Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Linh địa THÁI HÀ là mồ chôn đảng CSHN, tập đoàn phản quốc.

Bốn câu Sấm Thi của cụ Trạng Trình ứng nghiệm:

THÁNH GIÁ vào xuân, đào nở hoa
Dẹp xong quỷ đỏ, cứu Sơn Hà (1)
Khai nền dân chủ, xây công lý
TỔ QUỐC huy hoàng, khúc khải ca.


(1) Sơn là núi Thái Sơn, Hà là sông (LINH ĐỊA THÁI HÀ). Bọn vô thần xúc
phạm đến Linh Địa Thái Hà, l
à khởi điểm ngày cáo chung tà thuyết Mac-Le
gieo tang thương suốt 66 năm cho dân tộc (1945 - 2011)

CS Nga với tham vọng nhuộm đỏ thế giới, thì cũng chỉ kéo dài trên
dưới 73 năm (1917-1991). Dân Nga đứng lên tiêu diệt.
CSHN đang trên chu
kỳ tàn vong mới xúc phạm tới Linh Địa nầy (cướp Tòa Khâm sứ làm công viên)
tiếp tục cướp Dòng Chúa Cứu Thế.


"THUẬN THIÊN GIẢ TỒN, NGHỊCH THIÊN GIẢ VONG"

Hãy đến Thái Hà mà xem !
Giáo dân Việt nam


Image

Image

Image

Bảng thông tin tình hình của Giáo xứ
luôn được mọi người trong và ngoài công giáo quan tâm

Image

Càng bị đàn áp và vu cáo, số giáo dân đến Thái Hà ngày càng tấp nập

Image

Ký đơn kiến nghị để yêu cầu nhà cầm quyền thực thi đúng luật pháp

Image

Những lời nguyện cầu của các giáo dân trước Đức Mẹ

Image

Image

Muôn người như một, đoàn kết một lòng bảo vệ Thái Hà

Image

Chưa bao giờ Thái Hà vững vàng trước thử thách như hôm nay

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Mỹ hợp tác quân sự với Australia, Philippines - Trung Quốc nêu nghi vấn
Mỹ vừa loan báo sẽ tăng cường hợp tác quân sự với Australia và nâng cấp hiệp định quốc phòng với Philippines. Trung Quốc lập tức yêu cầu mở cuộc thảo luận về việc gia tăng triển khai binh sĩ Mỹ tại vùng Đông Á và nêu nghi vấn về động thái này.

Các nhà lãnh đạo Mỹ và Australia vừa loan báo một thỏa thuận triển khai lực lược thủy quân lục chiến Mỹ.

Kế hoạch triển khai thủy quân lục chiến qui mô nhất ở Australia

Các nhà lãnh đạo Mỹ và Australia vừa loan báo một thỏa thuận duy trì các lực lượng của Mỹ trên lãnh thổ Australia - quyết định triển khai lực lược thủy quân lục chiến Mỹ mà theo giới phân tích là qui mô nhất ở Australia kể từ Thế chiến II.

Tổng thống Mỹ đã bay tới Canberra sau khi họp Hội nghị Apec ở Honolulu. Chuyến thăm được thực hiện vào lúc hai nước kỷ niệm liên minh an ninh tròn 60 năm.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thủ tướng Australia Julia Gillard đã nói với các phóng viên báo chí về thỏa thuận này tiếp theo sau các cuộc hội đàm ngày hôm qua 16/11 tại thủ đô Canberra của Australia.

“Theo thỏa thuận này, một lực lượng từ 200 đến 250 binh sĩ Thủy quân Lục chiến Mỹ sẽ đồn trú tại miền bắc Australia và sẽ luân chuyển sau mỗi 6 tháng và lực lượng sẽ được gia tăng dần cho đến khi đạt đến quân số 2.500 quân nhân”, Thủ tướng Gillard nói.

Bà Gillard nói thêm rằng thỏa thuận này cũng cho phép máy bay của Mỹ sử dụng một số căn cứ của Australia.

Về phía mình, Tổng thống Obama nói rằng thỏa thuận này sẽ cho phép Mỹ ứng phó hữu hiệu hơn đối với những thảm họa và các nhu cầu nhân đạo cũng như những thách thức về an ninh.

“Thỏa thuận này sẽ giúp duy trì cơ cấu an ninh cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cũng sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các lực lượng của Mỹ huấn luyện và thao dượt với binh sĩ của các nước trong khu vực, và trang bị cho các quốc gia nhỏ hơn để họ có thể đối phó nhanh chóng hơn với các cuộc khủng hoảng”, Tổng thống Mỹ khẳng định.

Trong khi đó, nhiều phân tích cho rằng việc triển khai này đang được xem là động thái để đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc.

“Tổng thống Mỹ đến Australia trong một thông điệp rõ ràng rằng Washington muốn bảo vệ các lợi ích của mình và đồng minh ở khu vực. Mỹ hiện đang trong giai đoạn chuyển hướng các chính sách an ninh khỏi Iraq và Afghanistan đến khu vực châu Á” - hãng tin BBC bình luận.

Tuy nhiên, ông Obama cho biết Mỹ "tăng cường cam kết của mình cho toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương", không loại trừ Trung Quốc.

"Thông điệp chính mà tôi đã nói, không chỉ công khai mà là lúc nói riêng với phía Trung Quốc, là trách nhiệm nhiều hơn đi kèm với sự lớn mạnh của họ", ông nói. "Điều quan trọng là họ tôn trọng luật đi lại trên biển".

Mỹ cập nhật hóa một hiệp ước quốc phòng với Philippines

Trong chuyến thăm đánh dấu kỷ niệm 60 năm ngày hai nước ký một hiệp ước quốc phòng chung, hôm qua Ngoại trưởng Clinton bày tỏ sự ủng hộ dành cho việc cập nhật hóa một hiệp ước quốc phòng giữa hai quốc gia.

Ngoại trưởng Mỹ cũng tuyên bố các vụ tranh chấp lãnh hải trong vùng Biển Đông nên được giải quyết bằng cách vận dụng hiệp ước quốc tế về Luật Biển, một lập trường hậu thuẫn cho Philippines trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc.

Bà Clinton nói Mỹ có chủ trương vững chắc rằng các vụ tranh chấp mà ngoại trưởng Philippines đề cập đến là hiện hữu chủ yếu trong Biển Tây Philippines giữa Trung Quốc và Philippines phải được giải quyết một cách êm thấm.

“Mỹ không đứng về phe nào trong bất cứ cuộc tranh giành chủ quyền bởi vì bất kỳ quốc gia nào đòi chủ quyền đều có quyền khẳng định điều đó, nhưng không có quyền theo đuổi việc đòi chủ quyền qua việc hăm dọa hay đàn áp”, quan chức Mỹ nói.

Mặc dù bà Clinton tái khẳng định sự trung lập của Mỹ trong vụ tranh chấp, bà nói hiệp ước quốc phòng giữa hai nước cần phải được cập nhật.

“Việc ấy đòi hỏi phải bàn luận với Philippines để cung cấp sự hỗ trợ nhiều hơn cho việc phòng vệ bên ngoài, nhất là nhận thức về khu vực biển – các nhận thức về phòng vệ – các ranh giới biển”, bà nói.

Lời tuyên bố trên được đưa ra nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ Mỹ - Philippines, từ chiếc khu trục hạm USS Fitzgerald đang đậu tại vịnh Manila. Thông cáo chung của hai nước kêu gọi “tự do hàng hải, không ngăn trở việc giao thương và lưu thông hợp pháp trên biển”, cũng như giải quyết các tranh chấp lãnh hải trên cơ sở các nguyên tắc quốc tế.

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng chuyến viếng thăm của Ngoại trưởng Mỹ cùng với bản thông cáo chung trên đây đã phát đi một thông điệp mạnh mẽ cho vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Mỹ đã bắt đầu các cuộc tham khảo ý kiến ráo riết giữa hai chính phủ để xác định chính xác các chi tiết cụ thể của đường lối là gì.

Văn phòng Ngoại trưởng Mỹ đã lên lịch cho một cuộc họp chính thức bàn về các quyền lợi quân sự giữa các vị bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Philippines và các đối tác phía Mỹ vào tháng 1/2012.

Về phía Manila, hôm qua Philippines cho biết “sẽ không lùi bước trong chiến dịch tổ chức một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc trong việc tranh chấp lãnh hải”, và nhấn mạnh rằng Philippines có được sự ủng hộ của Mỹ về vấn đề này.

Ông Ramon Carandang, phát ngôn viên của Tổng thống Philippines, tuyên bố Manila sẽ tiếp tục làm những gì đang làm và nói thêm sự ủng hộ của Washington khiến Philippines cảm thấy động thái của mình là hữu ích.

Trung Quốc đặt dấu hỏi

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân đã đặt câu hỏi liệu động thái của Mỹ có phù hợp với sự phát triển hòa bình trong khu vực hay không.

“Tăng cường và mở rộng liên minh quân sự có thể không thích hợp lắm và không vì lợi ích của các nước trong khu vực này”, ông Lưu tuyên bố với báo giới tại Bắc Kinh, sau khi Mỹ-Australia thông báo tăng cường hợp tác quân sự .

Người phát ngôn thắc mắc Mỹ sẽ biện minh cho sự chi tiêu trong việc bành trướng quân sự tại vùng Đông Á như thế nào, giữa lúc tình hình tài chính toàn cầu đang bị trì trệ. Ông cũng thắc mắc về những lợi ích của việc hợp tác như vậy và nói rằng “bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài” cũng sẽ ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, và phát triển mà cả Washington lẫn Bắc Kinh đều nói là muốn có.

Tại Bắc Kinh, hành động của Washington chắc sẽ được coi như một toan tính răn đe. Khi được hỏi liệu Bắc Kinh có phản đối việc triển khai quân của Mỹ tại Australia hay không thì phát ngôn viên Lưu Vị Dân từ chối trả lời trực tiếp.

Thay vào đó ông nói Trung Quốc chưa bao giờ tham gia bất cứ loại liên minh quân sự nước ngoài nào giống như những liên minh do Mỹ thiết lập. Và ông cho biết Trung Quốc có ý kiến riêng của mình về vấn đề làm sao để duy trì ổn định trong vùng.

Tổng thống Obama và các giới chức Mỹ khác đã nhiều lần nhắc lại rằng Mỹ hoan nghênh một nước Trung Quốc hùng mạnh và phồn thịnh, và chính phủ của ông không có ý định ngăn chặn Bắc Kinh.

