QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Nhật ký An Lộc.

Giao Chỉ, San Jose.
Cuốn nhật ký bỏ quên.
Cuốn sách 470 trang của bác sĩ giải phẫu tại mặt trận viết về 86 ngày tại An Lộc quả thực là tác phẩm hay nhất mà tôi đọc lần thứ hai trong năm 2011.

Giả thuyết đây là chuyện binh đoàn Mỹ bị vây tại Khe Sanh hay lính Liên hiệp Pháp bị vây tại Điện Biên Phủ thì dù kết quả ra sao, câu chuyện của một y sĩ giải phẫu duy nhất tại tiền tuyến như bác sĩ Nguyễn văn Quý cũng làm cho tác phẩm trở thành một Best Seller trên thị trường sách vở tây phương.

Bằng một giọng văn của một bác sĩ trẻ tuổi, hết sức đơn giản, viết về những chuyện thực sự đã xẩy ra trong khoảng 3 tháng trên chiến trường Bình Long, tác phẩm đã làm cho độc giả hết sức xúc động.

Bác sĩ Quý đã ghi lại dưới hình thức hồi ký những chuyện xẩy ra đầu tháng 4-1972 tại An Lộc cho đến khi rời khỏi Bình Long vào tháng 8-1972.

Sau đó những trang nhật ký dường như bị bỏ quên cho đến khi tác giả ở lại Việt Nam, đi tù “cải tạo” rồi vượt biên. Khi đoàn tụ tại Hoa Kỳ cô em gái giữ được các trang nhật ký đã trao lại cho anh. Mãi đến năm 2002 cuốn sách mới được duyệt lại và do nhà Văn nghệ xuất bản.

Quả thực tôi không rõ năm 2002 tác phẩm đã phát hành bao nhiêu cuốn. Được đáp ứng ra sao. Tuy nhiên hiện nay sách không còn thấy trong các tiệm sách. Cuốn sách tôi mua và đọc gần 10 năm trước hiện đã bị thất lạc.

Cuốn sách đọc lại để giới thiệu tôi mới tìm thấy tại khu Việt ngữ của thư viện chính thành phố San Jose. Với nỗ lực tìm hiểu về trận An Lộc để làm DVD, tôi hết sức vui mừng gặp lại Nhật ký An Lộc.

Những chương sách.

Khi soạn lại để xuất bản tại Hoa kỳ, tác giả đã bổ túc và sắp xếp thành 32 chương sách. Mỗi chương sách viết về những giai đoạn của cuộc chiến nhưng cũng hướng về một chủ đề.

Đọc từng chương sách qua các chủ đề độc giả có thể hiểu được bao quát hoàn cảnh chiến trường. Tôi xin nhắc lại vài chương chính thí dụ bắt đầu bằng Ngày 6 tháng 4-72 là ngày những trái pháo kích đầu tiên rớt xuống An Lộc mở đầu cho cuộc tấn công. Rồi mất Lộc Ninh, Lương khô, Cứu trợ, Kho thuốc, Tản thương, Tù binh, Thả dù, Tấn công đợt nhất. Địa ngục trần gian.Di chuyển, Tái lập phòng mổ, Tấn công đợt II, Người ở lại, May rủi, Cô bé An Bình, Thăm chiến trường, Đi phép, Giã từ, Chiến sĩ xuất sắc và 30 năm nhìn lại.

Khi tác giả viết 30 năm nhìn lại là thời điểm duyệt lại tài liệu và phát hành sách lần đầu tiên năm 2002 tại Hoa Kỳ.

Ngày nay qua Hồi Ký An Lộc, chúng ta cùng nhìn lại thì chuyện Bình Long đã trải qua 40 năm.

Hậu phương ngay tại tiền tuyến.

Câu chuyện của bác sĩ Quý lôi cuốn và hấp dẫn ở chỗ đã mô tả cuộc sống hàng ngày của một bác sĩ giải phẫu làm việc trong điều kiện khó khăn. Thiếu phương tiện, thiếu tiếp liệu, thiếu nhân viên. Trong khi đó thương binh cần giải phẫu quá nhiều. Bệnh nhân bao gồm cả dân cả quân và cả địch.

Những ca mỗ liên tiếp trong lúc pháo kích vẫn dồn dập trên đầu. Trong lúc cấp thời, căn nhà rung chuyển vì bom đạn mưa bụi rơi xuống, bác sĩ theo phản xạ, vội lấy tay che bụng bệnh nhân đang mở toác ra giữa bàn mổ.

Các nhân viên y tế, cả nam lẫn nữ, cả dân sự lẫn quân sự, cả dân y lẫn quân y tiếp tục làm việc vì các y sĩ vẫn làm việc. Nhân viên của bệnh viện cũng chết vì pháo kích, cũng mất tinh thần cũng cố gắng để tiếp tục công việc. Điều quan trọng nhất là nỗ lực chịu đựng trong hoàn cảnh tệ hại nhất.

Một cách hết sức tình cờ, tác giả là bác sĩ giải phẫu duy nhất tại mặt trận nên đã thực hiện tổng cộng 248 trường hợp trong 86 ngày. Hầu hết đã được cứu sống. Một kỷ lục hiếm có.

Xem như cách tác giả trình bày, ông chưa từng có nhiều kinh nghiệm về giải phẫu tại chiến trường trước khi lên An Lộc.
Image
Đại úy Quý và toán nhân viên giải phẫu tại chiến trường
Y sĩ tiền tuyến.

Bác sĩ Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp đại học y khoa Sài Gòn năm 1967. Vì là con một nên có điều kiện hoãn dịch, nhưng ông đã tình nguyện nhập ngũ. Sau khi học căn bản quân sự, bác sĩ Quý về làm đại đội trưởng đại đội quân y của trung đoàn xung kích 43, sư đoàn 18 bộ binh.

Tại đơn vị này trung úy Quý có cơ hội tham dự các cuộc hành quân tại miền Đông Nam Phần trong vai trò y sĩ tiền tuyến. Sau ông về Saigon học giải phẫu một năm và xin đổi về làm y sĩ giải phẫu tại An Lộc sau khi tốt nghiệp.

Thị xã An Lộc thuộc tỉnh Bình Long đầu năm 1972 vẫn còn là một nơi bình yên và gần Sài Gòn.

Khi từ giã sư đoàn 18, bác sĩ Quý đã từ giã cả vị trung đoàn trưởng là trung tá Trần Văn Nhật. Khi về Bình Long ông lại có dịp gặp lại tiểu khu trưởng là đại tá Trần Văn Nhật. Ngày nay ông và chuẩn tướng Nhật cùng cư ngụ tại Nam Cali. Khi về nhận việc tại Bình Long, bác sĩ Quý có cấp bậc đại úy thực thụ. Từ giã Bình Long sau 86 ngày trong địa ngục trần gian, ông trở thành chiến sĩ xuất sắc của ngành quân y với cấp bậc thiếu tá.

Trong suốt 86 ngày An Lộc, bom đạn đã tránh ông nhiều lần kể cả một lần pháo kích ban đêm ngay tại giường ngủ đúng lúc ông đi ngủ lang chỗ khác. Còn đạn pháo kích rơi chung quanh là chuyện rất thường.

Bên cạnh những thương binh và những xác chết, không phải là vài chục vài trăm mà là hàng ngàn thương binh và hàng chục ngàn tử sĩ cùng dân chúng, bác sĩ Quý không giải thích được ý nghĩa của chiến tranh và đời sống. Sau cùng ông chỉ còn tin vào định mệnh và phần số của con người.

Viết về nỗ lực làm tròn nhiệm vụ, trong niềm hãnh diện kín đáo, người y sĩ giải phẫu của An Lộc luôn luôn cho rằng chỉ cố làm bổn phận mà ai gặp hoàn cảnh đó cũng phải thi hành.

Người y sĩ trẻ tuổi đã lựa chọn cho mình con đường nghĩa vụ của thanh niên thời chiến. Cũng như mọi người, ông muốn về phục vụ đơn vị gần nhà trong thời gian tương đối ổn định, nhưng định mệnh đã đưa ông vào An Lộc trong thời gian thị xã nhỏ bé này biến thành địa ngục.

Giây phút vinh quang.

Trong suốt 86 ngày chiến cuộc An Lộc, không phải toàn là những giây phút đen tối. Bên cạnh súng nổ đạn bay cũng có những hạnh phúc nhỏ bé khi bữa ăn được dọn ra, những lần được tắm rửa, những ca mổ thành công và sau cùng là những tấm lòng. Tình nghĩa giữa cấp trên và bác sĩ. Giữa các chiến binh bằng hữu, đại tá Nhật, thiếu tá Diệm và các y sĩ đồng nghiệp. Các cộng sự viên quân y và dân y. Các bệnh nhân gồm dân, quân và cả địch. Thương binh cộng sản cũng được bên an ninh đem đến cho bác sĩ giải phẫu. Chữa trị xong thì khóa vào giường sắt. Cả cô giao liên và anh bộ đội. Kẻ thù sống hòa nhập tự nhiên vào thế giới của Việt Nam Cộng Hòa tại khu bệnh viện.
Image
Dược sĩ Tân, bác sĩ Quý, bs Phúc và bs Davis

Image
Thiếu tá Quý từ giã Bình Long
Rồi nỗ lực của bác sĩ Quý được biết đến để thế giới tán thưởng ngay tại chiến trường. Giây phút vinh quang là ông được phóng viên báo Time vào hỏi chuyện ngay tại lúc An Lộc còn trong khói lửa. Rồi phái đoàn quân y Mỹ liều mình vào thăm để chứng kiến ca mổ nhẹ nhàng và thành công của y sĩ tiền tuyến Việt Nam ngay tại mặt trận. Vị y sĩ Hoa Kỳ đã xin đứng mổ phụ với bác sĩ Quý trong niềm hào hứng và khâm phục.

Bên cạnh những phút vinh quang có những niềm đau khi bác sĩ bất lực với những ca quá nặng. Đau đớn hơn cả là khi ông phải cắt chân cắt tay các bệnh nhân, các chiến hữu, các anh hùng của quân đội và cả những tay chân của các em bé.

Những chuyện bên lề.

Trong gần 500 trang sách hồi ký không hề thiếu những chuyện bên lề. Hình ảnh những cô y tá cả dân lẫn quân y, các nhân viên bệnh viện, trải qua bao nhiêu vất vả, mất ăn mất ngủ, dưới bom đạn, vẫn tận tụy làm việc và giúp ông thầy giải phẫu ngay dưới ánh sáng của các ngọn đèn pin.

Những đối thoại trao đổi trong hoàn cảnh nghiệt ngã của phòng giải phẫu cấp cứu và khu bệnh viện. Việc nhận tiếp tế thả dù cũng là một chuyện hy hữu với con số bẩy tám người đã chết vì các kiện hàng từ trên trời rơi xuống.

Tình chiến hữu thể hiện qua những người lính đưa ông thầy vào cho bác sĩ cứu chữa. Khóc lóc xin bác sĩ cứu cho đại úy của anh. Nhưng khi nằm dưỡng thương, ban đêm không có đèn, Việt cộng pháo kích, mọi người chen nhau chạy xuống hầm đã đạp nhầm lên ông đại úy thương binh, ông thầy của anh lính cần vụ nằm chết ngay bên cạnh.

Lại thêm một chuyện khác nữa, cũng như mọi người bác sĩ Qúy nghe đồn bộ đội cộng sản bị khóa chân vào chiến xa hay vũ khí nặng. Khi chiến trường tạm ngưng tiếng súng, ông tò mò đến từng chiến xa để quan sát. Leo lên được một chiến xa địch và ông thấy tận mắt xác bộ đội chỉ còn xương với giây xích khóa vào chân dưới tay lái.

Trong lúc bị đạn, xe tăng cháy, các bộ đội trong xe đã chạy khỏi chiến xa, chỉ còn lại anh lái nằm chết dần cùng với ngọn lửa bùng cháy. Người chiến binh lái xe tăng trải qua ngàn dặm dọc đường mòn Hồ chí Minh suốt 3 tháng, đưa chiến xa từ Vân Nam qua Hà Nội, qua Thanh Nghệ Tĩnh, Hạ Lào, Cam Bốt để vào nằm chết cùng xe tại An Lộc. Tuổi thanh xuân của anh không hề có lựa chọn.

Và cũng cay đắng không kém, anh bộ đội tù binh được an ninh đưa đến cho bác sĩ Quý giải phẫu rồi sau đó bị khóa vào giường sắt trong lúc nằm điều trị. Pháo kích của Việt cộng rơi vào khu bệnh viện, các thương binh của ta bị chết. Cùng một lượt anh bộ đội bị khóa vào giường cũng chết theo. Không ai biết anh đã chết ngay tại chỗ hay đã còn hấp hồi với bàn tay bị khóa bên giường của kẻ thù đã từng cứu cho anh sống.

Chuyện tản thương cũng hết sức phiền phức bắt đầu bằng quyết định ai đi ai ở. Những người được chuẩn bị đưa đi gần như phải trốn tránh, giữ bí mật nhưng rồi chở ra bãi đáp chờ cả ngày dài giữa cơn nắng hè và khói lửa pháo kích rồi lại trở về. Những tin tức về phi cơ không xuống được hay bị bắn rớt đã xẩy ra hàng ngày.

Dường như điều may mắn không được kể ra là bác sĩ Quý vẫn còn trong tình trạng độc thân, chỉ có mẹ già và em gái nên những ngày đen tối ở An Lộc tương đối không bị ảnh hưởng gia đình.

Sau cùng, giá trị đáng kể của tác phẩm là sự chân thực đã được viết ra. Tuyệt đối không có cường điệu, tuyên truyền hay hận thù . Có thể sách này viết và xuất bản ngay thời gian cuối 1972 dù đáp ứng được nhu cầu thời sự nhưng chưa chắc đã được kiểm duyệt giữ cho toàn vẹn.

Sách phát hành năm 2002 nên tác giả đã có toàn quyền ghi nhận những cảm nghĩ thành thực hơn cho những hình ảnh đã trải qua năm 1972.

Mong rằng câu chuyện của một bác sĩ tiền tuyến tai An Lộc sẽ là phần quan trọng trong DVD Bình Long Anh Dũng để lại cho thế hệ tương lai.

Tuy nhiên, riêng tác phẩm Hồi ký An Lộc nếu dịch ra Anh ngữ cũng dễ dàng được độc giả chấp nhận.

Đã có khá nhiều tác phẩm Anh ngữ do các tác giả và chiến binh Hoa Kỳ viết về chiến tranh Việt Nam, nhưng chưa bác sĩ Hoa kỳ nào trải qua các kinh nghiệm như bác sĩ Quý để có thể kể lại.

Hồi ký An Lộc rất cần được ra đời qua ấn bản Anh ngữ, dù là đã muộn gần nửa thế kỷ.

Rất mong như vậy.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Dòng nước mắt cho một bản quốc ca
Huy Phuong
Trải qua một thời gian dài nước mất nhà tan, bị tù đày, gia đình ly tán, phải sống dưới một chế độ thù nghịch, ngày được ra khỏi đất nước, được đứng nghiêm trang, mắt ngước nhìn lá quốc kỳ thân yêu xa vắng bao nhiêu năm, tai nghe lại điệu nhạc hùng tráng năm xưa, lòng bỗng dưng xôn xao bao kỷ niệm, hai dòng nước mắt tuôn rơi. Ðã bao nhiêu người mang tâm trạng như tôi vào những ngày đầu đặt chân đến xứ người. Phải chăng những điều gì đã mất khiến cho lòng chúng ta tiếc nuối và xót xa.

Nhớ mới một buổi sáng ngày nào, buổi chào cờ cuối cùng tại đơn vị và không ai ngờ đó là buổi chia ly, tan đàn sẻ nghé. Anh em đồng ngũ mỗi người đi về một hướng, người vượt thoát ra đi bỏ lại quê hương, người vào chốn lao tù nơi chốn rừng sâu nước độc. Gia đình miền Nam bỗng dưng tan tác, mỗi người lâm vào cảnh, không cách biệt giữa hai bên bờ sinh tử thì cũng nghìn trùng biệt ly.

Có những bản quốc ca xưa hàng trăm năm như quốc ca Hà Lan từ thế kỷ XVI, nhưng cũng có những bản quốc ca chỉ vang vọng trong một thời, non yểu trong hoàn cảnh chiến tranh, của một quốc gia vừa thành hình đã bị định mệnh chôn vùi. Trong đất nước ấy, tuổi trẻ bị dập vùi trong lửa đạn, tương lai mờ mịt trong khói súng, và những niềm hy vọng sớm tàn phai. Ðể bảo vệ cho tự do của miền Nam, một triệu thanh niên dưới lá quốc kỳ, đã nằm xuống, xương tàn cốt mục, mà bây giờ đã gần bốn mươi năm hài cốt vẫn còn xiêu lạc. Quốc ca đâu phải là một bản nhạc của một nhạc sĩ si tình nào đó viết cho một người, để đời sau những người ca sĩ hát lại cho những người mang cùng tâm trạng riêng lẻ ấy thưởng thức. Quốc ca là nhạc phẩm của một người viết cho triệu người nghe.

