Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Đầu năm Mèo nói chuyện Cá
Tưởng Năng Tiến
“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.” Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.
Cá hồi sinh ở sông nhưng phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.
Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.
Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.
Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.
Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”
Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.
Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!
Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.
Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.
Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.
Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.
Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.
Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!
Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trả một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.
Báo Thanh Niên, số ra ngày 4 tháng 1 năm 2011, hớn hở đi tin: “Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), VN đứng hàng thứ 16/30 quốc gia trên thế giới có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất. Dự báo năm 2011, lượng kiều hối chuyển về VN sẽ tăng thêm 6,2%. Ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Chính sách tiền tệ Quốc gia, nguyên Thống đốc NHNN cho rằng, 2010 là một năm thắng lợi của kiều hối khi đạt được mức cao nhất trong các năm qua.”
Hà Nội có lý do để hãnh diện về những “thắng lợi” và thành quả đều đặn này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều giàu sang và... yêu nước!
Tưởng Năng Tiến
“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.” Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.
Cá hồi sinh ở sông nhưng phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.
Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.
Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.
Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.
Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”
Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.
Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!
Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.
Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.
Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.
Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.
Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.
Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!
Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trả một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.
Báo Thanh Niên, số ra ngày 4 tháng 1 năm 2011, hớn hở đi tin: “Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), VN đứng hàng thứ 16/30 quốc gia trên thế giới có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất. Dự báo năm 2011, lượng kiều hối chuyển về VN sẽ tăng thêm 6,2%. Ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Chính sách tiền tệ Quốc gia, nguyên Thống đốc NHNN cho rằng, 2010 là một năm thắng lợi của kiều hối khi đạt được mức cao nhất trong các năm qua.”
Hà Nội có lý do để hãnh diện về những “thắng lợi” và thành quả đều đặn này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều giàu sang và... yêu nước!
HUẾ CỦA MỘT THỜI
HUY PHƯƠNG Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ,
cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam Đà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa, tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.
Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giả cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng "Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô". Điều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trach vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.
-Em tên chi? - Dạ!
-Nhà Em ở đâu? - Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? - Dạ!
Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, "trước ngoài sân sau lần vô bếp", tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nỗi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Đinh Hùng đã ghi lại "Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép".
Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái "sương khói mờ nhân ảnh" đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.
Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vỉa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.
Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là "thời" cháo hoa.
Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Đến như khi cái xe nước mía từ Sài Gòn du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Parteur-Lê Lợi Sai Gon.
Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạnh "sĩ nông công thương". Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.
Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang về một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lột, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là hiện tượng dị thường.
Đến với Huế, người ta như đi trở ngược lại giòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long trong gần tám thế kỷ, vẫn còn dấu vết một thời đại đã qua. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây, với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt trên giòng Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca.
Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại: "Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế. Tôi thấy ở đây sao buồn quá!" (Đinh Anh Dũng trong Nhớ Huế)
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm. Các Vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.
Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Đó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giả thanh toán hận thù nhau qua thời đại "tứ nguyệt tam vương" của Tường Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Đá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo giòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là Quán Cơm Âm Phủ.
Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, suýt soa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều bién cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèn leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẫn khuất đâu đây.
Ngày xưa, mỗi năm vào ngày hai mươi ba tháng tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Đông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chần tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày Lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Được cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm "Hoành Sơn Nhất Đái" để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay phật) trong giấc mơ chọn đất Hà Khê(Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Đàm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?
Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lòng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong xuốt và đơn giản như những giọt sương mai.
Vườn của nhũng Vương Phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phòng, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc. Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ.
Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)
Vườn Huế ngày hè còn rộn tiếng ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng xe đã mang mùa hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.
Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn(dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi giây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ can đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương si trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái chèo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.
Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Điện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Tượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Đế qua Đông Ba tạo nên cái cảnh "Đông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Đế bồn lần hai chuông", với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những giòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà "Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long."
Nhưng cùng theo với những giòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.
Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là "nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương". Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể "tắm hai lần trong một giòng sông",
HUY PHƯƠNG Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ,
cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam Đà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa, tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.
Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giả cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng "Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô". Điều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trach vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.
-Em tên chi? - Dạ!
-Nhà Em ở đâu? - Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? - Dạ!
Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, "trước ngoài sân sau lần vô bếp", tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nỗi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Đinh Hùng đã ghi lại "Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép".
Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái "sương khói mờ nhân ảnh" đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.
Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vỉa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.
Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là "thời" cháo hoa.
Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Đến như khi cái xe nước mía từ Sài Gòn du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Parteur-Lê Lợi Sai Gon.
Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạnh "sĩ nông công thương". Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.
Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang về một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lột, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là hiện tượng dị thường.
Đến với Huế, người ta như đi trở ngược lại giòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long trong gần tám thế kỷ, vẫn còn dấu vết một thời đại đã qua. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây, với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt trên giòng Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca.
Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại: "Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế. Tôi thấy ở đây sao buồn quá!" (Đinh Anh Dũng trong Nhớ Huế)
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm. Các Vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.
Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Đó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giả thanh toán hận thù nhau qua thời đại "tứ nguyệt tam vương" của Tường Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Đá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo giòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là Quán Cơm Âm Phủ.
Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, suýt soa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều bién cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèn leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẫn khuất đâu đây.
Ngày xưa, mỗi năm vào ngày hai mươi ba tháng tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Đông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chần tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày Lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Được cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm "Hoành Sơn Nhất Đái" để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay phật) trong giấc mơ chọn đất Hà Khê(Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Đàm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?
Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lòng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong xuốt và đơn giản như những giọt sương mai.
Vườn của nhũng Vương Phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phòng, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc. Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ.
Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)
Vườn Huế ngày hè còn rộn tiếng ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng xe đã mang mùa hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.
Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn(dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi giây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ can đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương si trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái chèo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.
Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Điện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Tượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Đế qua Đông Ba tạo nên cái cảnh "Đông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Đế bồn lần hai chuông", với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những giòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà "Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long."
Nhưng cùng theo với những giòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.
Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là "nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương". Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể "tắm hai lần trong một giòng sông",
NHÂN LÀNH SANH QUẢ NGỌT
Tạ Thị Ngọc Thảo
10 tháng 02 năm 2011 Sáng mùng một Tết, như thường lệ, tôi giữ mình thanh sạch bày mâm cúng Phật, đốt hương trầm, khấn nguyện rồi ngồi tĩnh tâm và khai bút đầu năm.
Có ai hỏi tôi khấn gì trong giờ phút thiêng liêng này không? Thưa, đây là lời tôi khấn: “Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, bằng ngòi bút của mình, với cái tâm trong sáng, cái trí trong trẽo, cái dũng trong sạch, con nguyện đem những tinh hoa mà con đã gạn đục khơi trong ở thương trường, ở cuộc sống và quá trình tu tập, trao lại cho giới trẻ - những người rồi sẽ chịu trách nhiệm thịnh suy của đất nước, dân tộc và Đạo pháp”.
Khấn xong, trong lúc tĩnh tâm, tôi tự đặt ra câu hỏi với mình, “Viết gì vào thời khắc thiêng liêng này? Viết như thế nào để lòng này tới thẳng lòng kia trong ngày đầu năm mới? Chọn chủ đề gì để sau khi đọc mọi người nhích lại gần nhau hơn?”. Không cần tìm kiếm đâu xa, ý tưởng bài viết vụt đến khi mắt tôi chạm vào những tịnh vật trong mâm tôi dâng cúng Phật.
Nếu kể về tịnh vật bày cúng Phật sáng nay thì đầu tiên phải kể đến hoa, hoa Địa Lan. Với tôi, cúng hoa là dâng những tinh hoa của cuộc sống lên chư Phật. Hôm qua là ngày cuối năm, ông bà chủ vườn Lan trong Lạc Dương - Đà Lạt đến nhà thăm tôi. Khi đến, hai ông bà cầm theo bó hoa Địa Lan màu vàng múi mít và nói, “Gia đình tôi không theo Đạo Phật như bà. Nhân dịp năm hết Tết đến, chúng tôi chọn một chục cành Lan đẹp nhất vườn xin biếu bà cúng Phật”. Tôi hoan hỷ nhận hoa rồi kính biếu lại ông bà vài quyển Đặc san Văn hóa Phật giáo Việt Nam và gói mứt gừng xứ Huế. Sáng nay những cành Lan đó đã hiện diện trong mâm cúng Phật. Bài khai bút của tôi năm nay thắm đượm hương Lan và sự giao thoa hướng thiện.
Tiếp theo hoa Lan Đà Lạt là Trầm hương xứ Huế, nơi được dân gian thừa nhận là “cái nôi của Phật giáo Việt Nam”. Những nén Trầm đốt lên cúng Phật sáng nay là quà của quý thầy, quý ni gởi từ Huế vào biếu tôi với lời dặn, “Trầm này quý lắm, khi đốt lên chị nhớ ngồi tĩnh lặng thưởng thức mùi hương, đó cũng là một cách thiền”. Và tôi đã làm theo lời dặn, đốt Trầm, tĩnh tâm, khai bút. Trong khi viết mùi trầm xứ Huế đã nhắc nhở tôi rằng, “Để những con chữ được lấp lánh tánh Phật, khi cầm bút nhớ tránh đưa “cái tôi” và “cái của tôi” vào bài viết”. Tôi cầu mong, những dòng chữ ngày đầu năm mới của tôi phảng phất tính thiền.
Sau Trầm hương xứ Huế là bánh cốm của Hà Nội. Những tấm bánh cốm màu xanh mơn mỡn, bên trong có nhân đậu xanh màu vàng ươm do gia đình của quý thầy làm ngoài bắc rồi gởi vào Nam biếu tôi ăn Tết. Như muốn thể hiện sự thanh lịch của dân Hà thành, những tấm bánh này được gói rất khéo. Kèm theo gói quà là cái thư viết tay với dòng chữ, “Bánh này trò nên ăn trong lúc uống trà, khi ăn nhớ cắn từng miếng nhỏ; nếu ăn bánh trong tâm trạng thanh thản trò sẽ cảm nhận được mùi thanh khiết của nếp non, vị ngọt của đường phèn và hương thơm của đậu”. Khi bày những tấm bánh cốm Hà Nội lên bàn cúng khai bút đầu năm, là tôi đã tự dặn mình, “Nhớ, từng chữ, từng câu phải cố gắng được như bánh cốm quý thầy gởi biếu: thanh khiết, ngọt ngào và ngát hương”.
Kế bánh cốm Hà Nội là bánh tét Tiền Giang. Để có cặp bánh tét trong mâm cúng Phật sáng nay là cả một kỳ công. Khi nhận cặp bánh tét, tôi được nghe cô học trò của mình kể rằng, “Biết cô dành cặp bánh này để cúng Phật, má em chọn nếp, chọn đậu, chọn lá kỹ lắm. Rồi chính tay má em pha trộn và gói, tụi em không được đụng tay”. Sáng nay khi cái bánh tét được cắt ra xếp vào dĩa cúng Phật, tôi thấy từng khoanh bánh có bốn màu: màu xanh của lá dứa, màu tím của lá cẩm, màu trắng của nếp và màu vàng của đậu xanh. Từng màu được sắp xếp xen kẻ thật khéo léo, hạt nếp và đậu xanh quyện chặt chẽ vào nhau. Cái bánh tét đẹp như một tác phẩm nghệ thuật. Tôi biết má của cô học trò đã vừa làm bánh vừa niệm Phật. Bài viết của tôi vào ngày khai bút mong sao chở được một phần nhỏ sự tinh xảo của những khoanh bánh tét Tiền Giang.
