Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyện tình hoàng gia Anh lên phim

Câu chuyện tình hấp dẫn giữa hoàng tử nước Anh William cùng vợ chưa cưới Kate Middleton
sẽ được tái hiện trên truyền hình trong bộ phim dài tập mang tên "William and Kate".
Image
William và Kate Middleton. Ảnh: CNN.
Bộ phim sẽ chính thức được phát sóng vào ngày 18/4 trên kênh truyền hình Lifetime của Mỹ, đưa người xem quay trở lại thời kỳ đầu của đôi uyên ương khi hai người còn là bạn học ở Đại học St. Andrews ở Scotland, cho tới khi họ trở thành đôi được nhắc tới nhiều nhất trên toàn cầu với đám cưới hoàng gia hoành tráng được cả nước mong đợi.

Ngôi sao của phim Law & Order Nico Evers-Swindell sẽ vào vai nhà vua tương lai của nước Anh, còn Camilla Luddington - diễn viên chính trong phim The Defenders sẽ đảm nhiệm vai hoàng hậu tương lai. Đạo diễn phim là Mark Rosman - nổi tiếng với phim Ghost Whisperer.

Phim còn có sự tham gia của Ben Cross (phim Star Trek) trong vai Thái tử Charles, Serena Scott-Thomas (phim The World Is Not Enough) trong vai Carole Middleton, Richard Reid (phim Harry Potter and the Sorcerer's Stone) vai Ian, và Victoria Tennant (phim L.A. Story) vai Celia.

Bên cạnh bộ phim câu chuyện tình gây sốt của đôi uyên ương trẻ tuổi, đài truyền hình còn phát sóng một bộ phim tài liệu nói về mối quan hệ của họ và những công việc chuẩn bị cho đám cưới hoàng gia. Phim tài liệu mang tên "Royal Wedding of a Lifetime" sẽ bao gồm 6 tập và được phát sóng ngay sau phim William and Kate.

Song Minh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
MÁY VI TÍNH NHỎ NHẤT THẾ GIỚI



Máy vi tính nhỏ nhất thế giới chỉ bằng chữ N trên một đồng xu. Thiết bị cảm ứng này được phát triển bởi các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Michigan được điều khiển bằng mắt cho các bệnh nhân bị tăng nhãn áp. Nó được truyền không dây tới một máy vi tính và được nạp một pin năng lượng mặt trời, chỉ cần 90 phút tiếp xúc ánh nắng ngoài trời hoặc 10 giờ tiếp xúc ánh sáng trong nhà là sạc đầy pin.

Ttiểu vi tính này có tiềm năng sử dụng đa dạng như cảm nhận ô nhiễm, đầy đủ cấu trúc, theo dõi và giám sát – hầu như đủ cách mà người ta có thể nghĩ tới để tạo một vật “thông minh”. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu có thể kiểm soát kích cỡ và hình dạng của chiếc ăng-ten ở máy vi tính này, điều khiển cách nó giao tiếp với các thiết bị khác. Như vậy sóng của con chip không cần dò sóng từ bên ngoài; một số máy vi tính nhỏ gọn có thể tự động bắt đầu nói chuyện với nhau ngay khi được bật mở, với điều kiện là chúng được thiết kế bắt cùng tần số.

Kích cỡ của thiết bị này có thể gây “sốc”, nhưng nhà khoa học vi tính “tiên tri” Gordon Bell đã tiên báo từ đầu thập niên 1970 về loại máy vi tính như thế. Bell nói rằng cứ khoảng mỗi thập niên lại có một loại máy vi tính mới – như PC, netbook, smartphone – xuất hiện và làm thay đổi công nghệ. Quy luật này được biểu hiện là một kết quả tất yếu (corollary) đối với quy luật của Moore, nói rằng khoảng mỗi 2 năm thì một số transistor có thể thích hợp với vi mạch (integrated circuit) tăng gấp đôi – chủ yếu là công suất của con chip.

Daft Punk đã viết trên blog về loại tiểu vi tính này: “Càng nhỏ, càng tốt, càng nhanh, càng mạnh”.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Ảnh mật đặc công Triều Tiên ám sát TT Hàn năm 1968
- Năm 1967, Park Chung-hee đắc cử Tổng thống Hàn Quốc với chiến thắng áp đảo 116 triệu phiếu bầu. Nhưng ông phải đối mặt với nhiệm vụ tìm đường giải quyết cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia nghiêm trọng khi rộ lên tin đồn cho rằng Chủ tịch Triều Tiên lúc bấy giờ là Kim Il-sung định thống nhất bán Triều Tiên bằng vũ lực và phải vật lộn trong nỗ lực làm sống dậy nền kinh tế.


Đã có rất nhiều cuộc ám sát các nhà lãnh đạo của cả Triều Tiên và Hàn Quốc được tiết lộ khiến nhiều người bất ngờ. Nhưng có lẽ, vụ ám sát nổi tiếng nhất trong đó là vụ ám sát Tổng thống Hàn Quốc bất thành của 31 đặc công Triều Tiên tháng 1/1968.

Tối ngày 17/1/1968, 31 đặc công Triều Tiên được chia làm 6 nhóm và trang bị vũ trang bí mật vượt qua rừng núi biên giới sang Hàn Quốc. Họ là các nhân viên thuộc đội đặc biệt số 124 của Cục tình báo Trung ương Triều Tiên được giao nhiệm vụ hướng tới Nhà Xanh của Hàn Quốc để ám sát Tổng thống Park Chung-hee.

Đội đặc nhiệm 124 là đơn vị chịu trách nhiệm cho hầu hết các cuộc xâm nhập và các cuộc phát động chiến tranh du kích dọc biên giới. Các thành viên trong đội đã được tập hợp từ 1,5 năm trước và được đào tạo để chuẩn bị cho nhiệm vụ này.

Họ mất tất cả 2 ngày để vượt qua các trạm kiểm soát biên giới, qua dòng sông Imjim lạnh buốt, qua hàng rào thép gai biên giới, mà đoạn hàng rào biên giới được họ cắt để chui qua đến nay vẫn còn được lưu giữ.

Tới lãnh thổ Hàn Quốc, 6 nhóm đặc công tập hợp lại trong một khu rừng và chuẩn bị hướng về phía nam thành phố Seoul. Thậm chí họ còn thâm nhập vào được cả vùng rừng đồi phía sau Nhà Xanh của Tổng thống Park mà không bị phát hiện.

Tuy nhiên, sự may mắn của họ đã bị thay đổi và trở thành một sai lầm khủng khiếp do sự kiện diễn ra vào chiều tối ngày 19/11 trước thời điểm họ tiến về Seoul.

Các binh sĩ Triều Tiên được tuyên truyền quan điểm rằng, người dân Hàn Quốc từ lâu vốn sống trong cảnh áp bức và đang chờ được giải thoát khỏi chính phủ bù nhìn của họ. Vì vậy, thay vì tránh đụng độ với những người tiều phu họ tình cờ gặp ở khu rừng biên giới, họ lại ngồi thuyết giảng cho họ về cuộc sống ở Triều Tiên và hứa hẹn với họ về một tương lai Triều Tiên sẽ thống nhất bán đảo.

Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra bởi người Hàn Quốc trong thực tế không bị áp bức và đặc biệt trung thành với chính phủ của họ và nhất là khi Tổng thống Park đang cho họ một hy vọng về tương lai tốt đẹp hơn với cuộc cải cách kinh tế đầy hứa hẹn.

Do đó, những người tiều phu không mấy ấn tượng với công tác tuyên truyền của những người đặc công nên đã nhanh chóng đi báo lại sự việc cho cảnh sát. Cảnh sát Hàn Quốc đã tiến hành một truy tìm lớn để bắt giữ những người lính đặc công Triều Tiên. Tuy nhiên, không có thông tin cụ thể nên họ không biết phương hướng mà nhóm người này di chuyển.

Các đặc công Triều Tiên chia thành các nhóm nhỏ 2-3 người tiến về thủ đô nên có thể dễ dàng vượt qua các trạm kiểm soát an ninh của Hàn Quốc và lại tập hợp một lần nữa ở Seoul.

10h30 sáng ngày 21/1, khi còn cách Nhà Xanh 800m, họ gặp phải một trạm kiểm soát của cảnh sát Hàn Quốc mới được dựng lên. Họ phải trả lời một số câu hỏi nghi vấn của chỉ huy trạm cảnh sát Chongno là Choe Kyu-sik.

Nhưng khi họ hoàn thành xong bài kiểm tra và chuẩn bị được qua trạm thì đột nhiên trạm trưởng Choi quát lên đòi kiểm tra bên trong áo khoác của họ và đồng thời rút súng đe dọa. Vừa lúc đó, hai chiếc xe bus chở khách từ trong thành phố cũng tới. Những người lính đặc nhiệm Triều Tiên tưởng lầm là xe chở cảnh sát hay quân tiếp viện nên đã bắn vào ngực Choi và ném lựu đạn về phía xe bus khiến một số phụ nữ, trẻ em và cảnh sát bị thiệt mạng và tùy nghi di tản.

Tình thế bắt đầu trở nên hỗn loạn giữa hai bên. Một trung đội bộ binh Hàn Quốc được điều tới hiện trường củng cố an ninh cho Nhà Xanh và tham gia vào cuộc truy quét những người đặc công Triều Tiên. Những người lính đặc công chỉ từ bỏ nhiệm vụ ám sát Tổng thống Park khi không có cách nào hiệu quả để chống lại xe tăng của Hàn Quốc và chỉ còn cách cố thoát khỏi cuộc truy kích, trở về Triều Tiên.

Các cuộc tuần tra biên giới cũng được tăng cường nhằm ngăn chặn khả năng có các cuộc xâm nhập khác qua biên giới. Cuộc truy lùng các đặc công Triều Tiên được quân đội Hàn Quốc tiến hành kéo dài 9 ngày sau đó. Kết quả, 29 người lính Triều Tiên thiệt mạng, 1 người mất tích và duy nhất một người bị bắt sống. Chính nhờ người này, quân đội Hàn Quốc mới biết mục đích của nhóm đặc công trên là ám sát Tổng thống Park.

Cuộc ám sát thất bại còn khiến 68 người Hàn Quốc khác thiệt mạng và 66 người khác bị thương. Hầu hết các nạn nhân thiệt mạng có liên quan tới hoạt động truy lùng nhóm biệt kích. Trong số thương vong đa số là quân đội và cảnh sát nhưng cũng có 20 người là dân thường.

Sau này, thông tin về người đặc công bị bắt sống mãi sau này mới được tiết lộ. Kim Shin-jo được Tổng thống Park ân xá vì đã tham gia cuộc ám sát do sau khi điều tra cho thấy ông đã không bắn một viên đạn nào từ khẩu súng mang theo. Ông đã ở lại Hàn Quốc và trở thành một tướng quân đội Hàn Quốc. Năm 1997, Kim trở thành mục sư Tin lành 1997.

