hát vượt không gian và thời gian.
Phạm Phong Dinh
Phạm Phong Dinh Gần đây có nhiều thân hữu và độc giả đề nghị chúng tôi viết một vài bài về hiện tượng ca sĩ Việt Nam ở hải ngoại về nước và ca sĩ từ Việt Nam ra hải ngoại trình diễn. Ðây là một vấn đề khá nhạy cảm, vì nó động chạm đến nỗi niềm ấp ủ riêng trong lòng của từng người.
Hầu như bất cứ một người nào trở về Việt Nam đều trang bị sẵn cho mình 1001 lý do chính đáng nhất không chê vào đâu được, để khi có người nào chạm vào thì có cái để mà trưng ra làm bằng cớ và phản… pháo. Nào là “quê hương là chùm khế ngọt, quê hương là con diều biếc”, “ta” về Việt Nam ăn khế ngọt (bởi khế Mỹ chua thấy bà) và thả diều thì có gì sai? “Ta” về Việt Nam là “ta” thực hiện cái nhân quyền thiêng liêng của nước Mỹ ban bố cho ta, còn ai bẻ vào đâu được.
Chính những kẻ nói này nói nọ, phê bình “ta” chuyện về Việt Nam để hoàn thành những hoài bão và tâm nguyện, những kẻ ấy mới là những kẻ không chịu “thực thi” nhân quyền. Ðất nước này, tức ở hải ngoại, là nơi tự do, là những free countries, “ta” muốn làm gì thì ta làm, ai làm gì được nhau thì cứ bảo.
Vấn đề đi đi về về giữa hải ngoại và Việt Nam của ca sĩ xoành xoạch như đi chợ, đã trở thành một cuốn truyện dài với nhiều tình tiết hấp dẫn, đại khái giống như cái mục Xe Cán Chó-Chó đụng Xe, tuy tầm phào bá láp nhưng độc giả rất thích tìm hiểu. Người ta muốn biết những khuôn mặt nào đã xé rào nhảy về Việt Nam kiếm ăn, những người ca sĩ nào vẫn còn nuôi trong tim lý tưởng quốc gia chân chính. Trong thời gian qua chúng tôi có nhặt nhạnh được chút ít tin tức về chuyện dài ca sĩ, xin được viết ra đây mấy hàng cho quý độc giả thân mến, coi như mua vui cũng được một vài trống canh.
Nhưng càng viết thì càng thấy buồn, vì những nhân vật trong bài viết này đa số đều là những tai to mặt lớn trong vườn hoa văn nghệ Việt Nam hải ngoại, với những cái tên từ lâu nhận được rất nhiều sự thương mến của người Việt tị nạn lưu vong.
Sự đời nghĩ cũng có nhiều chuyện buồn cười. Ngày xưa, cũng chính rất nhiều trong số này, trong lúc chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn đang đổ máu xương chống ngăn làn sóng cộng sản xâm lược cho đến giờ thứ hai lăm, thậm chí sang đến giờ thứ bốn mươi tám, tức vài ngày sau ngày 30.4.1975, chính những con người vô loại này đã xách đít chạy trước rất sớm. Lúc ấy thê thảm lắm, quý độc giả cứ xem lại những cuốn phim tài liệu về di tản thì rõ, nước mắt nước mũi cứ là chàm ngoàm, đu bám trên những sợi dây thừng bên hông tàu trông rất rùng rợn, hay tranh nhau leo lên những bức tường vào tòa đại sứ Mỹ với những hàng dây thép gai nhìn vô cùng lạnh gáy. Ôi, cái tình yêu nước của những con người ấy sao mà nó cao cả và thiêng liêng lắm vậy. Thà chết ở xứ người, thà chịu không có cà pháo mắm tôm ăn, chứ không chịu đội chung bầu trời với vẹm cộng. Giờ đây, sau hơn ba mươi năm, những con người này xênh xang áo gấm về làng cũng trước nhất hơn ai hết, sẵn lòng qụy lụy nâng bi vẹm với bất cứ giá nào để được về chúng ban cho mấy trái khế ngọt mà xơi. Ô là là, bây giờ thì tha hồ xơi cà pháo với mắm tôm chính gốc Việt Nam bằng thích nhé.
Hai trong số những ca sĩ quốc gia hải ngoại về đầu quân cho vẹm cộng sớm nhất là Hương Lan và Elvis Phương hơn một thập niên qua thì ai cũng đã biết hết rồi. Công cuộc làm ăn của Hương Lan và Elvis Phương ở “quê hương” coi bộ rất khấm khá, nên cô cậu phải giữ rịt lấy, như những con thú nhà ôm chặt lấy khúc xương của chủ quẳng cho.
Theo Elvis Phương, thì nếu những ca sĩ về Việt Nam chịu chăm chỉ đi hát ở các phòng trà thì sẽ có cuộc sống dư dả. Nguồn tin quốc nội cho biết rằng cứ mỗi một phùa hát ở phòng trà, mỗi ca sĩ bợ nhẹ một ngàn đô la. Nếu hát trên live show, thì cứ hai bản cũng được một nghìn. Bản thân Elvis Phương luôn có một lịch trình đi hát đầy kín, đến nỗi bà vợ của Phương cũng kêu trời, có lẽ sợ chồng đi hát nhiều quá có ngày ngã lăn đùng ra bất đắc kỳ tử chăng, bởi anh ta đã một lần đi mổ tim rồi. Lần này tim vỡ như xác hoa tigone là chết chắc. Elvis Phương đang cư ngụ trong một ngôi biệt thự ở làng “Việt Kiều” trong khu vực An Phú Ðông, thuộc tỉnh Gia Ðịnh ngày trước thì phải. Hàng xóm của Phương có ca sĩ Anh Quý, Hương Lan và Ái Vân.
Hương Lan vừa đi hát vừa trông coi một nhà hàng ở quận Bình Thạnh. Ngoài ra nàng còn mở thêm trại nuôi cá, vườn cây ăn trái ở tỉnh Bình Phước (tức Bình Long và Phước Long). Có tin cho rằng, khi về già, Hương Lan sẽ về sống ở đấy.
Trường hợp Ái Vân, ngày xưa, năm 1989 khi bức tường Bá Linh sụp đổ, nàng đang là cán bộ văn nghệ thuộc tầm cỡ nghệ sĩ nhân dân của Hà Nội ở Ðông Ðức, đã chạy sang xin tị nạn chính trị bên Tây Ðức. Ðối với vẹm, đó là cái tội phản đảng, có lẽ sẽ bị tru di tam tộc. Nhưng giờ đây nàng vẫn cứ ung dung sinh sống tại Việt Nam, thế là thế nào. Câu trả lời thì đến một đứa bé cũng biết.
Những ca sĩ hải ngoại chạy về Việt Nam đa số thuộc về thế hệ “già”, cái thế hệ bôn tẩu ra nước ngoài trong những ngày lửa loạn cuối cùng ở Sài Gòn, hay trong những lần vượt biển sóng gió đi tìm tự do. Thời gian trôi qua, những nếp nhăn dần hằn đậm trên mặt, giọng hát đã dần tàn tạ, không nhanh chân về nước kiếm chác chút ít trước khi vĩnh viễn lùi vào bóng tối của sự lãng quên, thì còn đợi lúc nào nữa. Những giọng ca gọi là hàng đầu, những gì gọi là vượt không gian và thời gian như Lệ Thu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Lê Uyên, Thái Châu, Julie, Giao Linh, v.v.. đều đã có mặt ở quê nhà.
Ðó là chưa nói đến ông cụ Phạm Duy, bởi nhiều người đã nói nhiều về cụ rồi. Một trong vài danh ngôn xanh dờn mà cụ để lại cho đời là “Tôi có chống cộng đâu, tôi chỉ chống gậy”. Có lẽ đó là lá bùa hộ mệnh giúp cụ được thung dung về lại Việt Nam và khiến cho Hà Nội hài lòng. Ngoài ra cụ còn cấm những người chống cộng hải ngoại không được hát nhạc của cụ nữa, chắc không muốn vẹm nghe lại những điệu nhạc hùng tráng và những lời lẽ “chống gậy” rất đanh thép của cụ dành cho chúng, làm chúng ngứa ngáy, không khéo chúng tống xuất cha con cụ trở ra ngoại quốc thì khốn cả lũ. Cụ Phạm Duy đi về đã đành, cụ còn kéo theo cả một lô một lốc con cái nhà cụ theo. Nào là Duy Quang, Duy Cường, rồi Duy Minh. Nào Thái Thảo, Thái Hiền. Thậm chí cô cựu dâu nhà họ Phạm là Julie cũng xách gói về.
Ôi, người người cùng về, nhà nhà cùng về. Duy Quang đã tìm thấy hạnh phúc với một người vợ trẻ ở quê nhà. Trông tấm hình Duy Quang đứng bên cô dâu, làm gợi nhớ đến kép lão Michael Douglas bên nàng Catherine Zeta-Jones, còn nước nôi gì nữa.
Một nhân vật thuộc dạng quái chiêu không thể không nhắc đến là Chế Linh. Anh ta đã về Việt Nam cùng phái đoàn văn hóa UNICEF trong chương trình văn hóa thế giới và trình diễn ở Hà Nội. Danh chính ngôn thuận như thế, Chế Linh sợ đếch gì vẹm cộng. Thế mà anh ta đã xun xoe nói những lời bợ đỡ chúng, khiến cho những tên nói láo nhất cũng phải đỏ mặt xấu hổ.
Lúc mới sang định cư ở Toronto, Gia Nã Ðại, trong dạng tị nạn cộng sản được mấy năm, tình yêu nước còn bồng bột, Chế Linh đã tình nguyện đóng vai một người tù của chế độ nằm trong một cái cũi giam diễn hành trên đường phố Toronto, để tố cáo chế độ tàn bạo của Hà Nội vẹm. Theo phái đoàn UNICEF vào Việt Nam, Chế Linh cứ hát hò cho người dân Hà Nội nghe trong tư cách một sứ giả của Liên Hiệp Quốc, anh không có điều gì phải sợ cộng sản hết. Anh không cần phải nịnh bợ chúng, để chúng quên đi cái cũi tù của anh. Cùng lắm, nếu vẹm có nhốt anh trở vào cũi, thì anh sẽ trở thành anh hùng dân tộc. Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt toàn thế giới sẽ tích cực tranh đấu đòi vẹm thả anh ra. Lúc đó, Chế Linh sẽ trở về hải ngoại trong ánh vinh quang. Thật đáng tiếc, Chế Linh không có được tầm vóc đó.