Ngoài những tịnh vật của những người thân quen biếu, mâm cúng Phật sáng nay còn có dĩa ngũ quả do tôi ra chợ chọn mua về. Mâm ngũ quả của tôi có màu sắc thật sinh động: màu hồng đậm đà Thanh Long Phan Thiết, màu ưng ửng vàng Đu Đủ Đăk Lăk, màu vàng xen xanh Thơm son Tiền Giang, màu xanh biên biếc Dưa Hấu Đồng Tháp và màu da vàng sáng trái bưởi Biên Hòa. Những quả tươi tốt này đã góp phần cho mâm cúng Phật được đủ đầy, trọn vẹn. Tôi lo lắng, liệu bài khai bút của có được sinh động đủ đầy như dĩa trái cây?
Đức Phật dạy, “…thành tựu nào cũng do sự tác hợp của nhiều nhân - duyên, chẳng có vật nào độc lập mà có thể tồn tại”. Tôi nghĩ, nếu không có mùi hương của Lan Đà Lạt, mùi Trầm thanh tịnh của xứ Huế, vị ngọt ngào của bánh cốm Hà Nội, sự tinh xảo của bánh tét Tiền Giang, dĩa ngũ quả đại diện cho thành quả lao động của bà con nhiều vùng miền đất nước, và lòng thành của một người Sài gòn (là tôi), với Đức Phật, với xã hội và với độc giả thì sẽ không thể có bài khai bút đầu năm này.
Nhân lành sanh quả ngọt, là vậy.
Tạ Thị Ngọc Thảo
10 tháng 02 năm 2011 Sáng mùng một Tết, như thường lệ, tôi giữ mình thanh sạch bày mâm cúng Phật, đốt hương trầm, khấn nguyện rồi ngồi tĩnh tâm và khai bút đầu năm.
Có ai hỏi tôi khấn gì trong giờ phút thiêng liêng này không? Thưa, đây là lời tôi khấn: “Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, bằng ngòi bút của mình, với cái tâm trong sáng, cái trí trong trẽo, cái dũng trong sạch, con nguyện đem những tinh hoa mà con đã gạn đục khơi trong ở thương trường, ở cuộc sống và quá trình tu tập, trao lại cho giới trẻ - những người rồi sẽ chịu trách nhiệm thịnh suy của đất nước, dân tộc và Đạo pháp”.
Khấn xong, trong lúc tĩnh tâm, tôi tự đặt ra câu hỏi với mình, “Viết gì vào thời khắc thiêng liêng này? Viết như thế nào để lòng này tới thẳng lòng kia trong ngày đầu năm mới? Chọn chủ đề gì để sau khi đọc mọi người nhích lại gần nhau hơn?”. Không cần tìm kiếm đâu xa, ý tưởng bài viết vụt đến khi mắt tôi chạm vào những tịnh vật trong mâm tôi dâng cúng Phật.
Nếu kể về tịnh vật bày cúng Phật sáng nay thì đầu tiên phải kể đến hoa, hoa Địa Lan. Với tôi, cúng hoa là dâng những tinh hoa của cuộc sống lên chư Phật. Hôm qua là ngày cuối năm, ông bà chủ vườn Lan trong Lạc Dương - Đà Lạt đến nhà thăm tôi. Khi đến, hai ông bà cầm theo bó hoa Địa Lan màu vàng múi mít và nói, “Gia đình tôi không theo Đạo Phật như bà. Nhân dịp năm hết Tết đến, chúng tôi chọn một chục cành Lan đẹp nhất vườn xin biếu bà cúng Phật”. Tôi hoan hỷ nhận hoa rồi kính biếu lại ông bà vài quyển Đặc san Văn hóa Phật giáo Việt Nam và gói mứt gừng xứ Huế. Sáng nay những cành Lan đó đã hiện diện trong mâm cúng Phật. Bài khai bút của tôi năm nay thắm đượm hương Lan và sự giao thoa hướng thiện.
Tiếp theo hoa Lan Đà Lạt là Trầm hương xứ Huế, nơi được dân gian thừa nhận là “cái nôi của Phật giáo Việt Nam”. Những nén Trầm đốt lên cúng Phật sáng nay là quà của quý thầy, quý ni gởi từ Huế vào biếu tôi với lời dặn, “Trầm này quý lắm, khi đốt lên chị nhớ ngồi tĩnh lặng thưởng thức mùi hương, đó cũng là một cách thiền”. Và tôi đã làm theo lời dặn, đốt Trầm, tĩnh tâm, khai bút. Trong khi viết mùi trầm xứ Huế đã nhắc nhở tôi rằng, “Để những con chữ được lấp lánh tánh Phật, khi cầm bút nhớ tránh đưa “cái tôi” và “cái của tôi” vào bài viết”. Tôi cầu mong, những dòng chữ ngày đầu năm mới của tôi phảng phất tính thiền.
Sau Trầm hương xứ Huế là bánh cốm của Hà Nội. Những tấm bánh cốm màu xanh mơn mỡn, bên trong có nhân đậu xanh màu vàng ươm do gia đình của quý thầy làm ngoài bắc rồi gởi vào Nam biếu tôi ăn Tết. Như muốn thể hiện sự thanh lịch của dân Hà thành, những tấm bánh này được gói rất khéo. Kèm theo gói quà là cái thư viết tay với dòng chữ, “Bánh này trò nên ăn trong lúc uống trà, khi ăn nhớ cắn từng miếng nhỏ; nếu ăn bánh trong tâm trạng thanh thản trò sẽ cảm nhận được mùi thanh khiết của nếp non, vị ngọt của đường phèn và hương thơm của đậu”. Khi bày những tấm bánh cốm Hà Nội lên bàn cúng khai bút đầu năm, là tôi đã tự dặn mình, “Nhớ, từng chữ, từng câu phải cố gắng được như bánh cốm quý thầy gởi biếu: thanh khiết, ngọt ngào và ngát hương”.
Kế bánh cốm Hà Nội là bánh tét Tiền Giang. Để có cặp bánh tét trong mâm cúng Phật sáng nay là cả một kỳ công. Khi nhận cặp bánh tét, tôi được nghe cô học trò của mình kể rằng, “Biết cô dành cặp bánh này để cúng Phật, má em chọn nếp, chọn đậu, chọn lá kỹ lắm. Rồi chính tay má em pha trộn và gói, tụi em không được đụng tay”. Sáng nay khi cái bánh tét được cắt ra xếp vào dĩa cúng Phật, tôi thấy từng khoanh bánh có bốn màu: màu xanh của lá dứa, màu tím của lá cẩm, màu trắng của nếp và màu vàng của đậu xanh. Từng màu được sắp xếp xen kẻ thật khéo léo, hạt nếp và đậu xanh quyện chặt chẽ vào nhau. Cái bánh tét đẹp như một tác phẩm nghệ thuật. Tôi biết má của cô học trò đã vừa làm bánh vừa niệm Phật. Bài viết của tôi vào ngày khai bút mong sao chở được một phần nhỏ sự tinh xảo của những khoanh bánh tét Tiền Giang.
Ngoài những tịnh vật của những người thân quen biếu, mâm cúng Phật sáng nay còn có dĩa ngũ quả do tôi ra chợ chọn mua về. Mâm ngũ quả của tôi có màu sắc thật sinh động: màu hồng đậm đà Thanh Long Phan Thiết, màu ưng ửng vàng Đu Đủ Đăk Lăk, màu vàng xen xanh Thơm son Tiền Giang, màu xanh biên biếc Dưa Hấu Đồng Tháp và màu da vàng sáng trái bưởi Biên Hòa. Những quả tươi tốt này đã góp phần cho mâm cúng Phật được đủ đầy, trọn vẹn. Tôi lo lắng, liệu bài khai bút của có được sinh động đủ đầy như dĩa trái cây?
Đức Phật dạy, “…thành tựu nào cũng do sự tác hợp của nhiều nhân - duyên, chẳng có vật nào độc lập mà có thể tồn tại”. Tôi nghĩ, nếu không có mùi hương của Lan Đà Lạt, mùi Trầm thanh tịnh của xứ Huế, vị ngọt ngào của bánh cốm Hà Nội, sự tinh xảo của bánh tét Tiền Giang, dĩa ngũ quả đại diện cho thành quả lao động của bà con nhiều vùng miền đất nước, và lòng thành của một người Sài gòn (là tôi), với Đức Phật, với xã hội và với độc giả thì sẽ không thể có bài khai bút đầu năm này.
Nhân lành sanh quả ngọt, là vậy.
Bà mẹ nước nào là số một?
Ngô Nhân Dụng Như đã hứa từ ngày đầu năm Tân Mão, mục này sẽ mời quý vị theo dõi một cuộc tranh luận đang sôi nổi trên nhiều diễn đàn ở nước Mỹ và lan sang cả Á Ðông, về cách bà mẹ dạy con tốt nhất. Ðầu têu “gây chuyện” là một bài báo của bà Amy Chua, một giáo sư Luật Khoa Ðại Học Yale (hai cựu tổng thống và ông bà Clinton đều đã học trường này). Bà Chua là người gốc Hoa sinh trưởng tại Mỹ, bà dạy con theo lối rất nghiêm khắc.
Tựa đề của bài báo đã khiến nhiều người muốn “cãi nhau” ngay! Ðặt ngay một câu hỏi: “Tại sao bà mẹ Trung Hoa là ưu việt?”( Why Chinese Mothers Are Superior?) - làm như chuyện Bà Mẹ Trung Hoa dạy con giỏi nhất thế giới đã là điều hiển nhiên rồi, chỉ cần tìm hiểu tại sao thôi! Sau này bà Chua cho biết cái tựa đó là do tòa soạn đặt cho bài báo chứ không phải chính bà đặt tựa. Tòa soạn báo Wall Street quả có tài đặt tựa để kích thích trí tò mò của người đọc, ai cũng muốn coi xem sao. Một bà mẹ khác sau viết phản bác lại bà Chua nhưng cũng cám ơn là bài báo đó kích thích cả hai đứa con trên 10 tuổi của mình khiến các em đó cũng tìm đọc. Xúi giục được trẻ em đọc báo, thay vì coi ti vi hoặc chơi game đã là khó! Làm sao mà hai cô bé lại chịu đọc cả tờ báo Wall Street (nghiêm nghị và khô khan), đúng là điều hãn hữu! Bài báo trên trích từ một cuốn sách bà Chua vừa mới in xong. Sách sắp xuất bản mà đã được thiên hạ đem ra bàn cãi ồn ào như vậy, thật là một cách quảng cáo hạng nhất.
Bao nhiêu người phản ứng không những trên tờ báo trên mà cả trên ti vi, radio, rồi viết trên bao nhiều tờ báo khác khắp thế giới. Vì cách bà dạy con của bà Chua (tên Hán Việt đọc là Thái Mỹ Nhi) hoàn toàn trái ngược với thói quen của đa số người Mỹ, kể cả những bà mẹ Mỹ gốc Trung Hoa!
Chẳng hạn, bà Amy Chua nói các bậc cha mẹ gốc Trung Hoa nghĩ rằng các con phải chịu ơn họ về tất cả các thứ mà các cháu được hưởng. Do đó các con phải vâng lời và có bổn phận làm sao cho cha mẹ hãnh diện (ông Mạnh Tử cũng nói giống như vậy). Ngược lại, người Tây phương không thấy các con phải chịu ơn mình. Ông chồng bà Amy là Jed Rubenfeld dạy cùng trường Luật ở Yale, cũng nói như thế: “Các con chúng không chọn ai làm cha mẹ chúng cả. Ngay cả việc chúng ra đời cũng không phải do chúng tự chọn. Thành ra bổn phận cha mẹ là phải nuôi dạy chúng. Con không nợ nần gì cha mẹ hết. Chúng sẽ có bổn phận với những đứa con chúng sau này.” Bà Chua nhận xét: Nghĩ theo lối Tây phương thì cha mẹ bị thiệt thòi quá!