Sự kiện ám sát Tổng thống Park năm 1968 được coi là một trong những hoạt động tình báo khó tin nhất giữa Triều Tiên và Hàn Quốc kể từ sau cuộc chiến tranh năm 1950-1953. Kế hoạch có thể nói là gần như hoàn hảo khi nhóm đặc công đã tiếp cận được gần Nhà Xanh, nơi ở của Tổng thống Hàn Quốc ở khoảng cách 800 m mới bị phát hiện.

Nhưng sự thất bại của 31 đặc công Triều Tiên đã cho quân đội Mỹ và Hàn Quốc một bài học sâu sắc nhằm củng cố hàng rào an ninh và đào tạo sĩ quan.
Image
Kim Shin-jo bị bắt sống năm 1968

Image

Image

Image

Image
Thi thể những người lính đặc công Triều Tiên thiệt mạng sau cuộc ám sát bất thành

Image
Ông Choi Shin-jo, nhân chứng lịch sử duy nhất còn sống

Nguyễn Hường
(Theo Xinhua)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Hai thiên tài làm thay đổi thế giới
Nếu Tết này, bạn đang vào Facebook bằng điện thoại iPhone hoặc iPad hay laptop Macbook, thì có nghĩa là bạn đang rất gần gũi với hai nhân vật có tầm ảnh hưởng cực lớn của thế giới, không chỉ giới hạn trong thế giới công nghệ. Nói vậy bởi có một sự trùng hợp đầy thú vị là, Tổng giám đốc điều hành (CEO) của Facebook, mạng xã hội hùng mạnh trên Internet và CEO của Apple, nhà sản xuất iPhone, iPad, Macbook, đều vừa được bầu chọn là nhân vật tiêu biểu của cả thế giới trong năm 2010 bởi hai tạp chí hàng đầu.

Nếu như Mark Zukerberg, CEO của Facebook, được Tạp chí Time lựa chọn, thì Steve Jobs, CEO của Apple được Tạp chí Financial Times vinh danh. Hai người đàn ông một già một trẻ, nhưng mỗi người được một tạp chí danh tiếng bình chọn là “Gương mặt của năm 2010″. Lý do họ được chọn, vì ở một góc độ nào đó, họ đã làm thay đổi một phần của thế giới.
Hai thiên tài

Khi Steve Jobs thành lập Apple vào năm 1976, thì 8 năm sau, Mark Zukerberg mới chào đời. Nhưng “hậu sinh khả úy”, đến thời điểm này, kẻ “hậu sinh” đã vượt qua người “tiền bối” trong bảng xếp hạng các tỷ phú. Theo Bảng xếp hạng của Tạp chí Forbes hồi tháng 9/2010, Mark Zurkerberg đứng thứ 35 trong bảng xếp hạng những người giàu nhất nước Mỹ, với tài sản trị giá 6,9 tỷ USD, so với Steve Jobs sở hữu 6,1 tỷ USD và xếp thứ 42

Tạp chí Time có vẻ đã không quá lộng ngôn khi hạ bút: “Zuckerberg bằng tuổi Nữ hoàng Elizabeth khi bà là gương mặt của năm 1952. Nhưng không giống Nữ hoàng, Zuckerberg không thừa hưởng một đế chế, mà anh ấy đã tạo ra một đế chế”. Tạp chí này cũng mở ngoặc: “Nhân tiện nói thêm, Nữ hoàng cũng vừa tạo một trang Facebook trong năm nay”.

Còn tờ Financial Times khi bình luận về nhân vật trong năm của mình cũng “cẩn thận” nhấn mạnh, khi Steve Jobs lần đầu tiên xuất hiện trên trang nhất các báo, ông thậm chí còn trẻ hơn tuổi của Mark Zukerberg bây giờ. Thực tế, Steve Jobs là gương mặt quen thuộc trên các tạp chí từ nhiều năm. Ngay mới đầu tháng 12/2010, ông được tạp chí MarketWatch bình chọn là CEO của thập kỷ.

Lật lại lịch sử, Jobs đồng sáng lập Công ty Apple Computer từ năm 1976, khi ông mới 21 tuổi. Sau sản phẩm đầu tiên là máy tính cá nhân Apple I, sang năm 1977, Apple cho ra mắt Apple II và đạt được thành quả vang dội. Năm 1980, chỉ sau 4 năm, “Quả táo” đã không còn là một công ty 2 người khởi sự trong gara nhà Jobs, mà đã trở thành một công ty tầm cỡ quốc tế, được niêm yết chính thức trên thị trường chứng khoán và những người sáng lập ra nó trở thành triệu phú.

Theo đánh giá của Forbes, trong vòng 2 thập kỷ đầu, người sáng lập Apple đã hai lần làm đổi hướng ngành công nghiệp máy tính. Máy tính Apple II ra đời năm 1977 đã mở đầu cho kỷ nguyên máy tính cá nhân. Đến năm 1984, mẫu Macintosh tạo thêm một bước đột phá với giao diện người dùng đồ họa (Graphical User Interface – GUI) và đặc biệt là việc thành công trong ứng dụng sử dụng con chuột máy tính. Tiếp theo, Jobs ấp ủ ý tưởng “xuất bản ngay tại bàn làm việc”, giới thiệu với thế giới máy in laser và là người đi tiên phong thiết lập các mạng máy tính cá nhân. Cùng với đó, ông tham gia đầu tư vào hãng phim hoạt hình Pixar, qua đó thúc đẩy công nghệ và một kiểu mẫu kinh doanh hoàn toàn mới trong sản xuất những bộ phim hoạt hình dựa trên kỹ thuật đồ họa vi tính.

Do một số bất đồng, Steve Jobs đã từng rời khỏi Apple năm 1985 và chỉ trở lại vào năm 1997, khi Apple đang gặp khủng hoảng nghiêm trọng. Cuộc đoàn tụ này, Steve Jobs đã đưa Apple từ bờ vực phá sản trở lại quỹ đạo phát triển vượt bậc. Apple liên tục cho ra lò những siêu phẩm công nghệ đầy tính sáng tạo và có sức lôi cuốn kỳ lạ như iMac, iPod, laptop Macbook, iPhone, iPad… hoạt động trên nền một loạt công nghệ cũng mang tính cách tân như trình duyệt Safari, siêu thị âm nhạc iTunes, hệ điều hành Mac OS X… Giống như những gì đã làm trong quá khứ, Steve tiếp tục làm nên những cuộc cách mạng. Tầm ảnh hưởng của Steve Jobs có tác động tích cực đến 5 ngành công nghiệp, bao gồm máy tính, phim ảnh Hollywood, âm nhạc, bán lẻ và điện thoại không dây.

Tuy Steve Jobs không phải là người phát minh ra giao diện GUI, con chuột máy tính hay màn hình cảm ứng.., nhưng chỉ đến sau khi Apple đưa những ứng dụng này vào các sản phẩm đột phá, cả thế giới mới có cơ hội nhận thấy chúng tuyệt vời thế nào. Steve Jobs có quan điểm rằng, Apple đang sống trong một hệ sinh thái, trong đó cần sự hỗ trợ của các đối tác và cần hỗ trợ các đối tác. Apple lựa chọn, phát triển những ưu điểm của cả đối tác và đối thủ. Đó cũng chính là cách mà người đàn ông sinh năm 1955 tại California khiến người ta thừa nhận rằng, ông đã làm thay đổi thế giới.
Trong khi đó, Mark Zuckerberg, chàng trai sinh cùng năm 1984 với máy tính Macintosh của Steve Jobs, được Time chọn làm nhân vật của năm với lý do ngắn gọn: “Vì đã kết nối hơn nửa tỷ người và sắp xếp các mối quan hệ xã hội giữa họ, vì đã tạo ra một hệ thống trao đổi thông tin mới và vì đã làm thay đổi cách sống của chúng ta”.

Tháng 2/2004, tại ký túc xá Đại học Harvard, Mark Zuckerberg, khi đó chưa đầy 20 tuổi, đã cùng người bạn cùng phòng lập nên trang mạng xã hội Facebook. Đến năm 2007, khi Microsoft chi ra 240 triệu USD để mua lại 1,6% cổ phần của Facebook, mạng xã hội này đương nhiên được định giá lên tới 15 tỷ USD và Mark Zuckerberg trở thành vị tỷ phú trẻ nhất thế giới.

Hiện nay, Facebook là mạng xã hội có tầm ảnh hưởng lớn nhất, được ví như một vương quốc trên mạng và Mark Zuckerberg, dĩ nhiên, là Quốc vương của vương quốc ấy. Với 600 triệu thành viên là “thần dân”, vương quốc của Zuckerberg có “dân số” đứng hàng thứ ba trong số các nước trên thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ và gấp đôi dân số Mỹ.

Ý tưởng tạo nên một cuộc cách mạng trong giao tiếp đời thường của chàng sinh viên Harvard đã trở hành hiện thực.
Câu chuyện về Facebook và Mark Zuckerberg đã được viết thành sách. Từ đó, các nhà làm phim Hollywood tiếp tục chuyển thể thành phim The Social Network (Mạng xã hội). Bộ phim được công chiếu từ năm 2010 và đang tiếp tục thống trị các rạp chiếu phim tại Mỹ, với doanh số dự kiến đạt tới 200 triệu USD. The Social Network đã được hơn 30 tạp chí lớn tại Mỹ tặng danh hiệu Bộ phim xuất sắc của năm, giành được nhiều giải thưởng điện ảnh. Mới nhất, tại Quả cầu vàng lẫn thứ 68 diễn ra vào trùng tuần tháng 1/2011, The Social Network giành chiến thắng vang dội với 4giải thưởng quan trọng nhất là Phim tâm lý/ chính kịch hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản hay nhất và Nhạc phim hay nhất. Bộ phim cũng còn được coi là ứng cử viên sáng giá cho giải Oscar năm nay.

Thành công đang tiếp tục đến với Facebook. Ngay trong những ngày đầu năm 2011, tờ New York Times loan tin, Tập đoàn đầu tư Goldman Sachs của Mỹ và Tập đoàn Digital Sky Technologies của Nga chi thêm 500 triệu USD để mua lại khoảng 1% cổ phần Facebook. Với thương vụ này, giá trị vốn hóa của Facebook lên đến 50 tỷ USD. Tương lai đang tiếp tục rộng mở cho Facebook.

Hai kẻ “khác người”
Có nhiều sự khác người ở hai người đàn ông này. Họ bắt đầu kế hoạch của mình bằng một việc hơi khác người khi quyết định không tiếp tục sự nghiệp học hành, mà bỏ dở để đi làm điều mình muốn. Điều họ muốn mới là cái khác người lớn hơn, vì họ muốn làm thay đổi thế giới. Nhưng cũng còn có nhiều người có ý định thay đổi thế giới giống họ. Vậy thì, họ tiếp tục khác với nhiều người trong số đó, vì họ đã làm được.

