Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Dân Vi Quý

Minh Văn

Trong thời đại văn minh hiện nay, chế độ dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; và tư tưởng Dân Chủ không còn xa lạ với nhân loại: Đó là người dân có quyền làm chủ đất nước và tự quyết định vận mệnh của chính mình. Tiếc rằng ở nước ta thì không được như vậy, dù là tư tưởng tiến bộ đó đã có ở các nhà tư tưởng thời cổ đại.

Mạnh Tử, người đã tiếp tục và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, có nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Câu ấy có nghĩa là: Dân làm quý, xã tắc là thứ, vua làm khinh. Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng trọng dân, đặt vị trí của người dân lên trên nhà vua của Mạnh Tử, khi ông cho rằng: Dân vi quý, quân vi khinh.

Quan điểm tư tưởng đó có bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, vì dân của Khổng Tử. Câu chuyện dưới đây sẽ minh chứng cho điều đó:

Khi Tử Cống xin Khổng Tử dạy bảo về đường lối trị quốc và quản lý, Khổng Tử đáp: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ”. Nghĩa là trước tiên phải có đầy đủ lương thực (yếu tố vật chất), thứ đến là phải có đầy đủ quân đội vũ khí và sự tín nhiệm của dân. Tử Cống lại hỏi: “Nếu trường hợp bất đắc dĩ mà phải bỏ một trong ba điều đó thì nên bỏ thứ nào?”. Khổng Tử đáp: “Bỏ binh”. Tử Cống hỏi tiếp: “Nếu như trong hai điều còn lại mà phải bỏ một thì bỏ thứ nào?”. Khổng Tử đáp: “Bỏ lương thực”. Khổng Tử cho rằng bỏ ăn thì chết song xưa nay ai cũng chết, nhưng không có lòng tin của dân chúng thì quốc gia không thể đứng vững và tồn tại lâu dài.

Đoạn đối thoại này của Khổng Tử đã nói với mọi người một cách rõ ràng rằng: So sánh “túc binh”, “túc thực”, và “dân tín” thì “dân tín” là quan trọng nhất. Trong những tình huống cấp thiết có thể có thể bỏ binh, bỏ lương thực, điều đó có thể làm cho quốc gia nảy sinh ra một số khó khăn nhất định về vật lực, tài lực nhưng không bao giờ được làm mất đi lòng tin của nhân dân. Tại sao “dân tín” lại quan trọng đến như vậy? Bởi vì “dân vô tín bất lập”. Không có sự tín nhiệm của dân chúng thì một quốc gia, một chế độ sẽ không tồn tại lâu dài được. Khi một chế độ mất đi lòng tin của dân chúng, thì cho dù vật chất có đầy đủ, quân đội vững mạnh thì đó cũng chỉ là một con hổ giấy mà thôi. Ngược lại, một chế độ thực sự vì dân và được sự tín nhiệm của dân thì dù trong hoàn cảnh khó khăn dân chúng vẫn tin theo để đưa đất nước vượt qua khó khăn đó.

Dân Tín là sự tín nhiệm của dân chúng đối với nhà nước và những người lãnh đạo. Tín nhiệm là chỉ sự tin tưởng tới mức dám phó thác. Nếu dân chúng mất đi tín nhiệm thì cũng có nghĩa là mất đi Dân Tâm. Lúc đó thì nhà nước có đưa ra những chính sách, quy định, pháp luật, chế độ tốt đến mấy thì dân chúng cũng không thèm để ý, không hy vọng. Như vậy nhân dân sẽ giữ thái độ bàng quan đối với những nhà nước không có tín nhiệm đối với dân.

Tín nhiệm sản sinh ra lòng tin và hy vọng, từ đó có thể liên kết và hòa hợp vận mệnh quốc gia với lợi ích của nhân dân. Ngược lại, không có sự tín nhiệm đối với nhà nước thì quần chúng không thể gắn bó với vận mệnh quốc gia được. Câu chuyện Thương Ưởng dựng cột gỗ để thay đổi biến pháp là một minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này. Muốn thực hiện tốt đẹp công việc của quốc gia thì trước hết phải có được sự tín nhiệm của dân chúng.

Ấy vậy mà thời nay vẫn có những quốc gia không có tư tưởng trọng dân và làm cái việc ngược lại với những điều mà Khổng Tử và Mạnh Tử đã răn nói từ xưa.

Đảng cầm quyền ở nước ta chính đã và đang làm cái việc nghịch lý đó. Trong bối cảnh bức thiết là sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài Cộng sản trên phạm vi toàn cầu, để cứu mình đảng Cộng sản đã làm ngược lại điều răn mà Khổng Tử đã dạy bảo kia. Đó là, thay vì “bỏ binh”, “bỏ lương thực” và giữ lại sự tín nhiệm của dân thì họ lại “bỏ tín nhiệm của dân”, “bỏ lương thực” và giữ lại binh quyền. Họ đã sẵn sàng vứt bỏ sự tín nhiệm của nhân dân để cứu lấy chế độ khi cấp bách. Họ có thể để cho dân đói khổ và thất nghiệp nhưng lại nuôi dưỡng lực lượng công an và quân đội để bảo vệ chế độ.

Từ lâu người dân đã mất hẳn niềm tin vào chế độ độc tài nhưng lại tự nhận là “nhà nước của dân, do dân, vì dân” này. Nhà nước chỉ quan tâm đến sự tồn vong của chế độ mà không bao giờ quan tâm đến sự tồn vong của đất nước và nhân dân. Đối với lãnh thổ thì biển đảo để cho ngoại bang xâm chiếm, đối với nhân dân thì sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. Người dân vì thế mà sống trong sự hoang mang và mất đi niềm tin vào xã hội mà mình đang sống. Như vậy thì còn đâu tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” như người xưa đã dạy?

“Không có niềm tin của nhân dân thì quốc gia không thể tồn tại được lâu dài”, Khổng Tử đã dạy như vậy. Nhưng nay nhà nước vẫn luôn khinh rẽ nhân dân, chỉ khăng khăng dùng bạo lực và công an để bảo vệ sự ổn định chính trị. Một chế độ coi thường nhân dân như thế thì không thể nào tồn tại lâu dài được!

Minh Văn

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Bắt đồng Nguyên lên giá được lợi gì?

Ngô Nhân Dụng

Năm ngoái, Hạ Viện Mỹ (đa số đảng Cộng Hòa) đã thông qua một dự luật nhằm buộc Trung Quốc phải nâng giá đồng tiền của họ so với Mỹ kim.

Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối. Dự luật đó không được viện trên đem ra bàn. Năm nay, đến lượt Thượng Viện (đa số Dân Chủ) lên đài, ngày Thứ Hai, 3 Tháng Mười, bắt đầu thảo luận một dự luật cho phép chính phủ Mỹ tăng thuế trên hàng Trung Quốc nhập cảng nếu họ không nâng giá đồng Nguyên. Lần này, Bắc Kinh phản ứng mạnh mẽ; cả Ngân Hàng Trung Ương, Bộ Thương Mại và Bộ Ngoại Giao đều lên tiếng. Họ đe dọa một cuộc “chiến tranh thương mại” có thể xảy ra nếu hai nước chạy đua tăng thuế nhập cảng trên hàng hóa của nhau rồi thưa kiện trước WTO, hậu quả lan rộng sẽ làm kinh tế cả thế giới suy yếu thêm, kể cả Mỹ và Trung Quốc.

Phản ứng mạnh hơn chứng tỏ Bắc Kinh lo ngại lần này Quốc Hội và tổng thống Mỹ sẽ làm thật. Vì sang năm dân Mỹ sẽ đi bầu. Chống Trung Quốc là một đòn dễ kiếm phiếu, nhất là khi các đại biểu nêu lý do họ hành động để giảm bớt nạn thất nghiệp ở Mỹ. Bây giờ, làm bất cứ cái gì để giảm bớt thất nghiệp chắc sẽ được hoan nghênh. Thượng Viện Mỹ sẽ thông qua dự luật, vì sẽ đủ đa số. Hạ Viện có thể chần chừ một chút, vì dự luật viện trên mang nhãn hiệu đảng Dân Chủ. Các đại biểu Cộng Hòa biết rằng các cuộc tranh luận tại Quốc Hội sẽ khiến dân Mỹ nhìn về một nước đối thủ, coi như đó là nguyên nhân gây ra tỷ lệ thất nghiệp cao, hiện nay trên 9%, có khi dân quên mất trách nhiệm của ông Obama hiện đang làm tổng thống! Nhưng chắc sau cùng Hạ Viện cũng thông qua dự luật. Sang năm, ai cũng phải tranh cử lại, khó giải thích tại sao lại chống một dự luật “giảm thất nghiệp”.

Sau khi hai viện thông qua, tổng thống cũng không dại gì phủ quyết một đạo luật hấp dẫn như thế. Cho nên, Bắc Kinh biết đây không phải chuyện đùa, họ thật sự lo ngại. Nếu họ hành động trước, để chứng tỏ có đáp ứng với dư luận Mỹ, như họ đã làm năm 2005, thì dự luật này có thể bị trì hoãn, tránh được một cuộc chiến tranh thương mại!

Có nhiều lý luận chứng tỏ Mỹ cần tấn công Trung Quốc trên mặt trận hối đoái. Bắc Kinh đã cố ý giữ giá đồng Nguyên rất thấp so với Mỹ kim để giá hàng xuất cảng của họ cũng thấp. Ðồng Nguyên được coi là đang thấp 28% so với giá trị thật; nếu tăng hối suất thì các món hàng xuất cảng từ Trung Quốc sẽ tăng giá một phần ba khi bán lấy Mỹ kim. Nước Mỹ đang chịu khiếm hụt trên cán cân thương mại, bán ra ít, mua vào nhiều, vì thế mà số người thất nghiệp lên cao. Buộc Trung Quốc nâng giá đồng Nguyên sẽ có ba hậu quả tốt: Hàng Mỹ bán vào Trung Quốc sẽ rẻ hơn, bán được nhiều hơn; hàng Trung Quốc bán ra các nước khác sẽ đắt hơn, do đó hàng Mỹ cũng cạnh tranh dễ hơn khắp thế giới; và sau cùng, lương công nhân ở nước Tàu sẽ cao hơn khi tính ra Mỹ kim, các công ty Mỹ sẽ giảm bớt số công việc đem sang cho người Tàu làm mà đưa về nước cho công nhân Mỹ làm.