Bà Amy Chua phân trần ngay rằng những chữ “Người Mẹ Trung Hoa” mà bà dùng chỉ là một biểu tượng cho dễ hiểu, để nói về những người dạy con theo lối khắt khe. Những bà mẹ đó có thể gốc người Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Jamaica, Irish, Ghana, vân vân, chứ không chỉ có người Trung Hoa mà thôi. Còn khi nói đến cha mẹ Tây phương cũng là nói về một phương pháp dạy con dễ dãi, bà biết ở Tây phương cũng có đủ loại người mẹ dạy con theo nhiều cách khác nhau.
Bà Chua nói cha mẹ Trung Hoa tin rằng chỉ có họ mới biết cái gì là tốt nhất cho con cái, chứ không phải đứa con mới biết. Cho nên cha mẹ sẽ quyết định thay cho con cái mà không cần biết đến ý thích của chúng. Bà phân trần: Xin đừng hiểu lầm là cha mẹ Trung Hoa không quan tâm đến con cái. Trái lại là khác. Họ hy sinh tất cả cho các con. Chỉ có cách họ dạy con của họ khác thôi. Nhiều bà mẹ Trung Hoa vẫn nghĩ là chính họ lo lắng cho con cái hơn các cha mẹ Tây phương, những người này thả lỏng cho con, chấp nhận nếu chúng có hư cũng chẳng sao cả. Các bà mẹ Trung Hoa thường dùng gấp mười số thời giờ so với người Tây phương để kèm con học bài, làm bài mỗi ngày.
Amy Chua nói rằng các bà mẹ Trung Hoa chủ trương con mình phải học giỏi nhất lớp, phải giữ kỷ luật, không được thoái chí, và cha mẹ không ngần ngại mắng con một cách nặng nề. Bà viết ngay từ đầu bài rằng 2 cô con gái bà bị cấm mười điều, giống như “thập giới” vậy! Xin kể vài thí dụ: Các con không được coi ti vi và chơi games, tức trò chơi điện tử; không được ngủ lại nhà bạn (sleepover); không được tham gia ban kịch trong trường; không được xuống dưới điểm A; không được tụt xuống đứng hạng nhì trong tất cả các môn học, trừ môn thể dục và diễn kịch; bắt buộc phải học một trong hai nhạc khí piano và violin, và không được chơi một thứ nhạc khí nào khác; vân vân. Amy Chua kể một người bạn bà bắt con tập đàn nửa tiếng mỗi ngày, cho là mình đã nghiêm khắc lắm rồi. Nhưng với một “bà mẹ Trung Hoa” thì tập đàn một giờ đầu là chuyện dễ dàng, giờ thứ hai, thứ ba mới là khó!
Amy Chua nói khi một đứa con bị tụt xuống hạng B (bà viết thêm: chuyện đó không bao giờ xảy ra đối với một bà mẹ Trung Hoa) thì người mẹ sẽ làm ầm lên. Bà sẽ bắt con từ nay phải ngồi xuống làm bài tập hàng chục lần, hàng trăm lần, cho tới khi nó được điểm A mới thôi. Các cha mẹ người Tây phương rất quan tâm bảo vệ lòng tự tin của con cái, cho nên không muốn chê con khi chúng bị điểm thấp. Bà Amy nói, cha mẹ người Trung Hoa không tránh né như vậy; vì họ tin là con cái họ rất mạnh, không hơi tý là bị mất tự tin như thế.
Cho nên cha mẹ người Trung Hoa có thể hành động theo lối mà cha mẹ Tây phương không dám làm. Bà mẹ Trung Hoa có thể mắng con “Thằng Lười!” Người Tây phương không mắng như vậy. Cha mẹ gốc Trung Hoa có thể ra lệnh “Con phải được điểm A!” Các cha mẹ người Tây phương chỉ yêu cầu con cái cố gắng hết sức, thế thôi. Bà Ami kể hồi nhỏ có lúc bà phạm lỗi rất nặng vì vô lễ với mẹ, ông đã bố mắng: “Mày là thứ Rác Rưởi!” bằng tiếng Hẹ. Bố mẹ bà Amy Chua từng sống ở Phi Luật Tân trước khi di cư sang Mỹ. Họ gốc người Hẹ (phần lớn người Hẹ sống ở Quảng Ðông, các ông Lý Quang Diệu, Diệp Kiếm Anh, cựu tổng thống Ðài Loan Lý Ðăng Huy đều là người gốc Hẹ). Lời mắng nặng nề của ông bố có hiệu quả. Cô bé Amy cảm thấy xấu hổ. Nhưng không phải vì thế mà cô mất tự tin, như nhiều bậc cha mẹ Mỹ thường lo và tránh không nói nặng với con. Sau này khi đã có con, bà Chua cũng có lần mắng Sophia, đứa con gái lớn là “garbage” bằng tiếng Anh. Một lần bà đem kể lại chuyện đó trong một bữa tiệc, bà bị tất cả mọi người chung quanh “tẩy chay” (coi như hủi, ostracized). Một phụ nữ người Mỹ nghe chuyện “bất bình” đó đã quá xúc động đến nỗi bật khóc, rồi phải rời bỏ bữa tiệc ra về sớm.
Nhưng bà Chua cho biết cha mẹ người Trung Hoa thật sự vẫn nghĩ rằng các con họ đều giỏi giang, đáng đứng đầu lớp cả; nếu các con không xuất sắc trong trường học tức là cha mẹ không biết dạy con! Ngược lại, cha mẹ người Tây phương nghĩ là không nên bắt trẻ em bị áp lực phải thành công trong học đường, làm như vậy sẽ có hại cho sức khỏe tinh thần của trẻ em.
Một câu chuyện mà bà amy Chua kể về đứa con gái thứ hai của bà cho ta thấy cách làm mẹ của bà là “cưỡng bách lối Trung Hoa” vẫn tốt hơn. Năm Lulu lên 7 tuổi, cô tập một bài đàn dương cầm của Jacques Ibert mãi vẫn không ráp được tay trái với tay phải. Cô bé thất vọng, không chịu tập nữa.
“Quay lại ngồi vào đàn ngay!” Bà mẹ ra lệnh.
“Mẹ không ép con được!”
“Mẹ ép được!”
Lulu phản ứng dữ. Ngồi vào đàn, cô quăng quật, xé cả bản nhạc, vứt xuống đất (Xin lỗi, mẹ nào con nấy)! Bà mẹ nhặt các mảnh của bản nhạc lên, dán lại, bọc bao plastic để không xé được nữa. Và bà thi hành hình phạt: Dọa đem những đồ chơi quý nhất của cô bé đem cho hội thiện. Dọa không được ăn trưa, không được ăn tối. Sẽ không bao giờ cho cô con quà lễ Giáng Sinh, quà lễ Hanukka (của Do Thái giáo). Trong ba, bốn năm sẽ không cho tổ chức sinh nhật. Bà bảo cô đừng có lười, đừng cứ nghĩ là mình kém cỏi. Ông bố khuyên bà mẹ đừng nhục mạ con (Không, bà phân trần, bà chỉ động viên nó). Chồng bà cũng giải thích có lẽ cô con 7 tuổi chưa tập đủ kỹ thuật, chưa đủ khả năng đàn hay tay một lúc. “Ông chỉ không có lòng tin tưởng vào con ông!”
Sau một hồi tranh luận, bà mẹ Trung Hoa xắn tay áo lên, dùng đủ mọi phương cách kéo cô con gái trở lại đàn. Ngồi tập đi tập lại, bỏ cả giờ cơm tối, không được phép đứng dạy, không được vào nhà tắm. Cứ như vậy, mãi không thấy cô bé tiến bộ, chính bà mẹ bắt đầu nghi ngờ phương pháp của mình. Rồi bỗng một hôm, hai bàn tay cô bé đánh đúng nhịp với nhau, tự nhiên như vậy. Cả mẹ và con ngạc nhiên. Rồi cô bé thử lần nữa, lần nữa. Sau cùng, cô kêu lên: “Mẹ! Dễ quá! Con đàn được!” Thế là cô bé tiếp tục ngồi đàn, mê mải, quên cả đói.
Amy Chua kết luận: Cha mẹ Tây phương cứ lo làm con mất tự tin. Ðối với một người mẹ như tôi, không có gì làm một đứa trẻ mất tự tin hơn là khi nó phải bỏ cuộc. Ngược lại, không có gì xây dựng đức tự tin tốt hơn là tự mình học được rằng mình có sức làm những việc mà trước đó mình tưởng là không làm được!” Bà viết, người Trung Hoa tin rằng cách bảo vệ con tốt nhất là chuẩn bị cho chúng vào đời, cho chúng cơ hội biết mình đủ sức làm được gì, trang bị cho chúng kỹ thuật, thói quen chăm chỉ, và lòng tự tin không bao giờ mất được.
Bài báo của Amy Chua dài hơn 2,600 chữ, chúng tôi tóm tắt chỉ dài bằng 60%. Mới lên báo, bài này được 5,700 độc giả góp ý kiến trong một tuần lễ; chưa bao giờ có bài nào trên báo Wall Street được nhiều người đáp ứng như vậy. Rất nhiều độc giả góp ý là người gốc Trung Hoa, ở khắp thế giới, và rất nhiều người không đồng ý với lối dạy con của bà Amy Chua. Quý vị độc giả Người Việt đọc tới đây trong đầu chắc cũng đầy những ý kiến ủng hộ hoặc phản bác. Chắc đây cũng là một đề tài nhiều vị không đồng ý với nhau, có thể tranh luận rất lâu, và khá nhức đầu. Quý vị có thể viết góp ý trên trang Diễn Ðàn nhật báo Người Việt và Người Việt Online. Khi thảo luận, xin chú ý đây chỉ là vấn đề phương pháp dạy con. Không nên phân biệt chủng tộc, vì nhiều bà mẹ Việt Nam, Do Thái hay Ðức cũng dạy con giống lối bà Amy Chua mô tả. Ngược lại, nhiều bà mẹ gốc Trung Hoa cũng thích dạy con theo lối Mỹ.
Chúng tôi sẽ tóm tắt một số ý kiến phản ứng trên báo Wall Street và các báo khác trong một bài sau.
Ngô Nhân Dụng Như đã hứa từ ngày đầu năm Tân Mão, mục này sẽ mời quý vị theo dõi một cuộc tranh luận đang sôi nổi trên nhiều diễn đàn ở nước Mỹ và lan sang cả Á Ðông, về cách bà mẹ dạy con tốt nhất. Ðầu têu “gây chuyện” là một bài báo của bà Amy Chua, một giáo sư Luật Khoa Ðại Học Yale (hai cựu tổng thống và ông bà Clinton đều đã học trường này). Bà Chua là người gốc Hoa sinh trưởng tại Mỹ, bà dạy con theo lối rất nghiêm khắc.
Tựa đề của bài báo đã khiến nhiều người muốn “cãi nhau” ngay! Ðặt ngay một câu hỏi: “Tại sao bà mẹ Trung Hoa là ưu việt?”( Why Chinese Mothers Are Superior?) - làm như chuyện Bà Mẹ Trung Hoa dạy con giỏi nhất thế giới đã là điều hiển nhiên rồi, chỉ cần tìm hiểu tại sao thôi! Sau này bà Chua cho biết cái tựa đó là do tòa soạn đặt cho bài báo chứ không phải chính bà đặt tựa. Tòa soạn báo Wall Street quả có tài đặt tựa để kích thích trí tò mò của người đọc, ai cũng muốn coi xem sao. Một bà mẹ khác sau viết phản bác lại bà Chua nhưng cũng cám ơn là bài báo đó kích thích cả hai đứa con trên 10 tuổi của mình khiến các em đó cũng tìm đọc. Xúi giục được trẻ em đọc báo, thay vì coi ti vi hoặc chơi game đã là khó! Làm sao mà hai cô bé lại chịu đọc cả tờ báo Wall Street (nghiêm nghị và khô khan), đúng là điều hãn hữu! Bài báo trên trích từ một cuốn sách bà Chua vừa mới in xong. Sách sắp xuất bản mà đã được thiên hạ đem ra bàn cãi ồn ào như vậy, thật là một cách quảng cáo hạng nhất.
