Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Người Mỹ làm gián điệp cho Syria? Một người đàn ông Mỹ gốc Syria vừa bị cáo buộc hợp tác với cơ quan tình báo Syria để chống lại Washington.
Theo các công tố viên Mỹ, Mohamad Soueid đang sống tại bang Virginia của Mỹ, vi phạm luật pháp nước sở tại khi thu thập tin tức tình báo cho Chính phủ nước ngoài.

Cụ thể, người đàn ông 47 tuổi này đã gửi 20 đoạn băng ghi lại hình ảnh các cuộc biểu tình chống Chính phủ Syria tại Mỹ để gửi cho cơ quan tình báo Syria trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2011 và thậm chí, còn bay sang Damascus để trực tiếp gặp Tổng thống Bashar al-Assad hồi tháng 6 vừa qua.

Ông Mohamad Soueid cũng bị cáo buộc gian dối khi trả lời trong cuộc điều tra của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) liên quan đến các hoạt động của ông với Mukhbarat, cơ quan tình báo của Syria hồi tháng 8.

Ngoài ra, ông còn tìm cách chiêu mộ nhiều điệp viên khác nhằm do thám các hoạt động chống Syria của Mỹ.
Image
Người đàn ông Mỹ gốc Syria bị cáo buộc làm gián điệp cho Syria. Ảnh minh họa.
Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Lisa Monaco cho rằng, hành động của Soueid nhằm bịt miệng và hăm dọa những người biểu tình Mỹ chống lại Chính phủ Syria. Quan chức này nhấn mạnh, biểu tình là quyền hợp pháp tại Mỹ. Tuy nhiên, theo ông, thật đáng lo ngại khi một công dân Mỹ lại hợp tác với Chính phủ nước ngoài, đặc biệt là Chính phủ của nhà lãnh đạo Assad, để hạn chế quyền đó của chính những người dân ở đất nước mình.

Theo BBC, sở dĩ những hành động của Mohamad Soueid bị lộ là do hồi đầu năm nay, một nhóm những người Mỹ đâm đơn kiện người đàn ông này hăm dọa họ.

Tuy nhiên, Đại sứ Syria tại Washington phủ nhận toàn bộ cáo buộc này và cho rằng, ông Soueid không có bất cứ quan hệ nào với Chính phủ Syria. “Mohamad Soueid không phải điệp viên cho bất cứ tổ chức nào của Syria. Ông ta chưa từng làm việc theo sự chỉ dẫn của bất cứ quan chức Syria nào”, đại sứ Syria khẳng định.

Ông Mohamad Soueid bị bắt hôm qua. Ông sinh ra tại Syria nhưng được một cặp vợ chồng Mỹ nhận nuôi.

Trà My (theo BBC)

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Một vài nhận định
về chuyến thăm Bắc Kinh của ông Nguyễn Phú Trọng


Âu Dương Thệ
(Nguồn: boxitvn.net)


I. Ðới Bỉnh Quốc thiết kế cho chuyến đi Bắc Kinh của ông Nguyễn Phú Trọng

Ðài Bắc Kinh ngày 8 tháng 9 đã nhắc lại câu, “Hai bên khẳng định sẽ làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước” trong “Bản tin báo chí” (1) (một kiểu thông cáo chung) kết quả cuộc hội đàm của phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt Nam-Trung Quốc giữa Ðới Bỉnh Quốc, nhân vật cao nhất phụ trách ngoại giao và giám đốc Văn phòng An ninh Quốc gia của ÐCS Trung Quốc (2) và Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa qua.

Ðối với các quan sát viên chính trị theo dõi quan hệ giữa hai ÐCS VN và Trung Quốc thì câu trên đây tuy rất bình thường nhưng lại có một hàm ý đặc biệt và rất rõ ràng. Hàm ý đặc biệt của câu trên là gì?

Câu hỏi trên liên hệ mật thiết hữu cơ tới việc Ðới Bỉnh Quốc gặp ông Nguyễn Phú Trọng, TBTÐCSVN từ tháng 1, 2011, ngày 7 tháng 9, một ngày khi “Bản tin báo chí” được công bố chính thức với bên ngoài. Ông Trọng đã ôm hôn rất thân thiết Ðới Bỉnh Quốc. Sau đó họ Ðới chuyển lời miệng của Hồ Cẩm Ðào, người đứng đầu CS Trung quốc, nhắn riêng ông Nguyễn Phú Trọng, “Ðảng và chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, hai bên Trung-Việt đặc biệt cần phải xuất phát từ đại cục, nắm vững hướng phát triển quan hệ Trung-Việt.” Và quan trọng nữa, qua lời của họ Ðới, Hồ Cẩm Ðào mong Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sớm sang thăm Trung Quốc.” (3)

Nhóm cầm đầu Bắc Kinh thừa biết ông Nguyễn Phú Trọng là người từ sau khi lên làm tổng bí thư (1.2011) đã rất nhấp nhỏm muốn sang thăm Bắc Kinh. Nhưng khó khăn và trở ngại rất lớn cho ông Nguyễn Phú Trọng là: nếu sang thăm Bắc Kinh vào lúc này thì ăn nói ra làm sao đối với nhân dân VN và dư luận quốc tế về những chủ trương bá quyền và nhất là những hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền VN của hải quân Trung Quốc; từ cuối tháng 5 và những hành động tàn bạo với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua. Vì dư luận trong nước, quốc tế và ngay cả Trung Quốc biết rất rõ, đại đa số nhân dân VN, kể cả một bộ phận quan trọng trong Ðảng, vô cùng bất mãn với những chính sách xâm lấn nước láng giềng và các hành động bất tàn bạo của Hải Quân Trung Quốc với các ngư dân nước láng giềng! Hiểu được nỗi lòng của ông Nguyễn Phú Trọng cho nên Ðới Bỉnh Quốc đã tuyên bố trước báo chí ở Hà Nội sau khi viếng lăng ông Hồ: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi.” (4)

Như vậy với câu nói trên, người đứng đầu ngành đối ngoại và an ninh của Trung Quốc và cố vấn của Hồ Cẩm Ðào đã tìm cách rửa mặt để dọn đường cho TBT Nguyễn Phú Trọng sang gặp Hồ Cẩm Ðào trong thời gian sắp tới. Ðây là thủ đoạn ngoại giao nhằm thực hiện chính sách thâm độc là mở rộng ảnh hưởng hơn nữa vào VN. Ở đây, Bắc Kinh cố tình tạo ra ngôn thuận để thực hiện danh chính! Họ chẳng nề hà một vài câu ngoại giao bề ngoài để ru ngủ các vua tập thể ở Hà Nội, như trước đây họ đã đưa ra các khẩu hiệu rất ngọt “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai “ và “bốn tốt” là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.” Từ đó họ đã đạt được mục tiêu trong Hiệp định Biên giới đất liền với VN (1999) và Hiệp định Phân định Vịnh Bắc bộ và Hợp tác Nghề cá (2000).

Cả hai hiệp định này đều mang lại lợi lớn cho Trung Quốc. Nay cũng tương tự như vậy, họ Ðới vào thăm lăng người sáng lập chế độ toàn trị CSVN rồi tuyên bố: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi.” Ngôn ngữ ngọt ngào và bùi tai rất thuận lợi để Nguyễn Phú Trọng có thể giải thích cả trong đảng lẫn nhân dân là, lãnh đạo Trung Quốc vẫn một lòng tôn thờ Bác cho nên chúng ta không được nghi ngờ ÐCS Trung Quốc. Làm như thế họ Ðới quyến rũ ông Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu chế độ toàn trị hiện nay ở VN, sớm sang thăm Trung Quốc, ép ông Trọng phải có nhượng bộ mới. Sau đó Bắc Kinh sẽ lấy danh nghĩa “đây là thỏa thuận chung ở cấp cao” để thực hiện tiếp tục các ý đồ nham hiểm đối với VN.

Trong các thập niên gần đây Bắc Kinh đã thành công lớn trong sách lược ép các người cầm đầu chế độ toàn trị ở VN phải thỏa thuận các điều kiện bất lợi cho VN và từ đó họ nhân danh “làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước.” Chứng minh rõ rệt nhất là năm 2009 khi Tướng Võ Nguyên Giáp, đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, nhiều cán bộ cao cấp về hưu và nhiều chuyên viên trí thức đã lên tiếng phản đối việc để cho Bắc Kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên vì sẽ gây ra những bất lợi lớn về môi trường và nguy hiểm cho an ninh quốc phòng. Vì cuối tháng 5, 2008 khi thăm Trung Quốc với tư cách là tổng bí thư khi ấy Nông Ðức Mạnh đã bị ép phải chấp nhận việc để Bắc Kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên. (5) Trong một chế độ đảng trị hà khắc thì đây là cách bịt miệng đảng viên và nhân dân dễ nhất! Chỉ cần người cầm đầu nói “đã có thỏa thuận trước đây ở cấp cao” thì tự khắc có hai tác dụng:

1. Cấp lãnh đạo VN đã thỏa thuận với cấp lãnh đạo Trung Quốc cho nên không thể bàn lại.

2. Các đảng viên phải tuân lệnh thượng cấp, báo chí phải im lặng...

II. Các chuẩn bị cho chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng

Cho nên cần phải hiểu cho đúng việc Bắc Kinh đòi: “Hai bên làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước.” Thoạt nghe hay đọc câu trên thì thấy thái độ rất bình đẳng, dân chủ giữa lãnh đạo hai nước độc lập trong các hội nghị. Nhưng câu nói trịnh trọng và dân chủ hình thức đó không che giấu được sự thực: Trong tình thế cực kỳ khó khăn của CSVN và so sánh tương quan lực lượng về nhiều mặt giữa hai ÐCS VN và Trung Quốc thì ai lãnh đạo ai? Ai chỉ huy? Ai tuân lệnh?

Lúc này Bắc Kinh thấy đây là thời điểm thích hợp cần phải sớm có hội nghị cấp cao mới giữa hai nước để tạo danh chính ngôn thuận cho chủ trương bành trường lãnh thổ và bòn rút tài nguyên của VN. Vì vậy Hồ Cẩm Ðào đã cử Ðới Bỉnh Quốc sang thúc giục ông Nguyễn Phú Trọng “sớm sang thăm Trung Quốc”!

Các sự kiện đáng chú ý là từ sau khi ông Nguyễn Phú Trọng nắm chức tổng bí thư thì một mặt Bắc Kinh tăng cường các hành động xâm lấn công khai ngang ngược trên biển Ðông, nhưng đồng thời họ cũng vận động ngoại giao ráo riết để ép buộc VN phải chấp nhận một tình trạng đã rồi. Từ cuối tháng 5 tới đầu tháng 6, 2011 Bắc Kinh đã để các tầu Hải Quân Trung Quốc đội lốt các tầu hải giám xâm phạm lãnh hải VN, cắt cáp các tầu của Tập đoàn Dầu khí VN đang thăm dò dầu khí trong hải phận VN. (6)

Ngoài ra Bắc Kinh còn tăng cường hải quân ở Hoàng Sa, các tầu đánh cá Trung Quốc tự do hoạt động ở đây; trong khi ấy vẫn săn đuổi và giết hại ngư dân VN! Không chỉ ngang ngược với VN, nhóm cầm đầu Bắc Kinh còn ngang ngạnh đe dọa cả Ấn Ðộ. Cuối tháng 7 khi tầu hải quân Ấn thăm VN đang chạy trên hải phận VN thì Hải Quân Trung Quốc đã cảnh cáo là tầu Hải Quân Ấn đã xâm phạm hải phận Trung Quốc! Rồi ít ngày sau Bắc Kinh còn công khai đe dọa một công ty Ấn đang khai thác dầu khí ở gần Côn Sơn thuộc thềm lục địa VN. (7) Với những đòi hỏi và đe dọa này mặc nhiên Bắc Kinh coi biển Ðông là cái ao của Trung Quốc.

