Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
PHIẾM - TỘI NGHIỆP CHO LOÀI CHÓ
Mỗi khi người Việt chúng ta muốn trêu chọc, bôi nhọ hoặc nguyền rủa ai thì thường lấy một vài tật xấu gia súc để ‘nói hành nói tỏi’ nhằm hạ uy tín đối phường hoặc ‘xả xú báp’ trả thù cho hả giận. Đa số trường hợp người ta xử dụng vài tỉnh từ, danh từ, và đôi khi động từ, để ghép trước hoặc sau tên các loài gia súc từ những chữ như : Ngu Như Bò, Dơ Như Heo…đến Đồ Mắc Đẻ (Gà) , Đố Nuốt Giây Thung (Gà), Đồ Vịt Đẹt, Đồ Khỉ (Khỉ không thuộc loại gia súc nhưng gần gủi với con người hơn các thú rừng khác), Đồ Dê Xồm, Đồ Heo Nọc…và nặng hơn nữa là Đồ Đỉ Ngựa, Đồ Súc Sanh, Đồ Chó Má, Đồ Chó Đẻ !. Cuối cùng người ta còn mượn các động từ để diễn tả động tác không mấy đẹp như Đi Hí (ngựa), Làm Trò Khỉ, Làm Trò Heo để ám chỉ các ông bà hay xí xọn, học đòi bắt chước hay có tính dâm ô.
Nhưng kể ra thì tội cho những con vật nầy. Giống nào cũng có một ít tật bẫm sinh như : Bò to đầu nhưng ngu hơn các loại sinh súc khác, Vịt với cái đuôi (đít vịt) di chuyển lắc lư chậm chạp, Heo luôn luôn dơ và Dê thì đã hôi lại còn ham dâm nữa…Nhưng ông Trời khi sanh ra gia súc, mục đích là phục vụ bao tử nhân loại, nên Ngài cho phép duy trì việc nòi giống một cách tự nhiên như một bổn phận của loài gia cầm. Người ta thường nuôi heo nái để sinh con vì heo đẻ không hạn chế số lượng, còn dê cái thì ngoài việc lấy sữa còn bị lóc da và xẻ thịt. Giống dê thường ham vui nên dê cái nằm ổ xoành xoạch và không hạn chế thời gian. Nói về heo, con nào ‘nọc’ tốt thì được chọn để bán giống như chúng ta thường thầy ở quê nhà Việt Nam. Hình ảnh thường bắt gặp những chú heo đi bán dâm, chúng được người dắt mối đẩy vào chuồng để làm tình thoải mái với những chị heo nái đang trong mùa rững mỡ. Hoặc tại các trại chăn nuôi, anh dê nào tốt ‘củ’ dai sức thì chủ cho làm trưởng đàn để trị gia và làm bổn phận giới mày râu. Cứ về các trại sẽ thấy, mỗi sáng các anh dê đứng ở cửa, chị nào muốn đi ra khỏi chuồng thì phải đóng mãi lộ. Nhưng số phận của các chàng heo và dê cũng khác gì nhau, anh nào hết khả năng, vừa đến một độ tuổi nào đó thì bị đưa vào nhà máy để bị xẻ thịt hoặc lột da đưa ra chợ.
Chuyện làm tình có thể gọi là ‘nghề nghiệp’ vì các chàng được mang danh heo nọc nầy phải hành nghề bán dâm tận lực để chủ thu tiền. Nhất là vào mùa động cởn, các anh phải đi khách có ngày năm bảy ‘lượt’ từ làng trên xuống làng dưới. Riêng với các anh dê trẻ, gác cửa làm phận sự là nhiệm vụ mỗi ngày, do đó loài dê đực bị mang tiếng với hai danh từ Dê Xồm hay Dê Cụ. Theo nhiều người, chữ Dê Xồm có vẽ đúng, vì chàng nào cũng có râu, sung sức và dưới bụng là ‘một bầu tâm sự’ vĩ đại rất quyến rũ đối với các chị cái. Còn chữ Dê Cụ thì oan cho mấy con dê già, vì khi lên đến hàng cụ, không còn hơi sức để làm ăn nữa thì chủ trại chẳng thương tiếc gì mà cho lột da xẻ thịt.
Loài gia súc là những động vật đáng thương, chúng sống chung đụng và phục vụ công việc hằng ngày cho con người như trâu, bò và ngựa (cày bừa và kéo xe), chó, (dẫn người mù, giữa nhà, chăn trâu, chăn cừu), mèo (bắt chuột) nhưng rồi cuối cùng cũng bị con người cho vô nồi nhằm phục vụ bao tử như các loài gia súc vô tích sự khác (Gà bươi bếp, heo chỉ biết ăn và đẻ). Như vậy, con người đem bò, gà, vịt, heo, dê ra bêu xấu nhưng cũng không có gì đáng gọi là xúc phạm trầm trọng đối với giới gia súc nầy. Vì mỗi thú không ít thì nhiều cũng mang hình ảnh và tính xấu của từng loài một. Riêng về ngựa, nhiều người không hiểu tại sao và lý do gì mà gán cho loài ngựa ba chữ quá nặng Đồ Đỉ Ngựa ! Thật ra loài ngựa, nếu đã thuần tính thì thật dễ thương, có chỗ nào xấu đâu để bị ví như các bà mất nết, lăng loàn và dâm dật ! Có phải oan cho loài ngựa không ?
Thôi đành chấp nhận thân phận gia súc với những hình ảnh người đời đã gán cho nhu heo bò gà vịt…..nhưng lại có nhiều phản đối với những câu quá nặng nề dành cho loài chó như Đồ Chó, Đồ Chó Đẻ ! Đối với chó không phải tội nghiệp mà thật oan ức và bất công cho loài động vật dễ thương nầy. Các xứ Á Châu người ta xem thường loài chó, nhưng ngược lại, chó chiếm một địa vị quan trọng trong xã hội Âu-Mỹ. Chúng được xếp sau trẻ con, đàn bà nhưng hân hạnh đứng trước cả đàn ông ! Chó ở Tây phương được các bà đầm tay bồng tay ấp, ngày ăn đồ hộp, tối ngủ chung giường với người, đau ốm có bệnh viện chăm sóc, chết được chôn trong các nghĩa trang giàu sang dành riêng cho loài đi bốn chân. Ai đánh đập đều bị phạt và nhất là thiến dái và trụng nước sôi cạo lông thì ra toà lãnh án gở lịch chứ không phải như tại Việt Nam và Tàu, chó chỉ là một món ăn khoái khẩu. Người ta xẻ thịt chó treo bán ngay tại các lề đường, trong chợ hay ngay các quán ăn tại thành phố lớn. Đó là khác biệt thân phận của loài chó cũng lối đối xử giữa người và chó giữa Đông và Tây.
Thử đặt câu hỏi tại sao người đời dùng danh từ Đồ Chó Đẻ để đích danh nói về một người nào đó ? Có lẽ quan niệm xưa của người Á Châu, cái gì xấu xa, tồi bại và khốn nạn nhất thì dành cho loài chó, nên một khi muốn mạt sát ai thì rủa chưởi hạng người nầy là do chó đẻ ra ! Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, cần phải đổi lại để ‘minh oan’ cho loài chó và nếu muốn mạt sát nhóm người đê tiện hèn hạ đúng vị trí của nó thì phải dùng một danh từ khác có lẽ thích hợp hơn.
Thật vậy, chó là một gia súc thông minh, hữu ích và nhất là trung thành. Lòng trung thành của loài cho vượt hẳn lên tất cả các loài động vật và nhất là con người. Điều nầy thật đúng, vì con người đa số gian hiểm, phản bội, lừa thầy phản bạn, ăn cháo đá bát, có mới nới cũ. Người ta thường thấy bạn bè thân thiện, vợ chồng lấy nhau đa số vì tiền vì danh vọng, nhưng một khi sa cơ thất thế thì chia tay và hãm hại nhau không thương tiếc. Trong lịch sử Việt Nam, chỉ cần một số tiền ban phát từ tay kẻ thù, chúng đã thi hành lệnh giết hại và huênh hoang vui mừng chiến thắng trên thân xác người chủ. Ngoài ra chó không cắp sách đến trường, không học đạo lý thánh hiền, không có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng biết sống có tình có nghĩa, trọng lẽ phải và đối xử sòng phẳng với nhau. Nếu tức giận thì kéo nhau ra sân cắn lộn một chầu xong đâu cũng vào đó, không thù hận, không ân oán trọn đời như loài người chúng ta…Hơn nữa một khi được vào một gia đình nào, chó không bao giờ lựa chọn hay khen chê giàu sang thấp hèn mà chấp nhận hiến thân trọn đời cho chủ. Cao lương mỹ vị hằng ngày hay khoai sắn qua bữa cũng không phải là đích để trung thành hay bỏ nhà ra đi. Chưa ai thấy chó từ bỏ chủ vì chủ nghèo, làm ăn thất bại, gặp hoạn nạn hoặc tù tội đi tù như loài người chúng ta ! Như vậy phải công nhận rằng, người nào có phước lắm mới hân hạnh được làm kiếp chó đẻ !
Trong cộng đồng người ta thường gọi thành phần phản bội, lật lọng, tráo trở, đâm cha giết chú…cũng như những thành phần cò mồi hoặc những tên mang nick name đánh phá người Quốc Gia, kêu gọi hòa giải hòa hợp với cộng sản hoặc về Việt Nam bưng bô cho việt cộng là…đồ chó đẻ. Điều nầy hoàn toàn sai, cần phải xét lại vì chúng nó không xứng đáng để được làm con của loài chó. Hơn nữa, chó đâu thèm đẻ những loại người nầy mà chó thì đẻ ra chó, vì chó con vẫn còn giá trị và hữu ích cho xã hội hơn những tên mất gốc, chạy theo kẻ thù và đâm sau lưng người Việt Quốc Gia nầy !
Ngày nay, toàn thế giới đều lên án cộng sản, vì cộng sản là một tập hợp khốn nạn nhất của xã hội, là tụ điểm xấu xa, tồi tệ, bất nhân, láo khoét, bịp bợm, tham nhũng, trộm cướp… Cộng sản chính là tội phạm của thế giới cần phải tận diệt để đem lại an bình hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại. Như vậy nên gọi thành phần nằm vùng, hòa giải hòa hợp, bưng bô cho cộng sản cũng như những tên mang nick name đánh phá cộng đồng là Đồ Cộng Sản Đẻ. Như vậy mới thật là chính xác.
Đinh Lâm Thanh
Mỗi khi người Việt chúng ta muốn trêu chọc, bôi nhọ hoặc nguyền rủa ai thì thường lấy một vài tật xấu gia súc để ‘nói hành nói tỏi’ nhằm hạ uy tín đối phường hoặc ‘xả xú báp’ trả thù cho hả giận. Đa số trường hợp người ta xử dụng vài tỉnh từ, danh từ, và đôi khi động từ, để ghép trước hoặc sau tên các loài gia súc từ những chữ như : Ngu Như Bò, Dơ Như Heo…đến Đồ Mắc Đẻ (Gà) , Đố Nuốt Giây Thung (Gà), Đồ Vịt Đẹt, Đồ Khỉ (Khỉ không thuộc loại gia súc nhưng gần gủi với con người hơn các thú rừng khác), Đồ Dê Xồm, Đồ Heo Nọc…và nặng hơn nữa là Đồ Đỉ Ngựa, Đồ Súc Sanh, Đồ Chó Má, Đồ Chó Đẻ !. Cuối cùng người ta còn mượn các động từ để diễn tả động tác không mấy đẹp như Đi Hí (ngựa), Làm Trò Khỉ, Làm Trò Heo để ám chỉ các ông bà hay xí xọn, học đòi bắt chước hay có tính dâm ô.
Nhưng kể ra thì tội cho những con vật nầy. Giống nào cũng có một ít tật bẫm sinh như : Bò to đầu nhưng ngu hơn các loại sinh súc khác, Vịt với cái đuôi (đít vịt) di chuyển lắc lư chậm chạp, Heo luôn luôn dơ và Dê thì đã hôi lại còn ham dâm nữa…Nhưng ông Trời khi sanh ra gia súc, mục đích là phục vụ bao tử nhân loại, nên Ngài cho phép duy trì việc nòi giống một cách tự nhiên như một bổn phận của loài gia cầm. Người ta thường nuôi heo nái để sinh con vì heo đẻ không hạn chế số lượng, còn dê cái thì ngoài việc lấy sữa còn bị lóc da và xẻ thịt. Giống dê thường ham vui nên dê cái nằm ổ xoành xoạch và không hạn chế thời gian. Nói về heo, con nào ‘nọc’ tốt thì được chọn để bán giống như chúng ta thường thầy ở quê nhà Việt Nam. Hình ảnh thường bắt gặp những chú heo đi bán dâm, chúng được người dắt mối đẩy vào chuồng để làm tình thoải mái với những chị heo nái đang trong mùa rững mỡ. Hoặc tại các trại chăn nuôi, anh dê nào tốt ‘củ’ dai sức thì chủ cho làm trưởng đàn để trị gia và làm bổn phận giới mày râu. Cứ về các trại sẽ thấy, mỗi sáng các anh dê đứng ở cửa, chị nào muốn đi ra khỏi chuồng thì phải đóng mãi lộ. Nhưng số phận của các chàng heo và dê cũng khác gì nhau, anh nào hết khả năng, vừa đến một độ tuổi nào đó thì bị đưa vào nhà máy để bị xẻ thịt hoặc lột da đưa ra chợ.
Chuyện làm tình có thể gọi là ‘nghề nghiệp’ vì các chàng được mang danh heo nọc nầy phải hành nghề bán dâm tận lực để chủ thu tiền. Nhất là vào mùa động cởn, các anh phải đi khách có ngày năm bảy ‘lượt’ từ làng trên xuống làng dưới. Riêng với các anh dê trẻ, gác cửa làm phận sự là nhiệm vụ mỗi ngày, do đó loài dê đực bị mang tiếng với hai danh từ Dê Xồm hay Dê Cụ. Theo nhiều người, chữ Dê Xồm có vẽ đúng, vì chàng nào cũng có râu, sung sức và dưới bụng là ‘một bầu tâm sự’ vĩ đại rất quyến rũ đối với các chị cái. Còn chữ Dê Cụ thì oan cho mấy con dê già, vì khi lên đến hàng cụ, không còn hơi sức để làm ăn nữa thì chủ trại chẳng thương tiếc gì mà cho lột da xẻ thịt.
