Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Trung cộng: tứ diện thọ địch


Tôi viết những dòng này để trang trải mối ưu tư day dứt trong lòng vì tương lai của dân tộc Việt nam tùy thuộc vào viễn tượng của một trật tự sẽ hình thành trong tương lai: mà ở đó sẽ quyết định vận mệnh của bản thân mình, gia đình mình và cả đất nước. Hạnh phúc hay bất hạnh, tồn tại hay tiêu vong tất cả tùy thuộc vào cục diện của khu vực và thế giới.

Trong trật tự thế giới ngày hôm nay, nước Mỹ đóng vai trò quyết định, không những quyết định đối với bản thân họ, bạn bè và đồng minh của họ mà còn có vai trò quyết định đối với vận mệnh của một quốc gia xa lơ xa lắc, và chẳng có quan hệ gì về chủng tộc và văn hóa đối với họ, đó là Việt nam.

Đầu thế kỷ 21, người ta chứng kiến sự trỗi dậy của Trung cộng, một con sư tử sau một giấc ngủ dài đầy mộng mị và đắng cay. Con sư tử mang trong ký ức mình một quá khứ vàng son và đầy tủi nhục trong 100 năm của thế kỷ 20.

Lịch sử của Trung quốc là lịch sử của chiến tranh, chính vì lẽ đó người Trung quốc phát triển một tư duy chiến tranh mãnh liệt. Binh pháp Tôn tử là “nghiệp báo” của dân tộc Trung Hoa và theo như ông Lưu Á Châu nói: người Trung Hoa không có tư tưởng, chỉ có mưu lược!. Việt nam chúng ta lại nằm cạnh anh khổng lồ vừa tham lam, tàn bạo, lại đầy mưu lược này. Đây là hiểm họa của dân tộc chúng ta. Để tồn tại, dân tộc chúng ta phải có đầy đủ Trí và Dũng.



Tự thân sự phát triển của dân tộc Trung hoa tạo nên mối đe dọa đối với Việt nam, các nước láng giềng và cả nước Mỹ. Người Hán muốn thực hiện giấc mộng bá chủ thế giới, buộc lòng họ phải vượt qua một trở lực lớn là Mỹ, nói theo ngôn ngữ của “xã hội đen” là “bước qua xác chết của Mỹ”. Nước Mỹ ngày hôm nay là khắc tinh của Trung Hoa cho dù đó là một nước Trung hoa dân chủ hay cộng sản. Nhưng nếu là một nước Trung hoa cộng sản thì nguy hiểm hơn nhiều.

Trung cộng và Mỹ cách xa nhau về địa lý, khác biệt về chủng tộc và văn hóa. Họ không có sự tranh chấp về lãnh thổ và quyền lợi trực tiếp như quan hệ Trung-Nhật, hay Trung-Ấn, Trung-Nga. Nhưng có một thực tế là quyền lợi của Mỹ trải rộng ra khắp thế giới. Người Mỹ chỉ có lợi khi trật tự thế giới được ổn định. Nhưng Trung cộng lại muốn có sự thay đổi và họ cố gắng tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng có lợi cho họ.

Cuộc sống thì luôn luôn vận động và thay đổi, thế giới cũng vậy. Một điều hiển nhiên là trong tương lai sẽ hình thành một thế giới đa cực, đó là một điều tốt. Nhưng hiện nay một thế giới đa cực chưa định hình. Trong tương lai gần chỉ có hai thế lực có sức hút mãnh liệt, có tương tác mãnh liệt và cũng có mâu thuẫn mãnh liệt, đó là Mỹ và Trung quốc. Nếu không có gì xảy ra, thì Trung cộng sẽ là một thế lực làm thay đổi tương quan lực lượng rất nhanh chóng và nó sẽ tiếp tục thay đổi nhanh chóng để hình thành một cục diện mới, mà Trung cộng chiếm ưu thế.

Một câu hỏi lớn đặt ra là: Trung cộng sẽ làm gì với ưu thế này. Không ai yên tâm và vui mừng cho dù đó là người lạc quan nhất. Một chế độ độc tài toàn trị và cực kỳ hung ác mà mọi quyết sách lớn nhỏ đều do một nhóm người quyết định thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Một nền kinh tế do một nhóm đặc quyền kiểm soát trên danh nghĩa nhà nước sẽ không có động cơ gìn giữ hòa bình vì lợi nhuận. Một xã hôi bị kiểm soát và cai trị bởi một Đảng cầm quyền sẽ không có chỗ cho những tiếng nói bình tĩnh, sáng suốt để có sự lựa chọn đúng đắn và thông minh. Một thế lực như vậy mà có trong tay sức mạnh áp đảo kinh người thì sẽ là một hiểm họa khôn lường cho thế giới, tương lai của nhân loại sẽ bị tuyệt diệt vì sự điên khùng của thế lực này.

Sự phát triển và tham vọng cộng với một chính sách đối ngoại mờ ám như: bảo trợ cho các chế độ toàn trị như Việt nam, Miến điện, Bắc Hàn, Iran ở châu Á, các nhà nước bất hảo ở châu Phi, và những “phi vụ” làm ăn với các nước Hồi giáo cực đoan chống Mỹ. Một mặt Trung cộng làm ăn (và nhờ đó mà giàu có) với Mỹ và phương Tây, mặt khác họ tìm mọi thủ đoạn để làm cho Mỹ và phương Tây suy yếu bằng một chính sách kinh tế bất bình đẳng, và chính sách đối ngoại bất hợp tác và thù địch.

Gần đây Trung cộng gây ra những nghi ngờ, lo ngại và tranh chấp với các quốc gia lớn trong khu vực. Chúng ta hay nghe chính phủ và các nhà lãnh đạo các nước láng giềng lớn nói gì về sự trỗi dậy của Trung cộng (TC).

1/ Nhật Bản:Trong báo cáo thường niên về Quốc phòng được công bố hôm 10 tháng 9 Nhật đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của TC.

Tranh chấp chủ quyền biển đảo giửa 2 nước Nhật-Trung là một hồ sơ dai dẳng, tiềm ẩn một nguy cơ xung đột trong tương lai khi tương quan lực lượng thay đổi, hoặc nhu cầu về tài nguyên trở nên bức bách.

Ngoài ra còn có vết thương do lịch sử để lại từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật (đây là một điều hệ trọng và nhạy cảm trong quan hệ 2 nước vì người Hoa là một dân tộc đầy lòng tự tôn vẫn mang nặng trong tiềm thức điều sỉ nhục này).

2/ Ấn độ: Quan hệ Ấn-Trung là quan hệ đầy sóng gió và tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, việc TC hậu thuẩn cho đồng minh của họ là Pakistan (kẻ thù nguy hiểm của Ấn độ) là một nhức nhối trong quan hệ 2 nước. Trước Quốc hội Ấn ngày 31/8, Ngoại trưởng Ấn độ S.M Krishma đã tuyên bố rằng: “Trung quốc có v ẻ quan tâm hơn mức bình thường đến khu vực Ấn độ dương. Chúng tôi sẽ theo dõi sát những ý đồ của Bắc kinh và sẽ chú ý đặc biệt đến khu vực này”.

- Ngày 7/9 vừa qua Thủ Tướng Ấn độ Mamohan Singh vốn nổi tiếng về sự ôn hòa đã có lời tuyên bố rất mạnh mẽ “Trung quốc muốn lấn sân tại Nam á. Người Trung quốc ngày càng tự tin về bản thân, họ muốn kìm hãm Ấn độ. Thật khó nói điều này sẽ đi đến đâu, điều quan trọng là cần phải chuẩn bị.”

3/ Nga: Nhóm Valdai (một nhóm chuyên gia nghiên cứu độc lập về chiến lược) thì cảnh báo về nguy cơ từ Trung quốc, trước mắt đối với vùng Viễn đông Nga. Viễn đông là vùng đất giàu tài nguyên như than, dầu mỏ, khí đốt, những thứ mà TC rất cần cho sự phát triển ồ ạt về kinh tế, ở đây đất rộng người thưa và làn sóng di dân người Hán có nguy cơ biến người Nga thành thiểu số ở trên chính đất nước của họ!

Thủ tướng Putin một người thân TC và chống Phương Tây với lời lẽ lạc quan khi nói về TC, nhưng cũng không giấu nổi sự lo lắng hoang mang về ý đồ thực sự của TC với nước Nga! (theo RFI)

Còn Mông Cổ: một quốc gia to lớn về diện tích, giàu có về tài nguyên nhưng chỉ có bốn triệu dân. Ở đây, một làn sóng bài người Hán lên cao đến mức báo động. Họ ý thức rõ ràng cái hiểm họa đang treo lơ lửng trên đầu người Mông cổ.

Ngày hôm nay không biết trong nhãn quan chiến lược của người Mỹ họ coi Trung cộng là gì: đối tác hay đối thủ, là bạn hay thù. Người Mỹ là một dân tộc cởi mở, thực dụng, không hề có tham vọng lãnh thổ, nên sự phát triển của nước Mỹ không những làm cho an ninh thế giới được bảo đảm, trật tự thế giới được ổn định mà nó còn mang lại sự phồn vinh cho cả nhân loại. Đó là một thực tế mà ai cũng công nhận. Tất nhiên người Mỹ luôn vì quyền lợi của nước Mỹ. Quốc gia nào mà chẳng vậy!

Nước Mỹ sẵn sàng sống hòa hợp với mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Trung Hoa, nhưng không ai có thể tin chắc rằng người Trung Hoa sẽ chấp nhận chung sống hòa bình, chia sẻ không gian sinh tồn với Mỹ trong 20 năm nữa không? Người Việt chúng ta có đủ kinh nghiệm để đưa ra câu trả lời chính xác là: Không!!

Đối với người Trung Hoa, thế giới này không thể có hai mặt trời. Cho nên tự thân sự phát triển của Trung Hoa tạo ra mối hiểm họa đối với nước Mỹ và thế giới.

Tuy nhận thức được hiểm họa tiềm tàng từ phía Trung Cộng nhưng các nước như Nga-Nhật-Ấn cũng không tìm ra đối sách đơn phương ứng phó với Trung Cộng vì họ còn thua kém TC.

Hiện nay chỉ có Mỹ mới có đủ thực lực đương đầu với hiểm họa này nhưng chẳng lẽ Mỹ lại “thúc thủ” chờ đợi cái hiểm họa chắc chắn sẽ đến?!

Tham vọng và ý đồ của Bắc Kinh đang đẩy họ vào thế tứ diện thọ địch!

Chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai gần khó mà biết được nhưng một điều chắc chắn là sẽ đầy sóng gió… đứng trước thế giới bất ổn và đầy mâu thuẩn, những ai quan tâm đến vận mệnh và tương lai của đất nước không thể không âu lo. Một câu hỏi lớn đang đặt ra là: Liệu CSVN có đủ bản lĩnh và khôn ngoan để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn đầy sóng gió trước mặt?

Đảng CSVN luôn đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của dân tộc nên đối sách và sự chọn lựa của họ sẽ đi theo hướng này.

Để biết được hành động của TC trong tương lai chúng ta cần phải xác định, mục đích tối hậu của Trung Cộng là gì?

- Đó là mở rộng không gian sinh tồn của người Hán, chiếm đoạt tài nguyên của các quốc gia khác và thống trị thế giới. Như vậy các nước đất rộng người thưa và giàu tài nguyên sẽ là mục tiêu mà Trung Cộng nhắm tới. Trước tiên là Kadactan, Mông cổ và các nước Trung Á, tiếp theo sẽ là nước Úc (Không nghi ngờ gì khi Úc là miền đất mà TC sẽ “đặc biệt” quan tâm) TC sẽ dùng Chiến tranh để nuôi dưỡng chiến tranh! Nếu ngày hôm nay Mỹ không đủ bản lĩnh để đánh phủ đầu Trung Cộng thì 10 năm nữa điều này khó khăn hơn nhiều nếu không muốn nói là bất khả!

Nhưng có những chỉ dấu cho thấy tuy bên ngoài Mỹ “tỏ vẻ” không lo lắng nhiều về TC, nhưng họ đang ráo riết chuẩn bị đối đầu với TC trong một ngày không xa. Nói như chuyên gia Rick Rozoff: Chiếc thòng lọng đang siết chặt dần chung quanh TC.

Quan hệ Trung-Mỹ những ngày tháng tới sẽ đầy sóng gió.

Đối với dân tộc VN, sự thắng thế của Trung cộng hoàn toàn bất lợi và nguy hiểm cho đất nước Việt Nam. Hiện nay tập đoàn CSVN là cây tầm gởi trên cây cổ thụ Trung Cộng. Trung cộng sụp đổ sẽ tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của Việt cộng, chính vì vậy mà VC không muốn TC sụp đổ nhưng cũng không biết đối phó như thế nào trước tham vọng quá lộ liễu của TC nhất là ở Biển Đông.. Đây chỗ bế tắc của CSVN.

- Giải pháp cho dân tộc VN là cần có ngay một hội nghị Diên Hồng… và mọi quyết định liên quan đến vận mệnh đất nước cần phải được trưng cầu dân ý.

Huỳnh ngọc Tuấn

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Giã từ Iraq: Chính sách ngoại giao Mỹ sẽ thay đổi

CỔ-LŨY
Ngày 31 tháng 8, 2010, bẩy năm rưỡi sau khi cuộc chiến bắt đầu, lực lượng tác chiến Mỹ âm thầm rút ra khỏi lãnh thổ Iraq qua Kuwait để tuần tự về nước theo đúng những điều trong thỏa thuận an ninh giữa hai chính quyền Mỹ và Iraq năm 2008. Cũng theo thỏa thuận này, 50 nghìn binh sĩ Mỹ sẽ ở lại Iraq trong vai trò cố vấn và huấn luyện cho quân lực và chính quyền Iraq tới hết năm 2011.

Cuộc rút quân rất lặng lẽ và trong diễn văn cùng ngày Tổng Thống Barack Obama, người từng chống đối và thừa hưởng cuộc chiến, đã đọc một diễn văn quan trọng nhưng cũng không to tiếng tung hô “nghĩa vụ hoàn tất” hay chiến thắng vinh quang - như Tổng Thống George W. Bush từng làm trên chiến hạm Abraham Lincoln ngoài khơi thành phố San Diego, chưa đầy hai tháng sau khi tấn công và chiếm đóng Iraq năm 2003. Hoa Kỳ đã học được những bài học gì, và sẽ hành xử ra sao về mặt ngoại giao trong tương lai?

Sau Iraq: Hướng ngoại giao của chính quyền Obama

Bài tuần trước đưa ra những lý luận, nhận định cho thấy Hoa Kỳ như đã thất bại và học được một số bài học quan trọng ở Iraq. Khi giã từ, Hoa Kỳ để lại một nước Iraq và nguyên vùng “Trung Ðông” trong tình trạng cực kỳ hiểm nghèo - khác hẳn với ý định Tổng Thống Bush đã công bố về ổn định, thịnh vượng, với tự do, dân chủ, và hòa bình cho Iraq và toàn vùng “Trung Ðông.” Ngoài những thiệt hại lớn lao vô cùng cho người và đất nước Iraq, Hoa Kỳ cũng chịu đựng thiệt hại không nhỏ về số thương vong, phí tổn chiến tranh và chính trị. Người Mỹ nói chung đã “quên” hay không muốn nhắc nhở tới cuộc chiến này nữa; Tổng Thống Obama, người chống cuộc chiến từ đầu, cũng rút được nhiều bài học từ cuộc chiến và muốn nhìn về phía trước.