Xin đừng ai dạy bảo cho chúng ta biết định nghĩa thế nào là một bản nhạc hay. Lời đẹp, nhạc hay, nhưng tiếng “hay” không nói lên được một điều gì cả. Một bản nhạc mới được tác giả sáng tác xong, nếu mới nghe qua chỉ là đợt sơ khảo, mang cho người nghe cái cảm giác ban đầu hời hợt. Suối từ nguồn chỉ là những dòng nước, trở thành những con sông, chảy qua những bờ lau, cánh đồng, qua những chiếc cầu, qua xóm làng, tới những bình minh rực rỡ, đến những buổi chiều nắng xế và chan hòa với đại dương. Nhạc vô hồn nếu nhạc không mang những kỷ niệm, không in dấu được thời gian, không có quá trình vui buồn với cuộc sống của con người. Có ai nghe một bản nhạc mà không nhớ đến một quãng đời, không nhớ đến một kỷ niệm, không nhớ đến một người, ví dụ như trong câu hát nghe rất ngậm ngùi, liên tưởng trong thời chiến tranh: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già” (PD).

Tiến Sĩ Schubert là học giả nghiên cứu nghệ thuật trình diễn của Ðại Học New South Wales Úc cho rằng:”Nếu hỏi bất cứ ai bài hát họ ưa thích nhất là bài nào, nhiều người đã trả lời, đó là những bài hát mà họ đã từng nghe ở thiếu thời hay lúc mới trưởng thành”. Theo ông, những bản ca khúc luôn đọng lại trong tâm trí người nghe với nhiều nguyên do khác nhau như các khái niệm văn hóa, qua kinh nghiệm và sự việc được lặp lại nhiều lần. Chúng ta, vì vậy không lấy làm lạ khi những ca khúc thời chinh chiến hay những bản tình ca xuất hiện trong thời gian 65-75, gần 40 năm sau đều được đón nhận nồng nhiệt bởi những người bước vào tuổi 60 ngày nay ở ngoài hay trong đất nước.

Chúng ta thường mủi lòng nhớ đến quê hương đã bỏ xa khi nghe những khúc dân ca, những tiếng đàn bầu như lời than thở, những tiếng nhị hồ như lời khóc than. Và những con đò, những đêm trăng, những dòng sông, những bờ tre, những cánh đồng, những tiếng hò, những gì của làng mạc đã xa của một thời thơ ấu như sống lại. Ðó không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà là tiếng thì thầm của dĩ vãng, bỗng dưng hiện về. Trong âm nhạc, dân ca hay những bản nhạc mang âm hưởng dân ca thường đánh động đến lòng người và dễ gây xúc động làm người ta rơi nước mắt.

Nhưng nếu có một ca khúc tác động vào lòng người nhất thì tôi không ngần ngại nói rằng đó là bản quốc ca. Không phải ngày đầu tiên lìa xa đất nước ra đi, bỏ lại tất cả những gì gọi là thân yêu từ quê hương ruột thịt mà người ta đã khóc khi nghe lại bài quốc ca, mà cho đến bây giờ, gần mấy mươi năm qua, tất cả tưởng như đã rơi vào quên lãng, nhạt nhòa theo thời gian, những dòng nhạc như đã khơi lên những “trào lệ cảm”(*) trong lòng chúng ta.

Nhiều bản nhạc chỉ nhắc cho chúng ta nhớ đến một người, hôm nay bài quốc ca làm cho chúng ta nhớ đến hàng triệu người. Những người đã phải rời bỏ đất nước vì tự do, xa cội nguồn, đã bị xô đẩy đi khắp chân trời góc biển. Bài hát nhắc cho chúng ta nhớ đến những người đã chiến đấu, hy sinh thân xác và chết dưới cờ trong suốt một thời gian giữ nước. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại những cánh rừng, những con đường, những bãi biển, là chiến trường, nơi mà anh em ta đã gục ngã. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại nỗi nhục tù đày, những chiến hữu cụt què bất hạnh, những góa phụ cô đơn. Bài hát nhắc lại cho chúng ta khoảng thời gian ba mươi năm, dù là ngắn ngủi nhưng tràn đầy kỷ niệm. Bạn đã thấy người khác khóc và chính bạn đã hơn một lần nhỏ lệ cho quốc ca.

Xin hãy hát lên bài quốc ca, hãy ràn rụa nước mắt để khóc cho một nền tự do đã bị đánh mất, hổ thẹn cho một nền hòa bình trong tủi nhục và để nghĩ đến những người chết cho chúng ta sống, những người bị thương tật cho chúng ta lành lặn, những người ở lại cho chúng ta ra đi.

Huy Phương
Last edited by khieulong on Tue Mar 20, 2012 5:01 pm, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên
(Tháng 10-2003) Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.
Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự xoa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.

Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa.
Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta.

Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.
Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này.

Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ.

Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối.

Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan. Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế.

Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.
Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75.

Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu.

Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954.

Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho xuôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc.

Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.
Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một, tướng Viên đã kiên định như thế.

Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.
Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn.
Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông.

Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.
Image Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông xuôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai….
Lời người xưa còn vẳng bên tai : Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.
Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật.
Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào… Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối. Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. ( Tháng Giêng 2008 )
Giây phút .. khi nào.. đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.
Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.
Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái
là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54
Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình.

Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.”

Giao Chỉ – San Jose
Mùa Ðông 2008

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Hai người bạn - Có phải Đức “cụt”, Đại úy dù đấy không ? Thiệu đây. Thiệu cũng ở nhẩy dù, ngày trước thường đi với Tùng, Phát, Nhân. Nhóm tụi mình 5 đứa, có một thời mài mòn gót giầy trên đường Tự Do từ La Pagode đến Majestic, nhớ không ? Bao nhiêu năm rồi mà mày vẫn thế. Vẫn Django như thưở nào. Ê ! thằng con trai đứng dậy, đi nhậu !

Thiệu cố gợi thêm một vài kỷ niệm nữa nhưng Đức vẫn im lặng. Anh thản nhiên duỗi dài chiếc chân lành lặn gác lên ống quần của chiếc chân cụt, những ngón tay của cánh tay lành lặn kẹp điếu thuốc lá, thỉnh thoảng đưa lên môi nhắp nhắp. Chỗ anh dựa lưng là hàng rào của nhà ga xe lửa dơ bẩn đầy ruồi nhặng rác rưởi và tàn thuốc.

Thiệu biết rõ bạn đã nhận ra mình nhưng chắc có vấn đề. Không lấy thế làm buồn, anh không ngần ngại ngồi bệt xuống bên cạnh, quàng tay qua cổ bạn, nắn bóp chiếc vai gầy. Phe phẩy ống tay áo của cánh tay cụt đuổi ruồi, Đức há miệng ngáp rồi nhắm mắt vờ tọa thiền.

Tôn trọng bạn, Thiệu cũng không nói thêm lời nào.
Cả hai cứ giữ tư thế đó không biết bao lâu. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng.

Thiệu từ Mỹ về đưa đám người anh ruột vừa qua đời.
Ngay ngày đầu tiên anh đã tình cờ nhìn thấy Đức khi chiếc xe Taxi chở anh bị kẹt cứng giữa rừng xe đủ loại gần nhà ga. Anh tự hẹn sẽ phải trở lại tìm bạn sau tang lễ.

Đây là lần thứ ba về VN. Lần nào anh cũng có cảm tưởng mình là một người ngoại quốc ngay trên đất nước mình.
Tuy ở Mỹ gần hai chục năm nhưng công việc trong hãng xưởng không đòi hỏi phải nói nhiều nên tiếng Anh của anh chỉ đủ ăn đong. Tất cả mọi chuyện giao dịch, chợ búa, mua sắm đều có người VN phục vụ vì thế sống trên đất Mỹ nhưng Thiệu vẫn thấy mình giống như một “Ba Tầu Chợ Lớn trong khu Chợ lớn”.

Về VN anh ăn mặc rất xuềnh xoàng, nói tiếng Việt, âm hơi quê của dân miền Bắc, nhưng đi đâu cũng bị nhận diện là Việt kiều. Có người quen nói với anh rằng Việt kiều có “mùi” khang khác, không dấu được. Anh cười ruồi, cho rằng khéo tưởng tượng. Bây giờ anh mới thấy có lý khi bỗng nhiên Đức mở miệng nói trống không:
- Ông Việt kiều vinh quy bái tổ. Hừm…hừm…tốt, tốt. Đi chỗ khác tìm lọng rước vài nàng về dinh mà trả thù dân tộc. Đất nước này chỉ có chỗ cho ăn mày, không có chỗ cho ông Việt kiều bảnh chọe.
- Đức ! Tao là bạn mày. Tại sao mày nói vậy ? Mấy chục năm rồi nhưng tính tao có đổi thay đâu. Ừ, tao không dấu mày, tao ở Mỹ về nhưng tao không phải là loại “Việt kiều yêu nước” như mày nghĩ. Tao là một người VN có hộ khẩu ở nước ngoài. Mày biết đó, người ta cắt hộ khẩu của tao ở đây khi tao đi tù về, tao phải tìm cách mưu sinh thoát hiểm chứ. Tao chỉ là thằng thợ tiện ở xứ người chứ có làm cha chú gì đâu mà vinh quy bái tổ. Chưa bao giờ tao nhận Hoa Kỳ làm quê hương. Tao là người VN. Đất nước này là của mọi người VN, kể cả những thằng nguỵ như mày và tao. Tổ quốc VN không của riêng ai. Tổ quốc VN ở trong máu thịt của tao, không ai có quyền tước bỏ.

Đức đã trầm ngâm lại càng trầm ngâm. Anh móc bao thuốc, xoóc xoóc rất thiện nghệ, một điếu lòi khỏi miệng bao vừa đủ để lấy răng cắn kéo ra.
Thiệu mò túi áo bạn, tìm hộp quẹt, châm lửa.
Đức nhưóng mắt lên, nhìn thẳng vào mặt bạn, bỗng chửi thề: – Đ.M thằng con trai nhảy dù. Nhảy dù_ _ nhảy dù, cố gắng !_ _ cố gắng !

Biết bạn mình đã vui vẻ trở lại, Thiệu ôm chầm lấy bạn, lắc mạnh: – Nhẩy dù_ _ nhẩy dù, chỉ biết_ _ chạy bộ, không biết_ _ đi xe. Nhẩy dù_ _ nhẩy dù, một ngày_ _ là bạn, một đời_ _ là bạn.
Cả hai ôm nhau, đấm nhá nhau, cùng phá lên cười nắc nẻ.

Đức lấy tay gỡ chiếc kính cận thị xậm màu, dụi mặt vào vai áo của cánh tay cụt.
Thiệu cũng xúc động như bạn, nói như mếu: – Nhẩy dù_ _nhẩy dù, không biết_ _ khóc nhè, chỉ biết_ _ sụt sịt. Thôi, để tao đỡ mày dậy, tụi mình lại đi bụi đời như ngày xưa. Sống với nhau được phút nào thì cố tận hưởng phút ấy. Tụi mình đã già. Đừng để phí thời gian. Tao chỉ ở chơi với mày ngày hôm nay thôi. Ngày mai lại phải về Mỹ để tiếp tục kiếp trâu cày.

Quán vắng. Những lon bia, những tràng cười sảng khoái. Đôi bạn có biết bao nhiêu chuyện để hàn huyên. Hỏi thăm nhau tin tức từng người bạn cũ.
- Thế còn mày ? Tại sao mày không về quê sống với ông bà già mà lại chấp nhận sống ở vỉa hè ? Dẫu sao cha mẹ cũng vẫn là chỗ tựa vững chắc nhất trong mọi hoàn cảnh. Có cha mẹ nào bỏ con bao giờ đâu.
- Chuyện của tao dài như truyện dài nhiều tập. Từ từ tao sẽ kể. Mày hãy nói về mày trước đi.
- Tao…ơ. Đơn giản lắm. Trình diện học tập ở trường Taberd rồi được đưa đi nhốt trong các trại tù Long Khánh, Suối máu Hàm Tân, và sau cùng là Hóc Môn. Ở tù khoảng 6 năm. Ra tù không hộ khẩu, không việc làm. Sống lây lất nhờ chợ trời. Tối lẻn về ngủ tại nhà ông anh ruột ở bên quận 8 mà tao vừa đưa đám hôm qua.

Móc nối được với một tên anh chị bến tầu, hắn gởi đám “canh me” nhét lên chiếc tầu vượt biên. Biển êm sóng lặng, sau 3 ngày 4 đêm tới Bidong Mã Lai. Ăn cơm Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc được 13 tháng thì qua Mỹ.

Hội nhà thờ bảo lãnh. Được cho học nghề Tool & Die rồi đi làm. Lâu lâu bị layoff, xin trợ cấp thất nghiệp. Hết hạn thì vác đơn tìm việc chỗ khác. Cái vòng luẩn quẩn cứ như thế kéo dài đến gần hai chục năm. Không giàu có nhưng cũng không đến nỗi mạt rệp. Cái thằng đế quốc sừng sỏ nhất thế giới không dám để ai chết rét chết đói trên đất nước nó nên tao vẫn sống nhăn răng để được gặp lại mày ngày hôm nay.
Chuyện vợ con ư ? Thứ đồ xa sỉ phẩm không bao giờ tao nghĩ tới nữa. Lúc ở đảo, ghép form với một em độc thân có hai con để cùng đi Mỹ. Chịu đựng nhau được gần mười năm thì rã. Tiêu tán hết môt gia tài nhỏ. Ở giá từ đó.

Gãi mãi chỗ lăn tăn chán chê thì cách đây vài năm duyên trời dung dủi gặp một bà nạ giòng làm nghề tóc, quen từ hồi chuyển đến nhà mới. Thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn cơm chiều, rồi tối rủ nhau về nhà…gãi ngứa cho nhau. Cũng xong !
Tao chỉ còn ở ngoài quậy được ít năm nữa là phải đáo Nursing Home.
Còn mày sao ? Thật ra tao vẫn chưa biết gì nhiều về mày trước 75. Đi chơi với nhau nhưng tao không dám đụng đến những vấn đề tế nhị nên không hỏi. Bây giờ nếu muốn mày có thể nói.
- Mày nhớ cái thời các ông tướng trẻ làm loạn trên chính trường không ? Lúc đó tao là một trong những sinh viên tranh đấu của Đại Học Huế. Những con cừu non như tụi tao bị tổ chức nằm vùng khai thác triệt để. Chúng lợi dụng lòng nhiệt thành và máu nóng của tuổi trẻ, thổi phồng một cuộc cách mạng xã hội, xô đẩy tụi tao vào những cuộc biểu tình bạo động nguy hiểm.
Tao bỏ học và thi rớt liên tiếp 2 năm nên không đủ điều kiện để được tiếp tục hoãn dịch. Bị chính quyền bắt lính và đưa đi thụ huấn quân trường Đồng Đế, trừng phạt tội ngu xuẩn, rồi được gắn một chiếc “cánh gà chiên bơ”.
Tao vào nhảy dù, được cho đi học khóa bổ túc sĩ quan, tham gia đủ mọi cuộc hành quân lớn nhỏ của binh chủng.
Lần cuối trở về, không chết nhưng bỏ quên một cánh tay và một ống chân ở hỏa ngục Đông Hà cho chó sói gậm.
Mạ tao khóc, em tao khóc nhưng tao không khóc.
Tao chỉ nghẹn ngào khi được biết mối tình tưởng như vô vọng của tao trước đó thật ra là một mối tình đáng lẽ phải tuyệt đẹp.
Nga, người con gái tao thầm yêu, vào Tổng Y Viện Duy Tân thăm lúc toàn thân tao đầy băng bó, ẻn thú thật tình yêu chân thành giành cho tao ngay từ phút đầu gặp gỡ. Vì cả hai đều nhút nhát, hiểu lầm nên tụi tao đã đánh mất cơ hội. Tao đã làm lỡ làng đời tao và tao cũng phá vỡ duyên phận đời nàng, dù ẻn hứa sẽ chờ đợi tao vô thời hạn.
Đó là mối tình lớn và duy nhất trong đời tao. Suốt đời, tao không còn yêu ai. Nghe nói ẻn cũng thế.
Để tránh cái thế khó xử cho người con gái đương độ xuân thì, tao để lại cho ẻn trái tim rỉ máu mà đạn thù bắn không thủng, vào Saigon sống lang thang và gặp tụi mày.
- Ừ, ngày đó miền Nam đang sôi động với chiến cuộc nhưng Saigon vẫn đèn xanh đèn đỏ và nhạc vàng.
Một lần tao, thằng Tùng, thằng Phát và thằng Nhân đã ngà ngà, ghé vào “Quán Gió” trên đường Võ Tánh kiếm ly café giải nghể. Quán nhỏ, tối, có dàn nhạc dã chiến để các ca sĩ tài tử tự diễn.
Có một giọng ca khàn đục, nhừa nhựa khói thuốc, uể oải cất lên từ một người lính dù cao gầy, hai nách cặp đôi nạng gỗ, dáng đứng rất Django, một cánh tay cụt một chiếc chân cụt, áo bỏ ngoài quần, không lon lá, nón béret đỏ vắt cầu vai, mắt đeo kính cận đen. Tao nhớ mãi lời hát:

Xin cho mây che đủ phận người
Xin cho tôi một sáng trời vui
Xin cho tôi đến tận nụ cười
Cho tôi quên một nấm mộ tươi
Xin cho tôi xin vạn lần rồi
Một góc này chỉ biết rong chơi
Xin cho tôi yên phận này thôi
Xin cho tôi yên ngủ một ngày
Xin cho đêm không có đạn bay
Xin cho chim góp nhạc về trời
Xin cho tôi là kiếp của mây
Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời
Để bao giờ trời đất yên vui
Xin cho tôi xin lại cuộc đời
Cho tôi đi xây lại chuyện tình
Cho tôi đi nâng dậy hòa bình
Cho tôi đi qua tận gập ghềnh
Nhìn giòng máu trong tim anh
Cho tôi xin tay mẹ nồng nàn
Cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng
Cho quê hương giấc ngủ thật hiền
Rồi từ đó tôi yêu em
Xin cho tôi nguyên vẹn hình hài
Cho tôi nghe lời hát cỏ cây
Xin cho tôi quên phận tù đầy
Xin cho tôi là thoáng rượu cay
Xin cho tôi xin cả cuộc đời
Một hôm nào trẻ hát trong nôi
Xin cho tôi xin chỉ một ngày
Đó chính là mày. Một thằng lính bụi như tụi tao.