Lê Uyên, cái tên gợi đến cuộc tình thơ mộng và lãng mạn của đôi tài danh Lê Uyên-Phương cũng đã về hát trong chương trình Duyên Dáng Việt Nam. Ngày xưa đôi uyên ương này rất thích trầm mình trong những cõi tình ái rong rêu. Lê Uyên đã cho biết rằng nàng sẽ về nước sinh sống luôn, sẽ mua nhà ở Ðà Lạt, một nơi chốn gợi nhiều kỷ niệm êm đềm của một thời vang bóng. Lê Uyên cũng dự định mở một nhà hàng, là sở trường làm ăn của nàng.
Nói đến nhà hàng ăn với uống thì không thể nhắc đến “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh. Nàng vốn là dân Gia Nã Ðại cư ngụ ở thành phố Toronto, như trường hợp Chế Linh. Chẳng rõ ngày xưa, Giao Linh đã mang cái biệt hiệu kỳ dị này là từ cái chuyện gì, quý độc giả kính mến có biết thì xin nói cho, thật cảm tạ.
Nó cũng tương đương với cái danh hiệu “sầu nữ” của bà Út Bạch Lan, bởi giọng ca thê thiết nức nở và cuộc đời tình ái đầy tan vỡ của nàng. Về Việt Nam, Giao Linh thường theo các đoàn lưu diễn hát ở những tỉnh, và cũng có góp mặt trong những chương trình Bước Chân Hoàn Vũ. Hiện nay thì Giao Linh đang làm chủ nhân của một quán cơm tấm kiêm luôn quán phở ở đường Lê Văn Duyệt cũ, công việc làm ăn cũng phát đạt. Có lẽ nên cải danh cho nàng thành “nữ hoàng hớn hở” chăng. Cũng chuyện ăn uống, Duy Quang đang trông coi quán Phở 24, chẳng rõ 24 tượng trưng cho cái gì và hách xì xằng mở luôn phòng trà Tình Ca. Ngoài ra, Duy Quang cũng là một trong những cột trụ của những buổi nhạc hội Duyên Dáng Việt Nam.
Lệ Thu, tiếng hát cùng thời với những Giao Linh, Thanh Thúy, một giọng hát quý còn hơn cả vàng, thường làm chúng ta ngất ngây với những bài nhạc nhắc nhớ về Hà Nội và Miền Bắc thời tiền chiến, thời gian qua nàng đã có mặt trong những nhạc hội Bước Chân Hoàn Vũ ở Việt Nam. Ðức Huy có một phòng thu âm và hài lòng với những show trình diễn người ta mời. Những giọng ca hàng đầu vượt thời gian như Khánh Hà và Tuấn Ngọc cũng tìm thấy những cơ hội làm ăn ở Việt Nam, nên cũng nhanh chân xách gói chạy hộc tốc về. Kẻo thôi bọn đi trước chúng nó cười vào mũi, rằng trâu chậm uống nước đục. Hai con người thuộc một gia đình dòng dõi văn nghệ gộc này năm 2007 đã xuất hiện trong một đại nhạc hội, mẹ ơi, mang cái tên chỉ nghe thôi đã ớn lạnh, là Nối Vòng Tay Lớn. Những tay ký giả kịch tràng quốc nội đã viết những hàng bốc thơm Khánh Hà như sau: “Không ai nghĩ, sau ngần ấy năm Khánh Hà vẫn còn có nhiều khán giả, đặc biệt là những khán giả trẻ. Sức hút giọng ca đã thực sự chinh phục khán giả bỏ tiền ra mua vé xem cô diễn”.
Trông thấy những con trâu về trước đang nhai cỏ non và húp nước béo tưng bừng, nhộn nhịp không thể tả nổi, những con trâu còn chưa về Việt Nam nôn nao xốn xang quá đi.
Nguyễn Hưng, một khuôn mặt thuộc thế hệ trước 1975 được bà Thu Dung, giám đốc trung tâm băng nhạc Rạng Ðông ở Việt Nam thực hiện một chương trình live show trong tháng 12.2007 vừa qua. Nguyễn Hưng, một nghệ sĩ thuộc lò Thúy Nga, chỉ chuyên nhảy nhót và hát những bản tình ca vô thưởng vô phạt, nên vẹm cộng chẳng làm khó dễ gì anh, sẵn lòng cho anh về nước nhảy nhót cho công chúng xem. Thuộc dạng nhảy nhót, đôi vợ chồng Linda Trang Ðài-Tommy Ngô đã về nước từ khuya. Nhạc nhảy và gào ở trong nước hiện nay khá nhiều, nên Trang Ðài và Tommy Ngô tha hồ mà nhảy và gào. Dường như để cảnh cáo những nghệ sĩ xuất hiện trong những chương trình nhạc hội chống cộng, mà những người viết trong nước gọi là “nhạy cảm về chính trị”, bà Rạng Ðộng đã nhắn nhe với những ai đang ôm mộng về ăn khế, thả diều và hát hò, rằng những ca sĩ muốn về Việt Nam, rất đơn giản, là đừng tham gia đến những nhạc hội chống đối lại vẹm cộng. Có phải chăng vẹm cộng muốn dần tách rời nghệ sĩ với những chương trình nhạc hội có tinh thần quốc gia dân tộc và chống cộng cương quyết như của Trung Tâm Asia chẳng hạn.
Người nghệ sĩ hải ngoại nên xem đó là những lời đe dọa và khủng bố tinh thần, nó nằm trong chính sách trấn áp tư tưởng của chúng.
Hà Nội, thông qua bọn nô bút và cai thầu văn nghệ đã coi thường trình độ chính trị của nghệ sĩ hải ngoại quá đi. Chỉ mới có hơn một tá lớp nghệ sĩ già xun xoe về nước, mà chúng cứ tưởng giới nghệ sĩ hải ngoại sẽ sẵn sàng chạy theo và chịu quy hàng. Tình hình hoạt động nghệ thuật ở hải ngoại đang có chiều hướng khả quan, các nghệ sĩ bận rộn đi trình diễn ở khắp tiểu bang, sang đến Canada, Úc, Nhật, châu Âu, thậm chí có trường hợp “xù show” vì nhiều lý do. Nhiều phòng trà lớn vẫn là nơi đón nhận những tài năng ca nhạc. Ca sĩ hải ngoại muốn hát nhạc gì thì hát, phần nhiều là những bài nhạc tình, nhạc lính cũ của ngày xưa. Sự thắng thế của nhạc Miền Nam ở toàn cõi Việt Nam ngày nay đang là một vấn đề xốn nhức của ngành văn hóa cộng sản. Công chúng thích nghe nhạc Miền Nam, thường được biết là Nhạc Vàng, thậm chí thế hệ trẻ ở Miền Bắc cũng nghe và nghêu ngao hát Nhạc Vàng. Những người về nước cho biết, hiện nay ở bất cứ đâu, ở những nơi công cộng, hàng quán, tiệm cà phê, trên xe đò liên tỉnh, người ta mở nhạc Miền Nam công khai, luôn cả nhạc lính của Trần Thiện Thanh. Thời gian là một sàng lọc và là một bằng chứng hùng hồn nhất trả lời cho câu hỏi Ai Thắng Ai trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và cả trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Anh khoe anh giỏi anh tài, thì anh cứ bảo bọn nhạc nô đặt nhạc cho nó hay hay lên, âm điệu bổng trầm du dương nhiều vào, lời nhạc trau chuốt lên như những vầng thơ, như những áng văn thêu hoa dệt gấm đi, thì công chúng sẽ lắng nghe nhạc của các anh. Anh mà làm được như thế thì chúng tôi xin tình nguyện đi bằng haià tay cho anh coi.
Trong chiều hướng gọi là phi chính trị đó, những nghệ sĩ không hay ít có những hoạt động ca hát chống cộng như Kim Anh, Carol Kim được cho về nước. Kim Anh đi vào lòng khán giả hải ngoại với những bản tình ca lãng mạn Trung Hoa, đặc biệt tên nàng gắn liền với Mùa Thu Lá Bay. Carol Kim, một ca sĩ nhạc tình cảm kiêm nhạc kích động quen thuộc của thập niên 1960, 1970, một cái tên cùng thời với những Phương Tâm, Mai Lệ Huyền trong thể loại nhạc vui và kích động. Liệu nàng có sánh nổi với những ca sĩ trẻ hơ hớ trong cùng dạng nhạc này ở trong nước hay không, hoặc nàng sẽ chỉ tìm về với những bài tình ca nhẹ nhàng? Những cái tên quen thuộc như Phương Dung, Trang Thanh Lan, Phương Hồng Ngọc và cả nhạc sĩ Từ Công Phụng đang xin giấy phép hoạt động từ Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn ở Việt Nam. Ðây là một nguồn tin do các thợ viết vẹm tung ra trên các diễn đàn internet trong bản tin nhạc Việt, mức độ khả tín còn đang trong vòng được nghiên cứu và phối… kiểm.
Tuy nhiên, đối với Phương Dung nếu quả đúng như thế thì có phiền phức đấy, vì nàng chuyên hát nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa, nàng rất hãnh diện khoe cái thành tích ấy mỗi lần lên sân khấu. Cho về bên nớ, có lẽ vẹm nên buộc nàng hát những nhạc “bộ đội”, đại khái như Cô Gái Sài Gòn Ði Tải Ðạn, Tiếng Chày Trên Sóc Bombo bụp bùm bum, ô hô, nên chăng. Các ông bà bầu show ở Việt Nam đang khuyên những nghệ sĩ lỡ vướng vào chuyện chính trị hãy sớm làm đơn giải trình cho ngành văn hóa, thì vẫn được vẹm cứu xét cho về Việt Nam theo nguyện vọng.
Nói giải trình cho nhẹ một chút, chứ tình thực nó ở dạng những tờ tự thú trước bình minh, rằng chúng em lỡ dại, mong quý anh tha cho, chúng em xin cắn cỏ ngậm vành.
