Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Tưởng cũng nên nhắc lại trên đường Phan Đình Phùng (nay Điện Biên Phủ) có trường nữ trung học đầu tiên ở Sàigòn-trường Gia long được xây cất 1913, xưa gọi là trường áo tím, vì nũ' sinh mặc áo dài máu tím đi học. Trường thay đổi nhiều tên chính thức nhưng người Việt luôn gọi là trường Gia Long.
Image
Figure 51 Trường Gia Long đầu thập niên 1920

Image
Figure 52 Trường Nguyễn thị Minh Khai 2011

Đi về phía Đông Nam (phiá đường Lê Lợi) la 2 hai toà nhà lịch sử quan trọng. Pháp Đình Saigòn- còn gọi là toà Thượng thẩm Sàig̀on nằm trên đường Công Lý (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa)

Image
Figure 53 Pháp Đình Sàigòn trên đường Công Lý (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa)

Góc đường Công Lý và Gia long có dinh Gia long, nơi đây là chỗ ở dành cho thượng khách viếng thăm VNCH, trước đó là dinh thự của Thủ Hiến Cochinchina

Image
Figure 54 dinh Gia Long thời Pháp

Image
Figure 55 Trước 75, dinh Gia Long được dùng làm trụ sở Tối Cao Pháp Viện
Thảo Cầm Viên-Sở Thú

Sở Thú nằm trên đường Nguyên Bỉnh Khiêm, cuối đường Thống Nhất (Lê Duẩn) về phía Đông, đối diện với dinh Toàn Quyến,

Image
Figure 56 Bên trong khuôn viên của Thảo Cầm Viên có Viện Bảo Tàng Quốc Gia và đền thờ Hùng Vương

Image
Figure 57 Thảo Cầm Viên cạnh rạch Thị Nghè (Arroyo de l’Avalance)

Image
Figure 58 Chuồng Gấu- Sở Thú thời Pháp thuộc 1912

Image
Figure 59 Voi trong sở thú

Image
Figure 60 Đền Thờ Vua Hùng Vương trong Thảo Cầm Viên thập niên 60

Image
Figure 61 Bảo tàng Viện trong Thảo Cầm Viên thập niên 60
Trên đường -Thống Nhất- Lê Duẩn về phía dinh Độc Lập (nay Hội trường Thống nhất) có nhà thờ Đức Bà được bắt đầu xây dựng năm 1877 và được khánh thành 1880, nhưng mãi đến năm 1895 mới xây thêm hai tháp chuông.
Phía trước nhà thờ Đức Bà người Pháp cho xây tượng đồng Giám Mục Pigneau de Béhaine (Adran) và hoàng tử Cảnh .
Image
Figure 62 Nhà thờ đức Bà


Image
Figure 63 Quang cảnh Nhà thờ đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà thập niên 1940- Garage Jean Comte nằm trên đường Norodom sau đối thành Saigon Xe hơi công ty.
Ngày nay là tòa nhà thương mãi Diamond Plaza

Image
Figure 64 Saigòn xe hơi công ty trước 75.

Image
Bên hông nhà thờ là Bưu Điện Saigòn thời Pháp.

Image
Figure 65 Phía trước nhà thờ Đức Bà có Tượng Bá Đa Lộc (giám mục D’ Adran) và Hoàng tử Cảnh hướng về đường Tự Do (nay Đồng Khởi)
được đặt tại đây 1902, bên tay phải giơ bản hiệp ước Versailles 1787, bảo đảm viện trợ của nước Pháp cho vua Gia Long.
(http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ba-111a-loc/).
Phiá sau nhà thờ Đức bà có bùng binh và tượng Gambetta

Image
Figure 66 Bùng binh và tượng Gambetta trên đường Norodom

Tượng Gambetta trên đường Norodom, mặt quay về phía sau lưng của nhà thờ Đức bà, phía sau lưng của Gambetta là đường Duy Tân (nay Phạm Ngọc Thạch).
Con Đường “Trả lại em yêu” Duy Tân cây dài bóng mát của một thời sinh viên thơ mộng, mơ mộng. Nơi đây có hồ Con Rùa, có Viện Đại Học Saìgon,
đại học Luật khoa, nơi Tô Lai Chánh đã từng làm chủ tịch sinh viên Liên khoa trong biến cố đau buồn của lịch sử Việt Nam 1963.

Image
Figure 67 Hồ Con Rùa thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20

Image
Figure 68 Hồ Con Rùa 1968

Image
Figure 69 Hồ con Rùa 2010

Sau khi ghé thăm con đường lịch sử Norodom-Thống Nhất, chúng ta trở lại trạm xe điện trên đường Mạc Đĩnh Chi để ra chợ Bến Thành,
Xe điện chạy dọc theo Cường Để, dọc theo bến Bạch Đằng (nay T ĐT) quẹo phải vào đường Hàm Nghi (De La Somme),
chạy ngang trước chợ Bến Thành rồi về ga Saìgòn.

Image
Figure 70 Ga Sài Gòn 1881


Image
Figure 71 Đường xe lửa trước chợ Charner tiền thân của chợ Bến Thành (thập niên 1880) nằm trên đường Nguyễn Huệ (Charner)

Image
Figure 72 Bên trong ga Sàigòn khoảng thập niên 1910

Image
Figure 73 Đường rầy xe điện trước chợ Bến Thành và sở Hỏa Xa Đông Dương

Image
Figure 74 Xe lửa chạy trên đường Hàm Nghi (de La Somme) vào trước chợ Bến Thành rồi quẹo trái vào ga Saigon, bây giờ là khu công viên 23/9

Image
Figure 75 Đường xe điện trước chợ Bến Thành

Image
Figure 76 Dấu tích đường xe điện trên đường Trần Hưng Đạo thời đệ Nhất Cộng Hoà trước 1963 (nhìn về phía chợ Bến Thành )

Image
Figure 77 Từ ga Saigon cũng có tuyến đường chạy đến chợ Phú Nhuận, Chợ Tân Định.
Đường rầy xe điện trong ảnh đi cạnh tòa nhà Quốc Hội trước 75, chạy từ đường Nguyển Huệ (Charner) Bonnard )

Image
Figure 78 Xe điện quẹo mặt vào đường Nguyển Huệ từ Bến Bạch Đằng (Tôn Đức Thắng)
Từ ga Saigon còn gọi là ga xe lưả Mỹ đi Mỹ Tho) có tuyến đường đi Chợ Lớn –Bình Tây, đi Mỹ Tho

Image
Figure 79 Từ ga Chợ Lớn đi về ga Sàigòn

Image
Figure 80 Đường rầy xe lửa-lớn nhỏ trên đường Hàm Nghi

Image
Figure 81 Một góc cạnh khác của tuyến đường Hàm Nghi, là tramway (xe điện nhỏ) chạy quanh từ chợ Sàigòn dọc Hàm Nghi
xuống bến Bạch Đằng qua công trường Mê Linh sau tòa Nhà Quốc Hội (nhà Hát Thành Phố bây giờ) dọc theo đường Lê Lợi (Bonnard).

Image
Figure 82 Đường rầy ở công trường Mê linh

Image
Figure 83 Chạy ngang Nhà Hát Thành Phố

Image
Figure 84 Xe điện chạy từ đường Lê Lợi (Bonard) ra chợ Bến Thành khoảng 1901
Xuống ga Sàigòn đi về đường Lê Lợi, con đường tình sử, con đường xưa em (anh) đi, con đường của những buớc chân chiều chủ nhật và thành ngữ bát phố. Chiếu cuối tuần nào cũng thế là chiều của riêng minh, của học sinh sinh viên, của em hậu phương anh tiền tuyền, của những tà áo như cánh bướm muôn màu, của những bộ đồng phục chải chuốt, của mọi người không phân biệt giai cấp của quán kem Mai Hưong, Bạch Đằng, Pole Nord, của nước miá Viễn Đông hay chỉ một vòng ngắm cảnh.

Trưóc 75, cơ sở nghĩ từ trưa thứ bảy, chiều nào thiên hạ cũng đổ xô ra đường, mỗi người tìm vui trong cái ồn ào náo nhiệt cho riêng mình. Thú vui tùy túi tiền, ngay cả hoà mình vào dòng người bát phố chỉ cần một cây kem hay môt ly nước mia, kẻ vào nhà hàng Thanh Thế, Kim sơn, Thanh Bạc , kẻ giàu sang có máu mặt vào Continental, Caravelle, kẻ ngắm nhìn mẫu hàng mới trong Passage Eden để ước mơ, để ước gì mua được tặng nàng.
Image
Figure 85 thời Pháp Thuộc, địa điểm nhà hàng Caravelle là khách sạn Terrasse

Image
Figure 86 Nhà Hàng Continental thời Pháp Thuộc 1931
Cũng có những người tìm vui trong sách vở với nhà sách Khai Trí, Vĩnh Bảo trên đường Lê Lợi, hay nhà sách Xuân Thu đường Tự Do. Nhà sách này chuyên bán những loại sách đặc biệt, sách ngọại quốc, nhà sách có gắn máy lạnh, giá cao, khách lai vãng thường là người ngoại quốc hoặc dân sang, thời Pháp thuộc nơi đây là tiệm thuốc Tây Pharmacie Normal. Sinh Viên học sinh có chút vốn Anh ngũ' thì vào thư viện Abraham Lincoln ở góc đường Nguyển Huệ và Lê Lợi vừa thoải đọc sách vì thư viện có gắn máy lạnh. Vào thời pháp chổ này là hãng vừa bán và sửa xe hiệu Citroen Bannier (1930)
Image
Figure 87 tiệm thuốc Tây Pharmacie Normal (nay nhà sách Xuân Thu đường Tự Do)

Image
Figure 88 Thư viện Abraham Lincoln góc Nguyễn Huệ-Lê Lợi, trước đó nhà bán và sửa xe Citroen Bannier

Image
Figure 89 Công Ty Bannier trưng bày xe, gần sát bên là rạp Rex truớc 75, bây giờ là khu khách sạn Rex
Cùng phía băng qua đường thì có thương xá GMC, sau là thương Xá TAX

Image
Figure 90 Thương Xá Tax thời Pháp trước 1948

Image
Figure 91 Thương xá TAX khoảng 1966 với tiệm kem có máy lạnh Pole Nord
Đầu đường Nguyễn Huệ (Charner) có dinh Xã Tây-sau 1954 gọi là Tòa Đô Chánh

Image
Figure 92 Dinh Xã Tây khoảng đầu thế kỷ 20.

Image
Figure 93 Dinh Xã Tây 1908

Image
Figure 94 Toà Đô Chánh 1955
Toà Đô Chánh 1955 và ông Trần Văn Hương là vị Đô Trưởng đầu tiên. Cũng nên nhắc lại cụ Trần văn Hương là chính trị gia sanh ở Vĩnh Long nổi tiếng thanh liêm và trong sạch, Trần Văn Hương (1902–1982) là cựu thủ tướng hai lần (1964–1965 và i 1968–1969), sau đó phó tổng thống (thời tổng thống Nguyển văn Thiệu (1971-1975, và rồi tổng thống 7 ngày 21/4/75 đến 28/4/75. Sau 30/4/75 Ông nhất định ở lại Saigon, không chịu xuất ngoại tỵ nạn chính trị và chết ở Sàigòn năm 1982.
Image
Figure 95 Tòa Đô Chánh (nay Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM) 2011

Từ tòa Đô Chánh nhìn ra bồn nước, bên trái có rạp chiếu bóng Eden, bên phải có rạp Rex
Giới sành điệu, ký giả người lịch lãm thì vào Givral ở góc đường Lê Lợi- Tự Do
hoặc Brodard trên đường Tự Do (đồng Khởi) hay La pagoda góc đường Tự Do- Lê Thánh Tôn.

Image
Figure 96 Brodard thập niên 60

Image
Figure 97 Nay là cà phê Gloria Jeans 2011;

Quán Brodard trước ở Góc đường Tự Do (nay Đồng Khởi) và Nguyển Văn Thinh (nay Mạc Thị Bưởi), sau này dời vào Mạc thị Bưởi không còn giữ được danh tiếng ngày xưa (bánh không ngon như xưa. Địa điểm ở góc đường bây gìờ là Gloria Jeans )

Image
Figure 98 Pharmacie principale Solirene, nay là Givral 2009

Địa điểm Pharmacie principale Solirene là tiệm thuốc Tây đầu tiên ở Saigon, về sau là nhà hàng Givral, cùng với nhà hàng khách sạn Continental, hai địa điểm nằm ở góc đường Tự Do và Lê Lợi, nổi tiếng trên thế gìới vì đây là nbửng nơi lai vãng của bao nhiêu danh nhân, ký giả, những nguời lịch lãm khắp nơi ghé bến Saigon, thời ấy được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Image
Figure 99 Givral khoảng 2000, nay 2011 đả bị phá hủy để làm trung tâm thương mại

Góc Tự Do –Lam Sơn (Place Garnier) có Khách sạn nổi tiếng Caravelle khánh thành 12/1959, thời Pháp gọi là Terrasse hotel, thập niên 1960 thời VNCH nơi đây là toà Đại sứ Úc, Tân Tây Lan và trụ sở của NBC, ABC và CBS hãng truyền hình Mỹ.

Image
Figure 100 Terrasse hotel thời Pháp nay Caravelle

Image
Figure 101 Khách sạn Caravelle khánh thành 12/1959

Image
Figure 102 Nhà hàng La Pagode góc đường Tự Do Lê Thánh Tôn
Trước mặt Givral là toà nhà hát thành phố thời Pháp xây năm 1900
được VNCH dùng làm Quốc Hội Hạ Viện nơi đã chứng kiến bao cảnh thăng trấm của một chế độ dân chủ phôi thai

Image
Figure 103 Hạ Viện thời VNCH, thời Pháp Opera de ville
Phía trưóc Hạ Viện (nhà hát thành phố) có một vườn hoa (thời Pháp gọi là Place Francis Garnierm công trường Lam Sơn),
thời VNCH có bức tượng đài tưởng niệm Thủy Quân Lục Chiến, nhưng bị phá hủy sau 30/4/75

Image
Figure 104 đài tưởng niệm Thủy Quân Lục Chiến

Đi qua khỏi vườn hoa, trở lại đường Nguyển Huệ, ngày xưa đường này là kinh đào có tên là Kinh Lớn chạy từ sông Saigòn đến phía trước cùa dinh Xã Tây

Image
Figure 105 Kinh đào nằm trước Chợ Charner, gọi là Kinh Lớn vận chuyển cung cấp thực phẩm hàng hóa cho Sàigòn được xây năm 1860

Image
Figure 106 Kinh Lớn phía trước chợ Charner, chạy dài đến trước dinh xã Tây góc trên trái

Image
Figure 107 Năm 1887 Kinh Lớn bị lấp đi thành đường Kinh Lấp, sau đó đổi tên thành đuờng Charner

Image
Figure 108 Chợ Charner vào thập niên 1890
Chợ Charner vào thập niên 1890 có đường xe lửa chạy bằng hơi nước đi qua, địa điểm nằm giữa đường Ngô Đức Kế và Hải Triều (ngày xưa người Quảng Đông buôn bán tập trung ở đây đông)
Image
Figure 109 Quang cảnh chợ Mới-chợ Sài Gòn Bến Thành
Thay thế chợ Charner, người Pháp cho xây dựng chợ Bến Thành từ năm 1912-1914 ở địa điểm ngày nay, xưa là một vùng ao xình lầy được lấp, ảnh trên chụp khoảng thập niên 1920. Phía trước là quảng trường Cuniac (tên ngưới Pháp lo chuyện lấp ao lập chợ) nguời Sàigòn thường gọi chợ này là chợ Sàigòn và bùng binh Sàigòn mặc dù cũng gọi chợ Bến Thành nhưng không gọi bùng binh Bến Thành bao giờ.
Image
Figure 110 Chợ Bến Thành 1922

Image
Figure 111 Việt Minh đốt cháy Chợ Bến Thành tháng 3 năm 1950

Image
Figure 112 Chợ Saigon-Bến Thành ngày nay.
Chuyến xe điện chuyên chở ký ức cùa một thời tràn đầy kỷ niệm, tôi không biết Sàigòn của bạn cùa những người đến Sàigòn dung thân. Sàigòn đến với tôi như người mẹ rộng lượng dù có biết bao người con đã làm mẹ phiền lòng. Sàigòn trong trí nhớ với những con đường với hai hàng sao với những bông sao quay tròn như bông vụ những khi trời trở gió, của những mùa hè có tiếng ve kêu trên hàng cây điệp, phượng vĩ nở đỏ.
Sàigòn mưa nắng hai mùa, mưa như có hẹn đến những buối chiều rồi lại đi, rửa sạch thành phồ cho gió mát thổi về đón mừng Saigon nhộn nhịp về đêm. Thỉnh thoảng có chút lạnh, sưo'ng sáng những ngày về cuối năm với những đống ung buông khói nhẹ lên mây theo cánh én. Sàig̀on của tôi có đàn én xếp thành hàng bay lúc màn đêm len lén về thành phố, những chim sẻ ngụp lặn trong vũng nước mưa. Sàigòn của những bước chân chiều thứ bảy, chủ nhật bát phố ăn kem Lê Lợi, nước mía Viễn Đông của những hàng quán la liệt trên vỉa hè, trên đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do, Lê Thánh Tôn.