Thú thật với mày lúc đó tao muốn vò nát xé rách cái màn đêm bao quanh, cào cấu da thịt, tự hành xác cho thật đau đớn. Mày đã đưa tao đến chỗ tận cùng của cảm giác.
Sau đó mày tìm đến bàn tụi tao, kéo ghế ngồi như đã quen biết từ lâu. Tự giới thiệu Đức cụt, quan ba dù. Chữ “cụt” mày nói thật tự nhiên, có một chút hãnh diện. Thằng Nhân quan ba tầu bay chỉ từng đứa giới thiệu, Thiệu quan một Trinh Sát dù, Tùng quan hai TĐ81/BCND LLĐB, Phát quan hai TQLC.
Tụi mình thân nhau thật dễ dàng. Năm đứa kéo nhau đi uống tiếp ở bar Crazy Horse trên đường Tự Do.

Thấy một thằng Mỹ trắng to lớn đang đùa giỡn nham nhở với đám chiêu đãi viên, tao nổi điên xô ghế đá bàn đấm cho cu cậu một cú trời giáng rồi đá ra khỏi bar. Tội nghiệp cu cậu, không dám đánh trả chỉ thụ động đỡ đòn. Lần đó tao bị nhốt tù TTM ba ngày và lãnh năm củ.

- Nhớ rồi. Mấy tháng sau đó con chuồn chuồn sắt của thằng Nhân bị B40 bắn rơi. Tao đưa vợ nó đến Phi đoàn 247 Trực thăng Biên Hòa để được hướng dẫn đi nhận xác. Nó cháy đen, mỡ vàng ứa ra từ những vết nứt, chân tay co rút quắp lại trong thế ngồi, không nhận diện được mặt mũi. Vợ nó, mắt lạc thần, thẫn thờ ôm cứng xác chồng, cho đến lúc tẩm liệm vẫn không khóc. Chị biết cái ngày phải đến đã đến.

Ngưới ta bằng lòng cho chị được mang xác về thăm nhà 24 giờ. Chỉ 24 giờ phép rồi phải trả nó vĩnh viễn về đơn vị mới cùng với các chiến hữu đã giã từ vũ khí và với giun dế của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

Tao chưa thấy một phụ nữ nào can đảm như vợ nó. Chị là một cựu hoa khôi Trưng Vương. Yêu nó chị bỏ cả học bổng du học New Zealand, chấp nhận ở lại làm chinh phụ rồi quả phụ. Nghe nói bây giờ chị là Giáo Sư đại học ở Pháp, vẫn đẹp não nề và nhất định không tái giá.
Đêm đó, tao thức canh quan tài. Nhìn vợ nó, áo xô trắng, đầu quấn khăn tang, tay vân vê chiếc áo bay của chồng, xúc cảm trào dâng trong tao. Vịn vai chị, tao hát nho nhỏ :

Hôm nay đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Hôm nay đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy, hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi góa phụ nhạt mờ vết son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ôi! thèm nụ hôn quen
Chong đèn, hẹn sẽ đêm đêm đợi chờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
Mùi hương cứ tưởng hơi chàng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Tao chưa dứt bài hát thì chị bật òa lên khóc nức nở. Nước mắt ứ đọng từ bao lâu tuôn trào, ướt đẫm áo chồng. Tao cũng không cầm được nước mắt, lọc cọc nhảy ra ngoài trốn cái không khí thê lương.
Buổi sáng hôm sau có mày và Phát. Tùng bận hành quân không liên lạc được.
Sau đợt kinh cầu siêu của vị Đại Đức già, Phát lấy ly rượu cúng chia mỗi thằng uống một hớp, còn lại định đổ lên nắp quan tài thì vợ Nhân giật lấy uống cạn rồi úp ly. Chị nói, em uống thay cho Nhân đây, em say giùm cho Nhân nhé, Nhân ơi, em muốn say mãi đừng tỉnh. Chị khuỳnh tay y hệt dáng điệu thằng Nhân, nói với tụi mình bằng giọng trầm chậm rãi đúng giọng của thằng Nhân, tụi bay làm gì đến nhà tao đông thế, em ơi mở chai Hennessy rót cho mấy thằng bạn trời đánh của anh đi, anh đang bay không được phép uống rượu.

Thiệu ạ, tao lạnh mình vì ngỡ thằng Nhân nhập xác vợ hoặc giả chị đã hóa điên hóa dại rồi chăng.
Cả ba thằng thắp nhang vái nó, rồi giơ tay lên trán chào kiểu nhà binh trước di ảnh, cùng hẹn tái ngộ một ngày nào đó khi “tới số”.
Tội nghiệp thằng Phát, không biết giờ này ở đâu ? Không ai biết rõ tin tức của nó sau ngày gãy súng. Phường khóm đồn rằng nó vượt trại tù và bị bắn chết nhưng không được xác nhận. Có lẽ nó và thằng Nhân quanh quẩn đâu đây bên cạnh mình mà mình không thể thấy không chừng?
Thằng Tùng sướng nhất, ông chú nó nói, qua Mỹ nó học Dược và trở thành “ông Dược Sĩ”. Mày có gặp nó ở Mỹ không ? Không thấy mặt mũi nó bén mảng về VN.

- Nó tuyệt tích giang hồ từ lâu. Thằng Tùng vui lắm. Nó kể mỗi lần mày nhậu la de và khi bắt đầu lè nhè ngâm nga, tui xin các bạn đừng cười, tui đi tháo nước trong người tui ra, là nó biết điều đứng dậy, cho mày kẹp cổ thay đôi nạng dẫn đi toilet. Nó phải kéo fermeture quần cho mày, móc thằng nhỏ ra cầm cho mày đái, xong phải vẩy vẩy trước khi nhét vào lại trong quần. Nó nói đào của nó mà biết được chắc sẽ khóc thét lên vì mày không mấy khi cho nó được đi rửa tay…
- Sau 1975, chuyện tình của tao tưởng rằng hợp nhưng rồi lại tan. Nga tìm đến tao, rủ vượt biên.
Thất bại. Tao không có chân chạy khi bị bể bãi nên thoát. Du kích, công an mải xua bắt những người cố trốn chạy, bỏ quên tao.
Nga bị bắt, được cán bộ bảo lãnh ra, rồi lấy hắn.
Tao bị ném vào lòng hè phố từ đó. Tao sống sót và “trưởng thành” bất đắc dĩ từ cái xã hội đen kinh khiếp ấy. Không có mùi vị chua chát nào của cuộc đời mà tao không nếm qua. Tao không sợ vì tao chẳng còn gì để sợ. Nếu tao nói với một tên đầu gấu hoặc đại bàng nào đó, tao muốn ăn thua đủ thì nó biết tao nói thật và chào thua, mặc dù chỉ với một cú đấm nó có thể hóa kiếp tao nhưng không đứa nào dám thử. Tao liều mạng nên tụi nó không đổi mạng. Công an phường hành hạ tao chán rồi cũng buông tha.
Có một thời gian dài chân tao bị đau nhức không cựa quậy được.
Tao muốn tự giải thoát. Nhưng nợ trần gian không dễ quịt nên chưa được gặp Lucifer.

Vào bệnh viện đa khoa quận nhất, bị đuổi ra vì không có sổ khám bệnh. May gặp một ông Bác Sĩ mới học tập cải tạo về nhận là thân nhân. Mày biết Y Sĩ Đại Úy Tuấn, có bằng huấn luyện viên dù, trước ở bệnh xá Đỗ Vinh không? Ổng kết nghĩa anh em với tao sau đó và giúp đỡ tao tận tình.
Tao không có tiêu chuẩn được mua tại các hiệu thuốc quốc doanh nên ổng bỏ tiền túi mua các loại thần dược giảm đau rất đắt ở các nhà thuốc tư. Tội nghiệp, ổng nặng gánh gia đình, lại không khá giả, phải cưu mang tao nữa nên đôi khi phải cầu viện các bạn bè ở nước ngoài. Những tên thuốc như Oxycodone, Morphine, Codeine…không xa lạ gì với tao.
Bị chân hành hạ và phải uống thuốc với liều lượng mỗi ngày mỗi tăng, tao đã bao lần làm ổng phải vò đầu bứt tóc vì ổng biết tao dùng thuốc không theo chỉ định và đã nghiện lậm. Thương ổng tao thề không uống thuốc nữa, nhưng khi thấy tao quằn quại đánh vật với cơn đau thì chính ổng lại đưa thuốc cho tao uống.

Ngày ông đi HO qua Mỹ tao lết ra tận Tân Sơn Nhất tiễn. Tao đã mất một người anh, một ân nhân và một người bạn chân thành.
Không thuốc, tao sa vào thế giới mới, thế giới của những con ma chích choác. Ông Tuấn từ bên Mỹ nghe tin buồn lắm, gởi thơ về khuyên nhủ và nhờ một đàn em trong nghề, BS Châu, đến tìm tao và bắt tao đi cai. Chết lên chết xuống, nhập viện xuất viện không biết bao nhiêu lần, cuối cùng với sự kiên nhẫn bền bỉ, BS Châu đã giúp tao thành công.

- Tao mừng cho mày đã gặp được những “Lương Y như huynh đệ” chứ không phải thứ “Luơng Y như từ mẫu ghẻ”.
Họ tốt quá làm tao đâm ra có mặc cảm tội lỗi vì xưa nay đã chẳng bao giờ nghĩ đến cái bổn phận hay trách nhiệm của những người Việt Nam may mắn sau cuộc chiến.
Có ai muốn mua một cái chân hoặc một cánh tay của tao với giá bạc triệu đô la tao cũng không bán. Có ai gắn cho tao lon Đại tướng để đổi lấy một chiếc chân cụt, tao cũng không ham. Ấy thế mà mày đã tặng không cho đời một cánh tay và một ống chân, để trở thành người tàn phế cùng khổ nhất của xã hội. Đời thật bất công với mày.
Có mấy ai còn nhớ đến những “anh hùng què cụt đui mù sứt mẻ” đã vác thập tự giá cho họ?
Chưa đủ ô nhục, mày còn được đương nhiên đại diện cho toàn gia họ Ngụy, trong và ngoài nước, nhận lãnh những đòn thù của tiểu nhân quất trên tinh thần và thân xác què quặt của mày.
Đời sống vật chất dư thừa chỉ làm cho tao no thân ấm cật, ích kỷ. Tao có xin lỗi mày ngàn lần thì mày cũng không nhận, tao biết, bởi vì mày vẫn còn giữ cái khí khái của một quân nhân.
Mày đã chấp nhận mọi hoàn cảnh tệ mạt nhất mà không xin xỏ lòng thương hại.
Sống trong một môi trường nặng trĩu hận thù đầy kỳ thị, và trong một thân thể chỉ còn lại một nửa, tao không hiểu làm sao mày có thể sống sót đến ngày nay.
- Đó cũng là nhờ anh em phế binh tụi tao luôn luôn nâng đỡ tinh thần nhau, cùng chia đói chia no trong tình huynh đệ chi binh. Một thằng ngã có mười thằng nâng. Tụi tao vẫn hiên ngang chống nạng đi thẳng ngửng mặt nhìn trời.
Có người hỏi tụi tao, thương binh bộ đội cầm lựu đạn đi các hàng quán “xin đểu”, làm ăn rất khấm khá, tại sao tụi mày không bắt chước ? Cái tay cụt, cái chân què của thằng bộ đội hay của thằng nguỵ có gì khác, ai hỏi giấy ? Tụi tao không làm được, dù có cầm lựu đạn giả đe dọa. Đồng bào mình mà mày, nỡ nào kiếm sống bằng khủng bố. Hèn lắm.

Đức dẫn bạn đến vườn Tao Đàn, chọn một gốc cây cổ thụ phía đường Nguyễn Du, trải tấm giấy dầu, bỏ cặp nạng sau lưng, ngồi xuống. Thiệu ngồi đối diện, cách hơi xa một chút. Đức hát vu vơ một vài câu rồi bắt đầu đi vào bài bản. Những bản nhạc thời chiến đưa Thiệu về với quá khứ, nhắc bao kỷ niệm. Anh ngả người nhắm mắt, chống tay ra sau, nuốt từng lời ca của bạn. Đức hát say mê. Giọng rất chuyên nghiệp và truyền cảm, anh có âm vực rất rộng, xuống thấp lên cao rất ngọt, không bị gãy. Tiếng láy tròn trịa. Độc đáo hơn nữa, anh biết giả tiếng đàn guitar. Âm thanh phát ra từ cổ họng nghe hệt tiếng đàn điện.

Nghe có tiếng vỗ tay lộp bộp, Thiệu mở mắt. Có vài người khách đứng hai bên anh. Họ lần lượt bước lên bỏ tiền vào túi áo Đức. Một người khách để tiền kẹp dưới chiếc nạng gỗ, anh không nhận. Biết điều ông khách xin lỗi, nhặt lên bỏ lại vào túi Đức.
Trọn một ngày đi chơi với bạn, Thiệu hơi mệt vì không quen cái nóng ẩm và ô nhiễm khó chịu của Saigon. Tuy nhiên anh rất vui. Lúc từ giã cả hai đều bịn rịn. Anh hứa kỳ tới sẽ ở chơi lâu hơn để nghe cho hết truyện dài nhiều tập của bạn. Đức nói, chân tao bây giờ yếu lắm, không thể đứng hoặc ngồi lâu, tao không thể lên phi trường tiễn mày được. Thôi chúc mày đi thượng lộ bình an.
* * *
Về Mỹ, Thiệu vẫn nhớ lời hứa. Anh thương bạn đã già mà vẫn phải lê lết trên vỉa hè, trong công viên. Trước mắt, nó phải có một chiếc xe lăn, anh thầm nghĩ, sau đó mới tính tới chuyện khác.
Thiệu bỏ ra hẳn một tuần lễ tìm kiếm một chiếc xe lăn thích hợp cho bạn.
Anh tham khảo ý kiến của các Bác Sĩ VN chuyên khoa về phục hồi và vật lý trị liệu. Họ giới thiệu, cho anh chi tiết để so sánh giữa những tiện lợi và bất tiện lợi của hai loại electric wheelchair và electric scooter.
Đức là dân của đường phố nhưng lại có những giới hạn của thể chất, tay đã run, chân rất yếu, nên hơi khó chọn lựa.
Cuối cùng anh ra ngân hàng vét gần hết tiền trong trương mục tiết kiệm, quyết định mua chiếc electric wheelchair vì dễ xử dụng bằng những ngón tay, giữ thăng bằng tốt hơn, ghế ngồi tự động điều chỉnh độ cao thấp, và có thể bật ngửa lưng tựa ra phía sau kéo dài chân tựa ra phía trước làm thành một ghế nằm khá thoải mái.
Thiệu sửa sọan cho một chuyến đi mới, chọn ngày đến VN đúng sinh nhật của Đức.
** *
Sau gần 23 tiếng đồng hồ cưỡi mây lướt gió, chiếc máy bay của hãng hàng không United thả hành khách xuống phi trường TSN đúng hẹn. Làm thủ tục nhận lãnh hàng khá lâu.

Về đến nhà nguời anh thì đã quá trưa. Thiệu tắm rửa sơ sài, thay quần áo ngắn.
Anh mang chiếc xe lăn đến một nhà hàng trên đường Phạm Ngũ Lão chuyên tổ chức tiệc sinh nhật, nhờ nhân viên gói hộ. Đặt một phòng nhỏ phía trong kín đáo, hàng chữ “mừng sinh nhật Đức cụt” đơn giản được chọn, giăng ngang cửa.

Xong xuôi anh thả bộ đến khu nhà ga tìm Đức. Không gặp bạn, anh đi quanh quẩn hỏi thăm. Gã lái xe ôm nhanh nhẩu đề nghị anh lên xe, tìm giúp. Hơn một giờ chạy cùng khắp thì thấy Đức đứng dựa góc tường phía sau hông nhà thờ Đức Bà. Anh vừa hút thuốc vừa hát vu vơ không thành lời. Khán thính gỉa của anh là một đám trẻ bụi đời.

Có nhiều tiếng lao sao, tiếng con nhỏ bán vé số rõ nhất:
- Chú hát bài “anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương” đi chú. Hôm trước chú hát bài ấy có ông khách mua cho con một tập vé số mà hổng nhận vé, biểu con đưa cho chú nhưng chú sỉn quá con sợ tụi xóm Chà lại móc túi chú nên hôm nay con mới đưa. Chú hát đi rồi con đưa, bài đó hay lắm đó chú.
Đức không chần chừ hát liền.
Con bé trông hơi lem luốc nhưng có đôi mắt sáng tròn xoe nổi bật trên khuôn mặt thanh tú dễ nhìn. Nó ngồi chống cằm nghe như người lớn. Thiệu lẳng lặng đến ngồi sau nó, hôn lên mái tóc khét mùi nắng, nói:
- Cháu ơi, chú mua cho cháu 2 tập vé số. Một tập chú tặng cho cháu, giữ lấy đừng bán, chờ ngày xổ, nếu may mắn sẽ đổi đời, mai mốt biết đâu cháu sẽ trở thành hoa hậu ? Một tập cháu mang cho chú Đức nói với chú có một người khách hâm mộ tiếng hát của chú muốn mời chú đi ăn cơm chiều nay. Chú cũng mời tất cả các cháu ở đây đi luôn.