Với khẩu hiệu “Think different!” (Nghĩ khác), Steve Jobs bằng niềm đam mê và quyết tâm của mình đưa Apple trở thành một người khổng lồ theo cách rất riêng. Sự thật là, có rất nhiều hãng khác đã đi theo ý tưởng trong các sản phẩm của Apple và đó chính là cách mà Steve Jobs đưa đến những trào lưu mới cả trong công nghệ, giải trí và tiêu dùng. Nhưng bản thân những sản phẩm của Apple cho đến tận bây giờ vẫn không phải thứ mà ai muốn cũng mua được. Chúng không dành cho thị trường đại chúng, mà là những sản phẩm công nghệ khiến cho ai sở hữu cũng nở mày nở mặt, giống như sở hữu những thứ đồ hiệu đẳng cấp.

Hơn thế, khách hàng của Apple dường như không chỉ là khách hàng đơn thuần, mà họ có vẻ giống như những tín đồ của một thứ tôn giáo Apple, mà giáo chủ chính là Steve Jobs.

Khẩu hiệu của Facebook thì giản dị và không có gì gây sốc: “Facebook helps you connect and share with the people in your life” (Facebook giúp bạn kết nối và chia sẻ với mọi người trong cuộc đời bạn). Chỉ vậy thôi, nhưng những gì mà Mark Zuckerberg đã làm để “giúp bạn kết nối và chia sẻ” là cả một điều vĩ đại.

Bây giờ, riêng việc hai người đàn ông này là tỷ phú đã khiến họ khác biệt so với tuyệt đại đa số nhân loại. Nhưng với tư cách là những tỷ phú đầy quyền lực, họ lại có những cái khác so với ngay cả các tỷ phú.

Cả hai đều thích mặc quần jeans, áo thun. Steve Jobs chung thân với áo cổ lọ, quần jeans Levi’s và giày thể thao. Ngay cả tại những dịp ra mắt sản phẩm mới được cả thế giới trông đợi, Steve Jobs vẫn giữ nguyên phong cách ấy. Jobs đã được đặt biệt danh “CEO cổ lọ” và nghe đồn tủ quần áo của vị tỷ phú này có hơn 100 chiếc quần Levi’s.

Mark Zuckerberg còn có một kiểu khác người đặc biệt hơn. Tháng 12/2010, trong khi nhiều người chưa hết bất ngờ khi biết vị tỷ phú này vẫn đang sống trong một căn nhà đi thuê nhỏ bé, thì vị tỷ phú trẻ này đã kịp ký cam kết sẽ dành phần lớn tài sản của mình để làm từ thiện.

Sưu tầm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nghề

Trịnh Hội

Hôm nọ tôi có đố các bạn đọc biết nghề thứ tư của tôi là gì? Một số bạn trả lời bảo rằng nghề thứ tư của tôi chắc phải là nghề… làm cha, thay tã cho thằng cu Trịnh Phi mỗi đêm. Nó cũng là cái nghề mệt nhất. Nhưng các bạn ơi. Tôi nghĩ chúng ta không thể nào gọi nó là ‘nghề’ được. Phải là ‘nghiệp’ thì mới đúng hơn. Vì thích hay không thích thì chúng ta ai cũng sẽ phải còng lưng làm cả đời.
Và cuối cùng sẽ chẳng có ai trả tiền lương hàng tháng cho cái nghề lẫn nghiệp quan trọng nhất trên cõi đời này.

Oái ăm là thế. Biết thế mà chẳng thằng nào tránh khỏi. Bởi vậy trong dân gian (chỉ ngày nay thôi) mới có câu:

Bắt thang lên hỏi ông Trời
Lấy tiền cho gái có đòi được không?
Trời buồn Trời hỏi lông bông
Tao đòi còn chưa được… nói chi tới mày!

Đấy. Chỉ tiền cho gái thôi mà Trời đòi còn chưa được nói chi đến tiền mình bỏ ra nuôi vợ, nuôi con. Tôi bảo đấy là cái nghiệp chứ không phải là nghề cũng có lý do của nó phải không các bạn?

Cái nghề thứ tư mà tôi muốn nhắc đến là nghề viết… blog như bài mà các bạn hiện đang đọc. Một cái nghề mà trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ là tôi sẽ có đủ khả năng để làm. Hoặc có ý định để làm. Nó đến với tôi hoàn toàn tự nhiên, rất tình cờ và có thể nói là chỉ tiếp tục được nếu tôi có ngẫu hứng. Nói nghe thì hơi quá nhưng sự thật nó là vậy. Tôi viết thư cho gia đình, các bạn bè thân hữu của tôi như thế nào thì tôi viết blog y như vậy. Thậm chí từ lúc tôi bắt đầu viết blog cho đến nay thì tôi đã hoàn toàn ngưng viết thư về cho gia đình vì tôi nghĩ tôi không còn chuyện gì để san sẻ.

Bởi vậy có thể nói mẹ tôi mới là một trong những độc giả trung thành nhất và luôn ngóng trông để đọc được bài mới nhất của tôi. Không phải vì văn của tôi xuất sắc. Hay cô đọng, xúc tích, sâu sắc. Mà đơn giản là vì phải đọc bài của tôi thì bà mới biết tôi đã làm gì, đang ở đâu. Phải đọc bài của tôi thì bà mới biết thằng con trai của bà đang nghĩ gì và tâm tư nó ra sao. Nhiều khi gọi điện thoại về nhà, chỉ vừa mới nói được câu trước câu sau là mẹ tôi đã hỏi sao lúc này không thấy con viết blog?

Thật ra thì tôi cũng thích viết blog lắm chứ. Vừa có được tí tiền xài vặt đủ mua tã, mua sữa cho con mỗi tháng (nhưng chắc chắn không thể nào đủ để mua quần áo cho nó!), vừa có dịp giao lưu với tất cả các bạn đọc trên khắp năm châu về những vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm. Vả lại nhờ có dịp đi nhiều, thấy nhiều nên tôi lúc nào cũng có hàng đống chuyện để kể. Thế nhưng ngặt nỗi tôi là một thằng viết cực kỳ chậm. Và phải có hứng tôi mới viết được. Còn không thì có ngồi rặn hoài nó cũng chẳng bao giờ thèm ra!

Không biết các nhà văn, nhà blog khác thì sao chứ riêng tôi thì thường tôi cần phải có ít nhất là hai ngày mới viết xong một bài blog. Khoảng 3 – 4 tiếng (thường là tối khuya lúc tâm tôi tĩnh nhất) để tạm viết xong một bài. Và sang hôm sau khoảng 1 – 2 tiếng để chỉnh sửa lời văn, câu chữ trước khi gửi đi. Bởi vậy từ lúc bắt đầu viết blog cho đài VOA cho đến nay tôi nghĩ chưa bao giờ tôi thực hiện được lời hứa lúc ban đầu là viết từ 3 đến 4 bài mỗi tuần. Có siêng lắm hay rảnh rang lắm thì tôi cũng chỉ có thể viết từ 2 – 3 bài mỗi tuần. Và thường thì chỉ có thể rặn ra từ 1 – 2 bài. Không thể hơn thế được.

Thế nhưng đối với cái nghề viết blog này một lần nữa tôi lại thấy tôi là một thằng rất may mắn. Vì nó đến với tôi trong một dịp rất tình cờ, tôi có thể viết về bất kỳ đề tài gì mà tôi thích và quan trọng hơn hết bài của tôi không bị bất kỳ người nào hay cơ quan nào kiểm duyệt. Cho dù họ có học cao, hiểu rộng hơn tôi hay đồng ý với tôi hay không. Tôi nghĩ đây là một trong những điều quan trọng nhất đối với tất cả những người cầm bút. Vì không phải ai cũng được tự do để sáng tạo.

Còn nhớ năm nào lúc tôi vừa mới sang Mỹ định cư và được báo Người Việt tỏ ý muốn tôi viết bài bằng tiếng Anh cho đặc trang tiếng Anh của tờ báo. Nhưng sau hai năm chính tôi tự đổi ý và xin ban biên tập cho tôi một cột báo thường xuyên viết bằng tiếng Việt để tôi có dịp chia xẻ với các bạn đọc về những điều mắt thấy, tai nghe. Trên những chặng đường mà tôi bước qua. Cũng nhờ những bài viết đầu tay này trên báo Người Việt mà tôi mới có dịp cộng tác cùng với đài VOA từ giữa năm 2009 cho đến nay.

Vậy mà đã gần hai năm. Với hơn 100 bài viết về đủ các thể loại, đề tài: Ca nhạc, phim ảnh, ăn uống, xã hội, chính trị và đặc biệt hơn hết, tôi nghĩ, là những bài học về những nơi xa lạ mà tôi đã và đang ghé qua.

Như hôm nay tôi đang ở Panama để đợi chuyển máy bay bay đến Peru.

Thôi thì hẹn gặp lại các bạn ở đó nhé. ( VOA)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Bức họa đắt nhất thế giới ra mắt công chúng

Bức tranh đắt nhất tại một phiên đấu giá được trưng bày lần đầu tiên ở Anh từ hôm nay. Tác phẩm do danh họa Picasso vẽ về chính người tình của mình.

Image
Chủ nhân của bức họa "Nude, Green Leaves and Bust" vẫn giấu tên kể từ sau phiên đấu giá. Ảnh: PA.


Tác phẩm mang tên Nude, Green Leaves and Bust, do danh họa Pablo Picasso sáng tác vào năm 1932 và dựa trên mẫu người tình của mình là Marie-Therese Walter.

Bức họa được bán tại New York năm ngoái với giá 106,5 triệu USD và sẽ được trưng bày tại phòng triển lãm Tate Modern ở London.

Giám đốc phòng tranh Nicholas Serota nói: "Đây là một kiệt tác của Picasso. Tôi thật vui mừng rằng với sự hào phóng của chủ nhân, chúng tôi có thể đưa tác phẩm này ra mắt công chúng Anh lần đầu tiên".

Serota cũng cho biết: "Nude, Green Leaves and Bust là một trong loạt tác phẩm của Picasso vẽ về người tình của mình - Marie-Therese Walter, được thực hiện tại Boisgeloup, Normandy, vào đầu những năm 1932".

"Những bức họa này được coi là đỉnh cao nghệ thuật của họa sĩ vào giai đoạn đó".

Theo BBC, bức tranh đã được mượn từ một nhà sưu tập giấu tên. Phòng tranh được trang bị các biện pháp an ninh cẩn mật để tránh bị trộm cắp. Một triển lãm về các tác phẩm của Picasso cũng được mở tại Tate Modern vào năm sau.

Picasso gặp Walter - một người mẫu - lần đầu tiên vào năm 1927 và cô trở thành người tình của họa sĩ. Danh họa bắt đầu vẽ nàng vào 4 năm sau đó.

Walter qua đời vào năm 1977, sau Picasso 4 năm.

Anh Minh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Xin mời đọc...