Sàigòn của nhũ'ng khu nhộn nhịp sinh hoạt sinh viên như khu Duy Tân, khu đại học Cường Để, cùa những đêm đặc biệt như đêm Kiến trúc với những ước mơ không bao gìờ thành tựu.
Sàig̀on với những địa danh mộc mạc, nhũ'ng xóm bình dân xen lẫn khu của những toà nhà tráng lệ của giai cấp giàu sang ít người gốc Việt, người Việt phần đông sống vùng ven như Phú Nhuận, Gia Định, Gò Vấp vào Sài Gòn làm việc.

Xóm tôi mùa hè có đom đóm bay, có những em bé bắt bỏ vào chai cho chiếu sáng, có nhũ'ng xe mì dạo gõ lóc cóc khi chiều đến, có xe đá bào nhận, có chú ba Tàu “đổ” xí ngầu bò viên, có bánh ướt tôm khô, bò bía, có những người đội đầu bán rao bánh cam bánh vòng, chị bán chè rao trong đêm “ai ăn chè đậu xanh nước dừa đường cát hông” hay “ai ăn tàu hủ hông”…. Sàigòn sáng sớm với tiếng hát Hoàng Oanh, ban đêm thi văn Tao Đàn của Thi sĩ Đinh Hùng với giọng ngâm Hồ Điệp, Quách Đàm, Hoàng Oanh. Đêm Saigon có vũ trường, có đại nhạc hội, có nhũ'ng đoàn cải lương, có nhũ'ng con đường ăn uống.

Rôi chiến tranh mang đến cho bao nhiêu đau thưo'ng, xụp đổ của chia ly, của những mảnh tình vừa chớm nỏ' đã chết đi.
Rồi cuộc đổi đời có trăm người vui có vạn người buồn.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image


Lòng người ta là giấy, chứ không phải vàng đá

Là giấy nhưng sao người ta cứ nghĩ là vàng để đem đi thử lửa? Đến lúc cháy mất rồi lại thất vọng lòng dạ bạc đen? Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy, nên cái cần và nên làm là chúng ta phải nâng niu, giữ gìn cho nhau để tránh khỏi nắng mưa của cuộc đời?

Tôi muốn được kể một câu chuyện:

Chuyện xưa kể rằng, có một đạo sĩ nổi tiếng thần thông, trong một lần ngao du sơn thuỷ, thấy một phụ nữ đang quỳ bên một ngôi mộ mới, vừa khóc vừa quạt. Lấy làm lạ, đạo sĩ đến hỏi sự tình. Mới hay rằng, người dưới mộ là người chồng vừa khuất của thiếu phụ.

Ngán thay, trước khi chết có trăn trối lại rằng đến khi mộ khô thì người vợ trẻ hãy tái giá. Người thiếu phụ vì thế mới ở đây, quạt cho mộ nhanh khô. Người đạo sĩ động lòng, mới hoá phép giúp cho thiếu phụ, ngôi mộ thoắt cái đã khô như những ngôi mộ cũ. Người thiếu phụ vui vẻ cảm ơn đạo sĩ để về nhà, nơi người tình mới của mình mong đợi.

Người đạo sĩ về nhà, đem chuyện kể với vợ của mình. Vợ của đạo sĩ chê cười người đàn bà kia thật bạc tình. Được một thời gian, bỗng dưng người đạo sĩ mắc phải bạo bệnh, liệt giường và tạ thế. Trước khi nhắm mắt mới trăn trối lại rằng hãy giữ quan tài đủ bảy bảy bốn chín ngày rồi hãy an táng. Người vợ khóc vâng lời.

Một ngày kia, có một người xưng là học trò đến xin ở lại chịu tang người đạo sĩ. Dung mạo người học trò thật khôi ngô tuấn tú. Thế rồi, chỉ ba ngày sau, người vợ đạo sĩ đã ăn nằm với người học trò.

Được bảy ngày sau, người học trò lăn ra ốm. Bệnh ngày một nặng. Mới nói với người vợ đạo sĩ rằng, ta mắc phải bạo bệnh, chỉ có ăn óc người mới khỏi được. Người vợ liền lấy vồ, bật nắp quan tài định đập vỡ đầu xác chết để lấy óc cho nhân tình ăn.

Nào ngờ, vừa bật nắp quan tài thì vị đạo sĩ tỉnh lại. Người thiếu phụ quay lại thì chàng trai trẻ đã biến mất tự khi nào. Mới hay, đó là do phép thuật phân thân của người đạo sĩ cao tay. Người vợ xấu hổ quá, mới tự tử mà chết.
Người đạo sĩ đó là Trang Chu (còn gọi là Trang Tử), cũng là một hiền triết của phương Đông chúng ta. Câu chuyện đó, câu chuyện “vợ thầy Trang Chu” lưu truyền gần hai nghìn năm để chê cười cái gọi là “lòng dạ đàn bà”.

Ngày nay, lại có chuyện anh đảng viên nọ sau khi “hoàn thành kế hoạch” (hai con), mới giấu vợ đi đình sản. Người vợ thì lại muốn sinh thêm con cho vui cửa vui nhà nên “tích cực cố gắng” mà mãi không thấy “kết quả”. Người chồng vẫn giấu vợ, thậm chí bởi vì cái khoản đình sản kia không ảnh hưởng đến khả năng đàn ông của anh, nên anh lại còn làm ra vẻ hăng hái “phụ giúp” vợ mình.

Thế rồi, một hôm người vợ vui vẻ thông báo những “nỗ lực cố gắng” của hai vợ chồng đã có “kết quả tốt đẹp”, cô đã có thai ba tháng. Choáng váng, nhưng người chồng giấu đi để đi “kiểm định lại”. Kết quả biểu đồ của anh là 0%. Cuộc tiểu phẫu đình sản đã thành công tốt đẹp.

Ấy, cái câu chuyện thời nay cũng đang nói đến cái lòng dạ con người…
Lại có người lấy email giả, để chính mình chat và “thử lòng” người chồng mà mình hết mực thương yêu. Để đến khi anh ta trở nên lạnh nhạt tình cảm vì cho rằng người vợ thiếu tin tưởng tình yêu của mình. Rồi lấy bạn gái của mình để thử chồng, và rước đau khổ vào mình khi người chồng chẳng “trước sau như một”.

Còn bao nhiêu câu chuyện trớ trêu nữa mới đủ để chúng ta hiểu rằng, lòng người ta là giấy, chứ nào đâu phải vàng đá… Vì là giấy, nên sao ta cứ nghĩ là vàng để đem đi thử lửa? Đến lúc cháy mất rồi lại thất vọng lòng dạ bạc đen? Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy, nên cái cần và nên làm là chúng ta phải nâng niu, giữ gìn cho nhau để tránh khỏi nắng mưa của cuộc đời?

Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy nên đẹp xấu là do ta vẽ nên, tốt lành là do ta viết nên mà thù hận cũng là ta đặt bút. Sao ta không viết lời hay, vẽ lấy bức tranh yên bình để xây dựng, gìn giữ cái hạnh phúc mong manh của gia đình?

Tôi chẳng cho cách làm của thầy Trang Chu là hay, tôi chẳng cho người đảng viên kia là không có lỗi. Tôi cũng chẳng ủng hộ việc thử lòng của các chị thời nay với email và các phương tiện khác. Thời gian thì trôi đi, nhưng lòng người thì vẫn vậy thôi, vẫn là giấy. Mà đá cũng mòn, vàng cũng phai, huống hồ là giấy…

Người ta, cùng là một người, sao có lúc nhân từ đáng yêu, lại có lúc cay nghiệt thế? Ấy bởi ai cũng có hai mặt tốt xấu trắng đen lẫn lộn.
Là những người thề non hẹn biển với nhau, cam kết gắn bó với nhau để xây dựng tổ ấm của mình, tôi thiết nghĩ việc nên làm là mang cái mặt tốt ra để đối đãi với nhau. Lấy mặt trắng mà đối đãi với nhau (phu phụ tương kính như tân – vợ chồng kính nhau như khi còn mới). Đó mới là cái kế vạn toàn. Chứ nếu cứ mang cái mặt trái để đối đãi với nhau, mang cái xấu để dành cho nhau, như thế thì đồng sàng mà dị mộng, người hiền lành mà đối xử với nhau như trộm cướp. Cái đó gần với sự tan vỡ lắm.

Ai ơi, nếu còn thương nhau, chớ có thử lòng nhau. Và hãy hiểu, lòng con người là giấy. Ai không động lòng trước một cử chỉ ân cần? Ai vô cảm bởi một lời khen? Ai vắng nhau lâu ngày mà không hề ham muốn? Chẳng phải lòng mình cũng vậy ư?
Vậy nên, nâng niu bao nhiêu vẫn chưa đủ. Một chút nghi kỵ đã là thừa.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc

Image
Hai vợ chồng nghệ sĩ Phạm Duy Lân - Thanh Nga
Nguyễn Phương

Tiếp tục các bài viết về âm nhạc truyền thống Việt nam, soạn giả cải lương Nguyễn Phương giới thiệu về thân thế sự nghiệp và cuộc đời nghiệt ngã của nữ nghệ sĩ tài danh của sân khâu cải lương Việt nam Thanh Nga, người được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc.
Ông Hội đồng quản hạt tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Lợi kết hôn với bà Nguyễn Thị Thơ, sanh được ba con, tại xã Thái Hiệp Thạnh, tỉnh Tây Ninh : Trưởng nam là Albert Nguyễn Hữu Thìn sanh năm 1940, tức là diễn viên Hữu Thìn của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Thứ nữ là Juliette Nguyễn Thị Nga, sanh ngày 31 tháng 7 năm 1942 tức là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga. Thứ nam, Michel Nguyễn, sanh năm 1944, tác giả một tuồng cải lương duy nhứt tựa là « Người đi trong ngõ tối », từ trần năm 1970.
Năm 1945, ông Hội Đồng Lợi bị Việt Minh sát hại tại tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thơ sợ sẽ bị giết hại như chồng, nên dắt ba đứa con còn nhỏ xuống Sài Gòn lánh nạn. Năm 1948, Bà Thơ tái giá với ông Lư Hòa Nghĩa tức nghệ sĩ danh ca Năm Nghĩa, sanh được 5 con: Lư Bảo Quốc, tức danh hài Bảo Quốc. Lư Chí Bình, Lư Ánh Đào. Lư Ánh Mai và Lư Chí Tiên, không theo nghề nghệ sĩ sân khấu.
Năm 1952, mới 10 tuổi, Thanh Nga được nghệ sĩ Năm Nghĩa dạy ca và đưa lên sân khấu đoàn Thanh Minh ca vọng cổ bài Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa, trước khi mở màn hát. Nhạc sĩ Út Trong nhạc trưởng của đoàn hát dạy cho Thanh Nga ca những bài bản cổ nhạc khác.
Năm 1954, vai diễn đầu tiên của Thanh Nga là vai đào con Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa.
Năm 1958, Thanh Nga 16 tuổi mới được đóng vai Sơn Nữ Phà Ca, vai chính trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới của soạn giả Kiên Giang và Qui Sắc. Qua vai hát Sơn Nữ Phà Ca, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được thưởng Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm, do ký giả Trần Tấn Quốc thành lập, giải thưởng cho diễn viên triển vọng xuất sắc nhất trong năm.
Năm 1959, nghệ sĩ Năm Nghĩa, dưởng phụ và là thầy của Thanh Nga mất. Năm !960, Bà Bầu Thơ, thân mẫu của Thanh Nga trực tiếp điều khiển đoàn Thanh Minh, đổi bảng hiệu lại là Đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà rước những nghệ sĩ bực thầy về dạy cho Thanh Nga ca, diễn, như anh Năm Châu, cô Phùng Há, cô Ba Thanh Loan, cô Kim Cúc. Anh Ba Vân.
Từ năm 1960 đến năm 1968 nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn những vai chánh, đóng cặp với những nam nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang và có lúc có anh Năm Châu, anh Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, bà Năm Sađec đóng chung tuồng với Thanh Nga.
Thanh Nga là một ngôi sao sáng, với sắc đẹp thật dịu dàng, ngày càng quyến rũ. Thanh Nga vào vai nữ hoàng, công chúa, cô có nét đẹp lộng lẫy kiêu sa. Vào vai cô gái quê nghèo, Thanh Nga mang nét thôn quê bình dị với chiếc áo bà ba, với giọng ca truyền cảm đến lạ lùng, Thanh Nga đã có những vai để đời như vai Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa; Mã Nhi Nương Bữu ( Gió ngược chiều ), Giáng Hương ( Sân khấu về khuya ), Diệp Thúy trong tuồng Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong tuồng Bọt biển. . .
Năm 1960 Thanh Nga được thưởng bằng danh dự diễn viên xuất sắc giäi Thanh Tâm. Năm 1966, Thanh Nga lại được thưởng giải diễn viên xuất sắc nhất trong năm. Thanh Nga cũng thành công trong lãnh vực Điện ảnh qua các phim: Đôi mắt người xưa, Loan mắt Nhung, Lan và Điệp, Sau giờ giới nghiêm, Triệu phú bất đắc dï . . .
Năm 1968, Tết Mậu thân, chiến tranh lan vô các thành phố, chánh phủ ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm, các đoàn hát cải lương không hát được, nhiều đoàn phải chịu rã gánh.
Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được ông Phạm Duy Lân, Đổng Lý Văn Phòng bộ Thông Tin gợi ý xuất ngoại sang Pháp biểu diễn cho Việt Kiều xem nhân dịp Tết năm 1969. Đối với bộ Thông Tin, việc đưa đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp hát là một công tác tranh thủ tình cảm của Việt Kiều ở Pháp khi đang có hội nghị bốn bên ở thủ đô Paris. Đối với đoàn hát thì đây là lối ra duy nhứt để đoàn có doanh thu. Bà bầu Thơ đồng ý, vì vậy ông Phạm Duy Lân thường xuyên giúp đở bà bầu Thơ giải quyết mọi thủ tục liên quan tới việc đưa đoàn hát xuất ngoại, việc chọn tuồng và chọn diễn viên.
Năm 1969, đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở Pháp trong vòng 2 tháng, hát ở rạp Maubert, Playel và các tỉnh miền Nam nước Pháp, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được khán giả Việt Nam ở Pháp nhiệt liệt khen ngợi qua các tuồng Con gái chị Hằng, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Hoa mộc lan, Giấc mộng đêm xuân.
Sau chuyến lưu diễn ở Pháp về, nữ nghệ sĩ Thanh Nga thành hôn với ông Phạm Duy Lân. Năm 1972, đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngưng hoạt động, nữ nghệ sĩ Thanh Nga đi hát cho đoàn Việt Nam của bà bầu Thu hoặc đi đóng phim, thu truyền hình tuồng cải lương.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, bà bầu Thơ được phép thành lập gánh hát với bảng hiệu đoàn Thanh Nga. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga tiếp tục nhận được cảm tình nồng hậu của khán giả qua các tuồng Tấm lòng của Biển, Tiếng trống Mê Linh, Bài thơ trên cánh diều, Thái hậu Dương Vân Nga.
Ngày 16 tháng 3 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh tại rạp Lao Động B gần cầu chữ Y thì có một kẻ vô danh liệng một quả lựu đạn lên sân khấu. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.
Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Sai Gòn. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).
Sáng hôm sau hay tin, chúng tôi lập tức đến nhà bà bầu Thơ. Bà rất buồn, nói như lạc giọng: " Chú thiếm Ba, Thanh Nga bị bắn chết rồi. Chú thiếm ra bệnh viện Sai Gòn thăm cháu! ". Thanh Lệ, vợ của Hữu Thìn cùng đi với chúng tôi. Khó khăn lắm chúng tôi mới vô bệnh viện được vì dân chúng hiếu kỳ đứng nghẽn cả lối đi. Nhân viên bệnh viện đưa chúng tôi đến phòng lạnh, kéo hai hộc đựng xác ra để chúng tôi nhìn.
Thanh Nga nằm hộc trên, khi kéo ra thì tóc cô đổ xõa dài xuống đất, đen mượt như một dòng suối đen. Thanh Nga đã được chị Ngọc Nuôi đánh phấn, thoa son, hóa trang như đang trình diễn. Nét mặt Thanh Nga vẫn đẹp, đôi mắt nhắm lại như đang trong giấc ngủ bình yên. Cô đã được chị Ngọc Nuôi và bà Sáu đồ hội thay cho mặc bộ y phục Thái Hậu Dương Vân Nga y như đã mặc trên sân khấu đêm rồi, trước khi bị sát hại. Ông Phạm Duy Lân, chồng của Thanh Nga nằm hộc dưới, nét mặt còn lộ vẻ kinh hoàng. Ông đã được thay bộ âu phục đen, thắt cà vạt sọc xanh trắng.
Các nghệ sĩ Kim Cương, Ngọc Nuôi, Liễu Thuận, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, bà năm Hay (em bà bầu Thơ) và chúng tôi nghe anh tài xế của ông Lân (tên Cát) kể lại diễn biến thảm cảnh Thanh Nga bị sát hại.
Anh Cát nói xe về tới nhà ở đường Ngô Tùng Châu, khi anh mở cửa xe bước ra thì bị một người lạ mặt đánh một báng súng vô ót rồi xô anh té chúi trở vô xe. Anh còn nghe tiếng cửa xe bên kia mở, tiếng khóc thét của Cúc Cu, tiếng la lớn của Thanh Nga :" Buông con tôi ra, buông con tôi ra" và tiếng của ông Lân la rất lớn: " Bớ người ta ...cướp... cướp ", tiếp theo đó là hai phát súng chát chúa. Kẻ sát nhân bắn xong, phóng lên chiếc xe Honda đen, chạy mất...
Ông Phạm Duy Lân chết liền tại chỗ, nằm gục dưới đất, gần cửa sau xe, vết đạn trúng tim. Thanh Nga bị bắn trên ngực phía trái gần tim. Cô được chở bằng xe cyclo đi bệnh viện Sài Gòn cấp cứu, nhưng xe đến ngang ga xe lửa thì Thanh Nga tắt thở.
Theo yêu cầu của Hội nghệ sĩ, lễ tang của Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân do Hội nghệ sĩ đứng ra tổ chức. Quan tài của Thanh Nga và chồng được quàng tại nhà Hội, số 81 đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Mac Mahon cũ) hai quan tài để song song, sát vào nhau và để một lư hương chung cho hai vợ chồng, tránh việc người vào viếng chỉ thắp hương cho Thanh Nga mà không thắp hương cho ông Lân. Khi liệm, Thanh Nga vẫn mặc y phục hát vai Thái Hậu Dương Vân Nga, y phục đẩm máu của Thanh Nga được để dưới đất ở đầu quan tài.
Tôi còn nhớ số người ái mộ Thanh Nga quá đông, phải tổ chức cho xếp hàng 4, từ cổng vô ở đường Nguyễn Văn Trổi, nối đuôi trên đường Tú Sương dài tới trường Régina Pacis. Liên tục trong ba ngày ba đêm, số người đến viếng tang kiên nhẫn nối đuôi nhau, tay cầm một cây nhang đã đốt sẵn hoặc một cành hoa do ban tổ chức đưa cho, để khi vào trước quan tài Thanh Nga đỡ tốn thì giờ thắp nhang.
Số nghệ sĩ các đoàn hát và các em học sinh ái mộ cũng xếp hàng 4 trên đường Nguyễn Văn Trỗi, cũng cầm nhang đốt sẵn, đi vào bằng cổng phụ, tới trước quan tài Thanh Nga, đặt hoa xuống hoặc cắm nhang rồi đi ra về theo cổng chính. Số người theo sau quan tài Thanh Nga đến nơi an nghỉ cuối cùng cũng rất đông, phải kể là một con số kỷ lục. Cứ tưởng tượng, số người đi đưa tang Thanh Nga đứng lấp cả lòng đường Hiền Vương. Đầu đám tang đã tới đường quẹo qua Dakao, dòng người nối đuôi vẫn chưa rời khỏi trụ sở của Hội ở đường Nguyễn Văn Trỗi. Có thể nói là cả mấy chục ngàn người đã đi tiễn Thanh Nga.
Phát súng bắn vào Thanh Nga đã làm bàng hoàng mọi người. Nhiều nghi vấn đã được đặt ra: Ai là thủ phạm đã giết Thanh Nga? Với mục đích gì?
Dư luận nói Phục Quốc quân giết Thanh Nga thì căn cứ vào việc Thanh Nga hát những vở tuồng của cộng sản, Thanh Nga là công cụ tuyên truyền của cộng sản, giết Thanh Nga là cảnh cáo những nghệ sĩ khác. Nhưng khi mất Sài Gòn rồi, mất cả miền Nam rồi, có nghệ sĩ nào mà không ca, không hát những tuồng đã được nhà cầm quyền đương thời kiểm duyệt và cho phép hát ? Những tuồng như Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tấm lòng của biển. . . có điểm nào đáng để mà kết án tử hình người nghệ sĩ đã hát những tuồng đó ?
Dư luận nói cộng sản Trung quốc giết thì căn cứ vào tình hình gay cấn giữa Trung Quốc và Việt Nam (Nạn Hoa kiều ở Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn... ) Thanh Nga diễn những vở chống xâm lăng Tàu như Tiếng trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga ...
Lúc đó tình hình giữa Việt Nam và Trung Cộng đang căn thẳng với nhau nên nhà cầm quyền lợi dụng cái chết của Thanh Nga để mà động viên tòng quân chống xăm lăng Tàu Cộng. Thanh Nga chết ngày 26 tháng 11 năm 1978, Tàu cộng đánh qua biên giới tháng 2 năm 1979, hỏng lẽ họ giết chết Thanh Nga ba tháng trước rồi mới tràn qua biên giới sao ?
Đến cuối năm 1987, có phiên " Tòa án nhân dân thành phố " xử những tên bắt cóc trẻ thơ và giết người. Các báo tường thuật: Vụ án Thanh Nga trước sau chỉ đơn thuần là một vụ bắt cóc con để tống tiền những cha mẹ có tên tuổi, có máu mặt sau 1975 như cô đào Kim Cương, cô đào Thanh Nga, bác sĩ Nguyễn La Hỹ. Họ là những người chỉ có một đứa con duy nhứt và lại lắm bạc nhiều tiền.
Con trai của đào Kim Cương tên Tô Rô bị bắt vào ngày 26 tháng 12 năm 1977 giá tiền chuộc là 20 lượng vàng. Sau khi Kim Cương nạp đủ số vàng trên, bọn cướp cho Tô Rô uống thuốc ngủ rồi đem tới bỏ trước cửa Sở Bưu Điện Saigon. Kim Cương được báo tin, tới nhận lại con.
Đến con trai của Thanh Nga, Cúc Cu Phạm Duy Hà Linh, vì Thanh Nga và ông Lân chống cự, kêu cứu, bọn chúng sợ quá, bắn đại để thoát thân (theo lời khai của can phạm Nguyễn Thanh Tân trước Tòa)
Mấy tháng sau, ngày 6 tháng 2 năm 1979, xảy ra vụ bắt cóc con trai bác sĩ Nguyễn La Hỹ làm việc tại bệnh viện Chợ Rẩy tên là Phương. Bọn bắt cóc người cũng đòi tiền chuộc là 20 lượng vàng.
Các báo kể: " Trong một cuộc phục kích, công an bắn trúng lưng tên Nguyễn Văn Hóa làm tên nầy bị trọng thương, phải vào bệnh viện cứu cấp. Do lời khai của tên Hóa, những tên trong băng bắt cóc cháu Phương bị sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương, con bác sĩ Hỹ được Tân đưa về giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi mà hơn một năm trước chúng cũng giam giữ cháu Tô Rô. Như vậy hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm và giàu có thì đã rõ. Còn những phát đạn bắn vào vợ chồng Thanh Nga thì tên Tân khai là vì phản ứng quyết liệt của hai vợ chồng Thanh Nga, chúng sợ ông Lân có súng, nên ra tay trước để tẩu thoát.
Mạng sống của con người thì ai cũng phải trân trọng, bởi lẽ người ta sinh ra chỉ một lần và chết đi cũng chỉ một lần. Nhưng cái chết của từng mỗi con người chỉ là tổn thất của từng mỗi gia đình hay trong một phạm vi quan hệ nhỏ. Còn sinh mạng bị cướp đi của Thanh Nga là một tổn thất không gì bù đắp nổi của sân khấu cải lương và là niềm đau của hàng triệu người. Dù tội ác đã được trừng trị, nhưng có lẽ thêm ngàn lần trừng trị nữa cũng không tương xứng với những tổn thất mà tội ác đã gây ra.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thanh Nga, Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc

Image
Hai vợ chồng nghệ sĩ Phạm Duy Lân - Thanh Nga
Nguyễn Phương

Tiếp tục các bài viết về âm nhạc truyền thống Việt nam, soạn giả cải lương Nguyễn Phương giới thiệu về thân thế sự nghiệp và cuộc đời nghiệt ngã của nữ nghệ sĩ tài danh của sân khâu cải lương Việt nam Thanh Nga, người được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu má hồng phận bạc.
Ông Hội đồng quản hạt tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Lợi kết hôn với bà Nguyễn Thị Thơ, sanh được ba con, tại xã Thái Hiệp Thạnh, tỉnh Tây Ninh : Trưởng nam là Albert Nguyễn Hữu Thìn sanh năm 1940, tức là diễn viên Hữu Thìn của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Thứ nữ là Juliette Nguyễn Thị Nga, sanh ngày 31 tháng 7 năm 1942 tức là nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga. Thứ nam, Michel Nguyễn, sanh năm 1944, tác giả một tuồng cải lương duy nhứt tựa là « Người đi trong ngõ tối », từ trần năm 1970.
Năm 1945, ông Hội Đồng Lợi bị Việt Minh sát hại tại tỉnh Tây Ninh. Bà Nguyễn Thị Thơ sợ sẽ bị giết hại như chồng, nên dắt ba đứa con còn nhỏ xuống Sài Gòn lánh nạn. Năm 1948, Bà Thơ tái giá với ông Lư Hòa Nghĩa tức nghệ sĩ danh ca Năm Nghĩa, sanh được 5 con: Lư Bảo Quốc, tức danh hài Bảo Quốc. Lư Chí Bình, Lư Ánh Đào. Lư Ánh Mai và Lư Chí Tiên, không theo nghề nghệ sĩ sân khấu.
Năm 1952, mới 10 tuổi, Thanh Nga được nghệ sĩ Năm Nghĩa dạy ca và đưa lên sân khấu đoàn Thanh Minh ca vọng cổ bài Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa, trước khi mở màn hát. Nhạc sĩ Út Trong nhạc trưởng của đoàn hát dạy cho Thanh Nga ca những bài bản cổ nhạc khác.
Năm 1954, vai diễn đầu tiên của Thanh Nga là vai đào con Nghi Xuân trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa.
Năm 1958, Thanh Nga 16 tuổi mới được đóng vai Sơn Nữ Phà Ca, vai chính trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới của soạn giả Kiên Giang và Qui Sắc. Qua vai hát Sơn Nữ Phà Ca, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được thưởng Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm, do ký giả Trần Tấn Quốc thành lập, giải thưởng cho diễn viên triển vọng xuất sắc nhất trong năm.
Năm 1959, nghệ sĩ Năm Nghĩa, dưởng phụ và là thầy của Thanh Nga mất. Năm !960, Bà Bầu Thơ, thân mẫu của Thanh Nga trực tiếp điều khiển đoàn Thanh Minh, đổi bảng hiệu lại là Đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà rước những nghệ sĩ bực thầy về dạy cho Thanh Nga ca, diễn, như anh Năm Châu, cô Phùng Há, cô Ba Thanh Loan, cô Kim Cúc. Anh Ba Vân.
Từ năm 1960 đến năm 1968 nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn những vai chánh, đóng cặp với những nam nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang và có lúc có anh Năm Châu, anh Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, bà Năm Sađec đóng chung tuồng với Thanh Nga.
Thanh Nga là một ngôi sao sáng, với sắc đẹp thật dịu dàng, ngày càng quyến rũ. Thanh Nga vào vai nữ hoàng, công chúa, cô có nét đẹp lộng lẫy kiêu sa. Vào vai cô gái quê nghèo, Thanh Nga mang nét thôn quê bình dị với chiếc áo bà ba, với giọng ca truyền cảm đến lạ lùng, Thanh Nga đã có những vai để đời như vai Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa; Mã Nhi Nương Bữu ( Gió ngược chiều ), Giáng Hương ( Sân khấu về khuya ), Diệp Thúy trong tuồng Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong tuồng Bọt biển. . .
Năm 1960 Thanh Nga được thưởng bằng danh dự diễn viên xuất sắc giäi Thanh Tâm. Năm 1966, Thanh Nga lại được thưởng giải diễn viên xuất sắc nhất trong năm. Thanh Nga cũng thành công trong lãnh vực Điện ảnh qua các phim: Đôi mắt người xưa, Loan mắt Nhung, Lan và Điệp, Sau giờ giới nghiêm, Triệu phú bất đắc dï . . .
Năm 1968, Tết Mậu thân, chiến tranh lan vô các thành phố, chánh phủ ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm, các đoàn hát cải lương không hát được, nhiều đoàn phải chịu rã gánh.
Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được ông Phạm Duy Lân, Đổng Lý Văn Phòng bộ Thông Tin gợi ý xuất ngoại sang Pháp biểu diễn cho Việt Kiều xem nhân dịp Tết năm 1969. Đối với bộ Thông Tin, việc đưa đoàn Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp hát là một công tác tranh thủ tình cảm của Việt Kiều ở Pháp khi đang có hội nghị bốn bên ở thủ đô Paris. Đối với đoàn hát thì đây là lối ra duy nhứt để đoàn có doanh thu. Bà bầu Thơ đồng ý, vì vậy ông Phạm Duy Lân thường xuyên giúp đở bà bầu Thơ giải quyết mọi thủ tục liên quan tới việc đưa đoàn hát xuất ngoại, việc chọn tuồng và chọn diễn viên.
Năm 1969, đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở Pháp trong vòng 2 tháng, hát ở rạp Maubert, Playel và các tỉnh miền Nam nước Pháp, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được khán giả Việt Nam ở Pháp nhiệt liệt khen ngợi qua các tuồng Con gái chị Hằng, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Hoa mộc lan, Giấc mộng đêm xuân.
Sau chuyến lưu diễn ở Pháp về, nữ nghệ sĩ Thanh Nga thành hôn với ông Phạm Duy Lân. Năm 1972, đoàn Thanh Minh Thanh Nga ngưng hoạt động, nữ nghệ sĩ Thanh Nga đi hát cho đoàn Việt Nam của bà bầu Thu hoặc đi đóng phim, thu truyền hình tuồng cải lương.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, bà bầu Thơ được phép thành lập gánh hát với bảng hiệu đoàn Thanh Nga. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga tiếp tục nhận được cảm tình nồng hậu của khán giả qua các tuồng Tấm lòng của Biển, Tiếng trống Mê Linh, Bài thơ trên cánh diều, Thái hậu Dương Vân Nga.
Ngày 16 tháng 3 năm 1977, trong lúc đoàn Thanh Minh diễn tuồng Tiếng trống Mê Linh tại rạp Lao Động B gần cầu chữ Y thì có một kẻ vô danh liệng một quả lựu đạn lên sân khấu. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga bị thương nhẹ, hai nhạc sĩ tân nhạc chết tên là Trần Văn Mùi và Lê Hiếu Đức.
Ngày 26 tháng 11 năm 1978, đoàn Thanh Minh diễn tại rạp Cao Đồng Hưng ở Gia Định, vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga. Sau khi diễn xong, như thường lệ, Thanh Nga cùng chồng là ông Phạm Duy Lân và con là Phạm Duy Hà Linh lên xe về nhà riêng ở số 114 đường Ngô Tùng Châu Sai Gòn. Bọn cướp định bắt cóc cháu Cúc Cu, Thanh Nga và chồng bị hai người lạ mặt bắn chết sau khi dằng co để giựt lại đứa bé 6 tuổi tên Cúc Cu, con trai duy nhứt của họ (Cúc Cu là tên thân mật trong gia đình để gọi Phạm Duy Hà Linh).
Sáng hôm sau hay tin, chúng tôi lập tức đến nhà bà bầu Thơ. Bà rất buồn, nói như lạc giọng: " Chú thiếm Ba, Thanh Nga bị bắn chết rồi. Chú thiếm ra bệnh viện Sai Gòn thăm cháu! ". Thanh Lệ, vợ của Hữu Thìn cùng đi với chúng tôi. Khó khăn lắm chúng tôi mới vô bệnh viện được vì dân chúng hiếu kỳ đứng nghẽn cả lối đi. Nhân viên bệnh viện đưa chúng tôi đến phòng lạnh, kéo hai hộc đựng xác ra để chúng tôi nhìn.
Thanh Nga nằm hộc trên, khi kéo ra thì tóc cô đổ xõa dài xuống đất, đen mượt như một dòng suối đen. Thanh Nga đã được chị Ngọc Nuôi đánh phấn, thoa son, hóa trang như đang trình diễn. Nét mặt Thanh Nga vẫn đẹp, đôi mắt nhắm lại như đang trong giấc ngủ bình yên. Cô đã được chị Ngọc Nuôi và bà Sáu đồ hội thay cho mặc bộ y phục Thái Hậu Dương Vân Nga y như đã mặc trên sân khấu đêm rồi, trước khi bị sát hại. Ông Phạm Duy Lân, chồng của Thanh Nga nằm hộc dưới, nét mặt còn lộ vẻ kinh hoàng. Ông đã được thay bộ âu phục đen, thắt cà vạt sọc xanh trắng.
Các nghệ sĩ Kim Cương, Ngọc Nuôi, Liễu Thuận, Hoàng Giang, Kim Giác, Văn Ngà, bà năm Hay (em bà bầu Thơ) và chúng tôi nghe anh tài xế của ông Lân (tên Cát) kể lại diễn biến thảm cảnh Thanh Nga bị sát hại.
Anh Cát nói xe về tới nhà ở đường Ngô Tùng Châu, khi anh mở cửa xe bước ra thì bị một người lạ mặt đánh một báng súng vô ót rồi xô anh té chúi trở vô xe. Anh còn nghe tiếng cửa xe bên kia mở, tiếng khóc thét của Cúc Cu, tiếng la lớn của Thanh Nga :" Buông con tôi ra, buông con tôi ra" và tiếng của ông Lân la rất lớn: " Bớ người ta ...cướp... cướp ", tiếp theo đó là hai phát súng chát chúa. Kẻ sát nhân bắn xong, phóng lên chiếc xe Honda đen, chạy mất...
Ông Phạm Duy Lân chết liền tại chỗ, nằm gục dưới đất, gần cửa sau xe, vết đạn trúng tim. Thanh Nga bị bắn trên ngực phía trái gần tim. Cô được chở bằng xe cyclo đi bệnh viện Sài Gòn cấp cứu, nhưng xe đến ngang ga xe lửa thì Thanh Nga tắt thở.
Theo yêu cầu của Hội nghệ sĩ, lễ tang của Thanh Nga và chồng, ông Phạm Duy Lân do Hội nghệ sĩ đứng ra tổ chức. Quan tài của Thanh Nga và chồng được quàng tại nhà Hội, số 81 đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Mac Mahon cũ) hai quan tài để song song, sát vào nhau và để một lư hương chung cho hai vợ chồng, tránh việc người vào viếng chỉ thắp hương cho Thanh Nga mà không thắp hương cho ông Lân. Khi liệm, Thanh Nga vẫn mặc y phục hát vai Thái Hậu Dương Vân Nga, y phục đẩm máu của Thanh Nga được để dưới đất ở đầu quan tài.
Tôi còn nhớ số người ái mộ Thanh Nga quá đông, phải tổ chức cho xếp hàng 4, từ cổng vô ở đường Nguyễn Văn Trổi, nối đuôi trên đường Tú Sương dài tới trường Régina Pacis. Liên tục trong ba ngày ba đêm, số người đến viếng tang kiên nhẫn nối đuôi nhau, tay cầm một cây nhang đã đốt sẵn hoặc một cành hoa do ban tổ chức đưa cho, để khi vào trước quan tài Thanh Nga đỡ tốn thì giờ thắp nhang.
Số nghệ sĩ các đoàn hát và các em học sinh ái mộ cũng xếp hàng 4 trên đường Nguyễn Văn Trỗi, cũng cầm nhang đốt sẵn, đi vào bằng cổng phụ, tới trước quan tài Thanh Nga, đặt hoa xuống hoặc cắm nhang rồi đi ra về theo cổng chính. Số người theo sau quan tài Thanh Nga đến nơi an nghỉ cuối cùng cũng rất đông, phải kể là một con số kỷ lục. Cứ tưởng tượng, số người đi đưa tang Thanh Nga đứng lấp cả lòng đường Hiền Vương. Đầu đám tang đã tới đường quẹo qua Dakao, dòng người nối đuôi vẫn chưa rời khỏi trụ sở của Hội ở đường Nguyễn Văn Trỗi. Có thể nói là cả mấy chục ngàn người đã đi tiễn Thanh Nga.
Phát súng bắn vào Thanh Nga đã làm bàng hoàng mọi người. Nhiều nghi vấn đã được đặt ra: Ai là thủ phạm đã giết Thanh Nga? Với mục đích gì?
Dư luận nói Phục Quốc quân giết Thanh Nga thì căn cứ vào việc Thanh Nga hát những vở tuồng của cộng sản, Thanh Nga là công cụ tuyên truyền của cộng sản, giết Thanh Nga là cảnh cáo những nghệ sĩ khác. Nhưng khi mất Sài Gòn rồi, mất cả miền Nam rồi, có nghệ sĩ nào mà không ca, không hát những tuồng đã được nhà cầm quyền đương thời kiểm duyệt và cho phép hát ? Những tuồng như Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga, Bên cầu dệt lụa, Tấm lòng của biển. . . có điểm nào đáng để mà kết án tử hình người nghệ sĩ đã hát những tuồng đó ?
Dư luận nói cộng sản Trung quốc giết thì căn cứ vào tình hình gay cấn giữa Trung Quốc và Việt Nam (Nạn Hoa kiều ở Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn... ) Thanh Nga diễn những vở chống xâm lăng Tàu như Tiếng trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga ...
Lúc đó tình hình giữa Việt Nam và Trung Cộng đang căn thẳng với nhau nên nhà cầm quyền lợi dụng cái chết của Thanh Nga để mà động viên tòng quân chống xăm lăng Tàu Cộng. Thanh Nga chết ngày 26 tháng 11 năm 1978, Tàu cộng đánh qua biên giới tháng 2 năm 1979, hỏng lẽ họ giết chết Thanh Nga ba tháng trước rồi mới tràn qua biên giới sao ?
Đến cuối năm 1987, có phiên " Tòa án nhân dân thành phố " xử những tên bắt cóc trẻ thơ và giết người. Các báo tường thuật: Vụ án Thanh Nga trước sau chỉ đơn thuần là một vụ bắt cóc con để tống tiền những cha mẹ có tên tuổi, có máu mặt sau 1975 như cô đào Kim Cương, cô đào Thanh Nga, bác sĩ Nguyễn La Hỹ. Họ là những người chỉ có một đứa con duy nhứt và lại lắm bạc nhiều tiền.
Con trai của đào Kim Cương tên Tô Rô bị bắt vào ngày 26 tháng 12 năm 1977 giá tiền chuộc là 20 lượng vàng. Sau khi Kim Cương nạp đủ số vàng trên, bọn cướp cho Tô Rô uống thuốc ngủ rồi đem tới bỏ trước cửa Sở Bưu Điện Saigon. Kim Cương được báo tin, tới nhận lại con.
Đến con trai của Thanh Nga, Cúc Cu Phạm Duy Hà Linh, vì Thanh Nga và ông Lân chống cự, kêu cứu, bọn chúng sợ quá, bắn đại để thoát thân (theo lời khai của can phạm Nguyễn Thanh Tân trước Tòa)
Mấy tháng sau, ngày 6 tháng 2 năm 1979, xảy ra vụ bắt cóc con trai bác sĩ Nguyễn La Hỹ làm việc tại bệnh viện Chợ Rẩy tên là Phương. Bọn bắt cóc người cũng đòi tiền chuộc là 20 lượng vàng.
Các báo kể: " Trong một cuộc phục kích, công an bắn trúng lưng tên Nguyễn Văn Hóa làm tên nầy bị trọng thương, phải vào bệnh viện cứu cấp. Do lời khai của tên Hóa, những tên trong băng bắt cóc cháu Phương bị sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương, con bác sĩ Hỹ được Tân đưa về giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi mà hơn một năm trước chúng cũng giam giữ cháu Tô Rô. Như vậy hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm và giàu có thì đã rõ. Còn những phát đạn bắn vào vợ chồng Thanh Nga thì tên Tân khai là vì phản ứng quyết liệt của hai vợ chồng Thanh Nga, chúng sợ ông Lân có súng, nên ra tay trước để tẩu thoát.
Mạng sống của con người thì ai cũng phải trân trọng, bởi lẽ người ta sinh ra chỉ một lần và chết đi cũng chỉ một lần. Nhưng cái chết của từng mỗi con người chỉ là tổn thất của từng mỗi gia đình hay trong một phạm vi quan hệ nhỏ. Còn sinh mạng bị cướp đi của Thanh Nga là một tổn thất không gì bù đắp nổi của sân khấu cải lương và là niềm đau của hàng triệu người. Dù tội ác đã được trừng trị, nhưng có lẽ thêm ngàn lần trừng trị nữa cũng không tương xứng với những tổn thất mà tội ác đã gây ra.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Cha đẻ Steve Jobs chưa từng gặp con Khi nghe tin Jobs từ chức, cha ruột của cựu CEO Apple chia sẻ với báo chí lý do ông phải từ bỏ con và nói rằng nếu có cơ hội, ông sẽ không bao giờ làm vậy.

Người hâm mộ Steve Jobs vẫn biết ông sinh ngày 24/2/1955 tại San Francisco (Mỹ), được Paul and Clara Jobs nhận nuôi. Ông tạo ra máy tính Macintosh đầu tiên ngay trong gara ôtô gia đình. Abdulfattah Jandali và Joanne Simpson, cha mẹ đẻ của ông, sinh ông khi vẫn đang là sinh viên. Hai người này sau đó kết hôn và có thêm một con gái. Em gái của Jobs, Mona Simpson, hiện là một tiểu thuyết gia.
Image
Steve Jobs. Ảnh: CNBC.


Jandali, một người nhập cư từ Syria và đang là phó quản lý một sòng bạc ở Reno, Nevada (Mỹ), trải lòng trên New York Post tuần này rằng ông không hề biết con trai mình là một CEO lừng danh mãi đến vài năm gần đây. Ông đã gửi e-mail cho Jobs vài lần nhưng không hề gọi điện hay hẹn gặp vì sợ bị cho là muốn lợi dụng tài sản của con.

Jandali nói nếu được lựa chọn, ông sẽ giữ lại đứa trẻ, nhưng cha mẹ của Joanne Simpson không muốn con gái họ cưới một người Syria, do đó bà chuyển đến San Francisco để sinh con và đem cho người khác nuôi.

Dù là một trong những CEO được yêu mến nhất thế giới, Jobs luôn giữ bí mật về cuộc sống cá nhân và tảng lờ mọi thông tin viết về ông từ khi đồng sáng lập Apple năm 1976. "Ông ấy có thể đồng ý trả lời phỏng vấn tại lễ công bố sản phẩm vì lợi ích của Apple, nhưng chưa từng nói điều gì về bản thân", Tim Bajarin, Chủ tịch công ty Creative Strategies, cho hay.

Tỷ phú 56 tuổi này có một số người bạn thân như John Lasseter (Pixar) hay Larry Ellison (Oracle). Ông cưới vợ cách đây tròn 20 năm và có ba con là Reed Paul, Erin Sienna và Eve.

Ngoài ra, ông còn một đứa con riêng là Lisa Brennan Jobs với bạn gái cũ ở trường trung học, Chris Ann Brennan. Tạp chí nổi tiếng Fortune (Mỹ) cho hay Jobs từng phủ nhận mối quan hệ huyết thống với Lisa trong nhiều năm, thậm chí quả quyết tại một phiên tòa rằng ông bị vô sinh nên không thể có con. Mẹ của Lisa phải nhờ đến trợ cấp xã hội để nuôi con cho đến khi Jobs công nhận. Ông còn chọn tên cô để đặt cho hệ thống Apple Lisa, máy tính cá nhân đầu tiên sử dụng chuột và giao diện đồ họa người dùng.

Jobs cũng giữ kín chuyện bị ung thư tuyến tụy với công chúng và nhân viên. Thay vì cắt bỏ khối u, ông thực hiện một chế độ ăn kiêng đặc biệt. Chính ban lãnh đạo Apple đã thuyết phục ông đi phẫu thuật.
Image
Ảnh được chọn làm trang bìa cho cuốn tiểu sử đầu tiên có sự tham gia của Jobs.

Năm 2011, lần đầu tiên Jobs đồng ý tham viết tiểu sử về mình. Cuốn sách của tác giả Walter Isaacson sẽ tập hợp hơn 40 cuộc phỏng vấn về sự nghiệp và đời tư với Jobs trong 2 năm qua, cũng như nhận xét, đánh giá của hơn 100 thành viên trong gia đình, bạn bè, đối thủ, đối tác... Sách sẽ lên kệ vào 21/11/2011, ngay trước Lễ Tạ Ơn.

Còn cha đẻ của Jobs hy vọng một ngày nào đó con trai sẽ gọi cho ông và cả hai cùng thư thái uống cafe trước khi quá muộn. Jandali nay đã 80 tuổi, còn cựu CEO từng làm khuynh đảo thị trường công nghệ cũng đang đối mặt với bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Châu An

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Giới Trí Thức Bị Tha Hoá

Image
Biếm họa về ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel Hòa Bình 2011.

Image
Nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc hiện vẫn đang ngồi tù.
Hình ảnh từ các nguồn trên net chỉ có tính cách minh họa.