Cả bọn vỗ tay reo mừng, nhưng có 3 đứa cúi mặt lững thững bỏ đi. Thiệu gọi giật lại, hỏi lý do. Cả 3 im lặng. Gặng mãi, đứa lớn nhất trả lời lí nhí, tụi con mắc đi bán, nếu không đủ tiền mang về tối nay má đánh đòn đau lắm. Thiệu an ủi, các cháu đừng lo, còn thiếu bao nhiêu chú sẽ bù đắp, cứ đi chơi chung với các bạn, chịu không ? 3 đứa quệt nước mắt, gật đầu.

Cả bọn kéo nhau lên ngồi chật cứng chiếc xe Taxi minivan Mercedes 10 chỗ. Tên tài xế tỏ vẻ khó chịu. Thiệu làm bộ không chú ý, ra lệnh lái thẳng đến nhà hàng Phạm Ngũ Lão.
Một đứa biết đọc chữ reo lên:
-Tụi bay ơi, coi kìa, hôm nay là ngày sinh nhật của chú Đức cụt. Chú Đức sướng quá ta !
Con bé bán vé số có đôi mắt sáng ra vẻ sành sỏi:
- Chú Việt kiều này là bạn chú Đức đó tụi bay. Mấy chú công an hổng ưa chú Đức nhưng tụi mình ai cũng thương chú hết. Hôm nào có tiền chú còn bao tao uống nước mía, nước xí muội, nước đá chanh nữa. Chú biểu tao là con gái nuôi của chú đó.
- Con nhỏ này xí xọn, bộ tụi tao không biết chú Đức, chỉ có mình mày biết chú thôi hả ? Tao còn biết có mấy ông sang lắm có xe hơi mời chú mà chú chê đó tụi bay.
Bữa tiệc không có món gì đặc biệt nhưng tất cả ăn rất ngon miệng. Các đĩa đồ ăn được thanh toán gọn sạch, không một chút dư thừa. Đến phần cuối, cắt bánh, lũ trẻ reo hò như ong vỡ tổ. Đức cảm động vịn bàn đứng dậy cầm dao, tay run run không cắt nổi miếng bánh. Thiệu hô lên:
- Con gái nuôi của Bố Đức đâu, cầm tay giúp Bố cắt bánh coi.
Đức định nói một vài lời gì đó, nhưng Thiệu dơ một ngón tay lên miệng suỵt suỵt:
- Có một thằng lính họ Ngụy chịu ơn trời biển của Đại Úy, đã giải vận hạn cho nó và họ hàng Nguỵ nhà nó bằng cách hy sinh một cánh tay và một cái chân cúng dường cho ma quỷ để tất cả giữ được toàn vẹn thân thể, có một món quà muộn màng gửi đến Đ/U, mong Đ/U hoan hỉ nhận.
Thùng quà được mang ra. Đức xé bao giấy, gục mặt trên chiếc xe lăn, lắp bắp:
- Thiệu, Thiệu có phải tao đang nằm mơ không ?
Thiệu dậy thật sớm, bắt xe ôm đến nhà ga.
Anh tò mò muốn xem khuôn mặt bạn mình lúc còn ngái ngủ nên ẩn mình sau một gốc cây kín đáo thật gần để quan sát.
Đức dậy còn sớm hơn anh, đang tập xử dụng mọi chức năng của chiếc xe lăn chưa bao giờ mơ tưởng. Anh điều khiển cho xe chạy lui chạy tới, quay phải quay trái, quay nửa vòng, quay trọn vòng, thử đủ kiểu, giống một đứa trẻ thử đồ chơi.

Trời còn se lạnh nhưng anh vã mồ hôi. Mệt, anh ngừng lại, hút một điếu thuốc, ngửa mặt lên trời thở khói.
Khuôn mặt sáng lên bởi những tia nắng trong vắt đầu ngày xuyên qua từ cành lá. Thiệu đọc được trên đó nét rạng rỡ. Niềm hạnh phúc đến bất chợt, anh hít một hơi mạnh sảng khoái. Anh biết bạn anh cũng thế. Đức ơi, tao đang chia xẻ hạnh phúc với mày đây. Cái hạnh phúc sao nhỏ bé và mong manh quá. Có phải nó là giọt sương đang đọng trên chiếc lá kia, long lanh như hạt kim cương óng sắc, nhưng chỉ một chốc thôi sẽ tan thành nước ?
Tao sợ, tao sợ. Tao cầu nguyện cho hạnh phúc ở lại với mày. Tao là thằng hoang đạo nhưng tao tự hứa sẽ đi lễ chủ nhật này. Sẽ xưng tội, sẽ dâng lời cầu nguyện cho mày. Sẽ làm tất cả những gì Thiên Chúa muốn để cho mày được sống bình an hết kiếp này.

Mày phải có một đường đi mới không tăm tối, mày cần phải có một lòng tin.
Con “Đường Bác Đi ” người ta “tử tế” nhường cho mày hãy để lại phía sau, lấp nó đi đừng để cho người khác dẫm nữa.
Hay là tao sẽ lôi cổ mày vào nhà thờ với tao hoặc tao sẽ hộ tống mày tới cửa chùa, đến với Đức Phật mà mày từng nói Mạ mày rất sùng kính ? Đức ơi, làm ơn dễ dãi một chút, kéo được mày đi đến chốn ấy thì cũng khó như bảo cô dâu đừng trang điểm trong ngày cưới.
Không biết đang nghĩ gì, bỗng nhiên Đức giơ cánh tay không cụt lên cao, rồi vỗ đùi, nhe răng cười hí hửng như đứa trẻ được kẹo.
Thiệu mỉm cười, lắc đầu, nói với mình, thằng con trai cười khó có cảm tình quá, ngày mai chắc phải đưa nó tới Nha sĩ gắn hai chiếc răng khuyết, cho nó có nụ cười Fernandès dễ thương hơn.

Ra khỏi chỗ nấp, Thiệu len lén đứng sau chiếc xe lăn, hét vào tai bạn làm Đức giật mình suýt té xấp: – Đức cụt ! Nhẩy dù_ _nhẩy dù, không thích_ _ bia ôm, chỉ thích_ _ café. Đi uống café với tao !
Nắng lên rất nhanh, chan hòa, ấm áp, không đuổi kịp bước chân và bánh xe reo vui của đôi bạn.

Viết ngày 10 tháng giêng năm 2009
(Cám ơn Milou đã ngoan ngoãn bất thường, không phá Bố )

TCN

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Ý Nghĩa Màu Cờ
Tác giả Đinh Lâm Thanh.


Lá cờ vàng, biểu tượng thiêng liêng của tình yêu đất nước, từ lâu lắm đã nằm trong đáy tim của người dân miền Nam, và đã như một phần đời sống không thể nào tách rời.
Tình yêu người dân miền Nam dành cho lá cờ Việt Nam Cộng Hòa lớn quá, sâu đậm quá, đến độ sẵn lòng đổi cả mạng sống mình cho tình yêu ấy. Xin kính mời quý vị trong phút giây này, chúng ta hay lang long cùng tưởng niệm với bài viết “Ý nghĩa màu cờ”.

**Màu Vàng, màu da của noi giống con Rồng cháu Tiên, với một lịch sữ oai hùng đã ngàn năm anh dũng chiến đấu chống ngoại xâm. Ba Sọc Đỏ tuong trung ba Miền Trung-Nam-Bắc, anh em ruột thịt một nhà. Ba Sọc Đỏ còn là biểu tượng của ba giòng sông Hồng Hà - Hương Giang - Cữu Long và ba nền văn hoá cổ truyền…nhưng cùng chung một nguồn gốc, một giòng máu. Nhu vay la cờ Vàng là biểu tượng chính thức của một sự kết hợp tuyệt diệu giữa lịch sử, noi giống, đất nước, văn hóa, tình cảm và lý tưởng của dân tộc ViệtNam.

Giờ đây, quê hương xa cách ngàn dặm, đồng bào quằn quại đau thương… Câu hỏi có thể làm gì cho tổ quốc, giúp gì cho dân tộc là những trăn trở của những ai nặng tình quê hương, thì không gì hơn, nơi đất khách quê người, chúng ta hãy đến với nhau dưới màu cờ Tổ Quốc, để từ đây, chúng ta có thể chung sức đoàn kết tạo sức mạnh, tìm một hướng đi cho đúng mục tiêu.

Phải nói rằng người Việt hải ngoại tạm thời mất tất cả ngoại trừ lá Quốc Kỳ. Nhưng màu cờ Vàng Quoc Gia chính là linh hồn tổ quốc, là tình yêu quê hương, là lý tưởng tranh đấu, là điểm tựa của người tha hương, thì xem như chúng ta vẫn còn tất cả ! Vậy chúng ta hãy đến với nhau dưới một màu cờ. Một hành động nhỏ nhưng bao gồm nhiều ý nghĩa trọng đại qua các hành động:


- Hãy đặt bàn tay phải lên trái tim, mắt hướng về ngọn cờ để cảm thấy lòng mình ấm lại như đang sống trong lòng dân tộc, trong yêu thương của những người cùng chiến tuyến và trong vòng tay ân tình ruột thịt của đồng hương.

- Hãy cúi đầu mặc niệm để hình dung đến những người đã nằm xuống cho quê hương, cho tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Để cảm thấy trai tim mình rung động vì những người đã chết để cho chúng ta được sống, những người đã anh dũng nằm xuống để cho chúng ta đủ nghị lực đứng lên. Không bao giờ chúng ta quen được các anh chiến sĩ đã hy sinh một phần thân thể và các cô nhi quả phụ đang sống lây lất tại quê nhà để cho chúng ta có cuộc sống an lành nơi bầu trời tự do…

- Hãy đến dưới màu cờ Tổ Quốc và dành vài phút yên lặng, để nghe trái tim mình rung động, để lòng mình lắng xuống và tâm hồn bay cao với những ước mơ đẹp đẽ sẽ đến với quê hương yêu quí của chúng ta trong một ngày không xa…


Đinh Lâm Thanh,
Paris

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Năm Thìn Nói Chuyện Rồng

Kha Lăng Đa

Năm nay là năm Nhâm Thìn 2012, tức là “năm rồng”. Thìn là con giáp thứ 5 trong 12 con giáp và rồng là con vật thứ nhứt trong bộ tứ linh long, lân, qui, phụng.
Rồng là con vật cao quý nhứt. Người xưa chỉ dám so sánh bậc thánh hiền với con Phụng chớ không dám so sánh với rồng. Do đó, rồng được làm biểu tượng cho vua, chúa.

Thiên hạ nghĩ rằng rồng là con vật tưởng tượng, theo truyền thuyết, nhưng người ta cũng phân biệt 2 loại rồng: rồng châu Á và rồng châu Âu.
Rồng Á châu thì hình dạng giống con rắn còn rồng Âu châu thì giống con kỳ nhông (Dragon). Rồng Á châu tượng trưng cho sự cao quí, giúp người (Theo truyền thuyết: rồng lấy nước làm mưa cho mùa màng tươi tốt) còn rồng Âu châu lại là con ác thú, giết hại loài người.
Con Dragon thì có thật. Nó giống như con kỳ đà, thuộc loại thú ăn thịt và có nhiều loại Dragon. Chữ La tinh gọi nó là Draco, chữ Anh, Pháp, ý là Dragon. Có loại Dragon nhỏ như con thằn lằn, có loại lớn như con Dragon Komodo ở đảo Komodo và Indonésia, dài 2m, nặng 150kg ( Tên khoa học là Varamuo Komodoens). Loại Dragon nhỏ hơn có con Dragon volan mà người ta thường gọi là”thằn làn bay”(Physignathus cocinon). Ở miền thượng du Bác Việt của nước ta cũng có loại nầy, tên gọi là ‘rồng đất”, dài khoảng 50cm.
Ở Mỹ có nhiều loại Dragon nhỏ được bày bán trong các tiệm “thú cưng?(Pets).

Hình tượng con rồng thì có từ thời lập quốc của vua Hùng mà người ta gọi là con Giao long ( Rồng của nước Giao chỉ). Thời thượng cổ, con Giao long và nhiều loài thủy quái thường xuất hiện ở khu vục hoang vu của sHCMng, Long Biên và Vịnh Hạ Long, giết hại ngư dân nên dân đánh cá có tục xâm mình (để cho loài thủy quái tưởng là đồng loại, không tấn công họ).
Đến thời Pháp tuộc, loài thủy quái vẫn còn. Ông Oudermans xác nhận rằng người ta đã thấy thủy quái xuất hiện hàng trăm lần trong khoảng 1802-1890. Chính ông đã thấy thủy quái hình con rồng dài khoảng 15 đến 30m, đầu nhỏ, có râu, đưôi dài, có 4 vây to. Nó lội nước, uốn mình như con rắn khổng lồ.
Tháng 7 năm 1897, Ông Lagrisill là thuyền trưởng tàu Avanlanche đã quan sát bằng ống dòm thấy con ròng đang lội. Ông liền cho tàu tới gần và bắn nó bằng súng đại bác, nhưng không trúng. Con rồng lặn mất. Sau khi lặn, nó phun nước lên như cá voi. Năm sau, rồng lại xuất hiện nữa . Như vậy là con Giao long có thật! đến thế kỷ 19, còn sót lại vài con, bị người Pháp tiêu diệt.
Hình tượng con rồng xuất hiện ở Trung Hoa vào đời Tuyên Đức (1426-1435), được vẽ trên đồ gốm, đồ sành, đồ đồng. Người ta nhận xét rằng Trung Hoa lấy con Giao long của nước ta vẽ thêm chân, sừng, râu ria trông rất hùng dũng, oai nghi!
Người Đại Hàn chọn con rồng xanh ( Thanh long) làm rồng thiêng của tổ quốc. Người Nhựt chọn con rồng đen ( Hắc long) làm rồng thiêng của nước họ cho nên có đảng Hác long trước năm 1945.

Sách xưa đã phân loại rồng như sau:
_ Ưng long là loại rồng có cánh.
_ Cù long là loại rồng có sừng.
_ Ly long là rồng không có sừng.
_ Rồng có vảy gọi là Giao long ( tức là con rồng của nước Giao chỉ)
_ Bàn long là loại rồng chưa biết bay.
Rồng phát triển thân thể theo tưởi:
_ 500 tuổi, rồng có sừng.
_ 1.000 tuổi thì rồng có cánh.

Rồng là hoá thân của cá thi đậu ở vũ môn. Vũ môn là tên của một khúc núi ở thượng lưu sông Trường giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Chân núi có một cái vực rất sâu, tương truyền mỗi năm đến mùa Thu, nước lụt lớn, các loài cá đua nhau đến đó dự cuộc thi. Con nào nhảy qua được 3 tầng vũ môn sẽ hoá thành rồng. Huyện Hương khê – Hà tỉnh của nước ta cũng có một cái vực sâu cạnh núi giống như vũ môn.

Vì là con vật cao quý biểu tượng cho vua chúa nên những từ ngữ thuộc về “thiên tử” đều có chữ “long” kèm theo:
Long vương: vua biển – Long bào: áo của vua – Long nhan: mặt vua – Long xa: xe của vua – Long sàng: giường của vua nằm – Long mạch: mạch rồng, chỉ đất hưng thịnh, ai được mai táng nơi đó thì con cháu vinh hoa, phú quý, rỡ ràng danh phận....
Đây là một số thành ngữ có chữ “long”:
_ Rồng bay phụng múa.
_ Rồng mây gặp hội.
_ Rồng đến nhà tôm.
_ Rồng thiêng uốn khúc.
_ Đầu rồng đuôi tôm.
_ Rồng ở với giun.
_ vẽ rồng vẽ rắn.
_ Thêu rồng vẽ phụng.
_ Chạm rồng trỗ phụng.
_ Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo.
_ Long bàn hổ cứ ( rồng nằm hổ ngồi)
_ Long đầu xà vĩ ( chỉ việc trước hưng thịnh, việc sau suy thoái)

Trong văn chương Việt Nam, rồng được đề cập đến rất nhiều:

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung,
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
( Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Trai anh húng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng.
(Truyện Kiều)

Nhứt là trong ca dao, rồng được ví von, thêu dệt rất phong phú:

Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng,
Dù ai thêu phụng vẽ rồng em cũng không ham.

Tình cờ ta gặp mình đây,
Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.

Rồng nằm đáy vực rồng đoanh,
Em nằm phòng vắng chờ anh đêm ngày.

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.

Trong lưng chẳng có một đồng,
Lời nói như rồng cũng chẳng ai nghe.

Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của ngon.
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem chừng cá vượt vũ môn hoá rồng.

Rồng chầu xứ Huế, ngựa tế Đồng nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài.
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.
Tới đây thì phải ở đây,
Bao giờ bến rễ xanh cây mới về.


Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình.

Rồng giao đầu, phụng giao đưôi,
Nay tui hỏi thiệt: mình thương tui không mình?

Rồng đen lấy nước thì nắng.
Rồng trắng lấy nước thì mưa.

