Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn: Dìu thế nhân dần vào chốn thiên thai...

Image
Đoàn Chuẩn và Từ Linh (Noel 1962).

Người ta gọi ông bằng những mỹ từ sang trọng nhất. Là ông "vua nhạc tình", là "nhạc sĩ của mùa thu Hà Nội". Cả đời, ông sáng tác chỉ vỏn vẹn chưa đến 20 bài, song có đến già nửa trong số ấy được thiên hạ coi là kiệt tác, và đều rất phổ biến...


Yêu nhiều, thể hiện được các mối tình trong âm nhạc, song ông vẫn luôn được chăm bẵm bởi người vợ hiền thục, đảm đang, rất hiểu và cảm thông cho máu nghệ sĩ đào hoa của chồng. Có một thời, do hoàn cảnh, tác phẩm của ông không được nhắc nhiều, song người hâm mộ thì chẳng bao giờ thưa vắng. Ở góc độ nào đó, có thể xem Đoàn Chuẩn là một trong những nhạc sĩ có đời sống vật chất lẫn tinh thần "viên mãn" nhất trong các nhạc sĩ Việt Nam?

1.Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sinh năm 1924, trong một gia đình tư sản ở Hải Phòng. Cụ thân sinh ra ông là chủ Hãng Vạn Vân, hãng nước mắm lớn nhất Bắc Kỳ thời ấy. Sẵn điều kiện kinh tế, ngay từ thời trẻ, Đoàn Chuẩn đã thể hiện lối sống phong lưu, tiêu tiền không cần đếm của mình. Ông Đoàn Đính, con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đã ví cha mình như một "công tử Bạc Liêu" của đất Bắc. Ấy là người một ngày thay mấy bộ quần áo, đổi tới chục đôi giày; đồ ăn bao giờ cũng phải tươi, và khi yêu bao giờ cũng chỉ yêu... phụ nữ đẹp. Vào những năm bốn mươi (của thế kỷ trước), cả Việt Nam có hai chiếc Cadillac thì Đoàn Chuẩn có một chiếc. Sống ở Hà Nội song thường cuối tuần ông phóng xe về bãi biển đẹp nhất Hải Phòng để tắm. Khi đi chơi biển, ông không gửi xe vào môt gara nào đó trên bờ mà phi xe xuống gần mép nước. Ông thuê nhiều ô để... che nắng cho chiếc Cadillac, diện tích ô che bao nhiêu, trả tiền bấy nhiêu.

Cách tỏ tình của Đoàn Chuẩn cũng hết sức lãng mạn, tài tử. Nếu như ở phương Tây từng có chuyện, một anh chàng tỏ tình với nữ minh tinh màn bạc Brigitte Bardot bằng cách thuê máy bay rải hoa hồng xuống cửa nhà - nơi người đẹp cư ngụ thì Đoàn Chuẩn, thay vì trực tiếp tỏ tình với một thiếu nữ, trong suốt ba năm, sáng nào ông cũng thuê một người mang tặng thiếu nữ một bông hồng đỏ, cho tới đủ bông thứ 1.000 ông mới xuất đầu lộ diện.

Chuyện yêu đương "hoa lá cành" thì vậy, chuyện cuộc tình dẫn tới hôn nhân của ông lại xem chừng khá gọn ghẽ, giản đơn. Nói như ông Đoàn Đính là "chẳng tốn cánh hoa và cuộc đón đưa nào". Chung quy là bởi, vì quá cưng chiều con trai, bà mẹ của nhà nhạc sĩ tương lai và mẹ của thiếu nữ tên Xuyên (tức bà Đoàn Chuẩn sau này) đã "đi ngầm" với nhau trước. Cô gái chỉ biết chuyện anh chàng đẹp trai và nổi tiếng hào hoa ấy (khi đó, cả hai đều đang học chung một lớp ở Trường trung học Louis Pasteur) đã "chấm điểm" mình khi người mẹ cho hay. Thế là họ lên xe hoa chính thức thành vợ thành chồng khi vừa 18 tuổi.
Image
Vợ chồng nhạc sĩ Đoàn Chuẩn.
Có thể nói, bà Đoàn Chuẩn là một người vợ tuyệt vời. Bà đẹp nền nã, tính tình chăm chỉ tháo vát. Không chỉ hết lòng chăm lo cho cuộc sống vật chất của chồng (ở những năm tháng khó khăn sau này), bà còn rất tế nhị, vị tha khi bỏ qua những phút "yếu lòng" của ông. Bà thương yêu chồng, nhưng hiểu và tôn trọng cá tính của người nghệ sĩ, nhờ đó mà Đoàn Chuẩn đã có được những giây phút thăng hoa trong đời để rồi kết tinh sáng tạo nên những ca khúc tuyệt diệu.

Có một chuyện "thật như... bịa" vẫn thường được báo chí nhắc tới, như thể là một minh chứng cho sự cao tay "lạt mềm buộc chặt" của bà Đoàn Chuẩn: Một lần, trước mối quan hệ xem chừng đã quá sâu sắc của chồng mình với một nữ ca sĩ nổi danh đất Hà thành khi ấy, thay vì đánh ghen, bà Đoàn Chuẩn đã tìm gặp cô ca sĩ nọ, nhẹ nhàng hỏi: "Chị hỏi thật, em có yêu anh Đoàn Chuẩn không?". Cô ca sĩ trả lời có. Bấy giờ bà mới nói: "Em trót yêu anh Đoàn Chuẩn nhà chị thì em cố yêu nốt ba đứa con của anh ấy nhé". Chỉ một câu thế thôi mà cô ca sĩ tỉnh mộng, liền đem trả bà Đoàn Chuẩn thư từ của nhà nhạc sĩ tài danh và xé những bài hát ông viết dành tặng mình. Đó chính là nguyên cớ để Đoàn Chuẩn viết nên tác phẩm "Bài ca bị xé" (hay còn được gọi là "Bài ca vĩnh biệt").

Như người đời từng nhận xét "mỗi ca khúc của Đoàn Chuẩn đều khơi nguồn từ một cuộc tình", với người vợ thân thương của mình, Đoàn Chuẩn cũng đã dành tặng ít nhất hai bài: Ca khúc "Đường về Việt Bắc" (còn có tên gọi "Tà áo tím") và một ca khúc được phát hiện sau khi ông mất, ca khúc "Ánh trăng mùa thu" (hiện "nguyên mẫu" bài hát được nhiều người khẳng định không ai khác ngoài người vợ hiền thục của nhà nhạc sĩ). Tuy nhiên, cũng có người cho rằng như thế là chưa "công bằng", khi mà có "bóng hồng" được nhạc sĩ viết tặng tới 6 bài. Về việc này, bà Đoàn Chuẩn có cách nhìn thật tinh tế, bao dung: "Ông nhà tôi lãng mạn, đa tình lắm. Có vậy ông mới viết được bài hát hay thế... Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên - sao ông tài thế? Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông".

2. Được người đời biết nhiều từ ca khúc "Tình nghệ sĩ" viết năm 1948, sự nghiệp âm nhạc của Đoàn Chuẩn cơ bản dừng lại từ năm 1955. Sau này, vào thập niên 80, 90 (của thế kỷ trước), ông có sáng tác thêm một đôi bài, nhưng gần như chỉ gọi là "khởi động lại" đôi chút cho đỡ nhớ nghề. Mặc dù số lượng ca khúc Đoàn Chuẩn để lại rất ít, chưa đầy 20 bài, song quá nửa bài trong số ấy chỉ cần nhắc tên là bạn yêu âm nhạc đã cảm thấy xao xuyến, bởi đó là những bài hát vẫn vương vấn, quấn quít với lòng người, với tình yêu và mùa thu Hà Nội từ nhiều chục năm nay: "Thu quyến rũ", "Gửi gió cho mây ngàn bay", "Đường về Việt Bắc", "Gửi người em gái", "Cánh hoa duyên kiếp", "Tà áo xanh", "Vàng phai mấy lá", "Chuyển bến", "Lá đổ muôn chiều","Lá Thư"... Một đồng nghiệp của Đoàn Chuẩn đã nhận xét chính xác rằng, Đoàn Chuẩn viết kỹ, trong những sáng tác ông đã cho công bố, không có bài dở. Có lẽ vì sự khó tính ấy mà có bài, phải đến khi nhạc sĩ qua đời, mọi người mới tìm ra?

Hà Nội đang mùa thu, nghe những câu hát đẹp đến nao lòng của Đoàn Chuẩn, có ai không cảm thấy một sự xốn xang, hoài niềm:

"Anh mong chờ mùa thu/ Dìu thế nhân dần vào chốn thiên thai/ Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay/ Mùa thu quyến rũ anh rồi", hoặc "Mây bay về đây cuối trời/ Mưa rơi làm rung lá vàng...", hoặc "Chiều nay sao dâng nhanh màu tím/ Và mây bay theo nhau về bến..."... Điều thật lạ là với những ca khúc mang đậm dấu ấn tình cảm riêng tư như thế này nhưng bao giờ cũng được ghi tên hai người (coi như đồng tác giả) là: Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Khán giả từng nhiều lần đặt vấn đề Từ Linh là ai? Sinh thời, Đoàn Chuẩn ít nói về chuyện này, song kể từ khi ông mất đi thì mọi việc cũng được những người thân của ông giúp làm sáng rõ.

Từ Linh tên thật là Tạ Đình Thâu, là một nhiếp ảnh gia. Ông không trực tiếp sáng tác, nhưng vì muốn tôn vinh người bạn rất đỗi tri ân của mình, Đoàn Chuẩn đã ghi chung tên Từ Linh vào các ca khúc được công bố của mình. Sau khi từ Linh mất (năm 1992), Đoàn Chuẩn vẫn tiếp tục ghi tên Từ Linh vào những ca khúc ông mới sáng tác. Theo bà Đoàn Chuẩn thì Từ Linh có biệt danh "Tư lì" (vì rất ít nói), nhưng khi đưa vào nhạc, để trang trọng, Đoàn Chuẩn mới đặt lại là Từ Linh.

Có thể nói, tình bạn giữa Đoàn Chuẩn và Từ Linh là một tình bạn mẫu mực. Chơi thân với nhau từ thời trai trẻ, khi cả hai tiền nong đều rất dư dả (hiện gia đình Từ Linh còn giữ được giấy mời xem phim của rạp Đại Đồng có ghi Giám đốc Đoàn Chuẩn và Phó giám đốc Từ Linh), cho đến khi Từ Linh ốm rồi tạ thế, Đoàn Chuẩn vẫn trước sau như một. Về chuyện này, một người con trai của Từ Linh đã kể: Trong suốt bốn tháng bố anh nằm liệt giường, sáng nào Đoàn Chuẩn cũng mang cháo sang cho bạn, rồi trò chuyện tới cả tiếng mới về. Hôm tang lễ Từ Linh, trong vòng hoa viếng bạn, thay vì hai chữ "vĩnh biệt", Đoàn Chuẩn lại viết là "Tạm biệt Từ Linh".