III. Ai nhượng bộ ai trong các lãnh vực nào?

Tại các hội nghị trên được coi là chuẩn bị không khí và nội dung cho chuyến đi Bắc kinh sắp tới của ông Nguyễn Phú Trọng. Trong khi các phái đoàn Trung Quốc chỉ sử dụng ngôn ngữ ngoại giao đường mật và phách lối vạch ra hướng đi như “cần phải xuất phát từ đại cục”... (8 ), hay “cùng Việt Nam cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa 2 nước” (9) nhưng không đưa ra một lời hứa cụ thể nào. Ngược lại các phái đoàn của CSVN lại đưa ra những lời hứa rất cụ thể trong nhiều lãnh vực, từ cách giải quyết về tranh chấp biển Ðông, thế đứng quốc tế và thậm chí thề thốt trước mặt Trung Quốc cả về cách đối xử với nhân dân VN!

1. Cách giải quyết tranh chấp Biển Ðông

Trong hội nghị “Ðối thoại Chiến lược Quốc phòng An ninh Việt-Trung” lần thứ 5 ở Bắc Kinh, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã công khai chấp nhận yêu sách của Bắc Kinh là không quốc tế hóa cuộc tranh chấp này, cụ thể ở đây là Bắc Kinh đòi không được phép để Hoa Kỳ nhẩy vào. Trong cuộc hội đàm với Tướng Mã Hiểu Thiên, phó tổng tham mưu trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã xác nhận: “Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau.” (10) Sau đó chính Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt khi tiếp Nguyễn Chí Vịnh ngày 29 tháng 8 cũng nhấn mạnh “Trung Quốc phản đối làm phức tạp hóa và quốc tế hóa vấn đề Nam Hải” (11).

Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn đi xa hơn nữa bằng cách nói thay cho Bắc Kinh, khi ông tuyên bố, “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam” (12). Ðây là tuyên bố ngoại giao rất ngớ ngẩn và cực kỳ nguy hiểm. Vì như thế đã gián tiếp nhìn nhận rằng, những yêu sách của Bắc Kinh về các hải đảo và biển Ðông là chính đáng... Vì từ trước tới nay Bắc Kinh luôn luôn khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa và phần chính của biển Ðông là thuộc lãnh thổ của Trung Quốc “không thể bàn cãi”! Có nghĩa là, đấy là những đảo và biển của Trung Quốc chứ họ có xâm chiếm của VN đâu! (13) Nhiều chính phủ và các nước từng ủng hộ VN trong tranh chấp Biển Ðông đã vô cùng thất vọng trước những tuyên bố kiểu như trên...

Tướng Ngô Xuân Lịch cũng đã lập lại lập trường sai lầm này trong cuộc thảo luận vào giữa tháng 9 với Thượng Tướng Lý Kế Nại, ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, ủy viên Quân Ủy Trung Ương, chủ nhiệm Tổng Bộ Chính Trị Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc:

”Ðồng chí cũng khẳng định, Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông. Vấn đề tranh chấp giữa hai nước thì do hai nước giải quyết.” (14)

Chính thái độ chấp nhận yêu sách bá quyền của Bắc Kinh và bản lãnh quá nhu nhược của phía Việt Nam cho nên trong cuộc họp “Ðối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ” lần thứ hai vào ngày 19 tháng 9 tại Washington D.C, chính phủ Obama đã tỏ ra coi thường phái đoàn của Nguyễn Chí Vịnh. Ngoài việc hội đàm với Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher không một nhân vật quan trọng nào trong chính phủ Hoa Kỳ đã tiếp Nguyễn Chí Vịnh, kể cả bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ. (15) Ðiều này trái với cách tiếp đón niềm nở Nguyễn Chí Vịnh (dù chỉ là xã giao) của Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt. Trong cuộc hội đàm “Ðối thoại Chiến lược Quốc phòng An ninh Việt-Trung” ở Bắc Kinh, Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn công khai hứa sẽ cấm chỉ các cuộc biểu tình của nhân dân VN...

***
Nói tóm lại, xét qua thái độ và những lời phát biểu của các phái đoàn ngoại giao và quân sự cấp cao của Bắc Kinh và Hà Nội, mấy tháng vừa qua trong việc chuẩn bị cho chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Phú Trọng với tư cách là tân tổng bí thư đã chứng tỏ rõ: Ai chủ động, ai bị động?

Nếu nắm vững sách lược ngoại giao nói ngọt lọt tới xương của nhóm cầm đầu Bắc Kinh thì cần phải tỉnh táo biết rằng, đằng sau những lời nói ngọt là một chùm thuốc đắng. (16) Nếu sáng suốt và yêu nước thực sự thì những người cầm đầu CSVN phải thừa biết các điều sau đây:

1. Từ việc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, muốn nuốt thêm quần đảo Trường Sa và đang tính chiếm phần chính biển Ðông là tham vọng của bá quyền Trung Quốc trong thời đại Trung Quốc đang vươn lên trở thành siêu cường. Lịch sử Trung Quốc đã chứng minh là các thời đại hưng thịnh thường kèm theo các cuộc chinh phạt các nước láng giềng.

Chúng ta không muốn chiến tranh, chiến tranh chỉ là hạ sách. Nhưng nói là chỉ cần dùng ba tấc lưỡi có thể thuyết phục Bắc Kinh bỏ ý định bành trướng thì sẽ là tự lừa dối mình, lừa dối dân, lừa dối bạn bè quốc tế.

2. Trong điều kiện hiện nay của VN, đơn thân độc mã chống lại chính sách bành trướng của phương Bắc thì không đủ sức. Cho nên cần sự ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế. Muốn vậy thì phải liên minh với các nước Ðông Á và Ðông nam Á đang có mối lo ngại chung trước Bắc Kinh.

Nhưng muốn có sự ủng hộ thực sự của các nước dân chủ này thì những người cầm đầu CSVN phải đi đầu công khai kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc Kinh...

3. Quan trọng nữa là phải được nhân dân VN tin cậy và ủng hộ. Vì thế lãnh đạo ÐCSVN phải chứng tỏ có bản lĩnh vững vàng đối với Bắc Kinh, biết quí danh dự của tổ quốc và phải trọng nhân dân. Cho nên những người đang cầm quyền không được phép cấm cản, bôi nhọ, đe dọa và bêu xấu nhân dân trước kẻ thù. Vì như thế là chính mình bôi xấu, làm nhục mình!

Hãy có can đảm và làm theo mệnh lệnh của lương tâm. Ngoại giao khôn ngoan không được phép hiểu là trốn tránh sự thực, phủ nhận sự thực, cúi đầu trước kẻ thù. Ngoại giao khôn ngoan nhất là phải biết dựa vào sức mạnh của dân và sức mạnh của thời đại.

Ghi chú:

(1) Cộng Sản Ðiện Tử 8 tháng 9, 2011
(2) BBC7.9
(3) Thông Tấn Xã VN (TTXVN) 7 tháng 9
(4) Chính Phủ Ðiện Tử (CP) 7 tháng 9
(5) Ðiểm 5 Thông báo chung Trung Quốc-VN, Nhân Dân 2 tháng 6, 2008
(6). Xem Âu Dương Thệ, Kết quả Hội nghị Trung ương 2: Cách lèo lái quyền lực của Nguyễn Phú Trọng! Trong: www.dcvapt.net/thoisu/baithoisu2011/phantichhntu2.htm
(7) RFI và BBC 22.9
(8 ) Ðới Bỉnh Quốc nói với Nguyễn Phú Trọng ngày 7 tháng 9.
(9 ) Thượng Tướng Quách Bá Hùng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân UƯy Trung Ương quân đội Trung Quốc, nói với Nguyễn Tấn Dũng ngày 13 tháng 4 tại Hà Nội.
(10) TTXVN 30 tháng 8
(11) Ðài Bắc kinh 30 tháng 8
(12) TTXVN 30 tháng 8, Nguyễn Chí Vịnh nói với Tướng Mã Hiểu Thiên.
(13) Vũ Cao Ðàm, Giải mã ngôn từ của Trung Cộng: “Trung Quốc không lấy đất lấy biển của Việt Nam,” trong http://www.boxitvn.net/bai/28303
(14) Quân Ðội Nhân Dân 16 tháng 9
(15) Quân Ðội Nhân Dân và BBC 20 tháng 9
(16) Xem: Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cựu đại sứ VN tại Trung Quốc, nói ngọt ngào, làm ác độc.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Ngoại trưởng Mỹ cam kết trở lại Châu Á


Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói Châu Á Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton vừa có bài viết dài khẳng định cam kết của Washington với Châu Á Thái Bình Dương.

Trong bài viết mang tựa đề "Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ", bà ngoại trưởng nói Châu Á Thái Bình Dương trải dài Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với gần một nửa dân số trên thế giới đã trở thành "động lực chính của chính trị toàn cầu."
Người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ nhận định:
"Vào lúc khu vực này đang xây dựng những cơ cấu kinh tế và an ninh chín chắn hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ tại đây là hết sức cần thiết.

"Nó [cam kết của Hoa Kỳ] giúp xây dựng cơ cấu đó và giúp Hoa Kỳ giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm trong thế kỷ này, cũng giống như cam kết hậu Thế Chiến II của chúng ta đối với việc xây dựng các quan hệ và hệ thống định chế xuyên Đại Tây Dương mang tính chiến lược và lâu dài đã mang lại kết quả lớn hơn nhiều so với đầu tư ban đầu và vẫn tiếp tục như vậy."
Bà Clinton nói việc đảm bảo hòa bình và an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho tiến bộ toàn cầu cho dù đó là chuyện bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngăn chặn cố gắng phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những nước lớn trong khu vực.
"Chúng ta là cường quốc duy nhất với mạng lưới liên minh mạnh mẽ trong khu vực nhưng không có tham vọng lãnh thổ trong khi có lịch sử phụng sự lợi ích chung," bà Clinton viết.

Theo Bấm bài viết trên Foreign Policy, Hoa Kỳ hiện có hiệp ước liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan.
Riêng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã có 50.000 quân nhân Hoa Kỳ hiện diện và Nhật Bản đã bỏ ra năm tỷ đô la để đảm bảo binh lính Hoa Kỳ tiếp tục có mặt ở nước này.