Thế hệ nghệ sĩ sau thời điểm 1975 mà đã thành danh ở hải ngoại nhờ vào lòng thương mến của công chúng như Hoài Linh, Mạnh Ðình, Gia Huy, Phi Nhung, Thành Lễ, Nhật Hạ cũng đã về Việt Nam trong nhiều năm qua. Rồi đây, có lẽ cái danh sách những con vẹt về nước hót sẽ được bổ sung thêm, tuy không nhiều. Với những người nghệ sĩ đã quay lưng lại với chính cái nhãn hiệu tị nạn chính trị của mình để khoác lên chiếc mặt nạ che giấu cảm xúc thật của họ trước cặp mắt cú diều của vẹm cộng, từ giây phút ấy tiếng hát của họ đã trở nên những âm thanh vô hồn. Cứ mỗi lần nhìn tất cả những con người đó hát trên sân khấu, dẫu là loại nhạc gì, tình ca hay tình lính, hẳn công chúng sẽ không còn tìm thấy được cảm xúc thật của mình hòa theo cùng được nữa.
Bởi những tiếng hát ấy không xuất phát từ con tim thổn thức của mình mà chỉ là những chiếc máy hát, những chiếc máy có những cái khe để người ta bỏ những đồng tiền vào.
Ðối với những người nghệ sĩ Việt Nam chân chính ở hải ngoại mà cho đến thời điểm này vẫn còn khẳng khái ấp ủ tấm lòng son với chính nghĩa quốc gia, gìn giữ những giá trị nhân bản và truyền thống văn hóa của dân tộc, vẫn giữ lòng cương cường không chịu khuất phục trước bạo quyền Hà Nội, chúng ta xin được nghiêng mình cúi đầu giở nón trân trọng bày tỏ sự kính phục và yêu mến.
Những tiếng hát này mới là những sợi dây tơ rung lên những cảm xúc thực sự, và chính là những giọng hát vượt không gian và thời gian.
Phạm Phong Dinh

Say "NO" to "Made in China"
Giới thiệu sách: Poorly Made in China,
by Paul Midler
Diên Vỹ chuyển ngữ Mùa hè sắp hết, tôi đang tìm một cuốn sách hay về Trung Quốc để đọc và gặp được cuốn Poorly Made in China (Sản xuất tồi tại Trung Quốc) của Paul Midler.
Midler đã trải qua gần hai thập niên sống và làm việc tại Trung Quốc, trong thập niên sau ông giúp những người nước ngoài vượt qua những thử thách trong việc sản xuất hàng hoá ở Trung Quốc.
Tôi không hiểu vì sao mình đã bỏ qua cuốn sách này khi nó mới vừa xuất bản, nhưng tôi vui vì nó hiện đang nằm trên bàn của mình. Đây là một trong những cuốn sách thương mại hay nhất về Trung Quốc mà tôi đọc được trong một thời gian rất dài.
Phần lớn của cuốn sách đi theo những thương vụ mà Midler đã làm việc với các thương gia người Mỹ, ví dụ như Bernie trong lĩnh vực sản phẩm tắm gội và Frank trong quản lý rác thải. Chúng không phải là những chú thích ngắn gọn mà là những trường hợp nghiên cứu công phu, được kể bởi giọng văn hấp dẫn và đôi khi hài hước của Midler.
Nhưng điều làm cho cuốn sách này không đơn giản chỉ là một cuốn sách giải trí là khả năng của Midler trong cách ông quan sát những thương gia nước ngoài mà ông cố vấn qua con mắt của những nhà sản xuất Trung Quốc. Midler không chỉ đơn giản du lịch sang Trung Quốc, đi lanh quanh một thời gian rồi viết một cuốn sách dựa trên ấn tượng của mình.
Ông cho thấy một tầm hiểu biết sâu đậm về tâm lý làm ăn của người Trung Quốc, làm nổi bật lý do tại sao việc làm ăn tại Trung Quốc vừa rất hấp dẫn lại vừa rất khó khăn. Trong nhiều trường hợp, ông cho thấy các nhà sản xuất Trung Quốc khởi đầu với mức độ phục vụ cũng như sản xuất thành phẩm tuyệt vời, để rồi sau đó lại hạ cấp chất lượng và tăng giá một khi đối tác nước ngoài đã đầu tư quá nhiều để rút lui cũng như đã chuyển giao những công nghệ quan trọng - ông gọi đây là "sự nhạt phai chất lượng."
Nếu hoặc khi các công ty nước ngoài phát hiện ra những nhà sản xuất Trung Quốc của họ đã làm rẻ đi chất lượng sản phẩm (đôi khi với hệ quả chết người như vụ sữa melamine tai tiếng vài năm trước), nhà sản xuất Trung Quốc chỉ đơn giản bán lại sản phẩm ấy cho những nước có nền kinh tế đang phát triển, nơi tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng thường ít khắt khe hơn.
Điểm lớn hơn mà Midler muốn nói ở đây là chúng ta thật ngây thơ khi nghĩ rằng Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất của Trung Quốc - Các nhà sản xuất Trung Quốc có một số thị trường cho những loại và cấp độ chất lượng hàng hoá khác nhau. Họ có thể xoay trở để tiếp tục làm ăn theo kiểu của mình.
Midler cũng cho thấy rằng việc miễn cưỡng lên tiếng của công nhân Trung Quốc khi họ phát hiện những sai phạm là một vấn đề văn hoá sâu đậm: những người lên tiếng chống tiêu cực không phải là anh hùng mà là "thành phần phá hoại" đang "tìm tư lợi cá nhân." Trong rất nhiều trường hợp, Midler minh hoạ rằng người Mỹ hoàn toàn bị các đối tác Trung Quốc bịt mắt khi làm ăn - mặc dù sau này một số trong họ tìm cách trả đũa lại một cách tương xứng.
Chắc chắn là tôi không thể tự nhận công khám phá ra cuốn sách này: nó đã được tặng danh hiệu "Say hay nhất năm 2009" bở tờ Economist. Nhưng tôi có thể chạy theo số đông và đồng ý rằng đây là cuốn sách "cần phải đọc" cho những ai quan tâm đến thế giới của Trung Quốc và là cuốn sách "nên đọc" cho những người khác.
Nguồn: Elizabeth C. Economy, Council on Foreign Relations
http://www.paulmidler.com/
http://www.justsaynotomadeinchina.com/
http://www.mandaco.com/justsayno.htm
http://www.chinaherald.net/2009/07/poor ... idler.html
http://www.chinaeconomicreview.com/toda ... ndals.html
Vì sao thế giới coi "Made in China" là nhãn hiệu của sự khinh bỉ?
"Made in China" means "Scrap"
Chỉ đến khi công chúng đồn nhau về sự ghê tởm của "Made in China" - như là nhãn hiệu của sự yếu kém, hỏng hóc thì người ta mới bắt đầu hiểu ra rằng ở đâu đó đang có một vấn đề nghiêm trọng - một vũng bùn ghê tởm đã khiến họ ngã vào - vũng bùn "Made in China".
Người đời vẫn nói "một lần ngã là một lần bớt dại", vậy thì nhận diện cái vũng bùn ấy thế nào? Tại sao các nhà sản xuất Trung Quốc lại có hành động quá xấu xa như vậy? Có phải là các nhà nhập khẩu Phương Tây không hay biết gì về hiện trạng "Made in China" không?
Chúng ta nên bắt đầu tìm hiểu sự việc từ mối quan hệ giữa các nhà cung cấp Trung Quốc và các nhà nhập khẩu Phương Tây. Các nhà sản xuất của Trung Quốc là cứ "tiền trao cháo mới múc" - họ nhận tiền trước để sản xuất những mặt hàng mà các công ty nước ngoài yêu cầu. Đây chính là điểm mấu chốt để các nhà sản xuất của Trung Quốc có cơ hội “cắt xén”.
Chỉ sau khi các lô hàng "Made in China" được đưa đến nơi thì các công ty Phương Tây mới vỡ lẽ là hàng hóa có chất lượng kém. Việc kiện các nhà máy của Trung Quốc ra tòa là không đơn giản, vì các đối tác Phương Tây sẽ vấp phải một hệ thống pháp luật Trung Hoa phức tạp một cách có tính toán.
Sự thực, các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ làm bất cứ điều gì mà họ cho là cần để bắt mối kinh doanh; nhưng ngay sau khi nhận được tiền, mối quan hệ này liên tục xuống dốc, từng tí, từng tí một. Đi cùng với sự coi thường bạn hàng là chất lượng sản phẩm sẽ giảm dần, giảm dần và mất hẳn theo thời gian một cách lặng lẽ.
Các nhà sản xuất Trung Quốc thừa biết rằng từng chi tiết cũng như tổng thể cả sản phẩm của "Made in China" chỉ có thể sản xuất tại Trung Quốc, và như vậy - một khi các đối tác Phương Tây đã đặt hàng - thì sẽ không thể có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp tục đặt hàng. Các nhà sản xuất Trung Quốc cứ việc thoải mái mà gặm nhấm chất lượng sản phẩm hàng hóa. Hậu quả là sản phẩm bị lỗi, bị hỏng hóc, không đạt chất lượng. Và cuối cùng "đã chót thì chét" các công ty Phương Tây tại Trung Quốc đành phải chịu đòn.
Bản chất đầu tiên của sự việc "Made in China" là bắt nguồn từ văn hóa của dân tộc Trung Hoa ngàn đời nay. Người Trung Hoa tin rằng họ sẽ không bị trừng phạt nếu họ lừa người khác. Họ tự ý thay đổi thông số kỹ thuật sản phẩm mà không cần hỏi ý kiến đối tác - bởi họ cho rằng "thà xin lỗi còn hơn xin phép". Người Trung Hoa xem việc giảm chất lượng sản phẩm như là một yếu tố quyết định để thu lợi nhuận lớn hơn, chính vì vậy họ thường "lèm nhèm tối đa" khi thảo luận về vấn đề chất luợng.
Bản chất tiếp theo của vấn đề "Made in China" là ở thể chế chính trị. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tạo ra một vương quốc cho các loại mèo - "mèo trắng, mèo đen, miễn bắt được chuột". Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ “thưởng” cho nhà sản xuất nếu họ mang ngoại tệ về cho đất nước. Có đôla mang về sẽ chỉ có vị gọt của củ "Cà Rốt" mà không bao giờ có vị đòn roi - cho dù các công ty Trung Quốc có tiến hành công việc kinh doanh của họ một cách phi đạo đức đến mức nào.