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết vậy, bởi ông biết, chẳng còn bao lâu ông cũng sẽ phải về thế giới bên kia. Và ở bên ấy, ông sẽ lại được gặp người bạn yêu thương. Gia đình nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ghi lại rằng, đầu năm 2000, ông bị tai biến mạch máu não và hôn mê. Sau đó, ông có tỉnh lại nhưng không nói được, chỉ có thể bút đàm. Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trút hơi thở cuối cùng vào ngày 15 tháng 11 năm 2001 tại Hà Nội. Câu nói cuối cùng của ông là: "Rồi những người tình sẽ ra đi. Rồi nhạc sĩ sẽ ra đi. Chỉ còn tác phẩm ở lại"

Nguyễn Thanh Phúc

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

TÌNH YÊU

Bố tôi mắc bệnh hiểm nghèo, chắc chẳng sống được thêm bao lâu nữa.

Việc mà ông cụ canh cánh trong lòng nhất là người mẹ già của tôi. Nhân lúc còn chút sức tàn, ông cụ tìm cách điều mẹ tôi đi nơi khác, rồi gọi vợ chồng tôi đến trước giường nằm nói :” Các con,bố giao mẹ con cho các con, mẹ con ở với bố chả được hưởng sung sướng nào. Sau khi bố chết, các con hãy chăm sóc mẹ cho tốt!”. Chúng tôi chảy nước mắt khi nghe lời dặn dò, và hứa: ” Bố yên tâm,chúng con nhất định sẽ trông nom mẹ chu đáo”. Bố tôi vui lòng gật đầu, lại dặn thêm:” Các con yêu quý, bố đã viết di chúc, sau này hãy làm theo những điều viết trong di chúc!”.
Chúng tôi lại hứa xin làm theo.
Không lâu sau đó, bố tôi qua đời.


Tang lễ bố tôi rất long trọng,những vị cao tuổi trong thôn đều cho rằng bố tôi là người may mắn, hai vợ chồng sống với nhau suốt đời, con trai con dâu đều hiếu thuận, sống được như vậy, đáng lắm!

Lo liệu xong việc tang, tôi tìm được di chúc của bố,lòng rất bồn chồn: mọi việc trong nhà đều rất mĩ mãn, không rõ bố còn dặn dò điều gì? Thế nhưng, bố đã viết di chúc, tôi quyết định sẽ làm theo. Hôm sau, tôi và vợ mở di chúc ra xem.

Di chúc viết như thế này:
“ Các con yêu quý, bố có một việc nhờ cậy các con. Việc này liên quan đến mẹ các con. Các con đều không biết, mẹ các con rất thích cho dấm vào thức ăn, nhưng mấy chục năm nay, khi làm món ăn không bao giờ mẹ con cho dấm vì biết bố không thích ăn như vậy. Vì bố mà mẹ các con mấy chục năm nay không hề ăn các món có trộm dấm, vì vậy bố xin các con, từ nay trở đi khi làm món ăn đều cho dấm vào. Được như vậy,coi như là các con thay cho bố có chút đền bù cho mẹ!”


Đọc xong di chúc, hai vợ chồng tôi không nói ra lời. Mối tình sâu nặng giữa bố, mẹ chúng tôi, lòng thương yêu nhau ấy, mặc dù chất phác, đơn sơ, nhưng cảm động biết bao!
Ngay chiều hôm đó, khi làm cơm tối, vợ tôi đã cho dấm vào các món ăn. Trước khi mọi người ngồi vào bàn, mẹ tôi bỗng đột nhiên bảo tôi: ”Này, xếp ghế ngồi cho bố các con đi chứ!”. Tôi vội bê ghế đến, lấy thêm bát, đũa, và còn đặt một chiếc ly lên bàn rồi rót đầy rượu. Sau đó chúng tôi lặng lẽ nhìn mẹ gắp thức ăn.

Ai ngờ vừa gắp ăn một miếng nhỏ, mẹ lại thử tiếp mấy miếng nữa, rồi nhíu mày lại. Thấy vậy, tôi rất lo, đang định nói ngọn nguồn, thì mẹ tôi đã đặt đũa xuống, nước mắt trào ra, nói:” Các con không biết bố con không thích ăn chua hay sao? Vì sao bố các con vừa đi, các con đã làm thức ăn chua thế này, bố con ăn làm sao được!”.
Nghe những lời nói đó của mẹ, tôi và vợ tôi cùng khóc theo…

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Một Vài Hình Ảnh Saigon Hôm Nay

Image

Image


Image


Image


Image


Image


Image

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

NHẬT KÝ LINH PHƯƠNG

Image

VỀ MỘT BÀI THƠ PHỔ NHẠC

Trong chương trình đại nhạc hội “ Cánh hoa thời loạn “ tổ chức tại Long Beach Convention Center, thu hình trực tiếp trong bộ đĩa DVD -Asia 66 . MC. Nam Lộc có giới thiệu tác giả bài thơ “Để trả lời một câu hỏi “ tức “ Kỷ vật cho em “ nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc do ca sĩ Thanh Lan và Vũ Khanh trình bày . Đại ý là: “ Thi sĩ Linh Phương tác giả bài thơ qua nhiều tin đồn như : ông đã chết trận Hạ Lào , rồi chết ở Kampuchea . Có tin đồn lại nói ông hiện còn sống. Trung tâm Asia nhiều lần tìm cách liên lạc với ông , nhưng vẫn không được…”.
Tôi được hồng nhan tri kỷ ở Canada cho tôi biết về chuyện trên, và sau đó qua trung gian hồng nhan tri kỷ , anh Nam Lộc đã liên lạc cùng tôi. Tôi nhận được nhiều tình cảm của anh chị em nghệ sĩ đối với tôi-tác giả bài thơ phổ nhạc gây chấn động dư luận trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Tôi rất xúc động trước những tình cảm ấy, nhất là khi đọc email của anh Nam Lộc và ca sĩ Thanh Lan gửi cho tôi ( Trong Hồi Ký Linh Phương kỳ 40 ,tôi sẽ viết chi tiết hơn và về tiền tác quyền mà Trung tâm Asia đã trả ). Bốn mươi năm trôi qua, tưởng Kỷ Vật Cho Em đi vào ký ức xa xăm của những người yêu thơ nhạc ngày ấy. Nhưng không ngờ, qua bao thăng trầm dâu bể, bài thơ “Để trả lời một câu hỏi “ hay “ Kỷ Vật Cho Em “ vẫn còn hiện hữu như ngày nào của những năm đầu thập niên 70.Mới đây , trên mạng You Tube cũng có một Video Kỷ Vật Cho Em do ca sĩ Ngọc Lan hát. Video này có hình ảnh tôi, bìa tập thơ và những câu thơ trích trong tập thơ “ Kỷ Vật Cho Em “.
Không phải chỉ lĩnh vực ca nhạc, mà ở lĩnh vực văn học cũng quay trở lại đề cập về bài thơ phổ nhạc này . Trong cuốn “ Trang sách và những giấc mơ bay - tập 1 của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên do Thư Ấn Quán xuất bản tại Hoa Kỳ đã có bài “Đọc lại Kỷ Vật Cho Em “ nhắc lại những ý nghĩ của người lính miền Nam khi nghe bài thơ phổ nhạc ấy.
Tôi có phần đời gian nan, lận đân- gần hết kiếp người vẫn trắng tay-đó là cái bất lực của tôi trước cuộc sống hôm nay. Nghèo vật chất , điều đó không là gì so với cái giàu tinh thần mà tôi nhận được từ nơi người ái mộ đã 40 năm qua, và có lẽ đến cuối cuộc đời tôi.
Mà cuối cuộc đời tôi thì không xa mấy , gần lắm rồi. Buồn vui một kiếp người sẽ không còn nữa.Khép mắt là hết, là xong.
Tôi vừa xem Asia 66 “ Cánh Hoa Thời Loạn “ , vừa viết nhật ký đầu tuần để post lên Hoa Đông Phương, tôi như thấy hình ảnh một thời của mình-một thời thế hệ chúng tôi xếp bút nghiên lên đường ra mặt trận. Một thời nếu có yêu cũng yêu vội vàng vì sợ không còn có cơ hội để yêu. Một thời yêu không dám yêu sợ mình về không còn nguyên vẹn thân thể để mà yêu. Thế hệ chúng tôi là chiến tranh và sau đó là tù đày , là như thế đó.Viết đến đây, tôi đã chảy nước mắt không thể viết thêm về thế hệ chúng tôi nữa.

“ Em xem KVCE trong DVD-Asia 66 nhiều lần , lần nào cũng xúc động chảy nước mắt “; “ Em đã coi Asia 66 nói về anh , em rất hãnh diện “; “ Xem Asia 66 khóc vì hai bài thơ phổ nhạc là “Áo anh sứt chỉ đường tà “ của Hữu Loan và “ Kỷ vật cho em “ của anh “. Có cô đã hát cho tôi nghe nguyên bản Kỷ Vật Cho Em trên điện thoại di động . Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe những người yêu mến tôi gọi điện thoại và hát cho tôi nghe như thế.
Bạn thấy không, trong gian nan , bất hạnh của cuộc đời- tôi còn được may mắn hạnh phúc mà không phải ai cũng diễm phúc như thế. Cái may mắn mà một người bạn nhà văn thường hay nói với tôi : “ Tôi ao ước được như ông “.

20/09/2010

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Made in Việtnam
Lẽ ra bữa nay bác sĩ Lê không nhận bịnh nhân vì là ngày nghỉ trong tuần của ông. Nhưng hôm qua, trong điện thoại, nghe giọng cầu khẩn của người bịnh ông không nỡ từ chối. Người đó – ông đoán là một cô gái còn trẻ – nói chuyện với ông bằng tiếng Mỹ. Cô ta hỏi ông nhiều lần :
- Có phải ông là bác sĩ Lee không ?
Tên ông là Lê. Cái tên Việt Nam đó ở xứ Mỹ này người ta viết là " Lee ", nên ông được gọi là " ông Lee " ( Li ).
Ông ôn tồn trả lời nhiều lần :
- Thưa cô, phải. Tôi là bác sĩ Lee đây.
- Phải bác sĩ Lee chuyên về châm cứu và bắt mạch hốt thuốc theo kiểu Á đông không?
- Thưa cô phải.
- Có phải phòng mạch của bác sĩ ở đường Green Garden không ?