Câu chuyện về nàng Ando Chie, 1 người thiếp, 1 nàng hầu,1 người tình nghĩa...của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để trong thời gian Ngài ở Nhật.
Chuyện nhẹ nhàng, cảm động.

Image

Nơi có những cây tùng xanh biếc
Tác giả: Trần Thùy Mai



Ando Chie cúi xuống, nhúng ngón tay vào chậu nước. Nước ấm vừa đủ tắm. Nàng kéo màn che cửa sổ. Ngoài kia, một cây anh đào vừa nở, những nhành hoa rủ xuống trắng hồng.
- Xin ngài vào tắm kẻo nước nguội.
Giọng nàng nhỏ nhẹ và lễ phép.
Ngoài ba mươi tuổi, Chie mạnh khỏe và bầu bĩnh trong bộ kimono giản dị màu lam. Là người giúp việc cho hoàng thân Cường Để, cô đến ở đây đã hai năm theo sự bố trí của đại tá Wanatabe.
Năm ấy hoàng thân đã ngoài năm mươi tuổi, dáng vóc nho nhã nhưng khuôn mặt gầy đượm buồn. Ông chăm chú viết, những chữ Nho chân phương rất đẹp trên giấy trắng. Thấy Chie, ông ngẩng lên, vẻ mặt ngần ngừ:
- Lại tắm. Ta mới tắm hôm kia...
Chie mỉm cười. Ông hoàng Việt Nam này rất lười tắm gội. Người Nhật vốn rất sạch sẽ. Bao giờ cũng thế, Chie rất cương quyết với ông.
Chie đến gần, đặt tay lên nút áo ông. Chiếc áo năm thân màu nguyệt bạch với rất nhiều khuy vải. Ở Nhật đã hai mươi năm, ông vẫn mặc áo Việt. Những chiếc áo ông đem theo từ Việt Nam đã cũ nát từ lâu, chiếc áo này là do Chie phỏng theo áo cũ để may cho ông, kiểu áo Việt trên nền lụa Nhật.
Nhưng hôm nay, ông hoàng dường như trái tính hơn mọi ngày. Ông chùn lại, xua tay, ánh mắt đầy nghi kỵ:
- Để ta yên!
Từ lúc Chie mới đến đây, ông vốn đã không tin nàng. Ông không cho nàng sắp xếp thư từ giấy tờ trên bàn ông, dù chúng thường rất lộn xộn. Mỗi lần đau ốm, ông cố giấu không cho nàng săn sóc.
Chie là người do quân đội Nhật cử đến. Ông nghi kỵ nàng nhưng không thể từ khước nàng. Ông khư khư không cho nàng chạm tới đống thư từ, nhưng lại quá cần nàng thu dọn giường nằm bề bộn, pha cho ấm trà buổi sáng, khâu lại áo xống, cả ánh mắt cương quyết của nàng mỗi lần bắt ông đi tắm...
Nhưng hôm nay nhìn vẻ mặt ông, Chie lẳng lặng không nài ép gì nữa. Nàng quay ra một lúc rồi trở vào với khay trà. Nàng đã quen, những lúc căng thẳng thế này chỉ có một ấm trà Tàu mới có thể làm ông dịu lại.
Bước qua ngạch cửa, nàng khựng lại. Kỳ ngoại hầu Cường Để, hoàng đích tôn đời thứ năm của vua Gia Long đang bưng mặt khóc.
Ando Chie vội vã đặt khay xuống án thư, chạy đến đỡ lấy mái tóc chớm bạc đang rũ rượi gục về phía trước. Tấm thân gầy mỏng của người đàn ông như muốn sụp xuống trong tay nàng.
- Điện hạ... hoàng tử...
Chie cứ nghĩ ông sẽ đẩy nàng ra. Nhưng lần này Cường Để chỉ ngẩng lên, mắt nhìn sững vào khoảng không trước mặt. Nàng nhẹ nhàng chặm những giọt nước ứa ra quanh đôi mắt thất thần. "Có chuyện gì...?".
Cường Để không kiềm chế được, khóc nấc lên: "Bác Phan mất rồi!".
Tại Tokyo một buổi chiều tháng tư, Cường Để nhận được thư báo. Phan Bội Châu, người đã tìm đến ông khi ông mới hai mươi mốt tuổi, đã tôn ông làm minh chủ của phong trào Đông du chống Pháp. Người đã đón ông sang Nhật để tính chuyện phục quốc lâu dài. Việc Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải đã là một đòn quá mạnh đối với ông. Từ ngày ấy, ông không thôi cảm thấy lạc lõng, hoang mang; cảm giác thối chí thỉnh thoảng lại ám ảnh ông, ông phải hết sức chống lại.
Bây giờ Phan Bội Châu đã mất. Hơn ba mươi năm lưu vong trên đất Nhật, bao nhiêu ý chí, nghị lực của ông dường như được truyền từ sức mạnh tinh thần của con người này. Vậy mà giờ đây người ấy không còn nữa. Số phận đã bỏ rơi ông giữa một thế giới mênh mông xa lạ, trong cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Không phải là chuyện có thể chia sẻ với Ando Chie, nhưng biết nói cùng ai ở nơi lữ thứ này. Phong trào Đông du đã tan rã, Trần Đông Phong đã tự vẫn, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Siêu đã trốn đi, chỉ còn mình ông trơ trọi giữa trời cùng đất tuyệt.
Chie cố gắng an ủi ông, dù không biết người chết là ai. Nàng dìu ông vào giường, đắp chăn, buông màn cho ông.
"Để mặc ta" - Cường Để nói, xua tay, quay mặt vào góc tối.
Chie gật đầu, nàng ém màn vào dưới nệm, bước lùi mấy bước.
"Chie, đừng đi!".
Ông ta bíu lấy tay nàng. Chie cảm thấy tất cả nỗi cô đơn, hoảng loạn của người đàn ông. Nàng cúi xuống, lồng tay vào chăn, ôm lấy ông vỗ về, bất giác nàng cũng rơi nước mắt.
"Thiếp thương điện hạ lắm". Chie nói, những tiếng rất giản dị, nàng biết rõ Cường Để không giỏi tiếng Nhật, và nàng cũng không biết lời an ủi nào hơn. Nhưng linh cảm dạy cho nàng biết phải làm gì: nàng ghé nằm bên ông và ấp ủ ông bằng thân thể ấm áp của mình.
***
Đêm ấy trời mưa, khi trời sáng Chie cuốn màn, mở hé cửa sổ, nàng nhìn thấy những cành anh đào sũng nước. Nàng đặt chậu nước nóng cạnh giường, nhúng chiếc khăn bông trắng muốt rồi vắt thật ráo. Người đàn ông của nàng đã tỉnh giấc. Nàng cúi xuống, mỉm cười dịu dàng, lau mặt cho ông.
Kỳ ngoại hầu nắm lấy tay nàng, vẻ mặt ông lộ vẻ biết ơn. Chốc lát, ông quên người đàn bà này là người của quân đội Nhật. Ba mươi năm lưu lạc trên đất nước này, ông đã nhiều lần được chở che. Ông Innukai và Kashiwabara đã bảo bọc ông, thuyền trưởng tàu Yayomaru đã hết lòng che chở ông thoát khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp. Đó là chuyện hai mươi, ba mươi năm trước. Lúc đó ông còn trẻ, chí khí còn hăng hái; gần mười năm nay, từ khi Innukai bị ám sát rồi, ông quá chật vật với cuộc sống, cô đơn, mệt mỏi. Phải nhận sự bảo trợ của lục quân Nhật là bất đắc dĩ, ông không thể không dựa vào người Nhật, nhưng ông biết Nhật và Pháp có thể bắt tay với nhau bất kỳ lúc nào. Ando Chie có phải là tai mắt của quân Nhật không? Ai biết đâu được. Dù sao lúc này bên ông chỉ còn có nàng thôi. Giờ phút này nàng đang dịu dàng lau mặt ông. Cảm giác được chăm sóc làm ông bùi ngùi ứa lệ.
Chie chuyển dần chiếc khăn nóng xuống cổ và ngực ông, nàng nhẹ nhàng mở khuy áo để lau vai và lưng. Bỗng Cường Để buột miệng:
- Về Việt Nam! Ước gì ta được về Việt Nam!
Chie khựng lại một giây, rồi nàng hiểu, nhẹ vỗ vào lưng ông như dỗ dành:
- Rồi ngài sẽ về, nhất định có ngày ngài sẽ về mà.
Ôâng hoàng lưu vong cảm thấy ấm lòng, ông siết chặt tay nàng như muốn cảm ơn. Trong lúc đó Chie lại thấy lòng âm thầm một nỗi buồn. Ông sẽ đi, sẽ xa nàng, chắc chắn sẽ có ngày ấy...
Cuối tháng, đại tá Wanatabe gặp Ando Chie ở Bộ Tư lệnh lục quân. Như thường lệ, Chie nói với ông về tất cả những sinh hoạt của Cường Để. Wanatabe hỏi:
- Cô có thấy ông ta tiếp khách khứa từ xa tới không?
- Không ạ.
- Ông ta có nhận thư từ, tin tức gì từ Việt Nam?
- Không ạ.
Chie trả lời, chắc chắn đến nỗi Wanatabe không hỏi thêm gì nữa. Ông ta nhìn Chie từ đầu đến chân như muốn đánh giá lại quan hệ giữa nàng và người ngoại quốc lưu vong ấy. Chie đỏ mặt, nàng hiểu cái nhìn của đại tá. Chắc chắn là ông ta rất khuyến khích việc nàng lên giường với người đàn ông kia, điều đó rất có lợi cho công việc. Chỉ có điều, ông ta không biết hôm qua nàng đã ủ ấm cho Cường Để, không phải với tư cách một nhân viên của lục quân Nhật, mà với tất cả tấm lòng của một người đàn bà.
Năm năm sau.
Chiến tranh khốc liệt trên khắp đất nước hoa anh đào. Những trận bom Mỹ dội xuống. Những ngôi nhà bằng gỗ và giấy cháy phừng phừng trong các góc phố Tokyo.
Đang mùa lá đỏ nhưng chẳng còn ai nghĩ đến lễ hội mùa thu... Chỉ còn những đoàn người tản cư dắt díu nhau chạy. Ando Chie gói quần áo vào hai chiếc tay nải. Vội vàng, nhưng nàng không quên những chiếc áo lụa năm thân, áo dài the, khăn xếp, và cả bộ bình trà Tàu nhỏ xíu.
- Ông ơi!
Chie gọi. Hoàng thân giật mình, quay ra. Hôm nay ông mặc Âu phục chỉnh tề. Trong cảnh chộn rộn của Tokyo, vẻ chỉnh tề của ông trông thật lạc lõng.