Image

Lễ trao giải Nobel Hòa Bình 2010 đã diễn ra tại thủ đô Oslo, Na Uy với bằng chứng nhận dành cho chủ nhân giải thưởng,
ông Lưu Hiểu Ba, được đặt lên một chiếc ghế trống. Trung Quốc lên án việc trao giải là “trò hề chính trị”.

Bài đọc suy gẫm:

Giới Trí Thức Bị Tha Hóa hay Triết Lý Con Heo của Lưu Hiểu Ba

– Giới thiệu sách của Tác giả Đoàn Thanh Liêm.

Image

Ấn bản tiếng Pháp: La Philosophie du porc et autres essais.
Tác giả: Liu Xiaobo – Nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 2011


Lưu Hiểu Ba là một nhân vật rất nổi danh trên thế giới ngày nay, đặc biệt kể từ lúc ông được cấp phát giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2010 vừa qua. Và cũng giống như trường hợp của bà Aung San Suu Ky người Miến Điện và của nhà bác học Andrei Sakharov người Nga trước đây vì bị chính quyền nước mình ngăn cản, nên đã không thể có mặt trong buổi lễ Trao giải tại thủ đô Oslo của vương quốc Na Uy, ông Lưu Hiểu Ba vì đang bị giam giữ trong tù tại Trung quốc, nên cũng đã vắng mặt trong dịp này. Sự kiện này lại càng khiến công luận khắp thế giới chú ý, và cũng là một điều gây bất lợi cho uy tín của giới lãnh đạo chính quyền Bắc kinh.

Mới đây, vào đầu năm 2011 nhà xuất bản Gallimard ở Pháp đã cho ấn hành một cuốn sách gồm nhiều bài tiểu luận của ông Lưu viết trong vài chục năm gần đây, với nhan đề thật tức cười ngộ nghĩnh lấy từ tiêu đề của một bài tiểu luận, đó là : “Triết lý con heo” như đã được ghi nguyên văn tiếng Pháp ở trên. Sách dày trên 500 trang với Bài tựa ngắn của Cựu Tổng thống Vaclav Havel ở Tiệp khắc. Và bài Giới thiệu khá chi tiết dài 30 trang của chuyên gia nổi tiếng về Trung quốc là Jean-Philippe Béja đích thân tuyển lựa và dịch các bài tiểu luận thật đặc sắc của một nhân vật được học giới Trung hoa gọi là “ con hắc mã “ của văn đàn Trung quốc hiện đại (dark horse = heima).

Bài viết đầu tiên này nhằm giới thiệu tóm lược những nét chính yếu trong cuốn sách giá trị này với độc giả người Việt. Trong các bài tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về một số quan điểm của tác giả họ Lưu, với những lập luận mà chúng ta có thể sử dụng như là những gợi ý cho sự trao đổi thảo luận giữa người Việt chúng ta.

I – Sơ lược tiểu sử của tác giả Lưu Hiểu Ba.

Lưu Hiểu Ba sinh năm 1955 trong một tỉnh thuộc miền đông bắc Trung quốc. Cha của ông là một giáo sư tại đại học sư phạm ở địa phương. Năm lên 14 tuổi, Lưu theo cha mẹ đến các miền quê tại khu vực Nội Mông trong thời kỳ cách mạng văn hóa đày ải giới trí thức. Không được đến trường học, Lưu đã tìm cách đọc tất cả sách báo mình bắt gặp. Vào năm 1973 lúc ở tuổi 18, Lưu được điều động về các làng xã để “học tập cách thức phục vụ nhân dân ”.

Năm 1977, sau khi Mao Trạch Đông từ trần, Lưu được trúng tuyển vào đại học và tốt nghiệp năm 1982 với chuyên môn về văn học Trung quốc. Sau đó, Lưu được nhận vào học tại đại học sư phạm Bắc kinh để thi bằng cao học và cuối cùng ông đã được cấp văn bằng tiến sĩ văn chương tại đây vào năm 1988 ở tuổi 33.

Các bạn hữu cho biết là trong thời gian dài theo học ở Bắc kinh, Lưu ít chú ý đến sinh họat chính trị, mà tập trung vào việc nghiên cứu văn học, ông đặc biệt chú ý đến quan điểm của nhà văn Kafka ở Âu châu vào hồi đầu thế kỷ XX. Năm 1986, Lưu đã gây chấn động trên văn đàn Trung quốc với bài báo phê bình văn học với nhan đề : “ Khủng hỏang ! Văn học thời kỳ mới đang lâm vào cuộc khủng hỏang “. Trong bài này, Lưu phê phán thẳng thừng sự thiếu vắng sáng tạo của các nhà văn Trung quốc, mặc dầu lúc đó họ đang được ca tụng vì đã có những cố gắng vượt thóat khỏi tình trạng kềm kẹp dưới thời Mao Trạch Đông. Quan điểm phê phán triệt để này có thể coi như có tính cách đột phá tương tự như hào khí khai phóng sôi nổi khắp nơi ở Trung quốc của “ Phong trào Ngũ Tứ “ bột phát vào năm 1919 sau thế chiến thứ nhất ( May 4th Movement).

Với danh tiếng đó, Lưu được nhiều đại học trong nước cũng như ngọai quốc mời đến diễn thuyết hay dậy học. Năm 1989, lúc đang làm việc ở đại học Columbia, New York, Lưu đã cắt ngang việc giảng dậy để về nước tiếp sức với giới sinh viên đang sôi nổi đòi phải cải cách dân chủ. Và ngay sau vụ đàn áp đẫm máu Thiên An Môn vào đầu tháng Sáu, Lưu đã bị bắt giữ.
Trong khi ở tù, thì Lưu bị người vợ đòi phải ly dị. Hậu quả của việc ly dị này là Lưu bị mất sổ hộ khẩu, mất cả quyền cư trú hợp pháp ở Bắc kinh lúc ông được trả tự do vào năm 1991. Mà ông cũng không còn được ký tên thật của mình trên các bài báo, hay sách do mình viết nữa. Vì thế mà cuộc sống trở thành hết sức bấp bênh, đến độ nghẹt thở. Nhưng vào năm 2000 trở đi, nhờ sự phát triển của Internet, họ Lưu đã có thể sáng tác hết sức mạnh bạo, mau chóng với sức lan tỏa rộng rãi cùng khắp. Ông thường xuyên bị công an theo dõi và bị làm khó dễ sách nhiễu dọa nạt đủ bề. Tuy vậy, Lưu vẫn kiên trì theo đuổi cuộc tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền của mình.

Sự đóng góp lớn của ông trong việc sọan thảo bản văn “ Linh bát Hiến chương “ (08 Charter) được nhiều nhân vật trí thức và nhà họat động có tên tuổi ở Trung quốc ký và công bố vào năm 2008, nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948 – 2008), đã khiến cho ông lại bị công an bắt giữ lần nữa và đem ra tòa án xét xử vào cuối năm 2009, và tòa đã đưa ra bản án xử phạt họ Lưu 11 năm tù giam với tội danh rất mơ hồ là : “ Xúi giục lật đổ chính quyền nhà nước “. Vụ đàn áp thô bạo này đã bị công luận thế giới chỉ trích mãnh liệt và nhiều nhân vật nổi danh trong nước cũng như quốc tế đã lên tiếng đòi trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Và tiếp theo việc họ Lưu được cấp phát Giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 vừa qua lại càng làm cho tên tuổi của ông được mọi người nhắc nhở tới. Đây là một sự kiện mà chính quyền Bắc kinh dù đã sử dụng mọi đòn phép chính trị bá đạo, thì cũng chẳng làm sao có thể ngăn cản hay bưng bít được nữa.

Hình ảnh biểu tình đòi thả nhà bất đồng chính kiến, giáo sư văn học Lưu Hiểu Ba trước Bộ Ngoại Giao Trung Quốc- Hồng Kông.


II – Giới thiệu tóm lược cuốn sách “ Triết lý con heo “.

Cuốn sách này là một tuyển tập các bài viết tiêu biểu của Lưu Hiểu Ba trong nhiều năm, mà có mấy bài viết mới nhất vào năm 2007 – 2008. Các bài này được sắp xếp trong 8 phần, mà ta có thể liệt kê ra mấy đề mục đáng chú ý như sau:

A/ Văn học: “ Khủng hỏang! Văn học của thời kỳ mới đã lâm vào tình trạng khủng hỏang “ (trang 57 – 87)
B/ Suy nghĩ triết học và chính trị ( trang 91 – 231).
Đặc biệt mục : “Triết lý con heo “ (trang 147 – 177) tiêu đề này được chọn để làm nhan đề cho cả cuốn sách.
C/ Hệ thống chính trị và đời sống chính trị (trang 235 – 331)
Đặc biệt mục : “ Nỗi băn khoăn về ý thức hệ của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ( trang 319 – 331)
D/ Những bài viết về một số sự việc cụ thể ( trang 355 – 413)
Đặc biệt mục : “ Tuyên ngôn của những nông dân muốn đòi lại ruộng đất” ( trang 391 – 401).


Nói chung, tác giả họ Lưu đề cập đến nhiều lãnh vực, từ phê bình văn học đến suy nghĩ triết học về chính trị, và nhất là bày tỏ quan điểm dứt khóat về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý xã hội. Các bài viết này biểu lộ sự hiểu biết sâu sắc của tác giả qua lối nhận định và phân tích sự kiện cụ thể với một nhãn quan bao quát, thông thóang và một lập trường kiên định tự tin vững vàng. Ta sẽ có dịp thảo luận chi tiết hơn trong các bài viết tiếp theo liên quan tới một số đề tài có tính cách căn bản trong một xã hội còn đang bị kềm kẹp bởi chế độ độc tài cộng sản, ở Trung quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay.

Tiếp theo đây, người viết xin giới thiệu riêng về mục “Triết lý con heo” được tác giả trình bày trong 30 trang sách, và tiêu đề của bài này lại được nhà xuất bản lấy làm nhan đề chung cho tòan thể cuốn sách.
ImageImage
Hình bên: Một nhóm người biểu tình phản đối giải Nobel Hòa Bình bên ngoài Olso, Norway.
III – Triết lý con heo.

Bài này được viết vào năm 2000, tức là 11 năm sau biến cố thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng sáu năm 1989, mà tác giả lấy làm cột mốc cho sự đàn áp tàn bạo do giới lãnh đạo đảng cộng sản thực hiện nhằm dập tắt mọi ý chí vươn lên của lớp người yêu nước tiến bộ, đặc biệt là giới sinh viên trong công cuộc bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền cho người dân Trung quốc.

Tác giả nhấn mạnh đến sự đồng lõa, thỏa hiệp của giới trí thức với chủ trương mê hoặc ru ngủ của nhà cầm quyền đương thời qua các chiêu bài “ phải bảo vệ sự ổn định xã hội”, “ phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu, “trở về với gốc rễ cội nguồn của văn minh Trung quốc “… để mà bỏ qua những đòi hỏi về tự do, công bằng xã hôi và phẩm giá của người công dân.

Ông thẳng thắn tố cáo tình trạng “tồi dở, tầm thường” (médiocrité) cả ở trong chính quyền, lẫn trong giới trí thức ưu tú của xã hội. Với giọng văn thật mạnh mẽ độc đáo, họ Lưu ghi nhận rằng: “ Giới trí thức đang bị tha hóa vì cam tâm lãnh nhận những ân huệ vật chất và các tiện nghi thỏai mái do nhà nước cung ứng cho để đổi lại với sự im lặng làm ngơ trước sự nhũng lạm thối nát, sự đàn áp cướp bóc của cán bộ nhà nước đối với đa số quần chúng dân oan…”

Rõ ràng là đã có sự “bán linh hồn cho quỷ dữ”, sự “tự ý ngoan ngõan đi vào cái chuồng heo” (porcherie) để được vỗ béo, yên thân mà quên đi cái nhiệm vụ phải luôn luôn thức tỉnh để cảnh giác công luận trước những sa đọa tàn bạo của nhà nước chuyên chính độc tài, phải bênh vực đa số quần chúng nạn nhân của sự áp bức bóc lột ở khắp nơi.


Dưới các tiểu đề mục như: “ Sự yếu đuối của người bị trị đã sản xuất ra những người cầm quyền tồi dở” ( la faiblesse des gouvernés produit des gouvernants médiocres) và “ Sự tồi dở nhất lọat đã phá vỡ tất cả” (La médiocrité homogénéisée a tout écrasé), họ Lưu đã thẳng thắn nêu ra cái sự nhục nhã của giới trí thức ưu tú (élites) là đã hèn kém cam tâm phủ phục trước những kẻ lãnh đạo tồi dở tầm thường hiện nay. Ông phát biểu dứt khóat : “ Trên mảnh đất này, sự cao cả của tâm hồn và sự uyên bác thông tuệ không còn chỗ đứng nữa “ ( Sur cette terre, la grandeur d ‘âme et l’érudition n’ont pas leur place)

Vì bài mở đầu này có giới hạn, nên người viết sẽ trình bày chi tiết rõ ràng hơn trong các bài sau, khi thảo luận về từng vấn đề riêng biệt.

Nhân tiện, tác giả cũng xin ghi nhận sự biết ơn đối với anh chị Nguyễn Văn Tánh và Bạch Nhật cư ngụ tại Bruxelles Belgique đã cho đọc cuốn sách giá trị này, nhân chuyến anh chị đến tham dự cuộc Hội Ngộ do tạp chí Diễn Đàn Giáo Dân tổ chức tại miền Nam California vào mấy ngày đầu tháng Sáu năm 2011 vừa qua.

Costa Mesa, Trung tuần tháng Sáu 2011
Đòan Thanh Liêm

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Harvard rớt khỏi vị trí đại học tốt nhất thế giới

Image
Đại học Harvard lần đầu tiên rớt khỏi vị trí đầu bảng trong danh sách các trường đại học chất lượng nhất thế giới năm học 2011-2012, nhường lại vị trí dẫn đầu cho viện Công nghệ California (Caltech - bang California, Mỹ).


Lần đầu tiên Harvard không còn là trường đại học tốt nhất thế giới. Ảnh: AFP
Bảng xếp hạng này do tạp chí Times Higher Education (Anh) thực hiện từ năm 2004 đến nay, với số liệu do tập đoàn truyền thông Thomson Reuters cung cấp. Suốt bảy năm qua, trường Harvard liên tục dẫn đầu danh sách này. Biên tập viên của bảng xếp hạng, ông Phil Baty cho biết chính nhờ tiền đầu tư cho nghiên cứu tăng 16% của Caltech đã giúp trường này qua mặt Harvard.

Caltech toạ lạc tại thành phố Pasedena, khuôn viên học viện khá nhỏ. Hàng năm, Caltech có khoảng 2.000 sinh viên tốt nghiệp, khoảng 500 nhân viên, trong đó gồm 300 giảng viên, so với trường Oxford (vị trí thứ 4) có 21.000 sinh viên. Trường Caltech được thành lập từ năm 1891. Đến nay, đã có 30 cựu sinh viên trường này đoạt các giải thưởng Nobel. Ở bảng xếp hạng năm ngoái, Caltech đứng vị trí thứ 2.

Trong bảng xếp hạng năm nay, các trường đại học Mỹ và Anh vẫn thống trị. Mỹ có 75 trường đại học lọt vào Top 200, 7 trường trong top 10. Nước Anh có 32 trường đại học trong Top 200. Tuy nhiên, Anh đang trải qua thời kì cải cách lớn từ năm ngoái, khi học phí tăng, chi tiêu phải cắt giảm, việc cấp thị thực cho sinh viên quốc tế bị hạn chế. Do vậy, thứ hạng của các trường đại học Anh trong năm sau chắc chắn sẽ có thay đổi lớn.