Bác sĩ Lê, đã ngoài sáu mươi tuổi, tánh rất điềm đạm, vậy mà cũng bắt đầu nghe bực ! Tuy nhiên, ông vẫn ôn tồn :
- Thưa cô phải. Xin cô cho biết cô cần gì ?
Giọng cô gái như reo lên :

- Vậy là đúng rồi ! Con Cathy bị bịnh suyễn nói bác sĩ chữa bịnh hay lắm. Cả nhà nó, kể luôn ba má ông bà nó đều đi bác sĩ hết.
Đến đây thì ông bác sĩ già đó không kềm được nữa, ông xẵng giọng :

- Cám ơn cô. Bây giờ xin dứt khoát cho tôi biết coi cô muốn cái gì ?
Giọng bên kia đầu dây như lắng xuống :
- Tôi xin lỗi bác sĩ. Xin lỗi. Tôi muốn xin bác sĩ cái hẹn cho ngày mai. Tôi bịnh…
- Mai là ngày nghỉ trong tuần, phòng mạch không có mở cửa. Ngày khác vậy.
- Ngày mai cũng là ngày nghỉ của tôi nữa, bác sĩ à.
- Cô đã bịnh thì cứ xin nghỉ để đi bác sĩ, ngày nào lại không được !

Một chút im lặng ở đầu dây bên kia rồi giọng người con gái bỗng nghe thật buồn :

- Họ đâu có cho nghỉ, bác sĩ. Họ nạt vô mặt :" Mầy muốn nghỉ thì mầy nghỉ luôn đi. Thiếu gì đứa muốn vào làm chỗ của mày. Mày biết không ?"
Giọng nói như nghẹn ngang ở đó, rồi tiếp :
- Không có việc làm là chết, bác sĩ à…
Ông bác sĩ già làm thinh, suy nghĩ. Đầu dây bên kia, cô gái van lơn :
- Xin bác sĩ thông cảm. Tôi sợ bịnh nặng hơn, không đi làm nổi nữa là mất việc. Xin bác sĩ thông cảm. Xin thông cảm.
- Ờ thôi, để tôi ráng giúp cô. Sáng mai, chín giờ. Phòng mạch của tôi ở số…
- Cám ơn bác sĩ. Cám ơn ! Con Cathy có chỉ phòng mạch của bác sĩ rồi.
- Xin lỗi. Cô tên gì ?
- Kim. K, I, M.

Bác sĩ Lê vừa ghi vào sổ hẹn vừa nghĩ :" Tội nghiệp ! Chắc lại đi làm lậu nên mới bị người ta hâm he như vậy. Theo cách phát âm thì cô này có vẻ là người Á đông. Tên Kim chắc là Đại Hàn. Để mình phải phone lại cô Cathy hỏi cho chắc ý kẻo gặp thứ lưu manh thừa dịp ngày nghỉ không có cô phụ tá, nó 'su' mình thì khổ ! "

Đúng chín giờ, chuông cửa phòng mạch reo. Ông bác sĩ già bước ra mở cửa. Đứng trước mặt ông là một cô gái Á đông còn trẻ, ăn mặc theo kiểu " punk " : quần áo có tua có tụi, tóc dựng đứng hỗn loạn như con gà xước, đeo nhiều vòng sên bằng bạc to như dây lòi tói, đầy cổ đầy hai cườm tay, mang cái xắc đỏ cũng có tua có tụi. Bác sĩ Lê, quá đỗi ngạc nhiên, chưa kịp hỏi gì, thì cô gái nói bằng tiếng Mỹ rất lưu loát :

- Chào bác sĩ. Tôi là Kim, bịnh nhân đã gọi điện thoại cho ông hôm qua. Tôi có làm cho bác sĩ chờ không ?

Bác sĩ Lê chưa hết ngạc nhiên, trả lời một cách máy móc :" Không ! Không !". Rồi ông bước tránh qua một bên :" Mời cô !"

Vào phòng mạch, ông đưa cho cô cái áo blouse trắng ngắn tay :

- Cô đến phía sau bình phong bỏ hết quần áo chỉ mặc quần lót thôi, rồi khoác ngược áo blouse này, lưng áo nằm về phía trước.

Trong lúc cô gái loay hoay làm theo lời dặn, ông bác sĩ già gọi phone về nhà, nói bằng tiếng Việt :

- Bịnh nhân của anh tới rồi, đang thay đồ. Chắc một giờ nữa là xong. Em đợi anh về rồi mình đi chợ.

Cô gái bỗng ló đầu ra khỏi bình phong mỉm cười nhìn ông, gương mặt thật rạng rỡ, định nói gì nhưng rồi không nói, thụt đầu vào tiếp tục cởi quần áo.

Một lúc sau cô ta bước ra, mắt ngời lên sung sướng, nói bằng tiếng Việt, giọng như reo lên :

- Bác sĩ là người Việt Nam mà con cứ tưởng là người Tàu ! Tên " Lee " nghe Tàu trân !

- Ủa ! Vậy mà tôi cứ nghĩ cô là người Đại Hàn chớ !

Rồi cả hai cùng cười, cái cười rất sảng khoái. Tình đồng hương trên đất khách bỗng thấy thật ấm, thật đầy…Ông bác sĩ già nhìn cô bịnh nhân trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước mặt ông mà không còn thấy cô gái " punk" hồi nãy nữa !

Ông đưa cho cô cái dĩa, rồi vừa chỉ cái giường cao vừa nói :

- Cô cởi hết đồ nữ trang để vào đây, rồi lên nằm trên này để tôi chẩn mạch.

Cô gái làm theo như cái máy.

Phòng mạch được trang trí rất đơn sơ, nhưng thật yên tịnh. Trong không khí có mùi thơm dìu dịu của moxa ( ngải cứu, đốt lên để hơ huyệt ). Cái giường khám bịnh cao ngang tầm tay của bác sĩ. Ở một đầu giường có gắn thêm một vòng bằng da để chịu cái đầu của bịnh nhân, và khi bịnh nhân nằm sấp để châm cứu trên lưng thì mặt người bịnh nằm trọn trong vòng da. Như vậy, người bịnh không cảm thấy khó chịu nhờ khoảng trống ở giữa vòng da giúp người bịnh vẫn thở đều đặn và mắt được nhìn thoải mái xuống sàn nhà.

Bác sĩ đặt hai bàn tay lên cánh tay trần của cô gái, ôn tồn hỏi :

- Cô bịnh làm sao ? Nói tôi nghe.

- Con ngủ không được, đêm nào cũng trằn trọc tới khuya. Hay bị chóng mặt. Đang đứng làm việc, tự nhiên muốn sụm xuống làm sợ toát mồ hôi. Con lo quá, bác sĩ. Mất việc làm chắc con chết quá, bác sĩ !

Ông Lê bóp nhẹ cánh tay bịnh nhân :

- Cô yên tâm. Có tôi đây. Mà…cô có uống rượu không ?

- Không. Dạ thưa không.

- Cô có hút thuốc không ?

- Dạ thưa có. Hút cũng nhiều…

- Cô có xì ke ma túy gì không ? Nói thiệt tôi nghe.

- Mấy thứ đó con không dám rớ. Hồi ở bên nhà thằng anh con chết vì ba cái thứ ôn dịch đó, bác sĩ à. Vì vậy, con sợ lắm !

- Cô le lưỡi tôi coi.

- Ùm. Được rồi. Bây giờ cô nằm yên, để hai tay xuôi theo thân mình, nhắm mắt, thở đều đặn.

Ông bác sĩ già đứng cạnh giường đặt mấy đầu ngón tay lên cườm tay cô gái, chăm chú bắt mạch. Một lúc sau, ông bước vòng qua phía đối diện bắt mạch tay bên kia. Bộ mạch nói lên một sự rối loạn tâm thần. Cô gái này chất chứa quá nhiều ẩn ức nên sanh bịnh. Ông nhìn cô gái đang nhắm mắt thở đều : gương mặt Việt Nam đó, bỏ đi món tóc "punk", vẫn toát ra nét nhu mì dễ thương. Ông cảm thấy tội nghiệp cô bịnh nhân trẻ này và thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy cô ta trôi qua xứ Mỹ để có một cuộc sống mà ông đoán là thật bấp bênh, qua cuộc nói chuyện trong điện thoại. Ông nói :

- Bây giờ, cô nằm sấp xuống để tôi châm trên lưng.

Cô gái mở choàng mắt nhìn ông, mỉm cười, một nụ cười đầy tin tưởng. Ông bác sĩ nói tiếp :

- Cô đừng sợ. Châm không có đau. Còn nhẹ hơn kiến cắn nữa.

Cô gái trở mình nằm sấp, hai vạt áo blouse rớt xuống hai bên, bày ra cái lưng thon thon với nước da ngà ngà. Theo thói quen, trước khi châm, bác sĩ vuốt lưng bịnh nhân vài lần để bịnh nhân đỡ bị stress. Lần này, khi vuốt xuống thắt lưng, ông để ý thấy dưới làn vải mỏng của quần lót có một vết bầm nằm vắt ngang phía trên của mông. Ngạc nhiên, ông hỏi :

- Cô bị ai đánh hay sao mà bầm vậy ?

Cô gái cười khúc khích :

- Bác sĩ coi đi !

Ông già kéo quần lót xuống một chút, thì ra không phải vết bầm mà là hàng chữ xâm màu chàm : Made In VietNam ! Ông bật cười, vừa kéo lưng quần lót lên vừa nói :

- Cha…Bạo quá há !

Cô gái hơi rút cổ cười khúc khích vài tiếng nữa rồi im. Chắc cô đang sống lại với một vài kỷ niệm nào đó. Ông bác sĩ già áp hai lòng bàn tay lên lưng bịnh nhân, nhưng bây giờ sao ông không còn thấy cười được nữa. Hàng chữ " Made In VietNam" nhắc cho ông rằng con người nằm đây là sản phẩm của quê hương ông, cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn " Made In VietNam ", từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh…Chao ơi ! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắc thẻo đến muốn trào nước mắt…

Ông bác sĩ vuốt lưng cô bịnh nhân thật chậm để cho niềm xúc động lắng xuống tan đi. Ông có cảm tưởng như ông đang sờ lại được quê hương, có chỗ cao chỗ thấp, có phù sa đất mịn…Tự nhiên, ông muốn nói lên một tiếng " cám ơn ". Ông muốn cám ơn cô bịnh nhân đã mang quê hương đến với ông bằng hàng chữ nhỏ xâm trên bờ mông, chỉ vỏn vẹn có một hàng chữ nhỏ. Và ông cũng muốn nói với cô, nói một cách thật tình, không văn chương bóng bẩy, nói như ông nói cho chính ông, vỏn vẹn chỉ có một câu thôi :" Tôi cũng made in VietNam đây !". Nhưng rồi ông làm thinh tiếp tục vuốt lưng người bịnh. Ông biết rằng cô gái không thể nào hiểu được ông, một bác sĩ già vừa quá sáu mươi, đã gần nửa tuổi đời lưu vong trên xứ Mỹ, có đầy đủ tiền tài danh vọng mà cũng xâm hàng chữ " Made In VietNam", xâm ở trong lòng…
Bác sĩ im lặng dò huyệt châm kim. Bỗng cô bịnh nhân nói, giọng buồn buồn, làm như cô vừa xem lại hết một đoạn phim đời nào đó :

- Thằng bồ của con xâm cho con để làm kỷ niệm hồi tụi này còn ở Louisiana. Ảnh là thợ xâm…

- Ủa ! Rồi sao bây giờ cô ở đây ?