Ông Lưu Vị Dân nói Trung Quốc hy vọng Washington sẽ giữ lời.


Trong khi đó, tờ Global Times của Trung Quốc đăng bài bình luận rằng “nếu Australia sử dụng căn cứ quân sự của mình để giúp Mỹ gây hại cho quyền lợi của Trung Quốc, thì chính Australia sẽ bị kẹt giữa các làn đạn”.

Tờ báo dẫn lời Thiếu tướng La Viện từ Viện Khoa học quân sự thuộc Quân Giải phóng Trung Quốc nói: “Cả Trung Quốc và Mỹ đều không muốn gây chiến, nhưng nếu như các quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc như chủ quyền, an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc bị xâm hại thì xung đột vũ trang là điều không thể tránh khỏi”.

Nguyễn Viết
Theo Xinhua, AFP, BBC

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sự khác biệt giữa Quốc Gia và Cộng Sản.

Sự so sánh bằng hình ảnh này giữa hai chế độ Tư Do của VNCH và chế độ đảng cướp trị thật là hay.
Chính nghĩa đã thật rõ ràng đối với VNCH và CSVN đã chứng nhận là một bọn chó săn của thực dân Tàu đã và đang xiềng xích đồng bào.
Chúng đã phá hoại nền tảng đạo đức của dân tộc, để buôn dân bán nước.

Hãy vùng lên và quyết tâm diệt ngụy quân ngụy quyền CSVN. Muốn dành lại tự do, độc lập cho dân tộc, và các vùng lãnh thổ đã mất,
chúng ta phải tiêu diệt đảng CSVN hay chế độ CSVN.

Ngày nay, một số đảng viên CS đã nhìn thấy sự thật bán nước của Đảng CSVN do một chế độ gia đình trị.
Con của các lãnh tụ đảng, đã thay nhau lên lãnh đạo để buôn dân bán nước. Hãy vùng lên để diệt bè lũ thực dân bán nước này.....

Sự khác biệt giữa Quốc Gia và Cộng Sản.

- Một bên Quyết Tâm Bảo Vệ Đất Nước
- Một bên chỉ biết có Đảng và có Mình .


Image

-------------oo0oo---------------

Sự khác biệt giữa Dân chủ và Độc tài.

Image

-------------oo0oo---------------

Sự khác biệt giữa Giữ Nước và Bán Nước.

Image

-------------oo0oo---------------

Sự khác biệt giữa Giúp dân và Đàn áp dân.

Image

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Khuyên Trung Quốc làm ‘Người Lớn’

Ngô Nhân Dụng

Kể từ năm 1954, có lẽ chưa có một nhà chính trị Mỹ nào cố ý làm Bắc Kinh mất mặt như vậy.

Hôm Chủ Nhật vừa rồi, sau hội nghị APEC tại Honolulu có mặt 21 nguyên thủ quốc gia vùng Á Châu và Thái Bình Dương, ông Barack Obama, tổng thống Mỹ, đã lên giọng khuyên chính quyền Trung Quốc hãy “Cư xử như người lớn!” Lời tuyên bố của ông tổng thống Mỹ đã được báo chí khắp thế giới dùng làm tựa đề cho các bản tin về ngày chấm dứt hội nghị APEC.

Trước đây gần 60 năm, tại Hội nghị Genève 1954, hai ngoại trưởng Mỹ và Trung Quốc tình cờ gặp nhau trong một cuộc tiếp tân; ông Chu Ân Lai tươi cười đưa tay ra bắt tay nhưng ông Foster Dulles quay đầu đi thẳng không thèm chào. Khi tiếp Henry Kissinger, ngoại trưởng Mỹ tới Bắc Kinh lần đầu năm 1972, Chu Ân Lai còn nhắc lại chuyện này; đổ lỗi chính Mỹ gây ra tình trạng thù nghịch giữa hai nước. Vào năm 1954, giới lãnh đạo Mỹ vẫn nghĩ Trung Cộng hoàn toàn lệ thuộc Liên Bang Xô Viết, như mọi nước cộng sản khác. Tới đầu thập niên 1970 người Mỹ mới thấy rõ Bắc Kinh đang tách khỏi Mạc Tư Khoa.

Ngày nay, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc đang lên, sức nặng kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Hai nước liên hệ chặt chẽ, Mỹ mua hàng Trung Quốc xuất cảng, Trung Quốc lại đem tiền thu về cho chính phủ Mỹ vay. Chắc Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao Mỹ đã nghiên cứu kỹ tâm lý người phương Ðông, biết rằng “Lời chào cao hơn mâm cỗ!” Nói trước công chúng, “Trung Quốc đã lớn rồi, phải cư xử như người lớn” chắc chắn làm mất mặt cả ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Hoa. Mà đối với người Tàu, dù cộng sản hay không cộng sản, thì thể diện là chuyện tối trọng. Lên mặt “kẻ cả” mà khuyên bảo như vậy, không khác gì mắng vào mặt người ta là “cư xử như trẻ con!”

Có lẽ ông Obama quá cao hứng vì trong hội nghị đó, chính quyền Mỹ đã đạt một thắng lợi ngoại giao đáng kể. Mỹ kêu gọi thành lập một Vùng Tự Do Mậu Dịch Thái Bình Dương; đề nghị này đã được tám nước hưởng ứng, trong đó có Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Các nước kinh tế lớn như Nhật Bản, Mexico và Canada cũng ngỏ ý muốn vào. Trong khi đó Trung Quốc và Nga không được mời tham dự; Tòa Bạch Ốc viện lẽ rằng trong vụ này không ai mời ai cả, Mỹ chỉ đề nghị, nước nào “OK” thì “nhào vô”.

Trước khi lên tiếng khuyên răn chính quyền Bắc Kinh, ông Obama đã nhắc lại lời khẳng định bà Hillary Clinton đã nói tại Hà Nội năm ngoái, nhưng ông nhấn mạnh đến kinh tế hơn là quân sự. Nói với các nhà kinh doanh Mỹ có mặt trong cuộc họp về kinh tế, ông Obama bảo, “Không có một vùng nào trên thế giới quan trọng hơn vùng Á Châu Thái Bình Dương; với triển vọng tạo công việc làm cho giới lao động Mỹ. Năm 2010, Mỹ thâm thủng 273 triệu đô la trong việc mua bán với Trung Quốc; dân Mỹ thích mua hàng Tàu vì rẻ hơn hàng nội hóa. Tại Quốc Hội cũng như trong dư luận dân chúng, nhiều người Mỹ coi đó là một nguyên nhân khiến dân Mỹ thất nghiệp. Ông Obama cũng lên án Bắc Kinh kìm giá đồng nguyên xuống thấp để giữ giá hàng rẻ. Thượng Viện đã thông qua một dự luật cho phép Tòa Bạch Ốc “trừng phạt” Trung Quốc nếu họ không để cho đồng Nguyên lên giá theo cung cầu của thị trường. Dự luật này khó được Hạ Viện đưa ra bàn, nhưng vẫn là một mối đe dọa đối với Bắc Kinh trong thời gian sắp tới.

Ông Obama đã bày tỏ thái độ sốt ruột của cả nước Mỹ trước việc Trung Quốc tiếp tục ghìm giá đồng tiền của họ để được lợi khi xuất cảng. Tuy kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật, Ðức, thành lớn thứ nhì trên thế giới, nhưng chính quyền Bắc Kinh vẫn yêu cầu được coi là một nước “đang trên đường phát triển,” (tức là đang lớn!) Trung Quốc muốn bám lấy danh nghĩa đó, vì một quốc gia còn đang phát triển (Việt Nam là một) sẽ không phải theo đủ các quy tắc mậu dịch tự do mà Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) yêu cầu. Trong khung cảnh đó, ông tổng thống Mỹ đã nói với ông Hồ Cẩm Ðào, rằng đã đến lúc Trung Quốc “lớn lên” (grown up), không còn “vị thành niên” nữa. Do đó, phải cư xử như người lớn, “đá banh trên sân chơi bằng phẳng” trong việc giao thương với Mỹ và các nước khác. Ông Obama công nhận Bắc Kinh đã cho đồng Nguyên lên giá một chút trong thời gian qua, nhưng yêu cầu thị hối suất phải được tự do theo thị trường; ông dùng lời lẽ tỏ vẻ sốt ruột, “Thôi, đủ rồi!” (Enough's enough)

Nhưng chính quyền Trung Quốc không thể thỏa mãn lời yêu cầu của chính quyền và Quốc Hội Mỹ. Họ không thể cho đồng tiền của họ lên giá, vì cả nền kinh tế vẫn nhờ hàng xuất cảng hàng hóa. Trong lúc kinh tế Mỹ dựa trên sức tiêu thụ của người dân trong nước thì đối với Trung Quốc không xuất cảng thặng dư thì không sống được.

Ðiều đáng ngạc nhiên là khi đưa ra lời khuyên nhủ Trung Quốc “làm người lớn” ông Obama đã không lo gì hậu quả là chính quyền Cộng Sản Trung Quốc sẽ trả đũa khi bị mất mặt. Trước khi dùng những lời lẽ này, ông Obama đã gặp riêng hai vị quốc trưởng Nga và Trung Quốc để yêu cầu họ hỗ trợ Mỹ làm áp lực buộc Iran phải ngưng chương trình vũ khí nguyên tử. Hai nước này đều có quyền phủ quyết tại Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc; bất cứ nghị quyết phong tỏa Iran nào cũng không thể thiếu lá phiếu của họ. Nga là một nước láng giềng của Iran, Trung Quốc là khách hàng lớn mua dầu khí của Iran. Ông Medvedev, tổng thống Nga, tuy không nói ủng hộ Mỹ nhưng khi họp báo có nói đã bàn với Mỹ vấn đề Iran; còn ông Hồ Cẩm Ðào thì đã lờ đi không nhắc tới Iran. Thái độ lững lờ đó có thể khiến chính quyền Mỹ bất mãn và trả đũa bằng cách dùng những ngôn từ nặng nề, dù chỉ nhắc lại những yêu cầu đã nói nhiều lần: Hãy cho đồng nguyên lên giá tự do!

Nhưng sau khi “lên lớp” Bắc Kinh như một thầy giáo, chính phủ Mỹ sẽ khó hy vọng được Bắc Kinh ủng hộ khi đưa ra một nghị quyết trừng phạt Iran trước Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong thời gian tới. Ông Obama có tính toán đến tai hại đó hay không khi ông làm mất mặt giới lãnh đạo Bắc Kinh?