"Mình đi thôi, ông ạ. Mọi người đều tản cư về quê, chiều nay là chuyến chót".
Hoàng thân hốt hoảng:
- Nhưng ta còn phải chờ máy bay... Biết đâu ngày mai máy bay sẽ tới.
Chie nhìn ông, xót xa. Cuối tháng bảy, nội các Suzuki Kantaro đã tổ chức bữa tiệc linh đình đưa ông về nước. Sau ba mươi hai năm xa quê, cái tin được về nước làm ông bàng hoàng. Trong bữa tiệc linh đình tại khách sạn Đế Quốc, ông hân hoan từ giã hết các chính khách đã ủng hộ ông... Mãi đến lúc sắp ra sân bay Haneda, cầm gói thức ăn đi đường từ tay Chie, ông mới nhìn thấy vẻ buồn trong mắt nàng. "Đừng buồn Chie, ta về nước rồi sẽ tính chuyện đón nàng sang".
Chie mỉm cười. Ở Việt Nam, ông còn có người vợ cả và hai con nay đã lớn. Người vợ mà ông đã xa cách từ năm hai lăm tuổi. Ông sắp về với người đàn bà ấy. Nàng cảm thấy buồn, nhưng nàng mừng cho ông.
Ngày hôm ấy ông đi, rồi đến tối mịt lại quay về. Ông kể, trên sân bay, nhân viên Bộ Tham mưu lục quân Nhật và ký giả báo chí tề tựu để tiễn chân ông... Nhưng máy bay từ Sài Gòn không đến đón. Ông quay về, ngã vật trên giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên cao... Chie tháo giày cho ông, lau mặt cho ông. Nàng nhỏ nhẹ bảo ông: "Ông ạ, đừng buồn, chắc máy bay bị trở ngại gì đó thôi, mai lại đến ấy mà!".
Từ đó hôm nào nàng cũng quấn sushi cho ông đem theo... Hôm nào ông cũng ra phi trường Haneda, hôm nào ông cũng trở về. Hơn năm hôm sau, nhân viên lục quân lẫn ký giả không còn ai đến nữa, chỉ còn ông ngày ngày một mình ngồi đợi. Lủi thủi tới, rồi lủi thủi về.
Và hôm nay, ngày cuối tháng bảy, bom B29 của Mỹ đã trút xuống Tokyo, ông vẫn còn nghĩ đến chuyện đến phi trường chờ đợi. Chie bảo ông:
- Mình phải đi thôi ông ạ! Phải chạy về quê, nếu không là chết.
- Đúng rồi, nàng cứ đi, ta ở lại, biết đâu...
Chie nắm lấy tay ông. Bàn tay ông gầy quá. Với mọi người, ông là một hoàng thân, được các cơ quan tiếp đón, các ký giả săn tin, được các nghị sĩ bảo trợ... Còn với nàng, đây là một người đàn ông tha hương, lạc lõng, túng thiếu, cô độc... Lúc này, nàng nhất định phải cứng rắn với ông, như những lúc bắt ông phải đi tắm vậy; nàng khoác tay nải lên vai ông và đẩy ông đi. Cường Để gượng lại, phản đối, nhưng khi bị đẩy đến cửa, dòng người tay xách nách mang chạy loạn đập vào mắt ông, và ông hiểu ngay điều gì đang xảy ra.
Đêm đó trên chiếc xe bò lắc lư trong dòng xe qua vùng ngoại ô, ông nhìn thấy Tokyo bốc cháy, lửa rực đỏ dưới những lằn máy bay Mỹ vút ngang. Căn nhà mà lục quân Nhật cấp cho ông đã cháy rụi.
Tháng tám, bom nguyên tử dội xuống Nagasaki và Hiroshima, Nhật Bản đầu hàng. Không còn ai đủ sức nghĩ đến vị hoàng tử lưu vong. Chỉ có một người đàn bà thầm lặng mỗi ngày làm thuê cho một xưởng than ở vùng quê để nuôi một người chồng lớn tuổi. Ando Chie lúc này không còn là nhân viên của lục quân Nhật nữa. Buổi sáng, nàng thức dậy nấu nước nóng cho chồng rồi tất tả đi; nàng vẫn thế, dù làm ở xưởng than nhưng lúc nào về nhà cũng rất sạch sẽ, còn chồng nàng vẫn vậy, rất lười tắm và suốt ngày ngồi chép những trang sách chữ Hán đã cũ nhàu.
Nhiều người hỏi sao ông chồng nàng chẳng làm việc gì mưu sinh, Chie chỉ cười. Ông ấy là một ông hoàng. Dù rất nghèo và chẳng hề có quyền uy. Ông chẳng làm được gì cho nàng cả, nhưng nàng yêu thương ông với tất cả sự trìu mến xót xa. Trong lúc ông thì đau đáu chỉ muốn về quê hương - nghĩa là rời xa nàng. Nhưng nếu ông không có giấc mơ hồi hương, liệu ông có còn là người đàn ông mà nàng thương yêu không?
***
Năm năm sau. Cơ hội về nước lại đến. Ando Chie lại chuẩn bị hành lý cho Cường Để lên đường.
Nước Nhật đã trở lại thanh bình. Trước ngày Cường Để về nước, bạn bè làm tiệc tiễn đưa. Ký giả Báo Asahi cũng đến dự. Cụng ly mừng, nhà báo ngỏ ý muốn đưa tin chuyến trở về của vị hoàng thân sau gần bốn mươi năm biệt xứ.
Chuyến đi lần này bằng đường biển, từ cảng Kobe đáp tàu Hải Minh đến Bangkok rồi theo đường bộ qua Campuchia về Tây Ninh. Vì sao phải về nước qua cửa khẩu Tây Ninh? Vì Việt Nam đang thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, Pháp vẫn còn đóng quân ở Nam kỳ. Nhưng Tây Ninh nằm trong lãnh địa của Giáo chủ Phạm Công Tắc. Với sự bảo trợ của Phạm Công Tắc, ông có thể lên bờ an toàn.
Ký giả Asahi dặn dò:
- Khi ngài tới nơi rồi, xin điện ngay cho tôi biết.
Cường Để ngẫm nghĩ:
- Trong nước hiện đang chiến tranh, tin tức khó gửi. Có lẽ cứ tính theo hải trình, đến trung tuần tháng bảy thì bỉ nhân đã đến quê nhà, quý ông có thể đưa tin được rồi.
Ando Chie đưa ông đến bến cảng. Mùa thu, khí trời se lạnh. Tiếng quạ kêu vang sau những tàn cây lá đỏ. Ông đi rồi, Chie trở lại căn hộ hai phòng ở phố Ogikubo. Con đường bỗng dài hơn bao giờ hết. Ông hứa sẽ có ngày đón nàng sang Việt Nam. Lúc đó nàng chỉ bảo: "Bao lâu cũng được". Đến bây giờ, một mình trên con đường về nhà, nàng mới thấm thía cả khoảng trống chơ vơ trước mặt, rằng có thể nàng sẽ mãi mãi một mình trên đoạn đường còn lại...
Nàng tiếp tục khâu những con búp bê vải - những con búp bê đã nuôi sống nàng và ông từ lúc về lại Tokyo.
Đến tối, chủ nhà, bà Hashimoto gõ cửa hỏi thăm nàng. Bà đem vào cho nàng một gói bánh dẻo.
"Trông em xanh quá. Tôi pha cho em một chén trà nóng nhé?".
Chie uống chén trà từ tay bà chủ nhà tốt bụng. Trà nóng làm nàng hồi tỉnh. Nhìn hộp bánh dẻo xinh xắn, nàng nhớ đến chồng. Ông ấy vẫn thích loại bánh này. Nhưng dùng trong khi uống trà Tàu - ông vẫn không quen với trà Nhật.
Bây giờ ông ấy đi đến đâu rồi nhỉ? Bà Hashimoto vuốt tóc nàng, dẫn nàng sang phòng làm việc của chồng bà, giáo sư Hashimoto Masukichi. Trên vách, giữa những tủ sách đồ sộ là tấm bản đồ châu Á. Bà chỉ cho Chie xem chỗ nào là Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam. Chie chăm chú nhìn. Chồng nàng đang ở trên vùng biển xanh xanh kia, ngoài khơi cái khối màu hồng rất lớn mà bà Hashimoto bảo là nước Trung Hoa.
"Em đừng buồn, rồi ông ấy sẽ đạt chí nguyện, sẽ trở lại đón em sang, em phải gắng giữ sức khỏe nhé!" - Bà Hashimoto an ủi.
Chie mỉm cười, nàng cúi đầu thật thấp tỏ lòng cảm ơn bà chủ. Chiều hôm ấy nàng đến chùa Senso, bên chiếc đỉnh lớn nghi ngút khói nhang giữa sân chùa, nàng vớt nhẹ khói hương ủ vào nơi lồng ngực. Lần trong tay áo, nàng lấy ra số tiền nhỏ, đủ cúng dường để xin một lời nguyện cầu.
Vị sư già hỏi nàng cầu nguyện gì để ghi vào tấm thẻ gỗ trắng ngà. Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ. Nàng muốn cầu nguyện những gì, chồng nàng sẽ có quyền uy, sẽ thành lãnh tụ, sẽ giàu sang, sẽ đón nàng về cùng hưởng cuộc sống cao sang? Cầu cho chồng nàng sẽ không quên nàng? Sẽ... Thực lòng nàng muốn gì?
Chie ngập ngừng một lát rồi se sẽ đọc cho vị sư già chép vào thớ gỗ:
- Tôi là Ando Chie... Cầu cho chồng tôi là Cường Để vượt sóng gió về đến quê nhà bình yên, sum họp với gia đình.
Vị sư già ngẩng nhìn nàng. Ông đã viết giúp cho thiện nam tín nữ hàng ngàn lời nguyện. Ông nhìn Ando Chie một lát như muốn hỏi điều gì, nhưng rồi lại thôi, cúi xuống cắm cúi viết.
Khi trở về nhà, nàng thấy giáo sư Hashimoto đang chờ trước cổng. "Ando, có tin mừng cho cô đây". Ông đưa nàng tờ nhật báo Asahi. "Hoàng tử Việt Nam đã về đến quê nhà sau 32 năm ly hương". Chie mừng rơi nước mắt. Chiều hôm đó nàng làm món mì Nhật và sushi cá hồi, mời ông bà Hashimoto để tỏ lòng biết ơn.
Ông bà về rồi, còn lại một mình Chie trong căn hộ vắng lặng. Một đoạn đời đã chấm dứt, đoạn đời mới bắt đầu, một chặng đường dài hun hút mà nàng sẽ phải đi một mình.
Nàng giở tờ báo Asahi, đọc lại bài viết, rồi lật dần ra những trang sau: những mục tìm nhà, tìm việc.