Bà Clinton nói bản thân bà đã chọn Châu Á là nơi đầu tiên tới thăm trong vai trò ngoại trưởng còn Tổng thống Barack Obama vào tháng 11 năm nay sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự Diễn đàn Đông Á diễn ra tại Indonesia.

Vấn đề nhân quyền

Nhắc tới Trung Quốc, ngoại trưởng Hoa Kỳ nói cả hai nước sẽ được lợi hơn nhiều từ hợp tác thay vì đối đầu.
"Sự thật là một nước Hoa Kỳ hùng mạnh tốt cho Trung Quốc và một nước Trung Quốc hùng mạnh tốt cho Hoa Kỳ."

Bà Clinton nói Hoa Kỳ khuyến khích Trung Quốc tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng lúc tăng tính minh bạch trong các hoạt động quân sự để không có sự hiểu nhầm giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Vị ngoại trưởng cũng nhắc tới những lo ngại của Washington về tình trạng nhân quyền ở đất nước đông dân nhất thế giới.
"Chúng ta đã nêu rất rõ, cả công khai và trong các cuộc gặp kín, những lo ngại sâu sắc của chúng ta về nhân quyền.
"Chúng ta đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị."

Hillary Clinton
"...Chúng ta đã giải thích cho các đồng nghiệp Trung Quốc rằng sự tôn trọng đúng mực luật lệ quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ tạo cơ sở để Trung Quốc phát triển và ổn định hơn nhiều - đồng thời tăng niềm tin cho các đối tác của Trung Quốc.
"Nếu không Trung Quốc đã tự hạn chế sự phát triển của chính họ một cách không cần thiết."
Bà Clinton nói sức mạnh các giá trị Hoa Kỳ còn quan trọng hơn cả sức mạnh quân sự và kinh tế.

Bà nói trong khi họ thắt chặt thêm quan hệ với các nước mà Washington có khác biệt về hệ giá trị, người Mỹ luôn thúc giục các nước này thúc đẩy cải cách để cải thiện hệ thống quản trị, bảo vệ nhân quyền và tăng cường tự do chính trị.

Vị ngoại trưởng cũng đưa Việt Nam ra làm ví dụ.
"Chúng ta đã nói rõ ...với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị."
"...Chúng ta không thể và không định áp đặt hệ thống của chúng ta lên các nước khác, nhưng chúng ta tin rằng một số giá trị có tính phổ quát và người dân của mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Châu Á, đều coi trọng - chúng [Những giá trị này] là những giá trị của những nước thịnh vượng, hòa bình và ổn định.
"Suy cho cùng chính người Châu Á sẽ tự theo đuổi những quyền và hoài bão của họ giống như chúng ta thấy người dân đã làm ở khắp nơi trên thế giới."

'Lãnh đạo toàn cầu'

Bà Clinton nói có nhiều người hoài nghi sức bền của Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới và bà nói những hoài nghi này không có gì mới.

Bà Clinton nói Hoa Kỳ vẫn có nhiều cái nhất trên thế giới trong đó có quân đội mạnh nhất
"Khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, có vô vàn các nhà bình luận toàn cầu đưa ra ý tưởng rằng Hoa Kỳ đang rút lui và đây là đề tài cứ vài thập niên lại được lặp lại.
"Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ gặp trở ngại, chúng ta đều có thể vượt qua nhờ tái sáng tạo và đổi mới.
"Khả năng trở lại với tư cách mạnh hơn của chúng ta là chưa từng có trong lịch sử hiện đại.
"Nó bắt nguồn từ mô hình dân chủ tự do và doanh nghiệp tư do của chúng ta, mô hình hiện vẫn là phương tiện mạnh mẽ nhất sản sinh ra sự thịnh vượng và tiến bộ mà loài người từng biết tới."

Vị ngoại trưởng nhắc lại cho thế giới thấy Hoa Kỳ vẫn có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, quân đội có vị trí số một, hiệu suất lao động của người Mỹ cao nhất thế giới và các trường đại học của Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới.
"Bởi vậy không thể nghi ngờ chuyện Hoa Kỳ có khả năng giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như chúng ta đã đạt được trong thế kỷ trước," bà nói.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

TRÒ NGOẠI GIAO HUÊ DẠNG CỦA VIỆTCỘNG BỘC LỘ THÂN PHẬN ĐẦY TỚ BẮC KINH

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Ngay sau khi Nguyễn Phú Trọng được bầu vào chức tổng bí thư đảng Việt cộng, giữa tháng 01/ 2011, thì tháng 2/2011, Hồ Cẩm Đào tổng bí thư, chủ tịch nước Trung cộng đã chính thức gửi thư thúc dục Trọng phải sang Trung cộng, bệ kiến triều đình Bắc kinh. Nhưng Nguyễn Phú Trọng vốn đã bị dư luận trong, ngoài đảng cho là một người trung thành với Trung cộng. Mà tiến trình của Mỹ nhập nội Việt nam ngày càng ảnh hưởng mạnh trên khắp mặt nhân sinh, kinh tế, quân sự và chính trị. Nhất là giữa lúc luồng gió Cách Mạng Hoa Lài, từ Bắc phi ào ạt thổì vào Việt nam, làm cho Việt cộng run sợ. Nguyễn Phú Trọng không dám khinh suất, quá lộ liễu như các kẻ tiền nhiệm phải cúc cung sang Trung cộng nhận chỉ thị khi mới nhậm chức. Trong khi đó tình thế Biển Đông mỗi ngày một căng thẳng. Trung cộng hung hăng cưỡng nhận chủ quyền toàn vùng Biển Đông, đe dọa an ninh các nước Đông Nam Á. Hoa kỳ quyết liệt trở lại Á châu, được tất cả các nước Á châu chấp nhận, như một chiếc dù an ninh chống lại sự bành trướng của Trung cộng. Nên chuyến đi truyền thống giữa Việt cộng và Trung cộng, mãi đến tình thế Biển Đông hơi dịu lại mới có thể tiến hành.

Hôm nay, ngày 11/10/2011, Nguyễn Phú Trọng mới dám sang Trung cộng. Sau khi dàn dựng ra cái trò "Ngoại Giao Đa Phương" toàn cầu, tự mình sang Lào. Nguyển Tấn Dũng thủ tướng, đi một vài nước Đông Nam Á và Âu Châu. Rồi tổ chức họp Trung Ương Đảng khóa 3. Cùng ngày, Trương Tấn Sang chủ tịch nước, chính thức sang thăm Ấn độ, vốn là đối trọng chiến lược chính của Trung cộng tại Á châu. Bất chấp sự đe dọa của Bắc kinh, Ấn độ dứt khoát vào khai thác dầu khí tại Việt nam. Ấn được Mỹ - Nhật – Úc, nắm tay cùng tiến vào Biển Đông để giúp các nước Đông Nam Á "Ngăn Bành Trướng Bắc kinh". Trương Tấn Sang hội đàm với tổng thống Ấn, Pratibha Devising Patil và thủ tướng Mamohan Singh để ký kết về quốc phòng, thương mại và chương trình khai thác dầu khí. Đây là nằm trong chiến lược "Nhìn về phía Đông" (Look East) của Dehli, nhằm đẩy mạnh quan hệ với Miến điện và Việt nam. Cũng hôm nay, 11/10/11, nữ thủ tướng Đức, Angela Merkel viếng thăm Việt nam đề cập tới "tình trạng nhân quyền đang xuống dốc tại Việt nam". Ký tuyên bố chung 5 nội dung chính bao gồm: " Hợp tác chính trị chiến lược; thương mại và đầu tư; tư pháp và luật pháp; phát triển và môi trường; giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội" với Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng. Bà Merkel hiện là người có tiếng nói mạnh nhất trong Liên Hiệp Âu Châu. Bà có chương trình đi thăm các vị lãnh đạo tôn giáo, những nhà đối lập ở Hà nội và Saigon.

Trở lại chuyến công du Trung cộng của Nguyễn Phú Trọng với một phái đoàn hùng hậu gồm 3 ủy viên Bộ Chính Trị; một phó thủ tướng đặc trách song phương Việt nam Trung quốc; trưởng ban đối ngoại trung ương; chánh văn phòng trung ương; các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, công thương, kế hoạch đầu tư, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, giáo dục đào tạo… thứ trưởng bộ công an và đại sứ Việt nam tại Bắc kinh. Tóm lại là các cơ quan đảng và các bộ có liên hệ tới việc hợp tác với Trung cộng, đều được Nguyễn Phú Trọng trình diện trước Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ Bắc kinh để nghe chỉ dụ: "Hai bên nhấn mạnh tới sự tôn trọng, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, hợp tác và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế là cơ sở quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được hai bên không ngừng củng cố, phát triển và truyền cho mãi thế hệ mai sau". "Hai nhà lãnh đạo cùng nhất trí cho rằng, trong quan hệ hai nước còn tồn tại một số bất đồng xung đột quanh vấn đề biển Đông và nhất trí hai nước đều tránh làm phức tạp tình hình và bình tĩnh xử lý những bất đồng thông qua đàm phán hòa bình, nhìn từ tầm cao chiến lược quan hệ hai nước và ích lợi của nhân dân hai nước". "Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lãnh vực giữa hai nước".
Nhìn vào 9 điểm mà hai bên đã thỏa thuận thì Việt nam nhất định bị Trung cộng nuốt đứt, như ở điểm: "Một là…kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương…". Nghĩa là phải báo cáo về tình hình giữa Việt nam với quốc tế và các nước khác với quan thầy. "Hai là…mở rộng và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương giữa các cấp, ngành, địa phương của hai nước…". Nghĩa là hai nước trở thành Một, xuyên suốt, từ trung ương xuống tới điạ phương. "Ba là…giáo dục các tầng lớp nhân dân về tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng và hai Nhà nước…mở rộng và tăng cường giao lưu nhân dân một cách phong phú, thiết thực, hiệu quả, nhất là giữa thanh-thiếu niên hai nước". Nghĩa là đẩy mạnh công việc Hán hóa dân tộc Việt nam. "Bốn là:…phát huy đầy đủ và nâng cao hiệu quả của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương…trong quy hoạch tổng thể… khắc phục các cơ chế, chính sách còn vướng mắc…". Nghĩa là thống nhất luôn cơ chế và chính sách giữa Việt-Trung cộng. "Năm là:…mở rộng họp tác trên lãnh vực quốc phòng và an ninh; chấp hành nghiêm túc và triển khai có hiệu quả những nội dung hợp tác mà hai bên đã thoả thuận; tăng cường giao lưu giữa lực lượng vũ trang hai bên…" Nghĩa là quân đội, công an Việt nam đều nằm trong tay Trung cộng. Sáu là tăng cường thế mạnh về thương mại. Bẩy là mở rộng hợp tác về khoa học - kỹ thuật và giáo dục. Tám là bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước. Nhưng Trung cộng cứ xây đập đầu nguồn và xả chất độc hại xuống hai dòng sông chính của Việtnam là Hồng hà và Cửu long. Chín là về biển thì rất mơ hồ "… kiên trì và bình tĩnh xử lý, giải quyết thỏa đáng thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị…". "…quyết không để bất cứ vấn đề gì, bất cứ thề lực nào chia rẽ quan hệ hai Đảng, hai nước…" Xem vậy chủ quyền đang mất về tay Trung cộng, đất nước và dân tộc Vìệt nam cũng sẽ mất luôn, chừng nào Việt cộng còn cầm quyền!