- Con theo ba má con dọn về Cali, ổng bả nói ở Cali bạn bè nhiều làm ăn dễ.

- Ờ…người Việt mình thích ở miền nam Cali lắm.

Ngừng một chút bác sĩ lại nói, trong lúc hai tay vẫn tiếp tục châm kim :

- Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà…ba má cô làm gì ?

Cô gái làm thinh một lúc mới trả lời, giọng ngang ngang :

- Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing , còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.

- Vậy rồi cô ở với ai ?

- Với ba con. Bà Mỹ cho con đi học college, ba con lái xe đưa rước.

- Vậy mà sao hôm qua, trong phone, cô nói cô đi làm ?

Giọng cô gái như nghẹn lại :

- Khổ lắm bác sĩ.

Cô ngừng một chút để nén xúc động rồi nói tiếp :

- Ba con ỷ có bà Mỹ nuôi, không chịu đi làm. Tối ngày cứ đi nhậu với bạn bè, rồi nay đổi xe, mai đổi xe…Con nói ổng, chẳng những ổng không nghe mà còn chửi con: "Tiên Tổ mày ! Tao đem mày qua đây đặng mày dạy đời tao hả !"
Lại ngừng một chút mới nói được, nói như trút hết ẩn ức còn lại :

- Có lần ổng xáng cho con mấy bạt tay đau điếng…

Rồi nghẹn ngào :

- Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…

Nói xong, hít một hơi thật sâu rồi thở hắt ra một cái như vừa làm xong một việc gì thật khó !

Ông bác sĩ im lặng, tiếp tục châm, mà nghe thương hại cô bịnh nhân vô cùng. Cô ta cỡ tuổi con gái út của ông. Con gái út của ông đang học đại học, còn cô này thì đang sống trong hoàn cảnh quá bấp bênh. Cả hai đều Made In VietNam hết !

Châm xong, ông đặt tay lên cánh tay trần của bịnh nhân, vuốt vuốt như vuốt tay một đứa con đang cần được vỗ về an ủi :

- Cô cứ nằm yên như vầy độ mười lăm phút, nghen.

Tiếng " dạ " bỗng nghe như đầy nước mắt.


Sau khi gỡ kim, ông bác sĩ bóp tay bóp chân bịnh nhân một lúc rồi nói :
- Bây giờ thì cô mặc quần áo vào được rồi.

Cô gái ngồi lên nói " cám ơn " mà đôi mắt vẫn còn mọng nước. Cô bước vào sau bình phong, chậm rãi mặc quần áo, làm như cô muốn những xúc cảm hồi nãy có thời gian để thấm sâu vào lòng…

Khi cô bước ra, gương mặt cô đã trở lại rạng rỡ. Cô mỉm cười nhìn ông bác sĩ, rồi, vừa mở cái xắc đỏ vừa hỏi :

- Bao nhiêu vậy, bác sĩ ?

- Không có bao nhiêu. Chừng chữa xong rồi cô hãy trả.

- Bác sĩ cho con trả mỗi lần, chớ đợi hết bịnh, tiền đâu con trả. Cái thứ đi làm lậu như con…

- Cô yên tâm. Rồi mình tính.

Ông bác sĩ đưa dĩa nữ trang :

- Cô đừng quên mấy thứ này.

Cô gái phì cười, không đeo vào người mà trút hết vào xắc, rồi hỏi :

- Chừng nào con trở lại nữa, bác sĩ ?

- Tuần tới, cũng ngày này giờ này.

Bác sĩ mở tủ thuốc, chọn lấy ra hai chai có dán nhãn sẵn, trao cho bịnh nhân :
- Trên nhãn có ghi liều lượng: mỗi ngày, cô uống sáng trưa chiều, mỗi thứ hai capsule.

Ra đến cửa phòng mạch, ông bác sĩ già cầm bàn tay cô bịnh nhân trong hai bàn tay của ông, lắc nhẹ :

- Bớt hút thuốc đi, nghen ! Từ từ rồi tôi sẽ chữa cho cô vụ ghiền thuốc nữa.

Ngập ngừng một chút rồi ông nói, giọng ôn tồn :

- Tôi muốn nói với cô điều này…

Cô gái chớp chớp mắt chờ. Chắc là lần đầu tiên cô được một ông già cầm tay một cách ân cần như vậy. Bác sĩ nói :

- Mình là người Việt Nam, ăn măỉc theo " punk " không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm ! Mình phải xứng đáng là Made In VietNam, chớ cô.

Cô gái nhìn vào mắt ông bác sĩ, không nói gì hết, chỉ siết tay ông già một cái thật mạnh, rồi bước ra xe, một chiếc xe hơi cũ mèm phải đề tới bốn lần mới nổ máy !

Ông bác sĩ Lê ngồi uống cà phê với tôi ở khu Phước Lộc Thọ ( Orange County – Nam Cali ). Ông kể tiếp :

- Anh biết không, lần sau cô Kim đến phòng mạch, ăn mặc chải gỡ rất dễ thương. Chẳng có chút gì " punk " hết ! Lần khám bịnh đó, tôi có hỏi cổ sao không về sống với thằng bồ ở Louisiane có phải hơn là sống cù bơ cù bất ở Cali. Cổ nói như mếu :" Ảnh có vợ rồi ". Tôi biết : như vậy là cổ kẹt thiệt. Tôi đem chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Bả cảm động lắm nên đề nghị giúp tiền cho cổ học một cái nghề gì đó, uốn tóc, làm nail chẳng hạn, để có công ăn việc làm vững chắc hơn là đi làm lậu tầm bậy tầm bạ.

Tôi nói chen vào :

- Chắc gì cổ chịu. Nghe anh kể, tôi đoán chị này cũng tự ái lắm.

- Anh nói đúng. Cổ từ chối hoài. Sau nhờ vợ tôi mời cổ về nhà khuyên nhủ, coi như là trong thân tình, cổ mới chịu. Hôm đó, cổ ôm vợ tôi vừa khóc vừa nói :" Con cám ơn ông bà. Cám ơn ông bà ".

- Sau đó cổ có đi học thiệt không ?

- Có. Học làm nail. Học giỏi nữa là khác.

- Cổ bây giờ ra sao rồi ?

- Mới đầu làm thợ, làm công cho người ta. Bây giờ vừa làm thợ vừa làm chủ. Khá lắm !

- Mừng cho cổ, há !

- Cổ xách đồ nghề tới làm nail cho vợ tôi, con út và hai con dâu tôi thường lắm. Làm không lấy tiền. Cổ cứ nói với mấy con tôi :" Tôi chịu ơn ông bà bác sĩ biết đời nào mới trả cho hết, mấy cô biết không ? Tôi không dám nói ra, chớ mỗi lần tôi cầm bàn tay của bà bác sĩ để làm nail, tôi vẫn nghĩ không có bàn tay này thì làm gì tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh của tôi hồi đó để có những gì tôi có hôm nay…"

- Dễ thương quá !

- Noel, ngày Tết…cổ đều mang quà đến tặng vợ chồng tôi.

- Con người ở có tình có nghĩa quá, anh há !

- Đã hết đâu ! Cổ còn nhớ đến ngày giỗ của ba má tôi nữa. Mấy ngày đó tụi con tôi có đứa quên chớ cô ta không bao giờ cô ta quên. Ngày đó, cô đem đồ tới cúng và ở lại phụ vợ tôi nấu nướng dọn giẹp nữa. Cho nên vợ tôi quí cô ta lắm !

Nói xong, bác sĩ Lê vỗ vai tôi, cười :

- Anh thấy không ? Cô ta mới đúng là " Made In VietNam " đó ! Còn nguyên chất, hè !

Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đâu đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng :

- Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình "Made In VietNam ", không ?

- Có chớ anh ! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu " Made In USA " nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều !

Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Houston: 'Tình Ca Muôn Thuở,' 70 năm âm nhạc Việt Nam


HOUSTON - Chương trình thính phòng “Tình Ca Muôn Thuở” chiều 10 tháng 10, 2010, được chuẩn bị từ 6 tháng nay, với sự khuyến khích và yêu cầu của nhiều thính giả Houston, Texas, sẽ bao gồm nhiều tác phẩm tiêu biểu trong 70 năm âm nhạc Việt Nam, qua sáu tiếng hát: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Trần Thu Hà, Vũ Khanh, Quang Tuấn, Ngọc Hạ - đều đến từ California.
Image
Poster giới thiệu chương trình nhạc thính phòng qui mô, “Tình Ca Muôn Thuở,” tại Houston, Texas, vào chiều 10 tháng 10, 2010,
trình bày những tác phẩm tiêu biểu qua 70 năm âm nhạc Việt Nam. (Hình: Poster - Ban Tổ Chức cung cấp)

Ban nhạc thính phòng được thành lập riêng cho chương trình này gồm 12 nhạc sĩ Việt và Mỹ, từ Hollywood, California và Houston, Texas.

Có thể nói, đây là chương trình nhạc thính phòng hiếm hoi, nhưng được tổ chức qui mô nhất tại Houston, Texas, từ trước đến nay.

Giám đốc chương trình là Phương Hoa, nguyên giám đốc chương trình phát thanh VOVN Radio, nhạc trưởng là nhạc sĩ Hoàng Công Luận, MC là nhạc sĩ Vĩnh Lạc.

Ban tổ chức được khích lệ, do được sự ủng hộ và chào đón nồng nhiệt của thính giả Houston, nên số vé hầu như đã bán hết cho buổi trình diễn vào chiều Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010, tại thính đường 1,500 chỗ ngồi của Cullen Performance Hall, Ðại Học Houston.

Ban tổ chức sẽ được hân hạnh tiếp đón các văn nghệ sĩ từ xa đến tham dự chương trình, ngoài nhạc sĩ Từ Công Phụng đã hứa hẹn từ lâu với Du Tử Lê và Ðăng Khánh (chắc chắn sẽ có mặt với anh em, sau các chữa trị Chemo và được bác sĩ đồng ý), chương trình “Tình Ca Muôn Thuở” còn được hân hạnh chào đón nhạc sĩ Cung Tiến từ Minnesota, thi sĩ Trần Dạ Từ, nhà văn Nhã Ca, nữ tài tử Kiều Chinh,... từ Orange County và nhà báo Trương Gia Vy từ San Jose, California.