Có lẽ trong việc tính toán, Tòa Bạch Ốc đã thấy lợi nhiều hơn hại. Ông Obama mới nói “Á Châu Thái Bình Dương là một vùng tuyệt đối quan trọng (absolutely critical) đối với sự thịnh vượng của nước Mỹ.” Ðiều quan trọng là Mỹ có nhiều triển vọng thành công ở đó hơn là ở Trung Ðông. Tại Iran, đằng nào Bắc Kinh cũng không cộng tác với Mỹ, cho nên nếu Mỹ tạo thêm áp lực trên mặt kinh tế cũng không thay đổi gì. Trung Quốc đang cần Iran vì còn đi mua dầu và khí đốt khắp thế giới. Họ đang lợi dụng tình trạng cô lập của Iran để đặt thêm các quan hệ thương mại có ưu thế. Không thể làm áp lực nào với Bắc Kinh khiến họ từ bỏ các quan hệ đó.

Nhưng liệu một cường quốc có bom nguyên tử từ năm 1964 như Trung Quốc có thể, vì ghét nước Mỹ, sẽ giúp Iran về kỹ thuật hạt nhân, để trả đũa hay không? Ðiều này khó xẩy ra, vì trong việc ngoại giao người ta không yêu cũng không ghét, họ chỉ nghĩ đến quyền lợi. Mà khi xét lợi hại thì giúp Iran làm bom nguyên tử là làm tất cả khối Á Rập bất bình. Các nước Á Rập tuy cùng theo Hồi Giáo nhưng đa số thuộc chi phái Sun Ni, còn Iran theo phái Shi A; họ luôn luôn coi Iran là một mối đe dọa. Trung Quốc không thể gây thù hằn với các nước Á Rập trong khi còn mua dầu ở Trung Ðông, từ Á Rập Sau Ði sang Libya.

Những lời tuyên bố của ông Obama ngay sau hội nghị APEC cho thấy trong việc lựa chọn giữa Thái Bình Dương và Trung Ðông, chính quyền Mỹ, nếu không coi Thái Bình Dương là vùng quan trọng hơn thì ít nhất, đó là khu vực có thể đóng vai chủ động nhiều hơn. Nước Mỹ đã sử dụng gần đủ các quân bài ở vùng Trung Ðông, với những hành động rất tốn kém cả người lẫn của; nhưng suốt ba bốn đời tổng thống Mỹ vẫn không gây được ảnh hưởng trên Iran. Ðánh đổ chính quyền của Saddam Hussein càng khiến cho Iran được lợi thế; vì ông Hussein xưa kia vẫn coi Iran là tử thù. Ông ta chết đi, khối người Iraq theo đạo Shi A chiếm đa số sẽ kiểm soát chính quyền Iraq; và họ sẽ thân thiện với Iran. Chính phủ Mỹ đã lập hàng rào phong tỏa Iran từ ba chục năm qua nhưng Iran đến nay vẫn tiến hành các cuộc thí nghiệm nguyên tử lực. Trừ khi dân Iran tự động xóa bỏ chính quyền cực đoan về tôn giáo của họ, các nước ngoài khó làm nước này chuyển hướng.

Ngược lại, trong vùng Á Châu Thái Bình Dương, nước Mỹ đang dùng ảnh hưởng ngoại giao thuần túy tạo thêm ảnh hưởng, mà không phải sử dụng quân lực cũng như chưa thấy tốn tiền đồng nào. Trong khi dân Á Rập và Hồi Giáo ở vùng Trung Ðông đều không có thiện cảm với nước Mỹ, ít nhất cho tới khi Mỹ giúp các cuộc cách mạng lật đổ chính quyền độc tài ở Ai Cập, Libya; thì ngược lại các nước Á Châu từ Ấn Ðộ, Nhật Bản, Australia tới Việt Nam đều đang muốn Mỹ trở lại vùng này để tạo cân bằng với áp lực đang lên từ Trung Quốc. Ngày hôm qua ông Obama đã sang thăm Úc Châu. Ðể lôi cuốn các đồng minh cũ và mới ở Á Châu, chính quyền Mỹ chỉ cần đưa thêm những lời tuyên bố là đủ! Và trong cuối tuần qua ông Barack Obama đã làm đúng công việc đó.

Trung Quốc đã không phản ứng mạnh mẽ trước những lời lẽ “kẻ cả” của ông tổng thống Mỹ. Chỉ có một phát ngôn viên của phái đoàn Trung Quốc trả lời rằng Bắc Kinh nhất định không để cho đồng nguyên lên giá quá nhanh, vì như vậy sẽ làm xáo trộn kinh tế cả nước Tàu, rất nhiều người Trung Hoa sẽ thất nghiệp. Ông ta không quên nói thêm rằng nếu kinh tế nước Tàu xáo trộn thì sẽ tai hại cho kinh tế cả thế giới. Mà điều này là đúng sự thật!

Hội nghị APEC vừa qua là một thắng lợi ngoại giao của Mỹ. Các nước đồng ý giảm thuế quan xuống 5% trên những món hàng và dịch vụ nhắm giảm ô nhiễm; đây là một đề nghị của Mỹ và bị Trung Quốc phản đối. Bản thông cáo kết thúc dùng những lời lẽ phản ảnh lập trường của Mỹ. Các nước cam kết sẽ ủng hộ sự phát triển kinh tế “cân bằng, lâu bền và mạnh mẽ ở trong vùng cũng như trên thế giới”. Hai chữ “cân bằng” nhắm vào Trung Quốc và Mỹ, một bên thì chỉ lo xuất cảng mà không khuyến khích dân tiêu thụ; bên kia thì chỉ thích vay tiền, nhập cảng để tiêu thụ! Nhưng tình trạng mất cân bằng ở Mỹ là do khuynh hướng tự nhiên của dân chúng; trong khi chính quyền Bắc Kinh thì chủ động gây ra tình trạng mất quân bình với các chính sách nâng đỡ hàng xuất cảng. Họ tự biện hộ rằng nước Trung Hoa chưa phát triển đầy đủ cho nên phải nâng đỡ các xí nghiệp làm hàng bán ra ngoài. Nay ông Obama yêu cầu họ phải “cư xử như người lớn,” chắc chính quyền Trung Quốc dù mất mặt nhưng cũng không theo được! Vì “làm người lớn” đòi hỏi những điều vượt trên khả năng của Bắc Kinh!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hợp Tung và Liên Hoành ở Ðông Nam Á
Ngô Nhân Dụng

Các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á có thể dự vào hai liên minh thương mại. Mỗi nước có thể chọn một; hoặc tham gia cả hai tùy cơ hội tạo thêm lợi thế cho mình.

Thứ nhất là khối mậu dịch tự do gọi là “ASEAN Cộng Ba” (ASEAN Plus Three) mà ba nước ngoài khối ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn; trong đó Trung Quốc đóng vai chủ động. Thứ hai là một tập hợp do Mỹ mới đề nghị đặt tên là Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership, TPP). Vì các nước trong khối ASEAN+3 chạy theo chiều dọc, ven bờ Thái Bình Dương cho nên tạm gọi là Hợp Tung; còn khối TPP chạy từ Ðông sang Tây băng ngang Thái Bình Dương cho nên tạm gọi là Liên Hoành.

Liên Hoành và Hợp Tung là chiến lược của Tô Tần và Trương Nghi, từ hơn 2300 năm trước đây. Một bên là kế hoạch liên kết các nước chư hầu để chống lại nước Tần; bên kia là kế hoạch chia rẽ bằng cách mời các nước chư hầu cộng tác lẻ với nước Tần, từng nước một.

Thời nay, hai chiến lược Hợp Tung và Liên Hoành không mang tính chất quân sự như thời Chiến Quốc. Các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á không lo phải lâm chiến, hoặc với Trung Quốc, hoặc với Mỹ. Mà chính hai nước lớn đóng vai chủ động đó họ cũng không thấy có lý do nào để gây chiến với nhau, ít nhất trong một vài thế hệ nữa.

Cuộc tranh giành ảnh hưởng trên thế giới bây giờ thường đặt trên căn bản kinh tế; mà trong đời sống kinh tế thì mọi người cũng như mọi quốc gia tham dự “cuộc đấu” đều phải vừa cạnh tranh vừa cộng tác; phải chọn người cộng tác cũng như chọn người để cạnh tranh. Cho nên việc lựa chọn giữa hai kế Hợp Tung và Liên Hoành ngày nay phức tạp hơn thời Chiến Quốc rất nhiều. ASEAN+3 và TPP đều là những liên minh hoàn toàn chú trọng và thương mại; nếu sau này có mang thêm mặt chính trị và quân sự thì đó chỉ là những hệ quả do thời thế đưa đẩy mà thôi. Nhưng cuối cùng, căn bản của cuộc cạnh tranh sẽ là hai quan niệm, hai mô thức tổ chức đời sống kinh tế trên thế giới.

Kế Hợp Tung ASEAN+3 đã được thai nghén từ hơn mười năm trước, khi Trung Quốc đề nghị ký hiệp ước mậu dịch tự do với cả 10 nước trong khối ASEAN. Năm 2010, hiệp ước trên bắt đầu thi hành; từ đó hàng hóa trao đổi giữa Trung Quốc và các nước ASEAN được miễn thuế hoặc giảm thuế quan đến mức thấp nhất so với các nước khác. Sau đó Nam Hàn và Nhật Bản được mời tham dự, ASEAN+3 thành tên gọi quen thuộc mặc dù đã có thêm ba nước Australia, New Zealand và Ấn Ðộ ký hiệp ước mậu dịch tự do với các nước ASEAN.

Trong thời gian đó, nước Mỹ đã bỏ quên vùng Ðông Nam Á trong hàng chục năm, để chú trọng đến vùng Trung Ðông, với hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Mỹ chỉ ký hiệp ước mậu dịch tự do với một nước Ðông Nam Á duy nhất là Singapore. Tổng Thống Barack Obama đã hướng về Á Châu nhiều hơn. Năm 2010, các bộ trưởng Quốc Phòng và Ngoại Giao Mỹ đều nói vùng biển Ðông Nam Á liên quan mật thiết với quyền lợi nước Mỹ. Năm nay, Quốc Hội Mỹ đã thông qua hiệp ước tự do mậu dịch với Nam Hàn. Khi nào Quốc Hội Nam Hàn phê chuẩn hiệp ước trên, họ đương nhiên tham gia mạng lưới Thái Bình Dương do Mỹ mới đề nghị. Các nước Á Ðông từ nay có một thực đơn gồm hai liên minh thương mại: ASEAN+3 và TPP. Họ có thể tham dự cả hai không cần phải chọn một. Nhưng chúng ta cần biết hai liên minh đó tính chất khác nhau thế nào, để tùy cơ ứng biến.