Đại diện từ châu Á đạt hạng cao nhất trong bảng xếp hạng năm nay là trường đại học Tokyo (Nhật Bản) ở hạng 30. Nhật Bản cũng là nước có nhiều trường đại học trong Top 200 nhất: 5 trường. Tạp chí Times Higher Education nhận định các trường đại học Nhật Bản duy trì vị trí khá vững chắc trong bảng xếp hạng, nhưng họ cần phải cải tiến nhiều hơn để thích nghi với vấn đề toàn cầu hóa của giáo dục đại học. Hong Kong có bốn trường và Trung Quốc có ba trường lọt vào top 200. Israel là quốc gia duy nhất của khu vực Trung Đông có tên trong danh sách này, với trường đại học Hebrew ở Jerusalem (vị trí 121) và đại học Tel Aviv (hạng 166).

Bảng xếp hạng được thực hiện dựa trên cuộc điều tra về các trường đại học trên khắp năm châu, bao gồm thu nhập của trường, chất lượng giảng dạy, tỉ lệ giảng viên/sinh viên, tỉ lệ được trích dẫn ý kiến và triển vọng nghiên cứu và quốc tế. Top 10 trường đại học hàng đầu trong năm học 2011-2012 lần lượt là viện Công nghệ California (Mỹ), Harvard (Mỹ), Stanford (Mỹ), Oxford (Anh), Princeton (Mỹ), Cambridge (Anh), MIT (Mỹ), Imperial College (Anh), Chicago (Mỹ), UC Berkeley (Mỹ).

Nam Liên (Business Week, Mainichi, Times Higher Education)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện Kể đêm khuya ! Một đêm mùa đông giá rét, có một người đàn ông đang lái xe rất vội để về nhà , nhưng giữa đường bão tuyết quá lớn, thế là xe của ông ta bị hư, xe dừng lại ngay trước cổng 1 tu viện , không còn cách nào khác ông ta phải gõ cửa tu viện xin ngủ nhờ 1 đêm ...

Các vị tu sĩ trong tu viện rất nồng nhiệt và tốt bụng, họ không những cho ông ta ngủ nhờ mà còn mời ông dùng bữa tối, họ lại còn sửa xe giúp ông nữa. Đêm đó, ông ta ngủ lại trong tu viện, nhưng đến nửa đêm, ông ta bỗng nghe 1 âm thanh rất kỳ lạ, từ bé đến giờ ông ta chưa từng được nghe thứ âm thanh gì lạ lùng như thế , nhưng ông kiên nhẫn đợi đế sáng hôm sau , gặp các tu sĩ, ông hỏi :
- Đêm qua tôi nghe thấy một âm thanh rất kỳ lạ, không biềt nó phát ra từ đâu ?
Các vị tu sĩ trả lời :
- Chúng tôi ko thể cho ông biết được, vì ông ko phải là 1 nhà tu !
Người đàn ông đành cảm ơn họ rồichào tạm biệt lên đường .
Mùa đông năm sau, người đàn ông ấy lại bị hỏng xe trên đường về nhà, xe cũng dừng lại ngay trước cổng tu viện ấy, ông ta lại vào xin nghỉ nhờ một đêm. Các vị tu sĩ lại cho ông ta ăn và sửa xe giúp ông ta. Đêm đó, người đàn ông lại tiếp tục nghe thấy âm thanh kỳ lạ kia, sáng hôm sau ông ta lại hỏi các tu sĩ :
- Đêm qua tôi nghe thấy một âm thanh rất kỳ lạ, không biềt nó phát ra từ đâu ?
Các vị tu sĩ trả lời :
- Chúng tôi ko thể cho ông biết được, vì ông ko phải là 1 nhà tu !
Nén ko nổi sự tò mò, người đàn ông nói :
- Được rồi, bây giờ hãy cho tôi biết, làm thế nào để trở thành 1 nhà tu ?
- Ông hãy đi vòng quanh thế giới, và sau đó hãy về đây và cho chúng tôi biết có bao nhiêu hạt cát và bao nhiêu ngọn cỏ trên cuộc đời này ?
Người đàn ông ra đi, ông ta đi khắp nơi, đi vòng quanh thế giới , và sau đó ông ta đã biết được có bao nhiêu ngọn cỏ và bao nhiêu hạt cát trên cõi đời nay, ông ta quay về tu viện và gặp các tu sĩ . Ông nói cho họ biết những gì mình tìm được. Các tu sĩ nói :
- Được rồi, bây giờ anh đã trở thành nhà tu, chúng tôi sẽ cho anh biết bắt nguồn của âm thanh kỳ lạ ấy !
Người đàn ông đi theo các tu sĩ, họ chỉ anh đến 1 cánh cửa gỗ, người đàn ông đến và thấy cánh cửa đã bị khóa :
- Thật buồn cười, đưa chìa khóa cho tôi !
Các tu sĩ đưa cho anh ta chìa khóa, mở cánh cửa gỗ xong, anh ta đến 1 cánh cửa bằng đá xanh, tiếp theo là cánh cửa bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, rồi đến cánh cửa làm bằng kim cương , cánh cửa làm bằng opan, cánh cửa làm bằng totan, cánh cửa làm bằng ngọc thạch, rồi đến cánh của làm bằng đá tím ...
Cuối cùng anh ta cũng mở xong cánh cửa cuối cùng, và tại đây anh ta đã tận mắt nhìn thấy được ngọn nguồn của âm thanh kỳ diệu, nó phát ra từ ?
Nhưng ... tôi không thể cho các bạn biết âm thanh ấy là gì được, bởi các bạn không phải là 1 thầy tu ...

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nàng thơ

Phạm Hồng Ân

Tôi bắt đầu làm thơ ở tuổi mười lăm. Cái tuổi của mộng mơ, của kiếm tìm. Thực ra, mộng mơ điều gì đó, kiếm tìm điều gì đó – với tôi, thuở đó – không thể giải bày được. Có lẽ, không thể giải bày được, nên tôi mới lao đầu vào thơ. Tập tành làm thơ. Tìm một “sư phụ” để cố vấn cho ước muốn của mình.

“Sư phụ” tôi chẳng ai xa lạ, là ông anh láng giềng – anh Lời – lớn hơn tôi khoảng vài ba tuổi. Nhà anh Lời ở mặt tiền. Cửa nhìn ra lộ. Nhìn thẳng phía bên kia, là cây me keo xanh biếc, lúc nào cũng soi bóng mơ màng xuống dòng kinh phẳng lì, nước trong leo lẻo. Nhà tôi nghèo, nằm đằng sau nhà anh, cách nhau bởi một lối đi nhỏ vòng vèo. Anh Lời thường bắt ghế trước hiên, hút thuốc liên miên. Mỗi lần hút thuốc, tôi thấy anh luôn ngó ra dòng kinh, như thả hồn theo gió mây, rồi loay hoay xé bao thuốc lá ra, hí hoáy viết lên trên đó. Mỗi lần viết xong, anh rung đùi liên hồi, đọc đi đọc lại, có vẻ thích thú lắm. Một hôm, sau khi hí hoáy xong, anh khoan khoái áp bao thuốc lá vào ngực, mắt lim dim như đang thả hồn vào cõi bồng lai sâu thẳm nào. Không dằn được tính tò mò, tôi nhẹ nhàng nín thở, lê bước đến gần…

Chưa kịp xác định được những dòng ngoằn ngoèo kỳ diệu trên bao thuốc, tôi đã bị anh chộp ngực la lớn:
- Mày…mày định…ám sát tau, phải không?
Tôi lính quính, đưa hai tay lên trời:
- Không, oan cho em! Em định đến gần anh để xem anh viết hay vẽ chi trên bao thuốc?
Anh đẩy tôi té nhào xuống nền đất, rồi dí bao thuốc vào mặt tôi:
- Tau vẽ bùa, viết phép. Mà không, những cái này còn thiêng hơn bùa phép. Mày còn con nít, chưa hiểu đâu?
- Em đã quá mười lăm. Lớn chồng ngồng rồi.
Anh Lời tát nhẹ vào mặt tôi một cái:
- Lớn chồng ngồng cũng chưa chắc hiểu được. Nếu kẻ đó không biết chi về Thơ!
Tôi lặng lẽ nhìn anh Lời một cách khâm phục:
- Thơ? Nhưng tại sao nó thiêng hơn bùa, hơn phép vậy anh?
- Bùa phép có thể dùng để kiếm tình yêu. Nhưng với Thơ, tự nhiên tình yêu sẽ tìm đến với mình.
Tôi hí hửng, tuôn trào:
- Em cũng thích thơ. Anh làm ơn dạy em đi!
Anh Lời làm thinh, lặng lẽ móc trong túi ra ít tiền, trao tôi:
- Này, mày đi mua dùm tau nửa gói thuốc!
Tôi lắc đầu, không nhận. Rồi ba chân bốn cẳng, chạy nhanh đến tiệm, hào phóng mua nguyên gói thuốc thơm cho anh Lời. Tôi hân hoan tặng anh. Hân hoan hối lộ một gói thuốc. Bởi tôi biết, làm thơ chẳng phải dễ. Rất hiếm hoi thi sĩ trên trái đất này, trên cõi đời này.
Tôi ngồi bẹp xuống thềm nhà, bên anh Lời, chăm chỉ và chờ đợi những lời chỉ giáo vàng ngọc của anh. Nhưng anh vẫn im lặng, trầm tư nhìn lên cây me keo bên dòng kinh phẳng lặng. Lát sau, thật lâu, anh từ từ rút điếu thuốc ra, lặng lẽ đưa lên môi, bật diêm, khoan thai rít một hơi dài. Lúc làn khói trắng, từ mũi và miệng anh, ẻo lả bay ra, cuồn cuộn lan cao – anh mới thật sự thì thầm:
- Muốn làm thơ, mày phải có Nàng Thơ.
Tôi băn khoăn:
- Nàng Thơ? Em…kiếm ở đâu ra?
- Ở trong thế gian này, trong cõi đời này, trong xóm này, trong trường mày, trong lớp mày…Trong bất cứ nơi đâu…
Tôi vẫn băn khoăn:
- Xin anh nói rõ hơn. Em chưa hình dung được.
- Gần gũi với mày nhất, là lớp học. Mày nên tìm Nàng Thơ ở trong lớp mày học.
- Nhưng…Nàng Thơ phải ra sao? Hình dáng như thế nào?
- Dĩ nhiên nàng phải đẹp, phải mặt hoa da phấn. Dáng dấp phải kiêu sang. Nói năng phải dịu dàng.
- Nhưng con gái loại đó, làm sao em “cua” được?
Anh Lời “cốc” lên đầu tôi. Cái mu bàn tay anh cứng quá, làm đau nhói cả vùng thái dương.
- Mày ngu quá! Ai bảo mày “cua”? “Cua” được thì hết chuyện. Làm thơ chi cho mệt?
Tôi gãi đầu, xoa xoa chỗ đau:
- Vậy chớ…kiếm Nàng Thơ để làm gì?
- Ðể…trồng cây si, để…thất tình. Chỉ có đau khổ, người ta mới làm thơ được. Mày không thấy những thi sĩ nổi tiếng trên trái đất này, đều có trái tim rướm máu như nhau sao?

Chuyện kiếm Nàng Thơ theo tiêu chuẩn của anh Lời – đối với tôi – khó hơn chuyện mò kim dưới đáy biển. Phái nữ lớp tôi, đa số là dân ruộng, từ quê lên tỉnh học. Chị nào chị nấy đều trải qua quá trình lao động, dãi nắng dầm sương, suốt ngày ngoài đồng. Ðâu có ai còn giữ dáng dấp kiêu sang, mặt hoa da phấn? Vả lại, vì thời cuộc, vì chiến tranh, các chị phải đi học trễ. Nên tuy cùng lớp, họ đã thuộc thế hệ đàn chị, lớn tuổi hơn tôi nhiều.
Thời gian trôi qua, rất lâu, tôi vẫn chưa kiếm được Nàng Thơ một cách toại nguyện. Các bài thơ vẫn lỡ điệu thất vần. Có câu gượng ép. Có chữ sáo ngữ. Anh Lời hậm hực mỗi ngày, mặc dù trên môi anh, lúc nào cũng có điếu thuốc thơm của tôi thường trực đem đến.
Chợt một hôm, có chiếc xe Jeep cảnh sát chạy tới, đậu trước cổng trường. Vị sĩ quan trung niên vừa mở cửa bước xuống, lẽo đẽo theo sau là một cô bé tóc dài, thướt tha trong tà áo dài khuê các. Hai người khoan thai bước vào hiên trường, rồi dừng lại trước lớp tôi.
- Tôi xin giới thiệu. Ðây! Em Công Tằng Tôn Nữ Thư Há vừa theo ba mẹ từ Huế, thuyên chuyển về đây. Chúng ta vỗ tay, hân hoan chào đón bạn mới.
Thầy tôi vừa dứt lời, Thư Há bẽn lẽn bước đến chỗ ngồi, giữa những tràng pháo tay vang dội khắp lớp. Tôi biết, lời giới thiệu trịnh trọng của thầy tôi, chứng tỏ cô học trò mới thuộc gia đình có thế lực. Hay ít ra – cũng là một tiểu thư lá ngọc cành vàng.
Trong vườn hoa cằn cỗi, chỉ cần đóa hoa dại nào đó biết thắm sắc tỏa hương, cũng được thiên hạ tôn vinh là đóa hoa đẹp. Thư Há nằm trong tình trạng này. Nàng nghiễm nhiên trở thành thần tượng của bọn con trai. Nàng làm xôn xao trường học. Làm bọn đàn chị ganh tỵ. Làm các bậc tu mi điêu đứng. Làm tôi một phen phải quắt quay, xính vính. Cả lớp học từng có không khí nghiêm trang ngày xưa, bây giờ sôi động hẳn lên, như có giông tố, gió bão từ đâu thổi về.
Riêng tôi, tôi mừng quá, vì đã kiếm được Nàng Thơ cho mình, theo đúng tiêu chuẩn của anh Lời. Tôi hí hửng tìm sư phụ, báo cáo kết quả.
- Anh ơi, em đã có Nàng Thơ. Nàng vừa từ xa đến, học lớp em.
Anh Lời lôi tôi ra cây me keo, ấn tôi ngồi xuống gốc, rồi mơ màng nhìn ra dòng kinh phẳng lặng:
- Em thế nào? Dung nhan ra sao? Nói rõ ràng đi!
Tôi cố nhớ hình ảnh Thư Há. Cố nhớ những điều làm tôi rung động, ngay từ lúc nàng rón rén, bước những bước đầu tiên vào lớp học. Nhưng tôi cứ lắp bắp, ấp a ấp úng, không thể nào diễn tả nhan sắc Thư Há một cách xuông xẻ, theo ước muốn của anh Lời.
- Mẹ, mày ăn nói úp úp mở mở như thế kia, làm sao tau hình dung được cái gì? Ðược rồi, ngày mai tau sẽ đến tận lớp, đứng bên cửa sổ nhìn vô. Mày chỉ nàng cho tau nhé!
Ngày mai, anh Lời đến lớp thật. Anh đứng tựa cửa, hút thuốc, nhìn chăm chăm về Thư Há, như muốn ăn tươi nuốt sống nàng. Biết có người đang ngắm nghía mình, Thư Há vuốt nhẹ mái tóc, môi dưới trề ra, miệng nở nụ cười mím chi, đôi mắt chớp chớp như cố tình đá lông nheo với anh Lời.
Chiều về, anh Lời mò đến nhà, lẳng lặng kéo tôi ra sân, thân mật dúi vào tay tôi một điếu thuốc thơm.
- Nàng Thơ mày quả thật tuyệt vời! Tuy không đẹp như Tây Thi, nhưng có làn da trắng trẻo, đôi mắt lãng mạn, nụ cười đa tình. Ngần thứ ấy, đủ để mày làm thơ suốt đời.
- Ðôi mắt lãng mạn là thế nào? Nụ cười đa tình là ra sao, vậy anh Lời?
- Mẹ, mày ngu như bò. Mày không thấy khi nhìn trai, đôi mắt nàng lờ đờ như đôi mắt cá ươn sao? Và nụ cười, nụ cười lúc nào cũng nửa miệng. Như mời gọi, như đón chờ, như đưa người ta vào cõi thôi miên vô tận?
Tôi vỗ đùi, khoái trá:
- Ừ, em biết rồi! Như nàng có bùa, phải không? Bọn con trai lớp em mê nàng đến điên cuồng. Thằng nào thằng nấy cũng sẵn sàng nhào vô, chết vì nàng.