Loài gia súc là những động vật đáng thương, chúng sống chung đụng và phục vụ công việc hằng ngày cho con người như trâu, bò và ngựa (cày bừa và kéo xe), chó, (dẫn người mù, giữa nhà, chăn trâu, chăn cừu), mèo (bắt chuột) nhưng rồi cuối cùng cũng bị con người cho vô nồi nhằm phục vụ bao tử như các loài gia súc vô tích sự khác (Gà bươi bếp, heo chỉ biết ăn và đẻ). Như vậy, con người đem bò, gà, vịt, heo, dê ra bêu xấu nhưng cũng không có gì đáng gọi là xúc phạm trầm trọng đối với giới gia súc nầy. Vì mỗi thú không ít thì nhiều cũng mang hình ảnh và tính xấu của từng loài một. Riêng về ngựa, nhiều người không hiểu tại sao và lý do gì mà gán cho loài ngựa ba chữ quá nặng Đồ Đỉ Ngựa ! Thật ra loài ngựa, nếu đã thuần tính thì thật dễ thương, có chỗ nào xấu đâu để bị ví như các bà mất nết, lăng loàn và dâm dật ! Có phải oan cho loài ngựa không ?
Thôi đành chấp nhận thân phận gia súc với những hình ảnh người đời đã gán cho nhu heo bò gà vịt…..nhưng lại có nhiều phản đối với những câu quá nặng nề dành cho loài chó như Đồ Chó, Đồ Chó Đẻ ! Đối với chó không phải tội nghiệp mà thật oan ức và bất công cho loài động vật dễ thương nầy. Các xứ Á Châu người ta xem thường loài chó, nhưng ngược lại, chó chiếm một địa vị quan trọng trong xã hội Âu-Mỹ. Chúng được xếp sau trẻ con, đàn bà nhưng hân hạnh đứng trước cả đàn ông ! Chó ở Tây phương được các bà đầm tay bồng tay ấp, ngày ăn đồ hộp, tối ngủ chung giường với người, đau ốm có bệnh viện chăm sóc, chết được chôn trong các nghĩa trang giàu sang dành riêng cho loài đi bốn chân. Ai đánh đập đều bị phạt và nhất là thiến dái và trụng nước sôi cạo lông thì ra toà lãnh án gở lịch chứ không phải như tại Việt Nam và Tàu, chó chỉ là một món ăn khoái khẩu. Người ta xẻ thịt chó treo bán ngay tại các lề đường, trong chợ hay ngay các quán ăn tại thành phố lớn. Đó là khác biệt thân phận của loài chó cũng lối đối xử giữa người và chó giữa Đông và Tây.
Thử đặt câu hỏi tại sao người đời dùng danh từ Đồ Chó Đẻ để đích danh nói về một người nào đó ? Có lẽ quan niệm xưa của người Á Châu, cái gì xấu xa, tồi bại và khốn nạn nhất thì dành cho loài chó, nên một khi muốn mạt sát ai thì rủa chưởi hạng người nầy là do chó đẻ ra ! Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, cần phải đổi lại để ‘minh oan’ cho loài chó và nếu muốn mạt sát nhóm người đê tiện hèn hạ đúng vị trí của nó thì phải dùng một danh từ khác có lẽ thích hợp hơn.
Thật vậy, chó là một gia súc thông minh, hữu ích và nhất là trung thành. Lòng trung thành của loài cho vượt hẳn lên tất cả các loài động vật và nhất là con người. Điều nầy thật đúng, vì con người đa số gian hiểm, phản bội, lừa thầy phản bạn, ăn cháo đá bát, có mới nới cũ. Người ta thường thấy bạn bè thân thiện, vợ chồng lấy nhau đa số vì tiền vì danh vọng, nhưng một khi sa cơ thất thế thì chia tay và hãm hại nhau không thương tiếc. Trong lịch sử Việt Nam, chỉ cần một số tiền ban phát từ tay kẻ thù, chúng đã thi hành lệnh giết hại và huênh hoang vui mừng chiến thắng trên thân xác người chủ. Ngoài ra chó không cắp sách đến trường, không học đạo lý thánh hiền, không có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng biết sống có tình có nghĩa, trọng lẽ phải và đối xử sòng phẳng với nhau. Nếu tức giận thì kéo nhau ra sân cắn lộn một chầu xong đâu cũng vào đó, không thù hận, không ân oán trọn đời như loài người chúng ta…Hơn nữa một khi được vào một gia đình nào, chó không bao giờ lựa chọn hay khen chê giàu sang thấp hèn mà chấp nhận hiến thân trọn đời cho chủ. Cao lương mỹ vị hằng ngày hay khoai sắn qua bữa cũng không phải là đích để trung thành hay bỏ nhà ra đi. Chưa ai thấy chó từ bỏ chủ vì chủ nghèo, làm ăn thất bại, gặp hoạn nạn hoặc tù tội đi tù như loài người chúng ta ! Như vậy phải công nhận rằng, người nào có phước lắm mới hân hạnh được làm kiếp chó đẻ !
Trong cộng đồng người ta thường gọi thành phần phản bội, lật lọng, tráo trở, đâm cha giết chú…cũng như những thành phần cò mồi hoặc những tên mang nick name đánh phá người Quốc Gia, kêu gọi hòa giải hòa hợp với cộng sản hoặc về Việt Nam bưng bô cho việt cộng là…đồ chó đẻ. Điều nầy hoàn toàn sai, cần phải xét lại vì chúng nó không xứng đáng để được làm con của loài chó. Hơn nữa, chó đâu thèm đẻ những loại người nầy mà chó thì đẻ ra chó, vì chó con vẫn còn giá trị và hữu ích cho xã hội hơn những tên mất gốc, chạy theo kẻ thù và đâm sau lưng người Việt Quốc Gia nầy !
Ngày nay, toàn thế giới đều lên án cộng sản, vì cộng sản là một tập hợp khốn nạn nhất của xã hội, là tụ điểm xấu xa, tồi tệ, bất nhân, láo khoét, bịp bợm, tham nhũng, trộm cướp… Cộng sản chính là tội phạm của thế giới cần phải tận diệt để đem lại an bình hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại. Như vậy nên gọi thành phần nằm vùng, hòa giải hòa hợp, bưng bô cho cộng sản cũng như những tên mang nick name đánh phá cộng đồng là Đồ Cộng Sản Đẻ. Như vậy mới thật là chính xác.
Đinh Lâm Thanh
Tàu sân bay Trung Quốc 'đạt mục tiêu'
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc đã "đạt được mục tiêu đề ra" trong cuộc chạy thử hồi đầu tháng, Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm qua cho biết.

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Ảnh: AFP. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân hôm qua cho hay hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này đã trở về cảng Đại Liên để tiếp tục được tân trang và thử nghiệm, Xinhua đưa tin. Ông Dương không cho biết những "mục tiêu đề ra" trong cuộc chạy thử đầu tiên của tàu sân bay là gì.
Cuộc chạy thử tàu sân bay hồi đầu tháng trước diễn ra giữa thời điểm căng thẳng về vấn đề lãnh hải lên cao, đặc biệt là khu vực Biển Đông. Đây là khu vực giàu tài nguyên mà Trung Quốc và bốn nước ASEAN cùng tuyên bố chủ quyền chồng lấn.
Phát ngôn viên Dương Vũ Quân cho hay chiến lược phòng thủ ven bờ của Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) và bản chất phòng thủ trong chính sách quốc phòng không hề thay đổi mặc cho nước này phát triển những loại vũ khí hiện đại.
PLA - lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới - luôn rất bí mật về chương trình phòng thủ của họ. Lực lượng này được đầu tư lớn nhờ ngân quỹ nhờ phát triển kinh tế vượt bậc của quốc gia này. Hồi đầu năm, Trung Quốc tuyên bố tăng chi tiêu cho quốc phòng thêm 12,7% lên tới 91,7 triệu USD trong năm 2011. Hồi tháng giêng, Bắc Kinh tiết lộ đang phát triển máy bay tàng hình. Họ cũng đang hoàn thành tên lửa có thể xuyên thủng tàu sân bay Mỹ.
Mới đây, Nhật Bản tỏ ra quan ngại về cái họ gọi là "sự mập mờ" trong chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc. Lầu Năm Góc Mỹ cũng kêu gọi Bắc Kinh giải thích tại sao nước này cần tàu sân bay.
Nguyên bản chiếc tàu sân bay Trung Quốc được Liên Xô khởi công đóng từ năm 1985. Sau khi chuyển giao cho Ukraina, con tàu nằm "đắp chiếu" do thiếu kinh phí hoàn thiện và cuối cùng phải bán thanh lý bộ khung sườn cho Trung Quốc. Năm 2002 nó được kéo và cảng Đại Liên và thay vì biến thành khách sạn nổi như kế hoạch, nó được quân đội Trung Quốc hoàn thiện để trở thành một tàu sân bay như thiết kế nguyên thuỷ.
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc đã "đạt được mục tiêu đề ra" trong cuộc chạy thử hồi đầu tháng, Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm qua cho biết.

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Ảnh: AFP. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân hôm qua cho hay hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này đã trở về cảng Đại Liên để tiếp tục được tân trang và thử nghiệm, Xinhua đưa tin. Ông Dương không cho biết những "mục tiêu đề ra" trong cuộc chạy thử đầu tiên của tàu sân bay là gì.
Cuộc chạy thử tàu sân bay hồi đầu tháng trước diễn ra giữa thời điểm căng thẳng về vấn đề lãnh hải lên cao, đặc biệt là khu vực Biển Đông. Đây là khu vực giàu tài nguyên mà Trung Quốc và bốn nước ASEAN cùng tuyên bố chủ quyền chồng lấn.
Phát ngôn viên Dương Vũ Quân cho hay chiến lược phòng thủ ven bờ của Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) và bản chất phòng thủ trong chính sách quốc phòng không hề thay đổi mặc cho nước này phát triển những loại vũ khí hiện đại.
PLA - lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới - luôn rất bí mật về chương trình phòng thủ của họ. Lực lượng này được đầu tư lớn nhờ ngân quỹ nhờ phát triển kinh tế vượt bậc của quốc gia này. Hồi đầu năm, Trung Quốc tuyên bố tăng chi tiêu cho quốc phòng thêm 12,7% lên tới 91,7 triệu USD trong năm 2011. Hồi tháng giêng, Bắc Kinh tiết lộ đang phát triển máy bay tàng hình. Họ cũng đang hoàn thành tên lửa có thể xuyên thủng tàu sân bay Mỹ.
Mới đây, Nhật Bản tỏ ra quan ngại về cái họ gọi là "sự mập mờ" trong chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc. Lầu Năm Góc Mỹ cũng kêu gọi Bắc Kinh giải thích tại sao nước này cần tàu sân bay.
Nguyên bản chiếc tàu sân bay Trung Quốc được Liên Xô khởi công đóng từ năm 1985. Sau khi chuyển giao cho Ukraina, con tàu nằm "đắp chiếu" do thiếu kinh phí hoàn thiện và cuối cùng phải bán thanh lý bộ khung sườn cho Trung Quốc. Năm 2002 nó được kéo và cảng Đại Liên và thay vì biến thành khách sạn nổi như kế hoạch, nó được quân đội Trung Quốc hoàn thiện để trở thành một tàu sân bay như thiết kế nguyên thuỷ.
Chuyện về một hầu bàn người Nhật
Tác giả: Nguyễn Quang Thiều
Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật.
Cả lượt đi và về Hà Nội - Boston và Boston - Hà Nội, tôi đều quá cảnh ở sân bay Narita, Tokyo chừng dăm tiếng đồng hồ. Khi mua vé, một số người khuyên đừng đi qua Nhật vì có thể bị nhiễm phóng xạ. Nhưng có lẽ vì tôi đã quá cảnh Tokyo nhiều lần rồi nên thành thói quen và cũng thấy nhớ. Và thú thực, tôi cũng muốn được quan sát nước Nhật đang sống như thế nào sau cơn " tiểu hồng thủy" mới tràn qua cho dù chỉ ở một trong không gian nhỏ là một sân bay. Báo chí đã nói về bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau thảm họa sóng thần cũng như bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau khi người Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất nước này. Và cả bản lĩnh của người Nhật ngay khi dân tộc họ trở thành một trong những dân tộc giàu có nhất thế giới.
Ở nhiều nơi trong khu vực sân bay Narita, người ta có dán một tờ giấy với nội dung nước Nhật đang gặp khó khăn sau thảm họa sóng thần nên thiếu năng lượng, vì vậy quản lý sân bay xin lỗi hành khách khi hệ thống điều hòa trong khu vực sân bay không thể phục vụ hành khách như trước kia. Lúc đầu không nhìn thấy lời xin lỗi đó, tôi tỏ ra khó chịu với sự nóng bức trong sân bay sau một chuyến bay quá dài. Nhưng khi đọc được lời xin lỗi đó thì tôi lại thầm xin lỗi những người Nhật. Lúc đó, tôi thấy mình thật ích kỷ. Sống tử tế thật khó. Có lẽ chỉ khi chết rồi con người mới có thể tuyên bố rằng mình đã sống hoàn toàn tử tế.
Tôi là kẻ nghiện thuốc lá. Bởi thế, xuống đến sân bay là tôi đảo mắt kiếm tìm phòng hút thuốc. Cho đến bây giờ, chỉ ở Mỹ là tôi không tìm thấy phòng hút thuốc trong sân bay còn tất cả các sân bay tôi đã từng qua đều có phòng hút thuốc. Nhưng chưa ở đâu, phòng hút thuốc trong sân bay lại rộng, đẹp và sạch như ở sân bay Narita. Tất cả mọi thứ trong phòng hút thuốc ở Narita đều đẹp và sạch như là một phòng khánh tiết. Nhìn là biết những người quản lý sân bay đã quan tâm đến cái phòng hút thuốc như thế nào.
Nhưng xin bạn nhớ rằng họ quan tâm không phải vì họ khuyến khích người ta hút thuốc mà là lối sống văn hóa của họ. Hút thuốc có hại sức khỏe cho người hút thuốc và cũng có hại phần nào đó cho người bên cạnh. Nhưng không vì sự có hại đó mà người không hút thuốc tẩy chay người hút thuốc. Phép ứng xử với những người hút thuốc qua cách thiết kế và chăm sóc các phòng hút thuốc là một phép ứng xử văn hóa của những người quản lý sân bay Narita. Hút thuốc không có tội, nghĩa là không vi phạm luật pháp trừ khi anh hút thuốc ở nơi cấm hút. Và vì vậy, người hút thuốc phải được ứng xử một cách văn hóa và bình đẳng. Tôi nói vậy vì tôi thấy phòng hút thuốc ở nhiều sân bay trên thế giới giống như địa ngục. Một cái phòng nhỏ xíu chỉ dăm người vào hút thuốc là chật cứng. Những người hút thuốc chen nhau trong mù mịt khói thuốc trông thật thảm hại. Có lẽ những người quản lý ở các sân bay đó tìm cách đày đọa và sỉ nhục những người hút thuốc để cho họ phải bỏ thuốc chăng ?