Người đời tâm niệm "gieo gió có ngày gặp bão", quả báo đã xảy ra ngay tại xứ mèo - hàng trăm ngàn trẻ em Trung Quốc bị bệnh vì sữa melamine "Made in China". Đúng là "chó dữ cắn chủ", và cho dù chính phủ Trung Quốc có ra tay trừng trị hàng chục doanh nghiệp melamine, nhưng điều này xem ra chưa đủ hiệu lực với đàn chó dữ của họ.
Phải chăng xã hội Trung Quốc đã đến thời điểm mà các biện pháp cực đoan "Thiên An Môn" vẫn không thể ngăn cản được các doanh nghiệp của họ phạn tội ác? Phải chăng đã đến lúc các doanh nghiệp trên thế giới "không nên ngã để học khôn, mà nên học khôn trên cái ngu của kẻ khác?"
Paul Midler là tác giả của cuốn "Poorly Made in China", một trong số 10 quyển sách về kinh tế bán chạy nhất trong năm 2009
By Paul Midler-Trần Nguyễn Hữu Tuấn dịch
Bí mật của những người đàn bà
Chẳng biết thực hư ra sao, cả làng cứ đồn ầm lên anh Khuynh, đang sống trên thành phố, bị cô vợ giàu có lừa đi “đổ vỏ”.
Cô hai Cải - mẹ anh Khuynh nghe một đồn mười, mười đồn trăm thì ức lắm. Cô chắp tay sau đít, bước thấp bước cao chửi cha thiên hạ khắp đầu làng, cuối xóm. Cô chửi oang oang rằng: “Cha bố kẻ hơn lòng hơn bụng, ngậm máu phun người. Bát gia cửu tộc đứa nào vu oan giá họa cho con trai bà. Từ nay chúng mày có miệng thì cắp, có nắp thì đậy, chuyện bà bà biết, chuyện mày mày hay”...
Đúng là thiên hạ độc mồm. Anh Khuynh đẹp trai phong độ là thế, ấy vậy mà thiên hạ lại đổ tiếng xấu cho anh. Buổi trưa nào mấy bà “tám” trong xóm cũng túm năm tụm ba dưới gốc đa già, thêu dệt đủ chuyện xấu về mẹ con cô Cải. Cô Cải không họ hàng thân thích, cũng chẳng hận thù gì với mẹ tôi nhưng mẹ tôi thì lại tỏ vẻ ghét và khinh cô Cải lắm lắm.
Đang vào hứng, chợt thoáng thấy bóng cô hai Cải từ phía xa, mẹ tôi nhanh chân đánh bài chuồn. Trước khi phủi đít quần đứng dậy, bà còn bồi thêm vài câu: “Phúc đức tại mẫu. Đời mẹ ăn mặn thì đời con khát nước thôi. Ối dào ôi, ông trời có mắt cả đấy, nhân nào thì quả nấy, các bà cứ ngẫm mà xem”.
Tôi chả hiểu mẹ tôi nói thế là có ý gì. Nhưng nhìn bà thì biết ngay là bà đang hả hê lắm. Một bà khác trong đám, nhổ đến toẹt bãi nước bọt xuống đất, vén môi phụ họa: “Cái giống đàn bà đi tranh chồng người khác thì phúc đức ở đâu ra hả các bà. Suy cho cùng, cái gì cũng có gien có giống cả các bà ạ. Thằng này ăn học hơn người mà vẫn bị gái nó xích. Chắc tại mả nhà nó bị gái chăn rồi”.
Nói rồi đám đàn bà, trong đó có mẹ tôi, cười ré lên. Âm vang tiếng cười của những người đàn bà ưa đưa chuyện, thích nhiếc móc, rỉa rói, hạ nhục người khác cứ lanh lảnh, cay nghiệt và khinh khỉnh thế nào ấy. Chưa bao giờ lại thấy mẹ tôi tỏ ra thích thú với chuyện lình sình nhà người khác đến thế.
Buổi tối ăn cơm xong, le te pha cho bố tôi ấm trà, vắt vẻo ngồi cầm tăm xỉa răng, ngậm một ngụm nước súc miệng òng ọc, mẹ tôi bắt chuyện với chồng: “Nhà Cải đúng là nhục bố mày nhỉ. Cái thằng Khuynh khá trai là thế. Nghe đâu ở rể nhà kia khổ lắm, người làng mình bắt gặp thằng Khuynh xách làn đi chợ đấy. Mà tôi còn nghe đồn, thằng cháu của nhà đấy là cháu hờ thôi. Kiểu này chắc lại thằng ăn ốc, thằng đổ vỏ rồi. Nhà ấy đến hồi mục mả rồi bố mày à...”.
Mẹ tôi chưa nói hết câu, bố tôi quắc mắt, vằn lên những tia máu đỏ ngầu: “Bà im mồm đi. Bà ăn củ ráy ngứa mồm hay sao mà cứ thọc vào chuyện nhà người khác thế hả?”.
Mẹ tôi tức thì bù lu bù loa: “Hóa ra trong lòng ông vẫn còn tơ tưởng đến nó à? Tôi thích thì tôi nói đấy. Thiên hạ họ nói thế thì tôi cũng nói thế đấy, tôi đặt điều cho ai nào.
Tôi biết tỏng cái bụng ông rồi. Ngày xưa ông chả từng mê nó, bị nó chê, sau bao năm ông vẫn còn tơ tưởng gì mà bênh nó chằm chặp thế hả? Tôi một lòng yêu thương chăm lo cho ông, sinh cho ông cả bầy con. Ấy thế mà giờ mới chỉ nói động đến nó là ông đã dằn hắt vợ à?”.
Bị bẽ mặt, bố tôi tức điên, dậm chân xuống nền nhà, rít lên: “Giời ơi là giời. Vợ với chả con. Bà hết khôn dồn dại hả?”.
Mẹ tôi vẫn chẳng chịu yên: “May mà nó cưới được chồng, chứ không, ngày ấy biết đâu nó cũng lại chả đổ vấy cho ông cái thai trong bụng nó ấy chứ”. Nước này thì bố tôi hết chịu nổi, ông vớ cái điếu bát, đập đến choang xuống nền gạch, nước điếu chảy ra hôi mù, nồng nặc khắp nhà.
Thì ra cái thời tuổi trẻ của bố mẹ tôi cũng lắm phức tạp, phiền hà. Nếu không có chuyện đồn về anh Khuynh, chẳng bao giờ tôi biết được rằng ngày xưa bố tôi từng thích cô Cải đến thế. Mẹ tôi vì ức bố tôi bênh cô Cải mà tồng tộc kể ra bằng hết. Nào là nhà bố tôi nghèo nên bị cô Cải chê, nào là bố tôi lân la làm thuê cuốc mướn cho bố mẹ nhà cô Cải cốt chỉ để lấy lòng cô mà không được. Chẳng riêng gì bố tôi, trai làng ngày ấy nhiều anh chết mê chết mệt song chẳng ai lọt mắt xanh của cô Cải.
Vào một đêm trăng sáng, người làng đi đơm đó bắt gặp cô Cải hủ hóa cùng một người đàn ông đã có vợ ở làng bên, ngay dưới bụi tre ở chân bờ đê cuối làng. Sau chuyện tai tiếng ô nhục ấy, cô Cải bị bố mẹ trói vào gốc cây mít đánh cho một trận, bỏ đói mấy ngày liền. Rồi cô có mang, bố mẹ cô đành muối mặt phải chấp nhận cho cô theo không người đàn ông đã ăn nằm với cô. Ấy chính là bố anh Khuynh sau này.
Lúc chung sống với cô Cải, bố anh Khuynh phải dứt tình với người vợ cả do bố mẹ cưới về nhưng ông không yêu thương. Để cắt đứt quan hệ với người vợ cả, cô Cải bắt bố anh Khuynh phải về ở rể nhà mình. Nghe nói, chuyện riêng tư của cô Cải hồi ấy là trung tâm đàm tiếu của cả làng.
Khi anh Khuynh lên 10 tuổi thì cô Cải góa chồng. Học xong Cao đẳng trên thành phố, lấy cô bạn gái con một cùng học, anh Khuynh lập nghiệp luôn trên ấy chẳng về làng. Cô Cải sống ở làng một mình, dăm ba bữa lại có một người đàn ông thường xuyên qua lại nhà cô, chắc là bồ. Nhìn cô còn phây phây là thế, không có đàn ông theo mới lạ.
Lúc đập điếu xong, bố tôi bỏ đi sang nhà hàng xóm chơi cờ tướng. Mấy bà tám được thể “chúa vắng nhà”, tức thì lại kéo nhau sang buôn chuyện nhà cô Cải. Nhóm bạn buôn của mẹ tôi đang túm năm tụm ba, hả hê chê bai người khác thì một người đàn ông xồng xộc chạy vào lôi tay cô Mỡi ra ngoài. Thì ra là chú Mỡi người nồng nặc mùi rượu.
Vừa kéo vợ xềnh xệch về nhà, chú Mỡ vừa la lớn: “Bà có chừa cái thói buôn chuyện nhà người khác không thì bảo. Bà tưởng bà danh giá cao sang lắm đấy à? Tôi nói cho bà hay, năm xưa chỉ vì trót nhận món tiền 300 hào bố bà giúp đỡ để làm ma cho mẹ tôi mà tôi tình nguyện lấy bà đấy...”. Nghe chú Mỡi nói, cả mấy người đàn bà ngớ người người nhìn theo rồi lục đục ra về.
Thấy bên nhà ầm ĩ, bố tôi bỏ dở ván cờ chạy về. Nhìn bố giận dữ, mẹ tôi rảo bước đi vào buồng. Bố tôi hằm hằm đi theo.
Áp tai vào vách buồng hóng hớt, tôi thấy giọng bố đầy giận giữ: “Chuyện nhà ai nấy rạng. Nhà Mỡi lấy chồng gá nợ thì đâu cao sang, hay hớm gì cho cam. Còn bà, ngày xưa, là tôi tấn công bà hay bà chủ động “trói” tôi. Nếu ai thêu dệt chuyện của bà thì sao?”. Mẹ tôi đang hăng máu khẩu chiến với chồng, nghe ông nói vậy, tức thì ngồi phịch xuống giường, im re như thóc....