Có lẽ vì nguồn gốc dân tộc Việt Nam là nòi giống Rồng Tiên nên người xưa đã đật tên cho nhiều địa danh từ Bắc chí Nam mang chữ “long”, như: Long biên, Thăng long, Vịnh hạ long, Kim long , Long khánh, Long điền, Long hải, Long giao, Phước long, Bình long, Long thành, Long bình, Long an, Vĩnh long, Long hồ, Long mỹ, Long xuyên, Thới long ( 1 xã của quận Ô môn- Cần thơ), Long tuyền ( 1 xã của quận Bình thủy - Cần thơ), Long Toàn...

Đặc biệt, nước Việt Nam có dòng sông Cửu long là mạch sống của nông nghiệp nước ta vì hằng năm nó đem phù sa vào đồng bằng miền Nam làm xanh tốt mùa màng. Sông Cửu long phát nguyên từ Tây Tạng, dài 4.000 km, chảy qua Trung Hoa, Lào, đến Campuchia thì có nhánh “Tonlésap” rẽ vào Biển hồ rồi xuôi về miền Nam bằng 2 nhánh Tiền giang và Hậu giang ( còn gọi là sông Bassac), thoát ra biển bằng 9 cửa: của Tiểu, cửa Đại, Ba lai, Hàm luông, Cổ chiên, Cung hầu, Định an, Ba thắc, Tranh đề.

Theo sử gia Trần trọng Kim thì cội nguồn của Lạc Long Quân từ vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú ở phương Nam, đến Ngũ Lĩnh ( thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ)gặp một nàng tiên, lấy nhau, sinh ra một người con tên là Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỹ.
Nước Xích Quỹ Bắc giáp Động Đình Hồ ( Hồ Nam), Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), Tây giáp Ba thục (Tứ Xuyên), Đông giáp biển Nam Hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỹ khoảng năm Nhâm Tuất 2879 trước Tây lịch và lấy con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sanh ra Sùng Lãm, nối ngôi vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái của vua Đế Lai tên là Âu Cơ, sinh ra một lần được 100 người con trai (1). Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được, nay được một trăm đứa con thì nhà ngươi đem năm mươi đứa lên núi, còn năm mươi đứa ta đem xuống bể Nam Hải.
Gốc tích truyện nầy có lẽ từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỹ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay, đất Hồ Quảng (Tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây) còn xưng là Bách Việt.
Lạc Long Quân cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương và tiếp nói trị vì đất nước đến 18 đời Hùng Vương.

Cái thành nổi tiếng của Hà Nội “Ngàn năm văn vật” là thành Thăng Long. Nói đến thành nầy, chúng ta nhớ đến nhân vật lịch sử Lý Công Uẩn. Ông làm quan đời Tiền Lê, chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi vua “ngoạ triều” Lê Long Đỉnh băng hà thì Lý Công Uẩn được nhóm Đào Cam Mộc kết hợp với Sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên làm vua vì lòng dân lúc đó oán hận nhà Tiền Lê.
Lý Công Uẩn lên ngôi xưng là Lý Thái Tổ. Vua thấy đất Hoa Lư chật hẹp, không thể làm kinh đô được nên quyết định dời đô về thành Đại La. Tháng 7 năm Thuận Thiên Nguyên Niên (1010), khi dời đô đến thành Đại La, Thái Tổ lấy cơ có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Theo truyền thống của tổ tiên, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đưa hình ảnh con rồng vào quốc huy. Quốc huy mang hình 2 con rồng “chầu” 2 bên, ở giữa là cờ vàng ba sọc đỏ. Báo chí thời Đệ Nhị Cộng Hoà hay gọi Dinh Độc Lập là “Phủ Đầu Rồng”. Hãng Hàng Không Việt Nam Cộng Hoà cũng mang phù hiệu con rồng xanh.
Đặc biệt, phù hiệu “Tổ Quốc Không Gian” của Không Quân VNCH có hình con rồng rất oai dũng, rồng nầy thuộc loại “Ưng long”, tức là rồng có cánh mà cánh của nó mang màu sắc quốc kỳ VNCH. Quân chủng Không Quân có nhiều Phi Đoàn mang danh hiệu là “rồng” như Phi Đoàn 219 - Long Mã, Phi Đoàn 413 - Xích Long, Phi Đoàn 415 - Thanh Long, Phi Đoàn 817 - Hoả Long, Phi Đoàn 819 - Hắc Long, Phi Đoàn 821 - Tinh Long, Phi Đoàn 229 - Lạc Long, Phi Đoàn 249 - Mãnh Long, Phi Đoàn 431 - Phương Long, Phi Đoàn 518 - Phi Long, Phi Đoàn 720 - Hải Long.
Có một Phi Hành Đoàn (8 người) của Phi Đoàn 821 - Tinh Long ( Phi cơ C119 vũ trang) mang danh hiệu “Tinh Long 07” đã bay thấp nhiều vòng để xạ kích những vị trí địch quân gân Tân Sơn Nhứt trong ngày 29-4-75 và đã anh dũng hy sinh trong phi vụ cuối cùng khi bị trúng hoả tiển tầm nhiệt SA7 của Việt Cộng . Ba mươi lăm năm sau (2010), thân hữu Không Quân và thân nhân của Phi Hành Đoàn đã tim được vị trí phi cơ bị rớt và đào tìm được những mảnh Hài Cốt của 8 Nhân Viên Phi Hành, đem cải táng chung một ngôi mộ tại nghĩa trang An Khánh (2), sau chùa Đông Hiệp - Thủ Thiêm với mộ bia :

TỔ QUỐC GHI ƠN
Nơi yên nghỉ của 8 vị anh hùng Tinh Long 07
đã hy sinh ngày 29-04-1975 (19 tháng 3 - Ất Mão)
Trang văn Thành – Tào Thuận
Trương Ngọc Anh – Phan Tấn Đức
Phạm Quốc Tuấn - Nguyễn Thái Bình
Nguyễn văn Tân - Nguyễn Tiến Cường
Gia đình và các chiến hữu VNAF đồng lập mộ.

Phi Hành Đoàn Tinh Long 07 đã trung dũng, quyết chí hy sinh vì Tổ Quốc, nêu tấm gương sáng chói trong quân sử của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Những người mang tuổi con rồng có sức khoẻ rất tốt ( Những tay hảo hớn thuộc “làng nhậu”, tuổi Thìn thì uống rượu như rồng lấy nước!). Đa số tuổi Thìn có tính thẳng thắn, tháo vác, phản ứng nhanh, nhưng dễ bị kích động, đưa đến mất lập trường. Con người tuổi rồng rất ngang tàng, nhưng có đạo đức và có thế lực, được nhiều người kính nể. Lúc nhỏ thì bị trắc trở, lận đận, nhưng lớn lên thì vùng vẫy, dọc ngang như rồng. Tuổi nầy về già thì được nhàn hạ, ăn nhậu khoẻ re!
Tuổi Thìn hợp với tuổi Tỵ, Thân, Tý, Dậu, nhưng xung khắc với tuổi Sửu, tuổi Tuất.

Các nước có nền kinh tế phát triển ở Á Châu người ta thường tặng cho cái mỹ danh là “rồng Châu Á”. Chúng ta đều biết Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan... được gọi là “rồng Châu Á”, nhưng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ được gọi là rồng mà chỉ là.. rắn vì nền kinh tế chỉ huy lạc hậu, bản chất độc ác, bán nước, hại dân đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, khiếp nhược trước quân Tàu Cộng tham tàn, đã và đang âm mưu xâm chiếm Việt Nam.

KHA LĂNG ĐA

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Câu Chuyện Đầu Năm Về Tình Yêu Của Ông Mike Murray

Tác giả : Đoàn Hưng

Image
Ông Mike Murray, đại diện cho Verizon, trao tấm ngân phiếu tài trợ cho BPSOS.
Câu chuyện đầu năm Nhâm Thìn của Việt Báo khởi nguồn từ buổi tiệc gây quĩ của BPSOS (tổ chức nhân đạo của cộng đồng người Việt ở Mỹ) tại Quận Cam hồi tháng 12 năm rồi. Quan khách Việt đến dự tiệc thấy có một ông người Mỹ lăng xăng làm đủ thứ việc, giống như là một nhân viên của BPSOS vậy. Sau đó ông còn lên đọc một bài diễn văn bằng tiếng Việt nữa. Hỏi ra thì mới biết ông tên là Mike Murray- Giám Đốc Phụ Trách Chính Quyền & Đối Ngoại của Verizon, tập đoàn vô tuyến viễn thông lớn vào bậc nhất ở Mỹ. Verizon là một trong những nhà tài trợ chính cho nhiều hoạt động hỗ trợ cộng đồng của BPSOS trong nhiều năm gần đây. Mọi người thắc mắc: thường thì các nhà tài trợ chỉ lên sân khấu nhận bằng khen, phát biểu cảm tưởng thôi, tại sao đại diện cho một nhà tài trợ lớn như Verizon mà phải làm đủ thứ với nhân viên BPSOS như vậy? Ông Mike giải thích với phóng viên Việt Báo rằng: ông phục vụ cộng đồng người Việt không đơn thuần như là một nhà tài trợ. Ông làm để đền đáp lại phần nào ơn nghĩa của hai người bạn Việt Nam đã từng tặng ông cảm giác về tình yêu không điều kiện. Ông đã không gặp lại những người bạn đó từ hơn 40 năm rồi. Nếu họ còn sống, thì chắc là họ còn ở Việt Nam. Ông biết họ từ khi họ là hai đứa con nít Việt Nam, một gái một trai, có tên là Bé và Sinh…
Vào năm 1968, giữa lúc chiến trường Việt Nam nóng bỏng với trận chiến Tết Mậu Thân, ông Mike gia nhập Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và được chuyển sang tham chiến tại mặt trận Huế. Năm đó ông mới 18 tuổi. Ông tạm biệt nước Mỹ, tạm biệt gia đình với những ký ức về một tuổi thơ buồn, không có tình thương. BỐ ông là một thương binh nghiện rượu, thường xuyên say xỉn và đáng đập con. Ông Mike tham gia lực lượng chiếm đóng đặc biệt 0311. Ông nằm trong đơn vị xung kích, những người đeo M16, M60, súng phóng lựu M79 ở tuyến đầu. Đơn vị của ông thường xuyên hành quân trong rừng núi Trường Sơn hiểm trở, hiểu rõ hơn ai hết những cuộc phục kích của du kích Việt Cộng và những cuộc chạm trán với lực lượng chính qui Bắc Việt khác nhau như thế nào. Ở đơn vị của ông, khoảng cách giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới rõ rệt…
Image
Ông Mike đang nhận huân chương thời còn là lính TQLC.
Sau 03 tháng tác chiến trong lực lượng xung kích, ông Mike xin gia nhập Chương trình Hoạt Động Phối Hợp (Combined Action Program - CAP) của Thủy Quân Lục Chiến. Đây là một chương trình mang tính dân sự, dân vận nhiều hơn là quân sự. Những người lính Mỹ sẽ vào sống trong những làng xã Việt Nam, giúp họ xây cầu, đào giếng, sửa chữa nhà… Ông gia nhập CAP để có cơ hội tìm hiểu đời sống của người dân Việt Nam trong các làng quê. Ông được đưa về Đà Nẵng vài tuần để học tiếng Việt, đủ để làm quen với dân quê, và đủ để thấy là tiếng Việt với 6 thanh âm không- sắc- hỏi- huyền- ngã- nặng khó phát âm như thế nào đối với một người ngoại quốc. Ông vẫn còn nhớ cái ngày hôm đó, khi ông được một chiếc xe nhà binh thả xuống trên con đường quốc lộ I gần làng Ngọc Nóc (???), Huyện Phú Lộc, một làng quê năm giữa Huế và Đà Nẵng, cách Huế khoảng chừng hơn 40 cây số, là nơi ông phải trình diện đơn vị mới. Ông đi trên con đường đất dẫn vào làng, cố gắng dùng số vốn từ tiếng Việt ít ỏi để hỏi chỗ ở của đơn vị mình, nhưng hình như người dân làng không quan tâm đến ông lắm. Đúng lúc ông đang định đi ngược trở lại quốc lộ, thì từ đằng xa ông thấy hai bé gái chừng 10 tuổi, với chiếc giỏ xách đeo trên vai, chạy thật nhanh về phía ông. Ông chưa kịp chào chúng bằng tiếng Việt thì cả hai cô bé đã đồng thanh nói: “Wash clothes”.

Ông hỏi lại: “What?”, thì câu trả lời được lập lại: “Wash clothes” và “Work for you”. Thì ra Bé -một trong hai đứa bé- muốn làm người giúp việc cho ông. Hoa, cô bé còn lại, thì đang làm cho một lính thủy quân lục chiến khác ở trong làng rồi. Bé và Hoa dắt ông đến chỗ tiểu đội CAP đang ở, một trong những căn nhà trong làng mà thủy quân lục chiến Mỹ thuê lại. Ông nhập bọn và giữ Bé làm người giúp việc cho mình. Bé trở thành người thân Việt Nam bé nhỏ đầu tiên của ông, và cũng là người ban cho ông nhiều tình cảm sâu đậm nhất. Ông nhanh chóng nhận ra cô bé nhà quê 10 tuổi này hữu ích và dễ mến như thế nào. Bé phụ ông giặt đồ, đi chợ, nấu ăn, đổi tiền, và cả việc làm thông dịch viên nữa, vì xem ra vốn tiếng Anh của Bé còn khá hơn vốn tiếng Việt của ông. Bé chăm lo sức khỏe của ông, săn sóc ông lúc ông đau ốm. Lúc ông phụ trách trạm xá, Bé còn phụ ông rửa vết thương, phát thuốc cho bệnh nhân. Chỉ huy của ông khen ngợi rằng từ lúc ông phụ trách trạm xá, bệnh nhân đến đây đông hơn, có lẽ là vì ông và Bé phối hợp làm việc thật tốt.
Image
Ông Mike chụp chung với Bé & Hoa ở Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) 1968.
Bé là một cô bé thông minh, thực thà, phụ thuộc và quấn quít với ông vô cùng. Ông cũng xem Bé như cô em gái của mình,như để bù lại cho sự thiếu thốn tình cảm trong thời thơ ấu trong một gia đình kém hạnh phúc. Bé hầu như ít khi nào chịu rời ông nửa bước. Ông nhận ra điều này vào một buổi tối, khi ông tham gia vào một cuộc phục kích. Ông tạm biệt cô bé ở con đường làng, rồi cùng cùng 10 đồng đội TQLC Mỹ và 15 địa phương quân Việt Nam lặng lẽ băng qua cánh đồng để tiến đến điểm mai phục. Trong bầu không khí hành quân yên lặng và bao trùm sự chờ đợi chết chóc, bỗng một đồng đội TQLC Mỹ chỉ về phía ông và cười khúc khích, rồi cả những người lính Việt Nam cũng thế. Ông quay lại thì mới phát hiện ra là Bé, vẫn với chiếc giỏ xách đeo trên vai, lặng lẽ theo ông từ nãy đến giờ mà ông không hề biết! Cả đoàn phục kích dừng lại trên con đê.

Marks, một đồng đội la khe khẽ: “Lạy Chúa! Mày có đem con bé ra khỏi chỗ này ngay không?”.
Ông Mike kéo bé lại dỗ dành: “Bé! Ngày mai tôi sẽ đi Phú Bài, mua đồng hồ cho Bé nghe. Bây giờ thì Bé làm ơn về nhà giùm nghe!”
Bé ngây thơ mừng rỡ hỏi: “Phú Bài? Đồng hồ?”. Rồi cô mở cái giỏ xách, khui một lon Coke cho ông như là một cử chỉ cám ơn! Ông phải tạm rời hàng ngũ, dắt Bé chạy ngược trở lại quốc lộ, chỉ cô lối về làng trở lại, rồi vội vã quay lại địa điểm và xin lỗi đồng đội.

Sáng ngày hôm sau, Ông ra quốc lộ I đón xe đi Phú Bài. Bé theo ông ra đợi và bịn rịn tiễn ông lên xe, không muốn rời xa ông. Khi xe từ từ chuyển bánh và tăng tốc, bé đứng tần ngần rồi chạy theo xe, cho đến khi không bắt kịp, mới dừng lại và đưa tay vẫy chào ông. Ông vẫy chào lại và la to: “Đồng hồ!”… Tim ông lúc đó như muốn rớt ra ngoài… Hình ảnh đó đến nay vẫn còn như in trong trí nhớ của ông…Chính ông cũng bắt đầu cảm thấy thiếu thốn nếu không có Bé ở bên cạnh trong một ngày, một tình cảm chưa bao giờ xảy ra với ông ở Mỹ.

Vài tháng sau đó, Ông gặp Sinh- một bé trai cũng giúp việc cho TQLC Mỹ như Bé- sau khi ông bị thương do một cuộc phục kích của Việt Cộng, được đưa đến bệnh viện Phú Bài để điều trị, rồi được chuyển sang một đơn vị khác ở Huyện Cầu Hai. Sinh lúc đó đang làm “người giúp việc” cho một người lính TQLC khác. Vào thời điểm ông tới Cầu Hai, người lính này trở về Mỹ, cho nên ông nhận Sinh về với mình. Ông còn nhớ là Sinh rất thương người lính này. Ông đã từng giúp Sinh viết thư gởi cho ông ta, nhưng không bao giờ nhận được hồi âm.