Tôi còn nhớ mãi một trong những câu chuyện đau lòng trong các trại giam giữ những người Việt Nam vượt biên ở Hongkong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Cảnh sát Hongkong cai quản những trại đó đã ra lệnh những người Việt Nam vượt biên mỗi ngày mỗi người phải bắt 50 con ruồi thì mới được phát khẩu phần ăn. Đó là một sự sỉ nhục. Đó là vô lương tâm. Tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số người từ trại đó trở về. Họ đã khóc khi kể lại câu chuyện bắt ruồi để được ăn. Trước kia tôi không nghĩ đến việc bỏ thuốc lá. Nhưng khi nhìn những phòng hút thuốc ở sân bay Narita và cách những người lao công lau chùi phòng hút thuốc đã làm tôi nghĩ tới việc bỏ thuốc lá. Người ta chỉ có thể thức tỉnh con người bằng văn hóa chứ không bao giờ thức tỉnh con người bằng áp bức dưới bất cứ hình thức nào được.
Vì thời gian quá cảnh ở sân bay Narita quá dài nên chúng tôi tìm đến một quán ăn trong sân bay. Tôi gọi một bát mì hải sản. Theo trí nhớ của tôi thì giá một bát mì như vậy vẫn không có gì thay đổi sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đặc biệt sau thảm họa sóng thần. Lúc đó, nghĩ lại những cơn bão giá ở trong nước như trận đồ bát quái mà người tiêu dùng không thể tìm thấy đường thoát ra. Khi chúng tôi ngồi vào bàn thì một người hầu bàn bước đến cúi đầu chào chúng tôi và hỏi chúng tôi dùng gì. Rồi anh mang nước cho chúng tôi. Lúc đó, tôi vô tình chạm vào tay anh và làm đổ cốc nước. Nước làm ướt một chiếc giày của tôi. Trong khi tôi lúng túng chưa biết làm gì thì người hầu bàn đã nói lời xin lỗi và quỳ xuống lau chiếc giày của tôi bằng một chiếc khăn trắng tinh. Tôi thực sự bất ngờ và thấy xấu hổ. Tôi nghĩ đến cách ứng xử của những người Việt Nam ở những nơi công cộng. Người hầu bàn lau chiếc giày bị ướt của tôi kỹ lưỡng như đang lau một viên kim cương. Tôi cam chắc rằng nếu một người hầu bàn trong những quán ăn ở Việt Nam cúi xuống lau giày cho khách thì họ sẽ rất xấu hổ. Nhưng họ biết đâu rằng : chính tôi, người có chiếc giày được lau, mới là người thấy xấu hổ chứ không phải là người lau chiếc giày ấy cho tôi.
Khi ăn xong, tôi đã để lại một món tiền tip kha khá vì muốn bày tỏ sự biết ơn của mình với người hầu bàn đó. Nhưng người hầu bàn nói họ không nhận tiền tip. Một lần nữa, tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi cố tìm cách đưa tiền tip cho người hầu bàn nhưng người hầu bàn vẫn nhã nhặn từ chối. Năm 1992, trong chuyến đi đầu tiên của mình đến Mỹ, tôi có đến một quán ăn người Việt ở New York. Khi ăn xong tôi đã để 10 đô la tiền tip lại. Người hầu bàn là một người Mỹ gốc Việt đã tỏ ra vô cùng bực bội với tôi vì tôi đã không để 12 đô la mà chỉ để 10 đô la. Sau này tôi mới biết họ tính phần trăm tiền tip theo tổng giá của bữa ăn. Tôi thực sự không biết điều đó. Sao người hầu bàn kia không giải thích cho tôi? Và sao người hầu bàn kia không có thể nói: "Quý ông còn thiếu 2 đô la tiền tip theo quy định, nhưng nếu quý ông không có 2 đô la thì cũng không sao. Mong quý ông trở lại nhà hàng chúng tôi để chúng tôi được phục vụ quý ông". Nếu nói như vậy, người hầu bàn và nhà hàng của anh ta sẽ không bao giờ mất 2 đô la (vì đương nhiên tôi sẽ trả thêm) mà còn được một cái gì đó giá trị gấp ngàn lần giá trị của 2 đô la kia. Và chắc chắn những lần tới New York sau đó tôi sẽ tìm đến nhà hàng đó. Bởi có gì hạnh phúc hơn khi được trở lại một nơi chốn đã từng gieo vào lòng mình sự xúc động và kính trọng. Nhưng bây giờ, trong các nhà hàng ở Mỹ, người ta tính tiền tip vào luôn hóa đơn thanh toán. Nghe rất khoa học và sòng phẳng nhưng vẫn không ổn ở một khía cạnh nào đó.
Sau khi từ chối tiền tip, người hầu bàn hỏi chúng tôi có cần gì nữa mà anh ta có thể phục vụ chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn anh. Anh cúi đầu chào chúng tôi và bước lùi một bước mời chúng tôi đi. Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật. Họ đã từ một đất nước nghèo nàn và tan hoang vì chiến tranh trở thành một đất nước văn minh, văn hóa và giàu có. Họ không bán hàng giả, hàng độc hại, họ không dùng tiền hay vũ khí đe dọa người khác. Sự nhẫn nại trong hành động lau chiếc giày cho khách và sự chối từ tiền tip của người hầu bàn Nhật và sự nhẫn nại của người bán trứng Trung Quốc và cách ăn mì tôm của cậu sinh viên Trung Quốc hoàn toàn khác nhau.
Sự nhẫn nại của người Nhật là sự rèn luyện nhân cách, là ứng xử văn hóa, là sự tôn trọng con người và ý chí vươn lên. Sự nhẫn nại đó không chứa đựng những tham vọng ngông cuồng và những mưu mô. Cũng như người Nhật đã dạy cho con em của họ về những khó khăn mà dân tộc Nhật phải đương đầu, dạy cho mỗi người Nhật hãy bằng hành động trung thực của mình làm cho văn hóa Nhật, nhân cách Nhật cũng như giá trị những sản phẩm made in Japan lan tỏa vào lòng con người trên toàn thế giới chứ không phải là những cuộc "xâm lăng" đầy mưu tính đôi khi phi nhân và ác độc.
Tác giả: Nguyễn Quang Thiều
Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật.
Cả lượt đi và về Hà Nội - Boston và Boston - Hà Nội, tôi đều quá cảnh ở sân bay Narita, Tokyo chừng dăm tiếng đồng hồ. Khi mua vé, một số người khuyên đừng đi qua Nhật vì có thể bị nhiễm phóng xạ. Nhưng có lẽ vì tôi đã quá cảnh Tokyo nhiều lần rồi nên thành thói quen và cũng thấy nhớ. Và thú thực, tôi cũng muốn được quan sát nước Nhật đang sống như thế nào sau cơn " tiểu hồng thủy" mới tràn qua cho dù chỉ ở một trong không gian nhỏ là một sân bay. Báo chí đã nói về bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau thảm họa sóng thần cũng như bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau khi người Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất nước này. Và cả bản lĩnh của người Nhật ngay khi dân tộc họ trở thành một trong những dân tộc giàu có nhất thế giới.
Ở nhiều nơi trong khu vực sân bay Narita, người ta có dán một tờ giấy với nội dung nước Nhật đang gặp khó khăn sau thảm họa sóng thần nên thiếu năng lượng, vì vậy quản lý sân bay xin lỗi hành khách khi hệ thống điều hòa trong khu vực sân bay không thể phục vụ hành khách như trước kia. Lúc đầu không nhìn thấy lời xin lỗi đó, tôi tỏ ra khó chịu với sự nóng bức trong sân bay sau một chuyến bay quá dài. Nhưng khi đọc được lời xin lỗi đó thì tôi lại thầm xin lỗi những người Nhật. Lúc đó, tôi thấy mình thật ích kỷ. Sống tử tế thật khó. Có lẽ chỉ khi chết rồi con người mới có thể tuyên bố rằng mình đã sống hoàn toàn tử tế.
Tôi là kẻ nghiện thuốc lá. Bởi thế, xuống đến sân bay là tôi đảo mắt kiếm tìm phòng hút thuốc. Cho đến bây giờ, chỉ ở Mỹ là tôi không tìm thấy phòng hút thuốc trong sân bay còn tất cả các sân bay tôi đã từng qua đều có phòng hút thuốc. Nhưng chưa ở đâu, phòng hút thuốc trong sân bay lại rộng, đẹp và sạch như ở sân bay Narita. Tất cả mọi thứ trong phòng hút thuốc ở Narita đều đẹp và sạch như là một phòng khánh tiết. Nhìn là biết những người quản lý sân bay đã quan tâm đến cái phòng hút thuốc như thế nào.
Nhưng xin bạn nhớ rằng họ quan tâm không phải vì họ khuyến khích người ta hút thuốc mà là lối sống văn hóa của họ. Hút thuốc có hại sức khỏe cho người hút thuốc và cũng có hại phần nào đó cho người bên cạnh. Nhưng không vì sự có hại đó mà người không hút thuốc tẩy chay người hút thuốc. Phép ứng xử với những người hút thuốc qua cách thiết kế và chăm sóc các phòng hút thuốc là một phép ứng xử văn hóa của những người quản lý sân bay Narita. Hút thuốc không có tội, nghĩa là không vi phạm luật pháp trừ khi anh hút thuốc ở nơi cấm hút. Và vì vậy, người hút thuốc phải được ứng xử một cách văn hóa và bình đẳng. Tôi nói vậy vì tôi thấy phòng hút thuốc ở nhiều sân bay trên thế giới giống như địa ngục. Một cái phòng nhỏ xíu chỉ dăm người vào hút thuốc là chật cứng. Những người hút thuốc chen nhau trong mù mịt khói thuốc trông thật thảm hại. Có lẽ những người quản lý ở các sân bay đó tìm cách đày đọa và sỉ nhục những người hút thuốc để cho họ phải bỏ thuốc chăng ?
Tôi còn nhớ mãi một trong những câu chuyện đau lòng trong các trại giam giữ những người Việt Nam vượt biên ở Hongkong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Cảnh sát Hongkong cai quản những trại đó đã ra lệnh những người Việt Nam vượt biên mỗi ngày mỗi người phải bắt 50 con ruồi thì mới được phát khẩu phần ăn. Đó là một sự sỉ nhục. Đó là vô lương tâm. Tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số người từ trại đó trở về. Họ đã khóc khi kể lại câu chuyện bắt ruồi để được ăn. Trước kia tôi không nghĩ đến việc bỏ thuốc lá. Nhưng khi nhìn những phòng hút thuốc ở sân bay Narita và cách những người lao công lau chùi phòng hút thuốc đã làm tôi nghĩ tới việc bỏ thuốc lá. Người ta chỉ có thể thức tỉnh con người bằng văn hóa chứ không bao giờ thức tỉnh con người bằng áp bức dưới bất cứ hình thức nào được.
Vì thời gian quá cảnh ở sân bay Narita quá dài nên chúng tôi tìm đến một quán ăn trong sân bay. Tôi gọi một bát mì hải sản. Theo trí nhớ của tôi thì giá một bát mì như vậy vẫn không có gì thay đổi sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đặc biệt sau thảm họa sóng thần. Lúc đó, nghĩ lại những cơn bão giá ở trong nước như trận đồ bát quái mà người tiêu dùng không thể tìm thấy đường thoát ra. Khi chúng tôi ngồi vào bàn thì một người hầu bàn bước đến cúi đầu chào chúng tôi và hỏi chúng tôi dùng gì. Rồi anh mang nước cho chúng tôi. Lúc đó, tôi vô tình chạm vào tay anh và làm đổ cốc nước. Nước làm ướt một chiếc giày của tôi. Trong khi tôi lúng túng chưa biết làm gì thì người hầu bàn đã nói lời xin lỗi và quỳ xuống lau chiếc giày của tôi bằng một chiếc khăn trắng tinh. Tôi thực sự bất ngờ và thấy xấu hổ. Tôi nghĩ đến cách ứng xử của những người Việt Nam ở những nơi công cộng. Người hầu bàn lau chiếc giày bị ướt của tôi kỹ lưỡng như đang lau một viên kim cương. Tôi cam chắc rằng nếu một người hầu bàn trong những quán ăn ở Việt Nam cúi xuống lau giày cho khách thì họ sẽ rất xấu hổ. Nhưng họ biết đâu rằng : chính tôi, người có chiếc giày được lau, mới là người thấy xấu hổ chứ không phải là người lau chiếc giày ấy cho tôi.
Khi ăn xong, tôi đã để lại một món tiền tip kha khá vì muốn bày tỏ sự biết ơn của mình với người hầu bàn đó. Nhưng người hầu bàn nói họ không nhận tiền tip. Một lần nữa, tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi cố tìm cách đưa tiền tip cho người hầu bàn nhưng người hầu bàn vẫn nhã nhặn từ chối. Năm 1992, trong chuyến đi đầu tiên của mình đến Mỹ, tôi có đến một quán ăn người Việt ở New York. Khi ăn xong tôi đã để 10 đô la tiền tip lại. Người hầu bàn là một người Mỹ gốc Việt đã tỏ ra vô cùng bực bội với tôi vì tôi đã không để 12 đô la mà chỉ để 10 đô la. Sau này tôi mới biết họ tính phần trăm tiền tip theo tổng giá của bữa ăn. Tôi thực sự không biết điều đó. Sao người hầu bàn kia không giải thích cho tôi? Và sao người hầu bàn kia không có thể nói: "Quý ông còn thiếu 2 đô la tiền tip theo quy định, nhưng nếu quý ông không có 2 đô la thì cũng không sao. Mong quý ông trở lại nhà hàng chúng tôi để chúng tôi được phục vụ quý ông". Nếu nói như vậy, người hầu bàn và nhà hàng của anh ta sẽ không bao giờ mất 2 đô la (vì đương nhiên tôi sẽ trả thêm) mà còn được một cái gì đó giá trị gấp ngàn lần giá trị của 2 đô la kia. Và chắc chắn những lần tới New York sau đó tôi sẽ tìm đến nhà hàng đó. Bởi có gì hạnh phúc hơn khi được trở lại một nơi chốn đã từng gieo vào lòng mình sự xúc động và kính trọng. Nhưng bây giờ, trong các nhà hàng ở Mỹ, người ta tính tiền tip vào luôn hóa đơn thanh toán. Nghe rất khoa học và sòng phẳng nhưng vẫn không ổn ở một khía cạnh nào đó.
Sau khi từ chối tiền tip, người hầu bàn hỏi chúng tôi có cần gì nữa mà anh ta có thể phục vụ chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn anh. Anh cúi đầu chào chúng tôi và bước lùi một bước mời chúng tôi đi. Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật. Họ đã từ một đất nước nghèo nàn và tan hoang vì chiến tranh trở thành một đất nước văn minh, văn hóa và giàu có. Họ không bán hàng giả, hàng độc hại, họ không dùng tiền hay vũ khí đe dọa người khác. Sự nhẫn nại trong hành động lau chiếc giày cho khách và sự chối từ tiền tip của người hầu bàn Nhật và sự nhẫn nại của người bán trứng Trung Quốc và cách ăn mì tôm của cậu sinh viên Trung Quốc hoàn toàn khác nhau.