Về nội dung, chương trình nói gọn là “6 ca sĩ và 12 nhạc sĩ sẽ trình diễn nhiều tác phẩm tiêu biểu của nhiều tác giả trong chiều dài 70 năm tân nhạc Việt Nam.” (L.T)

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Khánh Trường, ám ảnh bất toàn trong văn chương và đời sống

Du Tử Lê

Image
Nếu phải chọn một nhà văn tiêu biểu cho trường hợp hay, hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn, trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại hơn một phần tư thế kỷ qua, tôi sẽ chọn Khánh Trường. Nguyễn Khánh Trường.

Tôi chọn Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường không phải vì ông là họa sĩ, cùng lúc nhà văn, cùng lúc nhà thơ và cùng lúc nhà báo.

Nơi quảng trường sinh hoạt văn nghệ của chúng ta trong nước, cũng như hải ngoại, không chỉ có một Khánh Trường vừa vẽ, vừa làm thơ, viết văn, lại còn làm báo nữa. Chúng ta có khá nhiều nghệ sĩ, ở trường hợp này. Ðó là những lãnh vực tự nó có những mối tương quan liền lạc hữu cơ.

Tôi chọn Khánh Trường có dễ bởi Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường tiêu biểu cho ý niệm khá buồn thảm: Người là con vật bị ngộ nhận.

Ý niệm ấy không mới mẻ gì!

Không phải đợi tới lúc chúng ta có một Albert Camus với những tác phẩm đào xới chủ đề “con người là một con vật bị ngộ nhận,” một cách trầm thống, lúc đó vấn nạn ngộ nhận mới được đặt ra trong sinh hoạt tri thức của con người.

Ðọc lại những tác phẩm cổ điển; nhớ lại những bi kịch trong thần thoại cổ Hy Lạp, trong văn chương Shakespeare, luôn cả những tác phẩm gần gũi chúng ta hơn như Ðoạn Trường Tân Thanh, như Cung Oán Ngâm Khúc... dù với ít, nhiều cường điệu, hầu hết các nhân vật trong những tác phẩm này cũng chỉ như những con vật rẫy rụa tuyệt vọng trong lưới nhện của định mệnh.

Họ bị thảm kịch đánh bẫy và trở thành con tin hớn hở (hay tội nghiệp?) trong bầu khí thảm kịch đó.

Với tôi, Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường không chỉ tiêu biểu cho trường hợp con người là con vật bị ngộ nhận, bị đánh bẫy, mà Khánh Trường tự thân còn là nạn nhân hay con vật của chiếc lưới tuyệt vọng do chính ông giăng lấy cho mình.

Với tôi, sự rẫy rụa của Khánh Trường từ hình tượng, mầu sắc, tới chữ, nghĩa là hệ quả đương nhiên của chủ tâm đánh tháo khỏi vòng tay định mệnh. Ðơn giản, ta có thể coi đó như nỗ lực tuyệt vọng trong kiếm tìm hoàn hảo họ Nguyễn.

Khánh Trường chủ biên tạp chí Hợp Lưu sau 12 năm tồn tại liên lụy, như một phép lạ, và cùng lúc cũng là thảm kịch dài đẵng; cuộc chơi trập trùng ngộ nhận, tôi nghĩ, nó tựa khuôn mặt khác của mâu thuẫn hay một trong những cách thế kiếm tìm hoàn hảo của ông?

Tám năm trước, khi trả lời một cuộc phỏng vấn của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, phát biểu về Hợp Lưu, tại sao? Người chủ biên dài lâu nhất một tạp chí chí ít cũng đến ngày hôm nay, cho biết:

“Ngày nay, sau mười mấy năm chiến tranh đã kết thúc, quốc gia đã độc lập, vấn nạn bức thiết nhất là làm thế nào đưa đất nước ra khỏi cảnh u tối, lạc hậu, nghèo đói, độc tài, chuyên chế. Muốn giải quyết vấn nạn này, trước tiên phải đưa dân tộc trở về với ‘đại khối.’ Tùy tâm cơ, hoàn cảnh, sở thích, mỗi người mỗi cách. Tôi yêu văn nghệ, vì vậy tôi chọn văn nghệ như phương tiện để góp phần thực hiện ước mơ kia. Ước mơ xóa bỏ những vĩ tuyến 17 trong lòng mỗi người Việt Nam. Ước mơ hợp lưu mọi tinh hoa của giống nòi, không phân biệt vị trí quá khứ. Nói theo ngôn ngữ Tạ Duy Anh: ‘Phải bước qua lời nguyền.’ Cái lời nguyền hình thành trong não trạng mỗi chúng ta khởi từ thảm kịch qua phân Nam Bắc. Nói gọn lại, phải ý thức rằng chúng ta không chừa ai, đều là nạn nhân của một giai đoạn lịch sử. Nếu chưa đủ tỉnh táo và can đảm vượt thoát khỏi thân phận nạn nhân thì mãi mãi chúng ta sẽ còn trầm luân trong vũng lầy thù hận. Vô lý, vô nghĩa và bất nhân. Bất nhân với chính bản thân đã đành, còn bất nhân với lịch sử nữa.”

Có dễ, cũng vì tấm lòng chân thật (tới ngây thơ,) thiết tha (tới ngông cuồng) qua bút hiệu Kim Thi trong mục “Ngày Tháng,” con người làm báo trong Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường, đã không ngớt gióng giả những hồi chuông lai tỉnh chân diện mục: Nhân ái. Nguyễn đã gặt hái được một cách dư thừa những “vụ mùa trái độc.”

Những tưởng những vụ mùa bất ưng, những ngày gió chướng sẽ quật Khánh Trường ngã xuống, tênh hênh trên những trang chữ nồng nàn của ông; và sự ra đi hay rút lui của những đồng hành từ điểm khởi, là những dự báo bất thường thời tiết; có khả năng nhắc nhở, khuyến cáo ông. Vậy mà Khánh Trường vẫn bước tới. Như sự bước tới (một cách ương ngạnh) thách đố định mệnh.

Ngộ nhận, nếu đó là cây bài thủ mệnh của người đàn ông mang tên Khánh Trường thì nó không chỉ chi phối phần đời làm báo của Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường. Nó còn giẫm đôi chân tàn khốc lên những khối mầu, những hình thể của một Khánh Trường, họa sĩ nữa.

Phát biểu suy nghĩ của mình về hội họa cũng trong cuộc phỏng vấn vừa kể, Khánh Trường nói:

“Một bất hạnh (cũng có thể may mắn?) - tôi không xuất thân từ bất cứ trường ốc nào. Thuở nhỏ mê vẽ, chưa kịp học vẽ, đã phải khoác lên người bộ quân phục. Giải ngũ không bao lâu thì biến cố 1975 ập tới, cơm áo lao đao, thê nhi lận đận, tuổi lại chẳng còn trẻ trung chi mấy, muốn học, cũng đã muộn màng. Trong một buổi nói chuyện với vài anh em trong ban chủ trương tờ Thiện Chí bên Ðức, tôi có tâm sự: Tôi biết vẽ từ khi biết cầm... các cái: Than củi, mảnh gạch, ngói vỡ (trên các bức tường quết vôi trắng,) rồi bút chì, bút rông, bút lá tre (trên tập vở học trò...). Rồi mầu nước, bột màu, sơn dầu (trên giấy, vải, bố...). Từ ấy đến nay, hơn một phần ba thế kỷ tìm tòi, đọc, tập luyện, thể nghiệm hết sức cam go. Con đường từ A qua B, nếu có người hướng dẫn, chỉ mất nửa giờ đến đích. Tôi đi một mình, lại không có bản đồ, có khi lòng vòng mất cả ngày. Tuy nhiên, trong cái khó ló cái khôn. Nhờ khổ công tìm kiếm, tôi khá vững về hình họa (nhiều họa sĩ Việt Nam dù xuất thân trường ốc đàng hoàng, muốn vẽ một bàn tay, một khuôn mặt, một đồ vật ‘đâu ra đó,’ vẽ không xong. Những vị này lúc còn học trong trường thường ‘khinh bỉ’ hình họa. Họ muốn đi tắt, đi nhanh nên chỉ thích bôi màu xanh đỏ tím vàng đầy khung bố, đợi ráo mặt, đổ xăng đổ dầu lên cho co cụm nhăn nhúm lại để tạo ‘chất.’ Xong lật ngang lật dọc, thêm, bớt chút đỉnh cốt hơi hơi giống cái gì đó, rồi đặt một cái nhan đề thật ‘nổ,’ thật ‘bí hiểm,’ và gọi đó là tranh siêu thực.”

Những người theo dõi khít khao bước đường tạo hình của Nguyễn, sẽ không khỏi ngạc nhiên, khi thấy những tương phản, đối chọi gay gắt. Từ những bức sơn dầu khỏa thân mà hai mầu chính được dùng ở thể gần như nguyên trạng là đỏ và xanh, Khánh Trường bước qua mầu tối là sự trộn lẫn giữa hai mầu nguyên thủy đen và trắng thể hiện hình ảnh những người đàn ông lẻ loi, cuối đường. Những thiếu nữ và trăng xám. Những mẹ, con và biển tối...

Lại có thời gian người xem chỉ thấy trên canvas của Khánh Trường những hình khối, chơ vơ, lạc lõng. Như sự vỡ bùng của tâm thức bị quá tải số lượng thuốc nổ hư vô...

Con người lạc lõng (hay hư vô lạc lõng?) Tất cả cũng chỉ là một mặt nào đó của nỗ lực đi tìm hoàn hảo để suốt cuộc trường chinh tìm kiếm (hoặc trốn chạy) kia, Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường chỉ có thể có được cho mình sự bất toàn. Tựa bất toàn, diện mạo song sinh với ngộ nhận tự thân.

Nếu ở mặt báo chí, mặt hội họa, ám ảnh bất-toàn-chia-nửa-phần-đời-hoàn-hảo còn có lúc được giảm khinh, che mờ bởi những đám mây mang nặng những cơn mưa bập bềnh cảm hứng, hay sự nới tay, độ lượng bất ngờ của vô thức, thì trong cõi văn xuôi Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường mối ám ảnh bất toàn, đứa con song sinh của ngộ nhận, lại thường trực hiện diện như kẻ dẫn đường (chết giẫm,) trong sự cần mẫn quá độ của chính hắn.

Ngay từ truyện ngắn (tùy bút ký sự?) đầu tay của Khánh Trường, đăng trên tuần báo Khởi Hành những năm đầu thập niên 70, kể chuyện hai anh em ruột ở chung một đại đội, tham gia chiến dịch Lam Sơn, 719, khi người anh tử thương, người em dùng con dao đi rừng vừa khóc vừa chặt đầu anh bỏ vào bao mặt nạ chống hơi độc, mang về cho mẹ... Thì, theo tôi, ngộ nhận đã sớm rôm rả cất tiếng.

Dù là chuyện thật mà Khánh Trường chứng kiến từ đầu, trở thành ám ảnh chai, chết trong tâm trí ông; nhưng khi câu chuyện được phổ biến, ngộ nhận đã cùng lúc đến với tác giả. Như chiếc bóng đeo quẩn gót chân.