Bao nhiêu người phản ứng không những trên tờ báo trên mà cả trên ti vi, radio, rồi viết trên bao nhiều tờ báo khác khắp thế giới. Vì cách bà dạy con của bà Chua (tên Hán Việt đọc là Thái Mỹ Nhi) hoàn toàn trái ngược với thói quen của đa số người Mỹ, kể cả những bà mẹ Mỹ gốc Trung Hoa!
Chẳng hạn, bà Amy Chua nói các bậc cha mẹ gốc Trung Hoa nghĩ rằng các con phải chịu ơn họ về tất cả các thứ mà các cháu được hưởng. Do đó các con phải vâng lời và có bổn phận làm sao cho cha mẹ hãnh diện (ông Mạnh Tử cũng nói giống như vậy). Ngược lại, người Tây phương không thấy các con phải chịu ơn mình. Ông chồng bà Amy là Jed Rubenfeld dạy cùng trường Luật ở Yale, cũng nói như thế: “Các con chúng không chọn ai làm cha mẹ chúng cả. Ngay cả việc chúng ra đời cũng không phải do chúng tự chọn. Thành ra bổn phận cha mẹ là phải nuôi dạy chúng. Con không nợ nần gì cha mẹ hết. Chúng sẽ có bổn phận với những đứa con chúng sau này.” Bà Chua nhận xét: Nghĩ theo lối Tây phương thì cha mẹ bị thiệt thòi quá!
Bà Amy Chua phân trần ngay rằng những chữ “Người Mẹ Trung Hoa” mà bà dùng chỉ là một biểu tượng cho dễ hiểu, để nói về những người dạy con theo lối khắt khe. Những bà mẹ đó có thể gốc người Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Jamaica, Irish, Ghana, vân vân, chứ không chỉ có người Trung Hoa mà thôi. Còn khi nói đến cha mẹ Tây phương cũng là nói về một phương pháp dạy con dễ dãi, bà biết ở Tây phương cũng có đủ loại người mẹ dạy con theo nhiều cách khác nhau.
Bà Chua nói cha mẹ Trung Hoa tin rằng chỉ có họ mới biết cái gì là tốt nhất cho con cái, chứ không phải đứa con mới biết. Cho nên cha mẹ sẽ quyết định thay cho con cái mà không cần biết đến ý thích của chúng. Bà phân trần: Xin đừng hiểu lầm là cha mẹ Trung Hoa không quan tâm đến con cái. Trái lại là khác. Họ hy sinh tất cả cho các con. Chỉ có cách họ dạy con của họ khác thôi. Nhiều bà mẹ Trung Hoa vẫn nghĩ là chính họ lo lắng cho con cái hơn các cha mẹ Tây phương, những người này thả lỏng cho con, chấp nhận nếu chúng có hư cũng chẳng sao cả. Các bà mẹ Trung Hoa thường dùng gấp mười số thời giờ so với người Tây phương để kèm con học bài, làm bài mỗi ngày.
Amy Chua nói rằng các bà mẹ Trung Hoa chủ trương con mình phải học giỏi nhất lớp, phải giữ kỷ luật, không được thoái chí, và cha mẹ không ngần ngại mắng con một cách nặng nề. Bà viết ngay từ đầu bài rằng 2 cô con gái bà bị cấm mười điều, giống như “thập giới” vậy! Xin kể vài thí dụ: Các con không được coi ti vi và chơi games, tức trò chơi điện tử; không được ngủ lại nhà bạn (sleepover); không được tham gia ban kịch trong trường; không được xuống dưới điểm A; không được tụt xuống đứng hạng nhì trong tất cả các môn học, trừ môn thể dục và diễn kịch; bắt buộc phải học một trong hai nhạc khí piano và violin, và không được chơi một thứ nhạc khí nào khác; vân vân. Amy Chua kể một người bạn bà bắt con tập đàn nửa tiếng mỗi ngày, cho là mình đã nghiêm khắc lắm rồi. Nhưng với một “bà mẹ Trung Hoa” thì tập đàn một giờ đầu là chuyện dễ dàng, giờ thứ hai, thứ ba mới là khó!
Amy Chua nói khi một đứa con bị tụt xuống hạng B (bà viết thêm: chuyện đó không bao giờ xảy ra đối với một bà mẹ Trung Hoa) thì người mẹ sẽ làm ầm lên. Bà sẽ bắt con từ nay phải ngồi xuống làm bài tập hàng chục lần, hàng trăm lần, cho tới khi nó được điểm A mới thôi. Các cha mẹ người Tây phương rất quan tâm bảo vệ lòng tự tin của con cái, cho nên không muốn chê con khi chúng bị điểm thấp. Bà Amy nói, cha mẹ người Trung Hoa không tránh né như vậy; vì họ tin là con cái họ rất mạnh, không hơi tý là bị mất tự tin như thế.
Cho nên cha mẹ người Trung Hoa có thể hành động theo lối mà cha mẹ Tây phương không dám làm. Bà mẹ Trung Hoa có thể mắng con “Thằng Lười!” Người Tây phương không mắng như vậy. Cha mẹ gốc Trung Hoa có thể ra lệnh “Con phải được điểm A!” Các cha mẹ người Tây phương chỉ yêu cầu con cái cố gắng hết sức, thế thôi. Bà Ami kể hồi nhỏ có lúc bà phạm lỗi rất nặng vì vô lễ với mẹ, ông đã bố mắng: “Mày là thứ Rác Rưởi!” bằng tiếng Hẹ. Bố mẹ bà Amy Chua từng sống ở Phi Luật Tân trước khi di cư sang Mỹ. Họ gốc người Hẹ (phần lớn người Hẹ sống ở Quảng Ðông, các ông Lý Quang Diệu, Diệp Kiếm Anh, cựu tổng thống Ðài Loan Lý Ðăng Huy đều là người gốc Hẹ). Lời mắng nặng nề của ông bố có hiệu quả. Cô bé Amy cảm thấy xấu hổ. Nhưng không phải vì thế mà cô mất tự tin, như nhiều bậc cha mẹ Mỹ thường lo và tránh không nói nặng với con. Sau này khi đã có con, bà Chua cũng có lần mắng Sophia, đứa con gái lớn là “garbage” bằng tiếng Anh. Một lần bà đem kể lại chuyện đó trong một bữa tiệc, bà bị tất cả mọi người chung quanh “tẩy chay” (coi như hủi, ostracized). Một phụ nữ người Mỹ nghe chuyện “bất bình” đó đã quá xúc động đến nỗi bật khóc, rồi phải rời bỏ bữa tiệc ra về sớm.
Nhưng bà Chua cho biết cha mẹ người Trung Hoa thật sự vẫn nghĩ rằng các con họ đều giỏi giang, đáng đứng đầu lớp cả; nếu các con không xuất sắc trong trường học tức là cha mẹ không biết dạy con! Ngược lại, cha mẹ người Tây phương nghĩ là không nên bắt trẻ em bị áp lực phải thành công trong học đường, làm như vậy sẽ có hại cho sức khỏe tinh thần của trẻ em.
Một câu chuyện mà bà amy Chua kể về đứa con gái thứ hai của bà cho ta thấy cách làm mẹ của bà là “cưỡng bách lối Trung Hoa” vẫn tốt hơn. Năm Lulu lên 7 tuổi, cô tập một bài đàn dương cầm của Jacques Ibert mãi vẫn không ráp được tay trái với tay phải. Cô bé thất vọng, không chịu tập nữa.
“Quay lại ngồi vào đàn ngay!” Bà mẹ ra lệnh.
“Mẹ không ép con được!”
“Mẹ ép được!”
Lulu phản ứng dữ. Ngồi vào đàn, cô quăng quật, xé cả bản nhạc, vứt xuống đất (Xin lỗi, mẹ nào con nấy)! Bà mẹ nhặt các mảnh của bản nhạc lên, dán lại, bọc bao plastic để không xé được nữa. Và bà thi hành hình phạt: Dọa đem những đồ chơi quý nhất của cô bé đem cho hội thiện. Dọa không được ăn trưa, không được ăn tối. Sẽ không bao giờ cho cô con quà lễ Giáng Sinh, quà lễ Hanukka (của Do Thái giáo). Trong ba, bốn năm sẽ không cho tổ chức sinh nhật. Bà bảo cô đừng có lười, đừng cứ nghĩ là mình kém cỏi. Ông bố khuyên bà mẹ đừng nhục mạ con (Không, bà phân trần, bà chỉ động viên nó). Chồng bà cũng giải thích có lẽ cô con 7 tuổi chưa tập đủ kỹ thuật, chưa đủ khả năng đàn hay tay một lúc. “Ông chỉ không có lòng tin tưởng vào con ông!”
Sau một hồi tranh luận, bà mẹ Trung Hoa xắn tay áo lên, dùng đủ mọi phương cách kéo cô con gái trở lại đàn. Ngồi tập đi tập lại, bỏ cả giờ cơm tối, không được phép đứng dạy, không được vào nhà tắm. Cứ như vậy, mãi không thấy cô bé tiến bộ, chính bà mẹ bắt đầu nghi ngờ phương pháp của mình. Rồi bỗng một hôm, hai bàn tay cô bé đánh đúng nhịp với nhau, tự nhiên như vậy. Cả mẹ và con ngạc nhiên. Rồi cô bé thử lần nữa, lần nữa. Sau cùng, cô kêu lên: “Mẹ! Dễ quá! Con đàn được!” Thế là cô bé tiếp tục ngồi đàn, mê mải, quên cả đói.
Amy Chua kết luận: Cha mẹ Tây phương cứ lo làm con mất tự tin. Ðối với một người mẹ như tôi, không có gì làm một đứa trẻ mất tự tin hơn là khi nó phải bỏ cuộc. Ngược lại, không có gì xây dựng đức tự tin tốt hơn là tự mình học được rằng mình có sức làm những việc mà trước đó mình tưởng là không làm được!” Bà viết, người Trung Hoa tin rằng cách bảo vệ con tốt nhất là chuẩn bị cho chúng vào đời, cho chúng cơ hội biết mình đủ sức làm được gì, trang bị cho chúng kỹ thuật, thói quen chăm chỉ, và lòng tự tin không bao giờ mất được.
Bài báo của Amy Chua dài hơn 2,600 chữ, chúng tôi tóm tắt chỉ dài bằng 60%. Mới lên báo, bài này được 5,700 độc giả góp ý kiến trong một tuần lễ; chưa bao giờ có bài nào trên báo Wall Street được nhiều người đáp ứng như vậy. Rất nhiều độc giả góp ý là người gốc Trung Hoa, ở khắp thế giới, và rất nhiều người không đồng ý với lối dạy con của bà Amy Chua. Quý vị độc giả Người Việt đọc tới đây trong đầu chắc cũng đầy những ý kiến ủng hộ hoặc phản bác. Chắc đây cũng là một đề tài nhiều vị không đồng ý với nhau, có thể tranh luận rất lâu, và khá nhức đầu. Quý vị có thể viết góp ý trên trang Diễn Ðàn nhật báo Người Việt và Người Việt Online. Khi thảo luận, xin chú ý đây chỉ là vấn đề phương pháp dạy con. Không nên phân biệt chủng tộc, vì nhiều bà mẹ Việt Nam, Do Thái hay Ðức cũng dạy con giống lối bà Amy Chua mô tả. Ngược lại, nhiều bà mẹ gốc Trung Hoa cũng thích dạy con theo lối Mỹ.