Cả ba hậu quả đó sẽ có thể giúp giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ. Có người tính nếu đồng Nguyên lên giá nước Mỹ sẽ tạo thêm được một triệu việc làm, nhà kinh tế Paul Krugman (giải Nobel) ước tính 1.5 triệu, một dân biểu Mỹ tính sẽ lên tới 2.25 triệu. Hiện đang có 14 triệu người Mỹ bị thất nghiệp. Số khiếm hụt mậu dịch của nước Mỹ hy vọng sẽ giảm bớt so với thâm thủng hiện nay.

Nói chung, các nước đều muốn giữ giá đồng tiền của mình thấp xuống so với tiền nước khác để dễ xuất cảng. Ngay cả Thụy Sĩ, hiện đang đi mua Mỹ kim và Euro để đồng franc của họ không lên giá quá nhanh. Hiện các nhà đầu tư cứ mua đồng franc, đem để dành tiền ở Thụy Sĩ cho an toàn! Ðồng Mỹ kim đang bị đẩy giá lên vì lý do tương tự, trong lúc kinh tế bất ổn nhiều người cũng thấy để dành tiền ở Mỹ yên tâm. Bắc Kinh có $3,200 tỷ dự trữ ngoại tệ chính vì họ đi mua Mỹ kim để cho Mỹ vay. Riêng việc đi mua này làm cho Ngân Hàng Nhân Dân tốn $240 tỷ một năm. Con số đó lớn bằng 4% tổng sản lượng nội địa, cao hơn số $183 tỷ thặng dư mậu dịch năm 2010! Bắc Kinh làm như vậy được là vì chính phủ bắt dân chúng nhịn không được tiêu thụ; dân đành chịu. Ép Bắc Kinh nâng giá đồng Nguyên giống chính phủ Mỹ nói với họ: Thôi, các ông hãy dùng đồng tiền kiếm được nhờ xuất cảng cho dân Trung Hoa mua hàng hóa, dịch vụ của các nước đi; đừng có đem tiền sang cho nước Mỹ vay thêm nữa! Nhưng chính sách của Bắc Kinh khó thay đổi.

Vì dù họ muốn thay đổi cũng rất khó thi hành. Chính quyền Bắc Kinh cũng lo nạn thất nghiệp như bên Mỹ. Hàng trăm triệu người đi tìm việc. Nếu việc xuất cảng đình trệ, các nhà sản xuất không có thời giờ chuyển hướng sang cho thị trường nội địa, số người mất việc sẽ cao hơn. Mà người dân Trung Hoa có sẵn sàng đóng vai khách tiêu thụ thay cho khách Mỹ hay không? Trước hết họ cần phải có mãi lực cao hơn. Khi đồng Nguyên tăng giá họ có thể tiêu thụ được thêm hàng nhập cảng, vì sẽ rẻ hơn. Nhưng họ vẫn cần phải được tăng lương mới đủ. Những thứ đó có thể làm cho lạm phát lên cao; mà hiện nay ở mức 6.2% đã phải báo động rồi. Lạm phát và thất nghiệp sẽ gây thêm mối lo xã hội bất ổn. Rồi các ngân hàng thương mại do nhà nước kiểm soát phải tăng lãi suất trả cho dân gửi tiền tiết kiệm, cho dân thêm tiền bỏ túi nữa. Nếu đồng Nguyên lên giá, kinh tế Trung Quốc sẽ bắt buộc phải chuyển hướng, với hy vọng ổn định và quân bình hơn, nhưng trong khi kinh tế chuyển từ xuất cảng sang thị trường nội địa thì túi tiền của người tiêu thụ chưa chuyển theo kịp, sẽ gây thêm bất ổn!

Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đã công nhận từ năm ngoái là nền kinh tế Trung Quốc “không quân bình, không ổn định, không điều hợp và không thể kéo dài”. Chính phủ đổ tiền đầu tư quá nhiều nhưng đồng vốn không được sử dụng, hoặc dùng mà không có hiệu quả.

Bắc Kinh phải lo lắng trước mối đe dọa do dự luật ở Thượng Viện Mỹ gây ra, vì nó có nhiều triển vọng thành luật thật. Trước đây, chính quyền Mỹ chỉ cần đe dọa thôi đã khiến Bắc Kinh phải hành động. Năm 2005, hai thượng nghị sĩ Charles Schumer và Lindsey Graham đã đề nghị một dự luật đánh thuế hàng Trung Quốc 27.5% nếu họ không nâng giá đồng Nguyên trong 180 ngày! Thượng Viện đã chấp thuận với tỷ số 67-33; Hạ Viện thì không đem ra bàn. Nhưng chỉ đe dọa không thôi cũng đủ để Bắc Kinh công bố thả nổi cho đồng tiền của họ lên giá dần. Quả nhiên, từ 2005 đến 2010, đồng Nguyên đã lên giá 30% so với Mỹ kim, người Mỹ thấy vẫn chưa đủ.

Nhưng tỷ giá đồng Nguyên thấp chỉ là một trong nhiều cách chính quyền Trung Quốc dùng để giảm giá hàng xuất cảng. Họ còn dùng nhiều biện pháp khác, thiếu công bằng, ít nhất là không “thẳng thắn,” để ghìm giá. Ðặc biệt là trợ cấp cho các xí nghiệp của họ. Các công ty quốc doanh được vay tiền của ngân hàng quốc doanh với lãi suất rất thấp, một cách hạ thấp phí tổn trong giá thành. Họ ngăn cấm các nghiệp đoàn tư hoạt động, giúp cho mọi xí nghiệp, công, tư và ngoại quốc được trả lương thấp, cũng giảm giá thành của sản phẩm. Các xí nghiệp Trung Quốc không phải đóng góp cho quỹ hưu bổng, bảo hiểm y tế như các xí nghiệp Mỹ phải chịu tốn kém. Washington chưa đòi hỏi Bắc Kinh phải xóa bỏ các lối “trợ cấp” thiếu công bằng này.

Việc nâng giá đồng Nguyên so với Mỹ kim cũng không phải là phương pháp chắc chắn giúp cán cân thương mại Mỹ bớt thâm thủng hay hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Năm 1994, Trung Quốc đã hạ giá đồng Nguyên rất nhiều đối với Mỹ kim; nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã xuống thấp liên tiếp trong nhiều năm sau đó chứ không lên. Từ năm 2005, họ nâng giá đồng Nguyên lên, đến giờ thì tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lại lên cao. Ảnh hưởng của tỷ giá đồng Nguyên thật ra không theo một chiều nào chắc chắn!

Chính sách giữ giá đồng Nguyên thấp của Bắc Kinh gây ra tình trạng mất quân bình của nền kinh tế Trung Quốc và cả thế giới. Nếu Bắc Kinh chịu nghe theo yêu cầu của Mỹ mà nâng hối suất lên, chính kinh tế nước họ sẽ dần dần ổn định hơn. Nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Mỹ, đến nạn thất nghiệp ở Mỹ, thực ra không lớn lắm.

Vì Mỹ bán sang Trung Quốc những món hàng mà khi mua họ không quan tâm đến tỷ giá. Những máy bay của Boeing, máy phát điện của General Electrics bán được là vì kỹ thuật cao, phục vụ tốt sau khi bán, chứ không phải vì giá hạ. Trong ba năm, từ 2002 đến 2005, đồng Nguyên không thay đổi tỷ giá, số hàng xuất cảng từ Mỹ sang Trung Quốc tăng được 89%. Trong ba năm sau đó, từ 2005 đến 2008, đồng Nguyên bị ép phải nâng tỷ giá đến 20%, số xuất cảng của Mỹ sang Trung Quốc chỉ tăng 71% mặc dù giá bán rẻ hơn. Thực ra trong thị trường Trung Quốc các công ty Mỹ cạnh tranh với các công ty Nhật Bản, Âu Châu, cho nên bán được nhiều hay ít hơn có thể tùy thuộc hối suất Mỹ kim và đồng Yen, Mỹ kim và đồng Euro, chứ không phải tỷ giá Mỹ kim và đồng Nguyên!

Nếu đồng Nguyên lên giá thì cũng ảnh hưởng tới sự cạnh tranh xuất cảng từ hai nước sang các nước khác, nhưng không nhiều lắm. Chỉ có 15% số hàng hóa Mỹ được lợi khi bán giá rẻ hơn so với hàng Trung Quốc nếu đồng nguyên tăng giá. Ðó là một số sản phẩm dùng trong Internet, hay biến chế điện mặt trời mà hai nước trực tiếp cạnh tranh. Ngoài ra, Mỹ và Trung Quốc bán những món hàng trong các thị trường khác hẳn nhau. Mỹ bán các món kỹ thuật cao, đắt tiền. Trung Quốc bán quần áo, phần lớn đồ rẻ tiền. Dù sao, cạnh tranh dễ hơn trong 15% thị trường cũng là một mục tiêu đáng theo đuổi để bắt Bắc Kinh phải thả cho tiền của họ lên giá!

Nhưng không có hy vọng là nếu đồng Nguyên lên giá thì các công ty Mỹ sẽ đem nhiều công việc từ bên Tàu về cho công nhân ở Mỹ làm! Họ có thể chuyển các nhà máy từ nước Tàu sang Ấn Ðộ, Indonesia, và cả Việt Nam cũng được! Chỉ có một số nhỏ các ngành sẽ được đưa về Mỹ.