Cuối tháng bảy, bỗng bà Hashimoto đập cửa căn hộ của Ando Chie, hốt hoảng:
- Ando, người ta vừa điện đến cho ông nhà tôi. Cô phải ra ngay cảng Yokohama!
Chie cuống quýt, hai chân run cầm cập, lưỡi líu lại. Nhưng người phụ nữ Nhật dường như được trời phú cho một nghị lực phi thường, nàng kiềm chế thật nhanh cơn hoảng hốt, cầm lấy chiếc ô, chạy ra cửa.
Bà Hashimoto tốt bụng đã kịp thuê giúp nàng một chiếc xe ngựa.
Trên cảng Yokohama về chiều, có một ông già ngồi trên chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nhìn quanh với đôi mắt vô hồn, mặc kệ bao nhiêu người qua lại. Chie chạy lại gần. Sao mới có một tháng mà chồng nàng đổi thay đến thế, y phục nhàu nát, khuôn mặt gầy tọp rám nắng, mái tóc bạc xỉn đi và bê bết bụi.
- Ông ơi...
Chie cầm lấy tay chồng. Bàn tay ông gầy trơ xương, nhưng vẫn là bàn tay của ông, ông đang ở đây, bên nàng. "Ông ơi, sao ông lại về được?". Chie hỏi, nhưng người đàn ông ngẩn ngơ nhìn mông lung, vẻ mặt sững sờ tuyệt vọng, dường như không còn nhận ra gì chung quanh nữa. Ông chỉ không ngớt lẩm bẩm: "Không về được! Không về được nữa! Không về nữa!".
Với Chie, về là về Nhật Bản, với ông, về là về Việt Nam.
Hơn một tháng Chie ra sức chăm sóc, Cường Để mới dần dần hồi tỉnh lại. Ông kể với nàng: tàu Hải Minh bị trục trặc bánh lái nên đã ghé Thượng Hải một tuần. Trong khi đó, Báo Asahi đã đưa tin, và mật vụ Pháp biết được rằng chuyến tàu phải cập cảng Bangkok, đã điện cho Bộ Ngoại giao Thái. Vì quan hệ giao thương với Pháp, Chính phủ Thái đã không cho Cường Để nhập cảnh Thái Lan, buộc lòng phải theo tàu quay về Nhật Bản.
Cường Để không bao giờ còn trở lại như trước kia nữa. Tuyệt vọng, suy sụp, ông đã hoàn toàn là một ông già trái tính trái nết, đau ốm triền miên. Đôi khi, căm hận số phận, ông ném bất cứ cái gì vớ được vào vách. Chie phải cất bộ đồ trà ông đem theo từ Việt Nam thật kỹ, mỗi sáng pha trà xong nàng đứng chờ ông uống xong, đem cất ấm chén rồi mới dám dời mắt.
Cuối mùa thu có hai người khách ở Việt Nam sang ghé thăm. Họ là hai chính khách đang có thế lực, hứa sẽ tìm cách đưa Cường Để về nước.
Khách về rồi, Chie dọn tách chén trên bàn, định bưng đi. Chợt ông níu tay nàng:
- Nàng ơi, nàng có tin ta còn về nước được không?
Chie đặt khay xuống, quay lại cầm cả hai bàn tay ông, vỗ về:
- Thiếp tin.
- Ta cũng tin vậy. Nghe nói chẳng bao lâu nữa người Pháp sẽ rút khỏi Đông Dương...
Chie lau những giọt mồ hôi đang ứa ra trên trán người đàn ông. Dạo này ông yếu quá, chỉ một cơn xúc động cũng đủ làm mồ hôi toát ra dầm dề.
Mấy hôm sau ông bồn chồn đến mất ngủ, lúc nào khỏe lại lật giở những thư từ, sách vở đã cất giữ từ bốn mươi năm trước, cả bức Thư huyết lệ của người Việt Nam mà ông viết khi mới ngoài ba mươi tuổi.
Ba mươi năm đã qua, sứ mệnh cứu nước không còn nằm trong tay thế hệ ông nữa rồi. Nhưng những bức thư cũ này sẽ mãi mãi là kỷ niệm rực rỡ nhất của đời ông.
- Nàng cất kỹ những giấy tờ này cho ta. Khi ta về nước, đồng bào nhất định sẽ hỏi đến.
Chie đặt chén thuốc xuống bàn rồi đỡ lấy những tờ giấy cũ vàng tên tay ông.
Bây giờ ông đã tin nàng thật sự, ông giao cho nàng những tờ giấy này, đối với ông nó còn quý hơn cả bạc vàng.
- Uống thuốc đi mình - Chie nhắc. Cường Để gật đầu, không đợi Chie nài ép dỗ dành như mọi lần, ông bưng chén thuốc đắng ngắt uống cạn.
Gương mặt đang rạng rỡ của ông bỗng nhăn nhúm lại, một cơn đau đang âm ỉ dưới sườn non chợt nhói lên.
Chie đỡ cái bát, tay kia vỗ nhẹ lên lưng chồng như muốn xoa dịu phần nào cái buốt nhói trong cơ thể ông. Tuần trước, bác sĩ Bệnh viện Nihon Ika Daigaku đã nói cho nàng biết, Cường Để đã mắc bệnh ung thư gan, ông chỉ còn sống nhiều lắm là ba tháng nữa.
Chie giữ kín tin dữ không cho ai hay. Nàng biết đây là lúc nàng phải mạnh hơn bao giờ hết.
Cường Để cố uống thuốc cho mau khỏi bệnh. Ông xem đi xem lại bức thư của mấy người Việt vừa ghé thăm tháng tám năm ngoái, bức thư hứa sẽ tìm cách vận động cho ông hồi hương. Mỗi lần đọc thư ông thấy khỏe hẳn lên như vừa uống một thang thuốc bổ.
Nhưng đến đầu tháng tư, sau nhiều cơn đau hành hạ, Cường Để cũng nhận ra rằng mệnh của mình đã hết.
Ông cố mở đôi mắt mệt mỏi, gắng nhìn thật kỹ những gì chung quanh: khung cửa sổ nhỏ, những chiếc áo Việt may bằng lụa Nhật treo trên vách, chiếc chậu đồng dưới chân giường, những vật dụng thường ngày của cuộc sống lưu vong tạm bợ, giờ phút này ông nhìn chúng với ánh mắt bịn rịn vô cùng.
Mắt ông dừng lại nơi khuôn mặt Chie đang nhìn xuống, vẻ thầm lặng và nhẫn nhục đầy yêu thương. Ông quờ quạng nắm lấy tay nàng: Mình ơi, mình có phải là Phật Bà Quan Âm của tôi không?
Đó là lần đầu tiên ông nói lời tri ân với nàng sau bao nhiêu năm chung sống. Nhưng nàng không hiểu gì cả, vì ông không biết là mình không dùng tiếng Nhật. Như một bản năng, mấy hôm nay ông chỉ nói toàn tiếng Việt.
Chie vẫn cúi nhìn, vẫn vẻ mặt âu yếm xót xa, nàng áp sát mình xuống thân thể còm cõi của ông, tay nắm lấy cả hai tay ông như muốn bảo: Đừng sợ, có thiếp đây, dù đi đến đâu ngài cũng không cô độc.
Cường Để dần thiếp đi.
Lúc ấy là năm giờ 5 phút sáng mồng 6 tháng 4 năm 1951. Một mình Ando Chie úp mặt khóc lặng lẽ trên thi thể ông.
Ngoài cửa sổ, hoa anh đào đang nở. Hôm ấy là ngày đầu của lễ hội hoa anh đào trên đất Nhật.
***
Cửa mở ra, hai người đàn ông theo Ando Chie bước vào căn hộ. Đập vào mắt họ là những tấm hình của Kỳ ngoại hầu Cường Để trên vách. Vị hoàng thân trẻ măng hai mươi lăm tuổi ngày mới đến Nhật. Hội chủ Hội Đông du Phục Quốc, sinh viên trường Đại học Waseda, hình chụp với Thủ tướng Innukai, hình chụp với ký giả Asahi trong bữa tiệc long trọng tại khách sạn Đế Quốc... Tất cả là những trang đời đẹp nhất của Cường Để. Còn hình ảnh buồn thảm những ngày chờ đợi trên sân bay Haneda, những ngày chạy loạn nghèo túng cơ cực, ngày về tang thương trên cảng Yokohama... Những hình ảnh ấy giờ đây chỉ còn trong ký ức Chie mà thôi.
Hai tay bưng bình tro, Ando Chie trao di cốt Cường Để cho hai con của ông. Nàng cúi mặt thầm nghĩ: Thế là ngài sắp về nhà, giấc mơ cả đời của ngài giờ đây mới thành tựu. Ngài lên đường bình an, lần này thiếp không phải gói sushi cho ngài mang đi nữa rồi.
Người con trai cả của Cường Để đỡ lấy bình tro di cốt của cha. Mặt ông đầy nước mắt. Ông ngạc nhiên thấy người đàn bà Nhật này vẫn bình thản, nét mặt trang nghiêm dịu dàng chỉ hơi phảng phất buồn. Nhưng người con trai thứ hai đứng cách đó vài bước thấy rất rõ đôi bàn tay của Chie sau khi trao xong bình tro. Đôi bàn tay ấy bấu chặt vào nhau, những móng tay quắp vào da thịt, rồi chúng run rẩy bấu víu lấy đôi tay áo kimono, và đến lượt thớ vải giằng co như sắp bị xé rách ra.
Khi hai người đàn ông đi rồi, Chie khép cửa, quỳ xuống sàn. Nàng lấy trong ống tay áo ra một mẩu xương và một nhúm tro nhỏ. Chie đã giữ lại cho mình một phần thân thể của chồng.
Nàng biết mình không làm trái với ý nguyện ông. Dù chẳng hiểu ông nói gì khi sắp mất nhưng nhìn vào mắt ông nàng biết, ông rất muốn ở lại với nàng. Hình như vào giờ phút ấy ông nhận ra mình sắp đi vào một cõi xa thăm thẳm, ở nơi ấy ông sẽ gọi cả trần gian này là quê nhà. Và ở quê nhà đó, một trong những gì giản dị và thân thương nhất chính là Chie...
Ando Chie mất bốn mươi năm sau, trước khi mất bà để lại di chúc muốn được chôn cùng với nắm tro tàn của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Nhưng cho đến nay lọ hài cốt của bà vẫn còn trong phòng mộ tập thể của nghĩa trang Zoshigaya, nơi có những cây tùng xanh biếc và tiếng quạ kêu man mác buồn trong những buổi sáng mùa xuân.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Dân chơi Việt Cộng ..