Kế hoạch Liên Hoành, Hợp Tác Thái Bình Dương (TPP) cố ý mở rộng ra ngoài khối ASEAN sang tận Bắc Mỹ và Châu Mỹ La Tinh. Ở bờ Tây Thái Bình Dương các nước Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Singapore và Việt Nam hưởng ứng; ở bờ Ðông Thái Bình Dương là Chile, Peru. Các nước Nhật, Nam Hàn, Canada và Mexico cũng tỏ ý muốn vào; khi ông Obama ngỏ ý chào mời. Ðặc biệt, ông Obama đã tảng lờ không mời Trung Quốc tham dự khi gặp riêng Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Vì hiện nay Bắc Kinh vẫn chưa tôn trọng các “luật chơi” thương mại quốc tế, trong cuộc chơi mậu dịch tự do.

Năm ngoái bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói ở Singapore và bộ trưởng Ngoại Giao lại nói ở Hà Nội về sự chuyển hướng của chính phủ Mỹ, quay trở lại vùng Ðông Nam Á. Nhưng đó chỉ là những lời tuyên bố tổng quát. Khi khối Hợp Tác Thái Bình Dương (TPP) thành hình, Mỹ mới thật sự đặt chân trở lại Á Châu, qua các hiệp ước cụ thể về trao đổi thương mại tự do. Kinh tế sẽ đóng vai trò nối liền các quốc gia, thay vì các liên minh quân sự.

Ông Obama mới tuyên bố ở Honolulu, “Nước Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ ở lại đó.” Kế hoạch TPP sẽ ràng buộc Mỹ vào các nước Thái Bình Dương qua các thỏa ước thương mại tự do. Những ràng buộc đó có thể chặt chẽ và bền bỉ hơn các hiệp ước liên minh quân sự, được bảo vệ bằng các quyền lợi kinh tế cụ thể. Và nước Mỹ sẽ có lợi thế vì họ có kinh nghiệm rất nhiều trong việc thi hành các luật lệ đặt trên căn bản tự do mậu dịch.

Kế Liên Hoành TPP là một thử thách mới cho các nước trong vùng Ðông Nam Á. Hiện nay họ đang tham dự khối ASEAN+3, kế Hợp Tung của Trung Quốc; nhưng họ cũng sẵn sàng có mặt trong tập hợp TPP do Mỹ đề xướng. Họ sẽ phải thấy có hai phương cách hợp tác và cạnh tranh khác kinh tế nhau: Một là mô hình thị trường tự do mà nước Mỹ vẫn theo đuổi; hai là phương pháp tập trung hoạch định và chỉ huy mà tới nay Trung Cộng vẫn thi hành.

Các nước Á Châu, vùng Ðông Nam Á và đặc biệt là Việt Nam sẽ được lựa chọn giữa hai mô thức đó trong hàng chục năm sắp tới để phát triển kinh tế. Khi nhìn thấy lợi ích của thị trường tự do, một số nước sẽ hành động quả quyết và nhanh chóng, gặt hái được những thành quả cụ thể. Những nước rụt rè chậm chạp sẽ thấy mình bị bỏ rơi lại đằng sau, sẽ phải quyết định thay đổi nhanh hơn. Cho tới khi chính Trung Quốc sẽ phải thay đổi.

Hiện nay ASEAN+3 là một liên minh còn lỏng lẻo, mặc dù nhờ thuế quan giảm xuống Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của các nước Ðông Nam Á. Tính chất lỏng lẻo hiện ra rõ nhất là chưa xác định rõ các luật lệ và thủ tục trong nhiều giao dịch. Nhiều vấn đề bị Trung Quốc đã bỏ qua không bàn; không quyết định chung nào giữa các nước Ðông Nam Á và Trung Quốc trong rất nhiều lãnh vực. Khi chỉ chú trọng đến việc giảm bớt thuế quan, Trung Quốc đang lợi dụng tình trạng lỏng lẻo trên các lãnh vực khác để hưởng lợi.

Chủ ý của Trung Quốc khi liên kết với khối ASEAN không nhắm vào kinh tế, thương mại; mà cốt gây ảnh hưởng địa lý chính trị. Cho nên họ bỏ qua các vấn đề khó đồng ý với nhau. Khối ASEAN+3 vẫn chưa thỏa thuận chính thức trên rất nhiều vấn đề có thể gây tranh cãi. Nhưng khi không thỏa thuận đặt ra những luật lệ rõ ràng thì một nước có trọng lượng kinh tế lớn nhất là Trung Quốc sẽ tha hồ lạm dụng tình trạng mập mờ để thủ lợi. Thí dụ như các luật lệ về đầu tư từ nước này sang nước khác không rõ ràng; những luật lệ thủ tục về đấu thầu khi các công ty nước này muốn cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho chính quyền nước khác; vấn đề tác quyền, còn gọi là quyền sở hữu tri thức; các luật lệ về lao động; cũng như các vấn đề về môi trường sống, chưa có thỏa thuận nào cụ thể.

Chính tình trạng luật lệ mơ hồ trong kế Hợp Tung ASEAN+3 đã giúp các công ty Trung Quốc đến khai thác khoáng sản và lâm sản ở Miến Ðiện, Lào, hay Việt Nam, có khi nhân dịp đó mở thêm khách sạn, song bài; đã đem công nhân Trung Hoa đến các nước này làm việc mà không xin phép; dự đấu thầu cung cấp trong các công trình xây dựng, khai thác mỏ hoặc nhà máy điện ở các nước kinh tế yếu hơn. Khi có những bất đồng ý kiến hoặc xung đột trong các vấn đề trên, nước mạnh sẽ lấn áp nước yếu mà không có những thủ tục phân giải cũng không có những trọng tài để xử coi ai phải ai trái. Ðây là một cuộc chơi không công bằng, vì Trung Quốc sẽ “đánh lẻ” từng nước một, và họ sẽ giữ thế “mạnh vì gạo, bạo vì tiền.”

Ngược lại, mạng lưới TPP làm theo lối Mỹ và được các nước đã phát triển như Nhật Bản, Nam Hàn, Canada, cho tới Mexico, Chile ủng hộ, sẽ sử dụng các thủ tục và luật lệ quốc tế có sẵn, rõ ràng, minh bạch và ràng buộc chặt chẽ hơn trong việc giao thương. Khi tham dự vào kế Liên Hoành với Mỹ, các quốc gia không những được bảo đảm mọi giao dịch đều theo những luật lệ ràng buộc công khai và có các thủ tục tài phán rõ ràng khi tranh chấp xẩy ra. Ðó là cách làm ăn theo lối kinh tế tư bản đã được thí nghiệm trong mấy trăm năm nay, và càng ngày càng được mài giũa, sửa sang cho hợp lý và công bằng hơn.

Các nước Ðông Nam Á và Việt Nam sẽ đứng trước hai mô thức thương mại quốc tế để lựa chọn. Trong thời gian sắp tới, tốt nhất là các nước này hạ thấp tầm quan trọng của các vấn đề liên minh chính trị hay quân sự, ngay trong việc mua vũ khí hay hợp tác thao diễn quân đội. Cả cùng Ðông Nam Á và Việt Nam hãy quay về hướng khác, đẩy mạnh các giao ước thương mại trong kế Liên Hoành. Khi các liên hệ và ràng buộc mới phát triển, chính Trung Quốc sẽ phải thay đổi kế Hợp Tung của họ để sống chung minh bạch và công khai cùng các nước khác. Ðó là con đường tốt nhất không những cho các nước Ðông Nam Á mà còn cho cả kinh tế hoàn cầu.

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »


Thập thò cửa hang


Lá bùa trở thành dây thòng lọng



Điền Thảo

Một trong những luận cứ đã được giới truyền thông Hoa Lục đắc ý nêu ra là Hoa Kỳ và Việt Nam có nhiều khúc mắc khiến hai nước này không thể trở thành đồng minh tín cẩn. Giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Sản có những giá trị Hà Nội không thể vượt qua. Những giá trị cố hữu như Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền thường được Hoa Kỳ đưa ra như những điều kiện để tiến xa hơn trên lộ trình hợp tác với các nước.

Luận cứ trên đây của Hoa Lục đang tỏ ra là đúng với thực tại. Hà Nội muốn dùng Mỹ như một hậu thuẫn có thể là tạm thời để chận đứng bước nam tiến của Cộng Sản Tàu nhưng đồng thời Đảng CSVN lại luôn luôn muốn bám chặt lấy vị thế độc tôn để một mình hành xử quyền lực mà hệ quả là đàn áp khối người bất đồng chính kiến, điều mà dư luận Mỹ không chấp nhận.

Nhóm thủ cựu trong Đảng CSVN bị gò bó không đi xa hơn được cái mớ lý luận lỗi thời. Họ cho rằng Đảng là lớp người tiên phong hoạt động dân chủ (thứ dân chủ tập trung kiểu CS) nên cực kỳ sáng suốt và khôn ngoan. Và rằng đã giác ngộ chính trị, Đảng là lớp người duy nhất nắm được quy luật vận hành của xã hội. Bởi vậy mà hiến pháp 1992 nước CHXHCN VN đã ghi rõ:

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
(Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992)

Khỏi cần nói những xác quyết trên đây của điều 4 thực sự có phản ánh thực tế hay không. Đảng CSVN trước đây và hiện nay có thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam hay không, có thực sự là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân hay không hay chỉ là những ngụy tạo? Đảng viên đảng CSVN được kết nạp bí mật và do quyết định từ cấp cao trong đảng. Một đảng như thế sao gọi được là của toàn dân và đại diện quyền lợi của toàn dân?

Hoang tưởng và võ đoán gắn liền với những chế độ độc tài. Điều 4 là một võ đoán. Trong lịch sử sự võ đoán đã khiến nhiều tập đoàn độc tài bị lạc lối gây chiến tranh, và bị tan rã nhanh chóng. Đam mê quyền lực đã khiến Đức Quốc Xã của Hitler bịa ra rồi tự mình bị mê hoặc bởi cái lý thuyết nhảm nhí rằng dân tộc Aryen là dân tộc thông minh nhất. Thậm chí Đức quốc Xã còn lập ra và thực hiện kế hoạch tạo nên một "dân tộc siêu đẳng".