Chúng tôi sẽ tóm tắt một số ý kiến phản ứng trên báo Wall Street và các báo khác trong một bài sau.
“Ông biết tôi là ai không ? " ( Do You Know Who I Am?)
Bùi Bảo Trúc Bạn ta,
Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi năm trước.
Một bữa đang ngồi trong quán Cái Chùa (La Pagode), đường Tự Do, Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi: “Ông biết tôi là ai không?” Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết.
Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông đi theo, làm đàn em cho một ông tướng, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.
Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ.
Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.
Mấy tháng trước, trong chuyến về lại California, tôi phải ghé lại New Jersey để đổi máy bay… Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra. Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy. Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng: cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông. Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần: “Do you know who I am?”
Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.
Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước của ông, xin tới quầy 112.
Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa.
Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười. Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu: “F… you!”
Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này: “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too.” Thưa ông, chuyện đó, (chuyện ông đòi giao hợp với tôi), ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.
Chao ôi, hay biết là chừng nào! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.
Bây giờ, nếu người đàn ông ở La Pagode hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.
Bùi Bảo Trúc Bạn ta,
Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi năm trước.
Một bữa đang ngồi trong quán Cái Chùa (La Pagode), đường Tự Do, Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi: “Ông biết tôi là ai không?” Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết.
Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông đi theo, làm đàn em cho một ông tướng, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.
Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ.
Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.
Mấy tháng trước, trong chuyến về lại California, tôi phải ghé lại New Jersey để đổi máy bay… Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra. Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy. Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng: cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông. Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần: “Do you know who I am?”
Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.
Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước của ông, xin tới quầy 112.
Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa.
Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười. Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu: “F… you!”
Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này: “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too.” Thưa ông, chuyện đó, (chuyện ông đòi giao hợp với tôi), ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.
Chao ôi, hay biết là chừng nào! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.
Bây giờ, nếu người đàn ông ở La Pagode hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.
Cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao...
Con người chỉ là hạt cát trong vũ trụ. Tuy có hạt cát lớn, hạt cát nhỏ, hạt vàng, hạt đen, nhưng tất cả vẫn chỉ là những hạt cát yếu đuối nằm trăn trở dưới những cơn bão của thời gian. Chỉ một mũi kim nhỏ xíu cũng đủ cất đi một sinh mệnh. Một cơn gió nhẹ, một đầu đạn bằng ngón tay, một luồng khí nóng, một tiếng rên nhỏ của đại dương, một chuyển mình của vỏ quả đất, một sự cọ sát của hai thềm lục địa.. là có thể cả chục, cả trăm ngàn sinh mệnh bốc hơi...
Có ai nhớ bệnh đậu mùa, từ 430 trước Thiên Chúa đến 1979 đã cướp đi hơn 300 triệu mạng người? Nguyên trong thế kỷ 18, Âu Châu đã chết 60 triệu người vì căn bệnh này.
Spanish Flu giết gần 100 triệu người trong 2 năm 1918-1919.
Dịch Hạch giết khoảng 75 triệu người trong thế kỷ 14.
Sốt rét, cho tới nay, vẫn giết khoảng 2 triệu người mỗi năm
Còn bệnh Aids???? Khoảng chục triệu người đã chết và sẽ chết....
Về những nạn nhân của các chế độ độc tài Cộng Sản: hơn 30 triệu người, hơn 1/3 dân số Việt Nam bây giờ, hơn dân số của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, đã bị Trung Cộng giết chết. Liên Xô giết hơn 10 triệu người.
Thế chiến thứ 2 : 50 triệu....Những người chết này có phải toàn là người hãnh tiến, ấu trĩ, hoang tưởng (như những kẻ "Cực chẳng đã" đang múa cây kiếm cùn và rỉ trên diễn đàn) không?
Thưa không, trong số mấy trăm triệu người đó, có hàng triệu triệu thiên tài, nhân tài về mọi mặt khoa học, nhân văn, hội họa, kiến trúc... Có những người chỉ biết yêu mà không biết ghét. Họ đã sống một đời sống tốt đẹp, đem lại những phát minh, phát triển lớn lao cho đời sống nhân loại.. Và, họ đã biến mất khỏi mặt đất này, một cách đau đớn.
Linh hồn của họ, tư tưởng của họ, những đóng góp của họ cho thế giới.. giờ ở đâu? Một thế giới khác? Đầu thai trở lại làm người? Làm các con vật khác?
Không ai có thể chứng minh rõ ràng bằng cách phương tiện khoa học hiện đại, bằng máy móc tối tân.
KHÔNG MỘT AI CẢ!
Chỉ có những suy tư, suy luận, phán đoán và Niềm Tin của mỗi người tùy theo Tôn giáo mà họ theo đuổi và một số những dấu hiệu, những thay đổi lạ thường mà người có đức tin gọi là "phép lạ - miracle" mà nhân loại ghi chép được.
Vậy, những lời phỉ báng đức tin của người khác, những sự miệt thị tư tưởng của người khác, những lên án dựa trên khả năng và sự học của mình một cách chủ quan, có thật là những giá trị mà người khác phải kính phục không?
THƯA: KHÔNG! Cho dù người lên án có học vị, có thể là bác sĩ, thủ đắc một loại bằng cấp chuyên môn về cách điều trị một loại bệnh nào đó, hay tiến sĩ, một bằng cấp chuyên môn về suy luận theo một hướng nào đó, không phải tất cả sự việc trên đời, như tiến sĩ về Sử thì chỉ biết Sử, tiến sĩ về văn chương thì chỉ biết về văn chương... họ có quyền để xỉ vả, lên án, thậm chí chửi bới bằng thứ văn chương bình dân của những người không cần học mới biết chửi không?
THƯA: KHÔNG!
Những kẻ lên án, chửi bới, mạ lị người khác đó có thể học nhiều nhưng chưa thấm một nguyên lý này: Ngậm máu phun người, mồm mình bẩn trước!
Khi đặt bút viết một câu chửi người khác, ngay giây phút đó, ngón tay người viết đã hoen ố rồi!
Có bằng cấp mà còn vô giá trị như thế, nữa là kẻ chỉ có một cây kiếm cùn và rỉ, run rẩy như con giun...
Khi đặt bút viết những lời huyên hoang, cho rằng mình "cực chẳng đã" mới phải viết ra, vì thiên hạ ngu quá, mình phải dậy dỗ chúng, kẻo chúng đâm đầu vào tường mà chết hết, thì ngay giây phút đó, người viết đã biến hình thành một con đà điểu, chỉ biết rúc đầu vào cát mà sướng khoái một mình.
Trong khi ấy, dân tộc Việt Nam đang bấp bênh trên một vực thẳm của sự mất nước, đang chầm chậm bị Hán Hóa; văn hóa Việt Nam sắp tiêu vong; con người Việt Nam đang biến thành những kẻ vô cảm; Tôn giáo Việt Nam đang dần trở thành những con rối trình diễn mầu sắc rực rỡ dưới bàn tay giật dây của Đảng Cộng Sản...
Vậy mà ở hải ngoại, có rất nhiều các con đà điểu như thế, có thể có bằng cấp, có thể không, vẫn tự tin rằng mình "cực chẳng đã" mởi phải lên tiếng, mà đã lên tiếng thì chửi bới loạn xà ngầu, phê bình loạn xà ngầu, ra cái điều ta đây "trên thông thiên văn, dưới lầu địa lý", mà không hề tiếp tay, tiếp sức với sư tranh đấu gần như tuyệt vọng của dân tộc! Họ không biết rằng họ chỉ là những kẻ mù sờ voi, vớ được cái chân thì cho rằng con voi nó xù xì mà thẳng, nếu vớ được cái bộ phận kia thì lại cho rằng con voi nó dài dài như cái cổ tay mà cong cong...
Than ôi! Lịch sử Việt đang tàn tạ vì những con người này! Dân tộc Việt không những không còn trông mong gì ở những con người này mà trái lại, chỉ vi những sự quậy phá liên tu bất tận của họ trên phương diện tư tưởng, mà làm cho bao nhiêu người thầm lặng khác phải lánh xa các công cuộc chiến đấu cho một nước Việt Tự Do Tôn Giáo, Độc Lập và phú cường!
Than ôi! Những hạt cát đen trong cái mênh mông của vũ trụ! Đến bao giờ thì mới tỉnh ngộ mà nhận ra rằng mình là người Việt được may mắn hơn 80 triệu người khác, vì thế phải tiếp tay với 80 triệu người kia, tìm tương lai cho quê hương?
Đến bao giờ thì họ mới nhận ra rằng số phận của họ sắp sửa kết thúc, đất thì gần hơn trời, cho nên phải tập trung sức tàn lại cho quê hương, để khi nhắm mắt còn chút hãnh diện là mình đã làm được một chút việc xứng đáng lưu danh thiên cổ....
Vài lời ngậm ngùi trong ngày đầu năm. Xin thứ lỗi nếu có điều chi, vì xúc động, mà sai lầm...
Chu tất Tiến.
Con người chỉ là hạt cát trong vũ trụ. Tuy có hạt cát lớn, hạt cát nhỏ, hạt vàng, hạt đen, nhưng tất cả vẫn chỉ là những hạt cát yếu đuối nằm trăn trở dưới những cơn bão của thời gian. Chỉ một mũi kim nhỏ xíu cũng đủ cất đi một sinh mệnh. Một cơn gió nhẹ, một đầu đạn bằng ngón tay, một luồng khí nóng, một tiếng rên nhỏ của đại dương, một chuyển mình của vỏ quả đất, một sự cọ sát của hai thềm lục địa.. là có thể cả chục, cả trăm ngàn sinh mệnh bốc hơi...
Có ai nhớ bệnh đậu mùa, từ 430 trước Thiên Chúa đến 1979 đã cướp đi hơn 300 triệu mạng người? Nguyên trong thế kỷ 18, Âu Châu đã chết 60 triệu người vì căn bệnh này.
Spanish Flu giết gần 100 triệu người trong 2 năm 1918-1919.
Dịch Hạch giết khoảng 75 triệu người trong thế kỷ 14.
Sốt rét, cho tới nay, vẫn giết khoảng 2 triệu người mỗi năm
Còn bệnh Aids???? Khoảng chục triệu người đã chết và sẽ chết....
Về những nạn nhân của các chế độ độc tài Cộng Sản: hơn 30 triệu người, hơn 1/3 dân số Việt Nam bây giờ, hơn dân số của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, đã bị Trung Cộng giết chết. Liên Xô giết hơn 10 triệu người.
Thế chiến thứ 2 : 50 triệu....Những người chết này có phải toàn là người hãnh tiến, ấu trĩ, hoang tưởng (như những kẻ "Cực chẳng đã" đang múa cây kiếm cùn và rỉ trên diễn đàn) không?
Thưa không, trong số mấy trăm triệu người đó, có hàng triệu triệu thiên tài, nhân tài về mọi mặt khoa học, nhân văn, hội họa, kiến trúc... Có những người chỉ biết yêu mà không biết ghét. Họ đã sống một đời sống tốt đẹp, đem lại những phát minh, phát triển lớn lao cho đời sống nhân loại.. Và, họ đã biến mất khỏi mặt đất này, một cách đau đớn.
Linh hồn của họ, tư tưởng của họ, những đóng góp của họ cho thế giới.. giờ ở đâu? Một thế giới khác? Đầu thai trở lại làm người? Làm các con vật khác?
Không ai có thể chứng minh rõ ràng bằng cách phương tiện khoa học hiện đại, bằng máy móc tối tân.
KHÔNG MỘT AI CẢ!
Chỉ có những suy tư, suy luận, phán đoán và Niềm Tin của mỗi người tùy theo Tôn giáo mà họ theo đuổi và một số những dấu hiệu, những thay đổi lạ thường mà người có đức tin gọi là "phép lạ - miracle" mà nhân loại ghi chép được.