Tôi không có khả năng lý giải về một tương quan định mệnh nào đó, giữa dòng chữ đầu tiên và những dòng chữ kế tiếp trải trên mặt phẳng thời gian đằng đẵng, một đời nhà văn. Nhưng điều tôi nhận ra, điều tôi tìm thấy: Tuồng trong khá nhiều truyện ngắn (hoặc dài) của Khánh Trường, nếu nhân vật không bất toàn thể chất thì cũng bất toàn tâm lý. Sự bất toàn thân, tâm đó như phản diện (hay phản biện) của nỗ lực đi tìm toàn hảo, hành trình soi sáng ngộ nhận.

Một trong những truyện ngắn mới của Khánh Trường, truyện “Những Vòng Tròn Không Ðồng Tâm” in trong tập “Chung Cuộc,” tôi tình cờ chạm mặt nhân vật nam tên Huân với đôi chân tật nguyền, được nhân vật nữ tên Quỳnh Thư, chọn trao gửi tình yêu thời con gái. Nhưng sự bất toàn của Huân lại là nhát dao chém xuống khuôn mặt tình yêu của Quỳnh Thư. Tựa bất hạnh vốn chiếm giữ nửa phần chân dung hạnh phúc. Tựa bất toàn vừa là chính diện tình yêu Quỳnh Thư, vừa là phản diện của ngộ nhận: Ðịnh mệnh bất phân ly. Quà tặng tai ương cho mỗi sinh vật, mang tên con người.

Tôi không biết Quỳnh Thư hay Khánh Trường, ai đã chia nửa phần hạnh phúc của nhân vật, tác giả khi viết:

“Tôi vẫn là tôi của những năm mười tám, hai mươi, vẫn muốn đi tìm sự hoàn hảo ở một người đàn ông. Hoàn hảo ở cả thể xác lẫn tâm hồn. Tôi biết, sẽ chẳng bao tôi tìm ra mẫu người lý tưởng đó.” (Những Vòng Tròn Không Ðồng Tâm, trang 131.)

Người đàn ông được nhân vật Quỳnh Thư kiếm tìm đó, tôi nghĩ có dễ cũng là người đàn ông hay một con người nói chung, mà Khánh Trường hằng săn đuổi. Một con người không thật. Một con người không hiện diện. Hoặc giả nếu có, theo tôi, con người ấy, cũng chỉ có thể sinh thành từ bào thai ngộ nhận.

Tôi muốn gọi ngộ nhận trong văn chương Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường là ngộ nhận khép.

Tôi muốn chỉ danh nó là mâu thuẫn nội tại. Và Nguyễn Khánh Trường là hiện thân của mâu thuẫn bình phương.

Những tảng mầu, khối chưa một lần thỏa mãn nhu cầu kiếm tìm hoàn hảo, nơi ông. Những dòng thơ sốc nổi hay sâu lắng chưa một lần mang lại cho Khánh Trường nụ cười. Những trang giấy được lấp đầy bởi những con chữ nóng rẫy, rát bỏng lương hảo của một gã giang hồ, phiêu bạt (thứ thiệt) của Khánh Trường chưa một lần, hắt trả lại cho ông niềm vui dù khiêm tốn, liu điu.

Thì thôi, hãy để ông “tự do phơi phới” như thơ Mai Thảo, với những vết chàm, mà định mệnh đã đánh dấu trên thân, tâm chàng.

Du Tử Lê
Tháng 9, 2001
Ghi chú:
* Bài viết được hiệu đính năm 2010

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cao Xuân Huy, nhà-văn-nhân-chứng tự trọng trong chiến tranh miền Nam

Du Tử Lê


Tác giả “Tháng Ba Gẫy Súng” để cho những người đọc ông phải chờ đợi mỏi mòn 1/4 thế kỷ rồi mới gửi tới họ tập truyện “Vài Mẩu Chuyện.” (1)

Image

Nếu có những người dành cả một đời để viết văn, xuất bản hàng chục tác phẩm chỉ với mục đích mong muốn được đời nhìn nhận là nhà văn mà, thực chất không đạt được thì, Cao Xuân Huy, ngược lại. Ông được văn giới nhìn như một nhà văn đúng nghĩa với tác phẩm “Tháng Ba Gẫy Súng,” ấn hành lần thứ nhất năm 1985.

Ông cũng là người luôn từ chối hai chữ “nhà văn” một cách thẳng thắn, với đôi chút khinh bạc của một Thủy Quân Lục Chiến, binh chủng ông từng vào sinh, ra tử, suốt tuổi thanh xuân, cộng thêm 4 năm tù “cải tạo!”

Tôi không biết có phải ngay từ bước chân đầu tiên, rời khỏi trường lớp, bước vào dòng đời, chọn cho mình chiếc nón Mũ Xanh, tình yêu đồng đội đã là niềm hãnh diện thứ nhất và, cũng là tình yêu sau cùng của ông hay không?

Tôi cảm tưởng, với Cao Xuân Huy, tất cả những vòng nguyệt quế sau này, dành cho ông (dù không quá muộn màng), cũng chỉ như những bèo bọt, hư huyễn “tào lao” trước máu xương, đầy ải mà, ông cùng đồng đội đã từng đổ xuống, kinh qua?

Tôi cũng không biết có phải định mệnh đã chọn Cao Xuân Huy làm một (trong vài) nhân chứng chiến tranh ở phía khác của chiến tranh? Phía của những sự thật trần truồng và, những vinh quang tự thân không cần thêm son phấn?

Tôi muốn nói, trong ghi nhận của tôi, Cao Xuân Huy không lên gân. Không cường điệu bằng cách cho nhân vật của mình (là Cao Xuân Huy và, những phân thân của Huy, với nhiều tên gọi khác), xuất hiện trong những trang viết của ông, như những “Rambo” mình đồng da thép! Những người hùng không tình cảm. Không đói. Không khát. Không bản năng “tham sinh, úy tử!”

Cao Xuân Huy cũng không mượn những nhân vật (sau khi an toàn ở xứ tự do), để phát biểu linh tinh, chỉ vẽ, phán đoán như... “thần” về chiến thuật chiến lược!

Cao Xuân Huy cũng không cho các nhân vật của mình đóng vai “thiên lý nhĩ, thiên lý nhãn” - Hiểu theo nghĩa cái gì cũng nghe, biết một cách tường tận! Cứ như thể họ chính là người đi những quân cờ mang tính định đoạt số phận nhân loại trên bàn cờ Tự Do-Cộng Sản. Khiêm tốn hơn một chút thì, cũng sẽ ở ngang mức độ: Nếu đất nước may mắn, biết dùng họ, nghe lời họ thì tổ quốc chúng ta hôm nay đã không như thế này!

Từ “Tháng Ba Gẫy Súng,” tới “Vài Mẩu Chuyện,” (khoảng cách thời gian 25 năm), trước sau tôi vẫn thấy Cao Xuân Huy là một người lính viết lại một phần đời mình. Phần thời gian tác giả tham dự trong cuộc chiến tự vệ, chống lại chủ trương thôn tính miền nam của đảng CS miền Bắc.

Trước nhất, chúng ta đừng quên “mẩu” là danh từ xác định một vật, một sự việc nhỏ, bé, ngắn, cụt... Hoặc một thứ đầu thừa, đuôi thẹo không đáng kể. Không giá trị. Nhưng khi Cao Xuân Huy dùng chữ “mẩu” trong tác phẩm “Vài Mẩu Chuyện” của mình, với tôi, ở đôi ba truyện, nó lại tựa những con ốc nhỏ khiến ta liên tưởng tới đại đương; một vài chiếc lá có khả năng giúp ta liên tưởng tới những mùa gió, bão...

Trong lãnh vực học thuật, việc nhốt biển cả trong một giọt nước hay, gom cả vũ trụ vào trong một hạt bụi, với thi ca, đã là một khó khăn! Huống chi với văn xuôi!

Nhưng Cao Xuân Huy đã (chủ tâm hay vô tình) cho thấy, ông làm được.

Tôi không nghĩ Cao Xuân Huy có mối bận tâm lao lung nào về nỗ lực vận hành chữ, nghĩa như vừa kể.

Tôi nghĩ, điều quan thiết duy nhất của ông chỉ là sự viết ra, với tất cả tự hào, ngay thẳng của một con người. Một con người sớm nhận biết mình là Con Người và muốn, mãi mãi được là Con Người.

Do đó, viết với Cao Xuân Huy, cũng giống như bổn phận trả lại cho cuộc đời, những sự thật (dù ngậm ngùi, nhơ nhuốc) của một thân phận trong chiến tranh. Nhất là khi thân phận đó lại bị định mệnh xếp vào thành phần... bại trận!

Nhưng không vì thế mà Cao Xuân Huy viết như một trả thù... nguội.

Ông cũng không viết như một ảo thuật gia chuyển hóa từ mặc cảm hèn yếu trong quá khứ, trở thành hùm, beo gầm thét trước... hư không!

Tôi nghĩ, Cao Xuân Huy đã viết với tất cả liêm sỉ có được của một sĩ quan trẻ trong QL/VNCH cũ.

Cao Xuân Huy không viết để “vinh danh,” “đánh bóng” hoặc, góp thêm một vài cánh hoa ngợi ca cho mầu cờ sắc áo của binh chủng TQLC của mình.

Phải chăng, ông thấy không cần thiết? Hoàn toàn không cần đến những chữ, nghĩa rổn rảng, nổ đì đùng như pháo cối!

Tôi trộm nghĩ, có thể ông không thấy phải mắm, muối thêm thắt gì, khi tự thân những gục, ngã giữa chiến trường của bằng hữu, đồng đội ông, đã là những hy sinh lồng lộng ý nghĩa giữa tổ quốc.

Tôi trộm nghĩ, có thể ông cho rằng, sự vẽ râu, bôi phấn cho những hy sinh cực kỳ trong sáng của đồng đội ông, có khi lại là một xúc phạm lớn tới chính những hy sinh thiêng liêng đó?

Tôi muốn chỉ danh những hy sinh đó, là những hy sinh trong sáng, hồn nhiên bởi tự tấm bé, trước khi những thanh niên sinh trong thời loạn kia lên đường nhập ngũ, họ đã không hề bị học đường giáo dục, trang bị cho họ bất cứ một quan điểm, lập trường căm thù nào.

Chưa kể, có những thanh niên tự nguyện đi vào chiến tranh, với tất cả lãng mạn, hào khí phương cương của tuổi trẻ, như một thứ Kinh Kha khinh bạc bước qua dòng Dịch Thủy:


Một buổi chiều xuân.

Nắng quái hắt dài bóng những ngôi mộ trên mặt đất.