Du nhập thuyết chuyên chính vô sản để làm lá bùa, chuyển tả lý thuyết ấy vào điều 4 hiến pháp 1992, Hà Nội đang bị chính lá bùa này ếm, không còn có khả năng biến hóa ứng phó với thảm trạng trên đe dưới búa hiện nay. Dân nổi dậy đòi công lý. Giặc bắc phương hà hiếp. Chạy đôn đáo cứu viện từ các nước bên ngoài.

Sự sợ hãi các nhóm gọi là phản động trong "diễn tiến hòa bình" kéo sụp đổ cái ghế cường quyền của mình khiến cho Hà Nội thập thò cửa lỗ, không bước ra được và cũng không bao giờ dám bước ra khỏi hang. Truyền thông Hoa Lục đã gợi ý và Bắc Kinh đang nắm lấy con bài tẩy này để khống chế Hà Nội

Thực tiễn hơn, Hà Nội cố ôm chặt quyền lực cho riêng Đảng Cộng Sản VN và được họ giải thích như đó là con đường duy nhất mang lại ổn định xã hội và chính trị. Những thập niên gần đây, đảng CSVN luôn luôn lấy Hoa Lục làm mẫu mực. Cái lý luận trên đây cũng là một suy diễn từ lý thuyết do đám chóp bu Bắc Knh chủ xướng nổi bật nhất có Đặng Tử Bình* và sau này có cựu bô trướng quốc phòng Hoa Lục Trì Hạo Điền**.

Mới đây Trương Tấn Sang, chủ tịch nước VNCS sang thăm Hoa Kỳ khi bị chất vấn về nhân quyền lúng túng nhưng chung quy vẫn bám vào thể chế độc tài từ chối chấp nhận đối lập. Thái độ thập thò cửa ngõ khiến cho những nước lúc đầu có cảm tình nay đã có những dấu hiệu chán nản. Truyền thông chính thức điều khiển bởi nhà nước cộng sản Việt Nam khi đưa tin đã cố ý bỏ qua những vấn nạn về dân quyền từ phía Mỹ đưa ra***.

Những cuộc gặp gỡ chiến lược sau cửa khép do Mỹ- minh bạch và Nhật- âm thầm chủ động Việt Nam không được mời. Riêng Phi Luật Tân hiện được hiệp ước an ninh với Mỹ bảo vệ. Còn Việt Nam vẫn là một giải đất bỏ ngỏ, là miếng mồi hấp dẫn và sẽ là nơi đầu tiên để Hoa Lục thử ý chí của phương tây. Quá khứ đã chứng tỏ Mỹ không coi Việt Nam là quan trọng. Có quan trọng chăng là con đường thủy lộ ở Biển Đông.

Chính sách đu dây cố hữu của đảng CSVN cộng với cái lá bùa chuyên chính vô sản không biết chừng sẽ là sợi dây thòng lọng xiết cổ Hà Nội một ngày nào đó không xa.

Điền Thảo
11.2011
________________

(*) Đặng Tử Bình sinh thời nói rằng nếu đảng (CSTH) không kịp thời dập tắt vụ Thiên An Môn bằng bàn tay sắt thì Tàu Cộng không có ngày nay - ý nói ổn định và phát triển.

(**) Trì Hạo Điền là người chủ trương một chiến lược gồm 3 điểm: Thứ nhất, mở rộng không gian sinh tồn bằng cách đưa người Tàu di cư ra nước ngoài để lấn chiếm thế giới một cách tiệm tiến. Thứ hai, duy trì vô thời hạn chế độ độc tài, độc đảng tại Hoa Lục. Thứ ba, khai thác và sử dụng mọi phương tiện quân sự và khoa học tiên tiến để đánh bại Hoa Kỳ và thống trị thế giới. (Diễn văn đọc trước đại hội các tướng lãnh Tàu)

(***) Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton nói hôm thứ Năm rằng Việt Nam buộc phải cải thiện hồ sơ quá khứ về nhân quyền của mình nếu muốn mưu cầu mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa hai nước.

Bà Clinton tuyên bố tại trung tâm East-West Center ở Hawaii (trước khi gặp ông Sang) rằng: "Chúng tôi đã minh định với Việt Nam rằng nếu chúng ta có ý phát triển mối quan hệ chiến lược, như hai quốc gia mong muốn, thì (chính quyền) Việt Nam buộc phải hành động nhiều hơn để chứng tỏ họ tôn trọng và bảo vệ các quyền của công dân nước mình".

Vietnam must do more on rights

HONOLULU - US Secretary of State Hillary Clinton said Thursday that Vietnam must improve its human rights record if it seeks better relations as the two countries held talks on the issue.

"We have made it clear to Vietnam that if we are to develop a strategic partnership, as both nations desire, Vietnam must do more to respect and protect its citizens' rights," Clinton said at the East-West Center in Hawaii.

(Ngôn từ ngoại giao mà dùng đến chữ must thì đã sắp cạn tàu ráo máng!)
Triệu người quen có mấy người thương

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Học Viện Khổng Tử
Trần Khải
Chính phủ Trung Quốc đã mở hàng trăm Học Viện Khổng Tử toàn cầu, nhưng không muốn các viện này bàn về đề tài tế nhị như Tây Tạng. Tại sao nhà nước Bắc Kinh không muốn ai bàn đến chuyện một phần thân thể của họ?

Bản tin Bloomberg ngày 1-11-2011 của phóng viên Daniel Golden có tựa đề đã nêu rõ: “China Funds U.S. Schools, Doesn’t Want Tibet Discussed” (Trung Quốc Tàì Trợ Các Trường Hoa Kỳ, Không Muốn Bàn Vê Tây Tạng).

Thử lấy một thí dụ để so sánh. Giả như rằng chính phủ Hà Nội bơm tiền ra hải ngoại, để giúp các học giả toàn cầu thiết lập và điều hành các Học Viện Biển Đông, nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ, và biển đảo Việt Nam... thay vì ngồi soạn ra Luật Nhà Văn để xiết thêm những quyền cầm bút. Như thế sẽ là tuyệt vời biết bao nhiêu, vì sẽ vừa làm cho biên giới VN vững bền thêm, vừa đưa văn hóa Việt đi xa hơn.

Tất nhiên là không có chuyện đó. Bởi vì Hà Nội nghèo hơn Bắc Kinh, không dư tiền để rải khắp thế giới. Thứ nhì, học giả thế giới (và cả ở Mỹ) nghiên cứu về văn học Trung Hoa nhiều hơn về văn học VN. Thứ ba, tiền từ Hà Nội trao tặng các đạị học Mỹ có thể sẽ thấy bị “rút ruột” kiểu bê-tông cốt tre từ ngay ở tòa đại sứ thì lại mất thể diện nữa...

Bản tin Bloomberg kể rằng khi một tổ chức Bắc Kinh có quan hệ thân với chính phủ TQ đề nghị tặng đại học Hoa Kỳ Stanford University 4 triệu đôla để tổ chức một Học Viện Khổng Tử về ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa và lập một chức danh giáo sư môn này, nhưng đính kèm một lời cảnh giác: Giáo sư này không thể thảo luận về các đề tài nhạy cảm như Tây Tạng.

Richard Saller, Khoa Trưởng Nhân Văn và Khoa Học của Đại Học Stanford, nói, “Họ nói rằng họ không muốn bị bêu xấu.”
Đại Học Stanford từ chối, nêu cớ rằng cần tự do học thuật, và các cán bộ Trung Quốc mới lùi bước, theo lời kể của Saller. Tất nhiên, thời buổi kinh tế suy thoái, các viên chức đại học Mỹ cũng biết xử thế: trường dự định dùng tiền của TQ tài trợ để thiết lập một chức danh giáo sư về thi ca cổ điển TQ, như thế là xa hẳn các đề tài lịch sử cận đại như Tây Tạng và đủ thứ tương tự như Tân Cương và Pháp Luân Công.

TQ đang mở rộng sự hiện diện trong các khuôn viên đaị học Mỹ, quảng bá văn hóa và lịch sử TQ, và đáp ứng nhu cầu đang tăng trên toàn cầu là học Hoa Ngữ.

Hanban, môt tổ chức liên hệ tới chính phủ và nằm dưới quyền quản trị của Bộ Giáo Dục TQ, đã xài ít nhất 500 triệu đôla kể từ năm 2004 để thiết lập 350 Học Viện Khổng Tử toàn cầu và khoảng 75 học viện tại Hoa Kỳ, nhiều gấp 4 lần số học viện này ở bất kỳ nước ngoài khác.

Thời kỳ đầu chỉ để dạy tiếng Quan Thoại (Mandarin) và các nghệ thuật truyền thống như thư pháp ở các khuôn viên đaị học Mỹ, sau này các Học Viện Khổng Tử do Bắc Kinh tàì trợ mới đi vào bậc cao hơn bằng cách bơm hàng triệu đôla cho nghiên cứu, gây nỗi lo từ các viên chức đại học Mỹ rằng đây là âm mưu bịt miệng những lời chỉ trích về chính phủ TQ.

Chính nỗi lo vừa nói đã làm cho Hội Nghiên Cứu Châu Á Học (Association for Asian Studies, viết tắt AAS), một hội đoàn của các học giả quốc tế chuyên ngành về Trung Quốc với 8,000 hội viên toàn cầu, hồi tháng 3-2011 đã quyết định là hội sẽ không tìm tới và cũng không chấp nhận sự hỗ trợ cuả Hanban, chỉ vì không thấy có bức tường minh bạch ngăn cách chính phủ Trung Quốc với những quyết định về tài trợ.

Jonathan Lipman, giáo sư về lịch sử TQ tại đại học Mount Holyoke College ở South Hadley, Massachusetts, cũng đang giữ chức ủy viên trong Hội Đồng về TQ và Nội Á trong hội AAS, nói, “Bằng cách gạ bán một sản phẩm chúng ta muốn, tức là môn học Hoa Ngữ, các Học Viện Khổng Tử đã đưa chính phủ TQ vào thẳng học đường Hoa Kỳ bằng một cách rất mạnh mẽ. Cái kiểu chung thì rõ rồi. Họ có thể nói, ‘Chúng tôi cho các bạn tiền này, các bạn sẽ có chương trình học về Hoa Ngữ, và không ai sẽ nói về Tây Tạng cả. Trong thời kinh tế khủng hoảng naỳ, từ chối sẽ thấy rõ là tốn kém rồi.”