Nhiều giới quan sát chính trị như đồng ý với ông Ronald Brownstein của tờ National Journal rằng Tổng Thống Bush chủ trương cuộc chiến Iraq nhằm phô trương khả năng của Hoa Kỳ trong việc uốn nắn dạng hình thế giới theo ý mình muốn. Ông Bush cùng Phó Tổng Thống Dick Cheney và những cố vấn tân bảo thủ “cứng rắn” như muốn cho thế giới thấy cái giá phải trả cho kẻ nào chống đối quyền lợi nước Mỹ và những cái lợi nếu “đi cùng” với Hoa Kỳ. Ông Bush từng thẳng thắn khẳng định nếu không đi cùng với “ta,” hẳn phải là “địch.” Thế giới và bang giao quốc tế không giản dị, trắng đen rõ rệt như vậy, và ông Bush và nước Hoa Kỳ như ông nghĩ không luôn luôn là tiêu chuẩn hoặc đặt ra những tiêu chuẩn tuyệt đối người ngoài phải noi theo, dù điều kiện hay hoàn cảnh không hoặc chưa cho phép làm việc này. Cuộc chiến dài và tàn khốc vẫn còn tàn khốc và sẽ kéo dài chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt, và đây như một bằng chứng cho thấy khả năng hạn chế của Hoa Kỳ trong việc uốn nắn dạng hình thế giới theo ý mình muốn hoặc theo khuôn mẫu mình đưa ra. Ðây cũng chứng minh khả năng hạn hẹp của một chính quyền không thấy trước hệ quả khá rõ rệt của những gì mình nghĩ và làm.

Qua cuộc tấn công rầm rộ, chớp nhoáng và “ngoạn mục” lực lượng siêu đẳng của Hoa Kỳ đã đè bẹp và giải giới quân lực Iraq, dẹp bỏ chính quyền Saddam Hussein cùng đảng Baath của Saddam. Nhưng những nổi dậy liên tục chống lại cuộc chiếm đóng của Hoa Kỳ bởi đủ mọi giới và phe phái từ trong Iraq (như giáo phái Sunni thiểu số, giáo phái Shiite đa số, các hệ phái trong hai giáo phái) cho tới ngoài nước (như Iran, al-Qaeda, người Thánh chiến Hồi Giáo Jihadist) thành bận tâm chính của Hoa Kỳ. Cộng với các chính quyền Iraq bất lực, tham nhũng do Hoa Kỳ giúp dựng lên, tất cả đã vô hiệu hóa những nỗ lực làm ổn định tình trạng an ninh, chính trị và kinh tế ở đây. Tổng Thống Bush ra lệnh “đôn quân” vào Iraq năm 2007 nhằm “mua thời gian” làm chậm lại tình trạng hỗn loạn không cứu vãn nổi và cái đà đi vào nội chiến với vận tốc gia tăng. Ðây cũng tạo cơ hội cho chính quyền dàn xếp các điều đình rút lui ra khỏi Iraq cho năm sau-2008, trùng với năm chót nhiệm kỳ cuối của Tổng Thống Bush. Cái giá cho cuộc chiến, như đã trình bày trong bài trước, đã quá đắt ( thương vong Mỹ lẫn Iraq cả trăm nghìn người; khoảng $1.5 nghìn tỉ đã và còn cần; “khoảng trống quyền lực” ở Iraq bị chính quyền Iran hung hăng và đầy tham vọng trám vào; nghi ngờ và oán hận của người Hồi Giáo gia tăng) so với thành quả hầu như không là mấy.

Trong diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ nhì Tổng Thống Bush đã cao giọng không khác mấy các “kiện tướng” thời Chiến Tranh Lạnh (“Cold Warriors,” của hơn bốn thập niên) tuyên bố Hoa Kỳ sẽ ủng hộ “những phong trào và định chế dân chủ ở mọi nước và mọi văn hóa, với mục tiêu tối hậu là chấm dứt độc tài chuyên chế trên thế giới.” Ðây rất là cao cả và đáng ngợi ca, nhưng thực tế nước lửa tàn khốc kéo dài ở Iraq và tình trạng chính quyền bất lực, tham nhũng liên miên, đặt bên cạnh quyết định ra khỏi Iraq của tổng thống mang nhiều nét chua chát và oái oăm. Thậm chí, đối diện với tình trạng này vài năm trước, giới quan sát chính trị đã đưa ra nhận xét có lẽ Iraq cần một thứ “người hùng” hay nhà độc tài với kích thước Saddam Hussein (dĩ nhiên phải bớt phần “khát máu” đi) mới “khá” được. Ông Brownstein ghi nhận cuộc chiến đẫm máu kéo dài ở Iraq cho thấy “những hiểm nghèo của ước vọng quá cao, và mối nguy khi cứu cánh không đi cùng với phương tiện và mục tiêu tách biệt hẳn với khả năng.” Iraq, qua lời Giáo Sư Joseph Nye thuộc viện Ðại Học Harvard, cho ta thấy “không một đại cường quốc nào có thể thực hiện tất cả những gì mình muốn.” Dĩ nhiên chính quyền Bush đã không nghĩ như vậy, và đây cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên nhìn theo chiều lịch sử.

Từ thế kỷ 19, khi Hoa Kỳ trở thành đại cường trên thế giới, chính sách ngoại giao đưa đẩy qua lại như quả lắc đồng hồ giữa hai khuynh hướng nổi bật và đối nghịch nhau. Khuynh hướng thứ nhất là can thiệp vào thế giới chung quanh Hoa Kỳ (interventionism) nhằm bảo vệ quyền lợi mỗi ngày một rộng lớn và “sinh tử” của mình như một đại cường, siêu cường và rồi siêu cường độc nhất thế giới. Rõ rệt là chính quyền Bush đã chọn lựa khuynh hướng “can thiệp” này khi đi vào Iraq và nhiều nơi khác. Thứ hai là chọn lựa cô lập (isolationism) đã được chấp nhận từ thời lập quốc như một nước mới mẻ tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Về sau này, chọn lựa “isolationism” cũng thành phản ứng ngược lại khuynh hướng “interventionism” mỗi khi can thiệp vào thế giới bên ngoài thất bại hay không đạt nhiều kết quả mong muốn. Vậy thì sau thất bại ở Iraq, đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ với Tổng Thống Obama có thể quay trở về chu kỳ “cô lập” chăng? Sau Iraq đa số người Mỹ, tuy có chán ngán vẫn không đồng ý với nhận xét rằng khả năng kiểm soát, chi phối và ảnh hưởng những thay đổi và biến chuyển trên thế giới của Hoa Kỳ đã bị hạn chế nhiều. Do đó có thể nói khuynh hướng “can thiệp” còn rất mạnh - và điều này khó thay đổi vì Hoa Kỳ hiện nay vẫn là siêu cường “độc nhất” trên thế giới với những quyền lợi, khả năng và vai trò lớn lao mà nhiều nước đặt kỳ vọng vào.

Tổng Thống Obama cũng không hề tỏ ra mình đi theo chọn lựa “cô lập,” ông liên tục kêu gọi quân bằng khả năng của Hoa Kỳ với những hứa hẹn, gắn bó với nước ngoài, sắp xếp ưu tiên những mục tiêu của Hoa Kỳ, và mời đón nhiều nước ngoài tham gia vào việc xây dựng một trật tự thế giới an toàn và ổn định hơn. Một trong những mục tiêu an ninh quốc gia quan trọng ông đề ra là giảm thiểu những cái giá Hoa Kỳ phải trả cho chính sách ngoại giao và quân sự của mình để đây không gây tác hại vào kinh tế trong nước. Trong diễn văn về Iraq ông đã trình bày khá rõ ràng: “Sức mạnh và ảnh hưởng ở ngoài nước của chúng ta phải gắn liền vào phồn thịnh trong nước. Chẳng may thay, thập niên vừa qua chúng ta đã không làm những gì cần thiết để củng cố nền móng cho phồn thịnh trong nước.” Ngoài ý qui trách nhiệm vào tổng thống đi trước, ông muốn xác định từ nay mọi quyết định về quân sự và ngoại giao - như chiến tranh, quân số cần thiết, ngân sách quốc phòng chẳng hạn - sẽ được xem xét gắt gao, kỹ càng dựa trên căn bản giá cả phải trả về mặt kinh tế. Có thể nói chính quyền ông sẽ một mặt “can thiệp” bằng vũ lực ở một nơi nào đó, một mặt tính toán kỹ lưỡng về phí tổn phải trả. Và Hoa Kỳ tiếp tục xiển dương tự do, dân chủ hay nhân quyền - nếu cái giá không quá đắt đỏ và quyền lợi kinh tế không bị đe dọa.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

THÔNG TIN MỚI, CHÍNH THỨC CỦA NASA

Người dịch: PHẠM VIẾT ĐÀO.

Các quan chức NASA đã chính thức thông báo, năm 2013 trái đất của chúng ta sẽ bị chấn động bởi một vụ nổ mặt trời do bởi nguyên nhân: mặt trời đã đạt tới cực đại của sự vận động nội tại của nó.
Vụ nổ này sẽ gây nên những thảm họa điện từ cho toàn thế giới. Tất cả các vệ tinh do con người phóng lên vũ trụ sẽ bị tê liệt, tất các các chuyến bay sẽ bị hủy bỏ, các máy phát điện sẽ nóng lên và toàn thế giới có khả năng sẽ chìm trong bóng tối.
Theo The Telegraph, các chuyên gia của NASA đã cho biết: Một cơn bão mặt trời siêu mạnh có khả năng gây nên những thảm họa lớn nếu con người không chuẩn bị có hình thức ứng phó.
Cơn bão mặt trời tạo nên những cơn song điện từ đến một cách bất ngờ như những tia chớp, có khả năng phá hủy bất cứ dụng cụ điện nào. Như vậy sẽ dẫn tới hệ thống an ninh của các quốc gia sẽ bị tê liệt trong một thời gian không xác định, hệ thống ngân hàng sẽ không hoạt động.

“ Chúng tôi biết thảm họa này đang tới gần nhưng không lường được hậu quả xấu của nó gây ra đến đâu. Tất cả các hệ thống thong tin liên lạc vệ tinh sẽ bị phá hủy hoàn toàn; các vệ tinh thám không sẽ bị hư hại và hệ thống máy tính toàn thế giới sẽ bị phá hỏng. Nhiều vùng đất sẽ không có điện…” Đó là tuyên bố của Giám đốc Cơ quan nghiên cứu mặt trời của NASA: Tiến sĩ Richard Fisher.
Trong cơn bão mặt trời, nhiệt độ của mặt trời sẽ vượt quá 5.500 độ bách phân…

( Nguồn:http://www.adevarul.ro/actualitate/VIDEO-NASA


TIN KHỦNG: CHÂU ÂU CÓ KHẢ NĂNG SẼ BỊ HỦY DIỆT VÀO NĂM 2013

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Mời góp ý kiến, rồi bịt mồm mọi người, bịt tai mình, thế là kính trọng dân chủ ư?

Bùi Tín
Bộ Chính Trị đảng CS Việt Nam vừa trịnh trọng ra lời kêu gọi toàn dân góp ý vào 3 văn kiện dự thảo sẽ trình Ðại Hội XI. Ba văn kiện này được công bố từ ngày 15 tháng 9, 2010, gồm Dự thảo Cương lĩnh thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Bản báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2010-2020. Cuộc góp ý sẽ thực hiện từ 15 tháng 9 đến 31 tháng 10, 2010.

Ði cùng lời kêu gọi là bản hướng dẫn ngày 10 tháng 9, 2010 của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng, hướng dẫn ngành thông tin báo chí về việc đưa tin toàn dân góp ý kiến, có đoạn nguyên văn như sau:

“Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Ðảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác-Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Ðảng, những vấn đề cần giữ bí mật về quốc phòng, an ninh đối ngoại, những ý kiến đả kích cá nhân hoặc tổ chức đảng, cơ quan nhà nước.”


Thật là lịch sự! Thật là tử tế!


Thế nghĩa là một mặt Bộ Chính Trị ra lời trịnh trọng mời góp ý kiến, nhưng lại cho cơ quan tuyên huấn dưới quyền mình rào đón, ngăn chặn trước, giao hẹn cho toàn dân không được tỏ ý phản đối, bác bỏ, phê phán những gì thuộc về chủ trương, đường lối, quan điểm của đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Ðảng Cộng Sản...

Vì sao vậy? Gần đây, ngày càng có những ý kiến của các nhân sỹ lão thành, các đảng viên có 50 năm, 40, 30 năm tuổi đảng, nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cả cựu ủy viên Bộ Chính Trị, cựu ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương, cựu ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, đưa ra hàng loạt ý kiến, trúng phắp vào những điều cấm kỵ trên đây.

Ðó là yêu cầu từ bỏ khái niệm chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ khái niệm chủ nghĩa xã hội (kiểu Mác-Lênin), từ bỏ ý tưởng nền dân chủ - độc đảng, yêu cầu thay chủ nghĩa Mác-Lênin bằng chủ nghĩa dân tộc, thay danh xưng Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bằng danh xưng Nước Việt Nam, hay Nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam; đổi tên Ðảng Cộng Sản Việt Nam thành Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, hay Ðảng Dân Chủ Nhân Dân, hay Ðảng Dân Tộc, hay Ðảng Xã Hội-Dân Chủ Việt Nam... với những lý lẽ và lập luận chặt chẽ, xác đáng.

Hàng loạt chủ trương lớn cũng được góp ý rất chân thành, như từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa vì khái niệm này còn rất mơ hồ, không cụ thể, không nên coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo vì các tập đoàn kinh tế quốc doanh phần lớn làm ăn thua lỗ, còn phá sản, do được quá o bế, nuông chiều, tha hồ vay mượn ngân hàng nhà nước, trong khi kinh tế cá thể vừa và nhỏ của tư nhân bị phân biệt đối xử, rẻ rúng, chèn ép; như yêu cầu trao trả hẳn quyền sở hữu ruộng đất cho các hộ nông dân thực sự làm ruộng; hoặc như yêu cầu từ bỏ chế độ độc quyền cai trị của một đảng duy nhất, vì chế độ độc đảng không có kiểm soát, không có cân bằng, không có lựa chọn, thay thế, một mình một chiếu không thể có nền pháp trị nghiêm minh, không thể có dân chủ thật sự, không thể chống tham nhũng cửa quyền có hiệu quả.