Cuối cùng, các nhà chính trị ở Mỹ sẽ có cơ hội chứng tỏ họ lo lắng về nạn thất nghiệp, cho thấy là họ có nỗ lực tìm các biện pháp tạo thêm công việc làm. Tấn công chính sách tài chánh không công bình, không thẳng thắn của chính phủ Trung Quốc chắc chắn sẽ được các cử tri hoan nghênh. Trong 13 tháng tới, các cuộc thảo luận ở Quốc Hội sẽ tác động trên các cử tri. Hy vọng rằng trong thời gian đó Bắc Kinh chịu ngồi xuống với Washington để bàn cách giảm bớt những biện pháp “trợ cấp” cho các công ty của họ, ngoài việc nâng giá đồng Nguyên. Bắc Kinh sẽ phải tìm cách thỏa hiệp, chịu nâng giá đồng tiền lên một chút, giảm bớt các khoản trợ cấp cho các xí nghiệp của họ một chút, thì cuộc chiến tranh thương mại có thể sẽ tránh được. Bắc Kinh có thể giải thích rằng đó chính là những việc họ cũng thấy cần phải thực hiện để nền kinh tế của họ quân bình hơn, bền vững hơn như ông Ôn Gia Bảo đã cảnh báo từ năm ngoái! Có người ngoài thúc thêm vào, việc các chính sách đó được thi hành sớm và nhanh chóng hơn cũng là một điều tốt chứ sao!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhìn quá cao, Trung Quốc rơi xuống hố? Nhân quốc khánh Trung Quốc 1/10, báo chí quốc tế diễn ra cuộc bàn luận lý thú về triển vọng phát triển của Trung Quốc với nhiều ý kiến trái ngược nhau.

Một bên là những kẻ ca ngợi sự phát triển liên tục của Trung Quốc từ nước nghèo, lạc hậu, thực hiện bốn hiện đại hóa. Họ đang lao đi như tàu cao tốc, sắp gia nhập câu lạc bộ các nước phát triển, thành siêu cường.

Trên báo The Age của Australia, một nhà bình luận nổi tiếng dự đoán rằng, Trung Quốc vẫn sẽ duy trì tốc độ phát triển chừng 10 % mỗi năm. Sau khi vượt nước Anh, Đức, Nhật Bản, họ sẽ vượt Mỹ trong hơn chục năm nữa.

Trong lúc Mỹ và châu Âu lâm vào khủng hoảng và trì trệ kéo dài về tài chính lẫn kinh tế, có thể nói rằng thế kỷ XXI là "thế kỷ của Trung Quốc".

Nhiều nhà kinh tế Trung Quốc cũng tỏ ra lạc quan khi nêu cao vai trò chủ nợ thế giới của Trung Quốc với dự trữ ngoại tệ hơn 3.000 tỷ USD, đang hào phóng đầu tư và viện trợ cho hàng loạt nước châu Phi; bỏ tiền đầu tư và cho một số nước châu Âu vay dài hạn để kiếm lợi nhuận lớn...
Image
Kinh tế Trung Quốc giờ đây rất lớn mạnh.
Tuy nhiên, cũng có luồng suy nghĩ và lập luận trái ngược. Một số chuyên gia kinh tế như Robert Fogel, Giáo sư ĐH Harvard, Mỹ từng được giải Nobel về kinh tế; nhà bình luận Salvatore Babones… cho rằng nên thận trọng, đi vào chiều sâu bởi kinh tế - xã hội Trung Quốc có nhiều nét đặc thù.

Trung Quốc hiện là nước có GDP lớn (thứ 2 thế giới) nhưng còn rất nghèo nếu tính theo GDP/người (thứ 93 thế giới). Nói cách khác, tổng sản phẩm quốc nội lớn là do dân quá đông (hơn 1,3 tỷ dân) nhưng thu nhập tính theo đầu người chỉ vượt 4.000 USD/năm, bằng 1/10 của Mỹ. Đặc biệt, chất lượng phát triển kinh tế của họ rất thấp.

Các nhà kinh tế - xã hội cho rằng, việc nước nghèo mà giàu lên đến mức trung bình có thể là một bệ phóng nhưng lại có thể là cạm bẫy. Họ đưa ra những thí dụ ở Nam Mỹ và châu Á. Argentina trong 26 năm từ 1964 đến 1990, GDP/người tăng từ 1.000 USD lên đến 8.000 USD nhưng 12 năm sau con số ấy tụt hẳn xuống, nay chỉ còn 2.000 USD.

Indonesia và Philippines cũng vậy. Sau một thời gian phát triển cao lại trì trệ, GDP/người từ hơn 3.000 USD nay chỉ còn 2.000 USD/năm. Trong khi đó Singapore và Hàn Quốc giữ được tốc độ phát triển đều đặn. Nay họ có GDP/người hơn 40.000 USD/năm. Đó là những con hổ phát triển lên thành rồng.

Vậy bí quyết để biến hổ rồi thành rồng là gì? Các bài phân tích chỉ rõ: ngay sau khi đạt được phát triển tốc độ khá cao, lãnh đạo các nước đó cần khiêm tốn và tỉnh táo; đồng thời có chính sách và chủ trương kịp thời:

- Phân chia thành quả phát triển công bằng, rộng khắp, ngành nào, địa phương nào, cá nhân nào đóng góp nhiều cho phát triển được hưởng tương ứng, không để cho sự tăng trưởng chung bị những kẻ bất xứng tước đoạt một cách bất công, sẽ làm mất nhuệ khí phát triển, nhất là các nhà kinh doanh vừa và nhỏ.

- Việc phòng chống tham nhũng và lãng phí phải được đặt ra cấp bách, nghiêm chỉnh, ưu tiên chia sẻ thành quả phát triển vào quỹ tiền lương cho người lao động, viên chức; thực hiện pháp luật thật nghiêm, đề cao đạo đức xã hội, coi kẻ tham nhũng xấu và nhục như bọn móc túi, bọn đào ngạch, bọn mafia cướp nhà băng để ai cũng không cần, không dám, không nỡ phạm tội tham nhũng.

- Thành quả phát triển cần dồn trước hết không phải cho quốc phòng an ninh quá nhiều, vượt quá xa sự cần thiết. Thay vào đó nên là giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học bởi đó là những nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - động lực đầu tiên của phát triển. Riêng với Trung Quốc đây là vấn đề hệ trọng vì nền giáo dục trong cả nước còn sơ khai, các trường ĐH bị đánh giá thấp, hệ thống y tế, xã hội lạc hậu, bảo hiểm xã hội thô sơ...

Điều nguy hiểm ở Trung Quốc hiện nay là chênh lệch giàu nghèo không những không thu hẹp mà còn mở rộng với tốc độ nhanh. Cách đây 30 năm, Trung Quốc chỉ có vài tỷ phú nhưng nay đã lên đến gần 200 người; trong đó tỷ phú giàu nhất có thể được vào Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản.

Trong khi ở sâu trong nội địa, có vùng thu nhập bình quân chỉ đạt 1/10 mức trung bình cả nước. Theo VOA, hiện 1% dân số, ước chừng 12 triệu người thuộc phe nhóm, gia đình, con ông cháu cha thế lực cầm quyền đang nắm trong tay hơn 40% tài sản quốc gia, dẫn tới việc bất mãn xã hội tăng rõ rệt. Mất ổn định chính trị do lòng dân không yên thêm trầm trọng.

Cũng theo VOA, hiện một năm ở Trung Quốc xảy ra hơn 300.000 cuộc đấu tranh, đình công, bãi công, phá hoại công sở, nhà máy, gấp 6 lần 10 năm trước.

Các học giả gọi tình trạng đó là "bẫy của nước có thu nhập trung bình", lãnh đạo thất bại trong việc "làm chủ chất lượng phát triển", làm thui chột công cuộc phát triển vì không thay đổi cơ chế, không chuyển đổi hệ thống chính trị.

Họ cho đây là căn bệnh cận thị của nhiều nhà độc tài, không nhận ra được tâm lý quần chúng: tuy khao khát tiền của vật chất nhưng khi tạm no đủ, họ càng khao khát công bằng xã hội, tự do kinh doanh và nhân cách làm người.

Các chuyên gia trên cho rằng, Hàn Quốc, Đài Loan không bị sập bẫy vì sớm từ bỏ chế độ quân phiệt Park Chung Hee, chế độ độc tài Tưởng Giới Thạch... Ngay Singapore cũng thực hiện tự do báo chí nhất Đông Nam Á, có nền hành chính "thân dân và trọng dân" nhất châu Á, còn đạt kỷ lục về chống tham nhũng, chính quyền trong sạch, đứng hàng đầu của thế giới.

Cũng theo nguồn tin của VOA, hiện có nhiều nhân vật cấp cao của Trung Quốc đồng tình với cảnh báo nguy cơ "sập bẫy" trên.

Trung tướng Lưu Á Châu, chính ủy Học viện Quốc phòng, công khai cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ sụp đổ như Liên Xô trước đây nếu không sớm từ bỏ chế độ hiện nay. Ông tự nhận là người yêu nước nên mới cảnh báo điều này.

Ông Lưu khẳng định ông không là kẻ theo Mỹ nhưng công nhận kiểu chế độ Mỹ là mô hình tốt nhất. Ông chỉ rõ sức mạnh Mỹ không nằm ở phố Wall, trụ sở của các trùm tư bản; cũng không nằm ở thung lũng Silicon, trung tâm sản xuất điện tử ở California, mà là ở cơ chế dân chủ và nền pháp trị tiên tiến, mô hình mà Trung Quốc cần áp dụng để phát triển bền vững.

Sự sụp đổ đột nhiên của các chế độ độc đoán ở Bắc Phi đang trên đà phát triển là thêm một cảnh báo "sập bẫy trong phát triển" cho Trung Quốc và một số nước phát triển không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo mở rộng toang hoác, do đó không vững bền, chứa nhiều nguy cơ, dễ đổ vỡ.


Theo VOA News

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Hài kịch tự biên tự diễn của Hà Nội
Võ Long Triều

Ngày 14 tháng 9 năm 2011, Hà Nội mở cuộc hội thảo về đề tài “Bảo vệ bản sắc văn hóa, gìn giữ tiếng Việt.”


Ngày 14 tháng 9 năm 2011, Hà Nội mở cuộc hội thảo về đề tài “Bảo vệ bản sắc văn hóa, gìn giữ tiếng Việt.”