Nhìn sang Miến điện, nhiều thập niên dưới chế độ quân phiệt, bị quốc tế cấm vận, Trung cộng hầu như một mình một chợ tha hồ thao túng. Đến nay các quân nhân đã trút áo nhà binh, mặc áo dân sự, tiến sang chế độ dân chủ, dù đất nước còn nghèo, nhưng tổng thống Thein Sein của Miến điện, vì ý nguyện của người dân, đã thông báo đình chỉ dự án xây đập thuỷ điện Myitsone do Trung cộng tài trợ, nhằm cung cấp điện cho Hoa lục. Lần đầu tiên Miếnđiện mở cửa cho báo chí vào theo dõi khóa họp Quốchội ngày 07/10. Hôm nay, 11/10/2011, chính quyền dân sự Miến điện chính thức thông báo ân xá hơn 6.300 tù nhân, mà trước đây Hoa kỳ, Liên Âu và phe đối lập Miến Điện chỉ đòi thả khoảng 2.000 tù nhân chính trị. Còn ở Việt nam thì Việt cộng chẳng những không dám thả tù chính trị, lại gia tăng đàn áp, bỏ tù đối lập, tôn giáo, báo giới; thả lỏng cho bọn công an côn đồ đánh đập, giết hại người dân một cách vô tội vạ. Đối ngoại thì dở trò huê dạng "Ngoạì giao đa phương toàn cầu", mà thực tế thì Việt cộng, cầm đầu bởi Nguyễn Phú Trọng và 13 ủy viên Bộ Chính Trị ăn hại, cúi đầu vào nách Trung cộng, làm đầy tớ Bắc kinh, mà chẳng hề biết nhục. LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigon ngày 11/10/2011.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cung đàn lỗi nhịp

BS Nguyễn Ðan Quế


Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) đang vươn mình trở thành tổ chức hợp tác vùng để cùng nhau phát triển với mẫu số chung là Dân Chủ.

Việt Nam lỗi nhịp ASEAN, bơ vơ lạc đàn giữa chợ đời thế giới, không bắt kịp lịch sử loài người. Làm theo Miến Ðiện mới là đi vào sinh lộ, thoát tử lộ. Chung qui chỉ vì không sớm chịu học hai “nốt nhạc” Nhân Quyền và Dân Chủ mà ra nông nỗi này...

***

Chỉ trong năm ngày từ 11 đến 15 tháng 10, 2011 có nhiều sự kiện chính trị liên quan đến sinh mệnh của tập đoàn lãnh đạo độc tài Hà nội.

Trước tiên là Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh, lần này không dùng từ “viếng thăm hữu nghị,” mà thay bằng “viếng thăm chính thức.”

Cùng đi với ông Trọng là một phái đoàn hùng hậu gồm ba ủy viên Bộ Chính Trị là Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng Ngô Văn Dụ và Trưởng ban Tuyên giáo Ðinh Thế Huynh; Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh; chưa kể trưởng các ban, văn phòng của Trung Ương Ðảng.

Vừa tới nơi, thấm mệt, được Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo đón tiếp với bộ mặt nghiêm nghị, không cười, và ký ngay văn kiện chính trong chuyến viếng thăm này là “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.”

Thỏa thuận nhằm giải quyết ôn hòa các tranh chấp trên biển trong khu vực Biển Ðông, nhưng mơ hồ về thời gian, không quy định thời hạn cho việc tiến hành đàm phán. Văn kiện được Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn của Việt Nam ký với người tương nhiệm phía Trung Quốc là ông Trương Chí Quân ngày 11 tháng 10 tại Bắc Kinh.

Chữ ký chưa khô mực, Hải Quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y tại một đảo thuộc Trường Sa, gần nơi hải chiến 1988.

Còn Tổng Thống Philippines B. Aquino III lên tiếng chỉ trích Việt Nam chấp nhận đàm phán song phương với Trung Quốc, thay vì đa phương trong khuôn khổ Asean. (Ghi nhận thêm là cùng lúc Miến Ðiện sau khi bỏ xây một đập thủy điện do Trung Quốc đầu tư, đã tuyên bố cởi mở tự do thông tin, thả tù nhân chính trị và chấp nhận quyền thành lập nghiệp đoàn và đình công của công nhân).

Austin Ramzy (Time) nhận định: “Thỏa thuận giữa hai nước Việt-Trung - vốn đã có cuộc chiến ngắn dọc đường biên giới đất liền hồi năm 1979 và đụng độ tại Trường Sa ở Biển Ðông năm 1988 - được cho như một sự hòa hoãn đáng hoan nghênh, nhưng nó chưa phải là giải pháp lâu dài. Thỏa thuận này, nói một cách giản lược nhất, là thỏa thuận tiếp tục đối thoại với nhau về vấn đề Biển Ðông. Tuy chưa phải là đột phá, nhưng có đối thoại còn hơn là không đối thoại.”

Thứ đến, chuyến công du Ấn Ðộ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Việt Nam và Ấn Ðộ đồng ý mở đối thoại an ninh hai năm một lần; tăng hơn gấp đôi kim ngạch thương mại từ mức 2.7 tỷ đô la lên thành 7 tỷ đô la vào năm 2015, đồng thời thúc đẩy đầu tư hai chiều. Hai bên cũng nhất trí tăng cường trao đổi trong công tác phòng chống khủng bố.

Thủ Tướng Manmohan Singh của Ấn Ðộ mô tả mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam là một yếu tố của hòa bình, ổn định, và phát triển trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Ngày 12 tháng 10, thủ tướng Ấn Ðộ và chủ tịch nước Việt Nam đã chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận giữa công ty dầu khí quốc doanh ONGC Videsh của Ấn Ðộ với Tập đoàn Dầu khí PetroVietnam có hiệu lực trong 3 năm, bao gồm các dự án đầu tư, khai thác, và cung cấp dầu khí.

Trung Quốc phản đối dự án này.

Ấn Ðộ thuộc Tiểu lục địa Ấn Ðộ nằm ở phía Nam Châu Á cùng với Afganistan, Pakistan, Bangladesh, Nepal và vài nước nhỏ khác như Bhutan, Sikkim, Sri Lanca, Maldives. Là nền kinh tế lớn thứ 9 của thế giới, dân số 1.2 tỉ, thu nhập đầu người thấp hơn 3,000 đô la, vẫn thuộc khối Nam. Quan hệ Việt Nam-Ấn Ðộ chỉ là hợp tác Nam-Nam, nên tầm quan trọng không nhiều lắm.

Rời Ấn Ðộ, ông Trương Tấn Sang đi thăm Sri Lanka, có tính cách ngoại giao.

Sau cùng, gây chú ý là thủ tướng Ðức bà Angela Merkel Merkel đến thăm Việt Nam ngày 12 tháng 10, 2011.

Hai bên ra tuyên bố chung tại Hà Nội “Việt Nam và Ðức - đối tác chiến lược về tương lai.” Hai bên không chỉ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế-thương mại; mà còn cả trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, giáo dục, khoa học... Nhưng qua cuộc họp báo ở Hà Nội, Việt Nam chỉ nhấn mạnh đến hợp tác kinh tế-thương mại, giáo dục và văn hóa; còn lĩnh vực chính trị, luật pháp ông Nguyễn Tấn Dũng tìm cách tránh né.

Cũng như Hoa Kỳ và nhiều nước trong Cộng đồng Âu Châu, bà Merkel nhấn mạnh: Ðể phát triển, Việt Nam phải tôn trọng quyền con người, tự do báo chí và tự do tôn giáo.

***

Trong khi ba sự kiện chính trị quan trọng Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh, Trương Tấn Sang đi Ấn Ðộ và Merkel đến Việt Nam, thì phía Mỹ bà Ngoại Trưởng H. Clinton cho đăng bài xã luận trên tạp chí Chính Sách Ngoại Giao (Foreign Policy) khẳng định:

Khai phá đà tăng trưởng và sức năng động của Châu Á-Thái Bình Dương là lợi ích trung tâm về kinh tế và chiến lược của Mỹ và ưu tiên quan trọng cho Tổng Thống Obama.

Mở cửa thị trường ở Châu Á cho Hoa Kỳ những cơ hội chưa từng có về đầu tư, thương mại, đường vào kỹ-thuật-cao của Mỹ.

Phục hồi kinh tế Mỹ sẽ phụ thuộc vào xuất khẩu và khả năng của các công ty Mỹ khai thác thị trường tiêu dùng rộng lớn và ngày càng tăng của khu vực Châu Á.

Về mặt chiến lược, duy trì hòa bình và an ninh ở Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng quan trọng cho tiến bộ toàn cầu, qua tự do hàng hải, chống chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên; hay đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động quân sự của các đối thủ quan trọng của khu vực.

Chính vì Châu Á là quan trọng đối với tương lai của Mỹ, nên vai trò Mỹ tham gia là quan trọng đối với tương lai của Châu Á. Ðiều này thúc đẩy vai trò lãnh đạo và mậu dịch của Mỹ - có lẽ là ghê gớm hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử hiện đại.

Trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ, đặc trách Á Châu-Thái Bình Dương Kurt Campbell khai triển rõ hơn ở Ðại Học Choulalongkorn (Bangkok).

Ðề cập đến vấn đề tế nhị về mối tương quan giữa các nước trong khu vực với một cường quốc đang lớn mạnh là Trung Quốc, trợ lý ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell nói:

Ðiểm quan trọng ở đây là chiến lược địa lý của từng quốc gia trong bang giao với Trung Quốc. Hoa Kỳ hiểu rõ sự cố gắng cải thiện bang giao giữa từng nước đối với Hoa lục và luôn ủng hộ nỗ lực đó.

Về tình hình khá phức tạp và nhạy cảm tại vùng biển Nam Trung Hoa, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Kurt Campbell nói tiếp:

Hoa Kỳ muốn khẳng định không thể đứng về phía nào, mà chỉ có thể khuyến khích cổ vũ cho những cuộc họp hoặc những vòng đối thoại để giải quyết vấn đề, đồng thời hoan nghênh thái độ thận trọng, tự chế của từng quốc gia.

***

Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) đang vươn mình trở thành tổ chức hợp tác vùng để cùng nhau phát triển với mẫu số chung là Dân Chủ.

Việt Nam lỗi nhịp ASEAN, bơ vơ lạc đàn giữa chợ đời thế giới, không bắt kịp lịch sử loài người.

Làm theo Miến Ðiện mới là đi vào sinh lộ, thoát tử lộ.

Chung qui chỉ vì không sớm chịu học hai “nốt nhạc” Nhân Quyền và Dân Chủ mà ra nông nỗi này.

Tháng 10, 2011

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trung Quốc cô lập ở Á Châu
Tuesday, October 18, 2011 6:33:22 PM

Ngô Nhân Dụng

Mọi người Việt Nam đều muốn những tranh chấp với Trung Quốc trong vùng Biển Ðông phải được đưa ra quốc tế, không thể chỉ nói chuyện riêng giữa hai bên.