Chẳng biết thực hư ra sao, cả làng cứ đồn ầm lên anh Khuynh, đang sống trên thành phố, bị cô vợ giàu có lừa đi “đổ vỏ”.
Cô hai Cải - mẹ anh Khuynh nghe một đồn mười, mười đồn trăm thì ức lắm. Cô chắp tay sau đít, bước thấp bước cao chửi cha thiên hạ khắp đầu làng, cuối xóm. Cô chửi oang oang rằng: “Cha bố kẻ hơn lòng hơn bụng, ngậm máu phun người. Bát gia cửu tộc đứa nào vu oan giá họa cho con trai bà. Từ nay chúng mày có miệng thì cắp, có nắp thì đậy, chuyện bà bà biết, chuyện mày mày hay”...
Đúng là thiên hạ độc mồm. Anh Khuynh đẹp trai phong độ là thế, ấy vậy mà thiên hạ lại đổ tiếng xấu cho anh. Buổi trưa nào mấy bà “tám” trong xóm cũng túm năm tụm ba dưới gốc đa già, thêu dệt đủ chuyện xấu về mẹ con cô Cải. Cô Cải không họ hàng thân thích, cũng chẳng hận thù gì với mẹ tôi nhưng mẹ tôi thì lại tỏ vẻ ghét và khinh cô Cải lắm lắm.
Đang vào hứng, chợt thoáng thấy bóng cô hai Cải từ phía xa, mẹ tôi nhanh chân đánh bài chuồn. Trước khi phủi đít quần đứng dậy, bà còn bồi thêm vài câu: “Phúc đức tại mẫu. Đời mẹ ăn mặn thì đời con khát nước thôi. Ối dào ôi, ông trời có mắt cả đấy, nhân nào thì quả nấy, các bà cứ ngẫm mà xem”.
Tôi chả hiểu mẹ tôi nói thế là có ý gì. Nhưng nhìn bà thì biết ngay là bà đang hả hê lắm. Một bà khác trong đám, nhổ đến toẹt bãi nước bọt xuống đất, vén môi phụ họa: “Cái giống đàn bà đi tranh chồng người khác thì phúc đức ở đâu ra hả các bà. Suy cho cùng, cái gì cũng có gien có giống cả các bà ạ. Thằng này ăn học hơn người mà vẫn bị gái nó xích. Chắc tại mả nhà nó bị gái chăn rồi”.
Nói rồi đám đàn bà, trong đó có mẹ tôi, cười ré lên. Âm vang tiếng cười của những người đàn bà ưa đưa chuyện, thích nhiếc móc, rỉa rói, hạ nhục người khác cứ lanh lảnh, cay nghiệt và khinh khỉnh thế nào ấy. Chưa bao giờ lại thấy mẹ tôi tỏ ra thích thú với chuyện lình sình nhà người khác đến thế.
Buổi tối ăn cơm xong, le te pha cho bố tôi ấm trà, vắt vẻo ngồi cầm tăm xỉa răng, ngậm một ngụm nước súc miệng òng ọc, mẹ tôi bắt chuyện với chồng: “Nhà Cải đúng là nhục bố mày nhỉ. Cái thằng Khuynh khá trai là thế. Nghe đâu ở rể nhà kia khổ lắm, người làng mình bắt gặp thằng Khuynh xách làn đi chợ đấy. Mà tôi còn nghe đồn, thằng cháu của nhà đấy là cháu hờ thôi. Kiểu này chắc lại thằng ăn ốc, thằng đổ vỏ rồi. Nhà ấy đến hồi mục mả rồi bố mày à...”.
Mẹ tôi chưa nói hết câu, bố tôi quắc mắt, vằn lên những tia máu đỏ ngầu: “Bà im mồm đi. Bà ăn củ ráy ngứa mồm hay sao mà cứ thọc vào chuyện nhà người khác thế hả?”.
Mẹ tôi tức thì bù lu bù loa: “Hóa ra trong lòng ông vẫn còn tơ tưởng đến nó à? Tôi thích thì tôi nói đấy. Thiên hạ họ nói thế thì tôi cũng nói thế đấy, tôi đặt điều cho ai nào.
Tôi biết tỏng cái bụng ông rồi. Ngày xưa ông chả từng mê nó, bị nó chê, sau bao năm ông vẫn còn tơ tưởng gì mà bênh nó chằm chặp thế hả? Tôi một lòng yêu thương chăm lo cho ông, sinh cho ông cả bầy con. Ấy thế mà giờ mới chỉ nói động đến nó là ông đã dằn hắt vợ à?”.
Bị bẽ mặt, bố tôi tức điên, dậm chân xuống nền nhà, rít lên: “Giời ơi là giời. Vợ với chả con. Bà hết khôn dồn dại hả?”.
Mẹ tôi vẫn chẳng chịu yên: “May mà nó cưới được chồng, chứ không, ngày ấy biết đâu nó cũng lại chả đổ vấy cho ông cái thai trong bụng nó ấy chứ”. Nước này thì bố tôi hết chịu nổi, ông vớ cái điếu bát, đập đến choang xuống nền gạch, nước điếu chảy ra hôi mù, nồng nặc khắp nhà.
Thì ra cái thời tuổi trẻ của bố mẹ tôi cũng lắm phức tạp, phiền hà. Nếu không có chuyện đồn về anh Khuynh, chẳng bao giờ tôi biết được rằng ngày xưa bố tôi từng thích cô Cải đến thế. Mẹ tôi vì ức bố tôi bênh cô Cải mà tồng tộc kể ra bằng hết. Nào là nhà bố tôi nghèo nên bị cô Cải chê, nào là bố tôi lân la làm thuê cuốc mướn cho bố mẹ nhà cô Cải cốt chỉ để lấy lòng cô mà không được. Chẳng riêng gì bố tôi, trai làng ngày ấy nhiều anh chết mê chết mệt song chẳng ai lọt mắt xanh của cô Cải.
Vào một đêm trăng sáng, người làng đi đơm đó bắt gặp cô Cải hủ hóa cùng một người đàn ông đã có vợ ở làng bên, ngay dưới bụi tre ở chân bờ đê cuối làng. Sau chuyện tai tiếng ô nhục ấy, cô Cải bị bố mẹ trói vào gốc cây mít đánh cho một trận, bỏ đói mấy ngày liền. Rồi cô có mang, bố mẹ cô đành muối mặt phải chấp nhận cho cô theo không người đàn ông đã ăn nằm với cô. Ấy chính là bố anh Khuynh sau này.
Lúc chung sống với cô Cải, bố anh Khuynh phải dứt tình với người vợ cả do bố mẹ cưới về nhưng ông không yêu thương. Để cắt đứt quan hệ với người vợ cả, cô Cải bắt bố anh Khuynh phải về ở rể nhà mình. Nghe nói, chuyện riêng tư của cô Cải hồi ấy là trung tâm đàm tiếu của cả làng.
Khi anh Khuynh lên 10 tuổi thì cô Cải góa chồng. Học xong Cao đẳng trên thành phố, lấy cô bạn gái con một cùng học, anh Khuynh lập nghiệp luôn trên ấy chẳng về làng. Cô Cải sống ở làng một mình, dăm ba bữa lại có một người đàn ông thường xuyên qua lại nhà cô, chắc là bồ. Nhìn cô còn phây phây là thế, không có đàn ông theo mới lạ.
Lúc đập điếu xong, bố tôi bỏ đi sang nhà hàng xóm chơi cờ tướng. Mấy bà tám được thể “chúa vắng nhà”, tức thì lại kéo nhau sang buôn chuyện nhà cô Cải. Nhóm bạn buôn của mẹ tôi đang túm năm tụm ba, hả hê chê bai người khác thì một người đàn ông xồng xộc chạy vào lôi tay cô Mỡi ra ngoài. Thì ra là chú Mỡi người nồng nặc mùi rượu.
Vừa kéo vợ xềnh xệch về nhà, chú Mỡ vừa la lớn: “Bà có chừa cái thói buôn chuyện nhà người khác không thì bảo. Bà tưởng bà danh giá cao sang lắm đấy à? Tôi nói cho bà hay, năm xưa chỉ vì trót nhận món tiền 300 hào bố bà giúp đỡ để làm ma cho mẹ tôi mà tôi tình nguyện lấy bà đấy...”. Nghe chú Mỡi nói, cả mấy người đàn bà ngớ người người nhìn theo rồi lục đục ra về.
Thấy bên nhà ầm ĩ, bố tôi bỏ dở ván cờ chạy về. Nhìn bố giận dữ, mẹ tôi rảo bước đi vào buồng. Bố tôi hằm hằm đi theo.
Áp tai vào vách buồng hóng hớt, tôi thấy giọng bố đầy giận giữ: “Chuyện nhà ai nấy rạng. Nhà Mỡi lấy chồng gá nợ thì đâu cao sang, hay hớm gì cho cam. Còn bà, ngày xưa, là tôi tấn công bà hay bà chủ động “trói” tôi. Nếu ai thêu dệt chuyện của bà thì sao?”. Mẹ tôi đang hăng máu khẩu chiến với chồng, nghe ông nói vậy, tức thì ngồi phịch xuống giường, im re như thóc....
Ngã rẽ
Lê Dân
Blog Lê Dân
Sự thay đổi về nhận thức và tư tưởng của một chàng trai trẻ.
Tôi đang loay hoay tìm cho mình một con đường. Có nên tiếp tục sống như một kẻ hèn nữa hay không? Tại sao tôi phải làm ngơ và im lặng trước những sai trái, bất công, tàn bạo? Tại sao ư? Vì những sai trái, bất công, tàn bạo ấy xuất phát từ những kẻ làm ra và thừa hành quyền lực của đất nước. Tôi còn có gia đình, gia đình chính là điểm yếu nhất của tôi, đó chính là lý do khiến tôi sống hèn không dám cất lên tiếng nói của sự thật. Tôi yêu Tổ quốc, tôi yêu Đất nước và tôi yêu Dân tộc tôi hơn bất cứ thứ gì khác. Nhưng điều đó không bắt buộc tôi phải nhất nhất nghe theo Đảng, tin theo Đảng. Nói như thế có kẻ sẽ bảo tôi là lệch lạc về tư tưởng, mờ nhạt về ý chí. Tư tưởng? Đúng tôi đang cố tình làm lệch lạc cái tư tưởng cổ điển, pha tạp và lỗi thời đã nhồi sọ không những riêng tôi, bạn bè tôi mà cả lớp lớp người trên đất nước Việt Nam. Ý chí? Làm gì có ý chí khi con người ta được sinh ra và lớn lên trong một môi trường xã hội mà như ông nhạc sỹ Phạm Duy từng nói "đói niềm tin và bội thực tự hào".