Lại còn những chủ trương đã rõ ràng là sai lầm tệ hại như chủ trương “mời” ông bạn “vàng” của họ vào Tây Nguyên khai thác bauxite, vào đánh cá chung trong Vịnh Bắc Bộ, vào trồng rừng dọc biên giới; rồi chủ trương xây dựng khu kinh tế lọc dầu Dung Quất, lại còn chủ trương huênh hoang phát triển Vinashin thành ngành đóng tầu viễn dương mũi nhọn danh tiếng nhất Châu Á (!)...;rồi chủ trương che giấu cả Trung Ương Ðảng và Ðại Hội X Bản báo cáo liên ngành tuyệt mật về vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II, mà yêu cầu trong đảng phải đưa ra rõ ràng công khai trong dịp này, ngay trong Ðại Hội XI, họ sẽ ăn nói sao đây? Lờ đi mãi được à? Bịt mồm hàng triệu đảng viên được à?

Có thể nói những góp ý quan trọng nhất, then chốt nhất, có tác dụng từ bỏ sai lầm, đưa đất nước vào con đường đúng đắn, nhằm phát triển đất nước vững bền, xây dựng xã hội tiến bộ, bình đẳng, văn minh... là đều liên quan đến chủ trương, đường lối, quan điểm của đảng.

Không phải ngẫu nhiên mà có đảng viên hơn 30 năm tuổi đảng yêu cầu từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin tệ hại, nếu không sẽ đốt thẻ đảng viên trước đông đảo thanh niên nhằm cảnh tỉnh những thế lực bảo thủ lạc hậu tàn phá đất nước.

Ðã có nhiều trí thức, chuyên gia, nhà báo, cư dân bloggers, văn nghệ sĩ lên tiếng yêu cầu sửa Hiến Pháp, đề xướng và thực thi đầy đủ quyền làm người, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do bầu cử, xây dựng xã hội công dân thật năng động rộng khắp, lấy dân chủ pháp trị đa đảng làm nền tảng, đã được thực nghiệm mấy thế kỷ nay và ngày càng hoàn thiện trên quy mô toàn thế giới.

Ðã có những trí thức tâm huyết thét lớn rằng: xây dựng nền dân chủ đa đảng trong hòa bình và luật pháp là mệnh lệnh của thời đại!

Cũng có lời hô hào đầy nghị lực và tâm huyết, mang tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: xây dựng chế độ dân chủ đa đảng trong hòa bình và pháp luật nhằm khơi dậy tiềm năng vô tận về mọi mặt của toàn dân, hay là chết!

Từ nay đến cuối tháng 10, 2010 sẽ xuất hiện thêm nhiều góp ý, kiến nghị phong phú, có giá trị.

Không thể coi thường công luận, khinh thường công dân để một mặt Bộ chính trị mời toàn dân phát biểu, lại để cho ngành tuyên huấn ra hướng dẫn đe nẹt, bịt mồm trước mọi tiếng nói ngay thật, có chiều sâu trí tuệ và tâm huyết.

Lãnh đạo đất nước không thể thiếu kính trọng, thiếu dân chủ với toàn dân như thế được.

Ðể xem trên báo chí, trên đài phát thanh, trên vô tuyến truyền hình, trên diễn đàn quốc hội, hàng triệu ý kiến góp ý với Ðại Hội XI sẽ được phản ánh “trung thực, khách quan, đầy đủ” ra sao, hay vẫn là thói xấu xa dại dột chỉ phô ra những lời khen, tâng bốc, giấu kỹ mọi ý kiến trái chiều.

Vậy thì các tấm lòng tha thiết với vận nước sẽ tha hồ có dịp tìm đọc những ý kiến hay ho, những kiến nghị có giá trị cao, có lập luận chặt chẽ, những sáng kiến cứu nước bổ ích trên các mạng lề trái, trên các blog tự do mà cường quyền vẫn một mực sợ ánh sáng của sự thật không thể nào cản phá nổi.

Ðảng cộng sản thường đề cao tự phê bình, coi tiếp thu phê bình, sửa chữa sai lầm như rửa mặt. Trong dịp Ðại Hội XI, chẳng lẽ lãnh đạo đảng lại không chịu rửa mặt, còn tỏ ra thiếu kính trọng, thiếu dân chủ với toàn dân, mời dân góp ý, rồi bịt tai mình lại, bịt mồm toàn dân không cho dân quyền nói thật. Qua đại hội, qua việc mời toàn dân góp ý kiến kỳ này, có vẻ như họ vẫn tự trưng ra bộ mặt còn khó coi hơn trước nữa.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cuộc chiến trong lòng Nhà Trắng Một số quan chức cao cấp trong đội ngũ phụ trách an ninh của chính quyền Mỹ hoài nghi chiến lược chiến tranh của tổng thống, và đã mất 20 tháng qua để tranh cãi, một cuốn sách sắp xuất bản tiết lộ. Cuốn sách mang tên "Những cuộc chiến của Obama" do nhà báo Bob Woodward viết, khắc họa một chính phủ đang bị chia rẽ sâu sắc vì cuộc chiến Afghanistan,
ngay cả khi Tổng thống Mỹ quyết định tăng gấp ba quân số ở chiến trường. Trong chính phủ có một số người ngờ rằng ông đi đến quyết định này là do sức ép của quân đội. Cố vấn cấp cao nhất của Obama về Afghanistan, cùng đặc sứ của tổng thống tại khu vực này, đều được cho là hoài nghi sự thành công của chiến lược.

Ngay từ đầu cuốn sách, Tổng thống Obama đã được trích lời: "Tôi đã mất hai năm với công chúng về vấn đề này", và yêu cầu các cố vấn đưa ra cách nào để khỏi phải leo thang cuộc chiến. "Tôi muốn có chiến lược rút quân", ông nhấn mạnh trong một cuộc họp. Nói riêng với Phó tổng thống Biden, ông muốn người phó của mình đưa ra chiến lược tại các cuộc họp nhằm phản đối việc tăng quân. Bản thân Obama không chỉ phản đối tăng quân, mà còn đặt ra lịch trình rút binh sĩ, bởi "tôi không thể mất cả đảng Dân chủ".

Biden không phải là người duy nhất nghi ngờ chiến lược đối với Afghanistan. Theo cuốn sách, Trung tướng Douglas E. Lute, cố vấn của tổng thống về Afghanistan, cho rằng việc nghiên cứu của tổng thống đã không dẫn đến quyết định của ông. Richard C. Holbrooke, đặc sứ của tổng thống ở Afghanistan và Pakistan, nói rằng chiến lược hiện nay "không thể thành công".

Woodward, phóng viên và biên tập viên lâu năm của tờ Washington Post, được quyền tiếp cận đặc biệt với các quan chức cũng như tài liệu của chính phủ, kể cả phỏng vấn Obama. Tờ NYT có được bản sao cuốn sách trước khi nó được xuất bản vào tuần sau.

Mặc dù sự bất đồng trong chính phủ về chiến lược đối với Afghanistan không xa lạ với công chúng, cuốn sách hé lộ rằng các cuộc tranh cãi ngày càng căng thẳng hơn trước, và cho độc giả biết nhiều chi tiết mới. Phó tổng thống Mỹ Biden từng gọi ông Holbrooke là "kẻ ngoan cố và tự đại nhất mà tôi từng biết". Rất nhiều quan chức chính phủ tỏ sự bất bình với James L. Jones, viên tướng thủy quân lục chiến đã nghỉ hưu và là cố vấn an ninh quốc gia. Đáp lại, ông này mô tả một số trợ lý của tổng thống là "những con bọ gậy" hay "một bộ sậu chính trị".

Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, nghĩ rằng vị phó của ông - tướng James E. Cartwright - toàn núp sau lưng ông; trong khi đó thì tướng Cartwright bỉ bai đô đốc Mullen không phải lính chiến. Bộ trưởng Quốc phòng Robert M. Gates lo ngại rằng tướng Jones sẽ được kế nhiệm bởi viên phó của ông ấy là Thomas E. Donilon - "một thảm họa".

Tướng David H. Petraeus, tổng tư lệnh khu vực Trung Đông và mới hè này trở thành tư lệnh chiến trường Afghanistan, từng nói với trợ lý của ông rằng ông không thích nói chuyện với cố vấn cao cấp của tổng thống David M. Axelrod, bởi ông ta "chuyên đơm đặt chuyện".

Cuốn sách cũng tiết lộ những sự cố giữa Đô đốc Dennis C. Blair, khi đó là giám đốc tình báo quốc gia, với Rahm Emanuel, chánh văn phòng Nhà Trắng, và John O. Brennan, cố vấn chống khủng bố của chính phủ.

Trong một cuộc họp của giới tình báo tháng 5/2009, ông Blair cảnh báo với tổng thống rằng những phần tử cực đoan có hộ chiếu Mỹ và châu Âu đang được huấn luyện ở Pakistan để tấn công chính đất nước của họ. Ông Emanuel đập lại rằng "Ông chỉ cố làm sao để nói rằng ông chẳng có sai lầm gì". Blair cũng từng xích mích với cố vấn Brennan về bản báo cáo trong vụ khủng bố bất thành nhằm vào máy bay Mỹ hôm Giáng sinh. Sau sự kiện đó, Obama cho Blair nghỉ việc.

Ngoài những trận chiến trong chốn thâm cung Nhà Trắng, cuốn sách còn tiết lộ rằng CIA có một đạo quân bí mật đến 3.000 người, chuyên săn lùng và tiêu diệt các thành viên Taliban ở Afghanistan. Thái độ không ổn định của tổng thống Afghanistan Hamid Karzai cũng là một thử thách đối với chính phủ của Obama.

Về bản thân Tổng thống Mỹ, cuốn sách mô tả ông Obama là một nhà lãnh đạo đầy chất giáo sư thường giao bài tập cho các cố vấn, và xù lông trước những gì mà ông cho là nỗ lực của các viên tư lệnh quân sự muốn ép ông đi đến quyết định mà ông không ưa. Thậm chí sau khi Obama đã gửi 30.000 quân đến Afghanistan năm ngoái, Lầu Năm góc còn đòi thêm 4.500 người nữa để hỗ trợ đội quân trên.

Tổng thống không giữ được bình tĩnh, cuốn sách tiết lộ. "Tôi đã làm rồi đấy thôi!", ông cắt ngang lời đòi hỏi.

Sự trăn trở của Obama với quyết định tăng quân này có thể thấy được qua đối thoại giữa ông với thượng nghị sĩ Lindsey Graham, người đặt câu hỏi là liệu lịch trình rút quân từ năm 2011 mà tổng thống đưa ra có chắc chắn hay không. "Tôi phải nói rằng", Obama đáp, "tôi không thể để cuộc chiến này kéo dài mãi".

Thanh Mai (lược dịch từ NYT)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Học cách giết người của Mao

Ngô Nhân Dụng
Nói đến văn hóa, chúng ta thường nghĩ tới những điều lớn lao như tư tưởng, triết học, cách giáo dục, cách tổ chức xã hội, vân vân. Nhưng đời sống văn hóa hai dân tộc khác nhau được thể hiện trong cách sống hàng ngày, cách người ta chào hỏi nhau, ăn uống với nhau, chúc mừng, biếu xén nhau, vân vân. Văn hóa khác nhau, trong cách sống, cách chết, ngay cả cách giết người cũng khác nhau.

Văn hóa Việt Nam xưa nay biểu lộ những quan niệm về sống, chết khác hẳn người Trung Hoa. Nhưng phải thú nhận phong cách giết người của nước mình rất thô sơ, chưa bao giờ nhiều sáng kiến phong phú như bên Trung Quốc. Tiểu thuyết Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn cho rất nhiều thí dụ về các kỹ thuật độc đáo của người Trung Hoa trong việc tra tấn người đến chết. Trong lịch sử còn ghi những chuyện thật, không hư cấu. Ðời Võ Hậu nhà Ðường, Tố Nguyên Lễ đã sáng chế ra các khí cụ và phương pháp tra tấn gọi tên là Lồng Sắt và Phơi Cánh. Không có tài liệu mô tả các hình cụ đó thế nào, nhưng các quan trong triều chỉ nghe thấy đã rùng mình. Nguyên tắc của hình quan là hễ bắt một người thì phải làm sao cho hắn phải khai ra hàng chục người khác để trị tội. Tố Nguyên Lễ đã dùng phương pháp dây chuyền này xử tử hình cả nghìn người. Một người kế vị ông ta là Lai Tuấn Thần, đã phát minh ra những cách tra tấn kỳ diệu hơn và giết nhiều người hơn nữa. Khi tên này bị Thái Bình Công Chúa phản công bắt giết, kẻ thù khắp nơi mừng rỡ. Họ chờ sẵn để được băm vằm cái xác hắn ta rồi “tranh nhau róc thịt, chốc lát thi thể chẳng còn gì nữa.” “Chốc lát!” Chỉ có sử gia Trung Quốc mới có hai chữ thần tình như thế. Việt Nam không có những viên quan giết nhiều người bằng các phương pháp độc đáo để dân phải oán hận như vậy, vì văn hóa nước mình khác.

Cái nguy bị nhiễm “văn hóa giết người” bắt đầu từ khi Hồ Chí Minh mời các cố vấn Trung Quốc Vĩ Ðại vào nước ta thực hiện chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Giữa thế kỷ 20, người Việt Nam mình cũng học và áp dụng cách giết người rất tàn bạo nhờ học các cố vấn Tầu. Thí dụ, trong cuộc cải cách ruộng đất, người Việt chôn sống đồng bào mình, chôn đứng chỉ để hở cái đầu, rồi cho trâu kéo cày đi qua lại nhiều lần, đến lúc nạn nhân chết mới thôi. Thi sĩ Hữu Loan, tác giả Mầu Tím Hoa Sim đã kể chuyện này, nếu không chắc nhiều người không tin cảnh đó có thật. Chính song thân bà vợ của Hữu Loan đã bị giết như thế. Hai cụ từng được phong làm địa chủ cứu quốc; nhiều lần đã chở gạo nuôi bộ đội Sư Ðoàn 304 của ông, cho nên thi sĩ biết ơn. Khi hai cụ bị giết, Hữu Loan đã cưu mang người con gái của họ, nếu không chắc cô ta sẽ chết đói. Sau ông lấy cô làm vợ mặc dù lấy con địa chủ thì phải ra khỏi đảng, bị mất hết các quyền lợi của đảng viên.

Những cách giết người mới mẻ, như chôn người ta xuống giết bằng lưỡi cày, chắc là do các cố vấn Trung Cộng giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong thời Cải Cách Ruộng Ðất. Người Việt mình khó có ai nẩy ra được những sáng kiến như thế. Cũng như người mình phải học trong sách Tầu mới biết những món ăn, như múc óc khỉ còn sống ra, ăn ngay trên bàn. Người mình không ai nỡ đối xử với loài vật hay với con người ác độc như vậy. Giết một mạng người cũng là ác quá rồi; chớ đừng nói trước khi giết còn hành hạ, tra tấn người ta bằng lưỡi cày!

Ở bên Tầu thì khác. Họ là một quốc gia rộng lớn, vĩ đại, đông dân; người vùng này có khi coi người vùng kia như là dân khác giống. Mao Trạch Ðông đã nói nếu chiến tranh làm chết mất một nửa thì dân số Trung Hoa cũng vẫn còn đông nhất thế giới. Ðối với Mao, nhân dân chỉ là một con số, giết một mạng người đâu nghĩa lý gì. Các vua quan Việt Nam có đời nào nghĩ về dân, nói về dân mình như thế hay không? Trước thời cộng sản, chưa thấy có.