Phone chạm hình rồng thời Lý đính gần 590 viên kim cương Các thợ kim hoàn người Việt đã mất gần 6 tháng để khoác lên mình chiếc iPhone (phiên bản 3GS)
một hình rồng nổi với gần 590 viên kim cương tự nhiên, cộng thêm 4 lượng vàng 18K.

Image
Chiếc iPhone 3GS được một người tại Việt Nam đặt chạm nổi hình rồng và đính kim cương.
Biểu tượng rồng được thợ kim hoàn lấy ý tưởng từ con rồng thời Lý.

Image
Các thợ kim hoàn của Công ty Golden Ace - Thời Đại Vàng đã mất hơn 4 tháng để lên ý tưởng thiết kế, công đoạn chế tác mất thêm 2 tháng nữa.

Image
Đây là sản phẩm hoàn toàn được các thợ kim hoàn người Việt làm qua 5 khâu:
thiết kế, sáp tay - đúc khuôn - tạo hình (làm mô hình bằng sáp, tạo khuôn), đính đá, mạ ngoài, hoàn tất.

Image
Có tổng cộng 585 viên kim cương tự nhiên và một viên ruby màu đỏ đính làm mắt.
Ngoài ra, còn có thêm 4 lượng vàng 18K cho các chi tiết tạo hình khác. Chi phí nguyên liệu cho chiếc iPhone này lên đến gần 300 triệu đồng.

Image
Chiếc iPhone này đã được giao đến chủ nhân của nó vào cuối tuần trước.

Image
Cạnh bên của iPhone được đính kim cương.

Image
Hình rồng nổi trên mặt sau iPhone.

Kiên Cường

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Sức Mạnh Nhân Dân –
Dòng thác cách mạng của Thế kỷ 21


Trong 25 năm qua, Sức Mạnh Nhân Dân đã là dòng thác cách mạng mới, cuốn đi các chế độ độc tài, giải thoát hàng trăm triệu con người,
và mở tung cánh cửa hy vọng cho phần còn lại của nhân loại đang ngụp lặn trong bóng tối của độc quyền độc đảng.
Sức Mạnh Nhân Dân, Philippines , 1986

Image
Từ ngữ “Sức Mạnh Nhân Dân” (People Power) bắt đầu được xử dụng khi cả thế giới theo dõi phong trào quần chúng nổi dậy tại Philippines hạ bệ nhà độc tài lâu năm Ferdinand Marcos. Nhà lãnh đạo tinh thần của phong trào được nhiều người ngưỡng mộ lúc đó là bà Corazon "Cory" Aquino, (đứng giữa trong hình). Bà là góa phụ của một lãnh tụ chính trị được người dân yêu mến nhưng sau đó bị mật vụ của Marcos ám sát. Sau giai đoạn đấu tranh oai hùng, bà Aquino đã phục vụ trong vai trò tổng thống trong sáu năm và được tạp chí TIME bầu chọn là Người phụ nữ đứng đầu của năm 1986. Thừa hưởng được sự thương mến mà người dân Phi Luật Tân dành cho gia đình Aquino, con trai bà là ông Benigno Aquino III, còn gọi là Noynoy, cũng đã được bầu làm tổng thống vào năm 2010.

Cuộc Cách Mạng Nhung, Tiệp Khắc, 1989

Image
Trong lúc Liên bang Xô Viết đang lê dần từng ngày đến huyệt mộ, dân chúng khắp nơi trong khối Xô viết - từ Ba Lan qua Hungary, tới Romania, rồi đến các nước Cộng hòa Baltic – xuống đường biểu tình chống lại các chế độ độc tài Cộng sản đã đè nén họ từ nhiều thập niên. Cuộc cách mạng ngoạn mục và bất ngờ nhất xảy ra tại Tiệp Khắc. Ngày 17 tháng 11 năm 1989, sinh viên tụ tập tại thủ đô Pra Ha chỉ một tuần sau khi Bức tường Berlin sụp đổ. Công an đã ra tay đàn áp, nhưng hành động đó chỉ càng đẩy nhanh hơn đến cái hậu quả sau cùng không thể tránh. Trong những ngày kế tiếp, lịch sử đã chứng kiến các cuộc xuống đường của gần nửa triệu người ở Pra Ha và các nơi khác. Ngày 28 tháng 11, giới lãnh đạo Cộng sản đồng ý hủy bỏ độc quyền chuyên chính. Các cuộc bầu cử dân chủ đã được tổ chức vào tháng 6 năm sau đó.
Cuộc Đảo Chính Tháng 8 Bất Thành, Nga, 1991

Image
Trước tình hình Liên bang Xô Viết đang trên đường phân ra thành nhiều nước nhỏ và tiến tới dân chủ dưới sự dẫn dắt của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev, một nhóm lãnh tụ ngoan cố thuộc bộ công an KGB và quân đội cố gắng chận đứng tiến trình cải tổ này. Họ khởi động cuộc đảo chính với việc quản thúc ông Gorbachev ở Crimea vào ngày 18 tháng 8, rồi tìm cách chiếm giữ các cơ quan nhà nước tại Moscow. Nhưng cuộc đảo chính đã bị đẩy lui bởi các cuộc biểu tình đông đảo của dân chúng, do chính ông Boris Yeltsin, Tổng Thống Liên bang Nga vừa đắc cử, lãnh đạo. Hình ảnh ông Yeltsin đứng trên một chiếc xe tăng để cổ vũ dân chúng tham gia biểu tình và kêu gọi quân đội rút lui đã trở thành 1 biểu tượng nổi tiếng. Đến ngày 22 tháng 8, hầu hết các lãnh tụ đảo chính đã bị bắt. Biến cố này được xem như tia lửa mồi dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô Viết.
Cuộc Cách Mạng Xe Ủi Đất, Serbia, 2000

Image
Khi cuộc bầu cử diễn ra vào năm 2000, Tổng thống Slobodan Milosevic, một người gốc Serbia theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã cai trị đất nước này cả một thập niên rồi. Chính sự hiếu chiến của ông ta đã dẫn tới tình trạng phân rã đầy chết chóc của nước Nam Tư. Những trò gian lận quá lộ liễu trong cuộc bầu phiếu đã làm dân chúng tức giận, dẫn đến cao điểm vào ngày 5 tháng 10 khi hàng trăm ngàn dân chúng tràn ngập thủ đô Belgrade. Cuộc nổi dậy đã được đặt tên là "Cuộc Cách Mạng Xe Ủi Đất" sau khi một công nhân lái chiếc xe bốc hàng hạng nặng của anh ta đâm vào văn phòng đài truyền hình quốc gia, mở đường cho người biểu tình chiếm giữ đài này. Ông Milosevic, tức nhân vật trong tấm bích chương đang bị người biểu tình dẫm lên trong hình, từ nhiệm hai ngày sau đó.
Cuộc Cách Mạng Hồng, Georgia, 2003

Image
Cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11 năm 2003 đã bị các quan sát viên quốc tế lên án là đầy rẫy những gian lận. Kết luận này dẫn đến những cuộc biểu tình khổng lồ tại Tbilisi để đòi dân chủ và phản đối ông Eduard Shevardnadze, một cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao của Liên Bang Sô Viết và đã giữ chức Tổng Thống của nước Georgia độc lập được tám năm.
Chỉ trong vòng vài tuần lễ, ông Shevardnadze nhượng bộ và từ nhiệm, mở đường cho việc bầu chọn ông Mikheil Saakashvili - một người thân Tây Phương - lên làm Tổng Thống vào năm 2004. Kể từ đó, ông Saakashvili, một người bị lắm khen chê và còn bị xem là mị dân, cũng đã phải hứng chịu nhiều chỉ trích từ dân chúng.
Cuộc Cách Mạng Cam, Ukraine, 2004

Image
Lên tinh thần từ các biến cố tại nước láng giềng Georgia, những nhà hoạt động và dân chúng Ukraine bắt đầu biểu tình tràn ngập những khu chính yếu của thủ đô Kiev vào tháng 11 năm 2004. Hành động này nhằm phản đối những gian lận bầu cử của phe ứng viên thân Nga, ông Viktor Yanukovych, trong cuộc chạy đua vào ghế tổng thống với ứng viên thân Tây Phương, ông Viktor Yushchenko. Cuộc bầu cử này cũng phản ảnh sự phân rẽ giữa nửa nước miền Đông có nhiều di dân Nga sinh sống và nửa nước miền Tây của đại khối dân Ukraine. Trong cuộc vận động tranh cử trầy trụa trước đó, người ta tin là ông Yushchenko đã bị đầu độc bằng chất dioxin. Ông Yushchenko thoát chết nhưng việc mưu sát đen tối đó càng làm tình hình nóng bỏng hơn. Cuối cùng, các cuộc biểu tình đã ép phải tổ chức lại cuộc bầu cử. Và lần này, ông Yushchenko đã thắng một cách dễ dàng. Nhưng Cuộc Cách Mạng Cam sau đó đã để mất động lượng, và trong cuộc đầu phiếu vào năm 2010 ông Yanukovych đã trở lại nắm quyền.
Cuộc Cách Mạng Tuyết Tùng (cây Cedar), Lebanon, 2005

Image
Ngày 14 Tháng 2, 2005, đoàn xe của ông Rafig Hariri, người từng làm thủ tướng 2 lần và có nhiều ảnh hưởng tại Lebanon, bị đặt bom nổ tung. Vụ ám sát này làm rúng động Lebanon, một quốc gia với nhiều chủng tộc, tôn giáo và khuynh hướng chính trị. Cả nước rơi vào tình trạng khủng hoảng. Ngay sau đó, hàng mấy chục ngàn người biểu tình, tin rằng Syria đã nhúng tay vào vụ ám sát, đã kéo về thủ đô Beirut để phản đối Tổng Thống thân Syria là Emile Lahoud, cũng như phản đối sự hiện diện của quân đội Syria trên đất Lebanon. Mặc dù cuộc Cách mạng Cedar thành công trong việc buộc quân đội Syria phải rút khỏi Lebanon và đưa con trai của ông Hariri lên nắm quyền, nhưng cuộc cách mạng này vẫn không đủ để làm suy yếu phe cánh được xem là người đứng sau vụ ám sát Thủ Tướng Hariri. Đó là nhóm cực đoan Shi’ite Hezbollah. Nhóm này vẫn được sự ủng hộ đáng kể của quần chúng. Vào đầu năm 2011, khi có kết quả điều tra về sự liên hệ của một số thành viên Hezbollah với vụ ám sát, nhóm này rút ra khỏi liên minh cầm quyền. Trong bức hình trên, người biểu tình cầm chân dung của ông Hariri (mặc áo vét) và những thân nhân mà họ cho biết đã bị thủ tiêu trong các nhà tù Syria.

Cuộc Cách Mạng Hoa Tulip, Kyrgyzstan, 2005

Image

Sau khi được độc lập vào năm 1991, Kyrgyzstan, một quốc gia nhỏ bé ở Trung Á, cũng giống như các nước cựu cộng hòa Sô Viết khác, bị cai trị bởi một nhà độc tài có gốc cán bộ cộng sản cao cấp thời Liên Xô. Chế độ của Tổng Thống Askar Akayev, mặc dù thoạt đầu được ưa thích, dần dần bị mất lòng dân khi ngày càng trở nên tham nhũng và nặng tay trấn áp. Các cáo buộc gian lận bầu cử trong tháng 2 năm 2005 dẫn đến các cuộc bạo loạn và biểu tình trong tháng sau đó. Cuộc cách mạng Hoa Tulip đã ép được ông Akayev (có chân dung bị xé rách trong bức hình) phải chạy trốn khỏi nước và dẫn đến việc hình thành của một chính phủ mới với những hứa hẹn về minh bạch và dân chủ. Nhưng đó chỉ là những lời hứa suông. Năm 2010, dân chúng lại phải biểu tình để lật đổ Tổng Thống Kurmanbek Bakiyev. Ông Bakiyev là người từng có những phát biểu cấp tiến, nhưng sau đó cũng tỏ ra độc đoán y như người tiền nhiệm của ông. Tình hình chính trị tại Kyrgyzstan vẫn còn rất mong manh.