Vậy, những lời phỉ báng đức tin của người khác, những sự miệt thị tư tưởng của người khác, những lên án dựa trên khả năng và sự học của mình một cách chủ quan, có thật là những giá trị mà người khác phải kính phục không?
THƯA: KHÔNG! Cho dù người lên án có học vị, có thể là bác sĩ, thủ đắc một loại bằng cấp chuyên môn về cách điều trị một loại bệnh nào đó, hay tiến sĩ, một bằng cấp chuyên môn về suy luận theo một hướng nào đó, không phải tất cả sự việc trên đời, như tiến sĩ về Sử thì chỉ biết Sử, tiến sĩ về văn chương thì chỉ biết về văn chương... họ có quyền để xỉ vả, lên án, thậm chí chửi bới bằng thứ văn chương bình dân của những người không cần học mới biết chửi không?
THƯA: KHÔNG!
Những kẻ lên án, chửi bới, mạ lị người khác đó có thể học nhiều nhưng chưa thấm một nguyên lý này: Ngậm máu phun người, mồm mình bẩn trước!
Khi đặt bút viết một câu chửi người khác, ngay giây phút đó, ngón tay người viết đã hoen ố rồi!
Có bằng cấp mà còn vô giá trị như thế, nữa là kẻ chỉ có một cây kiếm cùn và rỉ, run rẩy như con giun...
Khi đặt bút viết những lời huyên hoang, cho rằng mình "cực chẳng đã" mới phải viết ra, vì thiên hạ ngu quá, mình phải dậy dỗ chúng, kẻo chúng đâm đầu vào tường mà chết hết, thì ngay giây phút đó, người viết đã biến hình thành một con đà điểu, chỉ biết rúc đầu vào cát mà sướng khoái một mình.
Trong khi ấy, dân tộc Việt Nam đang bấp bênh trên một vực thẳm của sự mất nước, đang chầm chậm bị Hán Hóa; văn hóa Việt Nam sắp tiêu vong; con người Việt Nam đang biến thành những kẻ vô cảm; Tôn giáo Việt Nam đang dần trở thành những con rối trình diễn mầu sắc rực rỡ dưới bàn tay giật dây của Đảng Cộng Sản...
Vậy mà ở hải ngoại, có rất nhiều các con đà điểu như thế, có thể có bằng cấp, có thể không, vẫn tự tin rằng mình "cực chẳng đã" mởi phải lên tiếng, mà đã lên tiếng thì chửi bới loạn xà ngầu, phê bình loạn xà ngầu, ra cái điều ta đây "trên thông thiên văn, dưới lầu địa lý", mà không hề tiếp tay, tiếp sức với sư tranh đấu gần như tuyệt vọng của dân tộc! Họ không biết rằng họ chỉ là những kẻ mù sờ voi, vớ được cái chân thì cho rằng con voi nó xù xì mà thẳng, nếu vớ được cái bộ phận kia thì lại cho rằng con voi nó dài dài như cái cổ tay mà cong cong...
Than ôi! Lịch sử Việt đang tàn tạ vì những con người này! Dân tộc Việt không những không còn trông mong gì ở những con người này mà trái lại, chỉ vi những sự quậy phá liên tu bất tận của họ trên phương diện tư tưởng, mà làm cho bao nhiêu người thầm lặng khác phải lánh xa các công cuộc chiến đấu cho một nước Việt Tự Do Tôn Giáo, Độc Lập và phú cường!
Than ôi! Những hạt cát đen trong cái mênh mông của vũ trụ! Đến bao giờ thì mới tỉnh ngộ mà nhận ra rằng mình là người Việt được may mắn hơn 80 triệu người khác, vì thế phải tiếp tay với 80 triệu người kia, tìm tương lai cho quê hương?
Đến bao giờ thì họ mới nhận ra rằng số phận của họ sắp sửa kết thúc, đất thì gần hơn trời, cho nên phải tập trung sức tàn lại cho quê hương, để khi nhắm mắt còn chút hãnh diện là mình đã làm được một chút việc xứng đáng lưu danh thiên cổ....
Vài lời ngậm ngùi trong ngày đầu năm. Xin thứ lỗi nếu có điều chi, vì xúc động, mà sai lầm...
Chu tất Tiến.
Cười ra nước mắt - Cười chết thôi
Cũng như đêm cuối cùng của Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. , Cụ Phúc đêm nay cũng vậy. Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời dằng dẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC . Cụ nghĩ nó như con thoi giữa 2 thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại " hello " chứ nói " tôi nghe đây " làm sao Mỹ hiểu được . Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe " fire truck" là " xe lửa " , phải nói là " xe cứu hỏa " hay " xe chữa lửa " chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.
Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi vào quốc tịch này , đầy những cụ tuổi gần đất xa trời , học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt , cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam. Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm . Đời thuở nào ông quan tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được .
Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh gà-tồ rồi bắt các cụ vây quanh hát " Happy Birthday ". Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát "Happy Deathday " không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng . Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì ?
Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố . Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương , thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng . Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống , cả ghế xếp để ngả lưng , như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trờị Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi , học được tiếng Mỹ chữ nào , vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao . Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít , như xâm mình trên tay , các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi , nhắc lại ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là Tết, mà là ngày Độc Lập . Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ĐẺ BÊN ĐÀNG . Bà cụ Ngà hỏi với qua " có phải là ngày Tây về nước không , cụ Phúc ? ". Cụ đành thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngaỵ .
Vậy mà Giời phù hộ, cả lớp đậu hết . Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa , cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa nói "Con gà tui lội sông" (congratulations), vừa high-five , vừa "hug" mọi người . Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổi. Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác , trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ .
Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc . Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính , ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt , để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam . Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình . Mọi người học thuộc lòng câu "I am proud to be American " để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác .
Cụ cứ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả nghìn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ , dân biểu quốc hội, quan chức các ngành , người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ , là cụ lại xốn xang trong người. Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ. Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc . Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấu. Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lờ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lồ, lo, lọ ,lò, ló, lõ .. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu , người ta cứ điền vào tên trước họ sau .
Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist Church bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này . Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cư . Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng ầm lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ: Please welcome , Mr. Phuc Du Cái giọng ông oang oang lên "Phuc Du !" Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa . Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi ra . Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ .
Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang . Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ..cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy . Cụ bực lắm , tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc , nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho , sang đến đây thì lại thành Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao . Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia thanh bình thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt , hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.
Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc . Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới , vừa có bản sắc dân tộc .
Ông Hai Bò lên tiếng ngaỵ Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là " two cows " nghĩa là 2 con bò . Từ đó có tên Hai Bò . Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình , sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn "cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ . Thú chết để da, người ta chết để tiếng . Mấy cụ qua đây ăn phút tem thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ , đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không ". Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.
Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm nay. Mấy đứa con qua từ năm 75 , nhà cao cửa rộng , ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón . Thằng Tư thì đùn cho chị Ba , vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao , sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu . Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay . Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu hẳn ra , tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ . Ngày nào cụ muốn ăn thức gì , đám con rối rít đi mua về ăn không hết . Có điều hơi lạ là không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người , sống thọ thêm ra.
Thỉnh thoảng trái gió trở trời , cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang , để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.
Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, tay cầm mô bai thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú . Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo .
Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão , nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì , mọi người đều lắng nghẹ Hai Bò trịnh trọng xoa 2 tay vào nhau . " Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue . Barbecue là chữ ghép bởi 2 chữ "Barbaric" and "cuisine" có nghĩa là cách nấu ăn cách mọi rợ . Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ ngày trước . Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng vũ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc , người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue . Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn , drinking water remember origin hole . Tôi xin đề nghị món ăn barbecue "
Cụ Can't Do đứng lên khua tay phản đối . Tên thật cụ là Đỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ thì họ tên lẫn tên đệm là Can T. Do . Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ chả bao giờ chịu làm homework , bèn đọc luôn là "Can't Do". Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can't Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn. Ở Việt Nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ , khêu gợi làm sao . Thế mà cụ Can't Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạo. Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt , mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau mềm nhũn ra như bún . Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt , bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì . Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can't Do gạt phắt đi . "
Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng . Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc .Món ăn tiêu biểu phải là hamburger , món thịt bằm hầm bà lằng . Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt băm hamburger ".
Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ. Bà Lôn To phát biểu " Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog . Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc , hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghi Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen ".
Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo "Cùng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ . Để cả tuần trong tủ lạnh , bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò việt nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy " .
Các cụ ông lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của các cụ ông .
Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên , nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả 3 món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt . Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là barbecue (thịt nướng kiểu mọi), hamburger (thịt bằm dập), hot dog ( thịt chó nóng) .
Đã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối , xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt . Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao ; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta , ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân . Với cái hoang mang đo , cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry " Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó " . Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì . Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza ,không gì Đức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco , không gì Nhật bằng sushi . Còn Việt nam là phở ư ?
Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc ? Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện . Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ .
Trời đã quá đêm. Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm trăn trở không sao ngủ được ...
Cũng như đêm cuối cùng của Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. , Cụ Phúc đêm nay cũng vậy. Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời dằng dẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC . Cụ nghĩ nó như con thoi giữa 2 thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại " hello " chứ nói " tôi nghe đây " làm sao Mỹ hiểu được . Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe " fire truck" là " xe lửa " , phải nói là " xe cứu hỏa " hay " xe chữa lửa " chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.
Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi vào quốc tịch này , đầy những cụ tuổi gần đất xa trời , học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt , cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam. Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm . Đời thuở nào ông quan tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được .
Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh gà-tồ rồi bắt các cụ vây quanh hát " Happy Birthday ". Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát "Happy Deathday " không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng . Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì ?
Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố . Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương , thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng . Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống , cả ghế xếp để ngả lưng , như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trờị Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi , học được tiếng Mỹ chữ nào , vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao . Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít , như xâm mình trên tay , các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi , nhắc lại ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là Tết, mà là ngày Độc Lập . Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ĐẺ BÊN ĐÀNG . Bà cụ Ngà hỏi với qua " có phải là ngày Tây về nước không , cụ Phúc ? ". Cụ đành thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngaỵ .
Vậy mà Giời phù hộ, cả lớp đậu hết . Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa , cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa nói "Con gà tui lội sông" (congratulations), vừa high-five , vừa "hug" mọi người . Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổi. Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác , trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ .
Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc . Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính , ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt , để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam . Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình . Mọi người học thuộc lòng câu "I am proud to be American " để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác .
Cụ cứ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả nghìn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ , dân biểu quốc hội, quan chức các ngành , người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ , là cụ lại xốn xang trong người. Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ. Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc . Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấu. Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lờ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lồ, lo, lọ ,lò, ló, lõ .. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu , người ta cứ điền vào tên trước họ sau .
Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist Church bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này . Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cư . Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng ầm lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ: Please welcome , Mr. Phuc Du Cái giọng ông oang oang lên "Phuc Du !" Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa . Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi ra . Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ .
Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang . Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ..cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy . Cụ bực lắm , tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc , nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho , sang đến đây thì lại thành Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao . Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia thanh bình thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt , hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.
Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc . Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới , vừa có bản sắc dân tộc .
Ông Hai Bò lên tiếng ngaỵ Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là " two cows " nghĩa là 2 con bò . Từ đó có tên Hai Bò . Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình , sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn "cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ . Thú chết để da, người ta chết để tiếng . Mấy cụ qua đây ăn phút tem thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ , đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không ". Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.
Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm nay. Mấy đứa con qua từ năm 75 , nhà cao cửa rộng , ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón . Thằng Tư thì đùn cho chị Ba , vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao , sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu . Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay . Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu hẳn ra , tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ . Ngày nào cụ muốn ăn thức gì , đám con rối rít đi mua về ăn không hết . Có điều hơi lạ là không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người , sống thọ thêm ra.