Trung Quốc đang đi theo khuôn mâũ các nước như Pháp, Đức và Anh, nước nào cũng có các tổ chức quảng bá ngôn ngữ và văn hóa của họ ở hải ngoại.

Trước giờ cũng từng có nhiều tranh luận về quà tặng trao cho các đại học Mỹ từ các nước như Đài Loan, Nam Hàn và Thổ Nhĩ Kỳ -- những cuộc tranh luận thường là về tác động của quà tặng đối với quyền tự do học thuật.

Thực ra, chuyện này học giới Mỹ không xa lạ gì. Vì thời Chiến Tranh Lạnh, chính phủ Mỹ đã bảo trợ cho các thư viện, các cuộc diễn thuyết và các cuộc triển lãm văn hóa tại các nước khác, cũng như đưa ra nhiều chương trình kiểu như Peace Corps để tạo khuôn mặt thân thiện của Mỹ, và xóa bỏ các cảm xúc chống Mỹ.

Chính phủ Việt Nam có chương trình nào tương tự như thế không? Hiện nay hẳn là chưa, và tương lai gần có lẽ cũng chưa thực hiện được. Nhưng chắc chắn tương lai xa là sẽ phảỉ thực hiện (giả sử như Việt Nam chưa bị Trung Quốc xâm chiếm và đồng hóa trong thời gian gần).

Vấn đề là, trước khi thực hiện các bước đi văn hóa như thế, nhà nước Hà Nội cần phảỉ động viên toàn khối 3 triệu người Việt hải ngoại, nghĩa là phải thay đổi chế độ ở một mức có thể tương thích với tâm thức người Việt hải ngoại, và không có gì hơn bằng biện pháp cải cách chính trị. Nếu không thế, có thiết lập ra các Học Viện Biển Đông hay Học Viện Nguyễn Du kiểu như Học Viện Khổng Tử cũng sẽ không có lợi thực sự bao nhiêu.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ai giúp Iran sản xuất vũ khí hạt nhân? Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cho biết, những thông tin tình báo họ thu thập được chứng minh rằng, sở dĩ chính quyền Iran có thể chế tạo được vũ khí hạt nhân là nhờ sự giúp đỡ của các nhà vật lý nước ngoài, tờ Polit của Nga trích dẫn nguồn tin của Washington Post cho hay.
Thông tin nói trên cho hay, nguồn tin của các cơ quan tình báo khẳng định có một chuyên gia về vũ khí của Liên Xô cũ, làm cố vấn cho Iran từ vài năm nay, giúp đỡ Tehran chế tạo bom hạt nhân.

Ngoài ra, một số công nghệ được các nhà khoa học Iran “du nhập” từ Pakistan và CHDCND Triều Tiên. Một nhân vật nổi tiếng được mệnh danh là "cha đẻ bom nguyên tử Pakistan", tiến sĩ A.Q.Khan, từ lâu cũng đặt trong vòng nghi vấn về khả năng giao bán công nghệ, các bản thiết kế bom nguyên tử cho Triều Tiên, Libya trước đây và cả Iran, Xyri.
Image
Nhà máy hạt nhân Bushehr của Iran.
Năm 2003, “Bộ sáu” các nước trung gian quốc tế gồm Nga, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Anh và Đức dã cùng với IAEA đề xuất Iran tạm đình chỉ việc làm giàu uran mà họ cho là mối đe dọa đối với việc thi hành Hiệp định cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Nhưng cuộc đàm phán không đạt được kết quả.


Trở lại nghi ngờ về vai trò của các chuyên gia hạt nhân thời xô viết, tờ Kommersant của Nga nêu tên nhà vật lý hạt nhân Viacheslav Daninenko.

Theo họ, trong những năm 1990, chuyên gia này đã làm 5 năm tại Trung tâm vật lý hạt nhân Iran, và tại đây ông ta đã dạy cho các đồng nghiệp Iran lập mô hình trên máy tính các đầu đạn hạt nhân. Ông đóng vai trò gần như then chốt trong việc đột phá công nghệ mà Iran đạt được trên con đường sản xuất các vũ khí hạt nhân.

Từ nguồn tin đó, các nhà báo Nga đã cố gắng săn lùng con người được gọi là “người cha của bom hạt nhân Iran” này. Vậy Viacheslav Danienko là ai?

Tra cứu những tư liệu ở Nga, các nhà báo phát hiện có hai người cùng tên chung là Viacheslav Danienko, một người thêm tên phụ Andreevitch hiện ở Ukraina, và một người là Vaxilievitch hiện ở Nga. (Tên Nga có 3 danh từ riêng. Từ đầu là tên riêng của cá nhân, từ thứ hai là tên bố và từ cuối là họ).

Tiến sĩ Toán-lý Viacheslav Andreevich Danienko lãnh đạo khoa Địa động học sự nổ Viện Địa vật lý Viện Hàn lâm Khoa học Ukraina. Ông sinh năm 1946 tại Poltava, học tại Trường ĐH Vật lý ứng dụng Matxcơva và Học viện Hoá lý Semenov. Tác giả của 300 công trình nghiên cứu. Theo lời ông, ông không hề liên quan gì đến chương trình hạt nhân của Iran.

Tại Trung tâm hạt nhân Liên bang Nga cũng có một người mang tên Viacheslav Danienko. Đó là Tiến sĩ khoa học kỹ thuật ViacheslavVaxxilievitch Danienko. Ông làm việc ở đây từ những năm 1950 và đã nghỉ hưu. Năm 2010, ông cho xuất bản tác phẩm “Sự nổ: Vật lý, Kỹ thuật, Công nghệ”. Nhà khoa học chuyên nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến sự nổ và ứng dụng năng lượng nổ vào các mục đích khác nhau.

Nhưng ông phủ nhận việc cho rằng ông có một thời gian qua Iran làm việc.Như vậy, có thể nói tuyên bố của thanh tra viên Gennedii Shakin rằng có một nhà bác học của Liên Xô cũ, không biết bằng con đường nào đên Iran để giúp Tehran tạo sự đột phá về vũ khí hạt nhân, dường như là điều bịa đặt.

Тrong khi đó, giới cầm quyền Israel đang thực sự có kế hoạch tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran, mà chính trị gia nhiều nước gọi là “cuộc phiêu lưu nguy hiểm”của Tel-Aviv.

Người đứng đầu Bộ Ngoại giao Liên bang Nga là Serguei Lavrov tuyên bố, việc Israel tấn công cơ sở hạt nhân cuả Iran “sẽ là sai lầm, không lường trước được hậu quả”. Ông nhấn mạnh “không thể giải quyết những xung đột quốc tế bằng vũ lực”. Ngoài ra, nước này cũng từng phủ nhận sự liên quan của mình với chương trình bom nguyên tử, nếu có, của Iran, ngoài việc giúp xây dựng nhà máy điện hạt nhân cho nước này.

Câu hỏi ai là người thực sự giúp Iran chế tạo bom nguyên tử, rõ ràng, hãy còn để ngỏ.

Tuấn Hà

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Nhu Cầu Pháp Trị

Trần Khải

Đất nước không phải cai trị bởi công an, mà phải bằng pháp luật; và do vậy, đừng bao giờ làm cho người dân phải sợ dùi cui và còng số 8, mà phải để người dân (và cả công an) ý thức về lòng yêu thương và tôn trọng một trật tự -- và cũng là để đất nước và toàn dân có thể phát triển.

Như thế, nguyên tắc cao tận cùng, là pháp trị.

Đất nước không phải cai trị bởi sự nổi hứng riêng của một cá nhân nào, mà phải bằng những quy định của luật pháp; và khi được toàn dân (và cả quan quyền) ý thức như thế, sẽ không bao giờ có những lạm quyền như hiện nay, khi nhân viên cả sở phải liên tục tới nhà quan chức gánh vác, chung sức lo cho đám cưới con gái của quan chức.

Nhưng làm sao để có pháp trị? Trước tiên là phải tôn trọng Hiến Pháp, nơi các điều khoản (tuy được soạn ra trong tinh thần của cái gọi là ngọn cờ định hướng xã hội chủ nghĩa) đã ghi rõ là phải cho mọi người dân bình đẳng trước pháp luật, và ghi rõ là phải tôn trọng các quyền tự do căn bản, như quyền ngôn luận, quyền biểu tình, quyền lập hội, quyền đi lại, và vân vân.

Do vậy, điều cực kỳ khó hiểu là khi có một đại biểu Quốc Hội lớn tiếng bác bỏ quyền biểu tình của người dân. Cũng vậy, cực kỳ khó hiểu là có đaị biểu đưa ra Luật Nhà Văn (dự kiến sau này sẽ đổi tên cho dễ nghe hơn, và sẽ phải hoàn tất trước năm 2015) để bắt khoan, bắt nhặt những người cầm bút, bất kể rằng nhà văn và nhà thơ dưới mắt pháp luật cũng chỉ là những người dân bình thường và cùng bình đẳng trước pháp luật như mọi người dân khác.

Thực tế xã hội đã cho thấy rằng vị quan chức -- Đại biểu Hoàng Hữu Phước (TP.Sài Gòn), người lớn tiếng chụp mũ Biểu tình là để chống lại chính phủ nước mình và đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII này... - đã vi hiến trầm trọng.

Không chỉ ông Phước đã vi hiến trầm trọng, mà còn chụp mũ các vị trí thức biểu tình ở Sài Gòn và Hà Nội là làm ô danh đất nước... và là chống chính phủ.

Cần thấy rằng, trong tuần lễ ông Phước lớn tiếng chụp mũ như thế, đã có hai cuộc biểu tình đáng lưu ý: cuộc biểu tình của 200 linh mục và giáó dân Thái Hà đòi trả lại một cơ sở địa ốc (nguyên là nhà nguyện của Dòng Chúa Cứu Thế), và cuộc biểu tình của ba phụ nữ đòi công lý vì có người thân bị công an đánh chết (chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền có chồng là anh Nguyễn Công Nhựt bị công an Bình Dương đánh chết, cùng mẹ ra Hà Nội khiếu kiện; trong khi cô Trịnh Kim Tiến biểu tình đòi tòa xử chuyện công an đánh chết cha cô là ông Trịnh Xuân Tùng).

Những cuộc biểu tình như thế đã xảy ra, và diễn ra ngay tại Hà Nội. Có thể đạị biểu Hoàng Hữu Phước không biết, vì báo chí và truyền hình nhà nước không đăng tải (đây là điểu để thấy cần có nhu cầu tự do báo chí và tự do phát biểu), nhưng ít nhất, như thế đã cho thấy ông Phước không hiểu rõ những gì trong Hiến Pháp đã nói, hoặc có hiểu nhưng không muốn tôn trọng.