Sinh là một cậu bé trai 12 tuổi, điển trai với mái tóc thật dầy, hàm răng to và hơi hô. Nếu Sinh ở Mỹ, thì chắc hẳn Sinh là một ngôi sao trong trường học với cái dáng vẻ rất đáng ưa của mình. Mà Sinh còn đặc biệt hơn thế nữa, với nhiều tính cách đáng yêu như vui tính, nhảy nhót đẹp, đóng kịch hay… Sinh được xem như là “xếp sòng” của các đứa trẻ giúp việc cho TQLC trong khu vực Cầu Hai. Cũng như Bé, Sinh là người phụ tá đắc lực của ông trong hầu như mọi sinh hoạt. Sinh luôn luôn là người đầu tiên chào đón ông mỗi buổi sáng bằng nụ cười hiền hòa, và tiễn ông ra đầu làng trong những đêm đi tuần tra. Sinh là người nghĩ ra cách làm cho ông những chiếc hamburger từ cơm gạo. Ở trong trạm xá, Sinh góp ý hữu hiệu cho ông trong việc chăm sóc những bệnh nhẹ, với vốn “kiến thức y khoa” khá phong phú so với ở độ tuổi 12 của một em bé quê. Sinh không đơn thuần chỉ là người giúp việc giỏi, siêng năng, mà còn là người em trai của ông, đem lại cho ông biết bao nhiêu niềm vui, tình thương yêu, giúp ông tạm quên đi những lo âu của cuộc chiến tranh tàn nhẫn lúc nào cũng cận kề.

Image
Ông Mike cõng Sinh ở Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) 1968.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông Mike với Sinh cũng liên quan đến một cuộc mai phục khác của TQLC. Sau một đêm đi mai phục bình yên không có giao chiến, vào lúc sáng sớm tiểu đội của ông cùng lính địa phương quân tan hàng để trở về công việc thường nhật. Chỉ riêng ông còn nằm lại và ngủ quên trên cánh đồng lúa gần sát quốc lộ I. Viên chỉ huy nói với mọi người: “ Cứ để nó ngủ. Lát nữa thế nào thằng Sinh cũng ra đây với nó mà…”. Là người dân xứ Mỹ đầy đủ tiện nghi vật chất, ông Mike không thể tưởng tượng ra được cái cảm giác an bình mà một cánh đồng lúa có thể ban tặng cho mình. Trong cái nắng sớm mai, đống rơm nằm gọn trong một góc nhỏ của cánh đồng lúa bao quanh bởi 04 con đê trở nên ấm áp lạ thường. Hẳn là ông đã có một giấc ngủ bình yên với nhiều mộng đẹp. Khi ông mở mắt dậy, ông bắt gặp những tia nắng bình minh ấm áp, giữa một cảnh đồng quê yên ả, thanh bình, như thể là chiến tranh chưa bao giờ có mặt. Và cũng chính lúc ông mở mắt dậy, ông cũng thấy Joe đứng đó tự bao giờ, với nụ cười hiền lành chào đón ông, giống như một thiên thần bảo vệ che chở cho ông vậy. Không có từ ngữ nào có thể diễn tả hết cái cảm giác thanh thản, bình an, vô tư mà ông cảm nhận được trong cái giây phút ấy. Lúc đó ông chỉ còn biết sống trọn vẹn với giây phút hiện tại nhiệm mầu, không nghĩ lại quá khứ buồn, không màng đến tương lai bất định. Ông không muốn ngồi dậy, cũng không muốn đi đâu hết. Ông chỉ muốn duy trì thật lâu cái cảm giác độc nhất vô nhị lúc ấy. Chắc là Sinh cũng không thể hiểu được hết cảm giác tuyệt vời của ông lúc đó, nhưng em vẫn chia xẻ được phần nào niềm hạnh phúc không bờ bến của ông. Một người bạn bên cạnh mình trong những giây phút đáng nhớ trong đời như vậy, chắc hẳn phải là tri kỉ?

Ít lâu sau đó, ông cũng chia tay với Sinh cũng ngay trên con đường quốc lộ I giống như cuộc tạm biệt với Bé trước đây vậy. Nhưng lần này thì ông trở về Mỹ sau 13 tháng phục vụ tại VIệt Nam. Được trở về thế giới văn minh, về với nước Mỹ bình yên, trở về với gia đình, vậy mà ông không có được niềm vui trọn vẹn. Ông bắt đầu nhớ Việt Nam, nhớ Bé, nhớ Sinh. Sinh đã khóc rất nhiều trong ngày chia tay đó. Ông cũng muốn khóc. Ông để lại cho Sinh tất cả những gì mà ông có lúc bây giờ: tiền bạc, máy cassette, quần áo… Nhưng ông biết là không gì có thể trả ơn đủ cho người đã cho mình tình yêu không điều kiện. Ông nhớ là ông có hứa là sẽ viết thư cho Sinh, là sẽ gặp lại Sinh & Bé trong ở Cầu Hai, hay ở Mỹ một ngày nào đó. Nhưng ông ân hận có một điều ông chưa nói với Sinh, với Bé: “Tôi yêu em, Sinh ơi!”. “Tôi yêu em, Bé ơi!”…

Trở lại Mỹ, Ông Mike có viết thư cho Bé, cho Sinh vài lần, nhưng không nhận được hồi âm. Rồi ông bận bịu với chuyện đi học, đi làm, chuyện gia đình con cái…Thấm thoát mà đã 43 năm qua rồi. Ông chưa bao giờ trở lại Việt Nam vì quá bôn ba với đời sống ở Mỹ. Nhưng ông vẫn nghĩ đến cái ngày ông trở lại VIệt Nam. Đáp xuống sân bay Phú Bài. Đi theo quốc lộ I để trở lại Cầu Hai, Phú Lộc. Nhìn lại dãy Trường Sơn trùng điệp. Tìm lại cánh đồng lúa mà ông đã từng có được giây phút an lạc nhiệm mầu trong thời chiến. Và quan trọng hơn cả, ông được gặp lại Bé và Sinh, những người đã cho ông tình yêu không điều kiện… Ở cái đất nước triền miên chiến tranh, ly loạn, rồi sau đó cả triệu người bỏ nước ra đi, ông biết là giấc mơ hạnh ngộ của ông khó mà thực hiện được. Nhưng ước mơ vẫn là lẽ sống của con người. Ông vẫn đang mơ, và mơ ước ngày giấc mơ của mình trở thành hiện thực…

“…Tôi đang mơ giấc mộng dài
Đừng lay tôi nhé, cuộc đời chung quanh…” (Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài- Phạm Duy)

Đầu năm Nhâm Thìn, Việt Báo cùng các độc giả Việt Nam cầu chúc cho Ông Mike Murray thực hiện được giấc mơ đẹp nhất của đời mình…
Đoàn Hưng
Quí độc giả nào có biết tin tức về Bé & Sinh hiện nay đang ở đâu, xin vui lòng liệc lạc với:

Đoàn Hưng - Tel: 714 766 6422
hungdoan@vietbao.com
Xin chân thành cảm tạ.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đám cưới Nhà Binh ở Sàigon




User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Khe Sanh, Bảo Tàng Thủy Quân Lục Chiến và 2 cựu sỹ quan ưu tú Mỹ Việt

Đại tá hồi hưu Dick Camp, người từng tham gia trận đánh ác liệt kéo dài nhiều tháng trời tại căn cứ Khe Sanh, hôm 12 tháng Giêng vừa rồi đã trực tiếp dẫn giải cuốn phim tài liệu Unsung Heroes: The Battle of Khe Sanh về trận chiến này tại viện Bảo tàng Thủy quân Lục chiến ở thị trấn Triangle, phía bắc bang Virginia, cách thủ đô Washington trên 30 dặm. Trong Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay, Lan Phương sẽ tường thuật buổi trò chuyện với ông về cuộc họp mặt tại viện Bảo Tàng chiếu cuốn phim tài liệu Unsung Heroes nói đến trận Khe Sanh đồng thời tìm hiểu thêm một số chi tiết qua cuộc điện đàm với cựu Đại tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, một người từng chiến đấu tại Khe Sanh ngày đó, hiện cư ngụ tại thị trấn Athens, bang Texas.

Lan Phương - VOA
Image
Hình: Wikimedia commons
Bản đồ phía bắc tỉnh Quảng Trị
Thoạt bước vào viện Bảo tàng khách sẽ thấy máy bay treo từ trần cao dòng xuống với những hình ảnh về thế chiến thứ hai, phi cơ trực thăng trong cuộc chiến Triều Tiên và nhiều hình ảnh các trận chiến khác mà thủy quân Lục Chiến Mỹ từng tham gia cho tới ngày nay. Cựu đại tá Thủy quân Lục Chiến Dick Camp, hiện là phó chủ tịch hoạt động của viện Bảo Tàng, giới thiệu:

"Viện Bảo Tàng Thủy quân Lục Chiến Quốc Gia được khánh thành ngày 10 tháng 11 năm 2006. Kể từ đó chúng tôi đã đón tiếp trên 2,6 triệu khách đến thăm, tính trung bình khoảng một nửa triệu khách mỗi năm. Viện Bảo tàng có chừng 17 ngàn mét vuông dùng làm nơi trưng bày, một rạp chiếu phim, một nhà hàng ăn và một tiệm bán quà lưu niệm. Theo tôi thì đây là một trong những bảo tàng viện hàng đầu trên thế giới.

Image
Courtesy of Col. Dick Camp
Cựu Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Dick Camp, Phó Chủ tịch của viện Bảo Tàng
Vào thượng tuần tháng Giêng năm nay, Viện Bảo tàng tổ chức một cuộc họp mặt quan khách và các cựu chiến binh Mỹ từng tham gia trận Khe Sanh thuộc quận Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, để ôn lại những ngày cũ và giải đáp những thắc mắc của quan khách. Cựu đại tá Thủy quân lục chiến Mỹ Dick Camp trình bày sơ lược buổi họp mặt :

"Chúng tôi có chừng 5 hay 6 cựu chiến binh từng tham gia trận chiến hiện diện. Quan khách có thể nói chuyện với họ hỏi về sự tham gia của họ như thế nào trong trận chiến, về những kinh nghiệm của họ trong trận tổng tấn công tết mậu thân năm 1968. Sau đó chúng tôi dùng bữa tối và rồi quan khách lại có thể đàm luận với các cựu chiến binh. Rồi chúng tôi vào phòng trưng bày, thực sự đi qua vị trí 881 South, một vị trí trên đồi tại Khe Sanh, để cho quan khách thấy Khe Sanh rõ ràng từ trên cao. Thế rồi chúng tôi vào rạp chiếu xem cuốn phim. Sau đó chúng tôi lại thảo luận thẳng thắn với nhau, với những câu trả lời trực tiếp từ các cựu chiến binh về chuyện gì đã diễn ra trong cuộc vây hãm và những kinh nghiệm của họ ra sao. Chúng tôi đã có một buổi tối thật hoàn hảo kéo dài từ 5 giờ đến 9 giờ tối."

Vào thời điểm trận Khe Sanh, ông Dick Camp là Đại úy đại đội trưởng thuộc Tiểu Đoàn 3, Trung đoàn 26 Thủy quân Lục Chiến. Ông đã có mặt tại Khe Sanh từ lúc căn cứ này bắt đầu bị quân số vô cùng đông đảo của địch quân bao vây suốt cho đến phút cuối, ngày 26 tháng Tư năm 1968. Ông cho biết cuốn phim gồm nhiều đoạn phim ngắn thực sự thu từ chiến trường với sự mô tả của Thủy quân Lục Chiến Mỹ về toàn cảnh trận chiến.

Lên tiếng về cuốn phim “Unsung Heroes: The Battle of Khe Sanh,” ông phát biểu:

"Tôi cho đây là một cuốn phim khá; nó không phải là một cuốn phim hay nhất về chiến trận mà tôi đã từng xem; nó có một số điểm không chính xác mà sau khi xem phim chúng tôi có bàn tới, và tôi đã từng trở lại Việt nam đến tận Khe Sanh, nên tôi có hiểu biết rất cập nhật và biết được những gì đang diễn tiến."

Khi trở về thăm Khe Sanh, cựu đại tá Dick Camp mang những hoài niệm về một thời khói lửa cũ, nơi mà hàng trăm đồng đội của ông đã gục ngã vì hỏa lực của địch quân. Ông cho biết khi cùng với dăm ba đồng đội trở lại Việt Nam năm 1998, người Việt Nam miền bắc tuy không thân thiện lắm nhưng không còn thái độ thù nghịch nữa. Ông có đi thăm Hà Nội rồi vào Huế, Khe Sanh, Đà Nẵng rồi về phía nam.

Khi được hỏi về tinh thần của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa cùng chiến đấu tại Khe Sanh ra sao, ông trả lời:

"Có một tiểu đoàn Biệt Động Quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đến Khe Sanh trong lúc căn cứ bị bao vây và họ trấn giữ phòng tuyến phía đông ở vòng ngoài, sau lưng chúng tôi, tạo thành một bong bóng. Rất tiếc là chúng tôi trấn đóng phòng tuyến phía tây nên chẳng gặp một ai."

Trong số những người mà cựu đại tá Dick Camp cho là rất tiếc không được gặp tuy cũng hiện diện tại trận chiến này có cựu trung tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ của lực lượng Việt Nam Cộng Hòa. Ông hiện cư ngụ tại thành phố Athens, bang Texas.

Trong lúc căn cứ Khe Sanh bắt đầu bị vây hãm, ông Hoàng Phổ là đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, đóng tại Đà Nẵng và tiểu đoàn được trực thăng vận tới tăng cường cho Khe Sanh vào khoảng cuối năm 1967, đầu năm 1968. Ông thuật lại rằng 2 tuần lễ sau khi tiểu đoàn ông tới nơi, địch quân phuơng bắc nã pháo liên hồi. Máy bay tiếp tế đành phải đáp thẳng xuống hất tiếp liệu ra ngoài rồi lại bay lên chứ không thể ngưng. Càng ngày địch quân càng pháo dữ dội và nhiều máy bay bị rơi đến nỗi về sau máy bay chỉ thả dù tiếp vận từ trên cao. Về tinh thần các binh sỹ trong tiểu đoàn, cựu Trung tá Hoàng Phổ cho biết:

Image
Courtesy of Lt. Col. Hoang Pho
Cựu Trung Tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ

"Ngày đêm cộng sản pháo kích khiến tinh thần chúng tôi rất căng thẳng. Một ngày họ pháo gần 1 ngàn quả. Có một ngày họ pháo gần 1500 quả đủ loại. Ngày hôm đó kho đạn của trung đoàn 26 thủy quân lục chiến Mỹ bị nổ, phải mất khoảng 12 tiếng mới dập tắt được đám cháy kho đạn. Khoảng tháng hai, tháng ba trở đi, quân cộng sản Bắc Việt tấn công vào các vị trí phòng thủ của tiểu đoàn 37 Biệt động quân, tinh thần của chúng tôi rất căng thẳng, nhưng chúng tôi, sỹ quan, hạ sỹ quan và binh sỹ rất gan dạ và can đảm vì danh dự và sự sống còn mà chúng tôi phải chiến đấu để cố thủ những vị trí của chúng tôi."

Đại tá Dick Camp cho biết quân cộng sản Bắc Việt cũng chiến đấu rất dai dẳng. Bất chấp hỏa lực phòng vệ và yểm trợ của không lực Hoa Kỳ, họ cứ tiếp tục pháo kích, đào hào tiến gần hơn đến căn cứ. Ông không rõ là có bao nhiêu bắc quân đổ vào cuộc vây hãm đó nhưng theo ước tính con số có thể từ 20 đến 30 ngàn người.

Cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định không giữ căn cứ này nữa, vì vị trí này dễ bị hỏa lực của địch tấn công; họ tiêu hủy những gì không mang theo được và triệt thoái binh sỹ.

Theo historynet.com, một phân tích trước đây được bảo mật do bộ chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam MACV soạn thảo cho tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó, cho biết quân cộng sản Bắc Việt đã lập kế hoạch toan ồ ạt tấn công bằng bộ binh vào căn cứ này với sự yểm trợ của trọng pháo và thiết giáp, mong biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai, tuy nhiên vì thiệt hại nhân mạng quá cao, họ đành phải từ bỏ kế hoạch tấn công.

Thủy Quân lục chiến Mỹ dư biết là chuyện bỏ Khe Sanh sẽ là một lợi khí cho Hà Nội tuyên truyền là họ đã thắng lợi.

Tuy nhiên về phương diện chiến lược, việc binh sỹ Mỹ rút khỏi căn cứ này chẳng có mấy ý nghĩa. Một căn cứ chính khác lại được thiết lập cách đấy có mấy dặm trên đường số 9, về phía đông.

Các cuộc hành quân cơ động chiến đấu vẫn tiếp tục nhắm vào lực lượng cộng sản miền bắc. Lực lượng trinh sát Mỹ vẫn theo dõi đường mòn Hồ Chí Minh. Thủy quân Lục Chiến Mỹ và đồng minh tại Khe Sanh đã xáp chiến với hàng chục ngàn và tiêu diệt hàng ngàn quân cộng sản miền bắc trong khoảng thời gian nhiều tuần lễ.

Thực vậy, nếu các lực lượng đối phương không dồn vào Khe Sanh, lẽ ra họ đã có thể hợp sức với lực lượng Bắc quân và mặt trận Giải phóng miền nam xâm chiếm Huế, một mục tiêu quan trọng hơn Khe Sanh nhiều.