Trong thực tế, rất nhiều nước vì quyền lợi riêng của họ, đã can dự vào vùng biển này. Trung Quốc đang có thêm nhiều đối thủ, và mất bớt bạn bè, nếu họ đã có.

Chính Bắc Kinh đã gây nên tình trạng này. Năm 2010, họ đi ngược lại khẩu quyết “Thao quang dưỡng hối” của Ðặng Tiểu Bình. Họ tuyên bố vùng Ðường Chín Ðoạn, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc loại quyền lợi cốt lõi. Trước đây chỉ có Ðài Loan và Tây Tạng được xếp trong loại này. Chủ trương như vậy không khác gì coi cả vùng biển Ðông Nam Á thuộc vào Trung Quốc, như Tây Tạng, Ðài Loan. Trung Quốc đã bày tỏ những thái độ hung hăng nhiều lần hơn trước. Họ đã cấm xuất cảng sang Nhật một nguyên liệu cần thiết cho việc sản xuất ngành điện tử, gọi là “đất hiếm,” mà Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất, gần như độc quyền. Không những Nhật mà Mỹ và Nam Hàn, Ấn Ðộ cũng phải lo ngại tìm cách giảm bớt tình trạng lệ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên liệu từ Trung Hoa. Bắc Kinh lại cho người biểu tình phản đối việc Nhật Bản bắt giam một thuyền trưởng xâm phạm vùng đảo Senkaku, mà người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài. Trước kia họ không có những hành động gây căm thù mạnh mẽ như vậy. Người thuyền trưởng được tự do, mà ai cũng biết thế nào cũng được trả về. Nhưng người ta lo sợ không biết Bắc Kinh sẽ còn muốn gì khác.

Trung Quốc lại tạo thêm tình trạng căng thẳng với Ấn Ðộ. Họ đưa quân sang giúp Pakistan xây dựng những căn cứ chiến lược ở vùng Kashmir, mà nước Pakistan đang chiếm đóng trong cuộc tranh chấp kéo dài hơn nửa thế kỷ với Ấn Ðộ. Trung Quốc cũng xây dựng những quân cảng cho Miến Ðiện và Pakistan; cả hai đều nhòm ngó vào vùng biển của Ấn Ðộ, ở hai phía Ðông và Tây. Hải quân Trung Quốc sẽ được phép sử dụng các hải cảng này khi cần thiết. Trung Quốc cũng nhắc lại Ấn Ðộ phải trả cho họ vùng đất thuộc tiểu bang Arunachal Pradesh giáp giới hai nước. Trung Quốc vẫn coi vùng này thuộc quyền của họ, mà họ gọi là Nam Tây Tạng; một lý do họ nêu lên là trong đó có sinh quán của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Một cuộc tranh chấp âm ỉ nửa thế kỷ đã được hâm nóng lại, không do một nguyên nhân trực tiếp nào.

Những hành động gây hấn cụ thể và trắng trợn nhất là đối với Việt Nam. Tầu đánh cá của nước ta bị tấn công, các ngư dân bị bắt cóc đòi tiền chuộc. Ðến năm 2011, Trung Quốc còn đi cắt dây cáp của các con tầu do Petro Việt Nam thuê thăm dò đáy biển. Phi Luật Tân cũng bị đe dọa khi khai thác dầu khí trong vùng biển của mình. Nhưng tại quốc gia nhỏ bé với dưới 7 triệu dân là nước Lào, Trung Quốc cũng đụng chạm khiến chính phủ Lào phải phản đối. Lợi dụng chương trình viện trợ phát triển, Trung Quốc đã đòi được đưa sang Lào 300,000 công nhân và sau này sẽ khó đuổi đi. Người Trung Hoa tới thị xã Boten gần biên giới để xây dựng trạm đầu tiên trên tuyến đường sắt nối các nước Ðông Nam Á và Trung Quốc. Họ đã biến Boten thành một thị trấn Tầu, mở khách sạn, mở mang du lịch, mở casino làm băng hoại xã hội chung quanh. Khi chính phủ Lào bị dân chúng biểu tình phản đối đã phải đóng cửa casino, đuổi bớt người Trung Hoa về nước, Trung Quốc đã trừng phạt bằng cách ngưng viện trợ, không xây một cây cầu băng qua sông Mekong đã đồng ý giúp. Tại Campuchia, Trung Quốc vẫn mua chuộc bằng tiền bạc, họ xây tặng một dinh thủ tướng mới. Ông Hunsen vui vẻ đồng ý, nhưng khi xây dựng xong ông ta không dùng.

Các hành động của Trung Quốc khiến thế giới phải đặt câu hỏi về tham vọng lâu dài của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Ðặc biệt là các nước lớn, như Mỹ, Ấn Ðộ và Nhật Bản.

Một bản báo cáo của Bộ Quốc Phòng Mỹ cho biết trong một thập niên vừa qua, Trung Quốc đã thay đổi quân đội hoàn toàn. Từ một quân đội hoàn toàn trên bộ, nhắm vào việc bảo vệ vùng bờ biển, họ biến thành một guồng máy chiến tranh hướng ra ngoài. Tăng cường hải quân, phi đạn chống tầu thủy, phi đạn bắn xa trên 1,500 cây số và các hỏa tiễn liên lục địa, vệ tinh nhân tạo, phi cơ tàng hình, và các vũ khí điện tử tinh vi mới.

Người ta phải nhắc lại trong quá khứ Trung Quốc đã từng tiến quân sang các nước láng giềng theo châm ngôn “Tiên hạ thủ vi cường.” Năm 1950 họ đưa hàng triệu “chí nguyện quân” sang Hàn Quốc khi quân Mỹ và Liên Hiệp Quốc phản công sắp tiêu diệt chế độ cộng sản ở Bắc Hàn. Trung Quốc đã tấn công Ấn Ðộ trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1962. Năm 1974 đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm 1979 tấn công các tỉnh biên giới Bắc Việt; năm 1988 hải quân của họ lại tấn công các đảo ở Trường Sa giết thêm 80 chiến binh Việt Nam.

Trước lịch sử đó, tự nhiên, các nước chung quanh phải lo đề phòng. Mối bang giao đang phát triển mạnh nhất ở Á Châu là giữa Ấn Ðộ và Nhật Bản; các nước khác cũng liên kết với nhau, và kết thân với Mỹ.

Nhật Bản đang theo một bản Hiến Pháp hòa bình do Mỹ lập ra sau Thế Chiến Thứ Hai, cho nên trên nguyên tắc không có quân đội mà chỉ có một “đạo quân tự vệ.” Ngày Chủ Nhật 16 Tháng Mười vừa qua, trong một cuộc duyệt binh tại căn cứ không lực Hyakuri, Thủ Tướng Nhật Yoshihito Noda đã báo động, “Tình trạng an ninh bao trùm đất nước chúng ta càng ngày càng nhiễu nhương vì những hành động leo thang của Trung Quốc trên mặt biển và sự bành trướng quân lực của họ.” Ông vạch ra mối lo lớn nhất của Nhật là sự phát triển quân sự của Trung Quốc được che giấu chứ không minh bạch như ngân sách quốc phòng công khai của các nước tự do dân chủ.

Thứ Sáu tuần trước, Ngoại Trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba đã thăm Indonesia, cùng với Ngoại Trưởng Marty Natalegawa ký kết những hiệp ước hợp tác. Cả hai kêu gọi tăng cường an ninh vùng biển Ðông Nam Á để đáp lại với sự bành trướng của nước Trung Hoa. Năm ngoái, dưới thời một vị thủ tướng khác cùng đảng, Nhật Bản đã công bố một bản sách lược quốc phòng, kêu gọi chuyển hướng từ chủ trương thụ động sang tích cực hơn. Sách lược này cũng coi Trung Quốc là đối tượng, thay thế vai trò nước Nga từ thời chiến tranh lạnh. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, đứng hàng thứ nhì sau nước Mỹ, đã tăng thêm 13% trong 12 tháng tới; trong khi ngân sách quân sự của Nhật đã giảm ngân sách liên tục trong suốt mười năm qua.

Chúng ta biết rằng nếu cần tái vũ trang thì Nhật Bản sẽ không phải chờ đợi lâu. Guồng máy sản xuất công nghiệp của Nhật dư khả năng để tăng cường quân lực. Với GDP trên 5 ngàn tỷ Mỹ kim, lợi tức theo đầu người ở Nhật hiện vẫn lớn bằng gần 10 lần dân chúng Trung Quốc. Mặc dù chỉ có nhiệm vụ phòng thủ, Hải quân Nhật hiện nay vẫn lớn mạnh nhất Á Châu.

Ðối với Ấn Ðộ, quan hệ với Trung Quốc chưa bao giờ thân thiện, cho tới khi hai nước mở mang việc giao thương để cùng lo phát triển kinh tế. Sau mười năm, hiện nay Trung Quốc là bạn hàng buôn bán lớn nhất của Ấn Ðộ. Hải quân Ấn Ðộ hiện đứng hàng thứ 5 trên thế giới. Trung Quốc mới khai trương một hàng không mẫu hạm còn Ấn Ðộ đã có một chiếc mẫu hạm từ lâu, và tới năm 2020 sẽ thêm 3 mẫu hạm khác. Trong tuần trước, Ấn Ðộ đã quyết định đưa giàn hỏa tiền BrahMos tới tiểu bang Arunachal Pradesh vùng Ðông Bắc, nơi Trung Quốc vẫn coi thuộc về họ. Trước đây, chỉ có ba giàn BrahMos ở phía Tây, vùng biên giới Pakistan. Ấn Ðộ và Nga đã đồng ý sẽ bán loại hỏa tiễn này cho Việt Nam. Tên gọi hỏa tiễn cộng tác chế tạo ghép tên hai con sông lớn của hai nước, Brahmaputra và Moskva.

Trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Á Châu, Ấn Ðộ phải phản ứng, đã tăng cường các cuộc thao diễn hải quân với các nước Singapore, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam. Năm 2005, Ấn Ðộ đã tham dự các cuộc họp Thượng Ðỉnh Á Ðông mặc dù họ ở phía Nam Châu Á; và năm 2008 đã ký các thỏa ước tự do mậu dịch với các nước ASEAN. Úc, Nam Hàn cũng tham dự vào các diễn đàn này vì quyền lợi thiết thực.

Cuối cùng, Trung Quốc sẽ không phải chỉ lo về các nước Ðông Nam Á và lực lượng hải quân của Mỹ, mà trước hết phải đối đầu với Nhật Bản và Ấn Ðộ. Nếu có một cuộc chạy đua vũ trang ở Á Châu, thì hai quốc gia này sẽ chạy rất nhanh. Mà nguyên nhân chính là do thái độ hung hăng của Bắc Kinh trong mấy năm qua. Ðộng cơ của giới lãnh đạo Bắc Kinh có thể nằm trong nội tình Trung Quốc. Sau khi từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin, họ cần một nền tảng tinh thần mới để tác động người dân lục địa; và họ chọn chính sách đề cao chủng tộc. Hơn nữa, khi được khích động như thế, người ta có thể quên những cảnh bất công trong xã hội, nạn tham nhũng, và cảnh mất tự do dưới một chế độ độc tài chuyên chế. Với quá khứ chịu nhục nhã suốt từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, người dân Trung Hoa rất dễ bị khích động với lòng yêu nước và tự hào về nền văn minh Trung Hoa cổ truyền.