Tin tức loan truyền có một số Việt kiều hoạt động truyền thông từ các nước ngoài như Pháp, Mỹ, Nga, Ðức, Ba Lan, Cộng Hòa Tiệp, Lào về nhận chỉ thị của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn.
Mục đích cuộc hội thảo là mở chiến dịch xâm nhập, tuyên truyền, chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài dạy tiếng Việt và bảo tồn văn hóa.

Image
Một hành động lố bịch khôi hài


Tại sao Hà Nội không dám công khai mời tất cả truyền thông báo chí hải ngoại tham dự, mà tiêu lòn, móc nối những nhân viên nội tuyến từ lâu trong ngành truyền thông, bây giờ có lệnh phải xuất hiện, hoặc những người muốn vào nghề nhưng không có chỗ đứng trong cộng đồng, bây giờ ngả theo đồng tiền trợ cấp hay vì muốn kiếm chút tiếng tăm trong xã hội tự do ngôn luận và tự do báo chí ở các nước Tây phương.

Tại sao Hà Nội không dám nêu tên tuổi, chức vị, đại diện cho những cơ quan truyền thông nào ở hải ngoại? Ðiều đó là một sự hãnh diện cần phô trương cho người Việt hải ngoại và quốc tế thấy Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thuyết phục được truyền thông báo chí hải ngoại chấp nhận tham gia hoạt động của nhà nước.

Ông Nguyễn Thanh Sơn lớn tiếng chỉ thị “bảo tồn bản sắc văn hóa” mà ông không dám nhìn lại, nền văn hóa trong xứ đã bị Tàu cộng ảnh hưởng như thế nào? Và ngày càng lan rộng. Ngoài ra, trong tổ chức giáo dục của các ông, có giáo sư hiệu trưởng làm ma cô, mua bán dâm nữ sinh cho các quan chức trong tỉnh. Sinh viên học sinh đánh đập, chém giết nhau trong khuôn viên nhà trường và ngoài đường. Học trò đánh thầy, cô giáo nhốt trẻ em trong thang máy làm kẹt chết học sinh. Hiệu trưởng nhận hối lộ cho sinh viên vào trường, viện trưởng cho vào đại học. Nạn mua bán bằng cấp giả thường xẩy ra, có người còn mướn đi học với tên mình để thi lấy bằng. Quan chức cao cấp nhà nước vẫn xài bằng giả, nhiều người bị phát giác mà nhà nước vẫn bỏ qua không truy tố. Bản sắc văn hóa của nhà nước CHXHCN VN là như vậy mà ông Sơn dám chỉ thị các đồng chí và bạn bè ông, bảo vệ bản sắc văn hóa trong cộng đồng người Việt hải ngoại thì thật là khôi hài. Ông Nguyễn Thanh Sơn và những hội thảo viên hãy nhìn kỹ lại xem trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản, có nơi nào xẩy ra một sự việc tương tự, thiếu đạo đức thiếu văn hóa như đã nêu trên không?

Ông Sơn còn nhấn mạnh rằng: “Sẽ tăng tốc trợ giúp để dạy tiếng Việt cho các thế hệ tiếp theo.” Có lẽ các “nhà hoạt động truyền thông” ở nước Mỹ về tham dự hội thảo nầy sợ làm mất mặt ông Sơn, nên không dám công khai nói cho ông ta biết là khắp nơi trên đất Mỹ có gần 2,000 cô thầy giáo tình nguyện mở nhiều trung tâm dạy tiếng Việt cho trẻ em. Và còn mở những cuộc thi có quà thưởng. Ðài truyền hình việt hải ngoại (VHN-TV) còn phổ biến hàng tuần chương trình “Bé Vui Bé Học.”

Vậy chúng tôi có lời khuyên ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn hãy để tâm nhìn về xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình ở Việt Nam. Học trò ở xã nầy mỗi ngày đi học phải gói áo quần cầm trên tay giơ cao lên, bơi qua sông Khe Rào, dài hơn 20 thước mới tới trường để học.

Những sự kiện viện dẫn trên đây cho phép nghĩ rằng chỉ thị của ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn dùng để tuyên truyền phỉnh gạt người trong xứ mà thôi. Cũng giống như ngày xưa Hà Nội rêu rao không ngừng, tuyên truyền dối gạt là miền Nam đói khổ, đồng bào bị Mỹ-Ngụy bóc lột tận xương tủy. Vì vậy mà sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thân nhân người Bắc vào Nam thăm gia đình di cư từ 1954, đem theo vài lít gạo, đôi ba cái chén sành, một hộp sữa đặc quí giá để tặng nhau, gọi là cứu đói. Ðến nơi, mắc cỡ ngỡ ngàng nhìn gia đình trù phú nên xin tiền bạc đồ vật mang về Bắc. Trong lúc đó, từng đoàn xe bộ đội chở chiến lợi phẩm giống như bọn giặc thời thượng cổ, sau chiến thắng cướp của bắt đàn bà con gái đem về sử dụng!

Cái trò rung cây nhát khỉ bên ngoài, múa may để phỉnh gạt trong xứ đã xẩy ra vài lần với Nghị Quyết 36 ký ngày 26 tháng 3 năm 2004 (2004/BCT/DCSVN) hô hào: “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt.” Cộng sản Hà Nội còn tuyên bố công khai đã tháo khoán một ngân sách lớn để thực hiện Nghị Quyết 36 nầy.

Nhìn lại 7 năm qua cộng sản đã làm được gì? Ðầu tư bao nhiêu cho chương trình dạy tiếng Việt? Cử bao nhiêu giáo viên? Ðến những nơi nào để giúp bà con học tiếng Việt? Có chăng là một số rất ít những thầy cô xâm nhập vào một vài trung tâm Việt ngữ. Nhưng khi dạy trẻ em, họ bị lộ mặt rõ ràng vì dùng ngôn ngữ của Việt cộng hoặc phát sách giáo khoa khác với sách vở của tổ chức các trung tâm dạy tiếng Việt ở hải ngoại, liền bị “cám ơn” tức khắc dù là thiện nguyện viên với đầy thiện chí.

Tuyệt đại đa số người Việt tị nạn cộng sản biết cảnh giác trước âm mưu xâm nhập của cộng sản. Và kế hoạch tuyên truyền của một vài phần tử bị cộng đồng “đặc biệt lưu ý,” họ sẽ lợi dụng tự do báo chí để chụp mũ với mục đích chia rẽ cộng đồng. Âm mưu nhuộm đỏ cộng đồng của Hà Nội sẽ không bao giờ thành công trên đất Mỹ nầy.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Tại sao Việt Nam cần dân chủ?

Kể ra, hỏi như vậy cũng thừa. Bởi, hầu như ai có trí óc bình thường một chút cũng đều biết giá trị của dân chủ. Ngày xưa, chính quyền bưng biết mọi thông tin, dân chúng hoàn toàn không biết gì về đời sống bên ngoài cả, do đó, họ dễ có ảo tưởng xem nơi họ đang sống đã là thiên đường dù, trên thực tế, họ đang cơm độn và thiếu thốn đủ thứ. Nhưng cái thời ấy qua rồi. Bây giờ, người dân có cơ hội đi nhiều, thấy nhiều, biết nhiều, hiểu nhiều. Một trong những cái thấy, biết và hiểu đó là: sự ưu việt của các chế độ dân chủ.

Chính những tính ưu việt ấy là những lý do chính đáng và đầy thuyết phục để người ta thấy dân chủ hóa là cần thiết. Cần thiết vì một số lý do có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, dân chủ mang lại thịnh vượng và phát triển. Trong phạm vi toàn cầu, ai cũng thấy là tất cả các nước dân chủ đều giàu mạnh. Ngay cả Việt Nam và Trung Quốc, trước đây, dưới ách chuyên chế tuyệt đối, tất cả đều chìm ngập trong nghèo đói. Sau này, từ giữa thập niên 1980, đặc biệt từ đầu thập niên 1990 đến nay, nhờ chính sách “cởi trói”, dân chủ được manh nha một chút, kinh tế đi lên ngay và đời sống thoải mái hơn hẳn. Đó chỉ mới là dân chủ một chút. Một chút thôi. Mà đã thấy khác. Ngày trước, dân chúng thường giễu cợt những lời tuyên truyền láo khoét của đảng bằng câu ca dao: “Mất mùa là tại thiên tai / Được mùa là tại thiên tài đảng ta!” Các nhà nghiên cứu từ lâu nhận ra sự thật này: ở các quốc gia dân chủ, hầu như không bao giờ dân chúng phải chết đói vì thiên tai cả. Không phải tại họ không gặp thiên tai. Ở đâu lại chẳng có thiên tai? Mỹ: có. Nhật: có. Úc: có. Châu Âu: có. Có, nhưng không ai chết đói cả. Ngược lại, ở các xứ độc tài, chỉ một thiên tai nhỏ là đã có bao nhiêu người chết đói. Lý do không phải là tại thiên tai mà tại sự quản lý của con người.

Thứ hai, chỉ có dân chủ mới tôn trọng nhân quyền. Vừa độc tài vừa nói về nhân quyền là một sự nói dối. Cả hai không bao giờ đi liền với nhau được. Trừ khi người ta hiểu nhân quyền là quyền được sống như những con vật. Còn lại, tất cả các quyền của con người, từ quyền bình đẳng đến quyền tự do, quyền được tôn trọng và được bảo vệ thì chỉ có dân chủ mới bảo đảm. Bởi, tự bản chất, dân chủ ra đời là để bảo vệ những thứ quyền ấy.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới có một sinh hoạt chính trị lành mạnh, tốt đẹp và hiệu quả. Hầu hết các cuộc khủng hoảng chính trị chỉ xảy ra ở các nước độc tài. Ở các quốc gia dân chủ, ngay cả khi có khủng hoảng ở cấp lãnh đạo cao nhất, guồng máy chính phủ vẫn hoạt động suôn sẻ và đời sống dân chúng cũng như sinh hoạt hàng ngày vẫn diễn ra bình thường. Ở Úc, trong năm vừa qua, có cuộc đảo chính trong nội bộ đảng cầm quyền, ngày hôm trước Kevin Rudd làm Thủ tướng; ngày hôm sau Thủ tướng đã là Julia Gillard. Phần lớn dân chúng vẫn không cảm nhận bất cứ sự thay đổi nào cả. Sau đó là bầu cử. Số phiếu của đảng Lao Động và Liên đảng (Tự Do và Quốc Gia) ngang ngửa nhau. Trong suốt cả tháng họp hành, bàn bạc, vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các Dân biểu độc lập, chính phủ ở trạng thái treo, không có người thực sự cầm lái. Nhưng guồng máy chính phủ vẫn chạy đều. Dân chúng cũng vẫn không cảm nhận có sự thay đổi nào cả. Mọi việc vẫn bình thường. Bởi vậy, không ai gọi đó là “khủng hoảng” ở tầm quốc gia.