Toàn tác chiến tay cầm chai rượu, tay chống nặng khập khễnh đi sâu vào nghĩa trang, vừa lần mò tìm ngôi mộ vừa lẩm nhẩm đọc thầm:

Lòng đắng xá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say

.....

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

.....

Ngươi ơi! hề ngươi ơi!

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh

Ngõ trúc ta về lạnh mấy mươi!

Mộ mới đắp, mới tinh như bộ quần áo trận chưa kịp sửa, rộng thùng thình Toàn đang mặc...

(Cao Xuân Huy, “Vài Mẩu Chuyện: Hành Phương Nam,” trang 68, 69)


Cũng thế, thuật lại phản ứng, cảm nhận của mình và đồng đội trong trận đánh cuối cùng, trước 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 (giờ ngưng bắn theo hiệp định Paris), Cao Xuân Huy cũng để sự thật cất lên tiếng nói của nó. Tiếng nói của bản năng. Tiếng nói yêu đuối của bất cứ sinh vật nào có cùng một mẫu số “tham sống sợ chết!” Tôi nghĩ, phải có những giây phút “hồi dương” như vậy, họ mới là người. Nếu không, họ sẽ là những hình nộm. Những người máy trong tay của một số... “nhà văn!” Và, ta sẽ chẳng thấy một khác biệt nào trong lãnh vực văn-xuôi-chiến-tranh giữa hai miền Nam, Bắc!

Với trích đoạn sau đây, từ “Vài Mẩu Chuyện,” của Cao Xuân Huy, có thể khiến một số người kết án tác giả là “phỉ báng quân lực VNCH!!!” Hoặc “khí thế” hơn nữa thì sẽ là một cái mũ... “cộng sản” cho ông:


Toàn gọi máy qua cánh quân bên phải:

-05-520.

-520-05.

-Phía ông ngưng chưa?

-Chưa.

Ông “thọc” mạnh lên lên. Sườn tôi hở, lạnh thấy mẹ.

Tiếng súng rộ lên phía bên phải. Toàn và Kháng nhào lên chốt địch phía trước. Tâm, tên cao bồi của Toàn, chồm người tung quả lựu đạn. Lựu đạn vừa rời khỏi tay Tâm, Toàn nghe tiếng thét:

-Chết tui.

Toàn quay lại nhìn. Tâm nằm ngửa bất động trên cát, máu trong bụng nhỉ ra.

Cùng lúc, Toàn và Kháng tung lựu đạn vào trong hầm rồi vọt vào theo, làm chủ cái chốt. Toàn nhào ngược về đằng sau, nắm chân Tâm kéo thụt xuống sau mô cát.

Tâm nhìn Toàn:

-Ðù má ông thầy. Ngưng bắn rồi mà sao tui chết hả ông thầy? Ông rán sống nghe ông thầy!

Nói dứt câu, người Tâm giựt mạnh rồi mềm xuống.

Toàn vuốt mắt Tâm rồi nhào lên với Kháng:

-La lên nữa đi!

Kháng:

-Ðù má, tới giờ ngưng bắn rồi nghe.

Tám giờ mười lăm, tiếng súng thưa dần.

Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Toàn nhìn đồng hồ, tám giờ hai mươi lăm.

.....

Toàn ghếch đầu nhìn về phía trước. Dãy đồi cát hình cánh cung trước mặt Toàn đầy người. Tất cả đều đứng dưới giao thông hào, chỉ lộ từ ngực trở lên.

Toàn đứng hẳn dậy. Lính tráng chỉ chờ có thế, cũng đứng hẳn lên. Tháo dây đạn, bỏ súng, bỏ mũ sắt xuống.

Binh nhất Phước đen, một tên cao bồi khác của Toàn vụt băng mình lao về phía trước. Toàn hốt hoảng ra lệnh cho lính ứng chiến ngay lập tức, sợ có gì nguy hiểm cho Phước đen. Nhưng không, những người bộ đội phía bên kia nhào lên khỏi giao thông hào, ôm chầm lấy Phước đen. Phước đen móc trong túi ra gói thuốc mời, mời, mời hết người này đến người khác.

Lính hai bên ùa lên phía trước hò hét:

-Hết đánh nhau rồi! Hết chiến tranh rồi!

Những bộ quân phục rằn ri miền Nam trộn lẫn những bộ quân phục cứt ngựa miền Bắc. Cố không khóc nhưng nước mắt Toàn cứ ứa ra, không kềm chế được. Nhưng việc gì phải kềm chứ! Toàn mặc cho nước mắt trào ra.

(Cao Xuân Huy, “Vài Mẩu Chuyện: Chờ tôi với...” từ trang 73 tới trang 75)


Trên đây chỉ là một trong nhiều đoản văn mang tính tự sự kể về những trận đánh Cao Xuân Huy tham dự. Và, những cái chết của của đồng đội diễn ra ngay trước mắt tác giả.

Những ghi lại không phấn son. Không lươn lẹo. Không đồng cốt. Nhưng cũng vì thế, Cao Xuân Huy đã cho thấy ông đích thực là nhà văn dù, ông từ chối.

Tuy nhiên, Cao Xuân Huy có thực sự khinh bạc? Cao Xuân Huy có thực sự là một nhà văn “bất cận nhân tình?”

Cảm nghĩ của tôi: “Nhiều phần không!”

Du Tử Lê

(Thứ Năm ngày 7 tháng 10, 2010: “Ði về phía yếu đuối của con người Cao Xuân Huy!”)
Chú thích:
(1): “Vài Mẩu Chuyện,” tạp chí Văn Học California, xuất bản, 2010.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ði về phía yếu đuối của con người nhà văn Cao Xuân Huy

Du Tử Lê
Tôi vẫn nghĩ, trước khi nài ép văn chương phải đeo trên vai, phải ôm trước ngực những nhiệm vụ to lớn như cải tạo xã hội, giáo hóa loài người, thần thánh một khuôn mẫu người hùng...
Image Thì văn chương trước nhất phải là cái chân thật. Chân thật tự nó toát ra cái đẹp. Chân thật là trái tim của văn chương. Chân thật là bước đến cuối cùng của chữ, nghĩa.

Ngay những chân thật trần trụi, gần với bản năng con người, cũng là mảnh đất mầu mỡ nhất để tự đó, những mầm cây, những nụ hoa nhân bản mọc lên và, trổ bông. (Tất nhiên mọi mô tả đều không thể tách lìa khỏi căn cốt của chữ nghĩa mang tính văn chương. Ngược lại, nó sẽ chỉ như một thứ truyện được ghi chú từ một tới ba, bốn “x” mà thôi.)

Với mẩu chuyện “Trả Lại Tiền” của Cao Xuân Huy, tôi gặp mầm cây và nụ hoa nhân bản lấp lánh giữa những dòng chữ.

Ðó là mẩu chuyện nói về một người tù cải tạo trẻ tuổi, độc thân, sau nhiều năm tù đày, được thả, có nhu cầu sinh lý. Anh đi giữa một Saigon từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Ðông.” Nhưng vào những năm cuối thập niên (19)70, đầu thập niên (19)80 Saigon bị lột xác. Saigon trở thành sân khấu lộ thiên, tố giác thảm cảnh xã hội nghèo đói, đọa lạc. Một thành phố chết với đám người vất vưởng sống. Vất vưởng đi lại như những hình ma, bóng quế.

Sự vất vưởng kéo lê một cuộc sống đáy cùng đói khát không chỉ phơi ra từ phía những người phụ nữ phải làm nghề đứng đường mà, vất vưởng còn phóng những lát dao hồ hởi bất nhân lên thân, tâm của cả khách “tìm hoa” nữa!

Tới hôm nay, người ta vẫn chưa xác định được nghề buôn hương, bán phấn có tự bao giờ. Nhưng ở bất cứ xã hội nào, dù văn minh hay chậm tiến, nghề này cũng đã có mặt như một thực tế mặc nhiên của xã hội. Khác nhau chăng là cách thế hiện hữu của khía cạnh xã hội ấy.

Trước tháng 4, 1975, sinh hoạt mua bán tình dục ở Saigon cũng được ghi nhận là khá rầm rộ. Nó tập trung vào một số khu vực, một số nơi chốn xa trung tâm thành phố. Thường ở vùng ngoại ô, hoặc những nơi gần với các trại lính...

Nhưng qua mô tả của Cao Xuân Huy trong mẩu chuyện “Trả Lại Tiền” thì sinh hoạt này không những đã trở thành “đại trà” công khai mà nó còn diễn giữa ngay giữa lòng Saigon! Một trong những nơi đó: “Trước cổng dinh Ðộc Lập!” Ngay gốc cây!

Vẫn theo mô tả của tác giả, ngoài nhu cầu bản năng, thân xác, dù mang tiếng là “khách tìm hoa” thật đấy, nhưng hoàn cảnh của vị khách kia, cũng chẳng hơn hoàn cảnh của người bán hoa, chí ít cũng về phương diện kinh tế.

Phải chăng đó cảnh “đò nát gặp nhau” của một xã hội xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực?

Cái vật vờ đặc, cứng tới mức độ chẳng những người đọc không thấy một mô tả cảnh vật nào mà, ngay phần đối thoại trong cuộc đổi chác thân xác cũng kiệm lời tối đa. Những mẫu đối thoại mua bán tình dục không sượng sần, vào thẳng cuộc mặc cả. Những nhân xưng đại danh tự thường phải có trong bất cứ cuộc đối thoại nào, cũng được cắt bỏ!

Khi “thương thảo” với nhau, hai đối tác trao đổi quan điểm của mình, như hai người máy!

Thí dụ:

“Gã đảo một vòng quanh công viên trước cổng Dinh Ðộc Lập. Tối. Mỗi gốc cây đều thấp thoáng bóng người. Vài tay cũng đạp xe rảo rảo giống gã. ‘Ðược rồi.’

“Gã tấp vào một gốc cây.

“Một ả ló ra kéo tay gã:

“'Dzô sát trong đây.'

“‘Nhiêu?’

“‘Hai chục.’

“‘Không có đủ.’

“'Dzậy có nhiêu?'

“‘Thổi không thì nhiêu?’

“‘Mười.’

“‘Vẫn không đủ.’

“'Dzậy chớ muốn nhiêu?'

“‘Có năm thôi.’

“‘Hổng được. Ðụ má... Chưa mở hàng.’”

(CXH, Sđd. Trang 89 & 90)

Qua trích đoạn trên, người đọc cũng có thể hình dung đó là một cuộc đối thoại giữa hai con thú, được tác giả diễn giải lại, bằng ngôn ngữ con người!

Nhưng sau ngã giá, cuộc mua bán thân xác chưa kịp hoàn tất đã bị phát hiện bởi một “tên dân phòng.”