Tham vọng bành trướng của Trung Quốc có thể so sánh với tinh thần dân Nhật sau thời Minh Trị. Ở Nhật, nó đã đưa tới một chế độ quân phiệt và chủ trương xâm lăng các nước chung quanh. Nhưng Trung Quốc hiện nay sống trong một thế giới khác nước Nhật vào đầu thế kỷ 20. Một trăm năm trước, Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã vươn lên theo kịp nhờ học hỏi các kỹ thuật các nước Tây phương. Ngày nay, khi Trung Quốc vươn lên, họ đã đi bước sau, còn lo đuổi sao cho kịp mức phát triển của Nam Hàn, Ðài Loan, Nhật Bản. Trong lúc đó, chính sách ngoại giao của Bắc Kinh chỉ khiến cho các nước Á Châu phải tìm đường kết thân với nhau, và ai cũng trông cậy vào Mỹ trong lúc đề phòng Trung Quốc. Trung Quốc thay đổi kinh tế theo đường lối tư bản đã thay đổi bản đồ địa lý chính trị trong vùng Á Ðông. Nhưng thái độ hung hăng của họ trong mấy năm qua hoàn toàn gây thiệt hại cho chính họ. Khi chính phủ một nước nhỏ như Lào mà cũng đứng lên phản đối chính sách “viện trợ” của nước láng giềng vĩ đại; khi ông Hunsen lẳng lặng xây dinh khác để ở; thì chúng ta hiểu Bắc Kinh không nên theo đuổi chính sách “bá quyền.”

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Các con trai của ông Gadhafi “đã bị bắt”

(Dân trí) - Theo nhiều nguồn tin, hai người con trai của ông Gadhafi là Saif al-Islam và Mutassim Gaddafi đã bị lực lượng chính quyền mới bắt giữ.

Image

Thủ tướng lâm thời Libya Mahmoud Jibril cho biết trong cuộc họp báo tại Tripoli ngày 20/10, ông đã nhận được thông tin chưa được chứng thực rằng người con trai nổi bật nhất của ông Gadhafi, Saif al-Islam, đã cố gắng trốn khỏi Sirte, nhưng đã bị lực lượng chính quyền mới bắt giữ. Nhiều thông tin sau đó cũng cho biết Saif đã bị thương và đã bị bắt.

Trong khi đó, có thông tin khác nhau về số phận của người con trai Mutassim Gadhafi.

Hãng tin Reuters cho biết một nguồn tin của hãng này đã nhìn thấy đoạn video cho thấy Mutassim nằm trên giường, và người dính đầy máu. Tuy nhiên, Mutassim vẫn sống.

Mahmoud Shammam, Bộ trưởng Thông tin của Hội đồng chuyển tiếp quốc gia (NTC) cho biết ông đã nhận được thông tin Mutassim bị bắt sống ở Sirte. Song ông không thể khẳng định được tin này.

Tuy nhiên, Mohamed Leith, một chỉ huy của NTC cho biết Mutassim đã bị giết chết.

“Chúng tôi tìm thấy ông ta đã chết. Chúng tôi đã đưa thi thể của ông ta và của cựu Bộ trưởng quốc phòng Abu Bakr Younus lên một chiếc xe cứu thương và đưa tới Misrata”.

Trước đó, trong ngày 20/10, đã xuất hiện hình ảnh cho thấy thi thể của ông Younus.

Abdul Hakim Al Jalil, chỉ huy lữ đoàn 11 của NTC, cho biết người phát ngôn của chính quyền ông Gadhafi, Moussa Ibrahim, cũng đã bị bắt gần Sirte.

Cũng bị bắt còn có Ahmed Ibrahim, cháu của Gadhafi.

Phan Anh
Theo Reuters, aljazeera

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đưa Quân Vào Uganda Làm Gi?
Nguyễn Xuân Nghĩa
Những mục tiêu của một cuộc phiêu lưu mới...

Hôm 14 Tháng 10, Tổng thống Barack Obama thông báo quyết định sẽ đưa vào Uganda một lực lượng biệt kích khoảng trăm người với nhiệm vụ yểm trợ chính quyền xứ này truy lùng lãnh tụ Joseph Kony của một lực lượng phiến loạn và khủng bố xưng danh "Quân Kháng Chiến của Thiên Chúa" (the Lord's Resistance Army - LRA).

Chưa đầy một tuần sau, Ngoại trưởng Hillary Clinton bất ngờ vào Tripoli gặp gỡ lực lượng nổi dậy chống lại chế độ Moammar Gaddafi của Libya rồi thăm viếng A Phú Hãn và Pakistan. Bà chưa đến Paskistan thì đã có tin Gaddafi bị bắn hạ vào ngày 20. Xuất phát từ các viên chức của Hội đồng Chuyển tiếp NTC của phe nổi dậy, có hai nguồn tin khác nhau về cái chết của Gaddafi: bị Minh ước NATO oanh kích trên đường tháo lui khỏi cứ điểm cuối cùng là thành phố Syrte, hoặc bị phe nổi dậy bắn hạ bằng vũ khí cá nhân trong một cuộc giao tranh cuối cùng.

Rất khéo léo, cho đến chiều ngày 20, giờ miền Đông nước Mỹ, Chính quyền Hoa Kỳ vẫn thủ vai vô can và chưa chính thức xác nhận tin này. Nhưng hầu hết các giới chức chính trị đều coi rằng chế độ Gaddafi đã kết thúc sau tám tháng cầm cự. Cũng chính biến cố ấy lại dẫn ta đến câu hỏi, sau Libya, Hoa Kỳ tính gì tại Uganda?

Hôm 18, nhật báo chuyên đề về kinh doanh xuất bản từ Los Angeles là tờ Investor's Business Daily, theo khuynh hướng bảo thủ về chính trị và tự do về kinh tế, đã có bức hý họa của Michael Ramizez về quyết định này. Đại lược thì từ Toà Bạch Ốc có lời phát biểu ám chỉ là của Tổng thống: "Xứ Iran đã có thành tích yểm trợ việc sát hại binh lính Mỹ. Âm mưu vừa qua là một hành động tuyên chiến. Vì vậy chúng ta phải đưa lính... qua Uganda!"

Tại sao không can thiệp vào Iran - hoặc trì hoãn việc rút quân khỏi Iraq – mà lại đưa quân vào Uganda?

Âm mưu được tờ IBD nhắc tới ở đây là việc Iran cho mật vụ hợp tác với tổ chức ma túy tại Mexico để đưa người vào ám sát Đại sứ Saudi Arabia tại Hoa Kỳ và thi hành một số hành động khủng bố. Âm mưu này đã được Tổng trưởng Tư pháp và Giám đốc FBI long trọng trình bày trong cuộc họp báo ngày 11 Tháng 10 với quyết định truy tố một nghi can. Bài này không đề cập đến hồ sơ Libya hay Iran – xin để một kỳ khác! – mà nói về Uganda.

Chỉ vì tờ IBD có thể đã nhận định sai về động lực thật của Chính quyền Obama khi mở ra một cuộc chiến khác tại khu vực Trung Phi sau quyết định can thiệp vào Libya. Động lực này là gì?


Có thể là để bảo vệ an ninh trong khu vực, mở rộng quan hệ thương mại, chặn đường Trung Quốc và tranh thủ một số hậu thuẫn cho nhu cầu bầu cử. Chúng ta sẽ tìm hiểu về chuyện đó, sau khi nhắc lại hồ sơ Uganda.

***
Uganda có 32 triệu dân, lãnh thổ bị khóa trong đất liền ở miền Đông Phi Châu. Theo chiều kim đồng hồ thì giáp giới với Kenya ở phía Đông, với hồ Victoria và xứ Tanzania ở phía Nam, rồi Rwanda, Cộng hoà Dân chủ Congo ở phía Tây và quốc gia mới giành lại nền độc lập từ đầu năm nay là Nam Sudan. Về địa dư, xứ này là một bình nguyên nằm trên thượng nguồn sông Nile và các mặt hồ rất lớn của Phi Châu, có khí hậu nhiệt đới, dân nghèo, nước nhỏ nhưng lại có nhiều tài nguyên chưa khai thác.

Một cái may mà cũng là cái rủi!
Sau khi lãnh tụ độc tài Idi Amin Dada bị lật đổ, từ giữa thập niên 1980, một nhóm phiến loạn xưng danh Thiên Chúa nổi dậy tranh hùng với chế độ của Tổng thống Yoweri Museveni. Xuất phát từ bộ tộc Acholi, nhóm phiến loạn do một kẻ tự xưng là phát ngôn nhân của Thiên Chúa - thực ra là của Chúa Thánh Thần – lãnh đạo từ năm 1987 đã gieo rắc nhiều tai họa cho cả Uganda lẫn các nước phụ cận. So sánh với "Quân kháng chiến của Thiên Chúa" và lãnh tụ Joseph Kony thì chế độ Museveni tại thủ đô Kampala tương đối ít tệ hơn, nên được các nước Tây phương yểm trợ trong mấy chục năm liền của nội chiến, tàn sát và chà đạp nhân quyền ở mọi nơi.

Dù đã được chính quyền Sudan ở miền Bắc yểm trợ, sau mấy chục năm tung hoành, nhóm phiến loạn LRA bị tiêu hao lực lượng và nay chỉ còn ba bốn trăm tay súng. Sudan là quốc gia rất lớn ở phía Bắc, cũng lâm vào nội chiến và dân chúng miền Nam đã trưng cầu dân ý để thành lập một quốc gia riêng là Nam Sudan, nơi tập trung rất nhiều tài nguyên.

Ẩn náu ở bên ngoài Uganda, lãnh tụ Kony chuyển dần quyền hành cho các tổ đặc công lẩn khuất trong những vùng hẻo lánh của Cộng hoà Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan, và một vài cứ điểm nhỏ trong lãnh thổ Sudan. Ông ta chỉ là con cá nằm trong lưới...

Từ 2008, Chính quyền George W. Bush đã viện trợ gần 500 triệu Mỹ kim và đưa qua Uganda 17 cố vấn để giúp chế độ Museveni tiêu diệt các thủ lãnh của phiến quân LRA. Tháng Năm năm ngoái, Quốc hội Mỹ trong tay đảng Dân Chủ còn biểu quyết một đạo luật "Giải giới LRA và Vãn hồi miền Bắc Uganda" và đưa tên tổ chức LRA cùng lãnh tụ Joseph Kony vào danh sách khủng bố. Đạo luật cũng cho phép lập ra một chương trình hợp tác về tình báo và yểm trợ quân sự cho chế độ Kampala. Về tình báo thì có các phương tiện hiện đại nhất, kể cả máy bay thám thính không người lái loại RQ-11 Raven nhỏ như một đồ chơi trẻ em, về quân sự thì cung cấp trực thăng, chiến cụ và cố vấn về kỹ thuật chống khủng bố....