Việc nhập cảng một phương pháp giết người, số người bị giết không quan trọng bằng hậu quả, là hành động giết người tàn nhẫn đã thay đổi quan niệm của dân. Cách người ta nhìn giá trị một con người, về mạng sống một cá nhân đã thay đổi sau khi được chứng kiến các cảnh giết chóc mới. Nó thay đổi đến cách chúng ta nhìn vào mặt nhau, như những con người, như đồng bào. Chúng ta đã thấy xã hội mình có thay đổi thật sau khi được huấn luyện nuôi lòng căm thù, theo chủ trương của Mao.

Lòng căm thù phải được thổi lên và nuôi dưỡng bao nhiêu lâu mới khiến con người trở thành lạnh lùng, sẵn sàng giết đồng bào và chứng kiến cảnh giết người như thế? Cái tâm của người Việt đã thay đổi đến mức nào thì mới tổ chức được những cuộc giết người độc đáo y như bên Trung Quốc vậy?

Cứ nhìn các phương pháp giết người mới, Tâm con người phải thay đổi. Con người nhìn lẫn nhau không còn thấy đó là những người làng, những hàng xóm, anh em. Họ được huấn luyện chỉ còn nhìn thấy đó là những đối tượng đấu tranh, căm thù.

Bởi vậy, học giết người theo lối Trung Cộng, người Việt sẽ dần dần cũng bị đồng hóa theo nếp sống, nếp suy nghĩ và nếp tình cảm của cán bộ Trung Cộng. Cuộc đồng hóa diễn ra theo một quá trình được hoạch định rất quy mô, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn. Cả một đội ngũ văn nghệ sĩ được lệnh làm thơ dạy bảo người Việt Nam “chưa biết căm thù thì chưa biết yêu thương.” Ý kiến đó trái ngược hẳn với những lời dạy của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi.

Ðó là một vấn đề văn hóa. Cứ hỏi tại sao nền nếp đạo lý của nước mình bây giờ bị tàn hoại, trẻ em cũng biết ăn cắp, biết trấn lột lẫn nhau. Chỉ vì người lớn đã chấp nhận nô lệ về văn hóa từ hơn nửa thế kỷ trước. Học tập Mao chủ tịch trong cách giết người của văn hóa Trung Hoa là nô lệ văn hóa nước bạn láng giềng. Nó khiến người Việt Nam nhìn nhau theo lối người Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều lúc họ phải nhìn nhau như thù địch, như súc vật. Vì những điều kiện địa lý, kinh tế của họ khác hẳn hoàn cảnh nước mình.

Trong lịch sử Trung Quốc có những vụ giết người “vĩ đại” không thể nào xảy ra ở Việt Nam được. Thí dụ như Tướng Bạch Khởi nước Tần, tỉnh Thiểm Tây bây giờ. Chủ trương quân sự của Bạch Khởi (không rõ năm sanh, chết năm 257 trước Công nguyên), là châm ngôn “Tận địch vi thượng” trong Chu Ngữ. Câu này nghĩa là “Giết hết quân địch là mưu lược cao nhất.” Trong cuộc đời chiến tranh 37 năm, Bạch Khởi đã chỉ huy 10 chiến dịch lớn, chiếm 70 thành trì, san bằng các nước Hàn, Ngụy, Triệu, Sở, mở rộng biên giới nước Tần, chuẩn bị cho việc thống nhất nước Trung Hoa.

Năm 293 (trước Công nguyên), Bạch Khởi đem quân đánh liên quân Hàn và Ngụy. Tuy số quân bên địch đông gấp đôi, Bạch Khởi biết nhược điểm của họ là chia rẽ. Ông đánh quân Ngụy trước rồi đánh Hàn sau, giết chết 240,000 binh sĩ địch. Nhưng trận đánh tàn bạo nhất là trận Trường Bình (Chang Ping), năm 260 ở nước Triệu. Quân Tần vây thành Thượng Ðẳng ba năm không đánh được, đã dùng kế ly gián khiến vua Triệu cách chức tướng giỏi Liêm Pha, đưa tướng dốt Triệu Quát ra chỉ huy. Bạch Khởi được bí mật đưa tới mặt trận, đã dùng kế dụ cho Triệu Quát khinh địch tấn công trước. Rồi hai cánh quân Tần xông ra cắt ngang quân Triệu. Quân Triệu phải kép lên cao cố thủ, Bạch Khởi ra lệnh quân Tần “chỉ vây mà không đánh.” Quân Triệu bị vây hãm 46 ngày, hết lương thực, hết nước uống, ăn thịt, uống máu lẫn nhau. Triệu Quát liều mạng phá vòng vây, bị trúng tên chết trong đám loạn quân. Toàn bộ quân Triệu phải đầu hàng. Bạch Khởi đã chọn 240 trẻ vị thành niên trong đám hàng binh, thả cho về nước để gieo kinh hoảng. Số còn lại, tất cả bị chôn sống. Trong trận này quân Triệu thiệt hại tổng cộng 450,000 người, quân Tần chết khoảng trăm ngàn. Ðó là chủ trương “Tận địch vi thượng.”

Làm sao một người có thể quyết định chôn sống hàng trăm ngàn hàng binh trong một đêm? Muốn đang tâm làm việc đó, phải là những kẻ không coi các “đối tượng” là những con người giống như mình nữa. Chắc phải “đối tượng hóa,” nhìn người ta như là dê, cừu, gà, lợn, hay thấp hơn cả súc vật. Khi Ðặng Tiểu Bình ra lệnh xe tăng tiến vào Thiên An Môn bắn chết các sinh viên tay không đi biểu tình năm 1989, ông ta cũng phải có tấm lòng sắt đá lạnh lùng như Bạch Khởi. Cả hai đều có trong tay một bộ máy giết người để sử dụng, đám quân sẵn sàng tuân lệnh, không suy nghĩ.

Hạng Vũ khi vào kinh đô Hàm Dương nước Tần (206 trước Công nguyên). Muốn trả mối thù ngày xưa đã tới đây bán cơ bắp kiếm việc làm và bị sỉ nhục, Vũ bắt quan, dân, lính tráng, cung phi nước Tần làm nô lệ cho đám lính người Sở của mình. Nghe đồn dân Tần oán thoán, sợ chúng nổi loạn, Hạng Vũ ra lệnh giết 200 ngàn hàng binh, trừ hậu hoạn, đốt sạch kinh thành. Người nước Tần với người Sở nói tiếng khác nhau, y phục khác nhau, điệu hát cũng khác nhau; khi lòng thù hận nổi lên thì không những họ coi nhau như kẻ thù mà còn có thể nhìn người nước kia không khác gì cầm thú. Giết mà không ớn tay. Các lãnh tụ tài giỏi biết khích động lòng căm thù trong đám quần chúng theo mình, thì dễ thành công trong chiến trận.

Những kẻ giết người đều có lý do để tự biện minh. Nhưng trên căn bản, họ phải là những kẻ coi khinh mạng sống, coi khinh nhân loại. Mạng người rẻ quá, có lẽ vì họ vẫn nhìn chung quanh, thấy đông người quá. Cứ vài thế hệ nước Trung Hoa lại bị một trận mất mùa đói kém chết hàng loạt. Bọn vua quan không bị đói bao giờ cho nên không lo ngăn ngừa trước để dân tránh nạn đói. Nhiều miệng ăn mà thực phẩm thì có giới hạn, thức ăn có khi quý hơn mạng người. Giết người để cướp một nắm cơm cũng phải giết. Ðời Ðường, thành Thương châu bị vây hãm. Một đấu gạo giá 3 vạn quan tiền. Giết được một tên địch, cắt đầu đem nộp thì được thưởng một vạn quan. Ba cái đầu mới đong được một đấu gạo. Sống mãi như vậy thành quen, chết như vậy mãi cũng thành quen. Suốt dọc lịch sử nước Trung Hoa có những cuộc tàn sát vô lý mà người Việt Nam không thể nào hiểu nổi. Chắc chắn không ai bắt chước làm như họ được, trừ khi cứ nhắm mắt nghe theo lời cố vấn vĩ đại.

Ðời Ðường, Hoàng Sào đi thi không đậu, đi bán muối lậu bị bắt phải hối lộ bọn tham quan mới thoát chết. Nổi lên làm loạn, khi Hoàng Sào chiếm kinh đô Trường An năm 880, đã tàn sát hết bọn tôn thất họ Lý của nhà Ðường, và gia tộc tất cả các quan lại. Lòng thù hận ghê gớm như thế. Cuối đời Minh chế độ sắp tan, Trương Hiến Trung đánh thành Lục An mãi không thắng, giận lắm. Ðến khi chiếm được thành (năm 1642) ông ra lệnh giết hết dân chúng. Dân kêu oan, vì họ đã bị cưỡng bách phải giữ thành chứ họ không muốn chống cự. Hiến Trung giảm tội cho, ra lệnh chặt tay tất cả, đàn ông chặt tay trái, đàn bà chặt tay phải. Cả thành phố Lục An toàn người cụt tay. Năm sau, Trương Hiến Trung tấn công chiếm Vũ Xương. Tất cả những người dân còn sống được tập họp ở bờ sông, sai lính cưỡi ngựa xua đẩy dân xuống sông Trường Giang, cho chết đuối hết. Xác người lềnh bềnh, suốt mấy tháng trời không ai dám ăn cá

Tất nhiên mỗi lần muốn giết 100 ngàn người thì kỹ thuật thời đó đòi hỏi phải có hàng chục ngàn người đồng tình tham dự việc giết chóc mà không gớm tay. Kỳ Ngạn Thần, kể lại chuyện này trong cuốn “Người Trung Quốc, những hiểu lầm lịch sử” đã nhận xét là vụ tàn sát cả thành phố Vũ Xương này còn kinh khủng hơn cuộc đại thảm sát do quân Nhật gây ra ở Nam Kinh vào thế kỷ 20. Mà ở Vũ Xương lại là người Trung Hoa giết người Trung Hoa đấy.

Trong thế kỷ 20, người Trung Hoa vẫn giữ được thói quen giết người tập thể. Tác giả Giải Tư Trung, trong cuốn viết về “Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân” kể lại rằng trong thời Ðại Cách Mạng Văn Hóa, tháng 8 năm 1966 ở huyện Ðại Hưng, bên ngoài thành phố Bắc Kinh, có 325 người đã bị chôn sống giữa ban ngày, gồm những người được gán nhãn hiệu “phần tử loại bốn” cùng với thân nhân; tổng cộng 22 gia đình; người già nhất 80 tuổi, trẻ nhất là một em bé mới ra đời được 38 ngày! Ở huyện Ðạo tỉnh Hồ Nam, trong 2 tháng có 4,193 người bị giết oan, do “hành động tự phát” của “quần chúng cách mạng.” Người Việt mình chịu thua.

Chúng ta không thể vì những vụ tàn sát kể trên mà nói rằng người Trung Hoa tàn ác hơn người Việt; cũng như không thể nói người Ðức đều ác độc căn cứ vào những vụ Ðức Quốc Xã tàn sát người Do Thái. Ðiều mà chúng ta có thể nhìn nhận là các bạo chúa, ở Ðức hay ở Trung Quốc, đều biết kích thích lòng hận thù của đám đông, thúc đẩy cho thú tính nổi dậy, gây ra tội ác tập thể. Một điều có thể nhận thấy nữa, là trong lịch sử Trung Quốc xảy ra nhiều vụ thảm sát; có lẽ bởi vì nước họ đông người quá, người cùng nước nhưng ở xa nhau là khác cả ngôn ngữ, văn hóa, quyền lợi, khó thông cảm với nhau. Nói chung họ không quý mạng sống của đồng bào như người Việt mình.

Một trong những tội nặng của đảng Cộng Sản Việt Nam là đã nhập cảng phương cách giết người của Cộng Sản Trung Hoa vào nước ta, không biết rằng nó ảnh hưởng xấu đến cả đạo lý một thế hệ, sau này sẽ còn mất nhiều thời gian gột rửa. Tuy nhiên, văn hóa một dân tộc được xây dựng trên những điều kiện địa dư, những lưu thông, trao đổi suốt lịch sử, đã được nung nấu hàng ngàn năm. Văn hóa, phong tục có bị thay đổi một thời gian ngắn thì cũng sẽ trở về nguồn gốc. Khi nào nước ta chấm dứt được cảnh lệ thuộc chủ nghĩa Mao và lối cai trị dân theo kiểu Cộng Sản Trung Hoa, người Việt sẽ xây dựng lại nền nếp thuần hậu của dân tộc mình.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Lý Công Uẩn dời đô sang Tầu?

Ngô Nhân Dụng

Ðại lễ Ngàn Năm Thăng Long sắp khai mạc chính thức. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản cho mở hội đúng ngày quốc khánh của Trung Cộng, với một bộ phim dài về Lý Thái Tổ trong đó ông vua khai sáng nhà Lý mặc y phục kiểu Tầu, bảnh bao như tài tử Hồng Kông. Bộ phim thực hiện ở bên Tầu, các vai phụ tuyển toàn dân Trung Quốc, phim do người Tầu sửa chữa kịch bản và dàn dựng, đạo diễn toàn bộ!

Người không hiểu nổi tại sao quý quan cộng sản lại chọn bắt đầu kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Cộng. Lý Công Uẩn đã chính thức dời đô trong tháng 7 âm lịch, chứ không phải đầu tháng 10.

Nhà toán học Ngô Bảo Châu tháng 5 năm ngoái (2009) đã viết một bức thư gửi cho các đại biểu Quốc Hội Việt Nam, về chuyện cho Trung Quốc khai thác mỏ bô xít ở nước ta. Trong thư có đoạn: “Trung Quốc thực hiện chính sách ‘thực dân mới’... Trong trường hợp của Việt Nam, ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc có thể kéo thêm hệ quả nguy hiểm sau đây: quan hệ hữu cơ vốn có của văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam trở thành đô hộ văn hóa. Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn, thì ta chỉ nhận phần thiệt thòi, còn bản sắc ta thì tồn tại được bao lâu. Vấn đề độc lập văn hóa, giữ gìn bản sắc vô cùng hệ trọng, xin quý vị lưu ý...”

Những nhận định của ông Ngô Bảo Châu về vấn đề “quan hệ hữu cơ vốn có” giữa Việt Nam và Trung Quốc và việc “giữ gìn bản sắc dân tộc” đang là một chuyện thời sự nhân vụ Lý Công Uẩn sang Tầu đóng phim. Thế kỷ 18, ông Lê Quýnh từ chối không chịu kết tóc bím và bỏ đồ Việt Nam để mặc y phục Tầu, dù chịu áp lực của nhà Thanh. Ông nói: “Ðầu tôi có thể chặt nhưng tóc tôi không thể đổi; da tôi lột ra được nhưng tôi không đổi áo.” Ngày nay, cộng sản Việt Nam đưa vua Lý sang Tầu mặc y phục, mũ mão giống y như tài tử đóng vai Tần Thủy Hoàng! Một dân tộc mất quặng mỏ, mất rừng, mất gỗ và mất môi trường sống trong lành cũng không nguy hiểm bằng mất cả linh hồn, khi bản sắc dân mình không còn nữa.