Tổn thất nhân mạng của phía Thủy quân lục chiến Mỹ và đồng minh khoảng trên 700 người, với chừng hơn 2.400 người bị thương. Về phía Bắc quân cộng sản, rất khó đưa ra con số chính xác, nhưng đại tá hồi hưu Dick Camp cho biết họ đã chịu tổn thất nhân mạng rất cao:

"Không ai biết được đích xác số thiệt hại nhân mạng của họ là bao nhiêu, như quí vị biết, họ nín khe, không nói về chuyện này, trừ mỗi việc nhận Khe Sanh là một chiến thắng lớn của họ. Nhưng theo ước tính thì có từ 10 đến 15 ngàn quân của lực lượng miền bắc đã bị hạ sát ở đó."

Còn về phần cựu Trung tá Hoàng Phổ khi hồi cố lại trận chiến bảo vệ Khe Sanh, ông nhắc đến vài điểm sáng vào thời điểm gian nan đó:

"Ông Chỉ huy trưởng Đại tá Trần Văn Hai có đến thăm chúng tôi lúc đó, và đó là một khích lệ tinh thần cho anh em chúng tôi. Một điểm vui cho chúng tôi là chúng tôi đã làm cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa hãnh diện về sự chiến đấu can đảm và kinh nghiệm của các chiến sỹ Biệt Động quân chúng tôi."

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

PHI VỤ TỐNG LỆ CHÂN
Nguyễn Văn Ba
"Tống Lệ Chân", mới nghe qua, như tên người con gái Trung Hoa, có nhan sắc đẹp tuyệt vời, tài danh nổi bật, được ghi trong sử sách lưu truyền cho hậu thế!

Tôi không biết mỹ danh đó có từ lúc nào, xuất xứ từ đâu? Nhưng nó đã chiếm một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong mùa Hè đỏ lửa 1972.

Nhiều sư đoàn chánh quy Bắc Việt được yểm trợ bởi chiến xa và đại pháo hạng nặng, ồ ạt tiến sang từ biên giới Campuchia và Hạ Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh, với mưu đồ đánh chiếm hai tỉnh Bình Long và Phước Long để thành lập chánh phủ gọi là "Mặt trận Giải phóng Miền Nam", gây hậu thuẫn quốc tế và đặt áp lực nặng nề cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Sàigòn.

Tống Lệ Chân là một địa danh, hay đúng hơn là một ngọn đồi chiến luợc, khoảng hơn năm dặm về hướng Tây Nam của thành phố An Lộc.Ngọn đồi này nhờ nằm ở một địa thế cao, được trấn giữ bởi một tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa rất tinh nhuệ, nên nó chính là tai và mắt, không những cho thành phố An Lộc mà ngay cho chính thủ đô Sàigòn, vì nó kiểm soát được sự vận chuyển của bộ đội Bắc Việt và cơ giới chiến tranh, về hướng Tây Bắc Sàigòn, đưa quân vào Bình Dương, Lái Thiêu và Biên Hòa, nơi đặt Bộ Tư lệnh Vùng III Chiến Thuật. Vì lý do chiến thuật và toàn bộ chiến lược xâm chiếm miền Nam, nên ngọn đồi Tống Lệ Chân là cây gai nhọn nhức nhối trong nách, Cộng Sản phải nhổ nó đi bằng mọi giá.

Từ một ngọn đồi hiền lành, xung quanh bao bọc bởi rừng xanh bát ngát, dưới chân đồi một con suối uốn khúc quanh co, tô đậm nét như một bức tranh thủy mạc. Nếu không có trận chiến vừa qua, cũng chẳng có ai cần biết nó, như Ben Hét, Đức Cơ, Dakpek, Dakto..v..v...

Những địa danh thật xa lạ với mọi người dân thị thành, nhưng bỗng chốc, nó trở thành những danh xưng được nhắc nhở thường xuyên qua những trận đánh hãi hùng, khiếp đảm, hàng ngày trên báo chí, đài phát thanh, màn ảnh truyền hình, đã làm chấn động lương tâm thế giới.

Đã lâu lắm rồi, những vết tích tàn phá của chiến tranh trong trí nhớ gần như đi vào quên lãng. Nhưng chiều hôm nay nó được hâm nóng và sống lại trong tôi, vì tình cờ đã gặp lại những chiến hữu cùng một đơn vị sau hơn hai mươi năm dài đằng đẵng cách biệt.

Người hùng "Tống Lệ Chân", cựu Đại úy Lê Văn Cầu, Phi tuần Trưởng của Phi đoàn 237 Chinook, tôi không dùng đại danh hay ca tụng anh để lấy lòng, nhưng sự thật đã xảy ra cách đây trên hai thập niên vừa qua. Vẫn dáng người gầy gầy như ngày nào, nhưng không bao giờ thiếu nụ cười cỡi mở, buông thả trên gương mặt để đón chào anh em chiến hữu.

Gặp lại anh trong bữa tiệc họp mặt tại thành phố San Jose California, với một số anh em cựu Lôi Thanh như: Nguyễn Mai, Trần Duy Tôn, Lưu Thế Ngọc, Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Vũ, Nguyễn Văn Mai (Đà Nẵng), cùng hai phu nhân của hai anh Vũ và Mai. Thật sung sướng và hãnh diện, tôi được may mắn gặp lại anh em đã có một thời chiến đấu vào sinh ra tử có nhau, chia sẻ từ bịch gạo xấy, lon thịt heo ba lát, cùng ngồi ăn trưa dưới bụng tàu, trong những buổi trưa Hè nắng cháy của vùng hỏa tuyến Tây Ninh.

Bây giờ gặp lại các anh em ở vùng đất xa lạ này, chúng ta tuy có già thêm đôi chút, cuộc sống nhiều thay đổi hơn xưa, tuy vậy tình anh em vẫn nổng nàn, ấm áp như thuở nào.

Tôn vẫn tính nào tật nấy, hào hoa quá mức, Ngọc ăn chơi công tử, Vũ vẫn hoạt bát trẻ trung, Mai cứ ngỡ là tài tử Henry Chúc, Tiên mói sang nên còn nhiều ưu tư bỡ ngỡ. Niên truởng Mai cựu Phi đoàn Trưởng Đà Nẵng, mới về hưu ở hãng IBM, trông đạo mạo như cụ non, cần nhiều chất tươi để để tóc bớt rụng.!

Chúng tôi chia nhau chén tới chén lui, chén qua chén lại, từ ba giờ trưa mãi đến gần bảy giờ chiều, vì có nhiều anh em phải đi đám cưới chiều hôm đó nên chúng tôi tạm chia tay nhau, và hẹn sẽ gặp lại ở vũ trường Mini vào lúc chín giờ ba mươi tối.

Niên trưởng Mai đưa tôi về để thăm gia đình anh chị. Còn "chú Tư Cầu" về nhà rước vợ con sẽ tới sau.

Thật hạnh phúc và sung sướng không ai bằng, "chú Tư Cầu" được thím Tư vừa trẻ, vừa đẹp, về để giúp chú "nâng cằm sửa mũi..." và tặng cho chú hai cháu thật ngoan hiền, kháu khỉnh dễ thương. Lúc này niên trưởng Mai, có lẽ muốn dành sức lực để phục vụ bà xã tối nay, nên xin vào nghỉ lưng một tí, cón tôi với "chú Tư Cầu" ngồi lai rai nhậu tiếp dài dài, kể chuyện rên trời dưói biển, rồi đến chuyện hành quân ly kỳ, hấp dẫn của một thời "Dốc Sỏi" Biên Hòa.

Tôi biết Cầu từ ngày thành lập đệ nhất Phi đoàn Chinook Lôi Thanh 237, vào giữa khoảng năm 1970-1971, anh thuộc vào nhóm sĩ quan hoa tiêu trẻ, mới ra trường, chưa vợ con, rất hăng say hoạt động trong mọi công tác. Cón chúng tôi, lúc đó không đến nỗi già lắm, tuy nhiên đối với anh em thì được xếp vào lớp "lão làng".

Vào khoảng mùa Hè năm 1972, chiến trận ở vùng III Chiến Thuật càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn, thành phố An Lộc chịu đựng hàng ngàn quả đạn pháo ngày đêm, nhà cửa, phố xá nát tan từng mảnh vụn, dân chúng đã bồng bế, dẫn dắt nhau, bỏ hết tài sản theo quốc lộ chạy về hướng Chơn Thành, về gần Sàigòn.

Tiền đồn Tống Lệ Chân được tủ thủ bởi khoảng một tiểu đoàn Biệt Động Quân, đã bị cô lập nhiều tuần bởi cả trung đoàn chính quy Bắc Việt, đang rình rập sát dưới chân đồi, trực thăng tải thương và tiếp tế bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 và súng phòng không đe dọa trầm trọng, không thể đáp được trong ban ngày, phi cơ vận tải C-130 thả dù thực phẩm, thuốc men, phần lớn đều bị gió đưa ra ngoài, vào vùng kiểm soát của địch.

Việt Cộng thường xuyên pháo kích, đại pháo cày nát gần trọc hết ngọn đồi, những chiến sĩ Mũ Nâu gan lì Việt Nam Cộng Hòa, núp trong những giao thông hào, sâu trong lòng đất như những con rắn độc, đã oai hùng, mảnh liệt đốn ngã những đợt tấn công biển người của Việt Cộng. Trung tá Ngôn, Chỉ huy Trưởng tiến đồn kêu gọi Không Quân cho trực thăng đưa quân vào tăng viện và chuyển bớt thương binh về bệnh viện để ông rảnh tay chiến đấu. Lệnh từ Tổng Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đưa xuống Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 3 Không Quân, yêu cầu cho trực thăng Chinook CH-47 - Phi đoàn 237 - thi hành phi vụ cảm tử này. Lôi Thanh I, Phi đoàn Trưởng, Phi đoàn 237 nhận đưọc mật lệnh, ông cho mở một cuộc họp kín, với sự có mặt đầy đủ một số anh em phi hành đã có nhiều kinh nghiệm chiến trận, để chọn người tình nguyện. Sau khi Lôi Thanh I tuyên bố lý do và cho biết mật lệnh, không khí trong phòng họp lúc đó trở nên cực kỳ im lặng, nặng nề và khó thở, không ai có một lời thêm bớt hay bình luận gì cả.

Tôi nhìn tất cả các anh em hoa tiêu và anh em hạ sĩ quan phi hành lòng chùng xuống, mắt mờ đi, tâm não hoàn toàn như tê dại, tự nhủ thầm:

- Người ta sắp bắt chúng tôi làm vật tế thần.

Thật ra tất cả anh em chúng tôi không phải là những người sợ chết hay muốn tránh né những phi vụ hiểm nguy, nhưng cái bực tức không nói lên được lúc đó là cấp chỉ huy đã không hiểu khả năng kỹ thuật cơ giới của một chiếc Chinook, hay vì sợ trách nhiệm nên xử dụng chúng tôi một cách sai lầm?... Cũng không thể dựa vào các yếu tố chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến thuật nào khác để bào chữa cho phi vụ, vì nó có thể thực hiện được bằng trực thăng loại nhỏ UH-1, chở mỗi lần mười quân nhân va chọn thời gian đáp trong năm lần khác nhau. Loại trực thăng UH-1 được chế tạo dùng trong chiến thuật đạt yếu tố bất ngờ trong lòng địch, như chiến thuật "Diều Hâu", nó có khả năng xoay trở rất nhanh nhẹn, chỉ cần một thời gian, trong khảng năm giây đồng hồ, là có thể đổ được quân và đem được thương binh lên dễ dàng, ta có thể ước đoán tông số thời gian kể như nguy hiểm nhất, từ lúc vào bãi đáp cho đến khi rời khỏi vị trí một cách tương đối an toàn, chỉ tốn vào khoảng hai mươi giây đồng hồ là tối đa. So với một chiếc Chinook CH-47, thật to lớn kềnh càng, chở năm chục binh sĩ, khi hạ cánh với một tốc độ rất chậm, vào một tiền đồn trên đồi, không chỗ ẩn núp, diện tích bãi đáp không lớn hơn khuôn viên một căn nhà, xung quanh triền đồi toàn là quân chính quy Bắc Việt, núp dưới giao thông hào chằng chịt, với những đại liên phòng không tối tân của Nga Sô và Tiệp Khắc, hỏa tiễn SA-7, súng cối 82 ly, và đại pháo 122 ly, đã lấy tọa độ bãi đáp chính xác.

Tôi giả sử binh lính Việt Cộng có mù mắt, điếc tai, ngủ gục hết cả lũ, tính theo thời gian nhanh nhất, khi tàu giảm tốc độ vào cận tiến để chuẩn bị đáp an toàn cho năm mươi quân nhân chạy ra phía cửa sau đuôi và chờ khiên thương binh đưa vào, xong xuôi cất cánh, ra tới vị trí tương đối an toàn, ít ra cũng phải mất hết khoảng hai trăm giây đồng hồ. Nếu ta thử so sánh thời gian nguy hiểm trên vùng với chiếc phản lực cơ F-5, khi chúi xuống thả bom, xong kéo lên rời vị trí, chỉ trong tích tắc vài giây đồng hồ mà đôi khi còn bị bắn hạ bởi SA-7 hay đạn phòng không một cách dễ dàng, còn chiếc Chinook, to lớn gấp hai, ba lần, xoay trở rất chậm chạp, hai bên hông tàu mang cả chục ngàn lít xăng JP-4, chỉ cần một phát súng nhỏ, nhạy lửa là nó trở thành một cây đuốc khổng lồ, soi đường cho thần chết, không những thiêu mạng phi hành đoàn mà nó còn đốt cháy năm mươi quân nhân ngồi phía sau nữa.

Trong phạm vi bài này, tôi không có ý gián tiếp chỉ trích cá nhân bất cứ một cấp chỉ huy thừa hành nào cả, vì tôi biết lệnh từ trên tối cao đưa xuống, tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng sai lầm về sự xử dụng kỹ thuật tác chiến cơ giới. Nhưng quân đội, lệnh là phải thi hành, nếu may mắn còn sống sót không tật nguyền hoặc sứt tay, gãy gọng là điều đáng mừng, phước đức ông bà để lại.

Một phút im lặng nghẹt thở trôi qua, như dò xét sự phản ứng của tất cả đoàn viên phi hành. Lôi Thanh I cho biết rằng đây là lệnh của thượng cấp đưa xuống, nếu không có người tình nguyện ông sẽ chỉ định người để thi hành phi vụ tối quan trọng này. Thời gian chậm chạp như muốn ngừng lại, tôi lên tiếng hỏi để biết nhiệm vụ chính của phi vụ dùng vào công việc gì?... Mặc dù tôi là Trưởng phòng Hành quân của phi đoàn lúc đó, nhưng ông ta cũng từ chối, cốt ý để bảo toàn bí mật cho bãi đáp. Khi Lôi Thanh I vừa dứt lời, tôi nhận thấy đại úy Lê Văn Cầu, phi đội trưởng Phi đội 1 ngồi bên ghế trái của tôi, đưa tay lên xin tình nguyện, tiếp theo là Đại úy Huỳnh Bá Hùng, phi đội trưởng Phi đội 2 cũng đưa tay tình nguyện. Bây giờ cần một cơ phi, xạ thủ và áp tải. Thượng sĩ Nguyễn Văn Tranh, Trung sĩ Nguyễn Văn Hoàng cũng đưa tay tình nguyện, tôi nhớ cũng còn nhiều anh em sĩ quan và hạ sĩ quan khác nữa cũng xin tình nguyện, nhưng sau cùng chỉ chọn được phi hành đoàn có đầy đủ khả năng như sau: Trưởng phi cơ cho phi vụ Đại úy Cầu, hoa tiêu phụ Đại úy Hùng, cơ phi Tượng sĩ Tranh, xạ thủ Trung sĩ Hoàng và áp tải viên tôi rất tiếc là không còn nhớ rõ tên anh.

Phiên họp kết thúc vào khoảng bốn giờ chiều, để bảo toàn bí mật phi vụ, lệnh phi đoàn cấm trại 100% cho tới khi nào công tác thi hành xong. Tôi đưa các anh em trong phi hành đoàn tình nguyện vào khu quán ăn của cư xá hạ sĩ quan trong căn cứ Không Quân để dùng cơm chiều.

Bảy giờ chiều ngày 26-12-1972, phi cơ được lệnh cất cánh từ phi trường Biên Hòa, liên lạc với C&C qua tần số vô tuyến FM, để đáp vào An Lộc nghe thuyết trình và nhận lệnh từ đơn vị bạn.

Trời cuối tháng vào mùa lễ Noel nên có vẻ tối sớm hơn thường lệ, những tia nắng hanh vàng đã bắt đầu nhạt dần, ở phía bên kia đầu phi đạo, sân bay đã vắng người qua lại, chỉ còn mình tôi lẻ loi đang ngồi đây để tiễn đưa anh em.

Trong trận thế chiến vừa qua, phi đội Thần Phong cảm tử của Nhật Hoàng trước khi cất cánh ra trận, được vinh dự đứng trước hàng quân uống cạn ly rượu "Sakê" hâm nóng, trao tặng từ một tướng lãnh cao cấp để rồi bay vào tử địa. Còn các anh bây giờ được ai tiễn, ai đưa? Hàng quân vinh dự nào đứng dàn chào để tiễn biệt các anh? Tôi biết các anh cũng chẳng cần những thứ rườm rà, màu mè đó, nhưng với ý chí và lòng dạ sắc son nguyện dâng hiến đời mình cho quê mẹ Việt Nam, nên các anh đã hy sinh tình nguyện chấp nhận phi vụ, đáp vào một nơi được gọi là "địa ngục trần gian".