Sự nhẫn nại của người Nhật là sự rèn luyện nhân cách, là ứng xử văn hóa, là sự tôn trọng con người và ý chí vươn lên. Sự nhẫn nại đó không chứa đựng những tham vọng ngông cuồng và những mưu mô. Cũng như người Nhật đã dạy cho con em của họ về những khó khăn mà dân tộc Nhật phải đương đầu, dạy cho mỗi người Nhật hãy bằng hành động trung thực của mình làm cho văn hóa Nhật, nhân cách Nhật cũng như giá trị những sản phẩm made in Japan lan tỏa vào lòng con người trên toàn thế giới chứ không phải là những cuộc "xâm lăng" đầy mưu tính đôi khi phi nhân và ác độc.
Lòng tự trọng và cái phong bì_
Nguyễn Thị Từ Huy Bài này tôi viết đã lâu, theo đề nghị của một tờ báo, nhưng rồi không được sử dụng. Trong bài tôi có đưa ra một giả định mang tính giả tưởng về sự an nguy của quốc gia. Không ngờ, thật đau buồn, giờ đây điều đó hình như không còn là giả tưởng nữa, mối đe dọa đang trở thành hiện thực. Tôi đã từng rất bi quan khi viết trong một bài thơ: «Những tiếng nói gieo nơi nơi để gặt sự im lặng đóng băng trên thân xác vô hình của nó». Giá như những tiếng nói được lắng nghe, được phân tích, được sử dụng để trở thành hữu ích, thì có lẽ đã tránh được nhiều thảm họa.
Dù những tiếng nói chỉ gặt được sự im lặng đóng băng thì cũng cần phải tiếp tục nói. Vì con người xác lập nên phẩm chất người của mình cùng với khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng tư duy, khả năng nói và viết.
Nguyễn Thị Từ Huy
Lòng tự trọng là gì ? Nói một cách đơn giản, nó được hiểu như là sự tôn kính đối với tâm hồn mình. Lòng tự trọng có được nhờ ý thức về phẩm giá của bản thân, ý thức về sự trung thực, sự thanh khiết, ý thức về những phẩm chất căn bản, những phẩm chất làm nên bản thể trong tầng sâu nhất của nó. Lòng tự trọng xác lập trên sự trùng hợp giữa lời nói và hành động. Lòng tự trọng thúc đẩy các hành động cho phép thể hiện các giá trị riêng của mình, cho phép thể hiện niềm tin của bản thân. Đồng thời lòng tự trọng được xây dựng trên sức mạnh chứ không phải trên sự yếu đuối.
Như vậy, lòng tự trọng thuộc về cái mà ta gọi là tâm hồn. Tâm hồn có thức ăn riêng của nó. Và đương nhiên thức ăn đó không có gì chung với cái phong bì. Một khi tâm hồn cũng được nuôi bằng phong bì, thử hỏi cái gì chờ đợi nó, nếu không phải là cái chết của chính nó?
Từ «phong bì» hiện nay đã trở nên phổ biến đến mức không cần phải giải thích thì tất cả mọi người cũng đều hiểu đấy là loại phong bì nào. Đương nhiên đấy không phải là phong bì đựng thư. Nội dung chứa đựng trong cái phong bì ấy là thứ cho phép nó có thể mua được cái mà người đưa phong bì muốn. Nếu cần thiết phải có một sự phân biệt, thì có thể để sang một bên thứ phong bì dùng để chi trả công lao động. Hiện nay trong thời đại phát triển của công nghệ ngân hàng, nên chăng tất cả mọi khoản thù lao cho lao động được trả thẳng vào tài khoản cá nhân, để tránh sự nhập nhằng do cái hình thức phong bì gây nên. Tuy nhiên, trong thực tế, tất cả đều biết là không hề có sự nhập nhằng nào cả, tất cả đều biết rõ cái nghĩa thông dụng hiện nay của từ «phong bì».
Nếu cơ thể vật lý của con người được nuôi bằng thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng (dù gián tiếp qua thịt động vật hay rau quả), thuốc bảo quản… thì cái gì sẽ chờ đợi nó? Chúng ta vẫn mong có những thống kê của ngành y tế để biết được hiện nay tỉ lệ những người mắc bệnh ung thư và chết vì bệnh ung thư hàng năm là bao nhiêu. Cũng chờ đợi những phân tích chính xác và hữu ích về các nguyên nhân gây bệnh ung thư. Chúng ta chờ đợi những kiểm định khắt khe về những thực phẩm có khả năng gây bệnh, những gì có thể giúp người dân chúng ta phòng ngừa bệnh tật một cách hiệu quả, chứ không phải để nó xảy ra rồi chống đỡ nó một cách tuyệt vọng. Mong muốn đó hoàn toàn chính đáng, nhưng một người dân bình thường không biết tìm đâu những số liệu đó, không biết làm cách nào để có thể tin chắc rằng mình đã lựa chọn cho bữa ăn hàng ngày của mình những thực phẩm an toàn. Và rốt cuộc, bệnh ung thư ngày càng phát triển.
Nhưng điều mà ta không ngờ nhất, điều khó tin nhất, đó là: bệnh ung thư của cơ thể vật lý hiện nay đang trở nên trầm trọng trên diện rộng chính là hậu quả của căn bệnh ung thư tâm hồn. Hãy thử giải thích mối liên quan này để thấy rằng nếu trong mỗi con người, cơ thể và tâm hồn không thể tách rời, thì trong một xã hội sự phát triển và an sinh xã hội không thể tách rời khỏi nền tảng đạo đức của nó.
Nguyên do của bệnh ung thư về tâm hồn có nhiều, nhưng bài viết ngắn này chỉ tập trung vào một nguyên nhân mà thôi: cái phong bì.
Cái phong bì có thể biến những thực phẩm độc hại thành ra thực phẩm an toàn. Tại sao chứng chỉ về vệ sinh an toàn thực phẩm lại có thể được cấp cho các doanh nghiệp sản xuất không tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật chế biến ? Đương nhiên đó là nhờ cái phong bì. Một cái phong bì bỏ ra để mua chứng chỉ ấy dù nặng thì vẫn còn đỡ phức tạp và đỡ tốn kém hơn là phải cố gắng để thực hiện những quy trình phức tạp của công nghệ thực phẩm. Khi quá trình chuyển giao chứng chỉ được thực hiện trên dây chuyền phong bì như thế này, lòng tự trọng của người đưa phong bì và của người nhận phong bì đương nhiên đều đã bị biến dạng thành một thứ tế bào độc hại. Thứ tế bào độc hại này nhanh chóng phát triển thành bệnh ung thư tâm hồn và thức ăn duy nhất của nó là tiền. Người đưa phong bì vì muốn có nhiều tiền hơn mà không phải vất vả. Người nhận phong bì vì muốn có tiền mà không phải làm gì cả. Đối với cả hai bên, sự trung thực, sự tôn trọng đối với tâm hồn của chính họ, niềm tin vào hành động của họ, giá trị sống của họ, phẩm chất của họ… tất cả đều bị gói vào trong chiếc phong bì. Nói cách khác, tất cả những thứ đó đều bị chết dưới áp lực của phong bì, của cái thứ được đựng trong phong bì.
Điều nguy hiểm là căn bệnh ung thư tâm hồn không chỉ gây tác hại đối với hai đối tượng cụ thể cho và nhận phong bì trong trường hợp này, mà nó còn khiến cho hàng bao nhiêu triệu người tiêu dùng có nguy cơ mắc bệnh ung thư thực thể. Bởi vì một cái chứng chỉ dởm sẽ cho phép các chất độc hại trong thực phẩm đi vào cơ thể của hàng triệu người tiêu dùng tin tưởng vào nó.
Một khi ta để cho mầm bệnh ung thư phát triển trong chính tâm hồn mình, trong chính con người mình thì việc người khác bị bệnh ung thư hay không, không còn là vấn đề nữa. Nghịch lí này có thể đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện : trong số các bác sĩ chữa bệnh ung thư cho bệnh nhân, có những bác sĩ bị bệnh ung thư tâm hồn trầm trọng, vì họ thẳng tay nhận phong bì của bệnh nhân mà đôi khi trong thực tế họ không giúp gì được cho bệnh nhân cả, vì có những trường hợp bệnh đã ở giai đoạn cuối, và cứu chữa chỉ là đưa lại một ảo tưởng cho bệnh nhân để giúp họ vững vàng hơn về mặt tinh thần mà thôi, vậy mà có những bác sĩ đã thu phong bì cả trên những ảo tưởng này.
Cái phong bì có thể còn nguy hiểm hơn chúng ta có thể hình dung. Nó giống như một thứ virus có khả năng lây lan theo tốc độ internet, và đến khi mà mọi thứ đều giải quyết bằng phong bì thì lòng tự trọng sẽ chỉ còn là một hoài niệm của quá khứ. Một sinh viên năm thứ ba ở khoa Văn của một trường đại học đã viết trong một bài kiểm tra giữa kỳ như thế này: «Khi mà tất cả học sinh trong một lớp học đi phong bì cô giáo, còn một học sinh không đi, thì cái gì là phi lí và cái gì là có lí ở đây?». Quan hệ thầy trò ở đây thành ra là một quan hệ mua bán. Trong mối quan hệ mua bán này, lòng tự trọng của cả thầy lẫn trò đều bị triệt tiêu. Lòng tự trọng như vậy đã chết ngay từ thưở thiếu thời, phần đời còn lại cả thế hệ học sinh ấy sẽ sống trong căn bệnh ung thư về tâm hồn.
Cái phong bì liệu có tiếp tục phát huy tác dụng đến mức người ta có thể mua bán được tất cả mọi thứ? Điểm giới hạn sẽ là ở đâu?
Để trả lời câu hỏi này, tôi đưa ra một hình dung mang tính giả tưởng, hy vọng chỉ là giả tưởng mà thôi:
Mỗi một cá nhân là một thành tố cấu thành nên cộng đồng, cấu thành nên dân tộc, quốc gia. Khi mỗi một cá nhân đánh mất các nền tảng riêng của mình, đánh mất sự tôn trọng đối với bản thân mình, đánh mất sức mạnh giúp họ tự xác lập như một bản thể cá biệt với các giá trị mà họ có thể hãnh diện tự hào, thì cái dân tộc mà họ tạo nên cũng sẽ đánh mất tất cả những thứ đó. Một khi các giá trị của bản thân bị quy thành tiền, thì các giá trị của quốc gia rất có thể cũng bị quy thành tiền. Trong trường hợp này, có thể giả định (hãy nhớ rằng đây chỉ là giả định) một tương lai không mấy vui vẻ: nếu ta có thể để mất mọi thứ thuộc về tâm hồn mà không cần phải băn khoăn, miễn là có tiền, thì ta cũng có thể để mất những thứ khác, kể cả cái gọi là đất nước. Vì đất nước là một giá trị chỉ khi nó được cảm nhận và đánh giá bằng tâm hồn ; còn khi nó nằm trong hệ quy chiếu của phong bì, khi giá trị của đất nước được đồng nhất với túi tiền cá nhân, khi không còn tâm hồn để cảm nhận về đất nước nữa, thì có nó hay mất nó, có thể cũng không quan trọng nữa.
Khi nào ta có thể tự cho phép mình làm những chuyện đồi bại, bất chấp dư luận, bất chấp đạo lý, bất chấp truyền thống, bất chấp luật pháp? Khi nào thì những quyết định có ảnh hưởng trầm trọng đến tương lai của dân tộc được đưa ra một cách dễ dàng và được chấp nhận một cách dễ dàng? Khi nào ta có thể nhìn từng mảnh của giang sơn bị lấy đi mà không tiến hành các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ? Tất cả những điều đó có thể xảy ra khi cảm giác xấu hổ, cảm giác nhục nhã không còn nữa; khi những cái phong bì làm tê liệt các dây thần kinh xấu hổ, giết chết ý thức về sự nhục nhã, tức là tiêu diệt lòng tự trọng.
Marquez, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình, đã cho ta thấy sự cô đơn và loạn luân có khả năng xoá bỏ cả một cộng đồng như thế nào. Cái phong bì còn vận hành với sức mạnh hiện tại liệu nó có thể đi tới chỗ xoá bỏ cả một đất nước không ? Chưa biết trong bao nhiêu năm, nhưng cũng có thể lắm chứ, nếu như không còn lòng tự trọng cá nhân và không còn lòng tự trọng quốc gia.
Cái phong bì thực chất là vấn đề miếng ăn. Chẳng lẽ lại để cho quốc gia tiêu vong chỉ vì miếng ăn? Xin hiểu cho, đây là câu hỏi được cất lên từ lòng tự trọng.
Liệu những chiếc phong bì có thể hủy hoại cả một quốc gia?
Hà Nội, 18/11/2009
N.T.T.H.
Nguyễn Thị Từ Huy Bài này tôi viết đã lâu, theo đề nghị của một tờ báo, nhưng rồi không được sử dụng. Trong bài tôi có đưa ra một giả định mang tính giả tưởng về sự an nguy của quốc gia. Không ngờ, thật đau buồn, giờ đây điều đó hình như không còn là giả tưởng nữa, mối đe dọa đang trở thành hiện thực. Tôi đã từng rất bi quan khi viết trong một bài thơ: «Những tiếng nói gieo nơi nơi để gặt sự im lặng đóng băng trên thân xác vô hình của nó». Giá như những tiếng nói được lắng nghe, được phân tích, được sử dụng để trở thành hữu ích, thì có lẽ đã tránh được nhiều thảm họa.
Dù những tiếng nói chỉ gặt được sự im lặng đóng băng thì cũng cần phải tiếp tục nói. Vì con người xác lập nên phẩm chất người của mình cùng với khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng tư duy, khả năng nói và viết.
Nguyễn Thị Từ Huy
Lòng tự trọng là gì ? Nói một cách đơn giản, nó được hiểu như là sự tôn kính đối với tâm hồn mình. Lòng tự trọng có được nhờ ý thức về phẩm giá của bản thân, ý thức về sự trung thực, sự thanh khiết, ý thức về những phẩm chất căn bản, những phẩm chất làm nên bản thể trong tầng sâu nhất của nó. Lòng tự trọng xác lập trên sự trùng hợp giữa lời nói và hành động. Lòng tự trọng thúc đẩy các hành động cho phép thể hiện các giá trị riêng của mình, cho phép thể hiện niềm tin của bản thân. Đồng thời lòng tự trọng được xây dựng trên sức mạnh chứ không phải trên sự yếu đuối.