Tôi, một anh chàng sinh viên ngô nghê vừa mới ra trường, đang vật vã trong cơn đói lả để kiếm việc làm. Có lẽ không có gì khiến tôi ân hận hơn việc đã thi vào trường Luật, bởi học luật nên tôi mới thấy rõ hơn những bất công do chính thể nhà nước này mang lại cho những người dân thấp cổ bé họng. Họ làm ra luật pháp nhưng rồi chính họ lại dẫm đạp lên trên luật pháp. Phương thức làm việc của chính quyền là nói một đằng làm một nẻo và phương pháp làm việc là hứa và "ngâm". Mỗi khi chính quyền dọa nạt mà dân tỏ ra cứng đầu thì dùng chiêu thức đàn áp hay mỹ miều hóa là "cưỡng chế nhà nước" còn chính xác hóa là "cướp và tra tấn có công văn". Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Xây dựng nhà nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh..., đây là những mỹ từ mà tôi (ta) thường xuyên được nghe thấy. Nhưng những thứ đó có thực sự tồn tại không? Câu trả lời là có, dưới chính thể nhà nước hiện tại ở Việt Nam, những khái niệm vừa nêu đối với phần đông dân số thì nó quả là thứ khái niệm xa xỉ, nếu không muốn nói là "chỉ có trong giấc mơ".
Trước đây, đúng, nhưng chỉ là trước đây thôi, tôi thực sự rất yêu Đảng. Tôi yêu Tổ quốc bao nhiêu thì tôi cũng yêu Đảng bấy nhiêu. Bởi không riêng gì với suy nghĩ của tôi mà còn có rất nhiều người đều nghĩ như tôi rằng yêu Đảng là yêu Tổ quốc và ai đó yêu Tổ quốc thì phải yêu Đảng(???) Còn bây giờ tôi đang băn khoăn đứng giữa ngã ba đường - ngã ba đường của tư tưởng. Tôi từng yêu Đảng bao nhiêu, tự hào bao nhiêu thì giờ đây niềm tin với Đảng trong tôi đã vơi cạn đi bấy nhiêu. Gia đình tôi, một gia đình thuần nông bình thường như bao gia đình khác trên đất nước Việt Nam. Ông tôi, Cha tôi, Chú tôi họ đều từng là những người lính. Từng cầm súng để chiến đấu chống lại kẻ thù theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Đảng. Vì Ông, Cha, Chú tôi đã đổ xương máu trên chiến trường nên gia đình tôi cũng được Nhà nước công nhận là gia đình vẻ vang. Hoàn cảnh gia đình là thế nhưng tại sao tôi lại có những suy nghĩ "lệch lạc" như thế này? Rõ ràng hoàn toàn ở đây không phải vì lý do thù hằn có sẵn hay bất mãn chế độ. Chỉ có một điều duy nhất khiến tôi không còn tin vào Đảng nữa đó là Đảng đang phản bội lại chính niềm tin của nhân dân, trong đó có tôi. Đảng có bao giờ sai không? Chắc chắn có! Sai có nhận không??? Nhận có sửa không??? Mù mờ!!! Tức là tung hỏa mù hoặc là đổ lỗi trách nhiễm cho cá nhân còn Đảng thì chẳng bao giờ sai cả.
Trong lịch sử của nhân loại, từ cổ chí kim không thiếu những chính thể nhà nước do sự đấu tranh của nhân dân mới thành lập được nhưng sau đó quay lại phản bội nhân dân. Đảng, đúng, trước đây chính là ngọn cờ hiệu triệu và lãnh đạo toàn dân chống lại và chiến thắng những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trên thế giới. Lúc đó toàn dân một lòng nghe theo Đảng là vì sao? Bởi khi Tổ quốc lâm nguy, Đảng đứng ra lãnh đạo đất nước vì một mục đích chung cho cả dân tộc, đại diện quyền lợi của cả dân tộc. Còn bây giờ liệu Đảng có còn vì mục đích chung của cả dân tộc nữa hay không? Vì quyền lợi chung của cả dân tộc nữa hay không? Tôi đã có câu trả lời cho riêng mình. Tôi không việc gì phải trung thành với kẻ đã phản bội lại niềm tin của tôi.
"QUỐC GIA HỮU SỰ, THẤT PHU HỮU TRÁCH" - đây là những lời nói tầm thường nhất từ những kẻ tâm thường nhất như tôi. Nhưng nó thật sự xuất phát tự đáy lòng. Nó khẳng định rằng tôi vốn không phải kẻ hèn nhát. Tôi yêu Đất nước tôi, tôi yêu Đồng bào tôi và tôi sẵn sang hy sinh cho quyền lợi của Đồng bào tôi, Đất nước tôi. Buồn thay, đất thiêng của Tổ quốc đang bị ngoại bang xâu xé, giày vò. Người Việt trong nước thì nghèo đói, đi làm ăn, đánh cá trên biển, đảo của mình mà cũng bị bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Người Việt ở nước ngoài thì bị người ta coi khinh, rẻ mạt. Ôi... buồn thay, buồn lắm thay...
HÃY ĐỂ TÔI ĐƯỢC NHẬN PHÁT ĐẠN ĐẦU TIÊN CỦA KẺ THÙ NẾU PHẢI ĐẤU TRANH CHO TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM!
Lê Dân
Blog Lê Dân
Sự thay đổi về nhận thức và tư tưởng của một chàng trai trẻ.
Tôi đang loay hoay tìm cho mình một con đường. Có nên tiếp tục sống như một kẻ hèn nữa hay không? Tại sao tôi phải làm ngơ và im lặng trước những sai trái, bất công, tàn bạo? Tại sao ư? Vì những sai trái, bất công, tàn bạo ấy xuất phát từ những kẻ làm ra và thừa hành quyền lực của đất nước. Tôi còn có gia đình, gia đình chính là điểm yếu nhất của tôi, đó chính là lý do khiến tôi sống hèn không dám cất lên tiếng nói của sự thật. Tôi yêu Tổ quốc, tôi yêu Đất nước và tôi yêu Dân tộc tôi hơn bất cứ thứ gì khác. Nhưng điều đó không bắt buộc tôi phải nhất nhất nghe theo Đảng, tin theo Đảng. Nói như thế có kẻ sẽ bảo tôi là lệch lạc về tư tưởng, mờ nhạt về ý chí. Tư tưởng? Đúng tôi đang cố tình làm lệch lạc cái tư tưởng cổ điển, pha tạp và lỗi thời đã nhồi sọ không những riêng tôi, bạn bè tôi mà cả lớp lớp người trên đất nước Việt Nam. Ý chí? Làm gì có ý chí khi con người ta được sinh ra và lớn lên trong một môi trường xã hội mà như ông nhạc sỹ Phạm Duy từng nói "đói niềm tin và bội thực tự hào".
Tôi, một anh chàng sinh viên ngô nghê vừa mới ra trường, đang vật vã trong cơn đói lả để kiếm việc làm. Có lẽ không có gì khiến tôi ân hận hơn việc đã thi vào trường Luật, bởi học luật nên tôi mới thấy rõ hơn những bất công do chính thể nhà nước này mang lại cho những người dân thấp cổ bé họng. Họ làm ra luật pháp nhưng rồi chính họ lại dẫm đạp lên trên luật pháp. Phương thức làm việc của chính quyền là nói một đằng làm một nẻo và phương pháp làm việc là hứa và "ngâm". Mỗi khi chính quyền dọa nạt mà dân tỏ ra cứng đầu thì dùng chiêu thức đàn áp hay mỹ miều hóa là "cưỡng chế nhà nước" còn chính xác hóa là "cướp và tra tấn có công văn". Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Xây dựng nhà nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh..., đây là những mỹ từ mà tôi (ta) thường xuyên được nghe thấy. Nhưng những thứ đó có thực sự tồn tại không? Câu trả lời là có, dưới chính thể nhà nước hiện tại ở Việt Nam, những khái niệm vừa nêu đối với phần đông dân số thì nó quả là thứ khái niệm xa xỉ, nếu không muốn nói là "chỉ có trong giấc mơ".
Trước đây, đúng, nhưng chỉ là trước đây thôi, tôi thực sự rất yêu Đảng. Tôi yêu Tổ quốc bao nhiêu thì tôi cũng yêu Đảng bấy nhiêu. Bởi không riêng gì với suy nghĩ của tôi mà còn có rất nhiều người đều nghĩ như tôi rằng yêu Đảng là yêu Tổ quốc và ai đó yêu Tổ quốc thì phải yêu Đảng(???) Còn bây giờ tôi đang băn khoăn đứng giữa ngã ba đường - ngã ba đường của tư tưởng. Tôi từng yêu Đảng bao nhiêu, tự hào bao nhiêu thì giờ đây niềm tin với Đảng trong tôi đã vơi cạn đi bấy nhiêu. Gia đình tôi, một gia đình thuần nông bình thường như bao gia đình khác trên đất nước Việt Nam. Ông tôi, Cha tôi, Chú tôi họ đều từng là những người lính. Từng cầm súng để chiến đấu chống lại kẻ thù theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Đảng. Vì Ông, Cha, Chú tôi đã đổ xương máu trên chiến trường nên gia đình tôi cũng được Nhà nước công nhận là gia đình vẻ vang. Hoàn cảnh gia đình là thế nhưng tại sao tôi lại có những suy nghĩ "lệch lạc" như thế này? Rõ ràng hoàn toàn ở đây không phải vì lý do thù hằn có sẵn hay bất mãn chế độ. Chỉ có một điều duy nhất khiến tôi không còn tin vào Đảng nữa đó là Đảng đang phản bội lại chính niềm tin của nhân dân, trong đó có tôi. Đảng có bao giờ sai không? Chắc chắn có! Sai có nhận không??? Nhận có sửa không??? Mù mờ!!! Tức là tung hỏa mù hoặc là đổ lỗi trách nhiễm cho cá nhân còn Đảng thì chẳng bao giờ sai cả.