Tất cả những điều vừa nêu đều là những điều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng với riêng Việt Nam, ngoài những lý do nêu trên, theo tôi, chúng ta còn cần dân chủ vì một số lý do khác nữa.

Thứ nhất, chỉ có dân chủ mới mang lại sức mạnh cho chúng ta trong việc đương đầu với Trung Quốc. Hầu như ai cũng thấy, điều duy nhất khiến Trung Quốc chùn tay trong mọi âm mưu xâm lấn hay xâm lược chính là gần 90 triệu dân chúng Việt Nam. Trung Quốc có thể đánh bại họ, nhưng chắc chắn không thể giết hết họ và không thể làm họ bị khuất phục. Không dân chủ hóa, cứ khăng khăng giành độc quyền yêu nước, chính quyền chọn ở vào thế bị cô lập với dân chúng. Bị cô lập cũng đồng nghĩa với sự suy yếu. Đối diện với Trung Quốc, họ chỉ còn là một nhúm người nhu nhược, làm sao có thể đòi hỏi thế đứng ngang tầm để đối thoại được? Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi, trước Trung Quốc, họ cứ khúm na khúm núm. Như những Mặc Đăng Dung mặc áo vét và thắt cà vạt.

Thứ hai, chỉ có dân chủ mới mang lại hòa bình cho Việt Nam. Một là, nếu Việt Nam dân chủ, sẽ không có quốc gia Tây phương nào nuôi ý đồ xâm lấn Việt Nam cả. Truyền thống của các nước dân chủ là, trừ một số ngoại lệ hiếm hoi, họ không gây chiến với nhau. Mọi xung đột đều được giải quyết một cách khá ôn hòa, qua các cuộc thương thảo và thương lượng. Hai là, chỉ khi dân chủ hóa, Việt Nam mới có thể hy vọng có bạn nhiệt tình giúp đỡ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc. Hiện nay, rõ ràng Việt Nam đang ở thế thân cô thế cô. Là thành viên của khối ASEAN, nhưng không có nước nào hết lòng với Việt Nam cả. Ý đồ (nếu thực sự đảng Cộng sản đang nuôi một ý đồ nào đó để bảo vệ đất nước) liên kết với một số quốc gia khác cũng sẽ không thể thực hiện được nếu Việt Nam không có dân chủ. Lý do đơn giản: đã độc tài thì không có bạn. Tên độc tài nào cũng cô đơn. Hắn không tin người khác. Và cũng không ai tin hắn.

Ở những nơi khác, không dân chủ là một thiệt thòi. Ở Việt Nam hiện nay, không dân chủ là một thảm họa.

Theo Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Virus bí ẩn tấn công "sát thủ bầu trời" Mỹ
Những chiếc máy bay không người lái của Mỹ được sử dụng để tiêu diệt những tên trùm khủng bố Al Qaeda, trong đó có thủ lĩnh khét tiếng Bin Laden, đang bị một loại virus bí ẩn tấn công, ghi lại toàn bộ động thái của máy bay.

Mỹ đang sử dụng máy bay không người lái Predator, được ví là sát thủ bầu trời, và máy bay Reaper để thực hiện các nhiệm vụ ở Yemen, Afghanistan và nhiều khu vực chiến tranh khác.

Nhưng cách đây gần hai tuần, quân đội Mỹ phát hiện ra rằng mỗi thao tác nhấn bàn phím của phi công lái những chiếc Predator và Reaper từ một căn cứ không quân xa xôi Creech ở bang Nevada , Mỹ, đều bị virus ghi lại. Các chuyên gia máy tính đang tìm cách diệt loại virus này nhưng vẫn chưa thành công.

Giới chuyên gia nghĩ rằng, việc lây nhiễm virus của máy bay không người lái Predator và Reaper sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ máy cả bí mật và không bí mật tại căn cứ Creech. Điều này có nghĩa là một số dữ liệu mà virus ghi lại được có thể được truyền lên Internet và những thông tin đó có thể rơi vào tay lực lượng khủng bố.

Tình hình nghiêm trọng đến mức các sĩ quan cấp cao tại căn cứ Creech phải báo cáo hàng ngày về loại virus nói trên.

Trong những năm gần đây, quân đội Mỹ đã ngày càng trở nên phụ thuộc nhiều vào những chiếc máy bay không người lái. Lần đầu tiên, máy bay không người lái được sử dụng là vào giữa những năm 1990 ở Yugoslavia cũ. Mặc dù một chiếc Predator có giá 10 triệu USD và một chiếc Reaper có giá tới 30 triệu USD nhưng chúng được đánh giá rất cao bởi khả năng tìm kiếm, do thám và phá hủy mục tiêu mà không gây thương vong cho binh lính Mỹ.

Mới đây, hồi tháng trước, một chiếc Predator đã tiêu diệt được một trong những thủ lĩnh hàng đầu của Al-Qaeda - Awlaki. Trước đó, hồi tháng 5, sát thủ bầu trời Mỹ cũng tham gia chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố khét tiếng thế giới Bin Laden.

Trong bối cảnh còn nhiều tranh cãi về chiến dịch chống khủng bố của Mỹ ở những nước có chủ quyền như Pakistan hoặc các nước vùng Vịnh, việc dùng máy bay không người lái được xem là cách tốt nhất. Kể từ khi Tổng thống Obama lên cầm quyền, một phi đội máy bay không người lái gồm 30 chiếc do CIA chỉ huy đã tiến hành hơn 230 lần bắn phá các mục tiêu ở Pakistan . Những chiếc máy bay không người lái được cho là đã giết chết hơn 2.000 nghi phạm khủng bố lẫn dân thường.

Hơn 150 máy bay không người lái khác dưới sự chỉ huy của Không lực Mỹ đang thực hiện các nhiệm vụ giám sát và do thám ở chiến trường Afghanistan và Iraq .

Mặc dù bị virus tấn công nhưng chính phủ Mỹ vừa khẳng định những chiếc máy bay Predator và Reaper sẽ tiếp tục được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ ở xa.

Kiệt Linh - (theo Reuters, )

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Nam và Bắc Hàn

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Muốn thấy được “tính ưu việt” của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội, tôi nghĩ, cách tốt nhất là so sánh Nam Hàn và Bắc Hàn.

Image
Binh lính Bắc Hàn (trên) đi ngang qua một toán an ninh Nam Hàn tại làng Bàn Môn Ðiếm trong vùng Phi Quân Sự giữa hai nước, ngày 14 Tháng Chín.
(Hình: YEON-JE/AFP/Getty Images)

Năm 1945, sự kết thúc của chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng đồng thời là sự kết thúc của ách đô hộ kéo dài 35 năm (1910-45) của Nhật trên đất nước Ðại Hàn. Lúc ấy, bất cần ý kiến của dân chúng Ðại Hàn, các lực lượng Ðồng Minh quyết định chia cắt nước này ra làm hai: Miền Nam với sự giúp đỡ của Mỹ và miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô. Năm 1948, quân độ Liên Xô rút khỏi miền Bắc và năm sau, 1949, quân đội Mỹ cũng rút khỏi miền Nam.

Năm 1950, được sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, Bắc Hàn, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, phát động chiến tranh, tung quân qua biên giới Nam Hàn, gọi là để thống nhất đất nước. Sau khi Liên Hiệp Quốc thất bại trong nỗ lực hòa giải và ngăn chặn chiến tranh, Tổng Thống Truman quyết định đưa quân Mỹ và một số nước đồng minh sang giúp Nam Hàn trong cuộc chiến đối đầu với miền Bắc. Lúc ấy, Trung Quốc cũng quyết định can thiệp (với sự trợ giúp khí giới của Liên Xô).

Chiến tranh Nam Bắc Hàn, do đó, biến thành cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có lúc (ví dụ riêng đợt phản công Mùa Xuân năm 1951), quân Trung Quốc nhảy vọt lên đến khoảng 700,000 người. Ðến giữa năm 1953 thì hai bên tuyên bố đình chiến. Số tử vong trong cuộc chiến tranh kéo dài ba năm do miền Bắc phát động ấy, tùy theo từng nguồn, khá khác biệt. Theo số liệu do Trung Quốc công bố thì về phía họ có 114,000 binh sĩ tử vong do chiến trận, 34,000 binh sĩ khác tử vong vì những lý do khác, 380,000 người bị thương. Giới nghiên cứu Tây phương hoàn toàn nghi ngờ các con số này. Họ cho số tử vong của bộ đội Trung Quốc phải lên ít nhất là 400,000 người. Về phía Mỹ, số tử vong là 36,000 người; số mất tích là 8,000 người và số bị thương là 82,000 người. Phía Nam Hàn, 58,000 bị chết; 175,000 người bị thương. Phía Bắc Hàn có 215,000 người bị chết và 303,000 người bị thương. Nhưng thảm kịch nặng nhất oằn lên dân chúng: Có ít nhất trên hai triệu thường dân, từ cả hai miền, bị giết chết, kể cả bị giết tập thể, trước và sau chiến tranh, do những thù nghịch từ hai phía.

Sau chiến tranh, Ðại Hàn lại bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Phía Nam được biết dưới tên chính thức là Ðại Hàn Dân Quốc (thường được gọi tắt là Hàn Quốc); phía Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (thường được gọi tắt là Triều Tiên).