Như vậy, lòng tự trọng thuộc về cái mà ta gọi là tâm hồn. Tâm hồn có thức ăn riêng của nó. Và đương nhiên thức ăn đó không có gì chung với cái phong bì. Một khi tâm hồn cũng được nuôi bằng phong bì, thử hỏi cái gì chờ đợi nó, nếu không phải là cái chết của chính nó?
Từ «phong bì» hiện nay đã trở nên phổ biến đến mức không cần phải giải thích thì tất cả mọi người cũng đều hiểu đấy là loại phong bì nào. Đương nhiên đấy không phải là phong bì đựng thư. Nội dung chứa đựng trong cái phong bì ấy là thứ cho phép nó có thể mua được cái mà người đưa phong bì muốn. Nếu cần thiết phải có một sự phân biệt, thì có thể để sang một bên thứ phong bì dùng để chi trả công lao động. Hiện nay trong thời đại phát triển của công nghệ ngân hàng, nên chăng tất cả mọi khoản thù lao cho lao động được trả thẳng vào tài khoản cá nhân, để tránh sự nhập nhằng do cái hình thức phong bì gây nên. Tuy nhiên, trong thực tế, tất cả đều biết là không hề có sự nhập nhằng nào cả, tất cả đều biết rõ cái nghĩa thông dụng hiện nay của từ «phong bì».
Nếu cơ thể vật lý của con người được nuôi bằng thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng (dù gián tiếp qua thịt động vật hay rau quả), thuốc bảo quản… thì cái gì sẽ chờ đợi nó? Chúng ta vẫn mong có những thống kê của ngành y tế để biết được hiện nay tỉ lệ những người mắc bệnh ung thư và chết vì bệnh ung thư hàng năm là bao nhiêu. Cũng chờ đợi những phân tích chính xác và hữu ích về các nguyên nhân gây bệnh ung thư. Chúng ta chờ đợi những kiểm định khắt khe về những thực phẩm có khả năng gây bệnh, những gì có thể giúp người dân chúng ta phòng ngừa bệnh tật một cách hiệu quả, chứ không phải để nó xảy ra rồi chống đỡ nó một cách tuyệt vọng. Mong muốn đó hoàn toàn chính đáng, nhưng một người dân bình thường không biết tìm đâu những số liệu đó, không biết làm cách nào để có thể tin chắc rằng mình đã lựa chọn cho bữa ăn hàng ngày của mình những thực phẩm an toàn. Và rốt cuộc, bệnh ung thư ngày càng phát triển.
Nhưng điều mà ta không ngờ nhất, điều khó tin nhất, đó là: bệnh ung thư của cơ thể vật lý hiện nay đang trở nên trầm trọng trên diện rộng chính là hậu quả của căn bệnh ung thư tâm hồn. Hãy thử giải thích mối liên quan này để thấy rằng nếu trong mỗi con người, cơ thể và tâm hồn không thể tách rời, thì trong một xã hội sự phát triển và an sinh xã hội không thể tách rời khỏi nền tảng đạo đức của nó.
Nguyên do của bệnh ung thư về tâm hồn có nhiều, nhưng bài viết ngắn này chỉ tập trung vào một nguyên nhân mà thôi: cái phong bì.
Cái phong bì có thể biến những thực phẩm độc hại thành ra thực phẩm an toàn. Tại sao chứng chỉ về vệ sinh an toàn thực phẩm lại có thể được cấp cho các doanh nghiệp sản xuất không tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật chế biến ? Đương nhiên đó là nhờ cái phong bì. Một cái phong bì bỏ ra để mua chứng chỉ ấy dù nặng thì vẫn còn đỡ phức tạp và đỡ tốn kém hơn là phải cố gắng để thực hiện những quy trình phức tạp của công nghệ thực phẩm. Khi quá trình chuyển giao chứng chỉ được thực hiện trên dây chuyền phong bì như thế này, lòng tự trọng của người đưa phong bì và của người nhận phong bì đương nhiên đều đã bị biến dạng thành một thứ tế bào độc hại. Thứ tế bào độc hại này nhanh chóng phát triển thành bệnh ung thư tâm hồn và thức ăn duy nhất của nó là tiền. Người đưa phong bì vì muốn có nhiều tiền hơn mà không phải vất vả. Người nhận phong bì vì muốn có tiền mà không phải làm gì cả. Đối với cả hai bên, sự trung thực, sự tôn trọng đối với tâm hồn của chính họ, niềm tin vào hành động của họ, giá trị sống của họ, phẩm chất của họ… tất cả đều bị gói vào trong chiếc phong bì. Nói cách khác, tất cả những thứ đó đều bị chết dưới áp lực của phong bì, của cái thứ được đựng trong phong bì.
Điều nguy hiểm là căn bệnh ung thư tâm hồn không chỉ gây tác hại đối với hai đối tượng cụ thể cho và nhận phong bì trong trường hợp này, mà nó còn khiến cho hàng bao nhiêu triệu người tiêu dùng có nguy cơ mắc bệnh ung thư thực thể. Bởi vì một cái chứng chỉ dởm sẽ cho phép các chất độc hại trong thực phẩm đi vào cơ thể của hàng triệu người tiêu dùng tin tưởng vào nó.
Một khi ta để cho mầm bệnh ung thư phát triển trong chính tâm hồn mình, trong chính con người mình thì việc người khác bị bệnh ung thư hay không, không còn là vấn đề nữa. Nghịch lí này có thể đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện : trong số các bác sĩ chữa bệnh ung thư cho bệnh nhân, có những bác sĩ bị bệnh ung thư tâm hồn trầm trọng, vì họ thẳng tay nhận phong bì của bệnh nhân mà đôi khi trong thực tế họ không giúp gì được cho bệnh nhân cả, vì có những trường hợp bệnh đã ở giai đoạn cuối, và cứu chữa chỉ là đưa lại một ảo tưởng cho bệnh nhân để giúp họ vững vàng hơn về mặt tinh thần mà thôi, vậy mà có những bác sĩ đã thu phong bì cả trên những ảo tưởng này.
Cái phong bì có thể còn nguy hiểm hơn chúng ta có thể hình dung. Nó giống như một thứ virus có khả năng lây lan theo tốc độ internet, và đến khi mà mọi thứ đều giải quyết bằng phong bì thì lòng tự trọng sẽ chỉ còn là một hoài niệm của quá khứ. Một sinh viên năm thứ ba ở khoa Văn của một trường đại học đã viết trong một bài kiểm tra giữa kỳ như thế này: «Khi mà tất cả học sinh trong một lớp học đi phong bì cô giáo, còn một học sinh không đi, thì cái gì là phi lí và cái gì là có lí ở đây?». Quan hệ thầy trò ở đây thành ra là một quan hệ mua bán. Trong mối quan hệ mua bán này, lòng tự trọng của cả thầy lẫn trò đều bị triệt tiêu. Lòng tự trọng như vậy đã chết ngay từ thưở thiếu thời, phần đời còn lại cả thế hệ học sinh ấy sẽ sống trong căn bệnh ung thư về tâm hồn.
Cái phong bì liệu có tiếp tục phát huy tác dụng đến mức người ta có thể mua bán được tất cả mọi thứ? Điểm giới hạn sẽ là ở đâu?
Để trả lời câu hỏi này, tôi đưa ra một hình dung mang tính giả tưởng, hy vọng chỉ là giả tưởng mà thôi:
Mỗi một cá nhân là một thành tố cấu thành nên cộng đồng, cấu thành nên dân tộc, quốc gia. Khi mỗi một cá nhân đánh mất các nền tảng riêng của mình, đánh mất sự tôn trọng đối với bản thân mình, đánh mất sức mạnh giúp họ tự xác lập như một bản thể cá biệt với các giá trị mà họ có thể hãnh diện tự hào, thì cái dân tộc mà họ tạo nên cũng sẽ đánh mất tất cả những thứ đó. Một khi các giá trị của bản thân bị quy thành tiền, thì các giá trị của quốc gia rất có thể cũng bị quy thành tiền. Trong trường hợp này, có thể giả định (hãy nhớ rằng đây chỉ là giả định) một tương lai không mấy vui vẻ: nếu ta có thể để mất mọi thứ thuộc về tâm hồn mà không cần phải băn khoăn, miễn là có tiền, thì ta cũng có thể để mất những thứ khác, kể cả cái gọi là đất nước. Vì đất nước là một giá trị chỉ khi nó được cảm nhận và đánh giá bằng tâm hồn ; còn khi nó nằm trong hệ quy chiếu của phong bì, khi giá trị của đất nước được đồng nhất với túi tiền cá nhân, khi không còn tâm hồn để cảm nhận về đất nước nữa, thì có nó hay mất nó, có thể cũng không quan trọng nữa.
Khi nào ta có thể tự cho phép mình làm những chuyện đồi bại, bất chấp dư luận, bất chấp đạo lý, bất chấp truyền thống, bất chấp luật pháp? Khi nào thì những quyết định có ảnh hưởng trầm trọng đến tương lai của dân tộc được đưa ra một cách dễ dàng và được chấp nhận một cách dễ dàng? Khi nào ta có thể nhìn từng mảnh của giang sơn bị lấy đi mà không tiến hành các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ? Tất cả những điều đó có thể xảy ra khi cảm giác xấu hổ, cảm giác nhục nhã không còn nữa; khi những cái phong bì làm tê liệt các dây thần kinh xấu hổ, giết chết ý thức về sự nhục nhã, tức là tiêu diệt lòng tự trọng.
Marquez, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình, đã cho ta thấy sự cô đơn và loạn luân có khả năng xoá bỏ cả một cộng đồng như thế nào. Cái phong bì còn vận hành với sức mạnh hiện tại liệu nó có thể đi tới chỗ xoá bỏ cả một đất nước không ? Chưa biết trong bao nhiêu năm, nhưng cũng có thể lắm chứ, nếu như không còn lòng tự trọng cá nhân và không còn lòng tự trọng quốc gia.
Cái phong bì thực chất là vấn đề miếng ăn. Chẳng lẽ lại để cho quốc gia tiêu vong chỉ vì miếng ăn? Xin hiểu cho, đây là câu hỏi được cất lên từ lòng tự trọng.
Liệu những chiếc phong bì có thể hủy hoại cả một quốc gia?
Hà Nội, 18/11/2009
N.T.T.H.
Từ thiện - thật và ảo
(Nguồn: hieuminh.org)
Dân ta có câu “Lá lành đùm lá rách” để nói lên truyền thống có từ lâu đời muốn chia sẻ với đồng bào bị hoạn nạn có từ bao đời nay.
Một cảnh lũ lụt tại miền Trung Việt Nam hồi năm 2010. (Hình: old.thuvienhoasen.org)
Nhưng thời nay đôi lúc đã bị biến tướng và trở nên méo mó, thể hiện đạo đức xã hội xuống cấp tới mức báo động.
Có lần ở Hà Nội, tôi chứng kiến một thanh niên đi xe máy ngã vật xuống đường, máu me đầm đìa và bất tỉnh. Rất nhiều người xúm lại giúp đỡ. Nhưng có mụ ra lần túi, móc ví của nạn nhân một cách thản nhiên. Trục lợi trên nỗi đau của người khác đáng sợ làm sao.
Từ thiện thật cũng không dễ
Mấy hôm trước gặp một bác người Việt làm cho tổ chức quốc tế lớn với hàng chục ngàn nhân viên. Vừa nhìn thấy tôi, bác giữ lại để hỏi, tại sao các nước như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, kể cả nhiều nước nghèo bên Châu Phi, mỗi lần quốc gia của họ bị thảm họa thì nhân viên trong sở đều tổ chức quyên góp.
Họ để một cái bàn trước cửa ra vào, vài hình ảnh lụt lội, động đất, nhà đổ, trẻ con bà già khóc lóc, trông thương tâm, người qua lại dễ động lòng trắc ẩn. Ðôi khi họ quyên góp hàng chục ngàn đô la gửi về cho đồng bào bị thiên tai.
Trong khi đó, dân VN làm tại đây có vài trăm người, bác chưa bao giờ nhìn thấy “người của ta” tổ chức thế bao giờ. Rồi bác ngậm ngùi tự giải thích, dân mình vẫn còn hai miền, còn cờ đỏ, cờ vàng, mới ra nông nỗi này.
Một cháu gốc Việt, sinh ra ở Pháp, sang Mỹ làm việc. Bố mẹ dù xa tổ quốc mấy chục năm nhưng vẫn dạy con gái rằng, gốc gác của cháu là VN, và cần yêu thương người nghèo như cha mẹ của cháu.
Vài mùa Hè trước, cháu và vài bạn về thăm đồng bào miền núi ở Tây Nguyên. Thấy học sinh nhỏ nơi đây nghèo quá nên cháu rủ các bạn lần sau mang ít quần áo, thuốc men về tặng.
Khi tặng xong thì địa phương quyết định thu hồi toàn bộ áo phông vì “áo tẩm thuốc độc,” rồi “thuốc đó là thuốc lú,” mẹo “diễn biến hòa bình” hay cả trăm lý do khác.
Cháu kể với tôi giọng vô cùng oan ức, như muốn khóc. Lý do đơn giản, các cháu không đi qua đường chính thống là liên lạc với UB xã trước khi làm việc thiện.
Các cháu muốn đóng góp nhưng lại sợ tiền viện trợ không đến tay người cần vì chuyện xà xẻo của người nghèo đã từng xảy ra. Trong vài trường hợp, muốn làm người tốt cũng khó và muốn giúp người nghèo cũng không dễ.
Những việc từ thiện “ảo”
Vài tuần trước đay có tin nhiều túi quà gửi cho miền Trung bị lụt lội có chứa cả đồ phế thải. Rồi có kẻ lấy quần áo gửi tặng đồng bào đang thiếu thốn để làm giẻ lau xe hay cứu trợ bằng hàng hết hạn. Người ta thản nhiên kiếm lời trên nỗi đau của người khác.
Gần đây trong đêm hội Hoa Hậu Trái Ðất và doanh nhân hướng về miền Trung với sự tham gia của 90 hoa hậu từ khắp thế giới và hàng trăm doanh nhân giầu có. Vật đấu giá có những đồ quí như hòn rubi 10kg, trống đồng, rồi bộ tứ linh “Long Lân Qui Phụng” bằng gỗ lũa hóa thạch. Tổng số tiền đấu giá tới 74 tỉ.
Vài người nỡ biến cuộc đấu giá lấy tiền giúp người nghèo thành một nơi quảng cáo cho công ty, trả giá rất cao rồi xù hay nuốt lời hứa. Có kẻ gọi điện đến mua rồi bặt vô âm tín, từ thiện “ảo” để đùa cợt số phận của những người đang sống trong khốn cùng thật.