Với việc tăng phái 100 cố vấn là biệt kích chuyên về kỹ thuật chống khủng bố, Chính quyền Obama không làm gì khác, hoặc trái, với những quyết định của Chính quyền Bush và Quốc hội. Nhưng có hy vọng xoay chuyển tình hình trong cả khu vực, trên lý thuyết thì với rất ít phí tổn.

Chúng ta nên nhìn rộng ra ngoài thì càng hiểu rõ hơn quyết định ấy.
Từ nhiều năm qua, Uganda và hai nước lân bang là Rwanda và Cộng hòa Dân chủ Congo vẫn thường phối hợp hoạt động chống lại phiến quân LRA. Nhóm cố vấn Mỹ sẽ vào tăng cường khả năng phối hợp này giữa các nước, và tại chỗ theo dõi mọi hành tung của phiến quân LRA. Nếu nhìn vào địa dư hình thể thì người ta có thể hiểu ra lợi thế của việc tham dự - hay can thiệp, tùy cách gọi.

***
Đây là cơ hội cho Hoa Kỳ mở ra một nan quạt rất rộng để kiểm soát an ninh trong một khu vực trực tiếp liên hệ đến các nhóm khủng bố Hồi giáo hoạt động tại Đông Phi Châu và vùng Sừng Phi Châu, nhất là nhóm khủng bố al Shabaab tại Somalia. Chính quyền Uganda đã góp quân cho lực lượng truy lùng khủng bố tại Somalia là "African Union Mission", vì vậy mới được Hoa Kỳ viện trợ. Và nay sẽ được đền bù công lao với đợt tăng phái thật ra rất nhỏ chỉ có 100 cố vấn.

Uganda là hàng lang tiến vào mạn Bắc xứ Kenya và miền Nam Somalia nên sự can thiệp của Mỹ có nhắm vào việc truy lùng khủng bố al Shabaab và kiểm soát một khu vực rộng lớn của Sừng Phi Châu, lên tới Djibouti và trổ ra biển, nơi hải tặc vẫn tung hoành.

Uganda còn là vùng tiếp cận với Nam Sudan, một quốc gia ly khai khỏi Sudan do sự yểm trợ của quốc tế - và Hoa Kỳ. Việc tăng cường hợp tác với Uganda là một cách trợ giúp Nam Sudan, một khu vực có nhiều tài nguyên dầu khí và đang tìm đường chuyển vận ra ngoài mà khỏi đi qua mạn Bắc, của nước Sudan độc tài và can tội diệt chủng.

Vì vậy, Hoa Kỳ thực tế can thiệp vào tình hình Sudan để bảo vệ miền Nam tương đối dân chủ hơn, trù phú hơn và cũng thân Tây phương hơn.

Với việc yểm trợ Uganda, Hoa Kỳ còn tăng cường mối quan hệ về an ninh và tình báo với Rwanda và Cộng hòa Dân chủ Congo và có thể kiểm soát chặt chẽ hơn tiến trình cải cách – và giải trừ tham nhũng - của chế độ Museveni.

Còn lại, lực lượng LRA đang bị khoanh gọn và lãnh tụ Joseph Kony chỉ như cá nằm trong rọ, có thể bị bắt giữ hoặc bị bắn hạ, một thành tích không nhỏ trong mùa bầu cử tại Hoa Kỳ.
Nhưng mục tiêu không chỉ có thế.

Khu vực hoang vu, rộng lớn và nhiễu nhương này còn có mạng lưới thương mại và kinh tế gọi là "Cộng đồng Đông Phi", với trung tâm là Uganda, nơi có trữ lượng dầu hỏa là 2,5 tỷ thùng, bên cạnh một mỏ đồng cực lớn tại Cộng hoà Dân chủ Congo và nhiều thứ hiếm quý khác như kim cương, quặng sắt và... bauxite!

Dầu khí tại Nam Sudan, tài nguyên chưa khai thác của Cộng đồng Đông Phi và của Uganda làm nhiều quốc gia Á châu thèm thuồng, từ Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ đến Trung Quốc, nhất là Trung Quốc. Trong khu vực, Trung Quốc là nơi xuất phát các khoản đầu tư hay viện trợ béo bở - vô điều kiện về nhân quyền hay dân chủ - mà nước Mỹ dân chủ không thể cạnh tranh nổi! Chính quyền Museveni vừa bị Quốc hội Uganda đả kích là cho tay chân yểm trợ các dự án dầu khí của Bắc Kinh.

Làm ăn với một chế độ độc tài và tham nhũng, hoặc đút lót cho một hợp đồng đầu tư có lời, v.v... là những điều phi pháp và thất nhân tâm ở nhà. Các doanh nghiệp Mỹ bị kẹt vì lý luận "tư bản chủ nghĩa hợp tác với chế độ độc tài để bóc lột các nước nhược tiểu", Bắc Kinh thì không bị vậy!

Hoa Kỳ phải đi ngả khác!

***
Dù là con trai của một người Kenya, Barack Obama đã từng bị phê phán là không mấy quan tâm đến Phi châu.

Việc can thiệp vào Libya còn gây phản ứng ngược là ác cảm của nhiều nước miền Nam sa mạc Sahara, vốn dĩ gắn bó từ lâu với Gaddafi mà họ coi là một người hùng Phi châu! Việc can thiệp - thực tế là lâm chiến - mà không thông qua Quốc hội cũng bị một số dư luận coi là vi hiến.

Khi chế độ Gaddafi bị rung chuyển và sẽ sụp đổ, Chính quyền Obama mở ra một hồ sơ do vị tiền nhiệm tiến hành từ trước, với sự đồng ý của Quốc hội, đó là Uganda. Đảng Cộng Hoà chỉ có thể vỗ tay hưởng ứng, và sẽ không mấy vui nếu Joseph Kony gặp số phận của Gaddafi ngay trước khi dân Mỹ đi bầu! Nhưng chính là Bắc Kinh mới thấy khó chịu nhất về quyết định này của Đế quốc Mỹ! Sau khi bị hất cẳng tại Libya, Thiên triều sẽ nhìn vào mạng lưới dẫn dầu từ Nam Sudan qua Uganda với niềm nuối tiếc.

Còn lại, chuyện xây dựng quốc gia và phát huy dân chủ cho Libya là một chương khác. Việc đối phó với Iran cũng vậy!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Qaddafi: Chế độ độc tài nào cũng sẽ chết
Friday, October 21, 2011 7:12:51 PM

Ngô Nhân Dụng

Các chế độ độc tài sớm muộn thế nào cũng sẽ bị lật đổ, nhưng ở mỗi nước có thể chấm dứt một cách khác nhau. Khi Mùa Xuân Á Rập bắt đầu từ Tunisie lan tới Ai Cập, nhiều người đã liên tưởng ngay đến những cuộc cách mạng nhung lật đổ chế độ cộng sản ở Ðông Âu.

Không phải cuộc cách mạng nào cũng bọc nhung. Tunisie và Ai Cập kết thúc ách độc tài một cách êm đềm giống Ðông Ðức, Ba Lan, Tiệp Khắc. Ðến bây giờ Libya kết thúc giống kiểu Romanie.

Một điều khác biệt là Nicolae Ceau escu bị đem ra xử nhanh chóng trong vòng bí mật rồi bị hành quyết. Còn Gaddafi sau khi bị bắt ngoài mặt trận, đã bị bắn chết. Nhờ thế, có lẽ hàng ngàn người Libya giữ được mạng sống. Nếu chờ đến khi đưa ông ta ra tòa rồi treo cổ như Saddam Hussein thì tàn quân của ông ta sẽ còn kháng cự lâu hơn.

Năm 2008, Qaddafi còn tiếp kiến bà Condoleezza Rice (và sau đó tiết lộ ông “phải lòng” bà ngoại trưởng Mỹ xinh đẹp). Năm 2009, ông ta còn đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, lần đầu tiên và lần duy nhất. Sau khi nói 15 phút như mọi vị nguyên thủ quốc gia khác được phép sử dụng, ông tiếp tục nói thêm 80 phút nữa; coi cả thế giới cũng phải ngoan ngoãn lắng nghe như dân Libya dưới quyền mình. Năm ngoái, ông còn công du sang Roma một cách vẻ vang. Thoáng chốc, tất cả trở về cát bụi.

Trong thế kỷ 20 khi nhiều nước giành lại độc lập, có những nước lo xây dựng các định chế chính trị, xã hội làm nền tảng lâu dài; những nước khác thì có các “lãnh tụ anh minh” xuất hiện đóng vai “anh hùng cứu quốc”. Một trong những Người Hùng đó là ông Qaddafi.

Sau khi ông Qaddafi chết, nước Libya sẽ ra thế nào, chưa ai biết chắc. Di sản của ông là một xã hội phân liệt, chỉ có dầu lửa phong phú ngoài ra không có một thứ gì khác để sống như một quốc gia. Những người cầm đầu cuộc nổi dậy chỉ chia sẻ một ý chí, là lật đổ Qaddafi; ngoài ra chưa biết họ sẽ làm gì với di sản ông ta để lại. Vì họ không được chuẩn bị. Cả nước Libya không được chuẩn bị, sau 42 năm sống dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt.

Qaddafi rất giống những Người Hùng thuộc thế hệ trước ông, những Fidel Castro (còn sống), Pol Pot (đã chết), giống cả Mao Trạch Ðông, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật; hay xa hơn nữa, Stalin, Hitler. Họ lật đổ trật tự xã hội cũ và kêu gọi người dân theo mình bằng giấc mộng xây dựng một quốc gia hùng cường trên những nền tảng hoàn toàn mới. Qaddafi chọn cho mình những danh hiệu như Giảng sư (Imam) của Thế giới Hồi Giáo; Nhà Ðại Cách Mạng; Khoa Trưởng của các Nhà Cai trị Á Rập; Anh Cả Lãnh đạo (khi cướp chính quyền, Ðại Tá Qaddafi chưa đầy 30 tuổi; nếu già hơn vài chục tuổi chắc ông ta cũng muốn được tôn xưng là Bác, hay là Cha già Dân tộc).