Thỉnh thoảng trái gió trở trời , cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang , để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.
Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, tay cầm mô bai thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú . Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo .
Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão , nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì , mọi người đều lắng nghẹ Hai Bò trịnh trọng xoa 2 tay vào nhau . " Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue . Barbecue là chữ ghép bởi 2 chữ "Barbaric" and "cuisine" có nghĩa là cách nấu ăn cách mọi rợ . Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ ngày trước . Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng vũ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc , người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue . Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn , drinking water remember origin hole . Tôi xin đề nghị món ăn barbecue "
Cụ Can't Do đứng lên khua tay phản đối . Tên thật cụ là Đỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ thì họ tên lẫn tên đệm là Can T. Do . Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ chả bao giờ chịu làm homework , bèn đọc luôn là "Can't Do". Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can't Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn. Ở Việt Nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ , khêu gợi làm sao . Thế mà cụ Can't Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạo. Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt , mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau mềm nhũn ra như bún . Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt , bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì . Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can't Do gạt phắt đi . "
Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng . Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc .Món ăn tiêu biểu phải là hamburger , món thịt bằm hầm bà lằng . Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt băm hamburger ".
Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ. Bà Lôn To phát biểu " Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog . Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc , hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghi Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen ".
Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo "Cùng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ . Để cả tuần trong tủ lạnh , bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò việt nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy " .
Các cụ ông lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của các cụ ông .
Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên , nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả 3 món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt . Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là barbecue (thịt nướng kiểu mọi), hamburger (thịt bằm dập), hot dog ( thịt chó nóng) .
Đã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối , xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt . Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao ; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta , ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân . Với cái hoang mang đo , cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry " Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó " . Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì . Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza ,không gì Đức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco , không gì Nhật bằng sushi . Còn Việt nam là phở ư ?
Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc ? Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện . Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ .
Trời đã quá đêm. Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm trăn trở không sao ngủ được ...
Nhân dân
Nguyễn Hưng Quốc
Từ một nhà phê bình văn học trở thành một blogger, điều tôi cảm thấy hài lòng nhất là được nhân dân đọc nhiều và rõ ràng, nếu không yêu mến thì cũng rất quan tâm. Sách về văn học của tôi in nhiều nhất là một ngàn bản; tái bản thêm lần nữa thì cũng chỉ thêm một ngàn bản. Tổng cộng hai ngàn. Sách bày trong các thư viện có thể được vài chục người đọc.
Số lượng độc giả thực sự, do đó, chắc chắn là cao hơn con số một hay hai ngàn ấy. Nhưng tôi không tin là có cuốn nào được trên mười ngàn người đọc. Bài trên blog thì khác. Chắc chắn chúng có nhiều độc giả hơn hẳn. Chúng được nhân dân trong cũng như ngoài nước đọc. Nhân dân góp ý trên blog; nhân dân gửi email riêng cho tôi khá nhiều. Khen chỗ này, góp ý chỗ nọ, khá sôi nổi.
Xin lỗi, tôi biết là bạn – người đang đọc bài này – đang khó chịu.
Tôi biết bạn nghĩ là tôi đang khoác lác.
Vâng, quả tình là tôi đang khoác lác.
Tôi cố tình khoác lác.
Thật ra, tất cả sự kiện tôi kể đều có thật. Số lượng độc giả của blog nhiều hơn độc giả của sách là có thật. Số lượng phản hồi tôi nhận được, trên blog cũng như trong hộp thư riêng, là có thật.
Bằng chứng của sự khoác lác trong đoạn văn trên chỉ nằm ở một chữ: “nhân dân”.
Không cần giỏi tiếng Việt lắm, ai cũng hiểu “nhân dân” chỉ mọi người Việt Nam. Một toàn khối. Một vài trăm, một vài ngàn, thậm chí, một vài chục ngàn độc giả rõ ràng chưa phải là nhân dân. Được vài trăm, vài ngàn, vài chục ngàn người đọc và, may mắn hơn, ái mộ thì cũng không thể nói được là được nhân dân đọc và ái mộ. Nói thế là nói phét.
Vậy mà nhiều người, rất nhiều người, vẫn thường xuyên nói phét kiểu như vậy đó, bạn ạ.
Họ nói phét kiểu như vậy từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và, trong khi tôi chỉ giả vờ gồng mình nói phét như thế một chút, tôi đã thấy ngượng, còn họ thì hoàn toàn không ngượng. Tuyệt đối không ngượng.
Tôi nghĩ đến chuyện này khi đọc các bản tin trên báo Việt Nam mang nhan đề kiểu “Nhân dân Đồng Tháp đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng” mở đầu bằng lời khẳng định chắc như đinh đóng cột: “Cùng với nhân dân cả nước, các tầng lớp nhân dân ở tỉnh Đồng Tháp cũng đã theo dõi sát sao sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và mong đợi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ đưa ra nhiều quyết sách đột phá trong nhiệm kỳ.” Sau đó, người ta nêu lên ý kiến của năm người: một người là thầy giáo, một người là sinh viên, một người là nông dân, một người là đại úy và cuối cùng, một tiến sĩ. Rồi người ta kết luận: “Có thể thấy rằng, mặc dù ở những vị trí khác nhau, ngành nghề khác nhau, song các tầng lớp nhân dân ở Đồng Tháp đều tin tưởng và sự lãnh đạo của Đảng, hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI với niềm hi vọng những chủ trương, chính sách được thông qua tại Đại hội sẽ tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.”
Một bài báo khác có nhan đề “Người dân Thanh Hóa gửi trọn niềm tin tới Đảng” cũng có kiểu phóng đại y như vậy. Cũng nêu lên ý kiến vài người. Rồi cũng kết luận ngon ơ: “Cùng hòa chung với không khí tươi vui, phấn khởi của đồng bào cả nước hướng về Đại hội Đảng toàn quốc, người dân Thanh Hóa đang ra sức thi đua giành thắng lợi trên tất cả mọi mặt và họ cũng gửi trọn niềm tin tới Đảng quang vinh.”
Mà đâu phải bây giờ, khi đại hội đảng lần thứ 11 kết thúc, người ta mới nói vậy? Cái khẩu khí ấy đã có từ lâu lắm rồi. Khẳng định vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam, người ta nói: đó là ý nguyện của nhân dân. Khẳng định “xu thế tất yếu” của lịch sử Việt Nam là “đi lên chủ nghĩa xã hội”, người ta lại nói: đó là chọn lựa của nhân dân.
Nhưng “nhân dân” ở đây là ai? Làm sao biết đó là “nguyện vọng” hay “chọn lựa” của “nhân dân” khi không có bầu cử tự do, không có trưng cầu dân ý, thậm chí, không có cả những cuộc điều tra dư luận một cách độc lập? Vậy, cái gọi là “nhân dân” ở đây bao gồm bao nhiều người?
Ồ, một chính phủ và một đảng cầm quyền có thể phóng đại một nhúm người lên thành “nhân dân” thì tại sao tôi – hay bất cứ blogger nào khác – không thể khoác lác là mình được “nhân dân” đọc, quan tâm và yêu mến như cái đoạn mở đầu bài viết này được nhỉ?
Được chứ. Chỉ cần đừng thấy xấu hổ là được ngay thôi.
Phải không?
( VOA)
Nguyễn Hưng Quốc
Từ một nhà phê bình văn học trở thành một blogger, điều tôi cảm thấy hài lòng nhất là được nhân dân đọc nhiều và rõ ràng, nếu không yêu mến thì cũng rất quan tâm. Sách về văn học của tôi in nhiều nhất là một ngàn bản; tái bản thêm lần nữa thì cũng chỉ thêm một ngàn bản. Tổng cộng hai ngàn. Sách bày trong các thư viện có thể được vài chục người đọc.
Số lượng độc giả thực sự, do đó, chắc chắn là cao hơn con số một hay hai ngàn ấy. Nhưng tôi không tin là có cuốn nào được trên mười ngàn người đọc. Bài trên blog thì khác. Chắc chắn chúng có nhiều độc giả hơn hẳn. Chúng được nhân dân trong cũng như ngoài nước đọc. Nhân dân góp ý trên blog; nhân dân gửi email riêng cho tôi khá nhiều. Khen chỗ này, góp ý chỗ nọ, khá sôi nổi.
Xin lỗi, tôi biết là bạn – người đang đọc bài này – đang khó chịu.
Tôi biết bạn nghĩ là tôi đang khoác lác.
Vâng, quả tình là tôi đang khoác lác.
Tôi cố tình khoác lác.
Thật ra, tất cả sự kiện tôi kể đều có thật. Số lượng độc giả của blog nhiều hơn độc giả của sách là có thật. Số lượng phản hồi tôi nhận được, trên blog cũng như trong hộp thư riêng, là có thật.
Bằng chứng của sự khoác lác trong đoạn văn trên chỉ nằm ở một chữ: “nhân dân”.
Không cần giỏi tiếng Việt lắm, ai cũng hiểu “nhân dân” chỉ mọi người Việt Nam. Một toàn khối. Một vài trăm, một vài ngàn, thậm chí, một vài chục ngàn độc giả rõ ràng chưa phải là nhân dân. Được vài trăm, vài ngàn, vài chục ngàn người đọc và, may mắn hơn, ái mộ thì cũng không thể nói được là được nhân dân đọc và ái mộ. Nói thế là nói phét.
Vậy mà nhiều người, rất nhiều người, vẫn thường xuyên nói phét kiểu như vậy đó, bạn ạ.
Họ nói phét kiểu như vậy từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và, trong khi tôi chỉ giả vờ gồng mình nói phét như thế một chút, tôi đã thấy ngượng, còn họ thì hoàn toàn không ngượng. Tuyệt đối không ngượng.
Tôi nghĩ đến chuyện này khi đọc các bản tin trên báo Việt Nam mang nhan đề kiểu “Nhân dân Đồng Tháp đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng” mở đầu bằng lời khẳng định chắc như đinh đóng cột: “Cùng với nhân dân cả nước, các tầng lớp nhân dân ở tỉnh Đồng Tháp cũng đã theo dõi sát sao sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và mong đợi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ đưa ra nhiều quyết sách đột phá trong nhiệm kỳ.” Sau đó, người ta nêu lên ý kiến của năm người: một người là thầy giáo, một người là sinh viên, một người là nông dân, một người là đại úy và cuối cùng, một tiến sĩ. Rồi người ta kết luận: “Có thể thấy rằng, mặc dù ở những vị trí khác nhau, ngành nghề khác nhau, song các tầng lớp nhân dân ở Đồng Tháp đều tin tưởng và sự lãnh đạo của Đảng, hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI với niềm hi vọng những chủ trương, chính sách được thông qua tại Đại hội sẽ tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.”
Một bài báo khác có nhan đề “Người dân Thanh Hóa gửi trọn niềm tin tới Đảng” cũng có kiểu phóng đại y như vậy. Cũng nêu lên ý kiến vài người. Rồi cũng kết luận ngon ơ: “Cùng hòa chung với không khí tươi vui, phấn khởi của đồng bào cả nước hướng về Đại hội Đảng toàn quốc, người dân Thanh Hóa đang ra sức thi đua giành thắng lợi trên tất cả mọi mặt và họ cũng gửi trọn niềm tin tới Đảng quang vinh.”
Mà đâu phải bây giờ, khi đại hội đảng lần thứ 11 kết thúc, người ta mới nói vậy? Cái khẩu khí ấy đã có từ lâu lắm rồi. Khẳng định vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam, người ta nói: đó là ý nguyện của nhân dân. Khẳng định “xu thế tất yếu” của lịch sử Việt Nam là “đi lên chủ nghĩa xã hội”, người ta lại nói: đó là chọn lựa của nhân dân.