Trước khi coi đầy đủ cuốn phim Lý Công Uẩn này, cả nước đã uất lên vì giận. Ðây là âm mưu cho Lý Công Uẩn dời đô một lần nữa, từ Việt Nam sang Trung Quốc! Một nhà giáo trong nước phê bình: “Từ trang phục cho đến cảnh quan, từ áo mão cho đến búi tóc, hình ảnh toát ra cho ta thấy: Ðây là một phim Trung Quốc; chẳng khác gì những phim lịch sử Trung Quốc khác mà đông đảo người Việt Nam quen xem.” Trên Blog Gốc Xậy, trích dẫn nhận xét của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên: “Ðây là một bộ phim Trung Quốc, không có gì để tranh cãi. Ðạo diễn Trung Quốc, biên kịch Trung Quốc.” Một độc giả góp ý trong blog: “Họ đã bôi nhọ lịch sử nước ta và coi thường dân trí” của người Việt Nam! Có người tố cáo ông Trịnh Văn Sơn, một người bỏ tiền làm phim, ngoài đời “rất tôn sùng Trung Quốc, toàn chê ngoài Việt Nam thôi.” Tên ba bố con ông ghép lại thành tên Tôn Trung Sơn, quốc phụ nước Tầu từ năm 1911. Tên công ty của ông Sơn là “Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành.” Hình logo của công ty này là cảnh “Ðông phương hồng, mặt trời lên” trên ngọn núi. Những lời tố giác này cũng hơi quá đáng. Bao nhiêu lãnh tụ cộng sản Việt Nam đã lấy tên Trung Hoa và đề cao thành tích của người Trung Hoa. Ông Ðặng Xuân Khu chẳng hạn. Việc ông đề cao cuộc Vạn Lý Trường Chinh khi chọn bí danh có khác gì việc ông Sơn chọn tên Trường Thành?

Những người làm cuốn phim Lý Công Uẩn đã bênh vực các quan chức trong đảng, biện hộ rằng việc thực hiện cuốn phim này hoàn toàn là do sáng kiến tư nhân, đảng và nhà nước không can dự. Nếu cuốn phim có vẻ “Tầu” quá thì những người bỏ tiền làm phim chịu trách nhiệm, còn đảng cộng sản vô can. Các bộ trưởng, phó thủ tướng chỉ ủng hộ đem phim lên chiếu ti vi sau khi nhận được quá cáp mà thôi!

Nhưng nếu điều này là sự thật thì cũng chính là mối nguy hiểm lớn hơn nữa! Người ta tự động ỷ lại vào Trung Quốc không cần Bộ Chính Trị yêu cầu. Vì người ta đã tập nhiễm thói quen ỷ lại, hướng về Bắc Kinh từ thời 60 năm nay rồi!

Khi các nhà kinh doanh văn hóa tính làm một cuốn phim biểu hiện tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam, mà họ chấp nhận giao phó cuốn phim đó cho người Trung Hoa làm hộ một cách không dè dặt, không do dự, thì trong đầu óc họ nghĩ ngợi thế nào? Họ phải quen sống với một nếp suy nghĩ nào đó, thì mới tự nhiên, không ngần ngại, nhờ ngay các nhà đạo diễn, những nhà viết kịch bản Trung Hoa làm giúp việc biểu hiện tinh thần dân tộc Việt Nam! Phải chăng họ coi người Trung Hoa và người Việt cũng vậy, không có gì khác nhau cả? Phải chăng vì họ đã nghe quen những câu hát “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” từ bao nhiêu năm nay rồi? Phải chăng vì họ vẫn thuộc lòng những câu thơ Hồ Chí Minh “Mối tình thắm thiết Việt Nam-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em” đọc khi tiễn đưa Lưu Thiếu Kỳ? (Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76). Ðã là đồng chí lại là anh em thì còn lo gì mà không nhờ “ông anh đồng chí” làm phim hộ? Mấy thế hệ người Việt Nam đã được huấn luyện từ khi là học sinh mẫu giáo là phải học tập Mao chủ tịch, noi gương Mao chủ tịch, ghi nhớ công ơn Mao chủ tịch, vân vân. Cái tinh thần đó đã được thấm nhuần trong các đồng chí như Trịnh Văn Sơn.

Trên mạng Tuyên Quang Online, một bạn trẻ tên là Bạch Văn Cơ viết, từ năm 2007,

xem lại lịch sử các phim ảnh thịnh hành, anh thấy: “Ðầu những năm 90: điện ảnh Ðài Loan. Giữa những năm 90: điện ảnh Hồng Kông, Hàn Quốc. Từ đó đến nay: điện ảnh Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Ðài Loan cùng ‘tổng tấn công.’”

Khán giả Việt Nam có coi phim Ðài Loan, Nam Hàn, Hồng Kông cũng chỉ để giải trí, có thể vô hại. Nhưng khi một nước Việt Nam muốn làm cuốn phim kỷ niệm một năm đại lễ của dân tộc, mà lại phải đi cầu viện năng khiếu nghệ thuật của người Trung Quốc, giao khoán cho họ kể chuyện tổ tiên mình, thì đó là quốc sỉ. Nó cho thấy tinh thần nô lệ về văn hóa đã nhiễm vào đầu óc nhiều người quá rồi, đã thành một phản xạ, một tập quán tự nhiên.

Từ khi Hồ Chí Minh tái lập đảng Cộng Sản năm 1950, 51, ông nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông, cho vào cương lĩnh của Ðảng Lao Ðộng. Quá trình nô lệ văn hóa bắt đầu. Ðây là một giai đoạn nô lệ mới, khác với thời kỳ 1000 năm từ thế kỷ thứ nhất khi Mã Viện sang chiếm nước ta, vì do một đảng lãnh đạo nước Việt Nam tự nguyện theo người Hán. Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, còn Hồ Chí Minh dời bộ óc người Việt Nam sang bên Tầu, để được nhuộm đỏ theo tư tưởng Mao! Câu thơ Chế Lan Viên viết: “Bác Mao không ở đâu xa - Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” được lưu truyền, cho thấy Hồ Chí Minh rất hãnh diện được ví như một ông “Mao nội hóa,” một ông “Mao con.” Nếu không đồng ý với Chế Lan Viên thì chắc Hồ đã cấm không cho phổ biến hai câu thơ này!

Mối họa đồng hóa từ giữa thế kỷ 20 bắt đầu với ông Hồ, người đã không ngần ngại tuyên bố không cần viết sách nào về chủ nghĩa Mác nữa, vì tất cả những gì cần nói đã có bác Mao viết hết rồi!

Nhưng “Tư tưởng Mao Trạch Ðông” là gì? Ðó không phải chỉ là việc khai thác và áp dụng lý thuyết Mác xít mà thôi. Ðó chính là một sản phẩm của nền văn hóa độc đáo Hán tộc. Như Ngô Bảo Châu nhận định: “Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn,” thì ta sẽ mất hết bản sắc của mình. Nói vậy chưa đủ. Phải nói: Nếu rập khuôn theo mô hình Mao chủ tịch thì người Việt Nam sẽ tự tiêu diệt bản sắc của nước mình. Vì Mao là một sản phẩm của văn hóa người Hán. Hai dân tộc Việt và Hán sống trong những điều kiện địa lý, lịch sử khác nhau, các kinh nghiệm, truyền thống văn hóa khác nhau nhiều lắm. Họ không thể bắt chước mình mà mình cũng không thể theo họ được.

Tư tưởng chính trị Trung Hoa, mà Mao Trạch Ðông là một đại biểu sáng chói, thích hợp với một chế độ cường quyền tập trung, áp dụng trên một quốc gia quá rộng lớn và quá đông dân, so với nước Việt Nam ta. Việt Nam sống trên một “bán đảo” giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Ðộ. Từ 3000 năm trước dân mình lại sớm hòa nhập với nền văn minh của các sắc dân Nam Á và Nam Ðảo. Người Việt Nam có thể chấp nhận quyền bình đẳng Nam Nữ vì ảnh hưởng văn minh Nam Ðảo; có thể bao dung chế độ xã thôn tự trị; sống với nhau vừa tình vừa lý, vua quan và dân chúng gần gũi nhau. Người Trung Hoa không thể “linh động,” “xuề xòa” hoặc “chín bỏ làm mười” như vậy.

Thời Nguyễn Ánh đã lầm lớn, khi Nguyễn Văn Thành sao chép bộ luật nhà Thanh soạn thành luật Gia Long, áp dụng ở nước ta. Những luật lệ đó khắc nghiệt, coi khinh phụ nữ, dọa nạt, đàn áp dân, để củng cố chế độ tập trung quyền hành của người Mãn trên nước Trung Hoa. Áp dụng lối cư xử đó vào Việt Nam, khiến dân chúng oán thoán, nhất là dân Bắc Thành, nơi trước đó chỉ áp dụng đạo luật Hồng Ðức nhà Lê. Cho nên, hơn nửa thế kỷ sau khi người Pháp sang xâm chiếm, dân ngoài Bắc đã hờ hững không ai muốn chết để bảo vệ vua quan nhà Nguyễn. Một tên “gác dan tu viện” như Nguyễn Văn Phụng được các cố đạo Pháp đưa từ Ma Cao về, đổi tên là Lê Văn Phụng, cũng thu hút được nhiều người theo, vì dân đang chán chế độ và còn tưởng nhớ nhà Lê. Việc Hồ Chí Minh nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông vào dùng ở nước ta, ghi trong cương lĩnh đảng Lao Ðộng từ năm 1950, cũng sai lầm y như luật Gia Long vậy. Nó bắt người Việt Nam sống như lối người Tầu, gây căm thù, chia rẽ dân tộc, đối xử với nhau theo đường lối của các cố vấn Trung Quốc.

Những cuốn sách gối đầu giường của Mao không phải là sách của Karl Marx. Mao thường mang bên mình bộ Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang, bộ lịch sử các triều đại Trung Hoa diễn tả theo quan điểm Tống Nho tôn quân quyền tuyệt đối. Tư tưởng Mao Trạch Ðông thích hợp với nước Trung Hoa lúc đó đang chờ một bạo chúa ra tay “bình thiên hạ” bằng cách “sát nhất nhân vạn nhân cụ.” Nhưng chính sách, đường lối đó hoàn toàn trái ngược với phong tục, tập quán, nền nếp văn hóa của người Việt Nam. Hậu quả là sau khi học tập, bắt chước theo Mao Trạch Ðông người Việt sẽ bỏ mất bản sắc dân Việt. Cảnh nô lệ văn hóa bắt nguồn từ đó. Trong bài tới sẽ trình bày một hiện tượng nô lệ văn hóa rùng rợn: Cộng Sản Việt Nam đã học cách giết người theo Mao Trạch Ðông như thế nào. Từ đó, người Việt Nam không còn đối xử với nhau như trước nữa.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Cuộc chiến hối đoái Mỹ-Hoa leo thang Ngô Nhân Dụng


Chưa bao giờ thấy ông Ôn Gia Bảo nhũn nhặn, ôn hòa như thế. Nhưng ông cũng không chinh phục được trái tim của bà Nancy Pelosi.

Tuần trước, Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật trao thêm cho chính phủ Obama vũ khí mới trong cuộc đấu về tỷ giá giữa đồng tiền hai nước. Từ hàng chục năm qua, Washington vẫn đòi Bắc Kinh phải nâng giá đồng “nhân dân tệ,” để Mỹ giảm được số khiếm hụt vì mua hàng nhiều quá, bán sang Tầu ít quá. Nếu được Thượng Viện thông qua, thì theo dự luật này hành pháp Mỹ sẽ được quyền tăng thuế nhập cảng trên hàng Trung Quốc, cho dân Mỹ sẽ bớt tiêu thụ đồ Made in China. Các đại biểu Quốc Hội hy vọng họ sẽ ép Bắc Kinh phải thả nổi cho giá đồng tiền của họ tăng lên so với đô la Mỹ, hậu quả sẽ giúp cán cân thương mại Mỹ-Hoa cân bằng hơn.

Bắc Kinh biết tình hình đang căng thẳng, đã tìm mọi cách tạo không khí hòa dịu. Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo xuất hiện tại New York nhân dịp họp Liên Hiệp Quốc, nói ông rất lạc quan tin tưởng rằng giữa Mỹ và Trung Quốc không thể nào xẩy ra “chiến tranh thương mại.” Trước các nhà báo chữ Hoa ở New York và các ký giả Hồng Kông, Ôn thủ tướng báo tin Mỹ và Trung Quốc đang nối lại các cuộc trao đổi quân sự. Những cuộc gặp gỡ này đã bị Bắc Kinh ngưng lại hồi đầu năm khi chính phủ Obama bán hỏa tiễn cho Ðài Loan. Khi đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đáng lẽ đến thăm Bắc Kinh, đã bị từ chối. Nhưng bây giờ thì chính ông Ôn Gia Bảo đang mời ông Gates qua thăm!

Ông Ôn Gia Bảo còn nhắc đi nhắc lại rằng: “Chúng ta không có một lý do nào để kéo lui mối giao hảo Mỹ-Hoa; trái lại, có hàng vạn lý do để các quan hệ phải chặt chẽ hơn.” Một cách cụ thể, ông Ôn Gia Bảo nói, khi Trung Quốc xuất cảng hàng sang Mỹ thì có hai giới được lợi lộc. Thứ nhất là các công ty Mỹ đã thiết lập nhà máy sản xuất ở bên Tầu sẽ kiếm thêm lời; thứ nhì là người tiêu thụ ở Mỹ được mua hàng hóa với giá rẻ.

Nhiều dân biểu, nghị sĩ Mỹ lại không quan tâm đến hai mối lợi trên. Họ chỉ lo về tỷ lệ thất nghiệp đang rất cao (9.6%). Họ nghĩ lý do chính khiến nhiều công nhân Mỹ mất việc làm là hàng Trung Quốc quá rẻ khiến cho các xí nghiệp Mỹ không thể cạnh tranh phải đóng cửa. Công việc của người lao động Mỹ vẫn làm cho Dell, Motorola, General Motors đã được đem sang Trung Quốc làm! Có người còn tính toán rằng tình trạng thâm thủng thương mại với Trung Quốc đã khiến 20 triệu công nhân Mỹ mất việc! Một dân biểu đã bác bỏ lời dỗ dành “được mua hàng rẻ” của ông Ôn Gia Bảo, hỏi ngược lại: “Khi bị mất việc rồi thì tiền đâu nữa mà mua hàng rẻ?”

Bà Nacy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện tuyên bố đã đến lúc Quốc Hội phải trao thêm vũ khí cho chính phủ để ép chính phủ Trung Quốc phải thả cho giá đồng tiền của họ lên cao. Vũ khí đó là đánh thuế nhập cảng. Theo quy tắc của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), một quốc gia mà trợ cấp cho các nhà xuất cảng của họ để có thể xuất cảng hàng giá rẻ thì không công bằng; do đó, nước khác có quyền trả đũa bằng cách đánh thuế trên các món hàng nhập cảng này. Dự luật của Hạ Viện cho phép chính phủ Mỹ “kết tội Trung Quốc đang trợ cấp hàng xuất cảng” vì họ đã “trợ cấp một cách gián tiếp” khi can thiệp vào thị trường hối đoái để giữ không cho giá đồng Nguyên tăng lên theo luật cung cầu.