Viết lại câu chuyện này tôi chợt nhớ ra kẻ ngang nhiên móc túi người bị tai nạn xe máy trên đường phố. Và nhớ ra cô cháu đồng nghiệp muốn giúp học sinh nghèo mà không thể. Thói thờ ơ hay trục lợi trên nỗi đau của đồng loại thể hiện sự xuống cấp về đạo đức tới mức báo động.
Thiên tai gây ra cho con người đã khủng khiếp, nhân tai cũng tàn phá không kém. Thảm họa xảy ra và nếu mục đích làm từ thiện không xuất phát từ trái tim mà dùng nỗi thống khổ của đồng loại cho việc đánh bóng tên tuổi hay trục lợi, thì sự tàn phá man rợ hơn cả thiên tai và nhân tai cộng lại.
(Nguồn: hieuminh.org)
Dân ta có câu “Lá lành đùm lá rách” để nói lên truyền thống có từ lâu đời muốn chia sẻ với đồng bào bị hoạn nạn có từ bao đời nay.

Một cảnh lũ lụt tại miền Trung Việt Nam hồi năm 2010. (Hình: old.thuvienhoasen.org)
Nhưng thời nay đôi lúc đã bị biến tướng và trở nên méo mó, thể hiện đạo đức xã hội xuống cấp tới mức báo động.
Có lần ở Hà Nội, tôi chứng kiến một thanh niên đi xe máy ngã vật xuống đường, máu me đầm đìa và bất tỉnh. Rất nhiều người xúm lại giúp đỡ. Nhưng có mụ ra lần túi, móc ví của nạn nhân một cách thản nhiên. Trục lợi trên nỗi đau của người khác đáng sợ làm sao.
Từ thiện thật cũng không dễ
Mấy hôm trước gặp một bác người Việt làm cho tổ chức quốc tế lớn với hàng chục ngàn nhân viên. Vừa nhìn thấy tôi, bác giữ lại để hỏi, tại sao các nước như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, kể cả nhiều nước nghèo bên Châu Phi, mỗi lần quốc gia của họ bị thảm họa thì nhân viên trong sở đều tổ chức quyên góp.
Họ để một cái bàn trước cửa ra vào, vài hình ảnh lụt lội, động đất, nhà đổ, trẻ con bà già khóc lóc, trông thương tâm, người qua lại dễ động lòng trắc ẩn. Ðôi khi họ quyên góp hàng chục ngàn đô la gửi về cho đồng bào bị thiên tai.
Trong khi đó, dân VN làm tại đây có vài trăm người, bác chưa bao giờ nhìn thấy “người của ta” tổ chức thế bao giờ. Rồi bác ngậm ngùi tự giải thích, dân mình vẫn còn hai miền, còn cờ đỏ, cờ vàng, mới ra nông nỗi này.
Một cháu gốc Việt, sinh ra ở Pháp, sang Mỹ làm việc. Bố mẹ dù xa tổ quốc mấy chục năm nhưng vẫn dạy con gái rằng, gốc gác của cháu là VN, và cần yêu thương người nghèo như cha mẹ của cháu.
Vài mùa Hè trước, cháu và vài bạn về thăm đồng bào miền núi ở Tây Nguyên. Thấy học sinh nhỏ nơi đây nghèo quá nên cháu rủ các bạn lần sau mang ít quần áo, thuốc men về tặng.
Khi tặng xong thì địa phương quyết định thu hồi toàn bộ áo phông vì “áo tẩm thuốc độc,” rồi “thuốc đó là thuốc lú,” mẹo “diễn biến hòa bình” hay cả trăm lý do khác.
Cháu kể với tôi giọng vô cùng oan ức, như muốn khóc. Lý do đơn giản, các cháu không đi qua đường chính thống là liên lạc với UB xã trước khi làm việc thiện.
Các cháu muốn đóng góp nhưng lại sợ tiền viện trợ không đến tay người cần vì chuyện xà xẻo của người nghèo đã từng xảy ra. Trong vài trường hợp, muốn làm người tốt cũng khó và muốn giúp người nghèo cũng không dễ.
Những việc từ thiện “ảo”
Vài tuần trước đay có tin nhiều túi quà gửi cho miền Trung bị lụt lội có chứa cả đồ phế thải. Rồi có kẻ lấy quần áo gửi tặng đồng bào đang thiếu thốn để làm giẻ lau xe hay cứu trợ bằng hàng hết hạn. Người ta thản nhiên kiếm lời trên nỗi đau của người khác.
Gần đây trong đêm hội Hoa Hậu Trái Ðất và doanh nhân hướng về miền Trung với sự tham gia của 90 hoa hậu từ khắp thế giới và hàng trăm doanh nhân giầu có. Vật đấu giá có những đồ quí như hòn rubi 10kg, trống đồng, rồi bộ tứ linh “Long Lân Qui Phụng” bằng gỗ lũa hóa thạch. Tổng số tiền đấu giá tới 74 tỉ.
Vài người nỡ biến cuộc đấu giá lấy tiền giúp người nghèo thành một nơi quảng cáo cho công ty, trả giá rất cao rồi xù hay nuốt lời hứa. Có kẻ gọi điện đến mua rồi bặt vô âm tín, từ thiện “ảo” để đùa cợt số phận của những người đang sống trong khốn cùng thật.
Viết lại câu chuyện này tôi chợt nhớ ra kẻ ngang nhiên móc túi người bị tai nạn xe máy trên đường phố. Và nhớ ra cô cháu đồng nghiệp muốn giúp học sinh nghèo mà không thể. Thói thờ ơ hay trục lợi trên nỗi đau của đồng loại thể hiện sự xuống cấp về đạo đức tới mức báo động.
Thiên tai gây ra cho con người đã khủng khiếp, nhân tai cũng tàn phá không kém. Thảm họa xảy ra và nếu mục đích làm từ thiện không xuất phát từ trái tim mà dùng nỗi thống khổ của đồng loại cho việc đánh bóng tên tuổi hay trục lợi, thì sự tàn phá man rợ hơn cả thiên tai và nhân tai cộng lại.

DƯA HƯỜNG NẤU CANH
TRẦN VĂN CHI
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
(Ca dao)
Ước mong của các bà mẹ Việt Nam đơn sơ làm sao! Dễ thương làm sao!
Hạnh phúc đối với những bà mẹ xưa nay rất ư là bình thường như vậy. Và không ai nghĩ mẹ chúng ta cường điệu chỉ mong "gả thiếp về vườn" để chỉ được ăn món "dưa hường nấu canh".
Bông bí ở đây là bông bí rợ hay còn gọi là bí đỏ. Trái bí rợ to, tròn hơi dẹt hai đầu và có nhiều muối cạn. Bông bí màu vàng sậm, khi nở to bằng cái chén ăn cơm. Bông bí đực, không cho trái, được dùng luộc chấm cá kho ăn với cơm ngon khó tả. Ăn mới biết.
Canh dưa hường có thiệt ngon không? Dưa hường là dưa gì vậy?
Người mình nói đến "dưa cà" là nói đến cái gì đơn sơ và đạm bạc, thể hiện lô ăn lối sống của con người miệt quê, miệt vườn. Canh dưa hường có mặt trong ca dao cho thấy đây là loại canh có lâu đời ở xứ mình rồi.
Dưa là "trái sanh ở các loại dây leo, ăn được". Dưa xứ mình không có nhiều loại, chỉ thấy vài thứ quen ăn xưa nay ai cũng biết như dưa leo, dưa chuột, dưa gan, dưa hấu...
Dưa hường không phải là tên của một loại dưa riêng, dưa hường là trái dưa hấu chưa già, được người nhà vườn hái bỏ bớt để dưỡng cho các trái còn lại lớn hơn, ngọt hơn.
Để biết thế nào là dưa hường, mời bạn làm một chuyến đi thăm nơi trồng dưa hấu nổi tiếng miền Lục Tỉnh. Dưa hấu ở quê mình xưa rất hiếm vì kén đất, không chịu mưa nên chỉ có trong mùa Tết. Dưa hấu chịu đất vườn, đất giồng, đất cao, không chịu nước, ưa thời tiết nóng và khô. Nhà vườn theo kinh nghhiệm dọn đất bỏ hột dưa hấu vào độ tháng tám, tháng chín ta; tính sao cho dưa có trái thì trời cũng hết mưa, tránh cho dưa khỏi bị thúi trái. Năm nào mưa muộn, dưa hấu bị thất mùa.
Ở miền Nam có hai nơi nổi tiếng dưa hấu là Cầu Cổ Cò và Gò Công:
Cầu Cổ Cò nằm ở An Hữu thuộc quận Cái Bè nay thuộc tỉnh Tiền Giang, giáp hạt Bắc Mỹ Thuận. Nghe nói cái cầu này xây giống như cổ cò nên người ở đây kêu là Cầu Cổ Cò, kêu mãi thành tên địa danh. Đất vùng này thuộc loại đất gò phù sa có pha chút cát, nước ngọt quanh năm, nên trái dưa hấu Cổ Cò lớn trái, ruột có cát, mùi vị thơm-ngọt-giòn và để lâu không bị xốp trong ruột.
Về thăm Cổ Cò nghe lại câu hát "dòng An Giang ai qua vẫn nhớ.." chắc làm bạn chạnh lòng nhớ đến người nhạc sĩ tài hoa Anh Việt Thu, đứa con của An Hữu!
Dưa hấu Gò Công trồng lại trên đất giồng vên bờ biển Tân Thành, Bến Chùa thuộc vùng đất cát pha ít phù sa, chưa có nước mặn. Dưa hấu Gò Công vỏ xanh đậm, cứng, ruột có nhiều cát hơn dưa Cổ Cò, màu đỏ sậm. Mùi thơm, vị ngọt-mặn độc đáo không nơi nào có. Dưa hấu Gò Công để lâu ra ngoài Tết không bị hư, bị thúi như dưa nơi khác.
Nay nói tới trái dưa hường có nhiều người chưa thấy, chưa từng nghe qua dầu là dân Lục Tỉnh thứ thiệt. Tự Điển Tiếng Việt nhiều cuốn không có chữ dưa hường, phải chăng vì trái dưa là loại trái "phó sản" của trái dưa hấu mà chỉ dân Lục Tỉnh mới biết ăn mà thôi?
Dưa dấu trồng thả cho bò trên mặt đất như khoai lang, mỗi dây nhà vườn chọn giữ lại ba trái từ gốc tính lên để làm dưa nhứt, dưa nhì và dưa ba. Những trái kỳ dư, còn lại phải hái hết, đặt tên là dưa hường: Vừa đỏ vừa trắng.
Dưa hường loại lớn cở cái chén hái vô dùng để ăn chơi như ta ăn dưa hấu rất đã khát, dầu không được ngọt. Mấy bà già xưa ưa ăn cơm với dưa hường chấm với cá kho mặn hoặc tôm rang muối. Ăn chay thì chấm với chao cũng ngon đáo để.
Trái dưa nhỏ hơn, cỡ trái cam, trái quít dùng nấu canh gọi là canh dưa hường, là món canh có tên trong danh mục canh của bếp Việt, mà tới nay nhiều người còn ưa, còn thích.
Dưa hường thường bán ở chợ quê, thỉnh thoảng mới đưa đến tỉnh, nhưng ít khi thấy bán ở Sài Gòn.
Nhà vườn hái dưa hường ra chợ bán trực tiếp (không qua trung gian người bán hàng giồng) gọi là kiếm chút tiền để mua trà bánh, thuốc rê, dầu hôi, đá lửa... Dưa hường bán tính theo mớ, đếm trái và tùy lớn nhỏ mà nói giá rât thân tình, không mang tánh thương mại. Giá cả cũng thả nổi, tùy phiên chợ. "Bán hết, bán rẻ còn về nấu cơm", kiểu tiếp thị chào hàng của mấy bà chợ quê là vậy.
Canh dưa hường nguyên sơ được nấu với tôm. Con tôm phải là tôm đồng, tôm ruộng nước ngọt, chớ không phải tôm biển. Bởi con tôm biển thường có mùi tanh, nấu canh sẽ có mùi "khai khai" như mùi cá đuối không hợp với canh dưa hường, canh rau, canh bầu bí nói chung. Tôm tươi lột bỏ vỏ, mấy bà già còn cẩn thận rút bỏ sợi gân máu trên lưng con tôm.
-Làm "như dầy" mới hết mùi tanh, bà kêu con gái tới coi cách bà làm.
Gặp những con tôm lớn, bà phải dùng mũi dao xẻ lưng con tôm để lấy cho được sợi gân máu. Tôm lột xong để trên thớt lấy lưỡi dao phay dần cho dập thịt, sao con tôm "thấy còn nguyên". Nếu tôm ít, không đủ nồi canh, muốn canh ngọt phải giả tôm cho nhỏ.
Cho tôm vào nồi xào sơ sơ nghe thơm thơm nêm chút nước mắm ngon, chờ cho con tôm thắm đều mới cho nước vào. "Vừa sôi phải vớt bọt, để trể bọt tan làm nước canh không trong", mấy bà mẹ ngày xưa sành ăn, dạy con dạy dâu tỉ mỉ như vậy.
Dưa hường nấu canh phải lựa chớ đâu đơn giản: Trái lớn quá có nhiều vị "ngọt đường", trái nhỏ quá không đủ ngọt và thịt "chai sượng" không phải là loại dưa cho nồi canh ngon. Phải lựa trái "don don" cỡ trái cam, trái quít nhưng không quá già cũng không quá non.
Vậy biết thế nào mà lựa cho đúng?
Lựa dưa hường/dưa hấu theo mấy người xưa là phải nhìn cuốn: Bởi theo kinh nghiệm "dưa già cuốn khô" và "dưa đỏ đít, cà đỏ trôn!"
Dưa hường trước khi gọt vỏ phải rửa sạch và để cho ráo nước. Gọt hết vỏ, xẻ trái dưa làm đôi như xẻ trái cam, sắt từng miếng nhỏ vừa miếng ăn. Tùy trái mà sắt chia hai, chia tư, chia sáu miếng, sao cho miếng dưa nào cũng phải có vỏ có ruột. Mấy ông mấy bà không còn răng có kiểu sắt dưa khác: Sắt thành khoanh mỏng như sắt dưa leo ăn sống.
Cho dưa hường vào nồi nước đang sôi, để lửa cao ngọn một chút chờ nồi canh sôi bùng. Dùng đũa đảo dưa từ dưới lên cho dưa được chín đều. Khác với canh bầu, canh dưa hường phải nấu cho thiệt chín, nếu không dưa bị nhớt và mất mùi dưa hường.
Canh dưa hường nêm với hành hương sắt nhuyễn, chút tiêu, ăn với nước măm trong giằm ớt nhưng không cay quá như canh nấu với cá lóc cá rô. Cơm nóng canh nóng vừa đủ làm cho bạn chảy ít mồ hôi, trong khi bên ngòai trời tháng mười bắt đầu hơi se lạnh, thú vị còn gì bằng!