Nhân vật mang chỉ danh “dân phòng” theo lời kể của tác giả, cũng có một người anh đi tù cải tạo như nhân vật (tác giả?) trong chuyện. Vì thế, hắn bắt người phụ nữ đứng đường phải trả lại cho khách tìm hoa, số tiền ít ỏi tới mức chính hắn cũng phải ngỡ ngàng! Nhưng:

“Gã đàn ông lên xe đạp đi. Ðợi tên dân phòng đi khuất, gã vòng xe lại, đến gần ả:

“‘Này. Tôi trả lại năm đồng.’

“Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:

“‘Thôi, giữ lấy xài đi.’”

(Sđd. Trang 91).

Lúc này, lần đầu tiên, nhân xưng đại danh tự “tôi” hiện ra với tất cả dịu dàng, nhân ái.

Phải chăng vì cùng cảnh ngộ, cùng thân phận của những con người thình lình bị trận cuồng phong chính trị vứt ra bên lề xã hội (như sự ném, vứt những mụn giẻ rách) nên khi gặp nhau, họ lại có được cái tinh thần xót thương nhau một cách bất ngờ, chứa chan tình đồng loại?

Ðó cũng là những cơ hội hãn hữu, cho họ được sống lại, được hành xử với nhau, như những con người?

Ở trường hợp này, tôi cho ngôn ngữ giao tế trong đời thường càng vắng mặt bao nhiêu, ý nghĩa sâu kín của nhân tính càng hiển lộng bấy nhiêu! Sự hiển lộng nằm nơi nội dung của từ ngữ trao đổi và, nhất là ở những tán thán tự hay những hư tự như “thôi” và “đi” trong mẫu đối đáp chỉ vỏn vẹn năm chữ, trước khi mẩu chuyện được khép lại.

Nói cách khác, sự kỳ diệu của văn chương, nghệ thuật, không chỉ có nơi ngôn ngữ, động tác mà, ngay gỗ, đá cũng có thể có cho riêng nó một trái tim, một hơi thở. Nếu chúng có được vị trí mà những người làm văn học, nghệ thuật gọi là “đắc địa.”

Trở lại với “Vài Mẩu Chuyện” của Cao Xuân Huy, tôi nghĩ, có dễ một trong những điểm khởi đầu tiên của bản năng con người là tính đùm bọc. Thương yêu. Vì thế, bất cứ một những tác phẩm văn xuôi nào, thuộc khuynh hướng hiện thực xã hội, nếu dẫn dắt được người thưởng ngoạn về thấu điểm khởi nguồn này, đều dễ gây được sự mủi lòng, thậm chí lấy được nước mắt độc giả... Dù cho những tác phẩm kia có thừa mứa những cường điệu, giả trá nhằm phục vụ những toan tính ngoài văn chương!

Lại nữa, khi kể lại những ngày bị thú vật hóa trong nhà tù cộng sản, Cao Xuân Huy đã làm được công việc của một nhà văn có bản lĩnh là, đem được mình khỏi chính mình, để ngắm nhìn mình, như con thú tự lột da, hầu nhìn được toàn bộ thân thể nó, rớm máu...

Tôi không nghĩ tôi đã có một so sánh quá đáng sau khi đọc “Miếng Ăn” của Cao Xuân Huy trong tập “Vài Mẩu Chuyện.”

Ðó là một trong những mặt “tiêu cực” của cảnh đời những người lính miền Nam bị chính phủ Cộng Sản Hà Nội cầm tù sau biến cố tháng 4, 1975.

Câu chuyện kể thời gian bị giam cầm, tác giả không được thăm nuôi. Ông cũng không chịu nhập bọn với số bạn tù chủ trương “bay đêm,” tức rình mò để ăn cắp thực phẩm của những bạn tù được thân nhân tiếp tế dồi dào. Tác giả dứt khoát quan niệm:

“Miếng ăn là miếng nhục, dù có thiếu thốn đến đâu đi chăng nữa, dù có thèm thuồng đến đâu đi chăng nữa, miếng ăn vẫn không thể làm nhục con người mình được...”

Vì thế, ông cũng từ chối “nhập đảng” với những bạn tù “tư bản.” Những người được thân nhân tiếp tế thực phẩm phủ phê. Nhưng, quyết tâm của tác giả, không phải không bị bản năng đôi lúc “thách thức” một cách ngặt nghèo!

Trong “Miếng Ăn” tác giả kể lại chuyện một đêm sát Tết, hai bạn tù nằm cùng chiếu với ông, nấu một nồi chè, rôm rả mời ép nhau ăn... Coi tác giả như không có! Ông đã phải trùm chăn, nằm co chân cho họ đủ chỗ ngồi. Cho tới khi:

“Tiệc tan, mọi người giải tán, hai tay tư bản cạnh tôi vừa dọn dẹp vừa nói với nhau.

“‘Còn một tô mày ăn nốt đi.’

“‘No thấy mẹ rồi còn ăn gì nổi nữa. Mày ăn đi.’

“‘Tao cũng ăn hết nổi rồi, mà đổ đi thì uổng. Hay mình chia đôi.’

“‘Ðổ đi. Chỉ cần húp thêm một miếng nữa là tao ọc ra hết.’

“Người tôi run lên bần bật, tôi mím môi, bạnh hàm, nghiến chặt răng, nuốt liên tục mà sao nước dãi cứ ứa ra, đầy mồm rồi trào ra mép. Với một sự cố gắng vượt bực, tôi vẫn không thể kềm giữ nổi nước dãi, nước mắt tôi tự động ứa ra, Không hiểu tại sao? Ðưa tay quẹt mồm và dịu mắt liên tục vẫn không ăn thua gì. Trời ơi, tôi bất lực rồi, tôi không còn kiểm soát được tôi nữa rồi. Tôi thua cuộc rồi. Tôi lẩm nhẩm cầu xin trong đầu: ‘Mời tao đi, mời tao một tiếng, một tiếng thôi. Hãy mời tao một tiếng để tao từ chối. Có được mời và tiếng từ chối được phát ra thành tiếng, nước dãi tao mới hết chảy. Mời tao đi, mời đi, một tiếng thôi.’

“Nhưng chẳng ai mời tôi tiếng nào. Hai người cứ mời qua mời lại, rồi cuối cùng đem đổ.

“Tai tôi nóng bừng lên, đầu tôi như vỡ tung ra hàng trăm nghìn mảnh. Tôi hét to lên một tiếng, và tôi không còn biết mình là ai, tôi không còn biết mình đã làm những gì nữa.

“Cho đến tận bây giờ, mọi người có mặt trong lán, kể cả hai nạn nhân vẫn không biết lý do tại sao lại bị một trận đòn thù đến nỗi phải đi nằm trạm xá, và tôi, bị cùm để được ăn một cái Tết trong xà lim.”

(CXH, Sđd. Trang 18.)

Mẩu chuyện “Miếng Ăn” là cơn bão tâm cảm sau chót, khiến tôi thấy phải viết về Cao Xuân Huy. Như một Con Người. Một Nhà Văn. (Tôi viết hoa cả hai danh từ này). Ông có thể từ chối vinh-dự-lầm-than đó! Mặc dù mọi từ chối không nhất thiết luôn là chiều kích của khinh bạc mà, theo tôi, đôi khi cũng chỉ là mặt khác của sự yếu đuối vậy!

Du Tử Lê
(Calif. 4 tháng 10, 2010)

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Các Bờ Biển Đẹp Tại VN Trở Thành Tài Sản Tư Bản Đỏ

Image
Bờ biển Nha Trang bị khách sạn cắm cờ chiếm, cầm dân vào. (Photo VB)

NHA TRANG/VŨNG TÀU (VB) -- Vài năm gần đây, bãi biển ở nhiều nơi bị thu hẹp lại với tốc độ chóng mặt bởi các khu resort liền sát nhau như một bức tường ngăn cách người dân và bãi biển. Điển hình là ở Mũi Né, Hòn Rơm (Phan Thiết), bãi biển công cộng không còn bao nhiêu do hàng trăm resort mini (chỉ rộng cỡ 1-2ha/resort) đã nêm chặt cả vùng biển đẹp đẽ này. Thậm chí nhiều nơi trước đây từng là bãi đánh cá, bến neo thuyền... để ngư dân mưu sinh nhưng giờ đây chẳng còn chỗ để họ làm ăn, kiếm sống.

Ở Đà Nẵng thì từ khu vực Non Nước đến đường Hồ Xuân Hương, do bãi tắm sở hữu của các resort quá nhiều (chỉ cần bước nhầm vào là bị bảo vệ thổi còi) nên người dân phải chen nhau đi qua một đoạn bãi thật dài mới đến bãi tắm công cộng.

Còn ở vùng Bà Rịa – Vũng Tàu, sau một thời gian đình trệ, hàng loạt dự án đầu tư vào các khu du lịch đã tưng bừng triển khai thành các dự án bất động sản du lịch, nhất là dọc con đường ven biển từ thị trấn Long Hải đến khu vực Bình Châu, như: The Long Hai, Hai Minh Luxury Seaside Villas & Hotel Zone, Sanctuary Hồ Tràm, khu biệt thự nghỉ dưỡng suối nước nóng Bình Châu.v.v… “Trào lưu” xây biệt thự biển này sẽ khiến nhiều bãi biển đẹp có nguy cơ trở thành tài sản riêng của vài cá nhân. “Cũng một khu bãi biển xinh đẹp, nếu phát triển khu du lịch, cả cộng đồng xã hội sẽ được hưởng thụ. Nhưng nếu chuyển sang làm bất động sản du lịch thì chỉ một số ít người có cơ hội hưởng thụ do những căn biệt thự trong các dự án này có giá rất cao...” - phó giám đốc một công ty du lịch tại địa phương nói.
Theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch VN, đúng theo mô hình quy hoạch thì đường ven biển phải được thiết kế theo kiểu chạy ra/chạy vô chứ không song song với bờ biển như cách làm của các nhà xây dựng đô thị ven biển hiện nay. Chỗ chạy ra sát bờ biển sẽ là khu vực dân cư sinh sống và bãi tắm công cộng; khu đường chạy vào sẽ để cho resort đầu tư. Hình thức xen kẽ giữa khu dân cư và resort sẽ tạo con đường du lịch thật sự. Còn cách làm như khu vực bãi Sau ở Vũng Tàu, Nha Trang...thì khách sạn, resort ở một bên, khách muốn tắm biển phải băng qua đường vô cùng nguy hiểm và không đẹp, không đúng quy hoạch của du lịch.

Riêng người dân vẫn có đường ra biển, nhưng là “ra biển” chứ không sử dụng, tắm biển được, do bãi biển đã bị phân lô riêng cho ai đó gần hết rồi. Điển hình như ở đường Trần Phú, TP Nha Trang, một khách sạn liên doanh với tập đoàn Osaka (Nhật Bản) tọa lạc ở lề bên này đường đã cắm cờ, dựng dù, chiếm hẳn vạt bãi biển đối diện bên kia đường để làm bãi tắm riêng cho khách của “liên doanh.”

Post Reply