Từ khi có Nàng Thơ, tôi bắt đầu tư lự, bỏ học dài dài. Theo anh Lời, muốn làm thơ hay, phải trồng cây si, phải thất tình. Trồng cây si, với tôi, có khó chi đâu? Buổi sáng, chịu khó ôm cặp, lẽo đẽo theo Thư Há đến trường. Hoặc mỗi đêm, lòng vòng quanh nhà nàng, rồi len lén đứng núp sau hàng rào dâm bụt, nhìn trộm bóng dáng nàng , lung linh lúng lính dưới ánh đèn nơi bàn học. Anh Lời còn nói, thỉnh thoảng phải có chút rượu làm chất xúc tác cho thơ. Rượu là men đời, là thần sầu. Có nó, ta đi vào thơ một cách dễ dàng và kỳ diệu.
Tôi lại bắt đầu uống rượu. Cái gì, lúc bắt đầu cũng quá khó khăn, khổ sở. Nhưng sau đó, quen dần, quen đến độ như ghiền. Những ly rượu đế cay xè, được bè bạn chuyền tay nhau đưa lên môi, sao khó khăn hơn uống độc dược? Những ngụm rượu đụng vào lưỡi đã tê điếng các giác quan. Nuốt đến cổ, chưa chi đã nóng ran cả lồng ngực, cháy xé cả ruột gan. Vậy mà, chẳng bao lâu, hết xị này đến xị khác, tôi nốc lia chia, cho đến khi hình ảnh Thư Há hiện lên, chập chờn dẫn tôi vào cõi thơ.
Trong lúc tôi gắn bó với Nàng Thơ, say sưa với ước muốn đầu đời, thì anh Lời – bỗng dưng – biến đâu mất tăm. Nhà anh, suốt ngày, đóng cửa thin thít. Trước hiên, cái ghế anh thường ngồi làm thơ, bây giờ, bụi đóng loang loáng. Vài mẩu giấy vụn, quanh đó, vung vãi. Lâu rồi, chúng vẫn còn nằm trơ, y nguyên một chỗ. Chỉ có buổi tối, thỉnh thoảng, rất khuya, bên nhà tôi nhìn sang, mới thấy bóng anh Lời nhấp nha dưới bếp. Anh nuốt vội những thìa cơm nguội muộn màng, để cho kịp giấc ngủ đang chực chờ lao nhanh đến.
Cho tới một hôm, bất chợt, có tiếng con gái cười khúc khích, từ trong nhà anh vọng ra. Tiếng cười quen thuộc, thân thương – hình như tôi từng nghe loáng thoáng nơi đâu? Phải chăng, đôi lúc nó vút cao như tiếng chim họa mi cuống cuồng tìm bạn, rồi chợt rơi xuống đến tận cùng âm thanh, tiếng cười bỗng trầm đục như tiếng vỡ của chiếc bình cổ quí giá. Tôi cố lục dần trí nhớ. Ðúng rồi! Tiếng cười của Thư Há. Của thần tượng. Của Nàng Thơ tôi.

Tôi đứng chết trân trên lối đi vòng vèo, phía sau nhà anh Lời. Tôi cố áp tai vào vách, lắng nghe điều gì sẽ xảy ra, sau cái âm thanh khúc khích kiêu sa đó. Và tôi chỉ nghe hơi thở Thư Há quyện cùng hơi thở anh Lời, lúc dồn dập, lúc khắc khoải, như nhịp đập của trái tim sắp tung ra khỏi lồng ngực.

oOo
Tôi đợi con bé ở tầng dưới thư viện. Chắc chắn giờ này, con bé sẽ đến. Cái cầu thang thoai thoải, uốn cong như con rắn khoanh tròn, dường như, nó muốn xoải lưng cất cao, chờ mong bàn chân tiểu thư của con bé dẫm lên. Tôi đứng ở đây, mỗi chiều, vào giờ này, suốt hai tháng trời. Từ khi tôi bắt gặp con bé cầm quyển việt ngữ trên tay, chăm chú đọc từng trang. Từ khi con bé ngước lên nhìn tôi. Mái tóc buông lơi, phất phơ theo gió. Có những sợi tóc mai mỏng mảnh bám nhẹ vào môi. Vành môi đỏ hồng phía dưới trề ra, để lộ nụ cười nửa miệng, nhếch nhác. Cùng lúc, đôi mắt ngơ ngác, nghệch ngạc đến độ gượng gạo. Rồi thình lình, đôi mắt ấy ánh lên một màu vàng đùn đục, tương tự màu nắng hoàng hôn đang lồng lộn giẫy giụa giữa sóng nước trùng khơi. Thoáng chốc, tôi sửng sốt, bàng hoàng, muốn rơi rụng cả chân tay. Con bé như bản copy tuyệt hảo nhất của tạo hóa. Con bé giống Thư Há như đúc, như in.

- Chú ơi, cháu muốn ra biển với chú, chiều nay.
Cái cầu thang như lập cập động đậy. Con rắn uốn cong, trở mình. Bàn chân nõn nà vừa dẫm lên, một nấc, hai nấc. Tôi nghe tiếng phần phật từ vạt áo con bé, tự nhiên chạm vào tay tôi, rát rạt.
- Cháu không ở thư viện đọc sách sao?
- Ngưng một bữa chú ạ! Cháu vừa có tin vui. Má cháu ngày mai qua đây. Vui quá, cháu chỉ muốn đi lòng vòng, với chú.
Tôi bỗng muốn quỵ xuống, mừng rỡ đến run cả đôi chân. Mai này, tôi sẽ gặp lại Thư Há. Tôi sẽ thật sự đối diện với Nàng Thơ, mà 42 năm qua, đã có một thời làm ngôn ngữ tôi bật khóc. Rồi trong cơn chập choạng của trí nhớ, tôi luống cuống nắm chặt cánh tay con bé, chạy như bay ra bãi đậu xe.
Biển, chiều nay, không đẹp. Mây vần vũ bên kia, làm mù đục góc trời. Ngoài khơi, sóng tung tăng như bầy ngựa hung hăng, bờm dựng lên trắng xóa, đua nhau phi thẳng vào bờ. Âm thanh đì đục, đùng đùng, vang dội khắp đất trời, dường như phá tung cả hư không. Tôi cởi giày, chạy theo con bé. Cát mềm nhũn dưới chân. Nó lão nhão, sền sệt như lớp phù sa nào đó, trên đồng bằng Cửu Long ngày trước. Tôi cứ nhắm màu áo con bé chạy tới, cho đến khi con bé lăn đùng bên gờ một đụn cát.

- Chú ơi, cháu có đọc thơ chú trên báo. Nhưng bài thơ nào chú cũng viết về biển. Tại sao biển luôn canh cánh trong lòng chú vậy?
- Ơ, dễ thôi! Vì ngày xưa chú là lính biển. Biển luôn bên cạnh chú, luôn thao thức với chúù từng tháng rộng, năm dài.
- Riêng cháu, cháu ghét biển vô cùng.
Tôi nhìn vào mắt con bé. Biển lung linh trong đó. Giông tố, bão bùng khuấy động trong đó.
- Sao vậy cháu? Sao ghét biển đến vô cùng thế?
- Biển đã cướp mất người cha thân yêu của cháu, trên chuyến vượt biên. Mẹ cháu từng tuyệt vọng, hóa điên cuồng.
- Nhưng biển đã dẫn gia đình cháu đến bờ bến tự do…
Con bé gục xuống đụn cát. Cánh tay vươn ra phía trước. Ðôi vai nhô lên như miếng bánh tráng căng phồng trong ngọn lửa. Chiếc cổ nõn nà, phập phều theo tiếng nấc ràn rụa của con bé. Tôi bùi ngùi, loay hoay quỳ xuống đụn cát. Gió thốc tháo, cuồng bạo, hốt tung váy con bé lên cao. Tôi nhắm nghiến mắt lại, để không muốn nhìn thấy đôi chân trắng nõn lộ ra, mềm mại chạy dài lên đến đỉnh đùi. Bỗng dưng, con bé xoay lại, xoải hai cánh tay nuột nà ôm chầm lấy tôi. Hương tóc, hương da thịt…và hình như, cả hương nước mắt nữa…đua nhau xộc vào mũi tôi, khiến tôi cứ lềnh bềnh ngất ngây trôi trên vùng cảm giác tuyệt vời.

oOo
Tôi chọn mua bó hoa rực rỡ nhất, rồi lẽo đẽo theo con bé ra phi trường. Lối vào gate đầy người. Ðèn xanh, đèn đỏ nhấp nha nhấp nháy trên các máy rà soát hành lý. Những đôi giày tháo tung. Những chiếc vớ tụt xuống. Những bàn chân trần lộ ra, trước cặp mắt dò xét của security. Ngành du lịch Mỹ đã mất đi vẻ thú vị tự do, sau đại nạn khủng bố năm 2001. Tuy vậy, con bé vẫn lẩn vào đám đông, chen về phía trước, đứng nhấp nhỏm ở lối ra để đón mẹ.

Tôi co rúm như con sâu, ngồi thu lu nơi góc ghế, chăm chú nhìn theo con bé. Bó hoa hồng rực rỡ đang nằm trong tay. Tôi ôm nó vào lòng, siết chặt, như cảm thấy trái tim Thư Há bên cạnh trái tim mình. Ôi, ấm áp và thân thương biết bao! 42 năm trôi qua, sau cái đêm chợt nghe tiếng cười khúc khích kiêu sa của nàng, vọng ra từ nhà anh Lời. Chúng tôi biền biệt xa nhau. Không gặp nhau lần nào nữa. 42 năm mất Nàng Thơ, thơ tôi mãi đau đáu khơi dòng. Mỗi ý tưởng, mỗi vần điệu vẫn quằn quại bóng dáng nàng, vẫn phảng phất hơi hướm Thư Há. Tôi còng lưng vác túi thơ như vác thập giá đi khắp bốn phương trời. Thần tượng đã sụp đổ. Nhưng nỗi đau sụp đổ mãi còn nằm đó. Nằm trong từng con chữ, từng dấu ấn của thơ.

Con bé chợt kêu lớn, rồi nhào đến ôm chầm một người đàn bà lạ. Tôi luống cuống đứng dậy. Trái tim tự dưng đập liên hồi. Hai tay run rẩy, đến nỗi bó hoa muốn chực rơi xuống nền gạch. Trời ơi! Thư Há đây sao? Một lão bà còm cõi đang khục khặc ho trong vòng tay nhỏ nhắn của con bé. Mùa này, trời đang nóng, thế mà Thư Há khoác trên mình cái áo ấm dày cộm. Ðã vậy, xung quanh cổ còn quấn thêm lớp khăn choàng màu rêu xậm. Tôi cắn chặt vành môi, mở to mắt để cố xác định sự thật phũ phàng. Ðâu rồi bóng dáng kiêu sa với mái tóc thướt tha ngày trước? Ðâu rồi nụ cười nửa miệng, đôi mắt lãng mạn thăm thẳm trời sầu? Tất cả cái đẹp mất hết. Tất cả đều lùi vào quá khứ, chôn kín, mất tăm, theo bóng ma kỷ niệm. Tôi buông bó hoa rơi xuống ghế, lảo đảo ngó Thư Há một lần nữa. Tôi chỉ nhìn thấy cái lưng khom khom của lão bà nào đó. Cái khuôn mặt tan tác hom hem của thời gian khắc nghiệt. Và mái tóc bạc phếu xác xơ đang giãy giụa mỏi mòn trên vầng trán khô khan nhựa sống. Bỗng nhiên, tôi nấc lên một hơi dài, rồi ôm mặt chạy như điên ra khỏi phi trường.
Nắng hừng hực trên các ngọn cây, đổ hào quang xuống thềm đường, lấp la lấp lánh trong những lòng kính nơi parking lot. Chiếc xe, lúc này, nóng phừng phừng như có lửa đốt. Tôi chui vào ghế, gục đầu xuống tay lái, nghe quá khứ và hiện tại đua nhau cấu xé trong lòng. Thần tượng sụp đổ. Nàng Thơ già cỗi. Không lẽ đành để thơ tôi đi vất vưỡng vào ngõ cuối cuộc đời? Tôi chợt nhớ lời nói anh Lời năm xưa. Làm thơ phải có Nàng Thơ. Nàng Thơ phải đẹp, phải mặt hoa da phấn, dáng dấp kiêu sang…Ðúng rồi, muốn cứu thơ tôi ra khỏi cơn hấp hối, tôi đành đi tìm Nàng Thơ khác. Và tôi chợt nghĩ đến con bé. Chỉ có con bé là bản copy tuyệt hảo nhất của tạo hóa. Chỉ có con bé, trong lúc này, mới đủ tầm vóc lên ngôi thần tượng.

Như có sức mạnh ma quái nào đó kéo tôi bật dậy, tôi mở toang cửa xe, ngó thẳng lên trời cao thăm thẳm. Rồi dường đắc chí điều chi, tôi chợt vuốt râu, cười hào sảng với mình. Phải chi có thuốc cải lão hoàn đồng thật sự, tôi sẽ nhắm mắt tu một hơi, cho trẻ lại như cậu thiếu niên ngày trước.