Sau này canh dưa hường được nấu với thịt heo ba chỉ bằm hay với cá thát lát vò viên. Hoặc dùng mỡ phi tỏi để xào tôm, xào thịt làm tang hương vị canh dưa hường nhưng cũng không đánh mất bản chất của canh dưa hường.
Bông bí luộc là món ăn nhà vườn, hiếm và ngon. Dưa hường nấu canh cũng hiếm nhưng lại còn quí nữa. Bởi trái dưa hường là hiện thân của trái dưa hấu, nên không chỉ là món ăn mà còn là cái gì thân thương, mang hơi hám ngày Tết thiêng liêng của mọi người.
Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.
"Dưa hường nấu canh" xem như vậy không chỉ là món ăn ngon, mà canh dưa hường như còn mang trong nó cái gì như hồn quê, hồn người nữa.
Nên đã từ bao lâu rồi các bà mẹ Việt Nam mong được gả con về vườn đâu phải chỉ để được ăn món "dưa hường nấu canh", mà như muốn gởi gắm nỗi niêm gì đó.
Và thế nên "dưa hường nấu canh" mới trở thành món canh dưa ngon ngoại hạng………...

Bill Gates từ giã cuộc chơi.. Sau 33 năm ở trong cương vị người sáng lập và lãnh đạo công ty điện toán hàng đầu thế giới, tỷ phú William Henry Gates III đã nói lời từ giã với gần 100,000 nhân viên Microsoft trên toàn cầu – dĩ nhiên là qua mạng Internet – hôm thứ Sáu tuần qua. Lý do ông đưa ra rất đơn giản: ông cần thời gian để tập trung làm việc cho tổ chức nhân đạo Bill & Melinda Gates Foundation mà ông và vợ sángs lập.
Với tài sản cá nhân được ước lượng đến 58 tỷ Mỹ kim, Bill Gates trong nhiều năm liên tục giữ ngôi “Người giàu nhất hành tinh” và được đánh giá như một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Nhưng Bill và Melinda Gates đã quyết định từ giã cuộc chơi một cách thảnh thơi để dành công sức và gần trọn số tiền khổng lồ đó cho một mục tiêu mới: tận diệt những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được ở những nước nghèo.
Tuy nhiều người đã dự đoán trước, nhưng tin Bill Gates công bố quyết định “tắt máy” (log-off) khỏi Công ty Microsoft cũng gây chấn động mạnh trong giới điện toán toàn cầu. Trong hơn ba thập niên qua, tên tuổi của ông đã gắn liền với sự phát minh và phát triển của kỹ thuật truyền thông mà ngày nay ai nấy cũng không thể thiếu này. Các phòng hội thoại (chatrooms), nhắn tin (message boards), sổ tay cá nhân (blogs), trang mạng (websites)... tràn ngập những mẫu chuyện về cuộc đời và hoạt động của Bill Gates. Họ cũng tranh luận về vai trò của ông trong lịch sử nhân loại với một câu hỏi vừa mang tính giả thiết nhưng cũng rất thực tế: nếu không có Bill Gates cách đây hơn 3 thập niên, bộ mặt thế giới bây giờ ra sao?
Dù với lý do gì, sự “giã từ cuộc chơi” của Bill Gates là một lỗ trống khó lấp đầy trong ngành công nghệ đã đưa nhân loại đến trình độ tiến bộ kỹ thuật như ngày nay. Nhưng ngược lại, những thành phần thiệt thòi trên thế giới, cụ thể là những nước kém phát triển ở Phi châu và Á châu, lại được giúp đỡ một cách cụ thể để chống lại bệnh tật và nghèo đói.
Bill Gates ra đi giữa lúc cuộc cạnh tranh trong ngành công nghệ vi tính bước vào một giai đoạn quyết liệt với sự ra đời của nhiều đối thủ trẻ và năng động khác, như Google và Yahoo. Microsoft chủ yếu là sáng tạo và bán nhu liệu (software) trong khi thế hệ đối thủ trẻ lại tập trung nhiều hơn về quảng cáo thương vụ và tìm kiếm trên Internet.
Cùng với người bạn đồng sáng lập Microsoft là Paul Allen, Bill Gates từng mơ ước rằng một ngày nào đó trên mỗi bàn giấy ở mọi nơi trên thế giới đều có một máy vi tính cá nhân (PC). Khởi đầu trong một garage chật hẹp chỉ vỏn vẹn hai học sinh trung học làm việc gần như không thấy ánh sáng mặt trời và chỉ sống bằng Coke và pizza, giấc mơ đó đã được thực hiện hơn nửa đường và Microsoft bây giờ có đội ngũ 91,192 chuyên viên kỹ thuật (con số rất chính xác, máy computer ghi chép mà!) trên khắp thế giới. Trong lực lượng nhân sự đó, từ ngày thứ Hai này, sẽ giảm bớt một người lãnh lương dù rằng ông vẫn là sở hữu chủ phần lớn cổ phần trong công ty.
Bill Gates ra đời ngày 28.10.1955 tại Seattle, tiểu bang Washington ở Hoa Kỳ, trong một gia đình giàu có. Cha của ông, William H. Gates Sr, là một luật sư danh tiếng và mẹ, Mary Maxwell Gates, là một giám đốc của công ty hàng đầu United Way. Bill có một chị, Kristi, và một em gái, Libby. Cả hai đều rất thành công trong sự nghiệp riêng của họ.
Từ thời trung học, gia đình đã có ý định cho Bill nối nghiệp cha theo ngành luật nhưng cậu thiếu niên này chỉ khoái chơi với chiếc máy điện toán ASR-33 thời đó hơn là đọc những án lệ rắc rối. Sự đam mê của Bill mạnh mẽ đến mức các thầy cô giáo bị cuốn hút vào các trò chơi của cậu và họ cho phép Bill được miễn dự lớp trong các giờ học để có thêm thời gian viết chương trình cho máy điện toán.
Cùng với vài người bạn cũng mê điện toán, trong đó có Paul Allen, Bill cắm đầu nghiên cứu và hoàn thiện nhiều chương trình căn bản mà về sau phạm vi ứng dụng của chúng trở nên phổ biến toàn cầu như FORTRAN, LISP và COBOL. Đến năm 17 tuổi, Bill và Paul “hợp tác làm ăn” với sự thành lập công ty Traf-O-Data chế tạo bộ phận kiểm tra lưu lượng thông tin trên máy điện toán. Trong năm đầu, hai chàng trẻ làm ăn khấm khá, kiếm được khoảng $20,000 (nên nhớ, giá trị đồng tiền vào thời điểm cách đây 35 năm) nhưng khi các khách hàng phát giác sản phẩm này là do “mấy thằng nhóc chế tạo”, thương vụ của công ty Traf-O-Data đã suy giảm hẳn.
Bill Gates tốt nghiệp trung học từ trường Lakeside School năm 1973 với số điểm Tú tài 1590/1600. Với kết quả này, Bill được nhận vào Đại học Havard và tại đây chàng kết bạn với Steve Ballmer, một người có năng khiếu đặc biệt về kinh doanh về sau được Bill bổ nhiệm vào chức vụ Tổng tài (CEO) của Công ty Microsoft cho đến nay. Cũng tại ngôi trường nổi tiếng này, Bill gặp “sư phụ” Christos Papadimitriou, một nhà khoa học điện thoại trứ danh thời ấy.
Tuy là sinh viên của Havard nhưng Bill Gates không có một học trình rõ rệt nào và đến năm 1975, anh rời trường – thực sự là nghỉ học luôn – để tìm đường tự lực cánh sinh. Sau khi công ty Intel cho ra đời sản phẩm Intel 8080 CPU, Bill Gates nhận thức ngay rằng đây là con chip đầu tiên với giá thành thấp hơn $200 nhưng có thể chạy chương trình BASIC trong máy điện toán cá nhân. Bill Gates tính nhẩm trong đầu rằng đây là cơ hội bằng vàng để anh ta tận dụng cơ hội và thời điểm khởi đầu của cuộc cách mạng kỹ thuật điện toán. Sau khi “tham khảo ý kiến” chiếu lệ với cha mẹ, Bill Gates cùng với Paul Allen thành lập công ty nhu liệu đầu tiên vào năm 1975, khi ấy cả hai mới vừa tròn 20 tuổi.
Từ ấy đến nay, công ty Microsoft đã trải qua 33 năm đầy thử thách và phát triển vượt bậc để trở thành một cơ sở kinh doanh quốc tế không có đối thủ. Bill Gates là người đầu tàu và chịu trách nhiệm chính về hoạch định chiến lược cho những sản phẩm của công ty. Với sự hợp tác đắc lực của Steve Ballmer về mặt thương vụ, Microsoft gần như độc quyền tung hoành thị trường, đến mức Chính phủ Hoa Kỳ đã phải can thiệp để tạo sự công bằng về cạnh tranh cho các công ty khác.
Trong phần lớn lịch sử của Microsoft, Bill Gates ngoài vai trò quản trị còn đảm nhiệm chức năng sáng tạo nhu liệu ứng dụng cho công ty, đặc biệt là các sản phẩm thảo chương.
Ngày 15.06.2006, Bill Gates công bố sẽ chuyển hướng hoạt động trong hai năm tới để cống hiến công sức của mình cho hoạt động từ thiện. Ông chia trách nhiệm của mình cho hai người kế nhiệm là Ray Ozzie (đặc trách về điều hành) và Craig Mundie (hoạch định chiến lược sản phẩm dài hạn). Một trong những sáng kiến sau cùng của ông trước khi ra đi khỏi công ty là sự thành lập nhóm phụ trách nhu liệu điều khiển tự động (robotics) cho Microsoft.
Về đời tư, Bill Gates kết hôn với Melinda French, một cựu thư ký riêng của ông từ Texas, ngày 01.01.1994. Họ có ba đứa con: Jennifer Katharine (1996), Rory John (1999) và Phoebe Adele (2002). Nhà riêng của Bill Gates được coi như một “tổng đài kỹ thuật của thế kỷ 21” trên một sườn đồi nhìn xuống Hồ Washington ở Medina, Tiểu bang Washington. Bill Gates không chỉ là một thiên tài kỹ thuật khô khan mà còn là một người yêu thích hội họa và văn chương. Ông là sở hữu chủ nhiều bức tranh nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci và có nguyên một thư viện rộng lớn với đầy sách của các tác giả trứ danh.
Từ năm 1993 đến 2007, Bill Gates luôn đứng đầu trong danh sách “Những người giàu nhất thế giới” do Tạp chí kinh doanh Forbes liệt kê. Năm 1999, tài sản của Bill Gates vượt quá con số 101 tỷ đô-la và giới truyền thông mô tả ông là “”bách tỷ phú” đầu tiên của thế giới. Nhưng từ năm 2002, giá trị cổ phần của Microsoft tụt giảm do sự trượt giá chung trên thị trường chứng khoán khi chiếc bong bóng “dot-com” bùng vỡ. Tài sản riêng của gia đình Bill Gates cũng hạ xuống sau khi ông và vợ quyết định hiến tặng hàng chục tỷ đô-la cho các tổ chức nhân đạo.
Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 5.2006, Bill Gates nói ông ước ao rằng mình không phải là “người giàu nhất thế giới” vì không thích bị dư luận chú ý quá nhiều. Ngoài Microsoft, ông còn có cổ phần trong nhiều công ty khác (như Corbis và Berkshire Hathaway của tỷ phú bạn thân Warren Buffett). Những sự “đầu tư lẻ tẻ” này mang lại cho ông “đủ tiền đi chợ” vài triệu đô-la mỗi năm.
Từ năm 1994, Bill Gates bắt đầu bán bớt cổ phần của mình trong công ty Microsoft để cùng vợ thành lập Bill & Melinda Gates Foundation với mục đích hoạt động từ thiện trên khắp thế giới. Quyết định này bắt nguồn từ tấm gương vị tha của một tỷ phú nổi tiếng Mỹ khác là David Rockefeller, người chú trọng đến những lãnh vực nhân đạo mà các chính phủ và tổ chức quốc tế khác ít để ý đến như bệnh AIDS, cấp học bổng cho những nhóm thiểu số bị thiệt thòi, thiên tai và các chứng bệnh có thể phòng ngừa được ở các nước nghèo. Theo Tạp chí Forbes, tính đến năm 2004 gia đình Bill Gates đã hiến tặng tổng cộng gần $30 tỷ đô-la. Bạn thân của ông là Warren Buffett, người giàu thứ nhì thế giới, cũng đã góp vào quỹ từ thiện Bill & Melinda Gaes Foundation hơn $10 tỷ đô-la. Cả hai đều cam kết sẽ chi tiêu hết tất cả tài sản của họ cho các công tác nhân đạo trong vòng 50 năm sau khi những người sáng lập qua đời.
Với sự thành công phi thường trên thương trường và những hoạt động nhân đạo to lớn, Bill Gates được nhiều tổ chức quốc tế và các cơ quan truyền thông uy tín bầu chọn “Nhân vật ảnh hưởng hàng đầu của thế kỷ 20” (liên tục trong ba năm 2004, 2005 và 2006), “Nhân vật trong năm” (2005), “Người hùng của Thời đại” (2006)... Ông cũng được trao tặng cho các danh hiệu cao quý và bằng cấp danh dự từ nhiều trường đại học quốc gia ở Hòa lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Anh Quốc và Mexico
Con gấu và cái chuồng
“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.
Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.
Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.
Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.
Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.
Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:
- Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn đấy mà.
Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:
- Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!
Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.
Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào -- cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.
Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”
Trích ''Only Don't Know, The Teaching Letters of Zen Master Seung Sahn''
Người dịch Vy Khanh
“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.
Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.
Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.
Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.
Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.
Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:
- Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn đấy mà.
Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:
- Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!
Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.
Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào -- cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.
Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”
Trích ''Only Don't Know, The Teaching Letters of Zen Master Seung Sahn''
Người dịch Vy Khanh

LỤC BÌNH
Những lần đi xuống miền tây tìm đường vượt biển, tôi đã phải ngồi trên những chiếc ghe xuồng mong manh để vào điểm hẹn cho chuyến vượt biển. Giây phút lêu bêu trên sông, tôi nhìn thấy nhánh lục bình cũng đang trôi theo mình. Tôi vu vơ nghĩ thầm:” mình cũng như cụm lục bình nổi trôi này và đang đi tìm bến đỗ quá xa vời.”