Thoạt đầu, cả hai đều gánh chịu một di sản giống nhau: Một, ách đô hộ kéo dài 35 năm của đế quốc Nhật Bản. (Xin lưu ý: Việt Nam chỉ bị Nhật chính thức chiếm đóng có khoảng nửa năm [từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945] mà hậu quả là có đến khoảng từ một đến hai triệu người bị chết đói [năm Ất Dậu, 1945]. Ở Ðại Hàn, thời gian chiếm đóng của Nhật kéo dài gấp 70 lần!). Hai, cuộc chiến tranh tuy ngắn ngủi, chỉ kéo dài ba năm, nhưng số thương vong lại được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh trong nội bộ một quốc gia ở thế kỷ 20. Ba, sự nghi kỵ và thù hận không phải giữa hai miền, Nam và Bắc, mà còn bên trong từng miền, giữa người này và người khác, thành phần này và thành phần khác; một hiện tượng rất phổ biến sau các cuộc nội chiến khốc liệt.

Những di sản ấy hiện rõ trong tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả hai miền ngay sau chiến tranh: Nghèo khổ, lạc hậu và độc tài.

Nhưng mấy chục năm sau, ví dụ, ở thời điểm năm 2011 này, khoảng cách giữa hai miền, Hàn Quốc và Triều Tiên, khác nhau vời vợi.

Vào giữa thập niên 1950, cũng giống như Triều Tiên, Hàn Quốc nằm trong danh sách những quốc gia nghèo, tương tự vô số các quốc gia nghèo khác ở Châu Á và Châu Phi. Nhưng từ giữa thập niên 1960 thì họ nhảy vọt. Suốt cả mấy thập niên sau đó, họ được xem là một trong vài quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Giới nghiên cứu thường nêu lên một ví dụ về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc: Năm 1957, thu nhập trên đầu người của Hàn Quốc thấp hơn hẳn Ghana, một quốc gia thuộc Tây Phi; bốn mươi năm sau, vào năm 2008, thu nhập của họ cao gấp 17 lần Ghana! Hiện nay, Hàn Quốc nằm trong nhóm 20 quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (G-20). Một số thương hiệu của Hàn Quốc trở nên quen thuộc trên phạm vi toàn cầu, hầu như đi đâu cũng gặp: Hyundai, Samsung, Daewoo và LG.

Còn Triều Tiên?

Cho đến nay, Triều Tiên nổi tiếng khắp thế giới vì nhiều cái nhất: Một trong vài quốc gia khép kín, bí mật, cuồng tín và chuyên chế nhất; một trong những quốc gia hung hăng nhất, lâu lâu lại đe dọa tấn công Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Mỹ nữa; một trong những quốc gia nghèo khổ nhất ở Châu Á với số dân đối diện với nguy cơ chết đói lên đến hàng triệu người mỗi năm (và nhiều lần đã chết thật. Ví dụ, theo nhiều tài liệu, trong thập niên 1990, số người chết đói có thể lên đến khoảng ba triệu!); đồng thời cũng là một trong những quốc gia buôn lậu ma túy khét tiếng nhất thế giới.

Theo tài liệu của CIA World Factbook, cũng như một số tài liệu khác, Bắc Hàn có dân số 25.5 triệu trong khi Nam Hàn có gần 49 triệu. Thu nhập bình quân đầu người của Bắc Hàn là $1,800/năm và Nam Hàn là $30,000/năm.

Tại sao cũng đất nước ấy, cũng con người ấy mà sau hơn nửa thế kỷ bị chia cắt, một nửa trở thành nơi giàu có thuộc loại hàng đầu trên thế giới, còn nơi kia lại thuộc vào những nước nghèo đói nhất thế giới?

Tại sao?

Chỉ có thể trả lời bằng một chữ duy nhất: chế độ!

“Tính ưu việt” của chế độ xã hội chủ nghĩa là như vậy đó sao?

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Quân Gaddafi bị “dồn vào chân tường”

Lực lượng nổi dậy thuộc Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya (NTC) cho biết, trong trận tấn công ngày hôm qua (10/10), họ đã thọc sâu được vào trung tâm thành phố Sirte và dồn quân của Đại tá Muammar Gaddafi vào một khu vực nhỏ chỉ khoảng 2km vuông.

"Lực lượng trung thành với ông Gaddafi đã bị dồn vào hai khu vực gần biển chỉ rộng khoảng 2km vuông nhưng họ vẫn đang chống trả quyết liệt", ông Abdul Salam Javallah, chỉ huy các đơn vị NTC từ khu vực phía đông Libya , cho biết.

"Chúng tôi đang giao tranh với họ bằng vũ khí hạng nhẹ bởi vì vẫn còn nhiều dân thường đang ở trong khu vực đó", ông Javallah cho hay.

Mặc dù giới chỉ huy NTC nói rằng họ chỉ dùng vũ khí hạng nhẹ nhưng người ta vẫn nhìn thấy rất nhiều xe tăng của chính quyền mới tiến vào khu vực trung tâm thành phố Sirte và oanh tạc dữ dội các cứ điểm của Gaddafi. Cùng với đó, những chiếc xe tải chở các chiến binh và vũ khí hạng nặng tiến ra khỏi chỗ ẩn nấp và nã đạn điên cuồng về phía trước.

Thỉnh thoảng, quân NTC bị chính lực lượng của mình tấn công nhầm. Mối nguy hiểm này trở nên nghiêm trọng do sự phối hợp kém giữa các nhóm quân tình nguyện tấn công vào Sirte từ phía đông và phía tây.

Hầu hết các chiến binh NTC tấn công vào Sirte từ các thành phố khác và họ không nhận được sự giúp đỡ từ bên trong thành phố như khi họ tấn công vào thủ đô Tripoli hôm 23/8.

Lực lượng NTC đã phát động cuộc tấn công mà họ gọi là trận đánh quyết định cuối cùng vào Sirte – quê hương của ông Gaddafi, từ hôm thứ Sáu (7/10). Hàng chục chiến binh chống Gaddafi đến từ khắp nơi trên đất nước Libya đã đổ về Sirte để tham gia trận đánh.

Tuy nhiên, quân NTC đã bị bất ngờ bởi khả năng chống trả và phản công của “kẻ thù”. NTC đã phải chịu tổn thất lớn trong các cuộc giao tranh hôm 9/10. Hàng chục chiến binh đã thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Quân NTC đã buộc phải kêu gọi viện binh.

Không chỉ phải kêu gọi viện binh ở Sirte, trong trận chiến ở Bani Walid – một thành trì khác của ông Gaddafi, quân NTC cũng phải gọi cứu viện do không thể chống đỡ được trước sự kháng cự của quân Gaddafi. 17 chiến binh đã thiệt mạng trong các cuộc giao tranh ở bani Walid hôm 9/10.

Giới lãnh đạo NTC thừa nhận, cuộc chiến của họ ở Sirte và Bani Walid đang rất khó khăng nhưng vẫn tỏ ra lạc quan khi tuyên bố, họ sẽ “giải phóng” hai thành phố này trong tuần này.

Trong một diễn biến khác, ở thủ Tripoli, hơn 200 tay súng được trang bị vũ khí hạng nặng đã tấn công vào một đền thờ và cướp bóc lăng mộ của hai lãnh tụ Hồi giáo.

Ông Gaddafi vẫn bặt vô âm tín

Mặc dù đã tiến sâu được vào thành phố Sirte nhưng NTC vẫn chưa thể tìm thấy bất kỳ dấu tích nào của nhà cựu lãnh đạo Gaddafi ở đây. Trước đó, có nhiều nguồn tin đồn đoán rằng, ông Gaddafi đang ẩn náu ở Sirte.

Theo một thành viên của NTC, cựu Tổng thống Gaddafi có thể đang lẩn trốn ở khu vực tam giác phía tây nam Libya , gần biên giới với Niger và Algeria .

Phát biểu tại một cuộc họp báo ở thủ đô Tripoli, thành viên NTC – ông Moussa al-Koni cho biết, khu vực tam giác trên thực tế đang vượt quá tầm kiểm soát của chính quyền mới. Vì thế, đây có thể là nơi ẩn náu lý tưởng cho Đại tá Gaddafi và các lực lượng trung thành với ông này.

Khu vực tam giác có địa lý rất phức tạp với nhiều cồn cát và núi. Dân số ở đây cũng thay đổi liên tục. Những đặc điểm này khiến cho việc truy tìm ông Gaddafi ở đây sẽ vô cùng khó khăn.

"Theo tôi hiểu, ông Gaddafi chỉ có thể đang ở khu vực tam giác để dễ bề trốn thoát khỏi tay NTC đồng thời có thể di chuyển nhanh chóng và an toàn tới Algeria hoặc Niger hay Mali," ông al-Koni cho biết.

Ông Al-Koni, người đại diện cho bộ lạc thiểu số Tuareg, cũng lên tiếng bác bỏ thông tin cho rằng, những người của bộ lạc Tuareg đang che chở, bảo vệ cho chính quyền của ông Gaddafi.

Ông Al-Koni kêu gọi cộng đồng quốc tế dùng máy bay trực thăng và máy bay không người lái để truy tìm Đại tá Gaddafi trong khu vực.

Ông Al-Koni còn tiết lộ, NTC đã gặp và đã quyết định công nhận Hội đồngQuốc gia do phe đối lập Syria thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ là đại diện chính phủ hợp pháp duy nhất của Syria.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quyết định số phận đồng Euro

Ngô Nhân Dụng


Có người đã nêu đề nghị các nước Ðông Nam Á hãy theo gương Âu Châu dùng chung một đồng tiền, đồng Euro.

Ðó là một mục tiêu đáng theo đuổi, để kinh tế ASEAN không bị tùy thuộc vào đồng đô la Mỹ hay đồng nguyên của Trung Quốc. Nhưng bây giờ phải thấy ý kiến này rất khó thực hiện, chắc chờ một vài thế hệ nữa, họa may. Khối Euro đang khủng hoảng, có người còn đoán đồng Euro sẽ chết! Mà họ có một ưu điểm là thể chế chính trị, kinh tế các nước dùng đồng tiền chung tương đối giống nhau chứ không phức tạp như các nước ASEAN!

Cộng đồng Âu Châu phải nhiều năm thai nghén mới ra đời năm 1967, bây giờ có 27 quốc gia. Ðến năm 1999, 11 nước trong số đó thỏa thuận dùng chung một đồng Euro, bây giờ lên 17 nước, nước sau cùng nhập cuộc là Estonia.