Lý luận đó rất giản dị: Nếu đồng nhân dân tệ lên giá so với đô la, hàng Trung Quốc bán sang Mỹ giá sẽ đắt hơn, dân Mỹ sẽ nhập cảng ít hơn. Một đô la đang đổi được 6 tới 7 Nguyên thì đồng tiền Trung Quốc rẻ quá. Ðáng lẽ nếu được đổi tự do thì hối suất chỉ là 5 hay 6 Nguyên mà thôi! Vì giá đồng Nguyên rẻ cho nên một món trị giá 7 Nguyên bán sang Mỹ thành một đô la. Nếu đồng Nguyên tăng giá thì cũng 7 Nguyên đó sẽ phải bán thành 1 đô la 20 xu chẳng hạn. Hiện nay giá đồng Nguyên rẻ như bây giờ bởi vì chính phủ Bắc Kinh bỏ tiền ra mua đô la, dìm giá tiền của họ xuống. Rõ ràng, họ đã trợ cấp 20 xu cho các nhà xuất cảng của họ dễ bán hàng! Bà Pelosi nói, nếu đồng Nguyên được tự do lên giá theo thị trường hối đoái, thì “...hàng triệu người Mỹ sẽ có công việc làm, và số thâm thủng về thương mại sẽ giảm được hàng trăm tỷ đô la mỗi năm.”

Ðại đa số dân biểu cả hai đảng cũng tin như vậy. Khi bỏ phiếu chỉ có 79 phiếu chống lại, trong đó có 74 người thuộc đảng Dân Chủ; trong khi 99 dân biểu Cộng Hòa ủng hộ. Một cuộc chiến hối đoái và thương mại có thể bắt đầu, nếu Thượng Viện cũng thông qua dự luật này và chính phủ Obama đem ra áp dụng. Nhưng nếu Mỹ đánh thuế nhập cảng trên hàng Tầu nặng hơn, Tầu sẽ đánh thuế trả đũa trên hàng Mỹ nhập cảng; trong khi đi kiện nhau tại WTO. Luật sư hai bên sẽ cãi xem việc can thiệp của Bắc Kinh vào thị trường hối đoái có thể coi là một hành động trợ cấp cho các nhà xuất cảng hay không. Trong khi đó thì cuộc chiến thương mại có thể tiếp diễn.

Tại sao các đại biểu Mỹ chọn lúc này để ồn ào làm dữ với Bắc Kinh? Lý do chính là năm nay có bầu cử Quốc Hội Mỹ. Chưa đầy một tháng nữa dân Mỹ sẽ bỏ phiếu. Các dân biểu đều muốn khoe với các cử tri rằng họ đã cương quyết “đánh Trung Quốc” để bảo vệ việc làm của công nhân Mỹ.

Lý luận của các dân biểu Mỹ rất dễ hiểu, và dễ được dân tin; mặc dù sự thật kinh tế không giản dị như vậy. Nghĩa là không phải hễ đồng Nguyên lên giá thì Mỹ sẽ bớt thâm thủng thương mại, và công nhân Mỹ sẽ có thêm việc làm.

Cán cân thương mại Mỹ thâm thủng vì mua hàng Trung Hoa nhiều gấp 4 lần số bán hàng cho họ, đó là một sự thật. Trong 7 tháng đầu năm 2010, số nhập cảng hàng Trung Hoa trị giá 193 tỷ, trong khi chỉ xuất cảng gần 49 tỷ; trung bình mỗi tháng khiếm hụt 20 tỷ. Riêng trong tháng 6, số thâm thủng mậu dịch lên tới trên 26 tỷ đô la. Nhiều nhà kinh tế tin, như bà Pelosi mới lập lại, rằng nếu chính phủ Bắc Kinh không can thiệp vào thị trường hối đoái để dìm giá tiền của họ, thì cán cân thương mại của Mỹ sẽ cân bằng hơn - và công nhân Mỹ sẽ bớt thất nghiệp.

Nhưng có một sự thật kinh tế khác, là việc tăng giá đồng tiền Trung Quốc không chắc sẽ giúp cho cán cân thương mại của Mỹ cân bằng hơn. Kinh nghiệm đối với đồng Yen Nhật Bản cho thấy như thế. Trong những thập niên 1970, 80, cả nước Mỹ đã nổi giận khi Nhật bán quá nhiều mà mua hàng của Mỹ quá ít. Chính phủ Nhật cũng luôn luôn can thiệp vào thị trường hối đoái, in thêm tiền để đi mua Mỹ kim, giữ giá Mỹ kim cao để cho giá đồng Yen thấp mãi. Hồi đó, các nước kinh tế tiên tiến gọi là G-7 đồng ý với Mỹ, tất cả làm áp lực buộc Nhật Bản phải tăng giá đồng Yen. Một hội nghị quốc tế ở New York năm 1985 đã đưa ra những biện pháp thúc cho đô la Mỹ được giảm giá, và tất cả các nước đều thi hành, kể cả Nhật Bản. Nhưng trong hơn hai chục năm, sau khi giá đồng Yen đã tăng gấp đôi, cán cân thương mại của Mỹ với Nhật Bản vẫn thâm thủng y như cũ! Vì các công ty Nhật thấy hàng của họ tăng giá khi đồng Yen lên, đã tìm cách hạ giá thành bằng cách chuyển các cơ xưởng sản xuất sang các nước khác, thí dụ, sang... bên Tầu! Ở đó, giá đất đai rẻ, lương công nhân cũng rẻ! Khi nâng giá Yen, hạ giá đô la, người ta hy vọng công nhân Mỹ sẽ bớt thất nghiệp,vì các công việc làm ở Nhật sẽ quay trở về Mỹ. Nhưng không, những công việc đó đã chạy sang Ðài Loan, Mã Lai, và... Trung Quốc! Vào đầu tháng 9, khi giá đồng Yen lên cao quá, chính phủ Nhật đã tung ra hàng tỷ để mua Mỹ kim, dìm giá đồng tiền của họ xuống. Chính phủ Mỹ không than phiền một câu nào cả!

Bây giờ nếu đồng Nguyên lên giá, hàng Trung Quốc đắt hơn, thì các nhà nhập cảng Mỹ sẽ đi mua hàng ở các nước khác, thí dụ Việt Nam, Bangladesh, Miến Ðiện, vân vân, nơi lương bổng công nhân còn rẻ hơn bên Tầu,. Nước Mỹ có thể bớt khiếm hụt thương mại đối với Trung Quốc, nhưng sẽ tăng khiếm hụt đối với nước khác! Ðâu lại vào đó!

Mặt xuất cảng cũng vậy. Nếu đồng Nguyên lên giá, món hàng của Mỹ trị giá một đô la sẽ bán sang Tầu với giá 6 Nguyên thay vì 7 Nguyên, sẽ dễ bán hơn. Do đó, các nhà xuất cảng Mỹ sẽ bán được nhiều hơn, các công nhân Mỹ sẽ thêm việc làm. Nhưng khi đồng Nguyên lên giá thì cũng lên giá chung đối với các ngoại tệ khác nữa, hàng hóa của các nước như Ðức, Nhật, sẽ đều được tính giá rẻ hơn, không khác gì hàng của Mỹ. Như vậy thì các công ty xuất cảng của Mỹ bán được nhiều hay không vẫn tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh của họ đối với các công ty Ðức, Nhật, chứ không phải chỉ vì trị giá đồng Nguyên mà thôi!

Tóm lại, việc tăng giá đồng Nguyên có thể giúp cho cán cân thương mại của Mỹ bớt khiếm hụt đối với Trung Quốc, nhưng sẽ rất chậm chạp và không có gì chắc chắn. Nhưng nếu hai nước lâm vào một cuộc chiến tranh mậu dịch thì cả hai sẽ thiệt hại. Ông Ôn Gia Bảo không ngần ngại báo trước rằng nếu Mỹ và Trung Hoa chạy đua đánh thuế hàng nhập cảng nặng hơn thì kinh tế Trung Quốc sẽ suy sụp. Sẽ có thêm hàng chục đến hàng trăm triệu công nhân Trung Hoa thất nghiệp. Những người đó cũng sẽ không có tiền để mua hàng của Mỹ, cũng như của các nước khác. Trung Quốc sẽ ngưng xây cất, ngưng mua máy móc của Mỹ hay Nhật Bản. Kinh tế cả thế giới sẽ kéo nhau xuống cảnh sa lầy.

Phần lớn hàng xuất cảng từ Trung Quốc sang Mỹ lại do các công ty Mỹ hoặc ngoại quốc sản xuất hoặc đặt làm bên đó. Cứ một món hàng bán từ nhà máy sản xuất ở Trung Quốc ra trị giá một đồng thì khi sang đến Mỹ sẽ bán lẻ với giá từ 3 đến 4 đồng. Số chênh lệch đó gọi là “giá trị gia tăng,” (value-added), thuộc về các công ty mẹ và các nhà tiếp thị ở Mỹ. Họ đã đem hàng từ bên Tầu về bán cho dân tiêu thụ, kiếm lời và trả lương cho công nhân ở Mỹ, đóng thuế cho chính phủ Mỹ. Nếu món hàng không còn bán được nữa, người Trung Hoa sẽ bị thiệt một đồng, còn người Mỹ sẽ bị thiệt mất 2 đến 3 đồng! Dân Mỹ có thể chịu bị thiệt thòi như vậy khi cuộc chiến tranh thương mại xẩy ra hay không?

Do đó, không thể tin là chính phủ Mỹ sẽ sử dụng món võ khí mà Quốc Hội sẽ trao cho, là kết án Trung Quốc trợ cấp hàng xuất cảng để đánh thuế nhập cảng từ bên Tầu, gây ra một cuộc chiến tranh thương mại. Việc Hạ Viện Mỹ bỏ phiếu cho dự luật vừa qua có hậu ý chính trị nhiều hơn là kinh tế. Nói giản dị là để các dân biểu kiếm phiếu. Tại Thượng Viện, chắc sau tháng 11 mới đem dự luật này ra bàn. Lúc đó, không khí tranh cử sẽ nguội đi, các nghị sĩ sẽ bình tĩnh hơn. Dự luật này sẽ khó thông qua Thượng Viện, mặc dù hiện nay có những nghị sĩ đang đưa ra những dự luật tương tự, chưa chắc gì sẽ được biểu quyết thành luật. Tuy nhiên, dự luật được Hạ Viện Mỹ thông qua cũng sẽ có tác dụng là làm cho chính phủ Bắc Kinh phải cảm thấy dân Mỹ đang nóng lòng muốn người Trung Hoa phải hành động mạnh hơn trong vấn đề hối suất. Họ đã tham dự trò chơi đấu trí này từ 5 năm nay rồi.

Năm 2006, cũng trong một năm có bầu cử giữa nhiệm kỳ của tổng thống Mỹ, khi đó đảng Cộng Hòa đang kiểm soát Quốc Hội, cũng có những dự luật “trừng phạt” Trung Quốc về hối đoái như năm nay. Nhưng chính phủ Gorges W. Bush khi đó đã phản đối các dự luật này; vì đi ngược lại với chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hòa, là đề cao tự do thương mại toàn cầu. Phần lớn các công ty lớn ở Mỹ chống lại các biện pháp trừng phạt thương mại bằng cách tăng thuế nhập cảng. Năm nay họ cũng vẫn giữ ý kiến đó. Có 30 nhóm ký chung lá thư gửi cho bà Pelosi xin đừng thông qua dự luật. Trong đó có hội các nhà bán lẻ, hội sản xuất đậu nành, kỹ nghệ thịt, và các nhà sản xuất đang mở nhà máy bên Tầu. Nhưng năm nay Hạ Viện cứ làm dữ, trong khi chính phủ Barack Obama không tuyên bố ủng hộ hay chống đối. Chính quyền Obama cũng muốn hỗ trợ các dân biểu Dân Chủ trong mùa tranh cử rất khó khăn này. Các công đoàn, chỗ dựa của đảng Dân Chủ thì hoàn toàn ủng hộ các biện pháp “trừng phạt” Trung Quốc về hối suất. Mặt khác, khi tranh cử năm 2008, ông Obama đã hứa sẽ mạnh tay hơn khi đối đầu với Trung Quốc!

Có thể ông Obama muốn nhân cơ hội này tạo thêm áp lực khiến Bắc Kinh phải tích cực hơn trong việc nâng cao giá đồng nhân dân tệ của họ, điều mà trước đây ông Bush vẫn kêu gọi. Từ tháng 6 vừa qua, đồng Nguyên đã được thả cho tăng giá 2%, nhưng đối với người Mỹ thì chưa đủ. Tổng thống Mỹ sắp qua Nam Hàn dự hội nghị G-20; khi đó chắc vấn đề hối suất đồng Nguyên sẽ được nêu lên, và nhiều nước sẽ hỗ trợ Mỹ. Nhật Bản ngày càng tỏ ra không thân thiện với Trung Quốc. Khi Bắc Kinh bỏ tiền dự trữ ra mua một số lớn công trái của chính phủ Nhật khiến đồng Yen lên giá, Tokyo đã công khai đặt câu hỏi nghi ngờ: Các anh có ý đồ gì vậy? Tháng 1 năm tới, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào sẽ thăm Washington. Từ nay tới đó, có thể Bắc Kinh sẽ chịu cho đồng Nguyên tăng giá thêm nữa, một cách vừa phải đủ để làm vui lòng các nhà chính trị Mỹ.

Nhưng vấn đề cán cân thương mại Mỹ mất thăng bằng cũng chỉ là một phần nhỏ trong vấn đề lớn hơn là kinh tế cả thế giới mất thăng bằng, vì chính sách lệch lạc của chính phủ Trung Quốc. Ðiều này không phải chỉ có nước Mỹ lo mà chính người Trung Hoa còn lo lắng nhiều hơn nữa. Chính ông Ôn Gia Bảo đã bày tỏ mối lo này. Trong một hội nghị kinh tế quốc tế ở Thiên Tân giữa tháng 9, ông nói: “Kinh tế Trung Quốc không thăng bằng, thiếu phối hợp, và công cuộc phát triển không vững chắc lâu dài.” Ðây là mối lo tâm phúc của giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa, nhiều nhà kinh tế đã báo động nhưng đến giờ mới có người lãnh đạo Trung Hoa công khai thú nhận.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cựu NT Henry Kissinger: Thất bại tại Việt Nam chủ yếu là do Hoa Kỳ

Henry Kissinger

LTS: Hôm 29 tháng 9, 2010, tại cuộc hội thảo do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức, với chủ đề “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, 1946-1975,” cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, đã có bài phát biểu dài, và ngay sau đó được cử tọa đặt nhiều câu hỏi liên quan đến kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đặc biệt Việt Nam.