Phạm Hồng Ân

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

RỒI CŨNG THÈM CƠM.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Tới 11 giờ đêm, là giờ tan ca, anh Tư Chuột hối hả thu xếp đồ nghề bỏ vào tool box. Bác Bông mỉm cười trêu chọc:
- Đi đâu mà vội thế? trước sau cũng về với vợ thôi, tối nay cuối tuần hai vợ chồng tha hồ mà tâm tình nhé.
Tư Chuột nháy mắt với thằng bạn đang đứng đợi bên cạnh và đáp:
- Tối nay tụi em đi câu cá ông anh ạ.
- Hai vợ chồng làm việc trái giờ trái giấc, đứa ca sáng đứa ca chiều, có ngày cuối tuần gần nhau lại bỏ đi câu là thế nào? Mà sao lại đi vào giữa đêm như thế này?
- Phải đi câu về đêm mới nhiều cá, mới vui thú chứ.
Bác Bông cũng hào hứng lây:
- Thích nhỉ, hôm nay chú mày đột xuất quá anh chưa kịp chuẩn bị, lần sau cho anh đi câu với.
- Được rồi, nhưng bác không được dắt theo bác gái đấy nhé?
- Yên chí, đàn bà nhất là bà xã anh thì đời nào thích đi câu, cứ mang cá về cho bà ấy nấu nướng là bà ấy hài lòng rồi.
Tư Chuột và thằng bạn kéo nhau đi, hai người cười khoái chí bảo nhau:
- Đúng là ông già Bông quê một cục, mình nói bóng gío thế mà cũng không hiểu. Ai mà khùng đi câu cá lúc nửa đêm.
Bác Bông lúi húi thu xếp đồ nghề của mình và nghĩ tới một chuyến đi câu đêm với Tư Chuột, sẽ mang về những con cá tươi rói cho vợ tha hồ chế biến, chiên ròn chấm nước mắm tỏi ớt hay nấu canh chua ngon phải biết…
Bác Bông đâu biết rằng Tư Chuột theo thằng bạn đi tới gần sáng mới mò về tới nhà, bước chân lảo đảo vì hãy còn hơi men, chỉ kịp vào đến giường là Tư Chuột đổ nhào xuống như một cái xác không hồn. Nhưng chị Tư Chuột không để yên cho cái xác ấy nghỉ ngơi, mà lay nó dậy để hỏi tội:
- Anh đi đâu, ở đâu và làm gì suốt đêm? rồi về nhà ăn vạ vợ con như thế này??
- Lại đi với gái phải không? người toàn mùi rượu và mùi son phấn…
Chị nói hai câu, anh mới nói được một câu hù dọa:
- Để yên cho tôi ngủ, nói nữa tôi đá cho té ngửa ráng chịu.
- Trời ơi, có ngon thì anh đá tôi coi.
Dĩ nhiên anh không dám.Vợ chồng Tư Chuột lấy nhau đã 5 năm, có thằng con lên 3 tuổi, sau vài năm đầu mặn nồng, anh Tư Chuột lại trở về thói quen xưa, thích ăn nhậu và bồ bịch lăng nhăng. Biết tính chồng, chị Tư Chuột đã nhiều lần khuyên can nhưng chỉ được ba bữa, rồi đâu cũng vào đấy, đã mấy lần chị tính chuyện li dị, nhưng vẫn thương chồng thương con nên lại thôi.
Lần này chị không thể nhu nhược chịu thua chồng nữa, cứ tưởng tượng đêm qua Tư Chuột rời khỏi hãng là đi đến quán nhậu trá hình nào đó, trước là ăn nhậu sau là gái đẹp trong tay, trong khi ở nhà chị mất ngủ, mỏi mắt chờ trông thì chúng nó âu yếm bù khú với nhau là chị uất lên tới cổ. Đồng lương mang về nhà càng ngày càng hao hụt dù anh Tư Chuột làm thợ giỏi, lương cao và làm over time khá nhiều, mà càng kiếm được nhiều tiền thì Tư Chuột càng rửng mỡ đi đêm nhiều chứ vợ con hưởng là bao?.
Tư Chuột ngủ một giấc đến trưa mới tỉnh dậy, thấy vợ mặt xưng xỉa một đống, bếp núc lạnh tanh, không như những buổi cuối tuần khác, sáng ngủ dậy trễ đã ngửi thấy mùi của nồi phở hay hủ tíu mì thơm phức.
Anh ta chán nản khóac áo đi ra ngoài, nhưng chị đã kéo áo lại:
- Anh ngồi đây, tôi muốn nói một chuyện nghiêm chỉnh với anh
Tư Chuột ngồi phịch xuống ghế, mỉm cười cầu hòa:
- Thôi, bỏ qua cho tôi nhờ, đêm qua lỡ vui đi nhậu với thằng bạn thôi mà.
- Anh chỉ nói một nửa sự thật, đừng hòng qua mắt tôi. Tôi đã điều tra và biết là anh đã từng ăn nhậu ở quán nào, ngủ với gái ở đâu rồi. Và anh từng ra quán cà phê nào để đánh cá và bài bạc. Tứ đổ tường thì anh dính đến ba thứ. Đó là lý do cho đến bây giờ chúng ta vẫn ở thuê apartment, vẫn trả nợ xe chưa hết, tài chánh bấp bênh, tương lai không ổn định, hạnh phúc thì mong manh.
Tư Chuột chống chế:
- Có ít thì người ta xít ra nhiều, cô đừng nghe lời thiên hạ. Công nhận tôi có nhậu nhẹt, cờ bạc, nhưng có khi cũng thắng lớn chứ bộ.
Chị đay nghiến:
- Thua bài bạc thì vào tiền nhà, còn khi anh thắng thì tôi chẳng thấy tiền bạc đâu, anh đem vào quán nhậu bao bạn bè, bao gái, may ra mang về nhà cho vợ con được hộp thịt heo quay và mấy món food to go cho lương tâm khỏi cắn rứt. Anh nói đi, anh đang bồ bịch với con nào?
Tư Chuột đành nhận tội:
- Thì quán nhậu nào chẳng có mấy em tiếp viên tươi mát để câu khách, tôi có lạng quạng với tụi nó cũng là qua đường, cũng là ngán cơm thì ăn phở đổi khẩu vị mà thôi, chứ yêu thương gì.
Chị Tư Chuột gào lên:
- A, thì ra anh chán chê tôi, nên đi tìm người trẻ đẹp hơn chứ gì! tôi không thể chịu đựng tình cảnh này mãi, sẽ ảnh hưởng tới thằng con chúng ta sau này, chúng ta phải li dị, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ.
Nhìn bản mặt giận dỗi của vợ, càng giận trông càng thấy ghét, anh Tư Chuột nóng máu đứng phắt dậy:
- Rồi, thích thì chiều, ly dị đi cho tôi rảnh nợ.
Và Tư Chuột bước ra khỏi nhà mặc cho chị vợ ngồi khóc tức tưởi một mình.
***************
Nhưng trước khi li dị, vợ Tư Chuột ly thân, chị mang thằng cu Tí về ở với mẹ chị tại tiểu bang khác.
Anh Tư Chuột thừa biết gia đình bên vợ đông, bà mẹ vợ, các em vợ sẽ xúm vào lo cho mẹ con chị Tư Chuột, nên anh ta yên tâm.
Bỗng dưng chị vợ quyết định chia tay cho Tư Chuột được hưởng đời tự do, bản tính ăn chơi trăng hoa của Tư Chuột được dịp vùng lên thoải mái. Có lập gia đình, vướng víu vợ con mới thấy cuộc đời bị khống chế, tù túng bao nhiêu, vợ có đẹp cũng là món cơm thường ngày ăn hoài phát ngán, thỉnh thoảng đổi món ăn phở thay cơm, lén lút bồ bịch bên ngoài mới thú vị. Từ nay Tư Chuột sẽ tha hồ ăn “phở” hết nơi này đến nơi khác, thay đổi khẩu vị cho sướng đời, và về đến nhà không có ai hạch hỏi để phải nói dối, phải năn nỉ ỉ ôi để chạy tội..
Nhưng Tư Chuột không ngờ rằng chỉ một năm, sau những bữa vui nhậu tàn canh, thay đổi bồ bịch lia chia, bạc bài thâu đêm, Tư Chuột kinh hòang thấy mình trắng tay, mà những ham muốn cũng vơi dần, không còn hấp dẫn nữa. Tư Chuột bỗng tiếc cuộc sống ngăn nắp tử tế trước kia, thèm bữa cơm gia đình, thèm được cõng thằng Cu Tí lên vai, nghe nó nói, nghe nó cười. Thì ra vợ là món cơm nhà, ăn mỗi ngày tuy có ngán nhưng vô cùng cần thiết, Phở ngoài đường chỉ là món ăn chơi ngon miệng chẳng no lâu.
Tư Chuột vẫn giận vợ, tự ái cành hông, vì chị ta đã mang con ra đi. Thể nào chị chẳng ngấm ngầm theo dõi, điều tra cuộc sống hiện nay của anh và đang hả hê mãn nguyện vì anh đang điêu tàn?
Tư Chuột sẽ tìm một người vợ khác và sẽ tạo dựng một mái gia đình đàng hoàng cho chị biết thân. Nhìn quanh quẩn lại Tư Chuột chỉ thấy một lũ bạn ăn chơi, những cô bồ tạm bợ, nay thằng này mai thằng khác, chẳng xứng đáng cho anh rước về làm vợ. Mấy thằng bạn đốc thúc Tư Chuột tìm vợ qua mục kết bạn bốn phương cho nhanh chóng.
Mục tìm bạn cũng lắm gian nan, chẳng biết đâu là thực là gỉa? nhiều người vỡ mộng khi đối diện nhau, khi biết sự thật của nhau. Thà cứ thành thật ngay từ ban đầu, nếu đối tượng cảm thông đến với nhau thì hay hơn, thoải mái hơn. Anh quan niệm thế nên viết đi viết lại lời rao tìm bạn mấy lần mới vừa ý:
“Đàn ông 35 tuổi, đã từng cờ bạc, rượu chè, và gái gủng. Bị vợ bỏ, sống lông bông cả năm nay, nghèo rớt mồng tơi, ở nhà thuê, đi xe cũ rích nay hư mai hỏng. Bỗng thấy hối hận vì đã lãng phí cuộc đời, ăn phở hoài phát chán chê, nay thèm ăn cơm, thèm một mái gia đình ấm cúng.
Khao khát tìm một người vợ, dù người ấy có quản lý từng xu teng, dù người ấy có quát tháo, mắng mỏ cả ngày tôi cũng welcome.
Tái bút: không giới hạn nhan sắc, miễn là hợp nhau.”
Tư Chuột gởi đăng lời rao tìm bạn bốn phương trên báo và chờ đợi, anh đang ước mơ cháy bỏng những thứ mà anh từng có trong tay.
Một tháng trời trôi qua, chẳng có ma nào cảm thông và gởi thư cho anh cả, đàn bà con gái ở Mỹ này đâu có dư thừa mà vồ lấy một thằng đàn ông vừa nghèo vừa hư như Tư Chuột làm chồng? cuối cùng chỉ có những lá thư xa xôi từ Việt Nam bay tới, cô nào cũng tỏ ra bao dung, hiền dịu, chấp nhận tính xấu và hoàn cảnh của Tư Chuột, lựa lọc mãi, Tư Chuột mới chấm được một cô.
Sau vài lá thư qua lại, cô gái kiêu hãnh khoe rằng cô trẻ đẹp, đăng báo tìm bạn có nhiều người làm quen với cô, nhưng vì cảm mến lời rao chân tình của anh nên cô sẵn sàng làm vợ nếu anh bảo lãnh cô sang Mỹ, cô nói rằng những thói hư tật xấu của anh không nhằm nhò gì, cô hứa sẽ yêu anh và sẽ là món cơm cho anh ấm lòng cả đời.
Tư Chuột cảm động lắm, nhưng anh chợt nhớ lại mấy chuyện đã tai nghe mắt thấy, biết đâu cô gái kia chỉ muốn mượn đường sang Mỹ, xong cái thẻ xanh là li dị?. Biết đâu cô gái kia là gái bia ôm, gái nhảy, muốn tìm đường thoát thân, để đổi đời?
Một người quen của Tư Chuột có cô cháu gái ở Việt Nam đăng báo tìm bạn bên Mỹ, chẳng có ai ra hồn hay nghiêm chỉnh tìm đến với cô cả, ngoài một ông Mỹ gìa mà còn dở hơi, sống cô lập ở miền núi Ozark thuộc tiểu bang Arkansas, ông sống trong một căn nhà sàn tự làm lấy, ăn rau do chính mình trồng và xử dụng nước suối nước hồ …Ông ra điều kiện nếu lấy ông ta phải sống như thế suốt đời, nghe tưởng là thanh cảnh vui thú điền viên, nhưng suy nghĩ kỹ thì chắc là thần kinh của ông Mỹ có vấn đề?, từ chối mọi tiện nghi văn minh đời sống để rước khổ vào thân, còn đòi lấy vợ đẻ con để khổ thêm người khác. Rồi vợ ông sẽ đi bộ bao nhiêu mile mới tới một ngôi chợ để mua những thứ tối thiểu cần thiết cho đời sống ngoài rau xanh và nước uống kia? rồi con ông sẽ đi học ở đâu? Xe bus nào chịu khó len lỏi vào tận rừng sâu, núi cao mà chở con ông đến trường? Cô gái vẫn hớn hở chấp nhận kiểu sống ấy để lấy ông Mỹ, dĩ nhiên sau khi cầm cái thẻ xanh trong tay, cô ta ly dị, để ông gìa hưởng nhàn một mình với núi non.
Nghe sao mà giống trường hợp cô gái trẻ đẹp này đang hớn hở chào đón Tư Chuột qúa!
Bác Bông, ông bạn gìa làm cùng hãng, biết tin Tư Chuột đang tìm bạn bốn phương đã khuyên Tư Chuột rất có lý có tình:
- Chú mày việc gì phải tìm bạn bốn phương tám hướng cho mất công, chắc gì đã tốt lành bằng người vợ cũ? Chú mày phải công nhận là chú mày có lỗi với vợ con nên mới ra nông nỗi này, thì hãy đi tìm người vợ cũ mà xin lỗi, mà tái hợp.
Tư Chuột nhăn nhó:
- Ông anh ơi, em xuống nước đã đành, mà nó từ chối thì em quê lắm.
- Nó có từ chối thì ít ra lương tâm chú mày cũng thanh thản, coi như đã nói được lời xin lỗi với vợ con. Nhưng nó ly thân cả năm nay mà chưa tiến hành ly dị, biết đâu chỉ là thử thách chú mày và vẫn đợi chờ, vẫn còn thương?
Có ông bạn gìa nhà quê chân chất thế mà hay, trong khi mấy thằng bạn thân cùng “chiến tuyến” chỉ lo chơi bời, ăn nhậu, cứ khích lệ Tư Chuột tìm bạn bốn phương hay về Việt Nam tìm vợ trẻ đẹp con nhà giàu, trong khi bản thân Tư Chuột có bằng ai? Chắc gì giữ được loại vợ ấy trong tay suốt đời?
Thời gian đầu sau khi vợ con ra đi, Tư Chuột còn thỉnh thỏang gọi phone thăm con, sau thưa dần. Không biết bây giờ vợ con anh ra sao?
Tư Chuột xin nghỉ việc một tuần để đi gặp vợ con.
Đứng trước ngôi nhà bà mẹ vợ bỗng dưng Tư Chuột hồi hộp cảm xúc như ngày xưa lần đầu tiên đến nhà này thăm chị. Ngày xưa ấy hai người đã yêu nhau biết chừng nào.
Cánh cửa mở ra, là khuôn mặt bà mẹ vợ, Tư Chuột chào mà như mắc nghẹn:
- Mẹ có khỏe không? vợ con con có khỏe không?
Bà mời anh vào nhà, thằng cu Tí mới có một năm cách xa trông nó lớn hẳn ra, vừa thấy bố, thằng bé trố mắt nhìn ngạc nhiên, nép vào lòng bà ngoại, nó hỏi:
- Bà ơi, ông này là ai?
Tư Chuột đau nhói trong lòng, đứa con ruột thịt đang dần quên cha nó. Bà mẹ vợ dắt tay thằng Cu Tí đến bên Tư Chuột:
- Bố của con đây mà, con nhớ ra chưa? Bố bận rộn đi làm ăn xa nay mới trở về thăm con.
Thằng bé mỉm cười như biết lỗi và ngoan ngoãn ngồi im trong lòng bố. Tư Chuột cảm động nhìn mẹ vợ:
- Hôm nay con đến đây để xin lỗi vợ con, không biết cô ấy có tha lỗi cho con không?
- Từ ngày hai vợ chồng chia tay, nó có vui sướng gì đâu. Thôi, con ngồi đây để mẹ vào trong gọi nó ra.
Khi vừa thấy chị trong nhà bước ra, Tư Chuột vụt nhỏm dậy, tay bế thằng cu Tí tay cầm lấy tay người xưa, giọng anh nghèn nghẹn:
- Em ơi, hãy tha lỗi cho anh!
Chị ngúng nguẩy:
- Anh còn đến đây làm gì, sao không vui hưởng cuộc sống tự do cho thỏa thích?.
- Anh biết lỗi của anh rồi, em chửi mắng bao nhiêu anh cũng chịu, miễn là em cho phép anh được trở về sống với mẹ con em như trước kia. Mà em tự ý bỏ anh chứ anh có dám bỏ mẹ con em đâu.
Chị òa khóc làm thằng cu Tí chẳng hiểu gì cũng khóc theo, nhưng là những giọt nước mắt đoàn tụ hạnh phúc:
- Phải, em chịu hết nổi nên đành buông. Nếu anh vẫn mải mê ăn chơi và không bao giờ quay lại với vợ con thì em sẽ chẳng tiếc một người chồng bội bạc, vô lương tâm như thế. Nếu anh quay về như ngày hôm nay thì em đã đúng khi cho anh một bài học thử thách.
Tư Chuột choàng tay ôm qua vai vợ, âu yếm khen:
- Không ngờ em cao tay ấn qúa, một năm sống tự do buông thả anh đã thức tỉnh rồi em ạ, không gì bằng vợ con. Em là vợ hiền, là món cơm nhà tuyệt vời nhất mà bây giờ anh mới nhận ra.

Nguyễn thị Thanh Dương

Post Reply