Cuộc khủng hoảng hiện nay xảy ra vì một số nước đang lo vỡ nợ, chính phủ thiếu tiền thanh toán các công trái. Hy Lạp đứng hàng đầu, sau tới Ireland, Bồ Ðào Nha, hàng kế là Tây Ban Nha, rồi tới Ý. Tổng số nợ của Hy Lạp lớn bằng 165% tổng sản lượng nội địa; Ý, Bồ Ðào Nha, Ireland, Tây Ban Nha cũng từ 60% đến 120%. Từ năm ngoái, các nước khác thấy cần phải cứu Hy Lạp và giúp Ireland, Bồ Ðào Nha ngay. Nếu không thì các nhà đầu tư đã mua công trái ba nước trên, trong đó có các ngân hàng khắp Âu Châu, sẽ lo bán đi để đề phòng chính họ vỡ nợ. Họ bán rồi sẽ đổi lấy tiền Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật, hay Anh Quốc để đầu tư. Không những các công trái này xuống giá mà đồng Euro cũng mất tín nhiệm. Nhiều ngân hàng sẽ bị nghi ngờ, không biết anh nào sẽ vỡ nợ trước. Nếu người dân lo quá, họ sẽ rút tiền từ ngân hàng thì thành đại khủng hoảng, cả hệ thống sụp đổ như những cây domino!

Năm 2008 cảnh tượng này đã xuất hiện ở Mỹ sau khi Lehman Brothers tuyên bố vỡ nợ; chính phủ Mỹ đem ngay 700 tỷ đô la ra cho các ngân hàng lớn vay tạm để chấn an thị trường (hai năm sau họ đã trả lại, cả vốn lẫn lời). Các nước khối Euro cũng đang tính đường cứu như vậy. Không đưa tiền cứu các ngân hàng tư mà cứu các quốc gia đang lo vỡ nợ.

Nhưng ở Mỹ chỉ có một chính phủ với một ngân hàng trung ương; còn trong khối Euro tuy chung một ngân hàng trung ương nhưng lại có đến 17 chính phủ, với chính sách chi thu khác nhau. Ðể cứu nguy, họ đã đồng ý nâng số tiền cấp cho cho một Quỹ Ổn Ðịnh Tài Chánh (European Financial Stability Facility, EFSF) từ 250 tỷ lên 440 tỷ đồng (tương đương với 350 và 542 tỷ đô la Mỹ) để cứu các nước suy yếu. Ðổi lại, họ yêu cầu các nước nhận tiền phải cải tổ tài chánh, thu nhiều hơn, chi bớt đi. Hy Lạp đã nhận được cứu đợt cứu trợ thứ hai vào Tháng Bảy; Ireland, Bồ Ðào Nha đã được giúp, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đóng góp một phần ba. Ngày mai, 13 Tháng Mười 2011, các nước Âu Châu sẽ họp để quyết định có đưa thêm cho chính phủ Hy Lạp 8 tỷ Euro nữa hay không.

(Các ngân hàng Mỹ may mắn không bị dính nhiều vào các món nợ xấu ở Âu Châu. Theo JP Morgan Chase công bố, thị trường cho vay ngắn hạn [gọi là money market] ở Mỹ đã giảm số tiền cho các ngân hàng Âu Châu vay, từ 391 tỷ đô la hồi đầu năm 2011 xuống chỉ còn hơn 200 tỷ đô la.)

Ở các nước Thụy Ðiển (không dùng đồng Euro, cho vay nhiều hơn đi vay); Phần Lan và Ðức (với ngân sách cân bằng), dân chúng đều chống việc đem tiền của cả Âu Châu đi cứu trợ. Khi Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu mua một số công trái của các chính phủ trên, mấy nhân viên cao cấp người Ðức đã từ chức. Cuối Tháng Chín, Quốc Hội Ðức thông qua cho chính phủ tham dự vào quỹ EFSF nhưng nhiều bộ trưởng công khai chống lại bà thủ tướng.

Người ta có lý do chống việc cứu các nước bị khủng hoảng, rất đơn giản. Chính phủ các nước này không đủ tiền trả nợ vì họ chi nhiều quá, mà thu ít quá. Vì dân chúng các nước đó được hưởng nhiều lợi ích xã hội từ bao nhiêu năm nay mà lại đóng thuế ít (nền kinh tế chui, dưới gầm bàn, rất lớn). Bây giờ họ chờ nước khác đem tiền tới giúp thoát khỏi cảnh khó khăn, nhưng chưa dứt khoát lo “thắt lưng buộc bụng,” thì không thể chấp nhận được?

Không những thế, các ngân hàng và người đầu tư đã mua công trái các chính phủ trên, được hưởng tiền lời rất cao so với công trái các nước khá giả. Cứu chính phủ các nước lo vỡ nợ cũng chính là cứu các ngân hàng và các nhà đầu tư bất cẩn! Trong một thị trường phải có kỷ luật; ai muốn có triển vọng lợi suất cao phải chấp nhận rủi ro cao. Nếu không chịu trách nhiệm, không chịu thiệt thòi về việc đầu tư sai lầm của mình, thì đâu còn là kinh tế thị trường nữa?

Ðiều người Ðức chống mạnh nhất là biện pháp “Âu Châu hóa” các giấy nợ của các chính phủ đang bị khủng hoảng. Âu Châu hóa tức là Cộng đồng Âu Châu sẽ phát hành công trái, dùng tiền thu được trợ giúp các nước trên trả nợ cũ. Như thế là bắt tất cả mọi người dân đóng thuế phải góp phần trả nợ cho các nước đã “tiêu xài phung phí” trong quá khứ. Và làm như vậy cũng nuôi dưỡng những nhà đầu tư đã cho vay bất cẩn rồi chờ được cứu!

Thủ Tướng Hy Lạp George Papandreou đã hứa nước ông sẽ thắt lưng buộc bụng, sa thải bớt công chức, giảm bớt các chương trình xã hội, và tăng thuế; để ngân sách bớt được 111 tỷ đô la thâm thủng. Dân chúng Hy Lạp biểu tình phản đối, dọa sẽ không đóng những thuế mới đánh trên tài sản.

Hy Lạp có thể chọn ra khỏi khối Euro; dù trong các thỏa ước thành lập không dự trù một quốc gia có thể rút ra như thế nào. Ra khỏi khối Euro rồi, họ có thể phát hành đồng tiền riêng, gây lạm phát, một cách để giảm bớt các món nợ phải trả. Nhưng cả thế giới đầu tư sẽ hỏi: Nước nào sắp sửa ra theo? Ireland, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, hay Ý? Hy Lạp rút ra có thể gây chấn động cho cơn khủng hoảng bùng lên, dân lo rút tiền khỏi các ngân hàng!

Cộng đồng Âu Châu có thể cho Hy Lạp tuyên bố phá sản, buộc các chủ nợ chấp nhận chịu thiệt thòi thì sẽ được trợ cấp. Có thể tổ chức việc phá sản với nhiều hình thức. Một cách là yêu cầu các chủ nợ đồng ý “tái tài trợ” chính phủ Hy Lạp với những công trái mới thay thế những giấy nợ họ đang giữ, giảm bớt lãi suất hoặc thay đổi mệnh giá để số vốn cũng thấp hơn. Ðiều này hợp với kỷ luật thị trường, những nhà đầu tư cho vay mà không tính toán đúng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Nếu không thực hiện được điều trên, Hy Lạp có thể tự tuyên bố phá sản và bắt buộc các chủ nợ phải thương thuyết xem ai sẽ đòi được bao nhiêu tiền, không khác gì tình trạng một công ty tư nhân phá sản. Chính phủ Hy Lạp có thể tiến hành việc này qua một diễn trình có trật tự, với sự tham dự của các nước Âu Châu khác, chuẩn bị tâm lý cả thị trường, cho mọi người biết Hy Lạp không hoàn toàn bị bỏ rơi. Việc cấp cứu có thể diễn ra trên hai mặt; một bên là giúp các chính phủ trả nợ phần nào; và mặt khác là cho các ngân hàng gặp nạn “vay tạm” bù vào các món nợ bị mất, như chính phủ Mỹ đã làm năm 2008. Thị trường sẽ rúng động, nhưng không đến nỗi sụp đổ.

Tệ nhất, nếu quả thật các nước Âu Châu khác bỏ rơi Hy Lạp, chính phủ nước này có thể tuyên bố phá sản thẳng thừng, mặc cho các chủ nợ lấy lại được bao nhiêu thì lấy. Nhưng điều này không thể nào xảy ra được. Vì cơn khủng hoảng sẽ lan ngay sang các nước miền Nam Âu Châu và Ireland, rồi lan rộng khắp nơi. Cả khối Euro sẽ vỡ, ai đi đường nấy, không biết bao giờ mới hy vọng bắt đầu lại!

Cho nên cuối cùng, không những Âu Châu mà cả Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ phải cùng nhau cứu Hy Lạp. Hôm qua ông Jose Manuel Barroso nói rằng Ủy hội Âu Châu sắp họp sẽ đưa ra nhiều “sáng kiến” có tính toàn diện để giải cứu cơn khủng hoảng nợ nần. Ông nhấn mạnh tới việc “chỉnh đốn các ngân hàng” để họ có thể đối phó với cơn khủng hoảng hiện nay. Mọi sáng kiến sẽ phải phối hợp trong một Bộ Ba, ngoài Liên Hiệp Âu Châu còn có Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Cuối tuần này, các bộ trưởng tài chánh 20 nước gọi là G20 cũng họp, chắc chắn cũng bàn chuyện cứu cấp Hy Lạp!