Trong lịch sử của nhân loại, từ cổ chí kim không thiếu những chính thể nhà nước do sự đấu tranh của nhân dân mới thành lập được nhưng sau đó quay lại phản bội nhân dân. Đảng, đúng, trước đây chính là ngọn cờ hiệu triệu và lãnh đạo toàn dân chống lại và chiến thắng những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trên thế giới. Lúc đó toàn dân một lòng nghe theo Đảng là vì sao? Bởi khi Tổ quốc lâm nguy, Đảng đứng ra lãnh đạo đất nước vì một mục đích chung cho cả dân tộc, đại diện quyền lợi của cả dân tộc. Còn bây giờ liệu Đảng có còn vì mục đích chung của cả dân tộc nữa hay không? Vì quyền lợi chung của cả dân tộc nữa hay không? Tôi đã có câu trả lời cho riêng mình. Tôi không việc gì phải trung thành với kẻ đã phản bội lại niềm tin của tôi.
"QUỐC GIA HỮU SỰ, THẤT PHU HỮU TRÁCH" - đây là những lời nói tầm thường nhất từ những kẻ tâm thường nhất như tôi. Nhưng nó thật sự xuất phát tự đáy lòng. Nó khẳng định rằng tôi vốn không phải kẻ hèn nhát. Tôi yêu Đất nước tôi, tôi yêu Đồng bào tôi và tôi sẵn sang hy sinh cho quyền lợi của Đồng bào tôi, Đất nước tôi. Buồn thay, đất thiêng của Tổ quốc đang bị ngoại bang xâu xé, giày vò. Người Việt trong nước thì nghèo đói, đi làm ăn, đánh cá trên biển, đảo của mình mà cũng bị bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Người Việt ở nước ngoài thì bị người ta coi khinh, rẻ mạt. Ôi... buồn thay, buồn lắm thay...
HÃY ĐỂ TÔI ĐƯỢC NHẬN PHÁT ĐẠN ĐẦU TIÊN CỦA KẺ THÙ NẾU PHẢI ĐẤU TRANH CHO TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM!
"VN đâu cần các anh làm Từ Thiện".
Hôm nay, tiền thu lợi hàng năm đã có :
- 500.000 Việt Kiều về nước & mỗi ngưòi mang theo trung bình 2.000USD = 10 tỷ đô la Mỹ.
- Người Việt hải ngoại gửi về nước 8 tỷ Mỹ kim thống kê được, nếu kể thêm số không thống kê được ít nhất 2 tỷ nữa, chúng ta có con số tròn 10 tỷ Mỹ kim.
- Mỗi năm Việt Nam nhận các khoản viện trợ nước ngoài và LHQ trên 3 tỷ Mỹ kim.
Tổng cộng gần 25 tỷ đô la.
Miền Nam Việt Nam (MNVN) trước 1975, không có sản xuất quan trọng, không mỏ dầu, chỉ nhận trung bình 700 triệu Mỹ kim một năm nuôi 17 triệu người và gồng gánh bộ máy chiến tranh. Trung bình 42USD/người /năm.
Thế nhưng, MNVN là con rồng Đông Nam Á.
Trường học MNVN từ mẫu giáo đến Đại học đều được hưởng quy chế miễn học phí.
Người bệnh vào bệnh viện từ xã phường đến trung ương đều được miễn phí.
Thiên tai năm nào cũng có nhưng cả nước đùm bọc lấy nhau. MNVN không cần ngửa tay xin tiền ngoại quốc.
Ngày nay không cần làm gì mỗi năm Việt Nam vẫn nhận đều khoảng 25 tỷ đô la. Tính trung bình 287USD/người /năm.
Thế nhưng học sinh mẫu giáo đến đại học đều đóng học phí cắt cổ.
Bệnh viện từ xã đến trung ương đều thu lệ phí rất cao. Dù cấp cứu, không tiền không được nhập viện.
Từ 1989 đến nay đã 20 năm nay, VN vẫn lẽo đẽo phía sau các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tụt hậu 35 năm so với VNCH năm 1975.
Việt Nam ngày nay ở vào thời đại WTO, thời đại mở cửa, không còn là thời đại thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ thuở trước 1989. Trước 1989 việc cứu trợ thiên tai tại VN là việc cần. Sau thời đại mở cửa 20 năm nay, VN phát triển vượt bực. Nhũng người về VN đều thấy việc hàng quán đầy đường, người xe kín lối, nhà chọc trời đầy dẫy, tất cả các nhà hàng đều đông nghẹt, khách sạn giá quốc tế, địa ốc ngang tầm hay mắc hơn cả Tokyo, Sydney, Whasington DC, ....
Mọi người đều biết triệu phú USD ở Việt Nam nhiều hơn triệu phú trong Cộng đồng người Việt Hải ngoại.
Số tiền trong nước đổ ra nước ngoài mỗi năm rất lớn đều tuông vào các ngân hàng và các trương mục tư bản đỏ.
Do vậy việc cứu trợ và từ thiện Việt Nam đã đến lúc cần được xét lại một cách đúng mức.
Giúp đỡ thương phế binh VNCH bị bỏ rơi tại VN là cần.
Giúp đỡ những cơn bệnh hiểm nghèo VN không có phương tiện chữa trị là không thể bỏ.
Giúp đỡ những trường hợp cá biệt là cần.
Giúp đỡ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân và dân quyền là không thể thiếu.
Tuy nhiên việc tổ chức thành những phong trào rầm rộ dưới hình thức từ thiện mang tiền về nước cống nạp cho CSVN là chuyện phải chống vì vi phạm luật lệ VN và không phục vụ lợi ích đích thực của cộng đồng hải ngoại. Luật lệ CHXHVN ghi rõ không tổ chức nào trong nước và ngoài được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan Cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Những tổ chức vận động lạc quyên hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn mà nói rằng có thể mang về mua quà cứu trợ trao tận tay nạn nhân hết số tiền này, đó là vấn đề cần đưọc các tổ chức khác nhau trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại nghiên cứu và tìm hiểu thích đáng.
Thay vì mang tiền về! Chúng ta chỉ giải quyết ngọn mà không giải quyết gốc.
Tại sao chúng ta không vận động chính phủ, vận động các nhà hảo tâm, vận động các nhà tư bản đỏ trong nước để họ tự đùm bọc giúp đỡ nhau?
Tại sao không vận động chính phủ tổ chức cứu trợ đúng mức cho nạn nhân trong nước?
Việc cứu trợ có thể giải quyết thỏa đáng bằng quy hoạch của chính phủ chứ không bằng các vận động ồn ào bòn rút của cải hải ngoại. VN trước 1975 không cần xin hải ngoại như hiện nay để giải quyết thiên tai, thế nhưng người dân vẫn no ấm và “phồn vinh giả tạo”.
35 năm qua chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào ruột thịt của mình tại hải ngoại và cho tổ quốc mới của chúng ta.
Đừng nên quá ôm đồm.
Cộng đồng VN hải ngoại còn nhiều người “mù vi tính”. VN sắp sang giai đoạn xoá mù vi tính.
Cộng đồng VN hải ngoại chưa dám mơ mọi người tốt nghiệp cử nhân. VN đã tính chuyện mọi nhân viên Bộ Sở trung ương từ quét dọn trở lên phải đạt bằng Tiến Sĩ.
Cộng đồng VN hải ngoại đang trên đà tụt hậu so với sự tiến bộ vượt bực trong nước.
Chúng ta đã giúp VN từ 1975 đến nay.
35 năm cũng đã quá tròn tình nghĩa đối với người đã đưa tiễn chúng ta khi ra đi bằng đại liên trực xạ và trìu mến gọi ta bằng “ngụy quân, ngụy quyền, ham mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc, chây lười lao động, vượt biên phản quốc, ...”
Đã qua thời 20 năm mở cửa (1989 – 2010).
Chúng ta đã làm đủ mọi thứ cho Việt Nam .
Xây cầu. Cất trường. Nuôi dạy trẻ mồ côi. Nuôi dưỡng người tàn tật. Giúp đỡ người nghèo, người bệnh. Xây chùa, nhà thờ, ...
Thời gian 35 năm qua Bộ Thương Binh Xã hội VN đã báo cáo nhiều thành tích tốt mà không cần động đến móng tay và không cần quan tâm chăm sóc phúc lợi người dân trong nước vì ... mọi thứ đã có “bò sữa” hải ngoại chăm lo. Thời gian qua đảng Cộng Sản Việt Nam bồi dưỡng sức mình tung Nghị Quyết 36, cán bộ, đảng viên, tu sĩ vào Cộng đồng hải ngoại (CĐHN) để rồi ngày nay CĐHN đang dần dần tan ra từng mảnh. Đổi khách thành chủ. CSVN đang dần nắm ưu thế trong nhiều lãnh vực tại căn cứ địa vững chắc của chúng ta.
Nếu không khéo, chỉ mươi năm sau, chúng ta không còn con đường để vượt biên lần thứ hai!
Nhìn chung, theo quan điểm những nhà “pro-VietNam” hiện chúng ta còn hai việc lớn chúng ta chưa làm.
Một là dồn sức hải ngoại về VN, mỗi ngày hốt rác từ Bắc vào Nam để tư bản đỏ và cán bộ đảng viên mỗi chiều bia rượu cho thơm miệng.
Hai là tiếp tay nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dâng nốt mảnh đất còn lại cho Hán triều để tổ quốc Việt Nam thêm một lần nữa nghìn năm nô lệ giặc Tàu.
35 năm qua đã đủ dài để chúng ta nên nhìn lại, phản tỉnh.
Chúng ta không nên ôm đồm làm thay mà cần nên giao trách nhiệm chăm sóc phúc lợi xã hội trong nước cho Đảng và Chính phủ “bách chiến bách thắng” của Việt Nam làm tròn sứ mạng của mình đối với đất nước và dân tộc mà họ muốn dành độc quyền cai trị.