Tòa Soạn xin giới thiệu đến độc giả phần 1 của bản chuyển ngữ tiếng Việt của phát biểu này. Nguyên văn bài phát biểu tiếng Anh được đăng tải trên trang nhà của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong phần Diễn Ðàn tiếp theo, chúng tôi sẽ đăng phần tiếp theo của bản chuyển ngữ và các câu hỏi mà cử tọa dành cho Tiến Sĩ Kissinger.
Image
Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)
Rất cám ơn quý vị. Tôi phải chỉ rõ ra rằng tôi giữ một kỷ lục thật khó mà ai thắng nổi, đó là trong thời kỳ tôi vừa là ngoại trưởng vừa là cố vấn Ðặc Biệt khi các quan hệ giữa Bộ Ngoại Giao và Tòa Bạch Ốc mật thiết chưa từng thấy. (Cười)

Giờ đây, tôi sẽ dành ra khoảng 20 phút để đưa ra các nhận định và rồi trả lời các câu hỏi. Khi tôi nghe có ai đó chọn một quyển sách của tôi viết hồi năm 1958 mà rồi bị tám nhà xuất bản và bốn nhà in đại học khước từ và rồi bán được 1,400 quyển thì tôi mới thấy rõ ràng là hầu hết những người có mặt trong phòng này chưa sinh ra khi quyển sách này được xuất bản. Và (Ðặc Sứ) Dick Holbrooke hồi tối hôm qua đã cùng tôi bàn luận về thành phần được dự trù của số cử tọa ngày hôm nay, trong đó có một số người có mặt nơi đây từng trải qua các kinh nghiệm đương thời, đó là những kinh nghiệm, những đam mê, và những biến động độc đáo không thể nào xảy ra lần nữa.

Rồi còn có một nhóm cử tọa khác biết được về các kinh nghiệm đó qua ban giảng huấn tại các đại học mà có thể nói là phần lớn nằm trong phong trào phản đối chiến tranh vào thời đó và họ cũng có quan điểm của họ. Và rồi còn có một thế hệ mới mà đối với họ kinh nghiệm này đã thuộc về quá khứ xa vời. Và đêm hôm qua, khi suy nghĩ về vấn đề này, tôi bỗng nhận thức rằng đối với thế hệ già nua của tôi hồi năm 1940 thì sự sụp đổ của Pháp là một kinh nghiệm choáng ngợp, nhất là đối với những người từng sống dưới chế độ Ðức Quốc Xã.
Image
Một đơn vị quân đội Mỹ chuẩn bị rút khỏi miền Nam Việt Nam, 1969. (Hình: STF/AFP/Getty Images)

Nhưng thật sự thì cuộc Chiến Tranh Việt Nam đã quay trở lại với chúng ta cũng xa xưa như là năm 1940 đối với hồi năm 1900 vậy. Ðối với tôi, 1900 chỉ là một thời điểm có liên hệ hết sức nhỏ trong các kinh nghiệm của tôi. Vì thế, tôi nghĩ điều tôi có thể làm là trình bày với quý vị về cách thế nào mà tôi lại liên lụy tới kinh nghiệm (về cuộc chiến) đó, sự liên lụy này có nghĩa gì đối vớ thế hệ của tôi, và rồi sau đó quý vị đặt câu hỏi với tôi về bất cứ đề tài nào mà quý vị nghĩ ra.

Trước hết, quý vị phải hiểu một sự kiện cá nhân của tôi. Tôi từng giữ chức vụ rất đặc biệt là Cố Vấn An Ninh. Chức vụ này cũng có thể có trong thời buổi này. Tôi chưa hề gặp Rchard Nixon khi ông ấy bổ nhiệm tôi. Và tôi đã dành trọn 12 năm trong đời để cố giữ cho ông ấy khỏi trở thành tổng thống. (Cười) Tôi đã là cố vấn chính yếu về chính sách ngoại giao của Nelson Rockefeller. Vì thế, khi tôi đọc một số sách viết về chuyện tôi đã âm mưu tỉ mỉ như thế nào để tiến đến chức vụ kia thì tôi vẫn nghĩ điều quan trọng là người ta phải nhớ rằng tôi từng là một người bạn thân thiết của Nelson Rockefeller, và thực ra thì tôi đã quen biết Hubert Humphrey nhiều hơn. Như thế đó, tôi không biết gì hết về Richard Nixon.

Vì vậy, đây quả là một cuộc phiêu lưu trí thức, một cuộc phiêu lưu có tầm vóc quốc gia để làm sao đối phó với vấn đề này. Ngoài ra, như hầu hết quý vị biết, tôi từng làm làm việc một năm tại Tòa Bạch Ốc dưới thời Kennedy trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng Bá Linh, tức là không dính líu gì tới vấn đề Việt Nam mà tới vấn đề Bá Linh. Kết quả của sự thể này là các nhân vật then chốt trong chính phủ trước kia là những nhân vật mà tôi đã biết rồi. Họ đều là bạn của tôi. Tôi tôn trọng họ. Tôi hết sức cảm phục tinh thần ái quốc của (Ngoại Trưởng) Dean Rusk và cách hành xử của ông trong chức vụ của mình. Tôi từng chứng kiến nỗi vật vã của nhiều người khi phải đối phó với vấn đề Việt Nam.

Vì thế, đối với cá nhân tôi, các cuộc tranh cãi tiếp diễn sau đó mang tính cách hết sức đau thương, và tôi chưa bao giờ nghĩ đến tính chất của một cuộc nội chiến trong các cuộc tranh cãi đó như từng xảy ra sau này. Ðối với tôi, tôi biết lý do tại sao thế hệ trước của tôi bước vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Tôi đồng ý với một số quan điểm của người này; và cũng không đồng ý với các quan điểm của những người kia. Nhưng tôi không nghĩ đây là vấn đề đạo đức gây chia rẽ trong chúng ta. Thực sự, tôi bị tổn hại vì niềm tin sai lạc rằng tôi tham gia chính phủ để có thể góp sức tập hợp các quan điểm khác biệt lại với nhau.

Ðối với tôi, thảm kịch của cuộc Chiến Tranh Việt Nam không phải là vì có những mối bất đồng. Ðiều này không thể nào tránh được trước cái phức tạp của vấn đề. Nhưng đó là sự thể niềm tin cậy lẫn nhau của người Mỹ đã bị hủy diệt trong tiến trình của cuộc chiến. Ðây là lần đầu tiên Hoa Kỳ kinh qua những giới hạn của nền ngoại giao, và đây quả là điều đau thương khi mình phải chấp nhận sự thể đó.

Vì vậy, những gì mà lẽ ra có thể là một sự phê bình tự nhiên các quyết định của chính quyền - mà ai cũng có thể tranh luận từ vị thế của mình - thì lại chuyển hóa thành một vấn đề đạo đức, trước hết là nền ngoại giao của Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không, và kế đến là Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không khi điều hành bất cứ chính sách ngoại giao truyền thống nào. Ðó chính là tấn thảm kịch.

Tuyệt đối tôi không hề dựng lại chủ đề này. Tôi tin rằng hầu hết những gì từng trở nên sai lầm tại Việt Nam là do chính chúng ta tự gây ra. Và trong khi tôi ủng hộ chính sách lúc đó của chính phủ Nixon liên quan tới Việt Nam, trong khi tôi cũng vui sướng nhìn thấy các đại diện của Việt Nam có mặt tại đó, ngày nay tôi nghĩ sao thì lúc đó tôi vẫn nghĩ vậy. Rất có thể là tôi vẫn ưa thích một kết quả khác của cuộc chiến, ít nhất cũng là một kết quả khác không liên hệ một cách riêng tư tới cách thế chúng ta từng dằn xé nhau như vậy. Và quý vị phải hiểu rằng đây là quan điểm của tôi vào lúc đó cũng như bây giờ.

Quan điểm của tôi là như thế, bởi vì mới đây tôi có đọc một quyển sách được xuất bản tại Hà Nội về các cuộc thương thuyết của tôi với Lê Ðức Thọ mà tôi phải nói rằng chính xác tới 98 phần trăm. Và chỗ nào không chính xác thì không phải là thiết yếu cho chính đề. Nhưng nó cũng còn đúng cả trong hai phần trăm còn lại nữa, và chuyện đó chỉ đơn giản là vì vấn đề quan điểm mà thôi. Và những gì viết trong quyển sách đó đã khơi dậy lại một vấn đề - một lần nữa, khơi dậy lại vấn đề là có một sự khác biệt căn bản: Hoa Kỳ muốn thỏa hiệp trong khi Hà Nội thì muốn chiến thắng.

Ðối với tôi, một trong những điều lý thú nếu ông ấy (Ðại Sứ Brynn, người điều hành cuộc hội thảo) cho phép tôi nói, đó là chuyện tôi phải ngày ngày đối phó với Lê Ðức Thọ, một người coi như cáo già quá mức. Tôi muốn nói rằng ông ta mổ xẻ chúng tôi như là một nhà giải phẫu, sử dụng con dao mổ một cách hết sức tinh xảo, mà lúc nào cũng tỏ ra lịch sự. Nhưng theo quyển sách đó thì thỉnh thoảng ông ta cũng còn được Hà Nội nhắc nhở để nhớ rằng sẽ không thể có thương thuyết nếu như không có thay sự thay đổi cục diện trên chiến trường. Và mục tiêu của ông ta chính là làm sao đưa chúng tôi tới chỗ đó. Tôi nói tới đều này với lòng hết sức tôn trọng ông ta. Ðiều này thì cũng có thể hiểu được thôi. Người Việt Nam (cộng sản) đã chiến đấu suốt 50 năm không phải để thỏa hiệp nhưng là để thống nhất đất nước. Mục tiêu khách quan của Hoa Kỳ là duy trì một Miền Nam Việt Nam có thể sống còn được và sẽ được trao cho cơ hội phát triển bản sắc riêng của mình, và đó chính là mục tiêu mà chúng tôi quan tâm mỗi ngày. Ðó chính là thực tế của đời sống.

Trong tất cả mọi cuộc tranh luận diễn ra về chuyện chúng ta đã làm gì và đã không làm gì trong các cuộc thương thuyết, những gì thêm nữa mà lẽ ra chúng ta đã phải đưa ra và những gì mà lẽ ra chúng ta phải rút bớt lại, thực sự đã có một vấn đề không giải quyết được, đó là: Liệu miền Nam Việt Nam có quyền có bản sắc chính trị riêng của họ hay không, liệu họ có được phép phát triển các cơ chế riêng của họ hay không, hay là ngay từ đầu người ta đã định rằng mục tiêu phải đạt chính là thống nhất đất nước. Tất cả những đề nghị được hai bên sôi nổi tranh luận - một cuộc ngưng bắn và những hệ lụy của nó - thì những đề nghị đó, bằng cách này hay cách khác, đều được giải quyết hết sức mau lẹ. Chỉ có một điều không giải quyết được là liệu chính phủ hiện hữu tại miền Nam Việt Nam có thể sống còn được hay không, có thể được phép tồn tại hay không. Một khi vấn đề này được thỏa thuận rồi thì chúng tôi giải quyết mọi sự rất nhanh. Một số người có mặt trong phòng hôm nay còn nghĩ là qua sức nhanh nữa. Mà rồi tôi sẽ vui sướng được trả lời những câu hỏi về vấn đề này cùng những đề tài liên hệ. Nhưng đó chính là vấn đề cần phải được mọi người thông suốt.

Một lần nữa, khi chính phủ Nixon lên cầm quyền, tình thế ra sao? Cuộc chiến (tại Việt Nam) đã diễn tiến bao lâu rồi thì cũng còn tùy ở cách quý vị tính toán thời điểm, tức là tính từ thời Truman hay thời Kennedy hay từ giai đoạn mà chúng ta gởi quân chiến đấu đến đó. Nếu vậy thì chúng ta có thể có những mốc thời gian khởi đầu cuộc chiến khác nhau, cách biệt nhau từ bốn năm cho tới 15 năm.

Vào thời điểm đó, đã có 550,000 - hay chính xác hơn là 536,000 - binh sĩ Mỹ tại Việt Nam. Vào năm 1968, nửa sau của năm '68, số thương vong (của Hoa Kỳ) là khoảng 400 người một tuần. Và Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã xảy ra vào đầu năm '68. Hầu hết mọi người giờ đây đều coi đó là một chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ, nhưng lại là một thất bại về mặt tâm lý vào lúc đó là lúc người ta cũng không coi nó là một chiến thắng quân sự nữa. Nhưng cuộc tổng tấn công này đã chứng tỏ rằng (Hoa Kỳ) không thể thắng được cuộc chiến tranh. Chưa có thương thuyết - vì cuộc thương thuyết mới chỉ bắt đầu. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là cả đôi bên cùng nhau rút quân trong đó cuộc rút quân của chúng ta sẽ tiếp theo sau cuộc rút quân của Cộng Sản Bắc Việt. Và chính phủ vừa ra đi lúc đó đã để lại hồ sơ do (các Ðặc Sứ) Harriman và Vance viết, nói rằng sau cuộc dàn xếp hòa bình thì vẫn còn cần tới 260,000 quân Mỹ ở lại (Nam) Việt Nam.

Tôi muốn giải thích về chiến lược chính của chúng ta, tức là những gì chúng ta cố thực hiện. Lúc ấy có hai trường phái tư duy mà trong đó thật sự chỉ có một trường phái là được cứu xét nghiêm chỉnh mà thôi. Quan điểm cá nhân của tôi là chúng ta phải thực hiện một đề nghị hòa bình rộng khắp và toàn vẹn. Và nếu đề nghị đó bị bác bỏ thì chúng ta hãy gia tăng các hoạt động quân sự để coi chúng ta có thể đạt tới đâu. Ðề nghị này đi xa tới mức yêu cầu cựu Ðặc Sứ Vance đi Moscow để cùng phía (Cộng Sản) Việt Nam thương thuyết tại đó. Và chúng ta đã đưa cho Liên Xô một đề nghị đi xa hơn tất cả các đề nghị vào thời điểm đó. Ðề nghị này đã không bao giờ được trả lời. Người Nga không hề trả lời và phía (Cộng Sản) Việt Nam cũng không hề trả lời.

Thế rồi chúng ta cứ nấn ná nghiên cứu việc gia tăng hoạt động quân sự khiến cho báo chí cứ lấy đó làm đề tài mà điều tra. Nhưng quyết định sau cùng được đưa ra là chúng ta sẽ rút quân từ từ, đồng thời vẫn thương thuyết, với hy vọng đạt tới chỗ Hà Nội sẽ tán thành đề nghị chính trị căn bản của chúng ta. Tôi không muốn đề cập tới tất cả các bước đã thực hiện. Và rồi trong một khoảng thời gian là bốn năm chúng ta đã thực sự đạt mục tiêu ấy.