Dù cho Hy Lạp phá sản một cách có trật tự, một nguyên tắc sẽ phải được tôn trọng. Là các chủ nợ cũng phải gánh chịu thiệt thòi, vì chính họ đã quyết định sai lầm khi cho vay. Nếu không thì chắc các thanh niên sẽ đi biểu tình! Một lý do gây ra phong trào “Chiếm Wall Street” ở Mỹ là những người trẻ, giới trung lưu, cảm thấy chính các ngân hàng gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế kéo dài 4 năm nay, mà bây giờ hầu như đã trở lại tiếp tục làm giầu; trong khi đó bao nhiêu nạn nhân chịu cảnh thất nghiệp. Không những thế, giới có tiền này lại đang vận động Quốc Hội ngăn cản việc đặt ra các luật lệ kiểm soát mới có mục đích giảm bớt các quyết định sai lầm của ngân hàng gây tai họa cho công chúng!

Khối Euro sẽ thay đổi, và cộng đồng Âu Châu cũng phải thay đổi, sau cuộc khủng hoảng này. Vấn đề chính là 17 nước dùng chung một đồng tiền nhưng lại có các chính sách chi thu khác nhau. Họ đã đặt ra những quy luật để tránh tai nạn, như bắt buộc các chính phủ không được thâm thủng ngân sách quá 2% hoặc 3%. Nhưng quy luật đó để sót quá nhiều lỗ hổng cho các nhà chính trị du di; và việc thi hành không được kiểm soát chặt chẽ. Từ nay, phải có thêm những tổ chức chung cho các nước dùng đồng Euro, phải cho có nhiều quyền hành kiểm soát hơn. Như thế thì sẽ có hai hệ thống quyền hành song song, một bên là cho cả Cộng đồng Âu Châu với tất cả 27 nước, một bên là một tổ chức cho 17 nước dùng đồng Euro. Nếu hai guồng máy quyền hành đó xung đột thì bên nào nắm quyền về kinh tế, tài chánh chắc sẽ ở thế mạnh hơn; Âu Châu có thể chia ra làm hai vùng khác biệt, một vùng thống nhất chặt chẽ và một vùng lỏng lẻo. Nhưng riêng các nước dùng đồng Euro kết hợp với nhau cũng rộng lớn hơn đế quốc của những người đã từng ôm mộng thống nhất Âu Châu, như Ðại Ðế Charlemage hay Napoleon đời trước!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trọng Đi Tàu, Sang Đi Ấn

Vi Anh
Công tâm mà nói trước thế kẹt cứng bị TC lấn chiếm biển đảo, CS Hà nội có nỗ lực tìm cách hóa giải. Gần như đồng thời Tân Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng đi Trung Cộng và Tân Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang đi Ấn độ. Chuyến đi của hai người mới lên này có thể mới về người, chớ không mới về việc bảo vệ biển đảo của VN đâu. Trước đây Nguyễn minh Triết lúc là Chủ Tịch Nước VNCS còn đi xa hơn nữa, gặp ông lớn hơn nhìều,qua tận Mỹ với tư cách Chủ Tịch luân phiên của Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN họp thượng đỉnh cùng chủ tọa với TT Obama tại New York thay vì Washington; coi vậy chớ Mỹ dù muốn trở lại Đông Nam Á, qua con đường ASEAN, cũng phải nễ Bắc Kinh, “vuốt mũi cũng phải nể mặt” Trung Cộng.

Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng người có quyền lực nhứt nước VN cũng đã đi Ấn độ rồi mà Biển Đông chẳng có gì mới vẫn bị bản đồ lưởi bò của TC chiếm 80%, hai đảo Hòang sa và Trường sa vẫn còn là huyện Tam sa thuộc lãnh thổ TC.

Trừ một vài việc nhỏ là Mỹ, Úc, Nhựt, Phi họp ở San Francisco khuyến nghị Ấn Độ “hướng đông” và tàu Ấn độ thăm dò dầu khí cho VNCS bị TC phản đối nhưng Ấn độ không rút lui.
Dưới cái nhìn đối ngọai, chuyến đi của hai người mới sang Ấn và sang Tàu, một số dấu chỉ cho thấy Trọng đi Tàu có vẻ để “cầu phong” và hóa giải một vài bất đồng về biển đảo với TC. Nhưng chắc chắn TC sẽ hề hà nói 16 chữ vàng và 4 tốt, tình đồng chí để kéo dài thời gian và hiện tình biển đảo của VN mà họ đã kiểm sóat, đang có lợi cho TC.

Còn Sang đi Ấn có vẻ muốn chơi trò mâu thuẩn chánh trị, khai thác xung khắc giữa TC và Ấn độ, hai nước đông dân nhứt Á châu, từng xung đột võ lực vì vấn đề biên giới.

Dưới cái nhìn đối nội hai chuyến đi này cho thấy lãnh đạo CS trong Đảng Nhà Nước CS Hà nội chạy đôn chạy đáo ở ngọai quốc để gỡ thế kẹt. CS Hà nội có một điểm chung là ham xa, vọng ngọai mà quên gần, không phát huy nội lực dân tộc, không dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân là nguồn gốc, là sức mạnh cơ hữu không có không được trong mọi công cuộc chống xâm lăng, bảo vệ bờ cõi, bất cứ nước nào thời nào trong lịch sử VN cũng như lịch sử các nước trên thế giới.

CS Việt Nam khó mà khai thác trò chơi mâu thuẩn chánh trị quốc tế để thủ lợi riêng. Nhìn kỹ người ta thấy ở hội nghị San Francisco Mỹ đã thành lập vòng vây TC gồm Mỹ, Úc, Nhựt, Phi nhưng không có VNCS. Mỹ chỉ khuyến khích Ấn độ “hướng Đông”, tức là Ấn độ làm việc trực tiếp với CS Hà nội, chớ không phải Mỹ. Có thể có nhiều lý do. Mỹ không thể ký một hiệp ước phòng thủ chung với một chế độ CS, như Mỹ đã ký với Phi luật tân tự do, dân chủ. Tân Đại sứ Mỹ họp báo ở Hànội không ngần ngại nói, phải qua một giai đọan lâu dài nữa thì Mỹ mới có thể bán vũ khí cho Hà nội được. Bán vũ khi mà không được phép thí họp tác quân sự có tính võ trang chắc còn lâu.

Còn ngay với Ấn độ, tuy nước này trong thời Chiến tranh Lạnh có chiến tranh biên giới với Trung Cộng, có ngọai giao với Hà nội, nhưng thường đóng vai trò phi liên kết trên thế giới. Mâu thuẩn biên giới giữa TC và Ấn độ gần đây không còn căng thẳng nữa. Quyền lợi của Ấn độ cũng như quyền lợi của Mỹ về kinh tế, chánh trị, ngọai giao đối với TC quan trọng, lớn lao hơn đối với VNCS. Nếu vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa cùng lắm Mỹ cũng như Ấn độ, Nhựt, Úc cũng chỉ đặt vấn đề tự do lưu thông hànghải trên con đường huyết mạch từ Eo Biển Mã lai chạy ngang Biển Đông mà thôi. Mỹ đã từng tuyên bố bảo vệ tự do hải hành, chớ không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp biển đảo mà VN và TC đang tranh chấp chủ quyền.

Tuy Ấn Độ khẳng định quyết tâm tiếp tục thăm dò dầu khí ở hai lô thuộc lãnh hải của Việt Nam trên Biển Đông, bất chấp phản đối quyết liệt của Trung Quốc. Dù VNCS đã cho Ấn độ sử dụng cảng Nha Trang gần Cam Ranh, có thể cho Ấn Độ hợp đồng làm lò nguyên tử như Nga và Nhựt, điều đó không có nghĩa là Ấn Độ sẽ thắt chặt tương quan quân sự với Hà nội trong vấn đề bảo vệ biển đảo của VN. Tuy Hà nội khẳng định lập trường Ấn độ thăm dò dầu khí cho VN là đúng luật quốc tế về biển, nhưng nếu TC sách nhiểu như đã làm với tàu Wiking thì liệu VN có bảo vệ không và liệu Ấn độ vì một việc nhỏ này mà kéo quân từ Ấn độ dương qua tiếp cứu. Nên nhớ có lần tàu Ấn độ vào Biển Đông, TC ngăn chận trên đường về bảo tại Ấn độ xâm phạm lãnh hải TC, Ấn độ và VNCS dấu nhẹm tin này, sau này Wikileaks mới tiết lộ.

Còn chuyến đi TC của Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng có vẻ là chuyến cầu phong như mọi chuyến đi của tân Tổng bí Thứ của CSVN. Kỳ này Tân Tổng Bí Thứ Trọng trước làn sóng chống TC của người dân, TC né một chút, dành chuyến công du đầu tiên cho Lào, qua chuyến thứ hai mới đi TC.

Gần đây hầu hết những chuyến đi của các giới chức CS Hà nội sang Bắc Kinh, từ Thứ Trường Ngọai Giao Hồ xuân Sơn đến Thứ Trưởng Quốc Phòng đi Bắc Kinh về đều đem thiệt thòi và thiệt hại về cho quốc gia dân tộc Việt. Sơn nhận lịnh “định hướng dư luận” của TC, về tới Hà nội là triệt hạ các người dân Việt biểu tình chốngTC xâm lấn biển đảo VN. Vịnh khẳng định hứa giải quyết vân để biển đảo song phương với TC, như ý muốn trước sau như một của CS.

Với mấy ngày công du như vậy, Tổng Bí Thư Trọng không thể nào thay đổi cả những định chế bất lợi cho VN, thay đổi quyết tâm và hành động quyết liệt của TC chiếm biển đảo của VN. Việc làm này của TC làm cho các nước Á châu Thái Bình Dương, nổi bật là Mỹ, Úc, Nhựt, và cả chục nước của ASEAN và Ấn độ từ Ấn Độ Dương cũng lo ngại. Hành động có vẻ thách thức những nước lớn mạnh như vậy mà TC vẩn kiên trì và kiên quyết làm, bất chấp phản đối. Thì có “ăn nhằm gì ba cái lẻ tẻ” những ý kiến, xin xỏ của một tổng bí thư của một đảng CS nhỏ như VN. Cùng lắm lãnh đạo đảng CS Trung Quốc hành động như quan thầy, sẽ hề hà “tình đồng chí”, mười mấy chữ vàng, bốn tốt, trải thảm đỏ, mở yến tiệc linh đình cho qua chuyện, để “đệ tử” mát mặt khi về nước nhà thôi./.
nguon vietbao.com

Post Reply