Chúng ta cần làm tốt hơn vai trò đòn bẩy để giúp VN tiến nhanh tiến mạnh trên con đường mở cửa, hội nhập WTO và hội nhập trào lưu tự do - dân chủ - nhân quyền đang rộ nở trên mọi ngỏ ngách của địa cầu ngõ hầu cứu thoát Việt Nam một tai họa nghìn năm bắc thuộc lần thứ hai và chúng ta cũng không phải vượt biên thêm một lần nữa từ hải ngoại.
Hôm nay, tiền thu lợi hàng năm đã có :
- 500.000 Việt Kiều về nước & mỗi ngưòi mang theo trung bình 2.000USD = 10 tỷ đô la Mỹ.
- Người Việt hải ngoại gửi về nước 8 tỷ Mỹ kim thống kê được, nếu kể thêm số không thống kê được ít nhất 2 tỷ nữa, chúng ta có con số tròn 10 tỷ Mỹ kim.
- Mỗi năm Việt Nam nhận các khoản viện trợ nước ngoài và LHQ trên 3 tỷ Mỹ kim.
Tổng cộng gần 25 tỷ đô la.
Miền Nam Việt Nam (MNVN) trước 1975, không có sản xuất quan trọng, không mỏ dầu, chỉ nhận trung bình 700 triệu Mỹ kim một năm nuôi 17 triệu người và gồng gánh bộ máy chiến tranh. Trung bình 42USD/người /năm.
Thế nhưng, MNVN là con rồng Đông Nam Á.
Trường học MNVN từ mẫu giáo đến Đại học đều được hưởng quy chế miễn học phí.
Người bệnh vào bệnh viện từ xã phường đến trung ương đều được miễn phí.
Thiên tai năm nào cũng có nhưng cả nước đùm bọc lấy nhau. MNVN không cần ngửa tay xin tiền ngoại quốc.
Ngày nay không cần làm gì mỗi năm Việt Nam vẫn nhận đều khoảng 25 tỷ đô la. Tính trung bình 287USD/người /năm.
Thế nhưng học sinh mẫu giáo đến đại học đều đóng học phí cắt cổ.
Bệnh viện từ xã đến trung ương đều thu lệ phí rất cao. Dù cấp cứu, không tiền không được nhập viện.
Từ 1989 đến nay đã 20 năm nay, VN vẫn lẽo đẽo phía sau các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tụt hậu 35 năm so với VNCH năm 1975.
Việt Nam ngày nay ở vào thời đại WTO, thời đại mở cửa, không còn là thời đại thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ thuở trước 1989. Trước 1989 việc cứu trợ thiên tai tại VN là việc cần. Sau thời đại mở cửa 20 năm nay, VN phát triển vượt bực. Nhũng người về VN đều thấy việc hàng quán đầy đường, người xe kín lối, nhà chọc trời đầy dẫy, tất cả các nhà hàng đều đông nghẹt, khách sạn giá quốc tế, địa ốc ngang tầm hay mắc hơn cả Tokyo, Sydney, Whasington DC, ....
Mọi người đều biết triệu phú USD ở Việt Nam nhiều hơn triệu phú trong Cộng đồng người Việt Hải ngoại.
Số tiền trong nước đổ ra nước ngoài mỗi năm rất lớn đều tuông vào các ngân hàng và các trương mục tư bản đỏ.
Do vậy việc cứu trợ và từ thiện Việt Nam đã đến lúc cần được xét lại một cách đúng mức.
Giúp đỡ thương phế binh VNCH bị bỏ rơi tại VN là cần.
Giúp đỡ những cơn bệnh hiểm nghèo VN không có phương tiện chữa trị là không thể bỏ.
Giúp đỡ những trường hợp cá biệt là cần.
Giúp đỡ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân và dân quyền là không thể thiếu.
Tuy nhiên việc tổ chức thành những phong trào rầm rộ dưới hình thức từ thiện mang tiền về nước cống nạp cho CSVN là chuyện phải chống vì vi phạm luật lệ VN và không phục vụ lợi ích đích thực của cộng đồng hải ngoại. Luật lệ CHXHVN ghi rõ không tổ chức nào trong nước và ngoài được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan Cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Những tổ chức vận động lạc quyên hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn mà nói rằng có thể mang về mua quà cứu trợ trao tận tay nạn nhân hết số tiền này, đó là vấn đề cần đưọc các tổ chức khác nhau trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại nghiên cứu và tìm hiểu thích đáng.
Thay vì mang tiền về! Chúng ta chỉ giải quyết ngọn mà không giải quyết gốc.
Tại sao chúng ta không vận động chính phủ, vận động các nhà hảo tâm, vận động các nhà tư bản đỏ trong nước để họ tự đùm bọc giúp đỡ nhau?
Tại sao không vận động chính phủ tổ chức cứu trợ đúng mức cho nạn nhân trong nước?
Việc cứu trợ có thể giải quyết thỏa đáng bằng quy hoạch của chính phủ chứ không bằng các vận động ồn ào bòn rút của cải hải ngoại. VN trước 1975 không cần xin hải ngoại như hiện nay để giải quyết thiên tai, thế nhưng người dân vẫn no ấm và “phồn vinh giả tạo”.
35 năm qua chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào ruột thịt của mình tại hải ngoại và cho tổ quốc mới của chúng ta.
Đừng nên quá ôm đồm.
Cộng đồng VN hải ngoại còn nhiều người “mù vi tính”. VN sắp sang giai đoạn xoá mù vi tính.
Cộng đồng VN hải ngoại chưa dám mơ mọi người tốt nghiệp cử nhân. VN đã tính chuyện mọi nhân viên Bộ Sở trung ương từ quét dọn trở lên phải đạt bằng Tiến Sĩ.
Cộng đồng VN hải ngoại đang trên đà tụt hậu so với sự tiến bộ vượt bực trong nước.
Chúng ta đã giúp VN từ 1975 đến nay.
35 năm cũng đã quá tròn tình nghĩa đối với người đã đưa tiễn chúng ta khi ra đi bằng đại liên trực xạ và trìu mến gọi ta bằng “ngụy quân, ngụy quyền, ham mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc, chây lười lao động, vượt biên phản quốc, ...”
Đã qua thời 20 năm mở cửa (1989 – 2010).
Chúng ta đã làm đủ mọi thứ cho Việt Nam .
Xây cầu. Cất trường. Nuôi dạy trẻ mồ côi. Nuôi dưỡng người tàn tật. Giúp đỡ người nghèo, người bệnh. Xây chùa, nhà thờ, ...
Thời gian 35 năm qua Bộ Thương Binh Xã hội VN đã báo cáo nhiều thành tích tốt mà không cần động đến móng tay và không cần quan tâm chăm sóc phúc lợi người dân trong nước vì ... mọi thứ đã có “bò sữa” hải ngoại chăm lo. Thời gian qua đảng Cộng Sản Việt Nam bồi dưỡng sức mình tung Nghị Quyết 36, cán bộ, đảng viên, tu sĩ vào Cộng đồng hải ngoại (CĐHN) để rồi ngày nay CĐHN đang dần dần tan ra từng mảnh. Đổi khách thành chủ. CSVN đang dần nắm ưu thế trong nhiều lãnh vực tại căn cứ địa vững chắc của chúng ta.
Nếu không khéo, chỉ mươi năm sau, chúng ta không còn con đường để vượt biên lần thứ hai!
Nhìn chung, theo quan điểm những nhà “pro-VietNam” hiện chúng ta còn hai việc lớn chúng ta chưa làm.
Một là dồn sức hải ngoại về VN, mỗi ngày hốt rác từ Bắc vào Nam để tư bản đỏ và cán bộ đảng viên mỗi chiều bia rượu cho thơm miệng.
Hai là tiếp tay nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dâng nốt mảnh đất còn lại cho Hán triều để tổ quốc Việt Nam thêm một lần nữa nghìn năm nô lệ giặc Tàu.
35 năm qua đã đủ dài để chúng ta nên nhìn lại, phản tỉnh.
Chúng ta không nên ôm đồm làm thay mà cần nên giao trách nhiệm chăm sóc phúc lợi xã hội trong nước cho Đảng và Chính phủ “bách chiến bách thắng” của Việt Nam làm tròn sứ mạng của mình đối với đất nước và dân tộc mà họ muốn dành độc quyền cai trị.
Chúng ta cần làm tốt hơn vai trò đòn bẩy để giúp VN tiến nhanh tiến mạnh trên con đường mở cửa, hội nhập WTO và hội nhập trào lưu tự do - dân chủ - nhân quyền đang rộ nở trên mọi ngỏ ngách của địa cầu ngõ hầu cứu thoát Việt Nam một tai họa nghìn năm bắc thuộc lần thứ hai và chúng ta cũng không phải vượt biên thêm một lần nữa từ hải ngoại.

20 Triệu chứng để nhận ra mình đã già
1. Siêng năng đi gặp bác sĩ ... và ... lãnh thuốc ...! Nói chuyện hay kể chuyện bệnh và chỉ nhau thuốc trị bệnh.
2. Toàn kể chuyện ngày xưa.
3. Vặn Tivi lên để ngủ.
4. Thích cơm nhão va chao' , hay Hết ăn cơm cháy
5. Cell phone lúc nào cũng tắt cho đỡ tốn pin.
6.Đọc Word file, luôn luôn View 150%.
7. Đến nhà bạn chơi, ngủ gật.
8. Cả ngày đi tìm chìa khoá nhà, chìa khoá xe.
9.Ngưng nhổ tóc bạc. Nếu là đàn bà, vứt hết mini-jupes.
10 Ra bãi biển, trùm chăn.
11 Lên xe buýt "bị" nhường chỗ.
12 Rất rất là thích những câu như "dạo này trông bạn trẻ hơn và ốm hơn nămtrước".
13 Đi đứng nằm ngồi chậm lại (chưa nói đến vấn đềsex!).
14 Toàn dùng kem đánh răng loại "Extra-whitening" .
15 Hay hỏi thăm tin tức các cụ cùng tuổi xem "còn khoẻ hay không". Đi chơi, cho nhau số cell phone rồi lại không mở cell phone
16 Thân hình có vòng thứ hai càng ngày càng to.
17 Ngại lên xuống thang lầu vì sợ té.
18 Mở báo đọc hay tìm trang cáo phó đọc trước.
19 Không muốn nhắc nhở đến ngày sinh nhật.
20. Hay hát bài có câu "Ta biết ta đã già, nên ngườiđã vội bỏ ta."