Lục bình cái tên gọi thật dễ thương đối với tôi. Hình ảnh tròng trành không thể thiếu vắng trên mặt nước rời rộng của những nhánh sông chằng chịt rẽ khúc,vẽ vời nên bóng dáng đặc thù của miền tây Nam Bộ với những cánh đồng lúa bát ngát bao la, cò bay thẳng cánh. Đó cũng là một loài hoa mang sắc tím, thân phận long đong theo con nước đầy vơi. Lục bình không chân đứng, chỉ trôi nổi trên khắp cùng đồng bằng sông Cửu Long. Hoa nở ngút ngàn cả một khúc sông tô thắm góc trời một màu tím biếc.
Từng cụm lục bình nhởn nhơ không cần biết bến đỗ là đâu và cứ mãi bồng bềnh trôi dạt. Lục bình sống nương nhờ vào dòng nước ngọt ngào màu xanh chàm lục của sông nước phù sa miền Lục tỉnh. Cuộc đời giản dị hiền hòa không bon chen đua sắc với các nàng hoa rực rỡ khác. Hình như trong các loài hoa tuyệt sắc chỉ có hoa Lục bình sống đời phiêu bồng dời đây mai đó. Mặt nước là nhà, là điểm tựa dung thân.
Thân phận hẩm hiu chuyển lưu theo vận nước thủy triều lớn ròng. Con sóng gợn lăn tăn đẩy đưa chùm lá xanh ngát đi ngược rồi lại đi xuôi. Thân phận long đong cũng như một kiếp người phiêu bạc, lang thang trên những nhánh sông đời. Lục bình có thể trôi, có thể mắc cạn. Lục bình còn biết tìm bến bồi cuộn đầy phù sa để nấn ná.
Thân phận lục bình giống như con người ta cứ mãi mê vẫy vùng ngang dọc, gầy dựng tương lai trong trường đời. Sau một thời vang bóng cũng sẽ dừng chân khi tìm được nơi chốn bình yên cho đời mình.
Hương thơm quê Ngoại như vòng tay quấn quyện hồn tôi. Con đê đầu làng của một thời rong chơi trên chiếc cầu khỉ lắc lẻo bắt ngang hai bờ con nước. Tôi và lũ nhóc con thích ngồi chọc phá từng đám lục bình thong dong, lêu bêu trôi ngang qua.Tuy bước chân tuổi thơ đã mờ phai theo phiến đá thời gian nhưng dấu ấn một góc trời kỷ niệm vẫn còn lẩn quẩn đâu đây trong ký ức
Trong khoảnh khắc thời gian lắng đọng, tôi thẫn thờ thả hồn về quê Ngoại năm xưa. Buổi chiều gió sông thổi mát nhè nhẹ, tôi thường ngồi lơ ngơ bó gối bên vách lá, dưới gốc cây dừa mát rượi, lẳng lặng nhìn ra bờ sông ngắm nhìn đám lục bình đong đưa.Tim tôi miên man thả dòng suy nghĩ bâng quơ. “Lục bình sao cứ thủng thỉnh trôi, không dừng lại ở một bến bờ nào đó mà lại sống đời chùm gởi mặc cho mạch nước đẩy đưa?! Và nếu cứ trôi vô định hoài thì bến đậu cuối cùng cho cuộc đời ngắn ngủi ấy sẽ là đâu ?”
Tôi chợt nhận ra, dòng đời trôi và lục bình trôi, hình như có nhiều điểm tương tự nhau ?.!
Khúc quanh lịch sử của đất nước đã làm tan vỡ bao ước mơ của tuổi trẻ vừa rời ghế nhà trường. Những ước mơ cho tương lai đều đi vào ngõ cụt không lối thoát và bị chìm dần vào trong bóng tối. Ngọn đèn tương lai chỉ còn là một vệt sáng mập mờ của chiếc que diêm đang thoi thóp thở và sẽ tắt lịm vào bất cứ lúc nào.
Những đứa con Việt Nam như bè lục bình lưu vong nổi trôi xứ người và định cư rải rác khắp quả địa cầu. Nơi đâu cũng đều có những dòng sông hiền hòa như dòng sông quê Mẹ. Nhưng có một điều thiếu vắng mà tầm mắt tôi vẫn mãi đi tìm. Đó là những cụm Lục Bình trổ hoa tím biếc lập lờ trên những nhánh sông bao dung của xứ người,
Dòng nước ngọt ngào nơi đây chan hòa tình nhân ái nên những cụm Lục Bình lưu lạc tha phương sau chuỗi ngày gian nan cưỡi sóng đại dương đã may mắn sống sót tìm được bến đậu bình yên. Gốc rễ nhỏ bé khi rời xa quê Mẹ, sau bao năm tháng tìm được màu đời mới đã mọc lan tươi tốt, lấn chiếm cả một vùng trời hải ngoại.
Thoảng đâu đây hương đồng nội phảng phất mùi mạ non đang cựa mình thức giấc trong ngăn ký ức làm lòng tôi man mác nhớ về quê Ngoại xa xăm! Khung trời bình yên với đám Lục Bình rủ rê nhau kết bè chầm chậm trôi vẫn là bức tranh thủy mạc thật linh động hiện ra trong tầm mắt tôi bây giờ.
Thuở ấy, mỗi khi nhìn thấy cụm lục bình, tôi đều tấm tức khen thầm:" Cái tên Lục bình nghe điềm đạm dễ thương làm sao ! Hình ảnh từng cụm lục bình lững lờ trôi trên mặt sông phẳng lặng pha màu chàm đất phù sa thiệt là đẹp mà cũng thiệt là nên thơ ! Tôi vẫn mãi yêu tên gọi Lục Bình !”
Nguyễn Thị Bạch Liên
Chuyện Về Charles Plumb
Tác giả : Cung Nhật Thành lược dịch
Charles Plumb là phi công khu trục phản lực của Hải Quân Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Khi thực hiện phi vụ chiến đấu thứ 54 tại Bắc Việt Nam, phi cơ của ông đã bị trúng hoả tiễn phòng không, ông đã kịp thời bấm nút phóng ghế ngồi ra khỏi phi cơ và bung dù xuống đất. Sa vào tay kẻ thù, Plump trải qua 6 năm đọa đầy tủi nhục trong ngục tù của cộng sản việt nam.
May mắn vượt qua và sống sót từ địa ngục, nay Charles Plumb đi nói chuyện khắp nơi về kinh nghiệm và các bài học ông đã có được từ những năm tháng tù đầy….
Một hôm hai vợ chồng Plumb đang ngồi trong nhà hàng, có một người đàn ông từ bàn gần đó bước sang:
- Tôi biết ông là Charles Plumb ! Ông là phi công máy bay phản lực trên hàng không mẫu hạm Kitty Hawk trong chiến tranh Việt Nam, và máy bay của ông đã bị bắn rơi trên không phận bắc việt….
Plumb sửng sốt hỏi:
- Làm sao ông biết được những chuyện này ? Chắc ông đã dự một trong các buổi nói chuyện của tôi ?
- Tôi biết về ông qua tin tức trên các đài truyền hình. Thưa ông Plumb, cũng như ông, tôi tùng sự trên tầu Kitty Hawk và là người xếp chiếc dù mà ông đã nhẩy ngày hôm đó !
Plumb lặng người trên ghế vì xúc động và ngạc nhiên trong khi người đàn ông reo lên và liên tiếp giơ nắm tay vượt qua đầu diễn tả việc thành công của mình:
- Tôi biết ! Tôi biết ! Tôi biết cái dù tôi xếp đã bung…..
- Chắc chắn như vậy,
Sau phút bàng hoàng, Plumb xô ghế đứng lên, ôm vai, bắt tay và nói với người đàn ông xa lạ với giọng biết ơn.
- Thưa ông, xin cám ơn ông, nếu ông không xếp chiếc dù cẩn thận thì tôi đâu còn sống đến ngày hôm nay…
Suốt đêm hôm đó, Charles Plumb trằn trọc không ngủ được và nghĩ đến người đàn ông gập trong nhà hàng… Plumb thắc mắc và cố gắng hình dung, mường tượng người đàn ông đó trong bộ đồng phục Hải quân, trông ông ta ra sao với cái nón thủy thủ tròn bằng vải trắng, giải yếm nối liền với cổ ở phía sau lưng áo và quần ống voi…. Bao nhiêu lần, Plumb có thể đã gập người này trên boong tầu, trong phòng ăn, trên các hành lang…mà chỉ đưa mắt nhìn, không một lời chào xã giao, không một lời thăm hỏi dù chỉ lịch sự đầu môi chót lưỡi…bởi vì, bạn biết đấy, Plumb là sĩ quan, lại là phi công khu trục phản lực, thuộc loại “giai cấp thượng lưu” trên tầu, còn anh ta “ chỉ là một thủy thủ .” như những thủy thủ khác trên tầu…..
Plump nghĩ đến người thủy thủ này đã trải qua không biết bao nhiêu ngày ngồi xếp dù trên cái bàn gỗ dài dưới hầm chiếc hàng không mẫu hạm. Khi cẩn thận vuốt và tỉ mỉ xếp từng nếp, từng mảnh của chiếc dù, không biết anh ta có biết rằng mình đang cầm trong tay sinh mạng một con người mà có lẽ anh chưa hề gập mặt hay quen biết không…
Plumb cũng nhận ra rằng ngoài chiếc dù đã giúp ông hạ xuống đất an toàn, ông cũng cần “chiếc dù” cho sự cương quyết, cần “chiếc dù” cho sự can đảm hầu chống đỡ với biết bao sợ hãi, gian khổ khi máy bay bị bắn rơi và ông sa vào tay kẻ thù…
Sau lần gập gỡ đó, bây giờ mỗi khi đi nói chuyện, Plumb luôn hỏi thính giả: “Ai đã giúp đỡ bạn, ai đã xếp những chiếc dù lót đường cho bạn thành công trên đường đời…”
Trong cuộc sống, ta hay xem thường và quên chuyện mà mọi người cho là nhỏ nhặt như khen ngợi hay nói lời khích lệ về việc làm tốt của người khác, cám ơn ai đó đã làm gì cho mình dù đó chỉ là bổn phận hay nghĩa vụ của họ… Xin đừng quên biết bao nhiêu người đã xếp những chiếc dù, hoàn tất những công việc của họ để giúp chúng ta êm ả đi qua những năm tháng trong cuộc đời của mình.
Cung Nhật Thành lược dịch
Tác giả : Cung Nhật Thành lược dịch
Charles Plumb là phi công khu trục phản lực của Hải Quân Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Khi thực hiện phi vụ chiến đấu thứ 54 tại Bắc Việt Nam, phi cơ của ông đã bị trúng hoả tiễn phòng không, ông đã kịp thời bấm nút phóng ghế ngồi ra khỏi phi cơ và bung dù xuống đất. Sa vào tay kẻ thù, Plump trải qua 6 năm đọa đầy tủi nhục trong ngục tù của cộng sản việt nam.
May mắn vượt qua và sống sót từ địa ngục, nay Charles Plumb đi nói chuyện khắp nơi về kinh nghiệm và các bài học ông đã có được từ những năm tháng tù đầy….
Một hôm hai vợ chồng Plumb đang ngồi trong nhà hàng, có một người đàn ông từ bàn gần đó bước sang:
- Tôi biết ông là Charles Plumb ! Ông là phi công máy bay phản lực trên hàng không mẫu hạm Kitty Hawk trong chiến tranh Việt Nam, và máy bay của ông đã bị bắn rơi trên không phận bắc việt….
Plumb sửng sốt hỏi:
- Làm sao ông biết được những chuyện này ? Chắc ông đã dự một trong các buổi nói chuyện của tôi ?
- Tôi biết về ông qua tin tức trên các đài truyền hình. Thưa ông Plumb, cũng như ông, tôi tùng sự trên tầu Kitty Hawk và là người xếp chiếc dù mà ông đã nhẩy ngày hôm đó !
Plumb lặng người trên ghế vì xúc động và ngạc nhiên trong khi người đàn ông reo lên và liên tiếp giơ nắm tay vượt qua đầu diễn tả việc thành công của mình:
- Tôi biết ! Tôi biết ! Tôi biết cái dù tôi xếp đã bung…..
- Chắc chắn như vậy,
Sau phút bàng hoàng, Plumb xô ghế đứng lên, ôm vai, bắt tay và nói với người đàn ông xa lạ với giọng biết ơn.
- Thưa ông, xin cám ơn ông, nếu ông không xếp chiếc dù cẩn thận thì tôi đâu còn sống đến ngày hôm nay…
Suốt đêm hôm đó, Charles Plumb trằn trọc không ngủ được và nghĩ đến người đàn ông gập trong nhà hàng… Plumb thắc mắc và cố gắng hình dung, mường tượng người đàn ông đó trong bộ đồng phục Hải quân, trông ông ta ra sao với cái nón thủy thủ tròn bằng vải trắng, giải yếm nối liền với cổ ở phía sau lưng áo và quần ống voi…. Bao nhiêu lần, Plumb có thể đã gập người này trên boong tầu, trong phòng ăn, trên các hành lang…mà chỉ đưa mắt nhìn, không một lời chào xã giao, không một lời thăm hỏi dù chỉ lịch sự đầu môi chót lưỡi…bởi vì, bạn biết đấy, Plumb là sĩ quan, lại là phi công khu trục phản lực, thuộc loại “giai cấp thượng lưu” trên tầu, còn anh ta “ chỉ là một thủy thủ .” như những thủy thủ khác trên tầu…..
Plump nghĩ đến người thủy thủ này đã trải qua không biết bao nhiêu ngày ngồi xếp dù trên cái bàn gỗ dài dưới hầm chiếc hàng không mẫu hạm. Khi cẩn thận vuốt và tỉ mỉ xếp từng nếp, từng mảnh của chiếc dù, không biết anh ta có biết rằng mình đang cầm trong tay sinh mạng một con người mà có lẽ anh chưa hề gập mặt hay quen biết không…
Plumb cũng nhận ra rằng ngoài chiếc dù đã giúp ông hạ xuống đất an toàn, ông cũng cần “chiếc dù” cho sự cương quyết, cần “chiếc dù” cho sự can đảm hầu chống đỡ với biết bao sợ hãi, gian khổ khi máy bay bị bắn rơi và ông sa vào tay kẻ thù…
Sau lần gập gỡ đó, bây giờ mỗi khi đi nói chuyện, Plumb luôn hỏi thính giả: “Ai đã giúp đỡ bạn, ai đã xếp những chiếc dù lót đường cho bạn thành công trên đường đời…”
Trong cuộc sống, ta hay xem thường và quên chuyện mà mọi người cho là nhỏ nhặt như khen ngợi hay nói lời khích lệ về việc làm tốt của người khác, cám ơn ai đó đã làm gì cho mình dù đó chỉ là bổn phận hay nghĩa vụ của họ… Xin đừng quên biết bao nhiêu người đã xếp những chiếc dù, hoàn tất những công việc của họ để giúp chúng ta êm ả đi qua những năm tháng trong cuộc đời của mình.
Cung Nhật Thành lược dịch