Một trong các phụ tá của tôi là Winston Lord. Và trong thời gian có cuộc tiến đánh Căm Bốt ông này muốn từ chức. Tôi có nói với ông: “Ðược rồi, ông có thể từ chức và giương biểu ngữ biểu tình bên ngoài tòa nhà này (Bộ Ngoại Giao) hoặc là ông có thể giúp tôi chấm dứt trận chiến đó. Và rồi 20 năm sau thế nào ông cũng phải tự hỏi ông có thể cảm thấy tình thế sẽ tốt đẹp hơn hay không.” Thế là ông ấy ở lại. Và đôi khi có người hỏi tôi rằng giây phút cảm động nhất của tôi trong giai đoạn tham chính là lúc nào thì tôi có thể thưa với quý vị rằng thực ra đó là lúc Lê Ðức Thọ, vào tháng 10 năm 1972, chấp nhận các đề nghị mà chúng tôi đã đưa ra hồi tháng 1 về cấu trúc của chính quyền đó (tại miền Nam Việt Nam). Trên thực tế, chính ông ấy đã đọc một bản tuyên bố nói rằng “sau cùng thì đây cũng chính là những gì mà ông đã đề nghị.” Và khi ông nói xong, tôi đã bắt tay với Ông Winston và nói: “Ðó, chúng ta đã thực hiện được việc này.” Nhưng hóa ra là chúng tôi đã không làm được việc đó vì nhiều ý do. Khách quan mà nói, có thể rằng việc đó không bao giờ có thể đạt được, mặc dù tôi vẫn không nhìn nhận sự thể như vậy. Dẫu sao, những con người có suy nghĩ hợp lý có thể lập luận như thế.

Trên căn bản, đó chính là sự kết hợp cả hai vụ Watergate và tình trạng chia rẽ trong nội bộ đất nước chúng ta - sự kết hợp giữa vụ Watergate và chia rẽ nội bộ khiến viện trợ cho (Nam) Việt Nam bị cắt đến hai phần ba giữa lúc giá dầu đang tăng cao - đã ngăn cấm mọi trợ giúp quân sự cho (Nam) Việt Nam, điều mà chúng ta không yêu cầu các đồng minh của mình nên làm vào bất cứ lúc nào. Ðó là cảm tưởng của tôi về những gì đã xảy ra.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tại sao phải lo về Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng

Giới trí thức đang lo rừng Việt Nam bị đem nhường cho người Trung Hoa khai thác hàng 50 năm; biển Việt Nam bị người Trung Hoa chiếm; nhiều người tìm cách ngăn cản không cho các công ty Trung Quốc mang người vào khai thác bô xít (bausite) làm nguy hại môi trường sống, biến các cư xá công nhân thành những làng tự trị sống ngoài luật pháp nước Việt Nam.

Giới văn nghệ xôn xao về một cuốn phim Lý Công Uẩn “made in China!” Người Việt Nam nào cũng đau lòng khi nhân vụ Trung Quốc phản đối Nhật Bản bắt giữ một thuyền trưởng người Trung Hoa, báo chí nhắc cho các nước chung quanh biết chuyện Hải Quân Trung Quốc bắt ngư dân ngay trong hải phận nước Việt đưa về giam giữ ngay ở Hoàng Sa (mà họ đã chiếm của nước Việt Nam từ năm 1974), rồi đòi tiền chuộc. Nhiều người Việt còn lo nếu sang năm đại hội của đảng Cộng Sản bầu lên nhiều người có tinh thần độc lập đối với Trung Quốc thì không biết liệu họ có đánh nước mình hay không! Hay là họ sẽ xếp đặt trước cho chuyện đó không thể xẩy ra, để họ khỏi phải đánh mà vẫn thắng!

Từ hai ngàn năm nay, người Việt vẫn lo tự vệ trước sức mạnh bành trướng của người Hán. Nhưng chưa bao giờ mối lo đó lại đè nặng trên tâm tư người Việt như vậy. Mối lo càng lớn hơn vì Trung Quốc đang nỗ lực thay đổi để trở thành một cường quốc kinh tế đứng hạng nhì thế giới, mà trong một thế hệ nữa, Tổng sản lượng nội địa của một tỷ dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để đứng hạng nhất. Trước viễn ảnh đó người Việt Nam nào không lo lắng?

Nhưng khi nhìn sang những nước chung quanh chúng ta phải tự hỏi tại sao các quốc gia khác trong vùng Á Ðông họ cũng lo về Trung Quốc nhưng không ai hoảng hốt lo sợ như nước mình? Hàn Quốc và Ðài Loan nằm sát bên Trung Quốc, như những con mèo nằm bên cạnh con cọp. Những quốc gia nhỏ khác trong vùng như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, nhỏ bé đến như Singapore, họ đều ý thức về vai trò đang lên của Trung Quốc và biết họ phải làm gì; nhưng trong dư luận dân chúng họ vẫn bình tịnh không hoảng hốt trước sự bành trướng của cường quốc Trung Hoa như người Việt mình. Tại sao vậy?

Hãy nhìn vào hai nước Á Ðông láng giềng của Trung Quốc, gần không khác gì Việt Nam mà lại nhỏ hơn Việt Nam. Hàn Quốc đến giờ vẫn còn bị chia đôi. Nước họ đã từng bị đế quốc Trung Hoa đặt làm An Ðông Ðô Hộ Phủ vào thời gian mà nhà Ðường gọi nước ta là An Nam, bây giờ trong nước họ không ai báo động nhau về sự bành trướng của Hán tộc một cách hoảng hốt như người Việt! Tại sao Ðài Loan, hòn đảo vẫn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc, họ không lo bị Trung Quốc lấn áp hay xâm chiếm mà còn mở rộng giao thương, trao đổi văn hóa, và mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự mặc dù bị Bắc Kinh công khai phản đối? Nước Việt Nam khác hai nước trên ở những điểm nào mà dân họ bình tĩnh, tự tin, còn dân mình thì lo sợ đến thế? Trả lời được câu hỏi này là biết được người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Lý do thứ nhất là kinh tế. Ðài Loan và Nam Hàn đang là những cường quốc kinh tế trong khu vực Á Ðông. Sản lượng bình quân ở Nam Hàn trên 24,000 đô la một đầu người, Ðài Loan trên 30,000 đô la, còn Trung Quốc chỉ có hơn 5,000 (Việt Nam bằng một nửa Trung Quốc, và đây là lối tính PPP, dựa theo mãi lực tương đối của người dân chứ không theo lối chỉ tính bằng đô la Mỹ). Dù tới khi tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc tăng gấp ba lớn bằng GDP của Mỹ thì một người dân trung bình ở nước Ðại Hán vẫn còn nghèo, chưa bằng một phần ba người dân hai nước nhỏ láng giềng. Dân giầu thì nước mạnh, nhất là trong thời “thế giới hậu cộng sản” và kinh tế toàn cầu hóa bây giờ.

Sau khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những quốc gia nhỏ không phải mang mối lo bị một cường quốc nào xâm chiếm nữa. Mỹ không có tham vọng chiếm đóng Iraq lâu dài cũng như Nga không dám đem quân vào các nước Georgia và Ukraine trước kia từng thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trung Quốc dù có tăng sức mạnh quân sự gấp trăm lần cũng vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; mà từ năm 1950 họ vẫn chưa dám đem quân sang đánh các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ, những đảo này gần bờ biển Phc Kiến hơn gần Ðài Loan, thì bây giờ họ càng phải dè dặt hơn.

Tuy Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn do những đảng tự gọi là cộng sản cai trị, nhưng chúng ta thực sự đang sống trong một “thế giới hậu cộng sản” vì chủ nghĩa cộng sản đã bị vứt bỏ từ hai chục năm nay rồi, mặc dù ngoài miệng họ vẫn “mạo xưng” họ là cộng sản.

Nhưng trong “thế giới hậu cộng sản” này nền kinh tế của tất cả các nước đều liên hệ đến nhau. Tất cả các cường quốc đều muốn duy trì một tình trạng ổn định. Ðể yên tâm làm ăn. Mục tiêu của các quốc gia là nâng cao mức sống của người dân chứ không phải là thực hiện một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào. Không hề có một “chủ nghĩa tư bản” như người cộng sản thường hô hoán. Kinh tế tư bản là một cách tổ chức xã hội cạnh tranh để sinh tồn theo luật tự nhiên; mà cơ cấu tổ chức tư bản đó sẵn sàng biến hóa theo nhu cầu từng giai đoạn, cũng là một luật tiến hóa tự nhiên. Sức mạnh của một quốc gia nằm trong lãnh vực kinh tế: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Nhưng các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc về quân sự cũng như kinh tế, không ai muốn thế quân bình hiện có bị xáo trộn. Không một cường quốc nào sẵn lòng đi giúp một nước này chống nước khác nếu không phải vì muốn bảo vệ thế quân bình tương đối ổn định đó. Ý nghĩ kết thân với một nước này để chống lại nước khác hoàn toàn dựa trên địa lý chính trị là một ảo tưởng. Trái đất đã “bằng phẳng” hơn, núi, sông, biển cả không còn quyết định các mối tương quan quốc tế như trong thế kỷ trước nữa. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, mỗi cường quốc kinh tế chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ và họ biết các quốc gia khác cũng như vậy. Các quốc gia liên kết với nhau, chính yếu là qua những hiệp ước thương mại chứ không phải qua những liên minh quân sự như 50 năm trước nữa. Ý tưởng liên kết với một nước khác qua một chủ nghĩa, vì cùng một chế độ, một mô hình tổ chức xã hội, là một ý tưởng lạc hậu và nguy hiểm cho chính bản thân nước mình.

Các nước như Ðài Loan, Nam Hàn cũng lo lắng trước sự bành trướng quân sự và kinh tế của Trung Quốc; nhưng trong dân chúng họ không hoảng hốt lo âu như ở Việt Nam hiện nay. Lý do vì họ đã đi trước lục địa Trung Hoa trên con đường tư bản hóa; dân họ giầu có hơn, lại nhờ chế độ tự do ngôn luận người dân được thông tin đầy đủ nên hiểu biết hơn, vì thế họ vững tâm hơn.

Nhưng một sức mạnh không thể chối cãi được là ở các nước trên dân chúng và chính quyền đều đồng ý với nhau phải làm sao cho dân giầu, nước mạnh thì mới đứng vững được trong cuộc chạy đua với hơn một tỷ người Trung Hoa. Và họ biết phải làm gì để dân giầu, nước mạnh. Chế độ tự do dn chủ giúp cho cả nước một lòng.

Dân chúng các nước này có “đồng thuận” với nhau không? Có thể trả lời ngay là không! Chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc của chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan đang bị đảng đối lập và báo chí tự do chỉ trích. Phe đối lập nêu rất nhiều lý do khác nhau, nhưng đó là những lý do thực tế chứ không dựa vào chủ nghĩa nào cả. Tại Nam Hàn mỗi lần thay đổi tổng thống là lại xác định một chính sách mới đối với Bình Nhưỡng cũng như Bắc Kinh. Nam Hàn nhỏ như vậy, dân số ít hơn nước Việt Nam mình, nhưng họ dám cho hải quân thao dượt chung với Mỹ ngay trong Hoàng Hải kề cận nước Trung Hoa; mặc dù Bắc Kinh ồn ào phản đối. Nhưng ngay trong nước họ,người Nam Hàn cũng cãi nhau về chính sách đối với Bắc Hàn.

Trong xã hội dân chủ chỉ cần mọi người cùng theo những luật chơi minh bạch, công khai để quyết định những chính sách chung. Chính nhờ những luật chơi dân chủ mà một khi chính sách quốc gia đã được đa số dùng lá phiếu để lựa chọn rồi, cả nước trên dưới một lòng. Mặc dù lúc nào cũng vẫn có người vẫn không đồng ý và tiếp tục tìm cách chinh phục đa số theo ý kiến của mình.

Chính chế độ tự do dân chủ đã gây nên sức mạnh của Hàn Quốc và Ðài Loan. Các đảng chính trị ở hai nước đó vẫn “đấu đá” nhau thẳng tay để giành quyền lãnh đạo, nhưng các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng và người dân nắm quyền lựa chọn tối hậu. Trong nước họ cũng có những người lợi dụng quyền thế làm tiền; cũng có những nhà kinh doanh tìm cách hối lộ cho được việc; nhưng nhờ báo chí tự do và bầu cử tự do cho nên trong xã hội có cả một mạng lưới ngăn ngừa tham nhũng tự nhiên. Ðiều đáng kể nhất là xã hội công dân ở các nước trên đã phát triển rất mạnh nhờ các công dân đều được tự do lập hội, từ những hội từ thiện, thể thao, nghệ thuật, giải trí,cho tới đảng chính trị. Mỗi nhóm công dân có những nhu cầu và quyền lợi riêng được tự do hoạt động và phát triển mà không bị guồng máy nhà nước ngăn cản. Năm ngoái khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến thăm Ðài Loan do lời mời của các Phật tử để cầu nguyện cho các nạn nhân bị bão, Bắc Kinh đã kịch liệt đả kích cuộc thăm viếng này. Chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan cũng tỏ ý chống, vì không muốn làm mất lòng chính quyền cộng sản lục địa trong lúc đang bàn chuyện buôn bán làm ăn. Nhưng chính quyền Ðài Bắc vẫn phải chịu thua dân, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma được mời thì cứ tới. Chỉ trong một nước tự do người ta mới thể hiện được đủ các quyền công dân như vậy. Và năm nay Trung Quốc với Ðài Loan vẫn ký một hiệp ước thương mại mở thêm rất nhiều cửa cho các công ty Ðài Loan bán hàng vào lục địa!

Ðối với nước Việt Nam ta, điều đáng lo lắng nhất không phải là Trung Quốc tiến lên địa vị mạnh hơn ở Á Châu và trên thế giới. Ðiều đáng lo nhất là nước Việt Nam đã chậm tiến lại càng ngày càng bị bỏ lại phía sau, trong khi bên Trung Quốc người ta tiến nhanh hơn về kinh tế và trong khi các nước khác trong vùng Á Ðông tiếp tục tiến bộ cả về chính trị và kinh tế. Người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21? Muốn giảm bớt mối lo người Việt chỉ còn cách phải thay đổi cả về chính trị lẫn kinh tế để theo kịp Nam Hàn và Ðài Loan! Khi nào nhà nước cộng sản trả lại các quyền tự do cho dân, người dân Việt được làm ăn tự do hơn và được góp ý kiến tự do hơn vào việc nước, thì mới hy vọng sẽ dần dần giảm bớt mối lo!

Chính quyền cộng sản ở Việt Nam hiện nay đang đẩy lùi cả nước đi ngược dòng tiến hóa khi họ đang lo bắt bớ những bloggers, cấm đoán dân phát biểu ý kiến khác với đảng. Khi các chuyên gia và giới trí thức, đa số sống ở Hà Nội dưới chế độ cộng sản nửa thế kỷ nay cũng phải tự giải tán một tổ chức khoa học chỉ nhằm mục đích nghiên cứu phát triển và bảo vệ môi trường thì các công dân khác làm sao góp phần xây dựng quốc gia? Cuộc đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long lại được khai mạc vào đúng ngày Quốc Khánh Trung Cộng, khi mà ai cũng biết vua Lý Thái Tổ dời đô vào Tháng Bẩy âm lịch! Bao nhiêu người thắc mắc mà chính quyền không thèm giải thích tại sao họ lại chọn ngày đó!

Với một chính quyền lạc hậu và coi thường ý dân như thế, dân tộc ta không lo lắng sao được? Cứ để cho một nhóm tham nhũng và bất lực tiếp tục cầm đầu, nắm cổ mọi người mãi hay sao?

Post Reply