Nhưng “nhân dân” ở đây là ai? Làm sao biết đó là “nguyện vọng” hay “chọn lựa” của “nhân dân” khi không có bầu cử tự do, không có trưng cầu dân ý, thậm chí, không có cả những cuộc điều tra dư luận một cách độc lập? Vậy, cái gọi là “nhân dân” ở đây bao gồm bao nhiều người?
Ồ, một chính phủ và một đảng cầm quyền có thể phóng đại một nhúm người lên thành “nhân dân” thì tại sao tôi – hay bất cứ blogger nào khác – không thể khoác lác là mình được “nhân dân” đọc, quan tâm và yêu mến như cái đoạn mở đầu bài viết này được nhỉ?
Được chứ. Chỉ cần đừng thấy xấu hổ là được ngay thôi.
Phải không?
( VOA)

Ở VIỆT NAM có nhiều hình thức Ôm :
- Bia ôm : Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà... vẫn sướng !
- Cà-phê ôm : Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc !
- Karaokê ôm : Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục !.
- Tắm ôm : Hình thức độc đáo này phát xuất trước kia tại các vùng biển. Khách được mời xuống biển vừa tắm, vừa ôm, vừa làm những chuyện khác rất sạch sẽ ở dưới nước. Tắm ôm có giá cả và giờ giấc đàng hoàng. Chỉ ôm không thì "giá mềm", nhưng mấy ai đã ôm nhau như sam mà không tới luôn bác tài !
Trường hợp nầy thì chủ tính tiền theo "giá cứng". Do vừa tiện lợi vừa kiếm nhiều tiền, nghề tắm ôm được phát triển mạnh mẽ thêm ở trên cạn ! Hình thức tắm ôm trên bờ cũng thuận lợi đủ điều, chẳng cần phòng ốc, giường chiếu, khăn màn và công an gác cửa. Vì không có biển có sông thì tắm ở trong bồn ! Ôm được "tối đa" mà chẳng sợ ai dòm ngó !
- Võng ôm : Một số nhà trong các quận ven đô Sàigòn lợi dụng vườn cây ăn trái để tổ chức võng ôm. Chủ nhà treo những chiếc võng khuất trong các lùm cây và đặc biệt dành cho học sinh, sinh viên trốn học dẫn nhau vào đây du hí từ sáng đến tối. Chỉ cần đóng tiền thuê võng rồi tha hồ ăn trái cây và vui chơi thoải mái không thầy cô nào kiểm soát, quấy rầy ! Cha mẹ thì yên chí con đến trường, lên lớp và vào thư viện làm bài từ sáng đến tối, ngày nào cũng như ngày nào cho đến lúc nào kết quả trông thấy… thì mới ngưng ôm võng !
- Đấm bóp ôm : Việt Nam là học trò của Thái Lan nhưng lại vượt qua mặt thầy không kèn không trống ! Đấm bóp ở Việt Nam là hình thức nói chơi cho vui vì khách vừa nằm lên giường, đấm bóp viên đã bỏ hết lớp áo quần, ngồi ngay trên bụng khách mà xoa bóp thì ông già bảy mươi cũng hồi xuân huống gì trai trẻ hay các ông đang độ sồn sồn ! Cứ việc ra giá tiền bạc thì đấm ngồi, đấm nằm, đấm nghiêng đấm ngửa gì cũng được !
- Hớt tóc ôm : Một người đi Việt Nam về kể cho nghe, có ông già tại Việt Nam cứ vài ba ngày đi hớt tóc một lần. Tóc thì chỉ còn lơ thơ vài sợi mà cứ hớt đi hớt lại mãi, đến nỗi đầu chằng còn thấy sợi nào nữa. Thế mà vẫn khoái đi hớt cái đầu trọc ! Cứ ngồi, mở lớn mắt ra mà thưởng thức của (còn) non, của lạ đang vờn qua vờn lại trước mặt. Các tay thợ muốn dụ khách kiếm thêm tiền "boa" thì cứ việc kéo đầu mấy ông già vào ngay bộ ngực nửa hở nửa kín kia là ăn tiền ! Thế nào ngoài tiền hớt của chủ, thợ cũng kiếm được "boa" gấp đôi, nhất là khi gặp được vài ông Việt kiều già mất nết !
- Ráy tai ôm : Đây là kiểu ôm mấy ông Việt kiều thích nhất. Người thợ gái ngồi bên trái nhưng lại ráy tai phải của khách hoặc ngược lại, mặc dù ngồi kiểu nầy cô thợ trẻ chẳng thấy gì trong lỗ tai khách hàng. Khách cũng không cần thắc mắc, cứ nhắm mắt đê mê cho đến lúc đứng dậy móc ví trả tiền !
- Câu ôm : Đóng tiền, nhận mồi và cần câu rồi kiếm một túp lều trống hay đi ra xa một chút, thả cần xuống câu rồi… tự do ôm, có công an canh chừng khu vực ! Chẳng cần biết có cá hay không, cá căn câu hay mồi còn hay hết làm gì, cứ việc say sưa ôm cho đến hết giờ, xong trả cần ra về thoải mái…
- Du lịch ôm : Chắc chắn cộng sản đã tổ chức những cuộc du lịch ôm cho những Việt kiều có máu mặt, những ông già khoa bảng về nghiên cứu hợp tác và kinh doanh buôn bán làm ăn tại Việt Nam, nhưng chưa thấy báo chí khui ra những vụ nầy. Tôi lấy chuyện xảy ra tại Châu-Âu các đây vài năm để dẫn chứng vấn đề du lịch ôm. Một tổ chức địch-vận-kiều-vận của cộng sản nước ngoài nghiên cứu từng cá nhân một mà chúng nhắm vào để tổ chức một cuộc du ngoại, học hỏi, tìm hiểu văn hóa ở nước ngoài và cuộc du ngoạn nghiên cứu chỉ dành riêng cho các vị trí thức khoa bản đàn ông… Dĩ nhiên là đoàn du lịch không có đàn bà (đa số các bà ít tham dự vào các sinh hoạt chính trị của các ông, nhất là nghe đi quan sát nghiên cứu). Chương trình kéo dài một tuần tại thủ đô ở một nước Đông Âu (một quốc gia định cư của nhiều người lao động được cộng sản gài lại và cũng là cái ổ "nô lệ chui" do nhà nước tổ chức gởi qua). Đoàn người chừng khoảng gần 20 người, khi qua đến nơi, những người nầy được giới thiệu những cô gái trẻ, đẹp sẽ cùng đi tháp tùng với đoàn trong thời gian du ngoạn, nghiên cứu… Thế là mỗi ông được một cô làm bạn hầu hạ tới bến của cuộc du lịch nằm cho đến lúc chia tay. Nhưng sau đó các ông đều tá hỏa tam tinh vì những cuộc du lịch "nằm" đã được tận tình thu hình, các ông muốn yên thân thì nghe lời đừng chống đối chế độ và hãy tích cực tham gia chương trình hoà giải hòa hợp…
- Ôm tới bến : Hay còn nói ôm từ A đến Z. Kinh nghiệm ôm không cho phép người đàn ông bỏ ngang giữa chừng, dù ôm dưới hình thức nào, giờ giấc nào nhưng khi đã "tiến nhanh tiến mạnh" lên tột đỉnh đê mê khoái cảm thì phải đi tới bến. Các em bé thì rủ rê mời mọc "tới luôn đi bác tài" thì chuyện gì xảy ra sau đó chỉ có trời biết nếu không ôm phải một đống vi khuẩn HIV thì đã thành công qua mặt được bà xã !
Ôm cũng có nhiều kiểu :
- Ôm đứng : Ôm kiểu "dã chiến" nầy ở Việt Nam thường xảy ra trong các bụi cây, vách tường, trụ đèn, nhà vệ sinh cửa hàng, quán ăn, tiệm cà-phê, kẹt lắm thì trong toilette công sở, phi trường, trên phi cơ… hay ngay trong bureau của cán bộ cao cấp… Đây chỉ là "ôm khai vị" của hai người kẹt giờ, kẹt tiền, kẹt chỗ, mới quen nhau, hoặc giữa thư ký với chủ trong giờ làm việc…
- Ôm ngồi : Hình thức nầy thấy nhiều trong các bar, quán cà-phê, phòng trà… là giai đoạn đầu của "ôm nằm" nhưng thật đắt khách. Tại các thành phố lớn với hàng ngàn bar, tiệm, quán mỗi đêm đều đông nghẹt khách hàng. Đây là hình ảnh thành công đậm nét qua việc giáo dục theo chủ nghĩa văn hóa đỏ cũng như mưu đồ ru ngủ thế hệ trẻ của chế độ cộng sản.
- Ôm nằm : Là giai đoạn chót của các hình thức ôm để kết thức việc mua bán giữa hai người khác phái.
- Ôm bay : Hiện giờ thì chưa xuất hiện tại Việt Nam nhưng tôi cam đoan chỉ một thời gian ngắn nữa sẽ được nhà nước khai trương. Các cô các cậu muốn làm nhân viên phi hành, dù là rót trà bưng cà-phê nhưng muốn được thu dụng mỗi người phải đóng từ năm, bảy đến cả chục cây vàng. Khi được thu nhận thì phải làm thêm để kiếm tiền như chuyển tiền lậu, buôn bạch phiến (xảy ra tại Úc), giao áo quần may sẵn, buôn thịt chó tươi (giao cho khách hàng tại Pháp), ăn cắp hàng trong các siêu thị, chở hàng lậu về Việt Nam (xảy ra tại Nhật) đã bị khám phá thì đồng lương lương thiện đâu đủ để đóng hụi chết. Hơn nữa, Việt kiều tẩy chay Air Việt Nam, chắc chắn công ty nầy sập tiệm. Chỉ cón một cách mở "dịch vụ bay ôm" để móc tiền khách trên các đoạn đường bay suốt hàng chục tiếng đồng hồ. Các ông thường đi về Việt Nam chuẩn bị để hưởng của lạ đắt giá nầy vì "đối tượng ôm" được tuyển chọn gắt gao bằng cả chục cây vàng ! Nhưng khuyên các ông mất nết về hưu ăn tiền già, đừng hòng rớ vào của quý nầy, phỏng tay đấy ! Giá không rẽ như ôm "mari-sến" ở Việt Nam đâu ! Coi chừng chúng đập thẳng tay để đủ tiền đóng hụi chết !
Thuý Kiều Trung Quốc
“Ai có thể giúp đỡ tiền nhà sẽ được gối lên ngực con gái tôi 16 tiếng”.
Trong bức ảnh, không hổ thẹn hay ngại ngần, người cha cầm tấm biển đứng trên con phố đông người qua lại của Thâm Quyến, Trung Quốc.
Trong khi cô con gái xấu hổ và ngại ngùng, phải dùng khăn để che mặt.
Điều đáng nói, cô gái trong bức hình đã trưởng thành, dáng khỏe mạnh còn khá trẻ. Cô chấp nhận mặc chiếc áo khoét sâu cổ và đứng cùng cha mình, cạnh tấm bảng với dòng chữ đề nghị được giúp đỡ.




“Ai có thể giúp đỡ tiền nhà sẽ được gối lên ngực con gái tôi 16 tiếng”.
Trong bức ảnh, không hổ thẹn hay ngại ngần, người cha cầm tấm biển đứng trên con phố đông người qua lại của Thâm Quyến, Trung Quốc.
Trong khi cô con gái xấu hổ và ngại ngùng, phải dùng khăn để che mặt.
Điều đáng nói, cô gái trong bức hình đã trưởng thành, dáng khỏe mạnh còn khá trẻ. Cô chấp nhận mặc chiếc áo khoét sâu cổ và đứng cùng cha mình, cạnh tấm bảng với dòng chữ đề nghị được giúp đỡ.