Cuộc Cách Mạng Vàng Nghệ (màu áo Saffron), Miến Điện, 2007

Image
Cuộc sống của người dân bình thường đã quá khổ tại Miến Điện, một trong những nước nghèo, và áp bức nhất thế giới. Việc nhà nước tăng giá nhiên liệu năm 2007 đã vượt quá sức chịu đựng của người dân và dẫn đến một cuộc nổi dậy táo bạo nhưng bất bạo động để chống lại nhóm quân phiệt cầm quyền. Trong khoảng hơn một tuần vào tháng 9, hàng ngàn nhà sư của đất nước này, mặc xà-rông màu vàng nghệ, đi biểu tình ngoài đường phố tại nhiều thành phố trên cả nước. Họ đã được sự tham gia của vô số người Miến Điện bình thường. Nhưng sự hiện diện của các vị cao tăng vẫn không cản được tính hung hãn của các tướng lãnh. Một cuộc đàn áp tàn nhẫn đã diễn ra để giải tán các cuộc biểu tình. Số người bị giết, theo Liên Hiệp Quốc, là 31 người, nhưng các nhóm nhân quyền cho rằng số người chết cao hơn nhiều. Mặc dù cuộc xuống đường đã tạo nhiều sự vui mừng trên khắp thế giới, nhưng cuộc Cách Mạng Vàng Nghệ đã không đủ để tháo gỡ bàn tay kềm kẹp của chế độ quân phiệt tại Miến Điện.

Cuộc Cách Mạng Xanh, Iran, 2009

Image
Không khí vận động cho kỳ bầu cử tổng thống năm 2009 ở Iran đã tạo nhiều vui mừng và hy vọng — Một bằng chứng hùng hồn về ước vọng dân chủ tại một nước Hồi giáo. Tuy nhiên, kết quả sau đó cho thấy đường đi đến đích còn xa lắm. Đương kim Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad đã thẳng tay gian lận để chiến thắng đối thủ mạnh nhất của ông là Mir-Hossein Mousavi. Hàng triệu dân chúng mặc quần áo màu xanh, tức là màu của nhóm vận động bầu cử Mousavi, tụ tập trên toàn quốc, phối hợp các cuộc biểu tình của họ qua các phương tiện kết nối xã hội như Twitter. Tuy nhiên, giới lãnh đạo tại Tehran đã trấn áp tàn bạo, vây bắt các nhà bất đồng chính kiến và cho lực lượng dân phòng Basij cầm dùi cui và những vũ khí khác xông vào hàng ngũ đoàn biểu tình. Các nhà bất đồng chính kiến cho biết tổng số tử vong hơn cả trăm người. Tuy nhiên, Ahmadinejad vẫn ngang nhiên làm Tổng thống Iran. Ông Mousavi (mà người phụ nữ đang cầm trong hình vào năm 2009) tiếp tục tranh đấu tại Iran và có thể bị truy tố cùng với những nhân vật đối lập khác.
Cuộc Cách Mạng Hoa Lài, Tunisia, 2011

Image
Vào ngày 17 tháng 12 năm 2010, một sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thất nghiệp đã tự thiêu tại trung tâm một thị trấn ở Tunisia. Đây là hành động phản đối của anh trước tình trạng bí lối tương lai của giới trẻ. Sau đó, ông đã qua đời vì thương tích quá nặng. Tuy nhiên, cái chết của anh đã không trở nên vô nghĩa, nhưng đã dấy lên làn sóng biểu tình trong nhiều tuần lễ, để sau cùng, ép được nhà độc tài lâu năm tại Tunisia, Tổng thống Zine el Abidine Ben Ali, phải từ chức và chạy trốn khỏi nước vào ngày 14 tháng 1 năm 2011. Các cuộc biểu tình phần lớn khởi đầu vì các lo lắng về kinh tế nhưng đã dần dần chuyển sự phẫn nộ của toàn dân vào giới quan chức tham nhũng của chế độ Ben Ali. Mặc dù còn quá sớm để phán quyết về kết quả, nhưng một số nhà bình luận đã ca ngợi các biến cố tại Tunisia như khởi điểm tốt cho cuộc cải cách dân chủ rộng khắp thế giới Ả Rập.

Nguồn: http://www.time.com/time/photogallery/0 ... 06,00.html

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

GS Phạm Công Thiện: Ra đi An Lạc Trong Thiền Định

Image
Nhà Thơ, Giáo Sư Phạm Công Thiện tại Tòa Soạn Việt Báo. (Hình Việt Báo, chụp vào tháng 11 năm 2009.)

WESTMINSTER (VB) -- Theo Cáo Bạch của GHPGVNTNHK ngày 9 tháng 3 và Khấp Báo của gia đình ngày 10 tháng 3, Thi Sĩ, Giáo Sư Phạm Công Thiện, Pháp Danh Nguyên Tánh, đã mãn phần vào lúc 6 giờ 30 phút chiều ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại tư gia, Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

Theo Wikipedia bản tiếng Việt, và một số tài liệu từ các bài viết về ông trên sách báo và trang mạng, Giáo Sư Phạm Công Thiện sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho. Ông là một thiên tài về ngôn ngữ học. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, Đức, Phạn, Latinh, Tây Tạng, v.v... Năm 16 tuổi ông đã xuất bản cuốn Tự Điển Anh Ngữ Tinh Âm, và dạy Anh ngữ tại nhiều trường ở Sài Gòn.
Ông sinh ra trong một gia đình Thiên Chúa Giáo rất thuần thành. Nhưng, sau khi theo đạo Phật ông đã chuyển hóa nhiều thân nhân trong gia đình quy y theo Phật. Ông có người em trai cũng quy y với Hòa Thượng Thích Trí Thủ với Pháp Danh là Thích Nguyên Văn, hiện sống tại Úc. Các người con của ông đều quy kính và tin Tam Bảo.

Năm 1963, sau “một cuộc khủng hoảng tinh thần,” theo ông kể, ông đã ra Phật Học Viện Hải Đức tại Nha Trang xin xuất gia với Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Giám Viện PHV Hải Đức lúc bấy giờ. Ông được Hòa Thượng Thích Trí Thủ ban cho Pháp Danh là Nguyên Tánh. Cũng trong thời gian này ông chuyên tâm nghiên cứu về Phật Học và viết cuốn sách về Phật đầu tiên là “Tiểu Luận Về Bồ Đề Đạt Ma,” năm 22 tuổi.

Năm 1966, Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, mời ông về dạy và giúp phát triển hệ thống giáo dục cao cấp đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam. Về Vạn Hạnh, ông đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Vạn Hạnh, từ năm 1966 tới năm 1970. Và cũng thời gian này ông đảm nhận chức vụ Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn của Vạn Hạnh. Ông cũng là một trong những vị sáng lập và chủ trương Tạp Chí Tư Tưởng của Đại Học Vạn Hạnh, tờ báo đã trở thành biểu tượng tri thức sáng chói một thời của Miền Nam trước năm 1975.

Năm 1970, ông rời Việt Nam và sống tại các nước Israel, Đức rồi Pháp. Thời gian này ông tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne ở Pháp. Sau đó làm giảng sư thực thụ về Triết Học Tây Phượng tại Đại Học Toulouse ở Pháp. Và cũng trong thời gian này ông lập gia đình.
Năm 1983, Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Trú Trì Chùa Việt Nam, Los Angeles, bảo lãnh ông sang Mỹ. Tại đây ông giảng dạy Phật Học tại Trường Đại Học Đông Phương và nhiều Học Viện Phật Giáo khác tại California, Hoa Kỳ.
Năm 1996, ông được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, thỉnh cử vào chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa.

Từ năm 2005 đến nay, ông dời về sống tại Thành Phố Houston, Texas. Thỉnh thoảng ông sang Nam California để nhập thất tại Chùa Viên Thông, Thành Phố Bellflower.
Những năm sau này ông chuyên viết về Phật Học.
Ông tham gia vào sinh hoạt văn học rất sớm. Trước khi rời Việt Nam sang Tây, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, v.v...
Tại hải ngoại ông đã cộng tác và có bài đăng trên nhiều báo chí như Người Việt, Việt Báo, Thế Kỷ 21, v.v...
Theo lời kể của nhà thơ Lê Giang Trần, người ở kề cận khi ông qua đời, rằng ông đã biết trước giờ ra đi, nên đã dặn dò mọi việc, rồi sau đó vào thiền định, trì chú và xả bỏ báo thân vào lúc 6 giờ 30 phút chiều ngày 8 tháng 3 năm 2011.

Những tác phẩm của ông gồm có:

* Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964),
* Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965),
* Ngày sinh của rắn (1967),
* Trời tháng Tư (1966),
* Im lặng hố thẳm (1967),
* Hố thẳm của tư tưởng (1967),
* Mặt Trời không bao giờ có thực (1967),
* Bay đi những cơn Mưa Phùn (1970),
* Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988),
* Sự chuyển động toàn diện của tâm thức trong tư tưởng Phật Giáo (1994),
* Triết lý Việt Nam về sự vượt biên (1995),
* Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ Tát,
* Sáng rực khắp bốn phương Trời (1998),
* Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật Giáo (1998),
* Trên tất cả đỉnh cao là Im Lặng,
* Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử,
* Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu: Triết học là gì?,
* Đối mặt với 1000 năm cô đơn của Nietzche.
Ông cũng đã dịch một số tác phẩm như:
* Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968),
* Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968),
* Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969),
* Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969),
* Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991), v.v...
Theo Khấp Báo của gia đình, Tang Lễ của Giáo Sư Phạm Công Thiện diễn ra như sau:
Tang Lễ sẽ được thực hiện tại nhà quàn Thiện Tâm
Garden Oaks Funeral Home
13430 Bellaire Blvd,
Houston, Texas 77083 (713) 679 – 0111
- Lễ Nhập Liệm lúc 5 giờ chiều Thứ Bảy ngày 12/3/2011
- Lễ Hoả táng lúc 1:30 chiều Chủ Nhật ngày 13/3/2011.
Thay mặt Tang quyến thành kính khấp báo
Phạm Phong Sương
Điện thoại liên lạc: (281) 292 - 7489 hay (714) 757 - 6434.

Tại Nam Cali, một buổi lễ cầu siêu cho Giáo Sư Phạm Công Thiện sẽ được tổ chức vào lúc 11 sáng Chủ Nhật, ngày 13 tháng 3 năm 2011, tại Chùa Viên Thông, 15933 Clark Avenue, Bellflower, CA 90706. Tel. (562) 867-8929.

Post Reply