Phi cơ đã mất hút, chìm vào bóng hoàng hôn về hướng Tây Bắc chân trời. Tôi lặng lẽ lái xe trở về phòng Hành quân Phi đoàn để theo dõi tin tức phi vụ, lòng lâm râm khấn vái cầu nguyện cho các anh đi được bình an...

Trách nhiệm phi vụ các anh chia đều cho nhau, Đại úy Cầu chỉ huy toàn diện, cũng như lo phần bay và điều khiển các cơ phận phi cơ. Đại úy Hùng lo phần vô tuyến, truyền tin liên lạc với C&C và đơn vị bạn, cũng như kiểm soát bản đồ, hướng bay và tọa độ hành quân, các anh em cơ phi, xạ thủ và áp tải giữ an ninh phía trong tàu và đồng thời kiểm soát, báo cáo các vị trí phòng không, SA-7 của Việt Cộng từ dưới bắn lên, để phi cơ tránh né cùng lúc xử dụng hỏa lực tối đa của hai khẩu đại liên, gắn hai bên thân tàu để làm áp lực địch.

Kim đồng hồ chỉ hơn tám giờ tối, phi cơ đã đến vùng chỉ định, bên ngoài chỉ còn lại là một màu đen, xung quanh là rừng núi âm u của đêm sau ngày Chúa Giáng sinh. Thành phố An Lộc hoàn toàn như một bóng ma trong đêm, không còn một ngọn đèn đường nào đứng vững hay được cháy sáng để ghi nhận là vị trí của một khu phố. Ngọn đồi Tống Lệ Chân cách đó không xa lắm nghe tiếng phi cơ bèn chớp đèn hiệu, không liên lạc được với C&C hai anh cứ ngỡ đó là thành phố An Lộc, nên cho phi cơ bay thẳng vào hướng có ánh đèn hiệu. Một phút sau, những tia chớp sáng không ngừng của đại liên phòng không từ dưới đất bắn lên như pháo bông ngày Tết, các anh mới nhận ra là đang bay hơi chệch về hướng Tống Lệ Chân. Đại úy Cầu bình tĩnh kéo nhanh cần lái về phía phải cho con tàu lướt nhanh ra khỏi tầm hỏa lực địch, cũng trong lúc đó Thượng sĩ Tranh báo cáo nhìn thấy đèn hiệu về hướng một giờ cách đó không xa lắm. Sau khi quan sát thật kỹ và liên lạc được với quân bạn, Đại úy Hùng OK, đưa ngón tay cái lên trời đồng ý cho Đại úy Cầu chuẩn bị cho phi cơ đáp xuống phía Nam của An Lộc.

Sau khi kiểm soát lại phi cơ, mọi sự đều an toàn, anh em phi hành đoàn được đưa vào bộ chỉ huy hành quân tiền phương để nghe thuyết trình phi vụ. Sĩ quan tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt được trang bị với đại liên phòng không đủ loại đang ẩn núp dưới các hầm hố xung quanh chân đồi, tin cũng cho biết thêm là chúng cũng có thể đã được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 để chống lại các loại phi cơ chiến đấu của Không lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhiệm vụ chính của phi vụ là chở năm chục lính Biệt Động Quân để tăng viện và thay thế những người ở quá lâu trong đó, đồng thời rước về một số thương binh, Phi vụ rất giản dị có thế thôi, nếu ở một vị trí nào khác thì công việc không có gì quan trọng hay đáng nói cả.

Giờ hẹn tại bãi đáp là đúng 12 giờ khuya. Trung tá Ngôn, Tiểu đoàn Trưởng Biệt Động Quân phải chuẩn bị sẵn sàng tại bãi đáp, đèn hiệu phải đặt dưới hầm trú ẩn để Việt Cộng khỏi nhìn thấy.

Phi hành đoàn họp nhau để bàn về kỹ thuật đáp và phân chia công việc cho mọi người. Tàu sẽ chở năm chục quân nhân với trang bị vũ khí đầy đủ, là một việc khó khăn cho hoa tiêu điều khiển phi cơ để tránh né đạn phòng không vì quá nặng nề, không xoay sở nhanh chóng được. Nếu bay sát ngọn cây với tốc độ thật nhanh, đột ngột từ phía chân đồi nhảy lên thẳng bãi đáp quá nhỏ, xung quanh là ụ súng của tiền đồn, thì là một chuyện không thể thực hiện được nhất là về ban đêm như tối hôm nay, chỉ có loại phi cơ nhỏ một cánh quạt như UH-1 hay H-34 là có thể thực hiện được lối bay nguy hiểm tránh phòng không này; như vậy chỉ còn lại một giải pháp cuối cùng là kỹ thuật đáp 360 độ. Cầu và Hùng đều đồng ý với lối bay này tuy nó rất là nguy hiểm, vì sẽ làm mồi cho súng phòng không, nhưng còn có cơ hội sống sót nhiều hơn là kỹ thuật bay "nhảy bổ" vào lúc ban đêm.

Đúng 11 giờ 45 khuya, trời bên ngoài tối om như mực, năm mươi quân nhân Biệt Động đã ngồi yên lặng trong lòng tàu. Đại úy Cầu cho quay máy chuẩn bị cất cánh, âm thanh phản lực của hai động cơ gắn phía sau hòa lẫn với tiếng cánh quạt quay đều trong gió, nghe như tiếng rống phẩn nộ của rừng xanh vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch, Đại úy Hùng kiểm soát lại các tần số liên lạc với C&C và các danh hiệu đơn vị lần cuối, Thượng sĩ Tranh báo cáo cho Trưởng phi cơ tình trạng tàu tốt sẵn sàng cất cánh.

Hơn 11 giờ 50, C&C cho lệnh cất cánh lấy cao độ khoảng hai ngàn bộ, trực chỉ hướng Tây Nam vào thẳng Tống Lệ Chân. Đại úy Cầu ra lệnh cho Trung sĩ Hoàng lên đạn hai khẩu đại liên để sẵn sàng tác xạ. Đèn Navigation bên ngoài phi cơ đã tắt, chiếc phi cơ hiên ngang như một dũng tướng ngày xưa đơn thương độc mã tiến vào trận địa.

Đại úy Hùng chỉ về phía trước mặt đèn báo hiệu bãi đáp đã nhấp nháy dưới hầm, tiền đồn Tống Lệ Chân gần kề trước mặt.

- OK! "Pitch down"!

Toàn thân phi cơ như hụp xuống khỏi mặt nước, xoay tròn thật gắt 360 độ về phía trái như muốn vỡ tung, hết sức khó chịu vì sức rơi lúc đáp quá nhanh từ trên cao độ.

"Rầm... Rầm...!!!" Nhiều khối lửa to lớn đang chớp nhoáng phía dưới, chúng đang pháo kích vào bãi đáp. Địa ngục trần gian bắt đầu cơn bão lửa! Đạn phòng không dưới chân đồi đã tập trung giăng chằng chịt cả màn đêm, những viên đạn đỏ tươi như màu máu vọt lên đan vào nhau thành những tia sáng như hình rẻ quạt quét cả trọn vùng trời, nhắm về hướng phi cơ đang lơ lửng xoay tròn giữa không gian; vì trời quá tối nên nhiều trái sáng được địch quân bắn lên để cho chúng dễ dàng nhận diện phi cơ.

Dưới sức sáng nhân tạo của các trái hỏa châu, con tàu thật lẻ loi đơn độc không thể dấu mình trong màn đêm được nữa, đã gánh chịu hàng trăm viên đạn của loài quỷ đỏ hung hăng ghim vào thân xác như một con đại bàng bị tên trúng vào tử huyệt, nhưng oai hùng dang cánh thản nhiên đáp trên đầu địch.

Đại úy Hùng không còn liên lạc qua tần số vô tuyến với C&C được nữa, cơ phận phát điện bị trúng đạn phát hỏa, hệ thống thủy điều bị bể ống hoàn toàn ngưng hoạt động, cần lái bị "locked" chặt cứng không còn điều khiển được. Đại úy Cầu như tê dại nhìn thẳng phía trước, dùng hết sức còn lại với phản ứng tự nhiên của mình, cố điều khiển để cho con tàu rơi từ trên cao hơn 30 bộ xuống bãi đáp. Thân phi cơ chạm mạnh trên đất nhảy dựng trở lên, uốn mình như con khủng long hung hăng dãy chết, những cánh quạt phía trước chặt mạnh vào ụ súng của tiền đồn tan nát văng từng mảnh vụn. Lửa khói đã cuồn cuộn cháy ở phía sau đuôi, đạn súng cối, hỏa tiễn địch quân liên tiếp pháo vào, những chuỗi dài nối tiếp nhau chớp sáng của tạc đạn nổ long trời, cát bụi tung bay mù mịt cả bốn bề.

Con tàu sau vài giây đồng hồ mới chịu đứng yên, chấp nhận ngày cuối cùng của đời mãnh long trên ngọn đồi xa lạ này. Lửa đã cháy dữ dội hơn, một số Biệt Động Quân còn sống sót chạy tràn ngập ra phía trước phòng lái, tìm cách thoát ra ngoài. Đại úy Cầu cảm thấy đau đớn nhức nhối ở gót chân mặt nhưng vì sự sống còn, anh cố gắng lết ra từ phía bên trái cửa sổ phi cơ. Bên ghế phải Đại úy Hùng đang bị buộc chặt vì dây an toàn bị gãy chốt, ghì chặc anh vào thành ghế với áo giáp, súng đạn mang lỉnh kỉnh bên hông, lại bị lính Biệt Động Quân chen lấn thoát thân đè chặt anh xuống ghế, lửa đã cháy sát bên lưng, sức nóng hừng hực của cả ngàn lít dầu JP-4 táp vào mặt, anh cảm thấy gần như tuyệt vọng, trong lúc đó một anh lính Biệt Động sau cùng vừa trèo lên để chui ra thì bị một mảnh đạn pháo kích trúng vào đầu bị thương ngã người lại phía sau, tay anh lính níu chặt lấy chiếc gối nệm phía sau lưng Đại úy Hùng để khỏi ngã quỵ xuống sàn tàu, chiếc gối sút ra văng xuống theo tay anh lính. Nhờ cơ hội may mắn hiếm hoi này Đại úy Hùng lòn mình thoát ra được từ phía lỗ trống trên nóc phòng lái. Trung sĩ Hoàng nhờ Trời, Phật che chở nên chui ra ngoài được an toàn trước khi phi cơ phát nổ.

Tất cả những anh em thoát chết đều cố gắng bò nhanh xuống hầm trú ẩn gần đó, đạn pháo vẫn tiếp tục rú lên trong gió gây ra những âm thanh thật kỳ dị nghe như tiếng ma tru, quỷ rống rợn cả người. Lửa cháy phi cơ soi sáng cả góc trời, có lẽ giờ phút đó dưới chân đồi trong các hang hóc chằng chịt, loài quỷ đỏ đang ăn mừng nhảy múa bên các vong linh oan hồn mà chúng vừa mới sát hại.

Trung tá Ngôn cho anh em Biệt Động Quân ra khiêng Đại úy Cầu vào băng bó, kiểm điểm quân số phi hành đoàn không thấy Thượng sĩ Tranh, mọi người nghĩ rằng anh đã chết. Sáng hôm sau mọi việc tương đối yên lặng, anh em lần mò bò ra phi cơ để lấy xác vì có rất nhiều quân nhân Biệt Động đã bị súng phòng không của Việt Cộng bắn chết trong lúc đáp, cũng như bị thương chạy ra ngoài không được bị chết cháy trong tàu. Phi hành đoàn nhận diện được dấu tích của Thượng sĩ Tranh mặc dầu đã bị cháy tan biến, nhưng thẻ bài kim loại và súng đạn anh mang theo, cho biết rằng anh đang đứng gần cửa phía sau thân tàu, có thể anh bị đạn phòng không chết trước khi đáp. Đại úy Hùng thu nhận cẩn thận tất cả thân xác còn lại của anh chờ ngày mang về để mai táng.

Khoảng ba ngày sau, phi hành đoàn được báo là sẽ có một phi hành đoàn UH-1 vào rước về, mọi người thức suốt đêm chờ đợi sau cùng được báo là phi vụ cứu cấp bị lộ nên bải bỏ, không thể nào rước các anh ra được. Những giờ phút ở đây thật dài vô tận, những giấc ngủ chập chờn, tử thần luôn luôn rình rập, ranh giới giữa sự sống và chết gần như lẫn lộn không giới tuyến rõ rệt. Các anh lính Mũ Nâu anh hùng chiến đấu thật cô đơn, cam khổ, đạn pháo địch ngày đêm từng chập không ngơi nghỉ, tiếng trống, tiếng loa của loài quỷ đỏ vẫn hò hét, kêu gào dưới triền núi vọng lên như tiếng khóc than từ địa ngục. Những anh lính Biệt Động Việt Nam Cộng Hòa ngày đêm kìm chặt tay súng, núp sâu dưới lòng đất sẵn sàng đứng lên để đập vỡ cái mưu toan của chúng muốn biến nơi này thành mồ chôn tập thể.

Vào khoảng chín giờ tối của đêm thứ năm, Trung tá Ngôn cho phi hành đoàn biết lệnh mật từ Bộ chỉ huy Hành quân Không Quân là sẽ có người vào rước anh em trong giờ giao thừa của đầu năm Dương lịch. Mọi trách nhiệm và kế hoạch di tản được chuẩn bị đầy đủ. Trung sĩ Hoàng sẽ cõng Đại úy Cầu bị thương chân không đi được, Đại úy Hùng sẽ ôm xác Thượng sĩ Tranh cố gắng chạy nhanh ra tàu.

Bây giờ là 23 giờ 55 đêm 31-12-1972, chỉ còn năm phút nữa là một năm mới sẽ ra đời. Trong những giây phút thiêng liêng này ở các quốc gia khác, người ta đang hạnh phúc sung sướng bên những ly sâm-banh sùi bọt, những lời chúc an lành, những nụ hôn ấm cúng, những dạ hội, những vũ điệu, những bài ca gần như bất tận trong đêm nay. Còn tại nơi đây, nơi một quốc gia nhỏ bé, một tiền đồn heo hút nằm giữa rừng hoang vắng, nơi mà những căm thù được dựng lên bằng những suy luận vô lý của hai ý thức hệ ngoại lai.

Hởi những người Việt Nam da vàng máu đỏ, tại sao?... Và tại sao?...

Tiếng động cơ trực thăng đã bắt đầu nghe rõ từ hướng Đông Bắc, như một thiên thần từ trời cao đang ngang nhiên tiến vào chiến tuyến giữa đêm trừ tịch để cứu người lâm nạn. Đạn lửa phòng không nổ ròn như pháo Tết, hỏa tiễn ì ầm rơi vào bãi đáp. Cộng Sản đang làm lễ đăng quang để tiếp rước thiên thần đang giáng thế. Thật bình tĩnh với nụ cười ngạo mạn, Trung úy Phát tự "Phát Sứt", đã nhiều lần vào sinh ra tử khéo léo đặt con tàu vào bãi đáp một cách dễ dàng, bên ghế trái, hoa tiêu phụ là Trung úy Bằng, một cựu Biệt Động Quân Biên Phòng, một người anh hùng luôn luôn đặt nặng trách nhiệm và bổn phận của Tổ Quốc giao phó trước sự sống còn của đời mình.

Đạn pháo kích vẫn tiếp tục rơi tới tấp, những cái chớp nhoáng, lập lòe gây ra một thứ ánh sáng cực kỳ man rợ. Trung sĩ Hoàng hết sức khó khăn vất vã mới đưa được Đại úy Cầu lên tàu. Đại úy Hùng nhất quyết ôm chặt tro xác của Thượng sĩ Tranh lần mò chạy theo sau. Phi hành đoàn đã lên tàu đầy đủ. Trung úy Bằng đưa ngón tay lên trời ra dấu cho trưởng phi cơ Trung úy Phát sẵn sàng cất cánh. Như một con chiến mã thật hiên ngang nhảy vọt lên không trung, chỉ trong tích tắc sau đó đã lặng lẽ biến mình trong màn đêm dày đặc

Xin giã biệt Tống Lệ Chân, giã biệt những anh hùng Mũ Nâu Biệt Động. Qua tần số radio của đài phát thanh Sàigòn, chuông kiểng nhà thờ đã rộn rã khua lên từng hồi để chào đón một năm mới vừa ra đời.

Các anh: Cầu, Hùng, Hoàng và vong linh của Thượng sĩ Tranh, cũng như phi hành đoàn UH-1 cấp cứu, anh Phát, anh Bằng... Hôm nay tôi viết bài này để nhắc nhở những thành tích oanh liệt, can trường của các anh. Các anh là những anh hùng của Không Quân nói riêng và của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa nói chung. Vì vận nước không may các anh đã chia tay nhau mỗi người mỗi nẻo khắp nơi trên thế giới, nhưng "tinh thần Tống Lệ Chân" của trên hai mươi ba năm về trước các anh đã thể hiện được tình huynh đệ chi binh, quên thân mình để cứu giúp đồng đội, chiến hữu. Tôi cầu nguyện và chúc lành các anh em gặp được nhiều may mắn và hạnh phúc trong quãng đời còn lại.

Riêng Thượng sĩ Tranh, tôi xin thành tâm khấn vái và cầu nguyện cho vong linh anh được yên lảnh trong thế giới vĩnh cửu, hãy vui trong giấc ngủ bình yên...

Cựu Lôi Thanh II
Phi đoàn 237
Nguyễn Văn Ba

Post Reply