Qaddafi cũng đề cao một chủ nghĩa quốc tế, không tự giới hạn mình trong phạm vi quốc gia, quá chật hẹp. Ông ta cũng tuyên bố một thứ Chủ nghĩa Xã hội; giống như Hitler cũng dùng cái tên hấp dẫn này. Dưới danh nghĩa một chủ nghĩa xã hội, ông cũng tịch thâu tài sản của tư nhân, một cách vừa tích lũy tiền bạc trong tay vừa bắt mọi người phải chịu làm nô lệ cho guồng máy ban phát cơm áo, nhà cửa và các thứ ân huệ khác. Theo gương của Stalin và Mao, Qaddafi biết rằng khi kiểm soát được nồi cơm là có phương pháp kiểm soát toàn thể xã hội hữu hiệu nhất. Nhưng nắm đầu kinh tế chưa đủ. Qaddafi cũng tạo ra một guồng máy công an, mật vụ, bắt, giết, tra tấn những người có ý kiến khác. Qaddafi sử dụng guồng máy chuyên chế của mình để nuôi một đám thuộc hạ tham nhũng, tập trung quanh gia đình ông ta; nhờ tài nguyên dầu lửa dồi dào. Giống các bác Mao, bác Kim, Qaddafi bên ngoài rất lãng mạn. Anh Cả đòi sống trong một cái lều. Chung quanh nuôi lạc đà, nuôi dê, cừu theo lối sống cổ truyền của những người du mục. Khi sang New York họp Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, Qaddafi đòi dựng một cái lều để ngủ chứ không vào khách sạn. Khi các dân quân nổi dậy chiếm Tripoli người dân Libya mới khám phá ra cả một cuộc sống xa hoa của gia đình lãnh tụ kính yêu.

Ðể bảo đảm bộ máy kềm chế xã hội, Qaddafi tất nhiên cũng dựng lên một bộ máy nói dối trá tuyên truyền cho chế độ. Theo gương cuốn Sách Ðỏ của Mao Trạch Ðông, ông ta xuất bản cuốn Sách Xanh năm 1975; bắt học sinh, sinh viên học tập “Tư tưởng Gaddafi,” môn học quan trọng nhất trong các khóa trình. Qaddafi ra lệnh mỗi thành phố phải dựng tượng, không phải chỉ có hình ông ta mà cả hình bộ Sách Xanh của “Tư Tưởng Gia Cách Mạng” Qaddafi nữa.

Cũng giống như các bác Kim Chính Nhật, bác Pol Pot và bác Mao, Anh Cả Lãnh đạo Qaddafi phải được tôn thờ, chiếm độc quyền niềm kính ngưỡng của dân chúng. Báo, đài không được nhắc đến, không được in hình một nhân vật nào khác ngoài lãnh tụ anh minh. Cả đến các ngôi sao bóng đá cũng không được đề cao trong các phương tiện truyền thông.

Kinh nghiệm của các quốc gia sống dưới những Người Hùng như Qaddafi cho thấy di sản mà họ để lại là những xã hội tan rã, những quốc gia thiếu nền tảng. Tất cả guồng máy quốc gia được lập ra để phục vụ một cá nhân hay một đảng. Không có một định chế chính trị và xã hội nào đủ cứng cỏi và bền vững để thiết lập một guồng máy cai trị dựa trên luật pháp. Không một nhóm hay một tổ chức xã hội độc lập nào làm môi trường, làm khung cảnh cho người dân tham dự vào việc quốc gia. Cho nên sau khi chế độ độc tài sụp đổ thì thường sinh ra hỗn loạn.

Ở những nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, hoặc ở Nam Hàn, Ðài Loan, ngay trong lúc chế độ độc tài còn cai trị, đã xuất hiện những hạt giống đang nẩy mầm của xã hội công dân. Giới trí thức Hiến Chương 77, Phong trào Công đoàn Ðoàn Kết, hay các tổ chức sinh viên đại học, các công đoàn ở Nam Hàn đều là những tế bào đầu tiên sau này phát triển thành xã hội công dân, nền tảng của chế độ dân chủ. Ở các quốc gia thiếu những mầm mống của xã hội công dân, như Nelorussia, Ukraina, Iraq, hay các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ, sau khi lật đổ chế độ độc tài rồi, việc xây dựng các định chế dân chủ tự do rất khó khăn và chậm trễ.

Ðó là những tấm gương mà người dân các nước sống trong chế độ độc tài phải suy ngẫm. Thay vì chờ đợi những Người Hùng, người lãnh đạo “tài đức vẹn toàn,” một dân tộc hãy lo xây dựng các định chế xã hội công dân ngay để tái thiết quốc gia sau khi lật đổ chế độ độc tài.

Những chính quyền độc tài chuyên chế còn sót lại trên thế giới cũng phải suy nghĩ. Họ muốn được kết thúc trong bàn tay bọc nhung như ở Ðông Ðức, Ba Lan, Tunisie, Ai Cập? Hay họ muốn theo số phận của Ceau escu và Qaddafi? Phải lựa chọn sớm, không thể nào nuôi mãi giấc mộng “muôn năm trường trị” được. Muốn kết thúc êm thắm, tốt nhất nên dần dần trả tự do cho người dân được sinh hoạt đoàn thể, tụ họp, phát biểu, lập những hội đoàn để chuẩn bị cho một xã hội công dân tương lai.

Chú Thích: Cách viết tên nhà độc tài Libya bằng mẫu tự La tinh thay đổi. Vì mẫu tự tương đương với Q trong tiếng Á Rập có thể phát âm nhiều cách khác nhau, “q” hoặc “k” hay “g” và “gh” tùy theo vùng. Cho nên hãng thông tấn Associated Press, báo Wall Street Journal và công ty CNN hay viết là “Gadhafi”, báo Los Angeles Times viết “Kadafi.” Ðài ti vi Á Rập Al Jazeera, viết “Gaddafi,” trong khi nhật báo New York Times viết “el-Qaddafi,” cho có vẻ Á Rập hơn!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

(Sứ quán hay là dinh Thái thú?

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Sứ quán Trung Quốc chiếm một vị trí đặc biệt giữa thủ đô Hà Nội.

Ðây là sứ quán nước ngoài ở gần Bộ Ngoại Giao nhất, cũng ở gần Phủ chủ tịch nước, gần trụ sở Trung ương đảng CS, trên đường Hoàng Diệu, ngay giữa quận Ba Ðình là quận trung tâm của Hà Nội.

Tòa nhà cổ, bề thế, được sửa chữa mở rộng nhiều đợt, nhìn ra vườn hoa mang tên Ðiện Biên Phủ, nơi có tượng Lenin từ những năm 1950.

Phía sau là đường Khúc Hạo có nhiều biệt thự, bể bơi, sân quần vợt dành riêng cho các quan chức sứ quán Trung Quốc và gia đình họ.

Hơn tháng nay, sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội đổi chủ. Ðại sứ Tôn Quốc Tường lên đường về nước. Ðại sứ mới Khổng Huyễn Hựu sang thay. Lễ trình quốc thư diễn ra ngày 25-8-2011, ông Khổng là đại sứ Trung Quốc thứ 16, kể từ 62 năm nay.

Khổng Huyễn Hựu, ông là ai?

Có một điều hơi lạ, là các đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội trước đây thường là người từng quen biết rõ Việt Nam trước khi nhậm chức, trưởng thành từ nhân viên phiên dịch, hay bí thư, tham tán của đại sứ quán, có người từng qua trường đại học Văn, Sử, ở Hà Nội. Họ am hiểu khá sâu tiếng Việt, hiểu cả đến tiếng lóng, thổ âm Trung Nam Bắc, cả những từ ngữ dân gian.

Vậy mà đại sứ mới Khổng Huyễn Hựu khác hẳn. Ông Khổng chỉ mới làm việc ở nước ngoài tại Nhật Bản, với chức vụ tùy viên lãnh sự tại tổng lãnh sự quán ở thành phố Ðại Bàn, từ năm 1985 đến năm 1989. Sau đó ông về lại Bắc Kinh, làm bí thư thứ ba tại Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao, từ năm 1989 đến 1995.

Từ năm 1995 đến 1999, ông lại sang Nhật Bản, làm cán bộ nghiên cứu tại sứ quán Trung Quốc ở Tokyo.

Từ năm 2000 ông trở về Bắc Kinh để tu nghiệp tại trường đại học Ngoại giao. Năm 2002 ông được bổ nhiệm làm tham tán Viện Nghiên Cứu Chính Sách của Bộ Ngoại Giao. Năm 2003 ông là phó vụ trưởng Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao. Từ cuối tháng 8-2011 ông là đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam.

Về xuất xứ, khác hẳn với các người tiền nhiệm, thường quê quán từ các tỉnh phía Nam hay miền Trung Trung Quốc, ông Khổng Huyễn Hựu quê ở tỉnh Hắc Long Giang, ở cực Bắc Trung Quốc, giáp giới với Triều Tiên, và ông cũng thuộc dân tộc thiểu số Triều Tiên (Cao Ly).

Ông sinh tháng 7 năm 1959, năm nay 52 tuổi.

Tóm lại, đại sứ mới của Trung Quốc chưa hề quen biết với Việt Nam, với Ðông Nam Á, là người từ rất xa tới, cũng là người chưa trực tiếp hiểu biết gì về nước ngoài trừ Nhật Bản, chưa tu nghiệp hay làm việc tại các nước phát triển và Liên Hiệp Quốc. Ðây là điều khó hiểu.

Cứ theo tin tức được phổ biến trên mạng Internet của sứ quán Trung Quốc, tuy mới nhậm chức có hơn 1 tháng, đã có vài chục quan chức cấp cao phía Việt Nam đã gặp và chào đón ông đại sứ mới rất nồng nhiệt.

Không kể những buổi ông Khổng đến trình quốc thư chủ tịch nước, chào tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch Quốc hội, có hàng loạt quan chức cao cấp đã đến sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu để chào tân đại sứ.

Ðó là:

- Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn và phó trưởng Ban Ðối ngoại Trung ương Nguyễn Mạnh Hùng (ngày 17-8-2011);

- Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng (ngày 23);

- Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, rồi thứ trưởng Bộ Công An Trung tướng Ðặng Văn Hiếu (ngày 29-8-2011);

- Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, rồi Bộ Trưởng Tài Chính Vương Ðình Huệ (ngày 31-8-2011);

- Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh (12-9-2011);

- Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo Phạm Vũ Luân (16-9-2011);

- Trưởng ban Ðối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân, rồi Bộ trưởng Thông tin - Tuyên truyền Nguyễn Bắc Sơn (21-9-2011);

- Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị (27-9-2011);

- Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh, rồi Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa (29-9-2011);

- Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, rồi Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ (3-10-2011);

- Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Ðinh Thế Huynh (4-10-2011).

Sứ quán Trung Quốc cho biết tân Ðại sứ Trung Hoa chỉ trong thời gian ngắn đã có dịp hội kiến với quá nửa số ủy viên Bộ Chính Trị của phía Việt Nam, chưa kể một loạt ủy viên Trung ương đảng, bộ trưởng, thứ trưởng và các loại cán bộ cấp cao khác.

Sứ quán Trung Quốc quên không nói rõ là sứ quán và đại sứ mới được canh gác, bảo vệ và hộ tống rất nghiêm mật, công an, cảnh sát, mật vụ rất mẫn cán không cho công dân Việt Nam đến gần sứ quán, nhất là vào các Chủ Nhật, như Hà Nội đã long trọng cam kết với Bắc Kinh.

Quả có vậy nên viên giáo sư Long Ðạo mới dám viết trên mạng Hoàn Cầu những lời ngạo mạn đến láo xược, gọi người Việt là những con muỗi.

Theo ý đó, một đàn muỗi cao cấp nhất vừa sang Bắc Kinh rước về 6 bản Hiệp định - 6 xiềng xích buộc chặt nước ta với thiên triều bành trướng.

Post Reply