Trong khi đó, lẽ ra những chuyện biểu tình vừa nói trên có thể giải quyết theo luật pháp. Thứ nhất, nhu cầu về một Luật Đất Đai sẽ giúp chính phủ thương lượng được với Giáo Xứ Thái Hà (vì không lẽ, chính phủ không muốn đối thoại mà chỉ muốn dùng những phương tiện bạo lực đã cũ?) và tìm giải pháp bồi thường thỏa đáng nếu Bệnh Viện Đống Đa muốn giữ đất của Giáo Xứ Thái Hà.

Và tương tự, nhu cầu cần kíp là ngăn chặn sự lạm quyền, đó là nhu cầu để soạn ra một Luật Đạọ Đức Cán Bộ, để sẽ không bao giờ xảy ra chuyện công an đánh chết dân, hay chuyện nhân viên cả sở phaỉ tới giúp thực hiện đám cưới con quan chức.

Nhà báo Bùi Tín, trên blog riêng ở Đài VOA, qua bài viết Những luật nào là cần nhất? đăng trong ngày 16-11-2011 đã viết, trích:

Một vấn đề cực kỳ hệ trọng và cấp bách là Luật về đất đai mới. Luật này đã được đưa vào chương trình xây dựng pháp luật của 2 khóa,trước, nhưng Quốc hội cứ lần lữa, trì hoãn mãi, tránh né một khát vọng cháy bỏng của nông dân, lực lượng chiếm gần 70 % dân số nước ta, là trả lại cho họ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, một quyền vốn có từ xa xưa. Không có lý do gì quyền sở hữu tư nhân đã được trả lại đầy đủ cho thợ thủ công, cho nhà kinh doanh thương nghiệp, công nghiệp, mà riêng nông dân vẫn còn là kẻ làm thuê trên chính đồng ruộng của mình.

Gần đây, ông Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường và hiện là giáo sư Đại học Hà Nội và cố vấn Tổng cục Quản lý Đất đai,có đăng trên Vietnam Net một bài báo đặc biệt có tựa đề là «Mối nguy địa chủ thời hiện đại». Trong bài báo này, ông nói thẳng, biết rằng «trung ngôn nghịch nhĩ», mạnh tay vạch mặt những tên đại địa chủ và đại điền chủ - tư sản đỏ xuất hiện nhan nhản khắp nơi, lũng đoạn kinh tế xã hội nước ta, nấp sau cái lập luận tai ác «ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân», một khái niệm chỉ còn có ở đất nước ta.

Cho nên Luật sửa chữa, bổ sung về Luật đất đai hay Luật về sở hữu ruộng đất là đạo luật cần kíp nhất, cấp bách nhất, là món nợ lớn của đảng CS và nhà nước đối với bà con nông dân, cần giải quyết ngay trong năm nay. Quốc hội và chính phủ phải đặt luật này vào hàng ưu tiên cao nhất trong số 21 Luật sẽ được soạn thảo trong năm nay cũng như trong số hơn một trăm luật dự kiến cho 5 năm tới. Sau đó mới đến các Luật về tư do báo chí, về Luật về trưng cầu dân ý, Luật về biểu tình, Luật về biển, và Luật về đạo đức cán bộ, tuy nhiên các luật này cũng phải được dành ưu tiên cao. (hết trích)

Như thế, biết thiết lập nền pháp trị, những quyền căn bản của dân đều sẽ được tôn trọng, và những tranh chấp pháp lý đều có cơ sở để giải quyết thuận tình, thuận lý; trong khi đó Luật Đạọ Đức Cán Bộ sẽ hy vọng kết thúc những trường hợp công an đánh dân, hay giám đốc sở ép nhân viên tới nhà riêng làm chuyện của gia nhân.

Như thế, sẽ không bao giờ có chuyện xảy ra ngoài phố kiểu như, khi bị công an chận xe liền hù dọa rằng bản thân mình là cháu Tướng Nhanh và hù dọa sẽ cho các công an giao thông này nghỉ việc.

Một bản tin ngày 21-11-2011 trên báo VietnamNet kể chuyện:

Vi phạm còn gọi báo tướng Nhanh đuổi cảnh sát

- Một đối tượng đi cùng Hùng đã lớn tiếng đe dọa, xúc phạm lực lượng cảnh sát. Đối tượng còn gọi điện cho người thân, nhờ thông báo cho "bác Nhanh" (Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh - GĐ Công an HN) để cho một số cảnh sát nghỉ việc...

Như thế, cần kíp là: Luật Đất Đai, Luật Đạo Đức Cán Bộ. Nhưng trước tiên là cần có tinh thần và cơ chế pháp trị.

Nghĩa là, ngay sau khi Đaị biểu Hoàng Hữu Phước đòi loạị bỏ Luật Biểu Tình và Luật Lập Hội, thì Viện Kiểm Sát Trung Ương nên ngay tức khắc đưa ra bản văn lên án các ngôn ngữ vi hiến như thế.

Ít nhất, Viện Kiểm Sát phải là nơi giữ gìn Hiến Pháp, tuy rằng nhà nước này không có bao nhiêu thiện chí để làm cho cán bộ hiểu rõ và tôn trọng Hiến Pháp.

Thế mới lạ, ngay như Viện Kiểm Sát Trung Ương cũng không thấy cần có nhu cầu pháp trị hay sao?

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tổng Thống Obama chịu trách nhiệm
Tuesday, November 22, 2011 6:24:51 PM


Ngô Nhân Dụng


Thị trường chứng khoán là một thước đo tâm lý. Ngày Thứ Hai, sau khi “Ủy ban 12 người” gồm 6 dân biểu và 6 nghị sĩ thuộc hai đảng công nhận họ thất bại không thể thỏa hiệp một cách nào giảm bớt khiếm hụt ngân sách, chỉ số Dow Jones của thị trường New York đã tụt ngay 2%.

Các nhà đầu tư không những lo ngại về tình trạng chính phủ thiếu tiền tiêu trong các năm tới; họ còn lo sắp diễn ra một tình trạng bế tắc chính trị ở Quốc Hội Mỹ, giống như đã xảy ra vào Mùa Hè vừa qua. Khi các nhà chính trị không thể nhân nhượng với nhau trên một vấn đề then chốt, thì nhiều vấn đề khác sẽ không được bàn mà giải quyết. Mà ai cũng thấy nước Mỹ đang có nhiều vấn đề, khi thất nghiệp vẫn trên 9%, kinh tế tiếp tục chậm lụt, và cuộc khủng hoảng về nợ ở Âu Châu đang đe dọa cả thế giới!

Chắc quý vị còn nhớ, Mùa Hè năm 2011 Quốc Hội Mỹ đã bế tắc trong quyết định nâng mức nợ của quốc gia để chính phủ có thể đi vay thêm. Quyết định đơn giản và bình thường đó đã gây cảnh tê liệt khi các đại biểu Cộng Hòa yêu cầu phải cắt bớt chi tiêu, tiến tới ngân sách cân bằng trước khi cho phép chính phủ vay thêm nợ. Họ đáp ứng các đòi hỏi của cử tri do phong trào Nhóm Tiệc Trà (Tea Party) thúc đẩy, mặc dù cân bằng ngân sách là một vấn đề lâu dài. Chính phủ Mỹ đã bị khiếm hụt trong mấy chục năm nay, trừ hai năm cuối nhiệm kỳ thứ hai của Tổng Thống Clinton. Ràng buộc quyết định tăng mức trần vay nợ với các biện pháp ngân sách lâu dài là một cách “bắt bí” bằng mối đe dọa chính phủ Mỹ vỡ nợ nếu không được vay thêm tiền!

Sau mấy tháng tranh cãi không đi tới đâu, người ta tạm hoãn cuộc thảo luận bằng một thỏa hiệp trao cho một “Ủy ban 12 Người” lo bàn luận và đưa ra một thỏa hiệp về ngân sách nhằm giữ cho mức trần nợ 15,000 tỷ Mỹ kim không tăng lên nhanh quá. Ðể cho 12 vị trong ủy ban thấy vấn đề cấp bách, đạo luật còn ấn định nếu ngày 23 tháng 11 vẫn không có biện pháp nào thì số chi tiêu của chính phủ Mỹ sẽ tự động bị cắt giảm toàn diện để trong 10 năm sẽ giảm bớt 1,200 tỷ đô la trong số chi tiêu của nhà nước. Việc cắt giảm sẽ bắt đầu từ năm 2013, và những món chi tiêu của Bộ Quốc Phòng, Bộ An ninh Nội địa cũng bị cắt, đây là một điều mà đại đa số các đại biểu Quốc Hội không muốn xảy ra.

Nay ủy ban 12 người chịu thua, luật “Cắt Tự Ðộng” sẽ được thi hành. Và các đại biểu của hai đảng hiện đang lo đổ lỗi cho nhau; Tòa Bạch Ốc đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa, và giới lãnh đạo Cộng Hòa đổ lỗi cho Tổng Thống Barack Obama. Tất cả mọi người đều hướng về cuộc vận động tranh cử năm 2012, để các cử tri quyết định.

Một điều cần nhớ là giảm bớt 1,200 tỷ đô la trong số khiếm hụt trong 10 năm tới không có nghĩa sẽ chấm dứt cảnh khiếm hụt ngân sách chính phủ Mỹ, mà chỉ là thắng bớt tốc độ gia tăng của con số khiếm hụt. Nếu ủy ban 12 người thành công thì trong 10 năm tới số khiếm hụt của chính phủ Mỹ sẽ chỉ tăng thêm 3,500 tỷ đô la; còn khi ủy ban chịu thua thì số khiếm hụt sẽ tăng thêm 4,700 tỷ; con số 1,200 tỷ là sự cách biệt giữa hai dự phóng đó. Nghĩa là dù ủy ban trên có hoàn tất nhiệm vụ thì căn bệnh khiếm hụt ngân sách vẫn còn, chỉ thuyên giảm trong khi chờ phương thuốc mạnh hơn mà thôi. Người ta cũng hy vọng khi kinh tế phục hoạt thì số thuế mà chính phủ thâu vào cũng tăng lên, số khiếm hụt tự nhiên bớt đi; giống như thời cựu Tổng Thống Clinton đã thực hiện được. Trong khi chờ đợi, chính phủ và Quốc Hội Mỹ phải giảm bớt chi tiêu hoặc tăng số thu, hay làm cả hai việc cùng một lúc, chỉ để cho cảnh khiếm hụt bớt trầm trọng, cho kinh tế Mỹ vững hơn.

Như vậy thì tại sao sau cùng 6 nghị sĩ và 6 dân biểu thuộc hai đảng không đạt được thỏa hiệp? Vì mỗi đảng có những lập trường căn bản mà họ không muốn, hoặc không thể hy sinh. Nghị Sĩ Pat Toomey, Cộng Hòa, tiểu bang Pennsylvania, trước đây từng “thề không bao giờ tăng thuế” cho đúng lập trường; nay ông đã chịu thỏa hiệp với đề nghị bãi bỏ một số “lỗ hổng” trong luật, tức là những khoản miễn thuế mà thường chỉ có những người lợi tức cao mới được hưởng. Ðây là một thỏa hiệp, tăng thu được 250 tỷ, mà chính các đối thủ thuộc đảng Dân Chủ cũng công nhận. Nhưng khi bàn đến việc chấm dứt việc giảm thuế cho những người lợi tức cao nhất mà các đạo luật thời Tổng thống Gorges W. Bush đã cắt bớt, thì các đại biểu Cộng Hòa không thể đồng ý được. Cũng vậy, khi các đại biểu Cộng Hòa đề nghị cắt bớt các phúc lợi y tế cho người về hưu (Medicare), lập lại các điều trong dự luật mà Hạ Viện đã thông qua trong Mùa Hè, thì phía Dân Chủ nhất quyết từ chối.

Bên Dân Chủ cố “bảo vệ lập trường,” họ chú trọng đến tăng thu hơn là giảm chi; không chịu cắt bớt những phúc lợi trong Hưu bổng Xã hội (Social Security), cùng các chương trình Y tế cho người về hưu (Medicare), cho người nghèo (Medicaid, còn gọi MediCal)... Bên Cộng Hòa cũng cố bảo vệ lập trường, chỉ muốn giảm chi tiêu mà không chịu tăng suất thuế những người có lợi tức cao nhất nước, trở lại thời trước thời các luật cắt thuế của Tổng Thống Gorges W. Bush.

Hai đảng đều đổ tội cho nhau là “ngoan cố” giữ “lập trường” của đảng mình, đưa tới thất bại. Người Mỹ nào cũng có thể thấy: Lời buộc tội của bên nào cũng đúng, dù đúng một phần. Tại anh, tại ả, tại cả đôi bên! Vấn đề chính là kềm hãm không cho số khiếm hụt ngân sách tăng nhanh quá. Mà ngân sách chỉ là một con toán cộng trừ đơn giản! Từ một bà nội trợ cho đến các chuyên gia phân tích chính trị đều biết rằng muốn ngân sách bớt khiếm hụt thì có hai đường: Hoặc phải giảm chi, hoặc phải tăng thu, hoặc cả hai mỗi thứ một tý. Trước con mắt người dân Mỹ bình thường thì 12 đại biểu thuộc hai đảng có thể thỏa hiệp được. Mỗi bên có thể nhường nhịn bên kia một chút; bên Dân Chủ đồng ý cắt bớt chi phí y tế cho người nghèo và giảm phúc lợi của người về hưu; bên Cộng Hòa chịu để người giàu đóng thêm thuế. Nhưng họ đã chấp nhận thất bại, không bên nào chịu tiến tới thêm một bước nữa để có thể gặp nhau, vì sợ “mất lập trường!” Họ muốn “để dành” cuộc thảo luận về hai vấn đề lớn này, cắt bớt chi tiêu về y tế, hưu bổng và tăng thuế người giầu, cho tới kỳ bầu cử năm tới dân Mỹ sẽ quyết định bằng lá phiếu.

Trong suốt thời gian ủy ban 12 người họp bàn với nhau, Tổng Thống Barack Obama đã né tránh không tham dự với ý kiến của hành pháp; sau khi đã đưa ra một đề nghị tổng quát nhằm cắt bớt 3 ngàn tỷ khiếm hụt. Ðảng Cộng Hòa đã công kích Tổng Thống Obama là trốn tránh trách nhiệm. Tòa Bạch Ốc giải thích rằng ông Obama không muốn can thiệp vào công việc của ủy ban 12 người vì sợ bất cứ ý kiến nào của ông cũng có thể gây phản ứng chống đối từ phía giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa, do đó sẽ khiến ủy ban 12 người không thể làm việc một cách độc lập được.

Nhưng sau khi ủy ban trên đã chịu thua thì ông Obama không còn lý do để đứng ngoài cuộc thảo luận lớn về chính sách quốc gia này nữa. Ông có trách nhiệm nêu ra trước dân Mỹ những vấn đề căn bản và cho biết ông muốn chọn giải pháp cụ thể nào. Thí dụ, gần đây một nhà báo hỏi ông tổng thống nghĩ sao về việc cắt bớt tiền hưu bổng xã hội (social security) ông Obama đã lấy thí dụ chính mình (50 tuổi) mà nói rằng khi ông về hưu chắc chắn phải lãnh hưu bổng xã hội thấp hơn những người đang về hưu bây giờ. Nhưng khi ký giả hỏi tiếp ông có đồng ý nâng số tuổi về hưu lên cao hơn hiện nay hay không, thì ông tổng thống từ chối không nói ý kiến cụ thể. Bây giờ là lúc các cử tri Mỹ muốn ông Obama phải đề nghị những ý kiến cụ thể, trên nhiều vấn đề, cho dân Mỹ chọn lựa giữa ý kiến của ông và của các ứng cử viên tổng thống khác trong năm tới.

Ðằng sau những bất đồng ý kiến về ngân sách, là lập trường của hai đảng trong đường lối cai trị nước Mỹ. Một vấn đề là chính phủ liên bang lớn hay nhỏ, đo lường bằng tổng số chi tiêu của nhà nước cao hay thấp. Một vấn đề khác là những phúc lợi xã hội mà nhà nước có bổn phận cung cấp cho các người về hưu, người yếu kém về lợi tức, và những người bị bệnh kinh niên hay tàn tật. Chính Tổng Thống Obama đã nói rằng bảo hiểm y tế xã hội (Medicare) và Y tế cho người nghèo (Medicaid) là hai món chi chính yếu khiến ngân sách sẽ càng ngày càng khiếm hụt. Người Mỹ trông đợi ông Obama đưa ra đề nghị cụ thể sẽ cắt giảm các món chi tiêu đó như thế nào.

Tổng thống một nước là người đóng vai trò “lãnh đạo” trong lúc khó khăn. Người lãnh đạo ở nước Mỹ bây giờ cần giải thích cho dân chúng hiểu tại sao phải cắt giảm những phúc lợi mà nhiều người đang hưởng; cũng như phải tăng thêm việc đóng góp mà nhiều người sẽ phải chịu. Sau khi tìm cách giải thích và thuyết phục rồi, vị tổng thống phải can đảm đưa ra ý kiến của chính mình để thỏa hiệp các nhóm có quyền lợi xung khắc. Ông Barack Obama có thể đứng ra làm công việc đó, với tư cách một tổng thống. Nhưng ông chưa sử dụng vai trò “lãnh đạo quốc gia” này mà vẫn rụt rè lo bảo vệ sự ủng hộ của đảng mình. Có lẽ ông không muốn bị chính người trong đảng mình chống lại trước cuộc bỏ phiếu sang năm?

Nhưng chính các đại biểu Quốc Hội Mỹ cũng đã lẩn tránh trách nhiệm. Khi lập ra cái ủy ban 12 người này là một cách Quốc Hội trì hoãn những quyết định khó khăn, cũng vì sợ phản ứng của các cử tri gốc đã bầu cho họ!

Các đại biểu Quốc Hội có thể tiếp tục giữ tình trạng bất đồng ý kiến, không chịu quyết định nào cả, cho tới sau cuộc bầu cử sang năm. Ðiều họ lo ngại là nếu thỏa hiệp bây giờ thì sẽ gây ra phản ứng chống đối ngay trong số cử tri “nòng cốt” trong đảng của họ. Nếu các cử tri hoạt động nhất đứng ra chống thì khó được đảng đưa ra tranh cử.

Nhưng Tổng Thống Obama thì không thể đóng vai “án binh bất động” như vậy được. Ông sẽ mất hết uy tín của một người lãnh đạo, và những cử tri độc lập, không nhất thiết ngả về đảng nào, sẽ thất vọng và bỏ rơi ông trong năm tới. Dù người ta biết trước các đề nghị ông Obama đưa ra chắc sẽ bị đảng Cộng Hòa phản bác, nhưng ông không thể lẩn tránh không đưa ra các giải pháp có thể bị nhiều người chống đối.

Quốc Hội Mỹ có thể “án binh bất động,” trong 12 tháng nữa, không quyết định các vấn đề thiết yếu tăng thu và giảm chỉ, chờ ngày dân bỏ phiếu lựa chọn. Hậu quả sẽ không trầm trọng như có thể lo ngại. Chúng ta biết là theo đạo luật được hai đảng thỏa thuận hồi Mùa Hè vừa qua, nếu ủy ban 12 người không đạt được một thỏa hiệp nào thì ngân sách chi tiêu sẽ tự động bị cắt giảm hàng loạt, trong đó cả các món chi tiêu về vũ khí và quân sự cũng bị cắt. Nhưng cũng theo luật trên, việc cắt giảm chỉ bắt đầu áp dụng từ ngân sách năm 2013; tức là sau cuộc bỏ phiếu bầu tổng thống và Quốc Hội. Nếu muốn, Quốc Hội và vị tổng thống mới được bầu vẫn có thể làm một luật mới vào đầu năm 2013 để thay đổi luật cũ.

Ông Obama có thể được lợi trong cảnh Quốc Hội dùng dằng không quyết định. Nếu đảng Cộng Hòa chịu nhượng bộ để thỏa hiệp về vấn đề ngân sách trong năm nay thì sang năm cuộc tranh cử có thể chỉ dành cho các đề tài về kinh tế suy yếu thôi, họ sẽ chĩa các họng súng vào Tòa Bạch Ốc, tấn công một nhược điểm mà chính quyền Obama khó lảng tránh! Ngược lại, nếu trong cuộc tranh cử sang năm mọi người chỉ tranh luận những vấn đề lớn và lâu dài, như tăng thuế người giầu và cắt trợ cấp người nghèo, thì dân chúng sẽ ít được nghe về những khó khăn kinh tế đang diễn ra!

Post Reply